âm thanh lớp học, loa trợ giảng

SKKN Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá nhằm phát triển năng lực học sinh và nâng cao chất lượng giảng dạy trong môn lịch sử THCS

SKKN Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá nhằm phát triển năng lực học sinh và nâng cao chất lượng giảng dạy trong môn lịch sử THCS

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Một trong những điểm mới của chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018
là mục tiêu giáo dục dạy học phát triển năng lực, phẩm chất tức là giáo dục con người
chứ không phải giáo dục nội dung. Môn Lịch sử cấp THCS góp phần cùng các môn
học và hoạt động giáo dục khác hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ
yếu và năng lực chung, tạo tiền đề cho học sinh tiếp tục học lên THPT, học nghề hoặc
tham gia đời sống lao động, trở thành những công dân có ích cho xã hội và đất nước.
Môn Lịch sử trong trường THCS là môn học có ý nghĩa và vị trí quan trọng đối
với việc đào tạo thế hệ trẻ theo mục tiêu giáo dục đã được Nhà nước xác định, giúp
học sinh hiểu được những kiến thức cơ bản về lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc làm cơ
sở bước đầu cho sự hình thành thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương,
đất nước, tin vào lí tưởng độc lập dân tộc và CNXH. Hơn nữa, học sinh biết tự hào về
truyền thống dựng nước, giữ nước và nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, biết quan
tâm đến những vấn đề có ảnh hưởng tới quốc gia, khu vực và toàn cầu. Trên nền tảng
kiến thức đã học môn Lịch sử còn giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, hành
động, có thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội, chủ yếu đáp ứng yêu cầu của
sự phát triển con người Việt Nam XHCN trong công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại
hoá đất nước.
Nhưng trong những năm gần đây dư luận xã hội đặc biệt quan tâm về vấn đề thực
trạng dạy và học môn Lịch sử, báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng cũng
phản ánh rất nhiều, nhất là học sinh phổ thông ít chịu học Lịch sử, hiểu ít về Lịch sử
dân tộc. Điều đó cũng thể hiện rõ ngay trong các bài làm thi khảo sát, kiểm tra định
kì, kiểm tra học kì, thi tốt nghiệp, hầu hết học sinh chưa nắm bắt được phương pháp
làm bài Lịch sử. Trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2020 vừa qua môn Lịch sử tiếp
tục ở vị trí “đội sổ” là môn có điểm thi thấp nhất. Số thí sinh có điểm thi dưới 5
chiếm tỉ lệ cao, trong số đó, số bài có số điểm từ 0 – 2 điểm không phải là ít. Đây thực
sự là thực trạng đáng báo động trong việc dạy và học môn học có vị trí đặc biệt quan
trọng này. Hơn nữa học sinh không thích học Lịch sử, không phải do môn Lịch sử
gây ra mà chính là do quan niệm và phương pháp dạy học của chúng ta chưa thật sự
phù hợp. Đã có nhiều cuộc hội thảo ở nhiều cấp bàn bạc về vấn đề trên, nhưng thực tế
vẫn chưa mang lại kết quả như mong đợi. Việc nghiên cứu tìm ra biện pháp cải thiện
tình trạng hiện tại là hết sức cần thiết và cấp bách.
Xuất phát từ lương tâm, trách nhiệm nghề nghiệp, bản thân tôi nhận thấy cần phải
góp tiếng nói của mình để cùng đồng nghiệp trong trường, trong tỉnh tìm ra được giải
pháp phù hợp với thực tiễn hiện nay để cải thiện tình hình. Mỗi giáo viên chúng ta
6
phải hiểu rằng việc dạy học là việc làm đầy sáng tạo. Theo bản thân tôi nghĩ, mỗi
giáo viên muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học của mình phải có kiến thức rộng,
biết đổi mới phương pháp dạy học tích cực, dạy học phải gắn liền với thực tiễn, biết
tích hợp những kiến thức của môn học khác vào dạy môn Lịch sử,… có như thế mới
gây hứng thú cho học sinh. Trong thực tế, có nhiều giáo viên cũng đã sử dụng nhiều
phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh.
Nay tôi trình bày một vài kinh nghiệm về “đổi mới phương pháp dạy học và kiểm
tra đánh giá nhằm phát triển năng lực học sinh và nâng cao chất lượng giảng
dạy trong môn Lịch sử”, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử ở
trường phổ thông và từng bước đổi mới phương pháp dạy học lịch sử hiện nay đồng
thời giúp HS yêu thích và học tốt môn Lịch sử hơn.
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP CỦA SÁNG KIẾN.
II.1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
a) Hiện trạng về giáo dục và chất lượng giảng dạy ngày nay:
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo xác định “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của
giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người
học…” Theo tinh thần đó, các yếu tố của quá trình giáo dục trong nhà trường trung
học cần được tiếp cận theo hướng đổi mới. Xuất phát từ mục tiêu chung về giáo dục
và đào tạo, bộ môn Lịch sử có nhiệm vụ “cung cấp kiến thức cơ bản, có hệ thống về
Lịch sử phát triển hợp quy luật của dân tộc và xã hội loài người, trên cơ sở đó, giáo
dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, rèn
luyện năng lực tư duy và thực hành”. Thực chất của việc đổi mới phương pháp dạy
học là phát huy cao độ tính tích cực, chủ động của người học, đặc biệt phát triển năng
lực tự học, tự chủ; năng lực vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống … cho
HS.
Mặc dù những năm gần đây, ngành giáo dục nước ta đã có nhiều cố gắng, song
hiệu quả còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu giáo dục đặt ra. Đảng ta
đã chỉ rõ tình trạng yếu kém đó là: “chậm đổi mới về cơ cấu, hệ thống, mục tiêu, nội
dung và phương pháp, chưa làm tốt chức năng tham mưu và trách nhiệm quản lí của
nhà nước”. Mà “yếu kém chủ yếu nhất của giáo dục hiện nay là chậm chuyển biến về
thích ứng với nền kinh tế đang đổi mới. Tình trạng lạc hậu của giáo dục thể hiện từ
cơ cấu, hệ thống đến mục tiêu, chương trình và nội dung, phương pháp”… Chất lượng
7
giáo dục trong những năm gần đây đã có những bước tiến rõ rệt, song kết quả chưa
thật đồng đều, trong đó kết quả môn Lịch sử qua các kì thi còn thấp.
b) Một số giải pháp đã biết:
Trong lĩnh vực giáo dục nói chung, lĩnh vực bộ môn Lịch sử nói riêng đã có một
số giải pháp nhằm giúp học sinh học tập tốt hơn bộ môn, tránh tâm lý e ngại, “sợ”
học Lịch sử, coi đây là một bộ môn khô khan khó học, khó nhớ làm các em không có
hứng thú khi học tập, điều khiến cho chất lượng giáo dục của bộ môn Lịch sử vẫn
chưa được nâng cao.
Một số giải pháp trước đây đã được các nhà quản lý giáo dục, các đồng chí giáo
viên tâm huyết làm để giải quyết những khó khăn trên cho bộ môn Lịch sử và người
học như:
1. Giải pháp: Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong giờ học lịch sử của
đồng chí Nguyễn Thị Yên, giáo viên trường THCS & THPT Khánh An – U Minh –
Cà Mau.
Ưu điểm: của giải pháp trên là đã chỉ ra được một số phương pháp cơ bản giúp
học sinh đọc lược đồ lịch sử, miêu tả tường thuật các vấn đề kinh tế, chính trị, quân
sự; Cách khai thác nội dung kiến thức trong trong bộ đồ dùng bộ môn lịch sử do Bộ
giáo dục cấp cho các trường phổ thông như: các hòm công cụ phục chế, tranh ảnh, sơ
đồ, lược đồ…
Nhược điểm: Giải pháp chưa chú trọng đến việc giúp học sinh củng cố, ghi nhớ
các kiến thức đã học, học sinh chưa phát huy được kỹ năng khái quát, so sánh các sự
kiện, nhân vật lịch sử nên chưa thực sự phát huy hết vai trò của bộ môn trong quá
trình giáo dục.
2. Giải pháp: Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy môn Lịch sử của đồng
chí Nguyễn Đình Lưu trường THCS Hợp Hưng – Vụ Bản.
Ưu điểm: Giải pháp đã hấp dẫn học sinh vào các giờ học nhờ việc sử dụng máy
tính, máy chiếu với hệ thống phim ảnh phong phú sinh động, tạo cho học sinh những
biểu tượng sinh động trong một số bài học, tranh được cho học sinh việc ghi chép và
ghi nhớ nhiều, giờ học trở nên nhẹ nhàng, tránh nhàm chán.
8
Nhược điểm: Giải pháp lại nhấn mạnh đến kỹ năng sử dụng máy tính, kết nối
mạng khai thác tài liệu nên dễ làm cho học sinh xa rời mục đích chính của bộ môn
Lịch sử mà lại thiên về môn Tin học. Bên cạnh đó một số trường vùng nông thôn,
vùng sâu, vùng khó khăn chưa có điều kiện trang bị đầy đủ hệ thống máy tính, kết nối
mạng, học sinh không có điều kiện tiếp cận nhiều với tin học nên khó có thể áp dụng
một cách rộng rãi trên toàn quốc, điều này cũng đã làm giảm đi tính ứng dụng thực
tiễn của giải pháp.
3. Giải pháp: Tổ chức cho học sinh tham quan thực tế các di tích lịch sử, văn hóa
và làng nghề để nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử địa phương của đồng chí Lê Thị
Hoa, giáo viên trường THCS Giao Thanh.
Ưu điểm: Với giải pháp trên, học sinh được tạo điều kiện đến tham quan các di
tích lịch sử, văn hóa, làng nghề trên địa phương để được trải nghiệm và học tập tại
thực địa. Giáo viên hướng dẫn, thuyết minh cho học sinh các sự kiện lịch sử, nhân vật
lịch sử, các cổ vật có thật, sinh động, các em được xem tận mắt các sản phẩm thủ
công mỹ nghệ gắn với nội dung bài học trên lớp.
Nhược điểm: Hình thức dạy học trên đòi hỏi phải có sự chuẩn bị công phu cả về
thời gian, kinh phí và việc đảm bảo an toàn cho học sinh trong mỗi chuyến đi thực tế
rất quan trọng, bên cạnh đó giáo viên phải lên kế hoạch cụ thể, tham mưu với ban
giám hiệu và địa phương nơi học sinh đến tham quan để được tạo điều kiện học tập.
Hơn nữa với phương pháp này sẽ không tổ chức được thường xuyên và không phải
học sinh nào cũng có điều kiện tham gia dẫn đến hiệu quả giáo dục không cao.
Xuất phát từ những lý do chủ yếu nêu trên, tôi viết sáng kiến “Đổi mới phương
pháp dạy học và kiểm tra đánh giá nhằm phát triển năng lực học sinh và nâng
cao chất lượng giảng dạy trong môn Lịch sử” để phần nào khắc phục nhược điểm
của những giải pháp cũ nêu trên.
II.2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến (Các giải pháp thực hiện sáng kiến):
Trong nhiều năm qua tôi đã tiến hành thực hiện một số biện pháp nhằm nâng cao
chất lượng dạy học trong môn Lịch sử tại trường tôi công tác, đồng thời góp phần
định hướng các năng lực và phẩm chất cho học sinh theo mục tiêu đổi mới giáo dục.
Sáng kiến “Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá nhằm phát triển
9
năng lực học sinh và nâng cao chất lượng giảng dạy trong môn Lịch sử” bao gồm
các biện pháp nhỏ sau:
*Biện pháp 1. Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học
Muốn nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn, theo tôi trước hết phải khiến học
sinh yêu thích bộ môn đó. Môn Lịch sử vốn được xem là môn học khô khan, khó học,
khó nhớ, để học sinh yêu thích môn Lịch sử đòi hỏi người giáo viên phải có nghệ
thuật dạy học. Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học là một trong những nghệ
thuật trong dạy học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy.
Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy
học truyền thống quen thuộc mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả
và hạn chế nhược điểm của chúng. Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống
có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần
kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, đặc biệt là những phương pháp và kỹ
thuật dạy học phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh.
Nhưng không có một phương pháp dạy học nào là toàn năng, phù hợp với mọi
mục tiêu và nội dung dạy học. Mỗi phương pháp và hình thức dạy học có những ưu,
nhựơc điểm và giới hạn sử dụng riêng. Vì vậy việc phối hợp đa dạng các phương
pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan
trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học.
Trong quá trình dạy học, tôi đã cải tiến bài lên lớp theo hướng kết hợp thuyết
trình của giáo viên với hình thức làm việc nhóm, góp phần tích cực hoá hoạt động
nhận thức của học sinh. Tuy nhiên hình thức làm việc nhóm rất đa dạng, không chỉ
giới hạn ở việc giải quyết các nhiệm vụ học tập nhỏ xen kẽ trong bài thuyết trình, mà
còn có những hình thức làm việc nhóm giải quyết những nhiệm vụ phức hợp, có thể
chiếm một hoặc nhiều tiết học, nên có những bài tôi sử dụng những phương pháp
chuyên biệt như phương pháp đóng vai, kể chuyện, dự án,…. kết hợp các kĩ thuật dạy
học phù hợp với từng hoạt động để nâng cao hiệu quả tiết học như kĩ thuật khăn trải
bàn, phòng tranh, sơ đồ tư duy, KWL….
Ngoài ra, phương pháp và kĩ thuật dạy học còn mang tính chủ quan của mỗi giáo
viên. Mỗi giáo viên với kinh nghiệm riêng của mình sau khi xác định đúng mục tiêu
bài học cần có cách lựa chọn phương pháp và kĩ thuật dạy học sao cho phù hợp với
đối tượng học sinh, phù hợp với môi trường giáo dục và cơ sở vật chất của đơn vị
mình công tác.
Ví dụ: Khi dạy chủ đề “Thời nguyên thủy” (Lịch sử lớp 6)
Trước khi bắt đầu bài mới, tôi phát cho mỗi HS một bảng KWL in sẵn. Sau đó yêu
cầu HS hoàn thành cột K và cột W (trong thời gian 5 phút).
10

KWL
Liệt kê những điều em đã
biết về Thời nguyên thủy.
Liệt kê những điều em
muốn biết về Thời nguyên
thủy.
Liệt kê những điều em đã
học được về Thời nguyên
thủy.

Sau khi học song chủ đề, tôi yêu cầu HS hoàn thành tiếp cột L.
Thông qua việc vận dụng kĩ thuật KWL trong ví dụ trên, HS sẽ hình thành được năng
lực nhận thức và tư duy lịch sử; năng lực tự chủ và tự học.
Ví dụ: (Sử 8 ) Khi dạy bài 12. Nhật Bản giữa thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX; Mục I.
Cuộc Duy tân Minh Trị
Bước 1: giao nhiệm vụ cho học sinh tự đọc tư liệu trong SGK, tôi chia lớp thành 4
nhóm với nhiệm vụ.
+ Nhóm 1,3: Tại sao cuộc duy tân Minh Trị được gọi là cuộc cách mạng tư sản?
+ Nhóm 2,4: Cuộc cách mạng tư sản ở Nhật Bản có điểm gì khác với các cuộc cách
mạng tư sản ở Âu, Mĩ chúng ta đã học ở các tiết trước?.
Bước 2. Các nhóm thảo luận trong thời gian 5 phút
Bước 3. Trong thời gian 5 phút, các nhóm thảo luận song sau đó đại diện các nhóm
lên bảng trình bày phần nội dung, các nhóm khác nhận xét, bổ sung.
Bước 4. Giáo viên nhận xét quá trình làm việc và kết quả của các nhóm.
Trong ví dụ trên tôi đã sử dụng phương pháp dạy học hợp tác, giải quyết vấn đề
kết hợp kĩ thuật chia nhóm, học sinh sẽ hình thành được năng lực giao tiếp, hợp tác,
năng lực tìm hiểu lịch sử, năng lực nhận thức và tư duy lịch sử.
Hình ảnh minh họa học sinh thảo luận nhóm
11
Hình ảnh minh họa học sinh thảo luận nhóm
Hình ảnh minh họa học sinh trình bày kết quả thảo luận nhóm
12
* Biện pháp 2. Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và ứng dụng công
nghệ thông tin trong dạy học
Trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học, giáo viên không thể bỏ qua vai trò
của các đồ dùng, phương tiện dạy học như tranh, ảnh, lược đồ, mô hình, sa bàn, máy
chiếu… Việc lựa chọn được những đồ dùng phù hợp và có chất lượng không chỉ làm
tăng hiệu quả của việc khai thác, phát hiện kiến thức mà còn tạo ra sự thích thú cho
học sinh.
Ngay từ khâu soạn bài, tôi đã phải nghiên cứu nội dung bài học này sẽ cần sử
dụng đến những thiết bị dạy học nào, kết hợp với việc sử dụng quyển “Kế hoạch sử
dụng đồ dùng dạy học” và quyển “Đăng kí mượn, trả thiết bị dạy học”. Từ kế hoạch
sử dụng đồ dùng dạy học, tôi phải kiểm tra trên thực tế tại phòng đồ dùng của nhà
trường xem các đồ dùng đó có đủ để đáp ứng về số lượng và chất lượng hay không,
nếu không thì phải có phương án khác thay thế.
Việc vận dụng các phương tiện, đồ dùng dạy học vào trong bài học là cần thiết để
giúp học sinh có cái nhìn trực quan về lịch sử, hiểu rõ, hiểu đúng, hiểu sâu về lịch sử.
Có như vậy các em mới nắm vững kiến thức về lịch sử. Tuy nhiên việc vận dụng các
thiết bị dạy học đó cũng cần khéo léo, linh hoạt nếu không sẽ làm cho bài học khuôn
mẫu, cứng nhắc hoặc không thích hợp. Việc vận dụng các phương tiện dạy học phải
đảm bảo nâng cao chất lượng giảng dạy.
Cùng với việc sử dụng các phương tiện dạy học thì tôi cũng thường xuyên sử
dụng đến công nghệ thông tin vào các tiết dạy. Ứng dụng công nghệ thông tin vào
công tác dạy và học được nhiều nước trên thế giới chú trọng. Đây được xem là xu
hướng tất yếu của thời đại, khi mà công nghệ thông tin phát triển vượt bậc. Nó mang
lại nhiều lợi ích thiết thực và mở ra triển vọng to lớn cho nền giáo dục nước nhà.
Công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học có thể thực hiện trong giờ lên
lớp hoặc học sinh có thể tự học trực tuyến ngay tại nhà. Giáo viên có thể sử dụng tích
hợp các công cụ đa phương tiện như hình ảnh, âm thanh, video,… vào nội dung bài
giảng, để tăng sự phong phú, hấp dẫn. Điều này còn giúp kích thích tư duy và tính
sáng tạo của học sinh, và tăng mức độ tương tác giữa giáo viên và học sinh.
Một bài giảng của giáo viên khi được hỗ trợ bởi công nghệ thông tin thì khả năng
truyền tải ý tưởng của giáo viên cũng dễ dàng và phong phú hơn. Để có thể sử dụng
hiệu quả công nghệ thông tin trong dạy học, tôi phải đầu tư thời gian để học tập,
nghiên cứu cho thành thạo cách thiết kế bài giảng, cách khai thác các ứng dụng khác.
Đồng thời, tôi cũng phải nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy để thiết kế những hoạt động
dạy học phù hợp, có kế hoạch sắp xếp và khai thác hợp lí các tranh, ảnh, băng
13
hình,… sưu tầm được theo trật tự nhất định phù hợp với nội dung kiến thức từng
phần.
Với biện pháp này tôi cũng như nhiều giáo viên khác đang sử dụng rất phổ biến
trong các tiết dạy vì nó đem lại hiệu quả rất cao: học sinh rất hứng thú khi được xem
nhiều hình ảnh mới lạ, không nhiều chữ như SGK, phát huy được khả năng quan sát
góp phần hình thành năng lực nhận thức và tư duy lịch sử.
Ví dụ: Khi dạy bài 23. Những cuộc khởi nghĩa lớn trong các thế kỉ VII -IX; Mục 2.
Khởi nghĩa Mai thúc Loan (Lịch sử 6)
Bước 1. Tôi yêu cầu học sinh đọc thông tin trong SGK tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến
cuộc khởi nghĩa và lên bảng trình bày diễn biến cuộc khởi nghĩa trên lược đồ.
Bước 2. Học sinh thực hiện nhiệm vụ
Bước 3. Học sinh hoàn thành câu trả lời vào vở viết, một học sinh lên bảng tường
thuật diễn biến khởi nghĩa Mai Thúc Loan trên lược đồ.
Học sinh khác nhận xét
Bước 4. Giáo viên nhận xét và bổ sung.
Trong ví dụ trên tôi đã sử dụng phương tiện dạy học là lược đồ khởi nghĩa Mai
Thúc Loan
Hình ảnh minh họa học sinh trình bày khởi nghĩa Mai Thúc Loan trên lược đồ
14
Hoặc khi dạy bài 22. Sự phát triển của kĩ thuật, khoa học, văn học và nghệ thuật
thế kỉ XVIII-XIX (sử 8) tôi cũng sử dụng phương tiện dạy học là tranh giới thiệu
về thành tựu KHKT thế kỉ XVIII-XIX
Hình ảnh minh họa giáo viên đang tường thuật về
diễn biến cuộc khởi nghĩa Lam Sơn trên lược đồ
Cùng với việc sử dụng lược đồ, tranh ảnh sẵn có trong thư viện đồ dùng của
trường, có những bài tôi sử dụng công nghệ thông tin là máy chiếu
15
Hình ảnh minh họa học sinh đang trình bày cuộc kháng chiến
chống quân xâm lược Mông Cổ năm 1258 trên máy chiếu
Trong thời gian nghỉ dịch covit 19 năm học 2019-2020, tôi đã ứng dụng công
nghệ thông tin dạy học qua zoom các khối lớp, để vẫn đảm bảo kiến thức cho học
sinh và đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học trong thời đại mới.
16
Hình ảnh minh họa giáo viên dạy học trên zoom
17
* Biện pháp 3. Dạy học phải gắn kiến thức với thực tiễn cuộc sống
Một trong những điểm mới của chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 là
dạy học phát triển năng lực, phẩm chất tức là giáo dục con người chứ không phải giáo
dục nội dung kiến thức. Chính vì thế dạy học gắn kiến thức với thực tiễn cuộc sống
càng trở nên rất cần thiết. Môn Lịch sử là môn học có vai trò quan trọng đối với việc
hình thành, phát triển cho học sinh các phẩm chất chủ yếu đó là tình yêu quê hương
đất nước, niềm tự hào về truyền thống dân tộc, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường,
bảo vệ các di tích lịch sử, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc…
Sự kết hợp của kiến thức lí thuyết với thực tế giúp học sinh dễ dàng kiểm chứng,
liên hệ đã trở thành một trong những yếu tố thúc đẩy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của học sinh.Trong quá trình dạy học, ngay từ khâu soạn bài, tôi đã phải luôn đặt cho
mình câu hỏi: Mỗi nội dung kiến thức có trong bài được gắn với những vấn đề nào
trong cuộc sống? Làm thế nào để học sinh nhận thấy sự liên quan đó? Với bài dạy cụ
thể trên lớp, tôi luôn tìm cách để cho học sinh kết nối kiến thức vừa tìm hiểu với
chính thực tiễn cuộc sống, nhờ đó một lần nữa khắc sâu kiến thức của bài học.
Với biện pháp này, tôi đã góp phần giáo dục các em ý thức bảo vệ môi trường ở
trường học, gia đình và địa phương; ý thức bảo vệ các di tích lịch sử và đặc biệt học
sinh biết làm các sản phẩm học tập qua các bài học lịch sử. Trong đó có sản phẩm đã
dự thi ngày hội STEM do huyện tổ chức tháng 11/2020 đạt thứ 8/15 sản phẩm dự thi
(có minh chứng kèm theo).
Ví dụ: khi dạy Bài 12. Những thành tựu chủ yếu và ý nghĩa lịch sử của cuộc cách
mạng khoa học kĩ thuật từ năm 1945 đến nay (Sử 9); Mục II. Ý nghĩa và tác động của
cuộc cách mạng KHKT. Tôi đã tích hợp với nội dung bảo vệ môi trường.
Bước 1. Giao nhiệm vụ cho học sinh với câu hỏi “Để hạn chế những tác động xấu
đến môi trường, các em đã làm gì để góp phần bảo vệ môi trường ở trường học và địa
phương em?
Bước 2. Học sinh làm việc cá nhân
Bước 3. Học sinh trả lời
(HS đều trả lời được là trồng cây xanh, giữ gìn vệ sinh môi trường ở trường học, gia
đình, nơi công cộng… và tích cực tham gia các phong trào vệ sinh đường làng ngõ
xóm
Bước 4. Giáo viên nhận xét và bổ sung
Quan trọng nhất là sau khi học xong bài học, các em đã có ý thức hơn, có trách
nhiệm hơn với môi trường, với cộng đồng xã hội và đất nước thể hiện qua hành động
của các em ở trường học, địa phương và gia đình.
18
Hình ảnh minh họa các em học sinh Mỹ Tiến đang tích cực tham gia
quét dọn đường làng, ngõ xóm góp phần bảo vệ môi trường
Hình ảnh minh họa các em học sinh Mỹ Tiến đang quét dọn
nghĩa trang liệt sĩ xã Mỹ Tiến góp phần bảo vệ môi trường
Với biện pháp dạy học này, tôi đã giúp học sinh hình thành được các phẩm chất
yêu nước, chăm chỉ, trách nhiệm (bảo vệ đi tích lịch sử, tự hào về các anh hùng dân
19
tộc, giữ gìn vệ sinh môi trường), hình thành năng lực giao tiếp, hợp tác; năng lực giải
quyết vấn đề, sáng tạo…
* Biện pháp 4: Đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá
Quá trình dạy học dù tốt đến đâu cũng khổng thể đánh giá chính xác lực học hay
sự tiếp thu bài của học sinh nếu không tiến hành kiểm tra. Việc đổi mới hình thức
kiểm tra, đánh giá có vai trò quan trọng trong việc đánh giá khách quan khả năng
nhận thức và các năng lực của học sinh trong thời đại mới.
Để kiểm tra, đánh giá có hiệu quả, tôi đã thực hiện nghiêm túc việc xây dựng đề
kiểm tra 1 tiết, cuối học kì, cuối năm học theo ma trận gồm các câu hỏi, bài tập (tự
luận hoặc trắc nghiệm) theo 4 mức độ yêu cầu nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận
dụng cao. Kết hợp một cách hợp lí giữa hình thức tự luận với trắc nghiệm khách
quan. Ngoài các bài kiểm tra theo quy định, tôi còn đánh giá học sinh qua các hoạt
động trên lớp: đánh giá qua sản phẩm học tập, vở học tập; đánh giá qua việc học sinh
báo cáo kết quả thực hiện một dự án học tập, đánh giá qua bài thuyết trình (bài viết,
bài trình chiếu, video…), hay sưu tầm tư liệu lịch sử… . Với các hình thức kiểm tra,
đánh giá này tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giao tiếp,
hợp tác, linh hoạt vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống thực tiễn, giúp cho
học sinh có tinh thần trách nhiệm cao trong học tập.
Kiểm tra, đánh giá, kết hợp với việc theo dõi thường xuyên giúp cho tôi biết được
một cách cụ thể và khá chính xác năng lực và trình độ của mỗi học sinh trong lớp. Từ
đó rút kinh nghiệm, điều chỉnh lại phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng
học sinh nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy.
Sau đây là ví dụ một đề kiểm tra Lịch sử lớp 9 năm học 2020-2021, mà tôi đã kết
hợp hình thức trắc nghiệm và tự luận, đảm bảo 4 mức độ để đánh giá nhận thức của
học sinh qua một học kì.
MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ I
I. Hình thức trắc nghiệm (80%)

Chủ đềMức độ nhận thức
Nhận
biết
Thông
hiểu
Vận
dụng
Vận
dụng cao
1. Liên Xô và các nước Đông Âu sau CTTG II.32
2. Các nước Á, Phi, Mĩ Latinh (1945 – nay).8211
3. Mĩ , Tây Âu , Nhật Bản (1945 – nay).2111
4. Quan hệ quốc tế (1945 – nay).222
5. Cách mạng KH – KT (1945 – nay).121

20

Số câu:16844
Tổng số câu:32
Số điểm: 8 = 80%80%

Lưu ý: Mỗi câu trắc nghiệm là: 0,25 điểm
Bảng mô tả ma trận bài kiểm tra TNKQ và TL

Chủ đềNhận biếtThông hiểuVận dụngVận dụng caoCộng
TNKQTLTNKQTLTNKQTLTNK
Q
TL
Liên
Xô và
các
nước
Đông
Âu sau
CTTG
II.
Nêu được
hậu quả
của chiến
tranh tg II
đối với
Liên Xô
(C1).
– Nêu
được
phương
hướng
phát triển
kinh tế của
LX sau
CT (C2).
– Trình
bày được
cuộc
khủng
hoảng của
LX và hậu
quả của nó
(C3).
Lí giải được
sự khác nhau
trong việc sử
dụng vũ khí
nguyên tử
giữa Liên Xô
(C17).
Phân tích
được hậu
quả cuộc
cải cách
của Liên
Xô (C26).
Số câu
Số điểm
Tỉ lệ
Số câu 3
Số điểm
0,75
Tỉ lệ 7,5%
Số câu 1
Số điểm 0,25
Tỉ lệ 2,5%
Số câu 1
Số điểm
0,25
Tỉ lệ 2,5%
Số câu
5 S

điểm
1,25
Tỉ lệ
12,5%
Nêu đượcPhân biệtPhân tích

21

Các
nước Á,
Phi, Mĩ
Latinh
(1945 –
nay).
một số nét
chính về
quá trình
giành độc
lập ở các
nứơc Á,
Phi, MLT
sau chiến
tranh TG2
(C4,5,6,7,
8,9,10).
– Nêu
được
những
thành tựu
của Trung
Quốc Thời
kì đổi mới
(C11).
được Điểm
khác biệt của
phong trào
giải phóng
dân tộc ở
Châu phi với
Mĩ La Tinh
(C18).
– Giải thích
được nguyên
nhân bùng nổ
phong trào
GPDT ở
Châu Phi
(C20).
được ý
nghĩa của
phong trào
GPDT ở
Á, Phi,
MLT sau
chiến
tranh
(C25).
Phân tích
được
nguyên
nhân phát
triển của
phong trào
GPDT ở
Châu Phi
sau chiến
tranh
(C26).
Số câu
Số điểm
Tỉ lệ
Số câu 8
Số điểm 2
Tỉ lệ 20%
Số câu 2
Số điểm 0,5
Tỉ lệ 5%
Số câu 2
Số điểm
0,5
Tỉ lệ 5%
Số câu
12
Số
điểm 3
Tỉ lệ
30%
Mĩ, Tây
Âu,
Nhật
Bản
(1945 –
nay).
– Trình
bày được
những
thành tựu
KHKT
của Mĩ sau
chiến
tranh
(C12).
– Trình
bày được
sự phát
triển thần
kì của
kinh tế
Nhật Bản
Lý giải được
nguyên nhân
làm cho nền
kinh tế Mĩ
suy giảm
trong những
thập niên
cuối thế kỉ
XX (C19).
Phân tích
được
nguyên
nhân
chung sự
phát triển
kinh tế Mĩ,
Nhật sau
chiến
tranh
(C27).
Liên
hệ
được
chính
sách
ngoại
giao
của

sau
chiến
tranh
với
cuộc
chiến
tranh

22

sau chiến
tranh
(C13).
của
Mĩ tại
Việt
Nam
(C29).
Số câu
Số điểm
Tỉ lệ
Số câu 2
Số điểm
0,5
Tỉ lệ 5%
Số câu 1
Số điểm 0,25
Tỉ lệ 2,5%
Số câu 1
Số điểm
0,25
Tỉ lệ 2,5%
Số
câu 1
Số
điểm
0,25
Tỉ lệ
2,5%
Số câu
5 S

điểm
1,25
Tỉ lệ
12,5%
Quan
hệ quốc
tế (1945
– nay).
Nêu được
sự hình
thành trật
tự thế giới
mơi – trật
tự 2 cực
Ianta sau
chiến
tranh
(C14,15).
Trình
bày
được
những
quyết
định
của
Hội
nghị
Ianta
(2 –
1945).
Lí giải được
xu thế phát
triển của các
nước hiện
nay (C21)
Khái quát
được đặc
điểm lịch sử
thế giới sau
năm 1945
(C24).
– Liên
hệ
được
Việt
Nam
vận
dụng
nguyê
n tắc
của
Liên
Hợp
Quốc
trong
việc
giải
quyêt
vấn đề
biển
Đông(
C29).
– Liên
hệ
được
Xu
thế
của
thế
giới
ảnh
– Liên
hệ
được
Quyết
định
của
hội
nghị
Ianta
ảnh
hưởng

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *