dàn âm thanh hội trường, âm thanh lớp học, âm thanh phòng họp, loa trợ giảng

SKKN Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong môn công nghệ 11

SKKN Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong môn công nghệ 11

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Nghị quyết 29 – NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013: “Về đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế”. Mục tiêu của Thông tư 22/2016: “Giúp GV điều chỉnh, đổi mới
phương pháp dạy học, hình thức tổ chức, hoạt động trải nghiệm ngay trong
quá trình dạy học và kết thúc mỗi giai đoạn dạy học, giáo dục; kịp thời phát
hiện những nỗ lực, tiến bộ của HS để động viên, khuyến khích và phát hiện
khó khăn chưa đạt của HS nhằm hướng dẫn, giúp đỡ; đưa ra nhận định đúng
những mặt mạnh và những mặt hạn chế của từng HS để có giải pháp kịp thời
nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập và rèn luyện của HS”.
Mục tiêu của giáo dục đã và đang chuyển hướng từ trang bị kiến thức
sang hình thành và phát triển năng lực cần thiết cho HS. Phương pháp giáo dục
phổ thông cũng đang dần được đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo của HS, tăng cường làm việc theo nhóm, hình thành,
phát triển kĩ năng vận dụng kiến thức học tập vào cuộc sống, tác động đến tình
cảm, hứng thú học tập cho HS, phù hợp với đặc điểm từng HS.
Trước các yêu cầu đổi mới về cách thức tiếp cận trong dạy học, PPDH,
mỗi GV Công nghệ phải vận dụng sáng tạo và sử dụng linh hoạt các PPDH, kỹ
thuật dạy học tích cực vào từng bài dạy, chủ đề bài học cụ thể mới mang lại
4
hiệu quả cao. Để làm được điều đó thì mỗi GV Công nghệ cần phải nắm vững
lí luận dạy học và trả lời cho được các câu hỏi sau đây:
– Phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực là gì?
– Những PPDH tích cực, kỹ thuật dạy học tích cực nào?
– Cách thức vận dụng từng PPDH, các kỹ thuật dạy học tích cực vào
từng bài giảng cụ thể như thế nào?
– PPDH tích cực và kĩ thuật dạy học tích cực khác ở chỗ nào?
– Kỹ thuật dạy học 3 lần 3 là gì. Cách vận dụng, sử dụng kĩ thuật dạy
học “3 lần 3” trong dạy học phát triển năng lực HS trong môn Công nghệ phổ
thông như thế nào?
Trên tinh thần đổi mới, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người
học, hình thành và phát triển năng lực, kỹ năng cho người học đòi hỏi GV
giảng dạy môn Công nghệ không ngừng phải nâng cao kiến thức, đưa ra những
phương pháp giảng dạy, kỹ thuật dạy học phù hợp nhằm thu được kết quả như
mục tiêu đề ra.Tác giả mong muốn đóng góp một phần của mình vào viêc đổi
mới phương pháp giảng dạy môn Công nghệ ở trường THPT do đó tác giả đã
chọn đề tài “Vận dụng kĩ thuật dạy học 3 lần 3 trong dạy học phát triển
năng lực HS trong môn Công nghệ phổ thông”
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
2.1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
Qua thăm dò ý kiến của một số giáo viên dạy môn Công nghệ thuộc địa
bàn tỉnh cho thấy: 100% giáo viên đang sử dụng các phương pháp dạy học
truyền thống và một số các phương pháp dạy học tích cực để phát triển năng lực
cho học sinh. Tuy nhiên việc phát triển năng lực cho HS chủ yếu vẫn còn tự phát,
chưa mang tính hệ thống; hầu hết tất cả giáo viên chưa chú ý đến việc vận dụng
các phương pháp luận sáng tạo trong dạy học, thậm chí chưa nghe, chưa biết về nó.
Vì vậy tôi đã đề xuất sử dụng phương pháp Vận dụng kĩ thuật dạy học 3 lần 3
5
trong dạy học phát triển năng lực HS trong môn Công nghệ phổ thông nhằm nâng
cao chất lượng dạy học môn học. Vì trong bối cảnh khoa học và công nghệ phát
triển mạnh mẽ, lượng tri thức ngày càng nhiều, con người không thể tiếp thu hết
tri thức khi còn ngồi trên ghế nhà trường nên người học cần phải được trang bị
cách học tập, cách nghiên cứu, sự độc lập trong suy nghĩ, trong tư duy tự giành
lấy kiến thức cho mình. Phát triển năng lực cho học sinh trong quá trình dạy học
là một trong những nhiệm vụ cần thiết của giáo dục nói chung và dạy học môn
Công nghệ nói riêng, góp phần cung cấp cho học sinh cách thức tư duy, bước
đầu có những ý tưởng sáng tạo, từ đó tạo tiền đề cho những ý tưởng lớn trong
tương lai gần. Ngoài những đặc điểm vốn có của tư duy, năng lực còn có những
đặc điểm riêng biệt. Cần tìm các biện pháp tác động phù hợp với đặc điểm môn
học cũng như đặc điểm tâm – sinh lý của học sinh để phát triển năng lực cho
học sinh. Nội dung môn Công nghệ THPT gồm nhiều lĩnh vực kĩ thuật, kiến
thức trừu tượng, nhiều thuật ngữ chuyên ngành, nhiều hình vẽ phức tạp. Do đó
phát triển năng lực cho học sinh trong quá trình học không những giúp học sinh
nắm vững kiến thức mà còn nâng cao hiểu biết vấn đề, tăng hứng thú học tập,
tăng cường niềm tin và thúc đẩy động lực học tập đúng đắn cho học sinh. Để
hình thành và phát triển năng lực cho học sinh cần phải làm cho các em có lòng
mong muốn lĩnh hội kiến thức và vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn
cuộc sống.
2.2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến
2.2.1 Giáo dục định hướng phát triển năng lực
Khái niệm
“Dạy học định hướng phát triển năng lực có thể coi là một mô hình của
chương trình dạy học định hướng kết quả đầu ra”. Trong dạy học triển năng
lực người học, mục tiêu giảng dạy của chương trình dạy học được miêu tả
thông qua một số nhóm năng lực.
6
Khái niệm về năng lực được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau. “Năng lực
được hiểu như khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc”. Khái
niệm năng lực được dùng ở đây là đối tượng của tâm lý, giáo dục học: “Năng
lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm”.
Khái niệm năng lực được hiểu là gắn liền với khả năng hành động. “Khi
nói phát triển năng lực thì cũng có thể hiểu đồng thời là phát triển năng lực
hành động, chính vì vậy trong lĩnh vực dạy học, năng lực còn được hiểu là:
khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các
nhiệm vụ trong những tình huống khác nhau thuộc nghề nghiệp, xã hội hay cá
nhân trên cơ sở kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn
sàng hành động”.
Trong dạy học định hướng phát triển năng lực người học, khái niệm về năng
lực được hiểu như sau:
 Năng lực liên quan đến mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy học được miêu
tả thông qua các năng lực cần được hình thành và phát triển.
 Nội dung học tập và hoạt động dạy học cơ bản được kết nối với nhau để
hình thành các năng lực.
 Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn…
 Mục tiêu hình thành năng lực người học định hướng cho việc lựa chọn,
đánh giá mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động dạy
học về mặt phương pháp.
 Năng lực mô tả, giải quyết những tình huống về nội dung trong quá trình
dạy học…
 Các năng lực chung, các năng lực chuyên môn tạo thành nền tảng chung cho
công việc giáo dục và dạy học.
 Mức độ đối với sự hình thành, phát triển năng lực có thể được xác định
trong các tiêu chuẩn.
7
2.2.2. Mô hình cấu trúc năng lực
Năng lực được định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc vào
bối cảnh và mục đích sử dụng những năng lực đó. Các năng lực còn là những
đòi hỏi của các công việc, các nhiệm vụ, và các vai trò vị trí công việc. Vì vậy,
các năng lực được xem như là những phẩm chất tiềm tàng của một cá nhân và
những đòi hỏi của công việc. Từ hiểu biết về năng lực, có thể thấy các nhà
nghiên cứu về giáo dục trên thế giới đã sử dụng các mô hình năng lực khác
nhau trong tiếp cận của mình:
– Mô hình dựa trên cơ sở tính cách và hành vi cá nhân của cá nhân theo
đuổi cách xác định “con người cần phải như thế nào để thực hiện được các vai
trò của mình”.
– Mô hình dựa trên cơ sở các kiến thức hiểu biết và các kỹ năng được
đòi hỏi theo đuổi việc xác định “các kiến thức và kỹ năng mà con người cần
phải có” để thực hiện tốt vai trò của mình.
– Mô hình dựa trên các kết quả và tiêu chuẩn đầu ra theo đuổi việc xác
định con người “cần phải đạt được những gì ở nơi làm việc”.
Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu
trúc của chúng. Có nhiều loại năng lực khác nhau. Việc mô tả cấu trúc và các
thành phần năng lực cũng khác nhau.
a.Theo quan điểm của các nhà giáo dục ở Đức, cấu trúc chung của
năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần sau:
– Năng lực chuyên môn: “Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên
môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có
phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Trong đó bao gồm cả khả năng
tư duy lôgic, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khả năng nhận biết các mối
quan hệ hệ thống và quá trình. Năng lực chuyên môn hiểu theo nghĩa hẹp là
8
năng lực, nội dung chuyên môn, theo nghĩa rộng bao gồm cả năng lực phương
pháp chuyên môn”.
– Năng lực phương pháp: “Là khả năng đối với những hành động có kế
hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề.
Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương
pháp chuyên môn. Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng
tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức”.
– Năng lực xã hội: “Là khả năng đạt được mục đích trong những tình
huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp
chặt chẽ với những thành viên khác”.
– Năng lực cá thể: “Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội
phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu cá nhân,
xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn
giá trị đạo đức và động cơ chi phối các ứng xử và hành vi”.
Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực
chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau. Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề
nghiệp người ta cũng mô tả các loại năng lực khác nhau. Ví dụ năng lực của
GV bao gồm những nhóm cơ bản sau: Năng lực dạy học, năng lực giáo dục,
năng lực chẩn đoán và tư vấn, năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển
trường học.
Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát
triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao
gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực, phương pháp,
năng lực xã hội và năng lực cá thể. Những năng lực này không tách rời nhau
mà có mối quan hệ chặt chẽ. Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở
có sự kết hợp các năng lực này.
9
b.Mô hình năng lực theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
(OECD): Trong các chương trình dạy học hiện nay của các nước thuộc OECD,
người ta cũng sử dụng mô hình năng lực đơn giản hơn, phân chia năng lực
thành hai nhóm chính, đó là các năng lực chung và các năng lực chuyên môn.
– Nhóm năng lực chung bao gồm:
• Khả năng hành động độc lập thành công;
• Khả năng sử dụng các công cụ giao tiếp và công cụ tri thức một cách
tự chủ.
• Khả năng hành động thành công trong các nhóm xã hội không đồng
nhất.
-Năng lực chuyên môn liên quan đến từng môn học riêng biệt.
• Giải quyết các vấn đề;
• Giao tiếp vẽ kỹ thuật;
• Sử dụng các ký hiệu, công thức, …
2.2.3. Nội dung và PPDH theo quan điểm phát triển năng lực:
Nội dung dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ giới hạn
trong tri thức và kỹ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm
phát triển các lĩnh vực năng lực:
PPDH theo quan điểm phát triển năng lực: “không chỉ chú ý tích cực hoá
HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn
với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động
trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc nghiên cứu, học
tập trong nhà trường, thay đổi mỗi quan hệ giữa HS và GV theo hướng cộng
tác có ý nghĩa quan trọng phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập
những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung
các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực”.
10
Theo quan điểm phát triển năng lực: “đánh giá kết quả học tập không lấy
việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh
giá. Đánh giá kết quả học tập cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri
thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau”.
Trong quan niệm dạy học mới (tổ chức) một giờ học tốt là một giờ học
phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và
người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận
dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực
đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học.
Ngoài những yêu cầu có tính chất truyền thống như: bám sát mục tiêu
giáo dục, nội dung dạy học, đặc trưng môn học; phù hợp với đặc điểm tâm
sinh lí lứa tuổi HS; giờ học đổi mới PPDH còn có những yêu cầu mới như:
Được thực hiện thông qua việc GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS theo
hướng chú ý đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, nhu
cầu hành động và thái độ tự tin; được thực hiện theo nguyên tắc tương tác
nhiều chiều: giữa GV với HS, giữa HS với nhau (chú trọng cả hoạt động dạy
của người dạy và hoạt động học của người học). Về bản chất, đó là giờ học có
sự kết hợp giữa học tập cá thể (hình thức học cá nhân) với học tập hợp tác
(hình thức học theo nhóm, theo lớp); chú trọng kết hợp học với hành, nâng cao
tri thức với rèn luyện các kĩ năng, gắn với thực tiễn cuộc sống; phát huy thế
mạnh của các PPDH tiên tiến, hiện đại; các phương tiện, thiết bị dạy học và
những ứng dụng của công nghệ thông tin…; chú trọng cả hoạt động đánh giá
của GV và tự đánh giá của HS.
11
Ngoài việc nắm vững những định hướng đổi mới PPDH như trên, để có
được những giờ dạy học tốt, cần phải nắm vững các kĩ thuật dạy học. Chuẩn
bị và thiết kế một giờ học cũng là một hoạt động cần có những kĩ thuật riêng.
Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực là “phương pháp tích tụ dần dần
các yếu tố của phẩm chất và năng lực người học để chuyển hóa và góp phần
cho việc hình thành, phát triển nhân cách”.
Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học được xem như một
nội dung giáo dục, một phương pháp giáo dục và các kỹ thuật dạy học như:
PPDH nêu vấn đề, kỹ thuật khăn trải bàn, kỹ thuật dạy học 3 lần 3, PPDH phát
huy tính tích cực của HS.
Điểm khác nhau giữa các phương pháp là ở chỗ dạy học phát triển phẩm
chất, năng lực người học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn, đòi hỏi người
dạy phải có phẩm chất, năng lực giảng dạy nói chung cao hơn trước đây.
Điều quan trọng hơn cả là nếu so sánh với các quan niệm dạy học trước
đây, việc dạy học phát triển phẩm chất, năng lực sẽ làm cho việc dạy và việc
học được tiếp cận gần hơn, sát hơn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân
cách con người. Dưới đây là sự hình thành và phát triển năng lực của người

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ
học được sơ
như sau:
đồ hóa

12
Hình 1: Sự hình thành năng lực ở người học
Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp dạy học, kỹ thuật dạy học
nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “HS tự mình hoàn thành nhiệm vụ
học tập với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.
2.2.4. Cấu trúc giáo án phát huy năng lực.
Giáo án (kế hoạch bài học) được điều chỉnh theo công văn 5512 ngày
28/12/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tổ chức và xây dựng và tổ
chức thực hiện kế hoạch nhà trường. Có thể có nhiều cấu trúc để thiết kế một
kế hoạch dạy học (giáo án). Sau đây là một cấu trúc giáo án có các hoạt động
và mục tiêu cụ thể….
– Mục tiêu bài học:
+ Nêu rõ yêu cầu cần đạt đối với mỗi bài, mỗi chủ đề học về Kiến thức,
kỹ năng, thái độ, năng lực.
+ Các mục tiêu được biểu đạt bằng động từ cụ thể như: nêu được, vận
dụng được, … có thể lượng hoá được.
– Chuẩn bị về phương pháp, kỹ thuật dạy học, cách thức thực hiện và phương
tiện dạy học phù hợp với chủ đề/ bài học:
+ GV chuẩn bị các thiết bị dạy học, phương tiện dạy học (tranh ảnh, mô
hình, hiện vật, máy chiếu, TiVi, đầu video, máy tính, máy projector…) và tài
liệu cần thiết cho tiết học, chủ đề, …;
13
+ Hướng dẫn HS chuẩn bị bài học trước ở nhà (soạn bài, làm bài tập,
chuẩn bị tài liệu và đồ dùng học tập cần thiết cho chủ đề/ bài học).
– Tổ chức các hoạt động dạy học: Trình bày rõ cách thức triển khai, phương
pháp, kỹ thuật dạy học cụ thể. Với mỗi hoạt động dạy học cần chỉ rõ:
+ Tên các hoạt động dạy học diễn ra;
+ Mục tiêu của từng hoạt động dạy học;
+ Cách thức tiến hành các hoạt động;
+ Thời lượng để thực hiện hoạt động dạy học đó;
+ Kết luận của GV về những kiến thức, kỹ năng, thái độ HS cần có sau
mỗi hoạt động; những tình huống thực tiễn có thể vận dụng kiến thức, kỹ
năng, thái độ đã học để giải quyết vấn đề đặt ra; những sai sót thường gặp;
những hậu quả có thể xảy ra nếu không có cách giải quyết phù hợp;…
– Hướng dẫn các hoạt động tiếp nối: Xác định những việc HS cần phải tiếp
tục thực hiện sau giờ học để củng cố, khắc sâu, mở rộng bài cũ, hoạt động ứng
dụng kết quả bài học vào cuộc sống (ở lớp, nhà, cộng đồng; có thể cùng bạn,
gia đình, làng xóm, khối phố) hoặc để chuẩn bị cho việc học bài mới.
2.2.5. Kĩ thuật dạy học “ 3 lần 3 ”.
Kĩ thuật dạy học “ 3 lần 3 ” là một kĩ thuật dạy học lấy thông tin phản hồi
nhằm huy động sự tham gia tích cực của HS.
Cách làm như sau:
– HS được yêu cầu cho ý kiến phản hồi về một vấn đề nào đó (nội dung
buổi thảo luận, phương pháp tiến hành thảo luận…)
– Mỗi người cần viết ra: 3 điều tốt; 3 điều chưa tốt; 3 đề nghị cải tiến.

Chủ đềĐiểm tốtĐiểm hạn chếGiải pháp
Chủ đề:…….1….
2….
3….
1…..
2…..
3…..
1….
2….
3….

14
– Sau khi thu thập ý kiến thì xử lí và thảo luận về các ý kiến phản hồi.
– Thống nhất các ý kiến phản hồi và chuẩn kiến thức.
Trong giảng dạy Công nghệ phổ thông, kĩ thuật này rất thuận lợi khi vận
dụng nhằm nâng cao chất lượng dạy học, tạo tâm thế và hứng thú học tập cho
HS. Có thể sử dụng phổ biến trong các bài học Công nghệ.
*Những yêu cầu khi sử dụng kĩ thuật dạy học “ 3 lần 3 ”:
– Nội dung câu hỏi cần phải có tính định hướng rõ ràng, cụ thể bao gồm
cả kiến thức và kĩ năng, trong đó có các mức độ tái hiện, hiểu, áp dụng, phân
tích và tổng hợp.
– Các câu hỏi phải đảm bảo tính lôgíc, tính hệ thống, tính khoa học và
tính thực tiễn, đồng thời phải bám sát nội dung cơ bản của bài học.
– Sử dụng kĩ thuật này, khi chuẩn bị câu hỏi, GV phải xây dựng đáp án
rõ ràng khi soạn giáo án và chuẩn bị bài chu đáo trước giờ lên lớp.
– Sử dụng thường xuyên ở nhiều khâu: kiểm tra bài cũ, giảng bài mới,
ôn tập, hoặc có thể sử dụng trong kiểm tra viết.
– Phối kết hợp với các kĩ thuật dạy học khác như: đàm thoại gợi mở, nêu
vấn đề, đóng vai, thảo luận, sử dụng kênh hình,…
2.2.6. Vận dụng kĩ thuật dạy học “ 3 lần 3 ” trong dạy học Công nghệ
phổ thông:
Dưới đây tác giả xin trình bày một số phần trong môn Công nghệ phổ
thông có thể áp dụng kỹ thuật “3 lần 3” nhằm huy động sự tham gia tích cực
của HS trong quá trình dạy học.
 Đối với Môn Công nghệ THPT

LớpTên bài/ Nội dung
11Bài 11: Bản vẽ xây dựng
Bài 15: Phần II.Vật liệu thông dụng trong chế tạo cơ khí
Bài 16: Công nghệ chế tạo phôi (Phương pháp Đúc, phương pháp

15

Hàn, phương pháp gia công áp lực)
Bài 17: Phần II: Gia công trên máy tiện
Bài 19: Phần II: Biện pháp đảm bảo sự phát triển bền vững trong sản
xuất cơ khí
Bài 21: Phần II: Động cơ 4 kỳ
Bài 26: Phần III: Hệ thống làm mát bằng không khí
Bài 27: Phần II: Hệ thống nhiên liệu dùng bộ chế hoà khí
Bài 33: Động cơ đốt trong dùng cho Ôtô
Bài 34: Động cơ đốt trong dùng cho xe máy

 Đối với môn Công nghệ 12

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ
LớpTên bài/Nội dung
12Bài 7: Phần II: Mạch chỉnh lưu
Bài 8: Phần I: Mạch khuếch đại
Bài 15: Mạch điều khiển tốc độ động cơ điện xoay chiều một pha
Bài 18: Máy tăng âm
Bài 19: Máy thu thanh
Bài 20: Máy thu hình
Bài 23: Mạch điện xoay chiều ba pha
Bài 25: Phần II: Máy biến áp
Bài 26: Động cơ không đồng bộ 3 pha

 Một số ví dụ:
Ví dụ 1: Công nghệ THPT – Bài 16- Phần I: Phương pháp đúc

Chủ đềĐiểm tốtĐiểm hạn chếGiải pháp
– Đúc được tất cả các
kim loại và hợp kim
– Có nhiều rỗ xỉ
– Có nhiều rỗ khí
-Sử dụng phương
pháp đúc hiện đại để:

Bài 16-
Phần I:

16

Phương
pháp đúc
(Ví dụ: Sắt, vàng,
gang,…)
– Đúc được vật phẩm
có kích thước từ rất
nhỏ cho đến rất lớn
– Đúc được những
vật có hình dạng và
kết cấu phức tạp.
– Không điền
đầy,…
+ Có phần lọc bỏ xỉ
bẩn
+ Tạo ra nhiều lỗ
thông khí hợp lý.
+ Cần lựa chọn chỗ
cao nhất của sản
phẩm tạo phếu rót.

Ví dụ 2: Công nghệ THPT – Bài 16- Phần: Phương pháp Hàn

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ
Chủ đềĐiểm tốtĐiểm hạn chếGiải pháp
Bài 16-
Phần III:
Phương
pháp Hàn
– Tiết kiệm được
kim loại so với ghép
bằng bu lông – đai
ốc
– Tạo ra được các chi
tiết có hình dạng, kết
cấu phức tạp
– Mối hàn có độ bền
cao và kín
– Các chi tiết dễ bị
cong, vệnh, nứt
-Sử dụng vật liệu có
độ dày nhất định, gia
nhiệt đều để khắc
phục những hạn chế
trên.

Ví dụ 3: Công nghệ THPT – Bài 16- Phần: Phương pháp Gia công áp lực

Chủ đềĐiểm tốtĐiểm hạn chếGiải pháp
Bài 16-– Gia công bằng áp– Không chế tạo– Sử dụng phương

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ