SKKN phát triển năng lực thực hành cho học sinh thông qua dạy học thí nghiệm chuyên đề este lipit và cacbohiđrat hoá học 12 THPT  

SKKN phát triển năng lực thực hành cho học sinh thông qua dạy học thí nghiệm chuyên đề este lipit và cacbohiđrat hoá học 12 THPT

BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương
khóa XI Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, toàn ngành giáo dục
đang ra sức nỗ lực thực hiện nhằm nâng cao chất lượng của nền giáo dục nước
nhà. Trong đó mỗi một giáo viên đóng một vai trò then chốt cho sự phát triển
đó, là một giáo viên THPT tôi vẫn rất trăn trở để tìm giải pháp đổi mới nhằm
đáp ứng nhu cầu phát triển của giáo dục đất nước.
Trong những năm gần đây trong kì thi THPT Quốc Gia của môn Hóa học
luôn có các câu hỏi thực hành thí nghiệm. Chương trình tổng thể môn hóa học
ban hành ngày 26/12/2018 đã đề cập đến quan điểm xây dựng chương trình môn
hóa học: “… đề cao tính thực tiễn; tránh khuynh hướng thiên về tính toán; chú
trọng trang bị các khái niệm công cụ và phương pháp sử dụng công cụ, đặc biệt
là giúp học sinh có kĩ năng thực hành thí nghiệm, kĩ năng vận dụng các tri thức
hoá học”. Đồng thời hướng tới mô hình giáo dục STEAM là mô hình giáo dục
mà Bộ giáo dục đang định hướng phát triển trong chương trình giáo dục mới. Do
đó, một trong những NL mà GV cần chú ý hình thành và phát triển cho HS trong
môn hóa học là NLTHHH.
Sử dụng TN là một biện pháp mang lại hiệu quả cao trong việc phát triển
NLTHHH. Tuy nhiên, thực tế DHHH ở nước ta, tình trạng “dạy chay, học chay”
vẫn còn tồn tại. HS chỉ biết đến các phản ứng hóa học thông qua sách vở, thông
qua lời giảng của GV. Khi được tiếp xúc với dụng cụ TN, hóa chất mặc dù rất
hào hứng nhưng các em lại rất lúng túng với các thao tác TN, cách quan sát, mô
tả hiện tượng. Vì thế, hiệu quả dạy học có thể chưa cao cũng như chưa phát triển
được ở HS các NL cần có đặc biệt là NLTHHH.
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Phát triển năng lực thực
hành hóa học cho học sinh thông qua dạy học thí nghiệm chuyên đề estelipit và cacbohiđrat hóa học 12 trung học phổ thông”. Nghiên cứu, lựa chọn,
xây dựng và sử dụng hệ thống TNHH trong hai chuyên đề este-lipit và
cacbohidrat theo hướng dạy học tích cực định hướng phát triển NLTHHH cho
HS, góp phần nâng cao chất lượng DHHH ở trường phổ thông.
Trong khuôn khổ của sáng kiến tôi lựa chọn hai chuyên đề trên là do các
thí nghiệm trong hai chuyên đề này đều là những thí nghiệm quan trọng của
3
chương trình hóa học hữu cơ nói chung, các thí nghiệm thường xuất hiện trong
đề thi THPT Quốc gia. Nội dung giảng dạy của hai chuyên đề có đủ các các
dạng bài lý thuyết, bài luyện tập và bài thực hành
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến.
Nhiều năm qua, việc xây dựng nội dung sách giáo khoa cũng như các
loại sách bài tập tham khảo của giáo dục nước ta nhìn chung còn mang tính hàn
lâm, chưa chú trọng đến năng lực thực hành và hướng nghiệp cho học sinh; chưa
gắn bó chặt chẽ với nhu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội cũng như
nhu cầu của người học. Học sinh còn hạn chế về năng lực phản biện, tư duy,
sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng thích ứng với nghề nghiệp; kỷ luật lao
động, tinh thần hợp tác và cạnh tranh lành mạnh chưa cao; khả năng tự lập
nghiệp còn hạn chế do ít được quan sát, trực tiếp làm các thí nghiệm thực hành .
Qua công tác giảng dạy cũng như chấm, trả các bài kiểm tra, tôi nhận thấy
có Chỉ có 5% HS của mình đang giảng dạy có NLTHHH ở mức tốt, 35% HS có
NLTHHH mức độ khá và 60% HS có NLTHHH ở mức trung bình. Kết quả này
cho thấy NLTHHH của HS đa số chưa tốt. Mà hầu hết các GV đánh giá sử dụng
TN hiệu quả giúp làm tăng sự yêu thích môn học, tăng mức độ hiểu và nhớ bài
lâu hơn, rèn luyện kĩ năng thực hành, tăng niềm tin vào khoa học, tạo không khí
lớp học sôi nổi, giải thích các hiện tuợng trong thực tiễn. Hầu hết GV cho rằng
việc phát triển NLTH cho HS là cần thiết
Từ năm học 2015- 2016 tôi đã bắt đầu có ý thức đổi mới phương pháp
dạy học bằng việc sử dụng các thí nghiệm trong bài dạy lý thuyết bài tập, đưa ra
các bài tập thí nghiệm thực hành, yêu cầu HS làm ở nhà một số thí nghiệm….
Năm học 2019- 2020 tôi áp dụng phương pháp này một cách cụ thể hơn, đặc
biệt quan tâm đến thí nghiệm hướng dẫn ở nhà với yêu cầu dễ làm và thực hiện
hết ít thời gian. Các thí nghiệm dùng trong bài học và bài thực hành cần phân
tích kĩ các bước làm, lưu ý các thao tác, điều kiện và vai trò của các chất để phục
vụ cho việc các em làm các câu hỏi về thí nghiệm thực hành trong đề thi TN
THPTQG. Vấn đề lớn đặt ra là làm thế nào để có thể phát triển toàn diện NLTH
cho HS bản thân tôi đã gặp một số thuận lợi và khó khăn sau:
* Thuận lợi:
– Học sinh rất hứng thú khi được xem trực tiếp thí nghiệm, làm thí nghiệm
trên lớp, tạo nhóm làm thí nghiệm tại nhà, khắc phục tình trạng ngại học, chán
học môn Hóa học. Tôi đã tiến hành khảo sát và cho kết quả đa số HS thích giờ
hóa có TN (65%), chỉ có 2,5% HS không thích giờ học có thí nghiệm.
4
– Nâng cao chất lượng giờ học, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng làm
việc nhóm, rèn cho học sinh bản lĩnh tự tin, khả năng diễn đạt vấn đề. Để từ đó
học sinh tự nhận thức, tự giáo dục, tự phát triển và tự hoàn thiện mình.
* Khó khăn:
Trong nhà trường vẫn còn thiếu dụng cụ hóa chất, điều kiện làm thí
nghiệm chưa thuận tiện như dụng cụ còn ít nên chia nhóm HS còn đông nên HS
trực tiếp làm thí nghiệm chưa nhiều. Thời gian tiết học bị hạn chế nên thực hiện
được ít thí nghiệm. Kĩ năng làm thí nghiệm của HS còn kém nên thời gian làm
thí nghiệm kéo dài ảnh hưởng đến tiến độ nội dung của tiết học
Đây là những vấn đề khi thực tế dạy học sử dụng thí nghiệm trong dạy
học hóa học tôi cũng như đồng nghiệp gặp phải.
Với mong muốn phát triển năng lực thực hành cho HS nên tôi mạnh dạn
đề xuất đề tài “Phát triển năng lực thực hành hóa học cho học sinh thông
qua dạy học thí nghiệm qua chuyên đề Este – Lipit và Cacbohiđrat hóa học
12 trung học phổ thông”.
2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến.
2.1. Định hướng tiếp cận ban đầu.
Với câu hỏi “Làm thế nào để sử dụng TN hiệu quả nhằm phát triển năng
lực thực hành cho HS lớp 12 trong điều kiện HS vẫn phải dành thời gian tập
trung cho ôn tập hướng đến kì thi TN THPT?”. Đồng thời khắc phục những khó
khăn về điều kiện thời gian của tiết học, hóa chất dụng cụ còn thiếu.
Hướng giải quyết là tiến hành nhiều làm thí nghiệm trong các không gian
khác nhau như: GV làm thí nghiệm để HS quan sát, hướng dẫn HS tự làm thí
nghiệm trong các giờ học lý thuyết, cải tiến các TN theo hướng đơn giản để HS
thực hiện, lồng ghép các thí nghiệm có nội dung thực tiễn vào bài dạy, tổ chức
các thí nghiệm HS có thể thực hiện tại nhà, tăng tỉ lệ bài tập có nội dung rút ra từ
thực hành thí nghiệm trong kiểm tra. Hầu hết HS đã rất hứng thú, đặc biệt giải
pháp tổ chức các thí nghiệm ngoại khóa, các thí nghiệm HS có thể thực hiện tại
nhà được.
2.2. Năng lực thực hành hóa học
2.2.1. Khái niệm năng lực thực hành hóa học
NLTH của HS phổ thông là khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng thực hành
cùng với thái độ tích cực và hứng thú để giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá
trình học tập và thực tiễn thực tiễn một cách phù hợp hiệu quả.
5
Từ đó, có thể định nghĩa NLTHHH là khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ
năng cùng với thái độ tích cực và hứng thú để giải quyết các vấn đề đặt ra trong
học tập và thực tiễn có liên quan đến hóa học một cách phù hợp và đạt hiệu quả.
NLTHHH thể hiện thông qua các hoạt động giải thích đƣợc các hiện tượng liên
quan đến hóa học, thực hiện thành công các TNHH, đề xuất, chế tạo các dụng cụ
thí nghiệm,… phục vụ cho cuộc sống. Như vậy, NLTHHH gắn liền với khả
năng hành động, đòi hỏi HS phải giải thích được, làm được, vận dụng được kiến
thức hóa học vào thực tiễn.
2.2.2. Cấu trúc của năng lực thực hành hóa học
NLTHHH gồm 4 thành tố: xác định vấn đề và đề xuất phương án thực hành;
thiết kế phương án thực hành; tiến hành thực hành; xử lí, phân tích, báo cáo kết
quả và rút ra kết luận về kiến thức. Mỗi thành tố được cụ thể hóa thành các hành
vi được thể hiện trong sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2. Cấu trúc của NLTHHH
2.2.3. Các biểu hiện của năng lực thực hành hóa học
Các biểu hiện của NLTHHH bao gồm các hành vi:
– Xác định được mục đích thực hành.
6
– Đề xuất được các phương án thực hành.
– Xác định được các dụng cụ, hóa chất, các điều kiện cần thiết.
– Xác định được quy trình tiến hành thực hành.
– Sử dụng các dụng cụ, hóa chất một cách thích hợp.
– Thực hiện được quy trình thực hiện đã đề ra.
– Thu thập được các thông tin cần thiết trong quá trình thực hành.
– Xử lí được các thông tin thu thập được trong quá trình thực hành.
– Giải thích được các hiện tượng liên quan.
– Rút ra được các kết luận cần thiết trong quá trình thực hành.
2.2.4. Biện pháp phát triển năng lực thực hành hóa học cho học sinh trung
học phổ thông
Để phát triển NLTHHH cho HS, GV có thể áp dụng các biện pháp:
– Sử dụng các bài tập có nội dung thực hành trong DHHH. Các bài tập này có
thể được sử dụng khi nghiên cứu bài mới, khi ôn tập, khi kiểm tra.
– Sử dụng kênh hình trong hoạt động hình thành kiến thức, trong hoạt động củng
cố kiến thức, trong hoạt động ngoại khóa.
– Sử dụng thí nghiệm trong các giờ dạy hóa học kết hợp với các phƣơng pháp
dạy học tích cực. Đây là biện pháp hữu hiệu để phát triển NLTHHH cho HS.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tôi tập trung nghiên cứu biện pháp sử
dụng thí nghiệm để phát triển NLTHHH cho HS.
2.2.5. Đánh giá sự phát triển năng lực thực hành hóa học của học sinh trung
học phổ thông
Để đánh giá NLTHHH của HS, GV có thể sử dụng nhiều phương pháp khác
nhau, hoặc có thể phối hợp các phương pháp:
Đánh giá thông qua bài kiểm tra
Đánh giá thông qua bài kiểm tra là hình thức đánh giá đƣợc áp dụng phổ biến
nhất ở các trường phổ thông. GV có thể đánh giá HS thông qua các bài kiểm tra
15 phút, 45 phút với hình thức tự luận khách quan hoặc trắc nghiệm hoặc có thể
kết hợp cả 2 hình thức. Khi đánh giá dựa vào các bài kiểm tra có câu hỏi tự luận,
ngoài việc căn cứ vào nội dung khoa học thì GV còn căn cứ vào cách trình bày,
diễn đạt, bố cục,… để đánh giá HS.
Đánh giá thông qua quan sát
Đánh giá thông qua quan sát trong giờ học là một phƣơng pháp quan trọng giúp
GV có cái nhìn tổng quát về thái độ, hành vi, sự phát triển các kỹ năng của HS
trong suốt quá trình dạy học. GV có thể quan sát nhiều khía cạnh khác nhau nhƣ
thái độ trong giờ học, quan sát tinh thần xây dựng bài, quan sát thái độ trong
7
hoạt động nhóm, quan sát kỹ năng trình bày của HS, quan sát HS thực hiện các
thao tác. Muốn đánh giá HS bằng cách quan sát, GV phải làm phiếu quan sát
hoặc có thể quan sát tự do và có ghi chép bằng nhật ký dạy học.
Việc đánh giá HS thông qua quan sát, GV ghi chép lại nhật kí các giờ học, các
hoạt động diễn ra cũng như thái độ, thể hiện của HS, thông báo cho HS kết quả
các ghi chép.
Đánh giá thông qua vấn đáp, thảo luận nhóm
GV đặt câu hỏi cho HS về nội dung bài cũ để kểm tra việc học bài ở nhà. Các
câu hỏi được trả lời theo cá nhân hoặc theo nhóm trong quá trình dạy bài mới
giúp GV đánh giá mức độ đạt được mục tiêu bài học cũng như phát hiện đƣợc
những khó khăn mà HS mắc phải, từ đó cải tiến quá trình dạy học. Kỹ thuật
công não, kỹ thuật tia chớp sẽ giúp GV thu được nhiều hơn thông tin phản hồi từ
HS.
Học sinh tự đánh giá
Đây là hình thức HS tự đưa ra đánh giá kiến thức, kỹ năng đạt đƣợc của mình
sau các giờ học. HS thực hiện các nhiệm vụ đƣợc GV yêu cầu. Sau đó HS tự
đánh giá bài làm của mình thông qua các tiêu chí GV đưa ra. Bảng kiểm đƣợc
thiết kế theo nhiều mức độ, phù hợp với NL cần đánh giá.
Đánh giá dựa vào một số kỹ thuật thu nhận thông tin phản hồi
khác
Sau khi kết thúc bài học, GV có thể yêu cầu HS viết về nội dung mình đã học
được, lập sơ đồ tư duy nội dung bài học hay trả lời các câu hỏi áp dụng kiến
thức vào thực tiễn.
2.3. Sử dụng thí nghiệm hóa học trong dạy học nhằm phát triển năng lực
thực hành hóa học cho học sinh
2.3.1. Vai trò của thí nghiệm trong chương trình môn hoá học ở phổ thông
Trong DHHH, TNHH có vai trò rất quan trọng:
– Giúp HS dễ dàng hơn để hiểu bài cũng như hiểu nội dung bài học một cách
sâu sắc. TN là cơ sở, là khởi đầu cho quá trình nhận thức của HS. Quá trình
nhận thức cảm tính xuất phát từ TN, sau đó diễn ra quá trình trừu tượng hóa và
phát triển lên sự cụ thể hóa trong tư duy.
– Củng cố niềm tin vào khoa học của HS, giúp HS bồi dưỡng sự say mê nghiên
cứu khoa học.
– TNHH là cầu nối giữa lý thuyết và thực hành, là tiêu chuẩn khẳng định tính
đúng đắn của kiến thức, hỗ trợ cho sự tư duy sáng tạo của HS.
8
– Là phương tiện giúp hình thành cho HS các kỹ năng thực hành, tư duy kĩ thuật.
Các TN do GV biểu diễn với các thao tác chính xác sẽ là khuôn mẫu cho HS bắt
trước. Để sau khi làm TN, HS sẽ học được cách tiến hành TN.
Qua đó, có thể thấy, TNHH là một phương tiện trực quan chủ yếu trong DHHH.
Việc sử dụng TNHH có thể được thực hiện trong tất cả các khâu của quá trình
DHHH.
2.3.2. Phân loại và yêu cầu sư phạm của việc sử dụng thí nghiệm trong dạy
học hóa học
Ở trường phổ thông hiện nay, các TNHH đươc sử dụng dưới 2 hình thức:
* TN do GV biểu diễn: GV tự thực hiện và trình bày trước HS.
TN do GV biểu diễn phải đảm bảo các yêu cầu:
– Đảm bảo an toàn: Đây là yêu cầu quan trọng nhất khi tiến hành TN. Khi thực
hiện TN, GV phải tuân thủ các quy định trong phòng thí nghiệm, các thao tác
phải chính xác

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

Leave a Comment