dàn âm thanh hội trường, âm thanh lớp học, âm thanh phòng họp, loa trợ giảng

SKKN Phát triển năng lực nhận thức sinh học và năng lực giải quyết vấn đề, sáng tạo của học sinh thông qua dạy học dự án

SKKN Phát triển năng lực nhận thức sinh học và năng lực giải quyết vấn đề, sáng tạo của học sinh thông qua dạy học dự án Tìm hiểu virut và chế tạo mô hình virut từ vật liệu tái chế Chương III Virut và bệnh truyền nhiễm Sinh học 10

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Sinh học là môn khoa học nghiên cứu về sự sống. Đối tượng nghiên cứu
của Sinh học là sinh vật và mối quan hệ giữa sinh vật với sinh vật, giữa sinh vật
với môi trường. Do đó, học tập và nghiên cứu Sinh học giúp học sinh có những
hiểu biết khoa học về thế giới sống, từ đó góp phần hình thành cho học sinh thế
giới quan khoa học, phẩm chất yêu lao động, yêu thiên nhiên, giữ gìn và bảo vệ
thiên nhiên, đồng thời học sinh có khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn một
cách sáng tạo.

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ
  • Thực trạng giảng dạy môn Sinh học ở trường THPT Tống Văn Trân.
    Thuận lợi:
  • Nhà trường: Có bề dày thành tích, là một trong năm trường chất lượng
    cao của tỉnh và là trường luôn đứng đầu trong các phong trào dạy và học của
    huyện.
  • Về cơ sở vật chất: nhà trường đã có đầy đủ phòng học, phòng chuyên môn
    cho từng môn học, trang thiết bị dạy học hiện đại như Tivi 70 inch, đường kết nối
    mạng tới 33 lớp học để phục vụ cho công tác dạy và học của giáo viên và học sinh
    nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của nhà trường.
  • Với bộ môn Sinh học do 6 giáo viên đảm nhiệm, các thầy cô luôn mang
    trong mình sự tâm huyết, lòng yêu nghề, sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ cho đồng nghiệp
    những kinh nghiệm quý báu trong cuộc sống cũng như trong công tác, góp phần
    nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường nói riêng và địa phương nói chung.
    Thêm vào đó, thông qua các cuộc thi như sáng tạo khoa học kĩ thuật, STEM, sáng
    tạo thanh thiếu niên, em yêu môi trường, tự thiết kế đồ dùng học tập, các lớp tập
    huấn chuyên môn do Sở giáo dục tổ chức đã góp phần nâng cao trình độ chuyên
    môn, nghiệp vụ cho các thầy cô giáo.
  • Về phía học sinh (HS), phần lớn các em đã xác định được mục tiêu học tập,
    tham gia đầy đủ và có hiệu quả những hoạt động của Nhà trường và của Sở giáo dục
    phát động.
    3
    Khó khăn:
  • Môn Sinh học đã được đưa vào bài thi tổ hợp KHTN trong kì thi TN THPT
    Quốc gia, nhưng số lượng các trường đại học, cao đẳng tuyển sinh các ngành đào
    tạo có môn Sinh học còn ít, nên đa số các em coi môn Sinh học là môn phụ, ít
    quan tâm và đầu tư thời gian cho môn học, đặc biệt là việc vận dụng kiến thức
    vào thực tế cuộc sống. Cũng vì nguyên nhân đó mà các em không có hứng thú,
    say mê trong việc tìm tòi và khám phá ra những kiến thức có liên quan đến thế
    giới sinh vật xung quanh.
  • Hầu hết các nội dung tích hợp trong môn học là do giáo viên giảng giải
    mà chưa phải là thông điệp xuất phát từ bản thân học sinh, các em chưa có hành
    động thực tiễn để bảo vệ môi trường sống xung quanh, bảo vệ đa đạng sinh vật
    hay bảo vệ sức khoẻ con người.
  • Thực tế giảng dạy Chương III. Virut và bệnh truyền nhiễm – Sinh học 10
    ở trường THPT Tống Văn Trân.
    Virut – một cái tên không hề xa lạ đối với mọi người dân trên Trái đất, từ
    trẻ nhỏ đến người cao tuổi, nó đã và đang gây ra những đại dịch lớn cho toàn xã
    hội. Virut cũng là một trong những đối tượng nghiên cứu quan trọng của môn
    Sinh học. Từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XX trở lại đây ngày càng xuất hiện
    nhiều dạng virut mới lạ ở người, động vật mà trước đó y học chưa hề biết tới. Sau
    HIV, SARS, Ebola, cúm A H5N1 và giờ đây là Corona cùng các biến chủng của
    nó đã và đang đe doạ mạng sống của con người. Nó là nỗi kinh hoàng cho toàn xã
    hội bởi tốc độ lây lan và hậu quả nặng nề để lại về mọi mặt.
  • Kiến thức về Virut và bệnh truyền nhiễm nằm trong các bài từ bài 29 đến
    bài 132 Sách giáo khoa Sinh học 10 cơ bản. Đây là đơn vị kiến thức gắn hiện
    tượng thực tế và có tác động trực tiếp tới sức khoẻ con người, đặc biệt còn là vấn
    đề nóng liên quan đến các dịch bệnh mà toàn xã hội đang quan tâm. Tuy nhiên
    nếu với thời lượng 1 tiết/tuần và cả chủ đề chỉ vẻn vẹn trong 4 tiết, nếu giáo viên
    chỉ giảng dạy theo phương pháp truyền thống, chỉ truyển tải nội dung trong sách
    giáo khoa, cho học sinh xem video về một số virut và các dịch bệnh thì sẽ không
    4
    đảm bảo phát huy được hết năng lực và phẩm chất của học sinh, không truyền tải
    những thông điệp phòng chống các dịch bệnh truyền nhiễm để bảo vệ sức khoẻ
    bản thân, gia đình và cộng đồng tới các em. Mặt khác sẽ làm cho học sinh thấy
    kiến thức khô khan, khó hình dung và không còn có hứng thú với môn học nữa.
  • Nhóm giáo viên Sinh học trong trường thường xuyên thay đổi phương
    pháp dạy học: kết hợp các phương pháp dạy học truyền thống với hiện đại, sử
    dụng tối đa thực hành thí nghiệm, nhưng vẫn chưa thu hút được nhiều học sinh,
    chưa tạo được hứng thú học tập tối đa, chưa thực sự phát triển được các năng lực
    của học sinh. Các thông điệp bảo vệ môi trường sống, bảo vệ sức khoẻ con người
    vẫn chỉ dừng lại trên giấy mực chứ thực thực sự trở thành hành động xuất phát từ
    bản thân học sinh.
    Chính vì thế, tôi trăn trở phải tìm phương pháp dạy học nào để lôi cuốn
    được đông đảo các em HS tham gia, rút ngắn thời gian học tập nhưng vẫn đảm
    bảo chất lượng và phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong việc nắm
    bắt tri thức đồng thời giáo dục sâu sắc ý thức bảo vệ môi trường sống, bảo vệ sức
    khoẻ của bản thân và cộng đồng.
    Từ những tồn tại đó, trong năm học 2019 – 2020 và 2021- 2022, tôi đã
    mạnh dạn thay đổi phương pháp dạy học, lấy học sinh làm trung tâm, tôi đề cao
    vai trò hoạt động của học sinh trong quá trình tự tìm tòi, chiễm lĩnh kiến thức. Tôi
    đã mô tả lại thành sáng kiến : “Phát triển năng lực nhận thức sinh học và năng
    lực giải quyết vấn đề, sáng tạo của học sinh thông qua dạy học dự án “Tìm hiểu
    virut và chế tạo mô hình virut từ vật liệu tái chế” Chương III – Virut và bệnh
    truyền nhiễm – Sinh học 10”. Tôi hy vọng rằng: với sáng siến kinh nghiệm này
    của tôi có thể góp một phần nhỏ để nâng cao chất lượng giảng dạy môn Sinh học,
    từ đó góp phần nhỏ bé của mình nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của
    trường THPT Tống Văn Trân nói riêng và tỉnh Nam Định nói chung
    5
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
  1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Trước khi có sáng kiến, tôi và một số đồng nghiệp đã vận dụng một số
    phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, đổi mới hình thức tổ chức dạy học,
    kiểm tra đánh giá, ứng dụng công nghệ thông tin… tuy nhiên, hiệu quả vẫn chưa
    cao. Do đó, bản thân luôn trăn trở làm thế nào để kết hợp sử dụng sáng tạo các
    phương pháp dạy học tích cực để phát huy một cách tốt nhất năng lực nhận thức
    sinh học, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo và rèn thêm các kỹ năng sống
    cho học sinh.
    1.1. Về chương trình môn học
    Môn Sinh học còn mang tính hàn lâm, nặng về lý thuyết. Tư tưởng nhiều
    học sinh coi Sinh học là môn phụ nên không có hứng thú học tập, là một môn
    thi bắt buộc trong bài thi tổ hợp khoa học tự nhiên của đề thi tốt nghiệp trung
    học phổ thông, nhưng lại không phải là môn mà nhiều học sinh lựa chọn xét
    tuyển vào các trường đại học. Do đó, ngày từ năm học lớp 10 chù yếu học sinh
    cũng đã tập trung vào các môn Toán, Văn, Anh, Lý và Hoá mà không dành
    nhiều thời gian cho bộ môn này.
    Mặt khác, thời lượng chượng trình dành cho môn Sinh học không nhiều,
    đặc biệt là Sinh học 10 chỉ có 1 tiết/tuần. Lượng kiến thức trong chương trình
    có bài khá nặng, mang tính hàn lâm và sâu rộng, càng làm cho học sinh chểnh
    mảng hơn đối với môn học.
    1.2. Về phương pháp dạy học
    Qua thăm dò và thực tế tôi nhận thấy, khi dạy Chuyên đề này, các giáo viên
    thường áp dụng các phương pháp dạy học truyền thống như: thuyết trình; vấn đáp;
    quan sát tranh hình SGK hoặc cho học sinh xem video liên quan đến bài học sau
    đó đặt câu hỏi để học sinh thảo luận nhằm đưa ra kiến thức. Hiện nay, các phương
    pháp dạy học tích cực đã, đang được nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn dạy
    học, tuy nhiên việc vận dụng các phương pháp còn lúng túng, mang tính hình thức
    6
    và chưa thực sự đem lại hiệu quả,…..ở cuối chuyên đề, giáo viên nêu ra một số
    vấn đề tích hợp bảo vệ môi trường sống và sức khoẻ con người thông qua tìm hiểu
    một số virut và các bệnh mà virut đó gây ra, nhưng cũng chưa đạt được kết quả
    mong đợi. Về phía học sinh, phần lớn các em nằm ở thế bị động, nghe giáo viên
    giảng, đọc, ghi chép và học thuộc.
  • Ưu điểm của nhóm phương pháp này là: Nội dung bài dạy có tính hệ
    thống, tính logic cao, giáo viên không phải tốn nhiều thời gian cho việc soạn bài
    và chuẩn bị bài, học sinh không phải chuẩn bị bài nhiều, dễ học thuộc, dễ theo
    dõi, dễ áp dụng.
  • Nhược điểm của nhóm phương pháp này là: Phương pháp dạy học truyền
    thống là những cách thức dạy học quen thuộc được truyền từ lâu đời và được bảo
    tồn, duy trì qua nhiều thế hệ. Về cơ bản, phương pháp dạy học này lấy hoạt động
    của người thầy là trung tâm, người học chỉ thụ động tiếp thu kiến thức, không phát
    huy được tính tích cực, hứng thú say mê ở học sinh, không phát huy được năng
    lực sáng tạo và giải quyết vấn đề của học sinh. Từ đó làm cho bài học trở nên
    nhàm chán, khô khan và dập khuôn.
  • Học sinh không thấy hứng thú với tiết học, không biết vận dụng những
    kiến thức về cấu trúc virut, chu trình nhân lên của virut, và các phương thức lây
    truyền của virut đã học để giải thích các hiện tượng ngoài đời sống, đồng thời
    cũng không ý thức được vấn đề nghiêm trọng của các loại bệnh truyền nhiễm do
    virut, vi khuẩn gây ra và chưa hình thành được thái độ đúng đắn trong bảo vệ mô
    trường sống, bảo vệ sức khoẻ của bản thân, gia đình và và công đồng.
    1.3. Về hình thức tổ chức
    Trong suốt thời gian dài, giáo viên chủ yếu sử dụng hình thức dạy học theo
    thứ tự từng bài được sắp xếp trong sách giáo khoa và lên lớp với hai hình thức là
    cả lớp và cá nhân. Việc làm việc theo nhóm cũng có tiến hành và chỉ mang tính
    hình thức và phần lớn chỉ thực hiện trong các giờ hội giảng, giờ dạy minh hoạ của
    sinh hoạt nhóm chuyên môn… Điều đó làm giảm bớt hứng thú với môn học,
    không phát huy được các năng lực ở học sinh như năng lực hợp tác, năng lực giải
    7
    quyết vấn đề, sáng tạo, năng lực làm báo cáo, thuyết trình… Do đó, cần phải mạnh
    dạn kết hợp nhiều hình thức tổ chức dạy học hiệu quả, phù hợp với điều kiện nhà
    trường và trình độ học sinh nhằm phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh
    đáp ứng được yêu cầu của phát triển toàn diện.
    1.4. Về kiểm tra đánh giá.
    Trước đây, giáo viên giữ vị trí đặc quyền trong kiểm tra đánh giá học sinh.
    Việc kiểm tra đánh giá dựa trên quan điểm cá nhân của thầy và chủ yếu đánh giá
    dưới hình thức kiểm tra miệng, kiểm tra viết các vấn đề liên quan đến lý thuyết,
    những kiến thức đã học mà giáo viên truyền tải cho học sinh. Việc đưa các vấn
    đề mang tính thời sự vào kiểm tra đánh giá vẫn còn hạn chế làm cho học sinh ít
    có cơ hội thể hiện quan điểm của cá nhân. Và cần vận dụng cách đánh giá linh
    hoạt, tạo cơ hội cho học trò có khả năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau. Nội
    dung đánh giá cũng trở nên đa dạng, theo hướng mở, không chỉ đánh giá ở cuối
    mỗi chương, mỗi chuyên đề học tập mà còn là đánh giá cả quá trình học tập, cách
    mà học sinh lĩnh hội được kiến thức, vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
    1.5. Về kết quả đạt được của học sinh
  • Về kiến thức: Chủ yếu mới dừng lại tiếp thu theo chuẩn kiến thức, kỹ
    năng, mức vận dụng và vận dụng cao còn hạn chế, đặc biệt là những kiến thức
    mới, mang tính thời sự, các vấn đề gắn với cuộc sống học sinh ít quan tâm nên
    khả năng phân tích, nhận xét nhìn nhận các sự vận hiện tượng còn hạn chế.
  • Về thái độ: Nhiều học sinh chưa thực sự hứng thú với môn học, chủ yếu
    là thụ động lắng nghe, ghi chép kiến thức, không chịu tìm tòi khám phá thông tin,
    mở rộng kiến thức. Trong giờ học ít thắc mắc hay thể hiện qua điểm cá nhân, khả
    năng hợp tác giữa các thành viên chưa tốt.
  • Về kĩ năng: mới chỉ dừng lại ở kĩ năng phân tích nội dung sách giáo khoa,
    kĩ năng phân tích tranh ảnh hình để nhận xét, rút ra được kiến thức.
    Nói chung, bản thân tôi mặc dù đã cố gắng sử dụng các phương pháp dạy
    học truyền thống kết hợp với một số phương pháp kĩ thuật dạy học tích cực như:
    8
    phương pháp dạy học nhóm, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật mảnh ghép… khai
    thác kênh hình và kênh chữ sách giáo khoa sử dụng công nghệ thông tin, chủ yếu
    là Powerpoint, sử dụng các video minh họa… để tăng tính trực quan, kích thích tư
    duy của học sinh. Tuy nhiên, học sinh mới chỉ dừng lại ở mức quan sát và tư duy.
    Các em chưa tìm thấy hứng thú trong quá trình học, chưa thấy được tầm quan
    trọng của bộ môn. Trong các giờ học, các em còn rất e dè, nhút nhát, ngại tương
    tác với giáo viên, với các bạn học sinh trong nhóm, trong lớp về các vấn đề trong
    học tập cũng như trong cuộc sống. Học sinh chưa khám phá và phát triển được
    hết năng lực của bản thân, chưa chủ động trong việc học tập, năng lực nhận thức
    sinh học, khả năng sáng tạo và giải quyết vấn đề và vận dụng kiến thức để giải
    quyết tình huống thực tiễn cuộc sống còn hạn chế
    Như vậy việc cải tiến phương pháp dạy học, cải tiến hình thức tổ chức dạy
    học và kiểm tra đánh giá nhằm phát triển các năng lực của học sinh là rất cần thiết.
  1. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
    2.1. Vấn đề cần giải quyết:
    Với học sinh khối 10 các em vẫn còn quen với cách học ở trường THCS
    đặc biệt là cách học của năm lớp 9 với áp lục điểm số, thi cử mà chưa làm quen
    với các phương pháp tự học, tự tìm tòi, khám phá kiến thức ở trường THPT. Tuy
    nhiên cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội và công nghệ 4.0, các em cũng đã
    nhận thức được rất nhiều các vấn đề xã hội, ô nhiễm môi trường sống, các vấn đề
    liên quan đến virut, các bệnh truyền nhiễm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.
    Trường học không chỉ là nơi các em trau dồi kiến thức mà còn là môi trường
    sống của các em, là nơi các em được trải nghiệm sáng tạo và thực hiện những
    hành động. Kiến thức Virut – Bệnh truyền nhiễm gắn liền với đời sống sức khoẻ
    của con người, do đó cần tạo ra ở các em những hành động cụ thể góp phần bảo
    vệ môi trường sống, bảo vệ con người ngay chính trong trường học và khu dân cư
    nơi các em đang sinh sống.
    9
    Mặt khác thông qua chủ đề này, tôi muốn các em không còn là những cô
    cậu học trò thụ động tiếp thu những kiến thức mà giáo viên truyền thụ lại, thay vì
    đó học sinh cần phải năng động, rèn kỹ năng tự học, tự khám phá, kĩ năng hợp tác
    làm việc nhóm để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Thông qua chủ đề, học sinh
    cũng phát triển được các năng lực bản thân như năng lực nhận thức sinh học, năng
    lực giải quyết vấn đề, sáng tạo, năng lực vận dụng các kiến thức đã học vào thực
    tiễn để đáp ứng được xu thế phát triển của thời đại mới.
    2.2. Tại sao cần hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo?
    Định hướng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục nước ta trong giai đoạn
    hiện nay là “chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang
    phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học”. Trong đó năng lực giải
    quyết vấn đề và sáng tạo (NLGQVĐ&ST) là một trong những năng lực chung rất
    quan trọng, cần được hình thành và phát triển cho học sinh trung học phổ thông.
    Theo khái niệm năng lực được nêu ra trong tài liệu chương trình giáo dục
    phổ thông tổng thể thì: “NLGQVĐ&ST của học sinh là khả năng cá nhân sử dụng
    hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ, động cơ, cảm xúc để
    phân tích, đề xuất các biện pháp, lựa chọn giải pháp và thực hiện giải quyết những
    tình huống, những vấn đề học tập và thực tiễn mà ở đó không có sẵn quy trình,
    thủ tục, giải pháp thông thường, đồng thời đánh giá giải pháp GQVĐ để điều
    chỉnh và vận dụng linh hoạt trong hoàn cảnh, nhiệm vụ mới”. Cũng theo đó
    NLGQVĐ&ST của HS gồm sáu thành tố: nhận ra ý tưởng mới; phát hiện và làm
    rõ vấn đề; hình thành và triển khai ý tưởng mới; đề xuất, lựa chọn giải pháp; thực
    hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề; tư duy độc lập. NLGQVĐ&ST giúp
    HS có ý thức, trách nhiệm với cá nhân, gia đình và xã hội; ý thức nâng cao chất
    lượng và hiệu quả công việc; có khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng vào
    việc phát hiện và giải quyết các vấn đề trong học tập và thực tiễn để đáp ứng yêu
    cầu trong xã hội tri thức và hội nhập quốc tế. Do đó việc hình thành và phát triển
    năng lực nhận thức sinh học, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo là rất cần thiết
    đối với học sinh
    10
    2.3. Năng lực nhận thức sinh học.
    Theo GS Đinh Quang Báo – Chủ biên chương trình môn Sinh học GDPT
    2018 cho biết- môn Sinh học góp phần hình thành và phát triển ở học sinh các
    phẩm chất chủ yếu, năng lực chung cốt lõi và năng lực c

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT