dàn âm thanh hội trường, âm thanh lớp học, âm thanh phòng họp, loa trợ giảng

SKKN Đổi mới phương pháp dạy học góp phần nâng cao chất lượng môn ngữ văn

SKKN Đổi mới phương pháp dạy học góp phần nâng cao chất lượng môn ngữ văn

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

ĐỔI MỚI PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG MÔN NGỮ VĂN
I – ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
1. Bối cảnh xã hội và mục tiêu giáo dục phổ thông.
Đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng là nhiệm vụ trọng tâm
của ngành giáo dục, của mỗi giáo viên đứng lớp. Đặc biệt ở Việt Nam trong xu thế
hội nhập toàn cầu trong thời đại 4.0 hiện nay cần giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ,
đáp ứng yêu cầu của nguồn nhân lực phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu của người học mong
trở thành những công dân toàn cầu.
Năm 2013, Nghị quyết số 29- NQ/TW Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành
Trung ương khóa XI khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và
học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy
móc… Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả
giáo dục, đào tạo, đảm bảo trung thực khách quan…”.
Dạy học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông nói chung bậc THCS nói riêng
thực sự là điều có ý nghĩa bởi đó là con đường quan trọng hướng học trò đến với cái
chân thiện mĩ trong cuộc sống cũng là để góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục. Để
thực hiện tốt vai trò của người truyền lửa cho các thế hệ học trò thì việc đổi mới
phương pháp dạy học khơi gợi hứng thú học tập cho học sinh là điều cần thiết đem lại
cho học sinh tình yêu với môn Ngữ văn bấy lâu nay nhiều em không mấy mặn mà
cũng là để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục .
2. Mục tiêu của bộ môn Ngữ văn.
Xưa nay” Văn học là nhân học” học văn là học cách làm người. Đến với những
áng văn văn chương tâm hồn chúng ta sẽ đẹp hơn, thêm lấp lánh diệu kì. Từ tác phẩm
thơ ca, từ số phận cuộc đời nhân vật trải lòng trên trang sách học sinh có tìm cho
mình cách ứng xử khéo léo, tinh tế,tuyệt vời hợp lí hơn trước cuộc sống. Đặc biệt nay
khi cuộc sống hiện đại với những tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ làm cho
con người ta phần nào bớt đi tình yêu với văn chương và cứ thế vô hình chung làm
cho tâm hồn con người ta dễ trở nên cằn cỗi mất đi những tư tưởng, tình cảm cao đẹp
hơn bao giờ hết việc khơi gợi hứng thú học tập môn Ngữ văn ở trường phổ thông cần
quan tâm nhiều hơn .
Mục tiêu giáo dục của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay là
đào tạo nên những công dân có tư duy toàn cầu, năng động, linh hoạt. Và mục tiêu
giáo dục phổ thông là đào tạo nguồn nhân lực có đủ đức, trí, thể, mỹ. Để đạt mục tiêu
đó học tập môn Ngữ văn rất quan trọng đó là môn công cụ giúp học sinh có thể học
tập và vươn tới thành công trên con đường học tập cũng như lập nghiệp sau này. Để
những học sinh thân yêu có thể trở thành công dân toàn cầu đáp ứng được yêu cầu của
thời đại mới, biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực
3
cảm thụ các giá trị chân, thiện, mĩ trong văn học nghệ thuật, có năng lực thực hành và
sử dụng tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp.
Thực tế giảng dạy nhiều năm môn ngữ văn, tâm sự chia sẻ với đồng nghiệp,
phụ huynh và học sinh tôi được biết có những học sinh ngày càng xa rời môn Ngữ
văn, ” ngại”, “sợ” học văn vì thầy cô giảng dạy chưa khơi nguồn sáng tạo, hứng thú
cho các em bằng việc làm mới mình trong mỗi giờ lên lớp. Có những học sinh khi
được thầy cô chọn vào đội tuyển ngữ văn lúc đầu tìm cách để chối từ vì sợ học văn,
chán học văn. Thế nhưng khi gặp được thầy cô khơi nguồn đam mê, hứng thú sáng
tạo cho các em thì các em lại thích học văn và mong muốn được thầy cô chọn vào đội
tuyển tham dự các kì thi học sinh giỏi
Thực tế khi nói đến học văn có nhiều em thở dài ngao ngán. Thật buồn sao khi
giáo viên hỏi tới những áng thơ ca hay trong kho tàng văn học dân tộc học sinh chỉ
khẽ lí nhí trả lời ” thưa cô em không nhớ.”. Những câu trả lời thành thật, hồn nhiên đó
của các em dễ dàng chạm đến trái tim của người thầy buộc tôi phải trăn trở làm khơi
gợi hứng thú thắp sáng đam mê văn chương cho các thế hệ học trò.Trong thời đại 4.0
hiện nay khi mà khoa học kĩ thuật bùng nổ việc giảng dạy ngữ văn trong nhà trường
phổ thông đang là một thử thách lớn với giáo viên. Dạy như thế nào cho hay, hiệu quả
cao, tạo sự hứng thú, say mê cho HS quả thực là cả một vấn đề lớn. Việc học sinh
không thích thú với môn văn cũng có nhiều lí do, tuy nhiên có một nguyên nhân khá
quan trọng đó là thầy cô chưa thực sự tạo ra sự cuốn hút các em bằng bài giảng của
mình. Thầy cô chưa thực sự có nhưng bước ngoặt đột phá trong việc đổi mới phương
pháp, vẫn nặng về phương pháp truyền thống thế nên việc dạy và học chưa thực sự
hiệu quả
Và như vậy nếu người thầy không biết thắp sáng cho các em ngọn lửa đam mê,
tình yêu với văn chương thì ngày càng nhiều học trò xa lánh, không thích thú với
môn học đậm tính nhân văn này. Là một tổ trưởng chuyên môn trực tiếp tham gia
giảng dạy môn ngữ văn nhiều năm, từ thực tế giảng dạy của bản thân cũng như chia
sẻ khó khăn của các đồng nghiệp trong việc giảng dạy môn ngữ văn tôi nhận thấy
muốn học sinh yêu thích môn ngữ văn thì thầy cô cần biết khơi gợi hứng thú, niềm
đam mê cho các em . Biết tạo hứng thú học tập môn ngữ văn cho học sinh lôi cuốn
các em cũng là cách nâng cao chất lượng bộ môn. Chất lượng làm bài môn ngữ văn
của học sinh không cao cũng là chất lượng giảng dạy của thầy chưa được như mong
muốn – đó là điều khiến tôi trăn trở. Tôi đã tìm tòi, đổi mới phương pháp dạy học và
chọn lựa chọn áp dụng sáng kiến sáng kiến:”Đổi mới phương pháp dạy học góp phần
nâng cao chất lượng môn ngữ văn”.
Qua sáng kiến này tôi muốn ghi lại kinh nghiệm của bản thân trong quá trình
vận dụng các phương pháp dạy học vào việc giảng dạy môn Ngữ văn mình được phân
công phụ trách. Và mong muốn chia sẻ với đồng nghiệp tham khảo để có thêm tư liệu
khơi gợi hứng thú học tập cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng môn ngữ văn
một bộ môn mà ngày nay học sinh không mấy mặn mà. Đó cũng là cách bồi dưỡng
4
thêm cho mỗi giáo viên trong chuyên môn thực hiện tốt hơn mục tiêu đổi mới giáo
dục.
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP :
A. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến:
Thực hiện xây dựng sáng kiến tôi đã tiến hành nghiên cứu, thực nghiệm
trên cơ sở lí thuyết và thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn trong nhà trường cụ thể
như sau:
1. Phƣơng pháp nghiên cứu
a. Nghiên cứu lí luận
– Những phương pháp dạy học mới trong môn Ngữ văn
b. Nghiên cứu thực tế.
– Thực tế giảng dạy môn Ngữ văn của bản thân và đồng nghiệp: tìm hiểu
những thuận lợi, khó khăn, hiệu quả của giáo viên trong dạy học ngữ văn.
– Lấy phiếu thăm dò ý kiến học sinh về tình cảm suy nghĩ của các em
trong học tập môn Ngữ văn từng năm, nguyên nhân các em yêu thích hay sợ học
văn. Đặc biệt tìm ra lí do nhiều học sinh ” ngại”,” sợ ” học môn
– Đối sánh chất lương chất lượng môn Ngữ văn ở cùng đối tượng học sinh qua
các năm học với giáo viên khác nhau. Chất lượng lớp học sinh dưới sự giảng dạy ở
cùng một giáo viên khi giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, khơi nguồn sáng tạo,
từ đó từ đó kiểm nghiệm, đôi chứng và tìm ra các phương pháp phù hợp.
2. Nội dung cụ thể của giải pháp
a. Tìm hiểu đánh giá thực tế việc dạy học ngữ văn trong nhà trường:
* Về phía giáo viên
– Là một tổ trưởng chuyên môn trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn để tìm hiểu rõ
thực tế việc giảng dạy môn Ngữ văn bản thân tôi đã thực hiện:
+ Trực tiếp dự giờ, đánh giá đồng nghiệp ở trường THCS Lê Quý Đôn qua phong
trào hội giảng hội học.
+ Tổng kết đánh giá chất lượng của giáo viên trong tổ, bản thân học sinh, phân
tích nguyên nhân thành công, thất bại.
+ Qua thực tế dạy học của bản thân và đồng nghiệp, tâm sự sẻ chia với học sinh thậm chí
qua phản hồi của phụ huynh
– Từ đó tôi nhận thấy thực tế trong quá trình giảng dạy của đồng nghiệp còn hạn chế sau:
+ Chưa mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy học.
+ Một số giáo viên còn lúng túng trong việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực
+ Chưa nắm vững kiến thức lí luận về phương pháp dạy học bộ môn
+ Nguồn lực phụ vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên còn hạn chế,
chưa đồng bộ…
* Về phía học sinh :
Một bộ phận học sinh không thích học văn vì do phương pháp dạy học của thầy cô còn
áp đặt chưa khơi gợi hứng thú, cuốn hút.
5
Có học sinh không chọn lựa học văn vì định hướng của gia đình muốn các em tập trung
vào môn tự nhiên hoặc ngoại ngữ để thuận tiện cho việc học sau này ở bậc THPT và đại học.
Những học sinh yêu thích học văn một phần do sở thích, phần do giáo viên lôi cuốn,
khơi gợi đam mê trong các em bằng phương pháp dạy học tấm lòng của người thầy từng giờ lên
lớp và từ niềm ngưỡng mộ, yêu kính thầy cô.
b. Tìm hiểu đánh giá nguyên nhân dẫn đến thực tế việc dạy học ngữ văn trong
nhà trường:
+ Giáo viên trong quá trình dạy học còn hạn chế trong vận dụng phương pháp dạy học.
Chưa mạnh dạn đổi mới đổi phương pháp giảng dạy của mình chủ yếu sử dụng phương pháp
truyền thống, áp đặt học sinh học tập theo ý mình, chưa gây được hứng thú cho học sinh, chưa
khắc phục được tư tưởng “ngại” học ở học sinh.
+ Học sinh một phần thụ động trong học tập, có phương pháp học tập môn ngữ văn cũng
như suy nghĩ chưa đúng về học tập bộ môn Ngữ văn.
c. Suy nghĩ, tìm tòi những phương pháp để có thể khắc phục những hạn chế trong dạy học
ngữ văn trong nhà trường hiện nay.
d. Chia sẻ những kinh nghiệm, giải pháp cá nhân để bản thân và đồng nghiệp thực hiện
tốt nhiệm vụ giảng dạy môn Ngữ văn trong nhà trường và hướng đến hiệu quả cao nhất trong
việc thắp lên ở mỗi học sinh tình yêu mến văn chương, thích thú, nghiêm túc học tập bộ môn
đậm tính nhân văn này.
B. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến.
PHẦN I.
TÌM HIỂU KIẾN THỨC CHUNG VỀ VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI PHƢƠNG
PHÁP DẠY HỌC
1. Văn bản, quan điểm chỉ đạo đổi mới giáo dục:
– Luật Giáo dục số 38/2005/QH11, điều 28 quy định: ” Phương pháp giáo dục
phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù
hơp với đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng
làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến
tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
– Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thức XI” Đổi mới chương trình,
nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại;
nâng cao chất lượng toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lí tưởng, giáo dục truyền
thống lịch sử cách mạng, đạo đức lối sống, năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành, tác
phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội…
– Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo ” Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học theo hướng hiện đại
phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người
học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều ghi nhớ máy móc.. Tập trung dạy cách
học, cách nghĩ, khuyến khích tực học, tạp cơ sở để người học tự cập nhật đổi mới tri
thức, kĩ năng, phát triển năng lực…”
6
– Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 ban hành kèm theo Quyết
định 711/QĐ-TTG ngày 13/06/2012 của thủ tướng Chính phủ : ” Tiếp tục đổi mới
phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học”
Như vậy với việc nắm vững tinh thần chỉ đạo trên giáo viên sẽ nhận thức
đúng đắn trong việc đổi mới phương pháp dạy học của bản thân, góp phần nâng cao
cho sự nghiệp giáo dục.
2. Định hƣớng đổi mới chƣơng trình giáo dục phổ thông.
2.1. Chuyển từ chương trình giáo dục định hướng nội dung dạy học sang giáo
dục theo định hướng năng lực
* Chương trình giáo dục định hướng nội dung dạy học:
– Chương trình giáo dục truyền thống xưa nay còn gọi là chương trình giáo dục
” định hướng nội dung” hay ” định hướng đầu vào” nghiêng về truyền thụ hệ thống tri
thức khoa học theo các môn học quy định trong chương trình. Mục tiêu dạy học còn
chung chung, không chi tiết, cụ thể rõ ràng về “chất lượng đầu ra” đối với học sinh
sau những tháng năm học tập ở nhà trường.
– Thực tế bối cảnh xã hội hiện nay chương trình dạy học theo định hướng nội
dung không còn phù hợp do:
+ Tri thức thay đổi nhanh chóng, kiến thức chương trình dạy học quy định chi
tiết cứng nhắc nhanh chóng bị lạc hậu.
+ Việc kiểm tra đánh giá học sinh nặng về tái hiện tri thức mà không định
hướng vào khả năng vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn.
* Chương trình giáo dục theo định hướng năng lực
– Chương trình giáo dục định hướng năng lực còn gọi là chương trình giáo dục
” định hướng ” định hướng kết quả đầu ra” được biết đến từ những năm 90 của thế kỉ
20 và trở thành xu hướng giáo dục quốc tế. Giáo dục định hướng năng lực nhằm mục
tiêu phát triển năng lực người học.
– Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy
học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng vận
dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn chuẩn bị cho người học năng lực giải
quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp… Chương trình này nhấn mạnh
vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức.
b. Định hướng chuẩn đầu ra về phẩm chất và năng lực của chương trình giáo
dục cấp trung học cơ sở.
*Phẩm chất chủ yếu
-Yêu nước: Yêu thiên nhiên, di sản, yêu con người; tự hào và bảo vệ thiên nhiên,
di sản, con người.
– Nhân ái: Yêu con người, yêu cái đẹp, yêu cái thiện; tôn trọng sự khác biệt giữa
con người, nền văn hóa; ghét cái xấu, cái ác; cảm thông, độ lượng; sẵn sàng học hỏi,
hòa nhập và giúp đỡ mọi người.
7
– Chăm chỉ: Chăm học, ham học, có tinh thần tự học; chăm làm, nhiệt tình tham
gia các công việc trong lớp, trường, gia đình, cộng đồng, có ý thức vượt khó trong
công việc.
– Trung thực: Thật thà, ngay thẳng trong học tập và làm việc; tôn trọng lẽ phải;
lên án sự gian lận.
– Trách nhiệm: Bảo vệ bản thân, gia đình, nhà trường, xã hội, môi trường; không
đổ lỗi cho người khác.
* Năng lực cốt lõi
– Tự chủ và tự học: Tự lực, tự khẳng định, tự định hướng, tự hoàn thiện
– Giao tiếp và hợp tác: Mục đích, nội dung, phương tiện, thái độ
– Giải quyết vấn đề và sáng tạo: Phát hiện, giải pháp, thực thi
– Năng lực ngôn ngữ: Tiếng Việt và ngoại ngữ (Đọc, Nghe, Nói, Viết)
– Năng lực toán học: Kiến thức, thao tác tư duy, sử dụng công cụ
– Năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội: Kiến thức, khám phá, vận dụng
– Năng lực công nghệ: Thiết kế, sử dụng, giao tiếp, đánh giá
– Năng lực tin học: Thiết kế, sử dụng, giao tiếp, đánh giá
– Năng lực thẩm mỹ: Nhận biết, phân tích, đánh giá, tái tạo, sáng tạo
– Năng lực thể chất: Kiến thức, kỹ năng, tố chất, đánh giá
3. Một số biện pháp đổi mới phƣơng pháp dạy học
3.1. Cải tiến phương pháp dạy học truyền thống
Muốn cải tiến phương pháp dạy học truyền thống thì trước hết người giáo
viên cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong
việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, chẳng hạn như kỹ thuật mở bài, kỹ thuật
trình bày, giải thích trong khi thuyết trình, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu
trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập.
Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì
thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương
pháp dạy học mới, đặc biệt là những phương pháp và kỹ thuật dạy học phát huy tính
tích cực và sáng tạo của học sinh.
3.2. Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học.
Việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ
quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao
chất lượng dạy học.
Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và dạy học cá thể là những hình
thức xã hội của dạy học cần kết hợp với nhau, mỗi một hình thức có những chức năng
riêng.
Tình trạng độc tôn của dạy học toàn lớp và sự lạm dụng phương pháp thuyết
trình cần được khắc phục, đặc biệt thông qua làm việc nhóm.
Tuy nhiên hình thức làm việc nhóm rất đa dạng, không chỉ giới hạn ở việc giải
quyết các nhiệm vụ học tập nhỏ xen kẽ trong bài thuyết trình, mà còn có những hình
thức làm việc nhóm giải quyết những nhiệm vụ phức hợp, có thể chiếm một hoặc
8
nhiều tiết học, sử dụng những phương pháp chuyên biệt như phương pháp đóng vai,
nghiên cứu trường hợp, dự án.
Mặt khác, việc bổ sung dạy học toàn lớp bằng làm việc nhóm xen kẽ trong một
tiết học mới chỉ cho thấy rõ việc tích cực hóa “bên ngoài” của học sinh.
Muốn đảm bảo việc tích cực hóa “bên trong” cần chú ý đến mặt bên trong của
phương pháp dạy học, vận dụng dạy học giải quyết vấn đề và các phương pháp dạy
học tích cực khác.
3.3. Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết và giải quyết
vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết và
giải quyết vấn đề.
Học được đặt trong một tình huống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu
thuẫn nhận thức, thông qua việc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ
năng và phương pháp nhận thức.
Dạy học giải quyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận
thức của học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự
lực khác nhau của học sinh. Các tình huống có vấn đề là những tình huống khoa học
chuyên môn, cũng có thể là những tình huống gắn với thực tiễn.
Tuy nhiên nếu chỉ chú trọng việc giải quyết các vấn đề nhận thức trong khoa học
chuyên môn thì học sinh vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải quyết các tình
huống thực tiễn. Vì vậy bên cạnh dạy học giải quyết vấn đề, lý luận dạy học còn xây
dựng quan điểm dạy học theo tình huống.
3.4. Vận dụng dạy học theo tình huống
Dạy học theo tình huống là một quan điểm dạy học, trong đó việc dạy học được
tổ chức theo một chủ đề phức hợp gắn với các tình huống thực tiễn cuộc sống và nghề
nghiệp.
Quá trình học tập được tổ chức trong một môi trường học tập tạo điều kiện cho
học sinh kiến tạo tri thức theo cá nhân và trong mối tương tác xã hội của việc học tập.
Phương pháp nghiên cứu trường hợp là một phương pháp dạy học điển hình của
dạy học theo tình huống, trong đó học sinh tự lực giải quyết một tình huống điển hình,
gắn với thực tiễn thông qua làm việc nhóm.
Vận dụng dạy học theo các tình huống gắn với thực tiễn là con đường quan trọng
để gắn việc đào tạo trong nhà trường với thực tiễn đời sống, góp phần khắc phục tình
trạng giáo dục hàn lâm, xa rời thực tiễn hiện nay của nhà trường phổ thông.
Tuy nhiên, nếu các tình huống được đưa vào dạy học là những tình huống mô
phỏng lại, thì chưa phải tình huống thực. Nếu chỉ giải quyết các vấn đề trong phòng
học lý thuyết thì học sinh cũng chưa có hoạt động thực tiễn thực sự, chưa có sự kết
hợp giữa lý thuyết và thực hành.
3.5. Vận dụng dạy học theo định hướng hành động
Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm cho hoạt động
trí óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau. Trong quá trình học tập, học
9
sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản phẩm hành động, có sự kết
hợp linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động tay chân.
Đây là một quan điểm dạy học tích cực hóa và tiếp cận toàn thể. Vận dụng dạy
học định hướng hành động có ý nghĩa quan trọng cho việc thực hiện nguyên lý giáo
dục kết hợp lý thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội.
Dạy học theo dự án là một hình thức điển hình của dạy học định hướng hành
động, trong đó học sinh tự lực thực hiện trong nhóm một nhiệm vụ học tập phức hợp,
gắn với các vấn đề thực tiễn, kết hợp lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm
có thể công bố.
Trong dạy học theo dự án có thể vận dụng nhiều lý thuyết và quan điểm dạy học
hiện đại như lý thuyết kiến tạo, dạy học định hướng học sinh, dạy học hợp tác, dạy
học tích hợp, dạy học khám phá, sáng tạo, dạy học theo tình huống và dạy học định
hướng hành động
3.6. Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tinh hợp lí hỗ
trợ dạy học.
Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy
học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học. Việc sử
dụng các phương tiện dạy học cần phù hợp với mối quan hệ giữa phương tiện dạy học
và phương pháp dạy học.
Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là phương
tiện dạy học trong dạy học hiện đại. Đa phương tiện và công nghệ thông tin có nhiều
khả năng ứng dụng trong dạy học.
Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần tăng
cường sử dụng các phần mềm dạy học cũng như các phương pháp dạy học sử dụng
mạng điện tử (E-Learning).
Phương tiện dạy học mới cũng hỗ trợ việc tìm ra và sử dụng các phương
pháp dạy học mới. Webquest là một ví dụ về phương pháp dạy học mới với phương
tiện mới là dạy học sử dụng mạng điện tử, trong đó học sinh khám phá tri thức trên
mạng một cách có định hướng.
3.7. Sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo
Kỹ thuật dạy học là những cách thức hành động của của giáo viên, của người dạy
và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá
trình dạy học.
3.8.Chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn.
Phương pháp dạy học có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học. Vì vậy
bên cạnh những phương pháp chung có thể sử dụng cho nhiều bộ môn khác nhau thì
việc sử dụng các phương pháp dạy học đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy học bộ
môn. Các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn được xây dựng trên cơ sở lý luận dạy
học bộ môn.
Ví dụ: Thực hành là một phương pháp dạy học đặc thù quan trọng của môn Công
nghệ; các phương pháp dạy học như làm mẫu thao tác, phân tích sản phẩm kỹ thuật,
10
thiết kế kỹ thuật, lắp ráp mô hình, các dự án là những phương pháp chủ lực trong dạy
học Công nghệ.
3.9. Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh
Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tích
cực hóa, phát huy tính sáng tạo của học sinh. Có những phương pháp nhận thức chung
như phương pháp thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, phương pháp tổ chức làm việc,
phương pháp làm việc nhóm, có những phương pháp học tập chuyên biệt của từng bộ
môn.
Bằng nhiều hình thức khác nhau, cần luyện tập cho học sinh các phương pháp
học tập chung và các phương pháp học tập trong bộ môn.
Như vậy có rất nhiều phương hướng đổi mới phương pháp dạy học với những
cách tiếp cận khác nhau. Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện
thích hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức,
quản lý.Ngoài ra, phương pháp dạy học còn mang tính chủ quan. Mỗi giáo viên với
kinh nghiệm riêng của mình cần xác định những phương hướng riêng để cải tiến
phương pháp dạy học và kinh nghiệm của cá nhân.
4. Phƣơng pháp dạy học.
Phương pháp dạy học là con đường hoạt động chung giữa giáo viên và học sinh
trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt tới mục đích dạy học.
Theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học ngữ văn bên cạnh phương pháp
dạy học theo đặc thù bộ môn cần quan tâm đến phương pháp dạy học phát huy tính
tích cực tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh như giải quyết vấn đề. dạy học khám
phá, dạy học theo dự án, đóng vai, thảo luận, nghiên cứu trường hợp điển hình, trò
chơi… cùng với sự kết hợp linh hoạt với các kĩ thuật dạy học hiện đại, phương pháp
dạy học đặc thù của môn ngữ văn mang tính truyền thống như thuyết trình, giảng
bình..
4.1.Một số phƣơng pháp dạy học tích cực sử dụng hiệu quả trong dạy học
ngữ văn
* Dạy học đọc hiểu
Dạy học đọc hiểu là một trong những nội dung cơ bản của đổi mới phương pháp
dạy học Ngữ văn trong tiếp nhận văn bản. Thông qua phương pháp này giáo viên
tránh được tình trạng truyền thụ tri thức một chiều cho học sinh những cảm nhận của
giáo viên về văn bản được học. Thay vào đó hướng đến việc cung cấp cho học sinh
cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề nội dung và nghệ thuật cảu văn bản,
từ đó hình thành cho học sinh năng lực tự đọc một cách tích cực, chủ động có sắc thái
cá nhân.
Hoạt động đọc hiểu được thực hiện theo một trình tự nhất định từ dễ đến khó,
từ thấp đến cao, trải qua các giai đoạn từ đọc đúng, đọc thông đến hiểu, từ đọc tái hiện
sang đọc sánh tạo. Khi hình thành năng lực đọc hiểu của học sinh cũng chính là hình
thành năng lực cảm thụ thẩm mĩ, khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng và tư duy.
11
Năng lực đọc hiểu của học sinh còn được hiểu là sự tích hợp những kiến thức
và kĩ năng của các phân môn cũng như toàn bộ kĩ năng và kinh nghiệm sống của học
sinh Nội dung thông tin trong các văn bản đọc hiểu hết sức phong phú, có liên quan
đến nhiều lĩnh vực đời sống và nhiều môn học khác do vậy cần chú ý đến những vấn
đề liên môn trong dạy học đọc hiểu đồng thời giáo viên phải giúp học sinh có phương
pháp đọc, khả năng tự tìm kiếm nguồn thông tin đa dạng của cuộc sống nhằm đáp ứng
năng lực, sở thích của cá nhân.
* Phƣơng pháp đóng vai
– Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành trình bày những suy
nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo một vai giả định. Đây là phương pháp giảng dạy giúp
học sinh suy ngẫm sâu sắc về một cấn đề bầng cách đứng từ chỗ đứng, góc nhìn của
người trong cuộc, tập trung vòa một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được từ vai
của mình
– Ưu điểm của phương pháp đóng vai:
+ Học sinh được rèn luyện thực hành những kĩ năng ứng xử và bày tỏ thái độ
trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn.
+ gây hứng thú và chú ý cho học sinh, hình thành cho các em kĩ năng giao tiếp
có cơ hội bộc lộ cảm xúc.
+ Tạo điều kiện phát triển óc sáng tạo của học sinh
+ Khích lệ thay đổi thái độ học sinh theo hướng tích cực
+ Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai
diễn.
+ Lôi cuốn học sinh nhút nhát, thiếu tự tin khi đứng trước tập thể tham gia các
hoạt động học tập.
* Phƣơng pháp trò chơi
– Phương pháp trò chơi là phương pháp tổ chức cho học sinh tìm hiểu một vấn đề
hay thể nghiệm những hành động, những thái độ, những việc làm thông qua một trò
chơi nào đó.
– Khi tổ chức cần theo quy trình:
+ Phổ biến tên trò chơi, nội dung, luật chơi cho học sinh
+ Chơi thử ( nếu cần thiết)
+ HS tiến hành chơi
+ Đánh giá sau trò chơi
– Tuy nhiên cần lưu ý các vấn đề sau:
+ Trò chơi phải dễ tổ chức và thực hiện, phải phù hợp với chủ đề bài học, với
đặc điểm và trình độ HS, với quỹ thời gian, với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của lớp
học, đồng thời phải không gây nguy hiểm cho HS.
+ HS phải nắm được quy tắc chơi và phải tôn trọng luật chơi.
+ Phải quy định rõ thời gian, địa điểm chơi.
12
+ Phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, tạo điều kiện cho HS
tham gia tổ chức, điều khiển tất cả các khâu: từ chuẩn bị, tiến hành trò chơi và đánh
giá sau khi chơi.
+ Trò chơi phải được luân phiên, thay đổi một cách hợp lí để không gây nhàm
chán cho HS.
+ Sau khi chơi, giáo viên cần cho HS thảo luận để nhận ra ý nghĩa giáo dục của
trò chơi.
* Phƣơng pháp dạy học theo dự án
Đây là hình thức tổ chức dạy học trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ
dạy học phức hợp, xó sự kết hợp giữa lí thuyết thực tiễn và thực hành. Nhiệm vụ nàu
được người học thực hiện với tính tự lực trong toàn bộ quá trình học tập từ việc xác
định mục đích, lập kế hoạch đến thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá
trình và kết quả thực hiện.
Thực hiện hình thức học tập này học sinh hoàn toàn chủ động tham gia hoạt
động dưới sự hướng dẫn của thầy cô để tạo ra một sản phẩm hay vận dụng kiến thức
đã học để tìm hiểu, thực hành nghiên cứu vấn đề trong học tập hay giải quyết vấn đề
trong cuộc sống. Nói khác đi dạy học dự án là hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho
người học tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập và áp dụng một cách sáng tạo
vào thực tế cuộc sống.
Quá trình học theo dự án giúp người học củng cố kiến thức, xây dựng khả năng
giao tiếp và học tập độc lập, chuẩn vị hành trang học tập suốt đời cho người học, đặc
biệt là thế hệ trả và đối mặt với thử thách cuộc sống.
Dạy học theo dự án còn là hoạt động tìm hiểu sâu về một chủ đề cụ thể với mục
tiêu tạo cơ hội để người học thực hiện nghiên cứu vấn đề thông qua kết nối thông tin,
phối hợp nhiều kĩ năng giá trị và thái độ nhằm xây dựng kiến thức, phát triển khả
năng.
Dạy học theo dự án có một số đặc điểm nổi bật:
+ Có định hướng thực tiễn( xuất phát từ thực tế tình huống thực tiễn xã hội, nghề
nghiệp, đời sống).
+ Có ý nghĩa thực tiễn xã hồi( góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với
thực tế đời sống xã hội, đem lại tác động xã hội tích cực…
+ Định hướng hứng thú người học: Học sinh được tham gia chọn đề tài, nội
dung học tập phù hợp khả năng, hứng thú cá nhân.
+ Dự án học tập mang nội dung tích hợp: Kết hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực,
bộ môn.
+ Định hướng hành động: Kết hợp lí thuyết với thực hành qua đó kiểm tra củng
cố mở rộng lí thuyết và rèn kĩ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học.
+ Tính tự lực và cộng tác cao trong thực hiện.
+ Sản phẩm có thể được công bố, giới thiệu
– Khi thực hiện dạy học theo dự án cần tuân thủ các bước:
+ Chọn đề tài xác định mục đích
13
+ Xây dựng đề cương và kế hoạch thực hiện
+ Thực hiện dự án
+ Thu thập kết quả và công bố sản phẩm
+ Đánh giá dự án
* Phƣơng pháp dạy học nhóm.
– Phương pháp dạy học theo nhóm là phương pháp dạy học giáo viên tạo điều
kiện cho học sinh tham gia trao đổi, bàn bạc, chia sẻ ý kiến về một vấn đề mà cả
nhóm cần quan tâm.Thảo luận nhóm còn là phương tiện học hỏi có tỉnh dân chủ,mọi
cá nhân bình đẳng nàu tỏ quan điểm, tạo thói quen sinh hoạt bình đẳng, biết đón nhận
quan điểm bất đồng, hình thành quan điểm riêng qua đó giúp học sinh có kĩ năng giải
quyết vấn đề cá nhân.
– Thảo luận nhóm được tiến hành theo các hình thức: nhóm nhỏ ( cặp đội, cặp
ba), nhóm trung bình (4- 6 người) hoặc nhóm lớn ( 8 người ) trở lên.
– Khi thực hiện nhiệm vụ nhóm: nhóm tự bầu nhóm trưởng, phân công phần việc
cho mỗi thành viên, các thành viên tích cực thảo luận, khi trình bày có thể một người
đại diện cho nhóm trình bày hoặc mỗi thành viên trình bày một phần.
Để tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học giáo viên cần tiến hành các bước:
+ Giao nhiệm vụ: Chuẩn bị đề tài, mục tiêu, nội dung thảo luận nhóm…
+Thực hiện nhiệm vụ: Chia nhóm theo yêu cầu của nhiệm vụ, giáo viên quan sát,
điều chỉnh chỗ ngồi học sinh, hỗ trợ khi cần thiết..
+Trình bày kết quả: Đại diện nhóm trình bày, các thành viên khác có thể bổ sung
thêm, các nhóm khác nhận xét, bổ sung, hỏi thêm…
* Phƣơng pháp nghiên cứu tình huống.
– Nghiên cứu tình huống là một phương pháp dạy học trong đó trọng tâm của quá
trình dạy học là việc phân tích và giải quyết các vấn đề của một tình huống được lựa
chọn trong thực tiễn.
– Với phương pháp này học sinh tự lực nghiên cứu một tình huống thực tiễn và
giải quyết các vấn đề của tình huống và hình thức làm việc chủ yếu là làm việc nhóm.
Tình huống đưa ra là thường gặp trong đời sống, học sinh vận dụng lí thuyết đã học
đẻ giải quyết tình huống cụ thể.
– Phương pháp này tạo điều kiện gắn kết lý thuyết với thực tiễn,tư duy và hành
động có ưu điểm cơ bản:
+ Sử dụng liên hệ thực tiễn để tích cực hóa động cơ người học.
+Huy động sự làm việc cá nhân và cộng tác làm việc thảo luận trong nhóm
+ Tạo điều kiện để học sinh phát huy năng lực giải quyết vấn đề, sáng tạo, khả
năng giao tiếp và cộng tác làm việc.
– Thực hiện theo các bước sau: Nhận biết tình huống, thu thập thông tin,tìm
phương án giải quyết, phân tích đánh giá.
5. Một số kĩ thuật dạy học tích cực
* Kĩ thuật chia nhóm
14
Khi tổ chức cho HS hoạt động theo nhóm, GV nên sử dụng nhiều cách chia
nhóm khác nhau để gây hứng thú cho HS, đồng thời tạo cơ hội cho các em được học
hỏi, giao lưu với nhiều bạn khác nhau trong lớp. Dưới đây là một số cách chia nhóm:
+ Chia nhóm theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các mùa
trong năm,…:
+ GV yêu cầu HS điểm danh từ 1 đến 4/5/6…(tùy theo số nhóm GV muốn có là
4,5 hay 6 nhóm,…); hoặc điểm danh theo các màu (xanh, đỏ, tím, vàng,…); hoặc điểm
danh theo các loài hoa (hồng, lan, huệ, cúc,…); hay điểm danh theo các mùa (xuân,
hạ, thu, đông,…)
+ Yêu cầu các HS có cùng một số điểm danh hoặc cùng một mầu/cùng một loài
hoa/cùng một mùa sẽ vào cùng một nhóm.
– Chia nhóm theo hình ghép
+ GV cắt một số bức hình ra thành 3/4/5… mảnh khác nhau, tùy theo số HS
muốn có là 3/4/5… HS trong mỗi nhóm. Lưu ý là số bức hình cần tương ứng với số
nhóm mà GV muốn có.
+ HS bốc ngẫu nhiên mỗi em một mảnh cắt.
+ HS phải tìm các bạn có các mảnh cắt phù hợp để ghép lại thành một tấm hình
hoàn chỉnh.
+ Những HS có mảnh cắt của cùng một bức hình sẽ tạo thành một nhóm.
– Chia nhóm theo sở thích
GV có thể chia HS thành các nhóm có cùng sở thích để các em có thể cùng
thực hiện một công việc yêu thích hoặc biểu đạt kết quả công việc của nhóm dưới các
hình thức phù hợp với sở trường của các em. Ví dụ: Nhóm Họa sĩ, Nhóm Nhà thơ,
Nhóm Hùng biện,…
– Chia nhóm theo tháng sinh: Các HS có cùng tháng sinh sẽ làm thành một
nhóm.
Ngoài ra còn có nhiều cách chia nhóm khác như: nhóm cùng trình độ, nhóm hỗn
hợp, nhóm theo giới tính,….
* Kĩ thuật giao nhiệm vụ
– Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng:
+ Nhiệm vụ giao cho cá nhân/nhóm nào?
+ Nhiệm vụ là gì?
+ Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu?
+ Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao nhiêu?
+ Phương tiện thực hiện nhiệm vụ là gì?
+ Sản phẩm cuối cùng cần có là gì?
+ Cách thức trình bày/ đánh giá sản phẩm như thế nào?
– Nhiệm vụ phải phù hợp với: mục tiêu hoạt động, trình độ HS, thời gian, không
gian hoạt động và cơ sở vật chất, trang thiết bị
* Kĩ thuật đặt câu hỏi
15
Trong dạy học theo PP cùng tham gia, GV thường phải sử dụng câu hỏi để gợi
mở, dẫn dắt HS tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới, để đánh giá kết
quả học tập của HS; HS cũng phải sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm GV và các HS
khác về những ND bài học chưa sáng tỏ.
Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa HS – GV và HS
– HS. Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của HS càng nhiều; HS sẽ học
tập tích cực hơn.
Mục đích sử dụng câu hỏi trong dạy học là để:
– Kích thích, dẫn dắt HS suy nghĩ, khám phá tri thức mới, tạo đ/k cho HS tham
gia vào quá trình dạy học
– Kiểm tra, đánh giá KT, KN của HS và sự quan tâm, hứng thú của các em đối
với ND học tập
– Thu thập, mở rộng thông tin, kiến thức
Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau:
– Câu hỏi phải liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bài học
– Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu
– Đúng lúc, đúng chỗ
– Phù hợp với trình độ HS
– Kích thích suy nghĩ của HS
– Phù hợp với thời gian thực tế
– Sắp xếp thep trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.
– Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xính
– Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc
* Kĩ thuật khăn trải bàn
– HS được chia thành các nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người. Mỗi nhóm sẽ có một tờ
giấy A0 đặt trên bàn, như là một chiếc khăn trải bàn.
– Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh, tiếp tục chia phần
xung quanh thành 4 hoặc 6 phần tuỳ theo số thành viên của nhóm ( 4 hoặc 6 người.)
– Mỗi thành viên sẽ suy nghĩ và viết các ý tưởng của mình ( về một vấn đề nào
đó mà GV yêu cầu) vào phần cạnh “khăn trải bàn” trước mặt mình. Sau đó thảo luận
nhóm, tìm ra những ý tưởng chung và viết vào phần chính giữa “khăn trải bàn”
* Kĩ thuật phòng tranh
Kĩ thuật này có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm.
– GV nêu câu hỏi/ vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm.
– Mỗi thành viên ( hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác
hoạ những ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung
quanh lớp học như một triển lãm tranh.
– HS cả lớp đi xem “ triển lãm’’và có thể có ý kiến bình luận hoặc bổ sung.
– Cuối cùng, tất cả các phương án giải quyết được tập hợp lại và tìm phương án
tối ưu.
* Kĩ thuật công đoạn
16
– HS được chia thành các nhóm, mỗi nhóm được giao giải quyết một nhiệm vụ
khác nhau. Ví dụ: nhóm 1- thảo luận câu A, nhóm 2- thảo luận câu B, nhóm 3- thảo
luận câu C, nhóm 4- thảo luận câu D,…
– Sau khi các nhóm thảo luận và ghi kết quả thảo luận vào giấy A0 xong, các
nhóm sẽ luân chuyển giáy AO ghi kết quả thảo luận cho nhau. Cụ thể là: Nhóm 1
chuyển cho nhóm 2, Nhóm 2 chuyển cho nhóm 3, Nhóm 3 chuyển cho nhóm 4, Nhóm
4 chuyển cho nhóm 1
– Các nhóm đọc và góp ý kiến bổ sung cho nhóm bạn. Sau đó lại tiếp tục luân
chuyển kết quả cho nhóm tiếp theo và nhận tiếp kết quả từ một nhóm khác để góp ý.
– Cứ như vậy cho đến khi các nhóm đã nhận lại được tờ giấy A0 của nhóm mình
cùng với các ý kiến góp ý của các nhóm khác. Từng nhóm sẽ xem và xử lí các ý kiến
của các bạn để hoàn thiện lại kết quả thảo luận của nhóm . Sau khi hoàn thiện xong,
nhóm sẽ treo kết quả thảo luận lên tường lớp học.
* Kĩ thuật các mảnh ghép
– HS được phân thành các nhóm, sau đó giáo viên phân công cho mỗi nhóm thảo
luận, tìm hiểu sâu về một vấn đề của bài học. Chẳng hạn: nhóm 1- thảo luận vấn đề A,
nhóm 2- thảo luận vấn đề B, nhóm 3- thảo luận vấn đề C, nhóm 4- thảo luận thảo luận
vấn đề D,….
– HS thảo luận nhóm về vấn đề đã được phân công
– Sau đó, mỗi thành viên của các nhóm này sẽ tập hợp lại thành các nhóm mới,
như vậy trong mỗi nhóm mới sẽ có đủ các “chuyên gia” về vấn đề A, B, C, D,…và
mỗi “ chuyên gia” về từng vấn đề sẽ có trách nhiệm trao đổi lại với cả nhóm về vấn
đề mà em đã có cơ hội tìm hiểu sâu ở nhóm cũ.
* Kĩ thuật động não
– Động não là kĩ thuật giúp cho HS trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều
ý tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề nào đó. Các thành viên được cổ vũ tham gia
một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng ( nhằm tạo ra cơn lốc các ý tưởng).
– Động não thường được:
+ Dùng trong giai đoạn giới thiệu vào một chủ đề
+ Sử dụng để tìm các phương án giải quyết vấn đề
+ Dùng để thu thập các khả năng lựa chọn và suy nghĩ khác nhau
– Động não có thể tiến hành theo các bước sau :
+ Giáo viên nêu câu hỏi hoặc vấn đề ( có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu
trước cả lớp hoặc trước nhóm.
+ Khích lệ HS phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt.
+ Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy to không loại trừ một ý kiến nào,
trừ trường hợp trùng lặp.
– Phân loại các ý kiến.
– Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng
– Tổng hợp ý kiến của HS và rút ra kết luận.
* Kĩ thuật “ Trình bày một phút”
17
Đây là kĩ thuật tạo cơ hội cho HS tổng kết lại kiến thức đã học và đặt những
câu hỏi về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn và cô
đọng với các bạn cùng lớp. Các câu hỏi cũng như các câu trả lời HS đưa ra sẽ giúp
củng cố quá trình học tập của các em và cho giáo viên thấy được các em đã hiểu vấn
đề như thế nào.
– Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau:
+ Cuối tiết học (thậm chí giữa tiết học), giáo viên yêu cầu HS suy nghĩ, trả lời
các câu hỏi sau: Điều quan trọng nhất các em học đuợc hôm nay là gì? Theo các em,
vấn đề gì là quan trọng nhất mà chưa được giải đáp?…
+ HS suy nghĩ và viết ra giấy. Các câu hỏi của HS có thể dưới nhiều hình thức
khác nhau.
+ Mỗi HS trình bày trước lớp trong thời gian 1 phút về những điều các em đã
học được và những câu hỏi các em muốn được giải đáp hay những vấn đề các em
muốn được tiếp tục tìm hiểu thêm.
* Kĩ thuật “Chúng em biết 3”
– GV nêu chủ đề cần thảo luận.
– Chia HS thành các nhóm 3 người và yêu cầu HS thảo luận trong vòng 10 phút
về những gì mà các em biết về chủ đề này.
– HS thảo luận nhóm và chọn ra 3 điểm quan trọng nhất để trình bày với cả lớp.
– Mỗi nhóm sẽ cử một đại diện lên trình bày về cả 3 điểm nói trên.
Kĩ thuật “ Hỏi và trả lời”
Đây là KTDH giúp cho HS có thể củng cố, khắc sâu các kiến thức đã học thông
qua việc hỏi và trả lời các câu hỏi.
Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau:
– GV nêu chủ đề .
– GV (hoặc 1 HS) sẽ bắt đầu đặt một câu hỏi về chủ đề và yêu cầu một HS
khác trả lời câu hỏi đó.
– HS vừa trả lời xong câu hỏi đầu tiên lại được đặt tiếp một câu hỏi nữa và yêu
cầu một HS khác trả lời.
– HS này sẽ tiếp tục quá trình trả lời và đặt câu hỏi cho các bạn cùng lớp,… Cứ
như vậy cho đến khi GV quyết định dừng hoạt động này lại.
* Kĩ thuật “Hỏi chuyên gia”
– HS xung phong (hoặc theo sự phân công của giáo viên ) tạo thành các nhóm
“chuyên gia” về một chủ đề nhất định.
– Các ”chuyên gia” nghiên cứu và thảo luận với nhau về những tư liệu có liên
quan đến chủ đề mình được phân công.
– Nhóm ”chuyên gia” lên ngồi phía trên lớp học
– Một em trưởng nhóm ”chuyên gia” (hoặc giáo viên ) sẽ điều khiển buổi “tư
vấn”, mời các bạn HS trong lớp đặt câu hỏi rồi mời ”chuyên gia” giải đáp, trả lời.
* Kĩ thuật “Lƣợc đồ tƣ duy”
18
Lược đồ tư duy là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng
hay kết quả làm việc của cá nhân/ nhóm về một chủ đề.
– Viết tên chủ đề/ ý tưởng chính ở trung tâm.
– Từ chủ đề/ ý tưởng chính ở trung tâm, vẽ các nhánh chính, trên mỗi nhánh
chính viết một nội dung lớn của chủ đề hoặc các ý tưởng có liên quan xoay quanh ý
tưởng trung tâm nói trên.
– Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc
nhánh chính đó.
– Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo.
* Kĩ thuật “Hoàn tất một nhiệm vụ”
– Giáo viên đưa ra một câu chuyện/một vấn đề/một bức tranh/một thông điệp/…
mới chỉ được giải quyết một phần và yêu cầu học sinh /nhóm hoàn tất nốt phần còn
lại.
– Học sinh hoặc nhóm học sinh thực hiện nhiệm vụ được g

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ


Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *