• SKKN Giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác kênh hình trong môn Lịch sử Địa lý lớp 6 phân môn Lịch sử sách kết nối tri thức với cuộc sống

    SKKN Giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác kênh hình trong môn Lịch sử Địa lý lớp 6 phân môn Lịch sử sách kết nối tri thức với cuộc sống

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
    Sau 30 năm đổi mới, sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã đạt được những kết
    quả quan trọng, rất có ý nghĩa trong việc thực hiện sư mệnh “nâng cao dân trí,
    đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh
    những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
    quốc của ngành giáo dục, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thư XIII
    Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ ra “Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và
    đánh giá kết quả còn lạc hậu và thiếu thực chất…Đội ngũ nhà giáo…bất cập về
    chất lượng”.
    Như vậy, Đảng ta đã đánh giá “phương pháp giáo dục” của nước ta còn “ lạc
    hậu”. Sự “lạc hậu” về “phương pháp giáo dục” biểu hiện ở mọi bậc học và các
    môn học trong đó có môn Lịch sử. Lịch sử là một nghành khoa học rất quan trọng
    trong nền khoa học xã hội và nhân văn, cũng là một trong những môn học cơ bản
    trong hệ thống giáo dục phổ thông có vai trò quan trọng đối với việc phát triển
    năng lực, đặc biệt là các phẩm chất “yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào” của
    người học. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: “Lịch sử không chỉ trang
    bị cho thế hệ trẻ những kiến thức cơ bản về lịch sử dân tộc và thế giới mà còn
    giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong giáo dục chủ nghĩa yêu nước, các giá trị
    truyền thống và cách mạng, góp phần xây dựng nhân cách, bản lĩnh con người,
    giữ gìn bản sắc dân tộc…”. Lịch sử thế giới đã bước vào kỉ nguyên thông tin và
    trí thưc với xu hướng toàn cầu hóa rất mạnh. Trong bối cảnh chung của thời đại và
    khi đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập thế
    giới, môn Lịch sử càng cần được coi trọng và cần phát huy chưc năng giáo dục để
    chuẩn bị cho thế hệ trẻ làm tròn trách nhiệm và nghĩa vụ công dân trong xây dựng
    và bảo vệ đất nước cũng như trong giao lưu với các nền văn hóa khác để tiếp nhận
    các thành tựu của văn minh nhân loại mà vẫn giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc và
    sự đa dạng của văn hóa thế giới.
    Xuất phát từ sự nhận thưc được vị trí, tầm quan trọng của bộ môn Lịch sử
    trong nhà trường, cho nên các cấp các nghành nói chung cũng như đội ngũ giáo
    viên giảng dạy bộ môn lịch sử nói riêng đã đổi mới các phương pháp, hình thưc
    dạy học theo đúng như quan điểm của Đảng ta đã nêu ra: “Chuyển mạnh quá trình
    2
    giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm
    chất người học: yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc
    hiệu quả”. Từ đó, giáo viên phấn đấu chuyển tải và hướng dẫn những chuẩn mực
    kiến thưc, kĩ năng và thái độ tư tưởng đối với học sinh nhằm khơi dậy niềm tin về
    lịch sử dân tộc với truyền thống dựng nước và giữ nước của cha ông, hình thành
    và phát triển nhân cách một cách toàn diện. Đặc biệt trong quá trình giảng dạy, tôi
    luôn cố gắng hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu kiến thưc, rèn luyện kĩ năng ghi
    nhớ sự kiện lịch sử, đánh giá bản chất sự kiện lịch sử đúng, để từ đó các em vận
    dụng trong viết bài và làm bài lịch sử có hiệu quả và có ý thưc bảo vệ truyền thống
    dựng nước và giữ nước của dân tộc ta trải qua các thời kì lịch sử, hiểu và yêu thích
    trong học lịch sử ở THCS.
    Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy bộ môn Lịch sử, giáo viên dạy sử vẫn
    còn gặp rất nhiều khó khăn. Một mặt, do xu thế chung của xã hội là chú trọng học
    tập các môn khoa học tự nhiên còn các môn khoa học xã hội thì rất ít em say mê,
    hưng thú. Hơn nữa, bộ môn Lịch sử và người dạy sử không được coi trọng, môn
    sử bị coi là môn phụ và là môn học được coi là khó nhớ, bởi nhiều sự kiện lịch sử
    nó gắn kết với mốc thời gian dài, nhiều và đòi hỏi học sinh phải nhớ, mà cách nhớ
    phải lô gích để viết bài theo từng giai đoạn lịch sử, có móc xích và liên kết, giọng
    văn trôi chảy. Mặt khác có quan niệm không đúng về bộ môn lịch sử còn chi phối
    cả cha mẹ học sinh, nhất là trong hoàn cảnh kinh tế thị trường các môn khoa học
    tự nhiên, ngoại ngữ tỏ ra đắc dụng hơn. Với những lí do đó, đưa đến học sinh chán
    học môn lịch sử, khi học lại không nhớ hết các sự kiện lịch sử, lẫn lộn sự kiện và
    nhân vật, thời gian… và điều quan trọng là không tạo ra được chút cảm xúc nào
    trước những trang sử của dân tộc.
    Để đáp ưng yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học đối với môn Lịch sử
    và Địa lí nói chung và phân môn Lịch sử 6 nói riêng thì việc sử dụng tư liệu và
    thiết bị dạy học là vô cùng quan trọng. Trong đó hệ thống tranh ảnh, lược đồ, sơ
    đồ… sử dụng trong giờ dạy học lịch sử sẽ giúp học sinh khai thác và ghi nhớ kiến
    thưc sâu hơn. Bởi đối với phân môn Lịch sử do đặc trưng bộ môn này là tái hiện
    những gì đã diễn ra trong quá khư, nên mỗi đồ dùng đều có niên đại thời gian
    tương đối chính xác, tuy nhiên các loại đồ dùng không phải dễ tìm, có loại chỉ
    được trưng bày trong viện bảo tàng nên chỉ được thấy nó qua tranh vẽ, có loại
    bằng mẫu vật nhưng chỉ được mô phỏng bằng các chất liệu hiện đại để làm ví dụ,
    để diễn tả các cuộc khởi nghĩa kháng chiến với các trận đánh lớn, chỉ có thể được
    mô tả qua các tranh ảnh, sơ đồ, lược đồ trong sách giáo khoa hoặc thiết bị được
    cung cấp.
    3
    Vì thế việc đưa ra các dạng kênh hình, các bước hướng dẫn học sinh chủ
    động khai thác kiến thưc, bổ sung và khắc sâu kênh chữ là vô cùng cần thiết nhằm
    khơi dậy niềm đam mê, yêu thích học tập lịch sử và sự sáng tạo của học sinh. Từ
    đó các em tích lũy dần tri thưc lịch sử dân tộc và nhân loại, các em biết tự hào về
    truyền thống dân tộc anh hùng, thêm yêu quê hương đất nước và sống có trách
    nhiệm hơn.
    Năm học 2021-2022 là năm học thực hiện đổi mới dạy học theo chương trình
    GDPT 2018 của Bộ GD&ĐT đối với lớp 6. SGK Lịch sử và Địa lí 6 – Bộ sách
    KNTT giúp học sinh hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực
    chung, đặc biệt là tình yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào về truyền thống dân
    tộc, thái độ tôn trọng sự đa dạng của lịch sử thế giới và văn hoá nhân loại, ước
    muốn khám phá thế giới xung quanh, kĩ năng vận dụng những điều đã học vào
    thực tiễn cuộc sống… Trong đó Sách giáo khoa Lịch sử và Địa Lý lớp 6 nói chung
    và phân môn Lịch sử nói riêng có hệ thống kênh hình khá phong phú. Hơn nữa nói
    đến lịch sử là nói đến những gì đã diễn ra trong quá khư, là những kiến thưc đã
    diễn ra cách xa thời đại các em đang sống, nhất là phần lịch sử lớp 6 lại là những
    phần xa xôi nhất, trừu tượng nhất. Điều này gây khó khăn cho giáo viên khi truyền
    tải và học sinh khi tiếp nhận kiến thưc, dẫn đến các tiết học khô khan, học sinh khó
    hiểu và không yêu thích môn học.
    Hệ thống được các dạng kênh hình và các bước khai thác, mục đích khai thác
    trong từng đơn vị kiến thưc. Từ đó giúp giáo viên linh hoạt xây dựng hệ thống câu
    hỏi, tổ chưc các hoạt động dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực
    học sinh, giúp các em học sinh biết cách khai thác kiến thưc từ kênh hình. Trước
    một hình ảnh hay lược đồ lịch sử, các em không chỉ nhận biết được hình ảnh bề mặt mà
    đường nét thể hiện còn hiểu sâu, nói lưu loát được nội dung mà kênh hình biểu đạt.
    Giáo viên và học sinh có thể thực hiện thành công các tiết học, tránh được
    tình trạng nặng về thầy thuyết trình, trò ghi nhiều.
    Một số ít học sinh bước đầu biết quan sát và sử dụng kênh hình nhưng chưa
    biết cách khai thác kiến thưc minh họa cho kênh chữ, chưa biết các quy tắc sử
    dụng. Khi khai thác kênh hình khó các em không hiểu được nội dung trong đó.
    Đặc biệt các em học sinh lớp 6 mới làm quen cách học của cấp THCS nên còn
    nhiều bỡ ngỡ, ghi chép còn chậm, chưa quen phương pháp tự học.
    Chính vì vậy, giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng hệ thống kênh hình hợp lý
    hiệu quả sẽ góp phần phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, giúp các em hình
    dung và có biểu tượng cụ thể, sinh động trong quá trình học lịch sử nói chung và bộ
    môn Lịch sử 6 nói riêng, tạo cho học sinh có hưng thú và yêu thích khi học tập bộ môn,
    4
    tôi mạnh dạn chia sẻ với đồng nghiệp “Giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác kênh
    hình trong môn Lịch sử – Địa lí lớp 6 (phân môn Lịch sử) sách Kết nối tri thức với
    cuộc sống” mà tôi đang áp dụng trong năm học 2021 – 2022.
    II. Mô tả giải pháp.
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến.
    Trong năm học 2021 – 2022, do tình hình dịch bệnh diễn biến phưc tạp nên
    Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, Phòng Giáo dục tổ chưc nhiều đợt tập huấn trực tuyến
    về sự đổi mới của chương trình GDPT 2018. Đặc biệt đối với phân môn Lịch sử,
    giáo viên đã được tiếp thu các văn bản hướng dẫn chỉ đạothực hiện xây dựng kế
    hoạch dạy học. Được tham gia đóng góp ý kiến vào các bản dự thảo của Bộ khi
    xây dựng kiến thưc chương trình học. Với hình thưc tiếp thu đó, viên cũng có điều
    kiện chia sẻ, học tập kinh nghiệm lẫn nhau, cùng nhau giải quyết các chủ đề khó
    và mới trong chuyên môn.
    Chương trình lịch sử lớp 6 bao gồm phần lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc ở
    thời kì xa xôi nhất, trừu tượng nhất. Hệ thống kênh hình và câu hỏi ít, khiến học
    sinh thụ động, lúng túng trong tiếp cận kiến thưc, nhiều khi giáo viên phải trả lời
    thay học sinh, tiết học trở nên khô khan, nhàm chán.
    Một số thầy cô giáo vẫn chưa linh hoạt trong phương pháp dạy học mới theo
    định hướng phát huy năng lực và phẩm chất người học, vẫn nặng về thầy đọc – trò
    chép, thuyết trình một chiều. Bên cạnh đó việc giáo viên chưa làm tốt việc khai thác
    và sử dụng hiệu quả kênh hình đã làm giảm khả năng tư duy và khả năng nhận thưc
    của học sinh.
    Một số học sinh vẫn còn lười học, không yêu thích môn Lịch sử nên khả năng ghi
    nhớ sự kiện, nhân vật còn hạn chế. Đa số các em khi trả lời câu hỏi chưa biết chắt lọc ý
    và trình bày theo ý hiểu mà chỉ dừng lại ở việc đọc sách giáo khoa.
    *Thực trạng
    Trước tình hình đó đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát, thăm dò ý kiến học
    sinh để kịp thời phát hiện ra những hạn chế từ phía giáo viên và học sinh để kịp
    thời điều chỉnh cho phù hợp.

    PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN
    1. Trong các giờ học phân môn Lịch sử, em có hưng thú với môn học không?
    Đánh dấu (X) vào ô trống tương ưng.
    Có Không
    2. Khi khai thác kiến thưc lịch sử qua các dạng kênh hình như tranh ảnh, lược

    5

    đồ, sơ đồ…. em thường gặp những khó khăn, vướng mắc nào?
    …………….…………………………………………………..………………
    ……..……………………………………………………………………………

    Kết quả khảo sát bằng phiếu thăm dò khi chưa áp dụng giải pháp này là:

    Thăm dò ý kiến
    Tổng số học sinh
    Hứng thú học tập
    môn Lịch sử
    Khả năng biết khai thác
    kiến thức qua kênh hình
    90KhôngKhông
    50/90 =
    56%
    40/90 =
    44%
    50/90 =
    56%
    40/90 =
    44%

    Kết quả bài kiểm tra khi chưa áp dụng giải pháp là

    Điểm
    Số lượng
    GiỏiKháTrung bìnhYếu
    Số
    lượng
    %Số
    lượng
    %Số
    lượng
    %Số
    lượng
    %
    9055,51921,245502123,3

    Từ kết quả thu được qua phiếu khảo sát và bài kiểm tra, tôi nhận thấy thực trạng
    khai thác kênh hình của giáo viên và học sinh còn nhiều hạn chế. Điều đó được thể
    hiện ở một số nội dung cụ thể như sau:
    – Thư nhất: Hệ thống kênh hình, tranh ảnh của bộ SGK lớp 6 mới chưa được trang
    cấp đầy đủ.
    – Thư hai: Giáo viên chỉ trú trọng sử dụng kênh hình để khai thác kiến thưc ở hoạt
    động khám phá ( hoạt động hình thành kiến thưc) mà chưa khai thác triệt để tranh ảnh,
    kênh hình trong các hoạt động khác.
    – Thư ba: Học sinh không có hưng thú với môn học vì cho rằng đó là môn học
    phụ và kiến thưc khô khan khó ghi nhớ.
    – Thư tư: Học sinh còn lúng túng trong việc khai thác kiến thưc từ kênh hình cũng
    như tranh ảnh, lược đồ, sơ đồ…
    Chính vì thực trạng như trên nên tôi mạnh dạn đưa ra một số “Một số giải pháp
    khai thác hiệu quả kênh hình trong môn Lịch sử – Địa lí lớp 6 (phân môn Lịch sử)
    sách Kết nối tri thức với cuộc sống”
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến.
    2.1. Bản chất của giải pháp
    6
    Trong những năm qua, Phòng Giáo dục tổ chưc nhiều đợt tập huấn, sinh hoạt
    chuyên đề theo cụm trường nên giáo viên có điều kiện chia sẻ, học tập kinh
    nghiệm lẫn nhau, cùng nhau giải quyết các chủ đề khó và mới trong chuyên môn.
    Giáo viên giảng dạy môn Lịch sử tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên
    môn nghiệp vụ, vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, tìm tòi các thông tin,
    tranh ảnh, cập nhật vấn đề mang tính thời sự để tạo nên những tiết học hay, bổ ích.
    Đa số các em học sinh thích học hỏi, say mê khám phá và tìm hiểu tri thưc
    qua tranh ảnh, bản đồ, lược đồ…
    Tuy nhiên chương trình Lịch sử lớp 6 bao gồm phần lịch sử thế giới và lịch
    sử dân tộc ở thời kì xa xôi nhất, trừu tượng nhất. Hệ thống kênh hình và câu hỏi ít,
    khiến học sinh thụ động, lúng túng trong tiếp cận kiến thưc, nhiều khi giáo viên
    phải trả lời thay học sinh. Tiết học trở nên khô khan, nhàm chán.
    Một số thầy cô giáo vẫn chưa linh hoạt trong phương pháp, vẫn nặng về thầy
    đọc – trò chép, thuyết trình một chiều. Bên cạnh đó việc giáo viên chưa làm tốt việc
    khai thác và sử dụng hiệu quả kênh hình đã làm giảm khả năng tư duy và khả năng
    nhận thưc của học sinh.
    Một số học sinh vẫn còn lười học, không yêu thích môn Lịch sử nên khả năng ghi
    nhớ sự kiện, nhân vật còn hạn chế. Đa số các em khi trả lời câu hỏi chưa biết chắt lọc ý
    và trình bày theo ý hiểu mà chỉ dừng lại ở việc đọc sách giáo khoa.
    2.2. Nội dung của giải pháp
    Chương trình Lịch sử lớp 6 bao gồm phần lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc ở
    thời kì xa xôi nhất, trừu tượng nhất. Hệ thống kênh hình và câu hỏi ít, khiến học
    sinh thụ động, lúng túng trong tiếp cận kiến thưc, nhiều khi giáo viên phải trả lời
    thay học sinh, tiết học trở nên khô khan, nhàm chán.
    Từ đó, GV cần có kiến thưc về kĩ năng khai thác kênh hình, có sự chuẩn bị
    chu đáo, cẩn thận, nghiên cưu kĩ nội dung bài học và kênh hình liên quan; nắm
    chắc nguyên tắc và phương pháp sử dụng mỗi loại kênh hình: dùng đúng lúc, đúng
    mục đích, đúng cường độ.
    GV biết khái quát kênh hình thành các dạng và hướng dẫn học sinh tìm hiểu
    khai thác theo các dạng đó. GV khuyến khích học sinh khai thác kênh hình có thể
    do các em tự sưu tầm hoặc GV chuẩn bị. Thầy cô giáo đóng vai trò hướng dẫn chỉ
    đạo học sinh tự quan sát và rút ra kiến thưc, giúp các em học sinh biết cách khai
    thác kiến thưc từ kênh hình. Trước một hình ảnh hay lược đồ lịch sử, các em
    không chỉ nhận biết được hình ảnh bề mặt mà đường nét thể hiện còn hiểu sâu, nói
    lưu loát được nội dung mà kênh hình biểu đạt.
    7
    Giáo viên và học sinh có thể thực hiện thành công các tiết học, tránh được
    tình trạng nặng về thầy thuyết trình, trò ghi nhiều mà qua mỗi dạng kênh hình,
    giáo viên sẽ phát huy được các năng lực, phẩm chất giúp các em học tập bộ môn
    được tốt hơn.
    2.2.1 Lựa chọn sử dụng và khai thác kênh hình trong các hoạt động dạy học.
    Trong dạy học Lịch sử, sử dụng đồ dùng trực quan, khai thác triệt để kênh
    hình trong sách giáo khoa giúp học sinh hiểu sâu bản chất các sự kiện lịch sử,
    thông qua đó là phương tiện hình thành các khái niệm Lịch sử, giúp học sinh nắm
    vững quy luật phát triển của xã hội. Bên cạnh đó giúp học sinh phát triển khả năng
    quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của học sinh.
    Để sử dụng đồ dùng trực quan, khai thác triệt để kênh hình trong sách
    giáo khoa đạt kết quả tốt giáo viên cần quan tâm tới chất lượng đồ dùng trực
    quan, hiện vật, bản đồ, tranh ảnh, băng video… phương pháp, kĩ năng sử dụng
    đồ dùng của giáo viên và khả năng nhận thưc của học sinh ở từng lớp. Đặc
    biệt giáo viên cần chú ý tới thời gian sử dụng khai thác kênh hình trong các
    hoạt động học nhằm khai thác triệt để nhất nội dung kênh hình trong sách giáo
    khoa. Không phải kênh hình nào cũng sử dụng trong hoạt động hình thành
    kiến thưc mới mà có thể sử dụng các kênh hình trong hoạt động khởi động,
    hoạt động hình thành kến thưc mới, hoạt động luyện tập, hoạt động vận dụng
    mở rộng. Mục tiêu giáo dục hiện nay chuyển từ nền giáo dục nặng về truyền
    thục kiến thưc sang phát triển phẩm chất năng lực học sinh, sau khi học song
    chương trình học sinh không chỉ đơn thuần là biết được gì mà học sinh làm
    được những gì sau khi học song chương trình. Vì vậy đòi hỏi người giáo viên
    ngoài có kiến thưc, phương pháp đòi hỏi người giáo viên cần có kĩ năng sử
    dụng khai thác kênh hình. Kênh hình không chỉ đơn thuần cho học sinh quan
    sát xem hình ảnh đẹp hay xấu mà học sinh cần thực hành và rèn các kĩ năng
    khai thác tranh ảnh, lược đồ; kĩ năng tường thuật, miêu tả, nhận xét đánh giá,
    phân tích, đối chiếu so sánh được nội dung mà kênh hình đưa ra.
    2.2.2. Sử dụng kênh hình trong hoạt động khởi động.
    Mục tiêu nhằm tạo tình huống học tập nhằm tạo ra mâu thuẫn nhận thưc giữa
    những kiến thưc đã biết và chưa biết tạo hưng thú cho học sinh, giúp HS có những
    ấn tượng ban đầu về nội dung chuẩn bị tìm hiểu mối liên hệ nội dung lịch sử sắp
    học trong bài.
    *Ví dụ minh hoạ: Khi dạy bài 14: Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc, trong hoạt
    động khởi động, GV cho HS quan sát Hình 1. Lễ hội Đền Hùng (Phú Thọ) trong
    8
    SGK trang 60 nhằm gợi mở cho học sinh đến những thành tựu, giá trị văn hóa
    truyền thống của Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc đã để lại từ buổi đầu dựng nước.
    Nhằm kích thích HS hưng thú với bài học, GV đặt ra các câu hỏi sau:
    ?Em biết gì về Lễ hội Đền Hùng? Em đã từng nghe truyền thuyết “Con Rồng
    cháu Tiên” chưa? Hãy kể lại vắn tắt nội dung truyền thuyết này. Truyền thuyết
    này nói lên điều gì?
    GV chốt kiến thưc và dẫn dắt vào bài mới:
    Lễ hội Đền Hùng còn gọi là Giỗ tổ Hùng Vương, là một lễ hội lớn nhằm
    tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn công lao lập nước của các vua Hùng, những vị vua
    đầu tiên của dân tộc.
    “Dù ai đi ngược về xuôi
    Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba
    Khắp miền truyền mãi câu ca
    Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm”
    Theo truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” thì Lạc Long Quân và Âu Cơ được
    xem như là Thủy Tổ người Việt, cha mẹ của các Vua Hùng. Lễ hội Đền Hùng còn
    được gọi là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương. Ngày giỗ Tổ Hùng Vương diễn ra vào ngày
    mồng 10 tháng 3 âm lịch hà năm tại Đền Hùng, Việt Trì, Phú Thọ. Trước đó hàng
    tuần, lễ hội đã diễn ra với nhiều hoạt động văn hoá dân gian và kết thúc vào ngày 10
    tháng 3 âm lịch với Lễ rước kiệu và dâng hương tại Đền Thượng.
    9
    Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng còn là dịp để giáo dục truyền thống
    “Uống nước nhớ nguồn” bày lòng biết ơn sâu sắc các Vua Hùng đã có công dựng
    nước và các bậc tiền nhân kiên cường chống giặc ngoại xâm giữ nước, đồng thời
    còn là dịp quan trọng để chúng ta quảng bá ra thế giới về một di sản vô cùng giá
    trị, độc đáođã tồn tại hàng nghìn năm, ăn sâu vào tâm hồn, tình cảm, trở thành đạo
    lý truyền thống của đồng bào cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài, là ngày để toàn
    Đảng, toàn quân, toàn dân ta cùng nguyện một lòng mãi mãi khắc ghi lời căn dặn
    của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước / Bác cháu ta
    phải cùng nhau giữ lấy nước”.
    2.2.3. Sử dụng và khai thác kênh hình trong hoạt động khám phá.
    Đa số các kênh hình sử dụng nhiều trong hoạt động khám phá (hình thành
    kiến thưc mới), có những kênh hình giáo viên có thể giới thiệu minh họa để bài
    học phong phú, có những kênh hình giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác giúp
    học sinh hiểu được những thành tựu tiêu biểu về kinh tế, văn hóa, khoa học kĩ
    thuật, diễn biến trong quá trình đấu tranh của nhân dân các dân tộc trên thế giới
    cũng như Việt Nam.
    *Ví dụ minh hoạ: Khi dạy Bài 7: Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại, phần 3 –
    Những thành tựu văn hóa chủ yếu, để khai thác các kênh hình hiệu quả, GV tiến
    hành như sau
    GV: Hướng dẫn học sinh khai thác tranh ảnh về thành tựu văn hóa Ai Cập và
    Lưỡng Hà cổ đại, đọc tài liệu (kênh chữ SGK) để trả lời câu hỏi và lĩnh hội kiến
    thưc mới.
    10
    HS đọc SGK trang 32, 33; quan sát hình 5, hình 6, hình 7; thảo luận nhóm
    trong vòng 15 phút, hoàn thiện các phiếu học tập sau với nội dung sau.
    1. Tìm hiểu về thành tựu của Ai Cập cổ đại (thiên văn, chữ viết, toán học
    …)
    2. Tìm hiểu về thành tựu của Lưỡng Hà cổ đại (thiên văn, chữ viết, toán
    học). GV chia lớp thành 6 nhóm, các nhóm 1, 3, 5 tìm hiểu nhiệm vụ thư nhất
    Các nhóm 2, 4, 6 sẽ tìm hiểu nhiệm vụ thư hai.
    11
    Phiếu thảo luận

    Ai CậpLưỡng Hà
    Thiên văn
    Chữ viết
    Toán học
    Kiến trúc
    Thành tựu khác

    – Gợi ý sản phẩm (GV tổng hợp thành phiếu sau)

    Ai CậpLưỡng Hà
    Thiên vănĐặt ra lịch Ai Cập (1 năm có 12
    tháng, 1 tháng có 30 ngày)
    Đặt ra lịch âm lịch (1 năm
    có 12 tháng, 6 tháng đủ và 6
    tháng thiếu)
    Chữ viếtChữ tượng hình viết trên giấy
    Papyrut
    Chữ hình nêm viết trên đất
    sét nung khô
    Toán họcBiết đếm theo cơ số 10
    Tìm ra số Pi=3,14
    Biết đến phép cộng, trừ
    Biết đếm theo cơ số 60
    Tìm ra số Pi=3
    Biết đến phép cộng, trừ,
    nhân, chia
    Kiến trúcKim Tự Tháp
    Tượng Xphanh (nhân sư)
    Thành Bibilon, vườn treo
    babilon
    Thành tựu khácY học: Dùng phẫu thuật để
    chữa bệnh, am hiểu cơ thể
    người (tục ướp xác)
    -Luật pháp: bộ luật
    Hamurabi (bộ luật đầu tiên),
    phát minh ra bánh xe, xe
    kéo, lưỡi cày

    * GV giải thích thêm về một số thành tựu của Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại.-
    Hình 6: Vườn treo Ba-bi-lon là một công trình kiến trúc được liệt vào hàng kiệt
    tác của nhân loại, luôn luôn gắn liền với tên của một phụ nữ, hay còn gọi là vườn
    Se-mi-ra-mit. Vườn Ba-bi-lon do vua Ne-bu-chat-ne-da II xây dựng nên từ khoảng
    năm 600 TCN là món quà ông tặng cho người vợ yêu quý nhất của mình. Vườn
    treo hình vuông, có bậc dẫn đến lối vào cửa tiếp theo, đặt sân nọ trên sân kia
    thành một quần thể kiến trúc độc đáo theo nền dốc bậc. Các hiên phẳng được đỡ
    bởi cột nâng lên, chịu được tất cả sức nặng của cây cối. Cột cao nhất 23,1 m
    tường được xây vững chắc, rất tốn kém. Chiều dài của tường là 6,8 m khoảng cách
    giữa các bậc là 3,08 m dài 4,95 m rộng 1,23 m. Các khối đá được phủ bằng một
    lớp lau sậy trộn nhựa đường, bên trên là hai lớp gạch nung tráng nhựa đường,
    giữa các lớp gạch lại được che phủ bởi những tấm chì lá để chống thấm. Trên mỗi
    tầng trồng nhiều loại cây cổ thụ khác nhau. Để đưa nước tưới cho cây cối, người
    12
    ta phải dùng một loại máy có chuỗi gầu quay liên tục do người điều khiển. Đứng
    trên vườn treo, người ta có thể nhìn bao quát cả thành Ba-bi-lon. Vườn treo là một
    khoảng xanh tươi mát, là niềm hi vọng và điểm định hướng cho những đoàn lạc đà
    hành trình trên sa mạc mênh mông và nóng bỏng. Vườn treo Ba-bi-lon được biết
    đến như một công trình bí ẩn nhất trong số bảy kì quan thế giới nhưng các nhà
    khảo cổ không tìm thấy được bằng chứng nào liên quan đến sự tồn tại của công
    trình này.
    – Hình 7: Kim tự tháp thực chất là những lăng mộ của các vua chúa Ai Cập
    (các Pha-ra-ông). Thời Ai Cập cổ đại, vua được xem là một sức mạnh tuyệt đối để
    điều khiển muôn người. Các Pha-ra-ông đã xây dựng những ngôi nhà mồ vĩ đại,
    kiên cố để giữ xác của họ sau khi chết. Đây là một trong những công trình kiến
    trúc làm cho con người phải kinh ngạc về quy mô hùng vĩ và cách thức xây dựng.
    Là một trong bảy kì quan thế giới cổ đại, còn gọi là kim tự tháp Ghi-za hay Kuphu. Người Ai Cập đã chọn vật liệu đá để xây dựng các Kim tự tháp.Đây là những
    vật liệu có sẵn, dễ kiếm ở Ai Cập, phù hợp với việc tạo ra những công trình chịu
    đựng được sự thử thách của thời gian, tạo nên những hình tượng bất tử. Các khối
    đá thạch cao tuyết hoa có trọng lượng từ 2, 3 đến 4 tấn, được ghè đẽo theo kích
    thước đã định, mài nhẵn bề mặt rồi xếp chồng lên nhau tới độ cao 146,5m (trải
    qua năm tháng đến hiện nay còn 138,8m).Chúng được làm hoàn hảo tới mức ngay
    cả một sợi tóc, một lưỡi dao hay một tờ giấy mỏng cũng không thể lọt được vào
    khe giữa hai khối đá. Tuy vậy, nó vẫn được tính toán để chịu được sự giãn nở
    nhiệt và thậm chí cả những trận động đất. Bên cạnh Kim tự tháp là bức tượng
    Nhân sư huyền bí, là bức tượng nguyên khối lớn nhất hiện nay, tượng trưng cho trí
    tuệ và sức mạnh quyền lực của các Pha-ra-ông Ai Cập. Cho đến ngày nay, trải
    qua nhiều biến động thăng trầm của thời gian và lịch sử, trên những bãi cát trắng

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • SKKN Phát triển năng lực sáng tạo của học sinh theo định hướng STEM môn Lịch sử và Địa lý 7

    SKKN Phát triển năng lực sáng tạo của học sinh theo định hướng STEM môn Lịch sử và Địa lý 7

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • SKKN Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học trực tuyến. bài 9 một số lương thực thực phẩm KHTN 6 Bộ sách Cánh Diều

    SKKN Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học trực tuyến. bài 9 một số lương thực thực phẩm KHTN 6 Bộ sách Cánh Diều

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • SKKN Sử dụng các phần mềm trong thiết kế bài giảng điện tử môn Khoa học tự nhiên 6

    SKKN Sử dụng các phần mềm trong thiết kế bài giảng điện tử môn Khoa học tự nhiên 6

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • SKKN Thiết kế các hoạt động học phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh trong môn Khoa học tự nhiên 6

    SKKN Thiết kế các hoạt động học phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh trong môn Khoa học tự nhiên 6

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • SKKN Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch bài dạy theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh môn KHTN 7

    SKKN Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch bài dạy theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh môn KHTN 7

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • SKKN Tích hợp rèn kĩ năng thích ứng với biến đổi khí hậu trong dạy học Hóa học cấp THCS

    SKKN Tích hợp rèn kĩ năng thích ứng với biến đổi khí hậu trong dạy học Hóa học cấp THCS

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến.
    BĐKH đã và đang diễn ra trên toàn cầu với sự tác động ngày càng lớn, đây là thách
    thức to lớn mà con người phải đối mặt trong thế kỷ 21 và sự tác động lớn hay nhỏ của
    nó tùy thuộc vào sự nhìn nhận, khả năng thích ứng và hành động cụ thể của con người.
    Nhận thức rõ những ảnh hưởng to lớn và nghiêm trọng do BĐKH gây ra, nguyên thủ
    các quốc gia trên thế giới đã nhất trí kí vào bản thỏa thuận chống biến đổi khí hậu toàn
    cầu. Bản thỏa thuận chống biến đổi khí hậu toàn cầu đã được chính thức thông qua tại
    Hội nghị Thượng đỉnh Liên Hiệp Quốc COP21 ở Paris (Pháp) lúc 17 giờ 30 giờ Paris,
    tức 23 giờ 30 giờ Việt Nam ngày 12/12/2015. Đây là một thỏa thuận lịch sử vì lần đầu
    tiên tất cả 196 bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về chống biến đổi khí
    hậu (UNFCCC) đã đi đến một thỏa thuận buộc tất cả các nước cắt giảm lượng phát thải
    khí carbon. Bản thoả thuận một phần mang tính ràng buộc pháp lý, một phần mang tính
    tự nguyện. Mục tiêu quan trọng nhất của thỏa thuận này là giữ mức tăng nhiệt độ toàn
    cầu trong thế kỷ này dưới 2 độ C, rồi tiếp đó cùng thúc đẩy nỗ lực để xuống còn 1,5 độ
    C so với thời kỳ tiền công nghiệp.
    Việt Nam là một trong số ít nước trên thế giới chịu tác động nặng nề nhất của
    BĐKH. Theo kịch bản về BĐKH do Bộ TN&MT xây dựng và công bố năm 2016, mực
    nước biển dâng trung bình ở Việt Nam cao hơn so với toàn cầu, đến năm 2050 với kịch
    bản nước biển dâng ở mức trung bình cao, toàn dải ven biển Việt Nam sẽ dâng cao 22
    cm, đến năm 2100 là 56 cm. Khi mực nước biển dâng 100 cm có khoảng 38,9% diện
    tích đồng bằng sông Cửu Long và 16,8% đồng bằng sông Hồng sẽ bị ngập úng, sẽ có 22
    triệu người mất nhà và ¾ diện tích đất nông nghiệp ở đồng bằng ngập trong biển nước,
    đây là vựa lúa lớn của cả nước đóng vai trò hết sức quan trọng đối với an ninh lương
    thực của đất nước và khu vực. Trong những năm gần đây các hiện tượng thời tiết cực
    đoan như mưa lớn bất thường, nhiệt độ trung bình tăng cao, hạn hán, xâm nhập mặn,
    dịch bệnh ngày càng phức tạp đều có liên quan đến BĐKH và trong tương lai những ảnh
    hưởng này được dự báo ngày càng nặng nề hơn nếu con người không có giải pháp để
    thích ứng với BĐKH. Việt Nam chịu nhiều thiên tai liên quan đến BĐKH do vị trí địa
    lý và địa hình, cũng như sự phát triển kinh tế và tăng dân số, đặc biệt tại vùng đồng bằng
    2
    và dọc bờ biển ngày càng dễ bị ảnh hưởng và chịu rủi ro vì những đột biến và căng thẳng
    khí hậu ngày càng gia tăng.
    Từ thực tế đó, vấn đề thích ứng với BĐKH đã trở thành mục tiêu thiên niên kỷ và
    được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cấp các ngành và toàn xã hội. Trong những
    năm qua Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách, chương trình ứng phó
    với BĐKH như Chiến lược quốc gia về BĐKH và giảm nhẹ thiên tai. Tại Việt Nam,
    Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phê duyệt Chương
    trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH (Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày
    2/12/2008). Để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH, Bộ trưởng
    Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phê duyệt Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH của
    ngành Giáo dục giai đoạn 2011 – 2015 và phê duyệt Dự án “Đưa các nội dung ứng phó
    với BĐKH vào chương trình Giáo dục và Đào tạo giai đoạn 2011 – 2015″. Nhằm định
    hướng cho việc triển khai thực hiện nhiệm vụ trên một cách có hiệu quả, Bộ Giáo dục
    và Đào tạo đã xây dựng bộ tài liệu giáo dục ứng phó với BĐKH tích hợp vào các môn
    học: Vật lí, Hóa học…
    3
    Ngành giáo dục với sứ mệnh cao cả trong nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài,
    đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội, với mạng lưới rộng khắp cả nước, với đội ngũ giáo
    viên hùng hậu, với chương trình giáo dục, phương pháp giáo dục đóng vai trò to lớn và
    tầm ảnh hưởng sâu rộng đến việc nâng cao nhận thức, rèn luyện kỹ năng thích ứng với
    BĐKH cho thế hệ trẻ.
    Nhằm bắt kịp với xu thế hội nhập toàn cầu, ngành giáo dục Việt Nam đang ngày
    một hội nhập cùng thế giới. Hiểu rõ tầm quan trọng của giáo dục hiện đại là đào tạo ra
    những con người có thể bắt kịp xu thế hội nhập toàn cầu. Là một người giáo viên giảng
    dạy môn Hoá học, tôi thấy trách nhiệm của mình là phải hình thành cho các em thấy
    được tác hại của hoá chất đối với môi trường. Từ đó các em mới có trách nhiệm bảo vệ
    môi trường, giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu, giữ gìn vệ sinh nơi các em đang
    sinh sống và học tập. Hay nói cách khác môn Hoá học là bộ môn có nhiều khả năng để
    tích hợp giáo dục môi trường, giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu vào bài giảng. Do
    vậy, chương trình và nội dung dạy học môn Hoá học chứa đựng nhiều nội dung liên
    quan đến kĩ năng sống và có khả năng tích hợp giáo dục kĩ năng sống cao.
    Kĩ năng sống đặc thù, thể hiện ưu thế của môn Hoá học là giao tiếp – hợp tác, tiếp
    sau là kĩ năng nhận thức, bao gồm kĩ năng nhận thức thế giới xung quanh, tự nhận thức,
    ra quyết định,… Khả năng giáo dục kĩ năng sống của môn Hoá học không chỉ thể hiện
    trong nội dung môn học mà còn được thể hiện qua phương pháp dạy học của giáo viên.
    Để hình thành các kiến thức và rèn luyện kĩ năng mà chương trình đặt ra với học sinh,
    người giáo viên phải vận dụng nhiều phương pháp dạy phát huy tính tích cực, chủ động,
    sáng tạo của học sinh. Thông qua các hoạt động học tập, được phát huy trải nghiệm, rèn
    kĩ năng hợp tác, bày tỏ ý kiến cá nhân, đóng vai,… học sinh có cơ hội rèn luyện, thực
    hành nhiều kĩ năng sống cần thiết.
    Chính vì vậy, tôi lựa chọn đề tài này muốn gửi đến các đồng nghiệp một vài kinh
    nghiệm nhằm mục đích nâng cao giáo dục toàn diện cho học sinh, đồng thời góp một
    phần nhỏ để bảo vệ môi trường được hiệu quả hơn. Đó là lí do tôi chọn đề tài: “Tích
    hợp rèn kĩ năng thích ứng với biến đổi khí hậu trong dạy học Hoá học cấp THCS”.
    4
    II. Mô tả giải pháp
    1. Giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Trên toàn cầu, Việt Nam là quốc gia xếp thứ sáu chịu ảnh hưởng nặng nề do
    biến đổi khí hậu. Mỗi năm, các diễn biết thời tiết ngày càng phức tạp và không thể dự
    báo trước được gây ra tỷ lệ tử vong và thiệt hại cho cơ sở hạ tầng rất cao, chẳng hạn như
    trường học và trung tâm y tế, và tác động xấu đến sinh kế của nhóm dân số thiệt thòi ở
    thành thị và nông thôn. Các tác động ảnh hưởng do khí hậu ảnh hưởng đến hơn 74% dân
    số, đặc biệt là những nhóm người nghèo thiếu khả năng phục hồi trước những thiệt hại
    lớn sau thảm họa thiên tai, trong khi việc đô thị hóa đã làm tăng các khoảng cách của
    các gia đình di cư bị hạn chế tiếp cận với các dịch vụ xã hội. Trẻ em đặc biệt bị ảnh
    hưởng bởi những thảm họa thiên nhiên này.
    Biến đổi khí hậu là một trong những vấn đề trọng tâm của toàn nhân loại, khi mà
    cả thế giới đang đứng trước nhiều nguy cơ hủy diệt như sóng thần, động đất, núi lửa,
    hạn hán, bão tố, lũ lụt … hay sự nóng lên của trái đất, ô nhiễm môi trường, thiếu cây
    xanh, dịch bệnh gia tăng … Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ
    hiện nay, sự phát triển của Việt Nam hoàn toàn không nằm ngoài tác động của những
    vấn đề mà nhân loại đang từng ngày từng giờ phải đối mặt như biến đổi khí hậu. Nhận
    thức và hành động đối với biến đổi khí hậu là một trong những vấn đề quan trọng được
    đặt ra một cách bức thiết đối với mọi tầng lớp dân cư nhằm hướng đến xây dựng và phát
    triển môi trường bền vững, đảm bảo sự sống của mọi loài sinh học trong đó có con
    người.
    Học sinh THCS sẽ là thế hệ tri thức trẻ của mỗi quốc gia, dân tộc; là lực lượng
    chính trong sự phát triển của nền kinh tế tri thức và ứng dụng thành tựu khoa học kỹ
    thuật vào cuộc sống nhằm cải thiện, nâng cao mức sống của cá nhân, gia đình và xã hội;
    là đội ngũ đã có sự chín muồi về tri thức, nhận thức, có đủ khả năng để hành động trước
    các tình huống xảy ra trong đời sống xã hội một cách khoa học, hợp pháp nhất và là lực
    lượng lao động trẻ có khả năng thích ứng, ứng phó cao trước các tình huống phức tạp
    diễn ra xung quanh cuộc sống của họ. Vì vậy, đối với vấn đề biến đổi khí hậu hiện nay,
    giáo dục học sinh để trở thành những người có nhận thức sâu sắc và hành động mạnh
    mẽ nhất.
    5
    Hình 1. Trái Đất – cái nôi của sự sống.
    Là một trường nằm ở phía đông nam của tỉnh Nam Định, tuy chưa chịu ảnh hưởng
    nhiều từ biến đổi khí hậu như sự nóng lên của trái đất, ngập lụt do nhiều nguyên nhân
    như ô nhiễm môi trường do bụi công nghiệp, bụi của các phương tiện giao thông, vấn
    đề rác thải, cây xanh ….. Nhưng dưới sự chỉ đạo của Sở GD-ĐT Nam Định, Phòng GD-
    ĐT Nghĩa Hưng, trường THCS Nghĩa Hưng cũng đã có nhiều hành động để ứng phó
    với vấn đề biến đổi khí hậu như tuyên truyền, giáo dục lồng ghép trong các môn học,
    đặc biệt là môn Hoá học, Sinh học và Địa lí… Từ đó giáo dục cho các em những kĩ năng
    sống được trang bị thích ứng với các điều kiện khác nhau của cuộc sống.
    Một cuộc khảo sát với 352 học sinh của trường đã được tôi thực hiện. Kết quả
    cho thấy: phần lớn học sinh đều nhận thấy các biểu hiện của biến đổi khí hậu xung quanh
    cuộc sống của mình. Những dấu hiệu ban đầu theo nhận định của học sinh để biết về
    vấn đề biến đổi khí hậu được xác định như sau: học sinh biết đến biến đổi khí hậu chiếm
    tỷ lệ cao nhất là thông qua việc xem ti vi, nghe đài (44,6%); tiếp đến là thông qua việc
    đọc sách báo (13,6%); nhận thức qua các môn học của bản thân (10,2%); nhận biết thông
    qua cộng đồng (9,4%) và một số các dấu hiệu khác (5,1%) như tuyên truyền viên giới
    thiệu, thông qua mạng xã hội, thông qua người thân, nhà thờ, nhà chùa,… Nhưng con
    số đáng buồn nhất đó là các em chưa có nhận thức hoặc hiểu biết về BĐKH còn chiếm
    tỉ lệ khá cao (17,9%) (Hình 2)
    6
    Hình 2. Nguồn nhận biết về biến đổi khí hậu
    Điều này đã chứng minh rằng, học sinh THCS tuy còn nhỏ tuổi nhưng cũng giống
    như các thành phần xã hội khác, các em cũng rất quan tâm đến môi trường sống của
    chính mình, bởi biến đổi khí hậu có những ảnh hưởng và tác động sâu sắc lên đời sống
    của mỗi chúng ta. Rõ ràng, lối sống ấy thể hiện khả năng và trách nhiệm của mỗi cá
    nhân với cộng đồng, xã hội và thế giới quan bên ngoài của các em.
    Tôi tiếp tục nghiên cứu về các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng biến đổi khí hậu,
    kết quả ghi nhận được như sau: có tới 48% học sinh được khảo sát trả lời là do ô nhiễm
    môi trường, 9 % là do ô tô, xe máy; 15% là do sử dụng thước trừ sâu, phân bón hoá
    học; 7% trả lời là do “tự nhiên”, 21% là khó trả lời; và một số nguyên nhân khác (thiếu
    ý thức cộng đồng, xả rác thải…) (Hình 3). Các nguyên nhân đó được các em cảm nhận
    qua tình hình biến đổi khí hậu thông qua một số chỉ báo cụ thể đó là: “mưa nắng thất
    thường”; tiếp đó là các em nhận biết thông qua dấu hiệu “Ngập nước nhiều hơn, lũ lụt
    nhiều hơn”, “ mưa nhiều hơn”, do “trời nóng hơn”, “rét hơn”… phần lớn các em đền
    thấy khí hậu biến đổi ngày càng phức tạp theo chiều hướng tiêu cực.
    Xem tivi
    44,6%
    Đọc sách báo
    13,6%
    Nhận thức của
    bản thân
    10,2%
    Cộng đồng
    9,4%
    Khác
    5,1%
    Chưa hiểu về
    BĐKH
    17,9%
    7
    Hình 3. Nguyên nhân biến đổi khí hậu
    Giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội qua các
    thế hệ, giúp cho mỗi cá nhân tích lũy kiến thức, kỹ năng, hình thành văn hóa, đạo đức
    và đóng góp trí lực giúp xã hội bảo toàn và phát triển nền văn hóa. Giáo dục cung cấp
    cho con người hệ thống kiến thức khoa học, bồi dưỡng phương pháp tư duy sáng tạo, kỹ
    năng hoạt động thực tiễn, nâng cao trình độ học vấn, phát triển năng lực của mỗi cá nhân
    và hình thành lối sống văn hóa. Qua giáo dục con người tham gia một cách có ý thức
    trong công cuộc xây dựng và phát triển cộng đồng, là nhân tố tích cực phát triển xã hội
    đi đôi với BVMT sống. Phát triển giáo dục luôn được Đảng và Nhà nước xem là quốc
    sách hàng đầu được thể hiện trong chiến lược phát triển đất nước qua nhiều thời kì.
    Ở Việt Nam, hệ thống giáo dục được phát triển rộng khắp đất nước từ cơ sở giáo
    dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đến các trường trung cấp,
    cao đẳng, đại học với nhiều loại hình đa dạng. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào
    tạo, năm học 2019 – 2020 cả nước có 5,5 triệu trẻ mầm non, 17 triệu học sinh bậc phổ
    thông và 1,5 triệu sinh viên chính quy. Tổng số giáo viên, giảng viên khoảng 1,2 triệu
    người và đội ngũ cán bộ quản lý 154 nghìn người. Đây là lực lượng đông đảo chiếm gần
    28% dân số cả nước và đây sẽ là đội ngũ tuyên truyền viên hoạt động rộng khắp, có hiệu
    quả góp phần tuyên truyền cho gia đình, cộng đồng khắp các vùng miền tổ quốc về vấn
    đề môi trường nóng bỏng này một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, các cơ
    Ô nhiễm môi
    trường
    48,29%
    Thuốc trừ sâu,
    phân bón HH
    15,05%
    Ô tô, xe máy
    10,79%
    Do “tự nhiên”
    7,1%
    Khó trả lời
    18,77%
    8
    sở giáo dục của Việt Nam là nơi có điều kiện để thực hiện các chủ trương chính sách
    của Đảng và Nhà nước về thích ứng với BĐKH và Chiến lược quốc gia về BĐKH.
    Hình 4. Việt Nam là một trong các quốc gia chịu tác động của biến đổi khí hậu rất lớn.
    Hoạt động giáo dục, đào tạo, tăng cường năng lực và nâng cao nhận thức về BĐKH
    trong thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực. Hoạt động này được thực hiện
    thông qua các khóa tập huấn, hội nghị, hội thảo, diễn đàn, sự kiện có liên quan. Các hoạt
    động tuyên truyền, vận động liên quan đến tăng cường thích ứng với BĐKH đã được
    triển khai thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.
    Trong chương trình giáo dục Việt Nam đã từng bước đề cập đến vấn đề BĐKH,
    hậu quả của BĐKH, tuy nhiên chưa tập trung đến đào tạo kỹ năng thích ứng với BĐKH.
    Việc khai thác các nội dung này chủ yếu tập trung vào việc nâng cao năng lực nhận thức
    của học sinh, sinh viên, trong khi đó việc hình thành kỹ năng tham gia BVMT, kỹ năng
    thích ứng trong điều kiện khí hậu thay đổi, thái độ hành vi ứng xử thân thiện với môi
    trường chưa đạt như mong muốn. Ở các trường phổ thông, chưa hình thành môn học
    riêng, chưa có tài liệu giảng dạy riêng, do đó chưa được chú trọng và đầu tư một cách
    đầy đủ về cơ sở vật chất, đào tạo giáo viên chuyên sâu. Việc lồng ghép một số nội dung
    môn học chưa mang tính logic, thậm chí quá tải, do đó việc dạy và học khó đạt hiệu quả
    như mong muốn. Vì vậy, cần nghiên cứu phương thức và nội dung triển khai giáo dục
    về thích ứng với BĐKH đối với từng bậc học phù hợp là vấn đề rất cần thiết và cấp thiết.
    9
    Thực trạng giáo dục lồng ghép kĩ năng sống trong trường THCS hiện nay:
    Trong trường phổ thông, việc giáo dục kỹ năng sống (KNS) cho học sinh (HS)
    được thể hiện ở nhiều mặt, từ hoạt động trên lớp, hoạt động ngoại khóa đến các hình
    thức giáo dục khác.
    Giáo dục KNS cho HS không phải là mới, song nội dung nào được đưa vào giáo
    dục trong nhà trường và giáo dục như thế nào để mang lại hiệu quả lại đang là vấn đề
    cần quan tâm.
    Hiện nay, việc thiếu KNS, thiếu tự tin, tự lập và lối sống khép kín với thực tại, đắm
    chìm trong “thế giới ảo” của game đang là những cản trở lớn cho sự phát triển của một
    bộ phận thanh, thiếu niên khiến không ít phụ huynh, các thầy, cô giáo phải phiền lòng.
    Qua tìm hiểu tại một số đơn vị trường cho thấy, mặc dù ở một số môn học, các hoạt
    động ngoại khóa, giáo dục KNS đã được nhà trường đề cập đến, tuy nhiên, do nội dung,
    phương pháp, cách thức truyền tải… chưa phù hợp với tâm sinh lý của HS nên hiệu quả
    lồng ghép chưa cao, kết quả mang lại chưa khả quan.
    Tại các trường THCS, cùng với việc lồng ghép giáo dục KNS trong các môn Giáo
    dục công dân, Địa lý, Sinh học, Hoá học … hằng tháng, nhà trường vẫn dành thời lượng
    trong các tiết sinh hoạt đầu giờ, sinh hoạt dưới cờ để định hướng, giáo dục KNS cho HS
    nhưng hiệu quả giáo dục KNS vẫn chưa cao. Nguyên nhân của thực trạng này là do thiếu
    nhân lực và kinh phí để tổ chức. Bên cạnh đó, thời gian để HS thực hành ít, một bộ phận
    giáo viên vẫn nặng về dạy văn hóa, chưa thực sự quan tâm đến giáo dục KNS cho các
    em.
    Sau nhiều năm thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo, lồng ghép
    chương trình giáo dục KNS vào các giờ học, nhà trường đã thực hiện có hiệu quả nội
    dung này và tự tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa để HS nhà trường được trải nghiệm
    thực tế. Tuy nhiên, để tổ chức một hoạt động ngoại khóa trang bị cho HS kiến thức KNS
    là việc làm không đơn giản, khi nguồn kinh phí không cho phép, thời gian có hạn. Cùng
    với đó, không phải giáo viên nào cũng có kỹ năng, năng lực điều hành, tổ chức các hoạt
    động giáo dục KNS cho HS.
    10
    Hình 5. Học sinh tham gia lao động bảo vệ môi trường trên trục đường xã.
    2. Giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến
    2.1. Giáo dục kĩ năng sống
    UNESCO đã đề xướng mục tiêu học tập: “Học để biết, học để làm, học để chung
    sống, học để tự khẳng định mình”. Trường học chúng ta hiện đang nặng về học để biết,
    nghĩa là chỉ đạt được một trong bốn mục tiêu của UNESCO.
    Ngân hàng thế giới gọi thế kỉ XXI là kỉ nguyên của kinh tế dựa vào kĩ năng (Skills
    Based Economy). Năng lực của con người được đánh giá trên 3 góc độ: kiến thức, kĩ
    năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa. Giáo dục nước ta hiện nay, đang cố gắng
    chuyển dần từ đánh giá kiến thức của học sinh sang đánh giá phẩm chất và năng lực làm
    việc của học sinh. Nói một cách dễ hiểu, người học không chỉ học kiến thức mà quan
    trọng hơn là rèn luyện kĩ năng hành động liên quan đến kiến thức đó. Peter M. Senge
    từng nói “vũ khí cạnh tranh mạnh nhất là học nhanh hơn đối thủ”. Rõ ràng muốn tăng
    cường năng lực cạnh tranh, rút ngắn khoảng cách ứng dụng khoa học công nghệ, thì
    phải biết cách dạy và cách học. Giáo dục sẽ mãi mãi tụt hậu nếu chỉ chăm chú nhồi nhét
    kiến thức của nhân loại vào đầu học sinh mà quên đi sứ mạng quan trọng là giáo dục
    11
    phẩm chất sống, năng lực học tập và sử dụng kiến thức, chẳng hạn năng lực tự học, biết
    cách tự học là đồng nghĩa với mọi thứ đều biết.
    Trước đây, nhà trường là nơi duy nhất để ta tiếp nhận kiến thức. Ngày nay, thế
    giới càng trở nên phẳng hơn nhờ sách vở, internet và các phương tiện truyền thông làm
    cho mọi người đều có thể tiếp cận thông tin, dữ liệu một cách bình đẳng, mọi lúc, mọi
    nơi. Như vậy, để tiếp nhận kiến thức không phải là quá khó khăn trong thời đại ngày
    nay mà quan trọng là biến kiến thức đó thành kĩ năng, nói như M.A. Đanhilop: “kĩ năng
    chính là kiến thức trong hành động”. Từ biết, đến hiểu, đến làm việc chuyên nghiệp với
    năng suất cao là một khoảng cách rất lớn không phải ai cũng thực hiện được, cần có
    những bứt phá chuyển thói quen thành kĩ năng. Hầu hết các thói quen hình thành một
    cách vô thức và khó kiểm soát. Trong khi đó kĩ năng được hình thành một cách có ý
    thức do quá trình luyện tập. Dạy học tích hợp sẽ là nền tảng giúp phát triển năng lực cho
    học sinh để các em biết cách bảo vệ cuộc sống và sống có trách nhiệm với cộng đồng.
    2.1.1. Quan niệm về kỹ năng sống:
    Có nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng sống:
    Theo quan niệm của tổ chức y tế thế giới (WHO): Kỹ năng sống là những kỹ
    năng mang tính tâm lý xã hội và kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong các tình
    huống hằng ngày để tương tác có hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu
    quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày.
    Theo UNICEF, kĩ năng sống là cách tiếp cận giúp học sinh thay đổi hoặc hình
    thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng và tiếp thu kiến thức, hình
    thành thái độ và kĩ năng.
    Theo Tổ chức giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO), kĩ
    năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết (Learning to know) gồm
    các kĩ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn
    đề, nhận thức được hậu quả,…; Học làm người (Learning to be) gồm các kĩ năng cá nhân
    như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin,…; Học để sống
    với người khác (Learning to live together) gồm các kĩ năng xã hội như: giao tiếp, thương
    lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông; Học để làm
    12
    (Learning to do) gồm kĩ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: kĩ năng đặt mục
    tiêu, đảm nhận trách nhiệm,…
    Nói tóm lại, nói tới kỹ năng sống không đơn giản chỉ ở nhận thức mà cao hơn
    nữa con người còn biết tích cực vận dụng những kiến thức đã học vào xử lý các tình
    huống thực tiễn có hiệu quả, qua đó giúp con người sống vui vẻ, có ý nghĩa hơn. Hay,
    kĩ năng sống là khả năng tự làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù
    hợp với những người khác và xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống
    của cuộc sống.
    2.1.2. Đặc trưng cơ bản của kĩ năng sống.
    • Kĩ năng sống là khả năng con người biết cách sống phù hợp và hữu ích.
    • Kĩ năng sống là khả năng con người dám đương đầu với những tình huống khó
    khăn trong cuộc sống và biết cách vượt qua.
    • Kĩ năng sống là kĩ năng tâm lý xã hội, con người biết quản lý bản thân mình và
    tương tác tích cực với người khác, với xã hội.
    2.1.3. Phân loại kĩ năng sống: Có nhiều cách phân loại kĩ năng sống, tùy theo
    từng quan niệm về kĩ năng sống.
    Theo UNESCO, WHO và UNICEF, có thể xem kĩ năng sống gồm các kĩ năng cốt
    lõi sau:
    – Kĩ năng giải quyết vấn đề (problem solving);
    – Kĩ năng suy nghĩ/tư duy phê phán (critical thingking);
    – Kĩ năng giao tiếp hiệu quả (effective communication skills);
    – Kĩ năng ra quyết định (decision-making);
    – Kĩ năng tư duy sáng tạo (creative thinking);
    – Kĩ năng giao tiếp ứng xử cá nhân (interpersonal relationship skills);
    – Kĩ năng tự nhận thức/tự trọng và tự tin của bản thân, xác định giá trị
    (selfawareness building skills, incl, selfawareness. Self-estem and self-confidence, and
    values analysis);
    – Kĩ năng thể hiện sự cảm thông (empathy);
    13
    – Kĩ năng ứng phó với căng thẳng và cảm xúc (coping with stress and emotions).
    Trong giáo dục ở Vương quốc Anh, kĩ năng sống được chia thành 6 nhóm chính
    là:
    – Hợp tác nhóm;
    – Tự quản;
    – Tham gia hiệu quả;
    – Suy nghĩ/tư duy bình luận, phê phán;
    – Suy nghĩ sáng tạo;
    – Nêu vấn đề và giải quyết vấn đề.
    Trong giáo dục chính quy ở nước ta những năm vừa qua, kĩ năng sống thường
    được phân loại theo các mối quan hệ, bao gồm các nhóm sau:
    – Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, bao gồm các kĩ năng sống cụ
    thể: tự nhận thức xác định giá trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm hỗ trợ, tự rọng, tự
    tin,…
    – Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với người khác, bao gồm các kĩ năng sống cụ
    thể như: giao tiếp có hiệu quả, giải quyết mâu thuẩn, thương lượng, từ chối, bày tỏ sự
    cảm thông, hợp tác,..
    – Nhóm kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả, bao gồm các kĩ năng sống cụ
    thể như: tìm kiếm và xử lí thông tin, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định,
    giải quyết vấn đề,…
    Trên đây chỉ là một số các cách phân loại kĩ năng sống. Tuy nhiên mọi cách phân
    loại chỉ là tương đối. Trên thực tế kĩ năng sống thường không tách rời hoàn toàn nhau
    mà có liên quan chặt chẽ với nhau.
    2.1.4. Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà
    trường phổ thông:
    Kĩ năng sống là một phần quan trọng của cuộc sống cá nhân trong xã hội hiện đại.
    14
    “Ý nghĩa của cuộc sống không phải ở chỗ nó đem đến cho ta điều gì mà ở chỗ ta
    có thái độ đối với nó ra sao, không phải ở chỗ điều gì xảy ra với ta, mà ở chỗ ta phản
    ứng với những điều đó như thế nào.”
    – Lewis L. Dunmington –
    Kĩ năng sống thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội: Có thể nói rằng kĩ năng
    sống chính là những nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và
    thói quen tích cực lành mạnh. Người có kĩ năng sống phù hợp sẽ luôn vững vàng trước
    khó khăn, thử thách; biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp; họ
    thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ cuộc sống của mình.
    Ngược lại, người thiếu kĩ năng sống thường bị vấp váp, dễ thất bại trong cuộc sống.
    Kĩ năng sống không những thúc đẩy sự phát triển của cá nhân mà còn góp phần
    thúc đẩy sự phát triển của xã hội, giúp ngăn ngừa các vấn đề xã hội và bảo vệ quyền con
    người. Việc thiếu kĩ năng sống của cá nhân là một nguyên nhân làm nảy sinh các vấn
    đề xã hội. Việc giáo dục kĩ năng sống sẽ thúc đẩ

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • SKKN Giáo dục STEM và dạy học kết nối trong dạy học hoá học trung học cơ sở

    SKKN Giáo dục STEM và dạy học kết nối trong dạy học hoá học trung học cơ sở

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • SKKN Đổi mới tiết sinh hoạt lớp cuối tuần bằng mô hình tiết học hạnh phúc

    SKKN Đổi mới tiết sinh hoạt lớp cuối tuần bằng mô hình tiết học hạnh phúc

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT