âm thanh lớp học, loa trợ giảng

SKKN Một số mẹo nhỏ giúp HS học tốt môn hình học lớp 6

SKKN Một số mẹo nhỏ giúp HS học tốt môn hình học lớp 6

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
1.Cơ sở lí luận:
-Hình học lớp 6 là phần chuyển tiếp từ giai đoạn học hình học bằng quan sát,
thực nghiệm ở bậc Tiểu học sang giai đoạn tiếp thu kiến thức bằng suy diễn,lập
luận chặt chẽ lô gic ở cấp THCS.
-Ở lớp 6.Về kiến thức, kỹ năng, thái độ theo yêu cầu của Bộ giáo dục: Học sinh
nhận thức các hình và các mối quan hệ hình học bằng mô tả trực quan với sự hỗ
trợ của trực giác, của tưởng tượng là chủ yếu. Từ trực quan, học sinh phải đi đến
khái niệm hình hình học. Từ quan hệ trực quan đo đạc, quan sát, thực nghiệm, đo
đoạn thẳng, đo góc… học sinh phải hiểu được các quan hệ trừu tượng xây dựng
được khái niệm các hình hình học trong hình học.
-Môn Hình học lớp 6 có hai chương :
+Chương I: Đoạn thẳng;
+Chương II:Góc
-Tổng số tiết : 29t
Mục đích của môn hình học 6 nhằm trang bị cho học sinh chuân kiến thức
về điểm, đường thẳng; ba điểm thẳng hàng, đường thẳng đi qua hai điểm; tia, đoạn
thẳng; độ dài đoạn thẳng; trung điểm của đoạn thẳng; nửa mặt phẳng; góc; số đo
góc; tia phân giác của một góc; đường tron; tam giác. Cung với các nội dung
chuân kiến thức nêu trên, trong chương trình con đưa ra một số dạng bài tập để
ren kĩ năng , yêu cầu mức độ chuân học sinh cần đạt được.
Do đó, việc ren luyện kĩ năng tìm lời giải các bài toán hình học là rất cần
thiết cho việc học tập bộ môn; đồng thời cũng là để chuân bị các kĩ năng cần thiết
cho việc tiếp thu kiến thức hình học ở các lớp trên. Đây là kĩ năng cơ bản, rất cần
thiết khi học bộ môn hình học THCS nói chung và môn hình học 6 nói riêng, kĩ
năng này giúp học sinh biết dựa vào yêu cầu của đề bài, chuân kiến thức đã được
học, vận dụng các thao tác tư duy để tìm ra lời giải của bài toán….; đây cũng là nội
dung chính trong các tiết luyện tập và thực hành.
Mặt khác, với học sinh lớp 6, bước đầu làm quen với môn hình học phẳng,
việc tiếp thu chuân kiến thức môn hình học bước đầu cũng con nhiều khó khăn. Đa
số các em học sinh có kĩ năng tìm lời giải các bài toán hình học chưa thành thạo từ
việc đọc ky đề bài, sử dụng dụng cụ vẽ hình đúng theo đề bài, khả năng phân tích,
suy luận yếu…, học sinh thường lúng túng không biết để tìm lời giải của bài toán
phải băt đầu từ đâu và làm như thế nào ?. Mỗi lần như vậy, giáo viên lại phải
2
hướng dân HS từng bước tỉ mỉ, điều đó vừa chiếm nhiều thời gian của tiết học; học
sinh lại không có sự độc lập, chủ động, sáng tạo trong giải toán; thường là hết giờ
học sinh phải về nhà hoàn thiện lời giải.Là giáo viên được phân công dạy môn
toán 6 trong nhiều năm tôi nhận thấy học sinh con nhiều khó khăn khi học môn
Hình học lớp 6 bởi học sinh con bỡ ngỡ khi mới vừa từ tiểu học chuyển lên.Cụ
thể tôi nhận thấy học sinh con nhiều khó khăn như :
– Việc năm các khái niệm, tính chất hình học ban đầu đối với các em con chậm
(các em mới được học môn hình học ở đầu năm lớp 6 ).
– Khâu vẽ hình, ghi các kí hiệu toán học con tuy tiện chưa hiểu bản chất; nhiều em
không biết vẽ hình, chưa biết sử dụng thước thẳng com pa.
– Số đông HS đọc các thuật ngữ toán học chưa được, chưa chính xác, chưa biết
trình bày bài làm.
– Hầu hết các tiết trong phân phối chương trình là tiết lí thuyết.Việc luyện tập, vận
dụng kiến thức được ghép trong 1 tiết với lí thuyết nên cần có biện pháp giúp HS
hiểu nhanh nội dung bài mới để có thời gian luyện tập,ren kĩ năng làm bài.
2.Cơ sở thực tế
a,Cơ sở khoa học:
Để đáp ứng được những đoi hỏi mới được đặt ra cho sự bung nổ kiến thức
và sáng tạo kiến thức mới, cần phải phát triển năng lực tư duy, năng lực giải quyết
vấn đề và tính sáng tạo … Các năng lực này có thể quy gọn về năng lực giải quyết
vấn đề. Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập
chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động.
Khả năng giáo dục của môn Toán rất to lớn, nó có khả năng phát triển tư
duy lôgíc, khái quát hoá, phân tích ,tổng hợp, so sánh, dự đoán, chứng minh và bác
bỏ. Nó con có vai tro ren luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận,…
Với bộ môn hình học ở bậc trung học cơ sở càng có ý nghĩa quan trọng: là
môn khoa học ren luyện cho học sinh khả năng đo đạc, tính toán, suy luận logíc,
phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh; luyện tính độc lập, sáng tạo linh hoạt
trong cách tìm lời giải bài tập toán. Do đó, việc ren ky năng tìm lời giải bài toán
hình học và một số mẹo nhỏ giúp học sinh ghi nhớ khi làm một bài toán hình học
là rất cần thiết, nhằm mục đích phát triển cho học sinh đầy đủ các yếu tố nêu trên.
b,Cơ sở pháp lí:
-Nghị quyết hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ưng Đảng Cộng Sản
Việt Nam (khoá VII, 1993) đã chỉ ra:
3
-Mục tiêu GD – ĐT phải hướng vào đào tạo những con người lao động, tự
chủ, sáng tạo có năng lực giải quyết những vấn đề thường gặp, qua đó mà góp
phần tích cực thực hiện mục tiêu lớn của đất nước là dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng văn minh.
-Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản
Việt Nam (khóa VIII, 1996) khẳng định rõ hơn. Cuộc cách mạng về phương pháp
giáo dục phải hướng vào người học, ren luyện và phát triển khả năng suy nghĩ, khả
năng giải quyết vấn đề một cách năng động, độc lập sáng tạo ngay trong quá trình
học tập ở nhà trường phổ thông…. Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại
để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề.
-Nghị quyết TW2 khoá VIII tiếp tục khẳng định phải: “Đổi mới phương
pháp giáo dục đào tạo, khăc phục lối truyền thụ một chiều, ren luyện thành nếp tư
duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và
phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học,
tự nghiên cứu cho học sinh”.
– Căn cứ vào (Điều 29 luật GD năm 2020)
+Giáo dục phổ thông nhằm phát triển toàn diện cho người học về đạo đức,
trí tuệ, thể chất, thâm my, ky năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng
động và sáng tạo; hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa và
trách nhiệm công dân; chuân bị cho người học tiếp tục học chương trình giáo dục
đại học, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.
+ Giáo dục trung học cơ sở nhằm củng cố và phát triển kết quả của giáo dục
tiểu học; bảo đảm cho học sinh có học vấn phổ thông nền tảng, hiểu biết cần thiết
tối thiểu về ky thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông hoặc
chương trình giáo dục nghề nghiệp.
-Căn cứ vào nhiệm vụ năm học 2020-2021
+ Đồng thời, thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển
phâm chất, năng lực của học sinh; tinh giản nội dung dạy học; đây mạnh giáo dục
STEM trong bậc phổ thông; đổi mới kiểm tra, đánh giá găn với lộ trình thực hiện
chương trình giáo dục phổ thông mới.
Điểu 23.2. Luật giáo dục viết: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát
huy tính tích cực tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phu hợp với đặc điểm
của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, ren luyện ky năng vận
dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú
học tập cho học sinh”.
– Căn cứ vào chỉ thị số 3004/CT-BGD&ĐT về thực hiện nhiệm vụ năm học
trong đó có nội dung: “Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, nâng cao
4
chất lượng dạy và học”, thực hiện phong trào thi đua: “Mỗi thầy giáo, cô giáo là
một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”.
Vì vậy tôi xin trình bày bản báo cáo sáng kiến kinh nghiệm về “Một số biện
pháp giúp học sinh học tốt môn hình học lớp 6”
II.MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1. Giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
*Về phía học sinh :
Qua cả hai chương của môn hình học 6 học sinh cần:
– Năm được các khái niệm ban đầu của hình học: Điểm, đường thẳng,tia ,đoạn
thẳng, trung điểm của đoạn thẳng. Nửa mặt phẳng; góc; số đo góc; tia phân giác
của một góc; đường tron; tam giác.
– Năm được một số tính chất: Độ dài đoạn thẳng,bất kì điểm nào nằm trên mặt
phẳng cũng là gốc chung của hai tia đối nhau,bất kì đường thẳng nào nằm trên mặt
phẳng cũng là bờ chung của hai nửa mặt phẳng đối nhau,tính chất của hai góc kề
bù…
– Năm các quan hệ: Điểm thuộc, không thuộc đường thẳng, điểm nằm giữa hai
điểm, hai đoạn thẳng bằng nhau.Tia nằm giữa hai tia,tia nằm trong góc,tia căt đoạn
thẳng ,tia căt đường thẳng,điểm thuộc đường tron,điểm không thuộc đường tron.
Quan hệ giữa hai góc :hai góc phụ nhau , hai góc kề nhau,hai góc bu nhau ,hai góc
kề bu.
– Sử dụng được các dụng cụ đo, vẽ: Thước thẳng, thước có chia khoảng, compa.
– Kĩ năng vẽ: Điểm, đường thẳng, tia, đoạn thẳng, trung điểm của đoạn thẳng,vẽ tia
phân giác của một góc,vẽ tam giác…
– Kĩ năng đo đoạn thẳng,đo góc biết đọc và gọi ,góc,tia chính xác.
-Vận dụng kiến thức của cả hai chương để giải quyết các bài tập nâng cao.
*Về phía giáo viên:
– Khi dạy khái niệm các hình hình học như điểm, đường thẳng, tia, đoạn thẳng,
góc…
Dạy các tính chất hình học mặc du GV đã cho HS quan sát, thử nghiệm, đo đạc,
vẽ, nêu nhận xét đi đến kiến thức mới nhưng việc năm các kiến thức vân con
chậm, chưa chăc chăn, chưa hiểu rõ vấn đề.Cần có biện pháp cho HS được thực
hành nhiều hơn để các em có điều kiện tiếp cận với các hình hình học.
– Trong các tiết học, không có nhiều thời gian để củng cố luyện tập du giáo viên
đã cố găng chọn lọc các bài tập từ sách giáo khoa và không để HS giải tràn lan.
– Với học sinh khối 6, tuy cảm nhận được kiến thức nhưng không chăc, ky năng
ghi lời giải chưa có hoặc khó khăn khi ghi lời giải, bởi các em quen hiểu đơn giản
5
như ở tiểu học chỉ cần nhận biết không lập luận hoặc chỉ cần đếm số lượng không
giải thích.
– Nhiều học sinh dung kí hiệu hình học tuy tiện không chính xác chẳng hạn như
giữa chữ cái in thường và in hoa.
– Nhiều học sinh đọc góc con sai chưa đúng đỉnh,
-Nhiều học sinh vẽ hình chưa chính xác.
– Ky năng đọc hình con yếu,con nhầm lân
2.Giải pháp sau khi có sáng kiến
Về nội dung và phương pháp giảng dạy sách giáo viên, sách giáo khoa và sách bài
tập cũng có một số định hướng về phương pháp và nội dung các bài tập. Tuy nhiên
do thực tế từng lớp mà GV chọn lọc phương pháp giảng dạy hợp lí để giúp HS
hiểu và vận dụng tốt hơn thông qua một số biện pháp.
– Cho học sinh quan sát các hình với sự trợ giúp của thầy để nhận biết các khái
niệm hình.
– Cho học sinh thực hiện các thao tác cụ thể như vẽ hình, đo đạc để nhận biết các
tính chất hình học.
– Thực hiện các bài tập ở sách giáo khoa và sách bài tập để củng cố, khăc sâu
kiến thức.
– Giao thêm bài tập nâng cao ở các buổi bồi giỏi.
-Dựa trên cơ sở chỉ đạo dạy học theo chương trình sách giáo khoa.
-Dựa vào thực trạng đã nêu trên.
-Xét tình hình thực tế của lớp 6A năm học 2020-2021 là lớp chọn của khối với sĩ
số là 38 học sinh tôi nhận thấy lớp có số học sinh khá trở lên nhiều nhưng trong số
đó cũng không mấy học sinh giỏi bộ môn toán, ngoài ra vân con nhiều học sinh
nhận thức chậm bộ môn toán học chưa đồng đều giữa các bộ môn.
Cần tăng cường sự tích cực của học sinh hơn qua một số biện pháp
2.1, Biện pháp 1: Giáo viên tổ chức cho học sinh tự hoạt động để nắm chắc kiến
thức:
Quan điểm dạy học mới là giáo viên tổ chức cho học sinh tự hoạt động ở từng
tiết học sinh đều tự hoạt động. Riêng với học sinh khối 6, việc năm các khái niệm,
tính chất có khó khăn: mới mẻ, tưởng tượng con chậm. Giáo viên cần chờ học
sinh, cho học sinh từng bước được vẽ các “sản phẩm hình học của mình” tự tay đo
đạc, thực hành gấp giấy…
Ví dụ:Dạy khái niệm về điểm, đường thẳng,
Sau khi giáo viên giới thiệu các khái niệm cơ bản của chương, về phương pháp
có thể thực hiện:
1.Điểm:
6
HS:
– Cho tất cả các học sinh dung đầu mực chấm vào trang giấy.
– Cho HS lên bảng chấm đầu phấn lên bảng.
GV: Giới thiệu hình ảnh của điểm.
HS:
– Cho HS chấm nhiều điểm lên trang giấy để có nhu cầu đặt tên cho điểm.
– Cho HS tự nghiên cứu cách đặt tên cho điểm, tự đặt tên cho các điểm trên trang
giấy của mình, lên bảng đặt tên cho các điểm ở bảng.HS nhận xét.
GV giới thiệu các khái niệm khác: Hai điểm trung nhau, hai điểm phân biệt, tập
hợp điểm, điểm cũng là một hình…
2. Đường thẳng:
HS:
– Cho tất cả các học sinh dung đầu mực vạch theo mép thước.
– Cho HS lên bảng dung đầu phấn vạch theo mép thước.
GV: Giới thiệu hình ảnh của đường thẳng
HS:
– Cho HS vẽ nhiều đường thẳng lên trang giấy để có nhu cầu đặt tên cho đường
thẳng
– Cho HS tự nghiên cứu cách đặt tên cho đường thẳng, tự đặt tên cho các đường
thẳng trên trang giấy của mình, lên bảng đặt tên cho các đường thẳng ở bảng.HS
nhận xét.
*Ví dụ : Dạy tính chất công nhận:“Có một và chỉ một đường thẳng qua hai điểm A
và B”
Giáo viên đặt vấn đề: Qua một điểm vẽ được bao nhiêu đường thẳng, qua hai
điểm vẽ được bao nhiêu đường thẳng?
GV: giới thiệu cách vẽ đường thẳng qua hai điểm A và B
HS: Cho HS hoạt động nhóm đôi
+ Nhóm đôi tự vẽ đường thẳng qua hai điểm A,B cho trước ở vở nhiều lần.
+ Gọi HS lên bảng vẽ đường thẳng qua hai điểm A và B cho trước:
– Một HS lên bảng
– Cho HS vẽ lần thứ hai lên bảng
– Cho HS vẽ lần thứ ba
– HS trả lời câu hỏi của thầy: Qua hai điểm cho trước vẽ được mấy đường thẳng?
– 100% HS có nhận xét và không thể nào quên tính chất công nhận: “Có một và
chỉ một đường thẳng đi qua hai điểm A và B”.Và để cho học sinh khăc sâu hơn
giáo viên có thể hỏi khi xếp hàng vào lớp để cho thẳng chúng ta phải làm gì?
Hs : Trả lời bạn đứng sau phải nhìn vào gáy của bạn đứng trước hoặc đặt tay lên
vai của người đứng trước.
3.Góc:
7
– Học sinh tự vẽ hình nêu rõ các yếu tố của góc như đỉnh, cạnh.
– Giáo viên lưu ý học sinh cách đọc góc chính xác, các cách đọc
4. Tia phân giác của một góc
Gv: Có thể hướng dân cho học sinh nhận biết tia phân giác bằng gấp giấy , vẽ tia
phân giác bằng thước đo góc, bằng thước hai lề, bằng com pa .Mặc du vẽ tia phân
giác bằng thước hai lề, bằng com pa lớp 7 học sinh mới được học và chứng minh
nhưng giáo viên có thể mạnh dạn đưa xuống lớp 6 nhưng không chứng minh cách
vẽ để học sinh có thể vẽ tia phân giác của một góc chưa biết số đo cho trước một
cách nhanh và chính xác.
-Hs : Thao tác vẽ theo sự hướng dân của giáo viên .
Kết quả:
Với biện pháp Tổ chức cho học sinh tự hoạt động để nắm chắc kiến thức như
đã nêu tôi nhận thấy có chuyển biến
– GV đỡ thuyết giảng, HS đỡ phải nghe nhiều
– HS năm các khái niệm, tính chất nhanh, chăc
– Đỡ tốn thời gian năm lí thuyết ở mỗi tiết để tăng thời gian thực hành, luyện tập
2.2,Biện pháp2: Chú trọng củng cố kiến thức thông qua việc dùng ngôn ngữ.
*Ví dụ minh họa:
Bài 1: Điền vào chỗ trống các phát biểu sau để được một câu đúng :
a) Hình gồm hai tia chung gốc Ox, Oy là ……..Điểm O là …….Hai tia Ox, Oy
là ……………….
b) Góc RST có đỉnh là ………………… có hai cạnh là ……………………………..
c) Góc bẹt là góc có …………………………………………………………………………..
d) Nếu tia OI nằm giữa hai tia OM và ON thì ……………………………………….
e) Nếu
 2
 
 
xOy
xOt t Oy

thì ……………………………………………………….

Bài 2: Các câu sau đúng hay sai, nếu sai sửa lại cho đúng :
a) Góc là hình tạo bởi hai tia căt nhau.
b) Góc bẹt là góc có số đo lớn hơn 900.

c) Nếu Oz là tia phân giác của góc xOy thì

x O z  z Oy 
d) Nếu x O z  z Oy  thì Oz là tia phân giác của góc xOy.
e) Góc vuông là góc có số đo bằng 900.
f) Hai góc kề nhau là hai góc có một cạnh chung .
g) Hai góc phụ nhau nếu tổng của chúng bằng 900.
Kết quả: Qua việc chú trọng củng cố kiến thức thông qua việc dung ngôn ngữ đã
giúp học sinh được làm quen và sử dụng thành thạo các ngôn ngữ hình học có liên
quan, củng cố kiến thức hình học đã học,tự tin khi giao tiếp.
8
2.3,Biện pháp 3: Dùng màu sắc giúp HS tiếp thu kiến thức dễ dàng
Sách hướng dân đã có gợi ý là dung phấn màu để giúp HS phân biệt các hình.
Trong giảng dạy GV có thể sử dụng phấn màu hợp lí hoặc tô đậm,tô màu khi dạy
học trình chiếu để giúp HS thấy nhanh các hình hình học.Có thể sử dụng phấn màu
khi dạy ở một số nội dung:
* Ví dụ: Dạy khái niệm về điểm, đường thẳng,tia , đoạn thẳng.:
Khi giáo viên cho học sinh vẽ các điểm phân biệt, các đường thẳng phân biệt trên
giấy có thể cho các em vẽ mỗi điểm một màu, mỗi đường thẳng một màu.
* Ví dụ: Dạy tính chất :“Có một và chỉ một đường thẳng qua hai điểm A và B”
GV cho HS dung 3 màu mực để vẽ 3 lần, cho HS hợp tác nhóm (nhóm đôi hoặc
nhóm ba )
HS 1 vẽ bằng một màu mực đường thẳng qua hai điểm A và B.
HS 2 vẽ đường thẳng qua hai điểm A và B bằng một màu mực khác màu với màu
mà HS 1 đã vẽ.
HS 3 vẽ bằng một màu mực khác màu với màu HS1,HS2 đã vẽ đường thẳng qua
hai điểm A và B.
Qua ba lần vẽ đường thẳng qua hai điểm A và B cho trước bằng ba màu mực
khác nhau HS dễ nhận ra tính chất “Có một và chỉ một đường thẳng qua hai điểm
A và B”
* Ví dụ: Dạy khái niệm tia,tia đối nhau,tia trùng nhau.
GV dung phấn trăng vẽ đường thẳng xy, lấy điểm O trên đường thẳng xy với màu
trăng.
GV dung phấn màu vẽ hai phần đường thẳng bị chia bởi điểm O bằng hai màu
khác nhau, khác màu của đường thẳng xy và điểm O để giúp HS năm khái niệm
tia, hai tia đối nhau một cách nhanh chóng.
-Nếu dung trình chiếu cũng tô màu tương tự
* Ví dụ: Dạy khái niệm đoạn thẳng
GV dung phấn trăng chấm hai điểm A, B
GV đặt cạnh thước qua hai điểm A và B
GV dung phấn màu vạch theo cạnh thước từ A đến B để biểu diễn tất cả các điểm
nằm giữa hai điểm A và B.
* Ví dụ: Dạy khái niệm trung điểm của đoạn thẳng:
Dung hai màu phấn khác nhau để vẽ hai đoạn thẳng MA, MB khi môt tả điểm
M là trung điểm của đoạn thẳng AB
* Ví dụ: Khi dạy về đoạn thẳng căt đoạn thẳng ,căt tia,căt đường thẳng giáo viên tô
đậm các giao điểm để học sinh nhận biết rõ điểm chung.
* Ví dụ: Khi dạy sang chương II giáo viên có thể dung phấn màu tô đậm các vong
cung chỉ góc để học sinh dễ nhận biết ,tô đậm tia phân giác của một góc ,tô đậm
9
đường tron và hình tron để học sinh phân biệt rõ hình tron và đường tron tránh sự
hiểu nhầm đường tron và hình tron là một.
Kết quả:
-Với các màu khác nhau trong hình giúp HS dễ nhận thấy các khái niệm hình, tính
chất giúp giảm phần thuyết giảng của thầy, tiết kiệm được thời gian.
– Mặt khác với biện pháp Dùng màu sắc giúp HS tiếp thu kiến thức dễ dàng như
đã nêu tôi nhận thấy có hiệu quả cụ thể:
+ GV đỡ thuyết giảng, HS đỡ phải nghe nhiều
+HS năm các khái niệm một cách trực quan hơn,
2.4 ,Biện pháp 4: Chú trọng rèn kỹ năng sử dụng kí hiệu hình học chính xác
-Khi học chương này học sinh hay dung kí hiệu sai chẳng hạn như kí hiệu điểm
bằng chữ cái in thường hoặc dung các kí hiệu chứa “  ” hoặc không chứa “ ”
trong để chỉ mối quan hệ giữa điểm thuộc ““hay không thuộc “” đường thẳng.
*Ví dụ: -Khi dạy về chủ đề điểm, đường thẳng
Giáo viên cần lưu ý cho học sinh:
-Dung chữ cái in hoa như A,B,C…để đạt tên cho điểm.
-Dung chữ cái in thường và in hoa đặt tên cho đường thẳng(có 3 cách)
+Dung một chữ cái in thường như a,b,c…
+Dung hai chữ cái in thường chẳng hạn như xy,uv…
+Dung hai chữ cái in hoa như
AB,CD…
-Khi dạy về mối quan hệ giữa điểm và đường thẳng cần lưu ý cho học sinh phân
biệt rõ kí hiệu điểm thuộc hay không thuộc đường thẳng.
-Khi dạy về bài :Trung điểm của đoạn thẳng giáo viên lưu ý kí hiệu những đoạn
thẳng bằng nhau bởi những kí hiệu giống nhau.
– Khi dạy về góc giáo viên lưu ý các góc bằng nhau được kí hiệu bởi những vong
cung giống nhau.
Kết quả : Khi chú trọngren kĩ năng sử dụng kí hiệu hình học chính xác thì bước
đầu giúp học sinh nhìn hình thấy ngay những điều đã biết đã cho từ đó tìm hướng
giải cho bài toán.
2.5,Biện pháp 5: Rèn kĩ năng đọc vẽ hình chính xác
Thực tế học sinh con rất yếu khi vẽ hình theo diễn đạt bằng lời . Mặc du các em đã
được hướng dân các hình vẽ cơ bản nhưng khi vẽ hình vân chưa tốt. Bởi các em
con măc một số các sai lầm sau :
+ Đọc đề bài sai
+Đọc đề bài không đầy đủ
+ Không phân tích được các mối liên của đề bài
10
+ Thường làm theo kiểu hiểu sao vẽ vậy
+ Không nhớ các hình vẽ cơ bản
– Việc vẽ hình theo diễn đạt bằng lời đoi hỏi ở học sinh phải biết tư duy sáng tạo
cân thận tỉ mỉ thì sẽ dễ dàng thực hiện được
– Cái khó của việc vẽ hình ở học sinh không phải là không biết vẽ hình mà là
không hiểu các yêu cầu các mối liên hệ của đề bài.
– Bởi vậy giáo viên cần lưu ý cho học sinh:
*Đọc đúng ,đầy đủ nội dung đề bài
– Đây là yêu cầu không khó đối với học sinh nhưng giáo viên cần chú ý lăng nghe
và nhăc nhở kịp thời khi học sinh đọc sai không đầy đủ ,cần nhấn mạnh các thuật
ngữ mới để học sinh đọc đúng và nhớ lâu.
* Đi sâu phân tích các mối liên hệ
-Cái gì vẽ trước, cái gì vẽ sau ,những bộ phận nào có liên quan .
– Phân tích các mối liên hệ là một bước rất quan trọng để giúp học sinh vẽ hình
theo cách diễn đạt tốt. Chỉ cần học sinh năm vững bước này thì việc vẽ hình không
con là khó khăn đối với các em
* Ví dụ minh họa
Bài 1:
Vẽ 4 tia chung gốc OA, OB, OC, OD. Hãy kể tên các góc có trong hình vẽ. Có tất
cả bao nhiêu góc?
Hướng dẫn:
Các góc trong hình vẽ :
Góc aOb, góc bOc, góc cOd, góc aOc, góc aOd,
góc bOd.
Có tất cả 6 góc.
Bài 2 : Vẽ góc vuông BAC.

Hướng dân :Cách 1 : Dung thước đo góc (cách vẽ tương tự bài 1)
Cách 2 : Dùng êke.

Bài 3: Vẽ hình theo diễn đạt sau
a) M là giao điểm của hai đường thẳng p và q
b) Hai dường thẳng m và n căt nhau tại A , đường thẳng p căt đường thẳng n tại B
và căt m tại C
c) Đường thẳng MN và đường thẳng PQ căt nhau tại O
B
A C
11
Giải:
a) Yêu cầu học sinh đọc ky đề bài và phân tích cần vẽ trước cái gì ?Theo quán tính
học sinh thấy cái gì ghi trước thì vẽ trước và chỉ vẽ được điểm M đến khi vẽ hai
đường thẳng p và q thì lúng túng .Lúc đó giáo viên cần định hướng cho học sinh
giao điểm của hai đường thẳng là gì ? “Hai đường thẳng căt nhau tại một điểm
điểm đó gọi là giao điểmcủa hai đường thẳng”.khi đó học sinh sẽ vẽ được hình dễ
dàng
b) Với nội dung đầu thì tương tự như câu a ,nhưng với nội dung thứ 2 thì cần phân
tích rõ không yêu cầu vẽ trên cung một hình do đó đường thẳng p trong nội dung
này không phải là đường thẳng p trong câu a, cần chỉ mối quan hệ giữa p và m,n
từ đó học sinh vẽ được.
12
c) Cách vẽ tương tự câu a vân là hai đường thẳng căt nhau nhưng chỉ khác ở tên
gọi của các đường thẳng .Lưu ý cho học sinh là đường thẳng kéo dài được về hai
phía.
Bài 4: Lấy ba điểm A,B ,C không thẳng hàng. Vẽ hai tia AB,AC
a) Vẽ tia Ax căt đường thẳng BC tại điểm M nằm giữa B và C
b) Vẽ Tia Ay căt đường thẳng BC tại điểm N không nằm giữa B và C
Giải :
Trước khi vẽ giáo viên nhăc lại về ba điểm không thẳng hàng,cách vẽ tia giới
hạn bởi gốc và kéo dài về phía con lại .
a) Nội dung bài yêu cầu học sinh vẽ trên cung một hình .Nhưng để học sinh vẽ
chính xác cũng cần phân tích: “ Vẽ tia Ax căt đường thẳng BC…”nếu học
sinh chỉ đọc đến đây và thực hiện vẽ tia Ax căt đường thẳng BC thì sẽ có
trường hợp sai vì giao điểm M có thể không nằm giữa B và C vì vậy giáo
viên cấn lưu ý cho học sinh
13
b) Khi học sinh đã phân tích ky ở câu a thì câu b học sinh sẽ chú ý điểm N
không nằm giưa B và C
Bài 5: Cho ba điểm A,B,C không thẳng hàng .Vẽ đường thẳng a căt các đoạn
thẳng AB,AC và không đi qua A,B,C
Giải :
Cũng giống như yêu cầu đầu tiên của bài tập 2 học sinh sẽ thực hiện lấy ba
điểm không thẳng hàng A,B,C được nhưng với yêu cầu tiếp theo học sinh có
thể nhầm lân giữa đoạn thẳng với đường thẳng hoặc không thực hiện được việc
vẽ đường thẳng a căt AB,AC.Lưu ý đoạn thẳng được giới hạn bởi hai đầu
mút,và đường thẳng a căt các đoạn thẳng AB,BC không đi qua A,B,C tức là
không căt tại các đầu mút.Như vậy học sinh sẽ vẽ được chính xác.
Bài 6.Vẽ hình theo diễn đạt:
Cho đoạn thẳng AB. Lấy điểm M nằm giữa hai điểm A và B, vẽ đường thẳng
xy qua điểm M; A; B không thuộc xy, trên tia Mx lấy điểm C, vẽ đường thẳng uv
qua điểm C sao cho uv căt đoạn thẳng AB tại điểm D nằm giữa hai điểm M và B.
14
-Kết quả: Khi chútrọng ren kĩ năng đọc vẽ hình chính xác sẽ giúp học sinh có ý
thức đọc kĩ đề bài sau đó vẽ hình theo trình tự ,không băt trước hình vẽ trên bảng
của giáo viên một cách thụ động.
2.6, Biện pháp 6:Giao bài tập trắc nghiệm để củng cố được nhiều kiến thức
-Trong điều kiện phân phối chương trình không bố trí tiết luyện tập sau mỗi tiết
học lí thuyết, ngoài việc tinh gọn nội dung phương pháp để dành thời gian luyện
tập giáo viên cần chọn bài tập để việc củng cố kiến thức được nhiều.
-Bài tập giúp giải quyết củng cố được nhiều kiến thức là bài tập trăc nghiệm sau
mỗi bài học.
-Ngoài việc chọn các bài tập ở sách giáo khoa ( theo dạng ) để củng cố giáo viên
có thể cho học sinhgiải thêm bài tập trăc nghiệm
-Thời gian để thực hiện các Bài tập trăc nghiệm là khả thi, có hiệu quả vì :
– GV soạn đề trước trên bảng phụ
– HS trả lời nhanh
– Ôn được nhiều kiến thức.
Một số bài tập được thực hiện sau mỗi tiết học trên lớp như sau:
Bài 1) cho hình vẽ: Ghi chữ Đ, S sau mỗi câu
1) A  b
2) Đường thẳng c đi qua điểm B
3) Đường thẳng c chứa điểm B
4) Điểm C thuộc đường thẳng c
5) Điểm B nằm trên ba đường thẳng b,c,d
6) B  a
7) C  a
8) Điểm C nằm ngoài đường thẳng b
9) Đường thẳng c không đi qua điểm B
10) Đường thẳng c không chứa điểm A
11) Điểm C không thuộc đường thẳng b
Bài 2) cho hình vẽ: Ghi chữ Đ, S sau mỗi câu:

1) Ba điểm A, B, C thẳng hàng
2) Ba điểm D, C, B thẳng hàng
d

3) Ba điểm D, C, A không thẳng hàng

4) Điểm C nằm giữa hai điểm D và B
5) Điểm B nằm giữa hai điểm C và A
6) Hai điểm B và C nằm cung phía đối với điểm D
bAD

C
a ∙
c
A B d
∙ B
a
c
C
15
7) Hai điểm B và D nằm cung phía đối với điểm C
8) Hai điểm B và D nằm cung phía đối với điểm A
9) Hai điểm B và C nằm khác phía đối với điểm A
10) Hai điểm B và D nằm khác phía đối với điểm C.
Bài 3) Cho ba điểm A, B, C thẳng hàng

Trên hình có mấy đường thẳng?1) Ba
2) Sáu

3) Hai
4) Một
Bài 4) Cho A, B, C cung thuộc đường thẳng xy.
Trên hình có bao nhiêu tia?
1) 12 ; 2) 10; 3) 6; 4) 3.
Bài 5) Cho A,B,C cung thuộc đường thẳng xy.
Trên hình có bao nhiêu đoạn thẳng ?
1) 12 ; 2) 10 ; 3) 6 ; 4) 3.
Bài 6) Dung mũi tên nối từ trái sang phải để có khẳng định đúng
Tia AB
Đoạn thẳng AB
Đường thẳng AB
Bài 7) Chọn câu đúng : Đoạn thẳng MN là hình có :

A. Hai điểm;B. Ba điểm;C. Một điểm;D. Vô số điểm.
Bài 8) Chọn câu đúng : Cho điểm E nằm giữa hai điểm A và B, AE = 3 cm;
AB = 5 cm. Tính được EB = ?∙ ∙ ∙
A E B

A. 8cm; B. 2cm; C. 3cm; D. Một đáp số khác .
Bài 9)
Cho ba điểm A, E, F cung nằm trên một đường thẳng nếu AE = 7cm,
AF = 2cm, EF = 5cm thì:
A. Điểm E nằm giữa hai điểm A và F;
∙ . .
∙ . .
∙ . .
A B C
∙ . .
∙ . .
∙ . .
x A B C y
∙ . .
∙ . .
∙ . .
x A B C y
A
A B
B
A B
∙ ∙
∙ ∙
∙ ∙

16
B. Điểm A nằm giữa hai điểm E và F;
C. Điểm F nằm giữa hai điểm A và E;
D. Không có điểm nào nằm giữa hai điểm con lại.
Bài 10) Cho hai điểm M và N cung thuộc tia Ox có OM = 2cm; ON = 5cm, ta có:
A. Điểm M nằm giữa hai điểm O và N;
B. Điểm N nằm giữa hai điểm O và M;
C. Điểm O nằm giữa hai điểm M và N.
Bài 11) Ghi chữ Đ hoặc S sau mỗi câu:
Cho đoạn thẳng AB = 6 cm.
A. Nếu điểm M là trung điểm của đoạn thẳng AB thì AM = 3cm;
B. Nếu AM = 3cm thì M là trung điểm của đoạn thẳng AB;
C. Nếu AM = MB = 3cm thì M là trung điểm của đoạn thẳng AB;
D. Nếu AM = MB thì M nằm giữa hai điểm A và B.
* GV có thể giao Bài tập trăc nghiệm sau sau khi học hết nội dung chương I.
Bài 12) Cho điểm E nằm giữa hai điểm F và D. Ghi chữ Đ hoặc S sau mỗi câu:
A. Ba điểm D, E, F thẳng hàng;
B. Hai điểm D và F nằm khác phía đối với điểm E;
C. Hai điểm D và E nằm khác phía đối với điểm F;
D.Hai điểm D và E nằm cung phía đối với điểm F;
E. DE < DF;
F.Điểm E nằm giữa hai điểm D và F;
G.Điểm E là trung điểm của đoạn thẳng DE nếu ED = EF;
H. ED = EF.
Kết quả : Qua biện pháp: Giao bài tập trắc nghiệm để củng cố được nhiều kiến
thức, tôi nhận thấy các em giải quyết bài tập rất nhanh không mất thời gian.Vận
dụng tổng hợp các kiến thức đã học , khăc sâu được các đơn vị kiến thức đã học.:
2.7, Biện pháp7 :Rèn kĩ năng đọc hình để củng cố kiến thức.
Ví dụ minh họa:
17
z
Bài 1: Quan sát các hình sau rồi điền vào bảng :
b)

HìnhTên góc
(cách viết thông
thường)
Tên đỉnhTên cạnhTên góc
(cách viết ký hiệu)
aGóc yAz, ………………….…………………………………
b………………….…………………………………
c………………….…………………………………

Bài 2:
Đọc tên và viết ký hiệu các góc ở hình sau?
Có tất cả bao nhiêu góc ?
Hướng dân:

Đọc têngóc AOBgóc BOCgóc OBA……….
Ký hiệu……….

AOB · BOC · OBA · P
A
T
y x
z
a) x y x c)
z x
A I
 C

B
 A
 O
18
s
.
Bài 3: Quan sát hình vẽ.
a) Ước lượng bằng măt số đo mỗi góc rồi ghi vào bảng.
b) Dung thước đo góc tìm số đo mỗi góc rồi ghi vào bảng.
c) Săp xếp các góc theo thứ tự lớn dần.

Tên gócSố đo góc
Ước lượng bằng mắtĐo bằng thước đo góc
xAy…………………………………………….
zBt…………………………………………….
…………………………………………………………….

Bài 4:
a) Đo các góc ở hình a, hình b, hình c, hình d.
b) Viết tên các cặp góc phụ nhau ở hình b.
c) Viết tên các cặp góc kề nhau, các cặp góc bu nhau ở hình d.
A
x
y
z B t
m
C
n
r D
O
y
z
x
a)
N d
a
b
c
b)
19
Hướng dẫn:
+Các cặp góc phụ nhau : Góc aOb và góc bOd, góc aOc và góc cOd.
+Các cặp góc kề nhau là: Góc xAb và góc bAc, góc bAc và góc cAy, …
+Các cặp góc bu nhau là: Góc xAc và góc cAy, góc xAb và góc bAy
Kết quả :
– Thông qua hình vẽ học sinh được tái hiện hình ảnh về góc.
– Học sinh biết phân biệt đỉnh, cạnh của góc.
– Học sinh biết viết ký hiệu góc, đọc số đo một góc.
– Học sinh biết sử dụng thước đo góc để đo góc.
– Học sinh biết nhận biết một góc vuông, góc bẹt, góc tu, góc nhọn bằng
trực quan và bằng sử dụng thước đo góc.
– Học sinh biết được hai góc kề nhau, hai góc phụ nhau, hai góc bu nhau,
hai góc kề bu.
2.8, Biện pháp 8
Chú trọng rèn luyện cho học sinh cách sử dụng đúng các dụng cụ vẽ
hình như: thước thăng có chia khoang,thước đo góc; com pa; (ê-ke khi cần
thiết) theo yêu câu của đề bài cụ thể:
-Ngay từ tiết học đầu tiên của năm học, giáo viên yêu cầu tới 100% HS phải
chuân bị đầy đủ các dụng cụ vẽ hình khi tới lớp, có hộp đựng hoặc túi để săn trong
cặp. Các dụng cụ gồm:thước thẳng có chia khoảng; thước đo góc; com pa; ê- ke;
bút chì, tây, máy tính bỏ túi (nếu có, vì điều kiện gia đình nhiều HS con khó khăn).
-Giáo viên kiểm tra dụng cụ chuân bị của HS và nhăc nhở những em con thiếu.
-Giáo viên hướng dân cụ thể cho HS ky năng cầm thước để vẽ hình, để đo góc như
thế nào cho chính xác… vì nếu HS không vẽ được hình đúng thì thông thường sẽ
không giải được bài tập hình, nhất là lại với đối tượng HS lớp 6 mới được làm quen
với môn Hình học ở cấp THCS.
x B z
y
c)
x A
b
c
y
d)
20
3
2,5 2
I R
T
-Khi ren ky năng vẽ hình cho HS, GV nhăc các em phải đọc kĩ và vẽ hình đúng, chính
xác theo yêu cầu của đề bài; hình vẽ ra nháp nên vẽ lớn một chút, nhất là cần phải rõ
ràng.
Ví dụ : Bài 47/Sgk Toán 6 tập 2-trang 95
Vẽ đoạn thẳng IR dài 3cm. Xác định một điểm T sao cho TI = 2,5 cm; TR =
2cm. Vẽ tam giác TIR.
GV ren ky năng qua việc hướng dân HS tìm lời giải như sau:
Yêu cầu học sinh đọc ky đề bài. Đề cho gì ? Đề hỏi gì ?
Hướng dân HS: vẽ đoạn thẳng IR = 3cm bằng cách như thế nào ?
Theo một trong hai cách:
Cách 1: dung thước có chia khoảng, (tương tự như đo đoạn thẳng)
Cách 2: dung com pa.
Bước tiếp theo, xác định điểm T sao cho TI = 2,5 cm; TR = 2cm như thế nào ?.
Vẽ cung tron (I; 2,5cm) và cung tron (R; 2cm), hai cung tron này căt nhau tại T
Hướng dân HS: Vẽ đoạn thẳng TI và TR ta có tam giác TIR.
Bài toán này thuộc dạng toán dựng hình: vẽ một tam giác khi cho biết độ dài
ba cạnh của tam giác ấy, ta tiến hành như sau:
-Vẽ một cạnh trước (nghĩa là vẽ được hai đỉnh của tam giác).
-Sau đó, vẽ hai cung tron có tâm lần lượt là hai đầu mút của đoạn thẳng đã
vẽ, hai bán kính lần lượt bằng độ dài hai cạnh con lại. Hai cung tron đó căt nhau tại
một điểm (nghĩa là vẽ được đỉnh thứ ba của tam giác)
-Nối điểm vừa mới vẽ với hai điểm mút của đoạn thẳng đã vẽ. Đó chính là
tam giác cần vẽ.
-Khi đã quen với bài toán dựng hình này, GV cho HS luyện tập các bài toán
tương tự như :
Bài 8 (trang 96- Sgk Toán 6 tập 2).
-Vẽ đoạn thẳng BC = 3,5cm. Vẽ một điểm A sao cho AB = 3cm, AC =
2,5cm. Vẽ tam giác ABC. Đo các góc của tam giác ABC.
-Mặc du, đây là bài toán dựng hình đơn giản nhất nhưng yêu cầu HS ngay từ
lớp 6 đã phải năm vững cách dựng; biết sử dụng thước có chia khoảng và compa
để vẽ tam giác theo các bước dựng trên; biết sử dụng thước đo góc để đo các góc
của tam giác…
21
4
O 2 A B x
Kết quả: Qua biện pháp này, giáo viên đã ren cho HS ky năng sử dụng dụng cụ
vẽ hình; “ngầm” ren cho HS biết cách dựng hình bằng phương pháp tương giao, là
phương pháp dựng hình được sử dụng trong chương trình hình học cấp THCS.
2.9, Biện pháp 9
Chú trọng rèn kĩ năng cho học sinh có phương pháp chung để giai một
bài toán hình học (theo 4 bước giải):
– Với mỗi bài toán đưa ra: giáo viên đưa ra đề bài, yêu cầu HS đọc ky đề bài, (đọc
nhâm ít nhất 2-3 lần), sau đó hướng dân HS tóm tăt đề, phân tích bài toán: phân
biệt rõ đề cho gì ? đề hỏi gì ?. Hình vẽ minh học ra sao? Sử dụng kí hiệu như thế
nào ? dung công thức, ký hiệu, hình vẽ để hỗ trợ cho việc diễn tả đề bài ra sao ?
-Xác định bài toán thuộc dạng toán nào ? (toán chứng minh hay toán tìm toi).
-Cần vận dung kiến thức gì đã được học để giải bài toán này?
+ Hướng dân HS phân tích, tìm toi, phát hiện cách giải nhờ những suy nghĩ có tính
chất tìm đoán: dựa vào các dữ kiện đề bài cho, từ đó suy ra được điều gì ? nghĩ
xem có tính chất hình học nào đã được học giống hoặc gần giống nội dung đề bài
không, (ở lớp 6 thông thường nhiều bài có nội dung cụ thể của tính chất HS được
học). Liên hệ bài toán đang cần giải với một bài toán tương tự đã biết cách giải; sử
dụng phương pháp phân tích ngược để tìm lời giải của bài toán.
+ Hướng dân HS trình bày lời giải bài toán bằng phương pháp tổng hợp.
+ Hướng dân HS tìm toi những cách giải khác, so sánh và chọn cách ngăn
gọn, hợp lý nhất
Ví dụ : Bài 60/Sgk Toán 6 tập 1-trang 125.
Trên tia Ox, vẽ hai điểm A, B sao cho OA = 2cm; OB = 4cm.
a/ Điểm A có nằm giữa hai điểm O và B không ?
b/ So sánh OA và AB.
c/ Điểm A có là trung điểm của đoạn thẳng OB không? Vì sao ?
GV ren ky năng qua việc hướng dân HS tìm lời giải:
Bước 1: Tìm hiểu nội dung đề bài
Yêu cầu học sinh đọc đề. Đề cho gì ?
Đề hỏi gì ?
Yêu cầu học sinh vẽ hình theo đề bài cho.
Bước 2: Tìm toi lời giải
22
a/ Điểm A có nằm giữa hai điểm O và B không ?
Trên tia Ox, có hai điểm A, B; OA = 2cm < OB = 4cm, từ đó ta suy ra điều gì ?
b/ Muốn so sánh OA và AB ta làm như thế nào ? biết OA = 2cm.
Hãy tính AB ?
. Điểm A nằm giữa O và B thì ta suy ra điều gì ?
. OA + AB = OB, mà OB = 4cm, OA = 2cm, nên A B= ?
. Vậy OB như thế nào với AB ?
c/ Điểm A có là trung điểm của đoạn thẳng OB không? Vì sao ?
Điểm A nằm giữa hai điểm O và B và OA = AB, từ đó ta suy ra điều gì ?
Bước 3: Trình bày lời giải
GV yêu cầu một HS lên bảng trình bày bảng lời giải, sau đó GV cho HS
dưới lớp nhận xét lời giải trên bảng; tiếp theo GV nhận xét sửa sai cho HS (nếu
có), chuân hóa lời giải, từ đó giúp học sinh tự đánh giá kết quả bài giải của mình;
biết cách trình bày lời giải và năm được quá trình suy luận khi giải bài toán.
Qua bài toán, GV con ren luyện cho HS ky năng lập luận để tìm lời giải bài
toán; có căn cứ để khẳng định một điểm nằm giữa hai điểm và từ có điểm nằm
giữa hai điểm suy ra đẳng thức, từ đẳng thức tìm được độ dài đoạn thẳng để so
sánh…Chẳng hạn:
Lời giải: a/ Trên tia Ox, ta có OA < OB, (2cm< 4cm). Suy ra điểm A nằm
giữa O và B, (1).
b/ Điểm A nằm giữa O và B nên: OA + AB = OB  2 + AB = 4
 AB = 4 – 2 = 2 (cm)
Vậy, OA = AB, (2)
c/ Từ (1) và (2) suy ra điểm A là trung điểm của OB.
Bước 4: Nghiên cứu sâu lời giải
Lấy điểm C trên tia Ox sao cho OC = 6cm. Trong ba điểm A,B, C điểm nào
nằm giữa hai điểm con lại ? Vì sao ?
Lấy một điểm D trên tia Ox’ là tia đối của tia Ox sao cho OD = 2cm.Điểm D
là trung điểm của đoạn thẳng? Vì sao ?…
GV cho HS luyện tập thêm để ren ky năng bằng cách giải các bài toán tương tự
như bài 61, 64 (Toán 6 tập 1)
23
Kết quả: Qua biện pháp này học sinh tự tin hơn khi giải quyết một bài toán hình
học.
2.10, Biện pháp 10:
Chú trọng rèn luyện cho học sinh có kỹ năng tìm toi lơi giai bài toán hình
học ơ lớp 6 băng phương pháp phân tich ngược tư cuối:
-Theo tôi, việc ren ky năng tìm toi lời giải của bài toán hình học bằng sử
dụng phương pháp phân tích ngược từ cuối cho HS là rất quan trọng; không chỉ
với HS các khối lớp 7,8,9 mà con cả với HS lớp 6.
-Thật vậy, khi năm vững phương pháp này HS sẽ rất thuận lợi trong việc
giải bài tập hình, các em sẽ biết lần ra “đâu mối” để tìm toi lời giải của bài toán,
các em biết khi tìm lời giải bài toán phải băt đầu từ đâu và kết thúc khi nào ?
-Do đó, ngoài việcbước đầu ren, luyện cho học sinh có phương pháp chung
để giải một bài toán hình học; khi dạy HS giải bài toán môn Hình học 6 GV rất
cần ren luyện cho HS phương pháp phân tích ngược từ cuối.
Cụ thể là:
-Bài toán yêu cầu phải tìm, phải chứng minh điều gì? ( kết luận A)
-Để chứng được kết luận A ta phải tìm, phải chứng minh được điều gì? ( kết
luận B)
-Để chứng minh được kết luận B ta dựa vào dấu hiệu nào, chứng minh điều
gì?…..
( kết luận Z)
-Quá trình phân tích kết thúc khi đã sử dụng được các dữ kiện của bài toán
cho và các kiến thức đã học trước đó.
* Sơ đồ phân tích ngược từ cuối bài toán hình học ,nói chung như sau:
Chứng minh được từ đề bài cho

Phải chứng minh Z

….

Phải tìm; chứng minh B

24
3 2
3 2
C D
A
K
B
I
Để tìm hoặc chứng minh A
-Khi trình bày lời giải, học sinh phải tiến hành bằng phương pháp tổng hợp,
theo hướng từ trên xuống dưới.
Ví dụ : Bài 39/Sgk Toán 6 tập 2- trang 91.
Trên hình 58, ta có hai đường tron (A; 3cm) và (B; 2cm) căt nhau tại C, D.
AB = 4cm. Đường tron tâm A và B lần lượt căt đoạn thẳng AB tại K, I.
a/ Tính CA,CB,DA ,DB.
b/ I có phải là trung điểm của đoạn thẳng AB không ?
c/ Tính IK.
-GV ren ky năng qua việc hướng dân HS tìm lời giải:
-Yêu cầu học sinh đọc ky đề bài. Đề cho gì ? Đề hỏi gì ?
-GV hướng dân học sinh vẽ lại hình 58 vào vở và tóm tăt bài toán.
a). Muốn tính CA,CB,DA ,DB ta dựa vào đâu?
. Trên hình vẽ, hai đường tron (A; 3cm) và (B; 2cm) căt nhau tại C, D thì ta suy ra
được điều gì ?
. Điểm C có thuộc đường tron (A; 3cm) không ?
. Điểm C thuộc đường tron (A; 3cm) thì ta suy ra điều gì ? CA = ?
GV hướng dân yêu cầu HS tính CB,DA ,DB bằng suy luận tương tự.
b) GV yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi sau:
. Dự đoán I có phải là trung điểm của đoạn thẳng AB không ?
. Muốn chứng tỏ I có là trung điểm của đoạn thẳng AB không ta làm như thế nào?
. Dựa vào định nghĩa trung điểm của một đoạn thẳng, ta phải chứng tỏ điều gì?
. Trên hình vẽ, điểm I đã nằm giữa A và B chưa ?
. Vậy, cần chứng tỏ IA = IB như thế nào ?
Hãy tính và so sánh độ dài IA,IB .
. Điểm I thuộc đường tron (B; 2cm) thì ta suy ra IB= ?
. Điểm I đã nằm giữa A và B thì ta suy ra điều gì ?
.IA + IB = AB, mà AB = 4cm, IB = 2cm, nên IA = ?
*Sơ đồ phân tích ngược:
25
Hình vẽ

I nằm giữa A và B?

IA + IB = AB ? Hình vẽ

IA= 2= AB – IB? I thuộc đường tron(B; 2cm)?

Hình vẽ IA = 2cm; IB = 2cm ?

I nằm giữa A và B ?, IA =IB ?

DĐ: I là trung điểm của đoạn thẳng AB?
-Sau đó học sinh trình bày cách chứng minh theo hướng ngược lại.
c) Tính IK như thế nào ?
. Điểm I có nằm giữa A và K không ?
. Điểm I nằm giữa A và K thì ta suy ra điều gì ?
. IA + IK = AK, AK = ?cm, vì sao ?
. Điểm K thuộc đường tron (A; 3cm) thì ta suy ra điều gì ? AK = ?
. Mà IA = 2cm, nên IK = ?
GV hướng dân HS trình bày lời giải:
a) Ta có: C thuộc đường tron (A; 3cm) nên CA = 3cm.
C thuộc đường tron (B; 2cm) nên CB = 2cm.
D thuộc đường tron (A; 3cm) nên DA = 3cm.
D thuộc đường tron (B; 2cm) nên DB = 2cm.
b) . I thuộc đường tron (B; 2cm)  IB = 2cm
. Điểm I nằm giữa A và B nên IA + IB = AB, mà AB = 4cm, IB = 2cm
 IA + 2 = 4  IA = 4-2 =2 (cm)
.Vậy, IA =IB (=2cm) suy ra I là trung điểm của AB.
26
c). Điểm K thuộc đường tron (A; 3cm)  AK = 3cm.
. Điểm I nằm giữa A và K  IA + IK = AK, mà AK = 3cm, IA = 2cm.
 2 + IK = 3 IK = 3 – 2 =1 (cm)
Khi đã quen với cách suy luận để tìm lời giải bài toán dạng này, học sinh có
thể chủ động tự luyện tập các bài toán tương tự, chẳng hạn như bài toán sau:
Cho AB= 5cm. Vẽ hai đường tron hai đường tron (A; 4cm) và (B; 2cm) lần
lượt căt AB tại C và D. Hỏi C có là trung điểm của DB không ? vì sao ?
-Các bài toán dạng này cũng được coi như dạng toán tổng hợp ở lớp 6, trong
đó vận dụng khái niệm đường tron tâm O bán kính R, tính chất của điểm thuộc
đường tron; định nghĩa trung điểm của đoạn thẳng, tính chất cộng đoạn thẳng khi
có một điểm nằm giữa hai điểm khác để tính độ dài đoạn thẳng; chứng minh một
điểm là trung điểm của đoạn thẳng. Với dạng toán này HS cần dựa vào đề bài,
nhận xét, lập luận từng bước để đưa về bài toán có liên quan đến đường tron. Các
bài toán hình học có liên quan đến đường tron HS sẽ được học tiếp trong chương
trình hình học lớp 9, nhưng ngay ở lớp 6, HS cũng cần năm vững dạng bài toán cơ
bản nêu trên.
2.11, Biện pháp 11:
Chú trọng rèn luyện cho học sinh kỹ năng lập luận có căn cứ khi trình
bày giai bài toán hình học ơ lớp 6:
-Đây là ky năng quan trọng trong quá trình giảng dạy giải bài tập hình, là cơ
sở tốt cho việc học hình học ở cả bậc THCS; thực tế dạy học cho thấy rất rõ HS
lớp 6 thường yếu về ky năng này. Thông qua các giờ dạy lý thuyết, các ví dụ cụ
thể, các giờ luyện tập và chấm chữa bài cho học sinh. Tôi đã sửa chữa cho học sinh
những sai sót học sinh thường măc phải trong quá trình lập luận, từ đó hướng các
em hình thành cách lập luận có căn khi trình bày lời giải các bài toán hình học,
tuyên dương học sinh có lời giải hay, chặt chẽ trong giải toán, sửa chữa cho các
học sinh con yếu trong lập luận. Từ đó phát hiện và bồi dưỡng được các học sinh
có năng khiếu bộ môn toán; giúp đỡ, phụ đạo học sinh yếu kém để các em có thể
cải thiện được kết quả học tập của mình.
Ví dụ :Bài 30/Sgk Toán 6 tập 2-trang 87.
Trên cung một nửa mặt phẳng bờ chứa tia Ox, vẽ tia Ot, Oy sao cho
xOt  250; xOy 500 .
a) Tia Ot có nằm giữa hai tia Ox và Oy không ?
b) So sánh góc tOy và góc xOt .
27
x
y
t
0
25
O
c) Tia Ot có là tia phân giác của góc xOy không ? vì sao ?
* GV ren ky năng qua việc hướng dân HS tìm lời giải như sau:
Yêu cầu học sinh đọc đề. Đề cho gì ? Đề hỏi gì ?
Yêu cầu học sinh vẽ hình theo đề bài cho.
Tổ chức cho HS trao đổi nhóm nhỏ, thảo luận để tìm lời giải bài toán; sau đó
viết lời giải ra giấy. Giáo viên thu bài làm của các nhóm.
GV tổ chức cho HS thảo luận, nêu ra cách lập luận của nhóm mình để tìm
lời giải bài toán bài toán.
GV trình bày lời giải “mâu” lên bảng. Từ đó, giúp HS năm vững cách lập
luận và căn cứ kem theo, đó là từ các dữ kiện đề đã cho  khẳng định tia nằm
giữa hai tia  viết hệ thức cộng góc  tìm số đo góc; biết lập luận có căn cứ để
khẳng định một tia là tia phân giác một góc. Học sinh tự đánh giá bài làm của
mình và rút kinh nghiệm cho việc giải các bài tập về sau. Chẳng hạn:
Lời giải
a/ Trên cung một nửa mặt phẳng bờ chứa tia Ox, ta có xOt xOy  , (250  500
). Suy ra tia Ot nằm giữa hai tia Ox và Oy, (1).
b/ Tia Ot nằm giữa hai tia Ox và Oy nên:
0 0
0 0 0
25 50
50 25 25
xOt tOy xOy tOy
tOy tOy
    
    

Vậy, ,(2).

xOt tOy  c/ Từ (1) và (2) suy ra tia Ot là tia phân giác của xOy .
GV cho HS luyện tập thêm để ren ky năng bằng cách giải các bài toán bài
toán tương tự như bài 33, 34, 35, 36, 37 (trang 87- Sgk Toán 6 tập 2)
2.12, Biện pháp 12:
Giao bài tập mơ để nâng cao kiến thứccho HS khá giỏi
Ngoài các bài tập trăc nghiệm đã chọn ở mỗi tiết giáo viên có thể biên soạn biên
soạn các bài tập có mức độ khó hơn để tạo điều kiện cho các học sinh khá, giỏi
được ren luyện (Dạng bài tập này chủ yếu hướng dân cho học sinh khá, giỏi giải ở
các buổi bồi giỏi)
*Dạng bài: Tính số điểm, số đường thẳng, số đoạn thẳng.
-Để đếm số điểm, số đường thẳng, số đoạn thẳng trong nhiều trường hợp ta không
thể đếm trực tiếp mà phải dung lập luận.
* Ví dụ 1:
28
a. Cho 100 điểm trong đó không có ba điểm nào thẳng hang.Cứ qua hai điểm ta vẽ
được một đường thẳng. Hỏi có tất cả bao nhiêu đường thẳng
b. Cũng hỏi như câu a nếu trong 100 điểm có đúng ba điểm thẳng hàng?
Giải:
a. Chọn một điểm. Qua điểm đó và từng điểm trong 99 điểm con lại, ta vẽ được 99
đường thẳng .Làm như vậy với 100 điểm đó ta được 99.100 đường thẳng.Nhưng
mỗi đường thẳng đã được tính hai lần do đó tất cả chỉ có 99.100:2=4950 đường
thẳng.
Chú ý: Tổng quát, nếu có n điểm trong đó không có ba điểm nào thẳng hàng thì số
đường thẳng có là: n (n-1):2
b.Cách 1: Giả sử không có ba điểm nào thẳng hàng thì theo câu a có 4950 đường
thẳng.Nhưng vì có ba điểm thẳng hàng nên số đường thẳng giảm đi: 3-1=2(nếu ba
điểm không thẳng hàng thì vẽ được ba đường thẳng, nếu ba điểm thẳng hàng chỉ
vẽ được một đường thẳng).Vậy có: 4950-2=4948(đường thẳng)
Cách 2: Chia 100 điểm làm hai tập hợp: tập hợp A gồm ba điểm thẳng hàng, tập
hợp B gồm 97 điểm con lại.
Số đường thẳng trong tập hợp A là 1,số đường thẳng trong tập hợp B là 97.96:2,số
đường thẳng đi qua một điểm thuộc tập hợp A và một điểm thuộc tập hợp B là
97.3.
Cộng lại ta được: 1+4656+291=4948(đường thẳng).
* Ví dụ 2:
Cho n điểm (n ≥2). Nối từng cặp hai điểm trong n điểm đó thành các đoạn thẳng .
a) Hỏi có bao nhiêu đoạn thẳng nếu trong n điểm đó không có ba điểm nào thẳng
hàng ?
b) Hỏi có bao nhiêu đoạn thẳng nếu trong n điểm đó có đúng ba điểm thẳng hàng ?
c) Tính n biết rằng có tất cả 1770 đoạn thẳng .
Giải :
a) Chọn một điểm . Nối điểm đó với từng điểm trong n-1 điểm con lại, ta vẽ được
n-1 đoạn thẳng. Làm như vậy với n điểm , ta được n (n-1) đoạn thẳng .Nhưng mỗi
đoạn thẳng đã được tính hai lần, do đó tất cả chỉ có n (n-1) : 2 đoạn thẳng.
b) Tuy trong hình vẽ chỉ có ba điểm thẳng hàng, nhưng số đoạn thẳng phải đếm
vân không thay đổi, do đó vân có n (n-1) : 2 đoạn thẳng.
c) Ta có n (n-1) : 2 = 1770. Do đó :
n (n-1) = 2.1770 =22.3.5.59
n (n-1) = 60.59
Suy ra n =60 .
Kết quả:
Qua biện pháp: Giao bài tập mở để nâng cao kiến thứccho HS khá giỏi
29
tôi nhận thấy có hiệu quả bởi khi học sinh đã năm chăc kiến thức cơ bản các em có
nhu cầu muốn khám phá những kiến thức mới lạ từ đó giáo viên kích thích niềm
say mê học toán của các em .
III.HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN ĐEM LẠI :
1. Hiệu quả kinh tế
2.Hiệu quả về mặt xã hội
Qua thực hiện 12 giải pháp đã nêu ở trên và thực hiện trong năm học 2020-2021,
tôi nhận thấy có một số kết quả nhất định:
– Nhờ sự quan tâm tổ chức của thầy học sinh tự mình thao tác, học sinh được ren
luyện, được củng cố kiến thức nhiều sau khi học lý thuyết. Bản thân tôi nhận thấy
học sinh từ chỗ con bỡ ngỡ, khó khăn tiếp cận với các khái niệm mới, các em thích
thú khi vừa vẽ các hình hình học vừa làm quen với các khái niệm mới nhẹ nhàng,
từ việc năm các khái niệm mới một cách nhẹ nhàng các em không nản chí, thụ
động vận dụng các kiến thức vào giải bài tập.
– Học sinh năm các khái niệm tính chất nhanh có thời gian để học , học sinh được
luyện tập nhiều hơn.
– Kĩ năng vẽ hình tiến bộ rõ rệt, học sinh hết lúng túng khi sử dụng các dụng cụ
vẽ hình.
– HS năm vững kiến thức, bước đầu làm quen với trình bày bài giải.HS giỏi năm
rất vững các kiến thức ban đầu về hình học, đã giúp thầy chấm chữa các sai sót các
bài giải ở bảng của các bạn rất nhiều.
-Kết quả phiếu khảo sát sở thích học bộ môn hình ở đầu năm và cuối năm học:

ThíchKhông ThíchGhi chú
Đầu năm15/38= 39,5%23/38=60,5%
Cuối năm37/38=97,36%1/38=2,64%

– Kết quả ở hai bài kiểm tra môn hình ở đầu năm và cuối năm được ghi lại (Tuy
chỉ mang tính tương đối)

Lần
KT
0-23-45-67-89-10TB
Đầu
năm
1/38
=2,63%
6/38
=15,78%
14/38
=36,84%
12/38
=31,57%
5/38
=13,15%
31/38
=81,57%
Cuối
năm
01/38
=2,63%
2/38
=5,26%
15/38
=39,47%
20/38
=52,63%
37/38
=97,37%

30
Sáng kiến kinh nghiệm đã cải thiện rõ rệt chất lượng dạy học bộ môn hình
học 6 và đặc biệt là kết quả thi các giai đoạn của lớp 6A Trường THCS Hoàng
Ngân đạt kết quả cao
3.Khả năng áp dụng và nhân rộng
– Được áp dụng với mọi đối tượng học sinh khối 6.
IV. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền.
Tôi xin cam kết, sáng kiến này do bản thân tự nghiên cứu có chỉnh lí và bổ sung
hàng năm cho phu hợp với điều kiện thực tế của quá trình giảng dạy môn học
Tuyệt đối không sao chép hoặc vi phạm bản quyền của cá nhân nào.
V.BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
-Để thực hiện được những biện pháp trên có hiệu quả người thầy phải năm vững
đối tượng HS lớp mình .Là những học sinh lớp 6, mới từ tiểu học lên.Trong tiết
học thầy phải kiên trì, phải chờ học sinh, cho học sinh được tự làm qua đó các em
mới năm vững các khái niệm.
– Giáo viên phải soạn săn các bài tập trăc nghiệm và dạy học qua trình chiếu mới
đủ thời gian tổ chức củng cố, phải in hoặc ghi săn các bài tập làm thêm, bài tập
nâng cao để các em chép trong lúc rỗi hoặc trong những lần sinh hoạt 15 phút đầu
giờ.
– Trong từng tiết giáo viên cần có biểu hiện thân thiện, tổ chức cho các em vừa
chơi vừa học để việc tiếp thu được nhẹ nhàng

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *