âm thanh lớp học, loa trợ giảng

SKKN Nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo Sân khấu hóa một số hình tượng nhân vật và tác phẩm văn học

SKKN Nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo Sân khấu hóa một số hình tượng nhân vật và tác phẩm văn học

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

ĐIỀU KIÊN, HOÀN CẢNH TẠO RA SANG KIÊN
Giáo dục và đào tạo có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát
triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Nhiều quốc gia trên thế giới đã đạt được những
thành tựu to lớn trong quá trình phát triển nhờ sớm coi trọng vai trò của giáo dục
và đào tạo như Nhật Bản với quan điểm coi “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng
đầu; cần kết hợp hài hoà giữa bản sắc văn hóa lâu đời phương Đông với những
tri thức Phương Tây hiện đại”; hay Singapore với phương châm “Thắng trong
cuộc đua về giáo dục sẽ thắng trong cuộc đua về phát triển kinh tế”; cường quốc
Mỹ cũng luôn chú trọng đến việc “Tập trung cho đầu tư giáo dục – đào tạo và
thu hút nhân tài”; một người bạn lớn của Việt Nam là Liên xô trước đây cũng đã
khẳng định “Chính sách về con người là điểm bắt đầu và là điểm kết thúc của
mọi chính sách kinh tế – xã hội”.
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn thế hệ trẻ “Non sông
Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh
quang sánh vai cùng các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ
một phần lớn ở công học tập của các em” (Hồ chí Minh toàn tập, 1995, tập 4,
tr33). Có thể nói giáo dục là quốc sách hàng đầu góp phần vào sự phát triển của
mỗi quốc gia dân tộc; để có thể thực hiện tốt vai trò của mình Giáo dục nước
nhà đang từng bước chuyển mình để đáp ứng yêu cầu của thực tế cuộc sống.
Nhà phê bình văn học Hoài Thanh từng khẳng định: “Văn chương sẽ là
hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng. Chẳng những thế văn chương còn
sáng tạo ra sự sống… Công dụng của văn chương cũng là giúp cho tình cảm và
gợi lòng vị tha”. Quả đúng vậy, văn học là nghệ thuật ngôn từ, là bức tranh
muôn màu của cuộc sống, là thế giới sâu thẳm đa chiều của tâm hồn con người
được các nhà văn, nhà thơ phát hiện, phản ánh, sáng tạo bằng tiếng nói, chữ viết
và được lưu hành trong xã hội từ đời này sang đời khác. Văn học không chỉ
mang trong mình chức năng nhận thức mà còn chứa đựng cả chức năng giáo dục
thẩm mĩ giúp con người vươn tới cái chân, thiện, mĩ. Văn học giúp cho con
người hiểu biết hơn về đời sống xã hội, từ đó thêm yêu mến, tự hào về quê
hương đất nước, về lịch sử vẻ vang của dân; đồng thời khơi dậy hoài bão nối gót
4
người trước, khám phá và làm giàu thêm những di sản văn hóa của ông cha để
lại. Bởi vậy, học văn không chỉ là việc khám phá thế giới nghệ thuật ngôn từ để
mở rộng tầm hiểu biết, làm giàu có thêm vốn tri thức của mình mà qua đó ta còn
được tiếp xúc, thấu hiểu, đồng cảm và hình thành những tình cảm nhân văn cao
quý, để sống “người” hơn đúng như M.Gorki từng nói: “Văn học là nhân học”,
“Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản
thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng hướng tới chân lý”.
Hiểu được điều đó, người giáo viên mang cho mình một trọng trách, một
sứ mệnh cao cả và thiêng liêng hơn; đó là không chỉ truyền đạt cho học sinh
những kiến thức cơ bản, những nét đặc sắc trong nội dung, nghệ thuật của văn
bản mà giáo viên còn hướng tới phát triển những năng lực cá nhân đặc biệt là
năng thực cảm thụ thẩm mĩ và thưởng thức văn học từ đó bồi đắp tâm hồn cho
học sinh, hình thành ở các em tình yêu văn chương, sự đồng cảm với những
mảnh đời, số phận trong văn học; biết trân trọng, ngợi ca tài năng của các thi
sĩ…Muốn thực hiện được điều đó thì việc đầu tiên là người thầy phải làm cách
nào để đưa tác phẩm đến với học sinh, giúp các em hiểu sâu sắc tác phẩm đó tức
là phải có những phương pháp dạy học phù hợp, khoa học và hiệu quả.
Môn Ngữ Văn là một môn học có vai trò vô cùng quan trọng và có sự gần
gũi, gắn bó mật thiết với cuộc sống con người. Trong xã hội phong kiến xưa,
văn chương là môn thi duy nhất để các sĩ tử khẳng định mình trong các khoa
thi. Trong xã hội ngày nay, việc học văn có ý nghĩa rất to lớn, nó giúp con người
nhận thức được cái hay, cái đẹp, nhận thức được chuẩn mực trong cuộc sống;
giúp con người hướng tới những giá trị nhân văn, nhân ái giữa nhịp sống xô bồ,
gấp gáp của thời đại. Có thể thấy, văn chương chân chính dù ở bất kì thời đại
nào cũng đều đề cao tình yêu thương, lòng nhân ái, sự công bằng, giúp con
người nhận thấy thế giới này sẽ đẹp hơn nhiều từ những điều giản dị nhất, định
hướng cho con người sống có bản lĩnh, có suy nghĩ; có lối sống đúng đắn, cách
ứng xử lành mạnh, văn minh. Và đặc biệt văn học còn rèn cho các em có được
bộ óc sáng tạo, trí tưởng tượng phong phú – thứ mà con người đang rất cần khi
bước sang một thời đại mới – thời đại công nghệ số 4.0 hay 5.0…
5
Thực tế việc giảng dạy môn Ngữ văn đối với đối tượng học sinh THCS
còn gặp rất nhiều khó khăn bởi nhận thức của học sinh còn hạn chế, học sinh
khó tiếp nhận, ít hào hứng và say mê, học sinh chưa có tính tự giác trong học tập
từ đó dẫn đến hiệu quả chưa cao. Học sinh chưa có sự chủ động tìm hiểu và
khám phá bài học, các em tiếp nhận các tác phẩm một cách thụ động và như vậy
nếu không được ôn tập, nhắc lại một cách thường xuyên thì nội dung kiến thức
đã học sẽ chẳng đọng lại trong các em được bao lâu. Thêm vào đó khả năng cảm
thụ và tư duy của học sinh còn yếu, học sinh ít có khả năng độc lập suy nghĩ để
tự mình chiếm lĩnh tri thức mới.
Vậy làm thế nào để tổ chức việc học môn Ngữ Văn cho đạt hiệu quả?
Thiên chức của giáo viên dạy văn cũng giống như người nghệ sĩ: khơi dậy tâm
hồn ngây thơ của các em biết rung động trước cái đẹp, cái thiện của cuộc sống;
biết yêu ghét cái xấu xa, thấp hèn. Xa hơn nữa, các em có thể cảm nhận được tài
năng của nhà văn khi khắc họa các hình tượng nghệ thuật đặc sắc. Vậy làm như
thế nào để giờ dạy văn dê đi vào lòng người? Đó là một vấn đề luôn được các
nhà trường, thầy cô quan tâm và trăn trở. Là giáo viên đứng lớp trực tiếp giảng
dạy môn Ngữ văn, chúng tôi đã luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, đổi mới phương
pháp dạy học để tạo nên sự hứng thú học tập và nâng cao kết quả học tập cho
học sinh. Chúng tôi mong muốn, sau mỗi tiết học, học sinh của mình không chỉ
hiểu mà còn say sưa, thích thú với những kiến thức vừa được khám phá. Xuất
phát từ mong muốn này, chúng tôi đã nhiều lần thử nghiệm, trao đổi cùng đồng
nghiệp để tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng trong việc dạy học bộ môn.
Và một trong những giải pháp mà chúng tôi cùng đồng nghiệp dạy bộ môn Ngữ
Văn tại trường THCS Nguyên Hiền tâm đắc, hứng thú đó là cho học sinh tham
gia “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo dưới hình thức sân khấu hoá một số hình
tượng nhân vật và tác phẩm văn học”.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo này được diên ra thường kì mỗi năm 2
lần theo lịch sinh hoạt của Câu lạc bộ Văn học trường THCS Nguyên Hiền và
được vận dụng linh hoạt trong tiết học theo chủ đề phù hợp, tiết sinh hoạt dưới
cờ, buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp theo chủ đề,…
6
II. MÔ TẢ GIẢI PHAP
1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến.
Khi tiến hành thực hiện sáng kiến này, chúng tôi đã nghiên cứu, thực
nghiệm trên cơ sở lí thuyết và thực tế cụ thể như sau:
1.1. Phương pháp nghiên cứu
a. Nghiên cứu lí luận
– Nghiên cứu những thuận lợi, khó khăn, hiệu quả của việc dạy các tác
phẩm văn học trong chương trình.
– Những kiến thức, kĩ năng, thái độ mà bộ môn cần cung cấp, bồi dưỡng
cho HS trong quá trình dạy học văn bản, các hình tượng nhân vật.
– Cách thức tổ chức các hoạt động để nâng cao chất lượng giảng dạy.
b. Nghiên cứu thực tế
Điều tra thực tế về việc giảng dạy của gaió viên, học tập của học sinh;
theo dõi kết quả học tập của học sinh qua các giai đoạn từ đó kiểm nghiệm, đối
chứng và tìm ra giải pháp phù hợp.
1.2. Nội dung cụ thể của giải pháp
Để tìm hiểu rõ hơn nguyên nhân dẫn đến chất lượng dạy học môn Ngữ Văn
của một số lớp ở các khối của nhà trường trong những năm gần đây chưa cao,
chúng tôi tiến hành trao đổi, thảo luận và dự giờ thăm lớp các đồng nghiệp ở
trường THCS Nguyên Hiền.
Qua thực tế dự giờ, trao đổi chuyên môn và chấm bài khảo sát học sinh,
chúng tôi nhận thấy những ưu điểm và tồn tại của giáo viên và học sinh như sau:
a. Giáo viên
– Ưu điểm: Các đồng nghiệp của chúng tôi đều yêu nghề, say chuyên môn,
vững vàng về kiến thức; truyền đạt đúng đủ nội dung yêu cầu theo chuẩn kiến
thức kĩ năng; đảm bảo đầy đủ tiến trình lên lớp theo Kế hoạch bài học.
– Tồn tại:
+ Giáo viên chủ yếu tuân thủ các phương pháp dạy học truyền thống
chủ yếu dùng phương pháp thuyết giảng, đọc chép là chính. Khi dùng phương
pháp này giáo viên chủ yếu dùng lời nói của mình tác động tới học sinh bởi vậy
mà vô tình đã làm mất khả năng tư duy sáng tạo, khả năng tưởng tượng vô cùng
7
phong phú ở các em. Do đó, khi đối mặt với các đề thi có tính mở như hiện nay,
học sinh không linh hoạt trong việc xử lí yêu cầu của đề dẫn đến kết quả thi
chưa cao.
+ Hiểu biết của một số giáo viên chưa sâu rộng, cách truyền giảng chưa
lôi cuốn được sự chú ý của học sinh. Trong quá trình lên lớp, giáo viên chỉ chú
trọng truyền tải kiến thức trong sách giáo khoa, chưa có sự liên hệ mở rộng với
các tác phẩm cùng đề tài ở ngoài chương trình do đó chưa khơi gợi được hứng
thú học tập của học sinh. Đặc biệt, khi giảng dạy, một số giáo viên chưa gắn vấn
đề được đề cập tới trong văn bản với thực tế cuộc sống, chưa giúp học sinh nhận
ra giá trị chân chính, cái đích cuối cùng của tác phẩm.
+ Những năm gần đây, các phương pháp, kĩ thuật dạy học mới đã được
vận dụng vào các giờ học song chưa thực sự hiệu quả do giáo viên chưa hiểu
chính xác, chưa làm tốt các thao tác dẫn đến việc làm hình thức, chống đối cho
có. Bởi vậy mà dù áp dụng phương pháp dạy học mới nhưng thực chất là “bình
mới rượu cũ”, học sinh vẫn rất thụ động làm theo sự hướng dẫn định hình dập
khuôn, chủ quan của giáo viên chứ chưa thể hiện được cá tính sáng tạo riêng của
mình.
b. Học sinh
Đầu năm học 2019-2020, 2020-2021 chúng tôi đã tiến hành khảo sát học
sinh và đưa ra một số kết luận, nhìn từ góc độ học sinh thì chất lượng dạy học
môn Ngữ Văn ở trường THCS Nguyên Hiền thời gian qua chưa cao là do:
– Học sinh không có hứng thú học môn Ngữ Văn, với một số em việc học Văn
trở thành “cực hình”, thành một việc vô cùng khó khăn và mệt mỏi.
– Đa số các em học Văn theo lối học truyền thống: ghi chép thụ động, học thuộc
một cách máy móc, không có cảm nhận, sáng tạo riêng, dập khuân theo kiến
thức thầy cô truyền tải.
– Nhiều em lười suy nghĩ, tìm tòi, ỷ lại vào sách tham khảo, bạn bè, thầy cô.
– Một số em không có hứng thú học tập, chưa có sự tập trung chú ý trong giờ,
làm việc riêng hoặc không tập trung nghe giảng.
– Ấn tượng về các nhân vật, các tác phẩm văn học mờ nhạt, dê quên nếu không
được thầy cô nhắc đi, nhắc lại.
8
Nhận thức sâu sắc về những hạn chế của cách dạy học đã ảnh hưởng
nghiêm trọng đến chất lượng học tập của học sinh, chúng tôi đã suy nghĩ, tìm tòi
đổi mới trong phương pháp dạy học bộ môn Ngữ Văn. Từ sự thay đổi trong cách
dạy, chúng tôi cũng định hướng, giúp các em học sinh thay đổi phương pháp
học, đổi mới cách viết văn theo lối tư duy sáng tạo để học sinh không chỉ là đối
tượng của nhận thức mà các em còn xuất hiện với vai trò chủ thể của hoạt động
học tập, của quá trình tiếp nhận. Qua thực tế thử nghiệm, chúng tôi nhận ra rằng,
một trong những giải pháp giúp học sinh yêu thích, hứng thú với bộ môn Ngữ
Văn là cho các em được trải nghiệm; đưa các nhân vật, các tác phẩm văn học
đến với thực tế cuộc sống để học sinh có sự tiếp cận và bộc lộ suy nghĩ, cảm
nhận rõ ràng hơn. Xuất phát từ năng lực, sở trường của các thành viên trong
nhóm; từ những điều kiện của nhà trường và đặc biệt là từ đối tượng học sinh
với những năng khiếu khác nhau, chúng tôi nhận thấy phương pháp dạy học
thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo “Sân khấu hóa một số hình tương
nhân vật và tác phẩm văn học” đem lại những hiệu quả thiết thực cho việc dạy
và học của thầy và trò nhà trường.
2. Mô tả giải pháp sau khi co sáng kiến.
2.1. Nêu vấn đề
Năm học 2020 -2021, vấn đề đổi mới trong dạy và học diên ra ngày càng
mạnh mẽ, đặc biệt Đảng, Nhà nước và Bộ Giáo dục quyết tâm thực hiện Nghị
quyết số 29NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị lần thứ VIII Ban chấp hành TW
khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập quốc tế. Cụ thể là đổi mới phương pháp dạy và học, kiểm tra, đánh
giá hướng tới hình thành và phát triển năng lực cho học sinh. Nhìn những tổng
thể mặt đạt được của giáo dục đến những mặt còn hạn chế, chúng ta đã thấy
được sự nỗ lực, chung tay góp sức của các cấp, các ngành, của toàn Đảng, toàn
dân ta để góp phần thúc đẩy đưa giáo dục đi lên. Nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục, hướng tới đối tượng lĩnh hội là các em học sinh thì các nhà trường, các thầy
cô quyết tâm tìm mọi cách thức để thực hiện đổi mới trong phương pháp dạy và
học nhằm đưa kiến thức đến với học sinh một cách tự nhiên, hiệu quả nhằm
9
nâng cao chất lượng học tập của các em. Các em thực sự tích cực, chủ động
trong việc lĩnh hội tri thức.
Trong bước tiến không ngừng của xã hội, giáo dục phổ thông ở Việt Nam
cũng đang thực hiện những bước chuyển mình từ chương trình giáo dục “tiếp
cận nội dung” sang “giáo dục tiếp cận năng lực”. Nghĩa là từ chỗ truyền thụ kiến
thức thụ động chuyển sang quan tâm vào việc xây dựng kế hoạch, hỗ trợ, hướng
dẫn học sinh tìm hiểu, khám phá, lĩnh hội tri thức và vận dụng được kiến thức
vào thực tiên cuộc sống. Để thực hiện được mục tiêu đổi mới phát triển năng lực
học sinh, nhất định người giáo viên phải thực hiện thành công việc chuyển từ
phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy “cách học vận
dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất”.
Xuất phát từ thực tiên của nền giáo dục nước nhà, Đảng và Nhà nước ta
đã đề ra mục tiêu đổi mới và nhấn mạnh khâu quan trọng của đổi mới giáo dục
là đổi mới phương pháp dạy học. Luật giáo dục năm 2005, điều 28.2 đã nêu
rõ “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học; bồi dưỡng
phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng
kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học
tập cho học sinh”. Nền giáo dục đổi mới đòi hỏi giáo viên không chỉ trang bị
cho học sinh kiến thức mà nhân loại đã tìm ra mà còn phải bồi dưỡng cho học
sinh tính năng động, óc tư duy sáng tạo và thực hành giỏi. Tức là giáo dục phải
đào tạo được những con người không chỉ biết tiếp nhận tri thức, thực hành tri
thức đó mà còn phải có năng lực hành động để sáng tạo ra những tri thức mới.
Góp phần thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, hiện
nay, rất nhiều nhà trường đang thực hiện việc dạy học theo phương pháp trải
nghiệm sáng tạo. Đây được coi là chìa khóa thực hiện việc học đi đôi với hành,
học qua làm, học giải quyết các vấn đề thực tiên trong cuộc sống ngay trong lớp,
trong trường.
2.2. Những vấn đề lý luận chung
Thay đổi phương pháp dạy học không có nghĩa là chúng ta bác bỏ hoàn
toàn các phương pháp cũ vì không có phương pháp dạy học nào là toàn năng.
10
Phương pháp nào cũng có những điểm tích cực và điểm hạn chế vậy người giáo
viên phải làm sao lựa chọn được phương pháp tối ưu nhất cho phù hợp với từng
mảng kiến thức, từng văn bản cụ thể để pháy huy được cao nhất hiệu quả của
phương pháp và mang lại chất lượng tốt nhất cho giờ học.
Giảng dạy môn Ngữ văn không hề dê và để giảng sao cho hay, cho học
sinh thấm được cái hồn của tác phẩm, thấu được cái tình của tác giả rồi từ đó
hình thành ý tưởng để có thể sân khấu hóa một số hình tượng văn học lại càng
khó. Để làm được điều đó đòi hỏi trước hết người giáo viên phải là người nắm
chắc kiến thức về mảng văn học này để thật sự hiểu và sống với từng tác phẩm;
từ đây mới có được những rung cảm thực sự, những ý tưởng sáng tạo, biến tác
phẩm thành kịch bản để việc truyền thụ tri thức, tình yêu, sự say mê văn học tới
các em học sinh một cách sáng tạo nhất. Muốn vậy, giáo viên phải nắm vững,
hiểu rõ những khái niệm, đặc trưng hình thức của hoạt động trải nghiệm sáng tạo
dưới hình thức “Sân khấu hoá một số hình tượng nhân vật và tác phẩm văn học”
trước khi tiến hành tổ chức các hoạt động cụ thể, tạo hứng thú, lôi cuốn với học
sinh. Cụ thể:
2.2.1. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục
phổ thông
a. Thế nào là hoạt động trải nghiệm sáng tạo?
Đây là hoạt động giáo dục trong đó dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà
giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực
tiên khác nhau của đời sống gia đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư
cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiên, phẩm chất
nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho hoạt
động dạy học trên lớp của giáo viên.
Hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo rất đa
dạng, linh hoạt, ở đó học sinh tự hoạt động, trải nghiệm là chính. Có 4 phương
pháp chính, đó là: Phương pháp giải quyết vấn đề (GQVĐ), phương pháp sắm
vai, phương pháp trò chơi và phương pháp làm việc nhóm.
11
Trong quá trình giảng dạy, mỗi giáo viên tùy thuộc vào điều kiện cơ sở
vật chất của nhà trường, kinh phí thực hiện, đặc thù bộ môn và năng lực của giáo
viên, học sinh mà có thể vận dụng các hình thức và phương pháp trải nghiệm
khác nhau.
b. Tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) là những hoạt động có chủ đích, có
kế hoạch hoặc có sự định hướng của nhà giáo dục, được thực hiện thông qua
những cách thức phù hợp để chuyển tải nội dung giáo dục tới người học nhằm
thực hiện mục tiêu giáo dục.
Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, kế hoạch giáo dục bao gồm
các môn học, chuyên đề học tập (gọi chung là môn học) và hoạt động trải
nghiệm sáng tạo; hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) bao gồm hoạt động dạy
học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
Cùng với việc “dạy học tích hợp liên môn”, “dạy học gắn với sản xuất
kinh doanh”, “dạy học với di sản”, “trải nghiệm sáng tạo” là việc được nhiều nhà
trường thực hiện. Nhưng những nơi thực hiện đúng tinh thần, có hiệu quả thì
không nhiều, “trải nghiệm sáng tạo” trở thành phong trào, thành các cuộc thi
mang tính hình thức ở nơi này, nơi kia do không được các cấp quản lý hiểu
đúng, chỉ đạo thực hiện đúng.
Ta phải hiểu rõ tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm sáng tạo:
Trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, hoạt động trải nghiệm
sáng tạo được xếp vào nhóm môn học bắt buộc có phân hóa, trải từ tiểu học đến
THPT. Trong tọa đàm phản biện dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng
thể, TS Phạm Đỗ Nhật Tiến (nguyên chuyên gia giáo dục của Bộ GD-ĐT) cho
rằng: hoạt động trải nghiệm sáng tạo đưa vào chương trình với mục đích chính
là chuyển hóa kiến thức, kỹ năng, thái độ thành năng lực. Vì vậy đó không thể là
môn học riêng biệt mà phải gắn liền với từng môn học, là một phần của giáo dục
môn học. Vì thế để tách hoạt động này riêng biệt trong hệ thống môn học của
các bậc học là không hợp lý, mà nên đưa vào môn học với phân bổ thời lượng
hợp lý làm cơ sở để thiết kế chương trình từng môn học theo yêu cầu riêng của
từng môn.
12
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo không gọi là môn học mà là hoạt động
giáo dục. Các môn học thực hiện giảng dạy những lĩnh vực có tính khoa học,
chủ yếu nhằm phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh. Bên cạnh đó, chúng ta có
hoạt động giáo dục, là hoạt động nhằm phát triển những phẩm chất nhân cách,
kỹ năng sống hay là năng lực tâm lý xã hội giúp con người có thể thích nghi,
thích ứng với xã hội, làm chủ bản thân, biết sống tích cực và hạnh phúc… Đây là
những mặt vô cùng quan trọng để tạo nên cuộc sống có ý nghĩa của mỗi cá nhân.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo còn được biết đến với tên gọi tên gọi là
hoạt động ngoài giờ lên lớp hoặc hoạt động ngoài giờ chính khóa. Mục tiêu
hướng đến của hoạt động trải nghiệm sáng tạo là phải được xây dựng sao cho
100% học sinh tham gia, được rèn luyện, và 100% học sinh được đánh giá trong
các hoạt động đó. Để thực hiện mục tiêu đổi mới đó, chương trình Hoạt động
trải nghiệm sáng tạo bao gồm:
– Chương trình trải nghiệm hoạt động sinh hoạt hành chính nhà trường (Bắt
buộc)
– Chương trình hoạt động trải nghiệm định hướng cá nhân (Bắt buộc)
– Chương trình hoạt động trải nghiệm giáo dục tổng hợp (Tự chọn bắt buộc)
– Chương trình hoạt động câu lạc bộ ( Tự chọn phân hoá)
Đối với loại chương trình thứ nhất, nhà trường đã tiến hành đổi mới giờ
sinh hoạt dưới cờ và sinh hoạt lớp. Hai giờ sinh hoạt này là không thể thiếu được
trong quản lý nhà trường và quản lý lớp học. Các em học sinh sẽ được tham gia
trực tiếp và chủ động hơn vào các hoạt động này, phối kết hợp chặt chẽ với nhà
trường, thầy cô chủ nhiệm lớp, tổng phụ trách Đoàn Đội… để tổ chức lồng ghép
các chủ đề giáo dục có tính thời sự, tính địa phương.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo không chỉ hướng đến những phẩm chất và
năng lực chung mà còn có ưu thế trong việc thúc đẩy hình thành ở người học các
năng lực đặc thù sau:
– Năng lực hoạt động và tổ chức hoạt động;
– Năng lực tổ chức và quản lý cuộc sống;
– Năng lực tự nhận thức và tích cực hóa bản thân;
– Năng lực định hướng nghề nghiệp;
13
– Năng lực khám phá và sáng tạo;
c. Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông rất đa dạng với
nhiều hình thức khác nhau như hoạt động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi, diên đàn,
sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại, các hội thi, hoạt động giao lưu, hoạt
động nhân đạo, hoạt động tình nguyện, hoạt động cộng đồng, sinh hoạt tập thể,
lao động công ích, sân khấu hóa (kịch, thơ, hát, múa rối, tiểu phẩm, kịch tham
gia,…), thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội,… Mỗi hình thức hoạt động trên
đều mang ý nghĩa giáo dục nhất định.
d. Một số phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo coi trọng các hoạt động thực tiên mang
tính tự chủ của học sinh, về cơ bản là hoạt động mang tính tập thể trên tinh thần
tự chủ cá nhân, với sự nỗ lực giáo dục giúp phát triển sáng tạo và cá tính riêng
của mỗi cá nhân trong tập thể. Đây là những hoạt động giáo dục được tổ chức
gắn liền với kinh nghiệm, cuộc sống để học sinh trải nghiệm và sáng tạo. Điều
đó đòi hỏi các hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
phải đa dạng, linh hoạt, học sinh tự hoạt động, trải nghiệm là chính. Ở đây có 4
phương pháp chính, đó là:
– Phương pháp giải quyết vấn đề
Giải quyết vấn đề là một phương pháp giáo dục nhằm phát triển năng lực
tư duy, sáng tạo, giải quyết vấn đề của học sinh. Các em được đặt trong tình
huống có vấn đề, thông qua việc giải quyết vấn đề giúp học sinh lĩnh hội tri
thức, kĩ năng và phương pháp. Trong tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo,
phương pháp giải quyết vấn đề thường được vận dụng khi học sinh phân tích,
xem xét và đề xuất những giải pháp trước một hiện tượng, sự việc nảy sinh trong
quá trình hoạt động.
Phương pháp giải quyết vấn đề có ý nghĩa quan trọng, phát huy tính tích
cực, sáng tạo của học sinh, giúp các em có cách nhìn toàn diện hơn trước các
hiện tượng, sự việc nảy sinh trong hoạt động, cuộc sống hàng ngày. Để phương
pháp này thành công thì vấn đề đưa ra phải sát với mục tiêu hoạt động, kích
thích học sinh tích cực tìm tòi cách giải quyết. Đối với tập thể lớp, khi giải quyết
14
vấn đề giáo viên phải coi trọng nguyên tắc tôn trọng, bình đẳng, tránh gây ra
căng thẳng không có lợi khi giáo dục học sinh. Phương pháp trên được tiến hành
theo các bước cụ thể như sau:
+ Bước 1: Nhận biết vấn đề
Trong bước này giáo viên cần phân tích tình huống đặt ra giúp học sinh
nhận biết được vấn đề để đạt yêu cầu, mục đích đặt ra. Do đó, vấn đề ở đây cần
được trình bày rõ ràng, dê hiểu đối với học sinh.
+ Bước 2: Tìm phương án giải quyết
Để tìm ra các phương án giải quyết vấn đề, học sinh cần so sánh, liên hệ
với cách giải quyết vấn đề tương tự hay kinh nghiệm đã có cũng như tìm
phương án giải quyết mới. Các phương án giải quyết đã tìm ra cần được sắp xếp,
hệ thống hóa để xử lí ở giai đoạn tiếp theo. Khi có khó khăn hoặc không tìm
được phương án giải quyết thì cần quay trở lại việc nhận biết vấn đề để kiểm tra
lại và hiểu vấn đề.
+ Bước 3: Quyết định phương án giải quyết
Giáo viên cần quyết định phương án giải quyết vấn đề, khi tìm được phải
phân tích, so sánh, đánh giá xem có thực hiện được việc giải quyết vấn đề hay
không. Nếu có nhiều phương án giải quyết thì cần so sánh để xác định phương
án tối ưu. Nếu các phương án đã đề xuất mà không giải quyết được vấn đề thì
tìm kiếm phương án giải quyết khác. Khi quyết định được phương án thích hợp
là đã kết thúc việc giải quyết vấn đề.
– Phương pháp sắm vai
Sắm vai là phương pháp giáo dục giúp học sinh thực hành cách ứng xử,
bày tỏ thái độ trong những tình huống giả định hoặc trên cơ sở óc tưởng tượng
và ý nghĩ sáng tạo của các em. Sắm vai thường không có kịch bản cho trước
mà học sinh tự xây dựng trong quá trình hoạt động. Đây là phương pháp giúp
học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào cách ứng xử
cụ thể mà các em quan sát được. Sắm vai có ý nghĩa rất lớn trong việc hình
thành và phát triển các kĩ năng giao tiếp cho học sinh. Thông qua sắm vai, học
sinh được rèn luyện, thực hành những kĩ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong
môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiên, tạo điều kiện phát triển
15
óc sáng tạo của các em, khích lệ thay đổi thái độ và hành vi theo hướng tích
cực trước một vấn đề hay đối tượng nào đó.
Về mặt tâm lý học, thông qua các hành vi, cá nhân nhận thức và giải
quyết tốt hơn vấn đề của bản thân, vai trò lĩnh hội được trong quá trình sắm vai
cho phép học sinh thích ứng với cuộc sống tốt hơn. Trong trò chơi cũng như
trong cuộc sống, các em mong muốn có được một vai yêu thích, khi sắm một
vai học sinh bước ra từ chính bản thân mình. Điều này trở thành phương tiện
để thể hiện niềm vui, nỗi buồn, mối quan tâm, băn khoăn, mong muốn được
chia sẻ, sự do dự, ngập ngừng… của chính các em. Thông qua các vai được
sắm trong trò chơi, học sinh thể hiện các khía cạnh khác nhau trong tính cách
như: sự ưa thích, tình cảm, sự hiểu biết về nhân vật mà các em đang sắm vai đó
và những người bạn đang chơi cùng với hành động của chúng là điều đặc biệt
quan trọng, có ý nghĩa nhiều mặt đối với học sinh.
Phương pháp sắm vai được tiến hành theo các bước nhất định bao gồm:
+ Bước 1: Nêu tình huống sắm vai (phù hợp với chủ đề hoạt động; phải là
tình huống mở; phù hợp với trình độ học sinh).
+ Bước 2: Cử nhóm chuẩn bị vai diên (có thể chuẩn bị trước khi tiến hành
họat động): yêu cầu nhóm sắm vai xây dựng kịch bản thể hiện tình huống sao
cho sinh động, hấp dẫn, mang tính sân khấu nhưng không đưa ra lời giải hay
cách giải quyết tình huống. Kết thúc sắm vai là một kết cục mở để mọi người
thảo luận.
+ Bước 3: Thảo luận sau khi sắm vai: khi sắm vai kết thúc, người dẫn chương
trình đưa ra các câu hỏi có liên quan để học sinh thảo luận
+ Bước 4: Thống nhất và chốt lại các ý kiến sau khi thảo luận.
– Phương pháp trò chơi
Trò chơi là tổ chức cho HS tìm hiểu một vấn đề hay thực hiện những hành
động, việc làm hoặc hình thành thái độ thông qua một trò chơi nào đó.
Đặc thù của trò chơi: Trò chơi không phải là thật mà là giả vờ như làm một cái
gì đó nhưng mang tính chân thật (nhập các vai chơi một cách chân thật, thể hiện
động tác, hành vi phù hợp…). Hơn nữa, đây là một hoạt động tự do, tự nguyện
16
không thể gò ép hoặc bắt buộc chơi khi các em không thích, không đáp ứng nhu
cầu, nguyện vọng của chúng.
Trò chơi được giới hạn bởi không gian và thời gian, có qui tắc tổ chức
(luật chơi do nội dung chơi quy định). Đặc thù này sẽ quy định quy mô, số
lượng người chơi, điều kiện, vật chất, cũng như xác định tính chất, phương
pháp hành động, tổ chức và điều khiển hành vi cũng như những mối quan hệ
lẫn nhau của người chơi.
Trò chơi là một hoạt động mang tính sáng tạo cao, thể hiện ở việc lựa
chọn chủ đề chơi, phân vai tạo ra tình huống, hoàn cảnh chơi, sử dụng phương
tiện thay thế trong các trò chơi sáng tạo, lựa chọn các phương thức hành động
và phân chia tình huống chơi để giải quyết nhiệm vụ chơi trong những trò chơi
có luật.
Trò chơi là phương tiện giáo dục và phát triển toàn diện HS, giúp các em
nâng cao hiểu biết về thế giới hiện thực xung quanh, kích thích trí thông minh,
lòng ham hiểu biết, học cách giải quyết nhiệm vụ. Ngoài ra, trò chơi là phương
tiện giáo dục phẩm chất nhân cách cho học sinh. Các phẩm chất nhân cách
được hình thành thông qua chơi như tính hợp tác, tính đồng đội, tính tập thể,
tính kỷ luật, tự chủ, tích cực, độc lập, sáng tạo, sự quan tâm lo lắng đến người
khác, thật thà, dũng cảm, kiên nhẫn… Trò chơi còn là phương tiện giáo dục thể
lực cho học sinh, giáo dục thẩm mỹ, hình thành các kĩ năng giao tiếp, kĩ năng
xã hội…
Trò chơi là một phương thức giải trí tích cực, hiệu quả, mang lại niềm
vui, sự hứng khởi, hồn nhiên, yêu đời cho học sinh… để các em tiếp tục học tập
và rèn luyện tốt hơn.
Về mặt tâm lý học, trong quá trình diên ra trò chơi tất cả các thành viên
của nhóm đều tham gia hết mình và từ đó các em sẽ được trải nghiệm, bởi vì
mỗi cá nhân cũng như cả nhóm đang sống trong một tình huống khác với
những gì các em đã sống trong cuộc sống thực.
– Phương pháp làm việc nhom
Làm việc theo nhóm nhỏ là phương pháp tổ chức dạy học – giáo dục,
17
trong đó, giáo viên sắp xếp học sinh thành những nhóm nhỏ theo hướng tạo ra
sự tương tác trực tiếp giữa các thành viên, từ đó học sinh trong nhóm trao đổi,
giúp đỡ và cùng nhau phối hợp làm việc để hoàn thành nhiệm vụ chung của
nhóm.
Tác dụng: phương pháp làm việc nhóm có ý nghĩa rất lớn trong việc:
– Phát huy cao độ vai trò chủ thể, tính tự giác, tích cực, sáng tạo, năng
động, tinh thần trách nhiệm của học sinh, tạo cơ hội cho các em tự thể hiện, tự
khẳng định khả năng, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao.
– Giúp học sinh hình thành các kĩ năng xã hội và phẩm chất nhân cách
cần thiết như: kĩ năng tổ chức, quản lí, giải quyêt vấn đề, hợp tác, có trách
nhiệm cao, tinh thần đồng đội, sự quan tâm và mối quan hệ khăng khít, sự ủng
hộ cá nhân và khuyến khích tinh thần học hỏi lẫn nhau, xác định giá trị của sự đa
dạng và tính gắn kết.
– Thể hiện mối quan hệ bình đẳng, dân chủ và nhân văn: tạo cơ hội bình
đẳng cho mỗi cá nhân người học được khẳng định và phát triển. Nhóm làm việc
sẽ khuyến khích HS giao tiếp với nhau và như vậy sẽ giúp cho những em nhút
nhát, thiếu tự tin có nhiều cơ hội hòa nhập với lớp học.
Tóm lại, hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giữ vai trò quan
trọng và mang lại những tác động tích cực, rất bổ ích tới học sinh. Hoạt động
này giúp cho học sinh có nhiều cơ hội trải nghiệm để vận dụng những kiến thức
học được vào thực tiên từ đó hình thành năng lực thực tiên cũng như phát huy
tiềm năng sáng tạo của bản thân. Trong những hoạt động trải nghiệm sáng tạo
mà tôi và đồng nghiệp tổ chức, áp dụng khi dạy học thì hình thức tôi tâm đắc
nhất là sân khấu hoá một số hình tượng nhân vật và tác phẩm văn học trong và
ngoài chương trình.
2.2.2. Sân khấu hóa tác phẩm văn học.
Sân khấu là một hình thức hợp tác của nghệ thuật sử dụng biểu diên trực
tiếp, thường bao gồm việc các diên viên trình bày những trải nghiệm của một sự
kiện có thật hay tưởng tượng trước những đối tượng khán giả tại chỗ ở một nơi
cụ thể, thường là nhà hát. Các diên viên có thể truyền tải kinh nghiệm này đến
với khán giả thông qua sự kết hợp của cử chỉ, lời nói, bài hát, âm nhạc, và khiêu
18
vũ. Các yếu tố của nghệ thuật, chẳng hạn như khung cảnh được dàn dựng và
kịch nghệ như ánh sáng được sử dụng để nâng cao tính biểu tượng, sự hiện diện
và tính tức thời của trải nghiệm. Nơi trình diên sân khấu cũng được gọi tên là
sân khấu.
Sân khấu hoa tác phẩm là hoạt động tiếp nhận văn học sáng tạo rất cần
thiết tác động tốt đến mục tiêu dạy và học Ngữ văn nước ta. Sân khấu hóa tác
phẩm văn học thực chất là chuyển thể văn bản ngôn từ (thơ, truyện, kịch…)
thành kịch bản ngắn, tiểu phẩm chỉ như một minh họa, một trích dẫn. Trong giới
hạn hoạt động ngoại khóa, sân khấu hóa chỉ là hình thức bổ trợ minh họa cho tác
phẩm trong chương trình phổ thông.
Chính những hoạt động ngoại khóa theo hình thức sân khấu hóa môn Ngữ
Văn không chỉ là sân chơi mà còn giúp các em khám phá thế giới văn chương
vốn đa chiều, phong phú… Sân khấu hóa tác phẩm văn học trong hoạt động
ngoài giờ lên lớp rõ ràng rất quan trọng và cần thiết. Mỗi nhà trường và thầy cô
giáo sẽ chọn cách sân khấu hóa tác phẩm theo thể loại, bám sát tác phẩm và
chọn những chi tiết điển hình, tiêu biểu làm toát được chủ đề, hạn chế những chi
tiết có nguy cơ hiểu lệch lạc, hiểu không đúng.
Một số hình thức sân khấu hóa hình tượng và tác phẩm văn học dê áp
dụng: Tác phẩm thơ được phổ nhạc với sự diên xuất của người hát và múa phụ
họa sẽ là cách dê áp dụng nhất. Tác phẩm kịch, nên trích trọn vẹn một phân cảnh
hoặc nhiều phân cảnh ngắn quan trọng theo chủ đề. Trang phục, đạo cụ dê làm
nên ưu tiên thay vì đi thuê, mượn. Tác phẩm truyện chọn tình huống hoặc đoạn
trích, chi tiết tiêu biểu để nhân vật thể hiện được chủ đề tác phẩm. Cố gắng chọn
ngôn ngữ và cách nhân vật nghĩ, hành động. Các sáng tác dân gian rất cần thận
trọng để không hiện đại hóa quá mức.Trong điều kiện cho phép, nhà trường tạo
điều kiện tốt nhất về thời gian, phương tiện âm thanh, ánh sáng, sân khấu; ủng
hộ sáng tạo và giúp đỡ thầy trò thực hiện thành công ý tưởng.
Không có phương pháp nào chung cho giáo viên Ngữ văn và cho từng bài
học. Môn văn vốn được coi là môn học “khó ưa” với nhiều học sinh. Với
phương pháp dạy học truyền thống một chiều, học sinh sẽ “đứng ngoài” môn
học, kiến thức sẽ truyền đạt nặng nề, khó hiểu. Người giáo viên ngoài việc khơi
19
gợi giúp trò trực tiếp tìm hiểu, khám phá, giảng giải các thông điệp về xuất xứ,
nội dung, ngôn từ, biện pháp nghệ thuật và áp dụng nhiều phương pháp dạy học
khác thì việc các thầy cô giáo Ngữ văn nỗ lực đầu tư công sức, cùng đồng
nghiệp tổ chức hiệu quả hoạt động ngoài giờ qua hình thức sân khấu hóa tác
phẩm văn học. Thực tế cho thấy, dạy học bằng hình thức sân khấu hóa rất thu
hút học sinh. Mọi học sinh đều mong muốn tham gia để thể hiện bản thân, rèn
luyện sự tự tin và các kỹ năng khác. Đây là một hình thức mới trong thực hiện
định hướng dạy học phát triển năng lực của học sinh. Thông qua hình thức sân
khấu hóa đã đưa những tác phẩm ngữ văn, trích đoạn văn học đến gần hơn với
các em học sinh; giúp các em có thể đồng sáng tạo với nhà văn và tạo ra sân
chơi bổ ích cho các em học sinh; làm cho những tiết học văn thú vị, hấp dẫn hơn
rất nhiều.Sâu khấu hóa giúp tiết học trở nên nhẹ nhàng hơn, lôi kéo học sinh vào
cuộc cùng môn học. Ở hình thức này, các em buộc phải nhập cuộc cùng với tác
phẩm, sống cùng nhân vật và hiểu hơn về nhân vật một cách hết sức tự nhiên,
không khiên cưỡng. Hơn nữa, hình thức sân khấu hóa còn giúp học sinh mở
mang thêm nhiều kiến thức khác ngoài sách vở, trang bị những kỹ năng mềm,
đồng thời định hướng đam mê cho các em. Một phân cảnh trong tác phẩm được
coi là thành công khi chính các em biết bản thân mình phù hợp với nhân vật nào,
biết cách làm việc nhóm và “sống” cùng nhân vật.
Tuy nhiên, việc tổ chức sân khấu hóa tác phẩm văn học khá tốn thời gian,
công sức và tiền bạc. Vì vậy cần biết cách tổ chức sao cho vừa tạo hiệu quả với
học sinh vừa phù hợp thực tế mỗi nhà trường. Sự thái quá, có phần lạm dụng
việc sân khấu theo những kịch bản sơ sài, chỉ chú ý một vài chi tiết để thỏa mãn
thị hiếu học trò hiện nay ở nhiều nơi đã làm giảm giá trị nghệ thuật của tác phẩm
văn học, phá vỡ tính chỉnh thể và đa nghĩa của tác phẩm nghệ thuật ngôn từ.
Mỗi học kỳ, mỗi năm học chỉ nên làm một đến hai lần, không nên làm theo
phong trào và phải biết vận dụng linh hoạt để phát huy hiệu quả của phương
pháp này.
2.3. Thực trạng của vấn đề:
a. Thuận lợi
20
– Chúng tôi rất may mắn khi được giảng dạy dưới ngôi trường Trung học
cơ sở Nguyên Hiền – ngôi trường mang tên vị trạng nguyên trẻ tuổi nhất nước ta.
Trường THCS Nguyên Hiền là Trung tâm giáo dục chất lượng cao của huyện
Nam Trực, đang trên lộ trình xây dựng trung tâm giáo dục chất lượng cao của
tỉnh, nơi đây là cái nôi đào tạo, bồi dưỡng rất nhiều nhân tài cho quê hương, đất
nước. Nhà trường có đội ngũ giáo viên trẻ, nhiệt tình trong công tác giảng dạy,
có ý thức tự học, tự rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Ở
đây chúng tôi được các giáo viên đàn anh, đàn chị quan tâm, giúp đỡ, hướng dẫn
tận tình, được học hỏi, nâng viên cao kinh nghiệm trong giảng dạy.
– Cơ sở vật chất của nhà trường được trang bị tương đối đối đầy đủ. Hiện
nay, trường đã hoàn thiện về cơ sở hạ tầng với 5 dãy nhà cao đẹp, khang trang, 1
nhà đa năng tạo điều kiện cho mọi hoạt động dạy học chính khóa, ngoại khóa,
các hoạt động thể dục – thể thao, các buổi sinh hoạt tập thể. Nhà trường đã trang
bị cho từng phòng học những trang thiết bị dạy học hiện đại như hệ thống tivi,
máy tính, các thiết bị loa đài; ở các phòng học chức năng có bảng tương tác
thông minh…. Đây là nguồn động lực, tạo hứng khởi, thúc đẩy thầy dạy tốt hơn
và trò học tốt hơn.
– Học sinh trường Trung học cơ sở Nguyên Hiền được tuyển chọn từ các
xã trong huyện nên đa số các em đều chăm ngoan, học giỏi. Vinh dự được học
dưới mái trường mang tên vị Trạng nguyên trẻ tuổi của dân tộc, được giáo dục
về truyền thống tốt đẹp của nhà trường, các em luôn ý thức nỗ lực học tập và rèn
luyện để giữ gìn, phát huy và viết tiếp trang thành tích vẻ vang của các thế hệ đi
trước. Trong quá trình học tập, tham gia các Hoạt động ngoài giờ lên lớp và sinh
hoạt các Câu lạc bộ, nhiều em đã bộc lộ các năng khiếu như múa hát, nhảy
Dance sport, thuyết trình, diên xuất…Điều đáng mừng là một số em ham học,
say mê, hứng thú với môn Ngữ văn và thể hiện rõ năng khiếu văn chương của
mình. Các em có những hiểu biết phong phú, cảm nhận sâu sắc với những tác
phẩm, những bài thơ, câu chuyện được học, điều này thể hiện rất rõ qua từng bài
kiểm tra, bài viết của mình. Đây cũng là sự động viên rất lớn để chúng tôi phấn
đấu hơn nữa trong quá trình giảng dạy, để mỗi tiết học thực sự là niềm mong
chờ của các em.
21
– Trường THCS Nguyên Hiền thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt
chuyên môn theo tổ chuyên môn, nhóm chuyên môn vào thứ hai hàng tuần để
giáo viên chúng tôi có điều kiện thuận lợi trao đổi, học hỏi, trau dồi kiến thức,
kinh nghiệm cho bản thân mình.
– Tài liệu, sách, báo viết về việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
khá phong phú, đa dạng.
– Môn Ngữ văn là môn học vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ
thuật có sự gắn bó, gần gũi với cuộc sống. Nhiều tác phẩm văn học được sáng
tác dựa trên các sự kiện lịch sử, các nhân vật có thực trong cuộc sống; nhiều câu
chuyện trong chương trình Ngữ văn học sinh đã được biết đến qua lời kể của bà,
của mẹ từ khi còn nằm trong nôi; một số tác phẩm đã được dựng thành phim
hoạt hình … do đó đã trở nên rất thân quen với học sinh.
– Bản thân chúng tôi đã có kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm, cũng có
điều kiện tiếp xúc bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi, lại được cùng các em trải
qua rất nhiều các buổi Sinh hoạt “Câu lạc bộ Văn học” nên chúng tôi có những
biện pháp, kĩ thuật riêng để phát hiện và khám phá những năng khiếu thiên bẩm
ở mỗi thế hệ học sinh trong trường. Những yếu tố đó kết hợp cùng niềm đam mê
yêu thích đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong việc nghiên cứu và thực
hiện giải pháp “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo dưới hình thức sân khấu hoá
một số hình tượng nhân vật và tác phẩm văn học”.
b. Kho khăn
Trong quá trình dạy học, chúng tôi gặp phải một số khó khăn ảnh hưởng
đến chất lượng dạy học môn Ngữ văn. Sau khi phân tích chi tiết, tôi nhận thấy
những khó khăn đó có nguyên nhân khách quan và chủ quan. Cụ thể:
– Về phía văn bản:
+ Đời sống được phản ánh trong một số tác phẩm văn học là bối cảnh xã
hội từ những thế kỷ trước, thời đại trước khiến tác phẩm nên xa lạ với học sinh
làm cho các em khó tiếp cận, tiếp nhận tác phẩm.
+ Tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ của con người ngày xưa khác rất nhiều
ngày nay, khiến cho học sinh rất khó cảm nhận về giá trị nội dung tư tưởng.
22
+ Còn có nhiều ý kiến trao đổi về ý nghĩa các hình tượng văn học, các chi
tiết nghệ thuật trong tác phẩm văn học và chưa đi đến một thống nhất chung. Vì
vậy, giáo viên thường thụ động dựa vào sách hướng dẫn để giảng cho học sinh.
Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới việc chuyển tải cái hay, cái đẹp của tác phẩm
tới học sinh, học sinh thường chỉ nhớ “vẹt” ý của bài mà không hiểu sâu sắc tác
phẩm, không phát huy được năng lực sáng tạo. Chỉ sau thời gian ngắn, những
nội dung ấy nếu không được ôn lại, sẽ nhanh chóng ra khỏi chỗ nhớ, lâu dần,
thói quen đó làm mất hứng thú của học sinh đối với bộ môn Văn.
– Về phía giáo viên:
+ Thời lượng trong chương trình dành cho môn Ngữ văn là 4 tiết/tuần,
lượng kiến thức trong chương trình có bài khá nặng, việc giảng dạy đảm bảo
kiến thức cơ bản cho học sinh chiếm rất nhiều thời gian vì vậy việc giảng dạy
những nội dung gắn với thực tế cuộc sống hay việc tổ chức cho học sinh thực
hành còn hạn chế và gặp nhiều khó khăn. Nhiều tác phẩm dài và khó nhưng
lượng thời gian theo Kế hoạch dạy học còn hạn chế.
+ Một số giáo viên vẫn còn giữ thói quen dạy học theo các phương pháp
truyền thống, truyền thụ kiến thức một chiều; khi lên lớp thì trung thành với nội
dung và trình tự bài học trong sách giáo khoa, chưa mạnh dạn thay đổi, sáng tạo
trong phương pháp để tạo hứng thú cho học sinh và đáp ứng yêu cầu đổi mới
của bộ môn.
+ Việc giao nhiệm vụ cho học sinh chưa rõ ràng, cụ thể mà còn chung
chung và đại khái. Vấn đề được giao chưa hấp dẫn học sinh tìm tòi, khám phá
sáng tạo chưa kích thích sự tự giác và năng lực sáng tạo của các em.
+ Trong bối cảnh hiện nay, khi mà việc dạy và học luôn đòi hỏi tính đổi
mới và sáng tạo thì công việc của giáo viên cũng tăng lên rất nhiều. Để có những
giờ lên lớp hiệu quả, người giáo viên cần có sự nghiên cứu, tìm tòi, ứng dụng
các phương pháp, kĩ thuật dạy học mới, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy
học…do đó, thời gian để hỗ trợ học sinh sân khấu hóa các tác phẩm văn học
chưa nhiều. Hơn nữa một số đồng nghiệp của tôi do không có năng khiếu, quỹ
thời gian hạn chế nên chưa hào hứng và chưa hỗ trợ nhiều trong công việc này.
Một số giáo viên cùng chuyên môn mới ra trường, nhiệt huyết, hứng thú thì
23
nhiều nhưng kinh nghiệm chưa có nên khó hình dung để cùng chúng tôi thực
hiện giải pháp này.
– Về phía học sinh:
+ Khả năng tư duy độc lập để phát hiện vấn đề, còn hạn chế còn mang
tính chất ỷ lại cho giáo viên khi đi tìm hiểu, khám phá kiến thức mới. Khi tìm
hiểu các văn bản văn học dân gian như truyền thuyết, cổ tích, các em bắt gặp rất
nhiều chi tiết giàu ý nghĩa như chi tiết niêu cơm thần, tiếng đàn thần trong
truyện cổ tích Thạch Sanh nhưng đa số các em không hiểu hết được ý nghĩa của
các chi tiết đó dẫn đến sự phụ thuộc vào lời giảng, cách phân tích của thầy cô.
Từ đó học sinh mất hứng thú, cảm thấy khó khăn khi tiếp nhận, thấy bị gò bó, áp
đặt và lâu dần sẽ thấy nhàm chán khi học văn và kéo theo chất lượng học văn
ngày càng sa sút, tình yêu và niềm say mê môn văn cũng vì thế ngày một mất
dần.
+ Bên cạnh đó, thế kỉ XXI với xu thế hội nhập toàn cầu, đời sống kinh tế
xã hội, khoa học công nghệ phát triển học sinh có xu hướng tìm hiểu kiến thức
trên diện rộng chứ không đi vào chiều sâu, các em có hứng thú và xem trọng
những môn học có tính thời thượng (Toán, Lý, Hoá, Tin học, Ngoại ngữ…) hay
gần đây là sự ứng dụng của giáo dục Stem, cuộc cách mạng khoa học công nghệ
số thời đại 4.0 đang được triển khai mạnh mẽ thu hút sự hứng thú của học sinh
còn văn chương bị coi là môn học không có tính năng ứng dụng, tương lai người
học không được đảm bảo, cả phụ huynh cũng không muốn cho con mình theo
đuổi văn chương, không muốn cho con vào đội tuyển Ngữ Văn nên họ ngăn cản
hoặc coi đội tuyển Ngữ Văn như chốn “tạm nghỉ chân” để chờ cơ hội chuyển
sang đội tuyển khác. Chính điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới tư duy và
hứng thú của các em với môn Ngữ Văn khiến các em ngày càng xa rời văn
chương.
Qua thực tế khảo sát đầu năm tại các lớp, đội tuyển chúng tôi được phân
công giảng dạy về “Hứng thú học tập bộ môn Ngữ văn và Hoạt động trải nghiệm
sáng tạo” chúng tôi thu được kết quả như sau:
* Ý kiến của học sinh về hứng thú học tập môn Ngữ Văn và hoạt động
trải nghiệm sáng tạo
24

LớpTổng
số HS
Xếp loại (số lượng và tỉ lệ %)
Rất thíchThíchBình thườngGhét
6A375 (13,6 %)8 (21,6 %)14 (37,8 %)10 (27 %)
6E384 (10,5 %)7 (18,4 %)16 (42,1 %)11 (28,9 %)
Đội tuyển
HSG Ngữ
Văn 6
289 (32,1 %)12 (42,9 %)7 (25%)0%

Bảng 1.1: Khảo sát “Hứng thú học tập bộ môn Ngữ văn và
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo”
Dựa vào bảng trên có thể dê dàng nhận thấy chưa nhiều học sinh có hứng
thú học tập và hoạt động trải nghiệm đối với bộ môn NgữV. Đối với lớp
đại trà mới chỉ có khoảng 10 – 14 % học sinh yêu thích và khá nhiều học sinh ghét
môn này (chiếm khoảng 28%). Phần lớn học sinh không có hứng thú học tập bộ
môn Ngữ văn (khoảng 40 % học sinh cảm thấy bình thường). Ngay cả với Đội
tuyển học sinh giỏi Ngữ Văn mới được tuyển chọn số học sinh yêu thích cũng chỉ
chiếm 32,1 %; tuy không có học sinh ghét học văn nhưng còn tới 25% học sinh
cảm thấy bình thường, chưa hứng thú với môn học và hoạt động trải nghiệm sáng
tạo.
Từ việc không yêu thích, ít hứng thú với bộ môn dẫn đến kết quả bài làm
của học sinh không cao. Cụ thể:
* Kết quả khảo sát kiến thức về chủ đề truyện dân gian của học sinh

LớpTổng số
HS
Xếp loại (số lượng và tỉ lệ %)
Điểm
9-10
Điểm
7-8
Điểm
5-6
Điểm
3-4
Điểm
1-2
6A373 (8,1 %)19 (51,3%)14(37,9%)1(2,7%)0%
6E384 (10,5 %)20 (52,6%)12(31,5%)2(5,3%)0%
Đội tuyển
HSG Ngữ
Văn 6
288 (28,6%)18 (64,3%)2 (7,1 %)0%0%

Bảng 2.1: Khảo sát kiến thức môn Ngữ văn 6: Chủ đề truyện dân gian
25
Dựa vào bảng 2 nhận thấy kết quả học tập các nội dung kiến thức về truyện
dân gian chưa cao. Các lớp đại trà chỉ có khoảng 8-10% học sinh đạt điểm 9-10;
tuy không có học sinh đạt điểm 1- 2 nhưng còn 3 học sinh đạt điểm dưới trung
bình và có tới 31,5 – 37,9 % học sinh trong lớp đạt điểm trung bình 5 – 6. Kết quả
này cho thấy kết quả học tập bộ môn chưa cao.
+ Về phía học sinh, khi nghe tôi chia sẻ kế hoạch tổ chức hoạt động trải
nghiệm sáng tạo môn Ngữ văn, đa số các em rất hào hứng. Tuy nhiên khi bắt tay
vào công việc, nhiều yếu tố phát sinh khiến một số em không duy trì được quyết
tâm ban đầu; một số em thì chưa có năng khiếu thể hiện mặc dù rất háo hức, có
em dê bị tác động, tham gia chưa tích cực, chưa phát huy hết khả năng sáng tạo
của bản thân.
+ Ở độ tuổi của học sinh THCS, khả năng tư duy, sáng tạo của các em
vẫn còn hạn chế, mức độ tập trung khi tham gia các hoạt động chưa cao, nhiều
em không có năng khiếu để tham gia, một số em lúc đầu rất háo hức nhưng khi
bắt đầu thực hiện thì nảy sinh tâm lý “cả thèm chóng chán”.
+ Đặc biệt, một thực tại mà giáo viên nào cũng nhận thấy: Sách tham
khảo, sách hướng dẫn để học tốt, sách chuẩn kiến thức, những bài văn mẫu…
quá nhiều, vô hình chung đã làm cho học sinh bỏ rơi sách giáo khoa, học sinh tỏ
ra biết đầy đủ nội dung tác phẩm văn chương được học dựa vào bài soạn, sách
học tốt… ở nhà nhưng chưa một lần đọc văn bản trong sách giáo khoa. Thầy, cô
có kiểm tra phát vấn thì các loại sách tham khảo nghĩ hộ, nói hộ tất cả. Thậm chí
trong nhiều tiết ôn tập khi tôi chúng đưa ra một câu hỏi, một đề bài để khắc sâu
kiến thức thì trong quá trình làm bài các em không hề xem lại sách giáo khoa
hay nội dung bài học mà thầy cô đã giảng mà ngay lập tức các em lôi ra đủ mọi
loại tài liệu tham khảo để tìm câu trả lời và chép vào vở. Đến khi kiểm tra đánh
giá thì chất lượng bài làm không cao thể hiện sự thiếu kiến thức và thái độ học
tập chưa tốt của học sinh như các em không thích và không có hứng thú học
Văn.
+ Bên cạnh việc dạy và học chương trình đại trà, học sinh trường THCS
Nguyên Hiền còn tham gia học các đội tuyển bồi dưỡng học sinh giỏi, đa số học
26
sinh ở xa trường, đến trường bằng xe ô tô đưa đón học sinh do đó thời gian dành
cho các hoạt động trải nghiệm sáng tạo chưa nhiều
– Về cơ sở vật chất: Nhà trường chưa có phòng riêng với các trang thiết bị
đặc trưng phục vụ cho việc trải nghiệm, sáng tạo của học sinh. Các em vẫn phải
tự lựa chọn địa điểm hoặc sử dụng tạm các phòng chức năng, phòng Đoàn Đội,
nhà Đa năng… sinh hoạt, sáng tác kịch bản và luyện tập. Bên cạnh đó, kinh phí
hỗ trợ cho các hoạt động sáng tạo còn hạn chế.
Trước tình hình ấy, để khắc phục những khó khăn đó và đáp ứng yêu cầu
giảng dạy, giáo viên phải tìm hiểu kĩ chương trình, bổ sung thêm kiến thức từ
các nguồn tài liệu, các sách nghiên cứu, đi sâu tìm hiểu, lựa chọn phương pháp
giảng dạy phù hợp, vừa sức với học sinh, giúp các em vượt qua những khó khăn.
Người giáo viên phải là chiếc cầu nối giúp các em cảm nhận được vẻ đẹp của
các tác phẩm văn học qua việc giảng dạy ở trên lớp và qua việc tổ chức hoạt
động trải nghiệm sáng tạo cho các em trong quá trình học.
2.4. Cách thức thực hiện.
– Từ thực trạng trên, chúng tôi nhận thấy rằng muốn nâng cao hiệu quả
học tập bộ môn, một trong các giải pháp đó là nâng cao hứng thú học tập từ đó
sẽ cải thiện và nâng cao kết quả học tập môn Ngữ văn. Đặc biệt trong điều kiện
hiện nay, giáo dục nước ta đang đổi mới từ “dạy học tiếp cận nội dung” chuyển
sang “dạy học tiếp cận năng lực”, chuyển từ học sinh “học được gì?” sang học
xong học sinh “làm được gì?”. Vì vậy nhiệm vụ đặt ra đó là người giáo viên
phải đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao hứng thú học tập cho học sinh,
nâng cao chất lượng học tập bộ môn nói chung, phát triển 9 năng lực chung, 4
năng lực chuyên biệt môn Ngữ văn đặc biệt là năng lực sáng tạo, khả năng vận
dụng kiến thức môn Ngữ văn vào cuộc sống.
– Giáo viên bộ môn đã căn cứ trên điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị, năng
lực giáo viên và học sinh xác định và thực hiện các giải pháp sau để nâng cao
hứng thú, chất lượng bộ môn, phát triển khả năng sáng tạo và vận dụng kiến
thức vào thực tế đời sống.
27
2.4.1. Thành lập Câu lạc bộ Văn học
Câu lạc bộ (CLB) là hình thức sinh hoạt ngoại khóa của những nhóm học
sinh cùng sở thích, nhu cầu, năng khiếu,… dưới sự định hướng của những nhà
giáo dục nhằm tạo môi trường giao lưu thân thiện, tích cực giữa các học sinh với
nhau và giữa học sinh với thầy cô giáo, với những người lớn khác. Hoạt động
của Câu lạc bộ tạo cơ hội để học sinh được chia sẻ những kiến thức, hiểu biết
của mình về các lĩnh vực mà các em quan tâm, qua đó phát triển các kĩ năng của
học sinh như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng lắng nghe và biểu đạt ý kiến, kĩ năng
trình bày suy nghĩ, ý tưởng, kĩ năng viết bài, kĩ năng chụp ảnh, kĩ năng hợp tác,
làm việc nhóm, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề,… Câu lạc bộ là nơi
để học sinh được thực hành các quyền trẻ em của mình như quyền được học tập,
quyền được vui chơi giải trí và tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật;
quyền được tự do biểu đạt; tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin,… Thông
qua hoạt động của các Câu lạc bộ, nhà giáo dục hiểu và quan tâm hơn đến nhu
cầu, nguyện vọng mục đích chính đáng của các em. Câu lạc bộ hoạt động theo
nguyên tắc tự nguyện, thống nhất, có lịch sinh hoạt định kì và có thể được tổ
chức với nhiều lĩnh vực khác nhau như: Câu lạc bộ học thuật; Câu lạc bộ thể dục
thể thao; Câu lạc bộ văn hóa nghệ thuật; Câu lạc bộ võ thuật; Câu lạc bộ hoạt
động thực tế; Câu lạc bộ trò chơi dân gian…
Trường THCS Nguyên Hiền là trung tâm giáo dục chất lượng cao của
huyện Nam Trực. Vì vậy bên cạnh nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi, nhà
trường luôn chú trọng giáo dục toàn diện cho học sinh trong đó có giáo dục kiến
thức, kỹ năng cho học sinh qua các hoạt động của các Câu lạc bộ. Nhà trường đã
thành lập các Câu lạc bộ Toán học tuổi thơ, Câu lạc bộ Văn học, Câu lạc bộ
STEM,… Đối với Câu lạc bộ Văn học, đây vừa là một sân chơi bổ ích, vừa là
nơi để các em học tập và rèn luyện. Khi thành lập câu lạc bộ cần có những qui
định và cách thức hoạt động cụ thể. Đồng thời để hoạt động của câu lạc bộ diên
ra hiệu quả cần có sự quan tâm, đồng hành của nhà trường. Cụ thể nhà trường
phân công tổ chuyên môn phụ trách chung, tổ chuyên môn phân công giáo viên
phụ trách theo khối lớp. Chúng tôi cùng các đồng chí giáo viên dạy môn Ngữ
văn 6 được phân công phụ trách học sinh khối lớp 6,7 nên có nhiều thuận lợi
28
trong việc thực hiện biện pháp nâng cao chất lượng công tác giảng dạy môn Ngữ
Văn.
2.4.2. Tập hợp học sinh yêu thích Ngữ văn, học sinh có năng khiếu
sáng tạo tham gia Câu lạc bộ Văn học.
Đối với hoạt động giáo dục nói chung, hoạt động trải nghiệm sáng tạo nói
riêng thì học sinh chính là nhân tố chính, là người đóng vai trò thực hiện mọi
hoạt động còn người giáo viên chỉ đóng vai trò định hướng, tư vấn, bổ trợ giúp
các em hoạt động thuận lợi có hiệu quả. Không một Câu lạc bộ nào có thể tồn tại
và hoạt động thành công nếu thiếu sự đóng góp tích cực của các em học sinh.
Câu lạc bộ Văn học và hoạt động sân khấu hóa các hình tượng nhân vật và tác
phẩm văn học trong nhà trường cũng vậy,vai trò của các em học sinh là vô cùng
quan trọng. Điều đầu tiên mà người giáo viên phải quan tâm đó là tập hợp, lôi
cuốn được các em học sinh tham gia. Đó là những em học sinh yêu thích môn
Ngữ văn, học sinh có năng khiếu sáng tạo. Hai đối tượng này có thể đồng nhất
hoặc không đồng nhất. Bởi trên thực tế có những em học sinh lực học môn Văn
không tốt, những em là học sinh các đội tuyển khác như Toán, Anh, Hóa,
Sinh… nhưng các em yêu thích môn Ngữ văn nên vẫn tích cực tham gia và hoạt
động rất hiệu quả. Đồng thời Câu lạc bộ thu hút hầu hết các em trong đội tuyển
học sinh giỏi môn Văn ở hầu hết các khối lớp tham dự. Thông thường khi tiếp
cận với một tác phẩm văn học việc đầu tiên là ta phải đọc nó bằng mắt, cảm
nhận bằng trí óc và sân khấu là một hình thức để đưa các em đến một sự tiếp
nhận gần gũi mang tính sáng tạo. Không chỉ đọc tác phẩm văn học, các em được
trực tiếp tham gia vào tác phẩm, được lên sân khấu để cảm nhận, điều này để
học sinh không chỉ thâm nhập mà còn sống cùng với tác phẩm. Và đưa tác phẩm
lên một hình thức khác rất sinh động, linh hoạt, dê truyền tải.
Học sinh là một lứa tuổi mà người ta bảo “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học
trò”, các em rất nghịch, rất ham vui, và cũng rất giàu sáng tạo. Nhiều khi có
những em học sinh lúc đầu không chịu đọc, không chịu học tác phẩm văn học
nhưng sau khi tham gia câu lạc bộ, hứng thú đối với bộ môn của các em được
cải thiện, nâng cao đáng kể và từ đó chất lượng học Văn của các em cũng có tiến
triển tích cực. Như vậy việc sân khấu hoá tác phẩm văn học cũng là một thành tố
29
kích thích sự ham đọc, ham học, và dê tiếp cận tác phẩm dù dưới hình thức nào,
các em được thoả sức sáng tạo và bộc lộ cá tính của mình.
Các em học sinh tuy chưa có kĩ năng diên xuất nhưng lại ở lứa tuổi rất
hồn nhiên, và giàu cảm xúc. Một tác phẩm văn học lên sân khấu do diên viên
chuyên nghiệp rất khác với các em học sinh diên xuất. Các em học sinh có sự
ngây thơ, hồn nhiên, trong trẻo để tiếp cận tác phẩm, và các em có sự sáng tạo.
Sân khấu hoá tác phẩm văn học có thể áp dụng cho nhiều thể loại văn học
như văn học nước ngoài, văn học dân gian, văn học trung đại, văn học hiện đại.
Hoạt động ngoại khoá trong nhà trường nói chung và hoạt động ngoại khoá văn
học nói riêng là một việc làm cần thiết và bổ ích, đây cũng là dịp để học sinh rèn
luyện thêm kĩ năng cảm thụ tác phẩm, mang tính sáng tạo, được chủ động tham
gia vào tác phẩm, đánh thức sự say mê trong các em.
Sứ mệnh nhân văn lớn lao của nhà giáo nói chung, hay sứ mệnh của giáo
viên môn Ngữ Văn nói riêng là không phải gieo cấy mà là đánh thức, đánh thức
trí tuệ tâm hồn học sinh, đánh thức niềm đam mê sáng tạo, hứng khởi thích thú
với môn học. Thông qua từng tiết dạy Ngữ văn 6 trên lớp, các buổi bồi dưỡng
học sinh giỏi Ngữ văn 6, kết hợp với giáo viên dạy cùng khối, giáo viên phát
hiện và bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu về môn học này. Lập danh
sách, theo dõi, ghi chép để nắm chắc năng lực bộ môn, năng khiếu, sở trường
của từng em, để định hướng các em theo các nhóm phù hợp trong hoạt động của
câu lạc bộ.
2.4.3. Bồi dưỡng phát triển tư duy sáng tạo và chia nhom theo năng
lực, sở trường của học sinh.
– Giáo viên xin ý kiến Ban giám hiệu nhà trường tổ chức lớp học bồi
dưỡng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh. Các lớp học bên cạnh việc bồi
dưỡng kiến thức lí luận, nâng cao những kĩ năng sân khấu cho học sinh còn có
thể tổ chức các diên đàn thảo luận cho các em vào cuối mỗi buổi học. Diên đàn
là một hình thức tổ chức hoạt động được sử dụng để thúc đẩy sự tham gia của
học sinh thông qua việc các em trực tiếp, chủ động bày tỏ ý kiến của mình với
đông đảo bạn bè, nhà trường, thầy cô giáo. Thông qua diên đàn, học sinh có cơ
hội bày tỏ suy nghĩ, ý kiến, quan niệm hay những câu hỏi, đề xuất của mình.
30
Đây cũng là dịp để các em biết lắng nghe ý kiến, học tập lẫn nhau. Vì vậy, diên
đàn như một sân chơi tạo điều kiện để học sinh được biểu đạt ý kiến của mình
một cách trực tiếp với đông đảo bạn bè và những người khác giúp các em khẳng
định vai trò và tiếng nói của mình, đưa ra những suy nghĩ và hành vi tích cực để
khẳng định vai trò và tiếng nói của mình, đưa ra những suy nghĩ và hành vi tích
cực để khẳng định mình. Qua việc trao đổi giữa học sinh sẽ có nhiều ý tưởng
mới mẻ, thú vị nảy sinh tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động trải nghiệm sáng
tạo của các em.
– Trong quá trình bồi dưỡng giáo viên phụ trách kết hợp với giáo viên bộ
môn tổ chức bồi dưỡng, theo dõi, nắm bắt chắc chắn năng lực, sở trường và tiến
hành phân học sinh thành những nhóm nhỏ hơn đồng thời cũng phân công giáo
viên phụ trách từng nhóm. Cụ thể chia học sinh theo năng lực, sở trường vào
những nhóm sau:
+ Nhóm sáng tác kịch bản: gồm những học sinh có tư duy tốt, có ý tưởng
sáng tạo, khả năng diên đạt tốt… Những học sinh này lên ý tưởng, tham khảo
các tài liệu, lắng nghe sự đóng góp của các thành viên, các thầy cô để từ đó xây
dựng kịch bản cho mỗi lần hoạt động trải nghiệm.
Giáo viên sẽ tổ chức cho nhiều nhóm học sinh sáng tạo sản phẩm ở cùng
một tác phẩm, một chủ đề (vấn đề); sau đó cho các em thể hiện, nhận xét đánh
giá lẫn nhau để rút kinh nghiệm cho bản thân.
+ Nhóm diễn viên: gồm những học sinh có giọng truyền cảm, giọng khác
biệt, có ngoại hình phù hợp, có khả năng nhập vai, diên xuất tốt,…
Tăng cường khích lệ nhiều đối tượng học sinh tham gia hoạt động trải
nghiệm sáng tạo để học sinh có những trải nghiệm, khám phá bản thân và giáo
viên có những lựa chọn phù hợp. Hình thức sân khấu hóa sẽ giúp học sinh khắc
sâu kiến thức, rèn kỹ năng cảm thụ tác phẩm, kỹ năng “hóa thân” vào nhân vật
văn học để đạt được mục tiêu là tạo yếu tố say mê, hứng thú, tích cực chủ động,
sáng tạo trong học tập của học sinh. Trên cơ sở nền tảng cốt truyện của các tác
phẩm, kết hợp sự tưởng tượng phong phú phù hợp với nội dung chương trình,
bằng lối diên xuất tự nhiên và việc nhập vai khá tốt, các học sinh đã đem đến
những trích đoạn chuyển thể như “Thầy bói xem voi”, “ Thánh Gióng”, “ Ông
31
già và Thần Chết”, “Quan Âm Thị Kính”, “Yết thị”, Ca dao, tục ngữ, truyện
cười dân gian… mang đậm tính sáng tạo, gây được cảm xúc cho người xem và
điều quan trọng là học sinh được hiểu và cảm nhận sâu sắc hơn về các tác phẩm
văn học, có hứng thú học tập hơn đối với bộ môn Ngữ văn.
+ Nhóm chuẩn bị đạo cụ, phục trang, sân khấu: gồm những học sinh
năng động, nhanh nhẹn, hoạt bát; có năng khiếu âm nhạc, hội họa, khéo tay,…
Học sinh trong nhóm này có những em tuy lực học môn văn chưa tốt, không có
năng khiếu, khả năng cảm thụ tác phẩm chưa bằng các bạn nhưng các em lại có
sự say mê, thích thú với môn học, với các hoạt động của câu lạc bộ và có năng
khiếu về âm nhạc, hội họa nên các em vẫn tích cực tham gia và có những đóng
góp đáng kể. Ngoài ra, các em khi chuẩn bị đạo cụ, phục trang, sân khấu còn
phải chú ý đến sự phù hợp của chúng với tác phẩm, thời đại của tác phẩm và từ
đó sẽ kích thích sự tìm tòi, học hỏi của bản thân. Giáo viên dựa vào những yếu
tố đó để vừa hỗ trợ các em phát huy năng lực, giúp đỡ các em và động viên khơi
gợi ý thức học tập của các em.
– Các nhóm tiến hành bầu trưởng nhóm, phó nhóm, xây dựng nội quy, kế
hoạch hoạt động của nhóm dưới sự hướng dẫn của giáo viên phụ trách.
Với phương châm tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy gắn với nhu cầu
thực tế của học sinh, những năm gần đây, các buổi sinh hoạt ngoại khóa của Tổ
Khoa học xã hội trường THCS Nguyên Hiền thường diên ra dưới hình thức sân
khấu hóa một số hình tượng nhân vật và tác phẩm văn học trong nhà trường. Khi
tham gia hoạt động sân khấu hóa, học sinh được lựa chọn những tác phẩm ngữ
văn, trích đoạn văn học trong chương trình giảng dạy để nghiên cứu, chuyển thể
sang hình thức sân khấu. Thông qua hình thức trình diên, các tác phẩm văn học
dường như sống động và hấp dẫn hơn so với những giờ giảng trên lớp. Các em
học sinh được dành thời gian nghiên cứu về đặc điểm, tính cách nhân vật, từ đó
“nhập vai” sao cho sát nhất với nội dung của tác phẩm văn học.
Ngoài ra, để có thể bồi dưỡng tốt cho học sinh, người giáo viên cũng
phải tích cực học hỏi, nâng cao trình độ, kĩ năng, phương pháp của chính mình
với sự hỗ trợ của tổ chuyên môn và nhà trường. Tổ chuyên môn cần xây dựng
các chuyên đề dạy học, hội thảo chuyên môn về các phương pháp dạy học đổi
32
mới, dạy học theo định hướng năng lực học sinh để nâng cao chuyên môn của
các thành viên trong tổ. Nhóm chuyên môn Ngữ Văn có các buổi họp, trao đổi
kinh nghiệm, đóng góp ý kiến các thành viên học hỏi, cùng tiến bộ.
Đề xuất với nhà trường cần bổ sung thêm sách tham khảo về các đề tài,
các vở diên cho giáo viên và học sinh ở thư viện của trường; thiết kế phòng bộ
môn có một sân khấu và đầy đủ đồ dùng, tiện nghi để phục vụ cho đặc thù của
hoạt động sân khấu hoá. Nhà trường cần tạo điều kiện giúp đỡ cho một số giáo
viên được học tập tại một số trung tâm phát triển tài năng con người và một số
trung tâm sân khấu nghiệp dư để giáo viên có thêm các kinh nghiệm nhằm phục
vụ tốt cho bản thân khi tham gia những hoạt động trên tại nhà trường.
Nhà trường tạo điều kiện để cho giáo viên, học sinh tổ chức các hoạt
động trải nghiệm sáng tạo và tham quan thực tế, các cuộc giao lưu cùng những
diên viên, những nhà văn, nhà thơ, nhà biên kịch… để gây hứng thú cho giáo
viên và học sinh một cách hiệu quả. Ví dụ như mời Đoàn kịch nói Nam Định,
Đoàn chèo Nam Định… về giao lưu, chia sẻ cùng các em học sinh và giáo viên
trong nhà trường. Thậm chí nhà trường đã tổ chức cho các em học sinh lên tham
quan Nhà hát chèo Nam Định để các em tận mắt thấy sân khấu chèo; tận tay
chạm vào những trang phục, đạo cụ; nghe chia sẻ của những diên viên thực thụ
để mở rộng tầm hiểu biết của mình.
Có thể nói, bồi dưỡng phát triển tư duy sáng tạo và năng lực, sở trường
của học sinh là khâu khó khăn nhất và cũng là khâu quan trọng nhất để dẫn đến
thành công của mọi hoạt động. Bởi vậy, cần có sự nỗ lực của học sinh, vai trò
“thuyền trưởng” của người giáo viên và sự đồng hành của các tổ, nhóm, đơn vị
đoàn thể trong nhà trường.
2.4.4. Lựa chọn chủ đề hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh lựa chọn chủ đề hoạt động trải nghiệm
sáng tạo từ các tác phẩm truyện, thơ trong và ngoài chương trình theo từng thể
loại cụ thể: truyện truyền thuyết, truyện ngụ ngôn, truyện cười, ca dao dân ca,
thơ văn hiện đại… tương ứng với chủ đề sinh hoạt câu lạc bộ từng giai đoạn. Đây
là khâu vô cùng quan trọng, có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng hoạt động.
Một chủ đề hay sẽ tạo nên sức hấp dẫn, hứng thú cho học sinh và từ đó học sinh
33
sẽ có những ý tưởng, hình thức biểu diên phong phú, sáng tạo. Bởi vậy trong
khâu học sinh và giáo viên phụ trách cần phải phối hợp hết sức nhịp nhàng, ăn ý.
Học sinh bàn bạc, thảo luận đưa ra ra ý tưởng, giáo viên lắng nghe, chắt lọc rồi
cùng học sinh thống nhất việc lựa chọn tác phẩm và hướng sáng tạo kịch bản.
Để tăng cường hứng thú cho học sinh, chủ đề sinh hoạt của Câu lạc bộ
luôn được đổi mới như: Sân khấu hóa tác phẩm văn học dân gian trong nhà
trường; Thơ văn với đời sống, Văn học dân gian- sức sống trường tồn…Đồng
thời các hình thức, loại hình nghệ thuật được lựa chọn cũng rất đa dạng, phong
phú, sinh động như diên kịch, múa hát tập thể, hát dân ca giao duyên, ngâm thơ,
diên chèo, nhảy đương đại… Bởi vậy mỗi lần diên ra hoạt động trải nghiệm đều
thu hút được sự quan tâm, tham gia tích cực từ học sinh và đạt được sự đánh giá
cao của Phòng GD – ĐT huyện, Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo, các
bậc phụ huynh và toàn thể học sinh của nhà trường.
2.4.5. Tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động
a. Tổ chức sinh hoạt, tập luyện
Sân khấu hóa các tác phẩm Ngữ Văn, trích đoạn văn học là một cách học
hay, lôi cuốn người học. Bởi khi được hóa thân vào nhân vật trong tác phẩm văn
học, các em tự phân tích, đánh giá, suy nghĩ về tâm lý nhân vật, bối cảnh, diên
biến câu chuyện, qua đó cảm nhận sâu sắc về tác phẩm văn học nói chung và
từng nhân vật nói riêng. Nhận thức được ý nghĩa của hoạt động trải nghiệm
sáng tạo dưới hình thức sân khấu hoá một số hình tượng nhân vật và tác phẩm
văn học đối với việc lĩnh hội kiến thức môn Ngữ Văn, các em càng say mê tham
gia các hoạt động của Câu lạc bộ Văn học và phát huy mạnh mẽ vai trò của
mình trong từng nhóm, từng bộ phận để làm nên những buổi sinh hoạt ngoại
khóa thành công. Và để hoạt động diên ra có hiệu quả, ngay từ đầu năm học,
giáo viên phụ trách kết hợp cùng giáo viên bộ môn dựa trên kế hoạch năm học
chung của nhà trường, kế hoạch của tổ chuyên môn, kế hoạch của Câu lạc bộ
Văn học (trên thực tế xây dựng kế hoạch tổ chức các buổi sinh hoạt câu lạc bộ
Văn học đã trở thành công việc thường niên triển khai ngay từ đầu năm học của
Trường THCS Nguyên Hiền)

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *