dàn âm thanh hội trường, âm thanh lớp học, âm thanh phòng họp, loa trợ giảng

SKKN Một vài kinh nghiệm giúp học sinh lớp 12 nâng cao năng lực viết bài nghị luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT ở trường THPT

SKKN Một vài kinh nghiệm giúp học sinh lớp 12 nâng cao năng lực viết bài nghị luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT ở trường THPT

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
Thực hiện Nghị quyết số: 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã được Hội
nghị Trung ương 8 (khóa XI) thông qua. Trong những năm gần đây ngành Giáo dục và
Đào tạo đã và đang triển khai nhiều dự án nhằm đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục
và Đào tạo. Đó là một quá trình đổi mới toàn diện: từ mục tiêu, nội dung, phương
pháp đến phương tiện giáo dục, đánh giá chất lượng giáo dục, kể cả việc đổi mới cách
xây dựng chương trình và những hoạt động quản lý của quá trình này. Trong các khâu
của quá trình đổi mới ấy, trên các phương tiện thông tin, đại chúng, Thứ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển đã khẳng định, đổi mới kiểm tra, đánh giá là
giải pháp đột phá đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục và Đào tạo. Thứ trưởng
Nguyễn Vinh Hiển cũng cho rằng, đối với từng môn, việc kiểm tra, đánh giá đầu tiên
là phải hướng tới đánh giá năng lực người học, trong đó có năng lực chung và yêu cầu
riêng cho từng lĩnh vực, từng môn học.
Riêng đối với môn Ngữ văn, mấy năm gần đây nhằm thực hiện đồng thời hai
mục đích, vừa xét tốt nghiệp, vừa xét tuyển đại học, các đề thi đã có nhiều thay đổi từ
cấu trúc đến nội dung theo định hướng đánh giá phẩm chất, năng lực học sinh, tránh
học tủ, học vẹt. Bên cạnh việc đưa phần Đọc – hiểu vào đề thi mà ngữ liệu nằm ngoài
chương trình Sách giáo khoa và đặt câu hỏi ở các cấp độ: nhận biết – thông hiểu – vận
dụng thay cho kiểu câu hỏi tái hiện kiến thức, thiên về kiểm tra trí nhớ trước đó. Phần
Làm văn có 2 câu hỏi, câu viết đoạn nghị luận xã hội rút xuống còn 200 chữ, bàn về
một khía cạnh của vấn đề ngắn gọn và cô đúc hơn so với trước đây viết bài nghị luận
xã hội dài khoảng 600 chữ và bàn về cả một vấn đề trọn vẹn. Câu nghị luận văn học
trong kỳ thi Tốt nghiệp Trung học phổ thông (THPT) đều theo xu hướng tiếp cận ngày
một gần hơn với các đề thi Đại học, Cao đẳng khối C và khối D trước đây. Có nghĩa
là, mức độ đề thi khó hơn so với đề thi Tốt nghiệp trước đây, nhưng lại nhẹ hơn so với
đề thi Đại học, Cao đẳng. Đặc biệt, sự xuất hiện của đại dịch Covid-19 ảnh hưởng
nghiêm trọng đến mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội, học sinh phải chuyển sang
học trực tuyến, học trên truyền hình trên diện rộng trong một thời gian dài, vì vậy Bộ
2
Giáo dục và đào tạo phải điều chỉnh đề thi tốt nghiệp 2020, 2021, 2022 sao cho phù
hợp với tình hình thực tế của đất nước.
Qua khảo sát thực tiễn, chúng tôi thấy, trong đề thi tốt nghiệp THPT các năm
gần đây, cấu trúc đề thi thường có hai phần: phần một là Đọc hiểu (Ngữ liệu thường
lấy ngoài sách giáo khoa, có độ dài khoảng 150 đến 300 từ, có bốn câu hỏi theo ba cấp
độ: nhận biết – thông hiểu – vận dụng). Phần hai là Làm văn, có hai câu hỏi (câu một:
viết đoạn văn nghị luận xã hội về một khía cạnh của một vấn đề trong đời sống xã hội;
câu hai: viết bài nghị luận văn học về một trong các tác phẩm trong chương trình Ngữ
văn 12 hiện hành). Riêng câu nghị luận văn học thường hỏi vào các dạng đề như: Cảm
nhận/phân tích đoạn văn hoặc đoạn thơ; Cảm nhận/phân tích hình tượng trong tác
phẩm hoặc trong một đoạn trích cụ thể; Cảm nhận/phân tích một phương diện thuộc về
nội dung, tư tưởng hoặc nghệ thuật…Mới đây nhất, ngày 31/3/2022, Bộ Giáo dục và
Đào tạo đã chính thức công bố đề thi minh họa môn Ngữ văn theo định hướng kỳ thi
THPT năm 2022, trong đó cũng có câu thuộc kiểu bài Phân tích/cảm nhận nhân vật
trong một đoạn văn trích từ tác phẩm văn học ở chương trình Ngữ văn 12 và từ đó
nhận xét nâng cao về môt phương diện thuộc nội dung, tư tưởng của tác phẩm. Theo
tôi nhận thấy, đây là dạng đề mở, không chỉ kích thích tư duy, phát triển trí tuệ, giúp
học sinh có cơ hội phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mình, mà còn có khả
năng phân hóa được trình độ của học sinh trong kiểm tra, đánh giá, nhờ đó mà có thể
đánh giá được năng lực học sinh một cách khách quan, chính xác hơn.
Tuy nhiên, đây cũng là dạng đề khó đối với học sinh, nhất là các em có học lực
trung bình. Bởi nó đòi hỏi học sinh năng lực tư duy cao, biết huy động kiến thức cho
ph hợp và bày tỏ r quan điểm, chính kiến của bản thân về những vấn đề được đặt ra
ở đề bài… Hơn nữa, trong chương trình Sách giáo khoa Ngữ văn THPT ít có những tiết
học riêng về lý thuyết và thực hành cho ý nhận xét nâng cao để phân hóa học sinh. Vì
thế, khi đối diện với dạng đề này, các em gặp rất nhiều khó khăn trong việc giải quyết
vấn đề và kết quả bài làm của các em chưa đạt được hiệu quả như mong muốn.
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn ấy, tôi đã chọn chuyên đề Một vài kinh nghiệm
giúp học sinh lớp 12 nâng cao năng lực viết bài nghị luận văn học trong đề thi tốt
nghiệp THPT ở trường THPT Lý Tự Trọng làm Sáng kiến kinh nghiệm (SKKN),
nhằm trao đổi với các bạn đồng nghiệp cách thức hướng dẫn học sinh ôn tập môn Ngữ
văn lớp 12 nói chung, nâng cao năng lực làm bài nghị luận văn học, nhằm đáp ứng yêu
3
cầu kỳ thi Tốt nghiệp phổ thông 2022, 2023, 2024 nói riêng mà bản thân tôi đã thực
hiện trong quá trình giảng dạy, góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc đổi mới và
nâng cao chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn THPT tỉnh Nam Định.
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ
  1. Thực trạng năng lực làm bài nghị luận văn học của học sinh trƣờng THPT Lý
    Tự Trọng trƣớc khi áp dụng sáng kiến:
    1.1. Câu nghị luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT đƣợc ra rất linh hoạt và
    có yêu cầu phân hóa đối với đa số học sinh lớp 12:
    Như đã nói ở trên, những năm gần đây, theo xu hướng đổi mới kiểm tra, đánh
    giá để tiếp cận gần nhất với Chương trình giáo dục phổ thông mới 2018, câu nghị luận
    văn học được ra gần như là bắt buộc trong các đề kiểm tra, đề thi học sinh giỏi cấp
    tỉnh, cấp quốc gia, các kì thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn. Cách ra đề cũng biến
    hóa, linh hoạt, đòi hỏi thí sinh phải có kiến thức về tác giả, tác phẩm, nhân vật, chi tiết
    trong tác phẩm, thậm chí so sánh giữa hai tác phẩm, hai tác giả, hai nhân vật, hai chi
    tiết …của c ng một tác giả hoặc hai tác giả khác nhau. Đặc biệt trong những năm gần
    đây, trong đề thi tốt nghiệp THPT còn có thêm câu hỏi phân hóa trình độ năng lực của
    học sinh. Vì vậy, để nâng cao chất lượng bài viết của học sinh ở câu nghị luận văn học,
    giáo viên không chỉ cung cấp cho các em những kĩ năng cơ bản khi làm một bài nghị
    luận văn học mà còn phải rèn cho các em các năng lực cần thiết khi đối diện với các
    câu nghị luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT một cách hiệu quả nhất.
    Từ năm 2019, câu nghị luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT đã được ra
    theo hướng phân hóa năng lực người học:
    d 1: Đề thi THPT Quốc gia năm 2019:
    Câu 2 (5,0 điểm):
    Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như
    chỉ sông Hương là thuộc về thành phố duy nhất. Trước khi về đến vùng châu thổ êm
    đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh
    liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng
    có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa
    đỗ quyên rừng. Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của
    mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại. Rừng già đã hun đúc cho nó
    một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng. Nhưng chính rừng già nơi đây,
    4
    với cấu trúc đặc biệt có thể lí giải được về mặt khoa học đã chế ngự sức mạnh bản
    băng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh chóng mang
    một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ
    sở. Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng, người ta sẽ
    không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân
    mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông
    hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong
    những hang đá dưới chân núi Kim Phụng.
    (Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn
    12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr.198)
    Cảm nhận của anh/chị về hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên. Từ đó,
    nhận xét cách nhìn mang tính phát hiện về dòng sông của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc
    Tường.
    d 2: Đề thi Tốt nghiệp THPT năm 2020, đợt 1:
    Câu 2 (5,0 điểm):
    Phân tích tư tưởng Đất Nước của Nhân dân được nhà thơ Nguyễn Khoa Điểm
    thể hiện trong đoạn trích sau:
    Em ơi em
    Hãy nhìn rất xa
    Vào bốn nghìn năm Đất Nước
    Năm tháng nào cũng người người lớp
    lớp
    Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta
    Cần cù làm lụng
    Khi có giặc người con trai ra trận
    Người con gái trở về nuôi cái cùng con
    Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh
    Nhiều người đã trở thành anh hùng
    Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ
    Nhưng em biết không
    Họ đã sống và chết
    Giản dị và bình tâm
    Không ai nhớ mặt đặt tên
    Nhưng họ đã làm ra Đất Nước
    Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
    Họ chuyền lửa qua mỗi nhà từ hòn than,
    qua con cúi
    Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
    Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi
    chuyến di dân
    Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây
    hái trái
    Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
    5
    Có biết bao người con gái, con trai
    Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa
    tuổi
    Có nội thù thì vùng lên đánh bại
    Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân
    Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca
    dao thần thoại
    (Trích Đất Nước, trường ca Mặt đường
    khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm, Ngữ văn
    12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam,
    2019, tr.121)
    d 3: Đề thi Tốt nghiệp THPT năm 2020, đợt 2:
    Câu 2 (5,0 điểm):
    Phân tích khung cảnh h ng tráng của Việt Bắc trong kháng chiến được nhà thơ
    Tố Hữu thể hiện qua đoạn thơ sau:
    Nhớ khi giặc đến goặc lùng
    Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây
    Núi giăng thành lũy sắt dày
    Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù
    Mênh mông bốn mặt sương mù
    Đất trời ta cả chiến khu một lòng
    Ai về ai có nhớ không?
    Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng
    Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng
    Nhớ từ Cao – Lạng, nhớ sang Nhị Hà…
    Những đường Việt Bắc của ta
    Đêm đêm rầm rập như là đất rung
    Quân đi điệp điệp trùng trùng
    Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
    Dân công đỏ đuốc từng đoàn
    Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
    Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
    Đèn pha bật sáng như ngày mai lên
    Tin vui chiến thắng trăm miền
    Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên, vui về
    Vui từ Đồng Tháp, An Khê
    Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.
    (Trích Việt Bắc, Tố Hữu, Ngữ văn 12, Tập
    một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr.112-
    113)
    d 4: Đề thi Tốt nghiệp THPT năm 2021, đợt 1
    Câu 2 (5,0 điểm):
    Trong bài thơ Sóng, nhà thơ Xuân Quỳnh viết:
    Trước muôn trùng sóng bể
    6
    Em nghĩ về anh, em
    Em nghĩ về biển lớn
    Từ nơi nào sóng lên?
    Sóng bắt đầu từ gió
    Gió bắt đầu từ đâu?
    Em cũng không biết nữa
    Khi nào ta yêu nhau
    Con sóng dưới lòng sâu
    Con sóng trên mặt nước
    Ôi con sóng nhớ bờ
    Ngày đêm không ngủ được
    Lòng em nhớ đến anh
    Cả trong mơ còn thức.
    (Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.155)
    Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ trên. Từ đó, nhận xét vẻ đẹp nữ tính trong thơ Xuân
    Quỳnh.
    d 5: Đề thi Tốt nghiệp THPT năm 2021, đợt 2
    Câu 2 (5,0 điểm):
    Trong bài Tây Tiến, tác giả Quang Dũng viết:
    Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
    Kìa em xiêm áo tự bao giờ
    Khèn lên man điệu nàng e ấp
    Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
    Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
    Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
    Có nhớ dáng người trên độc mộc
    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
    (Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.88-89)
    Trình bày cảm nhận của anh chị về đoạn thơ trên; từ đó nhận xét cảm hứng lãng
    mạn của Quang Dũng trong đoạn thơ.
    7
    Như vậy, qua thống kê, chúng tôi nhận thấy câu nghị luận văn học, cách ra đề
    rất linh hoạt: khi thì là phân tích/cảm nhận một đoạn văn/đoạn thơ; khi thì phân
    tích/cảm nhận hình tượng trong tác phẩm hoặc trong đoạn trích; khi thì phân tích/cảm
    nhận một phương diện thuộc về nội dung, tư tưởng hoặc nghệ thuật; khi lại phân
    tích/cảm nhận đoạn văn/đoạn thơ, sau đó nhận xét nâng cao về một khía cạnh nội
    dung, tư tưởng hay nghệ thuật…Có thế thấy, đây là dạng đề mở, yêu cầu học sinh phát
    huy tính độc lập suy nghĩ, chủ động sáng tạo khi làm bài. Nó không chỉ kích thích khả
    năng tư duy, phát triển trí thông minh của học sinh, giúp các em có cơ hội phát huy
    năng lực sáng tạo của mình, mà còn có khả năng phân hóa trình độ, năng lực, đáp ứng
    yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giá mang tính đột phá trong giai đoạn hiện nay.
    Tuy nhiên, đây cũng là dạng đề khó với học sinh nhất là học sinh có học lực
    trung bình. Đặc biệt, đối với học sinh trường THPT Lý Tự Trọng, khi mà mấy năm trở
    lại đây điểm tuyển sinh đầu vào (do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan) mà
    không đủ chỉ tiêu, phải lấy thêm nguyện vọng 2, hoặc các em có vào được trường theo
    nguyện vọng một, thì cũng đăng kí chủ yếu là khối A, B, A1, rất ít em đăng kí khối D
    và khối C. Vì vậy, các em thường hoang mang, lúng túng khi đối diện với dạng đề này.
    Bởi đề yêu cầu ở học sinh khả năng tư duy cao, biết lựa chọn nội dung viết sao cho
    ph hợp yêu cầu đề, biết bàn bạc và mở rộng vấn đề… Vì thế khi gặp dạng đề này, các
    em gặp rất nhiều khó khăn trong việc giải quyết vấn đề và kết quả bài làm của các em
    chưa đạt được hiệu quả như mong muốn.
    1.2. Đa số học sinh tỏ ra lúng túng khi đối diện với câu nghị luận văn học trong đề
    thi tốt nghiệp THPT …vì chƣơng trình Sách giáo khoa ít có những tiết lý thuyết
    và thực hành riêng cho kiểu đề phân hóa này:
    Mặc d các em học sinh đã được làm quen với kỹ năng làm bài nghị luận văn
    học từ những năm cuối của chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở (THCS) và tiếp tục
    được củng cố, rèn luyện trong suốt ba năm của Chương trình Ngữ văn THPT, nhưng
    trong chương trình Sách giáo khoa Ngữ văn ở cả hai cấp học này có rất ít những tiết
    học riêng về lý thuyết và thực hành của những kiểu bài này. Hoặc là, đa số giáo viên
    chúng ta dành ít thời gian cho dạy lí thuyết, cứ mặc nhiên là các em đã biết làm rồi. Đó
    là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến hầu hết học sinh tỏ ra lúng túng khi đối
    diện với dạng đề nghị luận văn học và kết quả làm bài dạng này của các em đạt hiệu
    quả chưa tốt.
    8
    Hơn nữa, câu nghị luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT những năm gần
    đây, do yêu cầu đổi mới nên nó không giống với những dạng cơ bản trong sách giáo
    khoa các em được học mà là kiểu bài nghị luận tổng hợp, liên quan đến nhiều phương
    diện, không chỉ đòi hỏi học sinh nắm chắc những kiến thức cơ bản, mà còn phải rèn
    luyện nhiều kĩ năng, đặc biệt là kĩ năng phân tích, tổng hợp, phản biện, đánh giá vấn
    đề… Trong khi đó, thực tế cho thấy những kĩ năng này ở học sinh, nhất là những
    trường có đầu vào tuyển sinh môn Ngữ văn thấp, học sinh không đăng kí ban Khoa
    học xã hội …đa phần là rất hạn chế. Mặt khác, tâm lí chung, nhiều thầy cô giáo cũng
    tỏ ra e ngại khi đưa ra dạng đề nghị luận văn học này đối với học sinh chỉ cần tốt
    nghiệp, mà thường chỉ dành riêng cho đối tượng học sinh tham gia đội tuyển học sinh
    giỏi, hoặc có thiên hướng lấy kết quả bài thi môn Ngữ văn trong kỳ thi THPT để xét
    tuyển Đại học.
    Một lí do khác nữa là trong chương trình Ngữ văn lớp 12, THPT thời lượng
    luyện tập kĩ năng làm văn nghị luận còn rất hạn hẹp, chỉ có một số tiết ít ỏi, nếu không
    có sự sắp xếp hợp lí không thể đem lại hiệu quả thực hành. Vì thế, đa số giáo viên
    thường chỉ hướng dẫn học sinh lập dàn ý cho một số đề bài trong sách giáo khoa. Một
    số giáo viên khác, dù có cập nhật hướng ra đề mới nhưng không đủ thời gian rèn kĩ
    năng cho các em hoặc hướng dẫn các em thực hành. Bên cạnh đó, đa số học sinh
    không yêu thích môn Ngữ văn, chưa chủ động tìm hiểu, tích lũy các đề bài (câu hỏi)
    hay, mới lạ. Không ít học sinh vẫn còn có thói quen học vẹt, học tủ. Thậm chí, một số
    em học bài mà chẳng hiểu gì về tác giả, tác phẩm, nhân vật, không thể đưa ra những ý
    kiến đánh giá độc lập, không thể bình luận về tác phẩm đã học, không biết đóng góp
    của tác giả với nền văn học nước nhà. Nhiều em, cách nhìn nhận về tác phẩm và các
    vấn đề văn học còn chủ quan, phiến diện. Vì thế, khi gặp câu nghị luận văn học với
    các dạng đề trên thì đa số các em không biết phải làm thế nào, bắt đầu ra sao? Thậm
    chí, không ít học sinh chưa có nhận thức đúng đắn về yêu cầu của đề bài. Nhiều em
    còn có suy nghĩ bài làm đơn thuần chỉ là sự chép lại nội dung bài học mà cô giáo dạy
    văn cho ghi trên lớp. Không ít trường hợp các em chép lại cả tác phẩm, không quan
    tâm đề bài chỉ cho một đoạn. Hoặc có em chỉ cảm nhận chung chung đoạn văn mà
    không làm hết yêu cầu của đề bài. Có những học sinh gặp gì viết nấy, không đáp ứng
    đúng nội dung, yêu cầu của đề bài, nên chất lượng, hiệu quả bài làm của các em không
    như các thầy cô mong muốn.
    9
    1.3. Kết quả kiểm tra năng lực viết bài nghị luận văn học trong đề thi thử tốt
    nghiệp THPT hoặc đề thi chất lƣợng các kì của học sinh còn hạn chế:
    Trong một năm học, theo kế hoạch của Sở Giáo dục và Đào tạo, nhà trường
    thường tổ chức các kì thi khảo sát chất lượng để đánh giá kết quả học tập của học sinh
    bằng các các bài kiểm tra định kì, chuẩn bị kì thì tốt nghiệp THPT cho học sinh khối
    12, tôi thấy, kết quả câu nghị luận văn học (thang điểm 5/10) của học sinh THPT Lý
    Tự Trọng, khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm (SKKN) này như sau:
    Tổng số HS dự thi Điểm 4,0 đến 5,0 Điểm 2,5 đến dƣới 3,5 Điểm 2,0 đến 0
    SL TL% SL TL% SL TL%
    380 25 6,57 300 79% 55 14,4%
    Qua bản thống kê trên, điều dễ thấy là khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
    này kết quả kiểm tra phần nghị luận văn học của học sinh còn rất hạn chế. Tỷ lệ học
    sinh đạt điểm giỏi quá ít (6,57%) và đa số nằm ở những lớp chọn xã hội (khối C, D), tỷ
    lệ học sinh trung bình chiếm đa số (79%), học sinh dưới trung bình cũng chiếm tỉ lệ
    tương đối (14,4%). Mà nguyên nhân chính, như đã nói ở trên là do các em có thói quen
    làm bài một cách thụ động, chưa có kiến thức lý thuyết soi đường, chưa có nhiều thời
    gian rèn luyện kỹ năng thực hành và đặc biệt là làm với tâm lí chỉ cần đạt đủ điểm để
    tốt nghiệp.
  2. Một vài kinh nghiệm giúp học sinh lớp 12 nâng cao năng lực viết bài nghị luận
    văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT ở trƣờng THPT Lý Tự Trọng.
    Thực tế, trong chương trình làm văn hiện hành, không còn sự phân chia các
    kiểu bài nghị luận văn học như trước đây nữa (giải thích, chứng minh, phân tích, bình
    luận, bình giảng). Sự thay đổi này nhằm phản ánh đúng hơn bản chất của một bài văn,
    quy trình làm một bài văn nghị luận văn học. Thực tế cũng hiếm có bài văn nào từ đầu
    đến cuối chỉ hoàn toàn tuân theo một yêu cầu, chỉ vận dụng một thao tác. Trong một
    bài nghị luận văn học, người viết thường kết hợp sử dụng nhiều thao tác, kĩ năng và
    nhiều khi khó tách bạch một cách rạch ròi giải thích, chứng minh, phân tích, bình
    giảng, bình luận. Nói như vậy cũng không có nghĩa bài nghị luận văn học đòi hỏi tính
    tổng hợp của tri thức, của kĩ năng. Muốn làm một bài văn nghị luận văn học hay, c ng
    với kiến thức, năng lực cảm thụ, người viết cần có kĩ năng kết hợp đồng thời, linh hoạt
    10
    nhiều phép lập luận để làm sáng tỏ vấn đề, để trình bày một cách thuyết phục, hấp dẫn
    những ý kiến, nhận định của mình.
    Trước yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất,
    năng lực, nhất là năng lực tạo lập văn bản nghị luận của học sinh ngày càng cao, từ
    thực trạng và nguyên nhân dẫn đến kết quả làm bàì văn nghị luận văn học của học sinh
    còn nhiều hạn chế, bản thân tôi đã lựa chọn và thực hiện có hiệu quả một số kinh
    nghiệm, sau nhiều năm dạy lớp 12, nhằm mục đích giúp các em nâng cao năng lực khi
    viết bài nghị luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT.
    2.1. Trƣớc hết, giáo viên cần hƣớng dẫn cho học sinh nắm vững những kĩ năng
    chung nhất khi viết một bài nghị luận văn học nói chung và trong đề thi tốt
    nghiệp THPT nói riêng.
    a. Giúp học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản về các tác giả, tác phẩm trong chương
    trình để có chất liệu làm tốt bài viết nghị luận văn học.
    Bên cạnh việc nắm chắc đặc điểm chung và yêu cầu riêng của mỗi kiểu dạng
    nghị luận văn học, cũng như xây dựng tốt hệ thống câu hỏi tương ứng để khơi dậy tính
    chủ động, tích cực của học sinh (sẽ trình bày ở phần sau), giáo viên phải hướng dẫn
    các em nắm vững kiến thức trọng tâm, cơ bản về tác giả, tác phẩm văn học để có chất
    liệu làm tốt bài văn. Bởi có bột mới gột nên hồ. Phải nắm chắc những kiến thức trọng
    tâm, cơ bản về tác giả, tác phẩm văn học các em mới có những minh chứng xác đáng
    nhất để luận giải về những vấn đề đặt ra ở đề bài. Trong thực tế, qua kết quả làm bài
    của học sinh cho thấy, không ít em nắm kiến thức về tác giả, tác phẩm văn học còn rất
    mơ hồ. Thậm chí một số học sinh còn có tình trạng râu ông nọ cắm cằm bà kia, hiểu
    sai, hoặc hiểu chưa sâu sắc về tác phẩm, thậm chí còn nhầm tên nhân vật… dẫn đến
    những nhận xét đánh giá của các em về tác phẩm thường chung chung, v đoán, thiếu
    sức thuyết phục. Vậy để giúp các em nắm chắc kiến thức trọng tâm, cơ bản về tác giả,
    tác phẩm văn học, làm tốt các kiểu bài nghị văn học giáo viên cần hướng dẫn học sinh:
    -Nắm chắc những chi tiết quan trọng về cuộc đời mỗi tác giả, như: Năm sinh
    năm mất, đặc điểm, không khí thời đại ảnh hưởng tới thế giới quan, nhân sinh quan và
    nhất là cảm hứng sáng tác của nhà thơ, nhà văn; tên khai sinh, bút danh (nếu có); ảnh
    hưởng của quê hương, gia đình và những chi tiết, sự kiện quan trọng trong cuộc đời tới
    sự nghiệp sáng tác của tác giả; những tác phẩm tiêu biểu thể hiện r nhất đặc điểm
    phong cách của nhà văn, nhà thơ…
    11
    -Đối với văn bản thơ phải học thuộc tác phẩm, nắm chắc cảm hứng chủ đạo,
    phát hiện ra cấu tứ, các từ ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, các biện pháp tu từ tiêu biểu, đặc
    sắc… Đối với các tác phẩm văn xuôi phải tóm tắt được cốt truyện, nắm được những
    chi tiết cơ bản, đặc điểm nổi bật của các nhân vật chính, nhận diện được ngôi kể, giọng
    kể, điểm nhìn trần thuật, phương thức trần thuật…
  • Nắm chắc và hiểu sâu giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật đặc sắc của tác
    phẩm; biết cảm thụ, phân tích, cắt nghĩa, lý giải một số chi tiết (câu, đoạn) đặc sắc; có
    vốn văn học cần thiết để liên hệ, so sánh, đối chiếu các hình tượng văn học c ng loại,
    các tác phẩm có chung đề tài, chủ đề để để hiểu sâu sắc hơn về tác phẩm, cũng như
    đóng góp riêng, độc đáo của tác giả với nền văn học dân tộc.
    b. Căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử c thể, vào tâm thế và ý đồ sáng tác của tác giả, để
    hiểu đúng, hiểu sâu tác phẩm.
    Tác phẩm văn chương được sinh thành trong một môi trường lịch sử, xã hội,
    văn hóa nhất định, đồng thời mang dấu ấn tinh thần của cá nhân nhà văn. Nếu tách nó
    khỏi môi trường này chẳng khác nào đưa con cá ra khỏi nước. Bởi thế, để hiểu đúng,
    hiểu sâu tác phẩm, người phân tích cần trả nó về với hoàn cảnh sinh thành cụ thể, cần
    vận dụng những hiểu biết về lịch sử, xã hội, văn hóa, cần căn cứ vào tâm thế, ý đồ
    sáng tác cụ thể của nhà văn.
    Ví dụ 1: Phân tích các bài thơ nói về người chiến sĩ vệ quốc như Tây Tiến của
    Quang Dũng, Đồng chí của Chính Hữu, ta không thể không đặt chúng vào hoàn cảnh
    đất nước thiếu thốn, gian khổ ở những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân
    Pháp, vào dòng thơ viết về anh bộ đội lúc bấy giờ với những thành công và hạn chế
    nhất định. Khi hiểu Tây Tiến được viết trong nỗi nhớ chơi vơi của Quang Dũng, chúng
    ta mới có thể phân tích kĩ đặc sắc của nhiều hình ảnh, của giọng điệu trữ tình của bài
    thơ…
    Ví dụ 2: Đặt Việt Bắc trong thời điểm đặc biệt, bước ngoặt lớn lao của đời sống
    dân tộc (tháng 10/1954), chúng ta mới hiểu đúng giá trị của bài thơ này. Ra đời trong
    bước ngoạt này, Việt Bắc có ý nghĩa tổng kết các chặng đường lịch sử của dân tộc, gắn
    bó c ng căn cứ địa cách mạng, chiến khu kháng chiến, là bản anh h ng ca về cách
    mạng và kháng chiến, bản tình ca về đời sống tâm hồn phong phú, cao đẹp của con
    người Việt Nam…Mặt khác, đối với các tác phẩm c ng đề tài, chúng ta cũng rất cần
    12
    sự hiểu biết về đặc điểm phong cách của mỗi nhà văn, nhà thơ, bút pháp của từng tác
    giả để làm sáng tỏ cái hay riêng của từng tác phẩm.
    c. Phải đảm bảo t nh thống nhất hữu cơ giữa nội dung và hình thức của văn bản.
    Khi phân tích, cảm nhận tác phẩm văn chương cần tránh hai khuynh hướng:
    Thứ nhất: Chỉ giảng giải qua nội dung cụ thể của văn bản rồi lấy đó làm cái cớ
    để tán dương, ca ngợi một cách chung chung. Khuynh hướng này biến các tác phẩm
    văn chương thành một tác phẩm tuyên truyền, chính trị và dễ làm cho bài nghị luận trở
    thành sáo rỗng.
    Thứ hai: Quá sa đà vào các chi tiết nghệ thuật vụn vặt, chăm chút vào tỉa tót câu
    chữ mà không nêu được giá trị biểu đạt của các yếu tố hình thức đó. Khuynh hướng
    này khó đi đến phát hiện nghĩa lí của văn bản tác phẩm, chỉ ra được các tầng lớp ý
    nghĩa được hàm chứa.
    Khi nghị luận về một tác phẩm văn học, cần xem xét nội dung phản ánh, tình
    cảm, tư tưởng của nhà văn đã được thể hiện qua phương thức, bút pháp như thế nào,
    ngược lại các yếu tố hình thức có giá trị gì trong việc biểu đạt nội dung. Phân tích nội
    dung tức là giảng giải, đánh giá một nội dung đang được biểu hiện qua một hình thức
    cụ thể. Phân tích hình thức chính là phân tích quá trình xâm nhập của hình thức ấy vào
    nội dung, đánh giá sức mạnh biểu đạt nội dung của hình thức ấy. Bài nghị luận văn
    học tối kị lỗi phát biểu ý kiến một cách chung chung hoặc chỉ diễn nôm nội dung.
    Muốn bình đúng, bình hay, trước tiên phải phân tích đúng, giảng sâu. Giảng có nghĩa
    là khám phá, giải thích nội dung, ý nghĩa của tác phẩm, là phân tích, khẳng định, nghĩa
    lí của văn bản. Nó có nhiệm vụ chỉ ra các tầng lớp nội dung và chứng minh một cách
    thuyết phục rằng nội dung ấy tất phải được thể hiện qua hình thức nghệ thuật ấy, còn
    hình thức nghệ thuật ấy hợp lẽ thuận tình, có tính độc đáo hơn cả trong việc thể hiện
    nội dung.
    Trong quá trình phân tích, chứng minh tính độc đáo của sự thống nhất giữa nội
    dung và hình thức của ở văn bản tác phẩm, người nghị luận cần tìm trúng những chỗ
    hay, chỗ lạ của các phương thức, thủ pháp thể hiện và khẳng định được rằng hình thức
    nghệ thuật ấy là phương án tối ưu để thể hiện sinh động nội dung, bất kì sự đổi thay
    nào đó (d rất nhỏ) cũng có thể phá vỡ nghĩa lí, phá vỡ tính chỉnh thể của tác phẩm.
    Ví dụ: Khi cảm nhận đoạn thơ đầu trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, ta
    không thể không chú ý đến từ chơi vơi. Chỉ từ chơi vơi ấy mới diễn tả đúng và hết sức
    13
    gợi cảm nỗi nhớ không có hình có lượng, nó nhẹ tênh mà cũng nặng khôn c ng, không
    thể nào cân đo, đong đếm được…Chỉ nó mới ph hợp để diễn tả tâm trạng của người
    lính đã gắn bó mật thiết với núi rừng miền Tây, với đồng đội, vậy mà giờ đây phải chia
    xa…Có lẽ không thể thay vào đó, bất kì một từ nào khác, để diễn tả đúng và gợi cảm
    như thế!
    d. Bài văn nghị luận cần có hệ thống luận điểm rõ ràng, mạch lạc, những luận cứ
    đúng đắn, sinh động và lập luận thuyết ph c.
    Nói một cách hình tượng thì bài văn nghi luận phải như một nắm xôi: từng hạt
    dẻo. khô nhưng lại vắt được thành nắm. Nó khác với chảo cơm rang: từng hạt săn đét,
    rời rạc. Các ý trong bài văn cần r ràng nhưng lại được liên kết thành một hệ thống.
    Một bài văn nghị luận hay thường có hệ thống luận điểm r ràng, được kết dính một
    cách tự nhiên, liền mạch, ý nọ gợi ý kia. Nó không phải là một phép cộng cơ học các ý
    mà là kết quả của sự tổ chức, sắp xếp có định hướng, có nghệ thuật.
    Không chỉ đòi hỏi sự mạch lạc trong hệ thống các luận điểm, màu sắc cá nhân
    của các nhận xét, đánh giá, bài văn nghị luận còn yêu cầu tính cụ thể, thuyết phục của
    những luận cứ. Nếu cứ sa đà vào các dẫn chứng, phân tích cụ thể mà không nâng lên
    được tầm khái quát, không đúc kết được thành các nhận định, bài văn sẽ nhạt tính tư
    tưởng, khó gây ấn tượng. Mặt khác, nếu cứ nêu nhận định, ca ngợi hay phê phán một
    cách chung chung mà không qua các căn cứ cụ thể, dẫn chứng sinh động thì bài văn
    cũng sẽ yếu tính thuyết phục, dễ trở nên sáo rỗng. Kết hợp linh hoạt, tự nhiên giữa
    phân tích, chứng minh cụ thể với nhận xét, đánh giá khái quát vừa là phương pháp tư
    duy, vừa là kĩ năng làm bài mà người viết văn nghị luận cần rèn luyện.
    Ví dụ: Khi nghị luận về một tác phẩm truyện, những nhận xét đánh giá phải
    xuất phát từ chủ đề, ý nghĩa của cốt truyện, từ tính cách, số phận của nhân vật, từ kết
    cấu ngôn ngữ của tác phẩm. Khi nghị luận về một nhân vật, cần phân tích, đánh giá
    từng phương diện cơ bản của nhân vật được nhà văn phản ánh (lai lịch, ngoại hình, nội
    tâm, cử chỉ, hành động…) gắn liền với những chi tiết nghệ thuật đặc sắc.
    e. Phải có kĩ năng đưa kiến thức l luận và nhận định l luận văn học vào bài làm
    văn nghị luận văn học.
    Lí luận văn học là bộ môn nghiên cứu về lí thuyết văn chương. Nó là một tri
    thức khoa học và hơn thế nữa, còn là một phương tiện để tìm hiểu, giải mã tác phẩm
    văn học một cách thấu đáo, khoa học, giúp ta thấu cảm hết cái hay, cái đẹp của văn
    14
    chương. Dạy chúng ta nắm vững kiến thức lí luận một cách khoa học, đầy đủ thì khi
    phân tích, cảm nhận một tác phẩm văn học hay làm một bài văn sẽ tránh được sự cảm
    thụ, lập luận chủ quan và khô khan.
    Việc nắm vững các kiến thức lí luận sẽ giúp học sinh vận dụng trong từng dạng
    đề, dạng bài thì bài làm sẽ trở nên chỉnh chu, sâu sắc, chặt chẽ, sẽ có nét riêng trong
    chất văn của mình. Và đây là một yếu tố hết sức quan trọng đối với một bài nghị luận
    văn học nói chung.
    Tầm quan trọng của việc sử dụng kiến thức lí luận vào bài văn nghị luận văn học:
    Khi viết một bài văn, học sinh cần phải hiểu và nắm vững hệ thống kiến thức lí
    luận để lồng ghép, găm cài vào việc giải thích, đánh giá và diễn đạt để ý kiến đưa ra
    khi cảm nhận hoặc phân tích có cơ sở vững chắc, có chiều sâu.
    Bài viết có kiến thức lí luận thì lập luận, hành văn diễn đạt sẽ có chủ kiến, lí lẽ,
    luận luận, bảo vệ những ý kiến bàn luận sẽ đúng đắn, khoa học và cảm xúc. Những
    kiến thức lí luận văn học giúp học sinh phát hiện được vấn đề, phát hiện những tín
    hiệu thẩm mĩ hay độc đáo, khúc chiết và logic.
    Khi làm văn, học sinh cũng phải biết và lựa chọn đơn vị kiến thức lí luận hợp lí
    và phải biết cách vận dụng vào bài viết. Bởi một bài viết có kết hợp kiến thức lí luận
    văn học sẽ ph hợp với đặc trưng bộ môn và phương pháp dạy học kết hợp từ lí luận
    đến thực tiễn.
    Biết chọn lọc những kiến thức lí luận ph hợp sẽ tạo nên những điểm nhấn,
    điểm sáng cho bài viết, thể hiện cảm xúc, dấu ấn cá nhân và tư duy sáng tạo của người
    viết góp phần nâng cao chất lượng của bài viết, dấu ấn của người viết.
    Những yêu cầu cơ bản khi đưa kiến thức lí luận văn học vào bài làm văn nghị luận
    văm học:
    Để đưa được kiến thức lí luận văn học vào bài làm văn thì giáo viên phải hướng
    dẫn học sinh nắm được vai trò và ý nghĩa của lí luận văn học qua các chuyên đề trọng
    tâm để có kiến thức khi tiếp cận một đề thi, có lí luận văn học thì chúng ta sẽ định hình
    được dàn ý, cách lập luận và kiến thức lí luận văn học để đưa vào bài làm. Khối lượng
    chuyên đề lí luận văn học rất lớn nhưng với phạm vi bài thi tốt nghiệp THPT thì chỉ
    cần nắm vững kiến thức lí luận của 3 năm THPT:
    Lớp 10: Văn bản văn học (Đặc trưng văn học); Nhà văn và quá trình sáng tạo.
    Lớp 11: Đặc trưng các thể loại văn học (Thơ, truyện – Tập 1; Kịch, kí – Tập 2)
    15
    Lớp 12: Các giá trị văn học, tiếp nhận văn học; Phong cách văn học.
    Và tập trung vào 3 vấn đề cơ bản sau:
    -Nắm chắc các khái niệm (Trả lời câu hỏi: Là gì?)
    -Biểu hiện của vấn đề lí luận trong tác phẩm văn học (Trả lời câu hỏi: Như thế
    nào?)
    -Vai trò, ý nghĩa của vấn đề lí luận đối với tác phẩm văn học (Trả lời câu hỏi:
    Vì sao?)
    Học thuộc những câu nhận định lí luận văn học hay về tác phẩm thơ, truyện
    ngắn, tác giả, phong cách…tiêu biểu để linh hoạt sử dụng khi làm bài. Khi làm bài,
    kiến thức phải được xử lí một cách khoa học dựa trên nền tảng lí luận sao cho hòa
    quyện, logic.
    Chú ý: Không nên ôm ồm, phô diễn kiến thức lí luận một cách t y tiện, không
    gắn với yêu cầu của đề hoặc đưa vào mà không phân tích, lí giải thấu đáo. Nên tinh,
    gọn khi chọn kiến thức lí luận để làm sáng tỏ cho vấn đề đang bàn luận, không sa đà
    thì bài làm văn mới sâu sắc, có điểm nhấn, trọng tâm và mang dấu ấn của người viết.
    Khi vận dụng kiến thức lí luận phải biết tích hợp nhiều thao tác làm văn. Bài
    văn hay là nhờ vận dụng một cách linh hoạt, hợp lí giữa nhiều kiến thức lí luận, kiến
    thức văn học đực diễn đạt cảm xúc và giàu hình ảnh r nét.
    Một số cách để đưa kiến thức lí luận văn học vào bài làm văn:
    Để viết một bài nghị luận hay, có chất riêng thì đầu tiên phải viết đúng (đúng
    trọng tâm), sau đúng là đủ (đủ là đủ ý), sau c ng mới là viết hay (muốn hay thì phải
    cần lí luận). Vì vậy, việc áp dụng kiến thức và đưa lí luận vào bài làm đòi hỏi người
    viết không chỉ nắm vững kiến thức về lí luận mà phải có kĩ năng luồn lách vận dụng
    linh hoạt trong toàn bộ bài viết của mình. Vậy nên đặt kiến t

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ