dàn âm thanh hội trường, âm thanh lớp học, âm thanh phòng họp, loa trợ giảng

SKKN Một số giải pháp nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học sinh trong dạy học Ngữ văn

SKKN Một số giải pháp nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học sinh trong dạy học Ngữ văn

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

IỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
I.1. Nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học sinh phù hợp với quan điểm
xây dựng chương trình

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ
  • Chương trình giáo dục phát triển phẩm chất và năng lực người học
  • Chương trình giáo dục phổ thông theo hướng mở.
    I.2. Nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ là mục tiêu đổi mới giáo dục
  • Chương trình giáo dục phổ thông cụ thể hoá mục tiêu giáo dục phổ thông,
    giúp học sinh làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ
    năng đã học vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp
    phù hợp, biết xây dựng và phát triển hài hoà các mối quan hệ xã hội, có cá tính,
    nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa
    và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại.
  • Chương trình giáo dục trung học phổ thông giúp học sinh tiếp tục phát triển
    những phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và nhân cách
    công dân, khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn nghề
    nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để
    tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động, khả năng thích
    ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp
    mới.
    I.3. Nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học sinh đáp ứng yêu cầu cần
    đạt của chương trình giáo dục phổ thông 2018
  • Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho học sinh những
    phẩm chất chủ và năng lực yếu sau:
  • Phẩm chất : yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm.
  • Những năng lực cốt lõi sau:
    ++ Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các
    môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và
    hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;
    ++ Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua
    một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính
    toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ,
    2
    năng lực thể chất. Đối với môn Ngữ văn năng lực đặc thù của học sinh gồm năng
    lực ngôn ngữ (bao gồm năng lực sử dụng tiếng Việt và năng lực sử dụng ngoại ngữ;
    mỗi năng lực được thể hiện qua các hoạt động: đọc, viết, nói, nghe) và năng lực
    văn học.
  • Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo
    dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu của học sinh.
    I.4. Nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ đáp ứng với yêu cầu đổi mới phương
    pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực của học sinh
  • Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
    giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
    theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
    thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
    máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
    người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ
    học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động
    xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
    và truyền thông trong dạy và học”. Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản,
    toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản
    chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người
    học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này.
  • Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình
    giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ
    quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì
    qua việc học.
  • Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học
    theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn
    luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất..
    3
  • Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực thể
    hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:
    Một, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học sinh
    tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thức được
    sắp đặt sẵn. Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động
    học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình
    huống học tập hoặc tình huống thực tiễn…
    Hai, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và các tài
    liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và phát
    hiện kiến thức mới… Định hướng cho học sinh cách tư duy như phân tích, tổng hợp,
    đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dần hình thành và phát
    triển tiềm năng sáng tạo.
    Ba, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở thành
    môi trường giao tiếp GV – HS và HS – HS nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh
    nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung.
    Bốn, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến
    trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng
    phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình
    thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có
    thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót (tạo điều kiện
    để học sinh tự bộc lộ, tự thể hiện, tự đánh giá).
    I.5. Nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học sinh xuất phát từ yêu cầu
    thực tiễn của cuộc sống
    Nếu bạn nói với một người bằng ngôn ngữ mà anh ta hiểu, điều bạn nói sẽ đi
    được vào đầu đối phương. Nếu bạn nói với người đó bằng ngôn ngữ của anh ta,
    điều bạn nói sẽ đi tới con tim. – Nelson Mandela. Ngôn ngữ là công cụ mà con
    người dùng để giao tiếp trong cuộc sống – là một trong những phương tiện hữu hiệu
    để đáp ứng được mục đích giao tiếp. Có ngôn ngữ thì mới có quan hệ xã hội và
    quan hệ xã hội chính là nơi để phát triển ngôn ngữ. Nhờ ngôn ngữ mà con người
    có thể diễn đạt và làm cho người khác hiểu được tư tưởng tình cảm, trạng thái tâm
    lí và nguyện vọng của mình. Từ xa xưa, giá trị của ngôn ngữ trong đời sống hàng
    ngày cũng đã được khẳng định: “lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho
    vừa lòng nhau”
    Ngôn ngữ là thứ vô hình nhưng mang trong mình một sức mạnh rất lớn trong
    quá trình giao tiếp, nó tác động đến chúng ta theo nhiều cách khác nhau, thậm chí
    4
    là vượt xa những gì mà chúng ta có thể tưởng tượng được. Một câu an ủi, động
    viên đúng lúc sẽ xoa dịu nỗi buồn của người khác ; một lời khen ngợi có thể là
    động lực cho ai đó tiếp tục cố gắng. Hơn thế,Sử dụng ngôn từ khoa học, chính xác,
    linh hoạt sẽ chứng tỏ bản thân là người mạnh mẽ quyết đoán và tăng thêm niềm tin
    ở người xung quanh …
    Trong quá trình giao tiếp với mọi người, con người truyền đạt cho nhau những
    tư tưởng tình cảm, thấu hiểu và có điều kiện tiếp thu được những tinh hoa văn hóa
    nhân loại, biết cách cư xử như thế nào là phù hợp với chuẩn mực xã hội. Nhất là
    trong thời đại 4.0 phát triển năng lực ngôn ngữ là chìa khóa giúp học sinh tự tin để
    trở thành công dân toàn cầu. Mỗi công dân toàn cầu cần có những kỹ năng giao
    tiếp. Kỹ năng giao tiếp là tập hợp những quy tắc, cách ứng xử, phản hồi,… giữa
    người nói và người nghe nhằm đạt mục đích nhất địch tức là kĩ năng sử dụng ngôn
    ngữ nói hoặc ngôn ngữ cơ thể để truyền tải, diễn đạt, trao đổi thông tin,….“Kỹ năng
    giao tiếp là một công cụ quan trọng trong cuộc hành trình theo đuổi mục tiêu, dù
    là gia đình, đồng nghiệp hay khách hàng của bạn” – đánh giá về kỹ năng giao tiếp
    của nhà diễn thuyết, chính trị gia người Mỹ Les Brown. Kỹ năng giao tiếp được ví
    như một nghệ thuật. Bởi giao tiếp không chỉ đơn thuần là nghe và nói mà còn gồm
    nhiều kỹ năng nhỏ khác:
  • Kỹ năng lắng nghe
  • Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ cơ thể
  • Kỹ năng sử dụng âm điệu, ngôn từ
  • Kỹ năng diễn đạt, truyền tải thông tin,…
    Theo nghiên cứu của Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ (ASTDAmerican Society for Training & Development), khả năng giao tiếp là một
    trong 13 kỹ năng cần thiết để đạt được thành công trong công việc.
    Để đạt hiệu quả trong quá trình giao tiếp, mỗi cá nhân cần phải nâng cao năng
    lực sử dụng ngôn ngữ. Năng lực ngôn ngữ giúp HS phát triển : năng lực làm
    chủ ngôn ngữ; năng lực sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp; năng lực sử dụng ngôn
    ngữ để tạo lập văn bản. Để đạt được điều này đòi hỏi học sinh phải có một vốn từ
    vựng nhất định, hiểu và cảm nhận được sự giàu đẹp của tiếng Việt, nắm được những
    quy tắc về từ ngữ, ngữ pháp, chính tả để sử dụng tốt tiếng Việt. Từ đó giúp HS hình
    thành năng lực đọc hiểu, năng lực nói, viết, năng lực đối thoại và tổ chức đối thoại.
    Khi HS có năng lực tốt về ngôn ngữ, HS phát triển những kỹ năng quan trọng và
    cần thiết như:
    Kỹ năng thuyết trình
    5
    Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài sáng kiến: “Nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học sinh THPT trong giờ học Ngữ
    văn.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    II.1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến.
    Để có căn cứ cho việc đánh giá và đề xuất một số biện pháp nâng cao năng lực
    ngôn ngữ cho học sinh THTP. Tôi đã tiến hành khảo sát thực tế như sau:
    Phiếu khảo sát số 1: Khảo sát năng lực sử dụng ngôn ngữ tại lớp tại lớp 12B2
    , ở phần khảo sát này, tôi sẽ phát phiếu hỏi cho học sinh (Phụ lục I)
    Kết quả khảo sát 12B2: Phần lớn HS gặp những vấn đề trên khi giao tiếp ở mức
    độ thường xuyên: 15% HS ngại giao tiếp, 20% HS diễn đạt còn vụng về, vốn từ chưa
    phong phú, 15% HS chưa tự tin đứng trước đám đông…Các em đều có nguyện vọng
    Kỹ năng hợp tác Kỹ năng thuyết phục
    6
    được tham gia các hoạt động, rèn kĩ năng và nhận thức được sự cần thiết của năng
    lực ngôn ngữ.
    Phiếu khảo khát số 2: Khảo sát về năng lực sử dụng ngôn ngữ tại lớp 12D2.
    Ở phần khảo sát này, tôi sẽ đưa ra những câu thơ để kiểm tra năng lực sử dụng ngôn
    ngữ Tiếng Việt. (Phụ lục II)
    Kết quả khảo sát HS lớp 12D2: Trong phần khảo sát này tôi thấy 90% HS nói
    ngọng, chưa chuẩn những quy tắc tiếng Việt về phát âm, ngắt nhịp,
    Phiếu khảo khát số 3: Khảo sát về năng lực sử dụng ngôn ngữ tại lớp 11D1
    (Phụ lục III)
    Khảo sát HS và tôi nhận thấy:
  • Năng lực sử dụng ngôn ngữ của HS còn hạn chế: không nhận biết được các
    chuẩn về tiếng Việt khi nói, khi viết, điều này dẫn đến việc viết sai và nói không
    đúng văn cảnh, không đúng phong cách ngôn ngữ.
  • Ý thức sử dụng ngôn ngữ tùy tiện, cẩu thả, thiếu trách nhiệm làm cho ngôn
    ngữ giao tiếp bị xáo trộn, tối nghĩa, dung tục; làm cho ngôn ngữ của dân tộc bị méo
    mó, biến chất và mất đi bản sắc vốn có; làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt;
    làm giảm giá trị của ngôn ngữ, ảnh hưởng lớn đến việc giao tiếp và văn hoá ứng
    xử giữa mọi người. học sinh ngày nay còn nảy sinh lối viết tắt hết sức buồn cười:
    “dzạy là zui ròi đó”, “bjo mk di dau”, “vk ck vs nhau ko nen to tieng”, “m wen no
    tu bjo”,…”, hay việc ghép chữ cái khác thường với ngôn ngữ chuẩn, thay vì viết là
    “Chúc mừng sinh nhật” thì lại viết thành “Ckúc mừg sjnk nkat”…
  • Khi giao tiếp thì sử dụng ngôn ngữ theo trào lưu, dùng từ theo “mốt”, sử
    dụng tiếng lóng, tiếng ngoại ngữ hay ngôn ngữ theo phong cách để giao tiếp với
    nhau. Do sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng việc tiếp cận các
    văn hóa phẩm lệch lạc dễ dàng khiến cho giới trẻ mất kiểm soát bản thân. Từ đó,
    có những hành vi lệch chuẩn sau một thời gian tiếp cận nó.
    II.2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    II.2.1. Ngôn ngữ
    Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài
    người; là phương tiện giao tiếp của xã hội; công cụ tư duy của con người. Ngôn
    ngữ bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, trong thời đại hiện nay, ngôn ngữ là
    công cụ quan trọng nhất của sự trao đổi văn hoá giữa các dân tộc.
    Trong cuốn “Ngôn ngữ học đại cương” của Bùi Ánh Tuyết đã nêu: “Ngôn ngữ
    là một hệ thống những đơn vị vật chất phục vụ cho việc giao tiếp của con người và
    7
    được phản ánh trong ý thức tập thể, độc lập với ý tưởng, tình cảm và nguyện vọng
    cụ thể của con người, trừu tượng hóa khỏi những tư tưởng, tình cảm và nguyện
    vọng đó”
    Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính
    và lý tính của HS nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy tưởng tượng của
    HS phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể qua ngôn ngữ nói và viết của HS,
    GV có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của HS
    II.2.2. Năng lực ngôn ngữ
  • Năng lực ngôn ngữ chính là các kiến thức về hệ thống ngôn ngữ (ngữ âm, từ
    vựng, ngữ pháp, chính tả, từ ngữ, câu văn, đoạn văn, văn bản..), nó chính là cơ sở
    để chúng ta thực hiện giao tiếp.
  • Năng lực ngôn ngữ rất quan trọng trong cách tiếp cận giao tiếp, hướng tới
    mục đích đạt được trình độ hiểu và sử dụng chính xác các diễn đạt ngôn ngữ. Trong
    giao tiếp, ngoài hành động “biểu đạt các ý định bằng hình thái ngôn ngữ thích hợp
    dựa trên kiến thức và kĩ năng về ngôn ngữ phù hợp với các ngữ cảnh giao tiếp” (tạo
    lập lời nói) còn phải bao gồm hành động nghe và đọc (tiếp nhận lời nói). Năng lực
    ngôn ngữ cũng được hiểu là khả năng sử dụng hệ thống kiến thức ngôn ngữ, hay
    “bộ mã ngôn ngữ” trong hoạt động thực tế.
  • Năng lực ngôn ngữ thể hiện trước hết ở hoạt động động đọc.
  • Cấp tiểu học: học sinh biết đọc đúng, trôi chảy và diễn cảm văn bản; hiểu
    được nội dung chính của văn bản, chủ yếu là nội dung tường minh; bước đầu hiểu
    được nội dung hàm ẩn như chủ đề, bài học rút ra từ văn bản đã đọc theo các yêu
    cầu về kĩ thuật đọc và kĩ năng đọc hiểu.
  • Cấp THCS: học sinh biết vận dụng kiến thức tiếng Việt cùng với những
    trải nghiệm và khả năng suy luận của bản thân để hiểu văn bản; biết đọc văn bản
    theo kiểu, loại; hiểu được nội dung tường minh và hàm ẩn của văn bản; nhận biết
    và bước đầu biết phân tích, đánh giá nội dung và đặc điểm nổi bật về hình thức biểu
    đạt của văn bản; biết so sánh văn bản này với văn bản khác, liên hệ với những trải
    nghiệm cuộc sống của cá nhân; từ đó có cách nhìn, cách nghĩ và những cảm nhận
    riêng về cuộc sống, làm giàu đời sống tinh thần.
  • Ở THPT: học sinh biết vận dụng kiến thức tiếng Việt và kiến thức về bối
    cảnh lịch sử, xã hội, tư tưởng, triết học và quan niệm thẩm mĩ của các thời kì để
    hiểu các văn bản khó hơn (thể hiện qua dung lượng, độ phức tạp và yêu cầu đọc
    hiểu); biết phân tích, đánh giá nội dung và đặc điểm nổi bật về hình thức biểu đạt
    8
    của văn bản, nhất là những tìm tòi sáng tạo về ngôn ngữ, cách viết và kiểu văn bản;
    giúp học sinh có cách nhìn, cách nghĩ về con người và cuộc sống theo cảm quan
    riêng; thấy được vai trò và tác dụng của việc đọc đối với bản thân.
  • Đối với hoạt động viết,
  • Cấp tiểu học: yêu cầu học sinh viết đúng chính tả, từ vựng, ngữ pháp; viết
    được một số câu, đoạn văn ngắn; bước đầu viết được bài văn ngắn hoàn chỉnh, chủ
    yếu là bài văn kể, tả và bài giới thiệu đơn giản; viết được văn bản kể lại những câu
    chuyện đã đọc, những sự việc đã chứng kiến, tham gia, những câu chuyện do học
    sinh tưởng tượng; miêu tả những sự vật, hiện tượng quen thuộc; giới thiệu về những
    sự vật và hoạt động gần gũi với cuộc sống của học sinh; viết đoạn văn nêu những
    cảm xúc, suy nghĩ của học sinh khi đọc một câu chuyện, bài thơ, khi chứng kiến
    một sự việc gợi cho học sinh nhiều cảm xúc; nêu ý kiến về một vấn đề đơn giản
    trong học tập và đời sống; viết một số kiểu văn bản như: bản tự thuật, tin nhắn, giấy
    mời, thời gian biểu, đơn từ; bước đầu biết viết theo quy trình; bài viết cần có đủ ba
    phần (mở bài, thân bài, kết bài).
  • Cấp THCS: học sinh viết được bài văn tự sự, miêu tả và biểu cảm; bước đầu
    biết viết bài văn nghị luận, thuyết minh, nhật dụng; viết đúng quy trình, biết cách
    tìm tài liệu để đáp ứng yêu cầu viết văn bản; có hiểu biết về quyền sở hữu trí tuệ
    và biết cách trích dẫn văn bản.
  • Cấp THPT: học sinh viết thành thạo kiểu văn bản nghị luận và thuyết minh
    về các đề tài gắn với đời sống và định hướng nghề nghiệp: viết được văn bản nghị
    luận và văn bản thông tin có đề tài tương đối phức tạp; văn bản nghị luận yêu cầu
    phân tích, đánh giá, so sánh giá trị của tác phẩm văn học; bàn về những vấn đề phù
    hợp với đối tượng gần đến tuổi thành niên, đòi hỏi cấu trúc và kiểu lập luận tương
    đối phức tạp, bằng chứng cần phải tìm kiếm từ nhiều nguồn; văn bản thuyết minh
    viết về những vấn đề có tính khoa học dưới hình thức một báo cáo nghiên cứu đúng
    quy ước, tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ và tránh đạo văn; bài viết thể hiện được cảm
    xúc, thái độ, những trải nghiệm và ý tưởng của cá nhân đối với những vấn đề đặt
    ra trong văn bản; thể hiện được một cách nhìn, cách nghĩ, cách sống mang đậm cá
    tính.
  • Đối với hoạt động nói và nghe,
  • Cấp tiểu học: học sinh trình bày dễ hiểu các ý tưởng và cảm xúc; bước đầu
    biết sử dụng cử chỉ, điệu bộ thích hợp khi nói; kể lại được một cách rõ ràng câu
    chuyện đã đọc, đã nghe; biết chia sẻ, trao đổi những cảm xúc, thái độ, suy nghĩ của
    mình đối với những vấn đề được nói đến; biết thuyết minh về một đối tượng hay
    9
    quy trình đơn giản. Nghe hiểu với thái độ phù hợp và nắm được nội dung cơ bản;
    nhận biết được cảm xúc của người nói; biết cách phản hồi những gì đã nghe.
  • Cấp THCS: học sinh trình bày dễ hiểu các ý tưởng và cảm xúc; có thái độ
    tự tin khi nói trước nhiều người; sử dụng ngôn ngữ, cử chỉ điệu bộ thích hợp khi
    nói; kể lại được một cách mạch lạc câu chuyện đã đọc, đã nghe; biết chia sẻ những
    cảm xúc, thái độ, trải nghiệm, ý tưởng của mình đối với những vấn đề được nói
    đến; thảo luận ý kiến về vấn đề đã đọc, đã nghe; thuyết minh về một đối tượng hay
    quy trình; biết cách nói thích hợp với mục đích, đối tượng và ngữ cảnh giao tiếp;
    biết sử dụng hình ảnh, kí hiệu, biểu đồ,… để trình bày vấn đề một cách hiệu quả;
    học sinh thực hành nghe hiểu với thái độ phù hợp và tóm tắt được nội dung; nhận
    biết và bước đầu đánh giá được lí lẽ, bằng chứng mà người nói sử dụng; nhận biết
    được cảm xúc của người nói; biết cách phản hồi những gì đã nghe một cách hiệu
    quả.
  • Cấp THPT: học sinh biết tranh luận về những vấn đề tồn tại các quan điểm
    trái ngược nhau; có thái độ cầu thị và văn hoá tranh luận phù hợp; có khả năng nghe
    thuyết trình và đánh giá được nội dung và hình thức biểu đạt của bài thuyết trình;
    có hứng thú thể hiện chủ kiến, cá tính trong tranh luận; trình bày vấn đề khoa học
    một cách tự tin, có sức thuyết phục; nói và nghe linh hoạt; nắm được phương pháp,
    quy trình tiến hành một cuộc tranh luận.
    Như vậy, năng lực ngôn ngữ là một năng lực tổng hợp trên cơ sở những biểu
    hiện của bốn yếu tố đọc, viết, nghe, nói cấu thành. Các yếu tố đó có mối quan
    hệ chặt chẽ, thúc đẩy và tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, tạo nên tính toàn diện
    năng lực đặc thù của môn Ngữ văn.
    II.2.3. Giải pháp nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho HS THPT trong
    dạy học Ngữ văn
    II.2.3.1. Giải pháp 1: Rèn luyện năng lực ngôn ngữ cho HS thông qua các
    phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực.
  • Rèn luyện năng lực ngôn ngữ cho HS thông qua các phương pháp dạy học tích
    cực.
  • Dạy học dựa trên dự án góp phần phát triển cho người học một số phẩm chất
    chủ yếu: trách nhiệm, trung thực, chăm chỉ; năng lực chung: tự chủ và tự học, giải
    quyết vấn đề và sáng tạo, giao tiếp và hợp tác và các năng lực đặc thù: ngôn ngữ,
    văn học… thông qua các kĩ năng đọc, viết, nói, nghe. Với việc thực hiện các sản
    phẩm học tập bằng các hoạt động cụ thể liên quan đến đọc, viết, nói và nghe, HS
    sẽ có cơ hội hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học.
    10
  • Dạy học hợp tác: Sử dụng dạy học hợp tác trong môn Ngữ văn không chỉ tạo điều
    kiện phát triển NL giao tiếp và hợp tác cho HS mà còn đem đến cho HS nhiều cơ
    hội để hình thành và phát triển NL đặc thù. Dạy học Ngữ văn là dạy đọc, viết, nghe
    và nói. Với dạy đọc, quá trình đọc văn bản là một quá trình tương tác. Vì thế, GV
    phải tổ chức môi trường phù hợp để HS tương tác, chia sẻ với nhau, từ đó phát triển
    được NL văn học và cả NL ngôn ngữ. Với dạy nói và nghe thì việc tổ chức học tập
    hợp tác cũng phù hợp để HS có cơ hội chia sẻ, luyện nói và nghe, từ đó phát triển
    NL ngôn ngữ và NL văn học.
  • Dạy học giải quyết vấn đề : Trong môn Ngữ văn, dạy học giải quyết vấn đề có
    thể được sử dụng để dạy cả đọc, viết, nói và nghe, Tiếng Việt. Khi tham gia giải
    quyết vấn đề, HS có cơ hội để phát triển những năng lực chung như: giải quyết vấn
    đề và sáng tạo, tự chủ và tự học nếu các em tự lực tham gia và lập kế hoạch giải
    quyết vấn đề. Ngoài ra, nếu dạy học giải quyết vấn đề được tổ chức kết hợp với dạy
    học hợp tác thì HS sẽ có thêm cơ hội để phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác. Còn
    về năng lực đặc thù, trong quá trình tham gia giải quyết vấn đề của môn Ngữ văn,
    HS sẽ được phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học.
  • Rèn luyện năng lực ngôn ngữ cho HS thông qua kĩ thuật dạy học tích cực
    Kĩ thuật sơ đồ tư duy
    VD: Sơ đồ tư duy khi dạy Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ:
    11
    Kĩ thuật khăn trải bàn: Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. HS điền vào các
    ô trống nhân tố giao tiếp liên quan đến nội dung câu hỏi trong bài học
    Kĩ thuật KWL :
    Kĩ thuật KWL (Know – Want – Learn) là cách thức tổ chức hoạt động học tập
    trong đó bắt đầu bằng việc HS sử dụng bảng KWL để viết tất cả những điều đã biết
    và muốn biết liên quan đến vấn đề, chủ đề học tập. Trong và sau quá trình học tập,
    HS sẽ tự trả lời về những câu hỏi muốn biết và ghi nhận lại những điều đã học vào
    bảng.
    Sau khi học xong bài hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ HS sẽ trả lời qua bảng
    KWL:
    Bảng KWLH
    K W L H
    Liệt kê những điều
    em đã biết về….
    Liệt kê những điều
    em muốn biết
    thêm về…
    Liệt kê những điều
    em đã học được
    về…
    Các em sẽ tiếp tục
    tìm hiểu như thế
    nào?
    12
    II.2.3.2. Giải pháp 2: Rèn luyện ngôn ngữ cho HS thông qua hình thức sân khấu
    hóa
    Sân khấu hóa chính là một hình thức trải nghiệm. Trải nghiệm là hoạt động
    gắn với thực tiễn, thông qua thực tiễn để hình thành nên những khối kiến thức mới,
    những cảm xúc mới và những kĩ năng mới, hoạt động trải nghiệm có thể được hiểu
    như một hình thức tổ chức giáo dục; một nội dung giáo dục; bản chất của một hoạt
    động hay tương đương một môn học trong chương trình… Nếu coi , hoạt động trải
    nghiệm là một hình thức tổ chức hoạt động dạy học thì đây là hoạt động mà HS
    được tham gia trực tiếp để chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo; hình
    thành và phát triển năng lực của bản thân…
    Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, hoạt động trải nghiệm sẽ tạo cơ
    hội cho HS huy động, tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học, các lĩnh vực
    giáo dục khác nhau để có thể trải nghiệm thực tiễn trong nhà trường, gia đình và
    xã hội; đồng thời giúp các em có cơ hội để tham gia các hoạt động phục vụ cộng
    đồng và hoạt động hướng nghiệp. Đặc biệt, tất cả các hoạt động này phải dưới sự
    hướng dẫn, tổ chức của nhà giáo dục; qua đó, hình thành những phẩm chất chủ yếu,
    những năng lực chung đã được xác định trong chương trình giáo dục phổ thông
    tổng thể. Phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh chính là hướng dẫn HS đạt đến
    các chuẩn như yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới.
    Ví dụ khi dạy Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ GV cho HS xem phần cuối tác
    phẩm Chí Phèo của Nam Cao. HS sẽ sân khấu hóa thông qua các nhân tố tham gia
    giao tiếp (Phụ lục IV)
  • HS xác đinh: Nhận vật: bá Kiến, Chí Phèo,
    Hoàn cảnh: Nhà Bá Kiến, Chí Phèo say rượu
    Mục đích: Chí đòi lương thiện
    Nội dung: Chí Phèo uống rượu say, đến nhà Bá Kiến đòi lương thiện rồi giết chết
    Bá Kiến và tự sát
    Phương tiện ngôn ngữ: Giọng điệu, dấu câu, kiểu câu…
    Khi học sinh thực hiện sân khấu hóa đoạn đối thoại trên giữa hai nhân vật, cả
    lớp quan sát cử chỉ, hành động, ngôn ngữ, nụ cười, nét mặt, á

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ