dàn âm thanh hội trường, âm thanh lớp học, âm thanh phòng họp, loa trợ giảng

SKKN Thiết kế và sử dụng các phần mềm vẽ sơ đồ tư duy để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Toán ở trường THPT

SKKN Thiết kế và sử dụng các phần mềm vẽ sơ đồ tư duy để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Toán ở trường THPT

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

PHẦN I: ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ
  1. Lí do chọn đề tài
    Chúng ta đã biết rằng Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục chú trọng giúp
    người học hình thành phát triển 10 năng lực và 5 phẩm chất. Trong môn Toán năng
    lực nhìn thấy rõ nhất là năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tính toán, sáng tạo,
    ngoài ra rèn luyện tư duy lôgic, phản xạ, … Một trong những phương pháp giúp học
    sinh có thể học tốt môn toán cũng như góp phần hình thành những năng lực và phẩm
    chất là sử dụng sơ đồ tư duy.
    Trong điều 24, mục 2 Luật giáo dục ( do Quốc hội khóa X thông qua) cũng đã
    chỉ rõ: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động ,
    sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, từng môn học; bồi
    dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn”.
    Nhiệm vụ hàng đầu và quan trọng nhất của nghành Giáo dục và Đào tạo nói chung
    và của mỗi giáo viên nói riêng là nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy. Đổi
    mới phương pháp giảng dạy chính là một biện pháp thiết thực nhằm nâng cao chất
    lượng và hiệu quả dạy học. Đổi mới theo hướng: “ Người học là chủ thể ”, “ Người
    học là trung tâm của quá trình giáo dục ” trong tiếp nhận kiến thức đã được Bộ giáo
    dục – Đào tạo phát động, điều đó có nghĩa: “ Người học không chỉ thu nhận kiến
    thức thụ động mà quan trọng là phải biết phương pháp để thu nhận kiến thức và vận
    dụng được kiến thức đó ” vào trong bài học và trong thực tế cuộc sống.
    Trong thực tế việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay theo hướng phát
    huy tính tích cực chủ động và sáng tạo của học sinh. Bên cạnh việc đổi mới trong
    phương pháp dạy thì việc đổi mới phương pháp học của học sinh cũng rất quan trọng.
    Nó góp phần làm cho tiết học trên lớp đạt hiệu quả hơn. Trên cơ sở đó, việc hướng
    dẫn học sinh định hướng để xây dựng và củng cố, khắc sâu kiến thức một cách hệ
    thống bằng sơ đồ được xem là một hình thức mới trong việc đổi mới phương pháp
    dạy học hiện nay.
    “ Trong thời đại ngày nay, nguồn tài liệu học tập, nghiên cứu như: sách, tạp
    chí, báo, các kỷ yếu,…rất phong phú. Thêm vào đó là sự phát triển mạnh mẽ của
    2
    ngành công nghệ thông tin, chúng ta đang tiếp xúc với nguồn kiến thức mênh mông
    của thế giới. Bên cạnh đó, chúng ta thường xuyên phải ghi nhớ, tổng hợp hay phân
    tích một vấn đề bằng nhiều phương pháp như kẻ bảng, gạch đầu dòng các ý chính,
    vẽ sơ đồ tổng hợp,…nhưng nó chưa bao giờ được hệ thống và được nghiên cứu kỹ
    lưỡng, mà chỉ được dùng tản mạn trong giới sinh viên học sinh trước các mùa thi.
    Vì vậy, trong công tác giáo dục, ngoài vấn đề truyền đạt kiến thức cho sinh viên,
    chúng ta cần hướng sinh viên đến một phương pháp học tập tích cực và tự chủ để
    lĩnh hội tri thức, và giáo viên cũng cần có phương pháp nghiên cứu để luôn cập nhật
    kịp thời tri thức của thế giới. Với “biển thông tin” như thế, để tiếp cận tốt cần có
    phương pháp giúp hệ thống lại những kiến thức đó. Việc xây dựng được một “hình
    ảnh” thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức, sẽ mang lại những lợi ích đáng quan
    tâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng
    sáng tạo…Một trong những công cụ hết sức hữu hiệu để tạo nên các “hình ảnh liên
    kết” là Sơ đồ Tư duy – MindMap. Bài viết này, xin giới thiệu phương pháp Sơ đồ tư
    duy do Tony Buzan đề xuất, được mệnh danh là “công cụ vạn năng cho bộ não” là
    phương pháp ghi chú đầy sáng tạo, hiện đang được ngành giáo dục khuyến khích
    đưa vào thực hiện trong giảng dạy và học tập.
    Trong những năm vừa qua, việc áp dụng phương pháp mới trong giảng dạy ở
    trường THPT nói chung và môn Toán nói riêng đã đem lại những kết quả bước đầu
    đáng khích lệ. Học sinh hoạt động tích cực hơn trong các giờ học, các em nắm vững
    và chủ động tìm tòi, phát hiện tri thức, giáo viên không còn là người làm thay mà
    các em đã phát huy được vai trò thực sự của mình. Đó là thành quả của phong trào
    đổi mới phương pháp dạy học, trong đó sử dụng SĐTD là phương tiện dạy học tương
    đối mới mẻ ở nước ta. Đây là phương pháp mang lại tâm lí thoải mái, vui vẻ, đầy
    tính sáng tạo rất phù hợp với tình hình dạy học của GV và HS hiện nay và các phong
    trào do Bộ giáo dục và đào tạo phát động như phong trào “ trường học thân thiện,
    học sinh tích cực”.
    Tuy nhiên hiện nay còn nhiều HS học tập thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến
    thức một cách rời rạc, máy móc hay theo một trình tự áp đặt của thầy cô giáo dẫn
    đến HS chóng quên. Do đó, sử dụng SĐTD để hệ thống kiến thức rất thuận lợi trong
    3
    quá trình học tập, tư duy và ghi nhớ kiến thức. SĐTD là một sơ đồ mở chính do HS
    hình thành, sáng tạo thỏa sức, là sản phẩm của chính tay HS tạo ra nên HS nhớ rất
    lâu. Đồng thời, SĐTD được thể hiện bằng màu sắc, đường nét và dùng những từ
    khóa để ghi chép một cách ngắn gọn, đầy đủ giúp HS quan sát được tổng thể hệ
    thống kiến thức.
    Dạy học bằng những phương pháp tích cực và có sử dụng SĐTD là một
    phương pháp dạy học mới được áp dụng nên cả thầy và trò đều bỡ ngỡ và gặp không
    ít khó khăn. HS chưa quen với việc sử dụng SĐTD để hình thành được phương pháp
    tổng quát hóa nội dung của một tiết học, chưa quen trong quá trình thể hiện các
    nhánh cho khoa học. Đó là chưa kể đến một bộ phận HS lười tư duy và thụ động
    trong học tập. Không ít HS lúng túng không biết học bắt đầu từ đâu, làm sao ghi nhớ
    các kiến thức một cách hệ thống. Không thấy được mối quan hệ giữa các kiến thức
    dẫn đến nhầm lẫn, chán nản trong các giờ học kể cả học ở nhà. Ghi chép một cách
    thụ động bài tập của GV cung cấp nên khi gặp bài toán tương tự vẫn ko biết cách
    giải quyết. Đối với GV, sử dụng SĐTD gặp rất nhiều khó khăn trong khâu soạn,
    giảng. Trong thực tế giảng dạy, qua một thời gian tìm hiểu chúng tôi thấy rằng khi
    dạy tiết lí thuyết, chỉ có một đơn vị kiến thức nên rất khó hình thành SĐTD, các tiết
    lí thuyết là xây dựng kiến thức mà SĐTD thường dùng để hệ thống, củng cố kiến
    thức. Phần khác do một số GV suy nghĩ là dùng SĐTD để củng cố kiến thức nhằm
    mục đích là nhớ kiến thức để vận dụng vào giải bài tập. Khi dạy tiết ôn tập chương,
    GV thường ngại khó, chỉ hướng dẫn HS ôn tập lí thuyết một cách qua loa rồi giành
    thời gian còn lại để hướng dẫn HS giải bài tập hoặc bỏ qua phần ôn tập lí thuyết chỉ
    hướng dẫn giải bài tập, khi nào cần kiến thức nào thì mới yêu cầu HS nhắc lại, hoặc
    ôn tập kĩ lí thuyết thì thời gian hướng dẫn ôn các dạng bài tập trong chương không
    đảm bảo. Trong khi đó, tiết ôn tập chương được phân bố thời lượng tối đa chỉ một
    đến hai tiết, nhưng nội dung ôn tập phải chuyển tải một lượng lớn kiến thức cơ bản
    của chương và bài tập vận dụng. Mặt khác, một số GV còn ngần ngại sử dụng SĐTD
    vì chưa xác định rõ quy trình dạy học và vẽ SĐTD. Đồng thời còn gặp nhiều trở ngại
    trong việc sử dụng các phần mềm vẽ SĐTD. Với thực trạng trên, tôi đã mạnh dạn
    nghiên cứu đề tài : THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG CÁC PHẦN MỀM VẼ SƠ ĐỒ TƯ
    4
    DUY ĐỂ GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN TOÁN
    Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG và đã ứng dụng thực tế đề tài này tại
    trường THPT nơi tôi giảng dạy.
    Với mong muốn thay đổi cách giảng dạy truyền thụ tri thức một chiều sang
    cách tiếp cận kiến tạo kiến thức và suy nghĩ. Ý tưởng là “sơ đồ” được xây dựng theo
    quá trình từng bước khi người dạy và người học tương tác với nhau. Vì đây là một
    hoạt động vừa mang tính phân tích vừa mang tính nghệ thuật, nó làm cho HS gợi
    nhớ các kiến thức vừa mới học hoặc đã được học từ trước. Để thực hiện được điều
    như trên, bản thân tôi xác định phải bám sát các nguồn tư liệu như: chuẩn kiến thức,
    kĩ năng; sách giáo khoa, sách GV và các nguồn sách tham khảo khác. Ngoài ra còn
    luôn chuẩn bị một hệ thống câu hỏi và bài tập dựa trên mục tiêu của từng bài, từng
    chương cụ thể, giúp HS định hướng và nắm được kiến thức trọng tâm của từng bài
    học. Thông qua đó HS nắm được kiến thức cũ và lĩnh hội kiến thức mới nhanh hơn.
    Trong phạm vi bài viết của mình, vì khuôn khổ đề tài nên tôi không thể đi sâu
    vào giải quyết tất cả các bài học mà tôi chỉ tập trung vào việc giúp GV và HS vẽ
    SĐTD và đưa ra cách sử dụng SĐTD trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học ở
    một vài tiết dạy trong chương trình sách giáo khoa 11,12. Vì vốn kiến thức còn hạn
    hẹp, vì khuôn khổ đề tài, cộng với kinh nghiệm giảng dạy còn hạn chế nên đề tài còn
    nhiều thiếu sót rất mong sự trao đổi, đóng góp của các đồng nghiệp để chúng ta tạo
    ra sự đa dạng, phong phú trong cách tạo cảm giác, gây dựng tình yêu toán học của
    HS.
  2. Mục đích nghiên cứu
  • Tìm ra phương pháp dạy học phù hợp với HS, tạo hứng thú học tập cho HS.
    Từ đó, nâng cao chất lượng học tập của HS trong các tiết học.
  • Qua nội dung của đề tài, tôi muốn giúp HS tiếp cận kiến thức một cách đơn
    giản trực quan nhất. Giúp HS biết khắc sâu kiến thức trọng tâm, biết liên tưởng
    kiến thức và giúp HS ghi nhớ kiến thức một cách tốt nhất
  • Giúp GV khai thác tốt SĐTD để hỗ trợ đắc lực trong quá trình dạy học
  1. Đối tượng nghiên cứu
    Đối tượng nghiên cứu của đề tài này tập trung vào việc giúp GV và HS vẽ
    5
    SĐTD và cách sử dụng SĐTD trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học
  2. Giới hạn của đề tài
    Trên các cơ sở lí luận, thực tiễn và nhiệm vụ của đề tài tôi đã chọn phạm vi
    nghiên cứu của đề tài là :
  • Sử dụng SĐTD trong dạy học môn toán THPT
  • Các tiết dạy học lí thuyết, ôn tập chương môn Toán ở các lớp 11,12
  • Qua công tác dự giờ trong nhà trường và kết quả khảo sát .
  1. Nhiệm vụ của đề tài
  • Giúp cho GV thực hiện tốt nhiệm vụ và nâng cao chất lượng giáo dục.
  • Giúp cho HS phát triển tư duy, tiếp cận kiến thức một cách đơn giản nhất và
    ghi nhớ kiến thức một cách tốt nhất.
  • Rút ra kết luận và đề xuất một số biện pháp khi tiến hành giúp đỡ từng đối
    tượng HS nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường THPT.
  1. Phương pháp nghiên cứu
    Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài, trong quá trình nghiên cứu tôi
    đã sử dụng các nhóm phương pháp sau:
  • Nghiên cứu các loại tài liệu sư phạm, quản lí có liên quan đến đề tài
  • Phương pháp quan sát (công việc dạy- học của GV và HS)
  • Phương pháp điều tra (nghiên cứu chương trình và hồ sơ chuyên môn)
  • Phương pháp đàm thoại phỏng vấn (lấy ý kiến của GV và HS thông qua trao
    đổi trực tiếp)
  • Phương pháp thực nghiệm.
  • Phương pháp thống kê toán học
  1. Kế hoạch nghiên cứu
    STT Thời gian Nội dung công việc Sản phẩm
    1
    Từ 15/10/2021
    đến
    30/11/2021
    Tìm hiểu thực trạng
    và chọn đề tài, viết
    đề cương nghiên cứu
    Bản đề cương chi tiết của đề
    tài
    6
    2
    Từ 1/12/2021
    đến
    15/12/2021
  • Khảo sát thực trạng, tổng
    hợp số liệu khảo sát thực tế
  • Áp dụng thử nghiệm ở các
    lớp 11,12
  • Tập hợp lí thuyết của đề tài
  • Xử lí số liệu-> kết quả thực
    nghiệm
    3
    Từ 16/01/2022
    đến 31/3/2022
    Đọc tài liệu lí thuyết, viết cơ
    sở lí luận
  • Viết cơ sở lí luận của đề tài
  • Tập hợp lí thuyết
    4
    Từ 1/4/2022
    đến 1/5/2022
    Trao đổi với đồng nghiệp
    và đề xuất các biện pháp,
    các sáng kiến
    Tập hợp ý kiến đóng góp của
    đồng nghiệp
    5
    Từ 2/5/2022
    đến 30/6/2022
  • Viết sơ lược sáng kiến
  • Xin ý kiến đóng góp của
    đồng nghiệp
    Bản nháp sáng kiến
    6
    Từ 1/7/2022
    đến 15/8/2022
    Hoàn thành sáng kiến kinh
    nghiệm
    Sáng kiến kinh nghiệm chính
    7
    PHẦN II: MÔ TẢ GIẢI PHÁP
  1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Trong chương trình giáo dục phổ thông, môn toán là môn học quan trọng, môn
    toán có tiềm năng để khai thác góp phần phát triển trí tuệ chung, rèn luyện và phát triển
    tư duy. Trường THPT nơi tôi giảng dạy là một tập thể đoàn kết, thương yêu giúp đỡ
    lẫn nhau, nhiệt tình trong công tác, tâm huyết với nghề, có tính cộng đồng cao.
    Những thầy cô lớn tuổi có tay nghề vững, có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy
    cũng như trong cuộc sống, mẫu mực và luôn sẵn sàng giúp đỡ, dìu dắt thế hệ trẻ.
    Lực lượng giáo viên trẻ năng động, kiến thức vững vàng, ham hoạt động, hăng say
    và có chí tiến thủ, có ý thức rèn luyện và trau dồi chuyên môn, say mê học tập nâng
    cao trình độ. Đội ngũ quản lí tâm huyết, năng động, luôn tạo điều kiện tốt nhất cho
    GV và HS phát triển năng lực. Ngay từ khi Bộ giáo dục chủ trương đổi mới phương
    pháp dạy học, nhà trường cũng như các tổ chuyên môn đã nhanh chóng triển khai
    các buổi họp chuyên môn, thảo luận về đổi mới phương pháp, chuần kiến thức, kĩ
    năng. Triển khai và rút kinh nghiệm sau mỗi giai đoạn, tạo điều kiện cho GV và HS
    thích nghi nhanh với việc dạy và học theo phương pháp mới.
    Về bản thân, được nhà trường giao nhiệm vụ dạy học lớp 11,12, được lãnh đạo
    nhà trường tạo điều kiện, góp ý về chuyên môn; được các đồng nghiệp và học trò
    ủng hộ và hưởng ứng trong việc áp dụng phương pháp mới vào dạy học. Được trao
    đổi và đã rút ra nhiều kinh nghiệm trong quá trình hình thành đề tài.
    Bên cạnh đó nhà trường còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất; điều kiện
    kinh tế xã hội khu vực trường đang đóng còn nhiều thiếu thốn, đa số HS là con em
    nông dân có thu nhập thấp còn khó khăn về kinh tế dẫn đến việc đầu tư học tập còn
    nhiều hạn chế.
    Theo quan điểm từ trước đến nay, học toán là những kiến thức mang tính chất
    chân lí, hàn lâm nên con đường để tiếp nhận kiến thức rất cứng nhắc và khô khan.
    Vì vậy trong tâm lí đại đa số HS học toán lúc nào cũng khó và chán. Và lâu nay việc
    dạy học toán cũng nặng về truyền thụ kiến thức, rèn luyện kĩ năng giải bài tập, còn
    ít hoạt động thực tế và trải nghiệm. Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra là, trên thực tế lớp
    học lúc nào cũng bao gồm đủ các loại HS từ khá giỏi đến yếu kém. Mức độ tiếp thu
    8
    bài của các em không đồng đều nhau gây ra việc khó khăn trong việc lựa chọn các
    hoạt động giảng dạy phù hợp với trình độ của lớp.
    Trong những năm vừa qua việc áp dụng phương pháp dạy học mới- sử dụng
    SĐTD vào giảng dạy môn toán tại trường bản thân tôi nhận thấy được sự lúng túng
    trong việc hình thành SĐTD cho từng tiết dạy, hệ thống kiến thức từng phần, từng
    chương; thiết kế và thực hiện các hoạt động dạy học theo phương pháp dạy học lấy
    học sinh làm trung tâm. Hiện nay, còn nhiều HS học tập một cách thụ động, chưa
    thật sự độc lập suy nghĩ. Nhiều HS không biết đọc và lưu giữ thông tin ( nghe giảng
    thì không ghi được, ghi thì không nghe được; sắp xếp lộn xộn, ghi xong quên
    ngay…). Hầu hết HS chỉ đơn thuần là tìm kiếm kiến thức có sẵn trong sách giáo
    khoa và ghi nhớ một cách rời rạc, chưa có sự ghi nhớ giữa các phần, các bài, các
    chương theo một hệ thống tư duy có logic và nhớ, thuộc kiến thức theo một trình tự
    sắp đặt, bắt buộc của thầy cô giáo và sách giáo khoa,….
    Mặt khác, dạy học có sử dụng SĐTD là một phương pháp dạy học mới do đó
    một số thầy cô giáo còn lúng túng trong quá trình giảng dạy cũng như hình thành
    bản đồ tư duy. Đặc biệt một số thầy cô giáo và HS gặp nhiều khó khăn trong việc
    đưa SĐTD vào tiết học như thế nào, tại thời điểm nào cho thích hợp. Bên cạnh đó,
    việc vẽ SĐTD trên giấy, trên bảng, trên bảng phụ, trên máy tính của thầy cô giáo
    gặp rất nhiều khó khăn. Mặt khác, vì không tuân theo một chuẩn mực nào nên không
    ít GV vi phạm nguyên tắc ghi bảng khi hình thành kiến thức theo dạng SĐTD.
  2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1. Cơ sở lý luận của việc sử dụng SĐTD
    Việc sử dụng SĐTD như một phương pháp giảng dạy mới. Theo ông Vũ Đình
    Chuẩn vụ trưởng vụ giáo dục trung học: “ngoài tính khoa học ,phương pháp học này
    có nhiều ưu điểm phù hợp với điều kiện kinh tế và cơ sở vật chất của ngành giáo
    dục Việt Nam”; “Sơ đồ tư duy có thể áp dụng cho nhiều vùng khác nhau ,đặc biệt
    tại các vùng nghèo ,giáo viên có khi chỉ cần một tấm bản đồ dùng rồi , một tờ lịch
    dùng rồi,chỉ cần một mặt giấy cũng có thể vẽ được bản đồ tư duy . Chính vì tính linh
    hoạt nên khi áp dụng nó khả thi”; “Việc phát triển tư duy cho học sinh và giảng dạy
    kiến thứcvề thế giới xung quanh luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của những
    9
    người làm công tác giáo dục”. Còn theo tiến sĩ Trần Đình Châu-người đầu tiên tiến
    hành nghiên cứu và tìm cách đưa phương pháp bản đồ tư duy vào giảng dạy ở Việt
    Nam thì “quan trọng là phổ biến phương pháp giảng dạy này đến giáo viên ,thay đổi
    tư duy dạy học của họ”.
    Trong hoạt động dạy học có hai chủ thể thầy và trò. Mối quan hệ giữa thầy và
    trò là quan hệ thầy – người tổ chức, điều khiển quá trình nhận thức và trò, nhằm thực
    hiện mục tiêu các hoạt động dạy học. dạy học chỉ có hiệu quả khi cả thầy và trò tích
    cực hợp tác hoạt động.
    SĐTD là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ
    thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức… bằng cách kết hợp việc sử dụng
    đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực. Tác giả của
    SĐTD là Tony Buzan, ông là người đã thúc đẩy làn sóng cách mạng học tập bùng
    nổ tại nhiều nước trên thế giới và khu vực, trong đó có Việt Nam. Có thể nói, SĐTD
    là con đường dẫn HS đến với phương pháp “ học cách học”.
    Lí luận dạy học đã chỉ ra rằng, HS vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của quá trình
    dạy học. Việc sử dụng kĩ thuật dạy học SĐTD làm cho HS có điều kiện trao đổi với
    thầy với bạn, sẽ phát huy tốt tính tích cực chủ động của HS. Thay đổi phương pháp,
    mô hình dạy học là yêu cầu không thể thiếu trong xã hội hiện đại, nó vừa phát huy
    tốt ưu thế của mỗi môn học, vừa tạo được sự hấp dẫn đối với HS, thông qua đó vừa
    giáo dục và hình thành những kĩ năng sống cơ bản cho HS.
    Tuy nhiên, việc tổ chức bài học sôi động và chuyển đổi các dòng chữ dài và đơn
    điệu trong sách giáo khoa thành các bài học với những hình vẽ, đường cong sinh
    động và dễ hiểu không phải là vấn đề dễ dàng đối với GV và HS hiện nay. Việc thay
    đổi cách nghĩ, cách học đối với lớp học mà HS có mặt bằng nhận thức không đồng
    đều, lại càng khó khăn và phức tạp hơn. Bởi vì, từ lâu HS đã quen với việc chỉ cần
    ghi chép các nội dung mà thầy, cô truyền đạt, khi về nhà chỉ cần học thuộc lòng bài
    cũ, không cần hiểu sâu hay áp dụng vào thực tế, tất cả những điều đó đã ăn mòn
    trong cách học của các em bấy lâu nay. Do vậy, việc vận dụng phương pháp SĐTD
    lại càng trở nên gian nan đối với GV.
    Từ những vấn đề lý luận nêu trên, có thể khẳng định việc sử dụng kĩ thuật dạy
    10
    học SĐTD là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập. Bằng phương pháp
    này, GV và HS có thể trình bày ý tưởng và nội dung bài học một cách rõ ràng, sáng
    tạo, thông tin được tóm tắt cô đọng, đưa ra được nhiều ý tưởng mới… Trong đó, GV
    đóng vai trò hướng dẫn, tổ chức, nhận xét, bổ sung và đánh giá trong tiết học; HS
    không phải ghi chép nhiều, thời gian của tiết học được dùng để thảo luận nghiên cứu
    và báo cáo; đồng thời HS được rèn luyện nhiều kỹ năng như làm việc nhóm, hợp tác
    và tự tin trước tập thể, qua đó giúp HS vượt qua rào cản tự ti và

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ


Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *