âm thanh lớp học, loa trợ giảng

SKKN Một số biện pháp giúp phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1

SKKN Một số biện pháp giúp phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
Theo mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông 2018 thì chương trình
giáo dục tiểu học giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản
đặt nền móng cho sự phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, phẩm chất và
năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng
và những thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt.
Bên cạnh đó, môn Tự nhiên và Xã hội là môn học bắt buộc ở các lớp 1, 2, 3
được xây dựng dựa trên nền tảng khoa học cơ bản, ban đầu về tự nhiên và xã
hội. Môn học cung cấp cơ sở quan trọng cho việc học tập các môn Khoa học,
Lịch sử và Địa lí ở lớp 4, lớp 5 và các môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội ở
các cấp học trên. Môn học coi trọng việc tổ chức cho học sinh trải nghiệm thực
tế, tạo cho học sinh cơ hội tìm hiểu, khám phá thế giới tự nhiên và xã hội xung
quanh; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn, học cách ứng xử phù
hợp với tự nhiên và xã hội.
Theo Luật giáo dục năm 2019 thì mục tiêu giáo dục là nhằm phát triển toàn
diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hoá, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề
nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần
dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy
tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ
quốc và hội nhập quốc tế.
Như vậy có thể thấy môn Tự nhiên và Xã hội đóng vai trò quan trọng trong
việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Nó góp phần hình thành và phát triển ở học
sinh tình yêu con người, thiên nhiên; đức tính chăm chỉ; ý thức tiết kiệm, giữ
gìn, bảo vệ tài sản; tinh thần trách nhiệm với môi trường sống; các năng lực
chung và năng lực khoa học.
Thực tế cho thấy, việc hình thành, phát triển năng lực và phẩm chất cho
học sinh thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 chưa bao giờ là điều
đơn giản. Đây luôn là vấn đề trăn trở của hầu hết các giáo viên trong quá trình
giảng dạy môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1.
2
Năm học 2020 – 2021 là năm học đầu tiên thực hiện chương trình giáo dục
phổ thông 2018 trong đó có môn Tự nhiên và Xã hội nên giáo viên sẽ gặp một
số khó khăn ban đầu trong cách tiếp cận, triển khai chương trình.
Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp phát triển
năng lực và phẩm chất cho học sinh thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã
hội lớp 1”
II. Mô tả giải pháp kĩ thuật:
II.1. Mô tả giải pháp kĩ thuật trƣớc khi tạo ra sáng kiến
Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội trong chương trình giáo dục phổ
thông 2018 nhằm góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu,
năng lực chung và năng lực khoa học cho học sinh lớp 1.
Môn Tự nhiên và Xã hội là môn học về các sự vật, hiện tượng của môi
trường tự nhiên và xã hội xung quanh. Môn học cần trang bị cho học sinh những
hiểu biết khoa học ban đầu làm cơ sở cho việc học tập các môn học khác và ở
các lớp, cấp học trên. Đồng thời việc học tập môn học cũng giúp học sinh có
thêm kinh nghiệm, kiến thức để áp dụng vào cuộc sống bản thân ở gia đình,
trường học và cộng đồng. Do đó, giáo viên có thể khai thác vốn sống của học
sinh ở các mức độ khác nhau giúp các em tham gia vào bài học và từng bước áp
dụng được những kiến thức đã học vào cuộc sống. Giáo viên có thể khai thác
điều kiện tự nhiên, xã hội của địa phương để tổ chức cho học sinh ở mọi vùng
miền của đất nước được học tập thông qua chính cuộc sống của bản thân, gia
đình và cộng đồng của mình. Để giúp phát triển năng lực và phẩm chất cho học
sinh thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 ở trường Tiểu học Trần
Quốc Toản bước đầu tôi gặp một số thuận lợi và khó khăn như sau:
Thuận lợi
Trường Tiểu học Trần Quốc Toản là một cơ sở giáo dục chất lượng cao của
Thành phố Nam Định, được trang bị cơ sở vật chất đầy đủ, đáp ứng được nhu
cầu dạy học theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, đặc biệt là trang bị
đồng bộ hệ thống máy tính, máy chiếu, đường truyền mạng ổn định giúp cho tôi
thuận lợi hơn trong việc sử dụng học liệu điện tử khi giảng dạy.
3
Năm học 2020 – 2021 là năm học đầu tiên áp dụng giảng dạy theo chương
trình giáo dục phổ thông 2018 được xây dựng theo hướng mở. Chương trình
giáo dục phổ thông mới cấp tiểu học theo định hướng vừa hình thành kiến thức,
vừa phát triển năng lực, phẩm chất học sinh tiểu học; dạy học không chỉ cung
cấp kiến thức mà phải phát triển hài hòa cả phẩm chất và năng lực. Trong
chương trình Giáo dục phổ thông mới thì 3 yếu tố này được hình thành và phát
triển hài hòa trong một đứa trẻ và vững như „kiềng 3 chân”, nếu chỉ thiếu hay
coi nhẹ một yếu tố thì sẽ không phát triển hài hòa đối với quá trình phát triển
nhân cách, tư duy của học sinh tiểu học.
Năm học 2020 – 2021 là năm học nhà trường và giáo viên được chủ động
trong việc lựa chọn sách giáo khoa. Bên cạnh đó chương trình môn Tự nhiên và
Xã hội mới giao quyền chủ động cho nhà trường và giáo viên; cho phép giáo
viên được lựa chọn đối tượng học tập sẵn có ở địa phương để dạy học nhưng
vẫn đảm bảo mục tiêu chương trình. Ngoài ra, chương trình mở còn cho phép
giáo viên có thể thay đổi thứ tự các chủ đề học tập, đặt ra các tiêu đề bài học
trong mỗi chủ đề, xác định thời gian và điều chỉnh thời lượng học tập cho mỗi
chủ đề cho phù hợp với thực tế địa phương, điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị của
nhà trường. Đây cũng là năm học mà đội ngũ giáo viên được tham gia học tập
bồi dưỡng, nâng cao năng lực tổ chức hoạt động dạy học, trong đó có bồi dưỡng
kĩ năng sư phạm để hiểu được những yêu cầu, nội dung của chương trình mới,
làm quen với quan điểm, cách thức, cấu trúc biên soạn sách giáo khoa mới và
cách tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh. Giáo viên được tập huấn trực
diện và cụ thể thông qua các hoạt động, được kết hợp sử dụng các băng hình
minh họa cách tổ chức các hoạt động dạy học theo sách giáo khoa mới.
Đặc biệt là trong năm học 2020 – 2021, giáo viên được hỗ trợ tiếp cận với
việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy qua các trang học liệu điện
tử có sẵn các hình ảnh, video, trò chơi học tập trong bài học giúp tăng hứng thú
trong học tập của học sinh, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho giáo viên trong quá
trình giảng dạy.
4
Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, môn Tự nhiên và xã hội lớp 1
được quán triệt theo hướng phát triển năng lực cho học sinh. Môn học chú trọng
khai thác những kiến thức, kinh nghiệm ban đầu của học sinh về cuộc sống xung
quanh; chú trọng phát huy trí tò mò khoa học, hướng đến sự phát triển các mối
quan hệ tích cực của học sinh với môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh;
hướng dẫn học sinh cách đặt câu hỏi, cách thu thập thông tin và tìm kiếm các
bằng chứng, cách vận dụng các thông tin, bằng chứng thu thập được để đưa ra
những nhận xét, kết luận mang tính khách quan, khoa học; tăng cường tổ chức
các hoạt động tìm tòi, khám phá, liên hệ, vận dụng gắn với thực tiễn cuộc sống
xung quanh, qua đó học sinh học cách giải quyết một số vấn đề đơn giản thường
gặp; ứng xử thích hợp liên quan đến sức khoẻ, sự an toàn của bản thân và những
người xung quanh; bảo vệ môi trường sống; chú trọng thực hiện nội dung giáo
dục thông qua các trò chơi, các hoạt động đóng vai, trao đổi, thảo luận, thực
hành, tìm tòi, điều tra đơn giản, từ đó tăng kỹ năng hợp tác, giao tiếp, tự tin
trong việc phát biểu các ý tưởng, trình bày các sản phẩm học tập.
Trong những năm trở lại đây có nhiều dự án, mô hình dạy học mới được áp
dụng và nhân rộng ở nước ta, giúp giáo viên được làm quen và áp dụng các cách
tiếp cận, phương pháp và kĩ thuật dạy học hiện đại. Các cách tiếp cận, phương
pháp, kĩ thuật dạy học mới đó hoàn toàn phù hợp trong việc dạy học theo chương
trình và sách giáo khoa mới. Nói cách khác giáo viên sẽ không bỡ ngỡ với các
phương pháp dạy học theo sách giáo khoa mới. Đặc biệt các bộ sách giáo khoa mới
được thiết kế với các hoạt động cụ thể giáo viên có thể dễ dàng thực hiện.
Năm học 2020 – 2021 tôi được phân công dạy học môn Tự nhiên và Xã hội
khối 1, chính vì vậy tôi nhận thấy bản thân có nhiều cơ hội hơn để đầu tư tìm
hiểu nghiên cứu môn học, hiểu sâu hơn về nội dung cũng như phương pháp dạy
học môn học. Và đặc biệt cũng được dạy nhiều giờ học với nhiều đối tượng học
sinh nên tôi được “cọ sát” nhiều hơn.
Việc phụ huynh đang bước đầu có sự thay đổi trong việc không còn phân
biệt môn chính, môn phụ ở cấp Tiểu học là một thuận lợi vô cùng to lớn góp
phần giúp giáo viên đạt được hiệu quả cao hơn trong giảng dạy. Tự nhiên và Xã
5
hội là môn học về các sự vật, hiện tượng cụ thể gần gũi với học sinh nên học
sinh có nhiều kinh nghiệm và vốn sống để tham gia tìm hiểu, khám phá nội dung
bài học. Ở các giờ học môn học này, học sinh được phát huy tối đa tính tích cực,
tính sáng tạo của mình. Vì vậy, học sinh luôn yêu thích môn học và các giờ học
tự nhiên và xã hội.
Qua trao đổi với đồng nghiệp, phụ huynh học sinh và học sinh, tôi nhận thấy
cả giáo viên, phụ huynh và học sinh đều mong muốn được dạy – học môn Tự nhiên
và Xã hội nhiều hơn. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 có quy định thời
lượng giảng dạy môn Tự nhiên và Xã hội ở cấp tiểu học là 2 tiết/tuần, tăng 1 tiết/
tuần so với chương trình năm 2000. Đây là một điều kiện thuận lợi giúp giáo viên
có nhiều thời gian hơn để cung cấp kiến thức, rèn luyện năng lực và phẩm chất cho
học sinh thông qua quá trình dạy học môn học này. Việc học tập môn học Tự nhiên
và Xã hội theo chương trình mới sẽ dễ dàng giúp học sinh được hình thành và phát
triển các kĩ năng sống, là tiền đề cho việc hình thành các phẩm chất và năng lực
theo định hướng của chương trình giáo dục phổ thông 2018.
Khó khăn
Năm học 2020 – 2021 là năm học đầu tiên thực hiện chương trình giáo dục
phổ thông 2018 trong đó có môn Tự nhiên và Xã hội. Bên cạnh đó chương trình
môn Tự nhiên và Xã hội mới được xây dựng trên cơ sở định hướng tiếp cận
năng lực, có một số nội dung kiến thức mới nên giáo viên sẽ gặp một số khó
khăn ban đầu trong cách tiếp cận, triển khai chương trình.
Năm học 2020 – 2021 cũng là một năm học đầy biến động với đại dịch
Covid-19 nên việc triển khai tiếp cận chương trình cũng như tập huấn chương
trình tới giáo viên cũng gặp một số hạn chế nhất định.
Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học là thực thể đang hình thành và phát triển cả về
mặt sinh lý, tâm lý, xã hội các em đang từng bước gia nhập vào xã hội thế giới
của mọi mối quan hệ, đặc biệt là học sinh lớp 1, các em đang chuyển từ giai
đoạn vui chơi là chủ đạo sang giai đoạn học tập là chủ đạo. Do đó, học sinh lớp
1 chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân trong xã
hội, mà các em luôn cần sự hướng dẫn, giúp đỡ của thầy cô, của gia đình, nhà
6
trường và xã hội. Học sinh lớp 1 dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới và luôn
hướng tới tương lai. Nhưng cũng thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và
chú ý có chủ định chưa được phát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn
bộc lộ rõ nét. Trẻ nhớ rất nhanh và quên cũng nhanh. Đối với học sinh tiểu học,
trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ –
logíc. Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, dựa vào những đặc
điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể. Trong sự phát triển tư duy ở
học sinh tiểu học, tính trực quan cụ thể còn thể hiện rõ rệt ở các em học sinh lớp
1. Việc học tập của các em còn bị chi phối bởi yếu tố gia đình, điều kiện địa lý
và các yếu tố xã hội khác đòi hỏi nhà trường, gia đình, xã hội cần có sự kết hợp
chặt chẽ để tạo động lực học tập cho học sinh.
Giai đoạn đầu năm lớp 1 học sinh đang bắt đầu học chữ và rèn nề nếp học
tập nên việc tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh sẽ gặp nhiều khó khăn.
Ngoài ra, việc thay đổi quan niệm về môn học chính và môn học phụ ở tiểu
học trong phụ huynh học sinh chưa được đồng bộ tới tất cả phụ huynh nên sẽ
đẫn đến tình trạng thiếu quan tâm, hỗ trợ động viên của phụ huynh, gây khó
khăn cho giáo viên khi triển khai các hoạt động vận dụng. Môn Tự nhiên và Xã
hội là môn học yêu cầu đòi hỏi vốn sống và vốn hiểu biết về các sự vật, hiện
tượng của môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh chính vì vậy một số phụ
huynh khó có thể giải đáp các thắc mắc của các em liên quan đến bài học nhất là
với học sinh lớp 1 với “hàng vạn câu hỏi vì sao” vì thực tế nhiều phụ huynh còn
hạn chế về những nội dung này.
Kiến thức thực tế của học sinh còn hạn chế nên ảnh hưởng đến việc tiếp thu
bài học. Vốn từ vựng của các em chưa nhiều nên cũng gây khó khăn trong quá
trình diễn đạt, thực hành. Một số em học sinh chưa mạnh dạn, tự tin trong học
tập; chưa có ý thức tự giác đọc sách báo, sưu tầm tài liệu phục vụ cho kiến thức
liên quan đến môn học.
Giáo viên chưa linh động, sáng tạo khi tổ chức các hoạt động dạy học, chưa
phát huy hết vai trò gợi mở óc tò mò, khả năng sáng tạo, độc lập ở học sinh. Từ
đó các em cảm thấy nhàm chán, mất hứng thú học tập.
7
Với những thuận lợi và khó khăn trên, tôi nhận thấy để khắc phục những
khó khăn này, tôi nhận thấy người giáo viên phải có kinh nghiệm và sáng tạo
trong giảng dạy, phải thật kiên trì và nhẫn nại giúp học sinh và phụ huynh nhận
thức được tầm quan trọng của môn học. Từ đó giáo dục các em ý thức tự tìm
hiểu khám phá thế giới xung quanh, nâng cao hiểu biết, vốn sống của chính các
em góp phần hình thành năng lực và phẩm chất.
Nếu vận dụng tốt một số biện pháp mà tôi đưa ra dưới đây thì việc giúp học
sinh hình thành và phát triển năng lực và phẩm chất thông qua dạy học môn Tự
nhiên và Xã hội lớp 1, sẽ đem lại nhiều kết quả khả quan hơn. Từ đó rèn luyện
cho các em niềm đam mê nghiên cứu khoa học và đồng thời cũng góp phần là
nền tảng giúp các em học tốt các môn học khác.
II.2. Mô tả giải pháp kĩ thuật sau khi có sáng kiến
II.2.1. Giới thiệu khái quát về chƣơng trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1
theo chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018
II.2.1.1. Đặc điểm của môn học
Tự nhiên và Xã hội là môn học bắt buộc ở các lớp 1, 2, 3, được xây dựng dựa
trên nền tảng khoa học cơ bản, ban đầu về tự nhiên và xã hội. Môn học cung cấp cơ
sở quan trọng cho việc học tập các môn Khoa học, Lịch sử và Địa lí ở lớp 4, lớp 5
và các môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội ở các cấp học trên. Môn học coi
trọng việc tổ chức cho học sinh trải nghiệm thực tế, tạo cho học sinh cơ hội tìm
hiểu, khám phá thế giới tự nhiên và xã hội xung quanh; vận dụng kiến thức, kĩ năng
đã học vào thực tiễn, học cách ứng xử phù hợp với tự nhiên và xã hội.
II.2.1.2. Quan điểm xây dựng chương trình môn học
Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 quán triệt các quan điểm, mục
tiêu, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực, kế hoạch giáo dục và các định
hướng về nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục
được nêu trong chương trình tổng thể. Đồng thời, xuất phát từ đặc thù của môn
học, những quan điểm sau được nhấn mạnh trong xây dựng chương trình:
Dạy học tích hợp: Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 được xây
dựng dựa trên quan điểm dạy học tích hợp, coi con người, tự nhiên và xã hội là
8
một chỉnh thể thống nhất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó con
người là cầu nối giữa tự nhiên và xã hội. Các nội dung giáo dục giá trị sống và
kĩ năng sống, giáo dục sức khỏe, giáo dục môi trường, giáo dục tài chính được
tích hợp vào môn Tự nhiên và Xã hội ở mức độ đơn giản, phù hợp với điều
kiện của Việt Nam.
Dạy học theo chủ đề: Nội dung giáo dục môn Tự nhiên và Xã hội được tổ
chức theo các chủ đề: gia đình, trường học, cộng đồng địa phương, thực vật và
động vật, con người và sức khoẻ, Trái Đất và bầu trời. Các chủ đề này được phát
triển theo hướng mở rộng và nâng cao từ lớp 1 đến lớp 3. Mỗi chủ đề đều thể
hiện mối liên quan, sự tương tác giữa con người với các yếu tố tự nhiên và xã
hội. Tuỳ theo từng chủ đề, nội dung giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống; giáo
dục các vấn đề liên quan đến việc giữ gìn sức khoẻ, bảo vệ cuộc sống an toàn
của bản thân, gia đình và cộng đồng, bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai,…
được thể hiện ở mức độ đơn giản và phù hợp.
Tích cực hoá hoạt động của học sinh: Chương trình môn Tự nhiên và Xã
hội tăng cường sự tham gia tích cực của học sinh vào quá trình học tập, nhất là
những hoạt động trải nghiệm; tổ chức hoạt động tìm hiểu, điều tra, khám phá;
hướng dẫn học sinh học tập cá nhân, nhóm để tạo ra các sản phẩm học tập;
khuyến khích học sinh vận dụng được những điều đã học vào đời sống.
II.2.1.3. Mục tiêu của chương trình môn học
Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội góp phần hình thành, phát triển ở học
sinh tình yêu con người, thiên nhiên; đức tính chăm chỉ; ý thức bảo vệ sức khoẻ của
bản thân, gia đình, cộng đồng; ý thức tiết kiệm, giữ gìn, bảo vệ tài sản; tinh thần
trách nhiệm với môi trường sống; các năng lực chung và năng lực khoa học.
II.2.1.4. Yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực
a. Yêu cầu cần đạt về phẩm chất
Cùng với các môn học khác và hoạt động giáo dục ở cấp Tiểu học, môn Tự
nhiên và Xã hội góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu đã quy
định trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể: yêu nước, nhân ái, chăm
chỉ, trung thực, trách nhiệm.
9
b. Yêu cầu cần đạt về năng lực chung
Môn Tự nhiên và Xã hội có nhiệm vụ hình thành và phát triển các năng lực
chung cho học sinh là năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác,
năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
Những biểu hiện của năng lực chung trong môn Tự nhiên và Xã hội được
trình bày trong bảng sau:

Thành phần
năng lực
Biểu hiện
Năng lực tự chủ
và tự học
– Tự phục vụ, chăm sóc sức khoẻ bản thân; nhận biết và bày
tỏ được tình cảm, cảm xúc của bản thân với gia đình, bạn bè,
những người xung quanh.
– Biết đọc và thực hiện những yêu cầu, nhiệm vụ trong sách
giáo khoa; thực hiện quan sát và ghi lại một số sự vật, hiện
tượng trong môi trường tự nhiên và xã hội quan sát được.
Năng lực giao
tiếp và hợp tác
– Biết giao tiếp ứng xử phù hợp với vị trí, vai trò và các mối
quan hệ của bản thân với các thành viên trong gia đình,
trường học, cộng đồng và trong môi trường tự nhiên.
– Biết chia sẻ thông tin, giúp đỡ bạn trong học tập; biết cách
làm việc theo nhóm, hoàn thành nhiệm vụ của mình và giúp
đỡ các thành viên khác cùng hoàn thành nhiệm vụ của nhóm.
Năng lực giải
quyết vấn đề và
sáng tạo
– Nhận biết được một số vấn đề thường gặp trong môi trường
tự nhiên và xã hội, đặt được câu hỏi và tìm thông tin để giải
thích, ứng xử phù hợp.
– Đưa ra ý kiến, bình luận theo các cách khác nhau về một số
sự vật, hiện tượng diễn ra trong môi trường tự nhiên và xã
hội xung quanh.

10
c. Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù
Môn Tự nhiên và Xã hội hình thành và phát triển ở học sinh năng lực khoa
học, bao gồm các thành phần: nhận thức khoa học, tìm hiểu môi trường tự nhiên
và xã hội xung quanh, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học. Những biểu hiện của
năng lực khoa học trong môn Tự nhiên và Xã hội được trình bày trong bảng sau:

Thành phần
năng lực
Biểu hiện
Nhận thức khoa
học
– Nêu, nhận biết được ở mức độ đơn giản một số sự vật,
hiện tượng, mối quan hệ thường gặp trong môi trường tự
nhiên và xã hội xung quanh như về sức khoẻ, an toàn trong
cuộc sống, mối quan hệ của học sinh với gia đình, nhà
trường, cộng đồng và thế giới tự nhiên,…
– Mô tả được một số sự vật, hiện tượng tự nhiên và xã hội
xung quanh bằng các hình thức biểu đạt như nói, viết, vẽ,…
– Trình bày được một số đặc điểm, vai trò của một số sự vật,
hiện tượng thường gặp trong môi trường tự nhiên và xã hội
xung quanh.
– So sánh, lựa chọn, phân loại được các sự vật, hiện tượng
đơn giản trong tự nhiên và xã hội theo một số tiêu chí.
Tìm hiểu môi
trường tự nhiên
và xã hội xung
quanh
– Đặt được các câu hỏi đơn giản về một số sự vật, hiện
tượng, mối quan hệ trong tự nhiên và xã hội xung quanh.
– Quan sát, thực hành đơn giản để tìm hiểu được về sự vật,
hiện tượng, mối quan hệ trong tự nhiên và xã hội xung
quanh.
– Nhận xét được về những đặc điểm bên ngoài, so sánh sự
giống, khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng xung quanh và
sự thay đổi của chúng theo thời gian một cách đơn giản
thông qua quan sát, thực hành.

11

Vận dụng kiến
thức, kĩ năng đã
học
– Giải thích được ở mức độ đơn giản một số sự vật, hiện
tượng, mối quan hệ trong tự nhiên và xã hội xung quanh.
– Phân tích được tình huống liên quan đến vấn đề an toàn, sức
khoẻ của bản thân, người khác và môi trường sống xung quanh.
– Giải quyết được vấn đề, đưa ra được cách ứng xử phù hợp
trong các tình huống có liên quan; trao đổi, chia sẻ với
những người xung quanh để cùng thực hiện; nhận xét được
cách ứng xử trong mỗi tình huống.

II.2.2. Các biện pháp giúp phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh
thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1
Biện pháp 1: Giáo viên cần nghiên cứu và hiểu rõ về chương trình tiếp cận
định hướng năng lực
Chương trình tiếp cận định hướng năng lực hay còn gọi là định hướng kết
quả đầu ra là cách tiếp cận rõ kết quả – những khả năng hoặc kỹ năng mà học
sinh mong muốn đạt được ở mỗi giai đoạn học tập, trả lời cho câu hỏi: học sinh
làm được những gì từ điều đã biết?
Tiếp cận năng lực chủ trương giúp người học không chỉ biết học thuộc, ghi
nhớ mà còn phải biết làm thông qua các hoạt động cụ thể, sử dụng những tri
thức học được để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra. Nói cách khác
phải gắn với thực tiễn đời sống. Nếu như tiếp cận nội dung chủ yếu yêu cầu
người học trả lời câu hỏi: Biết cái gì, thì tiếp cận theo năng lực luôn đặt ra câu
hỏi: Biết làm gì từ những điều đã biết. Nói cách khác, nói đến năng lực là phải
nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm, chứ không chỉ biết và hiểu.
Chính vì vậy, xây dựng, thiết kế chương trình giáo dục theo hướng tiếp
cận năng lực người học là một xu thế tất yếu. Nó giúp người học có khả năng
giải quyết các vấn đề thực tiễn ngay khi rời ghế nhà trường. Nói cách khác, đào
tạo phù hợp với nhu cầu xã hội. Ngoài ra, với tiếp cận năng lực, người học sẽ
được trang bị kỹ năng để có thể học cả đời. Đây là điều bắt buộc trong bối cảnh
khối lượng tri thức tăng lên nhanh chóng như hiện nay.
12
Từ những lí do trên, tôi nhận thấy để có thể hình thành và phát triển năng
lực, phẩm chất cho học sinh thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1
thì giáo viên cần nghiên cứu và hiểu rõ về chương trình tiếp cận theo định
hướng năng lực.
Biện pháp 2: Nghiên cứu và xây dựng bài học trên mô hình dạy học 5E
Để thực hiện mục tiêu hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực cho học
sinh, mỗi bài học có thể áp dụng linh hoạt mô hình dạy học 5E dựa trên thuyết
kiến tạo nhận thức của quá trình học, theo đó học sinh xây dựng các kiến thức
mới dựa trên các kiến thức hoặc trải nghiệm đã biết trước đó. Tôi xây dựng các
hoạt động dạy và học trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 theo mô hình dạy học
5E gồm các bước: Gắn kết, khám phá, diễn giải, phát triển chi tiết, đánh giá.
– Gắn kết là bước đầu tiên của quá trình dạy khám phá khoa học. Ở bước
này, tôi thường tổ chức một số hoạt động sau:
+ Cho học sinh xem clip về chủ đề có liên quan bài học để học sinh có thể
liên hệ với hiểu biết trước đây của mình hoặc hình dung ra nội dung sắp học.
+ Tổ chức trò chơi có liên quan đến vấn đề bài học để học sinh có thể liên
hệ với kinh nghiệm đã biết.
+ Kể một câu chuyện có thông tin liên quan đến chủ đề sắp học.
+ Đưa ra một thử thách hoặc một câu đố cho học sinh liên hệ tìm giải pháp
bằng kinh nghiệm đã có của mình để giải quyết vấn đề có liên quan đến bài học.
– Khám phá là bước thứ hai, tôi tổ chức cho học sinh tìm tòi những kiến
thức hoặc những trải nghiệm mang tính cơ bản, nền tảng, dựa vào đó các kiến
thức mới của học sinh có thể được hình thành. Ở bước này, tôi thường tổ chức
một số hoạt động sau:
+ Tổ chức một hoạt động, trò chơi, thí nghiệm…cho học sinh quan sát hoặc
trải nghiệm để khám phá ra kiến thức chuẩn bị được kết luận trong bài.
+ Cho học sinh khám phá thông tin qua đoạn phim ngắn, poster, tranh ảnh
chứa thông tin, kiến thức sẽ được kết luận trong bài.
13
– Diễn giải là bước thứ ba. Tôi tạo điều kiện cho học sinh được trình bày,
miêu tả, phân tích các trải nghiệm hoặc những điều quan sát vừa được thực hiện
ở bước khám phá. Ở bước này, tôi thường tổ chức một số hoạt động sau:
+ Tổ chức cho học sinh trình bày, miêu tả, phân tích các trải nghiệm hoặc
những điều quan sát được ở bước khám phá, từ đó đưa ra kết luận theo gợi ý của
giáo viên.
+ Giới thiệu các thuật ngữ mới, công thức mới để học sinh hiểu rõ hơn về
các trải nghiệm hoặc quan sát được ở bước khám phá.
+ Đưa ra các kết luận chính trong bài.
– Phát triển chi tiết là bước thứ tư, tôi giúp học sinh thực hành và vận dụng
các kiến thức đã học được ở bước diễn giải, làm sâu sắc hơn các hiểu biết, khéo
léo hơn các kĩ năng và có thể áp dụng được trong những tình huống, hoàn cảnh
đa dạng khác nhau. Ở bước này, tôi thường tổ chức các hoạt động sau:
+ Tổ chức một hoạt động thực hành vận dụng kiến thức vừa chốt.
+ Cho học sinh làm việc với phiếu học tập để kiểm tra sâu hơn về kiến
thức.
+ Có thể đưa ra những tình huống ứng dụng thực tế để kiểm tra khả năng
vận dụng kiến thức của học sinh.
– Đánh giá là bước thứ năm nhưng cũng được xem là bước đi đồng thời
cùng với các bước trên. Ở đây, tôi sử dụng các kĩ thuật đánh giá đa dạng để nhận
biết quá trình nhận thức và khả năng của từng học sinh, từ đó đưa ra các phương
hướng điều chỉnh và hỗ trợ học sinh phù hợp, giúp học sinh đạt được các mục
tiêu học tập như đã đề ra. “Đánh giá” giúp học sinh tổng kết lại những kiến thức
đã học và gợi mở những vấn đề cần được khám phá trong bài học tiếp theo. Ở
bước này, tôi thường tổ chức các hoạt động sau:
+ Câu hỏi ôn tập bài.
+ Làm việc với phiếu học tập tại lớp.
+ Yêu cầu vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào cuộc sống.
Ví dụ: Vận dụng mô hình 5E trong dạy học chủ đề 2: Trường học – Bài 4:
Giữ gìn lớp học sạch, đẹp (tiết 3)
14
Bước 1: Gắn kết
– Học sinh xem video bài hát: “Giữ gìn vệ sinh trường lớp” sáng tác Phan
Thiên Hương
– Qua bài hát ta thấy các bạn nhỏ đang làm gì?
Bước 2: Khám phá
– Yêu cầu học sinh quan sát các hình ở trang 32 sách giáo khoa thảo luận cặp
đôi và trả lời câu hỏi: Nêu những điểm khác nhau của lớp học trong hai hình?
Bước 3: Diễn giải
– Đại diện một số cặp trình bày kết quả thảo luận ở bước Khám phá trước lớp.
– Em có nhận xét gì về lớp học ở hình 1 trang 32 sách giáo khoa?
– Em có nhận xét gì về lớp học ở hình 2 trang 32 sách giáo khoa?
– Em thích lớp học của em như lớp học ở hình nào? Vì sao?
– Học sinh thực hành sắp xếp lại bàn học cho gọn gàng, sạch đẹp trong 2 phút
– Sau khi sắp xếp lại bàn học em cảm thấy thế nào?
– Theo em, thế nào là lớp học sạch đẹp?
Bước 4: Phát triển chi tiết
-Yêu cầu học sinh quan sát các hình trang 33 sách giáo khoa và làm việc
theo cặp đôi và trả lời câu hỏi: Các bạn trong tranh đang làm gì?
– Đại diện một số cặp trình bày kết quả làm việc trước lớp.
– Việc làm của các bạn trong tranh giúp ích gì cho lớp học của các bạn?
– Em có nhận xét gì về trang phục của các bạn khi tham gia vệ sinh lớp học?
– Vì sao khi lao động chúng ta phải sử dụng đồ dùng bảo hộ và đồ dùng lao
động phù hợp ?
– Vì sao hàng ngày chúng ta phải giữ lớp học sạch, đẹp?
– Hãy chia sẻ với bạn những việc em đã làm để giữ lớp học sạch đẹp?
– Theo em, chúng ta có cần giữ sạch, đẹp môi trường xung quanh lớp học
không?
– Vì sao chúng ta cần phải giữ môi trường xung quanh lớp học sạch, đẹp?
– Giáo viên chia nhóm và phân công nhóm trưởng.
+ Tổ 1: lau chậu cây, dọn vệ sinh phía hành lang lớp học.
15
+ Tổ 2: Lau bàn ghế, cửa sổ, cửa ra vào
+ Tổ 3: Nhặt giấy rác trong lớp, kê lại bàn ghế
+ Tổ 4: Sắp xếp lại góc học tập
– Yêu cầu các nhóm trưởng lấy đồ dùng lao động của nhóm theo sự phân
công của giáo viên và phát cho các thành viên của nhóm mình. Nhóm trưởng
phân chia công việc cho các thành viên dọn dẹp lớp học trong 5 phút. Hết thời
gian học sinh bỏ đồ bảo hộ và dụng cụ lao động vào nơi quy định sau đó thực
hiện sát khuẩn tay với dung dịch rửa tay khô.
– Các em vừa làm gì để lớp học sạch đẹp?
– Sau khi vệ sinh lớp học, em thấy như thế nào?
– Khi tham gia lao động các bạn em có tích cực làm việc không?
Bước 5: Đánh giá
– Học sinh tự đánh giá việc giữ gìn lớp học và sử dụng đồ dùng học tập
trong phiếu tự đánh giá.
– Học sinh tự đánh giá nội dung trong phiếu bằng cách:
+ Tô màu vào  nếu em thường xuyên thực hiện việc đó.
+ Tô màu vào  nếu thỉnh thoảng thực hiện việc đó.
+ Tô màu vào  nếu em hiếm khi hoặc chưa thực hiện việc đó.
PHIẾU TỰ ĐÁNH GIÁ

Việc làmEm tự đánh giá
Sắp xếp đồ dùng cá nhân (cặp, sách, vở, hộp bút, ..) gọn gàng.  
Cất, đặt, để đồ dùng học tập đúng chỗ sau khi sử dụng.  
Sử dụng đồ dùng học tập cẩn thận và đúng cách.  
Lau chùi bàn, ghế, bảng đen, …  
Quét dọn lớp học (quét lớp, nhặt rác, phủi bụi tranh ảnh và
sản phẩm treo tường, …)
  
Trang trí góc học tập, lớp học, …  

– Nhắc nhở học sinh cần giữ vệ sinh lớp học thường xuyên, hàng ngày.
16
Biện pháp 3: Thực hiện tốt một số nguyên tắc trong quá tình giảng dạy môn
Tự nhiên và Xã hội lớp 1
a. Nguyên tắc 1: Liên hệ thực tế
Để giúp học sinh nhận biết được ở mức độ đơn giản một số sự vật, hiện
tượng, mối quan hệ thường gặp trong môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh
như về sức khoẻ và sự an toàn trong cuộc sống, mối quan hệ của học sinh với
gia đình, nhà trường, cộng đồng và thế giới tự nhiên,… từ đó hình thành và phát
triển năng lực tự chủ và tự học, năng lực khoa học, tôi tổ chức cho học sinh
khám phá kiến thức bắt đầu từ thực tiễn và kết thúc bằng thực tiễn. Hay nói cách
khác là “học phải đi đôi với hành”. Những gì được dạy trên lớp phải gắn với
cuộc sống bên ngoài, đặc biệt là với các em học sinh lớp 1, lứa tuổi đầu cấp tiểu
học. Các em chỉ có thể khám phá được kiến thức thông qua ví dụ thực tế. Thông
qua việc liên hệ thực tế, tôi giúp học sinh hình thành và phát triển các phẩm chất
chủ yếu được quy định trong chương trình giáo dục phổ thông 2018.
Vì vậy để có thể liên hệ thực tế trong quá trình giảng dạy môn Tự nhiên và
Xã hội cho học sinh lớp 1, tôi đã nêu ra các ví dụ liên quan đến công việc hàng
ngày của học sinh. Những ví dụ này sẽ khiến học sinh cảm thấy tò mò và nhận
ra rằng những kiến thức mà các em tiếp thu được trong giờ học có thể ứng dụng
vào thực tế công việc, gần gũi và hữu ích với học sinh. Qua đó, tôi có thể rút ra
kết luận về những kiến thức mới cần khám phá trong tiết học. Đến cuối bài tôi
lại một lần nữa thiết lập mối quan hệ giữa bài học và thực tế.
Ví dụ 1: Khi dạy Chủ đề 5: Con người và sức khoẻ – Bài 18: Thực hành:
Rửa tay, chải răng, rửa mặt, tôi yêu cầu học sinh thực hiện các bước sau:
+ Hãy nói về lợi ích của việc rửa tay?
+ Hằng ngày, em rửa tay khi nào?
+ Em hãy nêu 6 bước rửa tay đúng cách của Bộ y tế?
+ Cả lớp thực hành vận động theo đúng quy trình 6 bước rửa tay của Bộ y
tế trên video
+ Cả lớp thực hành rửa tay theo quy trình 6 bước của Bộ y tế
+ Chúng ta cần rửa tay đúng cách khi nào?
17
Ví dụ 2: Khi dạy Chủ đề 6: Trái đất và bầu trời – Bài 21: Thời tiết, tôi yêu
cầu học sinh lựa chọn trang phục phù hợp với thời tiết: trời nắng, trời mưa, trời
nóng, trời lạnh:
18
b. Nguyên tắc 2: Tạo không khí tích cực trong giờ học
Học và chơi không phải là hai hoạt động đối nghịch nhau. Khi học sinh tìm
thấy niềm vui trong học tập, việc học cũng trở nên dễ dàng hơn. Trách nhiệm
của thầy cô là giúp học sinh nhận ra được “học là niềm vui”. Thông qua đó học
sinh sẽ tự giác, tích cực chủ động trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập
và góp phần hình thành và phát triển phẩm chất chăm chỉ ở học sinh.
Trong quá trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, tôi tổ chức cho các
em tham gia các hoạt động múa, hát, vẽ, chơi trò chơi, thực hành vận động có
liên quan đến nội dung bài học để khơi gợi niềm đam mê, yêu thích tìm hiểu nội
dung bài.
Ví dụ 1: Khi dạy chủ đề 5: Con người và sức khoẻ – bài 18: Thực hành rửa
tay, chải răng, rửa mặt, tôi tổ chức cho học sinh nêu 6 bước rửa tay đúng quy
trình của Bộ y tế sau đó tổ chức cho học sinh thực hiện vận động theo video quy
trình 6 bước rửa tay của Bộ y tế. Đồng thời tôi cũng tổ chức cho các em thực
hành rửa tay ngay trong tiết học cùng với dung dịch rửa tay.
19
Ví dụ 2: Khi dạy chủ đề 5: Con người và sức khoẻ – bài 17: Vận động và
nghỉ ngơi, tôi tổ chức cho các em thực hiện một số động tác vận động cơ thể ở
giữa tiết học.
20
Ví dụ 3: Khi dạy chủ đề 5: Con người và sức khoẻ – bài 19: Giữ an
toàn cho cơ thể, tôi tổ chức cho các em vẽ và tô màu quần, áo lót cho vùng
riêng tư của hình cơ thể con trai và con gái sau khi các em đã được hình
thành kiến thức về vùng riêng tư của con trai và con gái để giúp các em
nhớ được nội dung đã học tốt hơn, tạo bầu không khí thoải mái trong quá
trình học tập.
c. Nguyên tắc 3: Trực quan hoá, trình bày nội dung bằng hình ảnh
Con người không chỉ học bằng cách nghe mà còn học được nhiều thông
qua quan sát. Vì thế tất cả những nội dung quan trọng cần phải được trực quan
hoá đặc biệt là đối với học sinh lớp 1, việc làm này sẽ giúp các em dễ tiếp thu
kiến thức và nhớ lâu hơn, giúp các em nhận thấy việc học không hề áp lực, khô
khan. Trực quan hoá, trình bày nội dung bằng hình ảnh được thực hiện thông
qua các phương tiện giảng dạy như: bảng viết, trình chiếu bằng máy, dụng cụ
trực quan, tranh, ảnh, hình vẽ… Việc làm này cũng góp phần nâng cao hiệu quả
trong quá trình nhận thức khoa học, tìm hiểu môi trường tự nhiên và xã hội xung
quanh, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học.
21
Ví dụ 1: Khi dạy chủ đề 3: Cộng đồng địa phương – Bài 9: An toàn trên
đường, tôi cho học sinh quan sát các hình ảnh học sinh sử dụng các phương tiện
giao thông (ô tô, xe máy, thuyền đò, đi bộ) để đi học. Khi học sinh chỉ ra những
hành động không đảm bảo an toàn giao thông khi đi trên các phương tiện giao
thông, tôi đánh dấu ngay những hình ảnh đó để học sinh khắc sâu được những
hành vi không đảm bảo an toàn.
22
Ví dụ 2: Khi dạy chủ đề Gia đình – bài Ôn tập và đánh giá: chủ đề Gia
đình, tôi đã sử dụng sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học nhưng vì là giai đoạn
đầu năm học, học sinh mới bắt đầu học chữ nên tôi đã trực quan hoá nội dung
bằng hình ảnh. Khi học sinh hoàn thành sơ đồ tư duy các em có thể ghi lại nội
dung bằng cách vẽ lại bằng hình vẽ với những từ mình chưa biết viết.
23
d. Nguyên tắc 4: Khuyến khích ngƣời học tự làm
“Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm”. Không
một học sinh nào có thể học trong khoảng thời gian dài bằng cách ngồi một chỗ
tiếp thu kiến thức với tinh thần thụ động. Khuyến khích học sinh tích cực có
nghĩa là khuyến khích học sinh vận động suốt buổi học và chủ động tiếp thu
kiến thức. Khi được khuyến khích học sinh sẽ trở nên chủ động học hỏi với tinh
thần hào hứng trong suốt tiết học.
Tôi thường tổ chức học chủ động bằng nhiều cách khác nhau như: Tạo cơ
hội cho học sinh đóng góp ý kiến, làm việc nhóm, tham gia hỏi đáp; làm bài tập;
thực hành; tạo điều kiện cho học sinh truyền đạt lại nôi dung vừa học cho học
sinh khác.
Ví dụ: Khi dạy chủ đề 2: Trường học – Bài 4: Lớp học của em, tôi luôn tạo
cơ hội cho học sinh được hoạt động, kích thích sự tích cực chủ động của học
sinh ở bất kì thời điểm nào.
– Hoạt động Khởi động: Tôi tổ chức cho học sinh chơi trò chơi: Bắn tên để
nêu tên một hoạt động ở lớp học của em
24
– Hoạt động Khám phá kiến thức mới: Tôi tổ chức cho học sinh thực hiện
các hoạt động sau:
+ Quan sát hình hai lớp học (hình 1: Lớp học gọn gàng, sạch đẹp; hình 2:
Lớp học bừa bộn, chưa sạch sẽ) rồi thảo luận cặp đôi và trả lời câu hỏi: Nêu
những điểm khác nhau của lớp học trong hai hình?
+ Em thích lớp học của em như lớp học ở hình nào? Vì sao?
+ Theo em, chúng ta cần làm gì để lớp học ở hình 2 gọn gàng, sạch đẹp?
+ Tổ chức cho học sinh thực hành sắp xếp lại bàn học cho gọn gàng sạch
đẹp hơn trong 2 phút
– Hoạt động Luyện tập và vận dụng: Tôi tổ chức cho học sinh thực hiện các
hoạt động sau:
+ Quan sát hình ảnh một số bạn học sinh đang quét dọn làm vệ sinh lớp học
và làm việc theo cặp đôi và trả lời câu hỏi: Các bạn trong tranh đang làm gì?
+ Việc làm của các bạn trong tranh giúp ích gì cho lớp học của các bạn?
+ Em có nhận xét gì về trang phục của các bạn khi tham gia vệ sinh lớp học?
+ Vì sao khi lao động chúng ta phải sử dụng đồ dùng bảo hộ và đồ dùng lao
động phù hợp ?
+ Vì sao hàng ngày chúng ta phải giữ lớp học sạch, đẹp?
+ Yêu cầu học sinh chia sẻ với bạn những việc em đã làm để giữ lớp học
sạch, đẹp?
+ Theo em, chúng ta có cần giữ sạch, đẹp môi trường xung quanh lớp học
không?
+ Vì sao chúng ta cần phải giữ môi trường xung quanh lớp học sạch, đẹp?
+ Giáo viên chia nhóm và cho học sinh thực hành làm vệ sinh lớp học
trong 5 phút: Tổ 1: lau chậu cây, dọn vệ sinh phía hành lang lớp học; tổ 2: Lau
bàn ghế, cửa sổ, cửa ra vào; tổ 3: Nhặt giấy rác trong lớp, kê lại bàn ghế; tổ 4:
Sắp xếp lại góc học tập.
+ Các em vừa làm gì để lớp học sạch đẹp?
+ Sau khi vệ sinh lớp học, em thấy như thế nào?
+ Khi tham gia lao động các bạn nhóm em có tích cực làm việc không?
25
e. Nguyên tắc 5: Đặt câu hỏi hiệu quả để lôi cuốn học sinh
Trong dạy học phát triển năng lực, học sinh và giáo viên cùng chủ động
tham gia vào bài giảng. Trong đó, giáo viên đóng vai trò chủ yếu là người tổ
chức, cố vấn, hỗ trợ học sinh lĩnh hội kiến thức. Vì vậy, tôi thường phải sử dụng
các câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt học sinh tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức,
kĩ năng mới… để đánh giá mức độ tiếp nhận kiến thức và kết quả học tập của
học sinh. Học sinh của tôi cũng thường xuyên phải sử dụng các câu hỏi để tìm
kiếm sự tư vấn, gợi ý từ giáo viên và các bạn khác trong lớp… Do đó chúng ta
có thể thấy được vai trò quan trọng của kỹ thuật đặt câu hỏi trong hình thành và
phát triển năng lực của học sinh.
Việc sử dụng các câu hỏi một cách có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn
nhau giữa học sinh với giáo viên và học sinh với học sinh. Kỹ thuật đặt câu hỏi
càng tốt thì mức độ tham gia vào bài học của học sinh càng cao, học sinh sẽ học
tập tích cực hơn và được kích tư duy nhiều hơn trong quá trình học.
Trong quá trình xây dựng câu hỏi trong dạy học, tôi nhận thấy khi đặt câu
hỏi hiệu quả trong dạy học sẽ góp phần:
– Tạo điều kiện và kích thích học sinh tham gia vào quá trình dạy học.
– Dẫn dắt, gợi mở và kích thích học sinh tư duy, tìm tòi, khám phá tri thức mới.
– Kiểm tra, đánh giá mức độ làm chủ kiến thức và kỹ năng cũng như sự
quan tâm, hứng thú của học sinh đối với nội dung học tập.
– Định hướng, thu thập, mở rộng thông tin, kiến thức cho học sinh.
Trong quá trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, tôi thường sử dụng
một số dạng câu hỏi giúp hình thành và phát triển năng lực như:
– Câu hỏi đóng: Dạng câu hỏi đơn giản chỉ có thể trả lời Đúng – Sai, Có –
Không hoặc có thể trả lời bằng một từ hoặc một câu ngắn. Dạng câu hỏi này tôi
thường dùng trong phần tổng kết bài học, sau phần giới thiệu bài hoặc sau khi
giao nhiệm vụ cho học sinh.
Ví dụ: Khi củng cố kiến thức cho học sinh ở chủ đề 5: Con người và sức
khoẻ – Bài 14: Cơ thể em, tôi sử dụng dạng câu hỏi Đúng – Sai để khắc sâu và
mở rộng kiến thức cho học sinh. Học sinh sẽ giơ thẻ để biểu thị câu trả lời của
26
mình, đúng giơ thẻ chữ Đ, sai giơ thẻ chữ S. Sau khi học sinh giơ thẻ tôi sẽ yêu
cầu một vài học sinh nêu lí do vì sao em lựa chọn đáp án đó.
Câu 1: Cơ thể của con trai và con gái đều có tất cả các bộ phận tương tự nhau.
Câu 2: Chỉ có con trai mới để tóc ngắn.
Câu 3: Chỉ có con gái mới mặc áo dài.
Câu 4: Cả con gái và con trai đều có thể chơi đá bóng.
– Câu hỏi mở: Dạng câu hỏi có nhiều hướng trả lời hay nhiều đáp án chấp
nhận được thường được dùng để đánh giá và thảo luận. Dạng câu hỏi này giúp
học sinh phát hiện, giải quyết vấn đề, đồng thời kích thích trí tưởng tượng để tìm
tòi khám phá và tiếp nhận tri thức mới. Câu hỏi mở kích thích học sinh đào sâu
suy nghĩ và đưa ra nhiều quan điểm. Không chỉ có một câu trả lời đúng hoặc sai.
Câu hỏi mở giúp học sinh có cái nhìn tổng quát hoặc đưa ra những boăn khoăn,
thắc mắc về tình huống được đưa ra. Khi đưa ra các câu hỏi mở, tôi sẽ thu được
nhiều ý tưởng hoặc câu trả lời khác nhau từ học sinh. Điều này cũng giúp cho tôi
định hướng được nội dung và phương pháp phù hợp đối với học sinh.
Ví dụ: Chủ đề 5: Con người và sức khoẻ – Bài 16: Ăn uống hàng ngày, tôi yêu
cầu học sinh nói về những thức ăn, đồ uống cần ăn để cơ thể khoẻ mạnh và an toàn.
– Câu hỏi giả định: Dạng câu hỏi kích thích học sinh suy nghĩ vượt khỏi
khuôn khổ của các tình huống được giáo viên đưa ra. Tôi thường sử dụng dạng
câu hỏi này để phát triển năng lực giải quyết vấn đề sáng tạo ở học sinh.
Ví dụ: Chủ đề 5: Con người và sức khoẻ – Bài 14: Cơ thể em, tôi yêu cầu
học sinh thảo luận nhóm và trả lời câu hỏi: Nếu có người có chân hoặc tay
không cử động được thì họ sẽ gặp khó khăn gì? Em có thể làm gì để giúp đỡ họ?
– Câu hỏi hành động: Dạng câu hỏi giúp học sinh lập kế hoạch và triển khai
các ý tưởng vào tình huống thực tế.
Ví dụ: Chủ đề 3: Cộng đồng địa phương – Bài 6: Nơi em sống, tôi yêu cầu
học sinh lập kế hoạch để kể những việc em có thể làm để đóng góp cho cộng
đồng nơi em sống.
– Câu hỏi làm rõ: Dạng câu hỏi khai thác, thu thập thêm thông tin. Câu hỏi
này là loại được tôi sử dụng nhiều nhất trong sự tương tác trực tiếp giữa giáo viên
27
và học sinh. Nó có tác dụng dẫn dắt để hướng tới sự hiểu biết, thúc đẩy trạng thái
lắng nghe tích cực, khuyến khích, tạo hứng thú và thử thách cho học sinh.
Ví dụ: Chủ đề 5: Con người và sức khoẻ – Bài 16: Ăn uống hàng ngày, tôi
yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi: Vì sao tất cả chúng ta đều cần ăn uống hàng ngày?
– Câu hỏi mở rộng: Là câu hỏi khuyến khích sự trình bày, phân tích, giải
thích, mở rộng, đào sâu suy nghĩ. Tôi sử dụng dạng câu hỏi này giúp học sinh
nhận thức toàn diện hơn, sâu sắc hơn về một vấn đề mà giáo viên đưa ra.
Ví dụ: Chủ đề 5: Con người và sức khoẻ – Bài 14: Cơ thể em, tôi yêu cầu
học sinh trả lời câu hỏi: Hãy cho biết tay và chân còn làm được những việc gì
khác ngoài những việc trên? Sau khi học sinh đã quan sát tranh và nêu những
việc mà bộ phận tay và chân có thể làm được trong tranh.
– Câu hỏi so sánh: Dạng câu hỏi yêu cầu so sánh, đánh giá, bình luận.
Trong quá trình dạy học tôi sử dụng dạng câu hỏi này để khuyến khích tư duy
phê phán, bình luận, đánh giá, thúc đẩy kỹ năng tư duy bậc cao, định hướng suy
nghĩ vào các khái niệm và các vấn đề trọng tâm của bài học.
Ví dụ: Chủ đề 2: Trường học – Bài 4: Lớp học của em, tôi yêu cầu học sinh
quan sát hình ảnh hai lớp học và nêu những điểm khác nhau của hai lớp học đó.
28
– Câu hỏi tóm tắt: Dạng câu hỏi yêu cầu trình bày vắn tắt những nội dung
đã học. Loại câu hỏi này khi tôi sử dụng trong quá trình dạy học đã góp phần
giúp cho học sinh của tôi nhìn nhận nội dung học tập một cách khái quát và
logic từ đó khắc sâu kiến thức đã học. Đồng thời giúp học sinh hình thành và
phát triển khả năng tư duy, khái quát hóa, trừu tượng hóa.
Ví dụ: Chủ đề 4: Thực vật và động vật – Bài 11: Các con vật quanh em, khi
củng cố bài học tôi yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi sau để tóm tắt lại những
nội dung đã tìm hiểu trong bài học.
+ Hãy kể tên các bộ phận bên ngoài của con vật?
+ Bộ phận nào của con vật dùng để di chuyển?
+ Chúng ta cần làm gì để chăm sóc và bảo vệ con vật?
+ Chúng ta cần làm gì để đảm bảo an toàn khi tiếp xúc?
– Bên cạnh đó, trong quá trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 để
đặt câu hỏi hiệu quả, tôi nhận thấy cần phải nắm rõ quy trình để đưa ra câu hỏi
phù hợp đúng thời điểm.
Bƣớc 1. Chuẩn bị câu hỏi: xác định nội dung và ý chính của nội dung học
tập, hỏi về những gì, hỏi để làm gì?
Bƣớc 2. Đối chiếu và thích ứng các câu hỏi với đặc điểm và trình độ khác
nhau của học sinh. Câu hỏi cần đáp ứng các yếu tố sau:
+ Tính minh bạch, rõ ràng: Câu hỏi đơn giản, ngắn gọn không đánh đố.
+ Tính thách thức. Câu hỏi không nên quá dễ mà đòi hỏi học sinh phải suy
nghĩ và nỗ lực nhất định khi đưa ra câu trả lời. Đồng thời phải làm cho học sinh
cảm thấy hãnh diện và thỏa mãn khi trả lời đúng.
+ Tính định hướng: Câu hỏi phải hướng đến số đông. Câu hỏi phải gây
được phản ứng ở nhiều học sinh; ai cũng cảm thấy mình có trách nhiệm trả lời,
phải suy nghĩ; do đó tạo được không khí học tập sôi nổi.
+ Tính vừa sức: đây là nguyên tắc quan trọng và là yêu cầu chung cho mọi
phương pháp dạy học. Câu hỏi phải nằm trong giới hạn của khả năng tri giác
thông tin, ngôn ngữ, ý trong câu; kinh nghiệm cảm nhận các tình huống giao
tiếp, năng lực tư duy, tưởng tượng; khả năng diễn đạt của học sinh.
29
+ Tính linh hoạt. Câu hỏi cần tổng hợp về kiểu loại, độ khó, tính đối tượng.
Chọn thời điểm thích hợp để hỏi (tình huống cụ thể) để dạy học đạt hiệu quả cao.
Bƣớc 3. Lựa chọn ngôn từ diễn đạt phù hợp khi đặt câu hỏi. Câu hỏi đưa ra
càng ngắn gọn, ít từ, ít mệnh đề, ít cấu trúc, ít thuật ngữ mới lạ càng tốt.
Bƣớc 4. Khích lệ học sinh tư duy để trả lời câu hỏi. Khi đặt câu hỏi, không
nên quá dễ, không có tác dụng khích lệ học sinh. Giáo viên cũng không nên thừa
nhận câu trả lời của học sinh một cách dễ dãi. Đối với những câu hỏi khó, giáo
viên cần chuẩn bị kỹ để chủ động giải quyết các tình huống bất ngờ.
Bƣớc 5. Duy trì tiến trình hỏi – đáp bằng câu hỏi bổ trợ, mở rộng.
Bƣớc 6. Đánh giá và thu thập thông tin phản hồi về quá trình học tập. Các
câu hỏi cần tập trung vào nội dung chính yếu, cơ bản của bài học; nhất là những
yếu tố khái niệm và ứng dụng.
– Kỹ thuật đặt câu hỏi là một yêu tố quan trọng, là linh hồn và là trung tâm
của dạy học phát triển năng lực. Điều quan trọng là phải lựa chọn được loại câu
hỏi thích hợp để kích thích tư duy của học sinh và thu hút họ vào các cuộc thảo
luận hiệu quả.
Khi đặt câu hỏi cho học sinh trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy cần chú
ý các yếu tố sau:
+ Câu hỏi phải liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bài học.
+ Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu.
+ Đúng lúc, đúng chỗ.
+ Phù hợp với trình độ học sinh, thời gian thực tế.
+ Kích thích trí tưởng tượng, tư duy của học.
+ Sắp xếp theo trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.
+ Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xính, đánh đố.
+ Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc.
g. Nguyên tắc 6: Khuyến khích, động viên kịp thời, đúng lúc, đúng chỗ
Trong quá trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, tôi luôn động viên
kịp thời, đúng lúc, đúng chỗ. Điều này giúp các em hào hứng, kích thích tinh
thần tự giác, tích cực trong học tập. Đồng thời còn giúp cho các em có thêm
30
động lực khi giải quyết các vấn đề mang tính sáng tạo. Để kích thích học sinh tự
giác, chủ động trong quá trình học tập, tôi đã sử dụng những bông hoa khen để
khen thưởng, ghi nhận sự nỗ lực của học sinh trong quá trình học tập.
Biện pháp 4: Tổ chức hoạt động quan sát, đọc tài liệu một cách hiệu quả
Học sinh tiểu học “dễ nhớ – dễ quên” mức tập trung chú ý của các em còn
thấp. Vì vậy, bản thân tôi luôn phải tạo hứng thú học tập cho các em, làm cho
giờ học có những ấn tượng riêng biệt và phải thường xuyên được thực hành,
luyện tập. Tâm lý trẻ lớp 1 chưa được ổn định, giàu tình cảm, dễ xúc động, bản
tính tò mò, thích khám phá. Các em thích tiếp xúc với các sự vật – hiện tượng
gây cảm xúc mạnh. Tuy nhiên, các em cũng chóng chán. Do vậy, trong dạy học
tôi thường sử dụng nhiều đồ dùng dạy học, tổ chức cho học sinh đi tham quan
thực tế, tăng cường thực hành, để củng cố, khắc sâu kiến thức. Như vậy, sử dụng
phương pháp quan sát trong dạy học Tự nhiên và Xã hội lớp 1 tức là chúng ta đã
tạo nền móng khởi đầu cho sự phát triển nhận thức tư duy cho các em.
Phương pháp quan sát là hình thức dạy học giáo viên hướng dẫn học sinh
cách sử dụng các giác quan để tri giác trực tiếp, có mục đích các đối tượng trong
tự nhiên và xã hội nhằm tiếp nhận thông tin mà không có sự can thiệp vào quá
trình diễn biến của các sự vật, hiện tượng đó.
Phương pháp quan sát được tôi thường xuyên sử dụng trong dạy học môn
Tự nhiên và Xã hội lớp 1. Thông qua quá trình quan sát, tôi giúp học sinh nhận
biết hình dạng, đặc điểm bên ngoài của cơ thể người, cây cối, một số con vật
và các hiện tượng đang diễn ra trong môi trường tự nhiên trong cuộc sống hàng
ngày. Bên cạnh đó còn tạo được hứng thú học tập cho học sinh, phù hợp quá
trình nhận thức của học sinh tiểu học. Dạy học sử dụng phương pháp quan sát
giúp tôi tiết kiệm lời giảng, khi giảng có kèm theo ví dụ minh họa làm cho bài
giảng sinh động, cụ thể, hấp dẫn. Khi sử dụng phương pháp quan sát tôi
thường kết hợp với các phương pháp khác để làm cho bài giảng không nhàm
chán như phương pháp phân tích, giảng giải; phương pháp thảo luận nhóm;
phương pháp đàm thoạ

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *