âm thanh lớp học, loa trợ giảng

SKKN Sử dụng hiệu quả một số kỹ thuật dạy học hiện đại nhằm phát triển năng lực học sinh trong môn Mỹ thuật lớp 4,5

SKKN Sử dụng hiệu quả một số kỹ thuật dạy học hiện đại nhằm phát triển năng lực học sinh trong môn Mỹ thuật lớp 4,5

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Thực hiện Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội khóa 13 về đổi mới
chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, một trong những nội dung đổi
mới quan trọng mà Nghị quyết 29-NQ/TW đã đề ra đó là: “Tiếp tục đổi mới
phương pháp giáo dục theo hướng phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất
người học; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp
tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm và khả năng tư duy
độc lập; đa dạng hóa hình thức tổ chức học tập, tăng cường hiệu quả sử dụng các
phương tiện dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông; giáo dục ở
nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội; tạo chuyển biến căn bản,
toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy
người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về
truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và
năng lực, hài hòa trí, đức, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học
sinh”.
Mĩ thuật là môn học thuộc lĩnh vực giáo dục nghệ thuật. Trong CT
GDPT- 2018, môn Mĩ thuật nhằm hình thành, phát triển ở học sinh năng lực mĩ
thuật, biểu hiện của năng lực thẩm mĩ trong lĩnh vực mĩ thuật; đồng thời cũng
góp phần cùng các môn học và hoạt động giáo dục khác hình thành, phát triển ở
học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung đặc biệt là giáo dục ý thức kế
thừa và phát huy văn hóa nghệ thuật dân tộc phù hợp với thời đại.
Ngay từ lớp một học sinh Tiểu học đã được làm quen với bộ môn mĩ thuật.
Trẻ em ở lứa tuổi này đã có nhận thức, cảm xúc về thế giới xung quanh và có
nhu cầu biểu đạt nó. Tuy nhiên, các phương tiện biểu đạt như viết, nói… còn bị
hạn chế rất nhiều, trong khi đó tạo hình lại là phương tiện biểu đạt phù hợp nhất.
Thông qua các hình ảnh, vẽ, xé dán, nặn, tạo hình 3D, màu sắc, cách sắp xếp bố
cục, bài trí…. Các em có thể nói lên suy nghĩ, cảm xúc của mình trước sự vật,
hiện tượng, con người và thế giới xung quanh mình.
4
Vì vậy, trẻ em lứa tuổi học sinh tiểu học luôn có sự ham thích đặc biệt với
môn mĩ thuật. Tuy nhiên các giờ học mĩ thuật sẽ thu hút và có hiệu quả nếu GV
có các phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt động phù hợp với từng chủ
đề. Những hoạt động đó mang lại cho trẻ có cơ hội trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm
sống, thể hiện những ý tưởng, tự tìm tòi, chủ động sáng tạo, khám phá và tạo sản
phẩm mang dấu ấn cá nhân.
Theo định hướng phương pháp giáo dục trong chương trình môn mỹ thuật
nhằm phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh thì: người học muốn có
năng lực không chỉ học tri thức, kỹ năng mà còn phải học cả phương pháp làm
việc trong quá trình học để sau khi học có khả năng giải quyết những vấn đề
trong thực tiễn.
Mục tiêu dạy học của chương trình môn mĩ thuật hiện hành là nhằm đạt
được chuẩn kiến thức, kỹ năng theo từng nội dung chủ đề giáo dục cụ thể quy
định trong chương trình môn mỹ thuật. Với phương pháp do Đan Mạch hỗ trợ
thì mục tiêu môn học thay đổi theo định hướng phát triển về năng lực và yêu cầu
cần đạt. Cụ thể, phương pháp dạy học hình thành, phát triển ở học sinh các thành
phần của năng lực Mĩ thuật như sau:
+ Quan sát và nhận thức thẩm mỹ.
+ Sáng tạo và ứng dụng thẩm mỹ.
+ Phân tích và đánh giá thẩm mỹ.
Dự án “Hỗ trợ giáo dục mĩ thuật tiểu học” (SAEPS) tại Việt Nam là một dự
án trong chương trình hợp tác văn hóa Việt Nam – Đan Mạch. Dự án này với
trọng tâm thay đổi phương pháp giảng dạy (PPGD) Mĩ thuật theo hướng đổi mới
đã bắt đầu được áp dụng rộng rãi trên cả nước. Tuy vậy, thực tế còn nhiều bất
cập khi triển khai Phương pháp dạy học mới trên cơ sở Chương trình giáo dục
Mĩ thuật hiện hành, điều kiện dạy học Mĩ thuật của giáo viên và học sinh còn
nhiều khó khăn; trình độ chuyên môn, năng lực của giáo viên Mĩ thuật cấp Tiểu
học còn chưa đồng đều. Nhiều nơi giáo viên dạy Mĩ thuật không được đào tạo
chuyên sâu, không được tập huấn phương pháp mới hoặc được tập huấn chưa
đúng hay chưa hiểu đúng tinh thần của phương pháp mới nên còn gặp khó khăn,
5
lúng túng trong xây dựng kế hoạch dạy học theo chủ đề và thiết kế các hoạt
động dạy – học hiệu quả.
Để giúp cho các giáo viên mĩ thuật tiểu học hiểu rõ những vấn đề chung
về dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới ở bậc Tiểu học và có thể vận dụng
linh hoạt, sáng tạo các Phương pháp dạy học Mĩ thuật mới vào Chương trình
giáo dục Mĩ thuật (GDMT) hiện hành, đồng thời hướng tới Chương trình
GDMT 2018 theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh cũng chính vì lí
do đó tôi đã nghiên cứu và áp dụng sáng kiến:
SỬ DỤNG HIỆU QUẢ MỘT SỐ KỸ THUẬT DẠY HỌC HIỆN ĐẠI NHẰM
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG MÔN MĨ THUẬT LỚP 4,5
Để chia sẻ những kinh nghiệm của bản thân trong quá trình dạy học nhằm
đem lại hiệu quả cao trong dạy và học môn Mĩ thuật.
6
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1. Mô tả giải pháp kỹ thuật trƣớc khi tạo ra sáng kiến:
Từ năm học 2015 – 2016 đến năm học 2019 – 2020, tôi được phân công
giảng dạy môn Mĩ thuật khối lớp 4, khối lớp 5. Trong quá trình dạy học theo dự
án hỗ trợ của Vương quốc Đan Mạch môn Mĩ thuật tôi thấy rằng một trong
những đặc trưng cơ bản của dạy học Mĩ thuật là hoạt động dạy – học thông qua
các hoạt động thực hành.
Mỗi một quy trình dạy học đều có các hình thức tổ chức hoạt động khác
nhau nhưng có điểm chung là: học sinh được chia sẻ, khám phá, tìm tòi, sáng tạo
và biết kết hợp để tạo ra những sản phẩm mang tính ứng dụng cao.
Việc sử dụng PPDH và KTDH theo chủ đề đều dựa trên biên soạn của bộ
sách giáo viên và sách giáo khoa.
1.1. Sách giáo khoa
1.1.1. Thuận lợi
Theo phân phối chương trình dành cho lớp 4 có tất cả 12 chủ đề. Cụ thể:
 Chủ đề 1: Những mảng màu thú vị.
 Chủ đề 2: Chúng em với thế giới động vật.
 Chủ đề 3: Ngày hội hóa trang
 Chủ đề 4: Em sáng tạo cùng những con chữ
 Chủ đề 5: Sự chuyển động của dáng người
 Chủ đề 6: Ngày tết, lễ hội và mùa xuân
 Chủ đề 7: Vũ điệu của sắc màu
 Chủ đề 8: Sáng tạo với những nếp gấp giấy
 Chủ đề 9: Sáng tạo họa tiết, tạo dáng và trang trí đồ vật
 Chủ đề 10: Tranh tĩnh vật
 Chủ đề 11: Em tham gia giao thông
 Chủ đề 12: Tìm hiểu tranh dân gian Việt Nam
Các chủ đề được biên soạn nhằm hướng tới mục tiêu lấy học sinh làm
trung tâm; kích thích sự tương tác, tư duy sáng tạo và phát triển nhận thức, từ đó
giúp các em hình thành và phát triển ba năng lực cốt lõi:
7
 Sáng tạo mĩ thuật, qua đó biểu đạt bản thân (suy nghĩ, tình cảm, mong
muốn…)
 Hiểu, cảm nhận và trân trọng sản phẩm/ tác phẩm mĩ thuật.
 Giao tiếp/trao đổi, tiếp nhận thông tin thông qua sản phẩm/ tác phẩm
mĩ thuật.
Bộ sách vận dụng các quy trình mĩ thuật theo PPDH mới của dự án
PAEPS do Đan Mạch tài trợ được biên soạn theo các chủ đề. Trong mỗi chủ đề,
các em được tiếp cận với kiến thức mĩ thuật thông qua các hoạt động tương tác
với giáo viên và với các bạn trong lớp bằng các hình thức trải nghiệm, thực
hành, vận dụng sáng tạo.
Các chủ đề được tách riêng chia theo từng nội dung cụ thể nên rất thuận
lợi cho giáo viên trong việc tổ chức các hoạt động cơ bản và hoạt động thực
hành khi hướng dẫn các em tìm hiểu kiến thức và yêu cầu cần đạt thông qua
mục tiêu của bài. Hệ thống có sự đan xen giữa các chủ đề với nhau tạo ra các
mức độ từ dễ đến khó nhằm: Rèn luyện và phát triển các kỹ năng thực hành
thông qua việc quan sát, nhớ lại, tưởng tượng giúp học sinh sáng tạo, linh hoạt
trong các cách thể hiện tác phẩm cá nhân hay sản phẩm của nhóm. Phát triển tư
duy ngôn ngữ, khả năng thuyết trình nhận xét và đánh giá tác phẩm.
Ví dụ:
Chủ đề 7: Vũ điệu sắc màu
Học sinh được trải nghiệm khả năng lắng nghe và cảm nhận âm nhạc,
được vận động theo giai điệu, chuyển âm thanh giai điệu thành những đường
nét và màu sắc biểu cảm trên giấy.
Học sinh được chia sẻ cảm nhận thông qua tác phẩm chung và cá nhân.
Học sinh được phát triển được trí tưởng tượng và sáng tạo trong quá trình
tạo ra bức tranh biểu cảm mới từ đường nét và màu sắc.
Học sinh được phân tích đánh giá tác phẩm thông qua việc đặt tên.
Học sinh được bày tỏ quan điểm, tình cảm trước lớp và người thân trong
gia đình.
8
Theo phân phối chương trình dành cho lớp 5 có tất cả 13 chủ đề. Cụ thể:
 Chủ đề 1: Chân dung tự họa.
 Chủ đề 2: Sự liên kết thú vị của các hình khối.
 Chủ đề 3: Âm nhạc và sắc màu.
 Chủ đề 4: Sáng tạo với những chiếc lá.
 Chủ đề 5: Trường em
 Chủ đề 6: Chú bộ đội của chúng em.
 Chủ đề 7: Tìm hiểu tranh theo chủ đề “Ước mơ của em”
 Chủ đề 8: Trang trí sân khấu và sáng tác câu chuyện.
 Chủ đề 9: Trang phục yêu thích.
 Chủ đề 10: Cuộc sống quanh em.
 Chủ đề 11: Vẽ biểu đạt các đồ vật.
 Chủ đề 12: Thử nghiệm và sáng tạo với các chất liệu.
 Chủ đề 13: Xem tranh “Bác Hồ đi công tác”
Các chủ đề trong chương trình mĩ thuật lớp 5 hướng tới mục tiêu lấy học sinh
làm trung tâm. Các chủ đề có sự liên kết chặt chẽ với nhau theo kiến trúc đồng
tâm giúp các em hình thành và phát triển các năng lực đặc thù.
Hệ thống các chủ đề đều hướng tới việc rèn luyện và phát triển các kỹ năng
thực hành thông qua việc quan sát, nhớ lại, tưởng tượng giúp học sinh sáng tạo,
linh hoạt trong các cách thể hiện tác phẩm cá nhân hay sản phẩm của nhóm. Phát
triển tư duy ngôn ngữ, khả năng thuyết trình nhận xét và đánh giá tác phẩm.
1.1.2. Khó khăn
* Kiến thức trong Sách giáo khoa hàn lâm, còn nặng về dạy học sinh
chuyên nghiệp, vì vậy:
– Kết quả sản phẩm của học sinh tiểu học không đảm bảo yêu cầu so với
lượng kiến thức mà sách giáo khoa đưa ra.
– Tính ứng dụng sản phẩm còn hạn chế.
– Sự hợp tác và chia sẻ chưa hiệu quả.
– Hệ thống hình minh họa không được rõ nét, tư liệu minh họa ít, hệ thống
câu hỏi còn chung chung chưa phân loại được đối tượng học sinh.
9
– Nhiều chủ đề lượng kiến thức mới nhiều nhưng thời gian để giảng dạy ít
vì vậy giáo viên khó khăn trong việc tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt
động thực hành cũng như trưng bày và giới thiệu sản phẩm.
1.2. Về phía giáo viên
1.2.1. Thuận lợi
Là một giáo viên chuyên giảng dạy về môn Mĩ thuật, bản thân tôi luôn có
niềm đam mê trong công việc, luôn tìm tòi học hỏi để tìm ra các phương pháp
dạy và hình thức tổ chức lớp học hiệu quả, các hình thức tổ chức dạy học trực
quan nhất, sinh động nhất để học sinh tiếp thu kiến thức, dễ dàng tìm được sự
móc nối giữa các kiến thức và kỹ năng thực hành, kỹ năng giao tiếp chia sẻ.
Tôi thường xuyên giao lưu, học hỏi với các đồng nghiệp trong trường và
các trường bạn. Tự nghiên cứu sách vở, tài liệu, trang mạng internet… có liên
quan đến các lĩnh vực giáo dục thẩm mỹ nhằm tìm những giải pháp giúp học
sinh có thể nắm vững bài học và thực hành tốt các chủ đề mang tính ứng dụng
và tính thẩm mỹ cao nhất.
Tôi thường xuyên sử dụng mạng internet trao đổi với đồng nghiệp về các
tư liệu hình ảnh, sản phẩm tạo hình và kinh nghiệm giảng dạy.
Thường xuyên tham gia các buổi sinh hoạt chuyên môn, dự giờ theo
hướng nghiên cứu bài học do Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Nam Định
tổ chức giúp cho giáo viên có cơ hội để học hỏi chuyên môn, trao đổi kinh
nghiệm nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy Mĩ thuật trong trường Tiểu học.
1.2.2. Khó khăn
Điều kiện không gian và số lượng học sinh đông là cản trở lớn cho tôi khi
tổ chức các hoạt động theo nhóm như chủ đề: Vẽ theo nhạc, vẽ cùng nhau xây
dựng câu chuyện, tạo hình 3D.
1.3. Về phía học sinh
1.3.1. Thuận lợi
Học sinh đã được tiếp cận với các quy trình học Mĩ thuật theo dự án từ
những năm đầu tiên khi thử nghiệm nên tất cả các em đều rất thoải mái và tự tin
10
khi tham gia các hoạt động học tập, chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm thông qua các
hoạt động thực hành và nhận xét, đánh giá.
Đặc biệt Mĩ thuật là môn học đặc thù nhằm phát huy khả năng sáng tạo và
tư duy tưởng tượng trong các hoạt động thực hành nên đa phần các em đều rất
hào hứng muốn thể hiện bản thân nên giờ học rất sôi động, đạt hiệu quả cao.
1.3.2. Khó khăn
Bên cạnh việc có nhiều em yêu thích học mĩ thuật thì cũng còn có những
em chưa hứng thú trong việc học tập, các em còn mải chơi, chưa thực sự tập
trung khi học tập và dành ít thời gian cho việc thực hành. Do môn Mĩ thuật là
môn học ít giờ nên phụ huynh học sinh cũng ít quan tâm vì vậy mà các em
thường xuyên thiếu đồ dùng học tập cá nhân.
1.4. Đối với nhà trƣờng
1.4.1. Thuận lợi
Được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường và sự phối hợp, tạo điều
kiện của các đồng nghiệp trong trường đó là nguồn động viên để tôi phấn đấu
tìm tòi, học hỏi nâng cao chất lượng giảng dạy.
Phòng Mĩ thuật được trang bị các thiết bị hiện đại như: máy tính, máy
chiếu, mạng Internet,…
Các lớp được bố trí học 2 tiết Mĩ thuật liên tục trong cùng 1 buổi học nên
việc học sinh thực hành các chủ đề đảm bảo yêu cầu cần đạt của môn học.
1.4.2. Khó khăn
Diện tích phòng học còn hạn chế nên giáo viên chưa chủ động trong việc
triển khai các kỹ thuật dạy học và hình thức tổ chức các hoạt động dạy học được
hiệu quả.
1.5. Đối với phụ huynh học sinh:
1.5.1. Thuận lợi
Phần lớn phụ huynh học sinh đều ủng hộ và tạo điều kiện cho con em
được học tập môn Mĩ thuật và tham gia các hoạt động liên quan đến bộ môn
như: trang trí trại thu, gian hàng, trưng bày sản phẩm STEM….
11
Phụ huynh cũng thường xuyên cho con tiếp cận với những chương trình,
sự kiện liên quan đến giáo dục thẩm mỹ qua các kênh thông tin. Nhiều phụ
huynh học sinh còn cùng các em tham gia các hoạt động trình diễn thời trang tái
chế và các chương trình biểu diễn có sử dụng các sản phẩm mĩ thuật.
1.5.2. Khó khăn
Do môn học đặc thù nên nhiều phụ huynh học sinh chưa tìm hiểu sâu về
hoạt động giáo dục thẩm mĩ nên chưa thực sự quan tâm đến con em mình. Có
những bài thực hành các em cần sự giúp đỡ của phụ huynh nhưng vì năng lực mĩ
thuật còn hạn chế nên các em gặp khó khăn khi tham gia các hoạt động trải
nghiệm thực tế. Hay như một số khác do bận công việc làm ăn nên không để ý
đến việc học hành của con.
Tóm lại, qua thực tế giảng dạy tôi thấy rằng với điều kiện cơ sở vật chất,
không gian lớp học và số lượng học sinh. Để đảm bảo yêu cầu cần đạt về phẩm
chất, năng lực và đặc biệt là sản phẩm của học sinh sau mỗi chủ đề tôi có những
biện pháp nhằm thay đổi hình thức tổ chức các hoạt động cũng như phương
pháp dạy học phù hợp với tình hình thực tế tại trường Tiểu học Chu Văn An.
2. Mô tả giải pháp kỹ thuật sau khi có sáng kiến:
Từ thực trạng và nguyên nhân trên, qua quá trình thực hiện, tôi đã đề ra 3
giải pháp giúp học sinh học tập môn Mĩ thuật hiệu quả hơn :
2.1. Giải pháp 1: Sử dụng hiệu quả kỹ thuật dạy học theo hƣớng mở
2.1.1. Nắm vững kỹ thuật dạy học theo hướng mở.
Trong quá trình dạy học bản thân tôi thấy rằng để sử dụng kỹ thuật dạy
học theo phương pháp mở giáo viên cần nắm vững bản chất và các quy trình
thực hiện.
* Bản chất
– Nắm chắc và dạy học theo đúng quy trình của từng phương pháp;
– Dạy học theo phương pháp mở (kết thúc bài học này là mở ra một bài
học mới); tăng cường dạy học hợp tác nhưng vẫn coi trọng cá thể hóa học sinh;
– Phát triển các năng lực của trẻ (Văn học, Âm nhạc, Vận động, Ngôn
ngữ…) trong quá trình dạy học Mĩ thuật theo phương pháp của Đan Mạch;
12
– Tạo cơ hội cho học sinh được chia sẻ, thực hành các bài tập ứng dụng
thiết thực, phục vụ cho học tập và cuộc sống;
* Các quy trình thực hiện
Giáo viên linh hoạt trong việc vận dụng Phương pháp dạy học Mĩ thuật
của Đan Mạch vào các phân môn cụ thể trong chương trình Mĩ thuật hiện hành:
– Vẽ ký họa dáng (người/vật): Quy trình Vẽ cùng nhau và sáng tạo các câu
chuyện
– Vẽ theo mẫu (chân dung /vật thể): Quy trình Vẽ biểu cảm
– Vẽ trang trí (Làm bìa sách, bưu thiếp, giấy mời…): Quy trình Trang trí
và vẽ tranh qua âm nhạc
– Hình ảnh các nhân vật được xé, cắt dán, tạo hình 3D để tạo một chủ đề
có cốt truyện: Quy trình Xây dựng cốt truyện
– Các hình khối được tạo ra từ vật tìm được, dây thép, đất nặn, giấy bồi…
và được kết nối với nhau trong một không gian nhất định: Quy trình tạo hình 3D
tiếp cận theo chủ đề
– Các nhân vật được tạo hình từ các vật dụng tìm được và câu chuyện
được phát triển theo chủ đề: Quy trình Điêu khắc – Nghệ thuật tạo hình không
gian (Nghệ thuật sắp đặt/ hoạt cảnh/ biểu diễn và sắm vai)
– Tạo hình các con rối và tạo ra một buổi trình diễn ấn tượng: Quy trình
“Tạo hình con rối và nghệ thuật biểu diễn”
Cả 7 quy trình này đều được xây dựng chung một cấu trúc:
• Thảo luận và làm quen với chủ đề.
• Quy trình được chi tiết từ đầu tới cuối thông qua mô tả thực tế các bước
khác nhau của một quy trình, trong đó kết hợp nhuần nhuyễn các quy trình nói
trên để đảm bảo hiệu quả cao nhất trong việc giáo dục mĩ thuật.
• Có thể có những thay đổi linh hoạt hoặc cân nhắc khác cho quy trình cụ
thể ở thực tế. Những quy trình dạy – học Mĩ thuật này không phải là công thức
cố định mà chúng ta phải làm theo. Những quy trình này tạo cảm hứng cho giáo
viên và nó còn có thể điều chỉnh cho phù hợp với đối tượng học sinh và điều
kiện thực tế tại địa phương. Giáo viên có thể phát triển khả năng của học sinh ở
13
các mức độ khác nhau trong các quy trình này như khả năng trải nghiệm, sáng
tạo, biểu đạt, giao tiếp và đánh giá.
2.1.2 Nghiên cứu sách giáo khoa để lựa chọn hoạt động và xây dựng các hoạt
động theo hướng mở.
a. Lựa chọn các hoạt động, chủ đề
14
b. Xây dựng các hoạt động theo hướng mở
Với môn học đặc thù như môn Mĩ thuật khi áp dụng kỹ thuật dạy học mở
này. Giáo viên cần quan tâm đặc biệt đến việc tổ chức các hoạt động và phân
công công việc cho từng cá nhân, nhóm đảm bảo các thành viên trong nhóm
phát huy thế mạnh của mình với sự hỗ trợ phù hợp của giáo viên tạo được ngân
hàng hình ảnh phong phú đa dạng phục vụ cho các chủ đề tiếp theo
2.1.3. Tổ chức hoạt động theo hướng mở.
a. Hướng dẫn học sinh hoạt động theo hướng mở.
b. Sử dụng kết quả/sản phẩm của học sinh theo hướng mở.
Ví dụ: hình ảnh minh họa (sử dụng dáng người – xây dựng bố cục cho
chủ đề mới…)
15
16
* Ví dụ: Chủ đề 5: Sự chuyển động của dáng người ( Mĩ thuật 5)
Quy trình thực hiện:
– Sau khi GV hướng dẫn tạo hình dáng người bằng dây thép, giao nhiệm
vụ cụ thể cho các thành viên, nhóm tạo dáng người.
– Giáo viên hướng dẫn học sinh cách tạo sự chuyển động dáng
theo ý thích
– Học sinh thực hiện tạo dáng người và sự chuyển động của dáng người
theo các tư thế vận động
– Sử dụng giấy màu, vật liệu tìm được, vải vụn… tạo hình trang phục cho
nhân vật, dáng người và các tư thế vận động của dáng người
– Học sinh giới thiệu, nhận xét và nêu cảm nhận về sản phẩm của mình,
nhóm mình và của bạn, nhóm bạn.
Hướng mở: sau khi học sinh chia sẻ và nêu cảm nhận về sản phẩm giáo
viên hướng dẫn học sinh lưu giữ sản phẩm để chuẩn bị cho hoạt động hoặc chủ
đề tiếp theo: Chủ đề 6 “ Ngày tết, lễ hội và mùa xuân”
Học sinh sử dụng dáng người trong ngân hàng hình ảnh để xây dựng bố
cục cho chủ đề mới và xây dựng câu chuyện thông qua sự kết hợp các tư thế vận
động của dáng người ở bài học trước.
17
18
19
20
21
22
23
24
2.2. Giải pháp 2: Sử dụng hiệu quả kỹ thuật dạy học hợp tác
2.2.1 Quy trình hợp tác.
Đây là hình thức dạy học hợp tác kết hợp dạy học cá thể, trong đó học
sinh từng nhóm dưới sự hướng dẫn của giáo viên, trao đổi chia sẻ những ý
tưởng, kiến thức, kĩ năng trong quá trình học tập nhằm đạt được tri thức và hình
thành phát triển những năng lực của người học.
Dạy học theo nhóm hợp tác sẽ phát huy được tính tích cực chủ động của
học sinh. Học sinh tham gia học tập một cách tự giác bằng khả năng của bản
thân. Học theo nhóm, học sinh sẽ có trách nhiệm hơn với nhiệm vụ học tập của
mình đồng thời tham gia, hợp tác với các thành viên khác trong nhóm nhằm đạt
hiệu quả tối ưu của nhóm. Học theo nhóm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh
phát huy tinh thần tập thể, chia sẻ kinh nghiệm sống, có ý thức cộng đồng đối
với công việc chung.
Sơ đồ hợp tác
Ví dụ:
+ Hoạt động quan sát và nhận thức thẩm mỹ
Các nhóm quan sát hình ảnh/ bức tranh/ tác phẩm nghệ thuật/… trực tiếp
hoặc gián tiếp; Phát hiện và nhận biết các hình thức thể hiện, chất liệu tạo hình
cơ bản trong các sản phẩm, tác phẩm mỹ thuật và xung quanh; nhận biết được
các yếu tố, nguyên lí tạo hình thông qua hình ảnh trực quan và cùng trao đổi,
chia sẻ rút ra nhận thức thẩm mỹ.
+ Hoạt động sáng tạo và vận dụng thẩm mỹ
Các nhóm thực hiện tạo hình theo cảm nhận bằng nhiều hình thức như
2D, 3D,… và bằng các chất liệu khác nhau. Quá trình này sẽ tạo điều kiện để
học sinh trao đổi, thảo luận và thống nhất ý tưởng thực hiện…
+ Hoạt động phân tích và đánh giá thẩm mỹ
Các nhóm cảm nhận, trao đổi nội dung thể hiện trong các sản phẩm/ tác
phẩm mỹ thuật; nhận biết và phân biệt nội dung, chất liệu và yếu tố thẩm mỹ
xung quanh đời sống.
25
2.2.2. Hình thức tổ chức dạy học mỹ thuật ngoài không gian lớp học
Là hình thức tổ chức dạy học mỹ thuật ở địa điểm ngoài lớp học; trong đó
giáo viên tổ chức, chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh nhằm tạo điều kiện
thuận lợi cho học sinh được hợp tác, nắm vững, mở rộng kiến thức mỹ thuật
thông qua các hoạt động. Hình thức tổ chức dạy học này rất linh hoạt và tạo nên
các hoạt động dạy học đa dạng, phong phú kích thích hứng thú học tập của học
sinh. Dạy học ngoài lớp tạo điều kiện để học sinh trải nghiệm thực tế cuộc sống,
thực hiện phương thức học tập, chia sẻ, hợp tác cùng thực hiện hoạt động học
tập có hiệu quả. Có nhiều hình thức dạy học mỹ thuật ngoài lớp học như: vẽ
ngoài trời, tham quan thực tế, học tại bảo tàng, phòng triển lãm tranh,….
2.2.3. Các hình thức tổ chức dạy học hợp tác
Các hình thức dạy học hợp tác mỹ thuật muốn đạt kết quả tối ưu về giáo
dục và phát triển năng lực cho học sinh, giáo viên cần chuẩn bị chu đáo kế
hoạch bài dạy và thực hiện tốt kế hoạch đó. Kế hoạch phải thể hiện rõ các khâu
của quá trình dạy học. Có thể nói, các hình thức tổ chức dạy học mỹ thuật nêu
trên có quan hệ mật thiết với nhau và hỗ trợ nhau.
Trong thực tiễn dạy học nói chung và dạy học mỹ thuật nói riêng, mỗi
hình thức tổ chức dạy học đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Việc vận
dụng, phối hợp hình thức, phương pháp dạy học như thế nào để đạt hiệu quả thì
giáo viên cần cân nhắc phù hợp, khoa học, hợp lí với đặc thù môn học nghệ
thuật – mỹ thuật và với nhận thức của học sinh.
Ví dụ: Chủ đề 11: Vẽ biểu cảm các đồ vật ( Mĩ thuật 5 )
Chủ đề 01: Chân dung tự họa ( Mĩ thuật 5)
Quy trình thực hiện:
– Giáo viên chia nhóm ( nhóm đôi vẽ chân dung )
– Bày mẫu, làm mẫu
– Hướng dẫn học sinh cách thực hành vẽ biểu cảm ( Vẽ mà không nhìn vào
giấy, vẽ một nét)
– Sau khi vẽ xong đổi bài cho bạn để vẽ thêm nét
– Vẽ màu theo nét mà bạn đã chỉnh sửa và vẽ thêm
26
– Trưng bày và chia sẻ cảm nhận về bài của bạn và nhóm bạn
27
28
29
30
31
2.3. Giải pháp 3: Sử dụng hiệu quả kỹ thuật dạy học tích hợp
tăng cƣờng ứng dụng
2.3.1 Thiết kế dạy học tích hợp
Dạy học tích hợp môn Mĩ thuật là hình thức dạy kiến thức liên môn xuất
phát từ yêu cầu của mục tiêu dạy học phát triển năng lực học sinh, đòi hỏi phải
tăng cường yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức môn học vào giải quyết những
vấn đề thực tiễn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.
Các vấn đề thực tiễn trong hoạt động hàng ngày và những giờ học thực
địa đã giúp học sinh có thêm kiến thức thực tế áp dụng vào mỗi giờ học có hiệu
quả. Chuyển từ phương pháp truyền thống qua phương pháp học tích cực, tích
hợp kiến thức liên môn, quan sát thực địa không khỏi gây cho giáo viên phải đầu
tư thời gian nghiên cứu bài học cũng như tư liệu liên môn, sợ học sinh không
tiếp thu được kiến thức bài học, nhất là đối tượng học sinh nhút nhát không
quen với hoạt động nhóm, hoạt động tự thuyết trình, chia sẻ, kể chuyện,… Vì
vậy, đòi hỏi người giáo viên phải thực sự tìm tòi, chuẩn bị chu đáo, chủ động
vận dụng linh hoạt vào từng chủ đề khác nhau, nhằm thu hút sự tham gia của tất
cả các em học sinh.
Thông qua bộ môn Mĩ thuật, học sinh có thể lĩnh hội được các kiến thức
về Tự nhiên xã hội, Văn hóa, Toán học, Âm nhạc,Tiếng Việt….đằng sau những
biểu hiện của ngôn ngữ tạo hình. Bằng cách này, giáo dục nghệ thuật được tích
hợp trong chương trình giảng dạy ở tất cả các lớp học, chúng được lồng ghép
trong các bài học để nâng cao khả năng quan sát, liên tưởng, kết nối kiến thức
của học sinh. Vậy làm thế nào để các môn Tiếng Việt, Âm nhạc, Toán học, khoa
học, tự nhiên xã hội…. được tích hợp vào bộ môn Mĩ thuật?
Thực ra, chương trình Mĩ thuật ở bậc tiểu học luôn có sự kết nối với các
môn học và được nâng cao dần ở cấp học tiếp theo, tạo thành một vòng tròn phát
triển đồng tâm phù hợp với các giai đoạn phát triển nghệ thuật của trẻ, sự tích
hợp đó có thể tạo ra kinh nghiệm phong phú đa tầng cho trẻ cũng như kinh
nghiệm bản thân.
32
2.3.2. Cách thực hiện
Để thực hiện tốt phương pháp dạy học tích cực, tích hợp kiến thức liên
môn, quan sát thực địa, giáo viên cần: Học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu tài liệu, áp
dụng linh hoạt, sáng tạo sao cho phù hợp với điều kiện, đối tượng học sinh của
mình. Tuy nhiên khó khăn này chỉ là bước đầu và có thể khắc phục dễ dàng hơn
khi giáo viên chuẩn bị tốt các bước dạy học tích hợp theo chủ đề.
Bước 1: cho học sinh tìm hiểu tài liệu, các kênh thông tin liên quan đến
chủ đề cần dạy tích hợp. Với hoạt động ngoài không gian lớp học thi cho học
sinh tới những điểm thực địa gần gũi nơi em sinh hoạt tiếp xúc hàng ngày như
sân trường, vườn hoa, phố phường, di tích lịch sử địa phương hoặc kết hợp với
các chuyến trải nghiệm thực tế ngoại khóa của lớp, nhà trường tổ chức
Bước 2: Trong quá trình dạy học của mình, giáo viên vẫn phải thường
xuyên dạy những kiến thức có liên quan đến các môn học khác, vì vậy đã có sự
am hiểu về kiến thức liên môn cũng như kỹ năng hợp tác trong thực hành.
Bước 3: Với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vai trò của giáo
viên không còn là người truyền thụ kiến thức thụ động mà là người tổ chức,
kiểm tra, định hướng hoạt động học của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học.
Tổ chức những cuộc thi vẽ tranh cá nhân, tập thể cho HS, tổ chức những
phòng tranh thiếu nhi, trưng bày sản phẩm sáng tạo, mô hình, những buổi kể
chuyện, thuyết trình, biểu diễn, đóng kịch, câu lạc bộ Mĩ thuật, những buổi dã
ngoại và trải nghiệm…
2.3.3 Ví dụ minh họa:
Chủ đề 7: Vũ điệu của sắc màu ( Mĩ thuật 4 )
Với chủ đề này học sinh được làm quen với kỹ năng nghe nhạc và vận
động theo giai điệu của âm nhạc, Học sinh biết tiết tấu, nhịp điệu và các thể loại
nhạc. ( Giáo dục âm nhạc)
Chủ đề 11: Em tham gia giao thông (Mĩ thuật 4)
Với chủ đề này ngoài kiến thức về đặc điểm các loại hình, phương tiện
giao thông học sinh còn được tìm hiểu về luật an toàn giao thông và kỹ năng
tham gia giao thông một cách an toàn nhất ( Giáo dục An toàn giao thông)
33
Chủ đề 7: Tìm hiểu tranh theo chủ đề: “ Ước mơ của em” (Mĩ thuật 5)
Với chủ đề này học sinh không những thể hiện được ước mơ của mình
thông qua sản phẩm vẽ tranh học sinh còn được tìm hiểu kiến thức về các ngành
nghề liên quan đến các môn học khác. ( giáo dục hướng nghiệp, lịch sử, địa lí…)
Chủ đề 6: Chú bộ đội của chúng em (Mĩ thuật 5)
Với chủ đề này học sinh được tìm hiểu về các lực lượng vũ trang, binh
chủng, quân chủng và các hoạt động của bộ đội thời chiến và thời binh. Thông
qua tìm hiểu và tạo hình sản phẩm học sinh nắm được kiến thức về quân đội
nhân dân Việt nam và trang sử hào hùng của dân tộc trong các cuộc kháng chiến
chống quân xâm lược ( Giáo dục lịch sử và Địa lí)
Chủ đề 6: Ngày tết, lễ hội và mùa xuân ( Mĩ thuật 4)
Với chủ đề này học sinh được thể hiện tình cảm gia đình đoàn viên trong
ngày tết cổ truyền của dân tộc. Trang bị kiến thức về văn hóa vùng miền thông
qua các lễ hội dân gian Việt Nam. Giáo dục cho học sinh tình yêu quê hướng đất
nước bản sắc Văn hóa dân tộc ( Giáo dục Tự nhiên xã hội, lịch sử văn hóa,
Tiếng Việt…)
Chủ đề 2: Sự liên kết thú vị của các hình khối (Mĩ thuật 5)
Với chủ đề này học sinh nắm vững về cấu trúc, đặc điểm hình khối và
không gian thị giác 3 chiều giúp học sinh có thêm kiến thức về Toán học, logic
và hình học không gian.
2.3.4 Thiết kế dạy học tăng cường ứng dụng.
Dạy học Mĩ thuật tăng cường ứng dụng được xem như đổi mới hình thức
giáo dục theo định hướng phát triển năng lực, hướng đến đáp ứng được khả
năng thích ứng của mỗi cá nhân trong đời sống hàng ngày thông qua những sản
phẩm mỹ thuật,
Qua khảo sát thực tế việc dạy học mỹ thuật theo các phương pháp đã áp
dụng tại cơ sở giáo dục nhà trường cho thấy mỗi cách thức dạy Mỹ thuật dù
được các chuyên gia nghiên cứu cẩn trọng đến mấy cũng có những mặt tích cực
và hạn chế. Trong các phương pháp dạy học Mỹ thuật đã triển khai hiện nay đều
sử dụng những phương pháp chuyên ngành (vẽ theo mẫu, vẽ trang trí, vẽ tranh,
34
thưởng thức mỹ thuật, tạo dáng – nặn) và các phương pháp bổ trợ khác (phương
pháp thảo luận nhóm; phương pháp quan sát; phương pháp trực quan; phương
pháp đàm thoại gợi mở; phương pháp luyện tập thực hành). Các phương pháp
này đều xoay quanh việc truyền đạt ngôn ngữ của nghệ thuật thị giác như hình,
khối, màu sắc, bố cục, trang trí,… Tuy nhiên, việc vận dụng trong từng bài học
theo những cách khác nhau nên đem lại kết quả khác nhau. Theo đó, không có
một cách thức dạy học Mĩ thuật nào mang tính tối ưu về mọi mặt. Dạy Mĩ thuật
theo chương trình hiện hành nặng về kiến thức và mục tiêu đề ra không phù hợp
với lĩnh vực giáo dục nghệ thuật, nhưng phù hợp với việc dạy ở diện rộng, với
nhiều thành phần học sinh và lớp học có số lượng quá đông như hiện nay.
Dạy Mỹ thuật theo phương pháp Đan Mạch thì đa dạng về hình thức, nội
dung phong phú, tăng cường ứng dụng, tạo được sự hứng khởi của người học,
khuyến khích sự sáng tạo
Như vậy, dạy học tăng cường ứng dụng trong môn Mĩ thuật theo định
hướng phát triển năng lực cần được xem là một quá trình giáo dục được kiểm
soát chặt chẽ, hình thức học tập đa dạng, phong phú, học sinh phải tự làm ra sản
phẩm mang tính ứng dụng cao cũng như có ý thức hợp tác để thực hiện các bài
thực hành theo nhóm. Nội dung chương trình cần đi thẳng vào đối tượng của
môn học là cảm xúc và các nhóm bài thực hành đều xoay quanh mục tiêu này
theo nhiều hình thức thực hành khác nhau như: vẽ, xé – dán, đắp nổi, tạo khối,
trình diễn, sắp đặt, thậm chí là kết hợp của nhiều dạng thức thực hành khác
nhau. Việc kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học Mĩ thuật là điều phù hợp
bởi mục đích của giáo dục chính là tạo nên năng lực của học sinh, thông qua
từng môn học, ở môn học này là năng lực mỹ thuật, biểu hiện của năng lực thẩm
mỹ trong lĩnh vực mỹ thuật. Do đó, mục tiêu hướng đến của dạy học mĩ thuật
tăng cường ứng dụng cần hướng đến phải được thể hiện ở một số phương diện
sau:
Học sinh được thực hành và trình bày hiểu biết của mình thông qua tác
phẩm, sản phẩm mỹ thuật để định hướng
35
Học sinh chủ động tạo ra những sản phẩm mỹ thuật, cũng như hình thành
thái độ hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm với các thành viên trong nhóm.
Học sinh biết cách biểu đạt ý kiến, ấn tượng và cảm giác của bản thân trước
một sản phẩm mỹ thuật, một tác phẩm mỹ thuật.
Học sinh hiểu, phân tích và diễn giải các yếu tố cấu thành của mỹ thuật theo
các mức độ khác nhau.
Chính những kỹ năng này là điều cần và đủ để hình thành năng lực mỹ thuật
cho học sinh, thể hiện ở các kĩ năng và hiểu biết sau:
Nhận biết cái đẹp. Học sinh nhận biết được cái đẹp/cái xấu trong tự nhiên,
đời sống xã hội và nghệ thuật; có cảm xúc và biết bày tỏ cảm xúc trước cái đẹp
và cái chưa đẹp trong cuộc sống xung quanh.
Phân tích, đánh giá cái đẹp. Học sinh mô tả được cái đẹp, biết so sánh, nhận
xét về biểu hiện bên ngoài của cái đẹp, giới thiệu sản phẩm thông qua các gian
hàng, phòng triển lãm.
Tạo ra cái đẹp. Học sinh biết mô phỏng, tái hiện được vẻ đẹp quen thuộc
bằng hình thức, công cụ, phương tiện, ngôn ngữ biểu đạt,… phù hợp, ở mức độ
đơn giản; có ý tưởng sử dụng kết quả học tập/sáng tạo thẩm mỹ để làm tăng
thêm vẻ đẹp cho cuộc sống hàng ngày của bản thân.
Như vậy, từ lý luận đến thực tiễn của việc sử dụng dạy học tăng cường ứng
dụng trong nhà trường hiện nay đã hình thành và phát triển năng lực cốt lõi cho
học sinh khi tham gia các hoạt động học tập Mĩ thuật.
2.3.5.Ví dụ minh họa:
Chủ đề 7: Vũ điệu của sắc màu: Mĩ thuật 5
Quy trình thực hiện
– Vẽ theo nhạc
– Đặt tên tác phẩm
– Chia sẻ
– Lựa chọn góc nhìn cá nhân
– Làm sản phẩm cá nhân
– Trưng bày, triển lãm, tặng, bán, đấu giá
36
Như vậy thông qua chủ đề này học sinh đã có thực hiện được những sản
phẩm tăng cường ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày.
37
2.4. Một số lƣu ý khi sử dụng các kỹ thuật dạy học hiện đại nhằm phát triển
năng lực:
– Nắm vững các nội dung yêu cầu và phương pháp tổ chức để vận dụng linh
hoạt trong các chủ đề, phù hợp với điều kiện thực tế và đối tượng học sinh
– Dựa vào điều kiện thực tế ở mỗi địa phương, giáo viên linh hoạt lựa chọn các
vật liệu và quy trình, phương pháp dạy học mĩ thuật phù hợp.
– Động viên, khuyến khích, hỗ trợ kịp thời để giúp HS phát triển năng lực cá
nhân
– Cần chuẩn bị các học liệu, vật tìm được, đồ dùng học tập cho buổi học sau.
– Giáo viên cũng cần cho học sinh mang sản phẩm về nhà để trưng bày thành
góc Mĩ thuật ở gia đình.
– Cuối mỗi chủ đề, GV cần tổ chức cho HS trưng
4
Vì vậy, trẻ em lứa tuổi học sinh tiểu học luôn có sự ham thích đặc biệt với
môn mĩ thuật. Tuy nhiên các giờ học mĩ thuật sẽ thu hút và có hiệu quả nếu GV
có các phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt động phù hợp với từng chủ
đề. Những hoạt động đó mang lại cho trẻ có cơ hội trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm
sống, thể hiện những ý tưởng, tự tìm tòi, chủ động sáng tạo, khám phá và tạo sản
phẩm mang dấu ấn cá nhân.
Theo định hướng phương pháp giáo dục trong chương trình môn mỹ thuật
nhằm phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh thì: người học muốn có
năng lực không chỉ học tri thức, kỹ năng mà còn phải học cả phương pháp làm
việc trong quá trình học để sau khi học có khả năng giải quyết những vấn đề
trong thực tiễn.
Mục tiêu dạy học của chương trình môn mĩ thuật hiện hành là nhằm đạt
được chuẩn kiến thức, kỹ năng theo từng nội dung chủ đề giáo dục cụ thể quy
định trong chương trình môn mỹ thuật. Với phương pháp do Đan Mạch hỗ trợ
thì mục tiêu môn học thay đổi theo định hướng phát triển về năng lực và yêu cầu
cần đạt. Cụ thể, phương pháp dạy học hình thành, phát triển ở học sinh các thành
phần của năng lực Mĩ thuật như sau:
+ Quan sát và nhận thức thẩm mỹ.
+ Sáng tạo và ứng dụng thẩm mỹ.
+ Phân tích và đánh giá thẩm mỹ.
Dự án “Hỗ trợ giáo dục mĩ thuật tiểu học” (SAEPS) tại Việt Nam là một dự
án trong chương trình hợp tác văn hóa Việt Nam – Đan Mạch. Dự án này với
trọng tâm thay đổi phương pháp giảng dạy (PPGD) Mĩ thuật theo hướng đổi mới
đã bắt đầu được áp dụng rộng rãi trên cả nước. Tuy vậy, thực tế còn nhiều bất
cập khi triển khai Phương pháp dạy học mới trên cơ sở Chương trình giáo dục
Mĩ thuật hiện hành, điều kiện dạy học Mĩ thuật của giáo viên và học sinh còn
nhiều khó khăn; trình độ chuyên môn, năng lực của giáo viên Mĩ thuật cấp Tiểu
học còn chưa đồng đều. Nhiều nơi giáo viên dạy Mĩ thuật không được đào tạo
chuyên sâu, không được tập huấn phương pháp mới hoặc được tập huấn chưa
đúng hay chưa hiểu đúng tinh thần của phương pháp mới nên còn gặp khó khăn,
5
lúng túng trong xây dựng kế hoạch dạy học theo chủ đề và thiết kế các hoạt
động dạy – học hiệu quả.
Để giúp cho các giáo viên mĩ thuật tiểu học hiểu rõ những vấn đề chung
về dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới ở bậc Tiểu học và có thể vận dụng
linh hoạt, sáng tạo các Phương pháp dạy học Mĩ thuật mới vào Chương trình
giáo dục Mĩ thuật (GDMT) hiện hành, đồng thời hướng tới Chương trình
GDMT 2018 theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh cũng chính vì lí
do đó tôi đã nghiên cứu và áp dụng sáng kiến:
SỬ DỤNG HIỆU QUẢ MỘT SỐ KỸ THUẬT DẠY HỌC HIỆN ĐẠI NHẰM
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG MÔN MĨ THUẬT LỚP 4,5
Để chia sẻ những kinh nghiệm của bản thân trong quá trình dạy học nhằm
đem lại hiệu quả cao trong dạy và học môn Mĩ thuật.
6
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1. Mô tả giải pháp kỹ thuật trƣớc khi tạo ra sáng kiến:
Từ năm học 2015 – 2016 đến năm học 2019 – 2020, tôi được phân công
giảng dạy môn Mĩ thuật khối lớp 4, khối lớp 5. Trong quá trình dạy học theo dự
án hỗ trợ của Vương quốc Đan Mạch môn Mĩ thuật tôi thấy rằng một trong
những đặc trưng cơ bản của dạy học Mĩ thuật là hoạt động dạy – học thông qua
các hoạt động thực hành.
Mỗi một quy trình dạy học đều có các hình thức tổ chức hoạt động khác
nhau nhưng có điểm chung là: học sinh được chia sẻ, khám phá, tìm tòi, sáng tạo
và biết kết hợp để tạo ra những sản phẩm mang tính ứng dụng cao.
Việc sử dụng PPDH và KTDH theo chủ đề đều dựa trên biên soạn của bộ
sách giáo viên và sách giáo khoa.
1.1. Sách giáo khoa
1.1.1. Thuận lợi
Theo phân phối chương trình dành cho lớp 4 có tất cả 12 chủ đề. Cụ thể:
 Chủ đề 1: Những mảng màu thú vị.
 Chủ đề 2: Chúng em với thế giới động vật.
 Chủ đề 3: Ngày hội hóa trang
 Chủ đề 4: Em sáng tạo cùng những con chữ
 Chủ đề 5: Sự chuyển động của dáng người
 Chủ đề 6: Ngày tết, lễ hội và mùa xuân
 Chủ đề 7: Vũ điệu của sắc màu
 Chủ đề 8: Sáng tạo với những nếp gấp giấy
 Chủ đề 9: Sáng tạo họa tiết, tạo dáng và trang trí đồ vật
 Chủ đề 10: Tranh tĩnh vật
 Chủ đề 11: Em tham gia giao thông
 Chủ đề 12: Tìm hiểu tranh dân gian Việt Nam
Các chủ đề được biên soạn nhằm hướng tới mục tiêu lấy học sinh làm
trung tâm; kích thích sự tương tác, tư duy sáng tạo và phát triển nhận thức, từ đó
giúp các em hình thành và phát triển ba năng lực cốt lõi:
7
 Sáng tạo mĩ thuật, qua đó biểu đạt bản thân (suy nghĩ, tình cảm, mong
muốn…)
 Hiểu, cảm nhận và trân trọng sản phẩm/ tác phẩm mĩ thuật.
 Giao tiếp/trao đổi, tiếp nhận thông tin thông qua sản phẩm/ tác phẩm
mĩ thuật.
Bộ sách vận dụng các quy trình mĩ thuật theo PPDH mới của dự án
PAEPS do Đan Mạch tài trợ được biên soạn theo các chủ đề. Trong mỗi chủ đề,
các em được tiếp cận với kiến thức mĩ thuật thông qua các hoạt động tương tác
với giáo viên và với các bạn trong lớp bằng các hình thức trải nghiệm, thực
hành, vận dụng sáng tạo.
Các chủ đề được tách riêng chia theo từng nội dung cụ thể nên rất thuận
lợi cho giáo viên trong việc tổ chức các hoạt động cơ bản và hoạt động thực
hành khi hướng dẫn các em tìm hiểu kiến thức và yêu cầu cần đạt thông qua
mục tiêu của bài. Hệ thống có sự đan xen giữa các chủ đề với nhau tạo ra các
mức độ từ dễ đến khó nhằm: Rèn luyện và phát triển các kỹ năng thực hành
thông qua việc quan sát, nhớ lại, tưởng tượng giúp học sinh sáng tạo, linh hoạt
trong các cách thể hiện tác phẩm cá nhân hay sản phẩm của nhóm. Phát triển tư
duy ngôn ngữ, khả năng thuyết trình nhận xét và đánh giá tác phẩm.
Ví dụ:
Chủ đề 7: Vũ điệu sắc màu
Học sinh được trải nghiệm khả năng lắng nghe và cảm nhận âm nhạc,
được vận động theo giai điệu, chuyển âm thanh giai điệu thành những đường
nét và màu sắc biểu cảm trên giấy.
Học sinh được chia sẻ cảm nhận thông qua tác phẩm chung và cá nhân.
Học sinh được phát triển được trí tưởng tượng và sáng tạo trong quá trình
tạo ra bức tranh biểu cảm mới từ đường nét và màu sắc.
Học sinh được phân tích đánh giá tác phẩm thông qua việc đặt tên.
Học sinh được bày tỏ quan điểm, tình cảm trước lớp và người thân trong
gia đình.
8
Theo phân phối chương trình dành cho lớp 5 có tất cả 13 chủ đề. Cụ thể:
 Chủ đề 1: Chân dung tự họa.
 Chủ đề 2: Sự liên kết thú vị của các hình khối.
 Chủ đề 3: Âm nhạc và sắc màu.
 Chủ đề 4: Sáng tạo với những chiếc lá.
 Chủ đề 5: Trường em
 Chủ đề 6: Chú bộ đội của chúng em.
 Chủ đề 7: Tìm hiểu tranh theo chủ đề “Ước mơ của em”
 Chủ đề 8: Trang trí sân khấu và sáng tác câu chuyện.
 Chủ đề 9: Trang phục yêu thích.
 Chủ đề 10: Cuộc sống quanh em.
 Chủ đề 11: Vẽ biểu đạt các đồ vật.
 Chủ đề 12: Thử nghiệm và sáng tạo với các chất liệu.
 Chủ đề 13: Xem tranh “Bác Hồ đi công tác”
Các chủ đề trong chương trình mĩ thuật lớp 5 hướng tới mục tiêu lấy học sinh
làm trung tâm. Các chủ đề có sự liên kết chặt chẽ với nhau theo kiến trúc đồng
tâm giúp các em hình thành và phát triển các năng lực đặc thù.
Hệ thống các chủ đề đều hướng tới việc rèn luyện và phát triển các kỹ năng
thực hành thông qua việc quan sát, nhớ lại, tưởng tượng giúp học sinh sáng tạo,
linh hoạt trong các cách thể hiện tác phẩm cá nhân hay sản phẩm của nhóm. Phát
triển tư duy ngôn ngữ, khả năng thuyết trình nhận xét và đánh giá tác phẩm.
1.1.2. Khó khăn
* Kiến thức trong Sách giáo khoa hàn lâm, còn nặng về dạy học sinh
chuyên nghiệp, vì vậy:
– Kết quả sản phẩm của học sinh tiểu học không đảm bảo yêu cầu so với
lượng kiến thức mà sách giáo khoa đưa ra.
– Tính ứng dụng sản phẩm còn hạn chế.
– Sự hợp tác và chia sẻ chưa hiệu quả.
– Hệ thống hình minh họa không được rõ nét, tư liệu minh họa ít, hệ thống
câu hỏi còn chung chung chưa phân loại được đối tượng học sinh.
9
– Nhiều chủ đề lượng kiến thức mới nhiều nhưng thời gian để giảng dạy ít
vì vậy giáo viên khó khăn trong việc tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt
động thực hành cũng như trưng bày và giới thiệu sản phẩm.
1.2. Về phía giáo viên
1.2.1. Thuận lợi
Là một giáo viên chuyên giảng dạy về môn Mĩ thuật, bản thân tôi luôn có
niềm đam mê trong công việc, luôn tìm tòi học hỏi để tìm ra các phương pháp
dạy và hình thức tổ chức lớp học hiệu quả, các hình thức tổ chức dạy học trực
quan nhất, sinh động nhất để học sinh tiếp thu kiến thức, dễ dàng tìm được sự
móc nối giữa các kiến thức và kỹ năng thực hành, kỹ năng giao tiếp chia sẻ.
Tôi thường xuyên giao lưu, học hỏi với các đồng nghiệp trong trường và
các trường bạn. Tự nghiên cứu sách vở, tài liệu, trang mạng internet… có liên
quan đến các lĩnh vực giáo dục thẩm mỹ nhằm tìm những giải pháp giúp học
sinh có thể nắm vững bài học và thực hành tốt các chủ đề mang tính ứng dụng
và tính thẩm mỹ cao nhất.
Tôi thường xuyên sử dụng mạng internet trao đổi với đồng nghiệp về các
tư liệu hình ảnh, sản phẩm tạo hình và kinh nghiệm giảng dạy.
Thường xuyên tham gia các buổi sinh hoạt chuyên môn, dự giờ theo
hướng nghiên cứu bài học do Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Nam Định
tổ chức giúp cho giáo viên có cơ hội để học hỏi chuyên môn, trao đổi kinh
nghiệm nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy Mĩ thuật trong trường Tiểu học.
1.2.2. Khó khăn
Điều kiện không gian và số lượng học sinh đông là cản trở lớn cho tôi khi
tổ chức các hoạt động theo nhóm như chủ đề: Vẽ theo nhạc, vẽ cùng nhau xây
dựng câu chuyện, tạo hình 3D.
1.3. Về phía học sinh
1.3.1. Thuận lợi
Học sinh đã được tiếp cận với các quy trình học Mĩ thuật theo dự án từ
những năm đầu tiên khi thử nghiệm nên tất cả các em đều rất thoải mái và tự tin
10
khi tham gia các hoạt động học tập, chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm thông qua các
hoạt động thực hành và nhận xét, đánh giá.
Đặc biệt Mĩ thuật là môn học đặc thù nhằm phát huy khả năng sáng tạo và
tư duy tưởng tượng trong các hoạt động thực hành nên đa phần các em đều rất
hào hứng muốn thể hiện bản thân nên giờ học rất sôi động, đạt hiệu quả cao.
1.3.2. Khó khăn
Bên cạnh việc có nhiều em yêu thích học mĩ thuật thì cũng còn có những
em chưa hứng thú trong việc học tập, các em còn mải chơi, chưa thực sự tập
trung khi học tập và dành ít thời gian cho việc thực hành. Do môn Mĩ thuật là
môn học ít giờ nên phụ huynh học sinh cũng ít quan tâm vì vậy mà các em
thường xuyên thiếu đồ dùng học tập cá nhân.
1.4. Đối với nhà trƣờng
1.4.1. Thuận lợi
Được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường và sự phối hợp, tạo điều
kiện của các đồng nghiệp trong trường đó là nguồn động viên để tôi phấn đấu
tìm tòi, học hỏi nâng cao chất lượng giảng dạy.
Phòng Mĩ thuật được trang bị các thiết bị hiện đại như: máy tính, máy
chiếu, mạng Internet,…
Các lớp được bố trí học 2 tiết Mĩ thuật liên tục trong cùng 1 buổi học nên
việc học sinh thực hành các chủ đề đảm bảo yêu cầu cần đạt của môn học.
1.4.2. Khó khăn
Diện tích phòng học còn hạn chế nên giáo viên chưa chủ động trong việc
triển khai các kỹ thuật dạy học và hình thức tổ chức các hoạt động dạy học được
hiệu quả.
1.5. Đối với phụ huynh học sinh:
1.5.1. Thuận lợi
Phần lớn phụ huynh học sinh đều ủng hộ và tạo điều kiện cho con em
được học tập môn Mĩ thuật và tham gia các hoạt động liên quan đến bộ môn
như: trang trí trại thu, gian hàng, trưng bày sản phẩm STEM….
11
Phụ huynh cũng thường xuyên cho con tiếp cận với những chương trình,
sự kiện liên quan đến giáo dục thẩm mỹ qua các kênh thông tin. Nhiều phụ
huynh học sinh còn cùng các em tham gia các hoạt động trình diễn thời trang tái
chế và các chương trình biểu diễn có sử dụng các sản phẩm mĩ thuật.
1.5.2. Khó khăn
Do môn học đặc thù nên nhiều phụ huynh học sinh chưa tìm hiểu sâu về
hoạt động giáo dục thẩm mĩ nên chưa thực sự quan tâm đến con em mình. Có
những bài thực hành các em cần sự giúp đỡ của phụ huynh nhưng vì năng lực mĩ
thuật còn hạn chế nên các em gặp khó khăn khi tham gia các hoạt động trải
nghiệm thực tế. Hay như một số khác do bận công việc làm ăn nên không để ý
đến việc học hành của con.
Tóm lại, qua thực tế giảng dạy tôi thấy rằng với điều kiện cơ sở vật chất,
không gian lớp học và số lượng học sinh. Để đảm bảo yêu cầu cần đạt về phẩm
chất, năng lực và đặc biệt là sản phẩm của học sinh sau mỗi chủ đề tôi có những
biện pháp nhằm thay đổi hình thức tổ chức các hoạt động cũng như phương
pháp dạy học phù hợp với tình hình thực tế tại trường Tiểu học Chu Văn An.
2. Mô tả giải pháp kỹ thuật sau khi có sáng kiến:
Từ thực trạng và nguyên nhân trên, qua quá trình thực hiện, tôi đã đề ra 3
giải pháp giúp học sinh học tập môn Mĩ thuật hiệu quả hơn :
2.1. Giải pháp 1: Sử dụng hiệu quả kỹ thuật dạy học theo hƣớng mở
2.1.1. Nắm vững kỹ thuật dạy học theo hướng mở.
Trong quá trình dạy học bản thân tôi thấy rằng để sử dụng kỹ thuật dạy
học theo phương pháp mở giáo viên cần nắm vững bản chất và các quy trình
thực hiện.
* Bản chất
– Nắm chắc và dạy học theo đúng quy trình của từng phương pháp;
– Dạy học theo phương pháp mở (kết thúc bài học này là mở ra một bài
học mới); tăng cường dạy học hợp tác nhưng vẫn coi trọng cá thể hóa học sinh;
– Phát triển các năng lực của trẻ (Văn học, Âm nhạc, Vận động, Ngôn
ngữ…) trong quá trình dạy học Mĩ thuật theo phương pháp của Đan Mạch;
12
– Tạo cơ hội cho học sinh được chia sẻ, thực hành các bài tập ứng dụng
thiết thực, phục vụ cho học tập và cuộc sống;
* Các quy trình thực hiện
Giáo viên linh hoạt trong việc vận dụng Phương pháp dạy học Mĩ thuật
của Đan Mạch vào các phân môn cụ thể trong chương trình Mĩ thuật hiện hành:
– Vẽ ký họa dáng (người/vật): Quy trình Vẽ cùng nhau và sáng tạo các câu
chuyện
– Vẽ theo mẫu (chân dung /vật thể): Quy trình Vẽ biểu cảm
– Vẽ trang trí (Làm bìa sách, bưu thiếp, giấy mời…): Quy trình Trang trí
và vẽ tranh qua âm nhạc
– Hình ảnh các nhân vật được xé, cắt dán, tạo hình 3D để tạo một chủ đề
có cốt truyện: Quy trình Xây dựng cốt truyện
– Các hình khối được tạo ra từ vật tìm được, dây thép, đất nặn, giấy bồi…
và được kết nối với nhau trong một không gian nhất định: Quy trình tạo hình 3D
tiếp cận theo chủ đề
– Các nhân vật được tạo hình từ các vật dụng tìm được và câu chuyện
được phát triển theo chủ đề: Quy trình Điêu khắc – Nghệ thuật tạo hình không
gian (Nghệ thuật sắp đặt/ hoạt cảnh/ biểu diễn và sắm vai)
– Tạo hình các con rối và tạo ra một buổi trình diễn ấn tượng: Quy trình
“Tạo hình con rối và nghệ thuật biểu diễn”
Cả 7 quy trình này đều được xây dựng chung một cấu trúc:
• Thảo luận và làm quen với chủ đề.
• Quy trình được chi tiết từ đầu tới cuối thông qua mô tả thực tế các bước
khác nhau của một quy trình, trong đó kết hợp nhuần nhuyễn các quy trình nói
trên để đảm bảo hiệu quả cao nhất trong việc giáo dục mĩ thuật.
• Có thể có những thay đổi linh hoạt hoặc cân nhắc khác cho quy trình cụ
thể ở thực tế. Những quy trình dạy – học Mĩ thuật này không phải là công thức
cố định mà chúng ta phải làm theo. Những quy trình này tạo cảm hứng cho giáo
viên và nó còn có thể điều chỉnh cho phù hợp với đối tượng học sinh và điều
kiện thực tế tại địa phương. Giáo viên có thể phát triển khả năng của học sinh ở
13
các mức độ khác nhau trong các quy trình này như khả năng trải nghiệm, sáng
tạo, biểu đạt, giao tiếp và đánh giá.
2.1.2 Nghiên cứu sách giáo khoa để lựa chọn hoạt động và xây dựng các hoạt
động theo hướng mở.
a. Lựa chọn các hoạt động, chủ đề
14
b. Xây dựng các hoạt động theo hướng mở
Với môn học đặc thù như môn Mĩ thuật khi áp dụng kỹ thuật dạy học mở
này. Giáo viên cần quan tâm đặc biệt đến việc tổ chức các hoạt động và phân
công công việc cho từng cá nhân, nhóm đảm bảo các thành viên trong nhóm
phát huy thế mạnh của mình với sự hỗ trợ phù hợp của giáo viên tạo được ngân
hàng hình ảnh phong phú đa dạng phục vụ cho các chủ đề tiếp theo
2.1.3. Tổ chức hoạt động theo hướng mở.
a. Hướng dẫn học sinh hoạt động theo hướng mở.
b. Sử dụng kết quả/sản phẩm của học sinh theo hướng mở.
Ví dụ: hình ảnh minh họa (sử dụng dáng người – xây dựng bố cục cho
chủ đề mới…)
15
16
* Ví dụ: Chủ đề 5: Sự chuyển động của dáng người ( Mĩ thuật 5)
Quy trình thực hiện:
– Sau khi GV hướng dẫn tạo hình dáng người bằng dây thép, giao nhiệm
vụ cụ thể cho các thành viên, nhóm tạo dáng người.
– Giáo viên hướng dẫn học sinh cách tạo sự chuyển động dáng
theo ý thích
– Học sinh thực hiện tạo dáng người và sự chuyển động của dáng người
theo các tư thế vận động
– Sử dụng giấy màu, vật liệu tìm được, vải vụn… tạo hình trang phục cho
nhân vật, dáng người và các tư thế vận động của dáng người
– Học sinh giới thiệu, nhận xét và nêu cảm nhận về sản phẩm của mình,
nhóm mình và của bạn, nhóm bạn.
Hướng mở: sau khi học sinh chia sẻ và nêu cảm nhận về sản phẩm giáo
viên hướng dẫn học sinh lưu giữ sản phẩm để chuẩn bị cho hoạt động hoặc chủ
đề tiếp theo: Chủ đề 6 “ Ngày tết, lễ hội và mùa xuân”
Học sinh sử dụng dáng người trong ngân hàng hình ảnh để xây dựng bố
cục cho chủ đề mới và xây dựng câu chuyện thông qua sự kết hợp các tư thế vận
động của dáng người ở bài học trước.
17
18
19
20
21
22
23
24
2.2. Giải pháp 2: Sử dụng hiệu quả kỹ thuật dạy học hợp tác
2.2.1 Quy trình hợp tác.
Đây là hình thức dạy học hợp tác kết hợp dạy học cá thể, trong đó học
sinh từng nhóm dưới sự hướng dẫn của giáo viên, trao đổi chia sẻ những ý
tưởng, kiến thức, kĩ năng trong quá trình học tập nhằm đạt được tri thức và hình
thành phát triển những năng lực của người học.
Dạy học theo nhóm hợp tác sẽ phát huy được tính tích cực chủ động của
học sinh. Học sinh tham gia học tập một cách tự giác bằng khả năng của bản
thân. Học theo nhóm, học sinh sẽ có trách nhiệm hơn với nhiệm vụ học tập của
mình đồng thời tham gia, hợp tác với các thành viên khác trong nhóm nhằm đạt
hiệu quả tối ưu của nhóm. Học theo nhóm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh
phát huy tinh thần tập thể, chia sẻ kinh nghiệm sống, có ý thức cộng đồng đối
với công việc chung.
Sơ đồ hợp tác
Ví dụ:
+ Hoạt động quan sát và nhận thức thẩm mỹ
Các nhóm quan sát hình ảnh/ bức tranh/ tác phẩm nghệ thuật/… trực tiếp
hoặc gián tiếp; Phát hiện và nhận biết các hình thức thể hiện, chất liệu tạo hình
cơ bản trong các sản phẩm, tác phẩm mỹ thuật và xung quanh; nhận biết được
các yếu tố, nguyên lí tạo hình thông qua hình ảnh trực quan và cùng trao đổi,
chia sẻ rút ra nhận thức thẩm mỹ.
+ Hoạt động sáng tạo và vận dụng thẩm mỹ
Các nhóm thực hiện tạo hình theo cảm nhận bằng nhiều hình thức như
2D, 3D,… và bằng các chất liệu khác nhau. Quá trình này sẽ tạo điều kiện để
học sinh trao đổi, thảo luận và thống nhất ý tưởng thực hiện…
+ Hoạt động phân tích và đánh giá thẩm mỹ
Các nhóm cảm nhận, trao đổi nội dung thể hiện trong các sản phẩm/ tác
phẩm mỹ thuật; nhận biết và phân biệt nội dung, chất liệu và yếu tố thẩm mỹ
xung quanh đời sống.
25
2.2.2. Hình thức tổ chức dạy học mỹ thuật ngoài không gian lớp học
Là hình thức tổ chức dạy học mỹ thuật ở địa điểm ngoài lớp học; trong đó
giáo viên tổ chức, chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh nhằm tạo điều kiện
thuận lợi cho học sinh được hợp tác, nắm vững, mở rộng kiến thức mỹ thuật
thông qua các hoạt động. Hình thức tổ chức dạy học này rất linh hoạt và tạo nên
các hoạt động dạy học đa dạng, phong phú kích thích hứng thú học tập của học
sinh. Dạy học ngoài lớp tạo điều kiện để học sinh trải nghiệm thực tế cuộc sống,
thực hiện phương thức học tập, chia sẻ, hợp tác cùng thực hiện hoạt động học
tập có hiệu quả. Có nhiều hình thức dạy học mỹ thuật ngoài lớp học như: vẽ
ngoài trời, tham quan thực tế, học tại bảo tàng, phòng triển lãm tranh,….
2.2.3. Các hình thức tổ chức dạy học hợp tác
Các hình thức dạy học hợp tác mỹ thuật muốn đạt kết quả tối ưu về giáo
dục và phát triển năng lực cho học sinh, giáo viên cần chuẩn bị chu đáo kế
hoạch bài dạy và thực hiện tốt kế hoạch đó. Kế hoạch phải thể hiện rõ các khâu
của quá trình dạy học. Có thể nói, các hình thức tổ chức dạy học mỹ thuật nêu
trên có quan hệ mật thiết với nhau và hỗ trợ nhau.
Trong thực tiễn dạy học nói chung và dạy học mỹ thuật nói riêng, mỗi
hình thức tổ chức dạy học đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Việc vận
dụng, phối hợp hình thức, phương pháp dạy học như thế nào để đạt hiệu quả thì
giáo viên cần cân nhắc phù hợp, khoa học, hợp lí với đặc thù môn học nghệ
thuật – mỹ thuật và với nhận thức của học sinh.
Ví dụ: Chủ đề 11: Vẽ biểu cảm các đồ vật ( Mĩ thuật 5 )
Chủ đề 01: Chân dung tự họa ( Mĩ thuật 5)
Quy trình thực hiện:
– Giáo viên chia nhóm ( nhóm đôi vẽ chân dung )
– Bày mẫu, làm mẫu
– Hướng dẫn học sinh cách thực hành vẽ biểu cảm ( Vẽ mà không nhìn vào
giấy, vẽ một nét)
– Sau khi vẽ xong đổi bài cho bạn để vẽ thêm nét
– Vẽ màu theo nét mà bạn đã chỉnh sửa và vẽ thêm
26
– Trưng bày và chia sẻ cảm nhận về bài của bạn và nhóm bạn
27
28
29
30
31
2.3. Giải pháp 3: Sử dụng hiệu quả kỹ thuật dạy học tích hợp
tăng cƣờng ứng dụng
2.3.1 Thiết kế dạy học tích hợp
Dạy học tích hợp môn Mĩ thuật là hình thức dạy kiến thức liên môn xuất
phát từ yêu cầu của mục tiêu dạy học phát triển năng lực học sinh, đòi hỏi phải
tăng cường yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức môn học vào giải quyết những
vấn đề thực tiễn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.
Các vấn đề thực tiễn trong hoạt động hàng ngày và những giờ học thực
địa đã giúp học sinh có thêm kiến thức thực tế áp dụng vào mỗi giờ học có hiệu
quả. Chuyển từ phương pháp truyền thống qua phương pháp học tích cực, tích
hợp kiến thức liên môn, quan sát thực địa không khỏi gây cho giáo viên phải đầu
tư thời gian nghiên cứu bài học cũng như tư liệu liên môn, sợ học sinh không
tiếp thu được kiến thức bài học, nhất là đối tượng học sinh nhút nhát không
quen với hoạt động nhóm, hoạt động tự thuyết trình, chia sẻ, kể chuyện,… Vì
vậy, đòi hỏi người giáo viên phải thực sự tìm tòi, chuẩn bị chu đáo, chủ động
vận dụng linh hoạt vào từng chủ đề khác nhau, nhằm thu hút sự tham gia của tất
cả các em học sinh.
Thông qua bộ môn Mĩ thuật, học sinh có thể lĩnh hội được các kiến thức
về Tự nhiên xã hội, Văn hóa, Toán học, Âm nhạc,Tiếng Việt….đằng sau những
biểu hiện của ngôn ngữ tạo hình. Bằng cách này, giáo dục nghệ thuật được tích
hợp trong chương trình giảng dạy ở tất cả các lớp học, chúng được lồng ghép
trong các bài học để nâng cao khả năng quan sát, liên tưởng, kết nối kiến thức
của học sinh. Vậy làm thế nào để các môn Tiếng Việt, Âm nhạc, Toán học, khoa
học, tự nhiên xã hội…. được tích hợp vào bộ môn Mĩ thuật?
Thực ra, chương trình Mĩ thuật ở bậc tiểu học luôn có sự kết nối với các
môn học và được nâng cao dần ở cấp học tiếp theo, tạo thành một vòng tròn phát
triển đồng tâm phù hợp với các giai đoạn phát triển nghệ thuật của trẻ, sự tích
hợp đó có thể tạo ra kinh nghiệm phong phú đa tầng cho trẻ cũng như kinh
nghiệm bản thân.
32
2.3.2. Cách thực hiện
Để thực hiện tốt phương pháp dạy học tích cực, tích hợp kiến thức liên
môn, quan sát thực địa, giáo viên cần: Học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu tài liệu, áp
dụng linh hoạt, sáng tạo sao cho phù hợp với điều kiện, đối tượng học sinh của
mình. Tuy nhiên khó khăn này chỉ là bước đầu và có thể khắc phục dễ dàng hơn
khi giáo viên chuẩn bị tốt các bước dạy học tích hợp theo chủ đề.
Bước 1: cho học sinh tìm hiểu tài liệu, các kênh thông tin liên quan đến
chủ đề cần dạy tích hợp. Với hoạt động ngoài không gian lớp học thi cho học
sinh tới những điểm thực địa gần gũi nơi em sinh hoạt tiếp xúc hàng ngày như
sân trường, vườn hoa, phố phường, di tích lịch sử địa phương hoặc kết hợp với
các chuyến trải nghiệm thực tế ngoại khóa của lớp, nhà trường tổ chức
Bước 2: Trong quá trình dạy học của mình, giáo viên vẫn phải thường
xuyên dạy những kiến thức có liên quan đến các môn học khác, vì vậy đã có sự
am hiểu về kiến thức liên môn cũng như kỹ năng hợp tác trong thực hành.
Bước 3: Với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vai trò của giáo
viên không còn là người truyền thụ kiến thức thụ động mà là người tổ chức,
kiểm tra, định hướng hoạt động học của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học.
Tổ chức những cuộc thi vẽ tranh cá nhân, tập thể cho HS, tổ chức những
phòng tranh thiếu nhi, trưng bày sản phẩm sáng tạo, mô hình, những buổi kể
chuyện, thuyết trình, biểu diễn, đóng kịch, câu lạc bộ Mĩ thuật, những buổi dã
ngoại và trải nghiệm…
2.3.3 Ví dụ minh họa:
Chủ đề 7: Vũ điệu của sắc màu ( Mĩ thuật 4 )
Với chủ đề này học sinh được làm quen với kỹ năng nghe nhạc và vận
động theo giai điệu của âm nhạc, Học sinh biết tiết tấu, nhịp điệu và các thể loại
nhạc. ( Giáo dục âm nhạc)
Chủ đề 11: Em tham gia giao thông (Mĩ thuật 4)
Với chủ đề này ngoài kiến thức về đặc điểm các loại hình, phương tiện
giao thông học sinh còn được tìm hiểu về luật an toàn giao thông và kỹ năng
tham gia giao thông một cách an toàn nhất ( Giáo dục An toàn giao thông)
33
Chủ đề 7: Tìm hiểu tranh theo chủ đề: “ Ước mơ của em” (Mĩ thuật 5)
Với chủ đề này học sinh không những thể hiện được ước mơ của mình
thông qua sản phẩm vẽ tranh học sinh còn được tìm hiểu kiến thức về các ngành
nghề liên quan đến các môn học khác. ( giáo dục hướng nghiệp, lịch sử, địa lí…)
Chủ đề 6: Chú bộ đội của chúng em (Mĩ thuật 5)
Với chủ đề này học sinh được tìm hiểu về các lực lượng vũ trang, binh
chủng, quân chủng và các hoạt động của bộ đội thời chiến và thời binh. Thông
qua tìm hiểu và tạo hình sản phẩm học sinh nắm được kiến thức về quân đội
nhân dân Việt nam và trang sử hào hùng của dân tộc trong các cuộc kháng chiến
chống quân xâm lược ( Giáo dục lịch sử và Địa lí)
Chủ đề 6: Ngày tết, lễ hội và mùa xuân ( Mĩ thuật 4)
Với chủ đề này học sinh được thể hiện tình cảm gia đình đoàn viên trong
ngày tết cổ truyền của dân tộc. Trang bị kiến thức về văn hóa vùng miền thông
qua các lễ hội dân gian Việt Nam. Giáo dục cho học sinh tình yêu quê hướng đất
nước bản sắc Văn hóa dân tộc ( Giáo dục Tự nhiên xã hội, lịch sử văn hóa,
Tiếng Việt…)
Chủ đề 2: Sự liên kết thú vị của các hình khối (Mĩ thuật 5)
Với chủ đề này học sinh nắm vững về cấu trúc, đặc điểm hình khối và
không gian thị giác 3 chiều giúp học sinh có thêm kiến thức về Toán học, logic
và hình học không gian.
2.3.4 Thiết kế dạy học tăng cường ứng dụng.
Dạy học Mĩ thuật tăng cường ứng dụng được xem như đổi mới hình thức
giáo dục theo định hướng phát triển năng lực, hướng đến đáp ứng được khả
năng thích ứng của mỗi cá nhân trong đời sống hàng ngày thông qua những sản
phẩm mỹ thuật,
Qua khảo sát thực tế việc dạy học mỹ thuật theo các phương pháp đã áp
dụng tại cơ sở giáo dục nhà trường cho thấy mỗi cách thức dạy Mỹ thuật dù
được các chuyên gia nghiên cứu cẩn trọng đến mấy cũng có những mặt tích cực
và hạn chế. Trong các phương pháp dạy học Mỹ thuật đã triển khai hiện nay đều
sử dụng những phương pháp chuyên ngành (vẽ theo mẫu, vẽ trang trí, vẽ tranh,
34
thưởng thức mỹ thuật, tạo dáng – nặn) và các phương pháp bổ trợ khác (phương
pháp thảo luận nhóm; phương pháp quan sát; phương pháp trực quan; phương
pháp đàm thoại gợi mở; phương pháp luyện tập thực hành). Các phương pháp
này đều xoay quanh việc truyền đạt ngôn ngữ của nghệ thuật thị giác như hình,
khối, màu sắc, bố cục, trang trí,… Tuy nhiên, việc vận dụng trong từng bài học
theo những cách khác nhau nên đem lại kết quả khác nhau. Theo đó, không có
một cách thức dạy học Mĩ thuật nào mang tính tối ưu về mọi mặt. Dạy Mĩ thuật
theo chương trình hiện hành nặng về kiến thức và mục tiêu đề ra không phù hợp
với lĩnh vực giáo dục nghệ thuật, nhưng phù hợp với việc dạy ở diện rộng, với
nhiều thành phần học sinh và lớp học có số lượng quá đông như hiện nay.
Dạy Mỹ thuật theo phương pháp Đan Mạch thì đa dạng về hình thức, nội
dung phong phú, tăng cường ứng dụng, tạo được sự hứng khởi của người học,
khuyến khích sự sáng tạo
Như vậy, dạy học tăng cường ứng dụng trong môn Mĩ thuật theo định
hướng phát triển năng lực cần được xem là một quá trình giáo dục được kiểm
soát chặt chẽ, hình thức học tập đa dạng, phong phú, học sinh phải tự làm ra sản
phẩm mang tính ứng dụng cao cũng như có ý thức hợp tác để thực hiện các bài
thực hành theo nhóm. Nội dung chương trình cần đi thẳng vào đối tượng của
môn học là cảm xúc và các nhóm bài thực hành đều xoay quanh mục tiêu này
theo nhiều hình thức thực hành khác nhau như: vẽ, xé – dán, đắp nổi, tạo khối,
trình diễn, sắp đặt, thậm chí là kết hợp của nhiều dạng thức thực hành khác
nhau. Việc kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học Mĩ thuật là điều phù hợp
bởi mục đích của giáo dục chính là tạo nên năng lực của học sinh, thông qua
từng môn học, ở môn học này là năng lực mỹ thuật, biểu hiện của năng lực thẩm
mỹ trong lĩnh vực mỹ thuật. Do đó, mục tiêu hướng đến của dạy học mĩ thuật
tăng cường ứng dụng cần hướng đến phải được thể hiện ở một số phương diện
sau:
Học sinh được thực hành và trình bày hiểu biết của mình thông qua tác
phẩm, sản phẩm mỹ thuật để định hướng
35
Học sinh chủ động tạo ra những sản phẩm mỹ thuật, cũng như hình thành
thái độ hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm với các thành viên trong nhóm.
Học sinh biết cách biểu đạt ý kiến, ấn tượng và cảm giác của bản thân trước
một sản phẩm mỹ thuật, một tác phẩm mỹ thuật.
Học sinh hiểu, phân tích và diễn giải các yếu tố cấu thành của mỹ thuật theo
các mức độ khác nhau.
Chính những kỹ năng này là điều cần và đủ để hình thành năng lực mỹ thuật
cho học sinh, thể hiện ở các kĩ năng và hiểu biết sau:
Nhận biết cái đẹp. Học sinh nhận biết được cái đẹp/cái xấu trong tự nhiên,
đời sống xã hội và nghệ thuật; có cảm xúc và biết bày tỏ cảm xúc trước cái đẹp
và cái chưa đẹp trong cuộc sống xung quanh.
Phân tích, đánh giá cái đẹp. Học sinh mô tả được cái đẹp, biết so sánh, nhận
xét về biểu hiện bên ngoài của cái đẹp, giới thiệu sản phẩm thông qua các gian
hàng, phòng triển lãm.
Tạo ra cái đẹp. Học sinh biết mô phỏng, tái hiện được vẻ đẹp quen thuộc
bằng hình thức, công cụ, phương tiện, ngôn ngữ biểu đạt,… phù hợp, ở mức độ
đơn giản; có ý tưởng sử dụng kết quả học tập/sáng tạo thẩm mỹ để làm tăng
thêm vẻ đẹp cho cuộc sống hàng ngày của bản thân.
Như vậy, từ lý luận đến thực tiễn của việc sử dụng dạy học tăng cường ứng
dụng trong nhà trường hiện nay đã hình thành và phát triển năng lực cốt lõi cho
học sinh khi tham gia các hoạt động học tập Mĩ thuật.
2.3.5.Ví dụ minh họa:
Chủ đề 7: Vũ điệu của sắc màu: Mĩ thuật 5
Quy trình thực hiện
– Vẽ theo nhạc
– Đặt tên tác phẩm
– Chia sẻ
– Lựa chọn góc nhìn cá nhân
– Làm sản phẩm cá nhân
– Trưng bày, triển lãm, tặng, bán, đấu giá
36
Như vậy thông qua chủ đề này học sinh đã có thực hiện được những sản
phẩm tăng cường ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày.
37
2.4. Một số lƣu ý khi sử dụng các kỹ thuật dạy học hiện đại nhằm phát triển
năng lực:
– Nắm vững các nội dung yêu cầu và phương pháp tổ chức để vận dụng linh
hoạt trong các chủ đề, phù hợp với điều kiện thực tế và đối tượng học sinh
– Dựa vào điều kiện thực tế ở mỗi địa phương, giáo viên linh hoạt lựa chọn các
vật liệu và quy trình, phương pháp dạy học mĩ thuật phù hợp.
– Động viên, khuyến khích, hỗ trợ kịp thời để giúp HS phát triển năng lực cá
nhân
– Cần chuẩn bị các học liệu, vật tìm được, đồ dùng học tập cho buổi học sau.
– Giáo viên cũng cần cho học sinh mang sản phẩm về nhà để trưng bày thành
góc Mĩ thuật ở gia đình.
– Cuối mỗi chủ đề, GV cần tổ chức cho HS trưng

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *