Category: TỔNG HỢP

  • SKKN Một số phương pháp dạy học giúp học sinh lớp 10 tiếp cận và chuẩn bị tốt cho kỳ thi Đánh giá năng lực của các trường Đại học

    SKKN Một số phương pháp dạy học giúp học sinh lớp 10 tiếp cận và chuẩn bị tốt cho kỳ thi Đánh giá năng lực của các trường Đại học

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Lí do chọn đề tài
    Nghị quyết số 29-NQ/TW năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
    dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo
    hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
    thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
    máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
    người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển
    từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt
    động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
    thông tin và truyền thông trong dạy và học”. Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi
    mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận
    thức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát
    triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo
    hướng này.
    Thông tư 32/2018/TT/ – BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ giáo
    dục và Đào tạo đã ban hành chương trình giáo dục phổ thông mới. Ban hành
    kèm theo thông tư là Chương trình giáo dục phổ thông, chương trình tổng thể
    các môn trong đó có môn Địa lí. Chương trình tổng thể đưa ra với rất nhiều yêu
    cầu cần đạt cho học sinh trong đó đề cao hoạt động chủ động, tích cực, sáng tạo
    của học sinh. Chương trình môn Địa lí giúp học sinh hình thành, phát triển năng
    lực địa lí – một biểu hiện của năng lực khoa học; đồng thời góp phần cùng các
    môn học và hoạt động giáo dục khác phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ
    yếu và năng lực chung đã được hình thành trong giai đoạn giáo dục cơ bản, đặc
    biệt là tình yêu quê hương đất nước; thái độ ứng xử đúng đắn với môi trường tự
    nhiên, xã hội; khả năng định hướng nghề nghiệp; để hình thành nhân cách công
    dân, sẵn sang đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
    Điều 24 luật Giáo dục Việt Nam yêu cầu: “Phương pháp giáo dục phổ
    thông phải biết phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh;
    phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự
    học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm,
    đem lại niềm vui, hứng thú của học sinh”. Theo đó cách đánh giá học sinh cũng
    thay đổi nhiều, hướng tới đánh giá theo yêu cầu cần đạt của môn học, không còn
    nặng nề đánh giá kiến thức, kĩ năng thay vào đó là đánh giá năng lực của học
    sinh mà theo lộ trình sẽ bắt đầu áp dụng vào năm học 2021 – 2022.
    Đứng trước sự thay đổi của Bộ GD ĐT về nội dung, mục tiêu thì cách
    tuyển sinh của các trường Đại học cũng đã thay đổi, bên cạnh việc tuyển sinh
    4
    dựa vào kết quả của kì thi TNTHPT thì các trường đại học còn tuyển sinh dựa
    vào kết quả của kì thi ĐGNL học sinh lớp 12 của các trường ĐHQG TPHCM,
    ĐHQG HN.
    Như vậy nội dung, mục tiêu đã không đổi, kết quả không đổi vậy thì chỉ còn
    phương pháp cần phải đổi mới… Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy
    tính tích cực, chủ động, sáng tạo, giảm thiểu lối học vẹt, máy móc, thiếu suy
    luận, thụ động … của học sinh và truyền thụ một chiều của giáo viên luôn là
    mục tiêu hàng đầu trong những năm gần đây đối với công tác dạy học nói chung
    và với môn Địa lý THPT nói riêng. Chính vì những lí do trên mà tôi chọn đề tài
    “Một số phương pháp dạy học giúp học sinh lớp 10 tiếp cận và chuẩn bị tốt cho
    kì thi Đánh giá năng lực của các trường đại học.” để nghiên cứu và ứng dụng
    vào dạy học.
    2. Đối tƣợng và phạm vi.
    Trước hết tôi tiến hành thực nghiệm đề tài này ở trường THPT Nam Trực
    (Huyện Nam Trực – Nam Định). Tôi tiến hành trên cả 7 lớp 10 mà tôi phụ trách
    năm học 2020-2021 vì tôi nghĩ các em cần được đối xử công bằng, có thể các
    em có trình độ và điểm xuất phát không bằng nhau nhưng đề tài của tôi muốn
    hướng tới đánh giá sự tiến bộ của học sinh trong cả thái độ học tập, phương
    pháp học tập, năng lực chứ không đơn giản là các em đạt kiến thức và kĩ năng
    gì.
    Sau đó tôi nhờ đồng nghiệp của tôi ứng dụng đề tài này với các lớp 10 của cô ấy
    phụ trách, là cô giáo: Vũ Thị Hảo, trường THPT Mỹ Lộc – huyện Mỹ Lộc – TP
    Nam Định.
    3. Mục đích nghiên cứu: Mục đích của đề tài là để học sinh trƣờng THPT
    Nam Trực có thể thích ứng với kì thi đánh giá năng lực trong vài năm tới.
    Giúp GV và HS có cách nhìn đúng đắn về kì thi ĐGNL của các trường Đại học.
    Giúp GV có được phương pháp dạy tốt hơn, HS có phương pháp học tập và rèn
    luyện để tham gia và thành công trong kì thi này.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP.
    1. Giải pháp trƣớc khi có sáng kiến:
    Thực tế học sinh trường THPT Nam Trực với kì thi Đánh giá năng lực và khả
    năng học địa lý của học sinh lớp 12 đáp ứng yêu cầu của kì thi này như thế nào.
    a. Thực tế là cho đến nay, kết thúc năm học 2020 – 2021 thì học sinh trường
    THPT Nam Trực chưa hề biết đến và có ý định tham gia kì thi này, 100% HS
    lớp 12 vẫn chỉ tham gia kì thi TNTHPT quốc gia để lấy kết quả đó xét vào các
    trường ĐH. Vì sao lại vậy? Tôi nghĩ đây là thực tế của nhiều trường vùng quê
    chứ không riêng ở trường tôi. Bởi vì mặc dù Chương trình giáo dục phổ thông
    mới ra đời được mấy năm rồi nhưng thực tế thì giáo viên chưa áp dụng dạy mà
    chỉ mới là tiếp cận qua một số lần tập huấn và dạy mẫu còn về phía học sinh thì
    các em cũng chưa trải qua một kì thi nào mà sử dụng hết các câu hỏi đánh giá
    năng lực. Trong các lần tổ chức kiểm tra tại trường thì các em cũng chỉ mới làm
    quen với khoảng 10% câu hỏi là dạng câu hỏi kiểm tra năng lực. Với lại quan
    trọng hơn là các em chưa biết, chưa hiểu gì về kì thi này vì vậy trong suốt quá
    5
    trình học phổ thông các em hầu hết có xu hướng học lệch, học tủ, học để đáp
    ứng việc kiểm tra kiến thức, kĩ năng chứ không phải để đánh giá năng lực.
    b. Về sự đam mê và ý thức với môn địa lý: Chính vì thực tế trên nên phần
    lớn các em coi môn Địa lý là “môn phụ” nên ý thức dành thời gian và công sức
    cho nó là rất ít. Đam mê cho một môn học không thuộc khối của mình lại càng
    hiếm hoi. Đôi khi cũng có một số em nói là thích học địa lý nhưng không còn
    thời gian nào để học. Tuy nhiên theo cấu trúc đề thi mẫu để thi năng lực thì các
    em không thể không học Địa lý.
    c. Về thời gian, vì sự sai lầm trong quan điểm dẫn đến các em thực sự đầu tư
    rất ít thời gian cho môn Địa lý ngoài thời gian phân phối tiết học trên lớp. Phần
    lớn thời gian học ở nhà là dành cho các môn mà các em cho là quan trọng vì vậy
    học bài và chuẩn bị bài ở nhà với môn Địa lý gần như bằng 0. Vì vậy trong
    phương pháp dạy học mình cần chú ý đến hoạt động giao nhiệm vụ về nhà hợp
    lý để các em có ý thức đầu tư cho môn Địa lý.
    d. Về năng lực vốn có từ các lớp dưới tích lũy được, cũng từ hai thực tế trên
    và kì thi tuyển sinh vào 10 không có môn Địa lí mà vốn kiến thức và kĩ năng
    tích lũy từ lớp dưới lên là rất ít.

    2.
    2.1.
    Giải pháp sau khi có sáng kiến:
    Những yêu cầu chung với học sinh có ý định thi ĐGNL:

    2.1.1. Học sinh cần phải hiểu thế nào là năng lực của một con ngƣời ?
    Theo Chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018: “ Năng lực là
    thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình
    học tập rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng
    và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,…thực hiện thành
    công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều
    kiện cụ thể”.
    Năng lực gồm 10 NL cốt lõi (trong đó lại chia thành 3 năng lực chung và
    7 năng lực đặc thù: ngôn ngữ, tính toán, khoa học, công nghệ, tin học, thẩm mĩ,
    thể chất) và các năng lực đặc thù theo từng môn học và hoạt động giáo dục.
    Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể
    sống và làm việc bình thường trong xã hội; được hình thành, phát triển thông
    qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng
    lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
    Năng lực đặc thù là những năng lực được hình thành, phát triển chủ yếu
    thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định, như: năng lực ngôn
    ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin
    hoc, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất.
    2.1.2. Học sinh cần hiểu thi đánh giá năng lực là gì?
    Thi năng lực và lấy kết quả thi năng lực để xét tuyển sinh là việc làm đang
    dần khá phổ biến của các trường đại học trên thế giới, hiện nay ở nước ta cũng
    đang dần phát triển nhằm tìm ra các sinh viên có năng lực toàn diện nhất.
    Thi ĐGNL là một kỳ thi có bài thi (môn thi) tổng hợp thường gồm các
    câu hỏi để kiểm tra trình độ ngôn ngữ; Toán học, tư duy logic và phân tích số
    liệu; và giải quyết vấn đề. Mục đích của việc tham gia kỳ thi này là để Xét tuyển
    đại học, đánh giá năng lực của học sinh THPT theo chuẩn đầu ra của chương
    6
    trình giáo dục phổ thông mới; Định hướng nghề nghiệp cho người học trên nền
    tảng kiến thức và năng lực cá nhân; Kiểm tra kiến thức tự nhiên, xã hội, tư duy,
    kỹ năng, thái độ của người học…
    Xét về bản chất thì không có mâu thuẫn giữa đánh giá năng lực và đánh
    giá kiến thức, kĩ năng, đánh giá năng lực được coi là bước phát triển cao hơn so
    với đánh giá kiến thức, kĩ năng. Để chứng minh học sinh có năng lực ở một mức
    độ nào đó, phải tạo cơ hội cho học sinh được giải quyết vấn đề trong tình huống
    mang tính thực tiễn. Khi đó học sinh vừa phải vận dụng những kiến thức, kĩ
    năng đã được học ở nhà trường, vừa sử dụng những kinh nghiệm của bản thân
    thu được từ những trải nghiệm bên ngoài nhà trường (gia đình, cộng đồng và xã
    hội) để giải quyết vấn đề của thực tiễn. Như vậy, thông qua việc hoàn thành một
    nhiệm vụ trong bối cảnh thực, người ta có thể đồng thời đánh giá được cả khả
    năng nhận thức, kĩ năng thực hiện và những giá trị, tình cảm của người học. Mặt
    khác, đánh giá năng lực không hoàn toàn phải dựa vào chương trình giáo dục
    của từng môn học như đánh giá kiến thức, kĩ năng, bởi năng lực là tổng hóa, kết
    tinh kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, chuẩn mực đạo đức,… được
    hình thành từ nhiều môn học, lĩnh vực học tập khác nhau, và từ sự phát triển tự
    nhiên về mặt xã hội của một con người.
    Có thể tổng hợp một số dấu hiệu khác biệt cơ bản giữa đánh giá năng lực
    người học và đánh giá kiến thức, kĩ năng của người học như sau:

    STTĐánh giá theo hƣớng
    tiếp cận nội dung
    Đánh giá theo hƣớng
    tiếp cận năng lực
    1Các bài kiểm tra trên giấy được
    thực hiện vào cuối một chủ đề,
    một chương, một học kì,…
    Nhiều bài kiểm tra đa dạng (giấy, thực
    hành, sản phẩm dự án, cá nhân,
    nhóm…) trong suốt quá trình học tập
    2Nhấn mạnh sự cạnh tranhNhấn mạnh sự hợp tác
    3Quan tâm đến mục tiêu cuối cùng
    của việc dạy học
    Quan tâm đến đến phương pháp học
    tập, phương pháp rèn luyện của học
    sinh
    4Chú trọng vào điểm sốChú trọng vào quá trình tạo ra sản
    phẩm, chú ý đến ý tưởng sáng tạo, đến
    các chi tiết của sản phẩm để nhận xét
    5Tập trung vào kiến thức hàn lâmTập trung vào năng lực thực tế và sáng
    tạo
    6Đánh giá được thực hiện bởi các
    cấp quản lí và do giáo viên là chủ
    yếu, còn tự đánh giá của học sinh
    không hoặc ít được công nhận
    Giáo viên và học sinh chủ động trong
    đánh giá, khuyến khích tự đánh giá và
    đánh giá chéo của học sinh
    7Đánh giá đạo đức học sinh chú
    trọng đến việc chấp hành nội quy
    Đánh giá phẩm chất của học sinh toàn
    diện, chú trọng đến năng lực cá nhân,

    7

    STTĐánh giá theo hƣớng
    tiếp cận nội dung
    Đánh giá theo hƣớng
    tiếp cận năng lực
    nhà trường, tham gia phong trào
    thi đua…
    khuyến khích học sinh thể hiện cá tính
    và năng lực bản thân

    2.1.3. Các trƣờng ĐH có tuyển sinh bằng kết quả thi ĐGNL:
    Hiện có khoảng 70 trường ĐH, CĐ đăng ký tuyển sinh từ kết quả kỳ thi
    này, trong đó 10 trường thuộc hệ thống ĐHQG TPHCM, 60 trường ngoài hệ
    thống. Đặc biệt, chỉ tiêu tuyển sinh bằng đánh giá năng lực năm 2021 của các
    trường thành viên ĐHQG TPHCM năm 2021 đều tăng lên. Trong đó, Trường
    ĐH KHXH&NV với mức chỉ tiêu tối đa 50%, Trường ĐH Bách khoa dành tối
    đa 70% chỉ tiêu xét tuyển cho phương thức này… Với học sinh các khối 10,11
    Bộ giáo dục khuyến khích đưa các câu hỏi kiểm tra năng lực vào suốt quá trình
    học, kiểm tra, đánh giá trong năm học.
    2.1.4. Vì sao kỳ thi đánh giá năng lực của các trƣờng đại học ngày càng thu
    hút thí sinh?
    Mùa tuyển sinh 2020 – 2021 ghi nhận một sự dịch chuyển rõ nét của thí
    sinh cũng như của các trường đại học. Xu hướng tham gia Kỳ thi đánh giá năng
    lực của ĐHQG TPHCM đang là lựa chọn của rất nhiều em. Vì sao vậy? TS
    Nguyễn Vũ Quỳnh – PHT trường ĐH Lạc Hồng– một trong những trường có sử
    dụng kết quả kỳ thi ĐGNL làm phương thức tuyển sinh đầu vào – đã đưa ra
    nguyên nhân cơ bản là vì tính toàn diện của kiến thức, cụ thể là:
    + Khác với kỳ thi thông thường – yêu cầu thí sinh tham gia phải nắm được kiến
    thức đã được cung cấp trong chương trình đạo tạo, thì các kỳ thi đánh giá năng
    lực thường có xu hướng kiểm tra năng lực toàn diện của thí sinh. Cách thức và
    nội dung đề thi đánh giá năng lực của ĐHQG TP Hồ Chí Minh công bố trong
    những năm qua cũng thể hiện rõ điều đó.
    + Điều này mang lại nhiều lợi ích cho các thí sinh và các trường ĐH có sử dụng
    kết quả của kỳ thi này. Các trường ĐH – đặc biệt là các trường đào tạo đa ngành
    thì có thêm một phương thức để tuyển sinh bên cạnh các phương thức tuyển sinh
    truyền thống khác và như vậy, có nghĩa là mở thêm ra cho thí sinh cơ hội lựa
    chọn được trường, ngành mà các em yêu thích bên cạnh cơ hội được thử sức và
    có thêm minh chứng về năng lực, sở trường của bản thân.
    + Nói về lợ ích của kỳ thi đánh giá năng lực đối với các bên, TS Nguyễn Vũ
    Quỳnh nêu quan điểm: “ Bản chất của các kỳ thi ĐGNL là không đánh giá nhiều
    về khả năng ghi nhớ mà tập trung đánh giá nhiều về khả năng áp dụng kiến thức.
    Do đó, nó góp phần đánh giá kiến thức tổng quan, hiểu biết của các thí sinh ở tất
    cả các mặt, hạn chế việc học lệch, học tủ của thí sinh. Nó cũng là tạo thêm cơ
    hội cho các em vào trường đại học mà các em thích. Tôi cho rằng đây là xu
    hướng tất yếu. Tuy ở Việt Nam chưa phổ biến nhưng ở nước ngoài thì họ đã làm
    từ lâu, không còn xa lạ nữa”
    8
    + “Trong bối cảnh phát triển của cách mạng 4.0, các ngành nghề trong tương lai
    đòi hỏi người ta phải có nhiều kiến thức tổng hợp, hiểu biết toàn diện. Trường
    ĐH Lạc Hồng là trường đạo tạo đa ngành, gồm các khối kĩ thuật, ngôn ngữ, kinh
    tế,….do đó việc sử dụng kết quả của kỳ thi ĐGNL là nhằm tìm kiếm thí sinh
    phù hợp nhất”- TS Quỳnh nói thêm.
    Theo TS Trần Định Lý – PHT Trường ĐH Nông Lâm TPHCM, thành công của
    kỳ thi ĐGNL ĐHQGTPHCM đến từ 3 yếu tố:
    + Thứ nhất, là xu hướng đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
    đã chuyển từ kiến thức, kỹ năng sang đánh giá năng lực của người học. Tức là
    chuyển trọng tâm đánh giá chủ yếu từ ghi nhớ, hiểu kiến thức… sang năng lực
    vận dụng, giải quyết những vấn đề của thực tiễn, đặc biệt chú trọng đánh giá các
    năng lực tư duy bậc cao như tư duy sáng tạo. Trong đó, việc đánh giá kết quả
    học tập cuối môn học, khóa học (đánh giá tổng kết) nhằm mục đích xếp hạng,
    phân loại đã chuyển sang sử dụng các hình thức đánh giá thường xuyên, định kỳ
    sau từng chủ đề, từng chương nhằm mục đích phản hồi, điều chỉnh quá trình dạy
    học (đánh giá quá trình). Đặc biệt, với xu hướng dạy học tích hợp, các hoạt động
    đánh giá quá trình học tập của sinh viên đã chuyển từ hoạt động gần như độc lập
    với quá trình dạy học sang việc tích hợp vào quá trình dạy học, xem đánh giá
    như là một phương pháp dạy học.
    + Thứ hai, theo TS Trần Đình Lý, việc sử dụng kết quả Kỳ thi THPT quốc
    gia giảm dần và sẽ kết thúc vào năm 2021 theo lộ trình đã tác động ít nhiều đến
    lựa chọn của thí sinh. Điều này cũng nói lên cam kết của cơ quan quản lý ngành
    – Bộ GD& ĐT khi đưa ra lộ trình chuẩn cho cả hệ thống có sự chuẩn bị tốt. Từ
    khi công bố lộ trình, đã có nhiều phương thức khác nhau từ cơ sở, thậm chí cả
    những sự thử nghiệm, được có, mất cũng có nhưng đều hướng đến một cột mốc
    đích đến là tự chủ và tự chịu trách nhiệm sau khi Bộ GD&ĐT có những định
    hướng quan trọng.
    + Cuối cùng là uy tín và tính chuyên nghiệp trong khâu tổ chức tác động rất lớn
    đến sự lựa chọn của người học cũng như của các cơ sở giáo dục. Tiện ích, tiện
    lợi, giảm tốn kém, sẽ làm gia tăng sự tham gia. Ngay cả thời điểm hiện tại, khi
    đang còn Kỳ thi THPT quốc gia, kỳ thi đánh giá năng lực của ĐHQG TPHCM
    được tổ chức và thời gian rất thích hợp và nằm trong bối cảnh đa dạng hoá sự
    lựa chọn của học sinh.
    ThS Nguyễn Xuân Dung – Phó trưởng phòng Truyền thông và Tuyển sinh
    (Trường ĐH Công nghệ TPHCM – HUTECH) đánh giá: Bài thi đánh giá năng
    lực của ĐHQG TPHCM được xây dựng theo cùng cách tiếp cận với các bài thi
    đánh giá năng lực phổ biến trên thế giới như SAT (Scholastic Assessment Test)
    của Hoa Kỳ và TSA (Thinking Skills Assessment) của Anh, cũng như không
    yêu cầu học thuộc lòng, không quá phụ thuộc vào kiến thức trong sách giáo
    khoa và khả năng ghi nhớ của thí sinh khiến học sinh thích thú.
    9
    Là người trực tiếp giảng dạy, định hướng nghề nghiệp cho học sinh của mình
    trước mỗi Kỳ thi THPT quốc gia, tuyển sinh đại học, cô Trần Phương LoanGiáo viên Trường THPT Gò Vấp, quận Gò Vấp, TPHCM cho biết: Số lượng
    học sinh của cô lựa chọn đăng ký dự kỳ thi đánh giá năng lực của ĐHQG
    TPHCM tăng dần qua mỗi năm. Tất nhiên nó không chỉ đến từ sự lựa chọn của
    chính học sinh, mà đội ngũ thầy cô giáo cũng là người phải chỉ ra cho học sinh
    của mình thấy được cái lợi khi tham gia dự tuyển kỳ thi này: “Rõ ràng khi tham
    dự kỳ thi đánh giá năng lực, cơ hội trúng tuyển của các em được rộng mở hơn.
    Các em không chỉ được thử sức, rà soát khối lượng kiến thức, kỹ năng mình đã
    được rèn dũa trong 3 năm tại trường phổ thông. Quan trọng hơn, các em sẽ có
    được sự tự tin trước khi bước vào kỳ thi lớn là Kỳ thi THPT quốc gia. Thực tế,
    số lượng học sinh của tôi đăng ký dự thi kỳ thi trên đều có học lực khá đến giỏi.
    Bởi với đề thi minh họa mà ĐHQG TPHCM đã công bố, tính sàng lọc về kỹ
    năng và tư duy, vốn kiến thức xã hội đều phủ rộng nên các em cũng cân nhắc rất
    kỹ khả năng của mình trước khi tham dự. Thực tế, phương thức thi này phù hợp
    với bối cảnh hiện nay và có thể sẽ là xu hướng tuyển sinh mới trong tương lai
    khi Kỳ thi THPT quốc gia không còn”, cô Loan nói.
    Như vậy, từ thực tế trên thế giới cũng như trên cả nước chúng ta có thể
    nhận ra học sinh của các khối tự nhiên rất có lợi trong kì thi này vì các em có tố
    chất tư duy sáng tạo chỉ có vấn đề là các em cần phải đầu tư thêm chút thời gian
    và công sức để học các môn xã hội trong đó có Địa lý. Thực tế học sinh trường
    THPT Nam Trực cũng có thiên hướng học các môn khối tự nhiên nhiều hơn xã
    hội nên tôi nghĩ sẽ rất phù hợp để chúng ta tư vấn giúp các em hiểu về kì thi
    đánh giá năng lực cũng như cách học các môn học nói chung và môn Địa lý nói
    riêng để giúp các em tiếp cận tốt với kì thi này kể từ năm học 2021 – 2022. Nói
    như vậy không có nghĩa là bài viết này của tôi loại ra các em học tốt khối xã hội
    bởi vì giải pháp để học tốt các môn xã hội vẫn hữu dụng với các em có điều các
    em sẽ cần có giải pháp để học tốt các môn tự nhiên thì bài viết này tôi chưa thể
    đề cập.
    2.1.5. Bài thi đánh giá năng lực có cấu trúc và nội dung nhƣ thế nào?
    Gần đây nhất, năm 2021, Ngày 24-2, ĐH Quốc gia Hà Nội tổ chức hội nghị
    khảo thí trực tuyến ‘Giới thiệu các bài thi đánh giá năng lực ở Việt Nam năm
    2021′. Hội nghị giới thiệu bài thi đánh giá năng lực của ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH
    Quốc gia TP.HCM và Trường ĐH Bách khoa Hà Nội.
    Không kiểm tra trí nhớ
    Năm 2021, ĐH Quốc gia Hà Nội và ĐH Quốc gia TP.HCM sẽ tổ chức kỳ thi đánh
    giá năng lực ở miền Bắc và miền Nam. Riêng Trường ĐH Bách khoa Hà Nội gọi
    kỳ thi này là kỳ thi đánh giá tư duy. Đề thi của ĐH Quốc gia Hà Nội dài 195 phút
    với 150 câu hỏi.
    Còn bài thi của ĐH Quốc gia TP.HCM dài 150 phút với 120 câu hỏi. Bài thi kiểm
    tra tư duy của Trường ĐH Bách khoa dài 180 phút gồm phần bắt buộc, gồm toán
    (trắc nghiệm, tự luận) và đọc hiểu (trắc nghiệm); phần tự chọn (trắc nghiệm).
    10
    Hiện chỉ có ĐH Quốc gia Hà Nội tổ chức thi trên máy. Còn ĐH Quốc gia
    TP.HCM và Trường ĐH Bách khoa Hà Nội tổ chức thi trên giấy. Tham gia kỳ thi
    của ba đơn vị nói trên, thí sinh được đăng ký dự thi và nộp lệ phí online. Thí sinh
    có thể biết kết quả ngay sau khi thi.
    Các đơn vị đều chuẩn bị sẵn ngân hàng đề thi với hàng ngàn câu hỏi. ĐH Quốc gia
    Hà Nội với ngân hàng đề thi lên tới 12.000 – 15.000 câu hỏi có khả năng tổ chức
    bốn đợt thi trong năm. Trong mỗi đợt thi, mỗi thí sinh sẽ thi một đề riêng.
    Đề thi kiểm tra năng lực của các trường sẽ bao quát kiến thức của ba năm THPT
    và kiến thức của lớp 12 sẽ được kiểm tra nhiều hơn. Mỗi câu hỏi cung cấp đủ kiến
    thức để kiểm tra năng lực, tư duy phân tích của thí sinh chứ không thiên về kiểm
    tra trí nhớ, khả năng học thuộc của thí sinh.
    Đừng mất thời gian vào lò luyện
    GS.TS Nguyễn Tiến Thảo – giám đốc Trung tâm khảo thí ĐH Quốc gia Hà Nội –
    cho biết: “Bài thi nhằm kiểm tra năng lực tư duy của học sinh, do đó sẽ cung cấp
    đủ thông tin để các em có thể phân tích, trả lời. Bài thi này nhằm chống lại cách
    học thuộc lòng, cũng như học gì thi nấy. Vì ngân hàng đề rất lớn nên các lò luyện
    thi không thể bao quát hết được. Chúng tôi khuyên thí sinh không nên mất thời
    gian đầu tư tiền bạc, thời gian vào lò luyện thi”
    Đề thi năng lực của ĐHQG TP Hồ Chí Minh dành ra 10/ 120 câu hỏi cho phân
    môn địa lý, ngoài ra với một số câu hỏi yêu cầu kĩ năng tính toán, phân tích
    bảng số liệu hay tư duy logic thì Địa lý cũng góp phần cho học sinh dễ ghi điểm
    hơn.
    Đề thi mẫu:
    Năm 2020 của trường ĐHQG TPHCM:

    ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
    BÀI THI MẪU – KỲ THI ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC NĂM 2020
    Thời gian làm bài:150 phút (không kể thời gian phát đề)
    Tổng số câu hỏi:120 câu
    Dạng câu hỏi:Trắc nghiệm 4 lựa chọn (Chỉ có duy nhất 1 phương án đúng)
    Cách làm bài:Làm bài trên phiếu trả lời trắc nghiệm

    CẤU TRÚC BÀI THI

    Nội dungSố câuNội dungSố câu
    Phần 1: Ngôn ngữPhần 3: Giải quyết vấn đề
    1.1. Tiếng Việt203.1. Hóa học10
    1.2. Tiếng Anh203.2. Vật lí10
    Phần 2: Toán học, tƣ duy logic, phân tích số liệu3.3. Sinh học10
    2.1. Toán học103.4. Địa lí10
    2.2. Tư duy logic103.5. Lịch sử10
    2.3. Phân tích số liệu10

    11
    NỘI DUNG BÀI THI
    PHẦN 1. NGÔN NGỮ
    1.1. TIẾNG VIỆT
    1. Chọn từ đúng dưới đây để điền vào chỗ trống: “Trăng quầng thì hạn, trăng… thì mưa.”
    A. tỏ B. sáng C. mờ D. tán
    2. Truyện cổ tích Tấm Cám thể hiện nhiều mối quan hệ. Câu nào bên dưới đây không thể hiện
    mối quan hệ chính?

    A. Mối quan hệ giữa mẹ ghẻ và con chồng.
    đình.
    B. Mối quan hệ giữa chị và em trong gia
    C. Mối quan hệ giữa thiện và ác.
    chúng.
    D. Mối quan hệ giữa nhà vua và dân

    3. “Thuở trời đất nổi cơn gió bụi/ Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên/ Xanh kia thăm
    thẳm từng trên/ Vì ai gây dựng cho nên nỗi này.” (Chinh phụ ngâm, Đặng Trần Côn – Đoàn
    Thị Điểm)
    Đoạn thơ được viết theo thể thơ:
    A. Lục bát. B. Ngũ ngôn. C. Song thất lục bát. D. Tự do.

    4.“Ngoài song thỏ thẻ oanh vàng
    Nách tường bông liễu bay sang láng giềng.”

    (Truyện Kiều – Nguyễn Du)
    Từ nào trong câu thơ trên được dùng với nghĩa chuyển?
    A. Bông liễu. B. Nách tường. C. Láng giềng. D. Oanh vàng.
    5. Điền vào chỗ trống trong câu thơ: “Đưa người ta không đưa qua sông/ Sao có tiếng… ở
    trong lòng.” (Tống biệt hành – Thâm Tâm)
    A. khóc B. gió C. sóng D. hát
    6. “Anh dắt em qua cầu/ Cởi áo đưa cho nhau/ Nhớ về nhà dối mẹ/ Gió bay rồi còn đâu.”
    (Làng quan họ, Nguyễn Phan Hách).
    Đoạn thơ trên thuộc dòng thơ:
    A. dân gian. B. trung đại. C. thơ Mới. D. thơ hiện đại.
    7. Qua tác phẩm Những đứa con trong gia đình, Nguyễn Thi đã thể hiện rõ điều nào dưới
    đây?
    A. Sức sống tiềm tàng của những con người Tây Bắc
    B. Vẻ đẹp của thiên nhiên Nam Bộ
    C. Vẻ đẹp tâm hồn của người Nam Bộ
    D. Lòng yêu nước của những con người làng Xô Man
    8. Chọn từ viết đúng chính tả trong các từ sau:
    A. Chất phát. B. Trau chuốc. C. Bàng hoàng. D. Lãng mạng.
    9. Chọn từ viết đúng chính tả để điền vào chỗ trống trong câu sau: “Anh tôi là một người…”
    A. Chính trực, thẳn thắng. B. Trính trực, thẳn thắng.
    C. Trính trực, thẳng thắn. D. Chính trực, thẳng thắn.
    10. Từ nào bị sử dụng sai trong câu sau: “Mặc cho bom rơi đạn lạc, người chiến sĩ vẫn ngang
    nhiên cầm súng xông ra chiến trường.”
    A. xông ra. B. người chiến sĩ. C. ngang nhiên. D. đạn lạc.
    11. Các từ nhỏ mọn, xe cộ, chợ búa, chùa chiền, muông thú là:
    A. từ ghép dựa trên 2 từ tố có nghĩa giống nhau. B. từ ghép dựa trên 2 từ tố có nghĩa khác
    nhau.
    C. từ láy toàn thể. D. từ láy bộ phận.
    12. “Nhìn chung, Nguyễn Tuân là một người lắm tài mà cũng nhiều tật (1). Ngay những độc
    giả hâm mộ anh cũng cứ thấy lắm lúc vướng mắc khó chịu (2). Nhưng để bù lại, Nguyễn Tuân
    12
    lại muốn dựa vào cái duyên khá mặn mà của mình chăng? (3). Cái duyên “tài tử” rất trẻ, rất
    vui, với những cách ăn nói suy nghĩ vừa tài hoa vừa độc đáo, vừa hóm hỉnh nghịch ngợm làm
    cho người đọc phải bật cười mà thể tất cho những cái “khó chịu” gai góc của phong cách
    anh” (4).
    (Con đường Nguyễn Tuân đi đến bút kí chống Mĩ, Nguyễn Đăng Mạnh)
    Đặt trong ngữ cảnh của cả đoạn, chữ “tài tử” trong câu 4 có nghĩa là:
    A. một thể loại âm nhạc của Nam Bộ. B. tư chất nghệ sĩ.
    C. sự không chuyên, thiếu cố gắng. D. diễn viên điện ảnh nổi tiếng.
    13. “Rõ ràng là bằng mắt phải anh vẫn thấy hiện lên một cánh chim én chao đi chao lại. Mùa
    xuân đã đến rồi.” (Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc, Nguyễn Trung Thành)
    Nhận xét về phép liên kết của hai câu văn trên.
    A. Hai câu trên sử dụng phép liên tưởng. B. Hai câu trên không sử dụng phép liên
    kết.
    C. Hai câu trên sử dụng phép liên kết đối. D. Hai câu trên sử dụng phép liên kết lặp.
    14. “Nhân dịp ông đi công tác ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên để chuẩn bị cho việc xây
    dựng một số tuyến đường giao thông theo dự án.” Đây là câu:
    A. thiếu chủ ngữ. B. thiếu vị ngữ.C. thiếu chủ ngữ và vị ngữ. D. sai logic.
    15. Trong các câu sau:
    I. Trong ba ngày, lượng mưa kéo dài gây ra hiện tượng ngập úng ở nhiều khu vực.

    II.Chí Phèo là hình tượng điển hình cho người nông dân bị tha hóa do nhà văn Nam Cao
    xây dựng trong tác phẩm cùng tên.
    III.
    IV.
    Ông lão nhìn con chó, đuôi vẫy lia lịa.
    Tối hôm ấy, theo đúng hẹn, tôi đến nhà anh ấy chơi.
    Những câu nào mắc lỗi?
    A. I và II.B. III và IV.C. I và III.D. II và IV.

    Dựa vào các thông tin đƣợc cung cấp dƣới đây để trả lời các câu từ 16 đến 20
    “Bạn cũ ngồi than thở, nói ghét Sài Gòn lắm, chán Sài Gòn lắm, trời ơi, thèm ngồi giữa rơm
    rạ quê nhà lắm, nhớ Bé Năm Bé Chín lắm. Lần nào gặp nhau thì cũng nói nội dung đó, có lúc
    người nghe bực quá bèn hỏi vặt vẹo, nhớ sao không về. Bạn tròn mắt, về sao được, con cái
    học hành ở đây, công việc ở đây, miếng ăn ở đây.
    Nghĩ, thương thành phố, thấy thành phố sao giống cô vợ dại dột, sống với anh chồng thẳng
    thừng tôi không yêu cô, nhưng rồi đến bữa cơm, anh ta lại về nhà với vẻ mặt quạu đeo, đói
    meo, vợ vẫn mỉm cười dọn lên những món ăn ngon nhất mà cô có. Vừa ăn chồng vừa nói tôi
    không yêu cô. Ăn no anh chồng vẫn nói tôi không yêu cô. Cô nàng mù quáng chỉ thản nhiên
    mỉm cười, lo toan nấu nướng cho bữa chiều, bữa tối.
    Bằng cách đó, thành phố yêu anh. Phố cũng không cần anh đáp lại tình yêu, không cần tìm
    cách xóa sạch đi quá khứ, bởi cũng chẳng cách nào người ta quên bỏ được thời thơ ấu, mối
    tình đầu. Của rạ của rơm, của khói đốt đồng, vườn cau, rặng bần… bên mé rạch. Lũ cá rúc
    vào những cái vũng nước quánh đi dưới nắng. Bầy chim trao trảo lao xao kêu quanh quầy
    chuối chín cây. Ai đó cất tiếng gọi trẻ con về bữa cơm chiều, chén đũa khua trong cái mùi
    thơm quặn của nồi kho quẹt. Xao động đến từng chi tiết nhỏ”.
    (Trích Yêu người ngóng núi, Nguyễn Ngọc Tư)
    16. Phong cách ngôn ngữ của văn bản là:
    A. Sinh hoạt. B. Chính luận. C. Nghệ thuật. D. Báo chí.
    17. Từ “quạu đeo” ở dòng thứ 2 trong đoạn văn thứ 2 có nghĩa là:
    A. bi lụy. B. hạnh phúc. C. cau có. D. vô cảm.
    18. Phương thức biểu đạt chủ yếu của những câu văn: “Lũ cá rúc vào những cái vũng nước
    quánh đi dưới nắng. Bầy chim trao trảo lao xao kêu quanh quầy chuối chín cây…” là:
    A. tự sự. B. thuyết minh. C. nghị luận. D. miêu tả.
    19. Trong đoạn văn thứ 3, “mối tình đầu” của “anh” là:
    13
    A. thành phố. B. thị trấn trong sương.
    C. vùng rơm rạ thanh bình, hồn hậu. D. làng chài ven biển.
    20. Chủ đề chính của đoạn văn là:
    A. Nỗi nhớ quê của kẻ tha hương.
    B. Sự cưu mang của mảnh đất Sài Gòn.
    C. Niềm chán ghét khi phải tha phương cầu thực của người xa quê.
    D. Người chồng bạc bẽo.
    1.2. TIẾNG ANH
    Questions 21 – 25: Choose a suitable word or phrase (marked A, B, C, or D) to fill in each
    blank.
    21. The cutting or replacement of trees downtown _____ arguments recently.
    A. has caused B. have caused C. are causing D. caused
    22. Many places _____ our city are heavily polluted.
    A. on B. in C. at D. upon
    23. There were so _____ negative comments on Tom‟s post that he had to remove it.
    A. much B. many C. a lot of D. plenty
    24. His mother is _____ mine, but he is younger than me.
    A. more old than B. old as C. not as older as D. older than
    25. You‟re driving _____! It is really dangerous in this snowy weather.
    A. carelessly B. careless C. carelessness D. carefulness
    Questions 26 – 30: Each of the following sentences has one error (A, B, C, or D). Find it and
    blacken your choice on your answer sheet.
    26. There were too many participants in the event, so each of them were asked just one

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số giải pháp đánh giá sản phẩm học tập môn Địa lí lớp 12 tại trường THPT Lý Tự Trọng theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh

    SKKN Một số giải pháp đánh giá sản phẩm học tập môn Địa lí lớp 12 tại trường THPT Lý Tự Trọng theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh

    IẾU KIỆN HOÀN CANH TẠO RA SANG KIÊN
    1. Lí do chọn đề tài.
    Từ xưa đến nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới, giáo dục luôn được
    col là quốc sách hàng đầu, là động lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội. Xã hội ta
    là xã hội chủ nghĩa, mục tiêu chung của nền giáo dục nước ta là: “Nâng cao dân
    trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài” để phục vụ đất nước trong
    thời đại mới. Song mục tiêu cơ bản nhất của giáo dục lại ở chỗ: giáo dục phải
    đào tạo ra những con người không những có kiến thức mà còn phải giàu phẩm
    chất, năng lực, trí tuệ. Xuất phát từ yêu cầu đó, tháng I2 năm 2018 Bộ Giáo dục
    và Đào tạo đã ban hành chương trình giáo dục phố thông mới đặt ra sự cần thiết
    phải đỗi mới về chương trình các môn ở các cấp học để phát huy phẩm chất,
    năng lực học sinh.
    Trong định hướng xây dựng chương trình giáo dục phô thông mới, môn
    Địa lí THPT giúp học sinh phát triển năng lực chung và các năng lực Địa lí đã
    được học sinh hình thành ở cấp THCS; góp phần giáo dục tinh thần dân tộc,
    lòng yêu nước, các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa
    nhân loại, các phẩm chất, năng lực của người công dân Việt Nam, công dân toàn
    cầu phù hợp với xu thế phát triển của thời đại; giúp học sinh nhận thức và nhận
    thức rõ vai trò, đặc điểm của khoa học Địa lí cũng như sự kết nói giữa Địa lí học
    với ngành nghề khác, tạo cơ sở để học sinh định hướng nghề nghiệp trong tương
    lai. Bên cạnh việc đôi mới phương pháp dạy học thì đổi mới kiểm tra đánh giá
    theo định hướng phát triển năng lực học sinh là nhiệm vụ cần được chúng ta chú
    ý, quan tâm và hướng tới. Nó vừa mang tính thời sự vừa mang tính thực tiễn
    cao.
    Theo định hướng của chương trình giáo dục phố thông mới đối với môn
    Địa lí THPT thì có bốn phương pháp cơ bản để đánh giá kết quả học tập của học
    sinh là: phương pháp viết, phương pháp quan sát, phương pháp hỏi-đáp và
    phương pháp đánh giá hồ sơ học tập của học sinh. Đặc biệt, theo hướng dẫn của
    công văn 5512/BGDĐT-GDTrH ngày 18 tháng 12 năm 2020 về việc xây dựng
    và tô chức thực hiện Kế hoạch giáo dục của nhà trường và Thông tư 26/BGDĐT
    ngày 26 tháng 8 năm 2020 về việc Sửa đổi, bỗ sung một số điều của Quy chế
    đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phố thông ban
    hành kèm theo Thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 12 năm 2011
    của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì việc đánh giá sản phẩm học tập của
    học sinh là vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, do mới tiếp cận nên đa số giáo viên
    còn lúng túng trong việc áp dụng. Hiện tại phương pháp đánh giá sản phẩm học
    tập của của học sinh môn ĐỊa lí còn nhiều bắt hợp lý, cần thay đối. Sản phẩm học
    tập của học sinh đơn điệu chưa đa dạng, phong phú; phương pháp đánh giá đơn
    2
    điệu chủ yếu là đánh giá kiến thức, công cụ đánh giá chưa cụ thể; chủ yếu là giáo
    viên đánh giá nên chưa phát huy được năng lực và phẩm chất của học sinh.
    Theo các nhà tâm lí học thì học sinh THPT là lứa tuôi mà trình độ phát triển
    trí tuệ, thê chát, tình cảm, nhân cách…đang phát triển ở mức độ cao. Ở lứa tuổi này
    năng lực tư duy, năng lực tưởng tượng và các khả năng khác đều gần đạt tới mức độ
    hoàn thiện. Việc hướng dẫn học sinh tạo ra các sản phẩm học tập Địa lí phù hợp với
    các thang đánh giá của giáo viên sẽ giúp học sinh phát huy được những ưu điểm của
    mình: phát triển tư duy độc lập, tư duy logic, khả năng sáng tạo, khả năng khái quát
    hóa… Nhưng trong thực tế, có rất ít giáo viên quan tâm tới việc rèn luyện, phát triển
    năng lực cho học sinh mà chỉ đơn thuần là dạy và kiếm tra kiến thức lí thuyết. Điều
    đó khiến các em trở nên thụ động tiếp thu tri thức bài học và gượng ép trả lời câu
    hỏi kiểm tra đánh giá môn Địa lí và nhanh mệt mỏi, không có hứng thú với môn
    học.
    Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã chọn đề tài: “Một số giải pháp đánh giá
    sản phẩm học tập môn Địa lí lớp 12 tại trường THPT Lý Tự Trọng theo định
    hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh” đề nghiên cứu.
    2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
    Đề tài: “Một số giải pháp đánh giá sản phẩm học tập môn Địa lí 12 tại
    trường THPT Lý Tự Trọng theo định hướng phát triên phẩm chất, năng lực học
    sinh” nhằm góp phần thê nghiệm định hướng đánh giá kết quá học tập của học
    sinh theo hướng mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra; phát huy năng lực,
    phẩm chất của học sinh, nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lí tại trường
    THPT Lý Tự Trọng nói riêng và đáp ứng nhu câu đôi mới nền giáo dục của đất
    nước nói chung.
    3. Đối tượng nghiên cứu: “Một số giải pháp đánh giá sản phẩm học tập
    môn Địa lí 12 tại trường THPT Lý Tự Trọng theo định hướng phát triển phẩm
    chất, năng lực học sinh”.
    4. Phương pháp nghiên cứu.
    4.1. Nhóm phương pháp thu thập tài liệu.
    Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Tôi sử dụng phương pháp này vào
    việc nghiên cứu toàn bộ các tài liệu liên quan đến đề tài. Nghiên cứu những
    thành tựu lí thuyết đã có làm cơ sở lí luận.
    Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các giáo viên
    THPT để chỉnh sửa, bỗ sung và hoàn thiện.
    4.2. Nhóm phương pháp thực nghiệm.
    Phương pháp quan sát sư phạm: Phương pháp này được vận dụng để quan
    sát trực tiếp việc đánh giá sản phẩm học tập của học sinh trong tiết dạy hoặc
    trong các đợt kiểm tra.
    Phương pháp điều tra, khảo sát: Phương pháp này được sử dụng để điều
    tra thực trạng việc đánh giá sản phẩm học tập môn Địa lí của Khối 12 trường
    THPT Lý Tự Trọng (Thăm dò ý kiến của giáo viên, học sinh, giáo án, sản phẩm
    học tập của học sinh…)
    3
    4.3. Nhóm phương pháp thống kê, tông hợp .
    Phương pháp này dùng đề phân tích sô liệu, so sánh kêt quả trước khi áp
    dụng và sau khi áp dụng đê tài.
    H. MÔ TA GIÁI PHAP
    1. Cơ sở lí luận
    Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04 tháng 01 năm 2013 về đổi mới căn
    bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
    hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập
    quốc tế. Nội dung cụ thể như sau: Xác định mục tiêu giáo dục con người phát
    triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu xã hội vừa phát triển cao nhất tiềm năng của
    mỗi cá nhân. Phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể,
    mĩ thay vì chỉ trang bị kiến thức; kết hợp hải hòa dạy người, dạy chữ, dạy nghề.
    Trong Chương trình giáo dục phố thông 2018, môn Địa lí giữ vai trò quan
    trọng trong việc giáo dục HS thành những công dân có tỉnh thần yêu nước, tỉnh
    thần dân tộc. Ở cấp THPT, chương trình môn học ĐỊa lí 2018 xác định:
    Mục tiêu môn học: Trên nền tảng những kiến thức cơ bản và phương pháp
    giáo dục đề cao hoạt động chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh, Chương
    trình môn ĐỊa lí giúp học sinh hình thành, phát triển năng lực địa lí – một biêu
    hiện của năng lực khoa học; đồng thời góp phần cùng các môn học và hoạt động
    giáo dục khác phát triển ở học sinh các phâm chất chủ yếu và năng lực chung đã
    được hình thành trong giai đoạn giáo dục cơ bản, đặc biệt là tỉnh yêu quê hương,
    đất nước; thái độ ứng xử đúng đắn với môi trường tự nhiên, xã hội; khả năng
    định hướng nghề nghiệp; để hình thành nhân cách công dân, sẵn sàng đóng góp
    vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
    Đánh giá kết quả giáo dục trong môn Địa lí nhằm cung cấp thông tin
    chính xác, kịp thời, có giá trị về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương
    trình và sự tiến bộ của học sinh để hướng dẫn hoạt động học tập. Về nội dung
    đánh giá, bên cạnh đánh giá kiến thức, cần tăng cường đánh giá các kĩ năng của
    học sinh. Chú trọng đánh giá khả năng vận dụng tri thức vào những tình huống
    cụ thể. Đa dạng hóa các hình thức đánh giá, tăng cường đánh giá thường xuyên
    đối với tất cả học sinh bằng các hình thức khác nhau. Kết hợp việc đánh giá của
    giáo viên với tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh. Kết quả giáo dục
    được đánh giá băng các hình thức định tính và định lượng thông qua đánh giá
    thường xuyên, định kì, trên cơ sở đó tông hợp kết quả đánh giá chung về phẩm
    chất, năng lực và sự tiễn bộ của học sinh.
    Căn cứ vào những định hướng về đánh giá kết quả giáo dục trong chương
    trình 2018, ngày 26/8/2020, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 26/2020/TTBGDĐT sửa đổi, bô sung một số điều của Quy chế đánh giá, xếp loại HS trung
    học ban hành kèm theo Thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT này 12/12/2011.
    4
    Những sửa đôi, bố sung này được áp dụng cho Chương trình giáo dục phố thông
    hiện hành nhằm định hướng cho giáo viên chuyển từ kiểm tra, đánh giá kiến
    thức, kĩ năng sang kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực
    học sinh, trong đó tập trung vào một số nội dung sau:
    – Kết hợp giữa đánh giá bằng nhận xét và điểm só, trong đó đánh giá bằng
    nhận xét sự tiến bộ về thái độ, hành vi, kết quả thực hiện các nhiệm vụ học tập
    theo hướng phát triển phâm chất, năng lực của học sinh trong quá trình học tập
    môn học.
    – Hình thức kiểm tra, đánh giá gồm: kiểm tra, đánh giá thường xuyên
    (đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ học tập theo chương trình môn học) và
    kiêm tra, đánh giá định kì (đánh giá kết quá giáo dục học sinh sau một giai đoạn
    học tập, rèn luyện, nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của học
    sinh theo chương trình môn học) vào giữa kì và cuối kì. Trong đánh giá thường
    xuyên ngoài hình thức vấn đáp, viết còn có thể đánh giá bằng bài thuyết trình và
    sản phẩm học tập.
    Trong môn Địa lí, sản phẩm học tập của học sinh là các bài làm hoàn
    chỉnh, được học sinh thể hiện qua việc xây dựng, sáng tạo, thể hiện ở việc hoàn
    thành được công việc một cách hiệu quả. Các sản phẩm môn Địa lí có thể là bức
    vẽ, bản đồ, biểu đồ, bài thực hành, bài báo cáo, các dự án học tập, dự án nghiên
    cứu khoa học … Đa phần các sản phẩm đòi hỏi sự hợp tác giữa các học sinh và
    nhóm học sinh, thông qua đó giáo viên đánh giá được năng lực vận dụng kiến
    thức vào thực tiễn của học sinh.
    Trên đây là những cơ sở lí luận để nghiên cứu các phương pháp đánh giá
    sản phẩm học tập của học sinh.
    2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
    Tôi đã tiến hành khảo sát đối với ba giáo viên dạy Địa lí trong trường về
    việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Địa lí của học sinh khối 12 trường
    THPT Lý Tự Trọng. Kết quá thu được như sau:
    Nội dung Số GV thực | Tỉ lệ học sinh được
    hiện thực hiện/đánh giá
    1. Về hình thức kiêm tra đánh giá
    Vấn đáp 3 100%
    Viết 3 100%
    Thực hành 3 30%
    Thuyết trình 3 50%
    Sản phẩm học tập 3 30%
    2. Các phương pháp kiểm tra đánh giá
    Quan sát 3 100%
    Hỏi-đáp 3 100%
    Viết 3 100%
    Đánh giá hồ sơ học tập 2 50%
    Đánh giá sản phâm học tập 3 20%
    3. Công cụ đánh giá

    Câu hỏ1/bài tập
    Rubrics
    3 100%
    1 < 5%

    Đề kiểm tra 3 100%
    Báng kiếm 0 0
    Thang đánh giá 2 <5%
    Đông thời tôi tiên hành khảo sát với 396 học sinh khôi 12 về việc thực
    hiện và tham gia đánh giá sản phẩm học tập môn ĐỊa lí. Kết quả thu được như
    sau:

    Nội dungSố học sinh được
    thực hiện
    Tỷ lệ

    1. Các sản phẩm học tập môn Địa lí đã được thực hiện
    Vẽ (sơ đồ tư duy, lược đô, biểu đô…) 121 30.5%
    Phiếu học tập 396 100%
    Làm mô hình, tập san ảnh 39 10%
    Các sản phâm khác 30 7.5%
    2. Việc tham gia nhận xét, đánh giá sản phẩm của các bạn
    Thường xuyên 59 15%
    Thỉnh thoảng 317 80%
    Không bao giờ 20 5%
    3. Quyền đánh giá cuỗi cùng về sản phâm học tập
    Giáo viên 396 100%
    Học sinh 0 0
    Qua các phiêu khảo sát trên chúng tôi nhận thấy thực trạng của vân đề
    như sau:
    Sản phẩm học tập môn ĐỊa lí còn đơn điệu, chưa đa dạng phong phú, chủ
    yếu là phiếu học tập. Thị thoảng có một vài bài thực hành yêu cầu một số cá
    nhân thực hiện để đánh giá kết quả như vẽ lược đồ, sơ đồ tư duy…
    Hình thức đánh giá còn đơn điệu: chủ yếu là viết, hỏi — đáp, còn thiên về
    đánh giá kiến thức, chưa chú ý đến đánh giá năng lực. Hầu như không có đánh
    giá hồ sơ học tập.
    Giáo viên đánh giá chưa đưa ra công cụ đánh giá cụ thể cho giáo viên và
    học sinh. Đối với những nội dung kiến thức lí thuyết thì có hướng dẫn chấm,
    6
    thang điểm rõ ràng, còn đối với những sản phẩm học tập thì đánh giá còn thiên
    về cảm tính.
    Học sinh chưa có nhiều cơ hội để đánh giá sản phẩm của mình và của các
    bạn. Trong khi đánh giá, học sinh cũng được nhận xét bài của bạn nhưng quyền
    quyết định chủ yếu vẫn là giáo viên, phần nhiều là do giáo viên tự đánh giá.
    Tóm lại với những thực trạng trên, học sinh chưa phát huy được phẩm
    chất, năng lực của mình qua quá trình học tập. Vì thế, chưa đáp ứng được yêu
    cầu của đôi mới giáo dục.
    3. Nội dung và hình thức giải pháp
    3.1. Giải pháp 1: Trang bị kiến thức về kiểm tra đánh giá sản phẩm
    học tập môn Địa lí cho giáo viên.
    3.1.1. Mục tiêu giải pháp.
    Nhằm trang bị cho giáo viên những kiến thức cơ bản về kiểm tra đánh giá
    trong chương trình giáo dục phô thông mới môn Địa lí, đặc biệt là những hình
    thức, phương pháp, công cụ kiểm tra đánh giá sản phẩm học tập của học sinh
    theo hướng đổi mới.
    3.1.2. Nội dung giải pháp
    Hiện nay có nhiều quan niệm về năng lực, theo OECD: Năng lực là khả
    năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ
    thể; theo Chương trình giáo dục phố thông mới năm 2018: Năng lực là thuộc
    tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập,
    rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các
    thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công
    một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ
    thể.
    Với những quan niệm trên, đánh giá kết quả học tập theo định hướng tiếp
    cận năng lực cần chú trọng vào khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những
    tình huống ứng dụng khác nhau. Đánh giá năng lực được coi là bước phát triển
    cao hơn so với đánh giá kiến thức, kĩ năng. Đề chứng minh học sinh có năng lực
    ở một mức độ nào đó, phải tạo cơ hội cho học sinh được giải quyết vấn đề trong
    tình huống mang tính thực tiễn. Khi đó học sinh vừa phải vận dụng những kiến
    thức, kĩ năng đã được học ở nhà trường, vừa sử dụng những kinh nghiệm của
    bản thân thu được từ những trải nghiệm bên ngoài nhà trường (gia đình, cộng
    đồng và xã hội) để giải quyết vấn đề của thực tiễn. Như vậy, thông qua việc
    hoàn thành một nhiệm vụ trong bối cảnh thực, n8ười fa có thể đồng thời đánh
    giá được cả khả năng nhận thức, kĩ năng thực hiện và những giá trị, tình cảm của
    người học. Mặt khác, đánh giá năng lực không hoàn toàn phải dựa vào chương
    trình giáo dục của từng môn học như đánh giá kiến thức, kĩ năng, bởi năng lực là
    tổng hóa, kết tinh kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, chuẩn mực đạo
    đức, … được hình thành từ nhiều môn học, lĩnh vực học tập khác nhau, và từ sự
    phát triển tự nhiên về mặt xã hội của một con nPƯỜời.
    7
    Một số điểm khác biệt giữa đánh giá tiếp cận nội dung (kiến thức, kĩ
    năng) và đánh giá tiêp cận năng lực.
    Đánh giá theo hướng Đánh giá theo hướng
    STT SÁU CAO AY VẤ CAC
    tiệp cận nội dung tiệp cận năng lực
    Các bài kiểm tra trên giấy được Nhiều bài kiêm tra đa dạng (giấy,
    1 thực hiện vào cuối một chủ đề, thực hành, sản phẩm dự ấn, cá nhân,
    một chương, một học kì,… nhóm…) trong suôt quá trình học
    tập
    2 ‘ Nhân mạnh sự cạnh tranh Nhân mạnh sự hợp tác
    Quan tâm đến mục tiêu cuối ‘ Quan tâm đến đến phương pháp
    3: cùng của việc dạy học học tập, phương pháp rèn luyện của
    học sinh
    Chú trọng vào điểm số Chú trọng vào quá trình tạo ra sản
    4 phẩm, chú ý đến ý tưởng sáng tạo,
    đên các chi tiệt của sản phầm đề
    nhận xét
    s Tập trung vào kiến thức hàn lâm _ Tập trung vào năng lực thực tế và
    sáng tạo

    các cấy quận lí và do giáo vnGiáo viên và học sinh chủ động
    trong đánh giá, khuyên khích tự
    NAẤnSA,ca

    6 ¡ là chủ yêu, còn tự đánh giá của , sở CA NỰ ¬
    . ˆ x. ở đánh giá và đánh giá chéo của học
    học sinh không hoặc ít được sinh
    công nhận
    Đánh giá đạo đức học sinh chú ¡ Đánh giá phẩm chất của học sinh
    7 trọng đến việc chấp hành nội ( toàn diện, chú trọng đến năng lực
    quy nhà trường, tham gia phong
    trào thị đua…
    cá nhân, khuyến khích học sinh thê
    hiện cá tính và năng lực bản thân
    3.1.3. Định hướng kiểm tra, đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực học
    sinh
    Kiểm tra đánh giá kết quá học tập của học sinh theo hướng tiếp cận năng
    lực tập trung vào các định hướng sau:
    – Chuyển từ chủ yếu đánh giá kết quả học tập cuối môn học, khóa học
    (đánh giá tổng kết) nhằm mục đích xếp hạng, phân loại sang sử dụng các loại
    hình thức đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ sau từng chủ đề, từng
    chương nhằm mục đích phản hồi điều chỉnh quá trình dạy học (đánh giá quá
    trình);
    – Chuyển từ chủ yêu đánh giá kiến thức, kĩ năng sang đánh giá năng lực
    của người học. Tức là chuyển trọng tâm đánh giá chủ yêu từ ghi nhớ, hiểu kiến
    thức, … sang đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết những vấn đề của thực tiễn,
    đặc biệt chú trọng đánh giá các năng lực tư duy bậc cao như tư duy sáng tạo;
    – Chuyển đánh giá từ một hoạt động gần như độc lập với quá trình dạy
    học sang việc tích hợp đánh giá vào quá trình dạy học, xem đánh giá như là một
    phương pháp dạy học;
    8
    – Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá: sử
    dụng các phân mềm thấm định các đặc tính đo lường của công cụ (độ tin cậy, độ
    khó, độ phân biệt, độ giá trị) và sử dụng các mô hình thông kê vào xử lý phân
    tích, lý giải kết quả đánh giá.
    Với những định hướng trên, đánh giá kết quả học tập các môn học, hoạt
    động giáo dục của học sinh ở mỗi lớp và sau cấp học trong bối cảnh hiện nay
    cần phải:
    – Dựa vào cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng (theo định hướng tiếp cận năng
    lực) từng môn học, hoạt động giáo dục từng môn, từng lớp; yêu cầu cơ bản cần
    đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ (theo định hướng tiếp cận năng lực) của học
    sinh của cấp học.
    – Phối hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì, giữa đánh giá
    của giáo viên và tự đánh giá của học sinh, giữa đánh giá của nhà trường và đánh
    giá của gia đình, cộng đồng.
    – Kết hợp giữa hình thức đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan và tự luận
    nhằm phát huy những ưu điểm của mỗi hình thức đánh giá này.
    – Có công cụ đánh giá thích hợp nhằm đánh giá toàn diện, công bằng,
    trung thực, có khá năng phân loại, giúp giáo viên và học sinh điều chỉnh kịp thời
    việc dạy và học.
    Việc đổi mới công tác đánh giá kết quả học tập môn học của giáo viên
    được thê hiện qua một số đặc trưng cơ bản sau:
    a) Xác định được mục đích chủ yếu của đánh giá kết quả học tập là so
    sánh năng lực của học sinh với mức độ yêu cầu của chuẩn kiến thức và kĩ năng
    (năng lực) môn học ở từng chủ đề, từng lớp học, để từ đó cải thiện kịp thời hoạt
    động dạy và hoạt động học.
    b) Tiến hành đánh giá kết quả học tập môn học theo ba công đoạn cơ bản
    là thu thập thông tin, phân tích và xử lý thông tin, xác nhận kết quả học tập và ra
    quyết định điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học. Yếu tô đối mới ở mỗi công
    đoạn này là:
    Thu thập thông tin: thông tin được thu thập từ nhiều nguồn, nhiều hình
    thức và bằng nhiều phương pháp khác nhau (quan sát trên lớp, làm bài kiểm tra,
    sản phẩm học tập, tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau,…); lựa chọn được những nội
    dung đánh giá cơ bản và trọng tâm, trong đó chú ý nhiều hơn đến nội dung kĩ
    năng; xác định đúng mức độ yêu cầu mỗi nội dung (nhận biết, thông hiểu, vận
    dụng,…) căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng; sử dụng đa dạng các loại công cụ
    khác nhau (đề kiêm tra viết, câu hỏi trên lớp, phiếu học tập, bài tập về nhà,…);
    thiết kế các công cụ đánh giá đúng kĩ thuật (câu hỏi và bài tập phải đo lường
    được mức độ của chuẩn, đáp ứng các yêu cầu dạng trắc nghiệm khách quan hay
    tự luận, cấu trúc đề kiểm tra khoa học và phù hợp,…); tổ chức thu thập được các
    thông tin chính xác, trung thực. Cần bồi dưỡng cho học sinh những kĩ thuật
    thông tin phản hồi nhằm tạo điều kiện cho học sinh tham gia đánh giá và cải tiến
    quá trình dạy học.
    Phân tích và xứ lý thông tin: các thông tin định tính về thái độ và năng lực
    học tập thu được qua quan sát, trả lời miệng, trình diễn,… được phân tích theo
    9
    nhiều mức độ với tiêu chí rõ ràng và được lưu trữ thông qua số theo dõi hàng
    ngày; các thông tin định lượng qua bài kiểm tra được chấm điểm theo đáp
    án/hướng dẫn chấm — hướng dẫn đám bảo đúng, chính xác và đáp ứng các yêu
    câu kĩ thuật; số lần kiểm tra, thống kê điểm trung bình, xếp loại học lực,… theo
    đúng quy chế đánh giá, xếp loại ban hành.
    Xác nhận kết quả học tập: xác nhận học sinh đạt hay không mục tiêu từng
    chủ đề, cuối lớp học, cuối cấp học dựa vào các kết quả định lượng và định tính
    với chứng cứ cụ thể, rõ ràng; phân tích, giải thích sự tiến bộ học tập vừa căn cứ
    vào kết quả đánh giá quá trình và kết quá đánh giá tổng kết, vừa căn cứ vào thái
    độ học tập và hoàn cảnh gia đình cụ thể. Ra quyết định cải thiện kịp thời hoạt
    động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh trên lớp học; ra các quyết
    định quan trọng với học sinh (lên lớp, thị lại, ở lại lớp, khen thưởng, …); thông
    báo kết quả học tập của học sinh cho các bên có liên quan (Học sinh, cha mẹ học
    sinh, hội đồng giáo dục nhà trường, quản lý cấp trên, …). GÓp ý và kiến nghị
    với cấp trên về chất lượng chương trình, sách giáo khoa, cách tô chức thực hiện
    kế hoạch giáo dục, …
    Trong đánh giá thành tích học tập của học sinh không chỉ đánh giá kết quả
    mà chú ý cá quá trình học tập. Đánh giá thành tích học tập theo quan điểm phát
    triển năng lực, không giới hạn vào khả năng tái hiện trị thức mà chú trọng khả
    năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp.
    Cần sử dụng phối hợp các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá
    khác nhau. Kết hợp giữa kiểm tra miệng, kiểm tra viết, bài tập thực hành; kết
    hợp giữa trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan. Kiểm tự luận thường
    đòi hỏi cao về tư duy, óc sáng tạo và tính lôgIc của vấn đề, đặc biệt là sự thê
    hiện những ý kiến cá nhân trong cách trình bày, tuy nhiên không bao quát được
    hết kiến thức chương trình giáo dục phô thôngc và kết quá kiểm tra nhiều khi
    còn phụ thuộc vào năng lực của người chấm bài. Kiểm tra trắc nghiệm khách
    quan với ưu là thích hợp với quy mô lớn, học sinh không phải trình bày cách
    làm, số lượng câu hỏi lớn nên có thể bao quát được kiến thức toàn diện của học
    sinh, việc chấm điểm trở nên rất đơn giản dựa trên mẫu đã có sẵn, có thể sử
    dụng máy để chấm cho kết quá rất nhanh, đảm bảo được tính công bằng, độ tin
    cậy cao. Tuy nhiên nhược điểm của hình thức này là không thể hiện được tính
    sáng tạo, lôgIc của khoa học và khả năng biêu cảm trước các vấn đề chính trị, xã
    hội, con người của đất nước, nhiều khi sự lựa chọn còn mang tính may mắn. Do
    đó việc kết hợp hai hình thức kiểm tra này sẽ phát huy được những ưu điểm và
    hạn chế bớt những nhược điểm của mỗi hình thức kiểm tra.
    3.1.3. Về điều kiện thực hiện giải pháp.
    Thứ nhất: Hệ thống văn bản chỉ đạo của các cấp Bộ, Sở Giáo dục ban
    hành kịp thời để định hướng cho giáo viên tiếp cận chương trình mới.
    Thứ hai: 100% giáo viên trường THPT Lý Tự Trọng được nghiên cứu tải
    hiệu, tập huấn trực tuyến đại trà, tập huấn trực tiếp trong các buổi sinh hoạt
    chuyên môn do Sở giáo dục hoặc trường tô chức. Hầu hết giáo viên trường đều
    đạt chuẩn hoặc trên chuẩn với trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, nhiều
    giáo viên am hiểu chuyên sâu về Địa lí, có kinh nghiệm ôn học sinh giỏi, có tính
    10
    thần cầu tiến nên việc trang bị kiến thức lí luận cho giáo viên về phương pháp
    đánh giá sản phẩm học tập môn Địa lí là hoàn toàn có thê thực hiện được.
    Thứ ba: Học sinh trong trường THPT Lý Tự Trọng đa phần ngoan, có tinh
    thần học tập, nhanh nhẹn trong việc tiếp thu cái mới nên có thể áp dụng các giải
    pháp của sáng kiến để nâng cao chất lượng học tập môn Địa lí của các em.
    3.1.4. Quá trình áp dụng giải pháp vào thực tiễn và kết quả đạt được.
    Tôi đã xây dựng thêm trong nội dung sinh hoạt chuyên đề tổ chuyên môn
    và kế hoạch giáo dục môn Địa lí các nội dung mà giáo viên và học sinh của
    trường đang cần, đang yêu. Cụ thê như sau:
    Tôi đưa nội dung này thành một chủ đề sinh hoạt chuyên sâu của tô
    chuyên môn vì hầu hết giáo viên trong tổ cũng đang rất cần những kiến thức nảy
    để đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá cho học sinh theo thông tư 26. Từ
    việc trang bị cho tất cả giáo viên thì mới phố biến được rộng khắp cho tất cả các
    khối lớp, đặc biệt là khối lớp 12. Tôi hướng dẫn cụ thể cho giáo viên về khái
    niệm sản phẩm học tập, các sản phẩm học tập môn Địa lí đối với học sinh lớp 12
    gồm những gì? Yêu cầu của sản phẩm học tập? Cách đánh giá sản phẩm và công
    cụ đánh giá? Chủ thê đánh giá sản phẩm của học sinh? (Sẽ trình bày cụ thể trong
    các giải pháp sau). Đặc biệt quan trọng là tôi đã phân chia đối tượng học sinh để
    định hướng cho các em phát triển năng lực của mình.
    Kết quả áp dụng: Đa số giáo viên trong trường đều biết được quan điểm
    đôi mới của chương trình giáo dục phố thông môn Địa lí theo định hướng phát
    triển năng lực, phẩm chất học sinh. Hiểu được mục đích, yêu cầu và phương
    pháp đánh giá cũng như công cụ đánh giá sản phẩm của học sinh. Nhóm giáo
    viên bộ môn Địa lí đã xác định đối tượng học sinh để phác thảo sơ bộ về các sản
    phẩm học tập sẽ đánh giá trong năm học. Tất cả các nội dung về mặt kiến thức
    cơ bản trên đây đã được nhóm giáo viên Địa lí trường tôi tập huấn, tìm hiểu, trao
    đổi và thống nhất để thực hiện và cụ thể hóa bằng các giải pháp dưới đây.
    3.2. Giải pháp 2: Đa dạng hóa các sản phẩm học tập của học sinh.
    3.2.1. Mục tiêu của giải pháp.
    Thực hiện đa dạng hóa các sản phẩm học tập của học sinh nhằm giúp giáo
    viên thực hiện đúng theo yêu cầu về kiểm tra đánh giá của chương trình giáo dục
    phô thông mới. Đồng thời nhằm phát huy tối đa năng lực, phẩm chất của học
    sinh. Việc đa dạng hóa các sản phâm học tập của học sinh sẽ giúp việc học Địa
    lí không còn nhàm chán mà trở nên hứng thú hơn với cả giáo viên và học sinh.
    3.2.2. Nội dung của giải pháp
    Theo chương trình giáo dục phố thông mới, sản phẩm học tập của học
    sinh là các bài làm hoàn chỉnh, được học sinh thê hiện qua việc xây dựng, sáng
    tạo, được thê hiện ở việc hoàn thành được công việc một cách hiệu quả.
    Tôi đã nghiên cứu kĩ chương trình Địa lí hiện hành và chương trình
    GDPT mới, khảo sát đối tượng học sinh lớp 12 ngay từ đầu năm để xác định
    năng lực, sở trường của học sinh thông qua giáo viên chủ nhiệm các lớp. Kết
    quả khảo sát thu được như sau:
    I1
    Lớp Số Tỉ lệ HS tôt Tỉ lệ theo học lực Sô học sinh có năng khiêu
    HS nghiệp THCS | của HS môn Địa 12
    (%) kìI (4)

    GK|TBỊI|GKTBThuyêt | Kĩ | Âm | Hội | Có
    trình ộ
    (nói, kê
    năng
    việt
    nhạc | họa | khả
    (hát/(vẽ,
    thiệt
    kê…) |
    năng
    CNT
    chuyện) | tôt | múa
    )T

    12AI 40 |95 5 0 72.5 |25.0 12.5 3 10 3 3 2
    12A2 39 |&85 15 |0 48.7 |46.1 |5.2 3 8 5 2 3
    12A3 39 |82 18 |0 51.2 |4L0 |7.8 2 6 4 2 1
    12A4 38 |78 22 |0 34.2 {157.8 |8.0 3 5 5 3 3
    12A5 39 |80 20 |0 64.1 {33.3 |2.6 9 12 7 4 1
    12A6 38 |60 30 |10 |47.3 |50.0 |2.7 7 9 6 1 2
    12A7 44 158 27 |15 |56.8 |40.9 |2.3 8 10 9 1 1
    12A8 37 162 28 |10 |16.2 |73.0 |10.8 |3 7 4 3 2
    12A9 44 |68 26 |6 18.1 |75.1 |6.8 3 8 3 2 2
    12AI0 |38 |4 45 |7 31.6 |60.5 |7.9 4 6 3 1 3
    Dựa vào kết quả khảo sát trên tôi nhận thấy: Hầu hết ở các lớp học sinh
    ngoài năng lực chung đều có những học sinh có các năng khiếu riêng như âm
    nhạc, hội họa, thuyết trình… Để các em phát huy được tối đa năng lực, sở trường
    của mình, tôi lấy đó làm cơ sở đầu tiên để phân chia sản phẩm học tập môn Địa
    lí 12 ra làm ba nhóm chính:
    – Sản phẩm viết bao gồm: bài tập, phiếu học tập, hình vẽ, sơ đồ tư duy,
    biểu đồ, lược đồ, báo cáo…
    – Sản phẩm dự án, nghiên cứu khoa học: video, bài thuyết trình…
    – Sản phẩm thực hành: Mô hình, tập san ảnh…
    3.2.3. Điều kiện để thực hiện giải pháp.
    Đề thực hiện việc đa dạng hóa sản phẩm học tập của học sinh cần có các
    điều kiện sau:
    Giáo viên cần dành thời gian đầu tư vào kế hoạch dạy học, đặc biệt chú ý
    đến việc đánh giá theo năng lực của học sinh, tạo cơ hội cho các em tạo ra các
    sản phẩm học tập phù hợp với yêu cầu bộ môn, với năng khiếu, sở trường của
    các em.
    Học sinh cần chăm chỉ, nhiệt tình, sáng tạo trong các hoạt động, tăng
    cường tính hợp tác khi làm các sản phẩm của một nhóm học sinh.
    Giáo viên cần có sự tham mưu tích cực với ban giám hiệu nhà trường, phụ
    huynh học sinh trong việc chủ động tạo điều kiện cho học sinh về thời gian, về
    phương tiện, cơ sở vật chất để hoàn thành sản phẩm học tập được giao.
    12
    3.2.4. Quá trình áp dụng giải pháp vào thực tiễn và kết quả đạt được.
    Sáng kiến được áp dụng bắt đầu từ chương trình học kì II lớp 12 năm học
    2020 – 2021 tại trường THPT Lý Tự Trọng. Tôi đã tiễn hành như sau:
    Thứ nhất, giáo viên bộ môn phố biến tới học sinh về quy định kiểm tra
    đánh giá đối với môn Địa lí 12 như sau: Môn Địa lí 12 kì 2 có 2 tiết/ tuần nên
    mỗi học sinh sẽ có tối thiêu ba điểm kiểm tra thường xuyên và hai điểm kiểm tra
    định kì trong một học kì. Riêng điểm kiểm tra thường xuyên sẽ được kiểm tra
    dưới nhiều hình thức khác nhau. Cụ thê là kiêm tra vấn đáp, kiểm tra viết hoặc
    thực hành làm các sản phẩm học tập. Riêng sản phẩm học tập sẽ có ba nhóm
    như trên. Còn kiểm tra định kì sẽ chia làm hai đợt: giữa kì và cuối kì. Đa phần
    vẫn áp dụng hình thức kiểm tra viết, trả lời câu hỏi trắc nghiệm khách quan kết
    hợp tự luận theo quy định chung. Vì thế, việc đa dạng hóa sản phẩm học tập của
    học sinh tập trung chủ yếu ở kiêm tra đánh giá thường xuyên cho các em.
    Thứ hai, tôi dự kiến tỉ lệ các hình thức kiểm tra đánh giá sản phẩm học tập
    của học sinh. Riêng phần này thì linh hoạt theo từng lớp nhưng ở mức độ chung
    toàn khối như sau: đánh giá kết quả qua kiêm tra vân đáp (40%), qua sản phẩm
    viết (30%), sản phẩm thực hành (20%), sản phẩm là dự án, nghiên cứu khoa học
    (10%).
    Thứ ba: nghiên cứu chương trình Địa lí 12 để xác định những đơn vị kiến
    thức có thể áp dụng cho học sinh làm sản phẩm học tập theo ba nhóm trên. Đối
    với công việc này tôi tiến hành chia theo bài trên tổng số giáo viên dạy Địa lí.
    Dưới đây là một số ví dụ khi tôi thực hiện tại trường.
    – Đối với sản phẩm viết bao gồm: bài tập, phiếu học tập, hình vẽ, sơ đồ tư
    duy, biểu đồ, lược đồ, báo cáo… chúng tôi áp dụng với những đơn vị kiến thức
    lí thuyết cần khái quát, tóm lược để học sinh dễ quan sát, dễ nhớ, dễ học nà
    những bài tập nhỏ ở cuối mỗi bài học.
    Ví dụ: Khi học bài 29. Thực hành: Vẽ biểu đồ nhận xét và giải thích sự
    chuyển dịch cơ câu công nghiệp. Học sinh thảo luận theo nhóm (4 học sinh)
    hoàn thành bài thực hành theo hai yêu cầu trong sách giáo khoa (Bài I1. Vẽ biểu
    đồ thê hiện cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp phân theo thành phần kinh tế của
    nước ta năm 1996 và năm 2005, Bài 2+3. Viết báo cáo ngắn nhận xét về sự
    chuyên dịch cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp phân theo vùng lãnh thổ của
    nước ta năm 1996 và năm 2005 và giải thích tại sao Đông Nam Bộ là vùng có tỉ
    trọng giá trị sản xuất công nghiệp lớn nhất cả nước). Vậy, với bài thực hành này
    học sinh đã có hai sản phẩm học tập viết là: Biểu đồ và bài báo cáo.
    – Đối với sản phẩm học tập là dự án, nghiên cứu khoa học: video, bài
    thuyết trình…thì đòi hỏi công phu hơn. Tôi thường lựa chọn những bài học lí
    thuyết mới của các vùng kinh tế khi sử dụng phương pháp dạy học dự án.
    Chẳng hạn với học sinh khối 12, một dự án mà học sinh trường tôi đã lựa
    chọn và thây khá hứng thú khi đánh giá sản phẩm học tập là dự án: “Du lịch
    Việt Nam”. Sản phâm yêu cầu là video có hình ảnh thuyết minh hoặc trình bày
    trên PowerpoIrt.
    Giai đoạn 1: Chuẩn bị dự án: sau khi lên ý tưởng, tôi giao nhiệm vụ cho 4
    lớp 12A2, 12A5, 12A6, I2A10 các nhóm tiến hành thảo luận nhiệm vụ của
    13
    nhóm mình và lên kế hoạch thực hiện dự án, đồng thời phân công công việc cho
    từng thành viên.
    Giai đoạn 2: Thực hiện dự án: Không khí làm việc để hoàn thành dự án
    diễn ra khẩn trương, sôi nỗi ở các nhóm, các lớp: học sinh các nhóm gửi sản
    phẩm xin ý kiến giáo viên; tập báo cáo thuyết trình;
    chuẩn bị câu hỏi…
    Giai đoạn 3: Báo cáo và đánh giá dự án: nhóm nảo cũng tự tin thê hiện bài
    thuyết trình sản phẩm của mình. Những phản hồi của các nhóm khác, những câu
    hỏi nhanh có quà tặng hấp dẫn và cả những câu hỏi hóc búa của người nghe làm
    cho tiết học “nóng” lên, khác hắn với những tiết học truyền thống. Sau phần báo
    cáo dự án, thầy trò chúng tôi đã tiến hành chia sẻ, đánh giá, rút kinh nghiệm.
    Những việc làm được và chưa làm được ở các nhóm, các lớp khiến tôi và các em
    đều phải suy ngẫm để có thể làm tốt hơn ở những dự án tiếp theo. Thông qua
    việc học theo dự án, cách học môn Địa lí đã có sự thay đổi tích cực: các em
    được chủ động trong việc học tập, được tự mình tìm hiểu, nghiên cứu sưu tầm
    tài liệu, được chia sẻ thông tin, được hợp tác cùng nhau làm việc, được trình bày
    một vấn đề trước mọi người…Chúng tôi đánh giá cao năng lực tìm tòi, sáng tạo,
    năng lực hợp tác, giao tiếp của các em trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, tính
    thần trách nhiệm, sự chăm chỉ và tình yêu quê hương đất nước… Và thực sự đây
    là sản phâm mà học sinh phát huy được tổng hợp các năng lực, phẩm chất mà
    người học cần có theo yêu cầu của Chương trình GDPT mới
    – Đối với sản phẩm thực hành: chúng tôi cho học sinh sáng tạo mô hình,
    hoặc làm tập san ảnh.
    Chắng hạn khi dạy “Bài 32. Vấn đề khai thác thế mạnh ở Trung du và
    Miền núi Bắc Bộ” chúng tôi đã chia mỗi lớp thành bốn nhóm làm tập san ảnh
    “Khai thác thế mạnh ở Trung du và Miền núi Bắc Bộ”. Mỗi nhóm hoàn thành
    một cuỗn tập san khô giấy A4 hoặc A3 sẽ trình bày trong tiết học và lưu vào bộ
    sưu tập tranh ảnh, tập san Địa Lí trong thư viện trường hoặc lưu tại phòng thiết
    bị làm tư liệu dạy học cho các năm sau.
    Với mô hình Địa lí, chúng tôi lựa chọn nội dung như: các trung tâm công
    nghiệp ở nước ta hay tiềm năng du lịch ở nước ta để các em làm mô hình.
    Với việc đa dạng hóa các sản phẩm học tập của học sinh như trên chúng
    tôi nhận thây học sinh đã hứng thú hơn với môn Địa lí. Các em ngoài việc ghi
    nhớ kiến thức lí thuyết còn được thực hành sáng tạo tùy theo năng lực sở trường
    của mình. Vì thế đã phát huy được phẩm chất và năng lực của học sinh.
    3.3. Giải pháp 3: Sử dụng lĩnh hoạt các phương pháp đánh giá sản
    phẩm học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực và phẩm
    chất.
    3.3.1. Mục tiêu của giải pháp
    Mỗi phương pháp dạy học cũng như kiểm tra đánh giá đều có những ưu
    điểm và hạn chế riêng, không có một phương pháp nảo là tối ưu. Bởi vậy, khi
    14
    đánh giá sản phẩm học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực và
    phẩm chất học sinh cũng cần sử dụng linh hoạt các phương pháp để phát huy tối
    đa các ưu điểm, khắc phục được những hạn chế. Việc sử dụng linh hoạt các
    phương pháp còn tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên đánh giá sản phẩm của
    học sinh một cách phong phú và dạng hơn.
    3.3.2. Nội dung giải pháp
    Trong đánh giá sản phẩm học tập của học sinh có thể sử dụng kết hợp
    linh hoạt các phương pháp sau:
    3.3.2.1. Phương pháp quan sát: Quan sát là phương pháp đề cập đến việc
    theo dõi HS thực hiện các hoạt động (quan sát quá trình) hoặc nhận xét một sản
    phẩm do HS làm ra (quan sát sản phẩm).
    Chúng tôi đã vận dụng phương pháp này để đánh giá các sản phẩm học
    tập của học sinh cả ở quá trình thực hiện đến khi hoàn thành sản phẩm. Ví dụ:
    Đối với sản phẩm là phiếu học tập, tôi sẽ tiến hành quan sát quá trình học
    sinh thực hiện nhiệm vụ. Nếu là làm việc cá nhân, sẽ quan sát xem học sinh có
    tập trung vào hoạt động không hay gặp khó khăn øì để có hướng hỗ trợ. Nếu là
    thảo luận nhóm thì sẽ quan sát xem các thành viên trong nhóm có hợp tác để làm
    ra sản phẩm không hay ý lại cho một cá nhân…Khi trình bày sản phẩm hoặc nộp
    phiếu chúng tôi sẽ quan sát sản phẩm học sinh để đánh giá cả nội dung lẫn hình
    thức trình bày của phiếu bài tập.
    Đối với sản phẩm là sơ đồ tư duy, lược đồ, bản đồ, mô hình, báo cáo hay
    tập san ảnh… tôi cũng quan sát quá trình các em làm ra sản phẩm và quan sát sản
    phẩm hoàn thiện để có nhận xét đánh giá phù hợp. Chẳng hạn quan sát việc các
    em lựa chọn các đồ dùng, nguyên liệu để tạo ra sản phẩm để tư vân. Trong quá
    trình thiết kế sản phẩm cũng sẽ đồng hành cùng học sinh để quan sát, hỗ trợ học
    sinh (nếu cần). Đặc biệt đối với các sản phẩm do nhóm học sinh thực hiện chúng
    tôi rất cần thiết sử dụng phương pháp quan sát để nhận xét đánh giá ý thức tham
    gia của các thành viên nhóm. Khi trưng bày sản phẩm, không chỉ riêng giáo viên
    mà tất cá học sinh trong lớp cũng đều vận dụng phương pháp quan sát để đánh

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Sử dụng trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy học trực tuyến môn Địa lí 12

    SKKN Sử dụng trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy học trực tuyến môn Địa lí 12

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Trong những năm gần đây, dạy và học trực tuyến đang trở thành xu hướng lan
    rộng ra tất cả các trường học bởi tính ưu việt của nó như: linh hoạt, dễ tiếp cận; nội
    dung phong phú; tiết kiệm chi phí, thời gian; mang tính toàn cầu; đáp ứng tốt nhu
    cầu học tập đa dạng của người học. Ở Việt Nam, dạy học trực tuyến được biết đến
    như một phương pháp giáo dục mới, chỉ thực sự bắt đầu phát triển trong vài năm
    gần đây nhằm kết hợp với phương pháp dạy học truyền thống nên hiệu quả còn
    chưa cao.
    Năm học 2019 – 2020, do ảnh hưởng của dịch covid-19, lần đầu tiên trong lịch
    sử Giáo dục Việt Nam học sinh phải tạm dừng đến trường dài ngày (khoảng hơn 2
    tháng với học sinh THPT tỉnh Nam Định). Trong thời gian nghỉ do ảnh hưởng của
    dịch bệnh, ngành giáo dục cũng đã có nhiều giải pháp để giúp học sinh “tạm ngừng
    đến trường, không ngừng học”, trong đó điển hình nhất là giải phá,p dạy và học
    trực tuyến. Đây cũng là hình thức dạy học mà nhiều giáo viên sử dụng “lần đầu
    tiên” trong sự nghiệp giáo dục của mình. Chính vì thế nên việc bỡ ngỡ, gặp khó
    khăn, lúng túng và “cười ra nước mắt” là điều không thể tránh khỏi.
    Năm học 2020 – 2021, virus SAR-CoV-2 liên tục biến đổi, tiếp tục ảnh hưởng
    lớn đến mọi hoạt động kinh tế – xã hội. Thực hiện Công điện số 18/CĐ-UBND
    ngày 7/5 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về công tác phòng, chống dịch
    COVID-19, chiều 7/5, Sở Giáo dục và đào tạo Nam Định cũng đã ban hành Công
    văn 655/SGDĐT chỉ đạo các đơn vị trong ngành thực hiện một số nội dung cấp
    bách phòng chống dịch bệnh COVID-19. Theo đó, các đơn vị hoàn thành chương
    trình giáo dục, kiểm tra, đánh giá năm học 2020 – 2021 trước ngày 10-5-2021 và
    cho học sinh, học viên, sinh viên nghỉ hè. Riêng học sinh lớp 9 và 12: Sau khi kết
    thúc chương trình, tổ chức ôn tập thi tuyển sinh vào 10 THPT cho học sinh lớp 9
    theo hình thức trực tuyến; tổ chức cho học sinh lớp 12 ôn tập tại trường, thực hiện
    nghiêm túc các quy định về an toàn phòng chống dịch và điều chỉnh kịp thời khi có
    các văn bản chỉ đạo tiếp theo của các cấp. Ngày 7/5 huyện Trực Ninh – Nam Định
    xuất hiện ca dương tính đầu tiên với SAR-CoV-2, do đó việc ôn tập cho học sinh
    lớp 12 được chuyển sang hình thức trực tuyến cho đến ngày 27/5 (theo công văn số
    771/SGDĐT).
    Bước sang năm học 2021 – 2022, sự xuất hiện của biến thể Delta tại Việt Nam
    và nhiều nước trên thế giới tiếp tục ảnh hưởng lớn đến việc quay lại trường, bắt đầu
    năm học mới của học sinh. Theo tài liệu nội bộ của Cơ quan kiểm soát bệnh tật
    Hoa Kỳ (CDC) đánh giá biến thể Delta của virus SARS-CoV-2 lây nhanh như thủy
    đậu, mạnh hơn cúm mùa và có độc lực cao hơn chủng ban đầu ở Vũ Hán, Trung
    2
    Quốc. Vì vậy, số ca mắc COVID-19 tại nước ta trong những ngày gần đây luôn ở
    mức 5 con số (ngày 30/8/2021, theo bản tin Bộ Y tế về tình hình chống dịch
    COVID-19 tại Việt Nam thống kê có thêm 14.224 ca mắc COVID-19. Tổng số ca
    nhiễm mới ghi nhận trong nước tính của đợt dịch kể từ 27/4 đến 30/8 là 445.219 ca,
    trong đó 226.042 bệnh nhân đã được công bố khỏi bệnh). Trước tình hình đó, Bộ
    giáo dục và Đào tạo đã ban hành công văn số 3699 ngày 27/8 Hướng dẫn thực hiện
    nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2021-2022. Công văn nhấn mạnh: Ưu tiên
    dạy học trực tuyến đối với nội dung mang tính lí thuyết. Chủ động về các phương
    án dạy học trực tuyến và trực tiếp để chuyển đổi linh hoạt, ứng phó kịp thời với các
    tình huống, diễn biến của dịch COVID-19 tại địa phương; sẵn sàng phương án để
    tận dụng tối đa khoảng thời gian học sinh có thể đến trường để dạy học trực tiếp,
    nhất là đối với các nội dung thực hành, thí nghiệm và kết hợp ôn tập, củng cố
    những nội dung lí thuyết đã học trực tuyến.
    Trước những diễn biến khó lường của dịch bệnh, lần đầu tiên trong lịch sử, lễ
    khai giảng năm học mới ở nhiều tỉnh thành trên cả nước được tổ chức trực tuyến
    hoặc kết hợp trực tuyến với trực tiếp. Tại Hà Nội, do học sinh chưa thể quay trở lại
    trường học nên sở Giáo dục và đào tạo Hà Nội quyết định tổ chức lễ khai giảng
    chung cho toàn thành phố. Cụ thể, lễ khai giảng được tổ chức và truyền hình trực
    tiếp tại 1 trường trên địa bàn thành phố; phát trực tiếp trên sóng của Đài phát thanh
    truyền hình Hà Nội. Nhiều địa phương trên cả nước phải lùi lịch tựu trường do ảnh
    hưởng của dịch bệnh và triển khai học trực tuyến cho học sinh (Thành phố Hồ Chí
    Minh, Bình Dương, Bình Phước, Cần Thơ, Đà Nẵng, Hà Nội, Ninh Bình, Hải
    Dương,…). Tại Nam Định, căn cứ theo công văn số 1205/SGDĐT-VP ngày
    18/8/2021 về việc triển khai một số hoạt động đầu năm học 2021 – 2022, các
    trường THPT đã xây dựng kế hoạch chuẩn bị khai giảng đảm bảo đầy đủ các biện
    pháp phòng chống dịch và phù hợp với tình hình nhà trường. Để đảm bảo an toàn
    phòng, chống dịch COVID-19, chuẩn bị cho năm học 2021 – 2022, Ủy ban nhân
    dân huyện Nam Trực và các huyện trong toàn tỉnh đã tiến hành công tác xét
    nghiệm, sàng lọc nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh trong các cơ sở giáo dục. Ngày
    01/9/2021 theo báo cáo nhanh của Sở Y tế, tỉnh Nam Định ghi nhận thêm 10 ca
    mắc mới COVID-19, theo đó một số huyện trong tỉnh đã phải tạm dừng tựu trường
    vào ngày 01/9 và chờ đến khi có thông báo mới (huyện Hải Hậu). Trước những
    diễn biến khó lường của dịch bệnh, các cơ sở giáo dục, các thầy cô giáo luôn phải
    chuẩn bị sẵn các phương án chuyển dạy học trực tiếp sang trực tuyến vào bất kì
    thời điểm nào nhằm đảm bảo và đạt hiệu quả cao nhất các mục tiêu giáo dục đã đề
    ra. Bộ giáo dục và đào tạo đã chỉ đạo các cơ quan quản lí giáo dục, nhà trường thực
    hiện các giải pháp đẩy mạnh việc dạy – học trực tuyến qua mạng Internet. Đồng
    thời, hướng dẫn xây dựng chương trình, học liệu, tổ chức giảng dạy, đánh giá công
    nhận kết quả và huy động các nguồn lực xã hội hóa tham gia đảm bảo điều kiện cơ
    sở vật chất, nhân lực cần thiết cho việc học online này.
    Với trường THPT Lý Tự Trọng, ngay sau khi có thông báo nghỉ dịch lần 1 (từ
    3
    ngày 4/2/2020 đến ngày 1/3/2020), Ban giám hiệu nhà trường đã xây dựng kế
    hoạch ôn tập trực tuyến cho học sinh trong thời gian nghỉ dịch. Tuy nhiên, với lần
    triển khai này ngoài việc bỡ ngỡ với hình thức dạy học mới, giáo viên khi tham gia
    dạy học trực tuyến còn gặp rất nhiều khó khăn như sử dụng các phần mềm chưa
    thành thạo, chưa linh hoạt, một số học sinh nhà không có máy tính, không có mạng
    internet, hoặc có đầy đủ phương tiện tham gia học trực tuyến nhưng lại không tham
    gia hoạt động học…. Đến thời điểm ôn tập trực tuyến cho học sinh lớp 12 trong
    tháng 5 năm 2021, các thầy cô giáo và học sinh đã dần quen với việc dạy và học
    online. Tuy nhiên, để giờ học trực tuyến luôn sôi nổi, các hoạt động học trực tuyến
    luôn hấp dẫn, hiệu quả cao là vấn đề mà nhiều thầy cô giáo luôn băn khoăn, trăn
    trở. Là một giáo viên dạy Địa lí của trường, sau mỗi hoạt động học trực tuyến tôi
    luôn phân tích, tìm tòi hướng khắc phục những hạn chế của từng bài giảng để mỗi
    giờ học của tôi đạt hiệu quả cao nhất các mục tiêu đã đề ra. Việc làm thế nào để
    học sinh chờ đợi đến giờ học môn Địa lí, chủ động tham gia nhiệt tình các hoạt
    động học trong giờ học; làm thế nào để mỗi bài học địa lí trở thành sự đam mê
    thích thú, sự mong ước được tìm hiểu khám phá của mỗi học sinh; làm thế nào để
    việc ôn tập, trang bị kiến thức chuẩn bị cho kì thi Tốt nghiệp THPT, xét tuyển đại
    học của học sinh lớp 12 được diễn ra thường xuyên, liên tục, đạt kết quả cao … là
    điều tôi muốn hướng tới. Chính những điều này đã thôi thúc tôi thực hiện sáng kiến
    Sử dụng trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy học trực tuyến
    môn Địa lí 12. Qua sáng kiến này học sinh chắc chắn sẽ thấy thoải mái, hứng thú
    hơn với các giờ học, với từng hoạt động học trực tuyến; yêu thích học tập môn Địa
    lí từ đó chủ động học tập và lĩnh hội kiến thức. Các nội dung, chuyên đề ôn tập
    cũng được diễn ra thường xuyên, liên tục, từ đó giúp học sinh phát triển các nội
    dung đã được học tập; định hướng ôn tập cho những kì thi lớn. Bản thân tôi cũng
    vận dụng ngày càng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, phương pháp dạy học
    trực tuyến hơn nữa để đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra trong mọi hoàn cảnh
    của thiên tai, dịch bệnh; góp phần nhỏ bé của mình cho thành công của nhà trường
    nói riêng và sự nghiệp giáo dục nước nhà nói chung.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    1.1. Một số lí luận về trò chơi học tập
    Trò chơi là hoạt động rất quen thuộc, gần gũi và thích thú đối với học sinh,
    nhất là học sinh phổ thông. Trò chơi chứa đựng chủ đề, nội dung nhất định mà
    người tham gia phải tuân thủ. Trò chơi vừa mang tính chất vui chơi, giải trí, đồng
    thời cũng có ý nghĩa giáo dục cho học sinh.
    Trò chơi học tập được các nhà lí luận dạy học nghiên cứu và cho rằng: tất cả
    những trò chơi gắn với việc dạy học (phương pháp, hình thức tổ chức và luyện tập
    không tính đến nội dung và tính chất của trò chơi) đều được gọi là trò chơi học tập.
    Trò chơi học tập thực chất là một trò chơi có định hướng đối với sự phát triển trí
    4
    tuệ của người học. Tuy nhiên, vẫn có nhiều quan niệm khác nhau, như:
    E.I.Chikhieva quan niệm “trò chơi được gọi là trò chơi học tập hay trò chơi dạy
    học là vì trò chơi đó gắn liền với một mục đích dạy học nhất định và đòi hỏi phải
    có tài liệu dạy học phù hợp kèm theo”; P.G.Xamarucova cho rằng, loại trò chơi
    được xem là trò chơi học tập “là những trò chơi có nhiệm vụ chủ yếu là giáo dục
    và phát triển trí tuệ cho người học”; theo Đinh Văn Vang, trò chơi học tập “là loại
    trò chơi có luật thường do người lớn nghĩ ra cho trẻ chơi. Đó là loại trò chơi đòi
    hỏi trẻ phải thực hiện một quá trình hoạt động trí tuệ để giải quyết nhiệm vụ học
    tập được đặt ra như nhiệm vụ chơi, qua đó mà trí tuệ trẻ phát triển” …
    Phương pháp dạy học tích cực trò chơi là phương pháp giáo viên thông qua
    việc tổ chức các trò chơi liên quan đến nội dung bài học, có tác dụng phát huy tính
    tích cực nhận thức, gây hứng thú học tập cho học sinh. Qua trò chơi, học sinh tiếp
    thu kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, đồng thời qua trò chơi phát triển sự tự
    giác, chủ động của học sinh.
    Mỗi trò chơi đều có những nét đặc sắc riêng và có tác dụng nhất định đối với
    sự hình thành, phát triên tâm lí, nhân cách, trí tuệ của người học và mỗi trò chơi lại
    có những lợi thế riêng trong việc giáo dục học sinh. Tuy có nhiều loại hình trò
    chơi, nhưng các trò chơi đều có cấu trúc chung đó là: mục đích chơi, hành động
    chơi, luật chơi, đối tượng chơi, các quá trình, tình huống và quan hệ. Các nhiệm
    vụ, quy tắc, luật chơi và các mối quan hệ trong trò chơi học tập được tổ chức tương
    đối chặt chẽ trong khuôn khổ cho phép của các nhiệm vụ dạy học và được định
    hướng trước ở mục tiêu, nội dung học tập khi triển khai thực hiện. Trò chơi học tập
    được các giáo viên và người lớn sáng tạo ra, sử dụng dựa trên những yêu cầu của lí
    luận dạy học, đặc biêt là của lí luận dạy học các môn học cụ thể; chúng là một
    trong những hoạt động giáo dục không tuân theo bài bản cứng nhắc mà được tổ
    chức linh hoạt, phù hợp với nội dung bài dạy và góp phần làm cho tiết học thêm
    sinh động, thu hút học sinh chú tâm vào các hoạt động học.
    Trò chơi trong dạy học vốn là hoạt động quen thuộc của nhiều giáo viên.
    Trò chơi học tập được hiểu đơn giản nhất là các hoạt động gây hứng thú cho học
    sinh bằng các hình thức thi đua giữa các cá nhân hay các tập thể nhằm đạt được
    hiệu quả về kiến thức hay kĩ năng liên quan đến việc học tập bộ môn.
    Trò chơi học tập nói chung hay trò chơi địa lí nói riêng rất đa dạng.
    Trò chơi có thể tiến hành ở đầu giờ với mục đích khởi động, tạo hứng thú
    và tâm lí sẵn sàng cho tiết học. Tuy nhiên, nội dung trò chơi cần thiết phải hướng
    đến nội dung bài học, dựa trên những hiểu biết sẵn có của học sinh.
    Trò chơi cũng được tiến hành trong giờ học, được coi như là một nội dung
    bài học. Trò chơi được tiến hành nhằm mục đích giúp học sinh hào hứng với việc
    khám phá kiến thức mới và chính bản thân nội dung trò chơi cũng là những kiến
    thức mới. Thông qua trò chơi, ngoài ý nghĩa về việc cung cấp kiến thức, trò chơi
    5
    còn có giá trị to lớn góp phần phát huy sự nhanh nhạy, quyết đoán của người chơi,
    phát huy tính tập thể của nhóm lớp. Trò chơi còn có ý nghĩa lớn trong việc hình
    thành các kĩ năng sống, nhân cách của học sinh thông qua biểu hiện đơn giản nhất
    là tôn trọng người chơi, lắng nghe đáp án và phản biện một cách hợp lí.
    1.2. Một số vấn đề chung về dạy và học trực tuyến
    Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và sự ra đời của mạng
    Internet đã đem lại cho con người nhiều ứng dụng tiện ích. Trong đó, dạy và học
    trực tuyến đang trở thành một giải pháp của giáo dục nhằm nâng cao chất lượng
    đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội. Dạy học trực tuyến là một hình thức đào tạo
    qua mạng hoặc qua truyền hình, có nhiều đổi mới hơn so với dạy học truyền thống,
    cung cấp cho học sinh sự kết hợp hài hòa giữa nhìn, nghe và sự chủ động tích cực
    trong mọi hoạt động. Chính nhờ những tiện ích đó, dạy học trực tuyến đã mang lại
    hiệu quả cho việc học tập như: thu hút được nhiều đối tượng học sinh trong và
    ngoài trường (có thể còn là học sinh trên phạm vi toàn cầu), cắt giảm được nhiều
    chi phí xuất bản, in ấn tài liệu. Người học trực tuyến có thể chủ động chọn cho
    mình những kiến thức phù hợp hơn so với hình thức tiếp thu thụ động trên lớp theo
    lối truyền thống. Ngoài ra, người học còn có khả năng tự kiểm soát tốc độ học của
    mình sao cho phù hợp với bản thân mà vẫn đảm bảo được chất lượng học tập.
    Chính vì những ưu điểm trên, học trực tuyến đang là một giải pháp tối ưu nhất với
    sự thu hút ngày càng đông đảo của học sinh, sinh viên.
    Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về dạy học trực tuyến (dạy học online),
    nhưng cách hiểu cơ bản đó là một phương thức phân phối các tài liệu, nội dung học
    tập dựa trên các công cụ điện tử hiện đại như: điện thoại, máy tính, ipad… thông
    qua mạng internet. Trong đó, nội dung, tài liệu học tập có thể được cung cấp từ các
    thầy cô giáo, cũng có thể được cập nhật từ các website trường học trực tuyến và
    các ứng dụng di động khác.
    Giáo dục trực tuyến là phương thức học ảo thông qua một máy vi tính, điện
    thoại thông minh nối mạng đối với một máy chủ ở nơi khác có lưu giữ sẵn bài
    giảng điện tử và phần mềm cần thiết để có thể hỏi/yêu cầu/ra đề cho học sinh học
    trực tuyến từ xa. Giáo viên có thể truyền tải hình ảnh và âm thanh qua đường
    truyền băng thông rộng hoặc kết nối không dây (Wifi, WiMax), mạng nội bộ
    (LAN). Mở rộng ra, các cá nhân hay các tổ chức đề có thể tự lập ra một trường học
    trực tuyến (E-School) mà nơi đó vẫn nhận đào tạo học sinh, đóng học phí và có các
    bài kiểm tra như các trường học khác.
    Khái niệm học trực tuyến cũng được dùng như một thuật ngữ chỉ môi trường
    học tập mà trong đó, người học có thể tương tác với môi trường học tập thông qua
    Internet hoặc các phương tiện truyền thông điện tử khác. Đây là môi trường có khả
    năng chia sẻ cao, vận hành không phụ thuộc vào không gian, thời gian, tạo điều
    kiện để mọi người trao đổi, tìm kiếm, học tập một cách dễ dàng. Việc học không
    6
    chỉ bó hẹp cho học sinh, sinh viên ở các trường mà dành cho tất cả mọi người,
    không kể tuổi tác, hoàn cảnh sống.
    Việc dạy học trực tuyến đã có từ khá lâu. Khóa học qua mạng đầu tiên được
    đưa ra vào năm 1986 bởi trường Đại học John F. Kennedy ở California – Hoa Kỳ.
    Các chuyên gia về đào tạo giáo dục đã có hơn 30 năm nghiên cứu cho thấy kết quả
    học tập trực tuyến không hề thua kém so với các lớp học truyền thống. Tuy nhiên,
    việc học trực tuyến có đạt hiệu quả cao hay không cũng còn tùy thuộc vào giáo
    viên và sự hợp tác của học sinh. Ở Việt Nam, phương thức dạy học trực tuyến đã
    dần trở nên quen thuộc với đa số các thầy cô giáp nhưng vẫn đang đặt ra những
    thách thức không nhỏ đối với cả người dạy và người học do chưa được triển khai
    đồng đều, cơ sở hạ tầng của nhiều trường chưa thể đáp ứng tốt yêu cầu của đào tạo
    từ xa, cách thực hiện của mỗi trường lại rất khác nhau. Tuy còn nhiều khó khăn
    nhưng phương thức dạy học này vẫn đang ngày càng phát triển và lan rộng; các
    phần mềm, ứng dụng dạy học trực tuyến cũng không ngừng được nâng cấp và thay
    đổi để phù hợp hơn với nhu cầu của xã hội. Mô hình học tập này không chỉ giúp
    thầy và trò tiếp tục học tập, bồi dưỡng kiến thức mà còn nâng cao tính tự học và
    động lực học tập của học sinh, kể cả tính trách nhiệm lẫn kỉ luật, tự giác trong học
    tập. Có rất nhiều phương thức cho quá trình dạy học trực tuyến như: dạy học bằng
    các văn bản thuần túy thông qua thư điện tử, qua truyền hình, qua các phần mềm
    hỗ trợ dạy học như zoom, shub, …. Ngoài ra, với việc học trực tuyến học sinh
    cũng có thể truy cập các liên kết bên ngoài, những mô phỏng chất lượng cao và các
    hiệu ứng sinh động. Chính vì thế, tùy thuộc vào yêu cầu, mục đích của từng nội
    dung học tập mà giáo viên có thể lựa chọn hình thức dạy học trực tuyến phù hợp,
    để các hoạt động học đạt hiệu quả cao nhất.
    E-learning (giáo dục trực tuyến hay dạy học online) có những giá trị, vẻ đẹp
    riêng, nhưng cũng đang có những hiểu lầm tai hại, nhất là trong thời điểm dịch
    vius corona, hình thức giảng dạy, học tập này được nói đến nhiều hơn. Để có thể
    áp dụng dạy và học trực tuyến một cách hiệu quả cần hiểu rõ về hình thức giảng
    dạy và học tập này.
    Việc hiểu E-learning là gì, những ứng dụng của nó trong giảng dạy ở Việt
    Nam còn chưa được hiểu một cách đầy đủ và sâu sắc. Có thể tạm phân việc ứng
    dụng E-learning của các trường hiện nay thành 5 bậc:
    + Bậc 1 gồm 100% lớp học truyền thống.
    + Bậc 2, E-learning chỉ là nền tảng lưu trữ và chia sẻ một số tài nguyên học
    tập.
    + Bậc 3, E-learning được sử dụng rộng rãi hơn, nhiều tài nguyên hơn nhưng
    lớp học trực tiếp vẫn là chủ đạo.
    + Bậc 4, E-learning kết hợp trong phương thức và triết lí giáo dục, trở thành
    một thành phần quan trọng của quá trình tổ chức lớp học với các triết lí như học
    7
    đảo ngược (flipped classroom). Đây là bậc cao. Ở mức độ này, có sự hiểu biết và
    đầu tư mạnh của lãnh đạo nhà trường, nhưng E-learning ẫn chỉ là công cụ dạy và
    học chứ chưa thay đổi cấu trúc và mô hình vận hành của nhà trường.
    + Ở bậc 5, trường học đã thực sự chuyển đổi số hoàn toàn (digitalization)
    mô hình hoạt động của mình từ học tập, giảng dạy, quản lí chất lượng. Ở bậc này
    nó thực sự thay đổi về cách tiếp cận và chất lượng giáo dục.
    Theo đánh giá của các chuyên gia thì hầu hết các trường ở Việt Nam đang ở
    bậc 2, số ít ở bậc 3; bậc 4 diễn ra ở một số môn học, một số trường lớn nhưng chưa
    mang tính hệ thống. Mặc dù đã xuất hiện khá lâu (khoảng 13 đến 15 năm) ở Việt
    Nam nhưng ứng dụng của E-learning vẫn khá thấp. Lý do cơ bản là do đa số lãnh
    đạo nhà trường, các thầy cô giáo đều quen với cách dạy “truyền thống”, chưa trang
    bị kĩ năng số và chưa vượt ra khỏi vùng an toàn của chính mình. Điều cần thiết bây
    giờ là đào tạo kĩ năng số cho các thầy cô giáo, động viên họ dám dấn thân để ứng
    dụng E-learning hiệu quả nhất.
    Dạy học trực tuyến hay tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi
    mới nội dung, phương pháp dạy và học, kiểm tra, đánh giá là chủ trương của Bộ
    Giáo dục và Đào tạo. Cụ thể, với giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ
    đạo đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới nội dung, phương pháp
    dạy học và kiểm tra đanh giá ở các nhà trường; giáo viên có thể thiết kế học liệu
    số, bài giảng E-learning giúp học sinh tự học.
    Bộ Giáo dục và Đào tạo hiện có kho dữ liệu gồm hơn 5000 bài giảng điện tử
    E-learning đoạt giải trong các cuộc thi quốc gia thiết kế bài giảng E-learning do Bộ
    tổ chức. Kho dữ liệu này có bài giảng đầy đủ các cấp học: mầm non, tiểu học,
    trung học cơ sở, trung học phổ thông với nội dung phong phú của các môn học trải
    dài các lớp học. Đây là nguồn học liệu chất lượng để các nhà trường lựa chọn và
    hướng dẫn học sinh tham khảo, cùng với hệ thống bài giảng điện tử mà giáo viên
    nhà trường chủ động xây dựng để cung cấp kiến thức, kĩ năng cho người học; đặc
    biệt là trong dịp các em không thể đến trường vì dịch Covid 19.
    Hiện nay, đa phần các giáo viên dạy học trực tuyến lựa chọn các công cụ
    như mạng xã hội Facebook, Zalo, qua Email hoặc các phần mềm hệ thống như
    Zoom, Google Classroom, Microsoft Team… để dạy học. Tuy nhiên, với các nền
    tảng này, nhiều thầy cô đang tìm cách để làm quen và dạy học trực tuyến với
    không ít khó khăn. Giáo viên mất nhiều thời gian soạn bài giảng, đọc, chấm bài,
    báo cáo với nhà trường, khó để quản lí chất lượng học sinh. Để đạt hiệu quả cao
    trong các hoạt động học, trước mỗi bài học trực tuyến, giáo viên phải cung cấp nội
    dung học tập, yêu cầu, tài liệu học tập trước cho học sinh. Trong quá trình giảng
    bài không ôm đồm, sa đà vào phân tích giảng giải nội dung mà chủ yếu quan tâm
    xem học sinh tiếp thu được đến đâu, lưu ý những điểm học sinh chưa rõ; tăng
    cường hướng dẫn học sinh tự học, chủ động lĩnh hội kiến thức.
    8
    Nghị quyết Trung ương II khóa VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Đổi
    mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học, áp dụng những phương
    pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên năng lực tư duy, sáng
    tạo, năng lực giải quyết vấn đề. Đổi mới phương pháp giáo dục – đào tạo khắc
    phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người
    học…”. Một trong những biện pháp quan trọng là chúng ta cần phải nhanh chóng
    ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin để biên soạn bài giảng điện tử
    áp dụng trong dạy và học ở Việt Nam nhằm tích cực hóa quá trình học tập của học
    sinh, sinh viên. Cùng với sự phát triển và yêu cầu ngày càng cao của xã hội, việc
    sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học không thể chỉ dừng lại ở việc kết hợp
    với phương pháp dạy học truyền thống mà cần chuyển sang một trang mới để phù
    hợp hơn với mọi yêu cầu của xã hội, giúp người học có thể tham gia bài học mọi
    lúc, mọi nơi, tránh được các giờ học truyền thụ kiến thức nhàm chán với người
    học. Để giải quyết những vấn đề này, sử dụng trò chơi học tập trong dạy học trực
    tuyến chính là giải pháp tối ưu, hiệu quả nhất hiện nay.
    Hơn nữa, cho đến nay dịch Covid-19 vẫn còn đang diễn biến hết sức phức
    tạp. Theo trang tin về dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp COVID-19 của Bộ Y tế
    tới 6 giờ ngày 31/8/2021: Thế giới đã có tới 4.539.682 người tử vong, tổng số ca
    nhiễm là 218.913.594. Số ca mắc bệnh trong ngày đang có dấu hiệu tăng mạnh trở
    lại trên phạm vi toàn cầu. Vùng dịch “nóng nhất” là Châu Á và Châu Âu. Hàng
    loạt nước tại Châu Á những ngày qua đã quyết định kéo dài hoặc kéo phong tỏa
    nghiêm ngặt để đối phó với làn sóng dịch mới. Ngày 31/8, thế giới có 95 quốc gia
    và vùng lãnh thổ ghi nhận ca COVID-19 mới, 74 quốc gia và vùng lãnh thổ có các
    ca tử vong vì đại dịch. Ở Việt Nam, số ca nhiễm là 473.530, đang điều trị 212.936,
    khỏi bệnh là 248.722 và tử vong là 11.868 (Theo https://ncov.moh.gov.vn/). Trong
    công điện của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực hiện phòng, chống dịch
    COVID-19 dịp nghỉ lễ Quốc khánh 2/9 cũng nêu rõ: Tình hình dịch bệnh trên thế
    giới, khu vực vẫn diễn biến hết sức phức tạp, khó lường. Trong nước, dịch bệnh
    vẫn chưa được kiểm soát triệt để, nhất là tại các tỉnh, thành phố, khu vực phía Nam
    và một số địa phương tập trung đông dân cư, giao thương lớn.
    Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch Covid 19 đề nghị người dân thực
    hiện các biện pháp phòng, chống dịch trong tình hình mới, tiếp tục thực hiện các
    biện pháp phòng chống dịch theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ với “nhiệm vụ
    kép”, vừa phát triển kinh tế, vừa phòng chống dịch Covid-19, giữ vững thành quả
    chống dịch đạt được. Trước những diễn biến khó lường của dịch bệnh, mỗi giáo
    viên phải luôn có kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, tích cực bồi dưỡng
    kiến thức công nghệ thông tin; luôn sẵn sàng, chủ động dạy học hiệu quả nhất với
    mọi điều kiện và hoàn cảnh. Do vậy, việc sử dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ
    thuật, các thức dạy học trực tuyến càng trở nên cần thiết hơn. Giáo viên cần chủ
    động hơn trong ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ, sử dụng linh hoạt
    hơn các phương pháp, hình thức dạy học, tiếp cận nhanh chóng các phần mềm,
    9
    công cụ hỗ trợ dạy học để việc dạy và học trực tuyến không còn là sự lúng túng,
    ngại dạy của các thầy cô; học sinh cũng không còn những lí do cá nhân, những lí
    do mà các em cố đưa ra để trốn tránh các giờ học trực tuyến nữa.
    Với sự chỉ đạo của Sở Giáo dục và đào tạo Nam Định; sự chỉ đạo, đôn đốc,
    động viên, hướng dẫn thường xuyên của Lãnh đạo trường THPT Lý Tự Trọng, các
    thầy cô giáo nhà trường đã mạnh dạn hơn trong việc ứng dụng công nghệ thông tin
    trong dạy học, các giờ dạy trực tuyến và trực tuyến kết hợp trực tiếp ngày càng
    được tổ chức nhiều hơn, hiệu quả hơn. Tuy nhiên, sự đổi mới đó vẫn còn nhiều hạn
    chế như một số thầy cô sử dụng chưa linh hoạt, thuần thục các ứng dụng, phần
    mềm, phương tiện hỗ trợ dạy học bộ môn hoặc các phương pháp, phương tiện,
    phần mềm sử dụng lại không phù hợp với một số đối tượng học sinh, hoặc dạy học
    trực tuyến còn mang tính hình thức, nhiều giờ học còn chưa đủ hấp dẫn với học
    sinh…. Bản thân tôi cũng nhận thấy một số phần mềm, công cụ hỗ trợ dạy học tôi
    áp dụng còn cứng nhắc, hiệu quả chưa cao, chưa phát huy tối đa các ứng dụng của
    từng phần mềm hỗ trợ dạy học. Vì vậy tôi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này
    vừa để học sinh được tiếp cận với các phương thức học chủ động, phát huy tốt nhất
    ý thức, nhận thức của học sinh, vận dụng được kiến thức môn học vào thực tiễn,
    tạo không khí học tập lôi cuốn, sôi nổi; vừa để bản thân tôi hiểu sâu sắc hơn, vận
    dụng nhuần nhuyễn hơn các phương pháp dạy và học tích cực trong môn Địa Lí,
    điều quan trọng hơn nữa là để bản thân tôi luôn sẵn sàng tâm thế bồi dưỡng kiến
    thức cho học sinh, hướng dẫn học sinh chủ động học tập trong điều kiện, hoàn
    cảnh phức tạp nhất, đa dạng các hình thức dạy học. Việc tiếp tục đẩy mạnh ứng
    dụng công nghệ thông tin trong dạy học theo hướng tiếp cận cuộc cách mạng công
    nghiệp lần thứ 4, phát triển năng lực tự học của học sinh và nâng cao kĩ năng tổ
    chức dạy học qua Internet, trên truyền hình; tăng cường mối liên hệ giữa nhà
    trường và gia đình trong việc tổ chức và hỗ trợ học sinh học tập; thực hiện dạy học
    bám sát điều chỉnh nội dung dạy học là những nhiệm vụ và giải pháp quan trọng.
    1.3. Một số hiểu lầm hay gặp phải của dạy học online
    Việc dạy và học trực tuyến hiên nay vẫn gặp phải rất nhiều khó khăn. Đầu
    tiên, nhiều người quan niệm cách giảng dạy này có chất lượng thấp. Ở bậc 1 thì
    chất lượng thấp là đúng, nhưng nguyên nhân chính là do người dùng, do giáo viên.
    Nhiều doanh nghiệp đã đi trước các trường học khá xa, họ đã xây dựng được hệ
    thống riêng của mình. Nhiều người cũng cho rằng dạy học online thì tương tác
    giữa giáo viên với học sinh sẽ kém. Điều này không hoàn toàn đúng vì hình thức
    này có khả năng tương tác khá cao vì học sinh, giáo viên có thể trao đổi, trả lời,
    chia sẻ rất hiệu quả. Các hệ thống Live streaming (giảng dạy thời gian thực) hiện
    nay cho chất lượng rất tốt, không kém già các lớp học truyền thống mà còn ưu
    điểm hơn à học sinh và giáo viên không phải di chuyển và có thể xem lại buổi học
    bất cứ lúc nào. Với học sinh lớp 12, việc ôn tập của các em cũng trở nên nhẹ nhàng
    hơn, đơn giản hơn, tránh được việc chen lấn vào các lớp học thêm như trước đây

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học phần Địa lý tự nhiên lớp 10

    SKKN Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học phần Địa lý tự nhiên lớp 10

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, sự phát triển kinh tế – xã hội trong bối
    cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt
    ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực.
    Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo
    dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng
    việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học.
    Định hướng quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học là phát huy tính tích
    cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc
    của người học. Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách phương pháp dạy
    học ở nhà trường phổ thông.
    Mặt khác, trong quá trình dạy học, việc nâng cao chất lượng dạy và học là một
    vấn đề được quan tâm và đòi hỏi phải có sự nỗ lực của Thầy và Trò. Trước hết để
    nâng cao chất lượng giảng dạy đòi hỏi người thầy phải có năng lực sư phạm vững
    vàng bởi vì dạy học vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật phải có những
    phương pháp giảng dạy phù hợp, theo hướng tích cực giúp HS chủ động trong việc
    tìm kiếm lĩnh hội kiến thức. Việc nâng cao chất lượng giảng dạy nói chung và dạy
    học môn Địa lý nói riêng cần có những phương pháp đặc trưng riêng. Ngoài việc lên
    lớp nhiều giáo viên phải không ngừng học hỏi tìm kiếm những tài liệu tham khảo có
    liên quan, để làm sao có thể truyền đạt những kiến thức cho HS một cách nhẹ nhàng,
    dễ hiểu. Sự tiếp thu của HS nhiều hay ít, nhanh hay chậm sẽ liên quan đến chất lượng
    của việc học. Khi mà HS lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ, tự giác và tích cực thì
    sẽ góp phần nâng cao chất lượng trong quá trình học tập của HS.
    Chương trình địa lí 10 đặc biệt là phần địa lí tự nhiên luôn được đánh giá là
    “mảng khó” đối với cả người dạy và người học bởi kiến thức của phần nội dung này
    thường mang tính hàn lâm, vĩ mô. Tuy nhiên, những nội dung kiến thức này lại vô
    cùng cần thiết và hũu ích, giúp các em có nền tảng để lớp 12 tìm hiểu sâu hơn về địa
    lí tự nhiên Việt Nam. Đứng trước thực trạng đó, trong những năm qua tôi luôn trăn
    trở tìm giải pháp để có thể truyền tải một cách tốt nhất, dễ hiểu nhất những nội dung
    được coi là “hàn lâm” đó tới những thế hệ HS của mình. Vì vậy, trong khuôn khổ
    bài báo cáo này tôi xin mạnh dạn trình bày đề tài “Một số biện pháp nhằm nâng
    cao hiệu quả dạy và học phần địa lí tự nhiên lớp 10”
    2
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    1.1. Thực trạng công tác dạy và học môn Địa lí nói chung và phần địa lí
    tự nhiên lớp 10 nói riêng ở trường THPT
    Tôi đã tìm hiểu thực trạng giảng dạy Địa lí ở các trường THPT thông qua các
    hoạt động dự giờ, trao đổi chuyên môn và khảo sát điều tra mẫu… Tôi nhận thấy
    rằng việc dạy và học Địa lí hiện nay ở trường THPT đã có nhiều thay đổi theo chiều
    hướng tích cực. Thay vì thuyết giảng, thầy cô là trung tâm của tiết học thì hiện nay
    HS đã tham gia tích cực vào tìm hiểu, khám phá tri thức qua thiết kế đổi mới của
    thầy. Hầu hết trong các tiết dạy Địa lí hiện nay đều có sự xuất hiện và trợ giúp của
    các phương pháp, phương tiện và kĩ thuật dạy học hiện đại; các thầy cô đã cho các
    em HS tham gia hoạt động trong các nhóm chuyên gia, được tranh biện “ủng hộ –
    phản đối” … Tất cả những điều đó đã góp phần làm thay đổi không khí của các giờ
    học Địa lí: các thầy cô giáo nói ít hơn, HS làm việc nhiều hơn, trao đổi tích cực
    hơn…
    Tuy nhiên, có một vấn đề đặt ra là khi HS tích cực tìm hiểu kiến thức trong giờ
    học, tiết học nhưng các em vẫn thấy khó khăn khi mang kiến thức đã học lí giải một
    tình huống, hiện tượng ngoài thực tế hay đơn giản là liên hệ kiến thức đã học để giải
    thích hiện tượng, đối tượng mới…Thực tế đó chỉ ra rằng các giờ học Địa lí hiện nay
    chưa có tính ứng dụng cao. Một vài nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó có thể là:
    một là do khối lượng kiến thức lớn, thời lượng của một tiết học ít nên thời gian cho
    liên hệ thực tiễn hạn hẹp; hai là khi dạy GV chưa chỉ rõ bản chất của đối tượng khiến
    cho HS khó khăn khi hình dung ngoài thực tiễn hay chưa làm nổi bật mối quan hệ
    giữa các đối tượng địa lí…. Nói tóm lại, đổi mới dạy học Địa lí bên cạnh đổi mới
    phương pháp, phương tiện, kĩ thuật dạy học… GV cần chú ý đến việc tăng tính thực
    tiễn hay cụ thể hơn chính là dạy HS cách vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết
    và ứng dụng vào những tình huống cụ thể.
    1.2 Đặc điểm phần địa lí tự nhiên lớp 10
    Những kiến thức trong chương trình Địa lí lớp 10 nói chung và phần địa lí tự
    nhiên nói riêng không hoàn toàn là kiến thức mới mà có sự kế thừa phát triển từ
    những kiến thức mà các em HS đã được học từ cấp THCS (cụ thể là từ môn địa lí
    lớp 6, 7) nhưng những nội dung kiến thức này là những nội dung đại cương, rất trừu
    tượng đối với các em HS. Kiến thức phần tự nhiên ở chương trình địa lí 10 còn là cơ
    sở cho việc tiếp thu kiến thức và giải thích các sự vật hiện tượng trong môn Địa lí ở
    các lớp 11, 12 cũng như những hiện tượng tự nhiên xảy ra các cuộc sống thực tiễn.
    Do đó, việc tìm ra một phương pháp, hình thức dạy học phù hợp cho các em HS lớp
    10 là điều hết sức cần thiết để đạt được các kết quả cơ bản sau:
    3
    – Giúp các em HS có những kiến thức cơ bản về địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế
    – xã hội đại cương ở bậc THPT.
    – Hình thành và phát triển ở HS các kỹ năng tư duy lôgic để HS có thể liên kết
    các kiến thức đã học vận dụng trong việc giải thích các sự vật, hiện tượng địa lí.
    – Bồi dưỡng cho HS hứng thú học tập và nghiên cứu địa lí.
    Phần Địa lí Tự nhiên lớp 10 ban cơ bản được chia làm 4 chương với 20 bài. Cụ
    thể:
    – Chương 1: Bản đồ: trong chủ đề này, HS sẽ tiếp tục được làm quen với một
    phương tiện dạy học vô cùng cần thiết đối với môn địa lý – bản đồ. HS sẽ được khám
    quá từng lớp thông tin trên bản đồ và hiểu ý nghĩa của chúng thông qua các phương
    pháp thể hiện đối tượng địa lí trên bản đồ, vai trò của bản đồ trong học tập và đời
    sống…Đồng thời biết cách đọc, sử dụng và tính toán trên bản đồ, trang bị được các
    phương pháp sử dụng bản đồ và Atlat để tìm hiểu đặc điểm các đối tượng, hiện tượng
    và phân tích các mối quan hệ địa lí. Đặc biệt, điểm mới của chủ đề này là ngoài việc
    biết cách sử dụng các bản đồ bằng giấy thì HS còn khai thác và sử dụng bản đồ điện
    tử qua phần mềm google maps.
    – Chương 2: Vũ Trụ. Hệ quả các chuyển động chính của Trái Đất: Chủ đề này
    cung cấp cho HS những kiến thức khái quát về Vũ Trụ, hệ Mặt Trời, Trái Đất trong
    Vũ Trụ, Trái Đất trong hệ Mặt Trời cùng các chuyển động Trái Đất trong hệ Mặt
    Trời và hệ quả sinh ra từ các chuyển động đó.
    – Chương 3: Cấu trúc của trái đất. Các quyển của lớp vỏ địa lí: trong chủ đề này,
    HS sẽ lần lượt được khám phá các thành phần tự nhiên của Trái Đất như: sự khác nhau
    giữa các lớp cấu trúc của Trái Đất, phân biệt được thạch quyển và vỏ Trái Đất, thuyết
    Kiến tạo mảng, tác động của nội lực, ngoại lực đến sự hình thành địa hình về mặt Trái
    Đất; Các yếu tố của Khí quyển (khối khí, front, khí áp, gió, nhiệt độ không khí, mưa),
    các kiểu khí hậu, các đới khí hậu chính trên Trái Đất; các vòng tuần hoàn nước trên Trái
    Đất, các kiểu dao động của nước (sóng, thủy triều, dòng biển); Thổ nhưỡng quyển và
    sinh quyển,…
    – Chương 4: Một số quy luật chủ yếu của lớp vỏ địa lí: chủ đề này giúp HS hiểu
    được các khái niệm về lớp vỏ địa lí, các biểu hiện của quy luật thống nhất và hoàn
    chỉnh, quy luật địa đới và phi địa đới của lớp vỏ địa lí.
    Ngoài ra tiết học trên, HS còn có 8 tiết ôn tập và kiểm tra suốt năm học. Dưới
    đây là phân phối chương trình Địa lí 10 mà trường tôi đang thực hiện:
    Như vậy, chương trình Địa lí tự nhiên lớp 10 không phải là con số cộng của các
    chủ đề mà có sự kế thừa, bổ sung giữa các chương tạo nên một thể thống nhất. Hơn
    nữa những kiến thức mang tính khá trừu tượng nên cần thiết phải đơn giản hóa bằng
    các ví dụ cụ thể, thực tiễn thông qua việc sử dụng kiến thức ở các lĩnh vực khác nhau
    nhằm đơn giản hóa cho HS dễ hiểu, vận dụng nhanh chóng được vào thực tiễn.
    4
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    Để nâng cao hiệu quả dạy và học trong phần địa lí tự nhiên lớp 10, trong
    những năm học qua tôi đã áp dụng một số biện pháp sau:
    2.1 Biện pháp 1: Sử dụng phương pháp dạy học tích hợp liên môn
    2.1.1 Một số vấn đề về dạy học tích hợp liên môn
    Trên cơ sở tìm hiểu quan niệm của các nhà khoa học, nhà giáo dục trong nước
    và ngoài nước về dạy học tích hợp liên môn; chúng ta có thể đưa ra một số khái niệm
    cơ bản như sau:
    Tích hợp trong tiếng Anh là integrated, nghĩa là “tập hợp, tích cóp, nhóm gọn
    một hoặc nhiều các phần tử riêng lẻ vào cùng một diện tích”. Theo từ điển tiếng
    Việt, tích hợp là sự tập hợp hay thu gọn thành phần một cách nhỏ gọn nhất có thể.
    Trong lĩnh vực giáo dục, tích hợp là một quan điểm lý luận dạy học, là sự hợp nhất,
    sự kết hợp, sự hoà nhập,…
    Theo đó, các tổ chức khoa học giáo dục và các nhà khoa học đã cắt nghĩa dạy
    học tích hợp, liên môn cụ thể là:
    UNESCO định nghĩa dạy học tích hợp như sau: “Một cách trình bày các khái
    niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng
    khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa
    học khác nhau” [2.6]. Định nghĩa của UNESCO cho thấy dạy học tích hợp xuất phát
    từ quan niệm về quá trình học tập hình thành ở HS những năng lực ở trình độ cao,
    đáp ứng yêu cầu của xã hội. Quá trình dạy học tích hợp bao gồm những hoạt động
    tích hợp giúp HS biết cách phối hợp các kiến thức, kĩ năng và thao tác một cách có
    hệ thống.
    Tùy theo khoa học cụ thể mà có thể tích hợp các môn khoa học khác lại với
    nhau như: Lí – Hóa – Sinh, Văn – Sử – Địa. Ở mức độ cao, sự tích hợp này sẽ hình
    thành những môn học mới, chứ không phải là một sự lắp ghép thông thường các
    môn riêng rẽ lại với nhau. Các môn vẫn giữ vị trí độc lập với nhau, chỉ tích hợp
    những phần gần nhau. Ở mực độ thấp, việc tích hợp được thực hiện trong mối quan
    hệ liên môn. Những môn học được học riêng rẽ nhưng cần chú ý đến những nội dung
    có liên quan đến các bộ môn khác, không trình bày trùng lặp trong biên soạn sách
    giáo khoa và quá trình dạy học mà chỉ khai thác, vận dụng các kiến thức có liên quan
    đến các bộ môn khác.
    Nói tóm lại, sử dụng kiến thức liên môn để dạy học địa lí là sử dụng các kiến
    thức có liên quan của các môn khoa học khác để giảng dạy địa lí thông qua việc liên
    hệ kiến thức, hay sử dụng kiến thức các môn học khác để giải thích kiến thức địa lí
    5
    hoặc liên môn cùng các nội dung kiến thức các môn khoa học khác để giải quyết
    một bài toán ngoài thực tiễn.
    2.1.2 Vai trò và ý nghĩa của việc dạy học tích hợp liên môn trong môn Địa lí
    ở nhà trường phổ thông
    Nhà giáo dục học T.A.L.Lina nhấn mạnh: “Ngày nay không có một môn khoa
    học nào được giảng dạy mà lại không sử dụng những số liệu của các khoa học tiếp
    cận khác, những tài liệu, những sự kiện và những thí dụ lấy từ trong cuộc sống hàng
    ngày và từ các lĩnh vực tri thức khác nhau”. [1.1] Quả đúng như vậy, việc sử dụng
    kiến thức của các lĩnh vực khoa học khác vào giảng dạy Địa lí có vai trò và ý nghĩa
    vô cùng to lớn, cụ thể:
    Sử dụng kiến thức liên môn là một nguyên tắc cần tuân thủ trong dạy học ở
    trường THPT nói chung và dạy học địa lí nói riêng. Nó làm cho quá trình học tập có
    ý nghĩa bằng cách gắn học tập với cuộc sống hàng ngày, trong quan hệ với các tình
    huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau này, hoà nhập thế giới học đường với thế giới cuộc
    sống.
    Đồng thời, giúp HS phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn. Cái cốt yếu là
    những năng lực cơ bản cần cho HS vận dụng vào xử lí những tình huống có ý nghĩa
    trong cuộc sống, hoặc đặt cơ sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo. Trong
    thực tế nhà trường có nhiều điều chúng ta dạy cho HS nhưng không thật sự có ích,
    ngược lại có những năng lực cơ bản không được dành đủ thời gian. Chẳng hạn khi dạy
    cho HS về hệ quả của các chuyện động của Trái đất, HS có thể đọc vanh vách rằng nhờ
    có chuyển động của Trái đất quanh Mặt trời mà sinh ra các mùa, nhưng hỏi tại sao Việt
    Nam lại không có tuyết rơi vào mùa đông như Nhật Bản hay Hàn Quốc thì gần như
    không phải HS nào cũng có thể trả lời được.
    Sử dụng kiến thức tích hợp liên môn trong dạy học là dạy sử dụng kiến thức
    trong tình huống cụ thể. Thay vì tham nhồi nhét cho HS nhiều kiến thức lí thuyết đủ
    loại, dạy học tích hợp liên môn chú trọng tập dượt cho HS vận dụng các kiến thức
    kĩ năng học được vào các tình huống thực tế, có ích cho cuộc sống sau này làm công
    dân, làm người lao động, làm cha mẹ, có năng lực sống tự lập.
    Sử dụng kiến thức tích hợp liên môn được coi là một nguồn kiến thức quan
    trọng không thể thiếu trong dạy học địa lí và được sử dụng như tài liệu tham khảo
    đồng thời như một phương tiện dạy học.
    Mặt khác, sử dụng kiến thức liên môn còn là biện pháp đổi mới phương pháp
    dạy học nói chung và dạy học địa lí nói riêng. Nếu sử dụng tốt kiến thức liên môn
    và gây hứng thú học tập cho HS sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học địa lí. HS
    chỉ thực sự nhận thức được sự cần thiết của môn học, cảm thấy hứng thú với môn
    6
    học đó, đơn vị kiến thức đó khi các em biết vận dụng chúng trong cuộc sống hằng
    ngày. Nói tóm lại, cái cốt lõi nhất của dạy học tích hợp liên môn nói chung, sử dụng
    kiến thức liên môn trong dạy học nói riêng chính là giúp HS biết cách sử dụng kiến
    thức vào giải quyết và ứng dụng vào các tình huống khác nhau một cách hiệu quả,
    từ đó yêu thích, hăng say nghiên cứu môn học.
    2.1.3 Nguyên tắc dạy học tích hợp liên môn trong phần Địa lí tự nhiên lớp 10
    Việc dạy học tích hợp liên môn trong Địa lí 10 – Phần Địa lí tự nhiên cần đảm
    bảo các nguyên tắc cơ bản sau:
    – Không làm thay đổi tính đặc trưng của môn học, không biến bài dạy Địa lí
    thành bài giảng lịch sử, văn học, giáo dục công dân…. Nghĩa là, các kiến thức được
    tích hợp, liên môn vào phải được tiềm ẩn trong nội dung bài học, phải có mối quan
    hệ logic chặt chẽ trong bài học.
    – Khai thác nội dung cần sử dụng kiến thức liên môn một cách có chọn lọc, có
    tính hệ thống, đặc trưng.
    – Đảm bảo tính vừa sức: Các kiến thức liên môn đưa vào bài học phải làm cho
    bài học rõ ràng và tường minh hơn, đồng thời tạo được hứng thú và kích thích tính
    sáng tạo của người học.
    2.1.4 Các nội dung có thể sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học phần
    địa li Tự nhiên lớp 10.
    Thông quan việc nghiên cứu các môn học khác và các tình huống thực tiễn liên
    quan đến nội dung cũng như kĩ năng trong dạy học Địa lí lớp 10 – Phần Địa lí tự
    nhiên, tôi xác định các nội dung có thể sử dụng kiến thức liên môn như sau:

    STTBài họcĐịa chỉ
    tích hợp
    Nội dung tích hợp liên mônMôn,
    nội
    dung
    tích hợp
    1Một số
    phương
    pháp thể
    hiện đối
    tượng địa lí
    trên bản đồ
    1. Phương
    pháp kí
    hiệu
    2. Phương
    pháp kí
    1. GV cho HS 1 tấm bản đồ của tỉnh
    Nam Định, yêu cầu của GV là HS
    thiết kế các kí hiệu về đường quốc lộ,
    đường sắt, sông…trên tấm bản đồ đó.
    Sau đó, các nhóm HS sẽ phân loại các
    kí hiệu đó, đồng thời chỉ ra bản chất
    của từng loại kí hiệu.
    2. Cho HS bản đồ 1 cơn bão đang vào
    Việt Nam, yêu cầu HS xác định tọa độ
    của cơn bão tại thời điểm đó và hướng
    Mĩ thuật,
    Toán
    học,
    Giáo dục
    công dân

    7

    hiệu đường
    chuyển
    động
    di chuyển. Đồng thời, HS xác định
    cơn bão còn cách đất liền bao xa, dự
    báo khi nào chúng tác động vào đất
    liền và đưa ra những biện pháp phòng
    tránh bão.
    3. GV yêu cầu HS tự xây dựng một
    bản đồ vương quốc của riêng mình, có
    hình dạng lãnh thổ riêng và có sử
    dụng các phương pháp thể hiện đối
    tượng địa lí trên bản đồ đã học.
    2Sử dụng
    bản đồ
    trong học
    tập và đời
    sống
    1.Vai trò
    của bản đồ
    2. Tỉ
    lệ bản đồ
    3. Sử
    dụng bản
    đồ trong
    đời sống
    1. GV kể câu chuyện lịch sử về các
    cuộc phát kiến địa lí và những thành
    tựu vĩ đại trong việc xây dựng và hình
    thành khoa học về bản đồ và sự phát
    triển của nó đến ngày nay. Từ đó HS
    nhận thức được vai trò của bản đồ
    trong cuộc sống.
    2. Đặt HS vào các bài toán tính khoảng
    cách thực tế dựa vào tỉ lệ bản đồ. Tìm
    ra đường đi nào là ngắn nhất.
    3. GV hướng dẫn HS sử dụng google
    map để tìm đường đến một địa điểm
    nào đó, xuất phát từ nhà HS hoặc từ
    trường, tìm đường đi ngắn nhất.
    Lịch sử,
    toán học
    3Vũ trụ. Hệ
    Mặt Trời
    và Trái
    Đất. Hệ
    quả các
    chuyển
    động tự
    quay
    quanh trục
    của Trái
    Đất
    Vũ Trụ.
    Hệ Mặt
    Trời. Trái
    Đất
    1. GV giới thiệu về giả thuyết vụ nổ
    Lớn
    2. Sử dụng câu chuyện lịch sử về
    Plôtêmê, Côpécních và Galilê.
    3. Liên hệ các câu chuyện văn học:
    truyền thuyết Nữ Oa vá trời, thần trụ
    trời, sự tích bánh chưng bánh giầy…
    quan niệm của người xưa về trái đất và
    vũ trụ. HS chia sẻ quan điểm của mình.
    Văn học,
    lịch sử,
    mĩ thuật

    8

    4. HS tưởng tượng và mô tả vị trí của
    nhà mình, đất nước mình, trái đất,…
    trong vũ trụ.
    4Vũ trụ. Hệ
    Mặt Trời
    và Trái
    Đất. Hệ
    quả các
    chuyển
    động tự
    quay
    quanh trục
    của Trái
    Đất
    1. Giờ trên
    Trái đất
    2. Đường
    chuyển
    ngày quốc
    tế
    1. Đặt HS vào tình huống thực tế để
    HS tính toán giờ, ngày cụ thể.
    2. GV kể câu chuyện về chuyến
    hành trình vòng quanh thế giới của
    nhà hàng hải Bồ Đào Nha
    Magienlang vào thế kỉ XVI, từ đó
    HS có thể thấy điều cần thiết của
    việc xác định đường chuyển ngày
    quốc tế.
    Toán
    học, văn
    học
    5Hệ quả
    chuyển
    động tịnh
    tiến xung
    quanh Mặt
    Trời của
    Trái Đất
    1.Hiện
    tượng mùa
    2.Hiện
    tượng
    ngày đêm
    ngày ngắn
    theo mùa
    và theo vĩ
    độ
    1. GV cho HS phân tích thời gian biểu
    của một trường ở miền Bắc và một
    trường ở miền Nam để thấy được sự
    khác biệt về ngày đêm theo mùa và
    theo vĩ độ.
    2. HS tìm hiểu và giải thích câu tục ngữ:
    “Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
    Ngày tháng mười chưa cười đã tối”
    3. Tưởng tượng mình là Trái đất, kể
    lại hành trình vận động của mình bằng
    hình ảnh hoặc một câu chuyện.
    Lịch sử,
    văn học,
    mĩ thuật.
    6Cấu trúc
    Trái Đất.
    Thạch
    quyển.
    Thuyết
    kiến tạo
    mảng
    1. Cấu tạo
    bên trong
    của Trái
    đất.
    2. Thuyết
    kiến tạo
    mảng
    3. Các
    vành đai
    động đất,
    1. Sử dụng nguồn năng lượng địa
    nhiệt thay thế nguồn năng lượng hoá
    thạch, góp phần giảm BĐKH.
    2. GV kể 1 vài câu chuyện lịch sử lý
    giải tên gọi một số đại dương và vùng
    biển trên thế giới. Giới thiệu khái quát
    về sự tách dãn và trôi dạt lục địa.
    3. GV sử dụng các đoạn thông tin về
    tác động của các trận động đất và sóng
    Giáo dục
    công
    dân, lịch
    sử, giáo
    dục kĩ
    năng
    sống

    9

    núi lửa và
    các dãy
    núi trẻ trên
    Trái Đất
    thần trên thế giới. HS đọc, phân tích
    các tác động, dự đoán nguyên nhân
    4. GV giáo dục kĩ năng sống cho HS
    thông qua một tình huống thực tế, từ
    đó dạy HS cách phòng và tránh động
    đất và sóng thần.
    5. Giáo viên cho HS sử dụng bản đồ
    tự nhiên châu Á, châu Mỹ, tập bản đồ
    Thế giới và các châu lục để xác định
    vị trí, hướng của các dãy núi trẻ, xác
    định sự phân bố của các vành đai
    động đất, núi lửa. Vận dụng kiến thức
    đã học để giải thích sự phân bố đó.
    7Tác động
    của nội lực
    và ngoại
    lực đến địa
    hình bề
    mặt Trái
    Đất
    1. Tác
    động của
    nội lực và
    ngoại lực
    1. Sử dụng câu truyện về “Hành trình
    của viên sỏi”, HS phân tích câu
    chuyện, từ đó rút ra tác động của nội
    lực và ngoại lực.
    Văn học
    8Khí quyển.
    Sự phân bố
    nhiệt độ
    không khí
    trên Trái
    Đất
    1. Sự phân
    bố nhiệt
    độ không
    khí trên
    Trái Đất
    1. Cho HS bảng số liệu: nhiệt độ
    không khí phân theo độ cao, phân
    theo vĩ độ và phân theo vị trí gần hay
    xa biển. HS tính toán và nhận xét.
    2. Tích hợp tiết kiệm năng lượng
    GDMT: Nguồn cung cấp nhiệt cho
    không khí ở tầng đối lưu là nhiệt của
    bề mặt Trái đất và bức xạ Mặt trời→
    sử dụng năng lượng Mặt trời thay thế
    năng lượng truyền thống.
    3. Khí hậu trên Trái Đất đang có sự
    biến đổi: nhiệt độ, không khí của Trái
    Đất đang tăng lên làm cho Trái Đất
    nóng lên.
    Toán
    học,
    Giáo dục
    công
    dân,

    10

    – Liên hệ với những thay đổi bất
    thường về thời tiết và khí hậu ở nước
    ta trong một số năm gần đây và hậu
    quả của nó.
    9Sự phân bố
    khí áp và
    một số loại
    gió chính
    1. Sự phân
    bố khí áp
    và sự thay
    đổi khí áp
    2.Một số
    loại gió
    chính
    1. Dựa vào các hiện tượng ù tai khi
    đi máy bay, khó thở khi đi thang
    máy…nhận thức sự xuất hiện của
    khí áp.
    2. Sử dụng thơ Xuân Quỳnh:
    “Sóng bắt đầu từ gió
    Gió bắt đầu từ đâu?
    3. Sử dụng câu chuyện lịch sử để
    giải thích tên gọi gió mậu dịch hay
    vĩ độ ngựa.
    4. Sử dụng câu chuyện “Chuyện tình
    của các chàng gió” để giới thiệu đặc
    điểm trái ngược nhau giữa hai mùa
    gió ở Việt Nam.
    5. Gió là nguồn năng lượng vô tận,
    nguồn năng lượng sạch. Năng lượng
    gió sẽ ngày càng trở nên có ý nghĩa
    khi nguồn năng lượng hoá thạch dần
    cạn kiệt. Việc sử dụng nguồn năng
    lượng gió góp phần bảo vệ MT, hạn
    chế BĐKH.
    Văn học,
    lịch sử,
    vật lí,
    giáo dục
    công dân
    10Mây và
    mưa
    Các nhân
    tố ảnh
    hưởng đến
    lượng
    mưa và sự
    phân bố
    mưa trên
    Trái đất
    1. Hiện tượng nồm ẩm
    2. Sử dụng các bức tranh về hành trình
    của hạt nước, HS sử dụng kiến thức
    địa lí kết hợp với vật lí, văn học kể lại
    câu truyện.
    3. Cho HS các bài toán tính lượng
    mưa.
    Vật lí,
    toán học,
    văn học

    11

    11Thực
    hành: Đọc
    bản đồ sự
    phân hóa
    các đới và
    các kiểu
    khí hậu
    trên Trái
    Đất. Phân
    tích một số
    biểu đồ
    một số
    kiểu khí
    hậu.
    Phân tích
    biểu đồ
    nhiệt độ
    và lượng
    mưa của
    các kiểu
    khí hậu
    1. GV hướng dẫn HS xác định các yếu
    tố nhiệt độ, lượng mưa:
    – Nhiệt độ:
    + Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất,
    thấp nhất
    + Biên độ nhiệt
    – Lượng mưa:
    + Những tháng mưa ít, tháng mưa nhiều
    + Những tháng có lượng mưa trên
    100mm
    + Chênh lệch lượng mưa tháng cao
    nhất- tháng thấp nhất
    2. GV hướng dẫn HS vẽ biểu đồ nhiệt
    độ lượng mưa của một số địa điểm và
    xác định kiểu khí hậu của địa điểm đó.
    Toán học
    12Thủy
    quyển.
    Một số
    nhân tố
    ảnh hưởng
    tới chế độ
    nước sông.
    Một số
    sông lớn
    trên Trái
    Đất
    1. Tuần
    hoàn của
    nước trên
    Trái Đất.
    2. Một số
    nhân tố
    ảnh hưởng
    tới chế độ
    nước
    sông.
    1. Thông qua câu chuyện “Hành trình
    của nước” hoặc bài thơ “Hành trình
    giọt nước” GV yêu cầu HS xác định
    các giai đoạn trong hành trình của
    nước và đặc điểm của từng giai đoạn,
    từ đó rút ra được vòng tuần hoàn nước
    và một số nhân tố ảnh hưởng tới chế
    độ nước sông.
    2. Sử dụng các câu ca dao, tục ngữ đố
    tên các con sông lớn trên thế giới và
    Việt Nam.
    3. Đưa ra các hình ảnh ô nhiễm môi
    trường ở các con sông. HS thảo luận
    và trình bày quan điểm của bản thân.
    4. HS thảo luận về một số nguyên
    nhân và hậu quả của hiện tượng lũ lụt,
    sạt lở đất ở miền Trung tháng 10 năm
    2020.
    Văn học,
    Giáo dục
    công dân

    12

    12Sóng.
    Thủy triều,
    Dòng biển
    1. Sóng
    2. Thủy
    triều
    3. Dòng
    biển
    1. Sử dụng thơ Xuân Quỳnh:
    “Sóng bắt đầu từ gió
    Gió bắt đầu từ đâu?”
    Để xác định nguyên nhân chủ yếu
    sinh ra sóng.
    2. Sử dụng thơ Xuân Quỳnh
    “Chỉ có thuyền mới hiểu biển mênh
    mông nhường nào
    Chỉ có biển mới biết thuyền đi đâu về
    đâu
    Những ngày không gặp nhau biển bạc
    đầu thương nhớ
    Những ngày không gặp nhau lòng
    thuyền đau rạn vỡ”
    Để gợi sự liên tưởng tới hình ảnh sóng
    bạc đầu.
    3. Sử dụng câu truyện lịch sử về trận
    chiến trên sông Bạch Đằng của Ngô
    Quyền năm 938, và của Hưng Đạo
    Vương Trần Quốc Tuấn năm 1288 để
    biết về thủy triều.
    4. HS biết vị trí mặt trời, mặt trăng, trái
    đất vào ngày triều cường, triều kém.
    5. Năng lượng thủy triều thay thế
    năng lượng hóa thạch.
    6. Sử dụng câu truyện “Truyện về hai
    anh em dòng biển” để HS tìm hiểu sự
    phân bố và một số ảnh hưởng các
    dòng biển nóng, dòng biển lạnh trên
    Trái Đất.
    Văn học,
    Lịch sử,
    vật lí,
    giáo dục

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Đề xuất một số giải pháp phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh trong dạy học Địa lý 11 ở trường THPT

    SKKN Đề xuất một số giải pháp phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh trong dạy học Địa lý 11 ở trường THPT

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Nhận thưc được vai trò của môn Địa lí và môt số định hướng đổi mới
    trong dạy học ở nhà trương phổ thông nước ta hiện nay.
    Trong chương trình THPT ở Việt Nam, vị trí và vai trò của Địa lí như là
    một môn học được xác định cụ thể. Địa lí là môn văn hóa cơ bản, bắt buộc trong
    chương trình giáo dục phổ thông, là một bộ phận không thể thiếu của học vấn
    phổ thông. Môn Địa lí ở trường phổ thông cung cấp cho học sinh kiến thức về
    các vùng đất, địa hình, các hiện tượng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói
    riêng. Môn địa lí ở trường THPT góp phần phát triển tư duy, góp phần đổi mới
    phương pháp dạy học, lồng ghép và tích hợp nhiều nội dung của môn học khác,
    góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh, giúp thực hiện mục
    tiêu giáo dục toàn diện ở trường phổ thông.
    Hiện nay, với mục tiêu “học thật, thi thật, nhân tài thật” nền giáo dục của
    nước ta đang có sự thay đổi mạnh mẽ và toàn diện để phù hợp với nhu cầu của
    xã hội. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang đổi mới căn bản, toàn diện về
    phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động,
    sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ
    áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Các môn học và hoạt động giáo dục trong
    nhà trường áp dụng các phương pháp tích cực, trong đó giáo viên đóng vai trò tổ
    chức, hướng dẫn hoạt động cho học sinh, tạo môi trường học sinh thân thiện và
    những tính huống có vấn đề để khuyến khích học sinh tích cực tham gia vào các
    hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, nguyện vọng của bản thân, rèn luyện
    thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và những kiến thức đã học để
    phát triển.
    2. Vai trò của việc phat triển năng lực giao tiếp và hợp tac cho học sinh
    THPT
    Năng lực giao tiếp và hợp tác được chương trình GDPT tổng thể xác
    định là một trong ba năng lực cốt lõi mà mỗi học sinh cần có, để sau khi rời
    ghế nhà trường có thể vững vàng bước vào lao động, sản xuất. Bước vào cuộc
    sống, nhiều kiến thức phổ thông học sinh có thể quên do không có điều kiện
    sử dụng, nhưng các năng lực chung nói chung và năng lực giao tiếp và hợp
    tác nói riêng phải trở thành một phần “máu thịt” của các em. Vì vậy, để phát
    triển năng lực này cần được chú trọng phát triển ở tất cả các môn học và hoạt
    động giáo dục trong nhà trường.
    Thực tế đã cho thấy, một người có năng lực giao tiếp và hợp tác tốt sẽ
    mang lại nhiều thành công trong cuộc sống. Thông qua giao tiếp, trao đổi
    với người khác, mỗi người thể hiện được quan điểm, chính kiến của mình,
    đồng thời có cơ hội học hỏi được nhiều kiến thức, kinh nghiệm sống quý
    báu. Trong quá trình giao tiếp, các ý tưởng cũng được đánh giá, xem xét từ
    nhiều góc nhìn giúp con người nhận thức vấn đề sâu sắc hơn. Đồng thời, quá
    trình giao tiếp cũng tạo ra sự tương tác, kết nối về mặt cảm xúc, tình cảm.
    Kĩ năng giao tiếp và hợp tác hiệu quả rất quan trọng đối với học sinh trong
    việc phát triển các mối liên hệ, nâng cao trình độ chuyên môn và hỗ trợ cho
    công việc sau khi rời ghế nhà trường.
    Hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt sự
    ra đời của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo ra những chuyển biến to
    lớn trong nền kinh tế – xã hội thế giới. Trong thời đại này, con người cần có
    được kĩ năng giao tiếp và hợp tác để có thể hòa nhập và thích ứng với sự thay
    đổi của xã hội, nhanh chóng nắm bắt được nhiều cơ hội tiến tới thành công.
    Chính vì vậy, ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường, mỗi học sinh cần được rèn
    luyện, phát triển năng lực quan trọng này để có thể tự tin, dễ dàng chủ động
    trong các công việc lao động sản xuất cũng như hội nhập quốc tế. Năng lực giao
    tiếp và hợp tác là một năng lực cốt lõi quan trọng và rất cần thiết cho mọi
    công dân Việt Nam trong xu thế hội nhập. Vì vậy, dạy học nhằm phát triển
    năng lực giao tiếp và hợp tác là một cách thức dạy học quan trọng để trang bị
    cho học sinh hành trang cần thiết giúp các em tự lập, chủ động, sáng tạo để
    vững tin bước vào một môi trường lao động, học tập mới sau khi rời mái
    trường THPT.
    Xuất phát từ những lý do trên, để nâng cao chất lượng hiệu quả trong dạy
    học Địa lí 11 tôi đã lựa chọn đề tài: “Đề xuất một số giải pháp phát triển năng
    lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh trong dạy học Địa lí 11 ở trường THPT”
    làm đề tài nghiên cứu.
    3. Đối tượng nghiên cưu và phạm vi thơi gian thực hiện đề tài
    – Đối tượng nghiên cứu: Là học sinh ba lớp 11A8, 11A9, 11A10 trường
    THPT Trần Hưng Đạo. Trong đó, hai lớp 11A9 và 11A10 là lớp thực nghiệm;
    lớp 11A8 là lớp đối chứng.
    – Thời gian thực hiện: Trong năm học 2020 – 2021.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô ta giai phap trước khi tạo ra sang kiến
    1.1. Hiện trạng trước khi ap dung sang kiến
    Để tìm hiểu thực trạng của việc phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác
    trong dạy học ở trường THPT Trần Hưng Đạo – TP. Nam Định, tác giả đã tiến
    hành phát phiếu điều tra, khảo sát đối với 15 thầy cô về các vấn đề: nhận thức,
    thái độ của giáo viên về phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác, thực trạng về
    cách tổ chức dạy học và đánh giá của giáo viên nhằm phát triển năng lực giao
    tiếp và hợp tác cho học sinh. (Phụ lục 1).
    Cụ thể, kết quả thu được sau quá trình khảo sát, điều tra như sau:
    Bảng 1: Tổng hợp kết quả khảo sát nhận thức của giáo viên về phát triển
    năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh

    Nôi dung khao satCac lựa chọnSố
    lượng
    Tỉ lệ
    %
    1. Đánh giá về mức độ
    cần thiết của việc phát
    triển năng lực giao tiếp
    và hợp tác cho học sinh
    trong dạy học ở trường
    THPT.
    – Rất cần thiết
    – Cần thiết
    – Bình thường
    – Không cần thiết
    12
    3 0 0
    80,0
    20,0
    0,0
    0,0
    2.Vai trò của việc áp
    dụng các phương pháp,
    kĩ thuật dạy học tích cực
    theo nhóm và tăng
    cường đánh giá quá trình
    trong phát triển năng lực
    giao tiếp và hợp tác cho
    học sinh THPT.
    – Rất quan trọng
    – Quan trọng
    – Bình thường
    – Không quan trọng
    9 4 2 060,0
    26,7
    13,3
    0,0

    Kết quả điều tra ở câu hỏi khảo sát số 1 cho thấy: 100% các thầy cô đều
    cho rằng việc phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh là cần thiết,
    thậm chí đa số là rất cần thiết trong dạy học ở trường THPT. Đây là tín hiệu cho
    thấy hầu hết các giáo viên đã có nhận thức đúng đắn về đổi mới giáo dục theo
    hướng phát triển các năng lực và phẩm chất của người học.
    Ở câu hỏi khảo sát số 2, có 9/15 giáo viên (60,0%) cho rằng việc áp dụng
    các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực theo nhóm và tăng cường đánh giá
    quá trình nhằm phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh là rất quan
    trọng và 4/15 (26,7%) giáo viên cho là quan trọng. Chỉ có 2 giáo viên nhận định
    là bình thường. Điều này phản ánh phần lớn giáo viên đã hiểu được vai trò của
    các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực theo nhóm và tăng cường đánh giá
    quá trình đối với việc phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh trong
    dạy học.
    Tuy nhiên, ở kết quả thu được từ khảo sát câu số 3 đã cho thấy mặc dù đã
    có nhận thức đúng đắn nhưng từ nhận thức đến hành động của hầu hết các giáo
    viên còn khá xa. Cụ thể:
    Bảng 2: Tổng hợp kết quả khảo sát giáo viên về tần suất sử dụng các phương
    pháp, kĩ thuật dạy học tích cực và đánh giá quá trình trong phát triển năng lực
    giao tiếp và hợp tác cho học sinh

    Tân suất sư dung
    Rất
    thường
    xuyên
    Tỉ lệ
    (%)
    Thường
    xuyên
    Tỉ lệ
    (%)
    Đôi
    khi
    Tỉ lệ
    (%)
    Chưa
    bao
    giờ
    Tỉ lệ
    (%)
    Phương
    pháp và
    kĩ thuật
    dạy học
    Dạy học hợp tác16,7853,3640,000
    Dạy học dự án00,000853,3746,7
    Kĩ thuật khăn trải
    bàn
    00,0426,8959,8213,4
    Kĩ thuật các mảnh
    ghép
    00,016,71173,3320,0
    Kĩ thuật đặt câu
    hỏi mở
    320,0853,2426,800,0
    Hình
    thưc
    đanh
    giá
    Đánh giá qua
    quan sát
    16,7426,81066,500,0
    Tổ chức cho HS
    tự đánh giá
    00213,4853,1533,5
    Tổ chức cho HS
    đánh giá đồng
    đẳng
    00640,0640,0320,0

    Về tần suất sử dụng các các phương pháp dạy học tích cực, phương pháp
    dạy học hợp tác được giáo viên thường xuyên sử dụng nhiều hơn so với dạy học
    dự án. Có 9/15 (60,0 %) giáo viên sử dụng dạy học hợp tác ở mức độ rất thường
    xuyên và thường xuyên, trong khi đó ở dạy học dự án thì tỉ lệ này là 0 %. Có
    8/15 giáo viên (53,3 %) đôi khi sử dụng và vẫn còn tới 7/15 giáo viên (46,7 %)
    chưa bao giờ áp dụng phương pháp dự án.
    Về tần suất sử dụng các các kĩ thuật dạy học tích cực, nhìn chung đa số
    các giáo viên đều đã áp dụng trong các bài học, tuy nhiên mức độ sử dụng nhiều
    nhất là kĩ thuật đặt câu hỏi mở với 72,3 % giáo viên được hỏi sử dụng ở mức độ
    thường xuyên và rất thường xuyên, không có giáo viên nào chưa áp dụng. Còn
    với kĩ thuật khăn trải bàn và kĩ thuật các mảnh ghép, vẫn còn 5 giáo viên chưa
    bao giờ áp dụng một trong hai kĩ thuật này, hầu hết các thầy cô chỉ đôi khi sử
    dụng (khăn trải bàn 59,8%; các mảnh ghép 73,3%).
    Việc triển khai đánh giá và cho học sinh tự đánh giá và đánh giá đồng
    đẳng cũng chưa được các thầy cô áp dụng nhiều. Tỉ lệ lớn các giáo viên chỉ đôi
    khi sử dụng, thậm chí vẫn còn 33,5% giáo viên chưa bao giờ sử dụng hình thức
    tự đánh giá và 20,0% giáo viên chưa bao giờ cho học sinh đánh giá đồng đẳng.
    Hầu hết các thầy cô mới chỉ tập trung vào đánh giá qua quan sát, tuy nhiên mức
    độ thường xuyên sử dụng cũng chưa cao.
    Thực trạng phân tích kể trên được lí giải khi các giáo viên trả lời về kĩ
    năng sử dụng các các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực và đánh giá quá
    trình, cụ thể:
    Bảng 3: Tổng hợp kết quả khảo sát giáo viên về kĩ năng sử dụng các phương
    pháp, kĩ thuật dạy học tích cực và đánh giá quá trình trong phát triển năng lực
    giao tiếp và hợp tác cho học sinh

    Kĩ năng sư dung
    Rất
    thành
    thạo
    Tỉ lệ
    (%)
    Thành
    thạo
    Tỉ lệ
    (%)
    Bình
    thường
    Tỉ lệ
    (%)
    Cần
    tìm
    hiểu
    thêm
    Tỉ lệ
    (%)
    Phương
    pháp và
    kĩ thuật
    dạy học
    Dạy học hợp tác00,0640,0960,000,0
    Dạy học dự án00,000533,51066,5
    Kĩ thuật khăn trải
    bàn
    00,0533,3640,0426,7
    Kĩ thuật các mảnh
    ghép
    00,0213,51066,5320,0
    Kĩ thuật đặt câu hỏi
    mở
    320,0960,0320,000
    Hình
    thưc
    đanh
    giá
    Đánh giá qua quan
    sát
    16,7533,5859,800
    Tổ chức cho HS tự
    đánh giá
    00213,5640,0746,5
    Tổ chức cho HS
    đánh giá đồng đẳng
    00213,5859,8526,7

    Qua bảng thống kê đã chỉ ra kĩ năng sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy
    học tích cực và đánh giá của hầu hết các thầy cô chưa tốt. Chưa có giáo viên nào
    thành thạo trong dạy học dự án và có tới 66,5% các thầy cô được tham gia khảo sát
    cần phải tìm hiểu thêm về phương pháp này. Kĩ thuật đặt câu hỏi mở được các thầy
    cô thường xuyên áp dụng hơn cả, mức độ sử dụng thành thạo lên tới 60%.
    Kết quả khảo sát khi tìm hiểu những khó khăn mà các giáo viên gặp phải khi
    áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực và đánh giá quá trình nhằm
    phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh qua các giờ học như sau:
    Bảng 4: Tổng hợp kết quả khảo sát giáo viên về khó khăn khi áp dụng các
    phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực và đánh giá quá trình trong phát triển
    năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh

    STTNhững khó khăn chủ yếuSố
    lượng
    Tỉ lệ
    (%)
    1Áp lực phải dạy các kiến thức phục vụ thi cử.746,7
    2Thời lượng tiết học ngắn, kiến thức bài mới nhiều.1386,7
    3Thiếu kĩ năng và kinh nghiệm tổ chức các hoạt động
    dạy học tích cực.
    1280,0
    4Cơ sở vật chất, phương tiện dạy học chưa đáp ứng được
    nhu cầu.
    1066,7
    5Chưa có kĩ năng và kinh nghiệm đánh giá.15100,0

    Qua kết quả thống kê cho thấy, khó khăn lớn nhất của các thầy cô khi áp
    dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực và đánh giá quá trình trong
    phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh là chưa có kinh nghiệm
    đánh giá (100%), tiếp theo là khó khăn về thời lượng tiết học ngắn, kiến thức bài
    mới nhiều (86,7%); Thiếu kĩ năng và kinh nghiệm tổ chức các hoạt động dạy
    học tích cực (80%); Cơ sở vật chất, phương tiện dạy học chưa đáp ứng được nhu
    cầu (66,7%) và cuối cùng là áp lực phải dạy các kiến thức phục vụ thi cử
    (46,7%).
    Từ thực trạng trên, tác giả nhận thấy việc tăng cường các phương pháp và
    kĩ thuật dạy học tích cực cùng đổi mới kiểm tra, đánh giá để phát triển năng lực
    giao tiếp và hợp tác cho học sinh là phù hợp, đáp ứng được nhu cầu của học sinh
    và nhu cầu của giáo dục trong thời đại ngày nay.
    – Giải pháp cũ thường làm:
    Qua quá trình điều tra và dự giờ, các tiết học thầy cô sử dụng nhiều
    phương pháp dạy học truyền thống như vấn đáp, đặt câu hỏi mở, nêu vấn đề…
    Một số thầy cô đã sử dụng phương pháp dạy học tích cực nhưng tính hiệu quả
    chưa cao. Đánh giá đầu ra nhiều thầy cô đánh giá qua các bài kiểm tra định kỳ
    truyền thống trên giấy.
    1.2. Ưu điểm, nhược điểm của giai phap cũ
    – Ưu điểm:
    + Giáo viên đều nhận thức được sự cần thiết, tầm quan trọng của việc phát
    triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh trong dạy học.
    + Bước đầu sử dụng các hình thức đánh giá được kết quả học tập của
    học sinh.
    – Nhược điểm:
    + Thiếu kinh nghiệm về tổ chức các hoạt động dạy và học để phát triển
    năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh, kĩ năng sử dụng phương pháp, kĩ
    thuật dạy học tích cực và đánh giá nào của giáo viên chưa thành thạo.
    + Hình thức đổi mới kiểm tra, đánh giá để phát triển năng lực giao tiếp và
    hợp tác cho học sinh chưa phù hợp. Phần lớn giáo viên đánh giá kết quả đầu ra
    qua các bài kiểm tra viết.
    + Về kĩ năng đánh giá, phần nhiều các thầy cô sử dụng đánh giá qua quan
    sát và không có ai cần tìm hiểu thêm. Tuy nhiên, đối với việc triển khai cho học
    sinh tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng vẫn còn khá mới mẻ với nhiều thầy cô.
    + Học sinh khó khăn trong việc phát huy hết các năng lực. Các tiết học,
    nếu như giáo viên không sử dụng các phương pháp dạy học tích cực hợp lí các
    em rất lúng túng, hạn chế phát triển năng lực và thường rất dễ bị thụ động tiếp
    nhận kiến thức.
    2. Mô ta giai phap sau khi có sang kiến
    2.1. Cac giai phap thực hiện
    2.1.1. Tăng cương vận dung cac phương phap và kĩ thuật dạy học tích cực
    Phương pháp dạy học tích cực, thực chất là cách dạy hướng tới việc học
    tập tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, chống lại thói quen học tập thụ động
    của học sinh.
    Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên
    và học sinh trong các tình huống hay hoạt động nhằm thực hiện giải quyết một
    nhiệm vụ học tập cụ thể. Kĩ thuật dạy học tích cực là những kĩ thuật có ý nghĩa
    đặc biệt trong việc phát huy sự tham gia tích cực của học sinh vào quá trình dạy
    học, kích thích sự tư duy, sáng tạo và sự cộng tác làm việc của học sinh.
    Để phát triển các năng lực nói chung và năng lực giao tiếp và hợp tác nói
    riêng cho học sinh, việc tăng cường vận dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy
    học tích cực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tổ chức dạy học. Bởi thông qua
    việc dạy học tổ chức các hoạt động của học sinh, phối hợp học tập cá thể với học
    tập hợp tác, người giáo viên đã đầu tư vào việc kết hợp giữa hoạt động cá nhân
    với hoạt động nhóm, phát huy nỗ lực của chính cá nhân trong hoạt động nhóm,
    giúp học sinh có điều kiện hình thành, phát triển cả về năng lực tự chủ và tự học
    lẫn năng lực giao tiếp và hợp tác.
    Sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực sẽ biến lớp học trở
    thành môi trường giao tiếp thầy – trò và trò – trò, nhằm vận dụng sự hiểu biết và
    kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập
    chung. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được
    bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học phát triển được khả năng của
    bản thân cũng như tăng cường các kĩ năng giao tiếp và hợp tác, góp phần đáp
    ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực phù hợp cho các hoạt động hợp tác xuyên
    quốc gia, liên quốc gia trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay.
    Với vai trò và ý nghĩa nêu trên, tôi đề xuất tăng cường vận dụng các
    phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực nhằm góp phần phát triển năng lực
    giao tiếp và hợp tác cho học sinh trong dạy học Địa lí 11 ở trường THPT dưới
    đây:
    2.1.1.1. Sư dung phương phap dạy học theo nhóm (dạy học hợp tac).
    a. Khái niệm
    Dạy học theo nhóm còn được gọi là dạy học hợp tác, thảo luận
    nhóm…Trong phương pháp dạy học này, giáo viên là người tổ chức cho học
    sinh các hoạt động học tập theo nhóm nhỏ, học sinh cùng thực hiện một nhiệm
    vụ nhất định trong một thời gian nhất định. Trong nhóm, dưới sự hướng dẫn của
    giáo viên và chỉ đạo của nhóm trưởng, học sinh kết hợp giữa làm việc cá nhân
    với hợp tác làm việc với các thành viên khác để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
    Đối với mục tiêu phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh thì
    phương pháp dạy học theo nhóm là phương pháp dạy học chủ đạo, bởi phương
    pháp này tạo ra các bối cảnh rất thuận lợi trong giao tiếp và hợp tác, giúp cho
    mọi học sinh tham gia một cách chủ động và sáng tạo vào quá trình học tập, tạo
    cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, tôn trọng lẫn nhau
    trong giải quyết các nhiệm vụ học tập một cách tích cực và hiệu quả.
    b. Các bước tổ chức dạy học
    Giáo viên nêu nhiệm vụ học tập cho toàn lớp
    Phân nhóm học tập và bố trí vị trí nhóm phù hợp với không gian lớp học:
    Các nhóm phân công nhiệm vụ cho các thành viên: nhóm trưởng, thư kí, người
    quản lí thời gian,…Tùy theo nhiệm vụ, có thể phân nhóm theo cặp 2 học sinh,
    nhóm 3 hoặc nhóm 4 – 6 học sinh.
    Trong hoạt động nhóm, học sinh cần ngồi đối mặt với nhau để tạo ra sự
    tương tác trong quá trình học tập. Cần tạo điều kiện cho học sinh được luân
    phiên làm nhóm trưởng, thư kí để tạo cơ hội phát triển kĩ năng lãnh đạo, tổ
    chức cho tất cả các em.
    Giao nhiệm vụ cho nhóm: Có thể giao cho mỗi nhóm học sinh một nhiệm
    vụ riêng hoặc tất cả các nhóm đều thực hiện chung một nhiệm vụ. Giáo viên cần
    nêu rõ quy định về thời gian thực hiện và yêu cầu rõ sản phẩm của mỗi nhóm.
    Hướng dẫn học sinh hoạt động nhóm: Nhóm trưởng điều khiển hoạt động
    nhóm: học sinh hoạt động cá nhân, theo cặp, chia sẻ kinh nghiệm và thảo luận,
    thống nhất kết quả chung của nhóm, thư kí ghi kết quả của nhóm, phân công đại
    diện trình bày kết quả trước lớp.
    Theo dõi, điều khiển, hướng dẫn hỗ trợ các nhóm: Khi học sinh hoạt
    động, có rất nhiều vấn đề có thể xảy ra, nhất là khi học sinh tiến hành thí
    nghiệm, giải quyết vấn đề hoặc thảo luận không đúng trọng tâm hay tranh luận
    thiếu hợp tác…Do đó, giáo viên cần quan sát, bao quát, đi tới các nhóm để
    hướng dẫn, hỗ trợ kịp thời, đảm bảo cho hoạt động nhóm thực sự hiệu quả.
    Tổ chức cho các nhóm báo cáo kết quả và đánh giá: giáo viên yêu cầu mỗi
    nhóm cử đại diện trình bày kết quả, các nhóm khác nhận xét, bổ sung. Hoạt
    động này rèn cho học sinh kĩ năng lắng nghe và phản hồi tích cực.
    Chốt lại kiến thức: Sau khi học sinh nhận xét, phản hồi, giáo viên chốt lại
    kiến thức cơ bản, không giảng lại toàn bộ các vấn đề học sinh đã trình bày.
    c. Yêu cầu sư phạm
    Phương pháp dạy học theo nhóm sẽ dạt được hiệu quả cao khi có các điều
    kiện sau:
    Phòng học có đủ không gian, bàn ghế dễ di chuyển bởi sử dụng phương
    pháp này thường gây ra sự xáo trộn về cơ học trong lớp học khi học sinh không
    còn ngồi nghe giảng hướng lên bục giảng theo cách truyền thống mà phải ngồi
    đối mặt với nhau để tạo ra sự tương tác trong quá trình học tập.
    Nhiệm vụ học tập phù hợp: giáo viên cần chọn chủ đề thảo luận có nhiều
    tình huống, cần tới sự chia sẻ, hợp tác, huy động trí tuệ, kinh nghiệm của nhiều
    học sinh để tìm ra cách giải quyết tối ưu nhất sau khi thống nhất, không nên giao
    những nhiệm vụ quá đơn giản, dễ dàng so với khả năng của học sinh vì vừa lãng
    phí thời gian, vừa có thể gây nhàm chán.
    Giáo viên hiểu rõ bản chất của dạy học theo nhóm, tránh hình thức, hời
    hợt, cần đưa ra các quy định hoạt động nhóm hiệu quả, đồng thời quy định rõ về
    thời gian thảo luận, trình bày để đủ cho học sinh suy nghĩ, thảo luận nhưng cũng
    vừa tránh tình trạng lan man, không đảm bảo thời gian cho tiết học.
    d. Ví dụ
    Để tổ chức cho học sinh tìm hiểu phần II. Môi trường trong Bài 3. Một
    số vấn đề mang tính toàn cầu (Địa lí 11), giáo viên nên sử dụng phương pháp
    dạy học hợp tác bởi vì:
    – Dạy học hợp tác đáp ứng yêu cầu: Trình bày được một số biểu hiện,
    nguyên nhân ô nhiễm của từng loại môi trường và hậu quả; nhận thức được sự
    cần thiết phải bảo vệ môi trường thông qua các giải pháp chủ yếu; đáp ứng việc
    phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh.
    Giáo viên có thể vận dụng phương pháp dạy học hợp tác để tổ chức hoạt
    động học tập như sau:
    + Bước 1: Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm.
    Nhóm 1: Tìm hiểu vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu.
    Nhóm 2: Tìm hiểu vấn đề suy giảm tầng ôdôn.
    Nhóm 3: Tìm hiểu vấn đề ô nhiễm nguồn nước ngọt, biển và đại dương.
    Nhóm 4: Tìm hiểu vấn đề suy giảm đa dạng sinh vật.
    Phiếu học tập: Dựa vào kiến thức SGK và hiểu biết của bản thân, trao đổi và
    hoàn thành phiếu học tập dưới đây. (Thời gian: 6 phút)

    Vấn đề môi trườngHiện trạngNguyên nhânHậu quảGiải pháp
    Biến đổi khí hậu toàn cầu
    Suy giảm tầng ô dôn
    Ô nhiễm biển và đại dương
    Suy giảm đa dạng sinh học

    + Bước 2: Học sinh thực hiện nhiệm vụ: Các học sinh trong nhóm trao đổi,
    thảo luận, chia sẻ ý kiến và thống nhất nội dung chuẩn bị báo cáo trước lớp.
    + Bước 3: Giáo viên tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả và thảo luận
    chung cả lớp. Đại diện các nhóm báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ; học sinh
    khác lắng nghe và bổ sung, thảo luận thêm.
    Giáo viên chốt kiến thức; nhận xét đánh giá kết quả thực hiện của học
    sinh. Chú ý đánh giá quá trình để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh.
    Như vậy, dạy học hợp tác đã đáp ứng yêu cầu: Trình bày được một số biểu
    hiện, nguyên nhân ô nhiễm của từng loại môi trường và hậu quả; nhận thức
    được sự cần thiết phải bảo vệ môi trường thông qua các giải pháp chủ yếu. Qua
    ví dụ trên, học sinh khi tích cực trao đổi, thảo luận trong nhóm để thống nhất ý
    kiến về biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả và giải pháp với mỗi vấn đề môi trường

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Địa lí ngành chăn nuôi, thủy sản VN và các dạng bài tập trong ôn thi HSGQG

    SKKN Địa lí ngành chăn nuôi, thủy sản VN và các dạng bài tập trong ôn thi HSGQG

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Lí do chọn đề tài
    Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, chăn nuôi, thủy sản có vị trí quan trọng
    và càng ngày vai trò đó càng được khẳng định rõ rệt. Biểu hiện là tỉ trọng của
    ngành chăn nuôi và thủy sản trong cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp nước ta
    ngày càng tăng. Hình thức chăn nuôi cũng ngày càng đa dạng, phong phú và
    hiện đại hơn. Theo nhận định của một số chuyên gia, Việt Nam là một trong
    những quốc gia có tốc độ tăng trưởng ngành thủy sản nhanh nhất thế giới. Việt
    Nam đã trở thành nhà sản xuất lớn thứ ba trong ngành chăn nuôi, nuôi trồng
    thủy sản và là một trong mười nước xuất khẩu hải sản hàng đầu khu vực. Bên
    cạnh thủy sản, ngành chăn nuôi cũng có bước phát triển đáng ghi nhận, với sự
    phát triển mạnh mẽ của nhiều trang trại chăn nuôi với cơ cấu sản phẩm của
    ngành đa dạng, phong phú hơn.
    Trong chương trình địa lí kinh tế xã hội nói chung, địa lí kinh tế xã hội Việt
    Nam nói riêng, kiến thức về ngành chăn nuôi và thủy sản tuy chiếm một khối
    lượng kiến thức khá lớn và quan trọng đồng thời đây là nội dung tương đối khó.
    Các câu hỏi liên quan đến chăn nuôi và thủy sản cũng thường xuyên xuất hiện
    trong các đề thi học sinh giỏi, thi THPT quốc gia trong những năm gần đây. Vì
    vậy, giáo viên, học sinh trong các trường chuyên, ngoài việc trang bị được các
    kiến thức cơ bản về học phần này, còn yêu cầu hiểu sâu sắc và rèn luyện các kỹ
    năng có liên quan và giải các bài tập. Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại thì
    chưa có chương trình chuyên biệt cho các trường chuyên nên việc tập hợp các
    tài liệu cho học tập và giảng dạy nội dung này còn nhiều khó khăn.
    Chính vì thế, việc hệ thống nội dung lý thuyết và các dạng bài tập liên quan
    đến vấn đề phát triển và phân bố ngành chăn nuôi, thủy sản trong địa lí ngành
    nông nghiệp sẽ giúp các giáo viên và học sinh có được nguồn tài liệu đầy đủ,
    phong phú, logic nhất về ngành nông nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi
    hơn trong việc dạy và học ở các trường chuyên.
    Để đáp ứng các yêu cầu trên, chúng tôi xây dựng chuyên đề “Địa lí ngành
    chăn nuôi, thủy sản Việt Nam và các dạng bài tập trong thi học sinh giỏi”.
    Đề tài hướng tới đối tượng chính là giáo viên và học sinh các trường
    chuyên, nhất là trong quá trình ôn luyện thi học sinh giỏi Quốc gia. Tuy nhiên,
    3
    các giáo viên và học sinh phổ thông không chuyên cũng sẽ có được nguồn tài
    liệu hữu ích phục vụ kì thi THPT quốc gia.
    2. Mục đích của chuyên đề
    Đề tài nhằm cung cấp tới người đọc những kiến thức, kĩ năng trọng tâm
    trong học và giải quyết bài tập về các ngành chăn nuôi và thủy sản trong nông
    nghiệp. Cụ thể là:
    – Kiến thức:
    + Hệ thống hóa kiến thức về địa lý ngành chăn nuôi và thủy sản:
    Ngành chăn nuôi: vai trò, nguồn lực phát triển, tình hình phát triển, phân bố.
    Ngành thủy sản: vai trò, nguồn lực phát triển, tình hình phát triển, phân bố;
    một số vấn đề trong phát triển ngành thủy sản và thời cơ, thách thức của ngành
    thủy sản nước ta khi hội nhập.
    + Giới thiệu các phương pháp và kĩ thuật dạy học đã được áp dụng và mang lại
    hiệu quả tự học cao
    + Giới thiệu một số hình thức đã được tổ chức nhằm phát triển năng lực tự học,
    tự nghiên cứu của học sinh.
    – Kĩ năng:
    + Xây dựng hệ thống các dạng bài tập về chăn nuôi và thủy sản.
    + Vận dụng kiến thức một cách linh hoạt để giải quyết các dạng bài tập trên cơ
    sở định hướng có sẵn.
    3. Cấu trúc của chuyên đề
    Phần nội dung chuyên đề bao gồm:
    Phần I: Lý thuyết chung
    Phần II: Phương pháp, phương tiện và hình thức dạy học
    Phần III: Các dạng bài thi học sinh giỏi quốc gia
    4
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Chăn nuôi, thủy sản Việt Nam là một trong những chuyên đề quan trọng
    trong thi Học sinh giỏi Quốc gia. Cấu trúc cơ bản của phần lí thuyết và các dạng
    bài tập vẫn được giữ nguyên. Tuy nhiên, do đặc điểm của các số liệu phần kinh
    tế – xã hội là luôn luôn biến động cho nên người dạy cần thường xuyên cập nhật
    những số liệu mới và phân tích xu hướng thay đổi của nó. Bên cạnh đó, trước
    tác động của cuộc Cách mạng 4.0, xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa diễn ra
    ngày càng mạnh thì hai phân ngành này có nhiều thay đổi trong tình hình phát
    triển cũng như phương hướng trong tương lai; trong quá trình dạy học cần bổ
    sung thêm những nội dung lí thuyết chưa được đề cập tới trong sách giáo khoa.
    Một phần rất quan trọng nữa là các phương pháp dạy học và các dạng bài tập
    hướng đến ôn thi học sinh giỏi cũng cần đổi mới, cập nhật cho phù hợp với xu
    hướng thay đổi giáo dục hiện đại. Trước đây, trong quan niệm của nhiều người,
    dạy học chuyên sâu thì thường có tính hàn lâm cao, phương pháp dạy học chủ
    yếu là các phương pháp dùng lời, cho nên học sinh sẽ cảm thấy nặng nề. Việc
    đổi mới các phương pháp, hình thức dạy học và phân chia thành các dạng bài cụ
    thể sẽ giúp tăng sự yêu thích, tìm tòi, ham học hỏi của học sinh; nâng cao hiệu
    quả dạy học.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    Căn cứ vào thực tế xu hướng ra đề thi Học sinh giỏi Quốc gia và những ưu
    điểm, hạn chế của giáo viên, học sinh trong quá trình dạy học, ôn luyện phần
    chăn nuôi, thủy sản Việt Nam, chúng tôi đề xuất giải pháp cho hệ thống lí thuyết
    và các dạng bài tập phần chăn nuôi, thủy sản Việt Nam trong ôn thi HSG như
    sau:
    2.1. Hệ thống lí thuyết về ngành chăn nuôi, thủy sản Việt Nam
    2.1.1. Ngành chăn nuôi
    2.1.1.1. Vai trò
    Chăn nuôi có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
    – Về kinh tế
    + Cung cấp nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng (đạm, mỡ, đường, vitamin)
    trong thức ăn hàng ngày từ thịt, cá, trứng, tạo nguồn năng lượng cho con người.
    5
    Các sản phẩm từ động vật là nguồn cung cấp protein và các axit amin thiết
    yếu cho con người, đóng góp đáng kể và tổng lượng calo hàng ngày của chúng
    ta. Ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói chung, khoảng 60%
    nguồn cung cấp protein trong khẩu phần ăn có nguồn gốc từ các sản phẩm động
    vật. Ngoài ra, nó còn cung cấp lượng chất béo cần thiết cho cơ thể người.
    + Sản phẩm từ chăn nuôi là nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất hàng
    tiêu dùng (lông cừu, da của các vật nuôi,…), nguyên liệu cho công nghiệp thực
    phẩm (thịt, trứng, sữa,…) và công nghiệp dược phẩm.
    + Cung cấp các mặt hàng cho xuất khẩu, tăng thêm nguồn thu nhập, tích
    lũy vốn cho nền kinh tế.
    “Việt Nam đã xuất khẩu nhiều sản phẩm nông nghiệp, từ mật ong, thịt gà,
    lợn sữa và các sản phẩm trứng. Bây giờ chúng ta tiếp tục xuất khẩu sản phẩm
    thịt lợn tươi, đánh dấu bước ngoặt lớn của ngành chăn nuôi” – Thứ trưởng Bộ
    NNPTNT Vũ Văn Tám chia sẻ sau sự kiện lô hàng thịt lợn tươi đầu tiên của
    Việt Nam xuất khẩu. Vượt qua nhiều cửa ải, tháng 5.2018 đánh dấu bước ngoặt
    lớn trong ngành chăn nuôi khi một doanh nghiệp của Việt Nam đã có lô hàng
    thịt lợn tươi đầu tiên xuất khẩu thành công sang nước ngoài theo đường chính
    ngạch. Mỗi tháng xuất khoảng 26 tấn thịt lợn sang thị trường Myanmar.
    Việt Nam xuất khẩu thịt lợn sang Myanmar
    (Nguồn: Vietnamnet, ngày 26/06/2018)
    + Chăn nuôi gia súc lớn (trâu, bò) và chăn nuôi lợn còn cung cấp sức kéo
    và phân bón cho ngành trồng trọt, đặc biệt quan trọng đối với những vùng mà
    nông nghiệp phát triển theo hình thức cổ truyền. Chăn nuôi tận dụng triệt để phụ
    phẩm từ ngành trồng trọt.
    6
    + Phát triển chăn nuôi góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
    nông nghiệp, chuyển dịch CCKT nông thôn ở nhiều vùng, phá thế độc canh.
    Trồng trọt kết hợp với chăn nuôi tạo ra nền nông nghiệp bền vững, cân đối và
    toàn diện.
    – Về xã hội
    + Cung cấp cho con người nguồn thực phẩm giàu chất đạm, tăng lượng
    calo, góp phần cải thiện chất lượng bữa ăn.
    Theo Viện quan sát thế giới (World Watch Institude) trong 4 thập kỷ qua
    sản xuất thịt trên thế giới đã tăng gấp 3 lần, còn tính riêng trong thập kỷ qua là
    tăng 20%. Ở các nước đang phát triển lượng thịt tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi
    đã tăng gần gấp đôi.
    + Chăn nuôi là một trong những ngành kinh tế giúp giải quyết việc làm
    cho lực lượng lao động đông đảo ở nước ta.
    – Về môi trường: Chăn nuôi giúp khai thác hợp lí và hiệu quả hơn nguồn
    tài nguyên thiên nhiên của các vùng.
    2.1.1.2. Nguồn lực phát triển
    a. Thuận lợi
    – Cơ sở thức ăn: có ý nghĩa hàng đầu, được đảm bảo ngày càng tốt hơn.
    Nhu cầu nguồn thức ăn cho chăn nuôi ngày càng tăng và được lấy từ nhiều
    nguồn khác nhau như đồng cỏ, hoa màu lương thực, phụ phẩm của thủy sản, chế
    biến công nghiệp.
    Tổng nhu cầu thức ăn chăn nuôi Việt Nam từ năm 2017 – 2019
    (Đơn vị: tấn)

    Năm201720182019
    Thức ăn chăn nuôi23,350,00023,800,00024,100,000
    Công nghiệp20,520,00021,900,00022,800,000
    Thức ăn chăn nuôi17,220,00018,000,00018,500,000
    Tự chế8,580,0008,100,0008,100,000
    Thức ăn chăn nuôi6,080,0005,600,0005,600,000
    Tổng29,100,00030,000,00030,900,000

    (Nguồn: FAS-VN)
    7

    Nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi cung ứng cho ngành sản xuất thức
    ăn chăn nuôi Việt Nam từ năm 2017 – 2019
    (Đơn vị: tấn)
    Năm201720182019
    Nhập khẩu (1)16,300,00019,500,00021,900,000
    Bột đậu tương5,800,0006,200,0006,400,000
    Ngô5,700,0009,000,00010,250,000
    DDGS800,0001,000,0001,200,000
    Lúa mỳ làm TACN2,600,0001,800,0002,500,000
    Bột/cám khác700,000690,000700,000
    Khác (MBM, FM, …)700,000810,000850,000
    Nguồn cung nội địa (2)11,300,0009,000,0009,000,000
    Ngô5,000,0003,000,0003,000,000
    Cám gạo5,000,0005,000,0005,000,000
    Gạo tấm500,000500,000500,000
    Sắn800,000500,000500,000
    Thức ăn chăn nuôi thành phẩm
    nhập khẩu (3)
    1,500,0001,500,0001,500,000
    Tổng (4)29,100,00030,000,00030,900,000
    Thức ăn chăn nuôi công nghiệp (5)20,520,00021,900,00022,800,000
    Thức ăn chăn nuôi tự chế (6)*8,580,0008,100,0008,100,000
    Nguồn: FAS-VN

    + Đồng cỏ tự nhiên: diện tích đồng cỏ tương đối lớn, phân bố tập trung trên
    các cao nguyên thuộc Trung du miền núi Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên.
    Năng suất đồng cỏ ngày càng được nâng cao. Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm tạo
    8
    thuận lợi cho đồng cỏ phát triển nhanh, là cơ sở để phát triển chăn nuôi gia súc
    ăn cỏ như trâu, bò, dê, …
    Một số loại cỏ tốt thường được sử dụng trong chăn nuôi hiện nay như cỏ
    voi, cỏ Ruzi, cỏ xả, cỏ họ đậu…

    Cỏ voi – loại cỏ phổ biến được sử dụng
    trong các trang trại chăn nuôi của TH
    True Milk, Vinamilk, tập đoàn Hoàng
    Anh Gia Lai…
    Cỏ Ruzi phát triển tốt ở mô hình thí
    nghiệm cải tạo sơ bộ tại trại bò Ea
    So – Đắk Lắk
    (Tạp chí Khoa học và Công nghệ
    Việt Nam)
    Cỏ sả – cũng là loại cỏ được sử dụng
    trong các trang trại chăn nuôi của TH
    True Milk, Vinamilk, tập đoàn Hoàng
    Anh Gia Lai…
    Cỏ họ đậu – là một trong những
    giống cỏ thường được sử dụng cho
    chăn nuôi bò sữa

    + Sản phẩm của ngành trồng trọt và phụ phẩm của ngành thủy sản: đây là
    nguồn thức ăn chủ yếu. Nhờ giải quyết tốt lương thực cho người nên phần lớn
    hoa màu (ngô, khoai, sắn) được dành làm thức ăn cho chăn nuôi. Diện tích đất
    trồng hoa màu khá ổn định, tạo ra sản lượng hoa màu lớn, cung cấp nguồn thức
    ăn thường xuyên cho chăn nuôi, đặc biệt là nuôi lợn và gia cầm. Ngoài ra còn có
    9
    13 – 14 nghìn tấn bột cá, phụ phẩm từ ngành thủy sản bổ sung thêm nguồn thức
    ăn chất lượng cao cho chăn nuôi.
    + Thức ăn tổng hợp do ngành công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, gia
    cầm sản xuất, tạo điều kiện cho hình thức chăn nuôi công nghiệp ngày càng phổ
    biến ở đồng bằng và miền núi.
    Các nguồn cung nguyên liệu nội địa cho thức ăn chăn nuôi bao gồm cám
    gạo và gạo tấm, từ ngành gạo nội địa. Ngành chế biến gạo sản xuất xấp xỉ 5 triệu
    tấn cám gạo hàng năm, phần lớn sử dụng cho thức ăn chăn nuôi. Gạo tấm sử
    dụng làm thức ăn chăn nuôi tương đối nhỏ, chỉ khoảng 0,5 triệu tấn do hoạt
    động xuất khẩu gạo mạnh. Sử dụng sắn trong thức ăn chăn nuôi đang giảm, từ
    800.000 tấn năm 2017 xuống còn 500.000 tấn năm 2018 và 2019 do sản xuất
    không phát triển và nhu cầu sắn cho xuất khẩu, sản xuất công nghiệp và sản xuất
    nhiên liệu sinh học ở mức cao.
    – Giống gia súc, gia cầm
    + Có nhiều giống gia súc, gia cầm chất lượng tốt như giống trâu Tuyên
    Quang, Yên Bái, bò Thanh Hóa, Nghệ An, Phú Yên, lợn Móng Cái, Mường
    Khương, gà Mía (Sơn Tây),…
    + Nhập nhiều giống ngoại có năng suất cao như bò sữa Cu Ba, Hà Lan, bò
    thịt Thụy Sỹ, trâu sữa Mura (Ấn Độ), lợn Yooc sai, Đại Bạch…
    + Đàn gia súc, gia cầm được cải tạo nhiều.
    – Cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ chăn nuôi: Hệ thống chuồng trại, xí
    nghiệp chăn nuôi được xây dựng. Mạng lưới các xí nghiệp chế biến (đóng hộp,
    đông lạnh thực phẩm) phát triển rộng khắp cả nước. Dịch vụ thú y, cung ứng vật
    tự chăn nuôi được mở rộng. Các trung tâm nghiên cứu về giống vật nuôi phát
    triển, kĩ thuật lai tạo giống tiên tiến đã lai tạo thành công nhiều gia súc, gia cầm
    cho năng suất cao, phù hợp với điều kiện sinh thái nước ta. Tính đến năm 2019,
    cả nước ta có trên 20 nghìn trang trại chăn nuôi, chiếm khoảng 60% số trang trại
    của ngành nông nghiệp.
    10
    Trang trại chăn nuôi bò sữa của TH True Milk tại Nghĩa Đàn – Nghệ An
    – Thị trường: nước ta có dân số đông, mức sống ngày càng nâng cao là thị
    trường to lớn, nhất là ở các vùng đô thị. Đây là động lực quan trọng thúc đẩy
    ngành chăn nuôi phát triển mạnh không chỉ về sản lượng mà còn về cơ cấu, chất
    lượng sản phẩm. Lối sống hiện đại nên yêu cầu về các sản phẩm chế biến ngày
    càng tăng. Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến đòi hỏi nhiều nguyên
    liệu từ ngành chăn nuôi đặc biệt sản phẩm công nghiệp chế biến. Đặc biệt là thị
    trường xuất khẩu thông qua một số mặt hàng chế biến.
    – Các thuận lợi khác: dân cư, lao động có truyền thống, kinh nghiệm chăn
    nuôi; các chính sách khuyến nông: đưa chăn nuôi trở thành ngành chính.
    Nhằm thúc đẩy, đổi mới hoạt động tổ chức sản xuất trong chăn nuôi, Chính
    phủ đã ban hành Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04/6/2010 về chính sách
    khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, Nghị định số
    210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính phủ thay thế Nghị định số
    61/2010/NĐ-CP và Nghị định số Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018
    của Chính phủ thay thế Nghị định số 210/2013/NĐ-CP, quy định một số ưu đãi
    và hỗ trợ đầu tư của Nhà nước dành cho các doanh nghiệp đầu tư vào nông
    nghiệp, nông thôn. Theo đó, các doanh nghiệp khi đầu tư vào nông nghiệp, khu
    vực nông thôn sẽ được miễn, giảm tiền sử dụng đất; miễn, giảm tiền thuê đất của
    Nhà nước; hỗ trợ thuê đất, thuê mặt nước của hộ gia đình, cá nhân và miễn,
    giảm tiền sử dụng đất khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
    b. Khó khăn
    – Về tự nhiên
    + Diện tích đồng cỏ nhỏ, phân tán, nhiều cỏ tạp khó cải tạo, năng suất đồng cỏ
    thấp.
    11
    + Mùa khô ở các tỉnh phía nam (Tây Nguyên) thiếu nước, đồng cỏ khó phát
    triển
    + Môi trường nhiệt đới ẩm dễ phát sinh dịch bệnh cho gia súc, gia cầm.
    Cụ thể, tháng 5/2020, dịch tả lợn châu Phi đã tái phát, lây lan trên diện rộng ở 20
    tỉnh thành buộc tiêu hủy gần 4.000 con heo.
    Cơ quan chức năng tiêu hủy một ổ dịch tả heo châu Phi – Ảnh: BÙI MINH
    (Nguồn: Báo Tuổi trẻ)
    – Về kinh tế – xã hội
    + Hình thức chăn nuôi còn lạc hậu, chủ yếu theo lối quảng canh, năng suất chưa
    cao. Số các trang trại trong chăn nuôi ngày càng tăng nhưng quy mô còn nhỏ,
    chủ yếu là các trang trại chăn nuôi hộ gia đình.
    + Giống gia súc, gia cầm năng suất thấp, chất lượng chưa cao, chưa đáp ứng
    được nhu cầu xuất khẩu.
    + Cơ sở thức ăn cho chăn nuôi chưa được đảm bảo.
    + Công nghiệp chế biến thức ăn gia súc chưa phát triển; công tác dịch vụ thú y
    vẫn còn hạn chế, dẫn đến nhiều dịch bệnh phát triển gây hại cho đàn gia súc.
    2.1.1.3. Tình hình phát triển
    – Giá trị sản xuất của chăn nuôi ngày càng tăng, tỉ trọng trong cơ cấu giá trị sản
    xuất nông nghiệp ngày càng lớn, cho thấy vai trò và vị thế của ngành chăn nuôi
    đã được khẳng định. Năm 2015, giá trị của ngành đạt 154 015 tỉ đồng (theo giá
    so sánh năm 2010), chiếm 26,9% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp. Sự phát
    12
    triển của chăn nuôi ngày càng vững chắc, tiến lên sản xuất hàng hóa, năng suất
    và hiệu quả chăn nuôi cao.
    Biểu đồ giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp
    nước ta
    (Nguồn: Tổng cục Thống kê)
    – Trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành chăn nuôi thì chăn nuôi gia súc chiếm
    tỉ trọng lớn nhất (khoảng 70%), tỉ trọng của gia cầm và các sản phẩm không qua
    giết thịt còn thấp. Tuy nhiên trong những năm gần đây, cơ cấu đã có sự thay đổi
    theo xu hướng tăng tỉ trọng sản phẩm không qua giết thịt.
    13
    Biểu đồ một số sản phẩm chăn nuôi nước ta giai đoạn 1990 – 2019
    (Nguồn: Tổng cục thống kê)
    – Lợn và gia cầm là hai nguồn cung cấp thịt chủ yếu. Đàn lợn đạt 27.7 triệu
    con (năm 2015), cung cấp trên ¾ sản lượng thịt các loại; tuy nhiên năm 2019 sản
    lượng có sụt giảm do dịch bệnh (tả heo châu Phi). Chăn nuôi gia cầm tăng mạnh
    với 481.1 triệu con (năm 2019).
    – Chăn nuôi gia súc ăn cỏ chủ yếu dựa vào các đồng cỏ tự nhiên: Đàn trâu
    ổn định ở mức 2.9 triệu con vào giai đoạn 1990 – 2010, đến năm 2019 giảm
    xuống 2.3 triệu con; trong khi đàn bò từ chỗ chỉ bằng 2/3 đàn trâu (đầu thập niên
    80 của thế kỉ XX) đến năm 2019 đã đạt 6060 nghìn con và có xu hướng tăng
    mạnh. Chăn nuôi bò sữa phát triển khá mạnh. Chăn nuôi dê cừu cũng tăng mạnh
    trong những năm gần đây

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Nâng cao hiệu quả ôn thi THQP QG môn Địa lí trong thời gian dịch bệnh diễn biến phức tạp

    SKKN Nâng cao hiệu quả ôn thi THQP QG môn Địa lí trong thời gian dịch bệnh diễn biến phức tạp

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Địa lý là một môn học đặc thù, học Địa lí có thể mang lại cho người học những
    biểu tượng, những sự vật, hiện tượng mà chúng ta không dễ gì thấy được ở ngoài thực tế;
    học Địa lí cũng giúp chúng ta bổ sung thêm nhiều kiến thức để có thể giải thích được
    những sự vật hiện tượng đang diễn ra xung quanh chúng ta … Như vậy có thể thấy học
    Địa lí quả là thú vị. Tuy nhiên, trong xu thế hiện nay, không phải học sinh nào cũng yêu
    thích, có hứng thú học tập bô môn. Cũng có nhiều nguyên nhân một là do chủ quan, hai
    là cũng do nhiều yếu tố khách quan Trong quá trình ôn luyện học sinh ít chú tâm trong
    việc ôn luyện. Để học sinh trở nên yêu thích môn học tích cực trong việc ôn tập nhất là
    ôn thi THPT người giáo viên cần phải đổi mới phương pháp dạy học, khơi dậy sự say mê,
    hứng thú và tích cực trong việc ôn thi THPT từ đó mới đạt kết quả cao trong kỳ thi.
    Đổi mới phương pháp giảng dạy cũng chính là đổi mới cách dạy và cách tổ chức một
    giờ học của người thầy, người thầy cần phải đổi mới cách truyền đạt kiến thức cho học
    sinh dễ hiểu nhất có thể, để học sinh dễ tiếp thu kiến thức. Hiện nay, với sự phát triển của
    công nghệ thông tin như vũ bão, nhu cầu học sinh ngày càng khác so với trước, phương
    pháp dạy học mới hiện nay phải lấy học sinh làm trung tâm…. Vì vậy, người giáo viên
    phải tự đổi mới chính bản thân của mình để đạt được mục tiêu quan trọng mà toàn ngành
    đang hướng tới đó là đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho tương lai. Để đạt được
    hiệu quả tối ưu trong hoạt động dạy và học, người giáo viên luôn trăn trở, tìm tòi cho
    mình một phương pháp tối ưu nhất để giúp học sinh hứng thú, tích cực trong việc ôn
    luyện.
    Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến phức tạp, nhiều thảm cảnh
    đáng buồn đang diễn ra tại quốc gia láng giềng ở Nam Á là Ấn Độ không khỏi khiến
    nhân loại chúng ta cảm thấy đau xót. Các nước cạnh có chung đường biên giới với Việt
    Nam như Campuchia và Lào cũng có số ca nhiễm và tử vong tăng cao từng ngày từng
    giờ. Ở Việt Nam chúng ta vào thời điểm này dịch bệnh cũng đang diễn biến phức tạp,
    nhiều tỉnh thành đã cho học sinh tạm dừng việc đến trường cho đến khi có thông báo trở
    lại. Tuy nhiên với tinh thần của Bộ giáo dục là tạm dừng đến trường nhưng không dừng
    việc học. Việc giảng dạy trực tuyến cũng đã được tiến hành từ năm trước giúp cho học
    sinh ở nhà nhưng vẫn được cung cấp kiến thức và ôn tập bài dưới sự hướng dẫn của giáo
    viên. Đối với các em học sinh lớp 12 hiện nay trước ngưỡng cửa của kì thi THPT Quốc
    gia và xét tuyển vào các trường Đại học, việc hệ thống và củng cố kiến thức là việc vô
    cùng quan trọng. Đây là nỗi lo của các em, phụ huynh và các thầy cô giáo.
    4
    Trịnh Thùy Dương
    Trước thực trạng như vậy, tác giả đã xây dựng cho mình một hướng đi mới. Để tạo
    buổi ôn tập hiệu quả, học sinh tích cực tham gia ôn thi, tôi đã lựa chọn giải pháp sử dụng
    trò chơi trong ôn thi tốt nghiệp THPT môn Địa lý 12 theo chuyên đề để giúp cho học sinh
    thêm yêu thích học tập bộ môn, giúp giáo viên cảm thấy nhẹ nhàng hơn mỗi khi ôn thi
    cho các em. Trong quá trình kiểm tra đánh giá tôi có tổ chức các bài thi thử trực tuyến
    thông qua ứng dụng MyAloha. Trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp trong tình
    hình hiện nay việc học tập và kiểm tra thông qua trực tuyến online là một việc làm cấp
    thiết, đảm bảo nhu cầu học tập của học sinh và sự mong mỏi của phụ huynh. Bản thân
    môn Địa lí vốn là môn học thuộc lĩnh vực xã hội, xu hướng hiện nay nhiều học sinh lựa
    chọn môn thi này khá nhiều. Tuy nhiên, môn học này có khối lượng kiến thức rất lớn,
    việc ôn luyện cho học sinh đơn thuần bằng các bài thi trên giấy ở lớp chắc chắn không
    thể giúp học sinh ôn luyện được nhiều kiến thức, giáo viên cũng không có nhiều thời gian
    cho học sinh luyện các đề khác nhau, cũng như không có nhiều thời gian giải chi tiết từng
    các đề thi cho học sinh. Để giúp học sinh ôn luyện được nhiều kiến thức, tiếp cận nhiều
    dạng câu hỏi khác nhau, củng cố kiến thức tốt hơn và nâng cao trình độ của mình thì việc
    cho học sinh ôn tập thông qua các trò chơi theo từng chuyên đề và làm các bài thi thử các
    trực tuyến do giáo viên biên soạn là một hướng đi mới, mang lại hiệu quả đáng kể trong
    quá trình ôn luyện cho học sinh.
    Việc ôn tập thông qua các trò chơi theo từng chuyên đề Địa lí và hình thức thi trắc
    nghiệm trực tuyến mang lại nhiều lợi ích cho học sinh trong quá trình ôn luyện để bước
    vào kỳ thi quan trọng, thời gian thi thử trực tuyến học sinh có thể chủ động được và thi
    nhiều lần, giúp học sinh hiểu sâu hơn kiến thức, củng cố kiến thức cũ kịp thời thay đổi
    phương pháp học tập của bản thân từ đó giúp bản thân tự tin hơn khi bước vào kì thi
    chính thức. Chính vì vậy, bản thân tôi mạnh dạn áp dụng giải pháp đổi mới quá trình ôn
    tập và kiểm tra đánh giá thông qua các bài thi thử trực tuyến và tổng hợp là hình thành
    nên sáng kiến “ Triển khai các giải pháp nâng cao hiệu quả ôn thi THPT Quốc gia
    môn Địa lí 12 trong thời gian dịch bệnh diễn biến phức tạp”. Tôi luôn mong muốn
    sáng kiến của mình sẽ góp một phần nhỏ bé vào việc ôn tập củng cố kiến thức và kiểm tra
    đánh giá kiến thức giúp các em học sinh vững vàng trong kì thi THPT Quốc gia 2021 sắp
    tới và đạt được kết quả cao như mong đợi.
    1. Mục tiêu của việc triển khai các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả thi THPT
    Quốc gia trong thời gian dịch bệnh diễn biến phức tạp
    5
    Trịnh Thùy Dương
    – Trong bối cảnh dịch bệnh như hiện nay và những yêu cầu của việc ôn tập và kiểm
    tra đánh giá của kì thi THPT Quốc gia hiện nay, tôi thấy việc ôn thi học sinh lớp 12 bằng
    tổ chức các trò chơi theo chuyên để bài học và làm bài thi thử trực tuyến mang lại hiệu
    quả đáng kể, giúp giáo viên đánh giá thực lực học sinh và điều chỉnh phương pháp giảng
    dạy phù hợp.
    – Thứ nhất, với kinh nghiệm của bản thân và nắm bắt được tình hình học tập ở
    trường nơi tôi đang công tác giảng dạy, tôi thấy việc ôn thi học sinh lớp 12 vào thời điểm
    “nước rút” rất áp lực, thời tiết thì nắng nóng, học sinh phải tiếp thu nhiều kiến thức thức
    môn học khác nhau. Vì vậy, bản thân tôi thấy việc sử dụng trò chơi trong ôn thi giúp
    giảm sự căng thẳng trong quá trình ôn thi của học sinh, tạo sự thích thú trong ôn thi. Việc
    sử dụng trò chơi ôn tập theo chuyên đề sẽ giúp học sinh tự hệ thống kiến thức cho mình,
    giúp các em củng cố kiến thức cũ và học thêm được những kiến thức mới, đồng thời giúp
    các em phát huy một số kỹ năng của bản thân như kỹ năng quan sát, phân tích, làm việc
    nhóm, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng hợp tác nhóm. Việc ôn thi theo giải pháp này
    cũng giúp học sinh hứng thú hơn trong quá trình ôn luyện, học sinh sẽ chủ động về thời
    gian đồng thời đo lường được kiến thức của mình từ đó điều chỉnh và có phương pháp ôn
    tập tốt hơn cho chính bản thân của mình tại nhà, tự tin bước vào kỳ thi chính thức.
    – Thứ hai, việc thi thử trực tuyến sẽ giúp học sinh 12 củng cố kiến thức cũ, học
    nhiều kiến thức mới, tiếp cận nhiều dạng câu hỏi khác nhau. Việc ôn thi này cũng giúp
    học sinh hứng thú hơn trong quá trình ôn luyện, học sinh sẽ chủ động về thời gian đồng
    thời đo lường được kiến thức của mình để điều chỉnh và có phương pháp ôn tập tốt hơn,
    tự tin bước vào kỳ thi chính thức.
    2. Phạm vi nghiên cứu
    Về nội dung, giải pháp nghiên cứu mức độ hiệu quả của việc sử dụng trò chơi trong
    việc ôn thi tốt nghiệp theo chuyên đề. Giải pháp trò chơi sẽ ôn luyện khi học sinh đã hoàn
    thành chương trình.
    Về nội dung, giải pháp nghiên cứu mức độ hiệu quả của việc thi thử trực tuyến. Việc
    cho học sinh thi thử chỉ tiến hành khi học sinh đã kết thúc chương trình lớp 12 và trong
    thời gian ôn luyện. Việc luyện đề này sẽ song song với ôn luyện của giáo viên ở lớp học.
    Về thời gian, giải pháp được tiến hành khi học sinh kết thúc chương trình 12. Năm
    học 2020 – 2021, giải pháp đã được thực nghiệm ở Trường THPT Chuyên Lê Hồng
    Phong. Bản thân tôi bắt đầu cho học sinh thi thử trực tuyến từ tháng 4 năm 2020 và dự
    kiến kết thúc vào thời điểm 23/6/2021.
    3. Nhiệm vụ nghiên cứu
    6
    Trịnh Thùy Dương
    – Nhiệm vụ thứ nhất của giáo viên trong giải pháp này thiết kế các trò chơi theo
    chuyên đề sao cho hấp dẫn, phù hợp với đối tượng học sinh và sử dụng trò chơi để ôn thi
    cho học sinh.
    Trong khuôn khổ sáng kiến tác giả xin giới thiệu trò chơi liên quan đến 2 chuyên
    đề, chuyên đề địa lý vùng kinh tế và chuyên đề khai thác Atlat Địa lý Việt Nam.
    – Nhiệm vụ thứ hai là biên soạn các bộ đề theo đề minh họa của Bộ năm 2021, có các
    mức độ và đúng cấu trúc.
    Sau khi đã biên soạn xong các bộ đề giáo viên sẽ tiến hành đưa các đề của mình lên
    trang để học sinh làm bài thi. Tôi đã tạo một trang Fanpage trên Facebook vào đưa đường
    link bài thi cho học sinh, khi kết thúc thời gian thi nhiệm vụ của giáo viên đưa ra đáp án
    và lời giải để giúp học sinh hiểu rõ, giải đáp một số câu hỏi mà học sinh thắc mắc.
    4. Đối tượng và phương tiện nghiên cứu
    Trong giải pháp này đối tượng mà tôi nghiên cứu là học sinh lớp 12 ôn thi đại học
    môn Địa lí mà trường tôi hay gọi là các lớp ghép năm học 2020-2021, tôi áp dụng giải
    pháp này mục đích để so sánh, đối chiếu kết quả điểm thi của các em với học sinh ở các
    khóa trước. Từ đó định hướng và có giải pháp mới hơn để nâng cao kết quả điểm thi của
    các em học sinh ở các thế hệ sau.
    Phương tiện để thiết kế trò chơi theo chuyên đề này là chương trình Powerpoint,
    chương trình này sẽ giúp giáo viên dễ dàng thiết kế trò chơi theo ý tưởng của mình.
    Trong việc tham gia ở trường phải có đầy đủ hệ thiết bị phục vụ dạy học như máy chiếu,
    âm thanh, hệ thống bảng tương tác, thông minh…
    Phương tiện để thiết kế bài trắc nghiệm trực tuyến từ phần mềm của trang web My
    Aloha, chương trình này sẽ giúp giáo viên đưa các bộ đề mình đã soạn để học sinh tham
    gia thi trực tuyến.
    Giáo viên sử dụng mục soạn trắc nghiệm để thiết kế các câu hỏi. Khi học sinh tham
    gia thi qua hệ thống đường link mà giáo viên chia sẻ giáo viên sẽ biết được số lượng học
    sinh tham gia thi, điểm thi của học sinh, có thể điểm danh học sinh thông qua việc thi
    trực tuyến.
    5. Phương pháp nghiên cứu
    Để thiết kế các trò chơi theo chuyên đề và biên soạn các bộ đề trắc nghiệm chất
    lượng, giúp học sinh ôn luyện đạt kết quả cao, học sinh hứng thú và tích cực trong quá
    trình ôn luyện tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
    Phương pháp quan sát: Trong quá trình giảng dạy tôi thấy khối lượng kiến thức 12 ở
    chương trình phổ thông rất lớn, việc ôn luyện để đạt chất lượng hiệu quả giáo viên phải
    7
    Trịnh Thùy Dương
    có giải pháp mới, giải pháp này phải giúp học sinh hứng thú trong quá trình ôn luyện. Ở
    các khóa trước nhiều em học sinh ôn luyện thụ động, thờ ơ trong quá trình ôn luyện, các
    em ít quan tâm đến việc ôn thi. Vì thế, để giúp học sinh tham gia tích cực trong việc ôn
    thi bản thân tôi đã quyết định sử dụng trò chơi trong ôn thi để các em thoải mái, giảm đi
    căng thẳng trong quá trình ôn thi và luyện đề thi thử. Vì thế, thứ nhất để giúp học sinh
    tham gia tích cực trong việc ôn thi bản thân tôi đã quyết định sử dụng trò chơi trong ôn
    thi để các em thoải mái, giảm đi căng thẳng trong quá trình ôn thi.Thứ hai việc học sinh
    tham gia thi thử trực tuyến sẽ giúp học sinh tiến bộ, tiếp cận nhiều kiến thức mới, củng cố
    kiến thức cũ, các em luyện được nhiều bộ đề hơn từ đó nâng cao thành tích học tập, chất
    lượng kiến thức và tăng tỉ lệ tốt nghiệp cho học sinh.
    Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình biên soạn đề để đạt chất lượng, hạn chế
    sai sót bản thân tôi đã tham khảo ý kiến của các chuyên gia giảng dạy ở các bậc đại học
    nhất là các thầy, cô đang giảng dạy tại trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, học hỏi nhiều trò
    chơi trên mạng thông tin để thiết kế riêng cho lớp tôi giảng dạy.
    Phương pháp thực nghiệm khoa học: Tôi đã sử dụng giải pháp này áp dụng vào việc
    học sinh 12 thi Đại học. Việc sử dụng trò chơi ôn tập chuyên đề và hình thức ôn thi trực
    tuyến chắc chắn sẽ giúp học sinh nâng cao kiến thức, điểm thi ơ môn học từ đó nâng cao
    chất lượng giảng dạy trong nhà trường.
    B. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi có sáng kiến
    Năm học 2020 – 2021 là năm đầu tiên tôi được phân công giảng dạy học sinh 12 Sử
    là đối tượng học sinh ôn thi Đại học môn Địa lí. Tôi có tìm hiểu các em học sinh ở khóa
    trước từ năm học 2016 – 2017 trở về đây việc học sinh ôn luyện môn Địa lí chưa đạt chất
    lượng cao, nhiều em thờ ơ trong việc ôn luyện và ít chú tâm vào việc luyện đề thi. Vì vậy,
    chất lượng điểm thi của các em học sinh tại trường chưa đạt được nhiều điểm cao như kì
    vọng và chưa có nhiều thủ khoa đại học.
    Việc ôn luyện của đại bộ phận giáo viên trong trường vẫn chưa có nhiều giải pháp
    mới mang tính đột phá. Thiết nghĩ để nâng cao chất lượng điểm thi cho học sinh tại
    trường giáo viên ôn luyện phải có những giải pháp mới giúp học sinh ôn luyện hiệu quả,
    say mê môn học, chủ động hơn trong quá trình luyện đề. Các giờ học trên lớp học sinh
    chủ yếu củng cố dàn ý lý thuyết làm các bài tập điền khuyết, điền lược đồ trống, sau đó
    làm đề luyện theo từng chuyên đề, đề thi giáo viên soạn bám sát đề thi minh họa của Bộ
    Giáo dục đưa ra. Việc làm này diễn ra hàng ngày thường xuyên và liên tục, lặp đi lặp lại
    dễ khiến cho học sinh nhàm chán cảm thấy mệt mỏi, mất hết hứng thú học tập.
    8
    Trịnh Thùy Dương
    Thời gian ôn luyện của học sinh lớp 12 thường rơi vào tháng 4,5 ,6 là những tháng
    cao điểm. Học sinh phải ôn một khối lượng kiến thức lớn, nhiều phân môn khác nhau
    trong bối cảnh thời tiết nóng bức mùa hè nếu cứ dạy theo phương pháp truyền thống sẽ
    khiến học sinh mệ mỏi, giờ học diễn ra năng nề.
    Việc đổi mới việc ôn tập của học sinh theo các dạng chuyên đề và hình thức kiểm tra
    đánh giá của học sinh là vô cùng cần thiết. Để kích thích nhiệt tình của các em trong quá
    trình học tập cũng như tạo không khí lớp học trong những giờ ôn thi không còn căng
    thẳng mệt mỏi như trước nữa, giáo viên cần dày công nghiên cứu các phương pháp mới,
    đổi mới hình thức tổ chức dạy học, hình thức thi kiểm tra đánh giá để sao cho đạt được
    mục tiêu cao nhất là giúp học sinh ôn tập có hiệu quả và đạt kết quả cao cao trong kì thi
    THPT Quốc gia.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1. Khái niệm trò chơi và thi trực tuyến
    Về khái niệm trò chơi trong dạy học vốn là hoạt động quen thuộc của nhiều giáo
    viên. Trò chơi học tập được hiểu đơn giản nhất là các hoạt động gây hứng thú cho học
    sinh bằng các giải pháp thi đua giữa các cá nhân hay các tập thể nhằm đạt được hiệu quả
    về kiến thức hay kĩ năng liên quan đến việc học tập bộ môn. Thông qua trò chơi, ngoài ý
    nghĩa về việc cung cấp kiến thức, trò chơi còn có giá trị to lớn góp phần phát huy sự
    nhanh nhạy, quyết đoán của người chơi, phát huy tính tập thể của nhóm lớp. Trò chơi còn
    có ý nghĩa lớn trong việc hình thành các kĩ năng sống, nhân cách của học sinh thông qua
    biểu hiện đơn giản nhất là tôn trọng người chơi, lắng nghe đáp án và phản biện một cách
    hợp lí.
    Về khái niệm thi trực tuyến thì hiện nay chưa có khái niệm về việc thi trực tuyến,
    tuy nhiên ở các trang mạng và nhiều nhà nghiên cứu về thi trực tuyến đều cho rằng thi
    trực tuyến là một hình thức kiểm tra, đánh giá diễn ra trên mạng internet, mà người tham
    gia thi nhận được kết quả ngay lập tức sau khi kết thúc bài thi.
    Hình thức thi trực tuyến đa phần chỉ áp dụng ở dạng câu hỏi lựa chọn phương án
    đúng nhất, hình thức này chỉ áp dụng ở những bộ môn thi trắc nghiệm.
    2.2. Giá trị của việc tổ chức trò chơi ôn tập chuyên đề địa lí và thi thử trực tuyến
    Trong giải pháp này, trò chơi sẽ giúp học sinh giảm bớt căng thẳng trong quá trình
    ôn thi vì thời điểm này là giai đoạn quan trọng các em có nhiều áp lực, lượng kiến thức
    các em ôn lại rất lớn. Việc ôn thi bằng giải pháp trò chơi sẽ giúp các em giảm sự mệt
    mỏi, nhàm chán tạo nên không khí lớp học náo động, sôi nổi hơn từ đó giúp các em thoải
    mái trong việc ôn thi.
    9
    Trịnh Thùy Dương
    Trò chơi còn giúp các em lĩnh hội kiến thức mới đồng thời cũng cố những kiến
    thức cũ từ đó các em sẽ tự đưa ra chiến lược ôn tập tại nhà một cách hiệu quả hơn.
    Trò chơi hình thành cho các em nhiều kỹ năng có ích cho bản thân như kỹ năng
    quan sát, phân tích…những kỹ năng này rất cần thiết cho các em.
    Thi thử trực tuyến là một hình thức thi phổ biến trong thời gian gần đây, tuy nhiên
    việc tạo các đề thi thử chủ yếu ở các trang mạng nổi tiếng có nhóm giáo viên, đội ngũ lớn
    mạnh và có trình độ nhất định về việc ứng dụng công nghệ thông tin.
    Cá nhân giáo viên ít ai nghiên cứu về việc ôn luyện cho học sinh thông qua hình thức
    thi trực tuyến chính giáo viên ôn luyện là người biên soạn các dạng đề thi. Bản thân tôi
    thấy hình thức thi trực tuyến đã mang lại nhiều giá trị cho giáo viên và học sinh.
    Đối với giáo viên: Chủ động trong quá trình biên soạn đề, soạn được nhiều dạng đề
    khác nhau hoàn toàn miễn phí cho học sinh. Khi học sinh thi xong sẽ biết được từng
    điểm thi của các em, biết điểm yếu điểm mạnh của các em từ đó đưa ra các phương pháp
    ôn luyện, giảng dạy trên lớp học tốt hơn.
    Đối với học sinh: Học sinh được ôn luyện nhiều dạng câu hỏi khác nhau, mức độ
    khác nhau. Học sinh sẽ tự điều chỉnh phương pháp học tập của mình để cải thiện điểm số
    ở các lần thi sau cũng như kỳ thi chính thức. Các em sẽ củng cố kiến thức của mình thông
    qua các lần thi thử. Tiếp cận với xu hướng và cấu trúc đề thi mới, giúp các em nắm bắt
    kịp thời cấu trúc đề thi, mức độ câu hỏi ở các chuyên đề.
    3. Nội dung giải pháp
    Nội dung sáng kiến của tôi được chia ra 2 nội dung. Một là sử dụng trò chơi ôn thi tốt
    nghiệp THPT theo chuyên đề, hai là tổ chức thi thử trực tuyến để kiểm tra đánh giá kiến
    thức cho học sinh
    3.1. Sử dụng trò chơi ôn thi tốt nghiệp THPT theo chuyên đề
    Năm học trước, tôi đã thiết kế một số trò chơi theo từng chủ đề để ôn thi tốt nghiệp
    THPT môn Địa lý. Thời gian để thiết kế trò chơi cần phải hoàn thành trước khi tiến hành
    ôn tập cho học sinh và cần nhiều thơi gian để hoàn thành các trò chơi.
    Trong khuôn khổ sáng kiến này tôi đã thiết kế các trò chơi theo chuyên đề, mục
    đích giúp các em nắm những kiến thức từng chuyên đề môn học, nhằm giusp các em học
    sinh tự hệ thống kiến thức cho mình cũng như những thiếu sót ở bản thân để các em điều
    chỉnh và có phương pháp ôn tập tại nhà tốt nhất cho bản thân của mình.
    Trong sáng kiến này, bản thân tôi đã thiết kế các trò chơi thành chuyên đề như sau:
    BẢNG TRÒ CHƠI ÔN THI TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2021 THEO CHUYÊN ĐỀ
    10
    Trịnh Thùy Dương

    TÊN CHUYÊN ĐỀNỘI DUNG BÀITỔ CHỨC
    Địa lý tự nhiên2, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 14, 152 lần
    Địa lý dân cư16, 17, 181 lần
    Địa lý ngành kinh tế20, 22, 24, 26, 27, 28, 30, 312 lần
    Địa lý vùng kinh tế32, 33, 35, 36, 37, 39, 41, 422 lần
    Kỹ năng khai thác AtlatSử dụng Atlat Địa lý Việt Nam1 lần
    Kỹ năng khai thác bảng số liệu, biểu đồKhai thác bảng số liệu, biểu đồ1 lần

    Dưới đây là hình ảnh trò chơi do bản thân tôi thiết kế ở 2 chuyên đề Địa lý vùng kinh
    tế và chuyên đề kỹ năng khai thác Atlat, giúp học sinh ôn tập tích cực, hứng thú trong
    việc ôn luyện và đạt hiệu quả cao trong việc thi tốt nghiệp THPT năm 2020.
    Chuyên đề : Địa lý vùng kinh tế
    Đối với chuyên đề vùng kinh tế trong chương trình Địa lý 12, bản thân tôi thiết kế
    trò chơi thành 4 vòng thi. Giáo viên phải thiết kế trò chơi sao cho cung cấp những kiến
    thức cần thiết để phục vụ cho việc thi tốt nghiệp, cần phải trọng tâm của nội dung bài
    học, đảm bảo kiến thức, kỹ năng cho học sinh. Cụ thể chuyên đề này tôi thiết kế trò chơi
    cho các em ôn tập như sau:

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số biện pháp rèn luyện năng lực tự học môn Lịch sử cho học sinh THPT trong bối cảnh dịch bệnh Covid – 19

    SKKN Một số biện pháp rèn luyện năng lực tự học môn Lịch sử cho học sinh THPT trong bối cảnh dịch bệnh Covid – 19

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Hoạt động học tập là một khâu của quá trình dạy học. Trong học tập thì lấy
    tự học làm cốt lõi. Tự học là sự nỗ lực của mỗi cá nhân nhằm đạt đến một mục
    đích nào đó trên con đường chiếm lĩnh kho tàng tri thức của nhân loại. Sự nỗ lực
    đó của con người bao gồm cả tư duy, trí tuệ, động cơ tâm lí, thái độ tình cảm. Hay
    nói cụ thể hơn, tự học là cách học với sự tự giác, tính tích cực và độc lập cao của
    từng cá nhân. Và theo đó, kết quả tự học cao hay thấp phụ thuộc vào năng lực tự
    học của mỗi người. Có thể thấy rằng, tự học là một vấn đề quan trọng, là nhân tố
    nội lực quyết định chất lượng học tập, còn hoạt động dạy chỉ là ngoại lực có tác
    dụng định hướng, kích thích, điều khiển và chỉ đạo trực tiếp hoặc gián tiếp quá
    trình học.
    Xã hội ngày càng phát triển thì việc hình thành “xã hội học tập” và việc phát
    triển một nền “giáo dục suốt đời” càng có ý nghĩa. Việc học tập suốt đời giúp con
    người luôn cập nhật những kiến thức, những hiểu biết mới có ý nghĩa về mặt xã
    hội, chính trị, văn hóa, góp phần tích cực trong việc xây dựng xã hội bền vững.
    Trong việc học, tự học là vấn đề cốt lõi để giải quyết vấn đề học tập suốt đời.
    Nhưng vấn đề đặt ra là tự học như thế nào? Hình thành năng lực tự học cho học
    sinh trung học phổ thông (THPT) ra sao đối với từng môn học nói chung và môn
    Lịch sử nói riêng cũng là vấn đề cần phải bàn luận. Trong xã hội hiện đại, khi khoa
    học công nghệ phát triển mạnh mẽ, sự cùng nổ của cuộc cách mạng 4.0 đã có tác
    động, ảnh hưởng sâu sắc đến giáo dục nói chung và quá trình tự học nói riêng, thì
    việc hướng dẫn, giáo dục và hình thành năng lực tự học cho học sinh là nhiệm vụ
    quan trọng của người thầy. Chỉ có dạy cách học và học cách tự học, tự sáng tạo
    mới đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển xã hội.
    Hiện nay, giáo dục cũng như các ngành kinh tế xã hội khác đang gặp phải
    những khó khăn, thách thức lớn do dịch bệnh Covid – 19 gây ra. Từ trường hợp
    được ghi nhận đầu tiên ngày 23/1/2020, đến nay Việt Nam đã trải qua bốn đợt
    dịch, trong đó, đợt dịch thứ 4 (từ 27/4/2021) đang diễn ra hết sức phức tạp tại
    Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam. Do dịch bệnh, nhiều địa phương đã
    2
    phải thực hiện giãn cách xã hội, do vậy, rất nhiều trường học phải chuyển từ dạy –
    học trực tiếp sang trực tuyến. Việc học sinh tạm dừng đến trường đã đặt ra khó
    khăn và thách thức lớn đối với các nhà trường trong việc duy trì chất lượng giảng
    dạy. Trong bối cảnh đó, việc rèn luyện năng lực tự học cho học sinh nói chung lại
    càng trở nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết.
    Xuất phát từ những đòi hỏi của cuộc sống và xã hội về chất lượng nguồn
    nhân lực, từ mục tiêu, vị trí, vai trò bộ môn và thực tiễn dạy học Lịch sử ở trường
    THPT, cùng với sự trăn trở với nghề, lòng nhiệt tình mong muốn các em học sinh
    luôn hứng thú và say mê bộ môn Lịch sử nhiều hơn, cũng như giúp các em tự học
    tốt môn Lịch sử trong giai đoạn dịch bệnh Covid -19, tác giả đã quyết định tiến
    hành triển khai giải pháp trong dạy học môn Lịch sử như sau:
    Một số biện pháp rèn luyện năng lực tự học môn Lịch sử cho học sinh
    THPT trong bối cảnh dịch bệnh Covid – 19.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến (Hiện trạng dạy – học Lịch
    sử ở trường THPT trước khi tạo ra sáng kiến)
    Trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu, đặc biệt qua thực trạng dạy – học trong tình
    hình dịch bệnh đang diễn biến phức tạp, tác giả nhận thấy việc rèn luyện năng lực
    tự học nói chung và năng lực tự học môn Lịch sử nói riêng cho học sinh trong các
    nhà trường trở nên bức thiết hơn bao giờ hết. Để nắm rõ về thực trạng tự học của
    học sinh, tác giả đã tiến hành điều tra tại một số trường THPT và thu được kết quả
    về tình hình thực tế như sau:
    * Về phía giáo viên
    Việc học tập môn Lịch sử là quá trình nhận thức biến những kiến thức khoa
    học lịch sử tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại, được lựa chọn thành kiến thức
    của mình. Trong giảng dạy môn Lịch sử, hầu hết giáo viên đã cố gắng thay đổi
    phương pháp dạy học, sử dụng nhiều kĩ thuật dạy học hiện đại theo hướng phát
    triển năng lực người học, lấy người học làm trung tâm. Trong quá trình đó, giáo
    viên đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn và định hướng các hoạt động, giúp
    học sinh tự học, tự lĩnh hội kiến thức. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, ở các trường
    3
    THPT hiện nay, giáo viên vẫn chủ yếu giảng giải, minh họa, cho ghi chép vì lo học
    sinh không có tài liệu để ôn thi. Nhiều giáo viên chưa thực sự thay đổi phương
    pháp dạy học phù hợp với từng tiết dạy, chưa tích cực hóa các hoạt động của học
    sinh để tạo cho các em suy nghĩ, sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức. Vì thế,
    nhiều học sinh không nắm được nội dung cốt lõi của bài mà chỉ học một cách máy
    móc, dẫn đến việc khi trả lời câu hỏi chưa tóm tắt được nội dung theo ý hiểu của
    mình, không chắt lọc được kiến thức, phụ thuộc vào sách giáo khoa hay vở ghi.
    Việc này, căn bản đã hạn chế vai trò chủ động, sáng tạo của học sinh. Trong quá
    trình thực hiện bài dạy, nhiều giáo viên tiến hành hoạt động khởi động chưa hiệu
    quả, chưa nêu được vấn đề cần nhận thức của bài học, điều này làm giảm sự tập
    trung chú ý của học sinh đối với bài học ngay từ hoạt động đầu tiên. Khi kết thúc
    bài học, nhiều giáo viên chưa dành thời gian thích hợp để hướng dẫn học sinh tự
    học ở nhà một cách chu đáo, vì thế, hiệu quả tự học của học sinh chưa cao.
    Khi dịch Covid – 19 xuất hiện, nhiều trường học nằm trong vũng giãn cách
    xã hội phải chuyển sang hình thức học trực tuyến, cả giáo viên và học sinh đều bỡ
    ngỡ và gặp rất nhiều khó khăn. Hầu hết, giáo viên đều đã cập nhật và sử dụng các
    phần mềm dạy học trực tuyến như zoom, out meeting, olm.vn, shub – classroom…
    Tuy nhiên, do hạn chế tiếp xúc trực tiếp, hạn chế trong việc sử dụng các phương
    pháp và kĩ thuật dạy học, nhiều giáo viên vẫn lúng túng trong việc hướng dẫn, tổ
    chức cho học sinh hình thành kiến thức mới. Tình hình đó cho thấy, nếu giáo viên
    không có giải pháp trong việc rèn năng lực tự học cho học sinh thì không thể hoàn
    thành mục tiêu của môn học.
    * Về phía học sinh
    Hiện nay học sinh chán học sử, tỏ thái độ thờ ơ, đối phó với bộ môn là thực
    trạng phổ biến. Qua điều tra thực tế các trường THPT trên địa bàn huyện về thực
    trạng học môn Lịch sử của học sinh từ khi dịch Covid – 19 xuất hiện, tác giả thu
    được một số một số kết quả như sau:
    – Đại bộ phận học sinh học một cách thụ động, chủ yếu dựa vào tài liệu giáo
    viên cho ghi chép để học thuộc, dẫn đến tình trạng học sinh học thuộc được kiến
    4
    thức nhưng không tường minh, vì vậy không biết kết nối các kiến thức cũ để có
    kiến thức mới.
    – Học sinh học chủ yếu chỉ để đối phó với thi cử, kiểm tra nên ý thức học để
    tự giải quyết vấn đề chưa trở thành động lực trong học tập, chưa chủ động làm
    phong phú thêm kiến thức cho bản thân.
    – Việc học trên lớp còn mang tính chất một chiều, nghĩa là chủ yếu giáo viên
    truyền thụ kiến thức (đặc biệt đối với khối lớp 12 – do yêu cầu thi cử), học sinh rất
    ít khi trình bày ý kiến của mình, vì cho rằng kiến thức của mình yếu kém, không
    đủ tự tin để trình bày.
    – Do quan niệm môn chính, môn phụ, các em thường tập trung vào các môn
    tự nhiên hay các tổ hợp có nhiều cơ hội việc làm, nên không chú trọng đến môn
    Lịch sử, nhiều học sinh lười học, chưa có niềm say mê, chưa ham thích và chưa có
    ý thức tự học. Học sinh đến lớp hầu như không chuẩn bị bài, trên lớp ít chú ý, khi
    có câu hỏi thảo luận hoặc xuất hiện các tình huống có vấn đề, nhiều học sinh
    không tham gia động não nên việc học không đạt hiệu quả cao.
    – Khi dịch Covid – 19 xuất hiện, nhiều trường phải tạm dừng đến trường và
    chuyển sang hình thức dạy – học trực tuyến. Nhiều học sinh chưa chuẩn bị được
    các điều kiện về công nghệ thông tin để học. Trong quá trình học, do đường truyền
    mạng kém, cả giáo viên và học sinh thường bị out ra khỏi lớp, điều này làm cho
    việc học bị gián đoạn. Giáo viên cũng khó có thể sát xao với từng học sinh, khó
    quản lí được việc học trước màn hình máy tính hoặc điện thoại của học sinh. Thêm
    vào đó, tình trạng học sinh học online một cách đối phó diễn ra khá phổ biến, nhiều
    học sinh đăng nhập vào lớp nhưng chưa có ý thức học nghiêm túc, còn làm việc
    riêng, chưa tập trung, chú ý vào bài giảng. Tất cả những yếu tố đó ít nhiều cũng
    ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học.
    Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả nhận thấy rằng, hơn bao giờ hết, trong
    bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, việc rèn luyện năng lực tự học Lịch sử cho
    học sinh là một việc làm cần thiết và là một trong những nhiệm vụ tối quan trọng
    của người thầy để đảm bảo duy trì chất lượng dạy và học Lịch sử. Rèn luyện năng
    lực tự học Lịch sử cho học sinh có vị trí quan trọng trong việc đào tạo người lao
    5
    động có năng lực thực hành, tự chủ, năng động, sáng tạo, giúp học sinh đào sâu,
    củng cố , mở rộng kiến thức khi phải học trực tuyến. Đó cũng là biện pháp thiết
    thực góp phần nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử trong tình hình dịch bệnh, tiếp
    tục thực hiện mục tiêu đào tạo và phát triển toàn diện con người.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến (Biện pháp rèn luyện năng lực
    tự học Lịch sử cho học sinh)
    Rèn luyện năng lực tự học cho học sinh bao gồm những nội dung sau:
    – Trang bị cho học sinh những kiến thức về phương pháp học tập bộ môn.
    Đặc trưng của kiến thức lịch sử là tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể, hệ
    thống.Vì vậy, con đường hình thành kiến thức lịch sử cho học sinh phải đi từ
    nghiên cứu sự kiện, tạo biểu tượng để hình thành khái niệm, rút ra qui luật và bài
    học lịch sử. Giáo viên cần căn cứ vào đặc trưng này để hình thành và rèn luyện cho
    học sinh phương pháp học tập bộ môn, trong đó có phương pháp tự học.
    – Hình thành và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng tự học ở trên lớp (trong
    trường hợp học trực tiếp tại trường), ở nhà (trong cả trường hợp học trực tiếp và
    trực tuyến), và các hoạt động ngoại khóa (nếu có điều kiện tổ chức).
    – Năng lực tự học lịch sử còn bao gồm cả yếu tố thái độ, đạo đức như ý chí,
    lòng quyết tâm, tính kiên trì, tinh thần vượt khó trong học tập.
    Các nội dung trên có quan hệ mật thiết, đan xen vào nhau. Thông qua rèn
    luyện các kĩ năng tự học, giáo viên sẽ trang bị cho học sinh kiến thức và phương
    pháp học tập bộ môn. Nếu giáo viên có kiến thức lịch sử uyên thâm, phương pháp
    giảng dạy hay nhưng học sinh không chịu đầu tư thời gian tự học, không nỗ lực,
    không tích cực, tự giác thì kết quả học tập sẽ không cao.
    Để rèn luyện năng lực tự học môn Lịch sử cho học sinh, giáo viên có thể sử
    dụng các biện pháp như sau:
    2.1. Trường hợp học trực tiếp trên lớp
    Trong trường hợp tình hình dịch bệnh ổn định, học sinh vẫn được đến
    trường, việc rèn luyện năng lực tự học môn Lịch sử cho học sinh diễn ra ngay khi
    ở trên lớp, ở nhà và khi tham gia các hoạt động ngoại khóa. Khi hoạt động dạy –
    6
    học diễn ra bình thường trên lớp, giáo viên có thể rèn luyện năng lực tự học cho
    học sinh theo các biện pháp như sau:
    * Thứ nhất, rèn luyện cho học sinh biết tự điều chỉnh khi nghe giảng để
    nắm vững các kiến thức cơ bản cần hình thành.
    Nội dung của mỗi bài học là rất nhiều, trong vòng một tiết học, học sinh
    không thể ghi chép hết tất cả những nội dung giáo viên truyền đạt, mà cần phải biết
    chắt lọc những nội dung chủ yếu, cốt lõi nhất. Để giúp học sinh làm được điều này
    giáo viên cần:
    – Giao nhiệm vụ học tập cho học sinh một cách cụ thể, rõ ràng và định
    hướng phương pháp, cách thức tổ chức thực hiện giúp học sinh hình dung các công
    việc cần phải thực hiện để giải quyết được nhiệm vụ được giao. Điều này thể hiện
    ở việc xây dựng tình huống học tập trong hoạt động khởi động, nêu vấn đề trước
    mỗi nội dung bài học, gợi ý, định hướng cho học sinh về cách thức thực hiện
    nhiệm vụ, …
    * Ví dụ: Khi dạy Bài 3: Các nước Đông Bắc Á, lớp 12 – chương trình
    chuẩn, trong hoạt động khởi động, giáo viên cho học sinh quan sát lược đồ khu
    vực Đông Bắc Á, yêu cầu học sinh quan sát và trả lời các câu hỏi:
    + Đây là khu vực nào? Kể tên các nước, vùng lãnh thổ trong khu vực.
    + Tình hình các nước trong khu vực trước chiến tranh thế giới thứ hai có
    điểm gì nổi bật? (Với câu hỏi này học sinh sử dụng kiến thức đã được hình thành
    năm lớp 11 để trả lời).
    + Giáo viên nêu vấn đề: Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình khu vực
    có những chuyển biến như thế nào?
    Qua hoạt động khởi động nêu trên, giáo viên đã giao nhiệm vụ cho học sinh
    một cách rõ ràng, học sinh có thể sử dụng kiến thức địa lí, sự hiểu biết của bản
    thân và kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề đó. Tuy nhiên, trong vấn đề cuối
    cùng: Những biến đổi của khu vực sau chiến tranh thế giới thứ hai thì những hiểu
    biết và kiến thức của học sinh chưa đủ để giải quyết, tình huống đó đã tạo ra một
    rào cản của nhận thức, vì vậy sẽ tạo được hứng thú lớn của học sinh khi vào bài
    mới.
    7
    – Kích thích học sinh tích cực, độc lập suy nghĩ, tự hình thành kiến thức cơ
    bản thông qua hệ thống các câu hỏi gợi mở, hướng dẫn, vận dụng trình bày nêu
    vấn đề, tổ chức cho học sinh làm việc nhóm… để giúp học trình trả lời được vấn đề
    của mục hay toàn bài.
    * Ví dụ: khi học bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa
    tháng Tám (1939 – 1945). Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, lớp 12 –
    chương trình chuẩn, tìm hiểu về hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng
    sản Đông Dương tháng 11/1939 và tháng 5/1941, giáo viên có thể hướng dẫn học
    sinh tìm hiểu bằng cách lập bảng so sánh như sau:

    Nội dungHội nghị 11/1939Hội nghị 5/1941
    Địa điểm
    Người chủ trì
    Nội dung hội nghị:
    – Nhiệm vụ, mục tiêu.
    – Khẩu hiệu.
    – Phương pháp đấu tranh.
    – Hình thức mặt trận.
    – Chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa.
    Ý nghĩa

    Việc hướng dẫn học sinh lập bảng về Hội nghị tháng 11/1939 và Hội nghị
    tháng 5/1941 giúp học sinh dễ dàng hình thành kiến thức mới về chủ trương đấu
    tranh của Đảng Cộng sản Đông Dương trong giai đoạn 1939 – 1945. Không những
    thế, học sinh còn có thể so sánh được những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai
    hội nghị. Qua đó, học sinh hiểu sâu sắc sự kiện và nâng cao được năng lực tự học
    trên lớp của mình.
    – Hướng dẫn học sinh biết kết hợp các công việc trong quá trình nghe giảng:
    vừa nghe giảng, vừa ghi chép, vừa trao đổi thảo luận, theo dõi sách giáo khoa.
    Trong quá trình hình thành kiến thức mới học sinh phải tự ghi chép được những
    8
    nội dung cơ bản của bài theo dàn ý và tự đặt ra những câu hỏi, thắc mắc để giải
    quyết trên lớp hoặc tiếp tục suy nghĩ ở nhà.
    – Kiểm tra hoạt động nhận thức của học sinh để đánh giá mức độ lĩnh hội,
    hình thành kiến thức mới, mức độ nắm vững kiến thức và kết quả hoạt động nhận
    thức độc lập của học sinh. Đây là một trong những khâu rất quan trọng của quá
    trình dạy – học, giúp giáo viên đánh giá chính xác hiệu quả dạy – học trên lớp,
    mức độ nhận thức của học sinh. Có nhiều cách kiểm tra đánh giá, giáo viên có thể
    kiểm tra trong quá trình diễn ra tiết học, hoặc cuối giờ, kiểm tra theo hình thức trò
    chơi, câu hỏi ngắn, câu hỏi trắc nghiệm…
    * Thứ hai, rèn luyện cho học sinh biết cách chọn lọc kiến thức để ghi
    chép theo ý hiểu của bản thân.
    Thực tế hiện nay ở trường phổ thông tồn tại hai xu hướng ghi chép bài: đó là
    ghi sơ lược dàn bài hoặc ghi chép tỉ mỉ, chi tiết, dàn trải… Cả hai cách ghi bài này
    đều gây cho học sinh những khó khăn nhất định trong quá trình học tập trên lớp và
    ở nhà. Ghi bài sơ sài học sinh không hình dung được nội dung cụ thể của bài học,
    đặc biệt sẽ không đáp ứng được yêu cầu của thi cử hiện nay. Còn nếu ghi bài quá
    chi tiết, tỉ mỉ và dàn trải thì việc học lại trở thành đọc – chép, học sinh bị động, và
    đặc biệt là trên lớp không có đủ thời gian. Muốn cho học sinh ghi chép tỉ mỉ, giáo
    viên lại phải nhồi nhét, vội vàng, tiết học lại trở nên căng thẳng với cả thầy và trò.
    Vì lí do trên, giáo viên cần hướng dẫn, rèn luyện cho học sinh biết cách ghi
    chép tóm tắt nội dung bài học sao cho ngắn gọn, đủ ý, chính xác, dễ hiểu, dễ nhớ,
    gợi tư duy. Muốn vậy, học sinh phải biết tổng hợp nhanh, ghi chép nhanh, ghi nhớ
    các vấn đề và biết cách trình bày trong vở ghi. Để làm được điều đó, giáo viên cần
    hướng dẫn cho học sinh biết cách:
    – Ghi dàn ý bài học theo nội dung chính của bài học mà giáo viên trình bày
    trên bảng và đối chiếu với sách giáo khoa để ghi lại những sự kiện chính.
    – Cụ thể hóa nội dung bài học bằng những hình ảnh đơn giản, phù hợp với
    nội dung bài học và kiến thức cần được hình thành.
    – Ghi các số liệu, niên đại quan trọng, niên biểu, đồ thị…
    9
    – Ghi lại các tài liệu lịch sử gốc, những câu nói nổi tiếng của các danh nhân,
    câu trích không có trong sách giáo khoa…
    – Ghi những từ mới, thuật ngữ để hiểu nội dung khái niệm, kiến thức cơ bản
    của bài học.
    – Ghi những phân tích, đánh giá, mở rộng và những hướng dẫn, dặn dò của
    giáo viên.
    * Ví dụ:
    Khi dạy học Mục I – Bài 1: Sự hình thành trật tự thế giới mới sau chiến
    tranh thế giới thứ hai (1945 – 1949) – lớp 12 – chương trình chuẩn , giáo viên
    cần hướng dẫn học sinh nắm được những ý chính, khái quát về Hội nghị Ianta:
    – Hoàn cảnh
    – Thời gian
    – Thành phần tham gia
    – Những quyết định quan trọng của hội nghị
    – Tác động…
    Trên cơ sở dàn ý bai học đó, học sinh ghi chép những nội dung cốt lõi nhất
    vào vở của mình. Trong quá trình ghi chép, học sinh có thể dùng những loại bút
    khác màu mực hoặc bút lông để đánh dấu những nội dung quan trọng cần được lưu
    ý.
    Như vậy, để rèn luyện năng lực tự học trên lớp cho học sinh, giáo viên cần
    rèn luyện cho học sinh biết cách ghi chép nội dung bài học theo ý hiểu, hướng dẫn
    học sinh biết cách xây dựng đề cương, tóm tắt sách giáo khoa, đoạn trích khi đọc
    sách giáo khoa lịch sử. Đồng thời, trong quá trình dạy học trên lớp, giáo viên cần
    trình bày bảng khoa học theo hệ thống, logic, giúp học sinh dễ nhớ, dễ hiểu. Điều
    này đòi hỏi giáo viên cần xác định đúng những kiến thức cơ bản cần ghi lên bảng,
    nhấn mạnh những kiến thức cần phân tích, mở rộng trong khi giảng bài.
    * Thứ ba, rèn luyện học sinh biết kết hợp sử dụng sách giáo khoa với vốn
    sống thực tế cùng với những kiến thức đã học để tự trả lời câu hỏi, bài tập của
    giáo viên.
    10
    Việc tự trả lời các câu hỏi của giáo viên đưa ra trong các giờ học sẽ giúp học
    sinh nhớ nhanh, nhớ lâu, hiểu sâu sắc kiến thức và phát triển tư duy độc lập cho
    các em. Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, giáo viên có thể sử dụng nhiều
    câu hỏi (tùy đối tượng học sinh) để học sinh động não, suy nghĩ trả lời như câu hỏi,
    vấn đề nhận thức được đặt ra ở đầu giờ, đầu mỗi mục, hệ thống các câu hỏi gợi mở
    trong suốt quá trình tiến hàn bài học mang nội dung tìm kiếm từng phần hay phân
    tích, đánh giá, khái quát sự kiện, hiện tượng lịch sử, câu hỏi yêu cầu học sinh vận

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Xây dựng các công cụ kiểm tra đánh giá phẩm chất và năng lực học sinh cho một số chủ đề Lịch sử thuộc chương trình giáo dục THPT 2006 và 2018

    SKKN Xây dựng các công cụ kiểm tra đánh giá phẩm chất và năng lực học sinh cho một số chủ đề Lịch sử thuộc chương trình giáo dục THPT 2006 và 2018

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo của Việt Nam hiện nay phát triển trong bối
    cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đạt được những tiến bộ phi thường
    và thành tựu kì diệu chưa từng thấy trên tất cả các lĩnh vực. Cách mạng khoa
    học – công nghệ đã đưa các dân tộc ngày càng tiến lại gần nhau trong xu thế toàn
    cầu hóa. Toàn cầu hóa đặt ra cho các quốc gia những đòi hỏi phải tiến hành cải
    cách kinh tế, xã hội, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để thích nghi và
    phát triển. Vì vậy ở nhiều quốc gia, Giáo dục được đặc biệt coi trọng vì sản
    phẩm của Giáo dục là con người mà con người là chìa khóa, là nhân tố quyết
    định hàng đầu sự phát triển đất nước.
    Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần tập trung đào tạo thế hệ công dân toàn
    cầu vừa giỏi về chuyên môn, có khả năng thích ứng cao vừa tràn đầy khát vọng
    phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đó chính là nguồn lực nội sinh, là
    năng lượng tiềm tàng tạo thành sức mạnh vĩ đại của dân tộc trong thời kỳ mới.
    Đó cũng là thiên chức, là sứ mệnh to lớn, vinh quang của ngành Giáo dục và
    Đào tạo. Tuy vậy, trong thời gian qua, bên cạnh những cống hiến to lớn, ngành
    Giáo dục nước nhà cũng tồn tại nhiều hạn chế khi việc dạy học, kiểm tra và đánh
    giá còn nặng về truyền tải nội dung, đánh giá kiến thức mà chưa tập trung nhiều
    đến việc phát triển phẩm chất và năng lực của người học.
    Đây thực sự là một thách thức lớn, một rào cản đối với việc hội nhập quốc
    tế của Việt Nam trong hiện tại và tương lai bởi một trong những yêu cầu để có
    thể thích nghi với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 là việc nâng cao nguồn lực
    con người nhằm đáp ứng được các yêu cầu về kiến thức và kỹ năng liên tục thay
    đổi trong môi trường lao động mới. Vì vậy sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo của
    nước ta cũng đứng trước sứ mệnh to lớn là chuẩn bị đội ngũ nhân lực nhằm đáp
    ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Điều đó đồng nghĩa với việc nước ta phải
    chuyển từ một nền Giáo dục nặng về trang bị kiến thức, kỹ năng cho người học
    sang một nền giáo dục giúp phát triển phẩm chất, năng lực, thúc đẩy đổi mới và
    sáng tạo cho người học để thích nghi với dòng chảy của các mô hình học tập
    mới cùng sự phát triển của khoa học công nghệ.
    Mặt khác, do đặc điểm tâm sinh lý cùng thể chất, khả năng, sở trường và
    nhu cầu học tập, định hướng nghề nghiệp khác nhau giữa các học sinh nên việc
    dạy học, kiểm tra, đánh giá cần đảm bảo sự phân hóa và có lộ trình phù hợp đối
    với từng đối tượng người học. Trong khi đó, việc dạy học và cách thức kiểm tra
    đánh giá trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành chưa thực sự đáp ứng
    được yêu cầu này. Đây cũng là một thực tế đặt ra cấp thiết cần có thay đổi một
    cách phù hợp.
    Nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học,
    kiểm tra đánh giá, Đảng và Nhà nước ta đã và đang ra sức huy động mọi nguồn
    lực để thực hiện. Tuy nhiên để sự nghiệp đổi mới Giáo dục thắng lợi thì yếu tố
    then chốt là đội ngũ nhà giáo bởi họ là kiến trúc sư của công trình Giáo dục, nếu
    chương trình thay đổi mà người dạy không thay đổi thì cũng không thể thành
    2
    công.
    Một trong những môn học thuộc chương trình giáo dục phổ thông hiện
    hành và chương trình giáo dục phổ thông 2018 là Lịch sử. Chương trình môn
    Lịch sử góp phần giáo dục tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, các giá trị truyền
    thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại, các phẩm chất, năng lực
    của người công dân Việt Nam, công dân toàn cầu phù hợp với xu thế phát triển
    của thời đại; giúp học sinh tiếp cận và nhận thức rõ vai trò, đặc điểm của khoa
    học lịch sử cũng như sự kết nối giữa sử học với các lĩnh vực khoa học và ngành
    nghề khác, tạo cơ sở để học sinh định hướng nghề nghiệp trong tương lai.
    Trường THPT Giao Thủy được thành lập từ năm 1965. Qua hơn nửa thế kỉ
    xây dựng và trưởng thành, THPT Giao Thủy đã trở thành một trong những đơn
    vị dẫn đầu ngành Giáo dục và Đào tạo của tỉnh nhà. Cùng với sự phát triển của
    đất nước, nhà trường cũng được đầu tư nhiều hơn về cơ sở vật chất, chất lượng
    đội ngũ được nâng cao. Tuy nhiên, đứng trước sự thay đổi nhanh chóng của tình
    hình kinh tế, xã hội và những thách thức mới đặt ra cho ngành Giáo dục, tập thể
    cán bộ, giáo viên của nhà trường cần không ngừng tìm tòi, sáng tạo để phát huy
    truyền thống dạy tốt – học tốt của nhà trường.
    Nhóm giáo viên Lịch sử của trường THPT Giao Thủy với ba thành viên có
    thời gian công tác trong ngành Giáo dục từ 10 năm trở nên, tâm huyết, yêu nghề,
    có năng lực chuyên môn và đã khẳng định được vị trí trong giới chuyên môn của
    tỉnh nhà. Trong thời gian công tác tại trường, nhóm đã đoàn kết, hợp tác chặt
    chẽ để phát triển chuyên môn. Đứng trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới Giáo
    dục, các thành viên trong nhóm đã tích cực, chủ động tự học để nâng cao trình
    độ chuyên môn, tích cực nghiên cứu để tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất
    lượng dạy học bộ môn.
    Xuất phát từ thực tiễn trên, nhóm Lịch sử trường THPT Giao Thủy đã chủ
    động tìm tòi, sáng tạo để xây dựng nên bộ công cụ kiểm tra đánh giá theo định
    hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh. Bộ công cụ được xây dựng
    cho các chủ đề có nội dung tương đồng giữa chương trình giáo dục môn Lịch sử
    lớp 12 hiện hành và chương trình giáo dục môn Lịch sử bậc THPT 2018 nên vừa
    đáp ứng yêu cầu của thực tiễn vừa là bước chuẩn bị có hiệu quả cho tương lai.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    a. Hiện trạng trước khi áp dụng giải pháp mới
    Việc kiểm tra đánh giá học sinh thiên về kiến thức và kĩ năng nên các công
    cụ kiểm tra đánh giá chủ yếu là câu hỏi trắc nghiệm và tự luận. Nội dung kiểm
    tra là tái hiện kiến thức đã học. Việc đánh giá học sinh chỉ do giáo viên thực
    hiện, chưa có sự tham gia của các lực lượng khác. Học sinh được đánh giá thông
    qua điểm số. Trong quá trình đánh giá giáo viên luôn so sánh các học sinh với
    nhau.
    b. Phân tích ưu điểm, nhược điểm:
    Ưu điểm:
    3
    Việc dạy học Lịch sử của nhà trường trong nhiều năm qua đạt chất lượng
    khá cao so với mặt bằng chung của tỉnh. Nhiều học sinh của nhà trường đạt
    thành tích xuất sắc trong các kì thi chọn HSG của tỉnh và thi đỗ vào các trường
    Đại học danh tiếng trong cả nước.
    Nhược điểm:
    – Việc kiểm tra đánh giá học sinh chủ yếu là về nội dung kiến thức và một
    số kĩ năng cơ bản vì vậy học sinh chủ yếu học thuộc kiến thức.
    – Chưa đánh giá được sự sáng tạo của học sinh, chưa khuyến khích học sinh
    phát triển tư duy độc lập theo cách nghĩ riêng.
    – Chưa kết nối có hiệu quả giữa học và hành, nhất là việc vận dụng kiến
    thức lịch sử để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống, vì vậy học sinh
    chưa nhận thức hết được tầm quan trọng của việc học Lịch sử thậm chí chán học
    do phải học thuộc nhiều mà không có kết quả cao.
    – Việc đánh giá học sinh chưa được thực hiện theo một quá trình thường
    xuyên trên lớp, chưa đa dạng về công cụ mà chủ yếu dựa vào các bài kiểm tra
    với những câu hỏi thuộc hai hình thức trắc nghiệm và tự luận. Điểm số là thước
    đo và cơ sở duy nhất để đánh giá và so sánh người học với nhau. Việc đánh giá
    đều do giáo viên thực hiện theo quy định chung, học sinh nếu có tham gia đánh
    giá lẫn nhau và tự đánh giá thì đa số mang tính hình thức và chỉ để tham khảo.
    – Hoạt động kiểm tra đánh giá diễn ra tại lớp học hoặc ở nhà song đều
    mang tính cá nhân là chính, hầu như không có sự tương tác đa chiều giữa các
    học sinh, giữa học sinh với giáo viên và giữa học sinh với cộng đồng xã hội.
    – Sản phẩm để đánh giá là các câu trả lời đóng hoặc mở nhưng đều theo đáp
    án của người dạy.
    – Việc kiểm tra, đánh giá còn gây nhiều áp lực cho người học.
    – Công cụ kiểm tra chưa đa dạng, chưa tạo động lực thúc đẩy học sinh học
    tập.
    – Học sinh chỉ được đánh giá qua điểm số của các bài kiểm tra, chưa đánh
    giá học sinh theo một quá trình, toàn diện và từng nấc thang tiến bộ.
    Kết luận: Việc kiểm tra đánh giá như trên đã diễn ra nhiều năm, nó có tác
    dụng nhất định trong việc thực hiện mục tiêu của quá trình dạy học. Tuy nhiên,
    những hạn chế trên cho thấy việc kiểm tra đánh giá như vậy chưa phù hợp với
    yêu cầu của sự nghiệp đổi mới Giáo dục, chưa tiếp cận được với xu hướng phát
    triển của nền Giáo dục ở các nước tiên tiến, tức là chưa bắt kịp với xu thế của
    thời đại. Trong khi đó, theo lộ trình, từ năm học 2022 – 2023, chương trình Giáo
    dục 2018 đã bắt đầu triển khai thực hiện ở bậc THPT. Thực tế trên cho thấy việc
    thay đổi từ tư duy đến hành động thực tiễn của giáo viên trong quá trình kiểm tra
    đánh giá học sinh không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là một tất yếu. Điều đó
    đồng nghĩa với việc tìm ra giải pháp mới để phát huy ưu điểm, khắc phục hạn
    chế của kiểm tra đánh giá hiện tại là một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn cao. Đây
    4
    cũng là sự chuẩn bị quan trọng, đảm bảo cho sự thành công của chương trình
    Giáo dục 2018.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1. Vấn đề cần giải quyết
    – Xây dựng được hệ thống đa dạng các công cụ kiểm tra đánh giá theo
    hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh, chú trọng việc vận dụng kiến
    thức Lịch sử để giải quyết các vấn đề đặt ra trong thực tiễn và vì sự tiến bộ của
    người học, vì một ngôi trường hạnh phúc.
    – Lựa chọn được những chủ đề vừa là nội dung cơ bản trong chương trình
    lớp 12 hiện hành nhằm giải quyết yêu cầu thực tiễn vừa là nội dung cơ bản của
    chương trình giáo dục phổ thông 2018 để chuẩn bị cho việc dạy học chương
    trình mới.
    2.2. Tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ
    – Các công cụ kiểm tra đánh giá đa dạng về hình thức, phong phú về nội
    dung.
    – Kết hợp việc kiểm tra đánh giá kiến thức với việc vận dụng kiến thức để
    giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống, các nhiệm vụ học tập.
    – Việc kiểm tra đánh giá diễn ra trong suốt quá trình học, vì sự tiến bộ của
    người học.
    – Sản phẩm để đánh giá đa dạng.
    – Khuyến khích sự độc lập, sáng tạo trong tư duy.
    – Phân hóa, phù hợp với đối tượng.
    – Không chú trọng quá vào điểm số, không so sánh học sinh này với học
    sinh khác.
    – Sử dụng có hiệu quả công nghệ thông tin trong kiểm tra đánh giá.
    – Không gây áp lực cho học sinh.
    – Là thước đo chính xác để điều chỉnh quá trình dạy học.
    – Tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình kiểm tra, đánh giá.
    – Các chủ đề được lựa chọn có độ tương đồng về nội dung trong cả chương
    trình giáo dục môn Lịch sử hiện hành và chương trình giáo dục môn Lịch sử
    2018 nên vừa mang tính thời sự vừa mang tính ứng dụng cao trong tương lai.
    – Việc đánh giá được tích hợp vào trong quá trình dạy học, giáo dục, tức là
    chuyển đánh giá từ một hoạt động gần như độc lập với quá trình dạy học, giáo
    dục sang việc tích hợp đánh giá vào quá trình dạy học, giáo dục, xem đánh giá
    như là một phương pháp dạy học hiệu quả.
    – Thực hiện đánh giá đa chiều (GV đánh giá kết hợp với HS tự đánh giá,
    HS đánh giá chéo).
    – Kết hợp đánh giá bằng nhận xét và điểm số, chú trọng nhận xét sự tiến bộ
    về thái độ, hành vi, kết quả thực hiện các nhiệm vụ học tập.
    2.3. Cách thức thực hiện, các bước và điều kiện triển khai của giải pháp
    mới
    2.3.1. Cách thức thực hiện
    5
    – Xác định mục tiêu, nội dung, xây dựng kế hoạch thực hiện giải pháp.
    – Phân tích bối cảnh, căn cứ vào thực tiễn dạy học của bản thân và đồng
    nghiệp ở nơi công tác, các cơ sở giáo dục khác để rút ra hiện trạng chung và tìm
    giải pháp khắc phục hạn chế.
    – Căn cứ vào định hướng phát triển Giáo dục của Đảng và nhà nước, chỉ
    đạo của các cấp, các ngành về Giáo dục.
    – Thu thập, phân tích, xử lý tài liệu, nhất là tài liệu của Bộ Giáo dục và Đào
    tạo, tài liệu của các trường Đại học Sư phạm ban hành.
    – Tham vấn các chuyên gia giáo dục, đồng nghiệp ở nhiều cơ sở Giáo dục
    để hoàn thiện sản phẩm.
    – Đề xuất giải pháp thực hiện.
    – Thực nghiệm sư phạm ở nhiều cơ sở giáo dục khác nhau nhằm khẳng
    định hiệu quả và khả năng triển khai của giải pháp.
    – Đánh giá và rút kinh nghiệm bước đầu quá trình thực hiện giải pháp.
    2.3.2. Các bước triển khai
    2.3.2.1. Nhận thức đúng về kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học
    Theo từ điển Tiếng Việt:
    Kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá nhận xét”.
    Trong giáo dục, “kiểm tra là hoạt động đo lường kết quả học tập/giáo dục
    theo bộ công cụ đã chuẩn bị trước với mục đích đưa ra các kết luận, khuyến nghị
    về một mặt nào đó của quá trình dạy học/giáo dục tại một thời điểm cụ thể để
    điều chỉnh nhằm đạt mục tiêu giáo dục”. (Tài liệu bồi dưỡng GVTHPT cốt cán
    của Bộ Giáo dục và Đào tạo).
    Đánh giá “là nhận định giá trị”.
    Trong giáo dục, “đánh giá được hiểu là cách thức giáo viên thu thập và sử
    dụng thông tin trong lớp học của mình nhằm đưa ra phán xét, nhận định, quyết
    định để điều chỉnh hoạt động dạy và giúp HS học tập tiến bộ”. (Tài liệu bồi
    dưỡng GVTHPT cốt cán của Bộ Giáo dục và Đào tạo).
    Như vậy kiểm tra đánh giá là một hoạt động của quá trình dạy học, trong
    đó giáo viên hoặc chủ thể quản lí giáo dục sử dụng các công cụ nhằm xem xét
    tình hình thực tế, để đo, xác định mức độ đạt được về phẩm chất, năng lực của
    người học trong quá trình dạy và học. Kiểm tra và đánh giá có mối liên hệ mật
    thiết với nhau. Trong mối liên hệ đó kiểm tra là cơ sở, căn cứ để đánh giá. Muốn
    đánh giá chính xác thì khâu kiểm tra giữ vai trò quyết định.
    2.3.2.2. Vai trò của kiểm tra đánh giá trong giáo dục
    Mặc dù với những mục đích khác nhau, nhưng các hoạt động kiểm tra đánh
    giá trong giáo dục đều thực hiện bốn chức năng cơ bản là: định hướng, tạo động
    lực, phân loại và cải tiến dự báo.
    2.3.2.3. Nguyên tắc khi thực hiện kiểm tra đánh giá trong giáo dục
    6
    – Đảm bảo tính giá trị: phải đo lường chính xác mức độ phát triển năng lực
    người học (đo lường các kĩ năng thành phần, chỉ số hành vi theo chuẩn đầu ra).
    – Đảm bảo độ tin cậy: kết quả đánh giá người học ổn định, chính xác,
    không bị phụ thuộc vào người đánh giá, những nhiệm vụ ở các lĩnh vực học tập
    khác nhau. Kết quả đánh giá phải thống nhất khi được lặp đi lặp lại nhiều lần.
    – Đảm bảo tính linh hoạt: thực hiện đa dạng các hình thức, phương pháp
    đánh giá để người học có cơ hội thể hiện tốt nhất năng lực của họ (phụ thuộc
    vào nhịp độ, thời điểm họ đáp ứng các yêu cầu chuẩn đầu ra của năng lực).
    – Đảm bảo tính công bằng: người đánh giá và người được đánh giá đều hiểu
    chuẩn, tiêu chí, hành vi đánh giá như nhau; công cụ đánh giá không có sự thiên
    vị cho giới tính, dân tộc, vùng miền, đối tượng,… cách phân tích, xử lí kết quả
    chuẩn hóa để không bị ảnh hưởng bởi các mối quan hệ cá nhân.
    – Đảm bảo tính hệ thống: kết quả đánh giá dự đoán được sử dụng để xác
    nhận vùng phát triển hiện có của HS, từ đó lập kế hoạch cho những can thiệp sư
    phạm thích hợp; kết quả đánh giá quá trình được sử dụng để điều chỉnh hoạt
    động dạy và học theo hướng chuyển sang vùng phát triển gần của mỗi HS; kết
    quả đánh giá tổng kết được sử dụng để xác nhận mức độ phát triển năng lực của
    HS và lập kế hoạch can thiệp sư phạm cho giai đoạn giáo dục tiếp theo.
    – Đảm bảo tính toàn diện: kết quả đánh giá phải phản ánh đầy đủ sự phát
    triển của các thành tố và chỉ số hành vi của năng lực được đo lường.
    – Đảm bảo tính phát triển: đảm bảo đánh giá được sự tiến bộ so với chính
    bản thân HS về năng lực. Qua đó phát triển khả năng chịu trách nhiệm với việc
    học tập và giám sát sự tiến bộ của bản thân.
    – Đảm bảo đánh giá trong bối cảnh thực tiễn: công cụ đánh giá cần được
    thực hiện trong bối cảnh thực (cá nhân, trường lớp, dân cư, khoa học) nhằm
    phản ảnh đúng năng lực của người học khi thực hành trong môi trường thực tế.
    Để chứng minh người học có phẩm chất và năng lực ở mức độ nào đó, phải tạo
    cơ hội để họ được giải quyết vấn đề trong tình huống, bối cảnh mang tính thực
    tiễn.
    – Đảm bảo phù hợp với đặc thù môn học: mỗi môn học có những yêu cầu
    riêng về năng lực đặc thù cần hình thành cho HS, vì vậy, việc KTĐG phải đảm
    bảo tính đặc thù môn học nhằm định hướng cho GV lựa chọn, sử dụng phương
    pháp, công cụ đánh giá phù hợp với mục tiêu và yêu cầu cần đạt của môn học.
    2.3.2.4. Những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của học sinh trong quá
    trình dạy học môn Lịch sử ở trường THPT.
    Phẩm chất: là những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử của con
    người; cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người.
    Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn
    có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các
    kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý
    7
    chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong
    muốn trong những điều kiện cụ thể.
    Đánh giá kết quả học tập theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS là
    đánh giá theo sản phẩm đầu ra, sản phẩm đó không chỉ là kiến thức, kĩ năng, mà
    chủ yếu là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ cần có để thực hiện
    nhiệm vụ học tập nhằm đạt tới mục tiêu/yêu cầu cần đạt nào đó.
    Trong chương trình giáo dục phổ thông năm 2018, Việt Nam xác định học
    sinh cần đạt các phẩm chất và năng lực sau:
    Về phẩm chất:
    – Yêu nước.
    – Trung thực.
    – Chăm chỉ.
    – Trách nhiệm.
    – Nhân ái.
    Về năng lực:
    – Tự chủ và tự học.
    – Giao tiếp và hợp tác.
    – Giải quyết vấn đề và sáng tạo.
    Thành phần năng lực hình thành trong quá trình dạy học môn Lịch sử:
    – Tìm hiểu Lịch sử:
    + Nhận diện được các loại hình tư liệu lịch sử; hiểu được nội dung, khai
    thác và sử dụng được tư liệu lịch sử trong quá trình học tập.
    + Tái hiện và trình bày được dưới hình thức nói hoặc viết diễn trình của các
    sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử từ đơn giản đến phức tạp; xác định được các
    sự kiện lịch sử trong không gian và thời gian cụ thể.
    – Nhận thức và tư duy lịch sử:
    + Giải thích được nguồn gốc, sự vận động của các sự kiện lịch sử từ đơn
    giản đến phức tạp; chỉ ra được quá trình phát triển của lịch sử theo lịch đại và
    đồng đại; so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa các sự kiện lịch sử, lí giải
    được mối quan hệ nhân quả trong tiến trình lịch sử.
    + Đưa ra được những ý kiến nhận xét, đánh giá của cá nhân về các sự kiện,
    nhân vật, quá trình lịch sử trên cơ sở nhận thức và tư duy lịch sử; hiểu được sự
    tiếp nối và thay đổi của lịch sử; biết suy nghĩ theo những chiều hướng khác nhau
    khi xem xét, đánh giá, hay đi tìm câu trả lời về một sự kiện, nhân vật, quá trình
    lịch sử.
    – Vận dụng: Rút ra được bài học lịch sử và vận dụng được kiến thức lịch sử
    8
    để lí giải những vấn đề của thực tiễn cuộc sống; trên nền tảng đó, có khả năng tự
    tìm hiểu những vấn đề lịch sử, phát triển năng lực sáng tạo, có khả năng tiếp cận
    và xử lí thông tin từ những nguồn khác nhau, có ý thức và năng lực tự học lịch
    sử suốt đời.
    2.3.2.5. Những yêu cầu đối với quá trình kiểm tra đánh giá môn Lịch sử ở
    trường THPT
    Đối với giáo viên:
    – Nhận thức đúng đắn đặc điểm của kiến thức LS và vận dụng chính xác
    các đặc điểm đó trong các hoạt động dạy và học.
    – Xác định đúng đắn mục tiêu của quá trình dạy và học, xác định được
    chuẩn đầu ra trong quá trình dạy học đồng thời tìm ra con đường chung để đạt
    được mục tiêu đó.
    – Chỉ kiểm tra đánh giá những đơn vị kiến thức cơ bản.
    – Việc kiểm tra đánh giá phải nhằm phát triển các phẩm chất, năng lực
    chung và năng lực chuyên biệt cho HS.
    – Việc kiểm tra đánh giá phải đảm bảo tính vừa sức đối với HS.
    – Việc kiểm tra, đánh giá phải đảm bảo tính liên tục, hệ thống và kế thừa.
    – Gắn kiểm tra đánh giá với đời sống của xã hội, xu thế của thời đại.
    – Chủ động xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá. Kế hoạch được xây dựng
    khoa học trên cơ sở nhiệm vụ, mục tiêu, nội dung chương trình của môn học
    Lịch sử và chương trình giáo dục phổ thông tổng thể.
    – Chuẩn bị mọi điều kiện cho việc kiểm tra, đánh giá.
    – Luôn đánh giá, rút kinh nghiệm, sẵn sàng lắng nghe và kịp thời điều chỉnh
    việc kiểm tra đánh giá cho phù hợp với đối tượng, tính chất, yêu cầu về mức độ.
    – Kết nối kiểm tra, đánh giá với quá trình dạy học.
    – Tích cực sử dụng công nghệ thông tin trong quá trình kiểm tra, đánh giá.
    – Xây dựng được bộ công cụ kiểm tra đánh giá phù hợp.
    Đối với HS: Chủ động, tự giác, tích cực, trung thực, trách nhiệm trong quá
    trình kiểm tra đánh giá.
    2.3.2.6. Phân loại kiểm tra đánh giá nhằm phát triển phẩm chất và năng lực
    học sinh.
    – Xét theo quy mô đánh giá sẽ phân ra hai loại: Đánh giá trên diện rộng và
    Đánh giá trong phạm vi hẹp, chủ yếu là dạng Đánh giá trong lớp học. Đánh giá
    trên diện rộng là loại hình đánh giá thường triển khai trên một số lượng lớn HS
    (mẫu đủ lớn) nhằm cung cấp các thông tin về kết quả học tập ở một số lĩnh vực
    để các nhà quản lí có cơ sở ra những quyết định về chính sách giáo dục. Thiết kế
    và phân tích kết quả của kỳ đánh giá này thường do các chuyên gia giáo dục
    9
    đảm nhận. Đánh giá trong phạm vi hẹp (đánh giá trên lớp học) là loại hình đánh
    giá thường xuyên, diễn ra trong quá trình học tập, với phạm vi của một lớp học
    do GV tiến hành bằng nhiều cách thức khác nhau; thường là việc ra những quyết
    định về dạy học, bất chợt xuất hiện trong giờ học, nhằm trợ giúp việc học tập
    của HS. Đánh giá ở đây là chủ quan, không cần nghi thức, đánh giá trực tiếp dựa
    trên cơ sở thực hiện của HS trong những tình huống thực tiễn, ở đó HS chứng
    minh được sự thành thạo của mình. Loại đánh giá này nhằm cung cấp thông tin
    và giúp nâng cao chất lượng dạy học, thúc đẩy sự tiến bộ của mỗi HS.
    – Xét theo quá trình học tập sẽ có 3 loại đánh giá tương ứng với đầu vào,
    quá trình học tập và đầu ra (kết thúc quá trình dạy học). Đánh giá đầu vào, còn
    gọi là Đánh giá chẩn đoán/Đánh giá thăm dò): thường được thực hiện khi bắt
    đầu một giai đoạn giáo dục/học tập, nhằm cung cấp hiện trạng ban đầu về chất
    lượng HS, giúp GV nắm được tình hình để có phương hướng, kế hoạch giáo dục
    phù hợp. Đánh giá quá trình (còn gọi là Đánh giá hình thành, Đánh giá định
    hình): được thực hiện thường xuyên trong suốt quá trình học tập/giáo dục. Mục
    tiêu, nội dung, cách thức… đều giống với dạng đánh giá trong lớp học nêu ở
    trên. Đánh giá kết thúc (còn gọi là Đánh giá tổng kết): thường được tiến hành
    sau một giai đoạn giáo dục/học tập nhằm xác nhận kết quả ở thời điểm cuối của
    giai đoạn đó.
    – Xét theo mục tiêu dạy học sẽ có hai loại: Đánh giá để cải tiến việc học tập
    và Đánh giá kết quả học tập. Loại thứ nhất diễn ra trong suốt quá trình học tập,
    kết quả đánh giá không nhằm mục đích công nhận chứng chỉ, bằng cấp mà nhằm
    thu thập thông tin phản hồi về chất lượng học tập của HS, từ đó cải thiện cách
    dạy và học, giúp HS tiến bộ. Loại thứ hai thường thực hiện vào cuối mỗi giai
    đoạn học tập, nhằm mục đích xếp loại và công nhận chứng chỉ, bằng cấp, tuyển
    dụng.
    Như vậy, dù xuất phát từ tiêu chí phân loại và tên gọi khác nhau, nhưng các
    loại hình đánh giá có quan hệ mật thiết. Đánh giá lớp học, đánh giá trong quá
    trình và đánh giá để cải tiến việc học tập là khá giống nhau. Tương tự, đánh giá
    ban đầu, đánh giá kết thúc, đánh giá ở các kì thi và đánh giá kết quả học tập là
    cùng loại.
    2.3.2.7. Quy trình kiểm tra đánh giá sản phẩm giáo dục theo hướng phát
    triển phẩm chất, năng lực
    Theo tài liệu tập huấn giáo viên THPT cốt cán của Bộ Giáo dục và Đào tạo,
    quy trình kiểm tra đánh giá sản phẩm giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất,
    năng lực gồm:
    Bước 1: Phân tích mục đích đánh giá, mục tiêu học tập sẽ đánh giá: các
    mục tiêu về phẩm chất; năng lực chung; năng lực đặc thù.
    Bước 2: Xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá:
    – Xác định thông tin, bằng chứng về phẩm chất, năng lực.
    10
    – Phương pháp, công cụ để thu thập thông tin, bằng chứng về phẩm chất,
    năng lực…
    – Xác định cách xử lí thông tin, bằng chứng thu thập.
    Bước 3. Lựa chọn, thiết kế công cụ kiểm tra, đánh giá:
    – Câu hỏi, bài tập, bảng kiểm, hồ sơ, phiếu đánh giá theo tiêu chí…
    Bước 4: Thực hiện kiểm tra, đánh giá:
    – Thực hiện theo các yêu cầu, kĩ thuật đối với các phương pháp, công cụ đã
    lựa chọn, thiết kế nhằm đạt mục tiêu kiểm tra, đánh giá, phù hợp với từng loại
    hình đánh giá: GV đánh giá, HS tự đánh giá, các lực lượng khác tham gia đánh
    giá.
    Bước 5. Xử lí, phân tích kết quả kiểm tra, đánh giá:
    – Phương pháp định tính/ định lượng.
    – Sử dụng các phần mềm xử lí thống kê…
    Bước 6. Giải thích và phản hồi kết quả đánh giá:
    – Giải thích kết quả, đưa ra những nhận định về sự phát triển của người học
    về phẩm chất, năng lực so với mục tiêu và yêu cầu cần đạt.
    – Lựa chọn cách phản hồi kết quả đánh giá: sử dụng điểm số, nhận
    định/nhận xét, mô tả phẩm chất, năng lực đạt được…
    Bước 7. Sử dụng kết quả đánh giá trong phát triển phẩm chất, năng lực HS:
    – Trên cơ sở kết quả thu được, sử dụng để điều chỉnh hoạt động dạy học,
    giáo dục nhằm phát triển phẩm chất, năng lực HS; thúc đẩy HS tiến bộ.
    2.3.2.8. Các hình thức kiểm tra đánh giá
    – Các hình thức kiểm tra: trắc nghiệm, tự luận, thực hành, sản phẩm…
    – Các hình thức đánh giá: đánh giá thường xuyên, đánh giá định kì.
    2.3.2.9. Các phương pháp kiểm tra đánh giá
    – Nhóm các phương pháp kiểm tra viết: là bài làm trên giấy hoặc trên máy
    tính.
    – Nhóm các phương pháp quan sát: quan sát quá trình diễn biến của hành vi
    để đánh giá sản phẩm. Trong quan sát có thể sử dụng quan sát chính thức và
    định trước hoặc không chính thức, không định sẵn.
    – Nhóm phương pháp hỏi đáp: hỏi đáp gợi mở, hỏi đáp củng cố; hỏi đáp
    tổng kết: hỏi đáp kiểm tra.
    – Nhóm phương pháp đánh giá qua hồ sơ học tập: hồ sơ quá trình, hồ sơ sản
    phẩm.
    – Nhóm phương pháp đánh giá sản phẩm học tập: Dự án, sản phẩm nghiên

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education