Tập Kiều hay lẩy Kiều đồng nghĩa với nhau, đều là lựa chọn những câu thích hợp trong số 3.254 câu trong Truyện Kiều của Nguyễn Du rồi nối lại sao cho có vần và có nghĩa theo dụng ý của riêng mình…

Thực ra, xung quanh Truyện Kiều, không chỉ có lẩy Kiều, dân gian còn có đố Kiều, ngâm Kiều, vịnh Kiều, dẫn Kiều… vân vân. Ba hình thức tập, lẩy, bói là hay dùng và thú vị hơn cả.
Lẩy Kiều là gì?
“Lẩy Kiều”, “lẩy” nói theo giọng miền Trung, Nghệ Tĩnh là “lảy” (Ra vườn lảy một quả cam), “lảy” gần nghĩa với hái, bứt… “Lẩy” còn có hình ảnh là như dây đàn, khi gảy thì phát ra tiếng, cũng có thể xưa kia lẩy/gẩy cùng nghĩa, do thời gian mà biến âm đi.
“Lẩy Kiều” thường là ghép các câu khác nhau trong Truyện Kiều với nhau, tạo ra nghĩa khác, ứng với văn cảnh khác.
Tập Kiều là gì?
“Tập Kiều” là cũng ghép các câu Kiều như “lẩy Kiều” nhưng có thể thêm bớt từ khác để ra những câu theo “hình thức Kiều” mà mang tinh thần khác, phù hợp với văn cảnh.
Tập Kiều khó với người bình dân, nhưng lại thú vị và dễ với những bậc cao thủ chữ nghĩa. Đặc biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại rất nhiều thơ thuộc dạng tập Kiều. Ví dụ khi về quê, cụ Hồ nói: “Quê hương nghĩa nặng tình cao/Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu tình”. Trường hợp này dùng chữ của Kiều rất ít, lấy ý “Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình” thế mà vẫn nhận ra hình thức mượn Kiều, còn tinh thần đúng với nỗi lòng người xa nhà đã lâu nay về thăm quê. Còn khi tiễn Tổng thống Indonesia Sukarno ở sân bay Gia Lâm, cụ Hồ tập Kiều: “Cánh hồng bay bổng tuyệt vời/Đang mòn con mắt phương trời đăm đăm”. Câu này cụ Hồ chỉ thay đúng 1 chữ “đã” thành “đang”.
Bói Kiều là gì?
Bói Kiều là dạng thức “ăn theo” Truyện Kiều trong dân gian rộng rãi nhất, vì nó dễ thực hiện, đánh trúng thói quen đam mê bói toán, nhưng ở đây bói toán có văn. Mang cuốn Truyện Kiều ra, khi muốn bói thì khấn khứa cô Kiều và “ông Kiều” (tức là ông làm ra Truyện Kiều), hoặc lâm râm khấn câu “lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thùy Kiều…”, rồi mở ra, nhìn vào đâu trước thì đọc, rồi bói xem vận mệnh hoàn cảnh như thế nào.
Ví dụ chuẩn bị đi gặp một người không rõ có nên kết thân không mà bói ra câu: “Vinh hoa bõ lúc phong trần/Chữ tình ngày lại thêm xuân một ngày”, thì OK rồi, cứ thế mà tiến tới thôi.
Một số ví dụ “lẩy Kiều”
Ví dụ như câu: “Thúc ông nhà ở gần quanh/Bạc đem mặt bạc lánh mình cho xa”. Hai câu này ở hai cảnh huống khác nhau, vị trí khác nhau trong Truyện Kiều, ghép với nhau chỉ tình cảnh của ai đó cho hàng xóm mượn tiền, thúc mãi đến khi phát hiện người vay tiền đã đi đâu rồi.
Lẩy Kiều không phải chỉ có 2 câu (một cặp lục bát) mà có thể có nhiều câu. Ví dụ lẩy Kiều như thế này: “Trên vì nước, dưới vì nhà/Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng/Nhìn càng lã chã giọt hồng/Nỗi lòng ai ở trong lòng mà ra” là để chỉ cái ống máng nước, dẫn đón nước từ mái nhà. Chọn 4 câu “lung tung” trong Truyện Kiều như vậy để tả cái máng nước thì quá tài.
Lẩy Kiều đòi hỏi người chơi phải thuộc Truyện Kiều, tức cảnh sinh… thơ ngay. Do đó “lẩy Kiều” cực khó.
Làm một bài thơ tập Kiều không quá khó, chỉ cần thuộc chuyện Kiều, khéo léo chọn lựa những câu hợp vần mà diễn tả. Câu đối gay hơn, vì chuyện Kiều theo thể lục bát, cước vận [vần cuối câu] và yêu vận [vần giữa câu] đều dùng âm bằng; đối liễn có hai vế đối nhau theo luật bằng trắc, nên người làm cần phải giỏi lẩy Kiều, để rút ra những phần thích hợp. Đến như làm bài phú vừa tập Kiều, vừa lẩy Kiều lại là một tác phẩm dài hơi hơn cả thơ và câu đối.