âm thanh lớp học, loa trợ giảng

SKKN Tăng cường hoạt động trải nghiệm, ứng dụng trong các bài học có yếu tố hình học lớp 5

SKKN Tăng cường hoạt động trải nghiệm, ứng dụng trong các bài học có yếu tố hình học lớp 5

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Như chúng ta đã biết, trong thời đại ngày nay, Toán học ngày càng có nhiều
ứng dụng trong cuộc sống, những kiến thức và kĩ năng toán học cơ bản đã giúp
con người giải quyết các vấn đề trong thực tế cuộc sống một cách có hệ thống và
chính xác, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.
Môn toán Tiểu học có vai trò quan trọng trong việc hình thành cho học sinh
những khái niệm khoa học đồng thời phát triển trí tuệ cùng các kĩ năng ứng dụng,
trải nghiệm thực tế và là công cụ cần thiết cho các môn học khác.
Trong chương trình toán lớp 5, nội dung hình học gồm 16 bài chiếm khoảng
14 % thời lượng chương trình gồm các dạng bài hình thành khái niệm, quy tắc,
công thức tính chu vi, diện tích, thể tích một số hình. Mảng kiến thức hình học
được sắp xếp đan xen với các mạch kiến thức khác, là bộ phận gắn bó mật thiết
với các kiến thức số học, đại lượng, giải toán thành môn học thống nhất phù hợp
với sự phát triển từng giai đoạn nhận thức của học sinh. Có thể nói đây là mảng
kiến thức tương đối trừu tượng và có tính khái quát cao, góp phần quan trọng
trong việc phát triển tư duy cho học sinh. Yếu tố hình học góp phần phát triển
toàn diện các năng lực tư duy, trí tưởng tượng không gian cho học sinh, giúp các
em nhận thức và phân tích tốt hơn thế giới xung quanh.
Hiện nay toàn ngành giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng đang
thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tính
cực của học sinh làm cho hoạt động dạy trên lớp nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả.
Mục tiêu của đổi mới chương trình Giáo dục phổ thông 2018 là góp phần chuyển
nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức đơn thuần trả lời cho câu hỏi: “Học
xong chương trình, học sinh BIẾT được những gì?” sang nền giáo dục phát triển
toàn diện phẩm chất và năng lực của người học trả lời cho câu hỏi: “Học xong
chương trình, học sinh LÀM được những gì?”.
Những ứng dụng của hình học lớp 5 vào trong thực tiễn có ở chương trình
và sách giáo khoa chưa thường xuyên. Mặc dù một số bài học cũng đã đưa một
số dạng bài toán thực tiễn tuy nhiên số lượng còn ít. Giáo viên chưa thực sự đầu
tư nghiên cứu, chưa mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy học. Học sinh còn mơ
hồ và chưa có hứng thú trong học tập dẫn đến các em chưa thấy được vai trò quan
trọng của Toán học trong thực tế, năng lực giải các bài toán của học sinh còn nhiều
hạn chế. Nhiều học sinh nghĩ học Toán chỉ là để giải các bài tập. Các em chưa
biết mục đích thực sự của Toán học là để làm gì, chúng có ứng dụng gì trong thực
tiễn hay không. Chính vì lý do đó tôi nghiên cứu và rút ra sáng kiến: “Tăng cường
hoạt động trải nghiệm, ứng dụng trong các bài học có yếu tố hình học lớp 5”.
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
1.1. Thuận lợi
Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao, chú trọng nâng
cao chất lượng dạy và học, đầu tư trang thiết bị, cơ cở vật chất, đảm bảo các điều
kiện để tổ chức các hoạt động ứng dụng, trải nghiệm của học sinh.
Bản thân tôi là một giáo viên trẻ có trình độ chuyên môn, không ngừng học
tập sáng tạo, bồi dưỡng chuyên môn; luôn mẫu mực, tâm huyết với nghề, gần gũi
quan tâm học sinh; kịp thời nắm bắt được mục tiêu đổi mới Chương trình Giáo
dục phổ thông 2018, đồng thời nhận thức được tầm quan trọng của các hoạt động
ứng dụng, trải nghiệm đối với việc dạy – học hiện nay.
Hầu hết học sinh trong lớp đều chăm ngoan, có ý thức học tập, ham học
hỏi, rất hứng thú với các hoạt động trải nghiệm, thích được thực hành vận dụng
kiến thức đã học vào thực tế và tự tìm tòi kiến tạo nên kiến thức mới.
Đa số phụ huynh đều quan tâm, tạo điều kiện đến việc học tập của các con
và sẵn sàng tham gia các hoạt động ứng dụng, trải nghiệm cùng con.
1.2. Khó khăn
Nhà trường chưa đầu tư được nhiều trang thiết bị hiện đại, cơ sở phù hợp
với các hoạt động ứng dụng, trải nghiệm do kinh phí hạn hẹp.
Thực tế cho thấy, giáo viên ít đưa ra các bài toán thực tiễn và học sinh
không được trải nghiệm nhiều trong quá trình học tập. Giáo viên thường xây dựng
công thức cho học sinh rồi yêu cầu học sinh học thuộc lòng công thức ấy. Vì thế,
khi gặp các bài toán đơn giản cho sẵn các yếu tố có trong công thức thì học sinh
làm được nhưng khi gặp các bài toán thực tế liên quan đến yếu tố hình học, học
sinh lại lúng túng không biết làm thế nào. Nguyên nhân do giáo viên chưa có
nhiều kinh nghiệm trong việc xây dựng một số phương pháp dạy học tích cực, còn
phụ thuộc nhiều vào tài liệu hướng dẫn học. Việc tự làm đồ dùng dạy – học chưa
phong phú, đa dạng, chưa mạnh dạn đổi mới, còn ngại tổ chức các hoạt động trải
nghiệm, ứng dụng cho học sinh trong thực tế.
Học sinh chưa có thói quen, kĩ năng hợp tác, chia sẻ, giải quyết các tình
huống thực tiễn. Việc tiếp thu kiến thức hình học của học sinh rất máy móc, rập
khuôn. Các em chưa thấy được giá trị cũng như những ứng dụng quan trọng của
hình học vào thực tiễn đời sống do ít được trải nghiệm, ứng dụng thực tế.
Một số phụ huynh học sinh chưa dành thời gian cùng con chia sẻ những trải
nghiệm, ứng dụng kiến thức toán học trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày.
1.3. Khảo sát chất lượng của 35 học sinh lớp 5A đầu năm học
2020 – 2021 theo 3 tiêu chí.
Trước khi áp dụng sáng kiến, tôi đã khảo sát chất lượng của 35 học sinh lớp
5A do tôi phụ trách vào đầu tháng 9 năm học 2019-2020 theo 3 tiêu chí, kết quả
như sau:

Kết quả
Tiêu chí
ĐạtChưa đạt
Số lượngTỉ lệSố lượngTỉ lệ
Nắm kiến thức cơ bản
về hình học
3085,7 %514,3 %
Vận dụng kiến thức
làm bài tập
2571,2 %1028,8 %
Khả năng ứng dụng,
trải nghiệm
2057,1 %1542,9 %

Nhìn vào bảng số liệu ta thấy còn nhiều học sinh chưa biết ứng dụng trải
nghiệm những kiến thức đã học vận dụng kiến thức vào cuộc sống .
2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
Từ những thực trạng nêu trên, ngay từ đầu năm học 2020-2021 tôi đã suy
nghĩ và tìm ra một số biện pháp nhằm tăng cường khả năng ứng dụng, trải nghiệm
kiến thức hình học lớp 5 vào thực tiễn, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả giáo
dục.
Giúp học sinh vận dụng kiến thức hình học vào giải quyết tình huống của
cuộc sống, thúc đẩy việc gắn kết kiến thức lý thuyết và thực hành đồng thời trải
nghiệm vốn sống của bản thân để hình thành kiến thức mới hay hoàn thành các
bài tập vận dụng hoặc biết vận dụng làm một số dự án đơn giản theo đúng phương
châm giáo dục hiện nay: “Mang cuộc sống vào bài học, đưa bài học vào cuộc
sống”.
Giúp học sinh hình thành kiến thức, kĩ năng, thói quen, khả năng vận dụng
kiến thức hình học vào trong cuộc sống hàng ngày và học tốt các môn học khác
đồng thời tạo cơ hội để học sinh phát triển các năng lực chung và năng lực đặc
thù.
Tạo môi trường giáo dục mở, thu hút các lực lượng cùng tham gia hoạt
động giáo dục.
Bước đầu hình thành cho học sinh có những ước mơ, định hướng nghề
nghiệp sau này từ các ý dự án nhỏ, tăng cường tính hợp tác và làm việc theo nhóm,
cùng nhau học tập, cùng nhau tiến bộ.
Sáng kiến: “Tăng cường hoạt động trải nghiệm, ứng dụng trong các bài
học có yếu tố hình học lớp 5.” được tổ chức bằng các việc làm cụ thể của học sinh,
được thực hiện trong thực tế dưới sự định hướng, hướng dẫn của giáo viên, thông
qua hoạt động khai thác vốn kiến thức thực tế của học sinh để hình thành khám
phá và chiếm lĩnh tri thức mới một cách tích cực, chủ động, sáng tạo. Qua trải
nghiệm các yếu tố hình học, học sinh biết vận dụng kiến thức đã học để giải quyết
một số tình huống trong thực tiễn cuộc sống, qua đó hình thành phẩm chất và năng
lực cho các em. Các hoạt động ngoại khóa hay các “dự án” toán học tạo được
hứng thú, tinh thần làm việc tập thể, phát triển các kĩ năng thu thập xử lý thông
tin, … tạo ra các sản phẩm phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày. Các hoạt động này
được thực hiện trong lớp, ở trường, ở nhà hay ở bất kì nơi nào phù hợp.
Với những nội dung của sáng kiến trên tôi tiến hành thực nghiệm các biện
pháp như sau:
2.1. Giúp học sinh thấy được các ứng dụng của hình học lớp 5 trong
cuộc sống hàng ngày.
Toán học không phải là một cái gì đó quá xa lạ, thực tế đều xuất phát từ
cuộc sống. Khi xác định hình dạng, giáo viên có thể lấy hình ảnh cánh buồm để
chỉ hình tam giác, cái tủ là hình hộp chữ nhật, khối rubic chính là hình lập
phương… Bằng cách này, học sinh sẽ dễ dàng nắm bắt về hình học cùng các khái
niệm phức tạp. Đặc biệt, còn làm cho học sinh thấy ứng thú hơn với môn học vì
những điều các em học được đều gắn liền với cuộc sống hằng ngày của mình.
Những yêu cầu hình học không chỉ là những công thức, những quy tắc đo
đạc, tính toán mà gắn liền với sự phát triển của loài người. Những bài toán đặt ra
luôn xuất phát từ nhu cầu thực tiễn từ các bài toán cho sản xuất, xây dựng, nghệ
thuật đến các nghiên cứu khoa học tự nhiên, vũ trụ… Ngoài ra các yếu tố hình
học môn toán còn được ứng dụng rất nhiều trong cuộc sống:
Ví dụ: Trong xây dựng, trong nghệ thuật, trong các hoạt động đời sống
hàng ngày ….
(Ứng dụng của toán học trong cuộc sống hàng ngày)
Chính vì vậy, trong quá trình dạy học nội dung hình học lớp 5, giáo viên
luôn phải nhấn mạnh cho học sinh thấy được ứng dụng của hình học đối với cuộc
sống cũng như trong các ngành khoa học khác.
2.2. Khai thác kinh nghiệm sống của học sinh để hình thành kiến thức
mới.
Để nhận thức được về một đối tượng, một sự kiện hay một vấn đề nào đó,
người học phải dựa trên vốn kiến thức, vốn kinh nghiệm đã có từ trước. Nếu học
sinh không có vốn kiến thức cần thiết (có liên quan đến kiến thức mới), hoặc
không có những trải nghiệm nhất định thì gặp khó khăn để hình thành kiến thức
mới. Hơn nữa, trong dạy học môn Toán, kiến thức hình thành trước thường là cơ
sở để hình thành, phát triển những kiến thức tiếp theo.
Do đó, trong dạy học, giáo viên cần phải tìm hiểu vốn kinh nghiệm và
những hiểu biết sẵn có của học sinh trước khi học một kiến thức mới và tổ chức
cho học sinh trải nghiệm. Sự định hướng và tổ chức các hoạt động của giáo viên
là quan trọng nhưng vốn kiến thức của học sinh, những trải nghiệm của học sinh
vẫn là yếu tố quyết định trong việc hình thành kiến thức mới.
Trong dạy học dựa trên trải nghiệm, giáo viên cần tạo ra các tình huống gợi
vấn đề để học sinh trải nghiệm bằng cách huy động các kiến thức và kinh nghiệm
thực tiễn để suy nghĩ, biến đổi đối tượng hoạt động, tìm ra hướng giải quyết vấn
đề. Hoạt động trải nghiệm sẽ giúp học sinh có hứng thú học tập, thôi thúc học sinh
khám phá, tìm hiểu kiến thức mới.
Giáo viên cần hệ thống các bài mới có yếu tố hình học trong chương trình
sách giáo khoa Toán 5 gồm hai nội dung:
+ Hình thành khái niệm: Hình tam giác, hình thang, hình tròn, giới thiệu
biể đồ hình quạt, hình hộp chữ nhật, hình lập phương, thể tích của một hình, giới
thiệu hình trụ, hình cầu.
+ Hình thành quy tắc, công thức: Diện tích hình tam giác, diện tích hình
thang, chu vi, diện tích hình tròn, diện tích xung quanh và diện tích toàn phần của
hình hộp chữ nhật và hình lập phương, thể tích hình hộp chữ nhật, thể tích hình
lập phương.
Cần hướng đích và gợi động cơ là một trong những khâu quan trọng của
quá trình dạy học nhằm kích thích hứng thú học tập cho học sinh, làm cho việc
học tập trở nên tự giác, tích cực, chủ động. Khi gợi động cơ giáo viên có thể đưa
ra những thực tế gần gũi xung quanh học sinh; thực tế xã hội rộng lớn (kinh tế, kĩ
thuật, quốc phòng,…); thực tế ở những môn học và khoa học khác.
Ví dụ 1: Khi dạy bài: Diện tích hình tam giác, giáo viên sẽ khai thác kiến
thức học sinh đã có trên cơ sở cách tính diện tích hình chữ nhật. Tổ chức cho học
sinh trải nghiệm và hình thành quy tắc, công thức theo các bước:
+ Bước 1: Học sinh cắt 2 hình tam giác bằng nhau
+ Bước 2: Đặt vấn đề làm thế nào để tạo thành một hình đã học có thể tính
được diện tích.
+ Bước 3: Học sinh thực hành ghép để tạo thành một hình chữ nhật.
+ Bước 4: Học sinh quan sát đối chiếu để nhận biết chiều cao hình tam giác
chính là chiều rộng của hình chữ nhật, cạnh đáy là chiều dài, diện tích hình chữ
nhật bằng tổng diện tích của hai hình tam giác ban đầu.
+ Bước 5: Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào công thức tính diện tích hình
chữ nhật để hình thành công thức, quy tắc tính diện tích hình tam giác.
(Học sinh thực hành ghép hình để rút ra quy tắc tính diện tích hình tam giác)
Ví dụ 2: Dạy bài: Thể tích hình hộp chữ nhật
Sau khi dạy học sinh hình thành quy tắc, công thức tính thể tích hình hộp
chữ nhật thì giáo viên có thể tổ chức cho học sinh kiểm chứng lại quy tắc bằng
một vài trải nghiệm như tính thể tích của chai nước 0,65l, 1,2l, …
+ Bước 1: Chuẩn bị một vài chai nước có ghi dung tích rõ ràng và những
chiếc hộp trong suốt có dạng hình hộp chữ nhật.
+ Bước 2: Đổ riêng mỗi chai nước vào một hộp.
+ Bước 3: Học sinh đo chiều dài, chiều rộng và chiều cao mực nước rồi áp
dụng quy tắc tính thể tích nước.
+ Bước 4: So sánh kết quả tìm được với dung tích thật của mỗi chai nước
(chú ý đơn vị đo 1dm3 = 1l)
+ Bước 5: Học sinh khẳng định được công thức tính thể tích hình hộp chữ nhật
(Học sinh thực hành kiểm chứng thể tích của hình hộp chữ nhật
2.3. Khai thác triệt để các bài toán có nội dung thực tế trong từng tiết dạy.
Trong chương trình sách giáo khoa Toán 5, cũng có rất nhiều bài toán, ví
dụ thực tiễn. Đây là nguồn tài liệu để giáo viên sử dụng trong quá trình giảng dạy
gắn nội dung bài học với thực tiễn.
Hướng đạt được mục đích và gợi động cơ học tập là một trong những khâu
quan trọng của quá trình dạy học nhằm kích thích hứng thú học tập cho học sinh,
làm cho việc học tập trở nên tự giác, tích cực, chủ động. Gợi động cơ không phải
là việc đặt vấn đề một cách hình thức mà phải giúp biến những mục tiêu sư phạm
thành mục tiêu của cá nhân học sinh nhằm tạo ra động lực bên trong thúc đẩy học
sinh hoạt động. Kinh nghiệm cho thấy không có động lực nào thúc đẩy mạnh mẽ
động cơ học tập của học sinh bằng các tình huống thực tế. Rõ ràng cách gợi động
cơ này dễ hấp dẫn, lôi cuốn học sinh, tạo điều kiện để các em thực hiện tốt các
hoạt động kiến tạo tri thức trong quá trình học tập về sau. Giáo viên thường thực
hiện nhiệm vụ đó ở khâu đặt vấn đề vào bài bài mới hoặc khâu chuyển ý từ mục
trước sang mục sau trong bài học. Khi gợi động cơ giáo viên có thể đưa ra những
yếu tố hình học thực tế gần gũi xung quanh học sinh, thực tế xã hội, thực tế ở
những môn học khác.
Ví dụ 1: Bài toán: Nhân dịp sinh nhật lần thứ 11 của Lan, Mai đã tự tay
làm tặng Lan một món quà và tự bọc món quà đó vào một chiếc hộp. Hãy tính
xem Mai đã mất bao nhiêu tiền mua giấy hoa để bọc ngoài chiếc hộp đó, biết rằng
mỗi mét vuông giấy hoa giá là 2500 đồng.
Đầu tiên chúng ta phải xác định chiếc hộp đó là hình hộp chữ nhật hay hình
lập phương?
Câu hỏi đặt ra ở đây là muốn tính xem Lan mất bao nhiêu tiền để mua giấy
hoa bọc chiếc hộp đó thì ta phải tính được diện tích của cả chiếc hộp đó là bao
nhiêu mét vuông. Sau đó lấy tổng diện tích các mặt của chiếc hộp nhân với giá
tiền của một mét vuông giấy hoa. Mà tổng diện tích các mặt của chiếc hộp chính
là diện tích 4 mặt xung quanh và diện tích của 2 mặt đáy. Giáo viên sẽ nêu tên bài
học: “Diện tích xung quanh và diện tích toàn phần của hình hộp chữ nhật”. Sau
khi học xong quy tắc, giáo viên có thể quay lại bài toán ban đầu. Học sinh sẽ thấy
thú vị khi áp dụng được kiến thức đang học vào vấn đề thực tế mà các em có thể
quan sát hàng ngày và đây cũng là dịp giáo viên có thể củng cố kiến thức cho học
sinh.
Khâu củng cố giúp học sinh nắm vững được hệ thống kiến thức theo mục
tiêu dạy học. Không những thế đây còn là bước quan trọng để giáo viên cũng như
học sinh kiểm tra và đánh giá kết quả dạy-học của mình. Trong khâu này, giáo
viên có thể đưa ra các bài toán thực tế liên quan đến kiến thức toán học vừa xây
dựng để học sinh nhớ lâu và hiểu sâu kiến thức. Cũng qua đó mà học sinh thấy
được toán học thật gần gũi với cuộc sống, giúp các em hứng thú hơn trong học
tập, ghi nhớ kiến thức một cách có chủ đích.
Ví dụ 2: Khi dạy bài “Diện tích xung quanh và diện tích toàn phần của hình
hộp chữ nhật”
Giáo viên chía lớp thành các nhóm, mỗi nhóm đo một đồ vật có dạng hình
hộp chữ nhật khác nhau để thực hành “Tính diện tích xung quanh và diện tích toàn
phần của một số vật có dạng hình hộp chữ nhật?”.
– Các em quan sát hình và xác định đồ vật có dạng hình gì?
– Sau đó dựa vào số đo của từng hình và tính diện tích xung quanh, diện
tích toàn phần?
(Học sinh thực hành tính diện tích xung quanh và diện tích toàn phần)
Ví dụ 3: Củng cố sau khi học xong bài “Chu vi hình tròn” và “Diện tích
hình tròn”. Giáo viên cho học sinh các nhóm ra ngoài sân trường hay thư viện để
thực hành đo và tính chu vi, diện tích của một số bồn cây, đồ vật có dạng hình
tròn.
(Học sinh thực hiện theo nhóm đo và tính chu vi, diện tích hình tròn trong thư viện)
( Học sinh thực hành đo và tính chu vi, diện tích vồng cây tại sân trường)
Từ các ví dụ học sinh có thể tự xác định, đo và tính được chu vi, diện tích
một số hình trong thực tế có hình dạng khác nhau. Trong quá trình học sinh làm
việc nhóm thực hành giáo viên cần lưu ý học sinh: Cần giao nhiệm vụ cụ thể cho
các thành viên, hướng dẫn cách quan sát, ghi chép, đo đạc và tính toán. Tổng hợp
kết quả và báo cáo.
2.4. Tăng cường tổ chức hoạt động thực hành, ngoại khóa.
Đối tượng học sinh lớp 5 còn nhỏ tuổi, giáo viên cần và có thể tổ chức cho
các em thực hiện các hoạt động thâm nhập vào cuộc sống, ưu tiên hơn tới việc lựa
chọn một số nội dung liên quan đến nội dung hiện hành. Tuy nhiên, theo phân bố
chương trình trong sách giáo khoa, phần hình học lớp 5 không có các tiết thực
hành riêng. Vì vậy, giáo viên có thể đưa ra các bài toán thực hành khác được lồng
ghép vào trong tiết học (đối với bài toán thực hành đơn giản) hay phân nhóm, giao
nhiệm vụ về nhà.
Ví dụ 1: Sau khi học xong bài “Hình hộp chữ nhật. Hình lập phương.”, giáo
viên có thể giao cho học sinh về nhà làm một chiếc hộp để làm quà tặng bạn bè,
đựng đồ dùng cá nhân ở nhà hay làm hộp đựng đồ dùng ở góc học tập của lớp,…
Học sinh vận dụng các kiến thức đã học vào thực hành, biết được ứng dụng
của toán học trong thực tế đồng thời qua đó rèn luyện các năng lực như năng lực
tính toán, năng lực sử dụng các công cụ đo, vẽ, tính, năng lực hợp tác…, rèn luyện
kỹ năng đo đạc trong thực tế cho học sinh. Do vậy, giáo viên cần quan tâm đến
các tiết thực hành, có sự chuẩn bị chu đáo và có phương pháp tổ chức lớp học để
tất cả các học sinh tham gia tích cực. Từ đó học sinh thấy được ý nghĩa thật sự
của toán học với thực tế.
Cùng với hoạt động thực hành, để nâng cao chất lượng học tập giáo viên
cần quan tâm tổ chức các hoạt động ngoại khóa. Hoạt động ngoại khóa nhằm hỗ
trợ nhiều mặt cho dạy học nội khóa, theo các mục đích khác nhau được đặt ra như:
– Gây hứng thú cho quá trình học tập môn Toán.
– Bổ sung, đào sâu và mở rộng kiến thức nội khóa.
– Tạo điều kiện gắn liền nhà trường với đời sống, lí luận liên hệ với thực
tiễn, học đi đôi với hành.
– Rèn cách thức làm việc tập thể.
– Tạo điều kiện phát triển và bồi dưỡng năng khiếu.
Nội dung các buổi ngoại khóa thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau
như nói chuyện (về lịch sử toán, các phát minh toán học, ứng dụng toán học);
tham quan… (tính diện tích các hình phức tạp, tìm hiểu một số bài toán đang đặt
ra trong kinh tế, trong các nhà máy, công trường, xí nghiệp); tổ chức các cuộc thi
“Toán học vui”, thi sáng tác thơ về toán học, …
Một trong những đặc điểm nổi bật của hoạt động ngoại khóa dễ tạo hứng
thú cho học sinh là không quá gò bó về thời gian, cũng như chuẩn nội dung, kiến
thức nên ta có thể đưa vào các câu hỏi với hình thức đa dạng (câu hỏi tự luận, câu
hỏi trắc nghiệm, câu hỏi mở …) giúp tạo hứng thú, phát triển tư duy, nâng cao hiểu
biết cho học sinh. Qua các buổi ngoại khóa, học sinh thấy môn Toán thú vị hơn,
gần gũi hơn và toán học luôn gắn liền với cuộc sống hằng ngày.
(Hình ảnh giao lưu CLB Toán tuổi thơ)
Ví dụ 2: CUỘC THI ĐẦU BẾP GIỎI
Trong cuộc thi bầu bếp giỏi, giáo viên cho học sinh làm sữa chua.
– Mục đích: Giúp học sinh áp dụng kiến thức đã học về số tự nhiên và thể
tích vào cuộc sống, rèn luyện tinh thần đồng đội,…
– Chuẩn bị: Nước, sữa tươi không đường, đường, sữa đặc, bình nhựa, khay
hình, hộp nhựa trong suốt dạng hình hộp chữ nhật làm đơn vị để đo, chai nhựa,
cốc đựng sữa chua (thành phẩm),…
– Cách thực hiện:
+ Giáo viên yêu cầu học sinh đo kích thước và tính thể tích của cái hộp
nhựa đơn vị.
+ Giáo viên giới thiệu cách làm và hướng dẫn học sinh cách làm sữa chua
bằng các dụng cụ và nguyên liệu đã chuẩn bị.
+ Sau đó, giáo viên yêu cầu học sinh tính xem có tất cả bao nhiêu lít sữa
chua thành phẩm bằng cách dùng lọ sữa chua đựng để đo đơn vị.
+ Yêu cầu học sinh đổ sữa chua vào các lọ.
+ Có thể tính toán xem nên bán giá bao nhiêu tiền để có lãi.
(Học sinh thực hành làm đầu bếp giỏi)
Ví dụ 3: TẬP LÀM HỌA SĨ TÍ HON
Tập trang trí biển báo giao thông bằng giấy màu. Trong hoạt động này, giáo
viên liên hệ thực tiễn vào các môn học khác trong nhà trường.
– Mục đích: Giúp học sinh áp dụng kiến thức đã học về hình học vào cuộc
sống, rèn luyện tinh thần đồng đội,…
– Chuẩn bị: Bìa cứng, thước, giấy màu, bút màu, kéo, keo dán ….
– Cách thực hiện:
+ Giáo viên yêu cầu Học sinh đo kích thước bìa cứng và cắt 1 số hình đã
học như hình tam giác, hình tròn, hình chữ nhật,…
+ Giáo viên giới thiệu cách làm và hướng dẫn học sinh cách làm bằng các
dụng cụ và nguyên liệu đã chuẩn bị.
+ Sau đó, giáo viên yêu cầu học sinh nêu tên và ý nghĩa của biển báo đó và
tổ chức cho học sinh tuyên truyền đến mọi người.
( Học sinh tuyên truyền về cổng trường an toàn giao thông )
Ví dụ 4: TRANG TRÍ NGÔI NHÀ
Học sinh làm sản phẩm STEM về ngôi nhà ước mơ
– Mục đích: Giúp học sinh áp dụng kiến thức đã học về hình học vào cuộc
sống, kích thích trí tưởng tượng và niềm đam mê sáng tạo ở học sinh.
– Chuẩn bị: Các tấm bảng bìa cứng, thước, các tấm bìa, các khối hình chữ
nhật, hình vuông, keo nến, giấy màu, một số ống nhựa….
– Cách thực hiện: Học sinh thảo luận và phân công nhiệm vụ cho từng thành
viên để thực hành (Học sinh kết hợp kiến thức Mĩ Thuật) để hoàn thành sản phẩm.
– Các nhóm viết báo cáo thuyết trình cho ngôi nhà của nhóm.
( Thành phẩm về STEM ngôi nhà mơ ước của học sinh )
3.1.5. Thường xuyên giao một số dự án cho nhóm học sinh thực hiện.
Các “dự án” học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực
tiễn đời sống, xã hội. Trong quá trình thực hiện “dự án” đòi hỏi sự kết hợp giữa
kiến thức lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành.
Thông qua đó kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện
kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của học sinh.
Các “dự án” học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng
tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm nên không
chỉ phát triển các kỹ năng tư duy khoa học, mà còn hướng tới phát triển kỹ năng
sống cho học sinh, giúp người học phát triển toàn diện như kỹ năng hợp tác, kỹ
năng thu thập xử lý thông tin, kỹ năng trình bày, bảo vệ ý kiến của cá nhân trước
tập thể…
Thông qua các “dự án” nhỏ của giáo viên và học sinh nhằm thu hút các lực
lượng xã hội tham gia vào giáo dục như cha mẹ học sinh, các đoàn thể…
Cách thức thực hiện cụ thể như sau:
– Bước 1: Chọn đề tài, chia nhóm
– Bước 2: Chuẩn bị: Giaó viên lên kế hoạch (tên dự án, mục đích, chuẩn bị
bộ câu hỏi định hướng, tổ chức thực hiện, đánh giá kết quả,…)
– Bước 3: Xây dựng đề cương dự án: Giaó viên hướng dẫn học sinh xác
định mục đích, nhiệm vụ, cách tiến hành, thời gian, kinh phí,…
– Bước 4: Thực hiện dự án
+ Các nhóm phân công nhiệm vụ cho các thành viên làm việc
+ Hs thu thập, xử lí thông tin thu được
+ Thực hiện xây dựng sản phẩm
+ Thường xuyên phản hồi, thông báo với giáo viên tiến độ
– Bước 4: Thu thập kết quả: Học sinh giới thiệu sản phẩm
– Bước 5: Đánh giá dự án, rút kinh nghiệm
+ Các nhóm tự đánh giá sản phẩm của mình và nhóm bạn, giáo viên đánh
giá
Ví dụ: Giáo viên có thể đưa ra một số dự án như sau:
DỰ ÁN: “CHÚNG EM LÀ KĨ SƯ XÂY DỰNG”
Để xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2, cô muốn lớp mình thực
hiện một dự án: Hãy tính và dán xốp trang trí thư viện nhà trường. (Có sự kết hợp
của cha mẹ học sinh)
Nhiệm vụ của mỗi tổ:
– Bước 1: Đo độ dài của lớp học (chiều dài, chiều rộng, chiều cao….)
– Bước 2: Tính diện tích của lớp học (trừ diện tích của cách cửa sổ), diện
tích của miếng xốp.
– Bước 3: Tính xem cần bao nhiêu miếng xốp để dán các bức tườn

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *