Category: TỔNG HỢP

  • SKKN Một số ứng dụng của phép vị tự và phép vị tự quay

    SKKN Một số ứng dụng của phép vị tự và phép vị tự quay

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Các phép biến hình chính là mảng kiến thức hay, khó và thường xuất hiện
    trong các đề thi học sinh giỏi quốc gia, IMO, APMO… Việc học và hiểu, vận dụng
    các kiến thức về các phép biến hình giúp học sinh có thể xây dựng những ý tưởng và
    những kỹ năng thích hợp nhất cho việc tiếp thu các kiến thức của toán học hiện đại.
    Vậy những ý tưởng và những kỹ năng đó là gì?
    + Thứ nhất, đó là ý tưởng ánh xạ rất rõ nét trong cách trình bày và hệ thống
    các phép biến hình.
    + Thứ hai, đó là ý tưởng phân loại và mô tả đầy đủ các lớp phép biến hình
    (mà tiêu biểu nhất là các phép dời hình).
    + Thứ ba, quan trọng hơn cả là qua việc vận dụng các phép biến hình vào
    giải toán, tư duy hình học của học sinh sẽ được nâng lên ở một cấp độ mới.
    Trước đây, để chứng minh một bài toán hình học, học sinh thường chỉ biết tính
    toán và so sánh các đại lượng hình học như góc, độ dài, diện tích,…thì nay với việc
    sử dụng các phép biến hình, học sinh sẽ được tập quan sát những vận động, những
    tương tác giữa các yếu tố, những cấu trúc tiềm ẩn trong một hình vẽ để rồi từ đó rút
    ra được những chứng minh, những kết luận sâu sắc, nêu bật toàn diện bản chất của
    hình vẽ đó. Điều đó sẽ giúp các em biết nhìn nhận sự việc và các hiện tượng xung
    quanh trong cuộc sống với sự vận động và biến đổi của chúng để nghiên cứu, tìm tòi,
    khám phá, tạo cơ sở cho sự ra đời của những phát minh và sáng tạo trong tương lai.
    Chính vì những lí do quan trọng như thế, chúng ta cần phải trang bị cho các
    em những kiến thức về phép biến hình từ cơ bản đến phức tạp.
    Trong các phép biến hình thì phép vị tự có rất nhiều ứng dụng trong việc giải
    các bài toán hình học và trong các kì thi học sinh giỏi số lượng các bài toán liên quan
    đến việc sử dụng phép vị tự khá nhiều. Các bài toán khi giải bằng phương pháp sử
    dụng phép vị tự trong các kì thi học sinh giỏi thường khá hay và đặc sắc, thể hiện
    khả năng sáng tạo của học sinh. Bằng cách giải bằng cách sử dụng phép vị tự giúp
    học sinh thấy được bản chất của bài toán và phát hiện ra các tính chất thú vị khác của
    bài toán.
    4
    Tuy nhiên khó khăn lớn nhất của giáo viên khi dạy phần này là làm sao để học
    sinh hứng thú học và có khả năng vận dụng phép vị tự vào giải các bài toán hình học,
    cần trang bị cho các em những kiến thức gì? Cần bắt đầu từ những bài toán nào? Cần
    phân dạng các bài tập áp dụng phép vị tự và những dấu hiệu của các bài toán như thế
    nào thì dùng phép vị tự? Với tất cả những khó khăn và thuận lợi trên chúng tôi chọn đề
    tài “phép vị tự” để trao đổi và đưa ra một số dạng bài tập đặc trưng giải bằng sử dụng
    phép vị tự.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP:
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
    Các phép biến hình sơ cấp là một phần quan trọng của hình học và là một mảng
    khó trong chương trình hình học THPT chuyên. Chính vì thế trong các kì thi học sinh
    giỏi quốc gia, thi Olympic Toán quốc tế và khu vực, những bài toán có liên quan ít
    nhiều đến các phép biến hình cũng hay được đề cập và thường được xem là những
    dạng toán khó, những câu phân loại của kì thi. Các em học sinh bậc Trung học phổ
    thông thường gặp một số khó khăn khi tiếp cận các khái niệm liên quan đến phép biến
    hình, đặc biệt là kỹ năng ứng dụng các phép biến hình vào việc làm bài tập. Những
    học sinh mới bắt đầu làm quen với khái niệm biến hình thường chưa hiểu tường tận
    tư tưởng cũng như phương pháp tiếp cận lý thuyết, đặc biệt là khâu vận dụng kiến
    thức biến hình vào giải toán trong những tình huống khác nhau. Để hiểu và vận dụng
    tốt lý thuyết biến hình và vận dụng kiến thức biến hình vào giải toán thì thông thường
    học sinh phải có kiến thức nền tảng hình học tương đối đầy đủ và chắc chắn trên tất
    cả các lĩnh vực của hình học sơ cấp. Đó là một khó khăn rất lớn đối với giáo viên và
    học sinh khi giảng dạy và học tập phần các phép biến hình.
    Đề tài “phép vị tự” được chọn để giới thiệu với các thầy cô giáo và các em học sinh
    những kinh nghiệm của chúng tôi khi giảng dạy chủ đề phép vị tự trong chương trình
    THPT chuyên, và đồng thời thông qua đề tài này chúng tôi muốn nhấn mạnh tầm quan
    trọng của phép vị tự trong các bài toán chứng minh đồng quy và thẳng hàng và một
    số bài toán khác xuất hiện trong các kì thi Quốc tế, khu vực và Olympic quốc gia của
    một số nước.
    Các bài toán đồng quy thẳng hàng mà lời giải sử dụng phép vị tự thường là
    những bài tập khó, các bài tập chúng tôi đưa ra đề là các đề thi Olympic Quốc tế, khu
    vực và một số nước có truyền thống về toán, trong các bài tập này chúng tôi có phân
    tích dấu hiệu của bài toán mà có thể sử dụng để giải bằng cách dùng phép vị tự. Những
    bài toán này nếu không sử dụng phép vị tự thường rất khó và rất dễ phụ thuộc vào
    hình vẽ.
    5
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
    Thông qua đề tài “phép vị tự” chúng tôi cũng rất mong muốn nhận được góp ý
    trao đổi của các bạn đồng nghiệp, các bậc cha mẹ học sinh và các em học sinh. Chúng
    tôi mong muốn đề tài này góp một phần nhỏ để việc dạy phần phép vị tự hiệu quả
    nhất và giúp các em học sinh có khả năng vận dụng phép vị tự vào giải các bài toán
    hình học một cách tốt nhất.
    A. CÁC KIẾN THỨC CHUẨN BỊ:
    I. Phép vị tự
    1. Định nghĩa: Cho trước điểm O và một số thực k . Phép biến hình biến mỗi điểm
    M thành điểm M ‘ sao cho OM k OM   ‘ .  được gọi là phép vị tự tâm O tỉ số k và
    được kí hiệu là VOk hoặc VO k ; .
    Điểm M ‘ được gọi là ảnh của điểm M , điểm M được gọi là tạo ảnh của M ‘, O gọi
    là tâm vị tự, k gọi là tỉ số vị tự.
    Nếu k  0 thì k
    VO được gọi là phép vị tự dương.
    Nếu k  0 thì k
    VO được gọi là phép vị tự âm.
    Nếu k 1 thì 1
    VO là phép đồng nhất.
    Nếu k  1 thì 1
    VO là phép đối xứng tâm O.
    Cho hình F , xét tập F M M V M M F ‘ ‘ , ‘ ,     Ok    được gọi là ảnh của hình F
    qua qua phép vị tự VOk và được kí hiệu là V F F Ok : ‘  hoặc F V F ‘  Ok  .
    2. Tính chất
    Tính chất 2.1. Phép vị tự VOk với k 1 có một điểm bất động duy nhất, đó là điểm O.
    Tính chất 2.2. Nếu điểm M ‘ là ảnh của điểm M qua phép vị tự VOk thì ba điểm
    O M M , , ‘ thẳng hàng.
    Tính chất 2.3. Nếu A B ‘, ‘ lần lượt là ảnh của hai điểm phân biệt A B , qua phép vị tự
    kO
    V thì A B k AB ‘ ‘ 
     
    .
    Tính chất 2.4. Phép vị tự VOk là một song ánh và có phép biến hình ngược là
    1k
    VO
    Tính chất 2.5. Phép vị tự VOk biến ba điểm thẳng hàng thành ba điểm thẳng hàng theo
    thứ tự đó.
    Chứng minh. Giả sử A B C ‘, ‘, ‘ lần lượt là ảnh của A B C , , qua phép vị tự VOk . Giả
    sử B nằm giữa A và C .
    Khi đó theo tính chất 3 ta có: A B k AB B C k BC C A k CA ‘ ‘ , ‘ ‘ , ‘ ‘   
    Kết hợp với AB BC AC A B B C A C A B C       ‘ ‘ ‘ ‘ ‘ ‘ ‘, ‘, ‘ thẳng hàng và
    B ‘ nằm giữa A’ và C ‘.
    6
    Từ tính chất 5 ta có các kết quả rất quan trọng sau:
    Hệ quả: Phép vị tự VOk biến:
    a) Đường thẳng d thành đường thẳng d’ và d d || ‘ hoặc d d  ‘.
    b) Tia Sx thành tia S x ‘ ‘ và hai tia đó hoặc song song hoặc cùng nằm trên
    một đường thẳng.
    c) Đoạn thẳng AB thành đoạn thẳng A B ‘ ‘ và A B k AB ‘ ‘  .
    d) Tam giác ABC thành tam giác A B C ‘ ‘ ‘ và hai tam giác này đồng dạng với nhau
    theo tỉ số k .
    e) Góc xSy  thành góc  x S y ‘ ‘ ‘ và xSy x S y   ’ ‘ ‘.
    f) Đường tròn I R ;  thành đường tròn I R ‘; ‘ và R k R ‘  .
    Tính chất 2.6. Cho hai phép vị tự V V O O k k , ” với các tâm vị tự phân biệt, các hệ số vị tự
    thỏa mãn k k , ‘ 0;1  . Khi đó
    a) Nếu k k . ‘ 1  thì V V O O k k  ” hoặc V V O O k k ”  là một phép vị tự.
    b) Nếu k k . ‘ 1  thì V V O O k k  ” hoặc V V O O k k ”  là một phép tịnh tiến.
    Chứng minh. a) Giả sử H V V  O O k k ”  và S là điểm bất động của H . Khi đó ta có:
    k : ‘
    V S S O  và OS kOS ‘ 
     

    V S S Ok’ : ‘  và O S k O S

    
    Ta có: OS OS OO O S OO O S OO OS OO                  1 1 1 1 1 1 1 ‘ ‘ ‘ ‘ ‘ ‘ ‘ ‘           
    kkk k ‘k  k ‘k ‘
    1 1 1 1 ‘
    1 1 ‘ ‘
    k
    OS OO OS OO
        
             
       
    .
    . ‘
    k k
     

    k k
     
    1 . ‘
    k k

    ‘ ‘ ‘ ‘ 
    Do đó điểm S là duy nhất. Với mỗi điểm M khác điểm S ta có:

    V S S M M S M k SM Ok : ‘, ‘ ‘ ‘ .    
    
    


    V S S M M SM k SM Ok’ : ‘ , ‘ ” ” ‘. ‘    
    Từ hai đẳng thức trên ta được: SM k k SM   ” . ‘.  . Do đó H V V  O O k k ”  là một phép vị tự
    tâm là điểm S và tỷ số vị tự là k k . ‘.
    Chứng minh tương tự ta cũng được V V O O k k  ” cũng là một phép vị tự.

    b) Với mỗi điểm M bất kì trong mặt phẳng ta có: V M M OM k OM Ok : ‘ ‘ .   
    
    
        


    V M M O M k O M O M k O M Ok’ : ‘ ” ‘ ” ‘. ‘ ‘ ‘ ‘ . ‘ ”     
    Ta có OO OM M O OM O M kOM kO M kOM kO M kMM ‘ ‘ ‘ ‘ ‘ ‘ ‘ ‘ ” ‘ ”         
            k OM MO kMM kOO kMM MM OO u         ‘ ” ‘ ” ” ‘  k k1 .
    Do đó ‘

    k k
    V V O O  là một phép tịnh tiến.
    Chứng minh tương tự ta cũng được V V O O k k  ” là một phép tịnh tiến.
    7
    Nhận xét. Nếu k k k k , ‘ 0;1 , . ‘ 1     thì V V O O k k ”  là một phép vị tự có tâm nằm trên
    đường thẳng OO’ và có tỉ số vị tự là k k . ‘.
    Tính chất 2.7. Cho phép vị tự VOk với k 0;1 và phép tịnh tiến T u u , 0    . Khi đó
    phép biến đổi T V u  Ok hoặc V T Ok  u là một phép vị tự.
    Chứng minh. Ta xét phép biến đổi H T V  u  Ok . Trước hết ta chứng minh H có điểm
    bất động duy nhất S . Thật vậy, nếu S là điểm bất động của H , khi đó

    k : ‘
    V S S O  và OS kOS ‘ 
    ;
    
    và S S u ‘ 
     

    : ‘
    u
    T S S  .
    Từ đó ta được: ‘ ‘ 1
    1
    S S u OS OS u OS kOS u OS u
    k
            

             
    Hệ thức này chứng tỏ H có điểm bất động duy nhất là điểm S .
    Với điểm M tùy ý khác điểm S , thì

    V S S M M S M k SM Ok : ‘, ‘ ‘ ‘ .    
    
     

    : ‘ , ‘ ” ‘ ‘ ”
    u
    T S S M M S M SM kSM      
    suy ra SM kSM M V M ” ”    Sk  
     
    hay H là một phép vị tự tâm S , tỉ số k .
    3. Tâm vị tự của hai đường tròn.
    Định lí 3.1 Cho hai đường tròn O R 1 1 ;  và O R 2 2 ;  phân biệt. Khi đó tồn tại phép vị
    tự biến đường tròn O R 1 1 ;  thành đường tròn O R 2 2 ; .
    Chứng minh.
    Nếu tồn tại phép vị tự VOk biến đường tròn O R 1 1 ;  thành đường tròn O R 2 2 ;  thì
    2 2
    1 1
    R R
    k k
    R R
       và
    OO kOO 2 1 
     
    .
    Khi đó ta sẽ chỉ ra được cách xác định phép vị tự VOk .
    Trường hợp 1: O O 1 2  và R R 1 2  , khi đó OO kOO O O 1 1 1   
     
    . Khi đó ta có hai
    phép vị tự biến đường tròn O R 1 1 ;  thành đường tròn O R 2 2 ; là:
    2 1
    RR 1
    VO và
    2 1
    1
    RR
    VO

    .
    8
    Trường hợp 2: O O 1 2  và R R 1 2  , suy ra k  1. Do đó OO OO 2 1  
     
    , kết hợp với
    O O 1 2  suy ra OO OO O 2 1   
     
    là trung điểm của đoạn thẳng O O 1 2. Vậy phép vị tự
    1
    VO biến đường tròn O R 1 1 ;  thành đường tròn O R 2 2 ; .
    Trường hợp 3: O O 1 2  và R R 1 2  , ta có thể xác định các phép vị tự như sau:
    Ta lấy M M 1 2 ‘ ‘ là đường kính của đường tròn O R 2 2 ;  và O M 1 là một bán kính của

    O R 1 1 ;  sao cho hai vector O M  2 1 ‘

    và O M 1 cùng hướng. Đường thẳng O O 1 2 cắt MM1 ‘

    MM2 ‘ lần lượt tại I1 và I2 .
    Khi đó phép vị tự
    2 1
    RR 1
    VI

    2 1
    2
    RR
    VI
    biến đường tròn O R 1 1 ;  thành đường tròn O R 2 2 ; .
    Điểm
    I1 được gọi là tâm vị tự ngoài của hai đương tròn O R 1 1 ;  và O R 2 2 ; . Điểm
    I2 được gọi là tâm vị tự trong của hai đương tròn O R 1 1 ;  và O R 2 2 ; .
    II. Phép vị tự – quay
    a) Định nghĩa. Phép vị tự – quay là tích giao hoán của một phép vị tự và một phép
    quay có cùng tâm.
    Nhận xét: Thứ tự thực hiện các phép biến hình ở đây không quan trọng vì
    k k
    Q V V Q O O O O     
    b) Cách xác định ảnh của một điểm qua phép vị tự quay
    Cho phép quay QO và phép vị tự VOk với k  0 và  là
    một góc định hướng     .
    Ta có
       
    1
    1
    1
    :
    O , mod 2
    OA OA
    Q A A
    OA OA
      
      
      
     

     
    (1)

       
    1
    1
    , ‘ 0 mod 2
    OA OA
     
     

    1

    : ‘
    kO
    OA kOA
    V A A
      
      
    (2)

    Từ (1) và (2) suy ra
       
    ; ‘ mod 2
    OA
    OA OA

    

     
     
    (3)A’


    OA
    k


     Như vậy V Q O O k   là phép đồng dạng thuận Z O k  ; ;   biến A thành A’ xác định bởi
    (3). Khi đó O được gọi là tâm;  gọi là góc quay; k là tỉ số của phép vị tự – quay.
    B
    O
    A

    9
    c) Tính chất
    Định lí 1. Z O k A A  ; ; : ‘    ; B B  ‘ thì    
    ‘ ‘
    ; ‘ ‘ mod 2
    A B kAB
    AB A B
      

      
     
     
    Hệ quả.
    +) Phép vị tự – quay biến một đường thẳng thành một đường thẳng và góc giữa
    hai đường thẳng ấy bằng góc đồng dạng.
    +) Phép vị tự quay biến một đường tròn thành một đường tròn, trong đó tâm
    thành tâm và tỉ số hai bán kính bằng tỉ số đồng dạng.
    d) Cách xác định ảnh của phép vị tự – quay
    Cho phép vị tự – quay Z O k  ; ;  . Hãy xác định tâm O khi biết
    Trường hợp 1: Một cặp điểm tương ứng A A ; ‘,  và k
    Ta có OA’ k
    OA
     (1) và OA OA   ; ‘ mod 2     (2)
    (1)  O thuộc đường trònApollonius
    đường kính CD (C D , chia theo tỉ số k ).
    (2)  O thuộc cung C chứa góc định
    hướng mod 2  nhận AA’làm dây.
    Vậy O là giao điểm của  và C.
    Trường hợp 2. Hai cặp điểm tương ứng A A ; ‘ và B B ; ‘
    Cách khác, Gọi I là giao điểm của AB và A B ‘ ‘.
    Ta có OA OA IA IA , ‘ , ‘ mod          (1)
    và OB OB IB IB , ‘ , ‘ mod          (2).
    1  O thuộc đường tròn IAA’.
    2  O thuộc đường tròn IBB’.

    Vậy O là giao điểm của hai đường tròn ngoại tiếp
    tam giác IAA’ và IBB ‘ .
    B

    e) Một số kết quả quan trọng
    Kết quả 1. Mọi phép vị tự – quay trong mặt phẳng đều có một điểm bất động duy nhất
    O và O chính là tâm của phép vị tự – quay đó.
    A C A’ D
    O
    A’
    A
    O
    I
    B’

    10
    Từ tính chất này, cho phép ta chứng minh các đường tròn ngoại tiếp ABC ,
    trong đó A cố định còn B , C di động luôn là cặp điểm tương ứng của một phép vị
    tự – quay có góc quay  (không đổi) và tỉ số k (không đổi) luôn đi qua một điểm cố
    định là tâm O của phép vị tự – quay đó.
    Kết quả 2. Giả sử phép vị tự quay V Q O O k   biến các điểm A B , tương ứng thành các
    điểm A B ‘, ‘.
    +) Nếu AA BB K ‘ ‘   thì O là điểm chung thứ hai của hai đường tròn KAB
    và KA B ‘ ‘.
    +) Nếu AB A B L   ‘ ‘ thì O là điểm chung thứ hai của hai đường tròn LAA’
    và LBB’.
    B. MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP ÁP DỤNG
    1. Dạng 1: Ứng dụng phép vị tự, phép vị tự quay chứng minh các tính chất hình học
    Trong một số bài toán hình học phẳng có yêu cầu chứng minh các tính chất
    của hình học, nếu chúng ta chứng minh chúng bằng các phương pháp hình học thông
    thường thì việc chứng minh tương đối phức tạp. Tuy nhiên khi sử dụng phép vị tự,
    phép vị tự quay giúp chúng ta có thể thu gọn một cách đơn giản nhất và ít phải sử
    dụng thêm các đường phụ, giúp cho việc chứng minh tương đối dễ và ngắn gọn.
    1.1. Bài 1.1. Cho hai đường tròn O R ,  và O R R R ‘, ‘ , ‘     tiếp xúc ngoài nhau tại
    A. Một góc vuông xAy  quay quanh A. Tia Ax cắt đường tròn O R ,  tại M , tia Ay
    cắt đường tròn O R ‘, ‘ tại M ‘.
    1. Chứng minh rằng đường thẳng MM ‘ luôn đi qua một điểm cố định.
    2. Đường thẳng MM ‘ cắt các đường tròn O O , ‘   tại các điểm thứ hai lần
    lượt là N N , ‘. Chứng minh rằng  NAN ‘ 90 .  0
    3. Chứng minh rằng các tiếp tuyến với đường tròn O tại M N , và các tiếp
    tuyến với đường tròn O’ tại M N ‘, ‘ cắt nhau tạo thành một hình bình hành.
    11
    Lời giải:
    1. Gọi A’ là giao điểm thứ hai của OO’ và đường tròn O’
    Khi đó ta có AA M A AM OAM ‘ ‘ 90 ‘ ‘    0  . Do đó AM A M || ‘ ‘
    Từ đó suy ra OM O M || ‘ ‘ hay tứ giác OMM O ‘ ‘ là hình thang
    Mặt khác, do R R  ‘ hay OM O M  ‘ ‘ nên OO’ và MM ‘ không song song.
    Gọi S là giao điểm của OO’ và MM ‘ .
    Khi đó
    ‘ ‘ ‘ ‘
    SO OM R
    SO O M R
      . Suy ra S là tâm vị tự ngoài của hai đường tròn O O , ‘  
    nên S cố định.
    Vậy đường thẳng MM ‘ luôn đi qua điểm S cố định.
    2. Vì S là tâm vị tự ngoài của hai đường tròn O O , ‘   nên ‘
    ,
    R : ‘, ‘
    S

    R

    V A A N N
     
     
    Do đó AN A N || ‘ ‘
    Mà AN A N ‘ ‘ ‘  nên AN A N  ‘ ‘ hay  NAN ‘ 90 .  0
    3. Gọi d d 1 2 , lần lượt là các tiếp tuyến với đường tròn O tại M N ,
    d d 3 4 , lần lượt là các tiếp tuyến với đường tròn O’ tại M N ‘, ‘
    Vì S là tâm vị tự ngoài của hai đường tròn O O , ‘   và ‘

    ,
    S

    R

    R : ‘, ‘
    V M M N N
     
     
    nên
    ‘ 1 3 2 4
    ,
    R : ,
    S

    R


    V d d d d
     
      . Suy ra d d d d 1 3 2 4 || , ||
    Mặt khác MN không là đường kính của đường tròn O nên d d 1 2 , phải cắt nhau.
    Suy ra các đường thẳng d d d d 1 2 3 4 , , , cắt nhau tạo thành một hình bình hành.
    x
    y
    d4
    d1
    d2
    d3
    A’
    S
    N’
    N
    M’
    O A O’
    M
    12
    1.2. Bài 1.2. Cho hai đường tròn C C 1 2 ,   tiếp xúc trong nhau tại điểm T (đường
    tròn C2 nằm trong đường tròn C1). Dây cung AB của đường tròn C1 tiếp xúc
    với đường tròn C2 tại điểm D. Chứng minh rằng TD là phân giác của góc  ATB.
    Lời giải:
    Gọi I J , lần lượt là tâm của các đường tròn
    C C 1 2 ,   và R R 1 2 , lần lượt là bán kính của
    các đường tròn C C 1 2 ,  
    Gọi E F , lần lượt là giao điểm thứ hai của
    TA TB , với đường tròn C2
    Khi đó do hai đường tròn C C 1 2 ,   tiếp xúc
    trong nhau tại điểm T nên T là tâm vị tự ngoài
    của hai đường tròn C C 1 2 ,  .
    Suy ra    
    2 1
    : 1 2
    RR
    V C C T  .
    Do đó
    2 1
    : , ||
    RR
    V A E B F AB EF T   
    Mà dây cung AB của đường tròn C1 tiếp xúc với đường tròn C2 tại điểm D nên
    AB JD EF JD   
    Do đó D là điểm chính giữa cung EF không chứa T của đường tròn C2
    Suy ra TD là phân giác của góc ETF  hay TD là phân giác của góc  ATB.
    *) Nhận xét: Bằng cách chứng minh tương tự, ta có thể chứng minh bài toán sau:
    Cho tam giác ABC. Đường tròn nội tiếp và đường tròn bàng tiếp góc A của tam
    giác ABC tiếp xúc với cạnh BC lần lượt tại D E , . Lấy điểm K trên đường tròn nội
    tiếp tam giác ABC sao cho KD là đường kính. Chứng minh rằng A K E , , thẳng hàng.
    1.3. Bài 1.3. Cho tam giác ABC nội tiếp đường tròn O. Đường tròn O1 tiếp xúc
    với các cạnh AB AC , lần lượt tại P Q , và tiếp xúc trong với đường tròn O tại S .
    Gọi D là giao điểm của AS với PQ . Chứng minh rằng BDP CDQ   .
    F
    E
    A B

    I

    T
    J
    D
    13
    Lời giải:
    Gọi B C ‘, ‘ lần lượt là giao điểm thứ hai của
    SB SC , với đường tròn O1
    R R , 1 lần lượt là bán kính của hai đường tròn
    O O ,  1
    Khi đó do hai đường tròn O O ,  1 tiếp xúc
    trong nhau tại điểm S nên S là tâm vị tự
    ngoài của hai đường tròn O O ,  1.
    Suy ra    
    1
    : 1
    RR
    V O O S  .

    Dođó
    1 ‘ ‘ ‘
    : ‘, ‘ || ‘ ‘
    S
    BB CC BB SB
    V B B C C BC B C
          

    CC SC
    SB SC

    RR
    Khi đó
    2 2 2
    2
    ‘. ‘
    .
    ‘. ‘
    BP BP BB BS BB SB SB
    CQ CQ CC CS CC SC SC
       
           
       
    
    
    sin sin
    sin sin
    BP SB BAS PAD
    CQ SC CAS QAD
        (1)
    Mặt khác do tam giác APQ cân tại A nên APQ AQP 
    Do đó áp dụng định lý sin trong trong các tam giác APD AQD , ta có
       
    
    sin
    sin sin sin sin sin
    PD AD AD QD PAD PD
    PAD APQ AQP QAD QAD QD
         (2)
    Từ (1) và (2) suy ra BP PD
    CQ QD
     (3)
    Mà APQ AQP  nên BPD CQD    (4)
    Kết hợp (3) và (4) suy ra   BPD CQD ∽ . Suy ra BDP CDQ   .
    1.4. Bài 1.4. Cho tam giác ABC nội tiếp đường tròn O và M là điểm nằm trong
    ta giác. Các đường thẳng AM BM CM , , cắt lại đường tròn O tại các điểm thứ hau
    lần lượt là A B C 1 1 1 , , . Gọi A B C 2 2 2 , , theo thứ tự là điểm đối xứng với A B C 1 1 1 , , qua
    trung điểm của các cạnh BC CA AB , , . Chứng minh rằng đường tròn ngoại tiếp tam
    giác A B C 2 2 2 đi qua trực tâm H của tam giác ABC .
    C’
    B’
    D
    C
    B
    O
    A
    O
    1
    P
    Q
    S
    14
    Lời giải:
    Gọi H G , lần lượt là trực tâm và
    trọng tâm tam giác ABC
    A B C 3 3 3 , , lần lượt là trung điểm
    của các đoạn AA BB CC 1 1 1 , , và
    X Y Z , , lần lượt là trung điểm của
    các đoạn BC CA AB , ,
    Khi đó ta suy ra
    OA AA OB BB OC CC 3 1 3 1 3 1    , ,
       0
        OA M OB M OC M 3 3 3 90
     A B C O 3 3 3 , , , cùng thuộc đường
    tròn đường kính OM
    Vì X là trung điểm BC và G là trọng tâm tam giác ABC    GA GX   2
    Kết hợp với X là trung điểm A A 1 2 ta suy ra G là trọng tâm tam giác AA A 1 2
    Do đó
    A G A 2 3 , , thẳng hàng và GA GA A V A 2 3 2 3     2 G2  
     
    (1)
    Chứng minh tương tự ta cũng có B V B C V C 2 3 2 3   G G   2 2  ;   (2)
    Mặt khác vì H G , là trực tâm và trọng tâm tam giác ABC nên suy ra
    GH GO H V O     2 G2  
     
    (3)
    Từ (1), (2), (3), kết hợp với đường tròn ngoại tiếp tam giác A B C 3 3 3 đi qua O ta suy
    ra đường tròn ngoại tiếp tam giác A B C 2 2 2 đi qua trực tâm H của tam giác ABC .
    1.5. Bài 1.5. (Russia MO 2008, grade 9). Cho tam giác không cân ABC với H, M lần
    lượt là trực tâm và trọng tâm của tam giác đó. Các đường thẳng qua A, B, C lần lượt
    vuông góc với AM, BM, CM cắt nhau tạo thành một tam giác có trọng tâm G. Chứng
    minh rằng G nằm trên đường thẳng MH.
    Lời giải.
    Để chứng minh bài toán ta cần hai bổ đề sau:
    Bổ đề 1. Cho tam giác ABC và L là một điểm nằm trong tam giác đó. Gọi H, I, K lần
    lượt là hình chiếu vuông góc của L lên các đường thẳng BC, CA, AB. Khi đó L là trọng
    tâm của tam giác HIK khi và chỉ khi L là điểm Lemoine của tam giác ABC.
    Đây chính là bài 34, trang 47, tài liệu chuyên toán hình học 10.
    Bổ đề 2. Cho tam giác ABC nội tiếp đường tròn (O) và H là trực tâm của nó. Kẻ đường
    kính AM. Khi đó AH và AM đối xứng với nhau qua phân giác trong của góc BAC .
    C3
    B3
    A3
    G
    H
    C2
    Z
    B2
    Y
    A
    2
    X
    C1
    M
    O
    B C
    A
    A
    1
    B
    1
    15
    Chứng minh.
    Gọi D là giao điểm thứ hai của phân giác trong
    góc BAC  với đường tròn (O).
    Do AM là đường kính nên AD DM  suy ra:
     AM AD AM MD MD AD , , , mod         
     , , mod     
    2
       AM MB MB DM  

    ,,mod   
    2
     
       AM MB MB DM 
     , , mod     
       CA CB AB AD

    2
     
     , , mod     
    2
    CA CB AD AC     (1).
    Mặt khác ta có:
     AD AH AD AB AB AH , , , mod              AD AB AB BC BC AH , , , mod       
     , , , mod       
    2
        AD AC AC AB AB BC    , , mod     
    2
       AD AC AC BC   (2).
    Từ (1) và (2) ta được AM AD AD AH , , mod        AM, AH đối xứng với nhau
    qua phân giác của góc BAC .
    Trở lại bài toán:
    Do A, B, C lần lượt là hình chiếu
    vuông góc của M lên B C C A A B 1 1 1 1 1 1 , , nên
    theo bổ đề 1 ta được M là điểm Lemoine của
    tam giác A B C 1 1 1 suy ra A M 1 đối xứng với
    trung tuyến kẻ từ A1 của tam giác A B C 1 1 1
    qua phân giác trong của góc BAC 1 (3).
    Do
    MM BC a, cắt nhau tại trung điểm
    mỗi đoạn nên tứ giác BMCM a là hình bình
    hành, kết hợp với MB A C MC A B   1 1 1 1 , ta

    M C A C M B A B a a   1 1 1 1 ,
    Suy ra Ma là trực tâm tam giác A BC 1 (4).
    Do tứ giác HBAC 1 tiếp và A H 1 là đường kính của đường tròn ngoại tiếp tam
    giác A BC 1 (5).
    D
    M

    HO

    C
    B
    A
    M

    c
    H
    Mb
    G
    M
    M
    a
    A
    A

    C1
    B1
    1
    B C

    16
    Từ (4), (5) và bổ đề 2 suy ra A H A M 1 1 , đối xứng với nhau qua phân giác trong
    của góc BAC 1 (6).
    Từ (3) và (6) suy ra A M G 1, , a thẳng hàng.
    Tương tự ta có B M G 1, , b thẳng hàng và C M G 1, , c thẳng hàng.
    Ta có V A M B M C M M a b c 1 : , ,    . Suy ra M M BC M M CA M M AB b c c a a b || , || , || (7).
    Mặt khác do M M M a b c , , lần lượt là trực tâm của tam giác A BC B CA C AB 1 1 1 , , suy ra
    M A BC M B CA M C AB a b c 1 1 1    , , (8).
    Từ (7) và (8) ta được M A M M M B M M M C M M a b c b c a c a b 1 1 1    , , suy ra G là trực
    tâm tam giác M M M a b c .
    Do V A M B M C M M a b c 1 : , ,    suy ra VM1 biến trực tâm tam giác ABC thành trực
    tâm tam giác M M M V H G a b c M   1 : suy ra G nằm trên đường thẳng MH.
    1.6. Bài 1.6. (IMO 1999) Hai đường tròn 1 và 2 nằm bên trong đường tròn  , và
    tiếp xúc với  lần lượt tại M và N . 1 đi qua tâm của 2 . Đường thẳng đi qua hai
    giao điểm của 1 và 2 cắt đường tròn  tại A và B. Các đường thẳng MA và MB
    cắt lại 1 lần lượt tại C và D . Chứng minh rằng đường thẳng CD tiếp xúc với đường
    tròn
    2 .
    Lời giải:
    Gọi O O O , , 1 2 lần lượt là tâm của các đường
    tròn
       , , 1 2. Gọi EF là dây cung của
    đường tròn  và EF là tiếp tuyến chung
    của
      1 2 , và EF cắt đoạn thẳng AM
    Giả sử đường thẳng EF tiếp xúc với đường
    tròn
    1 tại điểm C ‘ .
    Xét phép vị tự tâm M biến đường tròn 1
    thành đường tròn , khi đó phép vị tự này
    biến điểm C ‘ thành điểm A’ và đường
    thẳng EF biến thành đường thẳng d tiếp
    xúc với đường tròn  tại điểm A’.
    Từ đó ta có EF d || , kết hợp với d OA EF OA A     ‘ ‘ ‘ là điểm chính giữa của
    cung FA E ‘ . Do đó A EF A FE A ME ‘ ‘ ‘        MA E EA C ‘ ‘ ‘ ∽
    Suy ra
     1
    2
    A E A C A M P ‘ ‘ ‘. ‘ A’

      .
    A’
    C’
    d
    O
    F
    E
    O
    O1 2
    D
    C
    B
    A
    N
    M
    17
    Tương tự như vậy ta được
     2 
    2
    A F P ‘ A’

     ,

    Kết hợp với
    2 2
    A E A F A E A F P ‘ ‘ ‘ ‘ A ‘
       
    P A ‘
    hay điểm A’ nằm trên trục
     1 
    2  

    đẳng phương của hai đương tròn   1 2 ,
    Suy ra A’ nằm trên đường thẳng AB A A C C     ‘ ‘, từ đó điểm C nằm trên
    đường thẳng EF .
    Tương tự tiếp tuyến chung thứ hai d ‘ của   1 2 , đi qua điểm D .
    Do d d , ‘ đối xứng với nhau qua đường thẳng O O 1 2 nên C D , đối xứng với nhau qua
    đường thẳng O O 1 2 suy ra O2 là diểm chính giữa của cung CO D 2 .
    Do đó   
    DCO CDO FCO 2 2 2   suy ra O2 nằm trên phân giác của góc FCD CF CD   ,
    đối xứng với nhau qua đường thẳng CO2.
    Kết hợp với đường thẳng CF là tiếp tuyến với đường tròn   2 CD cũng là tiếp
    tuyến của đường tròn 2.
    1.7. Bài 1.7 (IMO 1983). Cho A là một trong hai giao điểm của hai đường tròn không
    bằng nhau C1 và C2 với tâm lần lượt là O1 và O2 . Kẻ hai tiếp tuyến chung của C1 và
    C2 . Các tiếp tuyến chung này tiếp xúc với C1 tại P Q 1 1 , và tiếp xúc với C2 tại P Q 2 2 , . Gọi
    M M 1 2 , lần lượt là trung điểm của PQ 1 1, P Q 2 2. Chứng minh rằng O AO M AM 1 2 1 2 .
    Lời giải:
    Do
    PP Q Q 1 2 1 2 , đối xứng với nhau qua đường thẳng O O 1 2 nên PP Q Q O O 1 2 1 2 1 2 , , đồng
    quy tại điểm O .
    Xét phép vị tự V tâm O biến đường tròn C1 thành đường tròn C2 .
    Đoạn thẳng OA cắt đường tròn C1 tại điểm B, khi đó A là ảnh của điểm B qua phép
    vị tự trên.
    Q1
    Q2
    P1
    P2
    C1
    C2
    O2 M2 O1 M1 O
    B
    A
    18
    Ta có
    V B A O O M M V BM O AM O : , , :        1 2 1 2 1 1 2 2
    Suy ra M BO M AO 1 1 2 2 .
    Ta có 1 1
    1 1 1 1
    1 1
    OO OP
    OPO OM P
    OP OM
       ∽ . Khi đó 2
    OO OM OP OA OB 1 1 1 . .  
    Suy ra các điểm A B M O , , , 1 1 cùng nằm trên một đường tròn.
    Do đó    
    M BO M AO M AO M AO 1 1 1 1 1 1 2 2   
       
        M AO O AM M AO O AM 1 1 1 2 2 2 1 2   O AO M AM 1 2 1 2 .
    1.8. Bài 1.8 (Russia MO 2008, grade 11). Cho tứ giác lồi ABCD có tia BA cắt tia CD
    tại P, tia BC cắt tia DA tại Q. Gọi H là hình chiếu cùa D lên đường thẳng PQ. Chứng
    minh rằng tứ giác ABCD ngoại tiếp đường tròn khi và chỉ khi đường tròn nội tiếp của
    các tam giác ADP, CDQ được nhìn từ H các góc bằng nhau.
    Lời giải:
    Gọi đường tròn nội tiếp tam giác ADP, CDQ lần lượt là O r O r 1 1 2 2 ; , ;   .
    Từ H kẻ các tiếp tuyến HM HN 1 1 , đến O r 1 1 ;  và HM HN 2 2 , đến O r 2 2 ; 
    Ta xét hai trường hợp sau:
    Trường hợp 1: r r 1 2  :
    Gọi O là giao điểm của PO QO 1 2 , và E, F lần lượt là hình chiếu vuông góc của O lên
    DC, DA.
    F
    E
    N2
    M2
    N1
    M1
    O2
    O1
    S
    O
    H
    Q
    P
    D
    C
    B
    A
    19
    Ta có
     
    1 2
    1 2
    sin sin
    2 2
    r r
    DO DO
    ADP CDQ
       .
    Khi đó: H nhìn O r O r 1 1 2 2 ; , ;    dưới các góc bằng nhau
      1 1 2 2 1 2 
    1 1 2 2 1 2

    12
    Do đó tam giác tam giác HO O 1 2 cân tại H và HD là đường trung tuyến nên HD vuông
    góc O O 1 2 hay O O PQ OE OF 1 2 || PO QO r r 1 2 1 2
           O cách đều
    POQOOE OF

    sin sin
    2 2
    M HN M HN r r
    M HN M HN HO HO
    HO HO
           
    các đường thẳng AB, BC, CD, DA hay tứ giác ABCD là tứ giác ngoại tiếp.
    Trường hợp 2: r r 1 2 
    Theo chứng minh ở trên thì ta suy ra đường thẳng O O 1 2 cắt đường thẳng PQ tại S.
    a) Tứ giác ABCD ngoại tiếp đường tròn (O).
    Ta có        
    2
    1
    : , : 1 2
    r
    r
    r
    r
    V O O V O O P Q  
    Suy ra    
    2
    1
    .
    : 1 2
    r r
    r r
    V O O S  hay    
    2 1
    : 1 2
    rr
    V O O S  .

    Mặt khác    
    : 1 2
    SO
    SO
    V O O S  suy ra
    1 1
    2 2
    SO r
    SO r
     (1).

    2 1
    Do    
    2 1
    1 1
    1 2

    2
    DO
    2
    r
    D
    V
    OO

    :
    DO
    DO
    DO r
        (2).
    Từ (1) và (2) ta được 1 1  1 2 1 2   
    2 2
    SO DO O O DS H O O DS 1 1
    SO DO
            hay DH
    là phân giác của góc 1 2 1 1 2 2 1 1 1 1 1  
    2 2 2 2 2
    O HO M HO M HO HO DO r O M sin sin
    HO DO r O M
         
       
        M HO M HO M HN M HN 1 1 2 2 1 1 2 2 hay H nhìn O r O r 1 1 2 2 ; , ;    dưới các góc
    bằng nhau.
    b) H nhìnO r O r 1 1 2 2 ; , ;    dưới các góc bằng nhau.
    Ta có      
    M HN M HN M HO M HO M HO M HO 1 1 2 2 1 1 2 2 1 1 2 2      sin sin
    1 1 1 1 1
    2 2 2 2 2
    O M r DO HO
    O M r DO HO
         HD là phân giác của góc O HO 1 2 hay
           
    2 1
    1 2 1 2 1 2 1 1 :
    rr
    D O O DS O O DS V O O        S .
    20
    Gọi O r ;  là đường tròn bàng tiếp góc CQD  của tam giác CQD .

    Ta có        
    : , : 2 ‘ 1
    V O O V O O Q P   , trong đó P’ thuộc đường thẳng CD.
    1
    r
    r
    2
    r
    r r
    r
    1
    r
    Do đó        
    1
    r r r
    V O O V O O Q P    suy ra P’ thuộc đườngthẳng QS hay P’
    22

    .
    : : 2 1 ‘ 2 1
    trùng với P suy ra (O) tiếp xúc với đường thẳng AB suy ra (O) là đường tròn nội tiếp
    tứ giác ABCD.
    1.9. Bài 1.9. Cho tam giác ABC và điểm O không thuộc các đường thẳng BC CA AB , , .
    Gọi X Y X , , lần lượt là điểm đối xứng với O qua các đường thẳng BC CA AB , , . Chứng
    minh rằng các đường tròn XBC YCA ZAB , ,     cùng đi qua một điểm J và trung
    điểm I của đoạn thẳng OI thuộc đường tròn Euler của tam giác ABC.
    Lời giải: Gọi H K L M N P , , , , , lần lượt là
    trung điểm của các đoạn OX OY OZ , , ,
    OA OB OC , ,
    12
    OM ON OP OH OK OL
    OA OB OC OX OY OZ
          
    Khi đó H K L M N P , , , , , lần lượt là ảnh của
    X Y Z A B C , , , , , qua phép vị tự 1
    ,
    2
    O
    V
     
     
     
     Các đường tròn HNP KPM LMN , ,    
    lần lượt là ảnh của các đường tròn
    XBC YCA ZAB , ,     qua phép vị tự 1
    ,
    2
    O
    V
     
     
     
    và các đường tròn HNP KPM LMN , ,    lần lượt là đường tròn Euler của các tam
    giác OBC OCA OAB , ,
    *) Chứng minh các đường tròn HNP KPM LMN , ,     cùng đi qua một điểm I
    Gọi I là giao điểm thứ hai của hai đường tròn HNP KPM ,  
    Khi đó IM IN IM IP IP IN KM KP HP HN , , , , , mod                
             
             
    , , , , mod
    , , , , mod
    KM KO KO KP HP HO HO HN
    OK OM OP OK OH OP ON OH
       
       
     
         OP OM ON OP ON OM ON OL OL OM , , , , , mod            
       OL LN LM OL LM LN , , , mod        
    Do đó I LMN   hay các đường tròn HNP KPM LMN , ,     cùng đi qua một điểm I
    F
    E
    D
    I
    P
    N
    M
    J
    C’
    B’
    A’
    H X
    Y
    K
    Z
    L
    A
    B
    C
    O
    21
    *) Vì các đường tròn HNP KPM LMN , ,     lần lượt là ảnh của các đường tròn
    XBC YCA ZAB , ,     qua phép vị tự 1
    ,
    2
    O
    V
     
     
     
    nên suy ra các đường tròn
    XBC YCA ZAB , ,     cùng đi qua điểm 1  
    ,
    2
    O
    J V I
     
     
     
     và I là trung điểm của đoạn OJ .
    *) Chứng minh I thuộc đường tròn Euler của tam giác ABC
    Gọi A B C ‘, ‘, ‘ lần lượt là trung điểm của các đoạn BC CA AB , ,
    D E F , , lần lượt là các điểm đối xứng với O qua A B C ‘, ‘, ‘
    Ta có ‘ ‘ ‘ 1
    2
    OA OB OC
    OD OE OF
       nên A B C ‘, ‘, ‘ lần lượt là ảnh của D E F , , qua phép vị
    tự 1
    ,
    2
    O
    V
     
     
     
    Mà A B C ‘, ‘, ‘ lần lượt thuộc các đường tròn HNP KPM LMN , ,     nên suy ra
    D E F , , lần lượt thuộc các đường tròn XBC YCA ZAB , ,    
    Ta có JD JE JD JC JC JE BD BC AC AE , , , , , mod                

        CB CO CO CA CB CA FD FE , , , , mod          
      J DEF  
    (do    ABC DEF )

    Ta có phép vị tự 1
    ,
    2
    O
    V
     
     
     
    biến DEF A B C J I     ‘ ‘ ‘ ;  nên I A B C  ‘ ‘ ‘
    Mà A B C ‘ ‘ ‘ là đường tròn Euler của tam giác ABC . Vậy I thuộc đường tròn Euler của
    tam giác ABC
    1.10. Bài 1.10. Cho tam giác ABC có các đường cao AD BE CF , , . Đường tròn tâm I
    nội tiếp tam giác DEF , tiếp xúc với các cạnh EF FD DE , , lần lượt tại M N P , , . Chứng
    minh rằng các tam giác ABC và MNP có cùng đường thẳng Euler.
    Lời giải:
    Gọi I là trực tâm tam giác ABC thì I là tâm
    đường tròn nội tiếp tam giác DEF
    Ta có NP BC || (cùng vuông góc với ID )
    Tương tự PM CA MN AB || , ||
    Suy ra   ABC MNP ∽
    Do đó MN NP PM
    AB BC CA
     
    Gọi Q AM BN Q M CP 1 2     ,
    Q
    P

    N
    M
    F
    E

    D
    A I
    B C
    22
    Ta có 1 2
    1 2
    1 2
    Q M MN PM Q M
    Q Q
    Q A Q A AB CA
         hay AM BN CP , , đồng quy tại Q
    Khi đó ta có QM QN QP k
    QA QB QC
      
    Gọi I ‘ là trực tâm tam giác MNP O , là tâm đường tròn ngoại tiếp tam giác ABC
    Ta có
    V A M B N C P Q k ,  : , ,   
    Do đó
    V ABC MNP V I I O I Q k Q k , ,  : : ‘;        
    Suy ra Q I I O , , ‘, thẳng hàng
    Mà II OI ‘, tương ứng là đường thẳng Euler của các tam giác MNP ABC ,
    Vậy các tam giác ABC và MNP có cùng đường thẳng Euler.
    1.11. Bài 1.11. Trên đoạn thẳng AC lấy điểm B sao cho BA BC  và dựng các hình
    vuông ABMN BCPQ , nằm về cùng một phía đối với đường thẳng AC. Gọi B’ là giao
    điểm thứ hai của hai đường tròn ngoại tiếp hai hình vuông đó. Chứng minh rằng PN và
    QA cùng đi qua điểm B’.
    Lời giải:
    Giả sử các hình vuông ABMN BCPQ ,
    đều có hướng dương
    *) Ta có
    ,
    2
    : ,
    B
    Q M A C Q   
     
     
     
    Suy ra MC AQ 
    Gọi B1 là giao điềm của MC và AQ
    Khi đó
     1 1 1 1 , , mod     
    2
    B Q B C B M B A

    Do đó B ABMN BCPQ 1       và B B 1  . Suy ra B B 1  ‘ hay QA đi qua điểm B’


    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Xây dựng quy trình giáo dục STEM Nước tẩy rửa sinh học từ rác thải hữu cơ ở trường THPT

    SKKN Xây dựng quy trình giáo dục STEM Nước tẩy rửa sinh học từ rác thải hữu cơ ở trường THPT

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    I. Căn cứ chủ trƣơng đổi mới giáo dục và đào tạo của Đảng:
    Trong công cuộc “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” theo
    tinh thầnNghị quyết số 29 – NQ/TW ngày 14 tháng 11 năm 2013 của Hội nghị
    BCH TW 8 khóa XI ngành Giáo dục và Đào tạo (GD – ĐT) đã liên tục có
    những đổi mới tích cực, toàn diện để đáp ứng mục tiêu:“Tạo chuyển biến căn
    bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng
    tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu h c tập của nhân dân
    Giáo dục con người iệt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm
    năng, khả năng sáng tạo của m i cá nhân; yêu gia đ nh, yêu Tổ quốc, yêu
    đ ng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả Xây dựng nền giáo dục mở, thực
    h c, thực nghiệp, dạy tốt, h c tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo
    dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội h c tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao
    chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hoá, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc
    tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ ngh a và bản
    sắc dân tộc Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục iệt Nam đạt tr nh độ tiên
    tiến trong khu vực ”.
    Thấm nhuần chủ trương, đường lối chỉ đạo của Đảng, trong những năm
    qua, nhiều địa phương, cơ sở đã triển khai việc xây dựng và phát triển kế hoạch
    giáo dục định hướng phát triển năng lực h c sinh của m i trường phù hợp với
    điều kiện thực tế của nhà trường, địa phương và khả năng h c tập của h c sinh.
    Trong đó, có giải pháp dạy h c định hướng giáo dục STEM giúp h c sinh tự
    khám phá, trải nghiệm và sáng tạo.
    II. Căn cứ cơ sở lí luận về giáo dục STEM ở trƣờng THPT:
    Tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017
    của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cánh mạng
    công nghiệp lần thứ tư, nhằm h trợ các trường phổ thông triển khai có hiệu
    quả giáo dục Khoa h c, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán h c; Bộ Giáo dục và Đào
    tạo có Công văn 3089/BGDĐT-GDTrH ngày 14/8/2020, Sở GDĐT Nam Định
    có công văn số 1303/SGDĐT-GDTrH ngày 08/9/2020 về việc triển khai thực
    hiện giáo dục STEM trong giáo dục trung h c từ năm h c 2020-2021 nhằm
    thực hiện có hiệu quả việc:
    Đảm bảo giáo dục toàn diện: Triển khai giáo dục STEM ở nhà
    trường, bên cạnh các môn h c đang được quan tâm, như: Toán, Khoa h c..; các
    l nh vực Công nghệ, Kỹ thuật cũng sẽ được quan tâm, đầu tư trên tất cả các
    phương diện về đội ngũ giáo viên, chương tr nh, cơ sở vật chất
    Nâng cao hứng thú học tập các môn học STEM: Các dự án h c tập
    trong giáo dục STEM hướng tới việc vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết
    các vấn đề thực tiễn, h c sinh được hoạt động, trải nghiệm và thấy được ý
    ngh a của tri thức với cuộc sống, nhờ đó sẽ nâng cao hứng thú h c tập của h c
    sinh.
    2
    Hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh: Khi triển
    khai các dự án h c tập STEM, h c sinh hợp tác với nhau, chủ động và tự lực
    thực hiện các nhiệm vụ h c; được làm quen hoạt động có tính chất nghiên cứu
    khoa h c Các hoạt động nêu trên góp phần tích cực vào h nh thành và phát
    triển phẩm chất, năng lực cho h c sinh
    Kết nối trường học với cộng đồng: Để đảm bảo triển khai hiệu quả
    giáo dục STEM, cơ sở giáo dục phổ thông thường kết nối với các cơ sở giáo
    dục nghề nghiệp, đại h c tại địa phương nhằm khai thác ngu n lực về con
    người, cơ sở vật chất triển khai hoạt động giáo dục STEM Bên cạnh đó, giáo
    dục STEM phổ thông cũng hướng tới giải quyết các vấn đề có tính đặc thù của
    địa phương
    Hướng nghiệp, phân luồng: Tổ chức tốt giáo dục STEM ở trường
    phổ thông, h c sinh sẽ được trải nghiệm trong các l nh vực STEM, đánh giá
    được sự phù hợp, năng khiếu, sở thích của bản thân với nghề nghiệp thuộc l nh
    vực STEM Thực hiện tốt giáo dục STEM ở trường phổ thông cũng là cách
    thức thu hút h c sinh theo h c, lựa ch n các ngành nghề thuộc l nh vực STEM,
    các ngành nghề có nhu cầu cao về ngu n nhân lực trong cuộc cách mạng công
    nghiệp lần thứ tư
    Đặc biệt, tổ chức tốt giáo dục STEM ở nhà trường còn góp phần
    thực hiện mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông mới 2018: Giúp h c
    sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực của người lao động, ý thức
    và nhân cách công dân; khả năng tự h c và ý thức h c tập suốt đời; khả năng
    lựa ch n nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh
    của bản thân để tiếp tục h c lên, h c nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao
    động; khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hóa và
    cách mạng công nghiệp mới.
    III. Căn cứ cơ sở thực tiễn
    Hiện nay vấn nạn rác thải đang là vấn đề cấp bách ảnh hưởng nghiêm
    tr ng đến môi trường và đời sống của nhân dân. Lượng rác thải hữu cơ hàng
    ngày tương đối lớn. Nếu biết phân loại và tái sử dụng chúng thì không chỉ
    thuận lợi cho việc xử lý rác mà ngu n rác hữu cơ có thể tái sử dụng với rất
    nhiều ứng dụng thiết thực trong cuộc sống Đặc biệt, rác thải hữu cơ có thể làm
    nguyên liệu sản xuất nước tẩy rửa sinh h c an toàn, hiệu quả .. Đây chính là gợi
    dẫn quan tr ng để chúng tôi h nh thành ý tưởng: Xây dựng quy trình giáo dục
    STEM “Nước tẩy rửa sinh học từ rác thải hữu cơ” ở trường THPT
    Thực hiện ý tưởng này, chúng tôi mong muốn cho h c sinh có cơ hội trải
    nghiệm vận dụng kiến thức liên môn đã h c vào quy tr nh tạo ra nước tẩy rửa
    sinh h c từ rác thải hữu cơ, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường Đặc biệt, đây
    cũng là h nh thức dạy h c mới, giúp định hướng cho h c sinh phát triển các
    năng lực như: giải quyết vấn đề và sáng tạo, tự h c tự chủ, giao tiếp – hợp tác…
    Qua đó, hình thành ở h c sinh các phẩm chất, như: trách nhiệm, chăm chỉ,
    trung thực giúp các em tự khám phá, trải nghiệm và sáng tạo cũng như rèn
    luyện và nâng cao k năng lao động sản xuất trong thực tiễn cuộc sống.
    3
    Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên; nhóm giáo viên môn
    Sinh h c, ật lý trường THPT Nguyễn Trường Thúy đã lựa ch n đề tài: Xây
    dựng quy trình giáo dục STEM “Nước tẩy rửa sinh học từ rác thải hữu cơ”
    ở trường THPT làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm để trao đổi với các bạn đ ng
    nghiệp, góp phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục ở
    trường THPT.
    4
    B. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    I. MÔ TẢ GIẢI PHÁP TRƢỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Thực trạng về việc tái sử dụng rác thải hữu cơ và nƣớc tây rửa
    trên thị trƣờng hiện nay:
    Rác thải hiện nay đang là một vấn đề nan giải của xã hội gây ô nhiễm
    môi trường và sức khỏe của người dân. Việc thu gom và phân loại, xử lý rác
    được các địa phương trên địa bàn huyện Xuân Trường và Giao Thủy nói riêng
    các địa phương trên toàn quốc nói chung đang đẩy mạnh. Tuy nhiên, rác thải tại
    các gia đ nh chưa được quan tâm đúng mức Hầu hết m i người đều quan niệm,
    cái gì không “xài” được th vứt bỏ, thậm chí còn vứt bỏ tùy tiện ở m i lúc, m i
    nơi. Đó là nguyên nhân dẫn tới ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tiêu cực tời chấ
    lượng cuộc sống
    Cống (rãnh) nước bốc mùi hôi thối và có nguy cơ tắc
    Nếu không vứt bỏ tùy tiện, đa số người dân lại đem tất cả các loại rác –
    bao g m thực phẩm thừa, vật dụng hỏng… đều được bỏ chung một túi/ thùng
    rác mà không cần biết trong số rác thải sinh hoạt hàng ngày cũng có những loại
    rác có thể đưa vào tái chế và phục vụ cho cuộc sống con người Bởi tâm lý
    người dân cho rằng, việc phân loại rác là do đơn vị quản lý rác thải thực hiện.
    Đ ng thời, các hộ gia đ nh cùng các cở sở xỷ lý rác của các đại phương cũng
    chưa chú ý tái chế sử dụng ngu n rác hữu cơ
    Thực tế cho thấy, bên cạnh việc phân loại, thu gom rác th việc tái sử
    dụng ngu n rác sẽ làm giảm nguy cơ gây ô nhiễm và hạn chế tối đa các chất
    thải t n đ ng từ việc sinh hoạt và sản xuất của con người ới ngu n rác hữu
    cơ có thể tái sử dụng với rất nhiều ứng dụng quan tr ng trong cuộc sống, như:
    làm phân bón hữu cơ, làm nguyên liệu sản xuất nước tẩy rửa sinh h c an toàn,
    hiệu quả…Từ đó đem đến những giá trị kinh tế nhất định và góp phần bảo vệ
    môi trường sống
    5

    Rác thải chƣa đƣợc phân loại và chƣa xử lí đƣợc thải ra ngoài môi
    trƣờng

    Bên cạnh đó, phần lớn các loại nước tẩy rửa đang được bán trên thị
    trường đều được sản xuất theo phương pháp công nghiệp từ các hóa chất tổng
    hợp. Khi sử dụng dư thừa, ngoài tự nhiên không có vi sinh vật phân giải sẽ gây
    ô nhiễm môi trường. Nhiều trường hợp sử dụng nước tẩy rửa còn gây dị ứng
    da tay, bong da hoặc bị nấm tay. T n dư của chúng trên các loại bát đũa khi
    rửa sẽ là một trong những nguyên nhân gây ung thư cho người sử dụng.
    Qua nghiên cứu các tài liệu, chúng tôi được biết nước tẩy rửa hóa h c dù là
    hàng có thương hiệu vẫn t n tại nguy cơ gây hại cho sức khỏe khi sử dụng
    không đúng cách Trong khi đó, đa số các loại nước rửa chén bát hóa h c
    không có nhãn mác yêu cầu về cách sử dụng đang được bán trôi nổi trên thị
    trường với giá rất rẻ.
    Từ những lí do trên, chúng tôi đã mạnh dạn ch n đề tài: Xây dựng quy
    trình giáo dục STEM “Nước tẩy rửa sinh học từ rác thải hữu cơ” ở trƣờng
    THPT không chỉ giúp h c sinh tự khám phá, trải nghiệm và sáng tạo đ ng thời
    nhằm tạo ra một loại chất tẩy rửa sinh h c, vừa an toàn lành tính, vừa không
    gây ô nhiễm môi trường và còn tận dụng ngu n rác thải hữu cơ trong sinh hoạt
    2. Thực trạng giáo dục STEM ở trƣờng THPT
    Để có căn cứ xác thực đưa ra những giải pháp phù hợp, hiệu quả trong
    việc xây dựng quy trình giáo dục STEM “Nước tẩy rửa sinh học từ rác thải
    hữu cơ” ở trường THPT ở trường THPT hiện nay, chúng tôi đã tiến hành điều
    tra, khảo sát thực trạng dạy h c này thông qua những h nh thức như: phỏng
    vấn, trao đổi với giáo viên (G ), trò chuyện với h c sinh (HS), sử dụng phiếu
    thăm dò ý kiến đối với G và HS ở một số trường THPT tỉnh Nam Định
    2.1. Đối với giáo viên:
    Tôi đã tiến hành khảo sát 50 G dạy các môn Toán h c, ật lý, Hóa h c,
    Sinh h c, Công nghệ ở trường THPT Nguyễn Trường Thúy và một số trường
    THPT trên địa bàn huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định
    6
    a) Nội dung phiếu khảo sát:
    Thầy (cô) hãy cho biết ý kiến của bản thân bằng cách khoanh tròn vào
    chữ số tương ứng theo quy ước trong từng câu hỏi hoặc đánh dấu X vào ô
    tương ứng:
    Câu 1: Theo Thầy (Cô) giáo dục STEM có vị trí, vai trò như thế nào đối
    với việc đổi mới phương pháp dạy h c, phát triển phẩm chất, năng lực HS ở
    trường THPT?

    1. Không quan trọng2. Bình thƣờng
    3. Quan trọng4. Rất quan trọng

    Câu 2: Thầy (cô) có chú tr ng tới việc giáo dục STEM cho h c sinh ở
    môn m nh phụ trách giảng dạy không?

    1. Không quan trọng2. Ít chú trọng
    3. Chú trọng3. Rất quan trọng

    Câu 3: Thầy (cô) đánh giá như thế nào về nhận thức của h c sinh với
    chủ đề STEM “Nước tẩy rửa sinh h c từ rác thải hữu cơ” ở trường THPT?

    1. Không tốt2. Bình thƣờng
    3. Tốt4. Rất tốt

    Câu 4: Trong thực tiễn dạy h c bộ môn của m nh, thầy (cô) đã sử dụng
    những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả giáo dục STEM ở trường THPT?

    Giải phápMức độ
    Thường
    xuyên
    Thỉnh
    thoảng
    Chưa
    tiến hành
    Dạy h c các môn h c theo phương
    pháp giáo dục STEM
    Tổ chức các hoạt động trải nghiệm
    trong chương tr nh giáo dục STEM
    Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa
    h c, k thuật, tham gia ngày hội STEM

    b) Kết quả khảo sát:
    * Bảng 1a: Kết quả khảo sát GV câu 1,2,3

    Câu
    hỏi
    Các mức độ
    1234
    SL%SL%SL%SL%
    100918%2754%1428%
    2001836%2244%1020%
    3918%2142%1530%510%

    7
    * Bảng 1b: Kết quả khảo sát GV câu 4

    Giải phápMức độ
    123
    SL%SL%SL%
    11326%1938%1836%
    2714%1326%3060%
    348%816%3876%

    c) Phân tích kết quả khảo sát:
    Ở câu hỏi số 1: Đa số G khẳng định, giáo dục STEM có vị trí, vai trò
    quan trọng và rất quan trọng đối với h c sinh ở trường THPT (chiếm 82%)
    Tuy nhiên, vẫn còn 18% G xem nhẹ (bình thường) công tác giáo dục này
    Đối với câu hỏi số 2: G khẳng định chú trọng đến việc giáo dục STEM
    ở môn m nh phụ trách giảng dạy (chiếm 44%), chỉ có 10/50 G nhấn mạnh rất
    chú trọng (chiếm 20%) và đáng tiếc là vẫn 36% G được khảo sát còn thờ ơ
    với việc này
    Trong câu hỏi 3, chỉ có 30%G cho rằng,nhận thức của h c sinh với chủ
    đề STEM: “Nước tẩy rửa sinh h c từ rác thải hữu cơ” ở chương trình THPT ở
    mức tốt và rất tốt; có tới 60% thầy cô cho là bình thƣờng và không tốt. Đây
    sẽ là cơ sở thực tế quan tr ng để đưa ra những giải pháp tăng cường công tác
    chỉ đạo, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của h c sinh với vấn đề giáo dục
    STEM cũng như ý thức bảo vệ môi trường, tái sử dụng ngu n rác
    Khảo sát về những giải pháp của G để nâng cao hiệu quả giáo dục
    STEM ở trường THPT thì có đến 26% GV thƣờng xuyên dạy h c các môn h c
    theo phương pháp giáo dục STEM; chỉ có 14% GV thƣờng xuyên tổ chức các
    hoạt động trải nghiệm trong chương tr nh giáo dục STEM; chỉ có 8% GV
    thƣờng xuyên tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa h c, k thuật, tham gia ngày
    hội STEM. Còn đa số G chỉ thỉnh thoảng, hoặc không quan tâm tới vấn đề
    này. Điều đó cho thấy G chưa quan tâm đúng mức và còn e ngại, lúng túng,
    chưa nâng cao ý thức trách nhiệm khi thực hiện giáo dục STEM ở nhà trường;
    sự hạn chế trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Ban giám hiệu trường THPT về
    giáo dục STEM.
    2.2. Đối với học sinh:
    Tôi sử dụng 803 phiếu điều tra cho toàn bộ HS Trường THPT Nguyễn
    Trường Thúy tỉnh Nam Định để có thêm căn cứ thực tiễn về nhận thức của h c
    sinh với việc dạy h c định hướng giáo dục STEM chủ đề “Nước tẩy rửa sinh
    h c từ rác thải hữu cơ”
    8
    Phiếu khảo sát số 1:
    Kết quả khảo sát cho thấy, có 94% các gia đ nh chưa bao giờ sử dụng
    các loại nước tẩy rửa sinh h c, 5% các gia đ nh được khảo sát thỉnh thoảng
    mới sử dụng nước tẩy rửa sinh h c được bán trên thị trường,chỉ có 1% số gia
    đ nh thường xuyên sử dụng các loại nước tẩy rửa sinh h c (nước tẩy rửa hữu
    cơ) được bán trên thị trường. Không có hộ gia đ nh nào sử dụng các loại nước
    tẩy rửa hữu cơ tự làm.
    PHIẾU KHẢO SÁT SỐ 1
    Để chuẩn bị xây dựng cho chủ đề dạy h c STEM các em HS vui lòng điền
    vào phiếu khảo sát sau:
    1. Mức độ sử dụng nước tẩy rửa sinh h c của gia đ nh các em?
    Thường xuyên , Thỉnh thoảng , Chưa bao giờ
    2. Lí do gia đ nh các em không sử dụng nước tẩy rửa sinh h c?
    Không biết làm , Không biết độ an toàn
    Trên thị trường ít bán , Các sản phẩm tẩy rửa hóa h c tiễn ích hơn
    9
    Thường Xuyên
    1% Thỉnh thoảng
    5%
    Chưa bao giờ
    94%
    0%
    MỨC ĐỘ SỬ DỤNG
    Thường Xuyên Thỉnh thoảng Chưa bao giờ
    Biều đồ khảo sát thực trạng sử dụng các loại chất tẩy rửa.
    Biều đồ khảo sát lí do không sử dụng chất tẩy rửa sinh học.
    * Phân tích thực trạng và nguyên nhân việc sử dụng các loại nước tẩy
    rửa:
    Sau khi chúng em điều tra lý do v sao các gia đ nh không sử dụng các
    chất tẩy rửa hữu cơ th nhận được các ý kiến khác nhau như:
    + Không biết làm như thế nào.
    + Không biết độ an toàn của sản phẩm.
    + Thị trường ít bán và giá thành của các lại nước tẩy rửa hữu cơ cao
    10
    + Các sản phẩm khác (sản phẩm tẩy rửa hóa h c) tiện ích hơn: rẻ, dễ
    mua…
    PHIẾU KHẢO SÁT SỐ 2
    Em hãy cho biết ý kiến của bản thân bằng cách khoanh tròn vào chữ số
    tương ứng trong các câu hỏi sau:
    Câu 1: Theo em, dạy h c STEM chủ đề “Nước tẩy rửa sinh h c từ rác
    thải hữu cơ” có vị trí, vai trò như thế nào đối với h c sinh ở trường THPT?

    1. Không quan trọng2. Bình thƣờng
    3. Quan trọng3. Rất quan trọng
    Câu 2: Trong các giờ h c ở các môn khoa h c tự nhiên em có quan tâm,
    chú ý tới những chủ đề dạy h c STEM không?
    Có chú ýKhông chú ý

    Câu 3: Em tự đánh giá nhận thức của bản thân m nh như thế nào về giáo
    dục STEM chủ đề “Nước tẩy rửa sinh h c từ rác thải hữu cơ” ở trường THPT ?

    Rất tốtTrung bìnhKémRất kém
    Câu 4: Em có thường xuyên sưu tầm tài liệu, thực hiện các yêu cầu của
    G để h c các chủ đề STEM không?
    Thƣờng xuyênThỉnh thoảngKhông bao giờ

    * Bảng : Kết quả khảo sát HS phiếu số 2:

    Câu
    hỏi
    Các mức độ
    1234
    SL%SL%SL%SL%
    19612%24931%34543%11314%
    234142,546257,5%
    3769,5%33341,5%28936%10513%
    475994,5%445,5%
    58410,5%58272,513717%

    Phân tích kết quả khảo sát:
    Ở câu hỏi số 1: Có 57% HS khẳng định, giáo dục STEM có vị trí, vai trò
    quan trọng và rất quan trọng đối với h c sinh ở trường THPT Tuy nhiên, vẫn
    còn 43% HS xem nhẹ (bình thường; không quan trọng) phương pháp dạy h c
    này.
    Đối với câu hỏi số 2: 42,5% HS đã quan tâm, chú ý tới những chủ đề
    dạy h c STEM trong các giờ h c, nhưng vẫn còn tới 57,5% HS không chú ý
    việc này
    Trong câu hỏi 3: Chỉ có 9,5% HS tự đánh giá, nhận thức của bản thân
    m nh về dạy h c STEM chủ đề “Nước tẩy rửa sinh h c từ rác thải hữu cơ” ở
    trường THPT rất tốt; 41,5% tự nhận ở mức trung bình; có tới 49% tự nhận ở
    mức kém và rất kém Điều này khá tương đ ng với đánh giá của G và cũng
    sẽ là cơ sở thực tế quan tr ng để đưa ra những giải pháp tăng cường công tác
    chỉ đạo, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của h c sinh với giáo dục STEM
    cũng như ý thức bảo vệ môi trường, tái sử dụng ngu n rác
    11
    Kết quả khảo sát ở câu hỏi 4 cho thấy: Chỉ có 10,5% HS thƣờng xuyên
    sưu tầm tài liệu, thực hiện các yêu cầu của G để h c các chủ đề STEM; đa số
    HS (72%) thỉnh thoảng mới thực hiện yêu cầu này và 17% HS không bao giờ
    thực hiện
    Dựa trên các kết quả, số liệu trên cùng với kinh nghiệm các năm tham
    gia công tác giảng dạy và một số năm triển khai giáo dục STEM có thể nhận
    thấy một thực tế rằng: Giáo dục STEM là giải pháp cần thiết nhằm tích hợp
    các l nh vực khoa giúp h c sinh không chỉ hiểu biết về nguyên lý mà còn có
    thể áp dụng để thực hành và tạo ra được những sản phẩm trong cuộc sống
    hằng ngày. Phương pháp dạy h c định hướng giáo dục STEM giúp HS tiếp
    thu được kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ và toán học chắc chắn;
    rèn khả năng sáng tạo, tư duy logic; giảm gánh nặng về tâm lí học tập khô
    khan và quá tải đối với học sinh Phương pháp này có thể kích thích ở mức
    cao nhất tính tích cực h c tập của h c sinh, không chỉ giúp h c sinh l nh hội
    kiến thức mà còn rèn luyện được k năng nhận thức, k năng tiếp cận, phát hiện
    và giải quyết vấn đề ở nhiều góc độ khác nhau, k năng giao tiếp, tăng cường
    khả năng suy ngh độc lập,kết hợp với hoạt động tập thể để phát huy tối đa tính
    sáng tạo…Giúp cho việc hình, phát triển phẩm chất và năng lực toàn diện ở
    người học.
    12
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI CÓ SÁNG KIẾN
    1. NẮM CHẮC BẢN CHẤT VỀ GIÁO DỤC STEM VÀ CÁC
    PHƢƠNG PHÁP, KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
    1.1. Khái niệm
    STEM là thuật ngữ viết tắt của các từ Science (Khoa h c), Technology
    (Công nghệ), Engineering (K thuật) và Mathematics (Toán h c), thường được
    sử dụng khi bàn đến các chính sách phát triển về Khoa h c, Công nghệ, K
    thuật và Toán h c của m i quốc gia Thuật ngữ này lần đầu tiên được giới thiệu
    bởi Quỹ Khoa h c Mỹ vào năm 2001
    ới những tiếp cận khác nhau, giáo dục STEM sẽ được hiểu và triển khai
    theo những cách khác nhau Các nhà lãnh đạo và quản lý đề xuất các chính
    sách để thúc đẩy giáo dục STEM, quan tâm tới việc chuẩn bị ngu n nhân lực
    đáp ứng yêu cầu của sự phát triển khoa h c, công nghệ Người làm chương
    tr nh quán triệt giáo dục STEM theo cách quan tâm tới nâng cao vai trò, vị trí,
    sự phối hợp giữa các môn h c có liên quan trong chương tr nh Giáo viên thực
    hiện giáo dục STEM thông qua hoạt động dạy h c để kết nối kiến thức h c
    đường với thế giới thực, giải quyết các vấn đề thực tiễn, để nâng cao hứng thú,
    để h nh thành và phát triển năng lực và phẩm chất cho h c sinh
    Nhìn chung, khi đề cập tới STEM, giáo dục STEM, cần nhận thức và
    hành động theo cả hai cách hiểu sau đây:
    Một là, TƯ TƯỞNG (chiến lược, định hướng) giáo dục, bên cạnh định
    hướng giáo dục toàn diện, THÚC ĐẨY giáo dục 4 l nh vực: Khoa h c, Công
    nghệ, Kỹ thuật, Toán với mục tiêu định hướng và chuẩn bị ngu n nhân lực đáp
    ứng nhu cầu ngày càng tăng của các ngành nghề liên quan, nhờ đó, nâng cao
    sức cạnh tranh của nền kinh tế
    Hai là, phương pháp TIẾP CẬN LIÊN MÔN (khoa h c, công nghệ, kỹ
    thuật, toán) trong dạy h c với mục tiêu: (1) nâng cao hứng thú h c tập các môn
    h c thuộc các l nh vực Khoa h c, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán; (2) vận dụng
    kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đề thực tiễn; (3) kết nối trường h c và
    cộng đ ng; (4) định hướng hành động, trải nghiệm trong h c tập; (5) h nh thành
    và phát triển năng lực và phẩm chất người h c
    1.2. Dạy học các môn học thuộc lĩnh vực STEM
    – Đây là h nh thức tổ chức giáo dục STEM chủ yếu trong nhà trường
    trung h c Giáo viên thiết kế các bài h c STEM để triển khai trong quá trình
    dạy h c các môn h c thuộc chương trình giáo dục phổ thông theo hướng tiếp
    cận tích hợp nội môn hoặc tích hợp liên môn.
    – Nội dung bài h c STEM bám sát nội dung chương trình của các môn
    h c nhằm thực hiện chương tr nh giáo dục phổ thông theo thời lượng quy định
    của các môn h c trong chương trình.
    – H c sinh thực hiện bài h c STEM được chủ động nghiên cứu sách giáo
    khoa, tài liệu h c tập để tiếp nhận và vận dung kiến thức thông qua các hoạt
    động: lựa ch n giải pháp giải quyết vấn đề; thực hành thiết kế, chế tạo, thử
    nghiệm mẫu thiết kế; chia sẻ, thảo luận, hoàn thiện hoặc điều chỉnh mẫu thiết
    kế dưới sự hướng dẫn của giáo viên
    13
    1.3. Chu trình STEM
    Mối quan hệ giữa Khoa h c, Công nghệ, K thuật, Toán h c trong sự
    phát triển của khoa h c – k thuật được thể hiện khái quát trong chu trình STEM
    dưới đây
    Science
    (Khoa h c)

    TechnologyMathematicKnowledge
    (Công nghệ)(Toán h c)(Kiến thức)
    Engineering
    (K thuật)

    Chu tr nh trên đây bao g m hai quy tr nh sáng tạo: Quy tr nh khoa h c và
    Quy tr nh k thuật
    Quy trình khoa học: Xuất phát từ các ý tưởng khoa h c, với sự h trợ
    của các công nghệ hiện tại, với công cụ toán h c, các nhà khoa h c khám phá
    ra tri thức mới Để thực hiện công việc đó, các nhà khoa h c thực hiện quy
    tr nh: câu hỏi – giả thuyết – kiểm chứng – kết luận Kết quả là phát minh ra kiến
    thức mới cho nhân loại
    Quy trình kĩ thuật: Xuất phát từ vấn đề hay đòi hỏi của thực tiễn, các
    nhà công nghệ sử dụng kiến thức khoa h c, toán h c sáng tạo ra giải pháp công
    nghệ ứng dụng các kiến thức khoa h c đó để giải quyết vấn đề Để thực hiện
    việc này, các nhà công nghệ thực hiện quy tr nh: vấn đề – giải pháp – thử
    nghiệm – kết luận Kết quả là sáng chế ra các sản phẩm, công nghệ cho xã hội
    Hai quy tr nh nói trên tiếp nối nhau, khép kín thành chu tr nh sáng tạo
    khoa h c – k thuật theo mô h nh “xoáy ốc” mà cứ sau m i chu tr nh th lượng
    kiến thức khoa h c tăng lên và cùng với nó là công nghệ phát triển ở tr nh độ
    cao hơn
    1.4. Quy trình xây dựng bài học STEM
    Bước 1: Lựa chọn nội dung dạy học
    Căn cứ vào nội dung kiến thức trong chương tr nh môn h c và các hiện
    tượng, quá tr nh gắn với các kiến thức đó trong tự nhiên, xã hội; quy tr nh hoặc
    thiết bị công nghệ ứng dụng kiến thức đó trong thực tiễn để lựa ch n nội dung
    của bài h c
    Bước 2: Xác định vấn đề cần giải quyết
    Xác định vấn đề cần giải quyết để giao cho h c sinh thực hiện sao cho
    khi giải quyết vấn đề đó, h c sinh phải h c được những kiến thức, k năng cần
    14
    dạy trong chương tr nh môn h c đã được lựa ch n hoặc vận dụng những kiến
    thức, kỹ năng đã biết để xây dựng bài h c
    Bước 3: Xây dựng tiêu chí của sản phẩm/giải pháp giải quyết vấn đề
    Xác định rõ tiêu chí của giải pháp/sản phẩm làm căn cứ quan tr ng để đề
    xuất giả thuyết khoa h c/giải pháp giải quyết vấn đề/thiết kế mẫu sản phẩm
    Bước 4: Thiết kế tiến trình tổ chức hoạt động dạy học.
    Tiến tr nh tổ chức hoạt động dạy h c được thiết kế theo các phương pháp
    và k thuật dạy h c tích cực với các hoạt động h c bao hàm các bước của quy
    tr nh k thuật
    M i hoạt động h c được thiết kế rõ ràng về mục đích, nội dung, dự kiến
    sản phẩm h c tập mà h c sinh phải hoàn thành và cách thức tổ chức hoạt động
    h c tập Các hoạt động h c tập đó có thể được tổ chức cả ở trong và ngoài lớp
    h c (ở trường, ở nhà và cộng đ ng)
    Cần thiết kế bài h c điện tử trên mạng để hướng dẫn, h trợ hoạt động h c
    của h c sinh bên ngoài lớp h c
    1.5. Thiết kế tiến trình dạy học
    – Tiến tr nh bài h c STEM tuân theo quy tr nh k thuật, nhưng các bước
    trong quy tr nh có thể không cần thực hiện một cách tuần tự mà thực hiện song
    song, tương h lẫn nhau Hoạt động nghiên cứu kiến thức nền có thể được tổ
    chức thực hiện đ ng thời với việc đề xuất giải pháp; hoạt động chế tạo mẫu có
    thể được thực hiện đ ng thời với việc thử nghiệm và đánh giá Trong đó, bước
    này vừa là mục tiêu vừa là điều kiện để thực hiện bước kia.
    – M i bài h c STEM có thể được tổ chức theo 5 hoạt động dưới đây
    Trong đó, hoạt động 4 và 5 được tổ chức thực hiện một cách linh hoạt ở trong
    và ngoài lớp h c theo nội dung và phạm vi kiến thức của từng bài h c
    – M i hoạt động phải được mô tả rõ mục đích, nội dung, dự kiến sản
    phẩm hoạt động của h c sinh và cách thức tổ chức hoạt động
    – Nội dung hoạt động có thể được biên soạn thành các mục chứa đựng
    các thông tin như là nguyên liệu, kèm theo các lệnh hoặc yêu cầu hoạt động để
    h c sinh t m hiểu, gia công trí tuệ để giải quyết vấn đề đặt ra trong hoạt động;
    cách thức tổ chức hoạt động thể hiện phương pháp dạy h c, mô tả cách thức tổ
    chức từng mục của nội dung hoạt động để h c sinh đạt được mục đích tương
    ứng
    15
    Hoạt động 1: Xác định vấn đề
    Giáo viên giao cho h c sinh nhiệm vụ h c tập chứa đựng vấn đề Trong đó,
    h c sinh phải hoàn thành một sản phẩm h c tập hoặc giải quyết một vấn đề cụ thể
    với các tiêu chí đòi hỏi h c sinh phải sử dụng kiến thức mới trong bài h c đế để
    xuất, xây dựng giải pháp Tiêu chí của sản phẩm là yêu cầu hết sức quan tr ng,
    buộc h c sinh phải nắm vững kiến thức mới thiết kế, giải thích được thiết kế cho
    sản phẩm cần làm
    a. Chuyển giao nhiệm vụ
    – Nhiệm vụ ban đầu giao cho h c sinh có thể là yêu cầu t m hiểu cấu tạo và
    giải thích nguyên tắc hoạt động của một thiết bị công nghệ; t m hiểu và giải thích
    về một quy tr nh sản xuất với ý đ làm xuất hiện vấn đề cần nghiên cứu để “cải
    tiến” thiết bị hoặc quy tr nh đó
    – Trong trường hợp cần thiết, quá tr nh chuyển giao nhiệm vụ cho bao g m
    việc giới thiệu về các kiến thức khoa h c có liên quan và được sử dụng trong t nh
    huống, quy tr nh hay thiết bị công nghệ mà h c sinh phải t m hiểu
    – Nhiệm vụ ban đầu giao cho h c sinh phải đảm bảo tính vừa sức để lôi cuốn
    được h c sinh tham gia thực hiện; tránh những nhiệm vụ quá dễ hoặc quá khó,
    không tạo được hứng thú đối với h c sinh.
    b. Học sinh hoạt động tìm tòi, nghiên cứu
    H c sinh thực hiện hoạt động t m hiểu về quy tr nh/thiết bị được giao để thu
    thập thông tin, xác định vấn đề cần giải quyết và kiến thức có liên quan cần sử
    dụng để giải quyết vấn đề
    c. Báo cáo và thảo luận

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Vận dụng dạy hoc STEM để phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho học sinh THPT phần sinh học vi sinh vật – sinh học 10

    SKKN Vận dụng dạy hoc STEM để phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho học sinh THPT phần sinh học vi sinh vật – sinh học 10

    PHẦN I: ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    I. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
    I.1.Xuất phát từ mục tiêu đổi mới giáo dục và đào tạo của nước ta trong giai
    đoạn hiện nay.
    Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đặt ra thách thức rất lớn cho Việt Nam
    nói chung và ngành giáo dục nói riêng buộc phải có những thay đổi căn bản,
    toàn diện và đột phá để có thể phát triển cùng thời đại.
    Trong văn kiện của Đại hội Đảng XIII vừa qua đã chỉ rõ cần: “Đổi mới
    mạnh mẽ và đồng bộ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức
    giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển năng lực và phẩm chất của
    người học”. Trên cơ sở xác định đúng, trúng mục tiêu đổi mới giáo dục, đào tạo,
    công khai mục tiêu, chuẩn “đầu vào”, “đầu ra” của từng bậc học, môn học,
    chương trình, ngành và chuyên ngành đào tạo, thì việc tiếp theo là đổi mới
    chương trình khung các môn học và nội dung của nó theo hướng phát triển
    mạnh năng lực và phẩm chất người học, bảo đảm hài hòa đức, trí, thể, mỹ; thực
    hiện tốt phương châm mới: Dạy người, dạy chữ và dạy nghề (trước đây là dạy
    chữ, dạy người, dạy nghề).
    Đổi mới PPDH ở trường phổ thông là một trong những nhiệm vụ hết sức
    quan trọng. Hiện nay, vấn đề đổi mới PPDH (trong đó có đổi mới PPDH Sinh
    học) đã được thể chế hóa trong Luật Giáo dục nước CHXHCN Việt Nam:
    “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
    sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng
    phương pháp tự học, kĩ năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng
    kiến thức vào thực tiễn, năng lực nghiên cứu khoa học; tác động đến tình cảm,
    đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”. Chương trình giáo dục phổ thông
    2018 cũng xây dựng dựa trên quan điểm giáo dục tiếp cận năng lực, tập trung
    vào phát triển các năng lực cần thiết để học sinh có thể thành công trong cuộc
    sống cũng như trong công việc.
    I.2. Xuất phát từ tính ưu việt của dạy học STEM
    Giáo dục STEM là một cách tiếp cận liên ngành trong quá trình học, trong
    đó các khái niệm học thuật mang tính nguyên tắc được lồng ghép với các bài
    học trong thế giới thực, ở đó người học áp dụng các kiến thức trong khoa học,
    công nghệ, kỹ thuật và toán vào trong các bối cảnh cụ thể, giúp kết nối giữa
    trường học, cộng đồng, nơi làm việc và các tổ chức toàn cầu, để từ đó phát triển
    các năng lực trong lĩnh vực STEM và cùng với đó có thể cạnh tranh trong nền
    7
    kinh tế mới. Giáo dục STEM có thể tạo ra những con người có thể đáp ứng được
    nhu cầu công việc của thế kỷ mới có tác động lớn đến sự thay đổi nền kinh tế.
    Nhiều công trình nghiên cứu trong thời gian qua đã chỉ rõ giáo dục STEM
    hướng người học đến việc chủ động chiếm lĩnh kiến thức và hình thành những
    kĩ năng, những năng lực cần thiết thông qua quá trình hoạt động tích cực tìm
    hiểu, giải quyết những vấn đề do GV hoặc GV cùng HS đưa ra chính vì thế giáo
    dục Stem đã đáp ứng các yêu cầu đổi mới về mục tiêu dạy học và phương pháp
    dạy học, góp phần tích cực trong việc thực hiện hóa nội dung Nghị quyết số
    29/NQ-TƯ Hội nghị trung ương 8 khóa XI của Đảng ta.
    Trong những năm học gần đây Bộ giáo dục đào tạo đã tổ chức ngày hội
    STEM cùng diễn ra trong khuôn khổ cuộc thi Khoa học kĩ thuật, đây là một sân
    chơi khoa học để thúc đẩy phong trào NCKH của học sinh THPT. Thông qua đó
    cũng thấy được vai trò to lớn của giáo dục STEM trong các nhà trường phổ
    thông.
    I.3. Xuất phát từ yêu cầu và thực trạng phát triển năng lực NCKH cho HS
    trung học phổ thông ở nước ta
    Việc phát triển năng lực NCKH cho HS giúp các em có thể tích cực, chủ
    động, sáng tạo để tự trang bị cho mình những tri thức cần thiết cho đời sống
    trong thời đại ngày nay.Phát triển năng lực NCKH cho HS sẽ giúp rút ngắn
    khoảng cách giữa giáo dục phổ thông với giáo dục đại học. Bên cạnh đó, việc
    phát triển NL NCKH cho học sinh còn góp phần hình thành và bồi dưỡng những
    phẩm chất cần thiết của người lao động mới: đó là tính kiên trì, nhẫn nại, khắc
    phục khó khăn, tìm tòi sáng tạo, khách quan, chính xác. Phát triển NL NCKH
    cho HS là vấn đề mới đặt ra và rất cần thiết. Vấn đề này đã được ghi rõ trong nội
    dung Nghị quyết số 29 /NQ-TƯ Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng ta.
    Về đặc điểm nội dung môn Sinh học ở trường phổ thông: Sinh học là môn
    khoa học thực nghiệm thuộc nhóm nghành Khoa học tự nhiên. Đối tượng nghiên
    cứu của Sinh học là thế giới sinh vật gần gũi với đời sống hằng ngày của HS. Do
    vậy dạy học Sinh học cần phải gắn với thực tiễn, HS phải biết vận dụng kiến
    thức , kĩ năng đã học vào thực tiễn cuộc sống như vận dụng trong trồng trọt,
    chăn nuôi, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bản thân, gia đình và cộng đồng, nâng
    cao chất lượng cuộc sống….Do vậy trong quá trình dạy học môn Sinh học GV
    giữ vai trò là người hướng dẫn, tổ chức các hoạt động; HS là chủ thể hoạt động
    thu nhận kiến thức, hình thành kĩ năng, năng lực cốt lõi và chuyên biệt trong đó
    có năng lực NCKH. Tuy nhiên, hiện nay, ở Việt Nam các nghiên cứu vận dụng
    8
    dạy học Stem để phát triển NLNCKH cho HS trong dạy học sinh học chưa
    nhiều.
    Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi đã thiết kế và áp dụng trong dạy
    học sáng kiến: “Vận dụng dạy học STEM để phát triển năng lực nghiên cứu
    khoa học cho học sinh trung học phổ thông phần Sinh học vi sinh vật- Sinh học
    10”
    II. Mục đích nghiên cứu
    Xây dựng được quy trình tổ chức dạy học theo chủ đề STEM dưới dạng
    đề tài KHKT để phát triển NL NCKH cho HS THPT.
    Xây dựng một số chủ đề STEM dưới dạng đề tài NCKH trong dạy học
    phần vi sinh vật – Sinh học 10 để phát triển NL NCKH cho HS THPT.
    III. Đối tượng nghiên cứu.
    – Dạy học Stem, quy trình tổ chức dạy học chủ đề Stem, năng lực nghiên
    cứu khoa học, quy trình vận dụng dạy học Stem để phát triển NL NCKH.
    – Vận dụng dạy học theo chủ đề Stem trong dạy học phần Vi sinh vậtSinh học 10 để phát triển NLNCKH cho HS THPT. Đặc biệt là các kĩ năng quan
    trọng là: phát hiện vấn đề nghiên cứu; diễn đạt tên đề tài nghiên cứu; lập giả
    thuyết nghiên cứu; viết đề cương nghiên cứu; tổ chức thực hiện đề tài nghiên
    cứu; thu thập và xử lí số liệu nghiên cứu; viết báo cáo và thực hiện báo cáo kết
    quả nghiên cứu.
    IV. Phương pháp nghiên cứu
    – Phương pháp quan sát, điều tra, phỏng vấn.
    – Phương pháp thống kê số liệu.
    – Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa.
    – Phương pháp thực nghiệm.
    – Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
    V. Phạm vi áp dụng
    Tại một số trường THPT – Tỉnh Nam Định.
    Trường THPT Tân Lang- Phù Yên – Sơn La.
    Trường THPT Trường Thi – Thanh Hóa.
    VI. Đóng góp của đề tài
    – Làm sáng tỏ được cơ sở lý luận và thực tiễn về dạy học Stem nói chung
    và việc vận dụng dạy học Stem trong dạy học phần Vi sinh vật- Sinh học 10 để
    phát triển năng lực NCKH.
    -Xác định cấu trúc NL NCKH, tiêu chí đánh giá NLNCKH.
    9
    – Xây dựng được hệ thống chủ đề Stem và vận dụng dạy học Stem để phát
    triển NLNCKH.Xây dựng được nguyên tắc, quy trình vận dụng dạy học Stem để
    phát triển NLNCKH cho HS trong dạy học sinh học – THPT.
    – Xây dựng được bảng tiêu chí đánh giá kết quả vận dụng dạy học Stem để
    phát triển NLNCKH cho HS trong dạy học sinh học – THPT.
    PHẦN II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    A. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Thực trạng công tác dạy và học môn Sinh học theo hướng phát triển
    năng lực nghiên cứu khoa học cho HS tại trường THPT Lý Nhân Tông.
    I. Ưu điểm
    – Đội ngũ giáo viên dạy Sinh học có trình độ đạt chuẩn, đặc biệt các giáo
    viên Vật lí, Hóa học và Sinh học tích cực trao đổi, thảo luận và xây dựng các đề
    tài Khoa học kĩ thuật tích hợp, liên môn.
    – Học sinh trường Lý Nhân Tông sống ở vùng nông thôn, các em có điều
    kiện tiếp xúc, quan sát với thực vật, động vật, vi sinh vật…, từ đó nảy sinh nhiều
    ý tưởng khoa học trong quá trình học tập.
    – Về điều kiện dạy học: nhà trường đã có phòng học bộ môn Sinh học với
    các trang thiết bị cần thiết.
    – Trong những năm gần đây Sở GD& ĐT Nam Định thường xuyên tổ chức
    Cuộc thi KHKT và Ngày hội Stem, tại trường THPT Lý Nhân Tông ban giám
    hiệu tạo điều kiện và luôn khuyến khích các giáo viên đầu tư, hướng dẫn học
    sinh tham gia.
    II. Nhược điểm.
    – Nhiều năm qua, việc xây dựng nội dung sách giáo khoa cũng như các loại
    sách bài tập tham khảo của giáo dục nước ta nhìn chung còn mang tính hàn lâm,
    kinh viện nặng về thi cửchưa chú trọng đến tính sáng tạo, năng lực thực hành,
    nghiên cứu khoa học và hướng nghiệp cho học sinh. Phương thức kiểm tra đánh
    giá chủ yếu qua bài kiểm tra trắc nghiệm một sự lựa chọn đúng duy nhất nên HS
    có thể giải thành thạo các bài tập định tính, định lượng, nhưng học sinh ít biết
    những ứng dụng của Sinh học trong đời sống và sản xuất. Chính vì vậy không
    thể đạt được mục tiêu vận dụng kiến thức tổng hợp đã học, khả năng sáng tạo
    của học sinh mà còn làm học sinh lúng túng trong việc giải quyết một số tình
    huống thực tiễn cụ thể, học sinh chưa khám phá hết năng lực của bản thân, chưa
    chủ động trong việc học tập, khả năng sáng tạo và vận dụng kiến thức để giải
    10
    quyết tình huống thực tiễn cuộc sống, khả năng nghiên cứu khoa học còn hạn
    chế.
    – Mặt khác chương trình hiện hành còn gây khó cho GV trong việc biên
    soạn chủ đề tích hợp liên môn, dự án khoa học kĩ thuật …
    – Đối tượng HS trường Lý Nhân Tông có đầu vào thấp, đa số các em có học
    lực trung bình và khá, nên học sinh ít quan tâm học môn Sinh học do nội dung
    Sinh học THPT kiến thức hàn lâm, trừu tượng, ít nằm trong tổ hợp bộ môn xét
    cao đẳng, đại học ở ngành nghề các em lựa chọn. Hàng năm có khoảng 5 đến 10
    HS ôn thi khối B có liên quan đến môn Sinh học. Nhiều HS thụ động trong học
    tập và chưa có phương pháp học hiệu quả.
    – Bản thân tôi đã tiếp cận Chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 tuy
    nhiên việc thực hành áp dụng các phương pháp giáo dục tích cực của GV còn
    chưa thường xuyên và chưa phát huy hết tính chủ động, sáng tạo của học sinh
    với vai trò HS là người chủ động học tập. Dạy học định hướng phát triển năng
    lực NCKH sinh còn khá mới mẻ trong nhà trường, HS chưa vận dụng kiến thức,
    kĩ năng được học giải quyết vấn đề thực tiễn, chế tạo ra các sản phẩm khoa học
    kĩ thuật ứng dụng trong đời sống. Mặt khác việc dạy học theo định hướng Stem
    nhằm phát triển năng lực NCKH hiệu quả cần có nhiều thời gian, phương tiện
    hiện đại, các điều kiện để khai thác nguồn tài nguyên học tập và ứng dụng giải
    quyết vấn đề thực tiễn.
    B.Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến.
    CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN
    I.1. Định hướng chung về đổi mới phương pháp dạy học
    Tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS là một trong những nhiệm vụ
    chủ yếu của người GV trong quá trình dạy học theo hướng đổi mới PPDH trong
    giai đoạn hiện nay. Quan điểm dạy học hướng vào người học, hay dạy học phát
    huy tính tích cực của người học có thể coi như là những hình thức biểu đạt khác
    nhau của cùng một quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm, trong đó ý
    tưởng cốt lõi là cần phải phát huy hứng thú học tập, tính tích cực, tự lực và sáng
    tạo của người học.
    Nếu giáo dục truyền thống được coi là giáo dục theo nội dung, tập trung
    vào việc tích lũy kiến thức, chứ không hướng tới việc rèn luyện năng lực tự
    khám phá để chiếm lĩnh kiến thức. Đánh giá của giáo dục truyền thống cũng tập
    trung đo lường kiến thức thông qua các bài thi viết và nói. Giáo dục theo tiếp
    cận năng lực tập trung vào phát triển các năng lực cần thiết để HS có thể thành
    công trong cuộc sống cũng như trong công việc.
    11
    Trong những thập kỷ gần đây với sự phát triển mạnh của khoa học kĩ
    thuật cũng như tri thức, giáo dục nếu chỉ hướng tới việc nắm vững kiến thức là
    không đủ, bởi kiến thức hôm qua còn mới thì hôm nay đã trở thành lạc hậu. Do
    đó, nhiều hệ thống giáo dục đã hướng tới việc giáo dục để người học có đủ kĩ
    năng làm chủ kiến thức và sử dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề trong
    khoa học cũng như trong thực tế. Khi mục tiêu và hình thái giáo dục chuyển đổi
    thì PPDH và đánh giá cũng thay đổi theo. Các hệ thống giáo dục tiên tiến đã áp
    dụng PPDH theo năng lực thay vì học theo tiếp cận nội dung kiến thức. Dạy học
    theo tiếp cận phát triển năng lực là hướng tiếp cận tập trung vào đầu ra của quá
    trình dạy và học, trong đó nhấn mạnh người học cần đạt được các mức năng lực
    như thế nào sau khi kết thúc một chương trình giáo dục. Nói cách khác, chất
    lượng đầu ra đóng vai trò quan trọng nhất đối với dạy học theo tiếp cận năng
    lực. Điều này có nghĩa là để chương trình dạy học theo tiếp cận năng lực có hiệu
    quả, cần phải bắt đầu với bức tranh rõ ràng về năng lực cần thiết mà người học
    cần phải đạt được, tiếp đến là xây dựng và phát triển chương trình dạy và học,
    sau đó dạy học và xây dựng các phương pháp đánh giá nhằm đảm bảo rằng mục
    đích của giáo dục theo tiếp cận năng lực đạt được mục tiêu đầu ra. Có thể thấy,
    yếu tố quan trọng của giáo dục năng lực là xây dựng được các tiêu chuẩn đầu ra
    rõ ràng thể hiện rõ mục tiêu của giáo dục, thiết lập được các điều kiện và cơ hội
    để khuyến khích người học có thể đạt được các mục tiêu ấy. Đây cũng chính là
    mục tiêu mà Chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 hướng tới.
    Tiếp cận phát triển NLNCKH cho học sinh THPT phù hợp với định
    hướng đổi mới trong PPDH.
    I.2. Năng lực và năng lực nghiên cứu khoa học
    I.2.1. Năng lực
    Theo chúng tôi, hoàn toàn nhất trí với khái niệm năng lực mà chương trình
    giáo dục phổ thông tổng thể 2018 đã đưa ra“Năng lực là thuộc tính cá nhân
    được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện,
    cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính
    cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại
    hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.”
    I.2.2. Phân loại năng lực
    Mới đây, Bộ GD-ĐT đã ban hành “Chương trình giáo dục phổ thông tổng
    thể”. Theo đó, chương trình giáo dục phổ thông đã chỉ rõ chú trọng hình thành
    và phát triển cho HS những phẩm chất và năng lực như sau:
    12
    I.2.3. Năng lực nghiên cứu khoa học(NL NCKH)
    Mục tiêu giáo dục khoa học đó là tạo ra các thế hệ nhà khoa học tiếp theo,
    hoặc tạo ra những người biết sử dụng kiến thức khoa học – một năng lực mà tất
    cả các cá nhân sẽ cần trong cuộc đời của mình.
    Năng lực nghiên cứu khoa học theo PISA được thể hiện qua việc HS có
    kiến thức khoa học và sử dụng kiến thức để nhận ra các vấn đề khoa học, giải
    thích các hiện tượng khoa học và rút ra các kết luận trên cơ sở chứng cứ về các
    vấn đề liên quan đến khoa học; Hiểu những đặc tính của khoa học như một dạng
    tri thức của loài người và là hoạt động tìm tòi, khám phá của con người; Nhận
    thức được vai trò của khoa học; Sẵn sàng tham gia – như một công dân tích cực,
    vận dụng hiểu biết khoa học vào giải quyết các vấn đề liên quan.
    13
    Theo A. Šeberová, năng lực NCKH là một hệ thống mở và không ngừng
    phát triển, bao gồm các kiến thức tuyên bố và kiến thức quy trình trong lĩnh vực
    nghiên cứu, các thái độ và sự sẵn sàng của cá nhân cho phép các nhà khoa học
    thực hiện nghiên cứu trong khuôn khổ hoạt động nghề nghiệp của họ .
    Như vậy, nói một cách tổng quát, cũng như mọi NL khác, NLNCKH bao
    gồm 3 thành tố chủ yếu: kiến thức phương pháp luận NCKH, kĩ năng NCKH và
    thái độ NCKH.
    Trong phạm vi sáng kiến, chúng tôi đề xuất quy trình hình thành và phát
    triển một số kĩ năng NCKH cơ bản cho HS THPT với nội dung cụ thể ở hình
    dưới đây.
    Cụ thể:
    a. Kĩ năng xác định vấn đề, ý tưởng nghiên cứu
    Trong quá trình nghiên cứu, đọc và thu thập tài liệu, chúng ta phát hiện
    hoặc nhận ra các “vấn đề” và đặt ra nhiều câu hỏi cần nghiên cứu (phát triển
    “vấn đề” rộng hơn để nghiên cứu). Đôi khi người nghiên cứu thấy một điều gì
    đó chưa rõ ràng trong những nghiên cứu trước (hoài nghi khoa học) và muốn
    chứng minh lại. Đây là tình huống quan trọng nhất để xác định “vấn đề” nghiên
    cứu.
    Trong các hội nghị chuyên đề, báo cáo khoa học,… đôi khi có những bất
    đồng, tranh cải và tranh luận khoa học đã giúp cho các nhà khoa học nhận thấy
    14
    được những mặt yếu, mặt hạn chế của “vấn đề” tranh cải và từ đó người nghiên
    cứu nhận định, phân tích lại và chọn lọc rút ra “vấn đề” cần nghiên cứu.
    Trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên,
    qua hoạt động thực tế lao động sản xuất, yêu cầu kĩ thuật, mối quan hệ trong xã
    hội, cư xử,… làm cho con người không ngừng tìm tòi, sáng tạo ra những sản
    phẩm tốt hơn nhằm phục vụ cho nhu cầu đời sống con người trong xã hội.
    Những hoạt động thực tế này đã đặt ra cho người nghiên cứu các câu hỏi hay
    người nghiên cứu phát hiện ra các “vấn đề” cần nghiên cứu.
    Tính tò mò của chúng ta về điều gì đó cũng đặt ra các câu hỏi hay “vấn
    đề” nghiên cứu. Khi đã xác định được “vấn đề” nghiên cứu, thì trong đầu óc của
    người nghiên cứu sẽ xuất hiện hàng loạt các ý tưởng nghiên cứu. Như vậy, vấn
    đề nghiên cứu đóng vai trò là cơ sở, là tiền đề để hình thành ý tưởng nghiên cứu.
    Đối với HS THPT, chúng tôi xin đề xuất quy trình hình thành và phát triển
    kĩ năng này gồm các bước sau đây:
    Bước 1: Hướng dẫn HS quan sát, phân tích, tổng hợp thực tiễn, phát hiện
    các vấn đề cần quan tâm giải quyết là tiền đề hình thành ý tưởng nghiên cứu.
    Đây có thể nói là bước khó khăn nhất, dựa vào sở thích và nhu cầu muốn
    tìm hiểu của HS về những điều đang xảy ra trong cuộc sống hay muốn thực hiện
    một ý tưởng đã nhen nhóm từ lâu nhưng chưa được định hình rõ ràng.
    Bước 2: Hướng dẫn HS chọn lựa được vấn đề cấp thiết cần giải quyết, hình
    thành ý tưởng nghiên cứu.
    Sau khi đã phát hiện ra vấn đề cần quan tâm giải quyết vốn có phạm vi
    nghiên cứu rất rộng, căn cứ vào tình hình thực tiễn và tính cấp thiết để thu
    hẹpvấn đề sao cho vừa sức với HS và có thể giải đáp, sáng tỏ được thông qua
    hoạt động NCKH phù hợp trình độ HS THPT.
    Bước 3: Hướng dẫn HS biến vấn đề cần giải quyết thành ý tưởng nghiên
    cứu.
    Đây là bước hết sức quan trọng để hình thành đề tài nghiên cứu ở bước tiếp
    theo. Tuy nhiên, lựa chọn được ý tưởng đúng đắn nhất trong vô số các ý tưởng
    là một vấn đề khó khăn đối với HSPT. Vì vậy, GV cần tư vấn cho các em để lựa
    chọn được ý tưởng đúng.
    b. Kĩ năng xác định tên đề tài nghiên cứu
    Cần phân biệt tên đề tài nghiên cứu với vấn đề nghiên cứu: Vấn đề nghiên
    cứu là sự khác biệt giữa hiện tại và điều mong đợi trong khi tên đề tài nghiên
    cứu lại tập trung vào phương pháp giải quyết vấn đề. Do vậy, tên đề tài nghiên
    15
    cứu thường liên quan chặt chẽ với mục tiêu, đối tượng và phương pháp nghiên
    cứu.
    Tên đề tài nghiên cứu thường là một ngữ danh từ (nên được gọi là tên) hay
    là thường bắt đầu bằng một động từ hành động. Tên đề tài nghiên cứu phải ngắn
    gọn nhưng phải rõ ràng, phải phản ánh được mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và
    phương pháp nghiên cứu. Vì vậy, việc xác định tên đề tài nghiên cứu một cách
    hợp lí là rất quan trọng.
    Chúng tôi xin đề xuất quy trình hình thành và phát triển kĩ năng này cho
    HS gồm các bước sau đây:
    Bước 1: Hướng dẫn HS thử đề xuất tên đề tài (tên đề tài nghiên cứu phải
    phản ánh mối liên quan chặt chẽ giữa mục tiêu, đối tượng và phương pháp
    nghiên cứu).
    Bước 2: Điều chỉnh (điều chỉnh câu văn diễn đạt tên đề tài sao cho ngắn
    gọn và rõ ràng).
    Bước 3: Xác định tên đề tài chính thức.
    Nội dung nghiên cứu của một đề tài khoa học được phản ánh một cách cô
    đọng nhất trong tiêu đề của nó. Tên của đề tài cần có tính đơn nghĩa, khúc chiết,
    rõ ràng, không dẫn đến những sự hiểu lầm, hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau hay
    hiểu mập mờ. Đối với HS THPT, có lẽ đây là vấn đề gây nhiều lúng túng bởi tư
    duy trong ngôn ngữ khoa học của HS chưa cao và do thói quen sử dụng ngôn từ
    thường quá dễ dãi trong sinh hoạt hay trong giao tiếp thường ngày là nguyên
    nhân chính.
    c. Kĩ năng xây dựng giả thuyết nghiên cứu
    Giả thuyết nghiên cứu là một mệnh đề khẳng định quan hệ giữa một hay
    nhiều yếu tố với vấn đề nghiên cứu. Giả thuyết nghiên cứu được tạo ra nhằm
    mục đích để phát hiện ra quy luật, giải thích nguyên nhân tồn tại hoặc sáng tạo
    ra các phương pháp mới, đưa ra giải pháp tối ưu, nguyên lý mới. Giả thuyết
    nghiên cứu là những dự đoán có căn cứ khoa học về những đặc điểm, bản chất,
    mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng được nghiên cứu hay dự đoán về kết quả
    nghiên cứu.
    Đối với HS THPT, chúng tôi xin đề xuất quy trình hình thành và phát triển
    kĩ năng này gồm các bước sau đây:
    Bước 1: Xây dựng đáp ứng cấu trúc của giả thuyết nghiên cứu
    Về mặt chức năng của giả thuyết thì có thể phân loại giả thuyết như là: Mô
    tả hay giải thích. Có giả thuyết đơn giản tóm lược ngắn các hiện tượng khảo sát,
    mô tả những dạng liên hệ chung, loại khác nêu ra kết quả có thể từ những sự
    16
    kiện và điều kiện xác lập. Cấu trúc giả thuyết phức tạp thì mang đồng thời sự
    mô tả các hiện tượng khảo sát và giải thích quan hệ nhân quả.
    – Giả thuyết có thể có ba thành phần: Khẳng định – Giả định – Cơ sởkhoa
    học.
    Ví dụ như có thể xây dựng giả thuyết theo các kiểu sau:
    a. Quá trình A sẽ như sau …
    b. Nếu làm theo A thì sẽ là B …
    – Giả thuyết có thể xây dựng theo cách khác, khi cơ sở ở dạng rõ rệt vốn
    chưa có. Như vậy, sẽ có hai thành phần: Thành phần A: Điều đó sẽ hiệu quả… ;
    Thành phần B: Nếu như: một là … hai là… (Nếu như….thì sẽ….).
    Cấu trúc hai thành phần đó có thể có, khi sự khẳng định và sự giả định đều
    hoà lẫn nhau ở dạng khẳng định có tính giả thuyết. Ví dụ: “Điều đó phải thế
    này… vì có những nguyên nhân sau…”
    Bước 2: Xây dựng đáp ứng các tiêu chí của giả thuyết nghiên cứu
    * Giả thuyết nghiên cứu không được có lôgic trái ngược nhau, có nghĩa là:
    – Giả thuyết nghiên cứu có một hệ thống ý kiến giữa chúng không phủ định
    nhau về logic hay hình thức.
    – Giả thuyết nghiên cứu không đối lập với những sự kiện đã có.
    – Giả thuyết nghiên cứu phải phù hợp với những quy luật khoa học đã xác
    lập hay sẽ xác lập.
    * Giả thuyết nghiên cứu phải chứa đựng dự đoán và mở ra cái mới trong
    khoa học, có sự liên hệ kiến thức khoa học cũ và mới, có thể kiểm chứng được
    trong thực tế.
    d. Kĩ năng lập kế hoạch nghiên cứu
    Mọi công trình nghiên cứu cần phải có quy trình và kế hoạch (Kế hoạch
    tổng thể và từng giai đoạn của quá trình nghiên cứu). Những quy trình và kế
    hoạch này phải được hoạch định (trước khi tiến hành nghiên cứu) trong đề
    cương nghiên cứu. Đề cương nghiên cứu là một tài liệu mà trong đó nhà khoa
    học đề nghị cương lĩnh hay chương trình làm việc. Đây là tài liệu quan trọng
    nhất trong một công trình nghiên cứu, vì qua đó mà cơ quan tài trợ có thể xét
    duyệt tính khả thi và cấp kinh phí. Do đó, người viết(tức nhà khoa học) cần phải
    suy nghĩ rất cẩn thận, có hệ thống và sử dụng ngôn ngữ thật chính xác.
    Đối với HS THPT, chúng tôi xin đề xuất quy trình hình thành và phát triển
    kĩ năng này gồm các bước sau đây:
    17
    Bước 1: Xây dựng đề cương nghiên cứu thể hiện kế hoạch tổng thể và từng
    giai đoạn của quá trình nghiên cứu. Đây là bước quan trọng để giúp định hướng
    triển khai cụ thể trong các bước sau.
    Bước 2 : Xây dựng đáp ứng cấu trúc của một đề cương nghiên cứu
    Một đề cương nghiên cứu bao gồm những nội dung gì? Trả lời câu hỏi này
    còn tuỳ thuộc vào “văn hoá” và quy định địa phương. Tuy nhiên, đối với đối
    tượng HS THPT thì yêu cầu cần có của một đề cương nghiên cứu bao gồm:
    Lý do chọn đề tài
    Mục đích nghiên cứu của đề tài;
    Giả thuyết nghiên cứu
    Nhiệm vụ nghiên cứu
    Phương pháp nghiên cứu
    Những đóng góp (dự kiến) của đề tài
    Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
    Cấu trúc dự kiến của đề tài
    Kế hoạch thực hiện
    Kinh phí dự trù và yêu cầu hợp tác (Nếu có)
    Bước 3: Xây dựng đáp ứng các tiêu chí của đề cương nghiên cứu
    Sau khi đã hoạch định đủ cấu trúc cần chau chuốt lại để đề cương nghiên
    cứu đáp ứng 5 tiêu chí sau:
    Trong sáng: tránh những câu văn rườm rà, những từ khó hiểu.
    Đơn giản: dùng từ ngữ dễ hiểu, chính xác và câu văn ngắn gọn.
    Chính xác: định lượng hoá nội dung thông tin. Tránh những từ ngữ lập lờ.
    Khách quan: tránh viết phi cảm tính và khó hiểu.
    Logic: sắp xếp ý tưởng một cách có trước có sau và khúc chiết.
    e. Kĩ năng thu thập dữ liệu
    NCKH hiện đại phải dựa vào những dữ liệu thực nghiệm. Vì thế, việc thu
    thập dữ liệu là công đoạn rất quan trọng, yêu cầu cần phải có kĩ năng sử dụng
    các phương pháp nghiên cứu đặc thù của đề tài. Người nghiên cứu phải có kĩ
    năng tổ chức thu thập dữ liệu sao cho đảm bảo tính khách quan khoa học, biết
    cách phối hợp các phương pháp thu thập truyền thống và hiện đại một cách hiệu
    quả.
    Đối với HS THPT, chúng tôi xin đề xuất quy trình hình thành và phát triển
    kĩ năng này gồm các bước sau đây:
    Bước 1: Chọn lựa và sử dụng các phương pháp thu thập dữ liệu đặc thù.
    18
    Bước 2: Phối hợp các phương pháp thu thập dữ liệu một cách hiệu quả. Khi
    đã có trong tay các phương pháp thu thập dữ liệu thì điều quan trọng tiếp theo là
    các em cần phải biết cách phối hợp khéo léo. Phương pháp truyền thống hay
    hiện đại đều có những ưu nhược điểm riêng và cần được sử dụng phối kết hợp
    để mang lại hiệu quả và độ tin cậy cao.
    Bước 3: Tổ chức thu thập dữ liệu đảm bảo tính khách quan khoa học Giữa
    các công đoạn thu thập dữ liệu cần phải đảm bảo tính khách quan khoa học,
    công đoạn nào sử dụng phương pháp nào là hợp lý nhất, để tránh những kết quả
    mang nặng tính chủ quan và sai lệch.
    Mọi dữ liệu thu thập được cần được ghi chép tỉ mỉ, cẩn thẩn và chính xác
    vào sổ tay hay máy tính cá nhân,..để phục vụ tốt cho các công đoạn tiếp theo.
    f. Kĩ năng phân tích và tổng hợp dữ liệu
    Phân tích dữ liệu nhằm mục đích làm nổi bật những đặc điểm, đặc tính,
    tính chất của đối tượng nghiên cứu (nghiên cứu mô tả) hoặc nhằm giúp người
    nghiên cứu kiểm chứng giả thuyết (nghiên cứu giải thích).
    Đối với HS THPT, chúng tôi xin đề xuất quy trình hình thành và phát triển
    kĩ năng này gồm các bước sau đây:
    Bước 1: Lựa chọn, sử dụng các phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu phù
    hợp
    Bước 2: Phối hợp các phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu truyền thống
    và hiện đại một cách hiệu quả
    Bước 3: Xâu chuỗi, tổng hợp các dữ liệu đã được tìm ra để dần đi đến kết
    quả nghiên cứu.
    g. Kĩ năng phê phán, lập luận, viết và báo cáo khoa học
    * Kĩ năng phê phán
    Kĩ năng phê phán dựa trên sự đối chiếu giữa kiến thức hiện hành với thực
    tế khách quan, để phát hiện ra sự bất lực của kiến thức hiện hành trong việc lý
    giải thực tế. Khoa học hiện đại dựa trên nguyên lý là kiến thức của nhân loại thì
    luôn lạc hậu với thực tế. Vì vậy, nhân loại luôn luôn phải phát hiện ra những chỗ
    khiếm khuyết đó để không ngừng bổ sung kiến thức mới, bằng cách “phải chấp
    nhận việc xem xét lại lý thuyết, dù cho nó đã hoàn chỉnh đến đâu chăng nữa” .
    * Kĩ năng lập luận
    NCKH dựa trên nền tảng thuyết phục bằng các lập luận và chứng minh.
    Những lập luận phải dựa trên cơ sở khoa học đã được giới khoa học công nhận,
    chứ không phải dựa trên cảm nghĩ chủ quan, hay trên ý kiến của đám đông. kĩ
    năng lập luận chẳng những giúp nhà khoa học xây dựng luận điểm của mình
    19
    một cách chặt chẽ, thuyết phục, mà còn có thể giúp họ phát hiện ra những bất
    cập giữa lý thuyết và thực tế, làm nền tảng cho những phát hiện khoa học có ý
    nghĩa.
    * Kĩ năng viết báo cáo khoa học (Báo cáo tổng kết)
    Một công trình nghiên cứu phải được thể hiện bằng một bản báo cáo khoa
    học (Báo cáo tổng kết). Việc trình bày bài viết đòi hỏi nhà nghiên cứu phải có kĩ
    năng diễn đạt, viết những gì cần viết, thể hiện chính xác bản chất của sự việc sao
    cho người đọc nào cũng hiểu giống nhau. Chúng tôi xin đề xuất bố cục nội dung
    bản báo cáo khoa học của HS gồm có:
    1. Trang bìa: Trình bày theo thứ tự từ trên xuống:
    1.1. Tên đơn vị chủ trì thực hiện nhiệm vụ
    1.2. Tên nhiệm vụ KHCN
    1.3. Tên người chủ trì thực hiện, các thành viên tham gia
    1.4. Địa danh và tháng, năm kết thúc nhiệm vụ.
    II. Nội dung báo cáo
    1. Mục lục
    2. Ký hiệu và viết tắt (nếu có).
    3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
    3.1. Cơ sở pháp lý/xuất xứ của đề tài
    3.2. Tính cấp thiết và mục tiêu nghiên cứu của đề tài
    3.3. Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu
    3.4. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước (liên quan đến
    nội dung nghiên cứu của đề tài). Cơ sở lý thuyết (nếu cần thiết).
    4. Thực nghiệm
    4.1. Phương pháp thực nghiệm
    4.2. Thiết bị, dụng cụ, nguyên vật liệu, hoá chất cho thực nghiệm
    4.3. Kết quả và thảo luận.
    5. Kết luận và kiến nghị
    6. Tài liệu tham khảo
    7. Phụ lục (nếu có)
    h. Kĩ năng trình bày báo cáo khoa học
    Thông thường, nội dung cơ bản của một báo cáo khoa học (mục đích, đối
    tượng, phương pháp, kết quả, thảo luận, kết luận, đề nghị) được trình bày ngắn
    gọn, cô đọng trong khoảng 15-20 phút. Việc soạn bài thuyết trình tuy không
    khó, nhưng không phải hoàn toàn đơn giản, nhất là đối với HS. Bài thuyết trình
    dựa chủ yếu vào bài viết, nhưng không phải là bản sao nguyên vẹn của bài viết.
    20
    Thời gian chuẩn bị có thể rất ngắn, từ vài ngày đến một tuần, song để có được kĩ
    năng thuyết trình trước đám đông, cần phải sớm rèn luyện ngay từ khi có thể.
    Để hình thành và phát triển nhóm kĩ năng này, có thể theo các bước sau
    đây:
    Bước 1: Lập luận chặt chẽ, thuyết phục dựa trên cơ sở khoa học.
    Bước 2: Phê phán dựa trên sự đối chiếu giữa kiến thức hiện hành với thực
    tế khách quan, để phát hiện ra sự bất lực của kiến thức hiện hành trong lý giải
    thực tế.
    Bước 3: Viết bài báo cáo đầy đủ bố cục
    Bước 4: Viết bài báo cáo đáp ứng các tiêu chuẩn khoa học
    Bước 5: Trình bày bài báo cáo trước hội đồng phải tự tin, ngắn gọn và chặt
    chẽ.
    Trong SKKN, chúng tôi thực hiện đánh giá đầy đủ 7 kĩ năng nói trên.
    I.3. Dạy học Stem.
    I.3.1. Khái niệm STEM
    STEM là thuật ngữ viết tắt của các từ Science (Khoa học), Technology
    (Công nghệ), Engineering (Kĩ thuật) và Mathematics (Toán học), thường được
    sử dụng khi bàn đến các chính sách phát triển về Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật
    và Toán học của mỗi quốc gia. Sự phát triển về Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật
    và Toán học được mô tả bởi chu trình STEM (Hình 1), trong đó Science là quy
    trình sáng tạo ra kiến thức khoa học; Engineering là quy trình sử dụng kiến thức
    khoa học để thiết kế công nghệ mới nhằm giải quyết các vấn đề; Toán là công cụ
    được sử dụng để thu nhận kết quả và chia sẻ kết quả đó với những người khác.
    Hình 1:Chu trình STEM (theo https://www.knowatom.com)
    Engineers: Solve problems
    (Kỹ sư: Giải quyết vấn đề)
    Scientists: answer questions
    (Nhà khoa học: Trả lời câu hỏi)
    Science
    Engineering
    Technology Math Knowledge
    the STEM cycle
    21
    “Science” trong chu trình STEM được mô tả bởi một mũi tên từ “Technology”
    sang “Knowledge” thể hiện quy trình sáng tạo khoa học. Đứng trước thực tiễn
    với “Công nghệ” hiện tại, các nhà khoa học, với năng lực tư duy phản biện, luôn
    đặt ra những câu hỏi/vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ, đó là
    các câu hỏi/vấn đề khoa học. Trả lời các câu hỏi khoa học hoặc giải quyết các
    vấn đề khoa học sẽ phát minh ra các “Kiến thức” khoa học. Ngược lại,
    “Engineering” trong chu trình STEM được mô tả bởi một mũi tên từ
    “Knowledge” sang “Technology” thể hiện quy trình kĩ thuật. Các kĩ sư sử dụng
    “Kiến thức” khoa học để thiết kế, sáng tạo ra công nghệ mới. Như vậy, trong
    chu trình STEM, “Science” được hiểu không chỉ là “Kiến thức” thuộc các môn
    khoa học (như Vật lí, Hoá học, Sinh học) mà bao hàm “Quy trình khoa học” để
    phát minh ra kiến thức khoa học mới. Tương tự như vậy, “Engineering” trong
    chu STEM không chỉ là “Kiến thức” thuộc lĩnh vực “Kĩ thuật” mà bao hàm”Quy
    trình kĩ thuật” để sáng tạo ra “Công nghệ” mới. Hai quy trình nói trên tiếp nối
    nhau, khép kín thành chu trình sáng tạo khoa học – kĩ thuật theo mô hình “xoáy
    ốc” mà cứ sau mỗi chu trình thì lượng kiến thức khoa học tăng lên và cùng với
    nó là công nghệ phát triển ở trình độ cao hơn.
    I.3.2. Giáo dục STEM
    Phỏng theo chu trình STEM, giáo dục STEM đặt học sinh trước những vấn
    đề thực tiễn (“công nghệ” hiện tại) cần giải quyết, đòi hỏi học sinh phải tìm tòi,
    chiếm lĩnh kiến thức khoa học và vận dụng kiến thức để thiết kế và thực hiện
    giải pháp giải quyết vấn đề (“công nghệ” mới). Như vậy, mỗi bài học STEM sẽ
    đề cập và giao cho học sinh giải quyết một vấn đề tương đối trọn vẹn, đòi hỏi
    học sinh phải huy động kiến thức đã có và tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức mới để
    sử dụng. Quá trình đó đòi hỏi học sinh phải thực hiện theo “Quy trình khoa học”
    (để chiếm lĩnh kiến thức mới) và “Quy trình kĩ thuật” để sử dụng kiến thức đó
    vào việc thiết kế và thực hiện giải pháp (“công nghệ” mới) để giải quyết vấn đề.
    Đây chính là sự tiếp cận liên môn trong giáo dục STEM, dù cho kiến thức mới
    mà học sinh cần phải học để sử dụng trong một bài học STEM cụ thể có thể chỉ
    thuộc một môn học.
    Như vậy, giáo dục STEM là một phương thức giáo dục nhằm trang bị cho
    học sinh những kiến thức khoa học gắn liền với ứng dụng của chúng trong thực
    tiễn, qua đó phát triển cho học sinh năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cùng
    với những năng lực khác tương ứng, đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển
    kinh tế – xã hội. Các mức độ áp dụng giáo dục STEM trong giáo dục phổ thông
    như sau:
    22
    a. Dạy học các môn học theo phương thức giáo dục STEM
    Đây là hình thức tổ chức giáo dục STEM chủ yếu trong nhà trường. Theo
    cách này, các bài học, hoạt động giáo dục STEM được triển khai ngay trong quá
    trình dạy học các môn học STEM theo tiếp cận liên môn. Các chủ đề, bài học,
    hoạt động STEM bám sát chương trình của các môn học thành phần. Hình thức
    giáo dục STEM này không làm phát sinh thêm thời gian học tập.
    b. Tổ chức các hoạt động trải nghiệm STEM
    Trong hoạt động trải nghiệm STEM, học sinh được khám phá các ứng dụng
    khoa học, kỹ thuật trong thực tiễn đời sống. Qua đó, nhận biết được ý nghĩa của
    khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học đối với đời sống con người, nâng cao
    hứng thú học tập các môn học STEM. Đây cũng là cách thức để thu hút sự quan
    tâm của xã hội tới giáo dục STEM.
    Để tổ chức thành công các hoạt động trải nghiệm STEM, cần có sự tham
    gia, hợp tác của các bên liên quan như trường trung học, cơ sở giáo dục nghề
    nghiệp, các trường đại học, doanh nghiệp.
    Trải nghiệm STEM còn có thể được thực hiện thông qua sự hợp tác giữa
    trường trung học với các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Theo
    cách này, sẽ kết hợp được thực tiễn phổ thông với ưu thế về cơ sở vật chất của
    giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.
    Các trường trung học có thể triển khai giáo dục STEM thông qua hình thức
    câu lạc bộ. Tham gia câu lạc bộ STEM, học sinh được học tập nâng cao trình độ,
    triển khai các dự án nghiên cứu, tìm hiểu các ngành nghề thuộc lĩnh vực STEM.
    Đây là hoạt động theo sở thích, năng khiếu của học sinh.
    c. Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học, kĩ thuật
    Giáo dục STEM có thể được triển khai thông qua hoạt động nghiên cứu
    khoa học và tổ chức các cuộc thi sáng tạo khoa học kỹ thuật. Hoạt động này
    không mang tính đại trà mà dành cho những học sinh có năng lực, sở thích và
    hứng thú với các hoạt động tìm tòi, khám phá khoa học, kỹ thuật giải quyết các
    vấn đề thực tiễn.

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Tích hợp liên môn theo định hướng giáo dục STEM STEAM trong dạy học chủ đề Vi sinh vật Sinh học 10 Trung học phổ thông nhằm phát triển năng lực người học

    SKKN Tích hợp liên môn theo định hướng giáo dục STEM / STEAM trong dạy học chủ đề Vi sinh vật – Sinh học 10 – Trung học phổ thông nhằm phát triển năng lực người học

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Xuất phát từ nhu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay
    Hiện nay, đất nước ta đang trên đà hội nhập với thế giới. Chính vì vậy,
    giáo dục phải nhanh chóng đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục
    nguồn nhân lực tương hong o đất nước. Nghị quyết hội nghị lần thứ 8, Ban
    chấp hành trung ương khóa XI (nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản
    toàn diện giáo dục và đào tạo sau 2015 đã định hướng rõ ràng rằng: “Phát triển
    giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
    Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn
    diện năng lực và phẩm chất người học.”
    Nằm trong lộ trình đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra,
    đánh giá ở các trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của học
    sinh, Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo các cơ sở giáo dục tăng cường bồi dưỡng, nâng cao
    năng lực cho đội ngũ giáo viên sẵn sàng đáp ứng mục tiêu đổi mới, trong đó
    tăng cường năng lực dạy học theo hướng “tích hợp, liên môn”. [1]
    Dạy học tích hợp liên môn theo định hướng giáo dục STEM/STEAM là
    phương pháp dạy học tích cực đang rất được quan tâm hiện nay. Giáo dục
    STEM là một phương pháp dạy học nhằm hình thành năng lực thuộc các lĩnh
    vực Khoa học (Science), Công nghệ (Technology), Kỹ thuật (Engineering),
    Toán học (Mathematics) cho học sinh hong qua các đề tài, các bài học, các chủ
    đề có nội dung thực tiễn. Giáo dục STEAM là áp dụng tư duy hon tạo cho các
    dự án STEM, kích thích trí tưởng tượng và hon tạo của trẻ hong qua nghệ
    thuật. Nó cũng khám phá nơi nghệ thuật tự nhiên phù hợp với các môn
    học STEM [12].
    2. Xuất phát từ ưu điểm của việc dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn
    theo định hướng giáo dục STEM/STEAM
    Xu hướng hiện nay của khoa học chính là tiếp tục phân hóa sâu song song
    với tích hợp liên môn, liên ngành ngày càng rộng. Học các chủ đề tích hợp liên
    môn học sinh được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các
    2
    tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc. Điều quan
    trọng hơn là các chủ đề tích hợp liên môn giúp cho các em không phải học lại
    nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, vừa gây quá
    tải, nhàm chán, vừa không có được sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng
    ứng dụng của kiến thức vào thực tiễn [9].
    Tuy nhiên, trên thực tế, việc dạy học Sinh học vẫn còn mang tính hàn lâm,
    nặng lý thuyết làm cho học sinh ngại học, lười tư duy, thiếu sáng tạo. Vì vậy, để
    giúp cho người học yêu thích bộ môn, không còn cảm thấy nặng nề, khó tiếp thu
    và sợ học thì việc dạy học THLM theo định hướng giáo dục STEM/STEAM là
    hoàn toàn phù hợp với định hướng đổi mới căn bản toàn diện giáo dục ở Việt
    Nam.
    3. Xuất phát từ đặc điểm của kiến thức phần ba: Sinh học vi sinh vật –
    Sinh học 10 trung học phổ thông và thực trạng dạy học Sinh học 10 ở các
    trường THPT
    Sinh học là bộ môn khoa học thực nghiệm ứng dụng các kiến thức nền
    tảng của các môn khoa học cơ bản như Toán, Lý, Hóa… Vì những đặc trưng như
    trên, việc dạy học Sinh học ở trường phổ thông không thể tách rời, cô lập với việc
    giảng dạy các môn khoa học khác hay thực tiễn đời sống. Dạy học tích hợp liên
    môn là GV để HS nghiên cứu các hiện tượng, nguyên lý và các quá trình Sinh học
    trong mối liên hệ với các ngành khoa học khác (Toán, Lý, Hóa,…) [6].
    Xu hướng hiện nay trong dạy học Sinh học nói riêng và trong các lĩnh vực
    khoa học nói chung, người ta cố gắng trình bày cho HS thấy mối liên hệ hữu cơ
    giữa các lĩnh vực, không chỉ giữa Sinh học với nhau mà còn giữa các ngành
    khoa học khác nhau như Hóa học, Toán học, Vật lý…. Nội dung phần Sinh học
    Vi sinh vật có nhiều kiến thức liên quan đến thực tiễn. Hiểu biết về một số quá
    trình sinh học cơ bản ở vi sinh vật (VSV) sẽ là cơ sở để các em vận dụng giải
    quyết các vấn đề thực tiễn đời sống, biết bảo vệ sức khỏe và bảo vệ môi trường.
    Qua đó học sinh mới thực sự phát triển năng lực tư duy, hon tạo, và giúp việc
    tiếp thu kiến thức được vững chắc và nhớ lâu [2].
    3

    Từ các lý do nêu trên đã gợi cho người viết mạnh dạn viết báo cáo
    kiến với đề tài:
    hon

    Tích hợp liên môn theo định hướng giáo dục STEM/STEAM trong dạy học
    chủ đề Vi sinh vật – Sinh học 10 trung học phổ thông
    nhằm phát triển năng lực người học
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    A. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    1. Thực trạng công tác dạy và học tích hợp liên môn theo định hướng giáo
    dục STEM/STEAM ở trường phổ thông
    Để tìm hiểu thực trạng về dạy học THLM theo định hướng giáo dục
    STEM/STEAM, người viết đã tiến hành khảo sát thực tiễn ở một số trường
    THPT trong và ngoài tỉnh Nam Định trong những năm học gần đây. Quá trình
    được triển khai cụ thể như sau:
    – Đối tượng khảo sát: giáo viên và học sinh khối 10 ở một số trường THPT.
    – Kế hoạch tiến hành: Soạn phiếu điều tra, tiếp xúc, phỏng vấn và điều tra
    xin ý kiến giáo viên và học sinh.
    – Nội dung khảo sát:
    + Nhận thức thái độ của giáo viên, học sinh về việc dạy học THLM theo
    định hướng giáo dục STEM/STEAM
    + Thực trạng mức độ dạy học Sinh học với thực tiễn.
    – Các phương pháp điều tra, khảo sát:
    + Thu thập ý kiến của giáo viên, học sinh về thực tiễn dạy học THLM theo
    định hướng giáo dục STEM/STEAM qua phiếu điều tra khảo sát.
    + Phỏng vấn học sinh lớp 10 về nhu cầu, nguyện vọng học tập.
    + Dự giờ, quan sát hoạt động dạy – học trên lớp của giáo viên và học sinh.
    (Chi tiết phiếu điều tra và kết quả thu được đính kèm phần phụ lục 1)
    2. Phân tích ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân hạn chế
    2.1. Ưu điểm:
    – Thông qua cuộc điều tra, chúng tôi nhận thấy các GV rất có ý thức trong
    việc nghiên cứu đổi mới phương pháp, vận dụng quan điểm THLM theo định
    4
    hướng giáo dục STEM/STEAM vào dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục
    cũng như có những nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng và hiệu quả của việc
    sử dụng THLM trong dạy học nói chung. Cụ thể, trong quá trình dạy môn Sinh
    học, phần lớn giáo viên (83%) thường xuyên cho học sinh sử dụng kiến thức vào
    giải quyết vấn đề có trong thực tiễn. Việc giao nhiệm vụ hoạt động nhóm cho
    HS cũng diễn ra khá thường xuyên (75.5%). (Bảng 1.1, phụ lục 1)
    – Số lượng giáo viên thường xuyên thiết kế các hoạt động dạy học theo định
    hướng giáo dục STEM/STEAM trong quá trình dạy học chiếm tỷ lệ khá khiêm
    tốn là 20%. Thực tế, qua trò chuyện các GV đã rất quan tâm tới việc hướng dẫn
    HS vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn, định hướng hứng thú
    ở người học. Tuy nhiên, việc thiết kế các hoạt động dạy học để HS tạo ra các sản
    phẩm hay định hướng sản phẩm trong quá trình hướng dẫn HS vận dụng kiến
    thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn chưa được nhiều GV quan tâm hay thực
    hiện. Điều này cũng có thể hiểu rằng HS chưa có nhiều cơ hội được học tập trải
    nghiệm. Các hoạt động định hướng hứng thú, vận dụng kiến thức vào thực tiễn
    mới chỉ dừng ở mức độ lí thuyết là chính.
    – Kết quả khảo sát đánh giá về ưu điểm, lợi thế của dạy học THLM đối
    với hoạt động học tập của học sinh cho thấy, đa phần GV đánh giá ưu điểm, lợi
    thế của giáo dục theo định hướng THLM đối với hoạt động học tập của học sinh
    giúp HS “Phát triển được năng lực sáng tạo” (95% ý kiến đánh giá), và “Giải
    quyết vấn đề thực tế” (92.5% lựa chọn). Đồng thời các ý kiến cũng xoay quanh
    ưu điểm, lợi thế của giáo dục theo định hướng THLM như: Hiểu bài và tiếp thu
    kiến thức dễ dàng; Rèn luyện được kĩ năng thực hành; Phát triển được năng lực
    tư duy. (Bảng 1.2, phụ lục 1)
    – Đối với HS hầu hết các em đều nhận thấy các chủ đề tích hợp liên môn
    theo định hướng giáo dục STEM/STEAM có tính thực tiễn nên sinh động, hấp
    dẫn, tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho các em. Cơ hội được học tập trải
    nghiệm, vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn rất thu hút sự
    quan tâm của HS. Qua quan sát và nói chuyện với HS chúng tôi nhận được
    những chia sẻ: “Chúng em thích học theo phương pháp mới đặc biệt là được
    5
    tham gia các trò chơi trong quá trình học tập”. Một số HS đã được tham gia học
    tập các chủ đề THLM theo định hướng giáo dục STEM/STEAM thì cho rằng:
    “Chúng em thích học theo chủ đề THLM vì qua đó chúng em được thầy cô cung
    cấp thêm kiến thức của nhiều môn học khác như Vật lí, Hóa học, Công nghệ,
    Giáo dục công dân, …”, “Chúng em tự tin hơn, kỹ năng giao tiếp, tổ chức sự
    kiện tốt hơn, có cơ hội thể hiện sự sáng tạo, cái “tôi” của bản thân”. (Bảng 1.2,
    phụ lục 1)
    2.2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế
    Thông qua điều tra, chúng tôi nhận thấy rằng việc dạy học theo chủ đề
    THLM theo định hướng giáo dục STEM/STEAM ở trường THPT còn nhiều
    hạn chế. Cụ thể:
    – Việc dạy học theo chủ đề THLM chưa được sử dụng rộng rãi trong dạy
    học nói chung và dạy học Sinh học nói riêng. GV vẫn dạy học theo từng bài với
    các nội dung kiến thức rời rạc và chủ yếu sử dụng những những phương pháp
    dạy học truyền thống như thuyết trình, vấn đáp nên quá trình học tập trở nên
    nhàm chán và hiệu quả không cao.
    – Hầu hết GV đã ý thức được việc dạy học theo các chủ đề THLM theo
    định hướng giáo dục STEM/STEAM là cần thiết để phát triển năng lực của HS
    nhưng để áp dụng vào quá trình dạy học thì còn gặp rất nhiều hạn chế do: nội
    dung chương trình, thời lượng chương trình, kiến thức hàn lâm còn nhiều, cách
    thức kiểm tra đánh giá chưa phù hợp. Hiện nay chưa có SGK cụ thể mang tính
    tích hợp nên việc xây dựng các chủ đề TH chủ yếu do ý kiến chủ quan của từng
    cá nhân. Hơn nữa, qua phỏng vấn, GV đôi khi vẫn còn lúng túng trong việc phân
    biệt hoạt động thí nghiệm – thực hành (TN – TH) với giáo dục STEM, chưa thật
    hiểu rõ yếu tố Art(A) trong giáo dục STEAM. Điều này cũng góp phần tạo nên
    sự hiểu biết chưa đầy đủ về dạy học theo chủ đề THLM theo định hướng giáo
    dục STEM/STEAM và hiệu quả quá trình dạy học không cao.
    – Chương trình học hiện tại quá ôm đồm quá nhiều thứ, thiếu thực hành,
    chủ yếu là cung cấp kiến thức lí thuyết, nhiều HS không theo kịp chương trình
    vì kiến thức quá nặng và học quá nhiều môn. Trong một tiết học phải dạy nhiều
    6
    nội dung vì lo sợ cháy giáo án, không truyền tải hết nội dung của bài mà nhiều
    GV không thể thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính
    tích cực của HS.
    – Giáo viên và học sinh chưa khắc phục được thói quen, nhận thức dạy
    học theo lối truyền thống, nặng về lý thuyết và coi nhẹ thực hành ứng dụng.
    – Học sinh chưa ý thức được nhiệm vụ học tập của mình, chưa tích cực tư duy
    suy nghĩ, chưa tìm tòi cho mình những phương pháp học tập phù hợp để biến tri thức
    của thầy thành của mình. Do đó sau giờ học các em nắm bắt kiến thức chưa tốt,
    nhanh quên và thiếu đi các kĩ năng tư duy, sáng tạo, ứng dụng thực tiễn.
    B. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    1. Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp
    Sáng kiến hoàn toàn mới, được áp dụng lần đầu tiên tại đơn vị trường
    THPT Trần Hưng Đạo; đã được triển khai, áp dụng được tại một số đơn vị
    trường trong và ngoài tỉnh Nam Định; có thể nhân rộng ở các trường THPT nói
    chung.
    Tính sáng tạo của giải pháp:
    – Chưa có đề tài nghiên cứu nào đưa ra cụ thể từng bước trong dạy học
    THLM theo định hướng giáo dục STEM/STEAM bắt đầu từ việc Nâng cao
    nhận thức của người dạy Phân tích chương trình Sinh học đang giảng dạy 
    Liệt kê những nội dung kiến thức THLM  Hệ thống các hoạt động dạy học
    THLM theo định hướng giáo dục STEM/STEAM  Thiết kế chủ đề dạy học
    THLM theo định hướng giáo dục STEM/STEAM.
    – Sáng kiến đã phân tích cấu trúc và nội dung phần Sinh học Vi sinh vật –
    Sinh học 10, và mối quan hệ giữa nội dung, chương trình phần vi sinh vật để dạy
    học THLM theo định hướng giáo dục STEM/STEAM.
    – Sáng kiến đã liệt kê được những nội dung kiến thức sử dụng để THLM
    theo định hướng giáo dục STEM/STEAM trong phần Vi sinh vật.
    – Sáng kiến đã phân biệt rõ bài thực hành – thí nghiệm với giáo dục STEM;
    phân tích, làm rõ yếu tố A(Art – nghệ thuật); đưa ra giải pháp kết hợp, tăng
    7
    cường với yếu tố Eng.(English – tiếng Anh) trong dạy học THLM theo định
    hướng giáo dục STEM/STEAM; hệ thống một số website hỗ trợ dạy và học trực
    tuyến.
    – Sáng kiến đã hệ thống được 15 hoạt động thí nghiệm THLM theo định
    hướng giáo dục STEM/STEAM, dựa trên đó thiết kế chủ đề “Vi sinh vật với vấn
    đề chế biến thực phẩm” trong dạy học phần Sinh học Vi sinh vật – Sinh học 10.
    – Những giải pháp trong sáng kiến đã kích thích được năng lực sáng tạo và
    giải quyết vấn đề, năng lực tự học, khả năng sử dụng công nghệ thông tin ở HS
    (HS sử dụng bộ office 365 thông thạo với các ứng dụng nổi bật OneNote,
    OneDrive, Microsoft Teams… phục vụ cho việc làm dự án, ưu việt hơn rất nhiều
    so với việc ghi chép truyền thống trước đây. Việc sử dụng hiệu quả phần mềm
    chỉnh sửa video chuyên nghiệp KineMaster, ứng dụng thiết kế đồ họa chuyên
    nghiệp Canva… giúp các em tạo ra những sản phẩm học tập mang tính thẩm
    mỹ, độc đáo, nổi bật và vô cùng sáng tạo.)
    Để nâng cao chất lượng giảng dạy THLM theo định hướng giáo dục
    STEM/STEAM nhằm phát triển năng lực của người học cần có những biện pháp
    đổi mới đồng bộ từ nhà trường, tổ chuyên môn, đến đội ngũ giáo viên trực tiếp
    giảng dạy. Do vậy, trong phần khuôn khổ sáng kiến này, tôi tập trung chủ yếu
    vào 3 nhóm đối tượng trên.
    2. Giải pháp đối với nhà trường THPT
    2.1. Xác định sứ mạng, giá trị của nhà trường và có tầm nhìn chiến lược thấy
    được vai trò của dạy học tích hợp liên môn theo định hướng giáo dục
    STEM/STEAM với sự phát triển của nhà trường.
    Mỗi nhà trường dựa trên việc phân tích đặc điểm tình hình, những điểm
    mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức, có thể xác định được sứ mệnh, tầm nhìn,
    hệ thống giá trị cơ bản khác nhau. Cũng theo đó, tùy thuộc vào hướng đi của
    mỗi nhà trường mà việc xác định vị trí, tầm quan trọng của hoạt động dạy học
    THLM theo định hướng giáo dục STEM/STEAM cũng khác nhau.
    8
    Tại trường THPT Trần Hưng Đạo, Ban giám hiệu nhà trường đã xác định
    chiến lược và tầm nhìn của nhà trường trong giai đoạn 2020 – 2025 như sau:
    + Sứ mệnh: tạo dựng được môi trường học tập nền nếp, kỷ cương, có chất
    lượng giáo dục cao để mỗi học sinh đều có cơ hội phát triển tài năng và tư duy
    sáng tạo.
    + Tầm nhìn: Là một trong những trường có chất lượng giáo dục cao mà
    học sinh sẽ lựa chọn để học tập và rèn luyện, nơi giáo viên và học sinh cảm thấy
    tự hào và vững tin.
    + Hệ thống giá trị cơ bản của nhà trường: Sự tôn trọng; Tính sáng tạo;
    Tinh thần trách nhiệm; Khát vọng vươn lên.
    Trên cơ sở xác định sứ mệnh, tầm nhìn và hệ thống giá trị cốt lõi như vậy,
    nhà trường rất coi trọng việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, đặc
    biệt là dạy học liên môn theo định hướng giáo dục STEM/STEAM. Đây được
    coi là cơ hội để học sinh được phát triển năng lực, tài năng và tư duy sáng tạo,
    để từ ngôi trường này các em bước những bước vững chắc vào cuộc sống rộng
    lớn trong tương lai.
    Một trong những phương châm giáo dục của nhà trường là phát huy tính
    tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, khơi dậy và hun đúc cho mỗi ý tưởng
    sáng tạo, khả năng tiềm ẩn của các em, tăng cường khả năng thuyết trình, làm
    việc độc lập, làm việc theo nhóm. Ban Giám hiệu nhà trường luôn quan niệm,
    truyền cảm hứng luôn là một yếu tố quan trọng để HS tìm thấy đam mê và phát
    huy tiềm năng bản thân để mỗi học sinh được thành công trong học tập và cuộc
    sống.
    Đối với môn Toán và các môn Khoa học tự nhiên, nhà trường cũng xác
    định đây là những bộ môn mũi nhọn, cần đổi mới và đi tiên phong trong dạy học
    tích hợp liên môn theo định hướng giáo dục STEM/STEAM. Nhà trường đã
    động viên, khuyến khích các tổ chuyên môn thực hiện việc dạy học tích hợp liên
    môn, khuyến khích mỗi tổ/nhóm chuyên môn xây dựng và thực hiện được tối
    thiểu 2 chủ đề/học kì. Trường đã thành lập câu lạc bộ Khoa học kỹ thuật và
    STEM mang lại nhiều hoạt động ý nghĩa thiết thực, đã vận dụng được kiến thức
    9
    liên môn vào giải quyết tình huống thực tiễn, thu hút sự chú ý của những học
    sinh yêu thích khoa học, sự tìm tòi và khám phá. Việc thực hiện những chủ đề
    ấy chính là môi trường huấn luyện tốt nhất cho giáo viên ở trong tổ bộ môn,
    trong nhà trường.
    Nhà trường tạo điều kiện và khuyến khích giáo viên ở tất cả các bộ môn
    tham gia các cuộc thi dạy học tích hợp liên môn do Sở Giáo dục và Bộ Giáo dục
    tổ chức.
    2.2. Trong lập kế hoạch chiến lược tổng thể chú ý đến hoạt động dạy học tích
    hợp liên môn theo định hướng giáo dục STEM/STEAM nhằm phát triển năng
    lực người học.
    Trong việc lập kế hoạch chiến lược tổng thể, Hiệu trưởng cần có sự quan
    tâm với hoạt động dạy học THLM theo định hướng giáo dục STEM/STEAM.
    Đặc biệt, khi triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới thì đây là một hoạt
    động có ý nghĩa quan trọng đến việc hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực
    của người học. Việc quản lý dạy học các chủ đề THLM cần thực hiện theo
    hướng bảo đảm quyền tự chủ của nhà trường, tổ/nhóm chuyên môn và giáo viên;
    quyền tự chủ và tích cực của học sinh.
    3. Giải pháp đối với tổ chuyên môn
    3.1. Lập kế hoạch dạy học tích hợp liên môn theo định hướng giáo dục
    STEM/STEAM trong dạy học bộ môn.
    Kế hoạch này được xây dựng dựa trên đề xuất của GV thuộc tổ chuyên
    môn, đồng thời có sự trao đổi, thảo luận, thống nhất trong tổ. Bản kế hoạch phải
    nêu rõ mục tiêu tích hợp liên môn theo định hướng giáo dục STEM/STEAM
    trong mỗi môn học cụ thể, các đơn vị kiến thức dự kiến sẽ được tích hợp (Ở môn
    nào? Khối lớp nào? Bài nào?). Bản kế hoạch này là một phần của kế hoạch dạy
    học năm học của tổ chuyên môn
    Lựa chọn thời điểm tổ chức dạy học từng chủ đề tích hợp liên môn phù
    hợp với kế hoạch dạy học của môn học liên quan. Căn cứ vào nội dung kiến
    thức và thời lượng dạy học được lấy ra từ các môn học tương ứng, các tổ/nhóm
    10
    chuyên môn cùng thống nhất thời điểm trong năm học mới để tổ chức dạy học
    các chủ đề tích hợp liên môn…
    Bố trí giáo viên và rút kinh nghiệm giờ dạy cũng là giải pháp giải quyết
    vấn đề dạy học tích hợp liên môn vô cùng quan trọng. Cần phân công giáo viên
    phối hợp thực hiện hoặc có thể lựa chọn phân công giáo viên có điều kiện thuận
    lợi thực hiện.
    3.2. Dự giờ, thăm lớp nhằm tăng cường học hỏi kinh nghiệm và phương pháp
    thực hiện dạy học THLM theo định hướng giáo dục STEM/STEAM
    Trong nhiều năm qua, tổ Hóa – Sinh – KTNN trường THPT Trần Hưng
    Đạo luôn nghiêm túc thực hiện việc đổi mới sinh hoạt của tổ/nhóm chuyên môn
    thông qua nghiên cứu bài học. Tổ luôn quán triệt THLM theo định hướng giáo
    dục STEM/STEAM là một trong những tiêu chí đánh giá giờ lên lớp, được đưa
    cụ thể vào kế hoạch dạy học bộ môn của tổ. Mỗi GV đều có kế hoạch dạy học
    tích hợp liên môn, dạy học theo chủ đề, dạy học STEM… Do vậy, mỗi GV đều
    nghiêm túc thực hiện theo kế hoạch. Đồng thời tổ chuyên môn cũng khuyến
    khích GV chủ động, sáng tạo trong phương pháp, hình thức tích hợp. Việc tăng
    cường dự giờ, rút kinh nghiệm để điều chỉnh nội dung dạy học các chủ đề tích
    hợp liên môn; hoàn thiện từng bước nội dung các chủ đề và kế hoạch môn học,
    phương pháp và hình thức dạy học, kiểm tra, đánh giá… được tổ thực hiện một
    cách thường xuyên, nghiêm túc.
    4. Giải pháp đối với giáo viên
    4.1. Nâng cao nhận thức về dạy học chủ đề THLM theo định hướng giáo dục
    STEM/STEAM
    4.1.1. Dạy học chủ đề THLM
    Dạy học tích hợp liên môn là dạy học những nội dung kiến thức liên quan
    đến hai hay nhiều môn học. “Tích hợp” là nói đến phương pháp và mục tiêu của
    hoạt động dạy học còn “liên môn” là đề cập tới nội dung dạy học. Đã dạy học
    “tích hợp” thì chắc chắn phải dạy kiến thức “liên môn” và ngược lại, để đảm bảo
    hiệu quả của dạy liên môn thì phải bằng cách và hướng tới mục tiêu tích hợp.
    11
    Ở mức độ thấp thì dạy học tích hợp mới chỉ là lồng ghép những nội dung
    giáo dục có liên quan vào quá trình dạy học một môn học như: lồng ghép giáo
    dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật; giáo dục chủ quyền quốc gia về biên
    giới, biển, đảo; giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi
    trường, an toàn giao thông… Mức độ tích hợp cao hơn là phải xử lí các nội dung
    kiến thức trong mối liên quan với nhau, bảo đảm cho học sinh vận dụng được
    tổng hợp các kiến thức đó một cách hợp lí để giải quyết các vấn đề trong học
    tập, trong cuộc sống, đồng thời tránh việc học sinh phải học lại nhiều lần cùng
    một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau.
    Có thể đưa ra 3 mức độ tích hợp trong dạy học các môn khoa học tự nhiên như
    sau:
    Lồng ghép
    Đó là đưa các yếu tố nội dung gắn với thực tiễn, gắn với xã hội, gắn với
    các môn học khác vào dòng chảy chủ đạo của nội dung bài học của một môn
    học. Ở mức độ lồng ghép, các môn học vẫn dạy riêng rẽ. Tuy nhiên, giáo viên có
    thể tìm thấy mối quan hệ giữa kiến thức của môn học mình đảm nhận với nội
    dung của các môn học khác và thực hiện việc lồng ghép các kiến thức đó ở
    những thời điểm thích hợp.
    Vận dụng kiến thức liên môn
    Ở mức độ này, hoạt động học diễn ra xung quanh các chủ đề, ở đó người
    học cần đến các kiến thức của nhiều môn học để giải quyết vấn đề đặt ra. Các
    chủ đề khi đó được gọi là các chủ đề hội tụ
    Hòa trộn
    Đây là mức độ cao nhất của dạy học tích hợp. Ở mức độ này, tiến trình
    dạy học là tiến trình “không môn học”, có nghĩa, nội dung kiến thức trong bài
    học không thuộc riêng về một môn học nhưng lại thuộc về nhiều môn học khác
    nhau, do đó, các nội dung thuộc chủ đề tích hợp sẽ không cần dạy ở các môn
    học riêng rẽ. Mức độ tích hợp này dẫn đến sự hợp nhất kiến thức của hai hay

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Thiết kế 1 số thí nghiệm và mô hình trong dạy học chương: “Chuyển hóa vật chất và năng lượng” – Sinh học 11 nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề

    SKKN Thiết kế 1 số thí nghiệm và mô hình trong dạy học chương: “Chuyển hóa vật chất và năng lượng” – Sinh học 11 nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề

    Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến.
    Chương trình giáo dục phổ thông mới đã định hướng phát triển 10 năng lực
    cốt lõi cho học sinh. Một trong số đó là năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
    Làm thế nào để phát triển cho học sinh năng lực này trong quá trình học tập là
    vấn đề luôn được quan tâm của các thầy cô giáo. Đối với các em học sinh trung
    học phổ thông, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo càng cần thiết hơn vì các
    em đang ở ngưỡng cửa quan trọng của cuộc đời.
    Chương trình Sinh học 11 với chủ đề “Sinh học cơ thể” chứa đựng những
    bài học với nội dung rất sinh động và lý thú đối với người dạy và người học.
    Trong đó, chương I “Chuyển hóa vật chất và năng lượng” cung cấp nhưng kiến
    thức gần gũi, dễ tiếp thu và có nhiều liên hệ với chính bản thân người học. Do
    vậy việc khơi dậy các vấn đề thực tế cần giải quyết sẽ giúp tích cực hóa hoạt
    động của học sinh trong giờ học, giúp học sinh luôn hào hứng trong mỗi tiết học.
    Thực tế chứng minh kiến thức học sinh thu được qua trải nghiệm và thực hành
    sẽ luôn khắc sâu hơn so với việc nghe giảng và ghi chép bài. Cũng thông qua
    những hoạt động ấy, năng lực và phẩm chất của người học được hình thành và
    phát triển, đặc biệt là năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Trong quá trình
    giảng dạy phân môn Sinh học 11 những năm qua, ở một số tiết học, chúng tôi đã
    tổ chức cho học sinh thiết kế thí nghiệm và mô hình nhằm phát triển năng lực
    giải quyết vấn đề và sáng tạo và thu được những kết quả khả quan.
    Do đó chúng tôi đã hình thành sáng kiến: Thiết kế một số thí nghiệm
    và mô hình trong dạy học chương: “Chuyển hóa vật chất và năng lượng” – Sinh
    học 11 nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề. Sáng kiến hi vọng sẽ là
    nguồn tài liệu tham khảo cho các giáo viên trong quá trình giảng dạy.
    II. Thực trạng.
    Trong quá trình giảng dạy, chúng tôi nhận thấy một số ưu điểm và hạn chế
    trong dạy học như sau:
    2.1. Ưu điểm:
    – Học sinh thường rất chủ động, sáng tạo trong việc tìm tòi và lĩnh hội kiến
    thức.
    4
    – Cơ sở vật chất, trang thiết bị và các phương tiện dạy học đáp ứng đủ cho
    hoạt động dạy và học. Mỗi lớp đều được trang bị tivi, kết nối internet, các thiết
    bị thực hành đầy đủ.
    – Sinh học 11 có rất nhiều kiến thức gần gũi, có thể liên hệ vào thực tế.
    Giáo viên có thể khai thác nhiều hơn những nội dung đó và sáng tạo các hình
    thức tổ chức hoạt động cho học sinh.
    2.2. Hạn chế:
    – Một số giáo viên chú trọng đến truyền dạy kiến thức mà chưa chú trọng
    đến phát triển năng lực cho học sinh.
    – Một số giáo viên cũng quan tâm đến phát triển năng lực giải quyết vấn đề
    và sáng tạo nhưng cũng chỉ dừng lại ở việc đặt các câu hỏi nêu vấn đề trên lớp.
    – Các biện pháp tích cực hóa hoạt động của học sinh còn chưa đa dạng, chủ
    yếu dừng lại ở việc khai thác công nghệ thông tin để làm phong phú thêm cho
    bài giảng của mình. Theo đó năng lực hình thành cho học sinh chủ yếu là khai
    thác công nghệ thông tin và làm việc nhóm.
    – Việc thiết kế những thí nghiệm đơn giản củng cố kiến thức bài học hoặc
    thiết kế mô hình rất phù hợp để tích cực hóa hoạt hoạt động của học sinh, phát
    huy tính sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, tuy nhiên biện pháp này chưa
    được nhiều giáo viên áp dụng.
    III. C¸c giải pháp
    3.1. Dạy học thông qua thiết kế và hoàn thiện mô hình:
    3.1.1. Mục tiêu:
    Thông qua việc thiết kế và hoàn thiện mô hình, học sinh có thể:
    – Hình thành và củng cố kiến thức lí thuyết cơ bản.
    – Phối hợp kiến thức sinh học với các kiến thức thuộc các môn học, lĩnh
    vực khác nhau như toán học, mĩ thuật, công nghệ, vật lí…để thiết kế mô hình
    một cách sáng tạo.
    – Biết chia sẻ ý tưởng, thảo luận, hợp tác và làm việc nhóm để hoàn thành
    từng bước trong quy trình.
    5
    Như vậy, qua việc thiết kế và hoàn thiện mô hình, học sinh sẽ phát triển
    được năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
    3.1.2 Quy trình thực hiện:

    Giáo viênHọc sinh
    – Nêu vấn đề
    – Gợi ý (nếu học sinh chưa rõ)
    – Thống nhất tiêu chí đánh giá mô
    hình
    – Tổ chức cho các nhóm thuyết trình
    về sản phẩm
    – Tổ chức cho các nhóm thảo luận, đề
    xuất các giải pháp khắc phục
    – Xác định vấn đề
    – Phác thảo mô hình trên giấy
    – Lựa chọn nguyên liệu, dụng cụ phù
    hợp
    – Lập các bước tiến hành
    – Trình bày bản thiết kế
    – Giao nhiệm vụ cho các thành viên
    trong nhóm
    – Làm mô hình
    – Thuyết trình về sản phẩm
    – Đề xuất giải pháp khắc phục và
    hoàn thiện (nếu có)

    3.1.3. Thời gian tiến hành:
    – Học sinh chuẩn bị nguyên liệu, dụng cụ ở nhà sau đó làm mô hình trên lớp.
    – Học sinh làm mô hình ở nhà và thuyết trình trên lớp.
    Các mô hình được hình thành sau khi học xong bài học hoặc trước khi vào bài
    mới. Tuy nhiên, mô hình hoàn thiện sau khi học xong bài sẽ giúp học sinh củng
    cố kiến thức tốt hơn. Mô hình hoàn thiện trước khi vào bài mới có thể có nhiều
    sai sót, nhưng cũng giúp giáo viên khắc sâu hơn kiến thức cho học sinh từ các
    lỗi sai đó.
    3.1.4. Một số mô hình đề xuất:

    BàiNội dungÝ tưởng
    Bài 1: Sự hấp
    thụ nước và
    muối khoáng
    ở rễ
    Dòng nước và các
    ion khoáng đi từ đất
    vào mạch gỗ của rễ
    – Thiết kế mô hình thể hiện cấu trúc lát
    cắt ngang của rễ và thể hiện được các
    con đường xâm nhập của nước và các
    ion khoáng vào rễ

    6

    Bài 15, 16:
    Tiêu hóa ở
    động vật
    Tiêu hóa ở động vật
    có ống tiêu hóa
    – Thiết kê mô hình mô phỏng hệ tiêu hóa
    ở người
    Bài 17: Hô
    hấp ở động
    vật
    Hô hấp bằng phổi– Thiết kế mô hình mô phỏng sự lưu
    thông khí của phổi
    Bài 18: Tuần
    hoàn máu
    Hệ tuần hoàn kínThiết kế mô hình trực quan mô phỏng
    máu lưu thông trong hệ tuần hoàn kép

    3.1.5. Một số mô hình đã thực hiện:
    * Thiết kê mô hình mô phỏng hệ tiêu hóa ở người:

    Giáo viênHọc sinh
    – Nêu vấn đề: thiết kế mô hình mô
    phỏng hoạt động tiêu hóa cơ học của
    dạ dày
    – Tiêu chí đánh giá:
    + Sắp xếp đúng các bộ phận của ống
    tiêu hóa của người, đảm bảo tính chính
    xác và thẩm mĩ.
    + Thể hiện được thức ăn (dạng lỏng) đi
    qua các bộ phận đó như thế nào một
    cách đơn giản trên mô hình.
    – Tổ chức cho các nhóm thuyết trình
    về sản phẩm
    – Tổ chức cho các nhóm thảo luận sau
    khi có sản phẩm
    – Xác định vấn đề
    – Phác thảo bản thiết kế
    – Nguyên liệu, dụng cụ: Bìa cứng, đất
    nặn,bộ dây truyền, súng bắn keo, băng
    dính, kéo.
    – Tiến hành:
    + Bước 1: Vẽ phác thảo ra bìa cứng
    các bộ phận của ống tiêu hóa của
    người
    + Bước 2: Dùng đất nặn phủ lên các bộ
    phận đó sao cho đảm bảo tính thẩm mĩ
    + Bước 3: Luồn dây truyền qua các
    phần của ống tiêu hóa sao cho đảm bảo
    tính thẩm mĩ.
    + Bước 4: Áp dụng nguyên tắc vật lý
    (áp suất chất lỏng) để thể hiện tiêu chí
    thứ 2 bằng cách: cho 1 đầu dây truyền
    phía trên ngập trong chai nước màu.
    Hút nhẹ đầu dưới dây truyền để đẩy

    7

    khí ra hết, nước sẽ tự động chảy từ trên
    cao xuống và đi qua các phần của ống
    tiêu hóa
    – Học sinh trình bày bản thiết kế của
    nhóm.
    – Tiến hành làm mô hình theo bản thiết
    kế.
    – Thuyết trình sản phẩm
    – Đề xuất giải pháp khắc phục và hoàn
    thiện

    (hình ảnh trong phần phụ lục)
    * Thiết kế mô hình mô phỏng sự lưu thông khí của phổi

    Giáo viênHọc sinh
    – Nêu vấn đề:
    + Cách 1: GV chiếu video về hoạt
    động của phổi
    + Cách 2: GV và HS cùng thực hiện 1
    số động tác hít thở đúng.
    Từ đó GV nêu vấn đề về sự lưu thông
    khí ở phổi và giao nhiệm vụ cho HS
    thiết kế mô hình mô phỏng sự lưu
    thông khí của phổi
    – Thông nhất tiêu chí đánh giá
    + Mô hình thể hiện các cấu trúc chính
    của phổi như: khí quản, phế quản, 2 lá
    phổi, đảm bảo tính chính xác và thẩm
    mĩ.
    + Mô hình phải thể hiện được sựu lưu
    thông khí qua 2 lá phổi
    – Tổ chức cho các nhóm thuyết trình
    – Xác định vấn đề
    – Phác thảo bản thiết kế
    – Nguyên liệu, dụng cụ: Giấy màu (vẽ
    hình phổi), kéo, ống hút, băng dính,
    túi bóng nhỏ màu trắng
    – Tiến hành:
    + Bước 1: Vẽ phác thảo ra giấy bìa
    hình ảnh cấu trúc phổi, dùng kéo cắt
    rời các bộ phận đó khỏi giấy
    + Bước 2: Gắn cố định 2 ống hút dọc
    theo khí quản, phế quản
    + Bước 3: Lồng giấy bóng bao bên
    ngoài mỗi bên phổi, dùng băng dính
    dính chặt mép túi để khí không bị thoát
    ra ngoài.
    + Thử nghiệm hoạt động: lần lượt thổi
    khí vào và hít khí ra qua ống hút sao

    8

    về sản phẩm
    – Tổ chức cho các nhóm thảo luận sau
    khi có sản phẩm
    cho hai túi bóng phình lên và xẹp
    xuống nhịp nhàng tương tự hoạt động
    lưu thông khí
    – Học sinh trình bày bản thiết kế của
    nhóm mình.
    – Tiến hành làm mô hình theo bản thiết
    kế.
    – Thuyết trình sản phẩm
    – Đề xuất giải pháp khắc phục và hoàn
    thiện

    (hình ảnh trong phần phụ lục)
    * Thiết kế mô hình trực quan mô phỏng máu lưu thông trong hệ tuần hoàn kép:

    Giáo viênHọc sinh
    – Nêu vấn đề:
    GV nêu vấn đề về ưu điểm của hệ tuần
    hoàn kép so với hệ tuần hoàn đơn, từ
    đó giao nhiệm vụ cho HS thiết kế mô
    hình trực quan mô phỏng máu lưu
    thông trong hệ tuần hoàn kép
    – Thông nhất tiêu chí đánh giá
    + Mô hình thể hiện chính xác cấu trúc
    của hệ tuần hoàn kép, đảm bảo tính
    thẩm mĩ.
    + Mô hình phải thể hiện được đường
    đi (chiều di chuyển) của máu trong
    mỗi vòng tuần hoàn, xác định được
    máu đỏ thẫm và máu đỏ tươi chảy
    trong các cấu trúc nào của vòng tuần
    hoàn.
    – Xác định vấn đề
    – Phác thảo bản thiết kế ý tưởng 1:
    + Nguyên liệu, dụng cụ: bìa, kéo, băng
    dính, dây truyền, màu thực phẩm (xanh
    và đỏ)
    + Tiến hành:
    • Bước 1: Vẽ phác thảo ra bìa hình
    ảnh hệ tuần hoàn kép, trang trí
    sao cho đạt tính thẩm mĩ (ảnh
    minh họa)
    • Bước 2: luồn dây truyền dọc
    theo đoạn mạch sao cho hợp lí
    và thẩm mĩ. Bước này là quan
    trọng nhất để đảm bảo tmô hình
    có hoạt động được hay không
    (đáp ứng tiêu chí 2)

    9

    • Bước 3: Pha cốc nước với màu
    thực phẩm (cốc nước màu xanh
    thể hiện máu đỏ thẫm, cốc nước
    màu đỏ thể hiện máu đỏ tươi).
    Xác định đoạn mạch nào có máu
    đỏ thẫm và đỏ tươi rồi cắm đầu
    dây truyền vào cốc nước đó. Lưu
    ý bố trí các cốc nước sao cho
    đảm bảo nguyên tắc vật lí về áp
    suất chất lỏng là nước sẽ di
    chuyển được trong ống dây (hệ
    mạch)
    • Điều chỉnh mô hình cho hợp lý
    – Phác thảo bản thiết kế ý tưởng 2:
    + Nguyên liệu, dụng cụ: bìa, kéo, keo,
    nam châm, mẩu sắt nhỏ (có thể dùng
    mẩu kẹp ghim): 1 mẩu màu xanh và 1
    mẩu màu đỏ, màu sáp
    + Tiến hành:
    • Bước 1: Vẽ phác thảo ra bìa hình
    ảnh hệ tuần hoàn kép, trang trí
    bằng màu sáp và dán bìa viền
    xung quanh sao cho đạt tính
    thẩm mĩ
    • Bước 2: Dùng mẩu sắt nhỏ đặt
    vào trong mô hình tại vị trí tâm
    thất
    • Bước 3: Dùng nam châm đặt bên
    dưới mẩu sắt, di chuyển nam

    10

    – Tổ chức cho các nhóm thuyết trình
    về sản phẩm
    – Tổ chức cho các nhóm thảo luận sau
    khi có sản phẩm
    châm làm cho mẩu sắt cũng di
    chuyển theo. Màu của mẩu sắt
    (xanh và đỏ) tương ứng với phần
    mạch có máu đỏ thẫm và đỏ tươi
    chảy trong mạch
    – Học sinh trình bày bản thiết kế của
    nhóm.
    – Tiến hành làm mô hình
    – Thuyết trình sản phẩm
    – Đề xuất giải pháp khắc phục và hoàn
    thiện
    + Đề xuất gắn hệ thống đèn led cảm
    ứng thay cho nước màu ở ý tưởng 1

    (hình ảnh trong phần phụ lục)
    3.2. Dạy học thông qua thiết kế thí nghiệm:
    3.2.1. Mục tiêu:
    Thông qua việc thiết kế và thực hiện thí nghiệm, học sinh có thể:
    – Hình thành và củng cố kiến thức lí thuyết cơ bản.
    – Vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn.
    – Biết chia sẻ ý tưởng, thảo luận, hợp tác và làm việc nhóm để hoàn thành từng
    bước thí nghiệm từ đó học sinh phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
    3.2.2. Quy trình thực hiện:
    Thiết kế thí nghiệm có thể được tiến hành trước hoặc sau khi tìm hiểu nội dung
    bài học. Tùy thời gian thực hành thí nghiệm, giáo viên có thể có điều chỉnh phù
    hợp.

    Giáo viênHọc sinh
    – Nêu vấn đề cần giải quyết
    – Gợi ý
    – Tổ chức cho học sinh tiến hành thí
    nghiệm
    – Xác định vấn đề
    – Thảo luận, lên ý tưởng thiết kế thí
    nghiệm gồm:
    + đối tượng

    11

    – Tổ chức cho học sinh thuyết trình về
    cách thức tiến hành, báo cáo kết quả
    thí nghiệm và thảo luận
    + dụng cụ
    + cách tiến hành
    + dự đoán kết quả
    + giải thích kết quả
    – Trình bày bản thiết kế thí nghiệm
    – Tiến hành làm thí nghiệm
    – Theo dõi thí nghiệm, thu thập minh
    chứng
    – Báo cáo kết quả
    – Đề xuất giải pháp điều chỉnh (nếu có)

    3.1.3. Thời gian tiến hành:
    – Học sinh chuẩn bị nguyên liệu, dụng cụ ở nhà sau đó làm thí nghiệm trên lớp.
    – Học sinh làm thí nghiệm ở nhà và thuyết trình trên lớp.
    Các thí nghiệm thường được thực hiện sau khi học xong bài học giúp củng cố
    kiến thức đồng thời phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
    3.2.4. Một số thí nghiệm đề xuất:

    BàiNội dungÝ tưởng
    Bài 1: Sự hấp thụ
    nước và muối
    khoáng ở rễ
    Cơ chế hấp thụ
    nước và ion
    khoáng từ đất
    vào tế bào lông
    hút
    – Thiết kế thí nghiệm chứng minh tế
    bào rễ có tính thấm chọn lọc
    (ngăn cản các chất không cần thiết đi
    qua như xanh metylen)
    Bài 2: Vận chuyển
    các chất trong cây
    Động lực đẩy
    dòng mạch gỗ
    – Thiết kế thí nghiệm chứng minh có
    hiện tượng ứ giọt ở lá cây.
    Bài 3: Thoát hơi
    nước
    Thoát hơi nước
    qua lá
    – Thiết kế thí nghiệm chứng minh lá có
    sự thoát hơi nước
    Bài 4: Vai trò của
    các nguyên tố
    khoáng
    Cả bài– Thiết kế thí nghiệm chứng minh vai
    trò của phân bón đối với cây trồng

    12

    Bài 8: Quang hợp ở
    thức vật
    Hệ sắc tố
    quang hợp
    – Thí nghiệm làm chất chỉ thị tự nhiên
    từ rau, củ, quả
    – Thiết kế thí nghiệm nhuộm vải
    – Thiết kế thí nghiệm quang hợp thải
    oxy
    Bài 12: Hô hấp ở
    thực vật
    – Khái quát hô
    hấp ở thực vật
    – Mối quan hệ
    giữa hô hấp và
    môi trường
    – Thiết kế thí nghiệm phát hiện hô hấp
    ở thực vật
    – Thiết kế thí nghiệm bảo quản thực
    phẩm bằng phương pháp “hút chân
    không” thủ công
    Bài 15, 16: Tiêu hóa
    ở động vật
    Tiêu hóa ở
    động vật có
    ống tiêu hóa
    – Thiết kế thí nghiệm chứng minh tác
    dụng của bakingsoda trong việc hỗ trợ
    làm giảm trào ngược dạ dày ở người
    Bài 17: Hô hấp ở
    động vật
    Hô hấp bằng
    phổi
    – Thiết kế thí nghiệm góp phần chứng
    minh tác hại của thuốc lá đến phổi
    Bài 22: Ôn tập
    chương I
    Liên hệ thực tế– Thiết kế thí nghiệm chứng mình vai
    trò của rễ trong việc giữ đất từ đó nêu
    giải pháp chống xói mòn

    3.2.3. Một số thí nghiệm đã được thực hiện:
    * Thiết kế thí nghiệm chứng minh lá có sự thoát hơi nước:

    Giáo viênHọc sinh
    – Nêu vấn đề: làm thế nào chứng minh
    được lá có sự thoát hơi nước
    – Xác định vấn đề
    – Thảo luận, lên ý tưởng thiết kế thí
    nghiệm giải quyết vấn đề:
    + ý tưởng 1: với cây lớn, buộc túi bóng
    vào một đoạn cành cây có nhiều lá và
    quan sát hiện tượng
    + ý tưởng 2: lấy một cành cây nhiều lá,
    cắm vào bình nước có nhỏ dầu ăn lên

    13

    – Tổ chức cho học sinh trình bày và
    tiến hành thí nghiệm
    – Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả
    thí nghiệm, giải thích và thảo luận
    bề mặt (để ngăn sự thoát hơi nước của
    bình), chùm túi bóng lên lá và quan sát
    hiện tượng
    – Trình bày bản thiết kế thí nghiệm
    – Tiến hành làm thí nghiệm
    – Theo dõi thí nghiệm
    – Báo cáo kết quả
    – Đề xuất giải pháp điều chỉnh

    (hình ảnh trong phần phụ lục)
    * Thí nghiệm bảo quản thực phẩm bằng phương pháp “hút chân không” thủ
    công:

    Giáo viênHọc sinh
    – Nêu vấn đề:
    + Oxi rất cần thiết cho quá trình hô hấp
    của thực vật
    + Càng giảm nồng độ oxi trong môi
    trường bảo quản (nhưng không giảm
    đến 0%) thì cường độ hô hấp của nông
    sản càng giảm
    + Có thể bảo quản thực phẩm bằng
    cách tạo môi trường “chân không”
    + Hút chân không là việc hút toàn bộ
    không khí trong một môi trường nào
    đó ra bên ngoài.
    + Thực phẩm khi được hút chân không
    sẽ không còn mùi bên ngoài, được bảo
    quản lâu hơn vì không bị oxy hóa.
    – Giáo viên cho HS quan sát một số
    thực phẩm được bảo quản bằng
    – Xác định vấn đề
    – Thảo luận, lên ý tưởng thiết kế thí
    nghiệm giải quyết vấn đề:
    + Ý tưởng 1: tạo môi trường “chân
    không” bằng cách nhúng túi zip đựng
    nông sản ngập trong chậu nước để
    nước đẩy hết khí trong túi ra ngoài.
    + Ý tưởng 2: tạo môi trường “chân
    không” bằng cách dùng ống hút để hút
    hết khí trong túi zip đựng thực phẩm ra
    ngoài
    + Ý tưởng 3: tạo môi trường “chân
    không” bằng cách dùng ống hút kết
    hợp máy sấy tóc
    – Trình bày bản thiết kế thí nghiệm
    – Tiến hành làm thí nghiệm
    – Theo dõi thí nghiệm

    14

    phương pháp hút chân không, cho HS
    xem thời hạn bảo quản, từ đó nêu vấn
    đề tại sao có thể bảo quản thực phẩm
    bằng cách hút chân không? Từ đó GV
    nêu yêu cầu: hãy thiết kế thí nghiệm áp
    dụng phương pháp hút chân không để
    bảo quản thực phẩm
    – Giao nhiệm vụ cho HS lớp chuyên Lý
    tìm hiểu về máy hút chân không đang
    có trên thị trường (về nguyên tắc hoạt
    động, cách sử dụng, ưu điểm, nhược
    điểm…) từ đó có thể đề xuất ý tưởng
    thiết kế máy hút chân không mini
    – Báo cáo kết quả
    – Đề xuất giải pháp điều chỉnh

    * Cách tiến hành các ý tưởng:

    Ý tưởngNguyên liệu,
    dụng cụ
    Tiến hành
    Ý tưởng 1Túi zip, rau
    xanh, chậu nước
    – Bước 1: Cho thực phẩm vào túi zip và kéo một
    phần miệng túi lại.
    – Bước 2: Từ từ thả vào chậu nước (chú
    ý không thả ngập mà chừa lại phần miệng túi).
    – Bước 3: Cuối cùng sau khi không khí đã ra hết
    thì kéo khóa hoàn toàn miệng túi zip
    Ý tưởng 2Túi zip, rau
    xanh, ống hút
    – Bước 1: Chuẩn bị sẵn túi zip có khóa với kích
    thước tương thích với loại thực phẩm cần bảo
    quản. Cho thực phẩm vào túi, kéo kín khóa lại
    chỉ chừa một lỗ nhỏ.
    – Bước 2: Cho ống hút vào lỗ nhỏ này rồi dùng
    miệng hút không khí từ trong túi ra bên ngoài.
    Thao tác này cần thực hiện nhanh để không khí
    không tràn ngược vào túi. Sau đó, nhanh chóng

    15

    rút ống hút ra và kéo hết toàn bộ khóa của túi
    zip
    Ý tưởng 3Túi zip, rau
    xanh, máy sấy
    tóc, nắp chai,
    ống hút
    – Bước 1: Cắt đầu chai nhựa giống hình cái
    phễu, sau đó đục 1 lỗ vào nắp chai và cho ống
    hút vào.
    – Bước 2: Cho ống hút vào túi thực phẩm, sau
    đó dùng phần hút không khí của máy sấy tóc và
    nhấn công tắc để hút không khí ra.

    (hình ảnh trong phần phụ lục)
    * Thiết kế thí nghiệm chứng minh tác dụng của bakingsoda trong việc hỗ trợ
    làm giảm trào ngược dạ dày ở người:

    Giáo viênHọc sinh
    – Nêu vấn đề:
    + Giới thiệu về căn bệnh trào ngược dạ
    dày ở người
    + Giới thiệu về baking soda
    + GV nêu yêu cầu: thiết kế thí nghiệm
    chứng minh tác dụng của baking soda
    trong việc hỗ trợ làm giảm trào ngược
    dạ dày.
    – Gợi ý
    – Xác định vấn đề
    – Thảo luận, lên ý tưởng thiết kế thí
    nghiệm giải quyết vấn đề
    + Dụng cụ, nguyên liệu: túi zip, HCl,
    baking soda, bút dạ, giấy quỳ tím, găng
    tay y tế
    + Tiến hành:
    • Đeo găng tay trước khi làm thí
    nghiệm
    • Dùng bút dạ vẽ hình dạ dày
    lên túi zip
    • Thử quỳ tím trên HCl
    • Đổ 50ml HCl vào túi zip
    • Đổ baking soda (khoảng 4
    thìa) vào túi, đậy miệng túi lại
    • Quan sát hiện tượng sau 5
    phút và ghi chép lại

    16

    – Tổ chức cho học sinh tiến hành thí
    nghiệm
    – Tổ chức cho học sinh thuyết trình về
    cách thức tiến hành, báo cáo kết quả
    thí nghiệm và thảo luận
    • Khi baking soda tan hết, thử
    lại quỳ tím với dung dịch
    trong túi
    – Trình bày bản thiết kế thí nghiệm
    – Tiến hành làm thí nghiệm theo đúng
    bản thiết kế
    – Báo cáo kết quả, giải thích hiện tượng
    + Túi zip phồng to lên sau khi đổ
    baking soda
    + Giấy quỳ đổi màu chứng tỏ
    bakingsoda trung hòa 1 phần HCl
    GV có thể yêu cầu HS liên hệ với kiến
    thức của môn hóa để giải thích hiện
    tượng

    (hình ảnh trong phần phụ lục)
    * Thiết kế thí nghiệm góp phần chứng minh tác hại của thuốc lá đến phổi:

    Giáo viênHọc sinh
    – Nêu vấn đề:
    + Xem video về thực trạng hút thuốc lá
    của thanh thiếu niên Việt Nam
    + GV nêu yêu cầu: thiết kế thí nghiệm
    chứng minh tác hại của thuốc lá với
    phổi và môi trường
    – Gợi ý
    – Xác định vấn đề
    – Thảo luận, lên ý tưởng thiết kế thí
    nghiệm giải quyết vấn đề:
    + Dụng cụ, nguyên liệu: 1 chai coca –
    cola loại 1,5 lít, 1 điếu thuốc lá, bật lửa,
    1 tờ giấy ăn (có thể dùng loại giấy ướt)
    + Tiến hành
    • Đục một lỗ ở gần đáy chai nhựa.
    • Trên nút chai đục một lỗ nhỏ
    vừa với thân một điếu thuốc.
    • Đổ nước ngập ¾ chai nhựa và
    vặn nút lại, bên trên có gắn điếu

    17

    – Tổ chức cho học sinh tiến hành thí
    nghiệm
    Chú ý: Nếu tiến hành làm thí nghiệm
    trên lớp, bước cuối cùng nên làm bên
    ngoài cửa lớp hoặc làm chỗ gần cửa để
    tránh khói thuốc lá bay trong lớp. HS
    có thể làm thí nghiệm tại nhà và quay
    thuốc lá. Bịt kín lỗ nhỏ ở dưới
    sao cho nước khong chảy ra
    ngoài.
    • Châm điếu thuốc và từ từ mở nút
    bên dưới đáy chai để nước chảy
    ra ngoài. (Bước này mô phỏng
    hành động hút thuốc lá của con
    người.) Lúc này, bên trong chai
    sẽ chứa đầy khói trắng từ thuốc
    lá. Lượng khói này bằng với
    lượng khói mà người hút đưa
    vào phổi.
    • Điếu thuốc được cháy hết 1
    cách rất nhanh chóng. Sau khi
    điếu thuốc cháy hết, mở nắp
    chai và nhanh chóng dùng một
    chiếc khăn giấy buộc quanh
    miệng chai.
    • Thổi vào trong chai qua lỗ nhỏ
    phía dưới để đẩy hết khói ra
    ngoài qua khăn giấy
    • Mở miếng khăn giấy trên miệng
    chai và quan sát. Lớp chất màu
    vàng trên khăn giấy mô phỏng
    cho những chất độc hại mà
    thuốc lá đưa vào và lưu lại ở
    phổi người hút thuốc.
    – Trình bày bản thiết kế thí nghiệm
    – Tiến hành làm thí nghiệm

    18

    clip ghi lại các bước (sau khi đã trình
    bày bản thiết kế thí nghiệm với sự góp
    ý của GV).
    – Tổ chức cho học sinh thuyết trình về
    cách thức tiến hành, báo cáo kết quả
    thí nghiệm, giải thích và thảo luận.
    Ngoài ra GV có thể xây dựng bài học
    này dưới dạng dự án để liên hệ vào
    thực tiễn nâng cao ý thức giữ gìn sức
    khỏe của cộng đồng.
    – Báo cáo kết quả và giải thích:
    + Lớp chất màu vàng trên khăn giấy
    mô phỏng cho những chất độc hại mà
    thuốc lá đưa vào và lưu lại ở phổi
    người hút thuốc.
    + Có thể đem phân tích thành phần của
    các chất đó để xác định mức độ độc hại
    của khói thuốc lá
    + HS có thể vận dụng kiến thức vật lý
    và hóa học để giải thích cho các bước
    thí nghiệm và hiện tượng thu được
    + HS có thể sử dụng thí nghiệm này để
    dựng video nói về tác hại thuốc lá để
    lan tỏa tới học sinh.

    * Thiết kế thí nghiệm chứng mình vai trò của rễ trong việc giữ đất từ đó nêu giải
    pháp chống xói mòn

    Giáo viênHọc sinh
    – Nêu vấn đề:
    + GV chiếu video về hiện tượng lũ
    quét, xói mòn ở miềng Trung, cùng HS
    trao đổi thảo luận về các nguyên nhân
    dẫn tới hiện tượng trên. Từ đó HS đề
    xuất các giải pháp nhằm hạn chế xói
    mòn.
    + GV nêu vấn đề: tại sao cây xanh lại
    có tác dụng cải tạo đất, góp phần
    chống xói mòn.
    => GV nêu nhiệm vụ: hãy thiết kế thí
    nghiệm chứng minh tác dụng của cây
    – Xác định vấn đề
    – Thảo luận, lên ý tưởng thiết kế thí
    nghiệm giải quyết vấn đề
    + Nguyên liệu, dụng cụ:
    • 2 bình nhựa có đục lỗ dưới đáy.
    Hoặc có thể dùng 2 nửa của chai
    Coca loại 1,5 lít để làm chậu
    trồng cây, đổ đất vào 2 chậu với
    lượng tương đương.
    • Các hạt đỗ
    – Tiến hành:

    19

    xanh trong việc bảo vệ đất
    – Tổ chức cho học sinh trình bày thí
    nghiệm
    – Tổ chức cho học sinh tiến hành thí
    nghiệm
    – GV có thể xây dựng bài học này dưới
    dạng dự án để liên hệ vào thực tiễn
    góp phần bảo vệ môi trường
    • Chậu 1: gieo các hạt đỗ vào đất,
    chăm sóc hàng ngày
    • Chậu 2: để nguyên chậu với đất
    • Sau 2 tuần để đỗ mọc nhiều và
    cao, tiến hành làm thí nghiệm
    để so sánh như sau: đặt 2 chậu
    lên bàn, đổ từ từ nước vào đồng
    thời 2 chậu (lượng nước và tốc
    độ như nhau). Đặt 2 cốc nhựa
    dưới mỗi cổ chai để hứng nước
    chảy ra từ mỗi chậu
    • So sánh độ trong của 2 cốc nước,
    từ đó rút ra kết luận
    – Trình bày bản thiết kế thí nghiệm
    – Tiến hành làm thí nghiệm
    – Báo cáo kết quả, giải thích hiện tượng
    + Cốc nước chảy ra từ chậu cây đỗ sẽ
    trong hơn cốc nước từ chậu đất
    + Kết luận: rễ cây len lỏi trong đất, như
    một tấm lưới chắn và liên kết các hạt
    đất, từ đó giảm thiểu tác động rửa trôi
    của nước.
    – HS có thể sử dụng thí nghiệm này để
    phát triển thành 1 đề tài khoa học hoặc
    xây dựng video nói về vai trò của cây
    xanh trong việc bảo vệ môi trường.

    (hình ảnh trong phần phụ lục)
    20
    IV. Hiệu quả do sáng kiến đem lại:
    1. Hiệu quả về mặt xã hội
    Sáng kiến kinh nghiệm của chúng tôi góp phần đem lại các hiệu quả về mặt xã
    hội như sau:
    * Đối với việc giảng dạy trên lớp:
    – Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh.
    – 100% học sinh hào hứng tham gia hoạt động làm thí nghiệm, mô hình, qua đó
    hình thành và củng cố kiến thức đồng thời phát triển năng lực giải quyết vấn đề
    và sáng tạo.
    * Đối với công tác giáo dục của nước nhà:
    – Sáng kiến đã tổng kết lại những hoạt động giáo dục theo định hướng phát triển
    năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo – một trong những năng lực cốt lõi cần
    hình thành và phát triển cho người học theo chương trình giáo dục phổ thông
    của Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 26 tháng 12 năm 2018.
    2. Khả năng áp dụng và nhân rộng:
    – Trong những năm học qua, chúng tôi đá áp dụng sáng kiến này trong quá trình
    giảng dạy và đã mang lại những hiệu quả tích cục như đã trình bày. Vì vậy, sáng
    kiến là nguồn tài liệu tham khảo cho giáo viên Sinh học trong quá trình giảng
    dạy chương “Chuyển hóa vật chất và năng lượng” – Sinh học 11.
    – Giáo viên có thể nêu vấn đề và gợi ý cách tiến hành làm thí nghiệm, mô hình
    cho học sinh và khuyến khích sự sáng tạo trong học tập của các em.
    V. §Ò xuÊt, kiÕn nghÞ
    – Chúng tôi mong muốn sáng kiến tiếp tục hoàn thiện theo hướng:
    + đa dạng hóa các mô hình, thí nghiệm trong chương “ Chuyển hóa vật chất và
    năng lượng” – Sinh học 11
    + mở rộng các mô hình, thí nghiệm trong các chương còn lại của chương trình
    Sinh học 11
    + mở rộng các mô hình, thí nghiệm trong chương trình Sinh học của cả ba khối
    10, 11, 12.

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Phát triển năng lực sáng tạo của học sinh thông qua hoạt động ngoại khóa thiết kế thí nghiệm Vật lý lớp 10

    SKKN Phát triển năng lực sáng tạo của học sinh thông qua hoạt động ngoại khóa thiết kế thí nghiệm Vật lý lớp 10

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Đặt vấn đề
    Căn cứ nghị quyết của Bộ giáo dục và đào tạo về đổi mới phương pháp
    dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh, phát huy cao độ tính tự lực,
    tích cực, sáng tạo của học sinh; kết hợp học tập cá nhân với học tập hợp tác. Vì
    vậy đổi mới trong dạy học bộ môn Vật lý ở trường phổ thông cũng nhằm đạt
    được mục tiêu trên. Tuy nhiên, việc đổi mới trong dạy học vật lý còn gặp rất
    nhiều khó khăn: Dụng cụ thí nghiệm, các trang thiết bị và cơ sở vật chất cần
    thiết phục vụ cho việc đổi mới còn thiếu, đội ngũ giáo viên mặc dù cũng đã có
    rất nhiều cố gắng trong việc đổi mới phương pháp dạy học v.v… nhưng vẫn
    chưa phát huy hết được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
    Mặt khác, cũng qua thực tế dạy học cho thấy, việc tổ chức giờ học tự chọn
    cho học sinh chưa đạt hiệu quả. Hầu hết các giờ học tự chọn môn Vật lý, giáo viên
    tổ chức cho học sinh giải bài tập nên nếu không tổ chức tốt thì dễ gây nhàm chán,
    thậm chí lại trở nên nặng nề hơn cho học sinh.
    Để đạt được mục tiêu dạy học hiện nay, một trong những phương pháp
    đổi mới dạy học là đa dạng hóa hình thức dạy học. Ngoài việc đổi mới trong
    dạy học trên lớp, cần phải tăng cường về hoạt động trải nghiệm, nhưng ở các
    trường phổ thông hiện nay, dạy học trải nghiệm thực tế còn chưa được chú
    trọng. Học sinh ít được tham gia hoạt động ngoại khoá về Vật lý đặc biệt là
    hoạt động ngoại khoá thiết kế, chế tạo dụng cụ thí nghiệm. Vì vậy phần lớn học
    sinh còn thụ động, thiếu tự tin trong học tập, chưa chủ động, sáng tạo trong
    việc lĩnh hội kiến thức nên kiến thức thu được không bền vững đặc biệt còn
    yếu trong việc thiết kế các phương án thí nghiệm.
    Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp do giáo viên tổ chức hướng dẫn được
    thực hiện ngoài thời gian học tập chính khoá nhằm lôi cuốn đông đảo học sinh
    tham gia, mở rộng, đào sâu, hoàn thiện kết quả giáo dục trong giờ lên lớp, đồng
    thời cũng là phương tiện để phát triển đầy đủ các năng lực của học sinh.
    Với mong muốn tiếp tục đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả dạy học
    môn Vật lí ở trường THPT nhằm tạo hứng thú học tập và phát triển được năng
    lực sáng tạo cho học sinh, tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài: Phát triển năng
    lực sáng tạo của học sinh thông qua hoạt động ngoại khóa thiết kế thí
    nghiệm Vật lý lớp 10.
    Qua sáng kiến này, tôi hi vọng sẽ giúp các đồng chí giáo viên tìm ra một
    phương án dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, phát triển năng
    lực của các em, đồng thời nâng cao kết quả học tập của học sinh, giúp các em
    thêm yêu thích môn Vật Lý.
    2. Cơ sở lí luận của vấn đề
    2.1. Vị trí, tác dụng của hoạt động ngoại khóa
    2.1.1. Vị trí
    Nhà trường phổ thông có ba hình thức tổ chức đào tạo là: Dạy học trên
    lớp, giáo dục hướng nghiệp dạy nghề, công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp.
    2.1.2. Tác dụng
    Mục đích bao trùm của hoạt động ngoài giờ lên lớp là hỗ trợ cho dạy học
    trên lớp thể hiện ở các mặt sau:
    + Tạo hứng thú học tập, bồi dưỡng tính ham hiểu biết
    + Tạo điều kiện gắn lí thuyết với thực tiễn, nội dung mềm dẻo và phương
    pháp sinh động hơn, thời gian đỡ gò bó hơn.
    + Phát huy tính tích cực, phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh.
    + Rèn cách thức hoạt động nhóm, tập thể, các phẩm chất, nhân cách học
    sinh
    + Phát hiện và bồi dưỡng phẩm chất, năng lực lao động tập thể cho học
    sinh.
    2.2. Các đặc điểm của hoạt động ngoại khóa
    – Tổ chức các hoạt động ngoại khoá thường được lập kế hoạch ngay từ
    đầu năm học.
    – Số lượng học sinh tham gia là không hạn chế, không phân biệt học sinh
    giỏi, kém mà chỉ chú ý tới hạt nhân lòng cốt.
    – Hình thức tổ chức phong phú đa dạng.
    – Việc đánh giá kết quả các hoạt động ngoại khoá của học sinh thông
    qua: Sản phẩm, tính tích cực, sáng tạo của học sinh, không cho điểm nhưng
    động viên khích lệ học sinh kịp thời.
    2.3. Nội dung và các hình thức tổ chức dạy học ngoại khoá về Vật lý
    + Nội dung ngoại khoá về vật lý: Nội dung ngoại khoá là những vấn đề gần
    gũi với học sinh và không tách với những nội dung kiến thức trên lớp.
    +Các hình thức hoạt động ngoại khoá về vật lý
    – Hoạt động ngoại khoá theo nhóm
    – Hoạt động ngoại khoá có tính chất quần chúng rộng rãi
    2.4. Qui trình tổ chức hoạt động ngoại khoá thiết kế thí nghiệm
    + Giáo viên lập kế hoạch hoạt động ngoại khoá:
    Xây dựng nội dung hoạt động ngoại khoá, nghiên cứu các thí nghiệm mẫu,
    dự kiến phương pháp dạy học và hình thức tổ chức hoạt động ngoại khoá.
    + Thực hiện kế hoạch hoạt động ngoại khoá
    + Tổng kết và rút kinh nghiệm: Thực nghiệm sư phạm.
    2.5. Phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
    trong dạy học vật lý
    Hoạt động ngoại khoá là hoạt động có rất nhiều điều kiện để phát huy
    tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh nên để có thể đánh giá
    được nó phải dựa vào một số tiêu chí.
    2.5.1. Tiêu chí đánh giá tính tích cực của học sinh trong hoạt động ngoại
    khoá
    a. Các biểu hiện của tính tích cực học tập
    + Học sinh khao khát tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của giáo viên,
    bổ sung câu trả lời của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về vấn đề nêu
    ra.
    + Học sinh hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề giáo
    viên trình bày chưa đủ rõ.
    + Học sinh chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã học
    để nhận ra vấn đề mới.
    + Học sinh mong muốn được đóng góp với thầy, những thông tin mới lấy
    từ những nguồn khác nhau, có khi vượt ra ngoài bài học, môn học.
    b. Các cấp độ của tính tích cực học tập
    Có thể phân biệt ở 3 cấp độ khác nhau từ thấp đến cao: Cấp độ 1- bắt
    chước Cấp độ 2 – Tìm tòi ; Cấp độ 3 – Sáng tạo
    2.5.2. Tiêu chí đánh giá năng lực sáng tạo trong hoạt động ngoại khoá
    a. Đặc điểm của sự sáng tạo
    Tri thức được đạt đến bằng cách suy luận liên tục, liên tiếp, trong đó mỗi
    một tư tưởng tiếp theo đều xuất phát một cách lôgic từ cái có trước, phụ thuộc
    vào cái có trước và là tiền đề của cái tiếp theo. Tri thức đạt được là hiển nhiên,
    chắc chắn không thể bắt bẻ được.
    Sự sáng tạo dựa trên tư duy trực giác, trong sáng tạo tri thức thu nhận
    được một cách nhảy vọt, một cách trực tiếp, các giai đoạn của nó không thể
    hiện một cách minh bạch và người suy nghĩ tới cái quyết định đó, con đường
    đó vẫn còn chưa được sáng tỏ ngay cả đối với chủ thể sáng tạo.
    Tính chủ quan của sự sáng tạo: Đặc điểm quan trọng nhất của sự sáng
    tạo là tính cách tân của sản phẩm tạo ra có tính chất chủ quan. Bất cứ một con
    người bình thường nào cũng đều tham gia sáng tạo ít nhiều trong cuộc sống của
    mình, người này có thể phát minh ra cái mà người khác trước đó đã phát minh
    ra hàng nghìn lần. Tuy nhiên đối với nhà khoa học thì chỉ những phát minh mà
    nhân loại chưa hề biết đến mới được coi là sáng tạo mới. Còn đối với học sinh
    thì sự sáng tạo là tạo ra cái mới đối với bản thân mình chứ giáo viên và nhiều
    người khác có thể đã biết rồi. Bởi vậy hoạt động sáng tạo đối với học sinh
    mang ý nghĩa là một hoạt động tập dượt sáng tạo lại. Điều quan trọng cần đạt
    được không phải là những sản phẩm sáng tạo mà là khả năng sáng tạo của họ.
    Kiến thức học sinh sáng tạo ra sau này sẽ quên đi vì ít được dùng đến, còn
    năng lực sáng tạo của họ thì sẽ luôn luôn được sử dụng trong hoạt động thực
    tiễn sau này, nhất là trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh quyết liệt ngày nay
    b. Các biểu hiện của sáng tạo
    Trong học tập, sự sáng tạo của học sinh được biểu hiện qua các hành
    động cụ thể như sau:
    + Từ những kinh nghiệm thực tế, từ kiến thức đã có, học sinh nêu được
    giả thuyết. Trong chế tạo dụng cụ thí nghiệm thì học sinh đưa ra được các
    phương án thiết kế, chế tạo dụng cụ và cùng một thí nghiệm đưa ra được nhiều
    cách chế tạo khác nhau. Đề xuất được những sáng kiến kỹ thuật để thí nghiệm
    chính xác hơn, dụng cụ bền đẹp hơn…
    + Học sinh đưa ra được dự đoán hệ quả của giả thuyết. Cụ thể là học sinh
    đưa ra dự đoán kết quả các thí nghiệm, dự đoán được phương án nào chính xác
    nhất, phương án nào mắc sai số, vì sao?.
    + Đề xuất được phương án dùng những dụng cụ thí nghiệm đã chế tạo để
    làm thí nghiệm kiểm tra các dự đoán trên và kiểm nghiệm lại kiến thức lý thuyết đã
    học.
    + Vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực tế một cách linh hoạt như giải
    thích một số hiện tượng vật lý và một số ứng dụng kỹ thuật có liên quan.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Thực trạng dạy học Vật lý ở trường THPT hiện nay
    Tại các trường THPT, phương pháp dạy học tích cực cũng đang dần
    được phổ biến, thay thế cho cách thức giảng dạy và tiếp nhận kiến thức một
    cách thụ động như trước đây. Các năm qua, việc đổi mới phương pháp dạy học
    bước đầu đã thu được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, hoạt động đổi mới
    phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông nhìn chung chưa mang lại
    hiệu quả cao. Truyền thụ tri thức một chiều vẫn là phương pháp dạy học chủ
    đạo của nhiều giáo viên. Số giáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạo trong
    việc phối hợp các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và
    sáng tạo của học sinh còn chưa nhiều. Việc ứng dụng công nghệ thông tin –
    truyền thông, sử dụng các phương tiện dạy học chưa được thực hiện rộng rãi và
    hiệu quả trong các trường trung học phổ thông. Hoạt động kiểm tra đánh giá
    chủ yếu chú ý đến yêu cầu tái hiện kiến thức và đánh giá qua điểm số. Các hoạt
    động dạy học nhằm phát triển năng lực học sinh ít được triển khai. Chính điều
    này đã dẫn đến tình trạng giáo viên và học sinh duy trì dạy học theo lối “đọc –
    chép” thuần túy, học sinh học tập thiên về ghi nhớ, ít quan tâm vận dụng kiến
    thức.
    Thực trạng nói trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có thể chỉ
    ra một số nguyên nhân cơ bản sau:
    – Nhận thức về sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra
    đánh giá nhằm phát triển năng lực của học sinh và ý thức thực hiện đổi mới của
    một bộ phận cán bộ quản lý, giáo viên chưa cao.
    – Lý luận về phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá chưa được
    nghiên cứu và vận dụng một cách có hệ thống.
    – Các hình thức tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục nhằm phát triển
    năng lực của học sinh còn nghèo nàn.
    – Nguồn lực phục vụ cho quá trình đổi mới phương pháp dạy học, kiểm
    tra đánh giá trong nhà trường như: cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, hạ tầng công
    nghệ thông tin – truyền thông vừa thiếu, vừa chưa đồng bộ, làm hạn chế việc áp
    dụng các phương pháp dạy học phát triển năng lực học sinh.
    2. Tổ chức hoạt động ngoại khóa cho học sinh thiết kế thí nghiệm Vật lý 10
    2.1. Mục tiêu cần đạt được về “động học chuyển động thẳng” ở lớp 10
    2.1.1. Kiến thức
    Sau khi học xong về “Động học chuyển động thẳng” học sinh cần nắm
    vững các nội dung kiến thức sau:
    – Nêu được khái niệm chuyển động, chất điểm, hệ qui chiếu, mốc thời gian,
    vận tốc.
    – Nhận biết được đặc điểm về vận tốc của chuyển động thẳng đều.
    – Nêu được ví dụ về chuyển động thẳng biến đổi đều (nhanh dần đều, chậm
    dần đều). Viết được công thức tính gia tốc của chuyển động biến đổi đều.
    – Nêu được đặc điểm của véc tơ gia tốc trong chuyển động thẳng nhanh dần
    đều, trong chuyển động thẳng chậm dần đều. Viết được công thức tính vận tốc
    vt =v0 + at ; phương trình chuyển động x = x0 + v0t +
    1 2
    at2 từ đó suy ra công thức
    tính đường đi.
    – Nêu được sự rơi tự do là gì, viết được công thức tính vận tốc và đường đi
    của chuyển động rơi tự do. Nêu được đặc điểm của gia tốc rơi tự do.
    2.1.2. Kỹ năng
    – Kỹ năng vẽ đồ thị vận tốc của chuyển động thẳng biến đổi đều, dựa vào
    đồ thị xác định đặc điểm của chuyển động.
    – Kỹ năng phán đoán, suy luận.
    – Kỹ năng lắp ráp dụng cụ thí nghiệm, thực hiện thí nghiệm
    – Kỹ năng thu thập, xử lý thông tin từ các thí nghiệm và đặc biệt là kỹ năng
    thiết kế các phương án thí nghiệm.
    2.2. Tìm hiểu thực tế dạy học về “Động học chuyển động thẳng”
    Phương pháp điều tra:
    – Điều tra giáo viên, học sinh (dựa vào phiếu điều tra, trao đổi trực tiếp, xem
    giáo án, dự giờ dạy trên lớp của giáo viên, bài kiểm tra, theo dõi học sinh ).
    – Tham quan phòng, kho thí nghiệm phục vụ cho việc dạy học phần “Động
    học chuyển động thẳng”
    Đối tượng điều tra: Giáo viên vật lý và học sinh lớp 10 trường THPT Trực
    Ninh- Huyện Trực Ninh- Tỉnh Nam Định.
    2.2.1. Tình hình dạy và học các kiến thức về “Động học chuyển động thẳng”
    a. Về phương pháp dạy học của giáo viên
    – Giáo viên chưa chủ động tổ chức được các hoạt động học tập giúp học sinh
    tự lực, tích cực chiếm lĩnh kiến thức mới.
    – Nhiều bài học lẽ ra có những phần giáo viên nên để cho học sinh tự đọc
    sách giáo khoa để thu thập thông tin nhưng giáo viên lại vẫn tập trung giảng dạy
    nên không phát huy được tính chủ động trong học tập của học sinh.
    – Các giáo viên không tận dụng được hết công dụng của các thí nghiệm sẵn
    có cũng như tiềm năng của học sinh lớp 10 trong việc thiết kế các thí nghiệm đơn
    giản để đưa vào bài dạy.
    b- Tình hình học tập của học sinh khi học về “Động học chuyển động thẳng”
    – Đa số các em đã có sự chủ động trong học tập song vẫn có một số em còn
    thụ động trong việc tiếp thu kiến thức: Lười suy nghĩ, lười hoạt động, ngại đặt câu
    hỏi về vấn đề đã học thậm chí cả những vấn đề mà học sinh chưa nắm được…
    – Một số học sinh còn thiếu tự tin: Không tự tin khi trả lời câu hỏi và với kiến
    thức mình đã có, không biết kiến thức đó là chính xác hay chưa chính xác.
    – Học sinh rất ít khi được làm thí nghiệm trên lớp khi nghiên cứu bài mới
    – Các em chưa được tham gia một buổi ngoại khoá nào về môn vật lý cũng
    như các bộ môn khác có hiệu quả
    – Học sinh chưa từng được giao nhiệm vụ làm dụng cụ thí nghiệm vật lý
    cũng như chưa bao giờ được tham gia các hoạt động mang tính chất vừa học vừa
    chơi về vật lý.
    2.2.2. Những sai lầm mắc phải khi học về: “Động học chuyển động thẳng”
    – Nhiều học sinh còn khó khăn, lúng túng khi giải các bài tập về đồ thị, thí
    nghiệm.
    – Nhiều học sinh lại quan niệm rằng cứ chuyển động thẳng nhanh dần đều thì
    a > 0 và chuyển động chậm dần đều thì a < 0.
    – Nắm chưa vững nguyên nhân của sự rơi nhanh, chậm của các vật trong
    không khí thậm chí còn mắc sai lầm khi học về phần này.
    – Nhiều học sinh còn có quan niệm sai lầm là: Công thức cộng vận tốc cho
    phép cộng vận tốc của vật này với vật khác mà không hiểu là công thức cộng vận
    tốc cho phép tìm được vận tốc của vật trong một hệ qui chiếu nếu biết vận tốc của
    nó trong hệ qui chiếu khác.
    – Các em còn lúng túng khi lắp ráp các dụng cụ thí nghiệm; kỹ năng thí
    nghiệm cũng như xử lý các dữ liệu thực nghiệm còn yếu.
    – Chưa được làm quen với cách thiết kế các phương án thí nghiệm nên còn
    lúng túng, dập khuôn.
    – Khả năng diễn đạt của học sinh còn chưa tốt, thường lúng túng và ấp úng
    khi diễn đạt các ý tưởng các vấn đề mà mình hiểu hay muốn nói
    a. Nguyên nhân dẫn tới những sai lầm của học sinh
    * Về phía giáo viên
    – Các giáo viên ít chú trọng đến việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm
    mục đích phát huy tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh.
    – Nhiều giáo viên chưa biết cách tổ chức cho học sinh thảo luận và làm thí
    nghiệm theo nhóm nhằm phát huy tính tích cực, phát triển các kĩ năng thí nghiệm
    và hình thành kiến thức một cách sâu sắc, vững chắc.
    – Giáo viên chưa sử dụng có hiệu quả các đồ dùng dạy học được trang bị ở
    trường, ít khi tự làm đồ dùng dạy học.
    * Về phía học sinh
    – Chịu ảnh hưởng nặng nề của cách học thụ động lại ít được làm thí nghiệm
    nên kiến thức học sinh nắm được còn hời hợt, khi vận dụng dễ mắc sai lầm.
    – Ít được tiếp xúc với các thí nghiệm nên kĩ năng thực nghiệm yếu, khả
    năng thu thập và xử lý thông chậm.
    – Học sinh không được tự tay làm thí nghiệm trên lớp trong giờ xây dựng
    tri thức mới hay trong giờ thực hành thí nghiệm.
    – Chưa từng được tham gia một hoạt động ngoại khoá nào về vật lý và chưa
    từng được giao nhiệm vụ làm dụng cụ thí nghiệm vật lý nhằm phát huy tính tích
    cực và phát triển năng lực sáng tạo.
    b. Một số giải pháp nhằm hạn chế, khắc phục sai lầm cho học sinh trong khi
    học về “Động học chuyển động thẳng”
    – Chúng tôi thiết nghĩ, để khắc phục được những sai lầm của học sinh hiện
    nay, trước hết trong dạy học nội khoá:
    + Nên tổ chức tốt các giờ học nội khoá theo hướng phát huy tính tích cực
    chủ động, sáng tạo của học sinh.
    + Tăng cường hoạt động theo nhóm học sinh, qua đó giúp các em phát huy
    được hết tính tự lực, tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của các em.
    + Cần quan tâm và sử dụng hiệu quả các đồ dùng dạy học được trang bị.
    – Bên cạnh việc đổi mới trong dạy học nội khoá, chúng ta cần phải đa dạng
    hoá hình thức dạy học:
    + Nên tổ chức một số hoạt động ngoại khoá về vật lý như hội vui vật lý
    v.v… Đặc biệt là nên tổ chức cho học sinh làm các dụng cụ thí nghiệm có tính
    chất đơn giản, rẻ tiền, dễ kiếm trong đời sống hàng ngày.
    + Nên tận dụng các giờ học tự chọn để làm các hoạt động ngoại khoá nhằm
    phát huy được tính tích cực và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong học
    tập.
    2.3. Xây dựng qui trình tổ chức hoạt động ngoại khoá thiết kế thí nghiệm
    Để xây dựng được qui trình tổ chức ngoại khoá phù hợp, hấp dẫn, trước hết
    giáo viên phải lập một kế hoạch cụ thể về nội dung, phương pháp dạy học ngoại
    khoá và hình thức tổ chức hoạt động ngoại khoá.
    Giáo viên hướng dẫn phải thiết kế và thực hiện các phương án thí nghiệm dự
    kiến giao cho học sinh để phát hiện những khó khăn mà các em có thể gặp phải khi
    thực hiện nhiệm vụ để từ đó có phương pháp hướng dẫn học sinh phù hợp và hiệu
    quả.
    Để tạo hứng thú cho các em trong hoạt động ngoại khoá thì nội dung phải
    sinh động, hấp dẫn. Bởi vậy chúng tôi dự kiến có một buổi để các em báo cáo sản
    phẩm đã chế tạo ra kết hợp với các câu hỏi, trò chơi vật lý vui.
    Việc tổ chức hoạt động ngoại khoá cho học sinh theo nội dung đã xây
    dựng trên sẽ :
    + Giúp trang bị dụng cụ thí nghiệm bổ trợ tốt cho các giờ nội khoá.
    + Giúp khắc phục những sai lầm mà học sinh thường mắc phải trong khi
    học
    + Hình thành và nâng cao ý thức tự sưu tầm, chế tạo các thí nghiệm phục
    vụ học tập từ những vật liệu đơn giản, dễ kiếm, rẻ tiền đồng thời rèn luyện kĩ năng
    khéo léo, trung thực, tỉ mỉ khi tự chế tạo lắp ráp các dụng cụ thí nghiệm.
    + Tạo sân chơi vật lý để các em được trao đổi, tranh luận trong nhóm và
    giữa các nhóm với nhau. Thông đó, kỹ năng tổ chức, giao tiếp của học sinh được
    hình thành và phát triển một cách toàn diện..
    + Hình thành và phát triển năng lực sáng tạo, rèn luyện kĩ năng làm thí
    nghiệm và trình bày thí nghiệm trước tập thể.
    2.3.1. Nội dung của hoạt động ngoại khóa
    Trao cho học sinh dưới dạng các nhiệm vụ học tập : chế tạo thí nghiệm
    về chuyển động thẳng đều (số lượng tuỳ thuộc vào mục tiêu, nhiệm vụ và thời
    gian thực hiện), một số thí nghiệm về sự rơi tự do và một nhiệm vụ cả lớp tham
    gia ở buổi cuối cùng là báo cáo sản phẩm đã chế tạo kết hợp với các trò chơi
    vật lý. Các nhiệm vụ đó tôi giao cho học sinh nghiên cứu và thực hiện theo các
    nhóm học tập ở nhà. Còn một nhiệm vụ cả lớp tham gia vào buổi cuối cùng –
    buổi giới thiệu sản phẩm các nhóm đã chế tạo và trò chơi vật lý. Các nhiệm vụ
    giao cho học sinh là:
    + Nhiệm vụ 1:
    Hình vẽ 2.1 trang 12 trong sách giáo khoa ban cơ bản lớp 10 mô tả
    chuyển động thẳng đều của một giọt nước trong dầu ăn. Em hãy chế tạo dụng
    cụ và tiến hành thí nghiệm đó.
    + Nhiệm vụ 2:
    Các em hãy thiết kế phương án thí nghiệm để nghiên cứu tính chất
    chuyển động của ống nghiệm rơi thẳng đứng trong nước, từ đó vẽ đồ thị biểu
    diễn tính chất chuyển động của nó.
    + Nhiệm vụ 3:
    Khi không có nước trong chai, một tay giữ cổ chai còn tay kia kéo miếng
    xốp xuống phía dưới đáy chai rồi thả tay giữ miếng xốp, ta thấy miếng xốp vẫn
    đứng yên ở đáy chai. Cho nước vào chai, đưa chai lên độ cao 1m, kéo miếng
    xốp xuống đáy chai và thả tay, ta thấy miếng xốp bị đẩy lên. Vậy khi đồng thời
    buông tay giữ miếng xốp ở đáy chai và buông tay giữ cổ chai để chai rơi tự do
    thì có hiện tượng gì xảy ra?Em hãy thiết kế phương án và thực hiện thí nghiệm
    để tìm ra câu trả lời cho câu hỏi trên.
    + Nhiệm vụ chung của lớp:
    Chuẩn bị trò chơi Vật Lý (bao gồm các câu hỏi thi trả lời nhanh giữa
    các đội chơi có liên quan phần động học, một số trò chơi theo kiểu “Đường lên
    đỉnh Olympia”, Trò chơi giành cho khán giả…)
    Tôi đã nghiên cứu và tổ chức hoạt động ngoại khóa cho học sinh lớp
    10A1, 10A2, 10A về chuyển động thẳng nhằm phát huy tính tích cực và bồi
    dưỡng năng lực sáng tạo của học sinh. Ở sáng kiến này, tôi vẫn theo định
    hướng tổ chức cho học sinh chế tạo và sử dụng các dụng cụ thí nghiệm từ các vật
    liệu đơn giản, rẻ tiền, dễ kiếm về chuyển động thẳng ở ngay đầu chương trình Vật
    lý lớp 10. Vì không có nhiều thời gian, để tổ chức buổi “ Hội vui Vật Lý” nên
    tôi chọn các nhiệm vụ khác, số lượng ít hơn và chỉ tổ chức cho học sinh báo
    cáo, giới thiệu sản phẩm mà học sinh chế tạo được trong tiết học tự chọn.
    Các nhiệm vụ tôi lựa chọn để giao cho học sinh gồm:
    + Nhiệm vụ 1:
    Đã biết chuyển động của bọt khí trong ống thuỷ tinh dài chứa đầy nước
    ứng với một góc nghiêng ( ) là chuyển động thẳng đều, các em hãy chế tạo dụng
    cụ thí nghiệm để minh hoạ, từ đó nghiên cứu xem vận tốc của bọt khí phụ thuộc
    vào những yếu tố nào?
    + Nhiệm vụ 2:
    Thả nhẹ một quả bóng bàn từ đỉnh của mặt phẳng nghiêng góc có rãnh
    trượt, ta thấy quả bóng chuyển động nhanh dần xuống dưới. Nếu quả bóng bàn
    chứa chất lỏng nhớt, nó còn chuyển động nhanh dần trên máng nghiêng nữa
    không? Em hãy thiết kế phương án thí nghiệm và nghiên cứu xem chuyển động
    của quả bóng bàn chứa một lượng chất nhớt trên máng nghiêng có rãnh trượt
    có thể chuyển động thẳng đều không? Vẽ đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa
    quãng đường và thời gian khi đó?
    + Nhiệm vụ 3:
    Khi thả nhẹ vỏ lon rỗng từ đỉnh của mặt phẳng nghiêng ta thấy vỏ lon sẽ
    chuyển động nhanh dần xuống dưới. Vậy khi vỏ lon có chứa các chất lỏng
    nhớt, tính chất chuyển động của nó có thay đổi không? Hãy thiết kế phương án
    thí nghiệm nghiên cứu tính chất chuyển động của các vỏ lon chứa các chất
    lỏng nhớt khác nhau và từ đó kiểm tra xem vận tốc của các vỏ lon có chứa các
    chất lỏng nhớt khác nhau đó phụ thuộc những yếu tố nào?
    2.3.2. Các thí nghiệm mà giáo viên đã nghiên cứu, chế tạo và dự kiến nội
    dung của các trò chơi vật lý.
    Để có thể xây dựng được nội dung của hoạt động ngoại khoá, qua quá trình
    điều tra thực tế dạy học cũng như qua nghiên cứu chương trình, mục tiêu dạy học,
    tôi đã lựa chọn được nội dung: chế tạo một số dụng cụ thí nghiệm từ những vật
    liệu đơn giản, dễ kiếm.
    Tuy nhiên để xây dựng được nội dung, phương pháp và hình thức tổ
    chức cụ thể của hoạt động ngoại khoá này, tôi đã tiến hành làm thử các thí
    nghiệm để xác định những khó khăn gặp phải khi thực hiện, từ đó có những dự
    kiến hướng dẫn cụ thể cho học sinh khi thực nghiệm.
    * Thí nghiệm 1: Chuyển động thẳng đều của bọt khí trong ống thuỷ tinh chứa
    đầy nước đặt nghiêng một góc ( ).
    • Mục đích thí nghiệm:
    – Chứng tỏ chuyển động của bọt khí trong ống thuỷ tinh đựng đầy nước với
    các góc nghiêng khác nhau là chuyển động thẳng đều.
    – Nghiên cứu sự phụ thuộc của vận tốc của bọt khí vào tiết diện của ống,
    góc nghiêng của ống và chiều dài của bọt khí trong ống.
    • Chế tạo – Cải tiến dụng cụ thí nghiệm:
    – Các ống thuỷ tinh trong suốt dài 500mm có các tiết diện khác nhau:
    12mm, 18mm và 22mm, một đầu ống kín còn một đầu hở có thể đậy kín bằng
    nút cao su (Có thể thay thế bằng ống thuỷ tinh của đèn ống bị hỏng). (1)
    – Để tránh cho các ống thuỷ tinh không bị vỡ, đóng 3 chiếc hộp gỗ dài
    55cm, mỗi hộp gồm có hai phần:
    Một phần khoét ở giữa một rãnh dọc theo chiều dài ống là 52cm, sâu và
    rộng lần lượt là: (12×12)cm, (18×18)cm và (22 x22) cm sao cho vừa lọt các ống
    thuỷ tinh. Một phần còn lại được khoét rãnh dùng làm nắp đậy.
    • Tiến hành thí nghiệm:
    – Đổ nước màu (pha thuốc tím vào nước lọc) vào ống, đậy kín, trong ống
    có chứa một bọt không khí (2) và đặt vào hộp gỗ (1)
    – Đặt một đầu ống lên cao (đặt đầu B của ống lên một khúc gỗ kê (4).
    (Dùng thước đo độ đo góc nghiêng )
    – Nâng đầu còn lại của ống (đầu A) lên cao sao cho bọt không khí dịch
    chuyển về A sau đó đặt đầu A xuống bàn nhẹ nhàng và cho đồng hồ bấm giây
    (3) chạy. Đọc đồng hồ bấm giây (khi bọt khí chạy đến vạch 10 cm), ghi lại kết
    quả vào bảng

    Quãng đường S
    (cm)
    Thời gian (t) (s)
    Lần 1 (t1)Lần 2 (t2)Lần 3 (t3)
    10
    20
    30…

    – Cho bọt khí trở về A và lại tiếp tục tiến hành thí nghiệm tương tự. Khi
    bọt khí đi đến vạch 20 cm, 30cm, 40cm,… Ghi kết quả vào bảng trên. Từ số
    liệu thu được, vẽ đồ thị biểu diễn mối quan hệ của quãng đường với thời gian.
    Tính vận tốc (v).
    – Làm thí nghiệm với từng ống, giữ nguyên chiều dài của bọt khí, thay
    đổi góc nghiêng ( ) của ống (di chuyển khúc gỗ kê phía dưới chẳng hạn) và
    nghiên cứu sự phụ thuộc giữa vận tốc của bọt khí với góc nghiêng ( ).
    – Giữ nguyên chiều dài của bọt khí và góc nghiêng, thay đổi tiết diện của
    ống để nghiên cứu mối quan hệ giữa vận tốc của bọt khí với tiết diện của ống
    (s).
    – Làm thí nghiệm với từng ống, giữ nguyên góc nghiêng của ống, thay
    đổi chiều dài của bọt khí trong ống (l) và nghiên cứu mối quan hệ giữa vận tốc
    bọt khí với chiều dài của nó (l) . So sánh các kết quả thu được
    Kết quả:
    – Bọt khí luôn chuyển động thẳng
    đều trong mọi trường hợp (với mọi góc
    nghiêng, mọi chiều dài bọt khí và trong
    mọi tiết diện).
    – Khi tiết diện của ống, chiều dài
    bọt khí không đổi, vận tốc của bọt khí
    phụ thuộc vào góc nghiêng nhưng không
    đều: khi 0 < < 450 , góc nghiêng  tăng
    thì v tăng và khi 450< <900, góc
    nghiêng tăng thì v giảm.
    – Khi chiều dài bọt khí và góc nghiêng không đổi thì vận tốc của bọt khí
    phụ thuộc vào tiết diện của ống: Khi tiết diện của ống tăng, vận tốc tăng
    – Khi tiết diện ống và góc nghiêng không đổi, vận tốc của bọt khí phụ
    thuộc chiều dài của bọt khí: Chiều dài bọt khí tăng thì vận tốc tăng.
    * Thí nghiệm 2: Chuyển động thẳng đều của quả bóng bàn có chứa Glyxerin
    trên mặt phẳng nghiêng.
    • Mục đích thí nghiệm:
    – Học sinh thiết kế được phương án và tiến hành thí nghiệm nhằm phát
    hiện được chuyển động của bóng bàn chứa chất nhớt trên mặt phẳng nghiêng là
    chuyển động thẳng đều.
    • Chế tạo dụng cụ:
    – Một khung nhôm có rãnh sâu và rộng dùng để định hướng chuyển
    động cho bóng (1).
    – Bốn quả bóng bàn giống hệt nhau: Một quả để nguyên còn ba quả dùng
    bơm kim tiêm loại to đưa Glyxerin vào một quả khoảng 1/3 thể tích, một quả
    khoảng 1/2 thể tích và một quả bơm vào 3/4 thể tích của quả bóng rồi dùng keo
    502 dán kín lại.
    Bọt khí trong ống có tiết diện S lớn hơn
    chuyển động nhanh hơn ống có tiết
    diện nhỏ
    • Tiến hành thí nghiệm:
    – Dùng một khúc gỗ (2) kê cao một
    đầu của máng (1) , đo góc nghiêng  của
    máng.
    – Đặt quả bóng thứ nhất không
    chứa glyxerin lên đầu trên của mặt phẳng
    nghiêng, thả nhẹ quả bóng trên rãnh trượt
    từ đỉnh xuống, quan sát chuyển động của
    quả bóng ta thấy quả bóng chuyển động
    nhanh dần.
    – Đặt quả bóng thứ hai (3) chứa 1/3 thể tích là Glyrerin lên đầu trên của
    máng nghiêng (1) và thả nhẹ.
    – Để nghiên cứu tính chất chuyển động của quả bóng, có hai cách:
    Cách 1: Dùng đồng hồ bấm giây (4) đo thời gian bóng chuyển động được
    quãng đường 10cm, 20cm, 30cm, 40cm, 50cm….120cm sau mỗi lần thả bóng
    và ghi kết quả vào bảng.

    Quãng đường S
    (cm)
    Thời gian (t) (s)
    Lần 1 (t1)Lần 2 (t2)Lần 3 (t3)
    10
    20
    120

    Lặp lại thí nghiệm nhiều lần để có kết quả chính xác.
    Cách 2: Dùng bút dạ (5) đánh dấu vị trí chuyển động của quả bóng sau
    những khoảng thời gian bằng nhau liên tiếp là 1s. Dùng thước (6) đo các quãng
    đường mà nó chuyển động được và ghi kết quả vào bảng. Lặp lại nhiều lần thí
    nghiệm để có kết quả chính xác.
    Quả bóng chứa glyxerin đang chuyển động
    đều xuống dưới máng nghiêng
    (5) (4) (1) (6) (2)
    (3)

    Lần thực hiện
    Quãng đường S (mm)
    S1S2S3S…Sn
    Lần 1
    Lần 2

    Từ kết các quả thu được ta vẽ đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa quãng
    đường và thời gian. Dựa vào đồ thị ta xác định được chuyển động của quả bóng
    (ví dụ khi quả bóng chứa 1/4 thể tích Glyxerin) là chuyển động thẳng đều sau
    khi nó vượt qua đoạn đường S (ví dụ 20 cm) đầu tiên kể từ vị trí thả tay (đồ thị
    s-t là một đường thẳng).
    – Làm tương tự với các quả bóng khác ta cũng thu được kết quả tương
    tự
    – Làm thí nghiệm với mỗi quả bóng, thay đổi góc nghiêng của máng.
    Lặp lại cách làm như trên, có thể tính được vận tốc của bóng trong mỗi trường
    hợp góc nghiêng khác nhau (ảnh 3).
    – Lặp lại nhiều lần thí nghiệm, so sánh các vận tốc và rút ra kết luận.
    Kết luận:
    + Sau khi quả bóng chứa Glyxerin chuyển động trên máng nghiêng qua
    đoạn đường S (ví dụ khi bong chứa ¼ thể tích Glixerin thì khi S =20 cm) đầu
    tiên kể từ vị trí thả tay, nó chuyển động thẳng đều.
    + Nếu giữ nguyên góc nghiêng thì vận tốc của quả bóng chứa glyxerin
    phụ thuộc vào khối lượng của glyxerin: Quả bóng chứa càng nhiều Glyxerin thì
    vận tốc càng lớn và ngược lại.
    + Với một khối lượng glyxerin không đổi thì vận tốc của quả bóng chứa
    glyxerin phụ thuộc vào góc nghiêng: Góc nghiêng càng lớn thì vận tốc của quả
    bóng càng lớn
    * Thí nghiệm 3: Chuyển động thẳng đều của vỏ lon chứa chất nhớt trên mặt
    phẳng nghiêng
    + Mục đích thí nghiệm:

    Thông qua việc thiết kế phương án và tiến hành thí nghiệm nghiên cứu
    về chuyển động của vỏ lon chứa chất nhớt và thông qua việc vẽ đồ thị biểu
    diễn mối quan hệ giữa quãng đường và thời gian nhằm phát hiện ra được khi
    vỏ lon chứa một chất nhớt có khối lượng xác định, với một góc nghiêng nhất
    định thì sẽ nó sẽ chuyển động thẳng đều.
    + Chế tạo dụng cụ
    – Dùng bốn vỏ lon bia hoặc nước ngọt (1): Vỏ lon thứ nhất để nguyên,
    vỏ lon thứ hai chứa 200g nước rửa bát; vỏ lon thứ ba chứa 200g Glyxerin; vỏ
    lon thứ tư chứa 200g dầu nhớt xe máy. Dùng keo dán hoặc băng dính trong dán
    chặt miệng ống lại.
    – Dùng một tấm gỗ phẳng, nhẵn kích thước (1200x200x20) mm (2) làm
    mặt phẳng nghiêng
    – Để tạo ra các góc nghiêng khác nhau của mặt phẳng nghiêng ta dùng
    các khúc gỗ (3) có kích thước khác nhau:(200x100x80)mm; (200x50x200)mm
    + Tiến hành thí nghiệm:
    – Đặt tấm gỗ (2) lên khúc gỗ kê (3) tạo ra một mặt phẳng nghiêng góc
    nghiêng .
    – Đặt vỏ lon rỗng (1) lên đầu trên của mặt phẳng nghiêng nhẵn (2) rồi
    buông tay, vỏ lon sẽ chuyển động nhanh dần đều xuống dưới mặt phẳng
    nghiêng.
    (5) (6) (7)
    Ba vỏ lon chứa ba chất nhớt khác nhau
    chuyển động với các vận tốc khác nhau
    trên cùng một mặt phẳng nghiêng
    (3)
    Vỏ lon chứa nước rửa bát đang
    chuyển động thẳng đều xuống
    chân máng nghiêng
    (2) (1) (4)
    – Lần lượt đặt các vỏ lon chứa ba chất lỏng khác nhau (5), (6), (7) lên
    đầu trên của mặt phẳng nghiêng rồi buông tay.
    Cách 1: Sau khi các vỏ lon chuyển động được quãng đường khoảng
    20cm tính từ lúc buông tay, bấm đồng hồ (4) để xác định thời gian mà các vỏ
    lon chuyển động được sau các quãng đường 10cm, 20cm, …50cm,…100cm.
    – Lặp lại thí nghiệm nhiều lần để có kết quả chính xác và ghi vào bảng

    Quãng đường S
    (cm)
    Thời gian (t) (s)
    Lần 1 (t1)Lần 2 (t2)Lần 3 (t3)
    10
    20…
    100

    Cách 2: Dùng phấn trắng đánh dấu vị trí chuyển động của vỏ lon sau
    những khoảng thời gian bằng nhau liên tiếp là 1s. Dùng thước đo các quãng
    đường mà nó chuyển động được. Lặp lại nhiều lần thí nghiệm để có kết quả
    chính xác.

    Lần thực hiện
    Quãng đường S (mm)
    S1S2S3S…Sn
    Lần 1
    Lần 2

    – Kết luận:
    + Như vậy sau khi vỏ lon chứa chất nhớt chuyển động qua một đoạn
    đường S (ví dụ khoảng 40cm) tính từ vị trí buông tay, ứng với mỗi chất lỏng có
    khối lượng nhất định và với một góc nghiêng thích hợp, các vỏ lon chứa các
    chất lỏng nhớt khác nhau sẽ chuyển động thẳng đều trên mặt phẳng nghiêng
    với một vận tốc nhất định. Cụ thể:
    + Khi vỏ lon chứa một lượng chất nhớt nào đó, ứng với một góc nghiêng
    thích hợp thì nó mới chuyển động thẳng đều.

    + Vỏ lon chứa chất có độ nhớt càng lớn (nước rửa bát) thì chuyển động với
    vận tốc càng nhỏ và ngược lại (vỏ lon chứa dầu nhớt chuyển động nhanh nhất).
    + Làm thí nghiệm với từng vỏ lon, giữ nguyên khối lượng chất nhớt,
    thay đổi góc nghiêng của mặt phẳng nghiêng ta thấy khi góc nghiêng tăng thì
    vận tốc của vỏ lon chứa chất nhớt tăng.
    + Làm thí nghiệm với cả ba lon chứa ba chất nhớt khác nhau nhưng có
    cùng khối lượng thì chất nhớt nào có hệ số nhớt càng lớn thì vận tốc của lon
    chứa chất nhớt đó càng nhỏ và ngược lại (ảnh 5).
    + Làm thí nghiệm với từng vỏ lon, với cùng một góc nghiêng, thay đổi
    khối lượng chất lỏng nhớt trong các lon thì vỏ lon chứa nhiều chất lỏng sẽ
    chuyển động với vận tốc lớn hơn (ảnh 4)
    2.4. Hình thức tổ chức hoạt động ngoại khoá thiết kế thí nghiệm.
    – Hình thức: Kết hợp hoạt động cá nhân, hoạt động theo nhóm và tập thể.
    Nhưng hoạt động theo nhóm và hoạt động tập thể là chính. Nội dung cụ thể:
    + Nội dung 1: Giáo viên làm việc chung với cả lớp khoảng 20 phút để
    giao nhiệm vụ chung cho cả lớp, sau đó phân nhóm và giao nhiệm vụ cho từng
    nhóm cụ thể.
    + Nội dung 2: Các học sinh làm việc theo từng nhóm ở nhà. Thời gian
    thực hiện khoảng 20 ngày ở nhà
    + Nội dung 3: Giáo viên dự kiến những khó khăn mà học sinh có thể gặp
    phải trong quá trình thực hiện nhiệm vụ để có những hướng dẫn học sinh kịp
    thời, có hiệu quả.
    2.5. Dự kiến những khó khăn mà học sinh gặp phải
    Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu tính chất chuyển động thẳng đều của bọt khí
    trong ống thuỷ tinh đựng nước
    Ở thí nghiệm này, tôi dự kiến học sinh sẽ gặp một số khó khăn:
    – Khó tìm được ống thuỷ tinh theo đúng yêu cầu, hoặc nếu có nghĩ đến
    dùng đèn ống thuỷ tinh hỏng thì rất khó cắt một đầu của bóng, việc rửa sạch
    ống cũng không đơn giản; hay việc suy nghĩ xem vận tốc của bọt khí phụ thuộc
    vào những yếu tố nào thì cũng rất khó khăn.
    Khi học sinh gặp khó khăn đó thì giáo viên dự kiến sẽ hướng dẫn các em:
    + Nếu học sinh chưa nghĩ đến dùng đèn ống cắt bỏ một đầu sau đó rửa sạch
    ống bằng nước sạch thì chúng tôi sẽ hướng dẫn học sinh theo hướng đó.
    + Nếu học sinh đã nghĩ đến và thực hiện theo phương án đã được giáo
    viên hướng dẫn nhưng vẫn gặp khó khăn là nơi ở của học sinh không có chỗ
    cắt kính, phải đi rất xa mới làm được thì chúng tôi có thể đưa ra phương án
    hướng dẫn học sinh mua ống thuỷ tinh (nếu nơi ở của các em có cơ sở chế tạo).
    + Trong quá trình làm thực nghiệm, nếu học sinh không nghĩ đến vận tốc
    của bọt không khí phụ thuộc vào tiết diện của ống thì giáo viên có thể hướng
    dẫn học sinh thảo luận để tìm ra được.
    + Nếu học sinh có khó khăn không thể có được các ống thuỷ tinh có tiết
    diện khác nhau thì GV sẽ cung cấp cho học sinh các ống thuỷ tinh đó và yêu
    cầu học sinh tìm phương án hạn chế những nhược điểm của ống thuỷ tinh là dễ
    vỡ.
    – Một khó khăn nữa mà học sinh gặp phải là không tìm kiếm được nút
    bằng cao su để đậy ống nghiệm sao cho nó không bị hở. Khi đó tôi sẽ gợi ý học
    sinh mượn ở phòng hoá học ở trường phổ thông. Nếu không được thì tôi dự
    kiến sẽ mượn ở phòng thí nghiệm của nhà trường một số nút cao su để đưa cho
    các em.
    – Khi làm thí nghiệm, học sinh sẽ còn gặp khó khăn khi nghiên cứu sự
    phụ thuộc vận tốc của bọt không khí với góc nghiêng  vì thấy trái với suy
    nghĩ của các em là khi góc nghiêng lớn hơn 45 độ thì vận tốc của bọt không khí
    lại giảm khi góc nghiêng tăng. Lúc đó tôi dự kiến sẽ hướng dẫn các em:
    + Trong quá trình thực hiện thí nghiệm khi thấy có sự bất thường của kết
    quả thì các em hãy tập trung nghiên cứu kĩ và xem xét với góc  tăng từng độ
    xem kết quả như thế nào và làm thật nhiều lần để có kết luận chính xác.
    + Ngoài ra, nếu các nhóm thực hiện thí nghiệm đưa ra dự đoán là vận tốc
    của bọt khí tăng nếu góc nghiêng tăng thì tôi có thể đặt câu hỏi cho học sinh là
    liệu vận tốc của bọt khí có tăng tỉ lệ thuận với độ tăng của góc nghiêng không
    và nó có tăng mãi nếu góc nghiêng  cứ tăng dần đến 90 độ không?
    Với cách hướng dẫn học sinh như vậy, tôi tin là sẽ giúp các em giải toả
    tâm lý căng thẳng, phát huy hết được tính tính cực và phát triển năng lực sáng
    tạo của mình.
    Nhiệm vụ 2: Thí nghiệm nghiên cứu về chuyển động của quả bóng bàn
    có chứa chất lỏng nhớt (Glyxerin, nước rửa bát..).
    Ở thí nghiệm này chúng tôi giao cho học sinh với nhiệm vụ rất cụ thể,
    tuy nhiên khi thực hiện nhiệm vụ này, học sinh sẽ không tránh khỏi những khó
    khăn. Vì vậy tôi dự kiến hướng dẫn học sinh khi các em như sau:
    – Khó khăn đầu tiên là có thể có nhóm các em không nghĩ đến việc dùng
    khung nhôm của cửa kính, cửa chớp làm đường chuyển động cho bóng bàn.
    Nếu vậy, chúng tôi dự kiến sẽ hướng dẫn các em: Vật liệu có thể tạo ra độ
    phẳng nhẵn tốt nhất mà các em có thể tìm được trong cuộc sống hàng ngày là
    những vật liệu nào?
    Cách gợi ý này có thể các em sẽ nghĩ đến việc làm mặt phẳng nghiêng
    bằng khung nhôm, bằng inox..v.v… nhưng có thể sẽ chưa nghĩ đến việc dùng
    khung nhôm có rãnh để bóng chuyển động. Cũng có thể các em sẽ đưa ra
    phương án dùng mặt phẳng bằng gỗ, bào nhẵn đi làm đường cho bóng chuyển
    động mà cũng chưa nghĩ đến việc làm rãnh để định hướng chuyển động của
    bóng.
    Nếu vậy tôi dự kiến sẽ gợi ý các em bằng các câu hỏi: Nếu các em thả
    bóng bàn trên mặt phẳng nghiêng thông thường thì việc thả bóng ở các lần
    khác nhau liệu có hoàn toàn giống nhau không và quĩ đạo chuyển động của
    bóng trong các lần thả đó có giống nhau không? Nếu quĩ đạo mà bóng chuyển
    động ở các lần thí nghiệm không giống nhau thì có khó khăn khi nghiên cứu
    không?
    Với cách đặt các câu hỏi định hướng như vậy sẽ là những gợi ý để các
    em suy nghĩ đến việc tạo ra một đường (rãnh) với mặt phẳng nghiêng bằng gỗ
    hay lựa chọn khung nhôm có rãnh để định hướng chuyển động của quả bóng
    sao cho mọi lần làm thí nghiệm, quả bóng chuyển động giống hệt nhau.
    – Học sinh còn có thể gặp khó khăn nữa là không biết đưa chất nhớt vào
    bóng như thế nào. Khi đó, tôi sẽ gợi ý cho các em như: Để đưa được chất lỏng
    nhớt vào bình thì thông thường hay dùng dụng cụ gì? Khi đó học sinh sẽ nghĩ

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Thiết kế và chế tạo một số thiết bị thí nghiệm kết nối với điện thoại thông minh được sử dụng trong dạy học vật lí nhằm bồi dưỡng năng lực thực nghiệm của học sinh

    SKKN Thiết kế và chế tạo một số thiết bị thí nghiệm kết nối với điện thoại thông minh được sử dụng trong dạy học vật lí nhằm bồi dưỡng năng lực thực nghiệm của học sinh

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Đổi mới giáo dục đã và đang là một trong những nhiệm vụ quan trọng
    và vô cùng cấp thiết của ngành Giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu tạo ra nguồn nhân lực
    đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội. Nghị quyết hội nghị Trung ương 8 khóa XI của
    BCHTW đã nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng
    hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của
    người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy
    cách học, cách nghĩ, khuyến khich tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới
    tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình
    thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa,nghiên cứu khoa học…”
    Như vậy, chương trình giáo dục của nước ta cần phải đổi mới cả về nội dung, phương
    pháp và phương tiện dạy học từ giáo dục định hướng nội dung sang giáo dục định hướng
    phát triển năng lực.
    Chương “Dao động cơ” là một chương nằm ở đầu chương trình vật lí lớp 12 ở
    trường THPT. Để HS hiểu rõ hơn về quá trình nghiên cứu quy luật dao động của các loại
    con lắc, ngoài việc sử dụng phương trình động lực học và các phương trình tổng hợp lực
    để thiết lập tìm ra dạng đồ thị của li độ theo thời gian, HS cần được quan sát hoặc tiến
    hành các TN để khảo sát trực tiếp dạng đồ thị này, tính toán định lượng một số đại lượng
    cơ bản như biên độ, tần số… Các kiến thức này có đặc điểm là có thể xây dựng theo kiểu
    dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề theo con đường SLLT nhằm bồi dưỡng năng lực
    thực nghiệm của học sinh. Để dạy học các kiến thức về dao động của các loại con lắc một
    cách hiệu quả, ngoài việc cần nghiên cứu một cách cụ thể tiến trình dạy học giải quyết
    vấn đề cho các nội dung kiến thức này còn cần có TBTN đảm bảo được các yêu cầu về
    mặt kĩ thuật, tiện dụng, đảm bảo tính chính xác và thẩm mĩ. Đặc biệt, nếu TBTN được
    tiến hành dưới dạng TN thực tập của HS sẽ giúp tăng cường hoạt động thực nghiệm của
    HS trong giờ học, nhờ đó có thể phát triển toàn diện cả về kiến thức, kĩ năng cũng như có
    thể dễ dàng chiếm lĩnh các nội dung kiến thức mới.
    2
    Đối với nội dung dạy và học phần “Dao động” trong chương trình Vật Lý lớp 11-
    chương trình GDPT, đây là phần nội dung mang tính thực tiễn cao nghiên cứu về các dao
    động cơ học trong cuộc sống, nguyên nhân của các chuyển động và quy luật của các
    chuyển động đó. Trong đó có dao động của con lắc lò xo, dao động của con lắc đơn, đao
    động của con lắc vát lý,… Nhìn chung, các bộ thí nghiệm sử dụng trong phần dao động
    còn chịu ảnh hưởng của lực cản, chưa đo được các giá trị cụ thể của tọa độ theo thời gian.
    Một trong những cách để cải thiện chất lượng các phòng thí nghiệm đó là sử
    dụng công nghệ máy tính hiện đại hoặc điện thoại thông minh trong các thí nghiệm biểu
    diễn và thực hành của học sinh. Điện thoại thông minh, công nghệ thông tin và truyền
    thông hiện đại là một phần thiết yếu trong cuộc sóng hàng ngày của chúng ta. Do đó
    việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong dạy học Vật lí là một điều tất yếu.
    Để giải quyết vấn đề này tôi đã sử dụng cảm biến và Arduino. Vì, cảm biến có thể
    đo được trực tiếp các đại lượng vật lý trên, ngoài ra cảm biến và Arduino có cấu tạo nhỏ
    gọn, chi phí thấp nhưng có thể tương tác giữa môi trường và các thiết bị điện tử để đo
    đạc, điều khiển góp phần giải quyết một số vấn đề đang gặp phải của thí nghiệm phổ
    thông như: vấn đề về giá thành, vấn đề về kích thước và vấn đề dụng cụ đo đạc chưa đo
    được trực tiếp một số đại lượng vật lý,… Ngoài ra, arduino dễ sử dụng, lập trình đơn giản
    và có thể học một cách nhanh chóng.
    Các số liệu thu thập được từ cảm biến và arduino sẽ hiển thị lên màn hình điện
    thoại thông minh thông qua kết nối bluetooth. Vì hiện nay với sự phát triển của khoa học
    kỹ thuật thì điện thoại thông minh được sử dụng phổ biến, giá cả thấp, hầu như mỗi
    người đều sử dụng và phần lớn các học sinh đều sở hữu chiếc điện thoại thông minh có
    thể kết nối bluetooth.
    Với các lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn và nghiên cứu giải pháp: “Thiết kế và chế
    tạo thiết bị thí nghiệm kết nối với điện thoại thông minh được sử dụng trong dạy học
    vật lí nhằm bồi dưỡng năng lực thực nghiệm của học sinh.”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Thực trạng dạy học các kiến thức về dao động của con lắc đơn và con lắc lò
    xo ở trường THPT
    1.1. Thực trạng sử dụng thiết bị thí nghiệm
    3
    Thực trạng về thiết bị thí nghiệm
    – Các trường phổ thông ở các tỉnh thường kết hợp phòng thiết bị của các môn lại chung
    trong một phòng, chưa có phòng thực hành bộ môn riêng; chỉ có các trường thành phố mới
    được trang bị phòng thực hành bộ môn riêng, tuy nhiên các phòng học này vẫn chưa được sử
    dụng hiệu quả.
    – Các TBTN đã có không đảm bảo (hỏng hóc, mất mát chi tiết) dẫn đến TN cho kết quả
    không chính xác.
    – TBTN đã có chưa đáp ứng được các yêu cầu về dạy học theo hướng phát huy tính tích
    cực và phát triển năng lực thực nghiệm của HS.
    Thực trạng sử dụng thiết bị thí nghiệm
    Nhìn chung, các TBTN được cung cấp không được sử dụng hoặc có sử dụng nhưng
    không hiệu quả. Nguyên nhân là do chất lượng của thiết bị chưa đảm bảo, chưa có định
    hướng dạy học phát triển năng lực có sử dụng các thiết bị này một cách cụ thể nhằm đạt
    được hiệu quả tối ưu trong hoạt động dạy và học.
    1.2. Các sai lầm của học sinh thường gặp trong tiến hành thí nghiệm
    – Cho rằng chu kì dao động của các con lắc phụ thuộc vào ban đầu kéo vật ra khỏi vị trí cân
    bằng một đoạn bao nhiêu và tác dụng lực mạnh hay yếu vào vật ngay trước lúc buông tay.
    – Cho rằng chu kì dao động của con lắc lò xo thẳng đứng phụ thuộc vào gia tốc trọng trường
    g và khối lượng vật nặng do ở vị trí cân bằng, dưới tác dụng của vật nặng, lò xo dãn ra một
    đoạn xác định.
    – Cho rằng chu kì dao động của con lắc đơn phụ thuộc vào khối lượng vật nặng, vật càng
    nặng thì chu kì dao động càng tăng.
    – Cho rằng biểu thức tính chu kì dao động của con lắc đơn và con lắc vật lí là như nhau (cùng
    phụ thuộc vào các đại lượng như nhau).
    1.3. Những ưu điểm, nhược điểm của các thiết bị thí nghiệm đã biết được sử
    dụng trong dạy học các kiến thức về dao động
    Trong danh mục các TBTN để dạy học các kiến thức về dao động của các loại con
    lắc chỉ có các thiết bị khảo sát chu kì dao động của con lắc đơn và con lắc lò xo thẳng
    đứng; thiết bị ghi đồ thị li độ dao động của con lắc đơn. Ngoài ra còn có TN ảo với phần
    mềm Crocodile dành cho con lắc lò xo thẳng đứng, một số thí nghiệm sử dụng cảm biến
    lực và bộ chuyển đổi Elab được nối với máy tính sử dụng phần mềm Coach 7 trên máy
    tính
    4

    Hình 1:Thiết bị khảo sát dao động của các loại con lắc.

    1.3.1. Ưu điểm
    – TBTN khảo sát chu kì dao động của con lắc đơn, con lắc lò xo thẳng đứng tương đối đơn
    giản và dễ tiến hành.
    – TBTN ghi đồ thị li độ dao động của con lắc đơn: có thể THTN biểu diễn hoặc TN thực
    hành (trong giờ thực hành cuối chương) để HS quan sát trực quan dạng đồ thị li độ dao động.
    – TN ảo đối với con lắc lò xo thẳng đứng sử dụng phần mềm Crocodile thì dễ tiến hành, cho
    số liệu TN chính xác.
    – Bộ thí nghiệm sử dụng cảm biến lực và bộ chuyển đổi Elab được nối với máy tính
    sử dụng phần mềm Coach 7 trên máy tính sẽ tự động thu thập số liệu và vẽ đồ thị dao
    động của vật, dùng khớp hàm để tìm hàm dao động của lò xo.
    – TBTN kết nối với máy vi tính cho kết quả chính xác, tin cậy.
    – Thiết bị ghi lại hình chiếu của li độ dao động lên một bản phẳng chuyển động đều có sử
    dụng bút từ ghi đã hạn chế được tác hại của lực ma sát nên kết quả thu được đáng tin cậy.
    Việc tiến hành lại TN cũng thuận lợi hơn do không phải mất công lau rửa bản ghi như đối
    với việc ghi bằng bút lông.
    1.3.2. Nhược điểm
    – TBTN khảo sát chu kì dao động của con lắc đơn, con lắc lò xo thẳng đứng đều dưới dạng
    TN biểu diễn của GV, chỉ xác định được chu kì mà không nghiên cứu được quy luật dao
    động. Việc xác định chu kì thông qua việc đo thời gian giữa một số lần vật đi qua vị trí cân
    bằng/vị trí biên không được chính xác, do việc đếm khi nào vật đến vị trí cân bằng/vị trí biên
    chỉ là tương đối, chủ quan.
    5
    – TBTN ghi đồ thị li độ dao động của con lắc đơn: TN này khó tiến hành, ma sát giữa bút
    lông và mặt bảng làm dao động tắt dần nhanh, do sử dụng bút lông và bản ghi nên phải tẩy
    xóa, lau rửa bản ghi mỗi lần muốn tiến hành lại TN gây bẩn tay và mất thời gian.
    – TN ảo đối với con lắc lò xo thẳng đứng sử dụng phần mềm Crocodile: TN này có điểm hạn
    chế là không phải TN thực nên mức độ tin cậy đối với HS chưa được cao.
    – TBTN kết nối với máy vi tính của nước ngoài thì đắt tiền, giao diện tiếng nước ngoài khó
    sử dụng trong dạy học ở phổ thông ở Việt Nam.
    – TBTN kết nối với máy vi tính trong nước vẫn có sơ đồ kết nối phức tạp và chi phí tuy có
    giảm nhưng vẫn khá cao.
    – TBTN ghi đồ thị li độ dao động bằng bút từ có hệ thống tương đối cồng kềnh do có nhiều
    chi tiết, việc phân tích kết quả thu được từ thí nghiệm gồm nhiều công đoạn (chụp ảnh đồ thị
    thu được, phân tích bằng máy tính…) phần mềm Coach 7 để hiển thị và xử lí số liệu tự động
    cần mua bản quyền với giá cao.
    – Cho rằng nếu đem con lắc lò xo ngang cho dao động thẳng đứng thì chu kì sẽ thay đổi.
    Như vậy, các TBTN khảo sát về dao động của các loại con lắc đã có ở trường phổ thông hiện
    nay chưa đáp ứng được yêu cầu của việc dạy và học, chưa đảm bảo tính chính xác và tiện
    dụng cho quá trình nghiên cứu, chưa có TBTN dưới dạng thực tập hỗ trợ hoạt động học tập
    của HS ngay trong quá trình tìm hiểu kiến thức mới.
    2. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    2.1. Vấn đề cần giải quyết.
    Sử dụng điện thoại thông minh có thể kết nối với thí nghiệm Vật lí để hiển thị các thông tin,
    số liệu thu thập được từ tiến hành thí nghiệm, vẽ đồ thị li độ – thời gian. TBTN kết nối với
    điện thoại thông minh có sơ đồ kết nối đơn giản và chi phí rẻ hơn những thiết bị thí nghiệm
    kết nối với máy tính.
    2.2. Những đặc tính mới, sự khác biệt của TBTN kết nối với điện thoại thông
    minh.
    a. Sử dụng điện thoại thông minh trong dạy học vật lí
    Hiện nay, trong bối cảnh xã hội chuyển biến mạnh mẽ, hướng đến chuyển đổi số
    trong giáo dục, ngành giáo dục đang hướng dẫn và khuyến khích giáo viên, học sinh sử
    dụng và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Khi đã dạy học qua internet thì

    Tính mới

    6
    phải có phương tiện cho học sinh truy cập vào các nguồn học liệu như máy tính, điện
    thoại di động và các công cụ khác,… Điện thoại thông minh thiết bị có thể thay thế một
    phần máy tính
    Điện thoại thông minh hay smartphone là một loại điện thoại di động cầm tay được
    tích hợp nhiều chức năng như một chiếc laptop: chụp ảnh, quay phim, chơi game, văn
    phòng, đồ họa, video call, định vị toàn cầu,…Một số hãng sản xuất điện thoại thông minh
    như: Samsung, Apple, Oppo, Vivo, Xiaomi,…với các hệ điều hành như Android, iOS,
    Window,… Trong đó, có tới 80% điện thoại thông minh sử dụng hệ điều hành Android.
    Ngày nay, bởi sự tiện dụng cũng như giá cả phải chăng mà điện thoại thông minh
    được sử dụng phổ biến thậm chí trong cả học sinh, sinh viên. Chính vì vậy, việc sử dụng
    điện thoại thông minh trong dạy học là một thuận lợi, không chỉ thế điện thoại thông
    minh với vai trò như một chiếc máy tính nhỏ gọn nó thay thế được một phần của máy
    tính trong dạy học nói chung cũng như dạy học Vật Lý nói riêng.
    Thứ nhất, trình chiếu các nội dung học tập: các nhiệm vụ học tập, các powerpoint,
    các video về thí nghiệm mô phỏng hay các mô hình chuyển động, tranh ảnh… từ điện
    thoại lên máy chiếu. Ví dụ một chiếc điện thoại thông minh hệ điều hành Android như
    Samsung S7 có thể kết nối với các máy chiếu của Espon hay Panasonic bằng các ứng
    dụng không dây như wifi, bluetooth,…
    Thứ hai, điện thoại thông minh có thể kết nối mạn internet để là một môi trường
    trao đổi học tập giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh. Ngoài ra điện
    thoại thông minh kết nối internet cũng là nguồn tài liệu học tập phong phú cho giáo viên
    và học sinh.
    b. Thiết bị thí nghiệm kết nối với điện thoại thông minh
    Để hỗ trợ các TN vật lí thì điện thoại thông minh cần được kết nối với các TBTN.
    Sơ đồ hệ thống TN ghép nối với điện thoại thông minh về mặt nguyên lí:
    Arduino Uno
    R3 xử lý và
    ghi nhận số
    liệu
    Nguồn DC 5
    V
    Khối cảm
    biến
    Module
    bluetooth
    Điện
    thoại
    thông
    minh
    Sơ đồ 1: Hệ thống thí nghiệm ghép nối với điện thoại thông minh
    7
    Theo sơ đồ này, việc thu thập các số liệu đo về đối tượng nghiên cứu được đảm
    nhm bởi bộ phận có tên là bộ “cảm biến”. nguyên tắc làm việc của bộ cảm biến như sau:
    trong bộ cảm biến, các tương tác của đối tượng đo lên bộ cảm biến dưới các dạng khác
    nhau như cơ, nhiệt, điện, quang, từ… đều được chuyển thành tín hiệu điện. Mỗi một bộ
    cảm biến nói chung chỉ có một chức năng hoặc chuyển tín hiệu cơ sang tín hiệu điện,
    hoặc chuyển tín hiệu quang sang tín hiệu điện.
    Sau khi tín hiệu điện được hình thành tại bộ cảm biến, nó sẽ được chuyển qua mạch
    điều khiển Arduino, và được hiển thị trên điện thoại thông minh thông qua Bluetooth.
    Như vậy, các tín hiệu được coi là cơ sở dữ liệu và có thể lưu trữ lâu dài điện thoại thông
    minh.
    Các ưu điểm cơ bản của TN được hỗ trợ bằng điện thoại thông minh:
    – Có tính trực quan cao hơn trong việc trình bày số liệu đo, hiển thị kết quả.
    – Tiết kiệm rất nhiều thời gian do thu thập cũng như xử lí số liệu hoàn toàn tự động.
    – Cho phép thu thập nhiều bộ dữ liệu thực nghiệm trong thời gian rất ngắn.
    – Độ chính xác cao do sử dụng các thiết bị và phương pháp tính hiện đại.
    – Tiết kiệm thời gian lắp đặt TN.
    – Không đòi hỏi ở người sử dụng những hiểu biết nhiều về những chức năng của
    điện thoại thông minh, hay ngôn ngữ lập trình, cac app trên điện thoại.
    Hiện nay ở Việt Nam, thiết bị TN kết nối với điện thoại thông minh vẫn còn mới
    mẻ, chưa có nhiều nghiên cứu về lí luận cũng như thực tiễn về vấn đề này để khai thác
    những ưu điểm của điện thoại thông minh trong dạy học.
    2.3. Nội dung giải pháp
    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
    1.1.Năng lực thực nghiệm
    1.1.1. Khái niệm năng lực thực nghiệm
    8
    Năng lực thực nghiệm là một trong những năng lực thuộc nhóm năng lực chuyên biệt của
    các môn khoa học nói chung và môn Vật lí nói riêng, là năng lực quan trọng cần bồi dưỡng và
    phát triển cho HS trong dạy học Vật lí.
    Theo Phạm Thị Bích Đào và Đặng Thị Oanh [2]: “NLTN là khả năng vận dụng các kiến
    thức, kĩ năng thực nghiệm cùng với thái độ tích cực và hứng thú để giải quyết các vấn đề đặt ra
    trong thực tiễn một cách phù hợp và hiệu quả. NLTN của HS phố thông là khả năng vận dụng
    các kiến thức, kĩ năng thực nghiệm cùng với thái độ tích cực và hứng thú để giải quyết các
    nhiệm vụ đặt ra trong quá trình học tập và vấn đề đặt ra liên quan đến thực tiễn một cách phù
    hợp, hiệu quả của NLTN được thể hiện thông qua hoạt động thực hiện thành công thí nghiệm,
    chế tạo các dụng cụ thí nghiệm hoạt động dựa trên nguyên tắc, định luât liên quan đến khoa học
    tự nhiên để phục vụ cuộc sống. Như vậy, NLTN gắn liền với khả năng hành động, đòi hỏi học
    sinh phải giải thích được, làm được, vận dụng được những kiến thức lý thuyết vào thực tiễn”.
    Như vậy, theo nghĩa rộng, NLTN là khả năng HS vận dụng nhữn kinh nghiệm, tri thức, kĩ
    năng của bản thân một cách hợp lí, khoa học để thực hiện thành công một nhiệm vụ thực nghiệm
    trong quá trình học tập, nghiên cứu.
    Theo nghĩa hẹp, NLTN là khả năng thực hiện thành công việc phát hiện vấn đề cần giải
    quyết bằng phương pháp thực nghiệm; đề xuất được các dự đoán, giả thuyết; thiết kế và tiến
    hành được các phương án thí nghiêm, nhật xét được kết quả và rút ra được kết luận về kiến thức.
    1.1.2. Cấu trúc năng lực thực nghiệm
    Theo Schreiber, N.,Theyssen, H  Schecker, H [16], cấu trúc của NLTN bao gồm 4 thành
    tố và 16 chỉ số hành vi được thể hiện bằng sơ đồ dưới đây.
    9

    NĂNG LỰC THỰC NGHIỆM
    Xác định vấn
    đề và đề
    xuấtphương
    Thiết kế
    phương án thí
    nghiệm
    Tiến hành
    thí nghiệm
    Xử lí, phân
    tích, báo cáo,
    kết luận.
    Xác định câu
    hỏi, mục đích
    TN
    Xác định
    phương án TN
    Lựa chọn các
    dụng cụ, thiết
    bị TN
    Xử lí kết quả
    TN
    Đề xuất các
    dự đoán
    Xác địnhdụng
    cu, thiết bi TN
    Sử dụng dụng
    cụ, thiết bị
    Phân tích kết
    quả
    Đề xuất các hệ
    quả rút ra từ
    dự đoán/ giả
    thuyết có thể
    kiểm tra bằng
    TN
    Mô tả
    thiết kế
    TN
    Thực hiện
    quy trình
    TN
    Báo cáo kết
    quả
    Đề xuất
    phương án
    TN
    Xác định
    quy trình TN
    Thu thập thông
    tin về kết quả
    TN
    Rút ra kết luận
    về kiến thức

    án
    Sơ đồ 1.1 : Cấu trúc năng lực thực nghiệm
    10
    1.1.3. Các mức độ biểu hiện của năng lực thực nghiệm của HS trong học tập
    Dựa vào luận án Tiến sĩ của XAYPASEUTHVYLAYCHI do PGS. TS. Nguyễn Văn Biên
    và TS. Nguyễn Anh Thuấn hướng dẫn [16], mức độ biểu hiện của năng lực thực nghiệm của HS
    được xây dựng :
    a) Xác định được mục đích thí nghiệm và đưa ra được các dự đoán.

    Chỉ số hành viTiêu chí chất lượng
    Mức 1Mức 2Mức 3Mức 4
    1.1.Thực hiện các
    suy luận lôgic để
    tìm được hệ quả
    cần kiểm nghiệm
    HS mô tả được
    các suy luận
    lôgic để tìm
    được một số hệ
    quả cần kiểm
    nghiệm đơn
    giản với sự
    hướng dẫn của
    giáo viên.
    HS thực hiện
    được các suy
    luận lôgic để
    tìm được hệ
    quả cần kiểm
    nghiệm với sự
    hướng dẫn của
    giáo viên.
    HS thực hiện
    được các suy
    luận lôgic để
    tìm được hệ
    quả cần kiểm
    nghiệm, đầy
    đủ và chính
    xác với sự
    hướng dẫn của
    giáo viên.
    HS tự thực
    hiện được các
    suy luận lôgic
    để tự tìm được
    hệ quả cần
    kiểm nghiệm,
    đầy đủ và
    chính xác.
    1.2.Xác định
    được kết luận
    cần rút ra từ thí
    nghiệm
    HS mô tả được
    kết luận cần rút
    ra từ thí nghiệm
    đơn giản.
    HS mô tả được
    kết luận cần rút
    ra đầy đủ
    nhưng có sự hỗ
    trợ của giáo
    viên.
    HS tự xác định
    được kết luận
    cần rút ra đầy
    đủ.
    HS tự xác định
    được kết luận
    cần rút ra đầy
    đủ và phân
    tích được cơ
    sở của mục
    đích thí
    nghiệm.
    1.3 Đề xuất được
    các dự đoán
    HS nêu được
    môt phần dự
    đoán quy luật
    chuyển động.
    HS đưa ra
    được các
    phương án thí
    nghiệm đầy đủ
    và chính xác.
    HS tự nêu
    được nhiều dự
    đoán quy luật
    chuyển động
    HS tự nêu
    được nhiều dự
    đoán quy luật
    chuyển động
    có thể kiểm
    nghiệm bằng
    thực nghiệm

    b) Thiết kế phương án thí nghiệm

    Chỉ số hành viTiêu chí chất lượng
    Mức 1Mức 2Mức 3Mức 4
    2.1. Xác địnhHS mô tả đượcHS xác địnhHS xác địnhHS tự xác định

    11

    được các dụng
    cụ thí nghiệm
    cần sử dụng
    các dụng cụ thí
    nghiệm từ thiết
    kế đã có.
    được các dụng
    cụ thí nghiệm
    đầy đủ từ thiết
    kế đã có dưới
    sự hướng dẫn
    của giáo viên.
    được dụng cụ
    thí nghiệm đầy
    đủ và chính xác
    dưới sự hướng
    dẫn của giáo
    viên.
    được các dụng cụ
    thí nghiệm đầy
    đủ và chính xác.
    2.2. Xác định
    được cách bố trí
    thí nghiệm
    HS mô tả được
    cách bố trí thí
    nghiệm chính từ
    thiết kế đã có
    dưới sự hướng
    dẫn của giáo
    viên.
    HS mô tả được
    đầy đủ cách bố
    trí thí nghiệm
    chínhtừ thiết kế
    đã có.
    HS mô tả được
    đầy đủ và
    chính xác cách
    bố trí thí
    nghiệm chính
    dưới sự hỗ trợ
    của giáo viên.
    HS tự mô tả được
    đầy đủ và chính
    xác cách bố trí thí
    nghiệm chính.
    2.3. Dự kiến thu
    thập số liệu
    HS mô tả được
    việc thu thập số
    liệu từ thiết kế
    đã có.
    HS môtả được
    đầy đủ việc thu
    thập số liệutừ
    thiết kế đã có.
    HS dự kiến
    được đầy đủ và
    chính xác việc
    thu thập số liệu
    dưới sự hướng
    dẫn của giáo
    viên.
    HS tự dự kiến
    được đầy đủ và
    chính xác việc
    thu thập số liệu
    2.4. Dự kiến xử
    lí số liệu
    HS mô tả được
    cách xử lí số liệu
    từ thiết kế đã có.
    HS dự kiến
    được cách xử lí
    số liệu hợp lí từ
    thiết kế đã có.
    HS dự kiến
    được cách xử lí
    số liệu hợp lí
    và đầy đủ dưới
    sự hướng dẫn
    của giáo viên.
    HS tự dự kiến
    được cách xử lí
    số liệu hợp lí và
    đầy đủ.

    c) Tiến hành thí nghiệm theo các phương án đã thiết kế

    Chỉ số hành viTiêu chí chất lượng
    Mức 1Mức 2Mức 3Mức 4
    3.1.Tìm hiểu
    được các bộ phận
    của thiết bị
    thực tương ứng
    HS mô tả được
    các bộ phận
    thiết bị sẵn có
    với sự hướng
    dẫn của giáo
    viên.
    HS mô tả được
    các bộ phận
    thiết bị sẵn có
    đầy đủ.
    HS tìm hiểu
    được các bộ
    phận thiết bị
    sẵn có đầy đủ
    và chính xác
    dưới sự hướng
    dẫn của giáo
    HS tự lắp ráp,
    tự bố trí và tự
    tiến hành thí
    nghiệm mới
    đầy đủ và
    chính xác.

    12

    với phương ánđã
    xây dựng
    viên.
    3.2.Thực hiện thí
    nghiệm theo kế
    hoạch với thiết bị
    thực
    HS tham gia
    tiến hành thí
    nghiệm theo kế
    hoạch với thiết
    bị sẵn có.
    HS tham gia
    tiến hành thí
    nghiệm theo kế
    hoạch với thiết
    bị sẵn có đầy
    đủ.
    HS tự thực
    hiện thí
    nghiệm theo kế
    hoạch với thiết
    bị mới đầy đủ
    và chính xác
    dưới sự hướng
    dẫn của giáo
    viên.
    HS tự thực
    hiện thí
    nghiệm theo kế
    hoạch với thiết
    bị mới đầy đủ
    và chính xác.

    d) Phân tích và đánh giá kết quả, rút ra kết luận

    Chỉ số hành viTiêu chí chất lượng
    Mức 1Mức 2Mức 3Mức 4
    4.1. Xử lí số
    liệuthực tương
    ứng
    HS ghi chép
    cách xử lí được
    số liệu.
    HS xử lí được
    các số liệu đơn
    giản.
    HS xử lí được
    số liệu chính
    xác dưới sự
    hướng dẫn của
    giáo viên.
    HS tự xử lí
    được số liệu
    chính xác.
    4.2. Rút ra kết
    luận
    HS trình bày
    được các kết
    luận rút ra từ
    thí nghiệm.
    HS trình bày
    được các kết
    luận rút ra từ
    thí nghiệm đơn
    giản.
    HS trình bày
    được các kết
    luận rút ra từ
    thí nghiệm,
    hợp lí và chính
    xác dưới sự
    hướng dẫn của
    giáo viên.
    HS trình bày
    được các kết
    luận rút ra từ
    thí nghiệm,
    hợp lí và chính
    xác.

    1.1.4.Các biện pháp bồi dưỡng và phát triển năng lực thực nghiệm của học
    sinh
    a. Để phát triển năng lực thực nghiệm của HS, cần chú ý đến các biện pháp sau:
    – Tổ chức hoạt động bồi dưỡng năng lực thực nghiệm gắn liền với quá trình xây dựng kiến
    thức mới: Kiến thức vật lí trong trường phổ thông là những kiến thức đã được loài người
    13
    khẳng định; tuy vậy, chúng luôn luôn là mới mẻ đối với HS. Việc nghiên cứu kiến thức mới
    sẽ thường xuyên tạo ra những tình huống đòi hỏi HS phải đưa ra những ý kiến mới, giải pháp
    mới phải giải quyết bằng thực hành TBTN.
    – Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết: Như đã biết, dự đoán có vai trò rất
    quan trọng trên con đường tìm ra các quy luật tự nhiên. Dự đoán dựa chủ yếu vào trực giác,
    TN giúp học sinh đưa ra dự đoán một cách trực quan. Có thể có các cách dự đoán sau đây
    trong giai đoạn đầu của hoạt động nhận thức vật lí của HS:
    + Dựa vào sự liên tưởng tới một kinh nghiệm đã có.
    + Dựa vào TBTN mở đầu.
    + Dựa trên sự tương tự: dựa trên một dấu hiện bên ngoài giống nhau mà dự đoán sự giống
    nhau về bản chất; dựa trên sự giống nhau về cấu tạo mà dự đoán sự giống nhau về tính chất;
    dựa trên sự xuất hiện đồng thời giữa hai hiện tượng mà dự đoán giữa chúng có quan hệ nhân
    quả; dựa trên nhận xét thấy: hai hiện tượng luôn luôn biến đổi đồng thời, cùng tăng hoặc
    cùng giảm mà dự đoán về quan hệ nhân quả giữa chúng; dựa trên sự thuận nghịch thường
    thấy của nhiều quá trình; dựa trên sự mở rộng phạm vi ứng dụng của một kiến thức đã biết
    sang một lĩnh vực khác; dự đoán về mối quan hệ định lượng
    – Luyện tập đề xuất phương án kiểm tra dự đoán:Trong nghiên cứu vật lí, một dự đoán, một
    giả thuyết thường là một sự khái quát các sự kiện thực nghiệm nên nó có tính chất trừu
    tượng, tính chất chung, không thể kiểm tra trực tiếp được. Muốn kiểm tra xem dự đoán, giả
    thuyết có phù hợp với thực tế không, ta phải xem điều dự đoán đó biểu hiện trong thực tế
    như thế nào, có những dấu hiệu nào có thể quan sát được. Điều đó có nghĩa là: từ một dự
    đoán, giả thuyết, ta phải suy ra được một hệ quả có thể quan sát được trong thực tế, sau đó
    THTN để xem hệ quả rút ra bằng suy luận đó có phù hợp với kết qủa TN không. Hệ quả suy
    ra được phải khác với những sự kiện ban đầu dùng làm cơ sở cho dự đoán thì mới có ý
    nghĩa.Vì vậy thiết kế được nhiều phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán cho số hệ quả
    phù hợp với thực tế càng nhiều thì dự đoán càng trở thành chắc chắn, sát với chân lí hơn, vì
    vậy cần có nhiều bộ thí nghiệm dể kiểm tra cùng một hệ quả rút ra từ SLLT thì dự đoán
    càng có ý nghĩa. Qua đó năng lực thực nghiệm của học sinh cũng được phát triển.
    1.2. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
    Có nhiều kiểu dạy học nhằm bồi dưỡng và phát triển năng lực thực nghiệm của HS trong học
    tập, trong đó kiểu dạy học hiệu quả nhất đã được áp dụng trong dạy học là kiểu dạy học phát
    hiện và giải quyết vấn đề.
    14
    1.2.1. Khái niệm “Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề”
    Theo V.Ôkôn, quan điểm dạy học PH & GQVĐ được trích dẫn bởi các
    tài liệu[3], [10] “DH PH&GQVEĐ dưới dạng chung nhất là toàn bộ các hành động như tổ chức
    các tình huống có vấn đề, biểu đạt (nêu ra) các VĐ (tập choHS quen dần để tự làm lấy công việc
    này), chú ý giúp đỡ cho HS những điều cần thiết để GQVĐ, kiểm tra các cách giải quyết đó và
    cuối cùng lãnh đạo quá trình hệ thống hóa và củng cố các kiến thức đã tiếp thu được”.
    1.2.2. Các giai đoạn của tiến trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
    Theo tác giả Nguyễn Ngọc Hưng [3]: “Tiến trình xây dựng kiến thứctheo kiểu dạy học
    phát hiện và giải quyết vấn đề bao gồm 4 giai đoạn đượcthể hiện qua sơ đồ dưới đây:

    1. Làm nảy sinh vấn đề cần giải quyết từ tình huống (điều kiện) xuất phát:
    từ kiến thức cũ, kinh nghiệm, TN, bài tập, truyện kể lịch sử…
    3. Giải quyết vấn đề
    3.1. Suy đoán giải pháp GQVĐ: nhờ con đường lí thuyết hoặc con đường thực nghiệm.
    3.2.Thực hiện giải pháp đã suy đoán.

    Sơ đồ 1.2: Sơ đồ khái quát tiến trình xây dựng kiến thức theo kiểu DHPH&GQVĐ
    Diễn giải sơ đồ:
    Giai đoạn 1: Làm nảy sinh vấn đề cần giải quyết
    GV giao cho HS một nhiệm vụ có tiềm ẩn VĐ. Từ cách đã biết và nhiệm vụ cần giải
    quyết, nảy sinh nhu cầu về cái còn chưa biết, về một cách giải quyết không có sẵn nhưng hi vọng
    có thể tìm tòi, xây dựng được.
    Giai đoạn 2: Phát biểu vấn đề cần giải quyết (câu hỏi cần trả lời)
    Dưới sự hướng dẫn của GV, HS phát biểu VĐ cần giải quyết (nêu câu hỏi cần trả lời, mà
    câu trả lời cho câu hỏi nêu ra chính là nội dung kiến thức mới cần xây dựng).
    Giai đoạn 3: Giải quyết vấn đề
    Suy đoán giải pháp GQVĐ: Với sự định hướng của GV, HS trao đôi,thảo luận suy đoán
    giải pháp GQVĐ: lựa chọn hoặc đề xuất mô hình (kiến thức đã biết, giả thuyết) có thể vận hành
    được để đi tới cái cần tìm.Thực hiện giải pháp đã suy đoán:nhờ con đường lí thuyết hoặc con
    đường thực nghiệm: HS vận hành mô hình (kiến thức đã biết, giả thuyết), rút ra kết luận logic về

    2. Phát biểu vấn đề cần giải quyết (câu hỏi cần trả lời)
    4. Rút ra kết luận (Kiến thức mới)

    15
    cái cần tìm, thiết kế phương án TN, tiến hành TN, thuthập và xử lí kết quả TN, rút ra kết luận về
    cái cần tìm.
    Giai đoạn 4: Rút ra kết luận:
    Dưới sự hướng dẫn của GV, HS xem xétsự phù hợp giữa kết luận có được nhờ SLLT (mô
    hình hệ quả logic) với kết luận có được từ các dữ liệu thực nghiệm (mô hình xác nhận).Khi có sự
    phù hợp giữa hai kết luận này thì quy nạp chấp nhận kết quả tìm được. Kết luận đã tìm được trở
    thành kiến thức mới.Khi không có sự phù hợp giữa hai kết luận này thì:
    – Xem lại quá trình thực thi TN đã đảm bảo các điều kiện của TN chưa?
    – Nếu quá trình thực thi TN đã đảm bảo các điều kiện, xem lại quá trình vận hành mô hình xuất
    phát. Nếu quá trình vận hành mô hình không mắc phải sai lầm thì sẽ phải bổ sung, sửa đổi mô
    hình xuất phát, thậm chí phải xây dựng mô hình mới. Mô hình mới thường khái quát hơn mô
    hình trước, xem mô hình trước như là trường hợp riêng, trường hợp giới hạn của nó. Điều này
    cũng có nghĩa là chỉ ra phạm vi áp dụng của mô hình xuất phát lúc đầu.GV chính xác hóa, bổ
    sung, thể chế hóa kiến thức mới.Trên cơ sở vận dụng kiến thức mới đã thu hoạch được để giải
    thích, tiên đoán các sự kiện và xem xét sự phù hợp giữa lí thuyết và thực nghiệm, lại đi tớiphạm
    vi áp dụng của kiến thức đã xây dựng được và dẫn tới xây dựng những mô hình mới, các kiến
    thức mới”. Cuối cùng quá trình hệ thống hóa và củng cố các kiến thức đã tiếp thu được.
    Giai đoạn 5; Vận dụng kiến thức mới
    Trên cơ sở vận dụng kiến thức mới đã thu được để giải thích, tiên đoán các sự kiện và xem
    xét sự phù hợp giữa lí thuyết và thực nghiệm, lại đi tới chỉ ra phạm vi áp dụng của kiến thức
    đã xây dựng được và dẫn tới xây dựng những mô hình mới (các kiến thức mới).Như vậy:
    -TN trong quá trình xây dựng kiến thức như đã nêu thể hiện mối liên hệ biện chứng giữa
    hành động lí thuyết và hành động thực nghiệm, giữa suy diễn và quy nạp, giữa tư duy logic
    và tư duy trực giác.
    – Trong dạy học, việc thiết lập được sơ đồ khái quát hóa tiến trình xây dựng kiến thức theo
    kiểu dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là cần thiết cho việc xác định mục tiêu dạy học
    và soạn thảo tiến trình hoạt động dạy học cụ thể kiến thức mới (thiết kế việc tổ chức, kiểm
    tra, định hướng hành động của HS đối với kiến thức cần dạy).
    Tiến trình xây dựng kiến thức theo kiểu dạy học phát hiện và giải quyết cấn đề diễn ra theo
    một trong hai con đường: con đường lí thuyết và con đường thực nghiệm. Vì kiến thức về
    dao động của các loại con lắc có thể xây dựng theo con đường SLLT nên ở đây chúng tôi chỉ
    đề cập đến kiểu dạy học giải quyết vấn đề theo con đường lí thuyết.
    1.2.3. Tiến trình xây dựng kiến thức theo con đường lí thuyết của kiểu dạy
    học phát hiện và giải quyết vấn đề
    Sơ đồ khái quát tiến trình xây dựng kiến thức theo con đường lí thuyết của kiểu dạy học phát
    hiện và giải quyết vấn đề được biểu diễn như sau:
    16
    17
    1.3. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề nhằm bồi dưỡng năng lực thực
    nghiệm của học sinh

    3. Giải quyết vấn đề
    3.2 Kiểm nghiệm kết quả đã tìm được bằng SLLT nhờ TN:
    – Xác định nội dung cần kiểm nghiệm nhờ TN:
    + Phân tích xem có thể kiểm nghiệm trực tiếp nhờ TN kết quả thu được từ
    SLLT hay không
    + Nếu không được, suy luận logic từ kết quả này ra hệ quả kiểm nghiệm được
    nhờ TN.
    – Thiết kế phương án TN để kiểm nghiệm kết quả đã thu được từ SLLT hoặc hệ quả
    của nó: cần những dụng cụ nào, bố trí chúng ra sao, THTN như thế nào, thu thập
    những dữ liệu định tính và định lượng nào, xử lí các dữ liệu TN này như thế nào?
    – Thực hiện TN: Lập kế hoạch TN, lắp ráp, bố trí và THTN, thu thập và xử lí các dữ
    liệu TN để đi tới kết quả.
    quả đã tìm được từ SLLT?
    2. Phát biểu vấn đề cần giải quyết (câu hỏi cần trả lời)
    4. Rút ra kết luận
    Đối chiếu KQTN với kết quả đã rút ra từ SLLT. Có 2 khả năng xảy ra:
    – Nếu KQTN phù hợp với kết quả đã tìm được từ SLLT thì kết quả này trở thành
    kiến thức mới.
    – Nếu KQTN không phù hợp với kết quả tìm được từ SLLT thì cần kiểm tra lại
    quá trình TN và quá trình suy luận từ các kiến thức đã biết. Nếu quá trình TN đã đảm
    bảo điều kiện mà TN cần tuân thủ và quá trình suy luận không mắc sai lầm thì KQTN
    đòi hỏi phải đề xuất giả thuyết mới. Quá trình kiểm trình kiểm tra tính đúng đắn của giả
    thuyết này sau đó sẽ dẫn tới kiến thức mới bổ sung, sửa đổi những kiến thức đã vận
    dụng lúc đầu tiên tàm tiên đề cho SLLT. Những kiến thức vận dụng lúc đầu này nhiều
    khi là trường hợp riêng, trường hợp giới hạn của kiến thức mới. Qua đó, phạm vi áp
    dụng các kiến thức đã vận dụng lúc đầu được chỉ ra.

    Sơ đồ 1.3: Tiến trình xây dựng kiến thức theo con đường SLLT
    1. Làm nảy sinh vấn đề cần giải quyết từ tình huống (điều kiện) xuất phát: từ kiến thức
    cũ, kinh nghiệm, TN, bài tập, truyện kể lịch sử…
    3.1 Giải quyết vấn đề nhờ SLLT, trong đó có suy luận toán học
    – Suy đoán giải pháp giải quyết vấn đề:
    + Xác định các kiến thức đã biết cần vận dụng
    + Xác định cách vận dụng các kiến thức này để đi đến câu trả lời
    – Thực hiện giải pháp đã suy đoán để tìm được kết quả
    Làm thế nào để kiểm nghiệm nhờ TN kết

    18
    1.3.1. Vị trí, chức năng và vai trò của thí nghiệm trong dạy học phát hiện và
    giải quyết vấn đề theo con đường lí thuyết
    a) Vị trí của thí nghiệm
    – So sánh với các giai đoạn của tiến trình xây dựng kiến thức theo con đường lí thuyết của
    kiểu dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề nhận thấy rằng: trong tiến trình này, các TN có
    thể được sử dụng trong giai đoạn làm nảy sinh vấn đề cần nghiên cứu và giai đoạn kiểm tra
    kết quả thu được từ SLLT. Tuy nhiên, việc sử dụng TN trong cả hai giai đoạn này ở các mức
    độ khác nhau, cụ thể là:
    – Trong giai đoạn làm nảy sinh vấn đề cần nghiên cứu: Giai đoạn này có thể sử dụng các TN
    đơn giản (thường là các TN định tính) dẫn đến nảy sinh câu hỏi đề xuất vấn đề. TN trong giai
    đoạn này là không bắt buộc, có thể có hoặc không tùy thuộc vấn đề cần nghiên cứu.
    – Trong giai đoạn giải quyết vấn đề, TN được sử dụng để kiểm tra các kết quả tìm ra được từ
    SLLT. Đối với giai đoạn này, việc sử dụng TN là bắt buộc, thường là các TN định lượng,
    dùng TN để kiểm tra sự tương đồng giữa kết quả thu được từ lí thuyết và từ thực nghiệm.
    b) Chức năng và vai trò của thí nghiệm
    Theo các tác giả Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng[3][10]: “Thí nghiệm Vật lí có
    các chức năng và vai trò chủ yếu sau:
    – TBTN được sử dụng để tiến hành các TN trong các giai đoạn khác
    nhau của tiến trình DH và có các chức năng sau: làm nảy sinh vấn để cân giải
    quyết, GQVĐ (TN hỗ trợ đề xuất giả thuyết, TN kiểm tra tính đúng đắn của
    giả thuyết hoặc hệ quả suy luận logic từ giả thuyết, TN kiểm nghiệm kết quả từ SLLT hoặc
    hệ quả của nó). Ngoài ra, TBTN còn được sử dụng để tiến hành các TN minh họa nguyên tắc
    cấu tạo và ƯDKT của vật lí.
    – Vai trò của TBTN trong việc phát triển toàn diện nhân cách của HS:
    Thông qua việc tiến hành TN với các TBTN, HS hiểu được bản chất của cáchiện tượng, định
    luật,, quá trình vật lí, các UDKT của vật lí…, kiến thức màHS thu được sau khi học sẽ đảm bảo
    được tính chính xác, tính khái quát, tínhhệ thống, tính bền vững và tính vận dụng được. Trong
    quá trình tiến hành cácTN với các TBTN, HS phải tiến hành một loạt các hoạt động trí tuệ-thực
    tiễn:thiết kế phương án TN (cần những dụng cụ nào, bố trí chúng ra sao, tiến hànhTN như thế
    nào, thu thập những dữ liệu TN định tính và định lượng nào, xử lí các dữ liệu TN như thế nào),
    tiến hành TN (lập kế hoạch TN, lắp ráp, bố trí và tiến hành TN, thu thập và xử lí các dữ liệu TN
    để đi tới kết quả). Qua việc tiến hành TN, HS có cơ hội rèn luyện kĩ năng TN.Thông qua các
    hoạt động này, tính tích cực nhận thức và năng lực sáng tạo của HS được phát triển.Ngoài ra,
    19
    việc tiến hành các TN, đòi hỏi HS phải có sự phân công, phối hợpvới những công việc của nhóm
    học tập. Vì vậy, trong quá trìnhTN đã diễn ramột quá trình bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, xây
    dựng các chuẩn mực hành động tập thể.
    – TBTN là phương tiện đơn giản hóa và trực quan trong DH vật lí:
    Trong tự nhiên và trong kĩ thuật, các hiện tượng, quá trình vật lí xảy ra rất phức tạp. Nhờ
    TBTN, HS có thể nghiên cứu các hiện tượng, quá trình trong những điều kiện có thể khống chế
    được, thay đổi được, có thể quan sát đo đạc đơn giản hơn, dễ dàng hơn để đi tới nhận thức được
    nguyên nhân của mỗi hiệtượng và mỗi quan hệ có tính quy luật giữa chúng với nhau. Đặc biệt,
    trong nghiên cứu các lĩnh vực vật lí mà ở đó, đối tượng nghiên cứu không thể tri giác trực tiếp
    bằng các giác quan của con người thì việc sử dụng các TN mô hình để trực quan hóa các hiện
    tượng, quá trình vật lí là không thể thiếu được”.
    1.3.2. Bồi dưỡng năng lực thực nghiệm tại từng giai đoạn trong day học phát
    hiện và giải quyết vấn đề
    Giai đoạn 1: Làm nảy sinh vấn đề cần giải quyết
    Trong giai đoạn này GV phải mô tả hoàn toàn cụ thể để cho học sinh có thể cảm nhận
    được, bằng kinh nghiệm thực tế trong cuộc sống hằng ngày, làm thí nghiệm biểu diễn cho học
    sinh xem hoặc thí nghiệm đơn giản nhưng gắn liền với cuộc sống hằng ngày để làm xuất hiện
    hiện tượng cần nghiên cứu.
    GV yêu cầu học sinh mô tả hoặc giải thích các hiện tượng như bằng lời nói theo ngôn ngữ
    vật lí hoặc GV yêu cầu học sinh dự đoán sơ bộ hiện tượng xẩy ra trong hoàn cảnh đã mô tả hay
    giải thích hiện tượng quan sát dựa trên kiến thức học và phương pháp mà học sinh đã biết trước.
    GV giúp học sinh phát hiện những nội dung chưa đầy đủ trong các kiến thức, trong cách
    giải quyết vấn đề (như: câu hỏi, gợi ý giúp học sinh và nêu rõ những điều kiện đã cho và yêu cầu
    cần đạt được ).
    Giai đoạn 2: Phát biểu vấn đề cần giải quyết (câu hỏi cần trả lời)
    Trong vai trò này, dựa trên cơ sở các kiến thức, kinh nghiệm trong thực tiễn của học sinh
    thì GV yêu cầu học sinh đề xuất giả thuyết, dự đoán dựa chủ yếu vào trực giác, kế hợp với kinh
    nghiệm phong phú kiến thức sâu sắc về mỗi lĩnh vực ( Ví dụ: sử dung phương pháp suy luận
    lôgic đề xuất giả thuyết về năng suất tỏa nhiệt của nhiên liệu trong cuộc sống hằng ngày, cho học
    sinh xác định được bằng kinh nghiệm trong thực tế, hoặc đề xuất giả thuyết có thể hỗ trợ bằng
    cách tiến hành thí nghiệm để cung cấp thêm cho học sinh có mối liên hệ giữa các đại lượng trong
    hiện tượng đang nghiên cứu.
    Giai đoạn 3: Giải quyết vấn đề
    3.1 Giải quyết vấn đề nhờ SLLT, trong đó có suy luận toán học
    20
    – Suy đoán giải pháp giải quyết vấn đề:
    + Xác định các kiến thức đã biết cần vận dụng
    + Xác định cách vận dụng các kiến thức này để đi đến câu trả lời
    – Thực hiện giải pháp đã suy đoán để tìm được kết quả
    3.2. Kiểm nghiệm kết quả đã tìm được bằng SLLT nhờ TN:
    – Xác định nội dung cần kiểm nghiệm nhờ TN:
    + Phân tích xem có thể kiểm nghiệm trực tiếp nhờ TN kết quả thu được từ SLLT hay
    không
    + Nếu không được, suy luận logic từ kết quả này ra hệ quả kiểm nghiệm được nhờ TN.
    – Thiết kế phương án TN để kiểm nghiệm kết quả đã thu được từ SLLT hoặc hệ quả của nó:
    cần những dụng cụ nào, bố trí chúng ra sao, THTN như thế nào, thu thập những dữ liệu định tính và
    định lượng nào, xử lí các dữ liệu TN này như thế nào?
    – Thực hiện TN: Lập kế hoạch TN, lắp ráp, bố trí và THTN, thu thập và xử lí các dữ liệu
    TN để đi tới kết quả.
    Giai đoạn 4: Rút ra kết luận:
    Đối chiếu KQTN với kết quả đã rút ra từ SLLT. Có 2 khả năng xảy ra:
    – Nếu KQTN không phù hợp với kết quả tìm được từ SLLT thì cần kiểm tra lại quá trình
    TN và quá trình suy luận từ các kiến thức đã biết. Nếu quá trình TN đã đảm bảo điều kiện mà
    TN cần tuân thủ và quá trình suy luận không mắc sai lầm thì KQTN đòi hỏi phải đề xuất giả
    thuyết mới. Quá trình kiểm trình kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết này sau đó sẽ dẫn tới kiến
    thức mới bổ sung, sửa đổi những kiến thức đã vận dụng lúc đầu tiên tàm tiên đề cho SLLT.
    Những kiến thức vận dụng lúc đầu này nhiều khi là trường hợp riêng, trường hợp giới hạn của
    kiến thức mới. Qua đó, phạm vi áp dụng các kiến thức đã vận dụng lúc đầu được chỉ ra.
    – Nếu KQTN phù hợp với kết quả đã tìm được từ SLLT thì kết quả này trở thành kiến thức
    mới.
    Giai đoạn 5: Vận dụng kiến thức mới
    Trong vai trò này, để học sinh sử dụng được các kiến thức có kinh nghiệm và khoa học,
    làm cho kiến thức của học sinh trở nên sâu sắc bền vững, giáo viên yêu cầu học sinh giải các bài
    tập trong sách giáo khoa, trong sách bài tập vật lí. Đặc biệt quan trọng là tổ chức cho học sinh
    nghiên cứu các ứng dụng kĩ thuật của kiến thức đã học, bằng cách khuyên khích cho học sinh
    làm bài tập thí nghiệm, bài tập về nhà theo hình dạng câu hỏi thí nghiệm hoặc bài tập dự án để đề
    ra các ứng dụng cụ thể gần gũi trong đời sống và kĩ thuật, tập luyện cho học sinh tiến hành thí
    nghiệm, thu thập số liệu và xử lí số liệu. Ví dụ: Cho học sinh tiến hành thí nghiệm để đo năng
    suất tỏa nhiệt của gỗ, cũi, tấm nhựa và đề xuất các phương án thí nghiệm cần tiến hành hoặc bài
    21
    tập dự án để học sinh lí giải được các nguyên tắc hoạt động của nó và các tác dụng của nó trong
    cuộc sống hằng ngày.
    1.4. Những yêu cầu đối với thí nghiệm trực diện trong dạy học vật lí
    TN thực tập là TN do HS tự tiến hành trên lớp (trong phòng TN), ngoài lớp, ngoài nhà
    trường hoặc ở nhà với các mức độ tự lực khác nhau. Có thể chia TN thực tập ra làm 3 loại:
    TN trực diện (TN do HS tiến hành trên lớp chủ yếu khi nghiên cứu kiến thức mới, nhưng
    cũng có thể khi ôn tập trong tiết học bài mới hoặc trong tiết củng cố), TN thực hành (TN do
    HS thực hiện trên lớp hoặc trong phòng TN sau mỗi chương, mỗi phần của chương trình vật
    lí nhằm củng cố kiến thức đã học và chủ yếu để rèn luyện kĩ năng TN), TN và quan sát vật lí
    ở nhà (TN và quan sát do HS hoàn toàn tự lực thực hiện ở nhà theo nhiệm vụ mà GV đã
    giao).
    Trong nội dung sáng kiến chúng tôi sử dụng các thiết bị thí nghiệm kết nối với điện thoại
    thông minh để tiến hành thí nghiệm trực diện áp dụng kiểu dạy học phát hiện và giải quyết
    vấn đề.
    * Các yêu cầu đối với thiết bị TN :
    – TBTN cần được chế tạo thành bộ, trong đó, ngoài các bộ phận cơ bản, các bộ phận chính
    cần có nhiều loại để tiến hành nhiều phép đo với cùng một mục đích TN hoặc thực hiện
    nhiều TN khác nhau trong cùng một thời gian. Cùng với một bộ TBTN có thể cho phép tiến
    hành nhiều TN, ít nhất thuộc phạm vi của một chương hoặc một phần chương trình vật lí phổ
    thông.
    – TBTN có thể tạo điều kiện để đo được các số liệu ở nhiều giá trị khác nhau.
    – TBTN có thể cho phép thực hiện một số phương án bố trí và THTN khác nhau nhưng vẫn
    đạt được một mục đích.
    – TBTN cần đáp ứng được yêu cầu cao nhất về an toàn cho người sử dụng.
    – TBTN cần có số lượng các chi tiết cơ bản không nhiều nhưng nhiều tác dụng, dễ tháo lắp,
    mất thời gian lắp ráp ngắn để đổi chỗ khi cần thiết.
    – Được chế tạo để thời gian bố trí và thực hiện các TN không quá dài, nhằm tạo điều kiện
    thuận lợi cho việc tổ chức dạy học.
    * Quy trình xây dựng thiết bị thí nghiệm sử dụng trong dạy học vật lí
    Để đáp ứng được các yêu cầu đã nêu, có thể tiến hành xây dựng các TBTN theo quy trình
    sau:
    – Căn cứ vào mục tiêu dạy học từng nội dung kiến thức để xác định TN cần tiến hành
    22
    – Dựa vào thực trạng các TBTN ở trường phổ thông:
    + Nếu chưa có TBTN thì phải chế tạo mới đáp ứng các yêu cầu của TBTN.
    + Nếu đã có TN biểu diễn thì xem xét xem có thể tìm cách cải tiến để tạo ra TBTN được
    không.
    – Chế tạo mẫu, tiến hành thử nghiệm nhiều lần với mẫu để điều chỉnh mẫu cho phù hợp.
    – Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính khả thi của mẫu và chế tạo TBTN
    hoàn thiện.
    – Viết hướng dẫn sử dụng cho TBTN.
    Kết luận chương 1
    Trên cơ sở nghiên cứu về năng lực thực nghiệm của học sinh trong học tập, các biểu hiện của
    chúng và biện pháp nhằm bồi dưỡng và phát triển năng lực thực nghiệm của học sinh kết hợp
    với nghiên cứu lí luận dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, nghiên cứu vai trò của TBTN
    trong dạy học, nghiên cứu về các tiện ích của TN có TBTN kết nối với điện thoại thông minh
    và các hạn chế cần khắc phục đã cho thấy được sự cần thiết phải xây dựng công nghệ kết nối
    TBTN với điện thoại thông minh, chế tạo TBTN để sử dụng trong dạy học các nội dung
    kiến thức đã lựa chọn. Sau đó, cần sử dụng các TBTN trong dạy học theo kiểu dạy học phát
    hiện và giải quyết vấn đề, cụ thể trong nội dung kiến thức mà chúng tôi đã lựa chọn sẽ áp
    dụng kiểu dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề bằng con đường lí thuyết nhằm bồi dưỡng
    và phát triển năng lực thực nghiệm của học sinh.
    CHƯƠNG 2: CHẾ TẠO MỘT SỐ THIẾT BỊ THÍ NGHIỆM KẾT NỐI VỚI
    ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG DẠY HỌC CÁC KIẾN
    THỨC PHẦN “DAO ĐỘNG CƠ” NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC THỰC
    NGHIỆM CỦA HỌC SINH
    2.1. Nội dung kiến thức về dao động trong chương trình Vật lí 12 hiện hành,
    và chương trình vât lí 11 phổ thông mới
    23

    STTLớpTên bàiTổng quátNội dung
    112Bài 1: Dao
    động điều
    hòa
    Trình bày về các
    khái niệm, kiến
    thức cơ bản liên
    quan tới dao
    động điều hòa.
    Dao động điều hòa là dao
    động trong đó li độ là một
    hàm cosin (sin)Của thời gian.
    PT của dao động điều hòa:
    x = Acos(
    Chu kỳ T là thời gian vật thực
    hiện được một dao động toàn
    phần.
    T =
    Đồ thị dao động điều hòa là
    một đường hình Sin.
    212Bài 2: Dao
    động con lắc
    lò xo
    Trình bày về
    quy luật và chu
    kỳ dao động của
    con lắc đơn
    Dao động con lắc lò xo là một
    hệ dao động điều hòa.
    Chu kỳ: T =
    312Bài 3: Dao
    động con lắc
    đơn
    Trình bày về
    quy luật và chu
    kỳ dao động của
    con lắc đơn
    Dao động con lắc đơn ( góc
    là dao động điều hòa
    Chu kỳ: T = 2
    412Bài 6:Thực
    hành khảo
    sát thực
    nghiệm các
    định luật của
    dao động
    con lắc đơn
    Khảo sát các yếu
    tố ảnh hưởng tới
    chu kỳ dao động
    của con lắc và
    rút ra công thức
    tính chu kỳ dao
    động của con lắc
    đơn.
    Tiến hành khảo sát thu được
    các số liệu và rút ra công thức
    tính chu kỳ dao động con lắc
    đơn và xác định gia tốc trọng
    trường g tại nơi làm thí
    nghiệm
    512 (Nâng
    cao)
    Bài 13: Thực
    hành: xác
    Trình bày cách
    thực hành xác
    Tiến hành thí nghiệm, thu
    nhận kết quả và rút ra kết luận

    24

    STTLớpTên bàiTổng quátNội dung
    định chu kỳ
    dao động
    của con lắc
    đơn hoặc
    con lắc lò xo
    và gia tốc
    trọng
    trường.
    định chu kỳ của
    con lắc đơn và
    con lắc lò xo.
    với mỗi trường hợp.

    Trong chương trình 11 VLPT đổi mới

    Chủ đềYêu cầu chuẩn kiến thức – kĩ năng cần đạt
    Dao động điều
    hoà
    – tạo ra được dao động bằng cách thực hiện thí nghiệm
    đơn giản và mô tả được một số ví dụ đơn giản về dao động tự
    do.
    – phân tích đồ thị li độ – thời gian có dạng hình sin (tạo
    ra bằng thí nghiệm, hoặc hình vẽ cho trước), rút ra được quy
    luật chuyển động của vật dao động nêu được định nghĩa: biên
    độ, chu kì, tần số, tần số góc, độ lệch pha.
    – Mô tả dao động điều hoà vận dụng được các khái niệm:
    biên độ, chu kì, tần số, tần số góc, độ lệch pha .
    – Sử dụng đồ thị, phân tích và thực hiện phép tính cần
    thiết để xác định được: độ dịch chuyển, vận tốc và gia tốc trong
    dao động điều hoà.
    – Vận dụng được các phương trình về li độ và vận tốc, gia
    tốc của dao động điều hoà.

    Nhận xét: Trong chương trình giáo dục phổ thông mới đã nâng cao tính thực tiễ

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Khai thác ứng dụng Google Forms trong dạy học và kiểm tra đối với học sinh THPT

    SKKN Khai thác ứng dụng Google Forms trong dạy học và kiểm tra đối với học sinh THPT

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
    Trong thời đại như hiện nay, công nghệ thông tin được ứng dụng
    trong hầu hết mọi lĩnh vực, và giáo dục cũng không phải trường hợp
    ngoại lệ. Đặc biệt trong tình hình dịch bệnh Covid-19 diến biến phức
    tạp thì việc đưa công nghệ thông tin vào giáo dục để dạy học trực
    tuyến đang là xu thế của các nước. Các phần mềm dạy học trực tuyến
    được sinh ra ngày một nhiều hơn để đáp ứng cho nhu cầu ngày càng
    gia tăng của người dùng. Tuy nhiên, việc chọn phần mềm học online
    lại không hề đơn giản mà cần đáp ứng được nhiều yếu tố khác nhau,
    đảm bảo phù hợp với công việc.
    Bên cạnh các phần mềm dạy học trực tuyến như: Phần mềm dạy
    học online hàng đầu Mona eLMS, phần mềm họp trực tuyến Zoom Cloud
    Meeting, Phần mềm dạy học trực tuyến miễn phí Google Classroom, Ứng dụng
    dạy học online TrueConf, Hệ thống học trực tuyến Microsoft Teams, phần mềm
    dạy học ClassIn,… Để tăng tương tác trong buổi học, đa dạng hóa các hoạt
    động học tập, đánh giá, phản hồi ngay từng nhiệm vụ nhỏ của HS thì còn cần
    một số công cụ hỗ trợ như: Kahoot, Mentimeter, Padlet, Microsoft forms,
    Google forms,… làm cho việc dạy học trực tuyến đạt hiệu quả tốt hơn.
    Trong các công cụ hỗ trợ trên, tôi đã sử dụng ứng dụng Google Form,
    được phát triển bởi Google, trong việc dạy học trực tuyến. Bản thân tôi nhận
    thấy đây là một công cụ tạo và quản lý biểu mẫu khảo sát cực kỳ hữu ích. Dữ
    liệu được thu thập bằng cách sử dụng biểu mẫu thường được lưu trữ trong
    Google Drive và Google Sheet giúp cho việc quản lý và thống kê kết quả đơn
    giản và khoa học. Mặc dù có rất nhiều ứng dụng khảo sát trực tuyến nhưng
    2
    Google Forms vẫn là một lựa chọn tuyệt vời vì nó được phát triển bởi Google
    nên độ tin cậy cao, hoạt động ổn định, có sẵn nhiều tài liệu hướng dẫn nên rất dễ
    tiếp cận, sử dụng dễ dàng và đặc biệt là hoàn toàn miễn phí.
    Với những lý do trên tôi chọn đề tài “KHAI THÁC ỨNG DỤNG
    GOOGLE FORMS TRONG DẠY HỌC VÀ KIỂM TRA ĐỐI VỚI HỌC
    SINH THPT”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP:
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
    Trong quá trình giảng dạy trực tiếp trên lớp, đối với hầu hết các bộ môn,
    các thầy cô tốn không ít thời gian cho việc kiểm tra bài tập đã giao về nhà cho
    học sinh. Nếu kiểm tra trong giờ dạy trên lớp thì chỉ có thể kiểm tra về số lượng
    thôi cũng ảnh hưởng khá lớn tới việc giảng dạy bài mới trong tiết học đó. Nếu
    thu vở của học sinh về để kiểm tra thì giáo viên phải mang một số lượng không
    nhỏ vở (hoặc giấy) về và phải kiểm tra xong để trả ngay cho học sinh còn làm
    bài tập của buổi học tiếp theo.
    Thực tế trong nhà trường, vẫn còn một số học sinh chưa có ý thức tự giác
    trong học tập ở một số môn học, học sinh vẫn còn lười làm bài tập về nhà, đến
    lớp mới chép bài của bạn để đối phó với việc kiểm tra của thầy cô.
    Trong dạy học trực tuyến, việc điểm danh học sinh vào mỗi buổi học
    cũng tốn thời gian nếu thầy cô trực tiếp điểm danh. Một số thầy cô thu và chấm
    bài làm đã giao về nhà của học sinh qua email hay mạng xã hội. Nếu duy trì
    cách này một thời gian các thầy cô sẽ nhanh chóng nhận ra nhiều hạn chế và
    khó khăn như mất kiểm soát vì có quá nhiều email và tin nhắn; khó theo dõi quá
    trình kiểm tra, đánh giá; khó lưu trữ và tìm lại thông tin cũng như bỏ sót hoặc
    nhầm lẫn. Việc nộp bài qua email chỉ tiện lợi nhất thời nhưng thật ra lại rất mất
    thời gian mà hiệu quả kém, lại còn vất vả cho cả thầy và trò.
    3
    Mặt khác từ thực tế quan sát cho thấy tới 80% học sinh THPT sở hữu
    smartphone riêng, thời gian sử dụng smartphone lên tới 5 đến 6 giờ/ngày . Khả
    năng thao tác và tiếp cận công nghệ thông tin trên điện thoại của học sinh rất
    nhanh
    Các trường THPT đều có phòng học bộ môn Tin học
    Với thực trạng trên tôi nhận thấy rằng việc khai thác ứng dụng Google
    Forms có thể khắc phục được những khó khăn trong giảng dạy, tiết kiệm được
    thời gian bằng việc ứng dụng công nghệ, quan trọng hơn là có thể lưu trữ, thống
    kê kết quả thu được theo nhu cầu của giáo viên giúp cho việc phản hồi của giáo
    viên tới học sinh và phụ huynh cũng kịp thời hơn. Từ đó giúp nâng cao tính tự
    giác trong học tập, rèn luyện khả năng tự kiểm tra, tự đánh giá đối với bản thân
    học sinh.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
    2.1. Cơ sở kiến thức chung
    Google Forms được sử dụng rất phổ biến trong lĩnh vực ngành nghề khác nhau,
    đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục. Chúng ta có thể:
    Nhận các câu trả lời nhanh chóng
    Thu thập lý lịch của học sinh đầu khóa, thu thập địa chỉ email của học sinh, tạo
    một bài kiểm tra nhanh và hơn thế nữa.
    4
    Tạo bản khảo sát bằng kiểu trình bày
    Sử dụng ảnh hoặc biểu trưng của riêng mình và Biểu mẫu sẽ chỉ chọn màu phù
    hợp để hoàn tất biểu mẫu duy nhất của riêng bạn hoặc chọn từ một nhóm các
    chủ đề được sắp xếp để đặt tông màu.
    5
    Hỏi và đáp theo cách của bạn
    Chọn từ một loạt các tùy chọn câu hỏi, từ câu hỏi trắc nghiệm đến danh sách thả
    xuống theo thang tuyến tính. Thêm hình ảnh và video trên YouTube hoặc sáng
    tạo hơn bằng tính năng phân nhánh trang và logic bỏ qua câu hỏi.
    Tạo hoặc phản hồi nhanh chóng
    Biểu mẫu có tính phản hồi. Điều này đồng nghĩa với việc bạn sẽ dễ dàng (và
    khéo léo) tạo, chỉnh sửa cũng như phản hồi biểu mẫu trên màn hình lớn và nhỏ.
    (Có thể phản hồi biểu mẫu từ bất kỳ phương tiện nào mà không cần đăng nhập)
    Được sắp xếp và phân tích
    Các câu trả lời cho bản khảo sát của bạn được thu thập gọn gàng và tự động
    trong Biểu mẫu với thông tin phản hồi và biểu đồ trong thời gian thực.
    6
    Ngoài ra, hãy cân nhắc thêm dữ liệu của bạn bằng cách xem tất cả nội dung của
    dữ liệu trong trang tính
    Dữ liệu trong trang tính
    2.2. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
    Trước hết, tôi tìm hiểu và thực hành sử dụng thành thạo cách tạo biểu mẫu thu
    thập thông tin bằng Google Form. Hiểu được mục đích của Google Forms là để
    thu thập thông tin nên mỗi thông tin mình cần thu được sẽ là một câu hỏi trong
    form.
    Có hai cách để tạo form là tạo form thủ công và tạo form tự động
    7
    2.2.1. Tạo form thủ công:
    Sử dụng cho trường hợp muốn thu thập các câu hỏi với các định dạng
    khác nhau. Ví dụ như tạo form điều tra lý lịch với học sinh đầu khóa, tạo form
    theo dõi nề nếp học sinh, tạo form thu bài tập tự luận về nhà, tạo form kiểm tra
    trắc nghiệm….
    Về cách tạo form thủ công này có rất nhiều trang web hướng dẫn nên tôi
    không đề cập lại ở đây. (Chỉ cần seach Google Forms là sẽ có rất nhiều trang
    hướng dẫn, đây là một trong các trang hướng dẫn tạo Google Form:
    https://helpdesk.ctu.edu.vn/huong-dan-khac/89-huong-dan-su-dung-googleforms-tao-bai-kiem-tra)
    Dưới đây là cách tôi đã khai thác form để thu bài tập tự luận về nhà đã
    giao cho học sinh thông qua một ứng dụng trung gian là Youtube. Cụ thể, các
    học sinh sau khi làm bài tập về nhà thì sẽ chụp ảnh bài làm hoặc quay lại bài
    làm của mình (video khoảng 20 giây) (thường là quay vì dung lượng 1 video
    20s sẽ nhẹ hơn dung lượng các ảnh) rồi đăng lên Youtube của cá nhân học sinh,
    chỉnh sửa chế độ hiển thị ở chế độ “không công khai” nếu học sinh không muốn
    video này xuất hiện trên các trang tìm kiếm của google, sau đó copy đường link
    bài làm đó gửi vào form mà tôi tạo trước đó. (Việc này học sinh làm rất nhanh).
    Sở dĩ tôi yêu cầu học sinh đăng bài lên Youtube cá nhân là do mỗi tài khoản
    Google cá nhân chỉ có dung lượng lưu trữ tối đa là 15Gb, nếu toàn bộ học sinh
    các lớp tôi dạy đều gửi bài trực tiếp cho tôi thì chả mấy chốc Drive của tôi hết
    dung lượng bộ nhớ. Nếu các thầy cô có tài khoản Gmail cơ quan (Gsuit) hay
    trường học (đuôi edu.vn) thì có dung lượng Drive lớn hơn thì có thể để học sinh
    gửi tệp vào form luôn mà không cần đăng qua Youtube. Lúc đó các tệp bài làm
    của học sinh sẽ được lưu trong Drive của thầy cô.
    Với mục đích này, tôi tạo form với 3 câu hỏi như sau:
    Câu hỏi 1: Họ và tên học sinh. Câu hỏi này có thể để ở dạng “câu trả
    lời ngắn” để học sinh tự nhập tên của mình, nhưng như vậy thì kết quả trả về sẽ
    mỗi tên một kiểu định dạng, nên tôi thường chọn ở dạng “trắc nghiệm” và mỗi
    8
    phương án trả lời là tên của một học sinh, học sinh chỉ việc chọn tên của mình
    mà không phải nhập dữ liệu (nhanh cho học sinh)
    Câu hỏi 2: Tên bài tập. Tôi cũng đặt sẵn tên bài tập để học sinh chỉ việc
    chọn, vừa nhanh cho học sinh, vừa thống nhất kết quả cho tôi khi thống kê
    Câu hỏi 3: Link bài tập. Tôi để ở dạng “trả lời ngắn” để học sinh dán đường
    link video bài tập ở Youtube vào đây
    9
    Tất cả các câu hỏi này tôi đều để ở dạng bắt buộc trả lời (có dấu *) vì đó
    đều là các thông tin tôi cần nhận được.
    Sau khi tạo xong các câu hỏi, tôi vào phần cài đặt (biểu tượng bánh răng
    ở phía trên bên phải màn hình) để định dạng câu trả lời theo nhu cầu
    Rồi bấm vào nút “Gửi” ở cạnh nút cài đặt để gửi biểu mẫu cho học sinh
    10
    Với form này tôi có thể thu được bài của học sinh và xem bài làm của học
    sinh trước khi có giờ học trên lớp (tùy vào thời hạn tôi thống nhất với học sinh
    từ khi giao bài), tôi có thể nắm được các ưu điểm và nhược điểm ở bài làm của
    học sinh để rút kinh nghiệm trong giờ học tiếp theo mà không tốn thời gian trên
    lớp để kiểm tra bài nữa. Và nhờ kết quả thống kê của biểu mẫu tôi có thể biết
    được có bao nhiêu học sinh nộp bài, có bao nhiêu học sinh nộp bài đúng thời
    hạn, những học sinh nào tích cực nhất, thậm chí còn có thể biết được học sinh
    nào thường hay thức khuya,… qua các lần nộp bài từ cột “Dấu thời gian”
    Với kết quả thu thập được tôi có thể xem bài làm của học sinh ở mọi nơi, mọi
    lúc chỉ cần với điện thoại thông minh có kết nối mạng và phản hồi kết quả ngay
    qua email cho từng cá nhân học sinh bằng cách nhập nhận xét vào ô “nhận xét”
    và bấm “chia sẻ”, hoặc note lại các lỗi chung để nhắc nhở khi lên lớp
    11
    2.2.2. Tạo form tự động:
    Sử dụng cho trường hợp muốn thu thập các câu hỏi với các định dạng giống
    nhau. Ví dụ như tạo form để thu bài tập trắc nghiệm (các câu hỏi đều ở định
    dạng “trắc nghiệm”), tạo form để làm kiểm tra trắc nghiệm, tạo form để điểm
    danh,…
    Để làm việc này tôi dùng công cụ tạo form tự động “Forms19/05”.
    Forms 19/05 là công cụ cho phép bạn tạo và quản lý các Google form trắc
    nghiệm từ các file ảnh. Các form này được chấm điểm tự động, có thể dùng làm
    bài tập, bài kiểm tra, bài thi,… Công cụ được viết bằng Apps Script, vào ngày
    19/05/2021, bởi Nguyễn Thế Phúc – Nam Định.
    12
    a. Cách tạo form tự động
    Để sử dụng lần đầu công cụ này, chúng ta cần truy cập vào địa chỉ hết sức dễ
    nhớ “forms1905.me” và thực hiện các thao tác sau để đi tới trang chủ.
    Chọn “review permissions” (nút màu xanh) để chọn tài khoản truy cập
    13
    Sau khi chọn tài khoản truy cập, sẽ tới giao diện sau
    Chọn mục “nâng cao” để tiếp tục
    14
    Chọn “Đi tới forms1905.me”
    Chọn “Cho phép” để đi tới giao diện chính là bảng tính sau
    15
    Trên giao diện này, bấm vào nút công cụ “forms19/05” để bắt đầu tạo form tự
    động. Có 2 tùy chọn form để lựa chọn tùy vào mục đích sử dụng:
    Tùy chọn 1: Nếu đã in đề trắc nghiệm cho học sinh thì tôi chọn “tạo
    form không ảnh” với quy ước số thứ tự của câu trên đề chính là số thứ tự của
    câu trong form (lúc này trong form không có đề bài, chỉ có các phương án A, B,
    C, D) để học sinh nhập đáp án đã làm. Cách này tôi dùng để thu thập kết quả bài
    tập trắc nghiệm.
    Nếu đây là lần đầu làm form bằng công cụ này thì phải chọn lại tài khoản email
    và lặp lại các bước như trên cho đến khi ra giao diện sau
    Đến đây nhập các thông tin trong các tab: “tên đề thi”, “số câu hỏi”, và “chuỗi
    đáp án”. “Chuỗi đáp án” nhập theo đúng thứ tự câu hỏi trong đề. Cuối cùng
    bấm “tạo form” và chờ kết quả.
    16
    Form chỉ có 4 phương án lựa chọn mà không có ảnh nội dung câu hỏi
    Tùy chọn 2: Nếu học sinh chưa có đề tôi chọn “tạo form từ ảnh”. Vậy
    trước khi làm form chúng ta cần phải có file ảnh, mỗi ảnh là một câu trắc
    nghiệm cần làm. Có nhiều công cụ để tạo ảnh từ file word, tôi sẽ giới thiệu hai
    cách mà tôi đã sử dụng.
    Cách 1: Công cụ hóa ảnh tự động của tác giả Lê Hoài Sơn. Công cụ này thuận
    lợi cho những ai đang dùng phần mềm B&T pro của cùng tác giả, lúc này chỉ
    việc bấm theo hướng dẫn và chờ kết quả. (Thi thoảng bị lỗi, số ảnh tạo được
    không bằng số câu trong đề)
    Cách 2: Công cụ cắt ảnh thủ công Faststone Captune . Công cụ này sử
    dụng khi công cụ hóa ảnh tự động ở trên bị lỗi (thường là do cài đặt máy không
    phù hợp, không dùng phần mềm B&T pro). Khi đó ta sẽ cắt mỗi câu trắc
    nghiệm trong file word thành một file ảnh, và các file ảnh của các câu trong một
    đề phải được lưu lại trong cùng một folder và được đánh số liên tục (cách này
    17
    thủ công nhưng không mất nhiều thời gian mà các file ảnh tạo được hoàn toàn
    chính xác).
    40 file ảnh tương ứng với 40 câu hỏi trong cùng một thư mục
    Sau khi có file ảnh và chuỗi đáp án của đề, tôi vào giao diện chính của
    forms1905 chọn “tạo form từ ảnh” và điền các thông tin trong các tab, phần
    này có thêm nút “tải ảnh lên”, bấm vào chọn tệp và chọn toàn bộ file ảnh vừa
    tạo, cuối cùng bấm vào “tạo form” và chờ kết quả
    18
    Sau khi hoàn thành ta sẽ được form như sau:
    b. Các cách khai thác form tự động
     Điểm danh khi học trực tuyến bằng Zoom.
    Khi triển khai dạy trực tuyến tôi thường làm một form trắc nghiệm nhỏ gồm 5
    câu hỏi kiến thức cơ bản của buổi học trước để cho học sinh làm vào đầu buổi
    học với mục đích kiểm tra ngắn (thay cho kiểm tra miệng trên lớp) đồng thời
    điểm danh học sinh có mặt đầu buổi học.
     Nộp bài tập trắc nghiệm đã làm ở nhà.
    Sau khi học sinh làm bài tập trắc nghiệm ở nhà thì nhập đáp án vào form để nộp
    bài. Lúc này học sinh có thể biết được kết quả (điểm số) ngay sau khi nộp bài,
    tùy vào cài đặt thầy cô có thể cho học sinh biết ngay đáp án các câu sai hoặc
    không. (Thường thì tôi không cho các em biết đáp án câu sai vì để các em tiếp
    tục suy nghĩ và làm lại)
    19
     Làm bài kiểm tra trực truyến.
    Đối với nhà trường cho phép học sinh mang điện thoại đến trường thì có thể
    kiểm tra trực tuyến ngay tại lớp. Đối với nhà trường không cho phép học sinh
    mang điện thoại đến trường thì có thể cho học sinh di chuyển đến phòng Tin
    học của nhà trường để làm bài kiểm tra trực tuyến.
    2.2.3. Các tiện ích thu được từ việc dùng form
    Việc làm trắc nghiệm trên form, (theo hai phương thức: nộp đáp án bài trắc
    nghiệm hay kiểm tra trực tuyến) mang lại các tiện ích sau:
    – Giáo viên có thể nhận được thông báo ngay khi học sinh nộp bài, có
    thể giới hạn thời gian làm bài của học sinh


    kết quả
    Trong phần “câu trả lời” có phần thống kê để thầy cô có thể phân tích

    – Giáo viên biết ngay được biểu đồ phân phối phổ điểm của học sinh, từ
    đó đánh giá được mức độ phù hợp của đề đối với học sinh
    20
    – Giáo viên có thể biết được đâu là nội dung học sinh thường sai, thuộc
    phần kiến thức nào để hướng dẫn kĩ hơn
    – Giáo viên biết được câu hỏi nào đa số học sinh chọn đáp án sai, là do
    hiểu nhầm nội dung câu hỏi hoặc nội dung các phương án, hoặc thậm chí là do
    giáo viên tích nhầm đáp án đúng
    21
    – Câu có tỉ lệ chọn các phương án tương đương nhau chứng tỏ câu hỏi
    khó, mỗi học sinh làm ra một đáp án hoặc học sinh chọn ngẫu nhiên theo cảm
    tính
    – Ở trang tính thu thập kết quả, giáo viên có thể biết được cụ thể bài
    làm của từng học sinh, câu nào học sinh làm sai, câu nào học sinh không làm.

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số giải pháp trong dạy học tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông mới môn Vật lí tại trường THPT

    SKKN Một số giải pháp trong dạy học tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông mới môn Vật lí tại trường THPT

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Chương trình GDPT mới được áp dụng bắt đầu đối với cấp tiểu học từ năm học
    2020-2021, Cấp THCS từ năm học 2021-2022 và cấp THPT từ năm học 2022-2023. Hướng
    tới mục tiêu áp dụng thành công chương trình mới Bộ GD&ĐT, UBND tỉnh Nam Định,
    Sở GD&ĐT Nam Định đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về công tác đào tạo,
    bồi dưỡng đội ngũ giáo viên thực hiện triển khai chương trình GDPT mới.
    Để thực hiện thành trình GDPT mới thì đội ngũ giáo viên là một trong những yếu
    tố quan trọng nhất quyết định thành công của công cuộc đổi mới. Do vậy việc đào tạo, bồi
    dưỡng giáo viên chuẩn bị cho chương trình GDPT mới là nhiệm vụ cấp bách cần được thực
    hiện ngay trước năm học 2022-2023 đối với các trường THPT.
    Bộ GD&ĐT và Sở GD&ĐT Nam Định đã tổ chức một số khóa bồi dưỡng thường
    xuyên, các khóa bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên THPT trên địa bàn tỉnh Nam Định.
    Tuy nhiên, các đợt tập huấn với quy mô lớn nên mỗi đơn vị chỉ cử một vài giáo viên đại
    diện tổ bộ môn tham gia các lớp này; thời gian tập huấn ngắn nên chưa đáp ứng đủ được
    nhu cầu học tập của giáo viên, đặc biệt là khâu thực hành sư phạm.
    Trước bối cảnh đó, đánh giá được tầm quan trọng của việc bồi dưỡng Giáo viên, Tổ
    bộ môn Vật lí nói riêng và các tổ bộ môn khác của Trường THPT Nguyễn Huệ nói chung
    đã tổ chức cho giáo viên tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích chương trình GDPT tổng thể và
    chương trình bộ môn Vật lí; nghiên cứu và thực hành các phương pháp, hình thức dạy học;
    đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá học sinh nhằm chuẩn bị tốt nhất cho giáo viên thực
    hiện chương trình GDPT mới bắt đầu áp dụng cho cấp THPT từ năm học 2022-2023.
    2
    II. CỞ SỞ LÝ LUẬN
    1. Chương trình tổng thể
    1.1. Quan điểm xây dựng
    Chương trình giáo dục phổ thông cụ thể hoá mục tiêu giáo dục phổ thông, giúp học
    sinh làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học vào
    đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng
    và phát triển hài hoà các mối quan hệ xã hội, có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn
    phong phú, nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển
    của đất nước và nhân loại.
    Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà
    nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; kế thừa và phát triển những ưu
    điểm của các chương trình giáo dục phổ thông đã có của Việt Nam, đồng thời tiếp thu
    thành tựu nghiên cứu về khoa học giáo dục và kinh nghiệm xây dựng chương trình theo
    mô hình phát triển năng lực của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới; gắn với nhu cầu
    phát triển của đất nước, những tiến bộ của thời đại về khoa học – công nghệ và xã hội; phù
    hợp với đặc điểm con người, văn hoá Việt Nam, các giá trị truyền thống của dân tộc và
    những giá trị chung của nhân loại cũng như các sáng kiến và định hướng phát triển chung
    của UNESCO về giáo dục; tạo cơ hội bình đẳng về quyền được bảo vệ, chăm sóc, học tập
    và phát triển, quyền được lắng nghe, tôn trọng và được tham gia của học sinh; đặt nền tảng
    cho một xã hội nhân văn, phát triển bền vững và phồn vinh.
    Chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực người
    học thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức, kĩ năng cơ bản, thiết thực, hiện đại;
    hài hoà đức, trí, thể, mĩ; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải
    quyết vấn đề trong học tập và đời sống; tích hợp cao ở các lớp học dưới, phân hoá dần ở
    các lớp học trên; thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục phát huy tính chủ
    động và tiềm năng của mỗi học sinh, các phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu giáo
    dục và phương pháp giáo dục để đạt được mục tiêu đó.
    Chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm kết nối chặt chẽ giữa các lớp học, cấp học
    với nhau và liên thông với chương trình giáo dục mầm non, chương trình giáo dục nghề
    nghiệp và chương trình giáo dục đại học.
    Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng theo hướng mở, cụ thể là:
    a) Chương trình bảo đảm định hướng thống nhất và những nội dung giáo dục cốt
    lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động và trách
    nhiệm cho địa phương, nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung
    giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và điều
    kiện của địa phương, của nhà trường, góp phần bảo đảm kết nối hoạt động của
    nhà trường với gia đình, chính quyền và xã hội.
    b) Chương trình chỉ quy định những nguyên tắc, định hướng chung về yêu cầu cần
    đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo
    dục và việc đánh giá kết quả giáo dục, không quy định quá chi tiết, để tạo điều
    kiện cho tác giả sách giáo khoa và giáo viên phát huy tính chủ động, sáng tạo
    trong thực hiện chương trình.
    c) Chương trình bảo đảm tính ổn định và khả năng phát triển trong quá trình thực
    hiện cho phù hợp với tiến bộ khoa học – công nghệ và yêu cầu của thực tế.
    3
    1.2. Mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông
    Chương trình giáo dục phổ thông cụ thể hoá mục tiêu giáo dục phổ thông, giúp học
    sinh làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học vào
    đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng
    và phát triển hài hoà các mối quan hệ xã hội, có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn
    phong phú, nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển
    của đất nước và nhân loại.
    Chương trình giáo dục tiểu học giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố
    căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng
    lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói
    quen, nền nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt.
    Chương trình giáo dục trung học cơ sở giúp học sinh phát triển các phẩm chất, năng
    lực đã được hình thành và phát triển ở cấp tiểu học, tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn
    mực chung của xã hội, biết vận dụng các phương pháp học tập tích cực để hoàn chỉnh tri
    thức và kĩ năng nền tảng, có những hiểu biết ban đầu về các ngành nghề và có ý thức hướng
    nghiệp để tiếp tục học lên trung học phổ thông, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao
    động.
    Chương trình giáo dục trung học phổ thông giúp học sinh tiếp tục phát triển những
    phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và nhân cách công dân, khả
    năng tự học và ý thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng
    lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc
    tham gia vào cuộc sống lao động, khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh
    toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới.
    1.3. Yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực
    Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm
    chất chủ yếu sau: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm.
    Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho học sinh những năng
    lực cốt lõi sau:
    a) Những năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn
    học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp
    tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;
    b) Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một
    số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính
    toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm
    mĩ, năng lực thể chất.
    Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ
    thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu của học sinh.
    Những yêu cầu cần đạt cụ thể về phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi được quy
    định tại Mục IX Chương trình tổng thể và tại các chương trình môn học, hoạt động giáo
    dục.
    4
    2. Năng lực và phẩm chất học sinh cần đạt trong môn Vật lí cấp THPT theo
    chương trình GDPT mới:
    2.1. Năng lực:
    – Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất có sẵn và quá
    trình học tập, rèn luyện cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và
    các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí …thực hiện thành công một hoạt
    động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.
    – Phân loại năng lực:
    5
    – Năng lực vật lí:
    6
    7
    2.2. Phẩm chất:
    8
    9
    III. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    1.1. Giải pháp 1. Chương trình hiện hành và phương pháp dạy học truyền thống
    a. Mô tả
    Chương trình còn nặng tính hàn lâm, quá trình dạy học còn thiên về truyền thụ kiến
    thức, chủ yếu GV dạy cho học sinh những kiến thức mà mình có, học sinh ra sức học, ghi
    nhớ những kiến thức.
    Các GV được hỏi đa phần đều công tác tương đối lâu năm nên chủ yếu vẫn quen với
    phương pháp dạy học truyền thống. Các lớp bồi dưỡng tập trung do Sở GD&ĐT tổ chức
    hàng năm về cơ bản mới chỉ bồi dưỡng về các kĩ thuật dạy học tích cực và về việc xây
    dựng ma trận đề kiểm tra đánh giá. Còn về các phương pháp dạy học hiện đại đa phần các
    GV khi cần thiết mới tự tìm hiểu thông qua các thông tin trên mạng và trao đổi với đồng
    nghiệp.
    Giáo viên thiết kế giáo án và xây dựng bài giảng dựa trên nội dung được quy định chi tiết
    trong chương trình, tài liệu chủ yếu là sách giáo khoa, sách giáo viên với các mục tiêu cần
    đạt của mỗi bài về: Kiến thức thuần túy khoa học ít gắn với thực tiễn, kỹ năng giải các bài
    tập mang tính lý thuyết.
    Thực hiện đổi mới dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của HS đã được
    áp dụng rất rộng rãi trong các năm trở lại đây nhưng việc dạy học phát triển năng lực HS
    mới bắt đầu được đưa vào áp dụng nên GV còn nhiều bỡ ngỡ và hầu như chưa có khái
    niệm đánh giá năng lực theo các thành tố của năng lực.
    Một số GV đã thực hiện dạy học chủ đề tích hợp tuy nhiên do hạn chế trong việc sử
    dụng các phương pháp dạy học hiện đại. Các GV mới chỉ tập trung vào xây dựng các nội
    dung tích hợp và sử dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực để tăng tính tích cực, chủ động
    của HS chứ chưa tập trung vào việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề dẫn đến HS hiểu
    bài, có liên hệ với thực tế, kết quả học tập nâng cao nhưng với các bài tập thực tiễn ở mức
    vận dụng cao lại vẫn gặp nhiều khó khăn do chưa được luyện tập nhiều các thao tác, kĩ
    năng giải quyết vấn đề.
    b) Ưu điểm
    – Đảm bảo về nội dung: kiến thức, kỹ năng và thái độ, việc lựa chọn nội dung dễ dàng, không
    tốn nhiều thời gian.
    – Có sự đổi mới về phương pháp dạy học, bên cạnh việc trang bị kiến thức đã chú ý rèn
    luyện một số kỹ năng.
    – Có phần ứng dụng, liên hệ thực tế.
    c) Nhược điểm
    – Khả năng vận dụng các kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn còn hạn chế
    – Chưa phát triển được năng lực học sinh.
    – Giờ học thiếu hấp dẫn.
    – Ít liên hệ với thực tiễn, học sinh không có kỹ năng sử dụng các kiến thức đã học để
    giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tế cuộc sống.
    10
    – Học sinh tiếp thu kiến thức một các thụ động không nắm kiến thức không sâu và không
    rèn các kỹ năng làm việc với các nguồn tri thức (kỹ năng làm việc với sách giáo khoa, với
    thí nghiệm, phương tiện trực quan, với máy vi tính, với băng hình, với internet, …). Do đó
    không có các kỹ năng so sánh phán đoán, kỹ năng chọn lọc, xử lí và hệ thống hoá thông
    tin…
    – Giờ dạy chủ yếu là kiến thức lí thuyết, áp dụng công thức, ít thể hiện được bản chất
    Vật lí và chưa đáp ứng được mục tiêu căn bản là hình thành và phát triển năng lực Vật lí
    cho học sinh.
    1.2. Giải pháp 2: Phương pháp, công cụ đánh giá truyền thống
    a) Mô tả
    – Hiện nay đa phần đánh giá học sinh qua các bài kiểm tra. Trong năm học có các bài
    kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ, học sinh phải thực hiện các bài kiểm tra, dùng
    điểm số ở các bài kiểm tra để đánh giá học sinh về mặt học tập.
    – Công cụ đánh giá chủ yếu là các câu hỏi, bài tập. Câu hỏi, bài tập có hai hình thức tự
    luận và trắc nghiệm, nội dung các câu hỏi, bài tập chủ yếu xoay quanh kiến thức học sinh
    đã học, có một phần ít vận dụng kiến thức vào một số tình huống hoặc ứng dụng cụ thể.
    Thông qua các bài tập và câu hỏi học sinh ghi nhớ được kiến thức và hình thành kỹ năng
    giải bài tập.
    b) Ưu điểm:
    – Sử dụng các bài kiểm tra truyền thống có thể đánh giá được các mức độ về kiến thức
    và kỹ năng của học sinh trong môn học.
    – Câu hỏi, bài tập có thể giúp học sinh ghi nhớ kiến thức và rèn luyện các kỹ năng giải
    quyết bài tập, kỹ năng trình bày, thuyết trình, vận dụng kiến thức… từ đó góp phần hình
    thành nên tư duy logic đối với từng bộ môn.
    – Dễ dàng biên soạn.
    c) Nhược điểm:
    – Không đánh giá được đầy đủ năng lực, phẩm chất của người học.
    – Nặng tính hàn lâm, ít liên hệ thực tiễn, tình huống thực tế vì vậy hạn chế trong việc
    hình thành các năng lực, phẩm chất của học sinh.
    11
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1. Giải pháp 1: Nghiên cứu, vận dụng một số phương pháp, hình thức dạy học tích
    cực đáp ứng chương trình GDPT mới

    TTMỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP, HÌNH THỨC DẠY HỌC MỚI
    1Dạy học giải quyết vấn đề
    2Dạy học dự án
    3Dạy học theo chủ đề (đơn môn, tích hợp, liên môn)
    4Dạy học STEM, Nghiên cứu khoa học
    5Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
    6Dạy học ngoài không gian lớn học

    2.1.1 Dạy học giải quyết vấn đề
    a) Cơ sở lí luận:
    Dạy học giải quyết vấn đề là cách thức tổ chức dạy học trong đó học sinh được đặt trong
    tình huống có vấn đề mà bản thân học sinh chưa biết cách thức, phương tiện, cần phải nỗ
    lực, tư duy để giải quyết vấn đề.
    – Điều kiện sử dụng:
    + Cần tạo tình huống có vấn đề phù hợp, hiệu quả.
    + Thời gian đủ để nhận biết, lập kế hoạch và thực hiện và kết luận.
    + Cần đảm bảo một số phương tiện thực hiện giải quyết vấn đề nhất là các vấn đề khảo
    sát, thực nghiệm…
    – Các bước thực hiện:
    (1) Nhận biết vấn đề: Học sinh tiếp nhận tình huống có vấn đề được gợi ý hoặc giáo viên
    kích thích học sinh tự tạo tình huống có vấn đề.
    (2) Lập kế hoạch giải quyết vấn đề: Học sinh đề xuất giả thuyết giải quyết vấn đề, đưa
    ra các phương án và lập kế hoạch giải quyết vấn đề.
    (3) Thực hiện kế hoạch
    (4) Kiểm tra, đánh giá và rút ra kết luận: Học sinh rút ra kết luận về cách giải quyết vấn
    đề, từ đó lĩnh hội được tri thức, kỹ năng hoặc vận dụng được kiến thức, kỹ năng để giải
    quyết được các vấn đề thực tiễn.
    Giải pháp 1:
    Nghiên cứu, vận dụng một
    số phương pháp, hình thức
    dạy học tích cực đáp ứng
    chương trình GDPT mới
    Giải pháp 2:
    Xây dựng hệ thống câu
    hỏi, bài tập giúp đánh giá
    và phát triển năng lực,
    phẩm chất
    Giải pháp 3:
    Đổi mới kiểm tra đánh giá
    theo định hướng tiếp cận
    năng lực, phẩm chất
    12
    b) Cách thức tiến hành
    – Tổ chức nghiên cứu, thảo luận cơ sở lý thuyết về phương pháp dạy học học “Giải quyết
    vấn đề” trong tổ bộ môn.
    – Thực hành xây dựng kế hoạch dạy học dùng phương pháp dạy học “Giải quyết vấn
    đề”. Dạy thử nghiệm và phân tích kết quả trong tổ nhóm chuyên môn.
    c) Kết quả đạt được
    Tổ bộ môn đã tiến hành xây dựng tiến trình và dạy học minh họa một số tiết học theo
    phương pháp dạy học Giải quyết vấn đề như: “Các đặc điểm của chuyển động rơi tự do”
    – Vật lí 10, “Hiện tượng giao thoa sóng” – Vật lí 12.
    Tiến trình xây dựng kiến thức “Các đặc điểm của chuyển động rơi tự do” – Vật lí 10

    1. Sơ đồ tiến trình xây dựng kiến thức
    1. Làm nảy sinh vấn đề cần giải quyết
    Nhắc lại kiến thức cũ: Chúng ta đã học hai loại chuyển động: đó là chuyển động thẳng
    đều và chuyển động thẳng biến đổi đều:
    + Chuyển động thẳng đều có quỹ đạo là đường thẳng và vận tốc không đổi, không có
    gia tốc, quãng đường là hàm bậc nhất theo thời gian…
    + Chuyển động thẳng biến đổi đều có quỹ đạo là đường thẳng, vận tốc tăng đều hoặc
    giảm đều, gia tốc không đổi, quãng đường là hàm bậc hai của thời gian, …
    Mỗi loại chuyển động đều có những đặc điểm riêng. Vậy chuyển động rơi tự do có
    những đặc điểm gì?2. Phát biểu vấn đề
    Chuyển động rơi tự do có những đặc điểm gì (về phương chiều)? Rơi tự do thuộc loại
    chuyển động nào?3. Giải quyết vần đề
    3.1. Vấn đề 1: Phương chiều của chuyển động rơi tự do
    a) Đề xuất giả thuyết 1
    Từ kinh nghiệm quan sát thực tế, học sinh đưa ra giả thuyết 1
    Giả thuyết 1: Rơi tự do theo phương thẳng đứng, chiều từ trên
    xuống
    b) Kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết 1:
    – Xác định nội dung cần kiểm tra: kiểm tra trực tiếp phương
    chiều của chuyển động rơi tự do
    – Thiết kế phương án thí nghiệm: Sử dụng bộ thiết bị thí
    nghiệm kiểm tra phương của vật rơi tự do
    Sơ đồ thí nghiệm:
    – Kết luận giả thuyết 1: Chuyển đông rơi tự do có phương
    thẳng đứng, chiều hướng xuống3.2. Vấn đề 2: Dạng của chuyển động rơi tư do

    13



    a) Đề xuất giả thuyết 2
    * TN hỗ trợ đề xuất giả thuyết:
    Ở bài: “Chuyển động biến đổi đều” HS đã được làm TN với vật trượt trên măt phẳng
    nghiêng và đã có các kết luận:
    + chuyển động của các vật trên mặt phẳng nghiêng góc α=300 là chuyển động nhanh
    dần đều với gia tốc a1= hằng số.
    + chuyển động của các vật trên mặt phẳng nghiêng góc α=450 là chuyển động nhanh
    dần đều với gia tốc a2= hằng số.
    + chuyển động của các vật trên mặt phẳng nghiêng góc α=600 là chuyển động nhanh
    dần đều với gia tốc a3= hằng số.
     Suy ra nếu α=900 thì vật cũng chuyển động nhanh dần đều với gia tốc là hằng số.
    * Đề xuất giả thuyết 2: Chuyển động rơi tự do là chuyển động thẳng nhanh dần đều
    b) Kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết 2:
    – Xác định nội dung cần kiểm tra:
    Suy luận hệ quả:
    Nếu rơi tự do là chuyển động nhanh dần đều thì quãng đường
    đi được s=½.at2.
    với a=hằng số suy ra: s/t2= hằng số.
    Như vậy nội dung cần kiểm tra là hệ quả suy ra từ giả thuyết
    2: Thí nghiệm khảo sát quan hệ s và t2 cho kết quả: s/t2= hằng
    số.
    – Thiết kế phương án thí nghiệm: Bộ thí nghiệm đo gia tốc rơi
    tự do:
    + Quãng đường được xác định trước bằng số chỉ trên thước
    thẳng đứng.
    + Thời gian được hiển thị trên đồng hồ đo thời gian.
    – Thực hiện thí nghiệm: thay đổi quãng đường (bằng cách dịch chuyển detecto dọc
    theo trục thẳng đứng, và đo thời gian rơi quãng đường tương ứng đó:
    S(cm)t (s)
    – Xử lý kết quả và rút ra kết luận:
    + Đồ thị: S phụ thuộc vào t2 có dạng đường thẳng
    +Kết luận: vậy s/t2= hằng số => Giả thuyết 2: “Chuyển động rơi tự do là chuyển
    động thẳng nhanh dần đều” là đúng.4. Rút ra kết luận
    Chuyển động rơi tự do là chuyển động thẳng nhanh dần đều theo phương thẳng đứng,
    chiều hướng xuống.2. Lý giải tiến trình xây dựng kiến thức
    Tiến hành dạy học đơn vị kiến thức này theo con đường thực nghiệm. Cụ thể như sau:
    Khi học về các đặc điểm của chuyển động rơi tự do HS cần biết: Chuyển động rơi tự do
    theo phương thẳng đứng, chiều hướng xuống. Rơi tự do là chuyển động thẳng nhanh dần
    đều.
    Từ kiến thức cần học của HS ta có thể xác định câu hỏi tương ứng với câu trả lời trên đó
    là: Chuyển động rơi tự do có những đặc điểm gì (về phương chiều)? Rơi tự do thuộc loại
    chuyển động nào?

    14

    Để câu hỏi nảy sinh vấn đề của kiến thức cần học xuất phát một cách tự nhiên ta có
    thể làm nảy sinh vấn đề từ kiến thức cũ như sau: (phần 1: làm nảy sinh vấn đề)
    I. Vấn đề 1
    1. Làm nảy sinh vấn đề cần nghiên cứu:
    Từ những kiến thức đã học HS không thể đưa ra được câu trả lời cho vấn đề bài học.
    Tuy nhiên từ kinh nghiệm thực tiễn và đã quan sát các thí nghiệm ở phần trước nên HS
    có thể đưa ra dự đoán rơi tự do có phương thẳng đứng, chiều từ trên xuống dưới. (Đó
    chính là giả thuyết 1).
    Những câu trả lời cho vấn đề đã nêu chỉ là dự đoán có căn cứ nhưng chưa chắc chắn.
    Vậy làm thế nào để kiểm tra những dự đoán trên có chính xác hay không?
    Giải pháp đề ra là tiến hành thí nghiệm để kiểm chứng. (Vậy chúng ta cùng nghĩ xem
    có thể thiết kế được một thí nghiệm có thể kiểm tra được điều đó.)
    Để kiểm tra được phương chiều của chuyển động rơi tự do, thí nghiệm gồm:
    + Một vật rơi tự do (khối lượng đủ lớn, kích thức phù hợp-> bỏ qua ma sát)
    + Dây dọi để định phương thẳng đứng.
    Phương án kiểm tra: Như phần 3.1
    Tiến hành thí nghiệm và kết luận phương chiều của chuyển động rơi tự do
    II. Vấn đề 2
    1. Làm nảy sinh vấn đề cần nghiên cứu:
    Vấn đề thứ 2 mà ta cần làm sáng tỏ là chuyển động rơi tự do là chuyển động thẳng nhanh
    dần đều.
    Để làm vấn đề nảy sinh một cách tự nhiên: yêu cầu học sinh bằng kinh nghiệm quan sát
    chuyển động của vật rơi của các vật và cho biết vận tốc của vật từ khi bắt đầu rơi tới khi
    kết thúc quá trình rơi biến đổi như thế nào?
    – HS nhận xét thấy rằng: khi bắt đầu rơi thì vận tốc v=0.
    Sau đó vận tốc tăng dần.
    – GV Đưa câu hỏi định hướng: vận tốc của vật trong quá trình đó tăng có đều không?
    HS chưa trả lời được.  nảy sinh vấn đề cần nghiên cứu: chuyển động rơi tự do có phải
    là chuyển động nhanh dần đều hay không?
    2. Định hướng đề xuất giả thuyết
    Định hướng HS đưa ra giả thuyết 2 bằng suy luận quy nạp từ kết quả của thí nghiệm với
    vật chuyển động trên máng nghiêng góc α=300, 450, 600…
    – GV: các em đã làm thí nghiệm thấy chuyển động của các vật thuộc loại chuyển động
    gì?
    – HS: là chuyển động nhanh dần đều.
    – GV: tại sao các em có thể kết luận được điều đó?
    – HS: vì đo được gia tốc trong các trường hợp đó đều là các hằng số.
    – GV: vậy nếu ta xét trường hợp vật chuyển động trên máng nghiêng góc α=900 Thì sao?
    – HS: – lúc này chuyển động của vật là chuyển động rơi tự do.
    – Có thể chuyển động của vật cũng là chuyển động nhanh dần đều.
    3. Phát biểu giả thuyết:
    Rơi tự do có thể là chuyển động thẳng nhanh dần đều.
    4. Kiểm nghiệm giả thuyết:
    – GV: có thể kiểm nghiệm kết luận trên như thế nào?

    15

    4.1. Suy luận hệ quả:
    – GV định hướng: Nếu chuyển động rơi tự do là chuyển động nhanh dần đều thì chuyển
    động đó phải có đặc điểm gì?
    – HS: chuyển động đó có các đặc điểm là:
    + vật tốc tăng đều theo thời gian. (1)
    + gia tốc không đổi theo thời gian. (2)
    + quãng đường đi được tỉ lệ với bình phương thời gian. (3)
    ….
    – GV nhận xét: phân tích để thấy rõ tính khả thi của các phương án kiểm nghiệm từ đó
    đi đến thống nhất dựa vào đặc điểm (3) là khả thi nhất để kiểm nghiệm.
    – GV: yêu cầu học sinh thiết kế mô hình thí nghiệm để kiểm tra hệ quả
    4.2. Định hướng giải pháp:
    – GV: Để kiểm nghiệm được hệ quả (3) ta cần:
    + phải tạo ra được hiện tượng gì?
    + phải đo được đại lượng nào?
    + dụng cụ đo là gì?
    + cách đo như thế nào?
    + cách bố trí thí nghiệm ra sao?
    – HS nêu được:
    + phải tạo ra được hiện tượng vật rơi tự do
    + phải đo được quãng đường từ lúc vật bắt đầu rơi và khoảng thời gian đi hết quãng
    đường đó.
    + dụng cụ cần có để đo s là thước, đo t là đồng hồ.
    + cách đo: – chọn trước s (đánh dấu điểm đầu và cuối)
    – buông tay cho vật rơi và bấm đồng hồ bắt đầu tính thời gian.
    – khi vật đi hết quãng đường s thì bấm đồng hồ kết thúc tính giờ.
    – GV: nhận xét và bổ xung khắc phục những hạn chế của mô hình học sinh đã đưa ra, từ
    đó dẫn tới bộ thí nghiệm với máng thẳng đứng CT10-1.
    4.3 Thực hiện giải pháp – tiến hành thí nghiệm
    – lần 1: định trước s1=200mm. đo t1
    – lần 2: định trước s2=450mm. tính t2 từ công thức: s1/t1=s2/t2t2=1,5t1
    đo t2 và so sánh với giá trị t2 vừa tính được.
    – lần 3: làm tương tự lần 2 với s3=800mm.
     kết luận về tỉ số: s1/t1=s2/t2= s3/t3=…=s/t
    5. Kết luận tổng quát:
    Chuyển động rơi tự do là chuyển động thẳng nhanh dần đều theo phương thẳng đứng,
    chiều hướng xuống.

    Tiến trình xây dựng kiến thức: “Hiện tượng giao thoa sóng” – Vật lí 12

    1. Sơ đồ tiến trình xây dựng kiến thức
    1. Làm nảy sinh vấn đề cần giải quyết
    Khi một nguồn sóng trên mặt nước xuất hiện sóng truyền đi theo mọi hướng, các đỉnh sóng
    truyền đi với tốc độ không đổi. Vậy khi đồng thời có hai ngồn sóng trên mặt nước thì có gì khác
    biệt không?
    Cho HS quan sát video (Nguồn: https://www.youtube.com/watch?v=TaFU41rfd90)

    16


    2. Phát biểu vấn đề
    Hiện tượng gì sẽ xảy ra khi hai sóng lan truyền trên mặt nước gặp nhau? Các phần tử nước
    nằm trong vùng gặp nhau dao động như thế nào?3. Giải quyết vần đề
    3.1. Giải quyết VĐ nhờ SLLT
    Suy đoán giải pháp giải quyết vấn đề
    – Sử dụng kiến thức phương trình sóng:
    Viết phương trình sóng tới từ hai nguồn
    tại điểm M.
    – Sử dụng kiến thức tổng hợp dao động.
    Viết phương trình sóng tổng hợp tại M
    – Công thức xác định biên độ sóng tổng hợp:
    NX: Biên độ sóng phụ thuộc vào vị trí của điểm M (Amin
    =0 <AM< Amax=2A)
    + Tồn tại các điểm có biên độ cực đại nơi mà hai sóng
    tăng cường lẫn nhau, thỏa mãn điều kiện: (với
    ). Quỹ tích những điểm này làm thành một
    họ các đường hypebol theo k, nhận S1, S2 là hai tiêu
    điểm.Gọi là các vân cực đại
    + Tồn tại các điểm có biên độ cực tiểu (không dao động)
    nơi mà hai sóng triệt tiêu nhau, thỏa mãn điều kiện:
    (với
    ). Quỹ tích những
    điểm này làm thành một họ các đường hypebol theo k nhận S1, S2 là hai tiêu điểm và
    xen kẽ giữa các đường hypebol cực đại. Gọi là các vân cực tiểu.3.2. Kiểm chứng kết quả được suy ra từ lý thuyết

    1
    u A t 1M cos 2   d

     
       
     
    2
    u A t 2M cos 2   d

     
       
     
    2 1 2 1
    u u u A t M M M 1 2 2 cos cos    d d d d
     
         
           
       
    2 cos 2 1
    M
    d d
    A A 

      
      
     
    d d k 2 1    k    0; 1; 2;…2 1
    1 2
    d d k       
      0 1 2
    ; ; ;…
    1 2 3
    k 
      

    S
    1
    S
    2
    M
    d
    2

    d
    1

    17

    2. Lý giải tiến trình xây dựng kiến thức
    Tiến hành dạy học đơn vị kiến thức này theo con đường lý thuyết. Cụ thể như sau:
    Khi học “Hiện tượng giao thoa sóng” HS cần biết:
    4. Rút ra kết luận
    – Định nghĩa: Hiện tượng giao thoa sóng
    – Biên độ sóng tổng hợp phụ thuộc vào vị trí của điểm M trên mặt nước; vị trí và hình
    dạng của các vân cực đại, cực tiểu.Từ kiến thức cần học của HS ta có thể xác định câu hỏi tương ứng với câu trả lời trên đó
    là:
    2. Phát biểu vấn đề
    Hiện tượng gì sẽ xảy ra khi hai sóng lan truyền trên mặt nước gặp nhau? Các điểm
    nằm trong vùng gặp nhau sẽ dao động như thế nào?Giai đoạn làm nảy sinh vấn đề cần giải quyết
    Để câu hỏi nảy sinh vấn đề của kiến thức cần học xuất phát một cách tự nhiên ta có thể
    làm nảy sinh vấn đề từ xuất phát từ quan sát video thí nghiệm thật, như sau:
    1. Làm nảy sinh vấn đề cần giải quyết
    Khi một nguồn sóng trên mặt nước xuất hiện sóng truyền đi theo mọi hướng,
    các đỉnh sóng truyền đi với tốc độ không đổi. Vậy khi đồng thời có hai ngồn sóng trên
    mặt nước thì có gì khác biệt không?
    Cho HS quan sát video (Nguồn: https://www.youtube.com/watch?v=TaFU41rfd90)Với cách làm nảy sinh vấn đề như trên thì câu hỏi vấn đề cho kiến thức cần học bật ra
    một cách tự nhiên, phù hợp với câu trả lời cho vấn đề ở phần 4. Rút ra kết luận
    Giai đoạn suy luận từ lý thuyết nhằm giải thích hiện tượng.
    Từ những kiến thức đã học HS không thể đưa ra được câu trả lời cho vấn đề bài học. Do
    vậy giáo viên cần hướng dẫn HS xây dựng được phương trình tổng hợp, để từ đó mô tả
    dao được động của điểm M.
    – Để bài toán lý thuyết sẽ được đưa ra một cách tự nhiên mà không khiên cưỡng GV đặt
    câu hỏi định hướng: Dựa vào đâu để biết được chính xác dao động của phần tử tại M?

    a) Nội dung cần kiểm nghiệm nhờ TN
    – Kiểm tra hình ảnh các vân giao thoa
    trên mặt nước gồm hai họ các đường
    hypebol xen kẽ nhau. Trong đó có vân
    cực đại trung tâm là đường thẳng
    b) Thiết kế phương án thí nghiệm
    – Dụng cụ và bố trí: máy tạo dao động,
    cần rung 2 nhánh, khay đựng nước có
    thành vát.
    c) Tiến hành thí nghiệm:
    – Bật máy tạo dao động quan sát hình ảnh giao thoa và so sánh với hình ảnh có được
    từ suy luận lý thuyết => KL về sự phù hợp giữa thực nghiệm với lý thuyết.4. Rút ra kết luận
    – Hiện tượng giao thoa sóng
    – Biên độ sóng tổng hợp phụ thuộc vào vị trí của điểm M trên mặt nước; vị trí và hình dạng của
    các vân cực đại, cực tiểu.
    – Điều kiện giao thoa
    – Khẳng định: Hiện tượng giao thoa sóng là hiện tượng đặc trưng cho quá trình sóng.
    Máy tạo dao
    động
    Cần rung 2
    nhánh
    Khay đựng
    nước có các
    thành vát

    18

    Câu trả lời mong đợi: Dựa vào phương trình dao động của phần tử tại M.
    GV đưa ra bài toán lý thuyết cho 2 nguồn cùng tần số, cùng pha:
    Bài toán: Cho hai nguồn dao động cùng phương, cùng tần số, cùng pha đặt tại
    hai điểm S1, S2 trên mặt nước có phương trình . Điểm M bất kì nằm
    trên mặt nước cách hai nguồn S1, S2 lần lượt đoạn d1 và d2. Coi biên động sóng không
    đổi khi truyền đi. Hãy viết phương trình tổng hợp của phần tử tại M.Bằng kiến thức cũ về phương trình truyền sóng đã học bài trước và kiến thức về tổng
    hợp dao động. HS hoàn toàn có thể viết được phương trinh sóng tổng hợp.
    -Sử dụng kiến thức phương trình sóng: Viết phương trình sóng tới từ hai nguồn tại
    điểm M.
    – Sử dụng kiến thức tổng hợp dao động. Viết phương trình sóng tổng hợp tại M
    Nhìn vào phương trình sóng chắc chắn học sinh sẽ lúng túng trong việc xác định biên
    độ, xác định pha của sóng tổng hợp. Lúc này GV cần định hướng để HS tự nhận diện
    được phần biên độ và pha của sóng tổng hợp.
    Quá trình định hướng có thể xuất phát từ phương trình của dao động điều hòa:
    GV yêu cầu HS nêu đặc điểm về biên độ và pha của DĐĐH.
    Câu trả lời mong đợi: Biên độ là một hằng số dương; pha là phần chứa thời gian nằm
    trong hàm cos: .
    Bây giờ HS hoàn toàn có thể nhận diện được phần biên độ và phần pha của sóng tổng
    hợp. Tuy nhiên rất có thể HS quên điều kiện biên độ là một số dương -> quên mất dấu “|
    |”
    Từ đó viết lại phương trình dao động của M là:
    để khẳng
    định điểm M đang dao động điều hòa với biên độ AM.
    Xét biên độ, GV đặt câu hỏi định hướng để HS chỉ được: Biên độ của điểm M phụ thuộc
    vào vị trí của điểm M (d2-d1) và có giá trị nằm trong khoảng Amin =0 <AM< Amax=2A; vị
    trí (điều kiện) có biên độ cực đại, cực tiểu.
    – Theo em biên độ của điểm M phụ thuộc vào yếu tố nào?
    Câu trả lời mong đợi: Biên độ của điểm M phụ thuộc vào vị trí của điểm M (d2-d1).
    – Biên độ của điểm M có thể nhận các giá trị nào?
    Câu trả lời mong đợi: (Amin =0 <AM< Amax=2A). Ở đây GV viết Amin và Amax để không
    làm mất tính tổng quát của vấn đề. (Vì nếu 2 nguồn khác biên độ thì Amin )
    – Vậy biên độ nhận giá trị cực đại và cực tiểu khi nào?
    Câu trả lời mong đợi:
    + Những điểm có biên độ cực đại, nơi mà hai sóng tăng cường lẫn nhau, thỏa mãn điều
    kiện: (với ).

    u u A t 1 2   cos 1
    u A t 1M cos 2   d

     
       
     
    2
    u A t 2M cos 2   d

     
       
     
    2 1 2 1
    u u u A t M M M 1 2 2 cos cos    d d d d
     
         
           
       
    x A t   cos 
      t  2 cos 2 1
    M
    d d
    A A 

      
      
     
    u A t M M cos ( )    d d 2 1

      
        
       0 d d k 2 1    k    0; 1; 2;…
    19

    + Những điểm có biên độ cực tiểu(không dao động), nơi mà hai sóng triệt tiêu nhau,
    thỏa mãn điều kiện:
    (với
    ).
    GV tiếp tục hướng dẫn HS nhận diện quỹ tích các điểm cực đại và cực tiểu bằng cách
    đặt các câu hỏi định hướng:
    – Với mỗi giá trị của k xác định thì tìm được bao nhiêu điểm M thỏa mãn? Vì sao?
    Câu trả lời mong đợi: Mỗi giá trị của k có rất nhiều các điểm thỏa mãn. Vì những điểm
    thỏa mãn phương trình làm thành một đường hypebol.
    – Vậy các em hãy cho biết quỹ tích các điểm cực đại?
    Câu trả lời mong đợi: Quỹ tích những điểm cực đại làm
    thành một họ các đường hypebol theo k, nhận S1, S2 là hai
    tiêu điểm.
    – GV thông báo: Người ta gọi mỗi đường hypebol cực đại đó
    là một vân cực đại, đồng thời vẽ hình.
    – Tương tự như vậy GV hướng dẫn HS đi đến kết luận về
    quỹ tích các điểm cực tiểu: Quỹ tích những điểm cực tiểu
    làm thành một họ các đường hypebol theo k nhận S1, S2 là
    hai tiêu điểm và nằm xen kẽ giữa các đường hypebol cực
    đại. Gọi là các vân cực tiểu.
    Chuyển sang giai đoạn kiểm tra kết quả suy ra từ lý thuyết.
    Trước tiên cần hướng dẫn HS biết tại sao phải đi kiểm tra
    kết quả và mục tiêu cần kiểm tra.
    Như vậy từ suy luận lý thuyết chúng ta vừa đi đến được kết luận về hình ảnh các vân
    giao thoa trên mặt nước như hình vẽ. Các em biết rằng không phải mọi lý thuyết đều phù
    hợp với thực tiễn. Vậy làm thế nào để kiểm tra được kết quả chúng ta vừa đưa ra là đúng
    hay sai?
    Câu trả lời mong đợi: Tiến hành thí nghiệm để kiểm tra.
    – Theo các em ở đây chúng ta cần kiểm tra điều gì?
    Câu trả lời mong đợi: Kiểm tra hình ảnh gia thoa có đúng như LT đã đưa ra không?
    Phần thiết kế phương án thí nghiệm là cơ hội để HS sáng tạo, đồng thời cũng là nội dung
    mà HS gặp nhiều khó khăn. GV nên dành thời gian để HS thiết kế và chỉ gợi ý HS khi
    cần thiết.
    Trước tiên yêu cầu HS đưa ra dụng cụ thí nghiệm cần thiết: mặt nước và 2 nguồn dao
    động cùng tần số và cùng pha.
    – Làm thế nào để có được hai nguồn dao động cùng tần số, cùng pha như bài chúng ta
    vừa khảo sát?
    Câu trả lời mong đợi: Dùng 1 loại máy nào đó tạo dao động ổn định.
    Ở đây HS có thể đề xuất đơn giản như cầm tay để rung tạo dao động như trong video,
    tuy nhiên GV cần hướng dẫn cho HS, trong không gian lớp học không cho phép chúng
    ta làm TN như trên video, đồng thời nguồn dao động đòi hỏi phải có tần số ổn định trong
    thời gian dài. Cơ chế tạo dao động bằng động cơ là khó với HS do vậy chỉ cẩn HS bật ra
    được ý tưởng phải dùng một loại máy gì đó chứ không dùng tay cũng đã chấp nhận được.

    2 1 1
    2
    d d k       
      0 1 2
    ; ; ;…
    1 2 3
    k 
      
    d d h so 2 1   .
    20

    Sau đó GV giới thiệu cơ chế của nguồn tạo dao động: Có nhiều cách để tạo ra nguồn dao
    động có tỉnh ổn định như dùng một động cơ điện có bánh đà lệch tâm, dùng nam châm
    điện hoặc dùng một loa điện động, nhưng kết quả cuối cùng đều tạo được các dao động
    điều hòa. Dao động này được đưa ra một cần
    rung hai nhánh.
    Hướng dẫn HS thiết kế để có được mặt nước
    phù hợp là dùng một khay chứa nước nhỏ hình
    chữ nhật có thành vát để triệt tiêu sự phản xạ.
    GV cần hướng dẫn cho HS biết được khi
    sóng truyền đi gặp mặt phân cách giữa hai môi trường luôn bị phản xạ, nếu sóng phản
    xạ quay ngược trở lại sẽ ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm. Vậy mặt nước của chúng ta
    phải rất rộng, tuy nhiên trong phòng TN không cho phép chúng ta dùng một bể nước
    rộng như vậy. Có cách nào để khắc phục không?
    HS có thể đề xuất: dùng các tấm chống
    phản xạ (hấp thụ sóng) vì trong bài trước
    HS đã được biết thí nghiệm về kênh sóng
    nước, đã dùng tấm chống phản xạ.
    GV hướng dẫn, trong trường hợp này
    chúng ta có thể dùng một khay chứa nước
    nhỏ hình chữ nhật có thành vát để triệt
    tiêu sự phản xạ.
    Lúc này GV có thể đưa ra bộ thí
    nghiệm và giới thiệu thêm cho HS các bộ
    phận khác như gương phẳng, và màn mờ để hứng ảnh. Và cơ chế tạo ảnh trên màn mờ.
    Tiến hành thí nghiệm để kiểm chứng: Bật máy tạo dao động quan sát hình ảnh giao
    thoa và so sánh với hình ảnh có được từ suy luận lý thuyết => KL về sự phù hợp giữa
    thực nghiệm với lý thuyết.
    Lúc này giáo viên mới đưa ra định nghĩa về hiện tượng giao thoa. Từ đó đi đến kết luận
    tổng kết.
    4. Rút ra kết luận
    – Định nghĩa: Hiện tượng giao thoa sóng
    – Biên độ sóng tổng hợp phụ thuộc vào vị trí của điểm M trên mặt nước; vị trí và hình
    dạng của các vân cực đại, cực tiểu.

    2.1.2. Dạy học dự án
    a) Cơ sở lí luận:
    – Dạy học dựa trên dự án là một hình thức tổ chức dạy học, trong đó học sinh thực hiện
    một nhiệm vụ phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực hành, tạo ra các sản phẩm có
    thể giới thiệu, trình bày.
    – Điều kiện sử dụng:
    + Dạy các nội dung gần gũi với thực tiễn, có nhiều nội dung thực hành.
    + Đòi hỏi thời gian phù hợp, tùy quy mô dự án, thời gian có thể kéo dài vài buổi học
    hoặc vài tuần.
    – Các bước thực hiện:

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education