dàn âm thanh hội trường, âm thanh lớp học, âm thanh phòng họp, loa trợ giảng

SKKN Giải pháp thúc đẩy văn hoá đọc trong thời kì chuyển đổi số của trường THPT

SKKN Giải pháp thúc đẩy văn hoá đọc trong thời kì chuyển đổi số của trường THPT

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Sách là nơi tích lũy kiến thức của các nền văn minh trên thế giới, là nơi lưu
giữ những thành tựu, di sản tinh thần của nhân loại. Nhà văn M. Gorki đã nói: “Sách
mở ra trước mắt tôi những chân trời mới”. Đọc sách có tác dụng lớn trong nâng cao
kiến thức, kỹ năng, phát triển tư duy mà còn rèn luyện nhân cách con người. Ngày
nay, cả nhân loại đang trên đường hướng đến một xã hội học tập. Vì vậy, sách trở
thành một phương tiện quan trọng để con người đến với tri thức. Đọc sách mang lại
rất nhiều lợi ích, đặc biệt đối với học sinh.
Với ý nghĩa như vậy, ngày 24/02/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết
định số 284/QĐ-TTg lấy ngày 21/4 hàng năm làm “Ngày Sách Việt Nam” nhằm
mục đích khuyến khích và phát triển phong trào đọc sách trên toàn xã hội, nâng cao
nhận thức về tầm quan trọng của đọc sách đối với việc rèn luyện kỹ năng, nhân cách
con người cũng như phát triển đất nước. Nhiều hoạt động thúc đẩy văn hóa đọc
trong nhà trường được thực hiện như thành lập câu lạc bộ Sách của học sinh, xây
dựng thư viện tiên tiến, trao tặng sách, nhiều cuộc thi thúc đẩy văn hóa đọc được tổ
chức thường niên…
Tuy nhiên, có một thực tế ở nước ta rất đáng suy ngẫm là số học sinh yêu
thích đọc sách còn ít, số lượng đầu sách đọc và chất lượng sách đọc trong học sinh
chưa nhiều và chưa tốt.
Bước sang thế kỉ XXI, cách mạng công nghiệp lần thứ tư thúc đẩy nhanh nhịp
độ chuyển đổi số. Nó tạo ra thay đổi mạnh mẽ đối với con người trong giao tiếp với
thế giới. Theo số liệu khảo sát năm 2019 của Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và
Môi trường (ISEE) khi được hỏi thanh niên dùng thời gian rảnh để làm việc gì là
chủ yếu, có đến 41,7% số thanh niên được phỏng vấn trả lời là lên mạng, 20% xem
phim, 16,7% nghe nhạc và chỉ có 15% trả lời là đọc sách.Có 2 nguyên nhân chủ yếu
được đưa ra khiến thanh niên ít đọc sách, đó là không có thời gian (áp lực học hành,
áp lực công việc căng thẳng, Facebook, Game chiếm nhiều thời gian) và đọc sách
không có sự tương tác nên dễ gây nhàm chán. Ngoài ra nhiều bạn trẻ kỹ năng đọc
kém, đọc không có chọn lọc, đọc hời hợt, theo phong trào, không mang tính ứng
1
dụng vào thực tiễn. Những loại sách có tác dụng giáo dục tư tưởng, đạo đức, lịch sử
bị thay thế bởi các loại truyện tranh, những tiểu thuyết ngôn tình ủy mị, thiếu lành
mạnh… Hệ quả là ngày nay nhiều người trẻ không đọc sách làm cho tâm hồn khô
héo, thiếu cảm xúc, nhiều bạn trẻ ngày càng trở nên cộc cằn, ứng xử thiếu lịch sự,
không biết cảm thông, chia sẻ hay yêu thương, hay đơn giản nhất là viết sai chính tả,
không phân biệt được lỗi phát âm, diễn đạt vụng về. Do đó việc thúc đẩy văn hóa
đọc cũng cần có những những thay đổi phù hợp.
Chính từ bối cảnh đó, chúng tôi đã suy nghĩ và xúc tiến thực hiện đề tài sáng
kiến kinh nghiệm “Giải pháp thúc đẩy văn hóa đọc trong thời kì chuyển đổi số
của trường THPT chuyên Lê Hồng Phong” nhằm mục đích:
– Kích thích nhu cầu, hứng thú đọc của học sinh, thúc đẩy văn hóa đọc trong
nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng dạy – học.
– Tăng cường nhận thức của học sinh về văn hóa đọc, giúp học sinh hình
thành thói quen đọc sách như một nhu cầu tự thân, một sở thích, niềm vui và khát
vọng không thể thiếu trong đời sống tinh thần của mình, đồng thời giúp học sinh
tăng khả năng tiếp cận các đầu sách hay.
– Tạo điều kiện cho học sinh có thêm lựa chọn về hình thức đọc sách đa dạng
như Sách điện tử, Sách nói,…
– Tạo dựng cộng đồng đọc sách hiệu quả trong nhà trường thông qua việc
tham gia các diễn đàn, hội nhóm dành cho người thích đọc sách để vừa hình thành
thói quen đọc sách hàng ngày, vừa trao đổi các loại sách thuộc nhiều lĩnh vực khác
nhau, trao đổi kinh nghiệm đọc, phương pháp đọc, sự hiểu biết của mình về mỗi
cuốn sách.
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
Một trong những đặc điểm nổi bật của học sinh THPT Chuyên Lê Hồng
Phong là có tinh thần tự học, tự đọc cao. Các em có nhu cầu về tìm hiểu các nguồn
tài liệu chuyên môn hoặc các nguồn tài liệu khác, vì vậy so với mặt bằng chung ở
các trường cấp III trong thành phố thì nhu cầu đọc của các em lớn hơn, quỹ thời
2
gian dành cho việc đọc nhiều hơn, cách thức đọc các nguồn tài liệu cũng phong phú
hơn.
Tuy nhiên không phải tất cả học sinh đều có hứng thú với việc đọc sách đặc
biệt trong bối cảnh có nhiều phương tiện giải trí hình thức đa dạng, phong phú và
hấp dẫn như hiện nay. Hoặc có những bạn hứng thú với việc đọc sách nhưng lại
không thực hành thường xuyên và hiệu quả.
Thực tế, để đáp ứng nhu cầu của những bạn yêu đọc sách và khơi gợi tình yêu
sách với những bạn chưa thực sự hứng thú đọc sách, nhà trường cũng đã đưa ra
nhiều giải pháp thiết thực khác nhau.
Nhà trường đã thiết kế phòng thư viện khang trang, các đầu sách rất phong
phú bao gồm cả sách chuyên ngành, sách dạy kĩ năng sống, các báo, tạp chí, các ấn
phẩm khác. Ngoài ra, thư viện còn được trang bị hệ thống máy tính có kết nối mạng
internet để dễ dàng cho việc tra cứu các thông tin. Thư viện trường mở cửa từ thứ
hai đến thứ 7 hàng tuần, sáng từ 7h00 đến 11h30, chiều từ 14h00 đến 17h00. Học
sinh có thể đọc sách ngay tại thư viện nhà trường, các thầy cô giáo ngoài có không
gian nghiên cứu, tham khảo tài liệu còn có thể mượn sách mang về.
Bên cạnh đó, câu lạc bộ Sách cũng được thành lập với sứ mệnh phổ biến rộng
rãi Văn hóa đọc trong nhà trường. CLB Sách được đầu tư phòng chức năng riêng, có
thư viện tự quản cùng với hệ thống các đầu sách cũng rất đa dạng, phù hợp với lứa
tuổi học sinh. Nguồn sách của CLB còn thường xuyên được bổ sung nhờ các nhà tài
trợ là các cựu học sinh, cựu giáo viên của tường. CLB hoạt động dưới sự hướng dẫn,
định hướng của các thầy cô giáo, trực tiếp là thầy Bùi Xuân Phong, có cơ cấu tổ
chức rõ ràng gồm 01 chủ tịch, 02 phó chủ tịch, các ban như hậu cần, truyền thông,
thiết kế…. Hoạt động của CLB được đề ra từ đầu năm, có các hoạt động thường niên
(như phân công trực phòng thư viện, kiểm kê đầu sách, thực hiện đọc sách…) và các
hoạt động tiêu điểm (trong năm thường có từ 01 – 02 hoạt động tiêu điểm như tổ
chức các cuộc thi về sách).
Khu Kí túc xá của học sinh cũng được thiết kế phòng tự đọc rộng rãi, khang
trang không kém thư viện nhà trường. Hệ thống sách trong thư viện ngoài đi mua
còn có rất nhiều đầu sách do các thầy cô giáo đã và đang công tác tại trường thân
3
tặng. Việc sử dụng sách ở phòng tự đọc thoải mái hơn, không có quy định quá chặt
chẽ về việc mượn tra tài liệu, chủ yếu dựa trên tinh thần TỰ GIÁC của các bạn học
sinh.
Ngoài ra, văn hóa đọc còn được phổ biến rộng rãi qua các giờ sinh hoạt lớp,
chào cờ đầu tuần… Trong giờ sinh hoạt lớp, các em học sinh sẽ lựa chọn 1 cuốn sách
bất kì để thảo luận với bạn bè, thầy cô trong lớp. Sinh hoạt đầu tuần được đổi mới
bằng việc thực hiện các chuyên mục khối. Hưởng ứng Ngày đọc sách Thế giới, các
khối lớp thực hiện chuyên mục khối Tháng Tư thường chọn chủ đề về sách với
nhiều hình thức thể hiện phong phú (tiến hành phỏng vấn các bạn học sinh trong
trường; giới thiệu các cuốn sách hay; trích dẫn các câu châm ngôn bất hủ…). Sách
cũng được đưa vào thành một trong những phần thưởng có ý nghĩa cho học sinh đạt
các danh hiệu trong năm học.
Nhà trường đã và đang thực hiện nhiều biện pháp năng nâng cao văn hóa đọc
cho học sinh. Tuy nhiên, việc sử dụng các thư viện chưa thật sự hiệu quả. Nhiều đầu
sách bị mất hoặc bảo quản không tốt, dẫn tới số lượng sách ở thư viện tự quản bị
giảm xuống, nhiều cuốn sách bị suy giảm về chất lượng. Vẫn còn tình trạng đọc đối
phó, nhiều học sinh chưa thực sự nghiêm túc và hứng thú với sách, tham gia các
cuộc thi về sách một cách đối phó. Việc quản lí vẫn chưa thật hiệu quả, cơ sở hạ
tầng của thư viện vẫn chưa thật hiện đại so với các thư viện của các trường lớn trên
cả nước.
2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VĂN HÓA ĐỌC CỦA
HỌC SINH THPT CHUYÊN LÊ HỒNG PHONG – NAM ĐỊNH
1.1. Văn hóa và văn hóa đọc
1.1.1. Văn hóa
“Kì diệu thay là con người!”. Đó là lời của chàng hoàng tử Hamlet trong vở
kịch cùng tên của đại văn hào người Anh, W. Shakespeare, khi đã ca tụng con
người. Vậy điều gì đã làm nên sự kì diệu đó cho con người? Trong lịch sử tồn tại,
bằng tư duy, ngôn ngữ và quá trình lao động sáng tạo con người để khẳng định các
giá trị người trong con người, để khẳng định phẩm chất nhân tính của con người với
4
sự hoàn thiện về cơ thể sinh học và cũng là sự viên mãn về mặt tinh thần. Một trong
thành tựu nổi bật làm nên giá trị trên, đó là con người đã tạo nên văn hóa của dân
tộc mình, của thời đại mình, của chủng loại mình.
Văn hóa, từ khi có thuật ngữ này, đã đang mang trong mình những nội hàm,
những góc nhìn đa dạng và phong phú. Văn hóa – Culture, được bắt nguồn từ chữ La
tinh Cultus mà nghĩa là gieo trồng, được dùng theo nghĩa Cultus Agri là gieo trồng
ruộng đất và Cultus Animi là gieo trồng tinh thần tức là sự giáo dục bồi dưỡng tâm
hồn con người. Vậy xét theo gốc, văn hóa gắn liền với giáo dục, đào tạo con người,
một tập thể người để cho họ có được những phẩm chất tốt đẹp, cần thiết cho toàn
thể cộng đồng. Cái nghĩa gốc này của văn hóa là nghĩa chính, cốt tử. Nói khác đi,
văn hóa không phải là một con người tự nhiên có được như cơ thể anh ta, mà là một
con người tiếp nhận được qua quá trình giáo dục, dù cho sự giáo dục này có thể tự
phát hay tự giác.
Việt Nam nằm trong sinh quyền văn hóa Hán, cũng như người Trung Quốc,
dân tộc ta dùng từ văn hóa để dịch culture. Điều này rất cần thiết với chúng ta, bởi
vì nó biểu hiện một cách nhìn của Phương Đông. Nghĩa gốc của văn là cái vẻ đẹp do
màu sắc tạo ra. Văn hóa là quá trình lựa chọn vừa tự nhiên, vừa tất yếu mang tính
xã hội, để đạt đến cái đích chung là hệ thống các quy tắc ứng xử được xem đẹp đẽ
do chính cộng đồng quy ước, xây dựng lên. Từ cái nghĩa này, văn hóa có nghĩa là
những hình thức quan niệm, mã văn hóa đã được quy ước, biểu hiện trước hết trong
trang phục, phong tục tập quán sinh hoạt trong nghi thức lễ, nhạc, cách cai trị, qua
hình thức vật chất, hiện hữu đó dẫn ta đến với điều quan trọng hơn đó cách tư duy,
quan niệm của mỗi cộng đồng dân tộc về mình, về thế giới quanh mình.
Không dừng ở đó, hạt nhân của văn hóa lại là con người, cộng đồng người –
chủ thể thừa hưởng không gian, đời sống văn hóa và cũng là chủ thế gìn giữ kiến tạo
nên văn hóa. Văn hóa không chỉ dừng lại ở biểu hiện của những sản phẩm – mang
tính vật chất, nghi thức, tín niệm mà quan trọng hơn ở nhân cách làm thành bản sắc
(identité) của con người với tư cách một thành viên của một thể cộng đồng nhất
định. Bản sắc này không, cụ thể như bức tượng chẳng hạn. Nó là tập hợp những
cách ứng xử (comportement) anh ta làm một cách tự nhiên đến mức không cần tự
5
giải thích tại sao, thậm chí không thể tự giải thích được. Đây chính là cái linh hồn
của văn hóa, cái phần ổn định trong khi các biểu hiện bên ngoài của văn hóa là vô
cùng đa dạng, có thể thay đổi theo thời gian, biến đổi phụ thuộc vào nền kinh tế, chế
độ chính trị. Văn hóa là kết quả của một quá trình lịch sử lâu dài vượt ra ngoài sự
quan sát của nhân loại học, dân tộc học, lịch sử, chính trị học vốn chỉ xét ở biểu
hiện, ở bề mặt. Vì thế sẽ luôn có những nền văn hóa độc đáo, riêng biệt và đôi khi là
rất khác nhau dù những dân tộc đó sống cùng một thời đại, có trình độ văn minh như
nhau ngang nhau.
Nói như vậy không đồng nghĩa với việc cắt đứt mối quan hệ giữa văn hóa với
văn minh. Văn hóa là linh hồn của văn minh, nhất quán, chi phối định hướng văn
minh dù chúng không thể đồng nhất. Bởi văn hóa là sinh thể độc lập có xu hướng
tinh thần, không bao giờ trở thành nô lệ của vật chất, làm đầy tớ kỹ thuật, bị văn
minh nô dịch. Nhưng trong văn hóa tất yêu có văn minh. Văn minh, những yếu tố kĩ
thuật luôn là tiền đề vật chất để văn hóa hiện hữu, tồn tại, là phương tiện quan trọng
giúp văn hóa đến nhanh hơn với giá trị tốt đẹp. Đặc biệt trong giai đoạn hiện tại, với
bối cảnh toàn cầu hóa, thế giới phẳng, bùng nổ thông tin, công nghệ, khi các phương
tiện giao thông, thông tin nối liền mọi tộc người lại với nhau, tình trạng cô lập về
văn hóa của một tộc người vĩnh viễn chấm dứt và văn hóa có nghĩa là trao đổi văn
hóa, văn hóa cần phải gần hơn với thành tố văn minh cần phát huy sức mạnh tiềm
năng của chính nó. Văn hóa cần phải trở thành động lực nội sinh giúp cho dân tộc
phát triển hội nhập, tiếp xúc, tiếp thu, tiếp biến những tinh hoa văn hóa của các dân
tộc khác và nhân loại. Nhưng đồng thời văn hóa trở thành cơ chế phản vệ, phòng vệ
để cho một dân tộc làn nó, chính nó với bản sắc riêng độc đáo trước sự xâm thực
văn hóa, giao lưu tiếp biến văn hóa.
1.1.2. Văn hóa đọc
Văn hóa đọc là một thành phần cấu thành nên văn hóa. Nếu xét theo nghĩa
gốc văn hóa là gieo trồng tinh thần – sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người,
góp phần hình thành nên, là nhân cách làm thành bản sắc của con người thì văn
hóa đọc lại có vị trí quan trọng. Đọc và những nhân tố xoay quanh trục đọc phải trở
thành hành động có tính định hướng để cho con người đến với văn minh, đến với
6
những giá trị tốt đẹp. Hành động đó cần được ý thức, tổ chức nhiêm túc để đọc
không chỉ dừng ở tự phát, bản năng mà cần những quy tắc ứng xử theo chuẩn mực
tốt đẹp, có tính nhân văn.
Văn hóa đọc là hành động đọc có văn hóa. Quá trình đọc không chỉ ở biểu
hiện hành động mà ở chiều sâu nhân cách qua bản sắc ứng xử đạt được qua việc
đọc. Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa đọc tuy nhiên có thể hiểu
văn hoá đọc là một khái niệm có hai nghĩa: nghĩa rộng và một nghĩa hẹp. Ở nghĩa
rộng, đó là ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân, của cộng
đồng xã hội và của các nhà quản lý và cơ quan quản lý nhà nước. Như vậy, văn hoá
đọc ở nghĩa rộng là sự hợp thành của ba yếu tố, hay chính xác hơn là ba lớp như ba
vòng tròn không đồng tâm, ba vòng tròn giao nhau. Theo nghĩa hẹp, đó là ứng xử,
giá trị và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân. Ứng xử, giá trị và chuẩn mực của hành
động đọc của mỗi cá nhân sẽ được hình thành từ thói quen đọc, sở thích đọc, kỹ
năng đọc và khả năng vận dụng những điều đã đọc để làm nên nhân cách mang bản
sắc của con người mình, kiến tạo cộng đồng, làm bền vững và sáng hơn những vẻ
đẹp của cộng đồng.
1.2. Những nhân tố của văn hóa đọc
Đọc – hành động của con người làm với sách – phương tiện lưu trữ kinh
nghiệm, hiểu biết và tri thức trong một môi trường cụ thể. Vì thế muốn xây dựng
văn hóa đọc ta phải xác định rõ các nhân tố tạo thành văn hóa đọc, mối quan hệ giữa
chúng để xây dựng những chuẩn mực, quy ước chung làm nên bản sắc văn hóa. Xét
từ bản chất của hành động đọc, chúng tôi xác định có ba nhân tố chính (trong mỗi
nhân tố lại có thành tố nhỏ cấu thành) sau đây:
7
Các nhân tố của văn hóa đọc
1.2.1. Chủ thể đọc – Người đọc/bạn đọc
Chủ thể đọc – người đọc sách, là nhân tố quan trọng đầu tiên của văn hóa đọc.
Vì học chính là người thực hiện hành vi đọc, đối tượng cần kiến tạo văn hóa đọc,
người thừa hưởng thành quả của việc đọc để hình thành nên nhân cách mang bản
sắc cũng như vận dụng tri thức để tác động lại đời sống xã hội thúc đẩy và lan tỏa
văn hóa đọc.
Người đọc rất đa dạng, nhưng đối tượng hướng tới của đề tài này là các em
học sinh THPT chuyên Lê Hồng Phong Nam Định. Các em nằm trong độ tuổi 15 –
18, đang trong giai đoạn phát triển mạnh về trí tuệ và tâm sinh lí, sắp chuẩn bị hình
thành ổn định về nhân cách và là chủ thể của xã hội trong tương lai gần. Đặc biệt,
học sinh THPT chuyên có niềm say mê học tập, khám phá; đồng thời yêu cầu kiến
thức môn chuyên cao. Vì vậy, xây dựng văn hóa đọc có ý nghĩa lớn giúp học sinh có
thêm kiến thức, hình thành phát triển một số năng lực, tác động tới phẩm chất, tư
tưởng, tình cảm, nhân cách của học sinh.
Để xây dựng văn hóa đọc cho đôi tượng này, chúng ta cần xét đến các thành
tố tạo nên chủ thể đọc.
8
Trước hết là nhu cầu đọc của chủ thể.
Đây là yếu tố quan trọng đầu tiên. Vì chỉ khi ta cho họ thứ họ cần chứ không
phải thứ chúng ta có thì việc làm đó mới đạt hiệu quả cao nhất. Bởi nhu cầu là trạng
thái tâm lí mà con người cảm thấy thiếu vắng, thiếu hụt, mong muốn được bù đắp
lấp đầy. Nhu cầu đọc là thái độ của người đọc, có thể là cá nhân hoặc tập thể xem
việc đọc như một hoạt động tạo nên ý nghĩa, hạnh phúc, mà không thể thiếu được
trong cuộc sống hàng ngày. Nhu cầu đọc thuộc về bản thân người đọc, xuất hiện khi
bản thân nhận thấy việc đọc là nhu cầu không thể thiếu được trong cuộc sống hàng
ngày của họ. Nó thúc đẩy hành động đọc được diễn ra và tạo nên hiệu quả của việc
đọc góp phần hình thành văn hóa đó.
Tiếp theo là thói quen và sở thích đọc.
Có nhu cầu nhưng nhu cầu chỉ là trạng thái tâm lí, cảm xúc. Nó là động lực
đọc nhưng lại không bền vững theo thời gian. Nhu cầu cần có thói quen và sở thích
đọc. Hai yếu tố này làm cho nhu cầu đọc sách bền vững, có tính lí trí và khao học
hơn. Bởi vì thói quen là một chuỗi phản xạ có điều kiện do rèn luyện mà có. Phản xạ
có điều kiện là những hành vi lặp đi lại nhiều lần trong cuộc sống và rèn luyện, đó là
những hành vi định hình trong cuộc sống và được coi là bản chất thứ hai của con
người nhưng nó không sẵn có mà là kết quả của việc sinh hoạt, học tập, rèn luyện, tu
dưỡng của mỗi cá nhân trong cuộc sống hằng ngày. Thói quen cũng có thể bắt
nguồn từ một nguyên nhân đôi khi rất tình cờ hay do bị lôi kéo/ảnh hưởng từ một cá
thể khác.
Trong khi đó, sở thích là những hoạt động thường xuyên/theo thói quen đem
lại cho con người niềm vui, sự phấn khởi, sự hứng thú, thái độ ham thích đối với
một đối tượng nhất định – sách, đọc sách. Sở thích đọc có mối quan hệ bề sâu với
tiềm năng và thế mạnh của chủ thể đọc nên có tác động rất lớn đến hành vi đọc.
Theo tâm lí học hiện đại, sở thích tạo nên trạng thái hứng thú. Hứng thú là thái độ
lựa chọn đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng, hiểu được ý nghĩa của nó với cuộc
sống và gây cho ta khoái cảm đặc biệt. Hứng thú đối tượng là ta ý thức, hiểu rõ được
ý nghĩa của nó đối với cuộc sống và xuất hiện một tình cảm đặc biệt đối với nó. Từ
đó chủ thể có sự khao khát hoạt động vươn tới tiếp cận và chiếm lĩnh đối tượng.
9
Sách, đọc sách (đặc biệt là sách chuyên sâu) cần năng lượng tích cực từ sự hứng thú
này để vượt qua những khó khăn rào cản của quá trình đọc sách để hình thành
và nâng cao văn hóa đọc.
Như người thấy đích đến mà không biết lối đi, đi luẩn quẩn đường vòng, thói
quen, sở thích đọc cần kỹ năng đọc, phương pháp đọc hiệu quả. Đây là yếu tố thứ ba
để làm nên một chủ thể đọc.
Kỹ năng là khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi
hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả
mong đợi. Kỹ năng đọc là sự thể hiện tổ hợp những thao tác tư duy được xác lập
thành thói quen ứng xử đọc. Các thao tác tư duy đó là:
– Lựa chọn có ý thức đề tài hoặc những vấn đề cần đọc cho bản thân, biết
vận dụng thành thạo các cách đọc khác nhau đối với từng loại tài liệu đọc (tài liệu
nghiên cứu, tài liệu phổ thông, tài liệu giải trí…).
– Biết định hướng nguồn tài liệu cần thiết cho bản thân, trước hết trong các
thư mục và mục lục thư viện, các nguồn tra cứu như: bách khoa thư, từ điển giải
nghĩa, các loại sổ tay, cẩm nang… và biết định hướng nguồn tài liệu cần thiết cho
bản thân trong môi trường số (trong các cơ sở dữ liệu, trên internet).
– Thể hiện được tính hệ thống, tính liên tục trong quá trình lựa chọn tài liệu
đọc (đọc từ trình độ thấp lên trình độ cao, từ các vấn đề đơn giản tới phức tạp).
– Biết cách tiếp nhận tối đa và sâu sắc nội dung tài liệu đọc, kể cả vệ sinh khi
đọc tài liệu như cách ngồi, khoảng cách giữa mắt và tài liệu đọc, …
– Biết vận dụng các biện pháp kỹ thuật để củng cố và đào sâu những nội
dung đã đọc như ghi chép, lập hộp phiếu thư mục, soạn tóm tắt, viết chú giải, trao
đổi với bạn bè, đồng nghiệp…
– Biết vận dụng vào thực tiễn những nội dung đã đọc.
Mục đích cuối cùng của kỹ năng đọc là đọc có hiệu quả cao nhất, nắm chắc
nội dung cốt lõi và biết vận dụng những điều đã đọc được vào cuộc sống của chính
người đọc. Ngày nay người ta đặc biệt lưu tâm tới yếu tố biết vận dụng những nội
dung đã đọc vào cuộc sống của mỗi người đọc để có thể cải thiện được chính cuộc
sống của họ.
10
Thái độ hơn trình độ, sức mạnh của ý chí luôn làm nên thành tựu bất ngờ.
Yếu tố cuối cùng làm nên chủ thể đọc tích cực là thái độ/ thái độ ứng xử với tài
liệu/sách. Khi có thái độ và cách ứng xử đúng – văn hóa đọc đã hình thành.
Thái độ ứng xử là tâm trạng và hành vi của chủ thể với khách thể trong hoạt
động giao tiếp. Văn hóa ứng xử với tài liệu là thái độ và hành động của người đọc
với tài liệu trong quá trình đọc. Mỗi cá nhân phải tạo cho mình thái độ trân trọng,
giữ gìn, biết cách sử dụng hiệu quả, không chếm hữu trái phép tài liệu. Nó còn là
cách ghi chép, tư duy vận dụng từ những thông tin, tri thức từ sách để trở thành trí
tuệ nhân cách, văn hóa của người đọc. Văn hóa cá nhân đó sẽ là hạt nhân trung tâm,
bền vững tạo nên văn hóa đọc.
1.2.2. Đối tượng đọc – Sách/tài liệu
Xét trên phương diện nội tại, sáchlà tập hợp các trang giấy/ảnh/hình có chữ
hoặc hình ảnh được viết tay hoặc in ấn, được buộc hoặc dán với nhau về một phía.
Mỗi mặt của một tờ trong các tờ này được gọi là một trang sách. Nếu sách chỉ bao
gồm thông tin ở dạng điện tử được xem trên một thiết bị có màn hình thì được gọi
là sách điện tử hoặc e-book.
Sách chứa đựng những giá trị văn hóa tinh thần (các tác phẩm sáng tác hoặc
tài liệu biên soạn) thuộc các hình thái ý thức xã hội và nghệ thuật khác nhau, được
ghi lại dưới các dạng ngôn ngữ khác nhau (chữ viết, hình ảnh, âm thanh, ký hiệu,…)
của các dân tộc khác nhau nhằm để lưu trữ, tích lũy, truyền bá trong xã hội.
Sách là một khái niệm mở, hình thức sách còn được thay đổi và cấu thành các
dạng khác nhau theo các phương thức chế tác và nhân bản khác nhau, tùy thuộc vào
môi trường sống và sự phát triển của khoa học công nghệ ở mỗi thời đại.
Sách xét trên phương diện văn hóa đọc là đối tượng đọc của chủ thể đọc. Sách
chỉ là dạng tiềm năng/phương tiện lưu trữ tri thức, cần có hành động đọc để những
con chữ trở thành giá trị thực sự. Muốn tạo nên tiềm năng – khơi giá trị, kích thíc
việc đọc sách cần chức trong mình những nội dung sâu sắc ý nghĩa và có một hình
thức hấp dẫn, mời gọi chủ thể đọc.
Với đề tài này, việc xây dựng giải pháp nâng cao văn hóa đọc, đối tượng đọc –
sách, tài liệu cần phải được đặt chặt chẽ trong mối quan hệ với chủ thể đọc – học
11
sinh, môi trường đọc – thư viện, thời đại số, quản lí … Sách không chỉ phù hợp đáp
ứng yêu cầu về nội dung (tư liệu tài liệu về học tập, kĩ năng, định hướng nghề
nghiệp …) mà cần đa dạng hấp dẫn về hình thức, đáp ứng xu thế, nhu cầu tâm, sở
thích thị hiếu của các em học sinh.
1.2.3. Môi trường đọc
Có sách, có chủ thể đọc cần có môi trường đọc để tạo nên chỉnh thể của hoạt
động đọc, góp phần tạo nên văn hóa đọc. Đối với người đọc là học sinh, môi trường
có tác động rất lớn trong việc tạo trải nghiệm cho sự trưởng thành, định hướng hoàn
thiện tri thức, nhân cách, văn hóa cho người đọc.
Môi trường đọc, trong đề tài này, gắn với đối tượng người đọc là học sinh,
chúng tôi xác định ở ba cấp độ, ba môi trường cụ thể sau:
Thứ nhất: Không gian đọc cá nhân và việc xây dựng quy tắc ứng xử cá nhân,
chuẩn mực cá nhân. Đây là môi trường mag tính quyết định tạo nên văn hóa đọc gắn
với từng chủ thể, để việc đọc là suốt đời, văn hóa ứng xử với chính mình là căn cốt
làm nên văn hóa ứng xử với thế còn lại. Không giannafy gắn với không gian gia
đình, nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sự hình thành thói quen đọc của học sinh. Sự
tác động của gia đình ảnh hưởng tới sự hình thành thói quen đọc của học sinh ngay
từ bé. 70% học sinh có thói quen đọc sách hình thành từ bé đều do ảnh hưởng của
gia đình. Ảnh hưởng tích cực chủ yếu từ gia đình bao gồm: cha mẹ đọc sách cho con
nghe và hướng dẫn, cùng con đọc sách từ nhỏ; yêu cầu học sinh phải đọc từ cha mẹ;
tấm gương đọc sách từ anh chị em… Tuy vậy cần có một góc đọc cá nhân, với học
sinh nơi đây vừa là nơi học tập, vừa là nơi đọc sách, sẽ phát huy được cá tính sáng
tạo, làn nên văn hóa cá nhân, duy trì niềm đam mê đọc sách của người học tạo hiệu
quả học tập, điều tiết ứng xử, bản lĩnh làm chủ bản thân khi ở một mình. Không gian
đọc do người đọc thiết kế (kệ sách, nơi đọc sách với bàn ghế, thiên nhiên, ánh sáng,
âm nhạc …) hài hòa với không gian gia đình sẽ hình thành nên phong cách và văn
hóa cá nhân có tính bền vững trong các không gian văn hóa rộng hơn. Không gian
này kết hợp với không gian trường lớp, xã hội tạo nên hệ sinh thái văn hóa, văn hóa
đọc cho con người.
12
Thứ hai: Các không gian, các hoạt động trải nghiệm đọc gắn với nhà trường
và việc xây dựng quy tắc ứng xử, chuẩn mực tập thể, cộng đồng. Đây là môi trường
chính, quan trọng để xây dựng văn hóa đọc. Vì trong không gian này, với nhiều mối
quan hệ được thiết lập, người đọc phải điều tiết, bổ sung những quy tắc và chuẩn
mực ứng xử. Thêm vào đó những quy tắc ứng xử này có sự giám sát và quản lí chặt
chẽ và bài bản từ hệ thống quản lí của nhà trường giúp cho văn hóa đọc của người
đọc định hình nhanh và rõ nét. Trong môi trường này, chủ thể đọc/học sinh tiếp cận
với sách qua không gian lớp học, câu lạc bộ, các sự kiện đoàn trường, thư viện … Vì
thế nhà trường cần chức nhiều hoạt động khuyến khích đọc: triển khai trương trình
“Tủ sách lớp học”, tổ chức sinh hoạt lớp chủ đề “Cuốn sách bạn yêu thích”, Ngày
hội đọc sách, Cuộc thi về những cuốn sách … đồng thời xây dựng thư viện về cơ bản
đáp ứng nhu cầu đọc của học sinh trong trường. Tuy nhiên, với sự phát triển của
công nghệ thông tin, sức hút càng lớn của mạng intenet, sự phổ biến của điện thoại
thông minh, học sinh giảm dần hứng thú với không gian thư viện truyền thống thư
viện, nhà trường phải luôn đổi mới để tạo hứng thú đọc và đáp ứng nhu cầu của học
sinh ở những không gian độc đáo phù hợp với sở thích của mình. Có thể lấy ví dụ
như: quán cà phê sách, thư viện container, thư viện xanh, … Vì vậy, cần thiết phải
đổi mới không gian thư viện để tăng hứng thú đọc sách cho học sinh.
Thứ ba: Bối cảnh thời đại, xã hội và việc xây dựng quy tắc ứng xử, chuẩn
mực xã hội, Đây là môi trường mở, biến động, thử thách bản lĩnh nhân cách, ứng xử
văn hóa của người đọc. Môi trường này người đọc có thể được thừa hưởng, bị tác
động và cũng là nơi cho người đọc lan tỏa, truyền cảm hứng về đọc sách. Trong môi
trường xã hội này nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến văn hóa đọc của học sinh đó là
những người bạn (đồng niên, đồng hương, bạn bè kết giao). Bạn bè có ảnh hưởng
hai mặt tới văn hóa đọc của học sinh. Bạn bè có thể là động lực giúp học sinh rèn
thói quen, tăng hứng thú, kĩ năng đọc sách. Qua khảo sát, có 15 % học sinh đọc các
cuốn sách khi được bạn bè giới thiệu, tặng sách. Nhiều học sinh có hứng thú đọc khi
rủ bạn cùng đọc, trao đổi sách. Tuy nhiên, bạn bè cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực tới
việc đọc sách. Học sinh hiện nay rất dễ bị bạn bè lôi kéo vào những sở thích không
bổ ích. Trong tính hai mặt này người đọc cần chọn bạn cùng sở thích để nhân lên
13
thói quen, văn hóa đọc, đồng thời thể hiện bản lính, chủ động tác động tích cực đến
những người bạn chưa có thói quen đọc sách để lan tỏa giá trị của sách cũng như
văn hóa đọc. Đặc biệt trong bối cảnh xã hội với sự bùng nổ và phát triển của công
nghệ thông tin đã tác động và làm thay đổi văn hóa đọc. Hiện nay, người đọc là học
sinh học sinh dành rất nhiều thời gian cho lướt web xem video, chơi điện tử, đọc tin
tức (tin tức trên các báo chí, mạng xã hội) mà xem nhẹ đọc sách. Thói quen đọc sách
cũng dần thay đổi. Trước đây, chúng ta chỉ quan tâm đến văn hóa đọc tài liệu in.
Hiện nay, văn hóa đọc tài liệu điện tử có nhiều ưu thế và trở nên phổ biến. Vì vậy,
thay vì ngồi đọc một cuốn sách ở thư viện, nhiều học sinh lựa chọn ở nhà lên mạng.
Hơn nữa, ảnh hưởng của “văn hóa mạng” đến văn hóa đọc. Các trào lưu xuất hiện
ngày càng nhiều trong giới trẻ và học sinh cũng bị cuốn vào những trào lưu đó.
Không ít bạn trẻ đọc sách không chú tâm mỗi thứ chỉ biết một ít và sơ sài, mà không
nắm rõ ngọn nguồn của quyển sách mình đang đọc có nôi dung gì, có giá trị nào và
dễ dẫn đến lệch lạc hành vi ứng xử trên cả phương diện văn hóa đạo đức lẫn phát
luật. Vì thế để tạo nên văn hóa đọc trong môi trường này, cần có sự quản lí nhà
nước về việc đọc nhưn an toàn mạng, kiểm soát thông tin, sách báo trên không gian
mang; xây dựng các nhà văn hóa/khu đọc sách; tổ chức sự kiện tạo cảm hứng đọc …
và xây dựng khung pháp lí về văn hóa ứng xử trong đó có văn hóa đọc.
1.3. Đặc điểm học sinh THPT chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định
Học sinh THPT chuyên nằm trong độ tuổi 15 – 18, đang trong giai đoạn phát
triển mạnh về trí tuệ và tâm sinh lí. Đặc biệt, học sinh THPT chuyên có niềm say mê
học tập, khám phá; đồng thời yêu cầu kiến thức môn chuyên cao. Vì vậy, nếu sớm
hình thành cho học sinh thói quen và các kĩ năng đọc sách trong giai đoạn này đóng
vai trò rất quan trọng.
1.4. Vai trò văn hóa đọc với học sinh THPT chuyên Lê Hồng Phong
Phát triển văn hóa đọc giúp học sinh có thêm kiến thức, hình thành phát triển
một số năng lực, tác động tới phẩm chất, tư tưởng, tình cảm của học sinh. Đọc có
tầm quan trọng trong việc:
14
• Cung cấp thêm kiến thức cho người đọc: mỗi cuốn sách chứa đựng lượng
kiến thức nhất định về một hay nhiều lĩnh vực. Việc đọc trước hết nhằm thỏa mãn
mục đích có thêm thông tin.
• Hình thành được kĩ năng đọc sẽ giúp học sinh củng cố, phát triển kĩ năng tìm
kiếm thông tin, phục vụ nghiên cứu khoa học.
• Với vốn từ phong phú từ các tài liệu, việc đọc cũng giúp người đọc mở rộng
vốn từ, luyện kĩ năng viết.
• Nếu hình thành thói quen đọc sách sẽ thúc đẩy trí não phát triển. Các nghiên
cứu khoa học đã chỉ ra rằng việc đọc thường xuyên sẽ giúp làm chậm quá trình não
lão hóa, hạ thấp khả năng mắc chứng Alzheimer.
• Việc đọc sách còn giúp giảm căng thẳng, tăng khả năng tập trung, củng cố
trí nhớ.
15
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VĂN HÓA ĐỌC CỦA HỌC SINH
TRƯỜNG THPT CHUYÊN LÊ HỒNG PHONG
2.1. Thông tin chung về khảo sát
2.1.1. Mục đích khảo sát
Tiến hành khảo sát nhằm tìm hiểu thực trạng văn hóa đọc của học sinh trường
THPT chuyên Lê Hồng Phong (xem Phụ lục 1).
2.1.2. Nội dung khảo sát
– Nhận thức của học sinh trường THPT chuyên Lê Hồng Phong về tầm quan
trọng của việc đọc sách đến việc học tập, hướng nghiệp.
– Thực trạng hoạt động đọc sách của học sinh trường THPT chuyên Lê Hồng
Phong về thói quen, thời điểm, địa điểm, thời gian, nguồn, dạng, thể loại, chia sẻ,
lưu giữ… sách.

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT