SKKN Triển khai hiệu quả Giáo dục STEM trong THCS

SKKN Triển khai hiệu quả Giáo dục STEM trong THCS

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI
1.1, Cơ sở lý luận.
Trong những năm gần đây, khi đất nước ta đang chuyển mình mạnh mẽ vào xu thế
hội nhập toàn cầu để tiến tới mục tiêu khẳng định thương hiệu trong tương lai thì sự đổi
mới của Ngành giáo dục nước nhà là một việc làm mang tính cấp thiết đối với xã hội.
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 ra đời chính là nhằm mục đích đào tạo ra những thế
hệ HS có phẩm chất, năng lực, có lòng yêu Tổ quốc, yêu quê hương, trở thành người công
dân tốt. Vì vậy, dạy học gắn với thực tiễn sẽ là một phần không thể thiếu trong công cuộc
đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục nước nhà. Với các cơ sở giáo dục phổ thông, ngoài
phẩm chất, năng lực ra thì việc vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học của HS vào thực tiễn
cuộc sống là mục tiêu quan trọng nhất của quá trình dạy học và giáo dục của Nhà trường
phổ thông
Việc vận dụng này, không chỉ thể hiện ở chỗ HS có kĩ năng sử dụng kiến thức để
giải quyết các vấn đề liên quan đến nội dung bài học mà còn giải quyết các vấn đề thực
tiễn đa dạng trong cuộc sống theo hướng “học đi đôi với hành”, “lí thuyết gắn với thực
tiễn”, “nhà trường gắn với xã hội”. Từ đó, giúp các em xác định được nhu cầu và định
hướng nghề nghiệp của mình trong tương lai.
Đứng trước ngưỡng cửa của cuộc cách mạng khoa học công nghiệp lần thứ tư, các
nền giáo dục tiên tiến trên thế giới đang có sự thay đổi to lớn với mục đích cuối cùng là đào
tạo ra thế hệ trẻ có đủ trí tuệ và sự nhạy cảm thời đại để thích ứng và phát triển. Một trong
những mô hình giáo dục hiện đại nhằm hiện thực hóa mục đích giáo dục nêu trên, đang có
sức lan tỏa và ảnh hưởng rộng khắp thế giới đó chính là giáo dục STEM.
Giáo dục STEM về bản chất được hiểu là trang bị cho người học những kiến thức và
kỹ năng cần thiết liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học.
Những kiến thức và kỹ năng này phải được tích hợp, lồng ghép và bổ trợ cho nhau giúp
HS không chỉ hiểu biết về nguyên lý mà còn có thể áp dụng để thực hành, tạo ra được
những sản phẩm có thể phục vụ cho cuộc sống hằng ngày.
1.2, Cơ sở thực tiễn
Căn cứ vào Hướng dẫn số 791/HD-BGDĐT ngày 25/06/2013 về thí điểm phát triển
chương trình GD nhà trường phổ thông nhằm GD định hướng nghề nghiệp.
Căn cứ Công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08/10/2014 về đổi mới phương
pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá.
Căn cứ Công văn số 1290/BGDĐT-GDTrH ngày 29/03/2016 về hướng dẫn triển khai
hoạt động nghiên cứu khoa học của HS trung học năm học 2016-2017.
Căn cứ chỉ thị số 3031/CT-BGDĐT ngày 26/08/2016 về tổ chức dạy học gắn với sản
xuất, kinh doanh tại địa phương.
Căn cứ Công văn số 3282/BGDĐT-TĐKT ngày 28/07/2017 về đổi mới, sáng tạo
5
trong dạy và học..
Căn cứ Công văn số 4612/BGDĐT-GDTrH ngày 03/10/2017 về hướng dẫn thực hiện
chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định hướng phát triển năng lực và phẩm
chất cho HS.
Căn cứ vào Chỉ thị 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 và Quyết định số 522/QĐ-TTg ngày
14/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ, yêu cầu các Bộ, Ban, Ngành tập trung thực hiện hiệu
quả các giải pháp và nhiệm vụ. Trong đó, giao nhiệm vụ cho Bộ GD&ĐT, thúc đẩy triển
khai giáo dục về khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) trong chương trình
giáo dục phổ thông; tổ chức thí điểm tại một số trường phổ thông ngay từ năm học 2017 –
2018 nhằm tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4.
Căn cứ nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ
trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Căn cứ vào Công văn số 3089/BGDĐT-GDTrH về việc triển khai giáo dục STEM
trong giáo dục Trung học. Hướng dẫn một số nội dung thực hiện giáo dục STEM và tổ
chức, quản lý hoạt động giáo dục STEM trong trường trung học.
Theo Thứ trưởng Bộ GD & ĐT Nguyễn Hữu Độ: “Việc dạy học các chủ đề STEM
chính là dạy học gắn với thực tiễn, là cơ hội đổi mới tư duy dạy học, khuyến khích sự sáng
tạo và tăng cường hợp tác trong công việc của GV; đồng thời tăng cường khả năng vận
dụng tổng hợp kiến thức, khả năng tư duy, năng lực tự học, tự nghiên cứu của HS và thúc
đẩy sự tham gia của gia đình, cộng đồng vào hoạt động giáo dục của nhà trường”. Để
thực hiện được mục tiêu phát triển các năng lực đó cho HS, trong quá trình dạy học cần
phải tổ chức hoạt động dạy học trong giáo dục phổ thông cho HS được hoạt động học
phỏng theo chu trình STEM. Nghĩa là HS được hoạt động học theo hướng “trải nghiệm”
việc phát hiện và giải quyết vấn đề (sáng tạo khoa học, kĩ thuật) trong quá trình học tập
kiến thức khoa học gắn liền với ứng dụng của chúng trong thực tiễn.
Như vậy, giáo dục STEM trong Nhà trường là phương thức giáo dục tích hợp nội môn,
liên môn, dạy học theo hướng phát triển năng lực của HS và giáo dục định hướng nghề
nghiệp theo định hướng 4.0 trong đó HS được thực hiện các loại hoạt động chính sau:
Hoạt động tìm hiểu thực tiễn, phát hiện vấn đề: Trong các bài học STEM, HS được
đặt trước các nhiệm vụ thực tiễn: giải quyết một tình huống hoặc tìm hiểu, cải tiến một ứng
dụng kĩ thuật nào đó. Thực hiện nhiệm vụ này, HS cần phải thu thập được thông tin, phân
tích được tình huống, giải thích được ứng dụng kĩ thuật, từ đó xuất hiện các câu hỏi hoặc
xác định được vấn đề cần giải quyết.
Hoạt động nghiên cứu kiến thức nền: Từ những câu hỏi hoặc vấn đề cần giải quyết, HS
được yêu cầu/hướng dẫn tìm tòi, nghiên cứu để tiếp nhận kiến thức, kĩ năng cần sử dụng cho
việc trả lời câu hỏi hay giải quyết vấn đề. Đó là những kiến thức, kĩ năng đã biết hay cần dạy
cho HS trong chương trình giáo dục phổ thông. Hoạt động này bao gồm: nghiên cứu tài liệu
khoa học (bao gồm sách giáo khoa); quan sát/thực hiện các thí nghiệm, thực hành; giải các
bài tập/tình huống có liên quan để nắm vững kiến thức, kĩ năng.
Hoạt động giải quyết vấn đề: Về bản chất, hoạt động giải quyết vấn đề là hoạt động
sáng tạo khoa học, kĩ thuật, nhờ đó giúp cho HS hình thành và phát triển các phẩm chất và
năng lực cần thiết thông qua việc đề xuất và kiểm chứng các giả thuyết khoa học hoặc đề
xuất và thử nghiệm các giải pháp kĩ thuật. Tương ứng với đó, có hai loại sản phẩm là “kiến
6
thức mới” (dự án khoa học) và
“công nghệ mới” (dự án kĩ thuật).
Hoạt động sáng tạo khoa học:
Kết quả nghiên cứu là những đề
xuất mang tính lí thuyết được rút ra
từ các số liệu thu được trong thí
nghiệm kiểm chứng giả thuyết
khoa học. Ví dụ: tìm ra chất mới;
yếu tố mới, quy trình mới tác động
đến sự vật, hiện tượng, quá trình
trong tự nhiên,…
Hoạt động sáng tạo kĩ thuật: Kết quả nghiên cứu là sản phẩm mang tính ứng dụng
thể hiện giải pháp công nghệ mới được thử nghiệm thành công. Ví dụ: dụng cụ, thiết bị
mới; giải pháp kĩ thuật mới…
Theo đó, ứng dụng giáo dục STEM trong trường phổ thông nhằm:
– Góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục đã nêu trong chương trình giáo dục phổ
thông 2018.
– Phát triển kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho HS phổ thông thông qua
ứng dụng STEM, nhằm: Phát triển các năng lực đặc thù của các môn học Vật lí, Hóa học,
Sinh học, Công nghệ, Tin học và Toán học.
– Biết vận dụng kiến thức các môn Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học
vào giải quyết các vấn đề thực tiễn.
– Có thể đề xuất các vấn đề thực tiễn mới phát sinh và giải pháp giải quyết các vấn
đề đó trong thực tiễn.
Thời gian qua, ngành giáo dục đã tích cực thực hiện giáo dục STEM, xây dựng các
chủ đề dạy học liên môn. Việc dạy học các chủ đề STEM góp phần đổi mới phương pháp dạy
học, kiểm tra, đánh giá. Tuy nhiên, một số địa phương, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ mục đích
ý nghĩa của hoạt động giáo dục STEM khiến việc triển khai chưa hiệu quả.
2- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về giáo dục STEM trong trường phổ
thông, làm rõ thực trạng triển khai chương trình giáo dục STEM trường THCS Trần Bích
San – TP. Nam Định hiện nay và nguyên nhân để tìm ra những ưu điểm, hạn chế và đề ra
những biện pháp, giải pháp phù hợp nhằm triển khai hiệu quả chương trình giáo dục STEM
trong Nhà trường.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã nghiên cứu và mạnh dạn đưa ra đề tài
“TRIỂN KHAI HIỆU QUẢ GIÁO DỤC STEM TRONG TRƯỜNG THCS TRẦN BÍCH
SAN – TP. NAM ĐỊNH” với mục đích như vậy. Tuy nhiên, giáo dục STEM là một lĩnh vực
mới, nhất là trong điều kiện của nước ta hiện nay, với thu nhập chỉ mới bước qua mức trung
bình thấp lên trung bình cao thì để thực hiện được được mục tiêu đó, cần rất nhiều vào sự cố
gắng của Nhà trường, sự chung tay của tất cả các Cơ quan, Ban ngành và toàn Xã hội.
Hình 1: Kỹ năng giải quyết vấn đề trong GD STEM
7
PHẦN THỨ HAI: MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1- MÔ TẢ GIẢI PHÁP TRƯỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN
Thực trạng giáo dục STEM trong trường THCS Trần Bích San – TP Nam Định cũng
như các trường phổ thông hiện nay:
Thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc
tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, Bộ GD – ĐT đã phối
hợp với Hội đồng Anh triển khai chương trình thí điểm giáo dục STEM cho một số trường
trung học tại một số tỉnh, TP.. Cũng trong năm học 2017 – 2018, giáo dục STEM đã được
Bộ GD – ĐT đưa vào các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học và đến
nay tiếp tục chỉ đạo các địa phương trên toàn quốc tích hợp STEM trong quá trình thực
hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành ở những môn có liên quan. Bên cạnh đó,
giáo dục STEM đã được đưa vào nhiệm vụ năm học của nhiều Sở GD – ĐT trên cả nước.
Trong dự án thí điểm “áp dụng phương pháp tiếp cận STEM của Anh vào bối cảnh
Việt Nam trong năm 2016 – 2017” của hội đồng Anh tại Việt Nam và Bộ GD – ĐT Việt
Nam đã nhắm tới 15 trường THCS công lập, dân lập và trường THPT tại 5 tỉnh miền Bắc
gồm: Hà Nội, Hải Dương, Nam Định, Hải Phòng và Quảng Ninh với mục tiêu là:
– Xây dựng năng lực, áp dụng cách tiếp cận STEM cho GV và các lãnh đạo nhà trường
nhằm nâng cao thành tích học tập và năng lực thực hành của HS.
– Xây dựng sách giáo khoa, đổi mới sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy theo
phương pháp STEM và phát triển tài liệu học tập STEM.
– Thiết kế các hoạt động ngoại khóa STEM (ví dụ: câu lạc bộ khoa học, cuộc thi khoa
học, đại sứ STEM, tài liệu học STEM, trại hè STEM… để khuyến khích sự tham gia của
các tổ chức xã hội khác nhau vào giáo dục STEM).
1.1, Kết quả đạt được:
1.1.1, Trong các trường phổ thông.
Theo như chúng tôi tìm hiểu thì giáo dục STEM trong các trường phổ thông tại Tỉnh
Nam Định cũng đã triển khai các hoạt động theo hướng này, điển hình như:
– Cuộc thi “Sáng tạo KHKT và ngày hội STEM” dành cho HS trung học;
– Vận dụng kiến thức liên môn vào giải quyết tình huống thực tiễn;
– Sáng kiến giáo dục STEM – SchoolLAB dành cho HS trung học…
– Dạy học tích hợp theo định hướng giáo dục STEM;
1.1.2, Kết quả đạt được trong trường THCS Trần Bích San.
Tại Trường THCS Trần Bích San, Giáo dục STEM được tổ chức thực hiện thông qua
các hình thức:
– Các cuộc thi “Sáng tạo Khoa học – Kỹ thuật & Ngày hội STEM”, các hoạt động trải
nghiệm sáng tạo phối hợp tổ chức các hoạt động STEM giữa nhà trường và các tổ chức, cơ sở
giáo dục ngoài Nhà trường;
– Dạy học tích hợp theo định hướng giáo dục STEM;
Từ kết quả trên cho thấy, Nhà trường đã thực hiện chương trình giáo dục STEM theo
đúng tinh thần của Bộ GD-ĐT, sự chỉ đạo trực tiếp từ Sở GD-ĐT, Phòng GD-ĐT trực
thuộc,…, bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định, tạo tiền đề thuận lợi cho việc
8
triển khai các bước tiếp theo mang tính đại trà. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đó, việc
triển khai “giáo dục STEM” vẫn còn là thách thức vô cùng lớn không chỉ của riêng Nhà
trường mà còn là thách thức với các trường phổ thông ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
1.2, Những khó khăn, tồn tại và nguyên nhân:
Từ những chương trình thí điểm, những phong trào, cuộc thi,… bước đầu đã có những
tác động tích cực, lan tỏa, làm chuyển biến trong dạy và học tại các trường phổ thông trên cả
nước. Trên cơ sở đó, HS được thực hành, trải nghiệm nhiều hơn, học tập gắn với cuộc sống
thực hơn. Tuy nhiên, các phong trào vẫn dừng lại ở hình thức các cuộc thi, thao giảng mà
chưa trở thành hoạt động thường xuyên, phổ biến và tự nguyện của các Nhà trường cũng
như của GV phổ thông. Vẫn còn những khó khăn, tồn tại cần phải giải quyết:
Một là, chưa “Chương trình hóa” giáo dục STEM: Mặc dù chương trình giáo dục phổ
thông mới đã tạo điều kiện thuận lợi hơn để có thể triển khai giáo dục STEM, tuy nhiên với
khung chương trình đề ra, GV vẫn gặp khó khăn trong việc tổ chức các nội dung, chủ đề sao
cho vừa bảo đảm yêu cầu của khung chương trình, vừa phát huy sức sáng tạo của HS.
Hai là, trình độ GV chưa đáp ứng được yêu cầu: Phần lớn giáo dục chỉ được đào tạo
hình thức dạy học đơn môn, do đó gặp khó khăn khi triển khai dạy học theo hướng liên
môn như giáo dục STEM. Giáo dục STEM là môn mới, đòi hỏi GV phải đầu tư nhiều thời
gian nghiên cứu, vận dụng vào thực tế giảng dạy, trong khi đó, đa số GV chưa bố trí, sắp
xếp thời gian để thực hiện. Ngoài ra, với tâm lý ngại học hỏi, ngại chia sẻ với đồng nghiệp,
nên chưa có sự trao đổi, liên hệ tốt giữa GV các bộ môn trong dạy học STEM.
GV còn lúng túng trong lựa chọn tình huống có vấn đề mang tính kỹ thuật gắn với
thực tiễn để tổ chức dạy học STEM tương ứng với bài học, môn học. Khó khăn phân bổ
quĩ thời gian để hướng dẫn và giám sát việc thực hiện các dự án, đặc biệt là hoạt động Chế
tạo mẫu, thử nghiệm và đánh giá. Cùng với đó là rào cản trong đánh giá quá trình học tập
một chủ đề STEM. “STEM là một vấn đề không dễ thực hiện, đặc biệt trong tư tưởng của
không ít GV”.
Ba là, kiến thức của HS phổ thông cơ sở được học là những kiến thức cơ bản, đơn
giản, chưa chuyên sâu nên khả năng vận dụng những kiến thức đó để tạo ra những sản
phẩm phục vụ cuộc sống là rất khó khăn. HS được thực hành rất ít nên các kĩ năng thực
hành, thao tác thí nghiệm, thu thập và xử lí dữ liệu …. còn hạn chế.
Bốn là, chưa có sự phối hợp thường xuyên, liên tục giữa Nhà trường với các trường
đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức, doanh nghiệp… tại địa phương. Thực tế cho thấy,
đã có sự phối nhưng mới chỉ là những điển hình đơn lẻ, chưa tạo được sự liên kết rộng
khắp và bền vững.
Năm là, nội dung kiểm tra, đánh giá trong dạy học còn gặp “rào cản” ở các trường.
Hiện nay ở trường phổ thông (cụ thể là kỳ thi trung học phổ thông quốc gia) việc kiểm
tra, đánh giá được tổ chức theo hình thức làm bài thi trắc nghiệm kiểm tra kiến thức, kỹ
năng; trong khi kiểm tra, đánh giá theo mô hình giáo dục STEM là đánh giá quá trình và
thông qua sản phẩm. Vì vậy, trên thực tế, việc triển khai giáo dục STEM vẫn phải “tránh”
các lớp cuối cấp (lớp 9) để dành thời gian cho HS luyện thi. Còn với các khối lớp khác
không nặng về thi chuyển cấp thì vẫn phải bảo đảm học để thi hết kỳ, cho nên việc học
theo sách giáo khoa, luyện giải bài tập vẫn là hoạt động chính của HS, GV chỉ dành một
9
phần thời gian cho các hoạt động STEM (ngoại khóa, hoạt động sau giờ học) là chủ yếu.
Như vậy, chậm đổi mới kiểm tra, đánh giá trong dạy học sẽ là “rào cản” lớn nhất đối với
quá trình triển khai STEM trong nhà trường phổ thông.
Sáu là, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra:
Trang thiết bị cho giáo dục STEM chưa đồng bộ, sĩ số mỗi lớp học quá đông cũng
gây khó khăn cho tổ chức hoạt động, cản trở việc đổi mới phương pháp dạy học của GV.
Ngoài ra, việc không có phòng học STEM hoặc phòng thực hành để HS có nơi làm việc
nhóm, nghiên cứu, thí nghiệm cũng là một vấn đề. Mặt khác, với các nội dung học tập
chuyên sâu hơn như khoa học máy tính, robotic, lập trình,… cần đầu tư kinh phí lớn hơn
nhưng chưa được ngân sách nhà nước quan tâm, chủ yếu là nguồn xã hội hóa nên đây cũng
là những khó khăn không nhỏ cho triển khai dạy học STEM.
Bảy là: Nguồn kinh phí phục vụ hoạt động cho giáo dục STEM..
Trong Nhà trường, nguồn kinh phí để chi tiêu cho tất cả các hoạt động giáo dục chủ
yếu được lấy từ nguồn ngân sách do Nhà nước cấp và từ một vài nguồn khác nữa nhưng
vẫn rất ít. Chính vì vậy, để hoàn thiện mục tiêu ở mức cao hơn thì Nhà trường vẫn cần một
khoản kinh phí nhất định.
Hình 2: Thực trạng giáo dục STEM trong trường phổ thông và trường THCS Trần Bích
San hiện nay.
Tất cả nhứng khó khăn trên đây cũng là khó khăn chung của các trường phổ thông
trong cả nước, trong đó, trường THCS nơi tôi công tác cũng không ngoại lệ. Muốn giáo
dục STEM được triển khai và thực hiện có hiệu quả thì ngoài những quy định, những yêu
NHỮNG KHÓ KHĂN,
TỒN TẠI.
– Một là: Chưa “Chương trình hóa” giáo
dục STEM.
– Hai là, trình độ GV chưa đáp ứng được
yêu cầu.
– Ba là, kiến thức của học sinh.
– Bốn là, chưa có sự phối hợp thường
xuyên, liên tục NT – các đơn vị, Tổ chức
XH
– Năm là, nội dung kiểm tra, đánh giá trong
dạy học còn gặp “rào cản” ở các trường
– Sáu là, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết
bị chưa đáp ứng được yêu cầu.
– Bảy là: Nguồn kinh phí phục vụ hoạt động
GD.
• VẬN DỤNG KIẾN
THỨC LIÊN MÔN
VÀO GIẢI QUYẾT
TÌNH HUỐNG THỰC
TIỄN.
• TỔ CHỨC CÁC
CUỘC THI SÁNG
TẠO KHKT – NGÀY
HỘI STEM
• SÁNG KIẾN GD
STEM – SHOOLLAB
• DẠY HỌC TÍCH HỢP
THEO ĐỊNH HƯỚNG
GD STEM.
GD STEM
TRƯỜNG
PHỔ
THÔNG
HIỆN NAY
•DẠY HỌC TÍCH
HỢP THEO ĐỊNH
HƯỚNG GD STEM.
• TỔ CHỨC CÁC
CUỘC THI SÁNG
TẠO KHKT – NGÀY
HỘI STEM.
GD STEM
TRƯỜNG
THCS
TRẦN
BÍCH SAN
HIỆN NAY
10
cầu, sự hỗ trợ từ cấp trên,… đưa ra thì chính bản thân mỗi đơn vị, cơ quan trường học phải
căn cứ vào tình hình thực tế của đơn vị mình, có cái nhìn toàn cảnh, thấu đáo, từ đó đưa ra
được các giải pháp phù hợp ở đơn vị mình mới đạt được hiệu quả, đáp ứng mục tiêu giáo
dục đề ra.
Tuy nhiên, để giáo dục STEM được triển khai rộng khắp trong tất cả trường phổ thông
thì công việc trước mắt không chỉ là trách nhiệm của riêng các Nhà trường, Ngành giáo
dục, mà còn là của tất cả các Cơ quan, Đoàn thể, các Tổ chức Chính trị – Xã hội, Gia đình
HS và chính bản thân các em cùng vào cuộc. Có như vậy, giáo dục STEM mới có thể đưa
vào giảng dạy như một chương trình giáo dục Quốc gia tại Việt Nam.
2- MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI CÓ SÁNG KIẾN.
Ngày nay, chỉ với một thiết bị thông minh như điện thoại, máy tính, máy tính bảng,…
có kết nối với Internet, mọi lúc, mọi nơi, người dạy, người học đều có thể tham gia trao
đổi, học tập, khám phá kiến thức một cách rất dễ dàng và hiệu quả. Người dạy và người
học đều có thể triển khai, tiếp cận kiến thức trong một không gian mở. Trong không gian
này, thầy cô cũng có thể học hỏi từ chính các em HS chứ không phải chỉ các em mới là
người học. Chính vì vậy, giáo dục STEM ra đời giúp thay đổi toàn bộ tư duy giáo dục của
tất cả các đối tượng có liên quan.
Trong chương trình giáo dục STEM, HS được khám phá, trải nghiệm kiến thức để
tìm ra khái niệm, định nghĩa của bài học thông qua sản phẩm các em đã làm trong giờ học
từ các đồ vật, công cụ, thiết bị phục vụ cho bài học.
2.1, Tổng quan về giáo dục STEM trong trường phổ thông ở Việt Nam
2.1.1. Các khái niệm:
a, STEM là viết tắt của các từ Science (Khoa học), Technology (Công nghệ),
Engineering (Kỹ thuật) và Mathematics (Toán học). Giáo dục STEM về bản chất được hiểu
là trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cần thiết liên quan đến các lĩnh vực
khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học.
b, Giáo dục STEM là một chương trình giảng dạy dựa trên ý tưởng trang bị cho
người học những kiến thức, kỹ năng liên quan đến (các lĩnh vực) khoa học, công nghệ, kỹ
thuật và toán học – theo cách tiếp cận liên môn (interdisciplinary) và người học có thể áp
dụng để giải quyết vấn đề trong cuộc sống. Thay vì dạy bốn môn học như các đối tượng
tách biệt và rời rạc, STEM kết hợp chúng thành một mô hình học tập gắn kết dựa trên các
ứng dụng thực tế.
Hình 3: Các lĩnh vực trong giáo dục STEM
11
c, Triển khai là thực hiện các công việc trong kế hoạch, mở rộng theo một quy mô,
phạm vi đã được xác định.
d, Hiệu quả là là khả năng tạo ra kết quả mong muốn hoặc mong đợi, hoặc tạo ra
một ấn tượng sâu sắc, sinh động.
e, Triển khai hiệu quả là khả năng tạo ra kết quả như mong muốn hoặc mong đợi,
hoặc tạo ra một kết quả ấn tượng sâu sắc, sinh động sau khi hoàn thành một công việc hoặc
một nhiệm vụ dựa theo bản kế hoạch cụ thể.
g, Triển khai hiệu quả giáo dục STEM là khả năng tạo ra kết quả như mong muốn
hoặc một kết quả ấn tượng sau khi đã thực hiện xong tất cả các bước, các nội dung , quy
trình của quá trình giáo dục STEM dựa theo bản kế hoạch cụ thể.
h, Giáo dục STEM trong trường phổ thông là hoạt động dạy học các môn học thuộc
lĩnh vực STEM, hoạt động trải nghiệm STEM và hoạt động nghiên cứu Khoa học – Kỹ thuật.
i, Triển khai hiệu quả giáo dục STEM trong trường phổ thông là khả năng hoàn
thành được tất cả các thành tố về nguồn nhân lực, vật lực, hoạt động dạy học các môn học
thuộc lĩnh vực STEM, hoạt động trải nghiệm STEM và hoạt động nghiên cứu Khoa học –
Kỹ thuật trong trường phổ thông dựa trên bản kế hoạch cụ thể.
Trong chương trình giáo dục STEM, những kiến thức và kỹ năng phải được tích
hợp, lồng ghép và bổ trợ cho nhau. GV thực hiện giáo dục STEM thông qua hoạt động dạy
học để kết nối kiến thức học đường với thế giới thực, giải quyết các vấn đề thực tiễn nhằm
nâng cao hứng thú học tập, để hình thành, phát triển năng lực và phẩm chất cho HS.
Hình 4: Sơ đồ phát triển năng lực, phẩm chất HS.
Giúp HS không chỉ hiểu biết về kiến thức cơ bản mà còn có thể áp dụng để thực hành
và tạo ra được những sản phẩm trong cuộc sống hằng ngày. Trong đó:
Với kỹ năng khoa học: HS được trang bị kiến thức về các khái niệm, các nguyên lý,
các định luật và các cơ sở lý thuyết của giáo dục khoa học. Mục tiêu quan trọng nhất là
thông qua giáo dục khoa học, HS có khả năng sử dụng và liên hệ các kiến thức này để thực
hành, đồng thời có tư duy vận dụng vào thực tiễn để giải quyết các vấn đề trong thực tế.
NĂNG LỰC
KHUNG YÊU
CẦU PHÁT
TRIỂN TRONG
THẾ KỶ XXI
NĂNG LỰC,
PHẨM
CHẤT HỌC
SINH
PHẨM CHẤT
VÀ NĂNG LỰC
CỐT LÕI
TRONG
CHƯƠNG
TRÌNH GDPT
MỚI
12
Với kỹ năng công nghệ: HS có khả năng sử dụng, quản lý, hiểu biết và truy cập được
công nghệ, từ những vật dụng đơn giản như cái bút, chiếc quạt đến những hệ thống phức
tạp như mạng internet, máy móc.
Với kỹ năng kỹ thuật: HS được trang bị kỹ năng sản xuất ra đối tượng sản phẩm và
hiểu được quy trình để làm ra nó. Vấn đề này đòi hỏi HS phải có khả năng tổng hợp và kết
hợp để biết cách làm thế nào để cân bằng các yếu tố liên quan (như vật lý, nghệ thuật, công
nghệ, hóa học) để có được một giải pháp tốt nhất trong thiết kế và xây dựng quy trình.
Ngoài ra HS còn có khả năng nhìn nhận ra nhu cầu và phản ứng của xã hội trong những
vấn đề liên quan đến kỹ thuật.
Kỹ năng toán học: là khả năng nhìn nhận và nắm bắt được vai trò của toán học trong
mọi khía cạnh tồn tại trong cuộc sống. HS được đào tạo nhằm mục tiêu có kỹ năng toán
học để thực hiện các ý tưởng một cách chính xác, có khả năng áp dụng các lý thuyết và kỹ
năng toán học vào cuộc sống hằng ngày.
Đối với HS phổ thông, việc theo học các môn học STEM còn có ảnh hưởng tích cực
tới khả năng lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai. Khi được học nhiều dạng kiến thức
trong một thể tích hợp, HS sẽ chủ động thích thú với việc học tập thay vì thái độ e ngại
hoặc tránh né một lĩnh vực nào đó. Trên cơ sở đó sẽ khuyến khích các em có định hướng
tốt hơn khi chọn chuyên ngành ở các bậc học cao hơn và tạo sự chắc chắn cho cả sự nghiệp
về sau. Những HS được dạy học theo cách tiếp cận giáo dục STEM đều có những ưu thế
nổi bật như: kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ và toán học chắc chắn; khả năng sáng
tạo, tư duy logic; hiệu suất học tập và làm việc vượt trội và có cơ hội phát triển các kỹ năng
mềm toàn diện hơn trong khi không hề gây cảm giác nặng nề, quá tải đối với HS.
Giáo dục STEM vận dụng phương pháp học tập chủ yếu dựa trên thực hành và các
hoạt động trải nghiệm sáng tạo, các phương pháp giáo dục tiến bộ, linh hoạt nhất như: học
qua dự án – chủ đề, học qua trò chơi và đặc biệt phương pháp học qua thực hành luôn được
áp dụng triệt để cho các môn học tích hợp STEM. Giáo dục STEM giúp thu hẹp khoảng
cách giữa nhà trường và cuộc sống, tạo ra những con người có năng lực làm việc “tức thì”
trong môi trường có tính sáng tạo và sử dụng trí óc trong các công việc ít lặp lại trong thế
kỷ XXI.
Mục đích chính của chương trình giáo dục STEM không phải để đào tạo ra các nhà
khoa học, nhà toán học, kỹ sư mà chính nằm ở truyền cảm hứng trong học tập, thấy được
mối liên hệ giữa các kiến thức (nhất là các kiến thức về khoa học và toán), và nhận thức
được tầm quan trọng của các kiến thức STEM ảnh hưởng đến thế giới và sự phát triển của
xã hội trong tương lai. Ngoài ra, các kỹ năng thực hành khoa học và kỹ thuật cũng góp
phần quan trọng trong việc vận dụng các kiến thức được học trong việc giải quyết vấn đề
và tạo thành sản phẩm.
Như vậy, việc giáo dục STEM theo định hướng dạy học lấy HS làm trung tâm cần
liên kết các lĩnh vực khoa học, công nghệ, xã hội dựa trên nền tảng ngôn ngữ toán học để
gắn kết thống nhất giữa ba môi trường là tự nhiên, xã hội và nhân tạo để đáp ứng nhu cầu
của con người trong xã hội thực như mô hình đề xuất dưới đây:
13
Hình 5: Sự gắn kết môi trường tụ nhiên, xã hội và nhân tạo trong giáo dục STEM
2.1.2. Đặc điểm giáo dục STEM:
Tổng hợp các nghiên cứu và báo cáo gần đây nêu ra 5 đặc điểm chính của giáo dục
STEM để phân biệt với các chương trình khác: (1). Tập trung vào sự tích hợp; (2). Liên hệ
với cuộc sống thực; (3). Hướng đến phát triển kỹ năng của thế kỷ 21; (4). Thách thức HS
vượt lên chính mình; (5). Có tính hệ thống và gắn kết giữa đa dạng các bài học.
2.1.3. Vai trò, ý nghĩa của giáo dục STEM trong nhà trường.
Việc đưa giáo dục STEM vào trong trường phổ thông có rất nhiều ý nghĩa, phù hợp
với định hướng đổi mới giáo dục. Cụ thể là:
Đảm bảo giáo dục toàn diện: Triển khai giáo dục STEM ở nhà trường bên, cạnh các
môn học đang được quan tâm như Toán học, Khoa học, các lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật
cũng sẽ được quan tâm, đầu tư trên tất cả các phương diện về đội ngũ GV, chương trình,
cơ sở vật chất.
Nâng cao hứng thú học tập các môn học STEM: Các dự án học tập trong giáo dục
STEM hướng tới việc vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đề thực tiễn, HS
được hoạt động, trải nghiệm và thấy được ý nghĩa của tri thức với cuộc sống, nhờ đó sẽ
nâng cao hứng thú học tập của HS.
Hình thành và phát triển năng lực phẩm chất cho HS: Khi triển khai các dự án học
tập STEM, HS được hợp tác với nhau, chủ động và tự lực thực hiện các nhiệm vụ học tập;
được làm quen với hoạt động có tính chất nghiên cứu khoa học. Các hoạt động nêu trên
góp phần tích cực vào hình thành và phát triển phẩm chất năng lực cho HS.
Kết nối trường học với cộng đồng: Để đảm bảo triển khai hiệu quả giáo dục STEM, cơ
sở giáo dục phổ thông thường kết nối các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, các trường đại học tại
địa phương nhằm khai thác nguồn lực về con người, cơ sở vật chất. Bên cạnh đó giáo dục
STEM phổ thông cũng hướng tới giải quyết các vấn đề có tính đặc thù của địa phương.
Hướng nghiệp phân luồng: Tổ chức tốt giáo dục STEM ở trường phổ thông, HS sẽ
được trải nghiệm trong các lĩnh vực STEM, đánh giá được sự phù hợp năng khiếu, sở thích
của bản thân với nghề nghiệp thuộc lĩnh vực STEM. Thực hiện tốt giáo dục STEM ở trường
phổ thông cũng là cách thức thu hút HS theo học, lựa chọn các ngành nghề thuộc lĩnh vực
STEM, các ngành nghề có nhu cầu cao về nguồn nhân lực trong cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ tư.
14
2.1.4. Hình thức tổ chức giáo dục STEM trong trường phổ thông
Trong Nhà trường, hoạt động giáo dục STEM được tổ chức dưới hai dạng: Tích hợp
trong các môn học và tích hợp trong các hoạt động giáo dục mang tính tập thể, phong trào,
cuộc thi, ngoại khóa,… với mục tiêu là phát triển năng lực HS, đặc biệt là năng lực sáng
tạo. Hình thức tổ chức giáo dục STEM trong nhà trường bao gồm: (1)- Dạy học các môn
học thuộc lĩnh vực STEM; (2)- Hoạt động trải nghiệm STEM; (3)- Hoạt động nghiên cứu
Khoa học – Kỹ thuật.
Hình 6: Các con đường thực hiện GD STEM trong nhà trường hiện nay.
2.1.5. Các thiết bị thí nghiệm tối thiểu để thực hiện giáo dục STEM trong nhà trường.
Các chủ đề STEM luôn cần hệ thống phương tiện, thiết bị đa dạng để HS thực hiện
chế tạo sản phẩm, tạo mẫu nghiên cứu.
– Hệ thống phục vụ thi công, chế tạo:

Cưa gỗ cầm tayMỏ hàn điện cầm taySúng bắn keo

– Hệ thống thiết bị tiêu hao:

Tấm FormexTấm micaKeo dán

Chào cờ
Hoạt động tập
thể
Nội
dung chủ
đề
Hoạt
động giáo
Hoạt
động dạy
học
Phát
triển
năng
lực
học
sinh
Sinh hoạt tổ chuyên
môn
Dạy học theo
chủ đề
Học buổi 2
Giáo
dục
STEM
Sinh hoạt Giáo
dục
định
hướng
nghề
nghiệp.
Tiết tự chọn
HĐNGLL
Sự sáng
tạo
Xã hội hóa giáo
dục
Dạy học trên
lớp Kiểm tra, đánh giá
năng lực
Trong môn
học
Phươn
g pháp
Nghiên cứu
khoa học
Ngoại khóa
Sự kiện
15
– Hệ thống thiết bị nền tảng, cơ sở phục vụ, kết nối công nghệ:

Bộ giá đỡBình thủy tinhCảm biến độ ẩm

Hình 7: Các thiết bị thí nghiệm để thực hiện giáo dục STEM trong nhà trường.
2.1.6. Các nội dung STEM phổ biến.
Trong STEM, các lĩnh vực có tác động đa chiều: là công cụ, là sự bổ trợ, là ứng dụng,
là sự thúc đẩy,…. Sự tác động qua lại đó làm cho bốn lĩnh vực trở lên chặt chẽ hơn, có mỗi
quan hệ ràng buộc hơn.

NỘI DUNGCÁ NHÂNXÃ HỘI (CỘNG
ĐỒNG)
TOÀN CẦU
Sức khỏe và dịch
bệnh
Bảo vệ sức khỏe, dinh
dưỡng, tai nạn
Kiểm soát dịch, lựa chọn
thức ăn, sức khỏe cộng
đồng.
Dịch tễ, lây lan bệnh tật
Năng lượngSử dụng năng lượng
một cách hiệu quả
Nguồn năng lượng tái tạo.Hậu quả toàn cầu, hiệu
ứng kéo theo, sử dụng và
bảo toàn năng lượng
Nguồn lực tự
nhiên
Tiêu thụ nguyên liệu
cho cá nhân
Duy trì dân số, số số chất
lượng cuộc sống, ảnh an
ninh, sản xuất và phân
phối thực phẩm.
Sử dụng một cách bền
vững nguyên liệu tái tạo và
nguyên liệu không tái tạo
Chất lượng môi
trường
Hành vi, sử dụng
nguyên liệu và thiết bị
thân thiện môi trường.
Phân bố dân cư, xử lý chất
thải, tác động môi trường.
Đa dạng sinh học, sinh thái
bền vững, kiểm soát ô
nhiễm, sản xuất và mất
mát đất/sinh khối
Giảm thiểu thảm
họa
Đánh giá rủi ro về lối
sống, lựa chọn
Thay đổi nhanh ví dụ như
động đất bão lũ quá trình
biến đổi chậm Ví dụ như
xói mòn bờ biển Đồi nóng
bảng đánh giá rủi ro
Biến đổi khí hậu, tác động
của của truyền thông hiện
đại
Vấn về tiên phong
về khoa học. công
nghệ, kỹ thuật và
toán học.
Khía cạnh khoa học
của sở thích, công nghệ
cá nhân, âm nhạc và
các hoạt động thể thao
Vật liệu mới, thiết bị và
quá trình, di chuyển và
biến dị, sức khỏe, công
nghệ, giao thông
Tuyệt chủng của các loài,
thăm dò không gian,
nguồn gốc và cấu trúc của
vũ trụ

2.2, Nhu cầu, lợi ích của STEM trong giáo dục phổ thông.
Xuất phát từ nhu cầu việc làm của xã hôi trong giai đoạn hiện nay, Ngành giáo dục
đã và đang triển khai chương trình giáo dục theo định hướng STEM sang dạy thí điểm
16
trước một số trường để chuẩn bị các bước triển khai chính thức chương trình giáo dục
STEM vào tất cả các trường trong hệ thống giáo dục phổ thông là việc làm hết sức kịp thời
và cần thiết.
Với đặc trưng là phương pháp giảng dạy trực quan, sinh động. HS vận dụng kiến
thức vào thực tiễn, tự sáng tạo và tư duy để giải quyết vấn đề. Những lợi ích của mô hình
giáo dục STEM đem lại là:
Thúc đẩy tính độc đáo và sự sáng tạo: Đầu tiên không thể không kể đến lợi ích về sự
sáng tạo, thúc đẩy tính độc đáo. STEM là sự kết hợp của kiến thức đa lĩnh vực kích thích HS
phát minh và đổi mới. Trong quá trình tư duy và tìm kiếm giải pháp, các em có thể phát hiện
ra những sáng kiến… Chính STEM sẽ khơi gợi niềm yêu thích và say mê tìm tòi, khám phá
thế giới. Nếu không bắt đầu óc suy nghĩ và phát triển, nó sẽ chỉ dừng lại ở một mức nhất
định. Các nhà khoa học đã chứng minh rằng chưa có một ai sử dụng hết 100% não bộ. Đa
phần chúng ta chỉ tác động từ 3 – 5% hiệu suất làm việc của nó mà thôi. Điều quan trọng là
hãy tạo ra môi trường tốt nhất để người HS phát huy hết khả năng của bản thân.
Xây dựng khả năng học hỏi từ các lỗi sai, thất bại: Chắc chắn rằng trong quá trình
học tập, HS sẽ mắc phải vô số những sai lầm, thất bại. Tuy nhiên các em sẽ tự xây dựng
cho mình khả năng tự nhận ra lỗi và khắc phục nó. Đây là yếu tố quan trọng giúp các em
ngày càng trưởng thành và trở lên tốt hơn.
Khuyến khích thử nghiệm: Không dừng lại ở đó, mục tiêu của STEM là áp dụng kiến
thức vào thực tiễn. Do vậy, người học được khuyến khích thử nghiệm, hoạt động và thỏa sức
sáng tạo. Mỗi ý tưởng nếu không bắt tay vào thực hiện, làm sao bạn biết nó không thể thành
hiện thực. Vì thế, STEM khuyến khích HS kiên trì, dám chứng minh cho ý tưởng của mình.
Không có ý tưởng phi lý, chỉ cần các em thử nghiệm, sẽ có cách biến đổi phù hợp. Người
học cần áp dụng linh hoạt toàn bộ kỹ năng, kết nối cùng kiến thức để thực hành.
Khuyến khích làm việc nhóm: STEM là mô hình học đa lĩnh vực nên làm việc nhóm
là cần thiết. Các em cùng nhau tương tác, chia sẻ và tìm ra giải pháp cho vấn đề. Thêm vào
đó, HS rèn luyện cách ứng xử, giao tiếp và nâng cao tinh thần đồng đội. Đồng thời, phương
pháp GD này có thể áp dụng cho các HS ở tất cả trình độ. Các em có trình độ khác nhau
vẫn có thể làm việc chung 1 nhóm. Điều này giúp tạo ra môi trường học đường lý tưởng,
dựa trên tinh thần hợp tác và bình đẳng.
Khuyến khích áp dụng kiến thức và hiểu biết: Khác biệt với giáo dục truyền thống,
mô hình STEM khuyến khích người học áp dụng kiến thức. HS tiếp cận tri thức một cách
tự nhiên, và tự mở rộng thông qua quá trình thực hành. Các em không mơ hồ khi gặp nội
dung trừu tượng trong lĩnh vực khoa học, toán hay kỹ thuật.
Khuyến khích sử dụng công nghệ: giáo dục STEM cho HS thấy sức mạnh của khoa
học và công nghệ. Các em tiếp xúc với những phát minh, công nghệ mới, cập nhật thông
tin dễ dàng. Ngày nay các em có rất nhiều công cụ hỗ trợ như máy tính, điện thoại thông
minh, phần mềm,…
Dạy cách giải quyết vấn đề: Lợi ích của việc tư duy và giải quyết vấn đề là mỗi bài
tập STEM đưa ra, HS phải suy nghĩ và tìm hướng giải quyết. Các em tiếp cận kiến
thức thông qua ngữ cảnh, tình huống cụ thể, gắn liền với đời sống.
Khuyến khích sự thích nghi: Phương pháp giáo dục STEM đề cao giá trị của sự thích
nghi. Các em biết chấp nhận thất bại, kiên trì học hỏi, rút kinh nghiệm và vượt qua khó khăn.
17
HS có khả năng áp dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau.
Như vậy, đối với HS phổ thông, việc theo học các môn học STEM có ảnh hưởng
tích cực tới khả năng lựa chọn nghề nghiệp tương lai. Những HS học theo cách tiếp cận
giáo dục STEM đều có những ưu thế nổi bật như: kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ
và toán học chắc chắn; khả năng sáng tạo, tư duy logic; hiệu suất học tập và làm việc vượt
trội và có cơ hội phát triển các kỹ năng mềm toàn diện hơn.
2.3, Các giải pháp để triển khai giáo dục STEM trường THCS Trần Bích san – TP.
Nam Định.
Trong khi các Bộ, Ban ngành vẫn đang tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi và
hoàn thiện các hướng dẫn cụ thể từ thực tế triển khai thí điểm chương trình giáo dục STEM
để đưa vào triển khai đồng bộ tới tất cả các trường phổ thông trong cả nước thì tại Trường
THCS Trần Bích San – TP. Nam Định, Nhà trường đang từng bước nỗ lực hoàn thiện, dịch
chuyển dần việc triển khai nội dung chương trình “Giáo dục theo định hướng STEM”
sang chương trình “Giáo dục STEM”.
Tuy nhiên, để việc triển khai này thu được kết quả như mong muốn thì việc trước
mắt, Nhà trường tập trung vào giải quyết đó là xây dựng các nguồn nhân lực, vật lực cần
thiết nhất, trên cơ sở đó mới có thể tiến hành được các bước tiếp theo của tiến trình triển
khai giáo dục STEM trong Nhà trường. Các giải pháp đó là:
Hình 8: Mô hình các giải pháp triển khai hiệu quả GD STEM Nhà trường
2.3.1. Giải pháp về nguồn nhân lực.
* Đối với GV:
+ Bắt đầu từ việc thay đổi nhận thức, tâm thế của GV đến xây dựng kế hoạch giáo
dục STEM một cách bài bản, cụ thể từng thời điểm thích hợp.
+ Nhà trường yêu cầu mỗi bộ môn tự xây dựng kế hoạch giáo dục STEM, soạn giáo
án và dạy mẫu.
+ Chú trọng việc nghiên cứu kỹ nội dung giáo dục STEM trong tài liệu, sách giáo khoa,
giáo trình của Bộ biên soạn. Từ đó, có các phương pháp áp dụng mô hình STEM vào bài giảng
với yêu cầu bài giảng phải lôi cuốn được HS, các em HS hào hứng, thích thú với môn học.

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *