Category: TỔNG HỢP

  • Đặc điểm cung Sư Tử là gì?

    Đặc điểm cung Sư Tử là gì?

    Cung Sư Tử (Leo, sinh vào 23/7 – 22/8) là cung thứ 5 và cũng là cung hào phóng nhất trong 12 cung Hoàng Đạo. Những người sinh ra thuộc chòm sao Sư Tử rất sáng tạo, hùng mạnh và quyến rũ. Sư Tử luôn khẳng định vị trí của mình trong quan hệ với gia đình, bạn bè hay công việc.

    Xem thêm 4 nhóm nguyên tố của các cung Hoàng đạo

    Đặc điểm Cung Cự Giải là gì?
    Kí hiệu 12 cung Hoàng đạo

    Kí hiệu cung Sư Tử?

    Cung Sư Tử (Leo) là cung thứ 5 trong 12 cung Hoàng Đạo, biểu tượng của cung Sư Tử là cái đầu của con sư tử.

    Đặc điểm cung Sư Tử là gì?

    Đặc điểm cung Sư Tử là gì?

    Sư Tử biểu tượng cho lửa, được Mặt Trời chiếu mệnh. Những người thuộc cung Leo có sức mạnh và lòng kiêu hãnh, tính tự lập cao. Trong mọi lĩnh vực, họ luôn thể hiện quyền thế và sự năng động, nhiệt tình của mình.

    • Vị trí: Cung thứ 5 trên Hoàng Đạo
    • Biểu tượng: Sư Tử
    • Nguyên tố: Lửa
    • Sao chiếu mệnh: Mặt Trời
    • Ngày sinh: 23/7 – 22/8
    • Đá tượng trưng: Hồng ngọc, Kim cương, Ruby
    • Kim loại: Vàng
    • Màu sắc: Vàng, cam, đỏ
    • Bộ phận cơ thể: Trái tim, lưng
    • Đặc trưng: Sự bất biến
    • Tính chất chung: Tượng trưng cho những người có tổ chức
    • Từ khóa: Niềm vui
    • Hẹn hò với: Nhân Mã, Bạch Dương
    • Làm bạn với: Bọ Cạp, Kim Ngưu
    • Hoa: Hướng dương, Hoa trinh nữ
    • Nước hoa: Dầu thơm becgamôt, Cam, Trầm hương
    • Động vật: Chim hoàng yến, Chó, Báo
    • Sở thích: Thích xem phim, tán gẫu với bạn bè, đi du lịch, đồ sang trọng và các màu sáng
    • Sở đoản: Bị coi là người ngoài cuộc và không được coi là ông chủ, là người lãnh đạo, là sếp
    • Công việc hoàn hảo: Tổ chức du lịch biển, diễn viên
    • Phụ kiện tốt nhất: Lược chải tóc
    • Sức khỏe: Tim và lưng dễ bị nhiễm bệnh
    • Một điều chắc chắn dành cho bạn: Tắm nắng
    • Điểm đến: Singapore
    • Khẩu hiệu: Không có việc kinh doanh nào hay hơn ngành giải trí
    • Mong ước thầm kín: Trở thành ngôi sao
    • Số may mắn: 1, 4 và 6
    • Ngày trong tuần: Chủ nhật
    • Cung không hợp: Bảo Bình
    • Nơi bạn nhiệt tình nhất: Trên sân khấu
    • Món quà yêu thích: Những món quà liên quan đến gia đình như khung ảnh, album ảnh…
    • Yêu thích: Dũng cảm, hào phóng, mơ mộng
    • Ghét: Chăm sóc sắc đẹp, chịu sự sai khiến, thất bại
    • Nhà cửa: Yêu thích ngôi nhà cửa có các yếu tố trang trí liên quan đến thể thao, sự sáng tạo, tình yêu, lãng mạn và trẻ em

    Tính cách của cung Sư Tử

    Những người thuộc cung Sư Tử có tính tự do, tự lập cao, năng động, nồng nhiệt, có quyền thế và rất tử tế. Sư Tử cần thận trọng và nhún nhường, lạc quan, và đặc biệt là họ có thể đứng dậy ngay sau thất bại.

    Sư Tử là một cá tính mạnh mẽ, tích cực, sáng tạo, nhân ái và rực rỡ. Khi phải đối diện thử thách, gian nan, người thuộc cung Sư Tử luôn sẵn lòng cứu giúp người khác, không bao giờ lùi bước. Lòng dũng cảm là bản chất của người cung Sư Tử

    Sư tử là chúa tể rừng xanh, nó dùng sức mạnh của mình để xé nát đối thủ ra thành từng mảnh, khiến cho những con vật khác cũng lơm lớp lo sợ. Những người thuộc cung Sư Tử luôn muốn thể hiện uy quyền và sức mạnh của mình để nhận được sự tin tưởng, tôn trọng, phục tùng của người khác.

    Đặc điểm cung Sư Tử là gì? 1
    Cung Sư Tử luôn bảo vệ người thân của họ.
    • Cung Sư Tử là người sống tình cảm. Cung Sư Tử có một trái tim rộng lớn chứa đựng rất nhiều tình cảm dành cho tất cả mọi người. Cung Sư Tử vốn dĩ sống rất rộng lượng và chân thành, họ tử tế và hào phóng với tất cả mọi người.
    • Cung Sư Tử sẽ nóng giận nếu bị lợi dụng. Đôi khi Leo có thể quá tử tế vì lợi ích của chính họ và họ có thể thấy rằng ít nhân vật mặn hơn cố gắng tận dụng sự hào phóng của họ.
    • Cung Sư Tử hết mình trong công việc, có tố chất lãnh đạo. Khi Cung Sư Tử làm một điều gì đó, họ thực sự sẽ quyết tâm để thực hiện đến cùng.
    • Cung Sư Tử rất trung thành. Cung Sư Tử luôn bảo vệ người thân của họ. Sư Tử có niềm tin vào người thân, gia đình, bạn bè, họ dễ dàng nghe theo lời khuyên của người khác. Mỗi khi làm gì, Sư Tử đều thăm dò ý kiến của mọi người, nếu là những ý kiến đúng đắn, họ sẽ tiếp thu để có thêm kinh nghiệm.
    • Cung Sư Tử luôn thẳng thắn, thích tạo dựng các mối quan hệ xã hội
    • Cung Sư Tử thích được người yêu thể hiện sự quan tâm
    • Cung Sư Tử là người xứng đáng để bạn tin tưởng
    • Cung Sư Tử luôn tích cực và lạc quan
    • Cung Sư Tử dễ dàng tha thứ cho những sai lầm
    • Cung Sư Tử luôn tìm kiếm thử thách, thích được chú ý.

    Lý tưởng, khát vọng

    Họ luôn xây dựng cho mình một niềm tin và mục tiêu lí tưởng rằng họ sẽ trở thành những người cầm đầu, thống trị tất cả những người xung quanh họ. Sư Tử rất coi trọng danh dự của mình và khao khát có được sự sùng bái của mọi người. Khi bắt tay làm một việc gì đó, họ luôn trong tư thế chủ động và Sư Tử tin tưởng rằng chiến thắng luôn dành cho họ.

    Thế nhưng họ lại không có khả năng loại bỏ những ý kiến sai trái, đôi khi là cạm bẫy do người khác cố tình đặt ra để hãm hại họ bởi điểm yếu của Sư Tử là rất ưu nịnh, thích nghe lời ngon ngọt. Họ rất dễ bị lừa gạt bởi những mưu mô được ẩn lấp đừng sau những lời tán dương không đúng thực tế.

    Cũng bởi sự cả tin và chủ quan, Sư Tử rất dễ bị hãm hại, lừa gạt. Kẻ càng mạnh, càng tài giỏi thì sẽ càng có nhiều kẻ thù. Sư Tử chỉ mải mê với việc quản lí người khác mà không để ý tới những việc xung quanh, vì vậy họ sẽ không kịp trở tay nếu như có người xấu ra tay hãm hại, lật đổ vị trí của họ.

    Đặc điểm cung Sư Tử là gì?

    Trách nhiệm

    Trong thực tế, có rất nhiều người địa vị cao trong xã hội đều thuộc cung Sư Tử. Bởi dường như những người cung này sinh ra đã có đặc tính, ý chí hướng tới sự vinh quang, uy quyền, địa vị và muốn được mọi người cúi đầu phục tùng mình.

    Cũng bởi những khao khát được người khác tôn sùng, khen ngợi mà mỗi khi lập được chiến công nào đó, Sư Tử đều khoe khoang như những đứa trẻ. Họ thích những màu sắc sặc sỡ tượng trưng cho sự huy hoàng. Tuy nhiên, những người này lại thiếu tinh thần trách nhiệm trong công việc.

    Sư Tử khi ham muốn được sở hữu hay có một vị trí nào đó, họ sẽ tự mình tạo ra động lực để thúc đẩy bản thân có được những thứ đó. Họ hoàn toàn không thể hiện tâm lí nghi ngờ, run sợ càng không bao giờ sở dung những thủ đoạn bỉ ổi để có được hào quang.

    Sư tử hành động như một đấng nam nhi đại trượng phu, kiên quyết không hề do dự. Một khi đã đạt được mục đích của mình, Sư Tử sẽ đem chiến công đó khoe khoang với mọi người để nhận được sự tán dương, khen ngợi. Đôi khi trong mắt nhiều người, họ đánh giá Sư Tử là một người khoa trương về danh vọng.

    Sư Tử hầu như không có khái niệm ăn mặc giản dị, họ ghét sự đơn điệu, không nổi trội. Xuất phát từ tính cách có phần thích thể hiện của mình, Sư Tử luôn chọn những bộ trang phục sặc sỡ để họ có thể nổi bật giữa đám đông.

    Thoải mái, phóng khoáng

    Đây là một loại tâm lý khá phức tạp, họ thích bản thân mình là tuyệt vời nhất trong mắt mọi người. Sư Tử bỏ qua tất cả những quan điểm thuần phong mỹ tục, họ phá cách và mặc những gì mình thích. Tuy nhiên mục đích của họ là nhận được sự tán thưởng, khen ngợi của mọi người.

    Tóm lại, Sư Tử đại diện cho những người sống thoải mái, phóng khoáng, lạc quan, yêu đời. Họ thường tạo ra niềm vui riêng cho cuộc sống của mình và tiếng cười cho mọi người xung quanh. Sư tử sẽ không đề phòng với kẻ thù, họ cho rằng “xã hội có người thích mình thì cũng sẽ có người gét mình, điều đó là hoàn toàn bình thường”.

    Sư Tử là đại diện cho những người uy quyền, có địa vị, cuộc sống giàu sang trong xã hội. Những người thuộc cung này đa số có sức ảnh hưởng lớn đối với cộng đồng khiến nhiều người phải cúi đầu kính nể. Mỗi khi gặp gỡ, giao tiếp, Sư Tử lại gây được ấn tượng sâu sắc với đối phương nhờ sức hút và ngoại hình nổi trội của mình.

    Trong công việc, Sư Tử luôn thể hiện tài năng lãnh đạo, chỉ huy của mình một cách xuất sắc mà không ai có thể làm được. Những lời nói ra lệnh của Sư Tử được mọi người răm rắp nghe theo. Nếu như ai chống đối lại, Sư Tử sẽ dùng sức mạnh và uy quyền của mình để chế ngự kẻ thù.

    Những người thuộc cung Sử Tử nếu sinh vào kì 10 ngày thứ nhất sẽ thể hiện rõ ràng nhất những đặc trưng tính cách kể trên. Sinh vào kì 10 ngày thứ hai sẽ chỉ biểu hiện một số nét tính cách cơ bản. Còn những người sinh vào kì 10 ngày thứ ba đa số có quyết tâm, ý chí bền bỉ nhưng năng lực có phần kém hơn.

    Sự nghiệp của Cung Sư Tử

    Tuy tính cách Sư Tử khá nóng nảy nhưng lại khá thông minh và tài giỏi. Vì vậy Sư Tử phù hợp với những công việc có tính mạo hiểm cao như quản lý bán hàng, startup, hướng dẫn viên, stylist, nghệ sĩ,…

    Sư Tử là cung hoàng đạo luôn thu hút sự chú ý. Song, khi nói đến sự nghiệp của mình, hãy chắc chắn rằng mọi người đang chú ý đến bạn vì những lý do chính đáng. Mọi người sẽ yêu mến bạn vì tính cách hòa đồng và bản chất lôi cuốn của bạn, nhưng họ cũng có thể chỉ coi bạn là một người chăm chỉ thiếu sự sáng tạo.

    Bạn có thể được nhiều người yêu thích và vẫn có những người coi trọng bạn. “Hãy thể hiện sáng kiến.” Bạn cũng cần xây dựng một mạng lưới quan hệ tốt xung quanh bạn. Điều này sẽ giúp bạn cập nhật về các khóa đào tạo, thăng chức và cơ hội việc làm mới.

    Đặc điểm cung Sư Tử là gì? 2
    Sư Tử (23/7 – 22/8): Thể hiện sáng kiến

    Đặc điểm khai thác: Tính cách hướng ngoại và lôi cuốn. Sư Tử là một người quyến rũ, thích trở thành người giỏi nhất.

    Trở ngại cần vượt qua: Có xu hướng thích khoe khoang. Vì nó thường xuyên xảy ra, điểm mạnh lớn nhất của bạn cũng là điểm yếu lớn nhất của bạn. Tìm hiểu sự khác biệt giữa chú ý tích cực và tiêu cực. Chú ý tốt: Là chàng trai tại nơi làm việc mang đến cho mọi người những chiếc bánh quy yêu thích dựa trên các cung hoàng đạo .

    Những công việc part-time hoàn hảo: Diễn viên hài, DJ, diễn giả truyền động lực.

  • Đặc điểm Cung Cự Giải là gì?

    Đặc điểm Cung Cự Giải là gì?

    Cung Cự Giải (Cancer) hay còn được gọi với cái tên Bắc Giải trong 12 cung hoàng đạo. Những người sinh vào thời gian từ 22 tháng 6 đến 22 tháng 7 sẽ thuộc cung Cự Giải, mang hình ảnh con cua. Nó là một trong 4 cung Thống lĩnh và là một trong 3 cung thuộc nguyên tố nước.

    Xem thêm 4 nhóm nguyên tố của các cung Hoàng đạo

    Cung hoàng đạo này được đánh giá là khó hiểu nhất (trực giác và đa cảm) trong vòng hoàng đạo.

    Đặc điểm Cung Cự Giải là gì?
    Kí hiệu 12 cung Hoàng đạo

    Kí hiệu cung Cự Giải?

    Cung Cự Giải (tiếng Anh là Cancer) có kí hiệu hình số 6 và số 9 xếp quay vào nhau như hình sau:

    Đặc điểm Cung Cự Giải là gì? 3

    Giới thiệu cung Cự Giải

    • Tên tiếng Anh: Cancer
    • Tên thường gọi: Cự Giải
    • Tên gọi khác: Bắc Giải
    • Ngày sinh: 22/06 – 22/07
    • Nhóm nguyên tố: Nước
    • Đặc điểm: Thuộc 1 trong 4 cung thống lĩnh.
    • Vị trí: là cung thứ 4 trong Hoàng đạo
    • Biểu tượng: con cua
    • Ngày trong tuần: thứ 2
    • Kim loại: bạc
    • Màu sắc: bạc, trắng, xám
    • Con số may mắn: 4,6
    • Đá: ngọc trai, ngọc lục bảo, ngọc mắt mèo và đá mặt trăng
    • Sở trường: gia đình, nhà cửa
    • Sở đoản: sự đối lập, thất bại hay bị sai khiến
    • Cung hợp: Bọ Cạp, Song Ngư
    • Cung không hợp: Ma Kết
    • Thích: nướng bánh, tiện nghi, trẻ con
    • Ghét: những nhận xét ác ý, não cá vàng và những trò đùa châm chọc
    • Sao chiếu mệnh: Mặt trăng
    • Quan niệm sống: Gia đình là nơi trái tim bạn luôn hướng về
    Đặc điểm Cung Cự Giải là gì? 4

    Tính cách cung Cự Giải

    Cự Giải thích sống xa sỉ, nhưng một số thì thích sống ở miền thôn quê, chăm sóc ngôi nhà của họ. Cự Giải thích truyền thống và quá khứ. Chòm Cự Giải ghét bạo lực, sợ những thứ không đáng tin từ những đồ vật mới và đồ vật trong tương lai. Họ cố gắng gắn bó với người mà họ yêu, nhút nhát, lãng mạn và ích kỷ.

    • Cự Giải được ví giống như một con sóng ngầm ngoài đại dương, bên trong là một đời sống nội tâm mà khó ai có thể thấu hiểu được.
    • Cự Giải là người nhân hậu, họ sẵn sàng bỏ qua những lỗi lầm của người khác mà không hề tính toán.
    • Cự Giải có vẻ ngoài lãnh đạm, khó tiếp xúc, nếu chưa hiểu về Cự Giải nhiều người sẽ thấy khó chịu. Nhưng nếu bạn bỏ qua người bạn Cự Giải sẽ là một tiếc nuối rất lớn đó.
    • Cự Giải luôn cho người khác thấy một vẻ ngoài lạnh lùng và mạnh mẽ nhưng sâu thẳm bên trong là một tâm hồn yếu đuối, dễ bị tổn thương.
    • Cự Giải có khả năng đánh giá cao bởi sự quan sát tỉ mỉ và vô cùng tinh tế trước khi đưa ra quyết định của mình.
    • Cự Giải là người sống thiên về tình cảm, họ ít khi dùng lý trí để giải quyết vấn đề. Đây là điểm đáng trân trọng nhưng nhiều lúc cũng là yếu điểm của cung hoàng đạo này.
    • Là người dễ bị tổn thương trong tình cảm do đó khi yêu một Cự Giải hãy biết trân trọng họ vì không phải ai cũng may mắn có thể yêu cung hoàng đạo này.

    Cung Cự Giải có thông minh không?

    Đặc điểm Cung Cự Giải là gì? 5

    Sự thật thì Cự Giải rất thông minh. Họ không thích nói nhiều hay khoe mẽ còn nếu nghiêm túc thì bạn hoàn toàn không phải là đối thủ của họ. Những người thuộc chòm sao Cự Giải rất có năng lực. Chỉ cần họ muốn hoàn thành thì không gì có thể ngăn cản được.

    Cự Giải là một trong những cung hoàng đạo thông minh nhất mà bạn từng gặp. Suy nghĩ sâu sắc và cảm nhận sắc bén là một trong những đặc điểm nổi bật của Cự Giải.

    Họ có trí tưởng tượng cao, trực giác sâu sắc và đa cảm. Cự Giải sử dụng trí tuệ cảm xúc và trực giác của mình để đánh giá người khác và cảm xúc của họ, và cuối cùng là giúp đỡ họ. Họ có sở trường làm cho mọi người cảm thấy như thể họ có thể hoàn toàn cởi mở và trung thực về cảm xúc của mình.

    Nếu bạn đang gặp khó khăn trong một mối quan hệ, Cự Giải là người hoàn hảo để nói chuyện và tìm kiếm lời khuyên.

    Là một cung hoàng đạo hệ nước, Cự Giải dễ tiếp thu và nhạy cảm với những dòng cảm xúc tinh tế. Cảm xúc của họ chảy sâu như đại dương và họ có thể hiểu được cảm xúc ở mức độ sâu hơn và vô thức hơn hầu hết mọi người.

    Cự Giải được tượng trưng bởi một con cua. Loài giáp xác dưới đáy đại dương sống đồng thời ở cả biển và bờ, giống như Cự Giải tồn tại trong cả lĩnh vực tình cảm và vật chất thực tế. Họ dễ dàng tiếp thu cảm xúc của người khác và sử dụng thông tin này để giúp đỡ người khác.

    Thông thường trí thông minh của họ đến từ hình thức âm nhạc và nghệ thuật. Nhiều Cự Giải thành công là ca sĩ, nhà văn và nhà sáng tạo.

    Cung Cự Giải có xinh đẹp không?

    Đặc điểm Cung Cự Giải là gì? 6

    Nếu bạn là nam:

    • Điềm tĩnh, có khí chất, có ngoại hình thu hút. Các chàng trai thuộc cung này sở hữu vóc dáng tương đối nhỏ con và đi kèm là đôi mắt đầy cảm xúc.
    • Điều kỳ lạ ở nam Cự Giải là có nhiều mặt đối lập nhau trong cùng một con người. Chàng trai Cự Giải có thể cảm thông với người khác và khi ấy đôi mắt của anh ta nói lên tất cả, nhưng đồng thời anh ấy cũng có thể lạnh lùng vô tình và khi ấy mắt chàng trai thuộc cung này toát lên vẻ tinh ranh đầy nguy hiểm.
    • Cơ thể Cự Giải tuy nhỏ con nhưng vóc dáng khá rắn chắc.
    • Chỉ số nhan sắc: 60-70%

    Nếu bạn là nữ:

    • Dịu dàng, e thẹn, nữ tính, nụ cười ấm áp, đáng tin tưởng. Nữ Cự Giải có vóc dáng nhỏ nhắn với làn da tương đối trắng.
    • Nhờ ảnh hưởng của nữ thần Hera nên Cự Giải có cánh tay rất đẹp. Nàng quyến rũ vô cùng nhưng lại cố che giấu điều đó bằng cách ăn mặc hơi quái gở. Đơn giản vì nàng không thích phô trương.
    • Cùng với tác động của Mặt Trăng, Cự Giải có đôi mắt đẹp và đầy bí ẩn.
  • Phương pháp Retrieval Practice là gì?

    Phương pháp Retrieval Practice là gì?

    Retrieval practice là một trong số những cách học siêu tốc phần chiến lược & tiến trình học tập lưu giữ kiến thức được lâu dài hiệu quả. Đây là một trong hai cách được nhắc đến trong bài ĐIỀU GÌ GIÚP HỌC SINH THÀNH CÔNG? HÃY DẠY CÁC EM HỌC CÁCH HỌC.

    Phương pháp Retrieval Practice là gì?

    Phương pháp Retrieval Practice chính là phương pháp truy hồi (nhắc lại) kiến thức. Đây là một kỹ thuật nhằm giúp bạn gợi nhớ lại những kiến thức đã học. Nói một cách dễ hiểu, thay vì việc tập trung thu nạp kiến thức mới thì bạn nên dành khoảng thời gian đó để ôn lại kiến thức cũ một cách chủ động.

    Nghe không có gì mới mẻ, nhưng trên thực tế, người học thường dùng phương pháp truy hồi (Retrieval Practice) gián tiếp qua sự yêu cầu của giáo viên như gấp hết sách vở để kiểm tra bài cũ (câu hỏi được nêu trước), làm những bài kiểm tra định kỳ, tạo một tâm thế bị động cho quá trình ôn tập kiến thức và tất nhiên bạn sẽ không thể thấy được những ưu điểm của phương pháp này.

    Việc áp dụng Retrieval Practice trong quá trình học tập sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho bạn, điển hình như:

    • Chuyển đổi những kiến thức mới học đang ở dưới dạng short-term memory (trí nhớ ngắn hạn) thành long-term memory (trí nhớ dài hạn);
    • Tăng tư duy bậc cao và tăng việc chuyển hoá kiến thức;
    • Tăng metacognition (siêu nhận thức) về quá trình học của bản thân;
    • Tăng việc sử dụng các cách học hiệu quả ở ngoài lớp học;
    • Tăng việc chuẩn bị bài học một cách kĩ càng trước khi bắt đầu;
    • Tăng khả năng linh hoạt kiến thức và vận dụng trong nhiều tình huống khác nhau.
    • Tạo dựng sợi dây kết nối giữa các mảng kiến thức đa dạng, thuận lợi cho việc hệ thống hóa kiến thức.
    • Nhanh chóng đánh giá việc học của chính mình và xác định điểm mạnh của bản thân cũng như bất kỳ lỗ hổng nào trong quá trình học;
    • Kết nối các kiến thức đã học với kiến thức sắp được học.

    Retrieval Practice không chỉ đơn thuần là một cách kiểm tra – đánh giá (As an assessment) mà là một phần quan trọng của chiến lược & tiến trình học tập (as part of the learning process) để giúp người học thực sự lưu giữ kiến thức dài hạn.

    Vì thế, bạn cần chủ động áp dụng phương pháp học trên như một hình thức self learning chứ không được nghĩ đó là một cách học để chống đối, có như vậy bạn mới có thể đạt những hiệu quả rõ rệt và nâng cao chất lượng học tập của bản thân.

    Sử dụng phương pháp Retrieval Practice khi nào?

    Khi nào nên dùng Retrieval Practice: Nghiên cứu chỉ ra rằng việc luyện tập RP thường xuyên và gần với thời điểm mới tiếp thu xong kiến thức sẽ đem lại hiệu quả cao hơn. Bạn có thể hình thành thói quen làm RP vào:

    • Cuối ngày học hôm đó;
    • Buổi sáng ngay sau ngày học;
    • Cuối tuần khi có thời gian rảnh;
    • Ngay trước buổi học tiếp theo.

    Một số kỹ thuật Retrieval Practice

    Một số cách để áp dụng Retrieval Practice cho việc học từ vựng tiếng Anh, hoặc bất cứ kiến thức của môn học nào khác.

    1. Sử dụng Flashcards

    Mỗi thẻ flash card bao gồm câu hỏi ở mặt trước và câu trả lời ở mặt sau. Tấm thẻ thường được sử dụng để ghi nhớ từ vựng, ngày tháng lịch sử, công thức hoặc bất kỳ chủ đề nào có thể học được thông qua hình thức câu hỏi kèm theo câu trả lời. Vì vậy, nhiều người đã sử dụng cách này để học từ vựng Tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Hàn…

    Phương pháp Retrieval Practice là gì? 7

    Đối với từ vựng tiếng Anh, người học sẽ sử dụng 2 mặt của mỗi tấm card: một mặt ghi từ tiếng Anh và một mặt ghi nghĩa tiếng Việt. Sau khi viết xong các tấm card, bạn có thể nhìn vào mặt tiếng Anh để nhớ nghĩa tiếng Việt và ngược lại.

    Nếu làm flashcard bằng tay (cắt giấy và viết chữ), bạn có thể vẽ hình minh họa. Nếu làm flashcard bằng máy tính sau đó in ra, bạn có thể chèn hình minh họa mờ làm nền của flashcard. Tất nhiên, nếu bạn sử dụng hình minh họa là chính từ vựng trên flashcard thì việc học sẽ chẳng có ích gì. Vì vậy, hãy sử dụng các hình chỉ-có-môt-chút-liên-quan đến từ cần học. Ví dụ, nếu bạn muốn học từ “Lawyer” (luật sư), bạn có thể để hình là một … bộ tóc giả chẳng hạn.

    Phương pháp Retrieval Practice là gì? 8
    Trên mạng có rất nhiều nguồn flashcard kèm minh họa để học từ vựng tiếng Anh dễ dàng

    Một công cụ minh họa hiệu nghiệm nữa là màu sắc. Bạn có thể tạo cho riêng mình một bảng mã màu, ví dụ như: màu vàng là danh từ, đỏ là động từ, xanh lá là tính từ, trắng là từ đếm được, đen là từ không đếm được…

    Bên cạnh những tấm card ở dạng truyền thống thì giờ đây người học cũng có thể tải một số app học tập miễn phí có thiết kế ở dạng flashcards, điển hình như Quizlet. Khi học tập trên Quizlet, người học có thể:

    • Tự tạo bộ flashcards cho riêng mình tùy theo nhu cầu học;
    • Chia sẻ bộ flashcard của mình cho người khác;
    • Tìm cho mình những flashcard phù hợp trong kho dữ liệu khổng lồ chứa hàng trăm ngôn ngữ của Quizlet do những người dùng khác tự tạo và chia sẻ

    Một số lưu ý khi sử dụng thẻ flash card:

    • Thay vì nhanh chóng lật thẻ lên sau khi nhớ được nghĩa, người học cần tự gợi nhớ lại tất cả nội dung liên quan đến từ vựng, ngữ cảnh được sử dụng, cách phát âm,… thông qua việc hồi tưởng, liên hệ hoặc nhớ ví dụ.
    • Nên sắp xếp các thẻ từ mới và cũ theo các chủ đề liên quan để luyện tập khả năng liên hệ từ vựng, tránh giữ các bộ thẻ ở thứ tự như ban đầu.
    • Việc phân loại sẽ giúp cho phương pháp học tiếng Anh với flashcard của bạn rõ ràng hơn. Đầu tiên, hãy giữ các loại flashcards khác nhau (flashcards dạng từ, flashcards dạng câu hỏi, flashcards dạng bài tập…), rồi sử dụng bảng màu để phân loại chi tiết hơn nếu bạn muốn.
    • Đối với các thẻ bạn nhớ, trả lời được ngay thì có thể để riêng, thẻ nào bạn thấy khó nhớ, chưa hiểu rõ thì để riêng và ưu tiên thời gian để ôn tập lại nó nhiều hơn.
    • Chỉ nên chuyển thẻ nhớ sang bộ tiếp theo sau khi đã truy hồi kiến thức thành công tối thiểu 3 lần. Mục đích của việc này là để chắc chắn rằng người học đã hiểu rõ và có phản xạ tốt với lượng từ vựng mới, nhằm tránh việc chủ quan.
    • Bạn có thể tráo các flashcards với nhau, thậm chí tráo các mặt khác nhau, rồi rút bừa một vài thẻ và thách bản thân nhớ lại/đoán nội dung của mặt sau.

    2. Vẽ sơ đồ tư duy (Mind map)

    Sơ đồ tư duy hay còn được gọi là sơ đồ tư duy, đây là một công cụ trực quan nhằm tận dụng hết các khả năng nhận thức của não bộ, đặc biệt là các khả năng học tập, nhớ, sáng tạo và phân tích. Và đây chính là một quá trình kết hợp giữa các yếu tố hình ảnh, màu sắc cũng như việc sắp xếp không gian – thị giác. Khi sử dụng sơ đồ tư duy, bạn sẽ dùng những từ khoá đơn giản để kích hoạt ra những ý tưởng và nội dung khác.

    Phương pháp Retrieval Practice là gì? 9

    Các loại sơ đồ tư duy thông dụng gồm có sơ đồ hình cây (tree map), hình tròn, bong bóng, luồng (flow map)… Tùy vào mục đích và kiến thức cần ôn tập mà bạn lựa chọn loại sơ đồ phù hợp. Thông thường nhất là loại bản đồ tư duy hình cây.

    Phương pháp Retrieval Practice là gì? 10

    Đây là một phương pháp học tập rất phổ biến trong việc giúp ôn tập lượng lớn tài liệu cũng như trong việc học từ vựng.

    Phương pháp Retrieval Practice là gì? 11

    Ở cách học này, người học sẽ xây dựng một sơ đồ biểu thị quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng hoặc từ vựng.

    Cụ thể, người học có thể xây dựng các sơ đồ từ vựng theo chủ đề, sau đó gợi nhớ tới những từ vựng liên quan tới chủ đề đó rồi từ từ chia ra các nhánh như các từ loại có liên quan, ví dụ hay một vài lưu ý đặc biệt…

    Cách này sẽ giúp cho các từ vựng đã học được hệ thống hóa tốt hơn và cũng dễ dàng cho việc tìm kiếm và ôn luyện theo từng chủ đề sau này.

    Người học có thể sử dụng tài liệu trong quá trình xây dựng sơ đồ tư duy. Điều này có thể tạo cho người học cơ hội xem và nghiên cứu lại những mạng kiến thức đã học đồng thời chắt lọc ra những từ bản thân cần phải nhớ.

    Khi vẽ sơ đồ, người học cũng nên sử dụng những màu sắc khác nhau hoặc các nhãn dán để giúp cho các phần trong sơ đồ trở nên rõ ràng hơn, bắt mắt hơn, tạo cảm hứng học tập hơn. Tuy nhiên, không nên sử dụng quá nhiều màu sắc hay lạm dụng dán quá nhiều thứ linh tinh vì điều này có thể khiến chính bản thân chúng ta bị xao nhãng khỏi việc học từ vựng.

    Cách vẽ bản đồ tư duy mindmap

    Sơ đồ tư duy mindmap có thể vẽ trên giấy hoặc trên bảng vẽ điện tử thông qua các phần mềm chuyên dụng như Microsoft Word, Powerpoint, Coggle, Mindly… Tuy nhiên, dù vẽ bằng cách nào, chúng ta cũng cần biết rõ các bước để có thể lập được bản đồ tư duy đúng chuẩn.

    • Bước 1: Xác định đề tài, chủ đề chính của sơ đồ tư duy;
    • Bước 2: Vẽ các ý lớn từ chủ đề chính;
    • Bước 3: Phát triển sơ đồ tư duy;
    • Bước 4: Hoàn thiện sơ đồ.

    3. Brainstorming

    Brainstorming được hiểu là phương pháp động não, suy nghĩ một vấn đề theo nhiều hướng khác nhau. Bằng cách dựa trên các ý tưởng tập trung xung quanh vấn đề cần giải quyết, những người brainstorming sẽ xem xét các mặt lợi ích – tồn đọng rồi rút ra đáp án tốt nhất, sau đó tiếp tục triển khai.

    Phương pháp Retrieval Practice là gì? 12

    Alex Osborn – ông trùm ngành quảng cáo trên đại lộ Madison, phát triển cách tiếp cận ban đầu và xuất bản nó trong cuốn sách “Applied Imagination” năm 1953. Kể từ đó, các nhà nghiên cứu đã tạo nên nhiều sự cải tiến cho kỹ thuật ban đầu của ông.

    Đối với việc học từ vựng thì đây là phương pháp mà người học tự đưa ra cho mình một chủ đề hay từ khóa và tự ghi ra tất cả những từ hoặc cụm từ có liên quan chứ không dùng bất kỳ một tài liệu nào khác.

    Brainstorming có thể nói là một trong số những cách kiểm tra phản xạ và mức độ ghi nhớ của người học đối với lượng từ vựng tiếng Anh mới siêu hiệu quả và phù hợp với tất cả người học. Tuy nhiên, phương pháp truy hồi kiến thức cần thời gian chứ không phải “Hãy brainstorming đi” là nhớ ra luôn đâu. Cũng chính vì thời gian dành cho phương pháp mà người học mới tăng được khả năng ghi nhớ từ vựng đó.

    Hơn thế, để đạt được thành công khi sử dụng phương pháp Retrieval Practice, tập trung cao độ là yếu tố then chốt.

    Bạn cần đảm bảo rằng bạn đang thực sự nghĩ về chủ đề hoặc từ khóa mình đã để ra thay vì để tư tưởng trôi dạt về phương xa.

    Tuy vậy, việc quá tập trung để nghĩ ra những từ liên quan đôi khi lại khiến người học lãng quên đi cách phát âm cũng như là ngữ cảnh sử dụng của những từ ngữ ấy, làm cho hiệu quả của quá trình ôn luyện từ vựng không đạt được kết quả toàn diện.

    Một số phương pháp khác

    Sau khi hoàn thành câu hỏi bài tập của bài đọc/bài nghe, nhìn câu hỏi và tóm tắt lại bài đọc/nghe:

    • Tự viết/Tự nói bài tóm tắt về bài nghe/đọc;
    • Viết ra 2 điều bạn học được trong buổi học vừa rồi;
    • Tự đặt câu hỏi theo dạng 5W-H questions (Who, What, Where, When, Why, How) về bài đọc/nghe/kiến thức mới học và tự trả lời;
    • Viết lại trình tự buổi học ngày hôm đó;
    • Viết ra tất cả những gì bạn còn nhớ về kiến thức của buổi học hôm đó;
    • Nếu bạn muốn sáng tạo, hãy thử tự vẽ mind map về trình tự/kiến thức của buổi học;
    • Hình dung bản thân là giáo viên và thử giải thích lại kiến thức đó học cho học sinh
  • Siêu nhận thức Metacognition là gì?

    Siêu nhận thức Metacognition là gì? Chúng tôi giới thiệu bài viết từ trang https://www.intel.com có bổ sung thêm. Dạy học Siêu nhận thức là một trong những phương pháp dạy học hiệu quả giúp học sinh có kết quả tốt hơn. Mời bạn xem thêm trong bài ĐIỀU GÌ GIÚP HỌC SINH THÀNH CÔNG? HÃY DẠY CÁC EM HỌC CÁCH HỌC.

    Tư duy về tư duy

    Jason được giao một một dự án khoa học, nhưng dường như em không biết phải bắt đầu dự án như thế nào. Em ngồi và nhìn ra cửa sổ một lúc, sau đó giơ tay phát biểu ý kiến với giáo viên.

    “Thưa cô, em không hiểu”, em nói.

    “À”, giáo viên nói, “hãy nghĩ về một vài thứ mà em có thể làm để bắt đầu”

    “Thưa cô, em có thể lập ra một danh sách những việc mà em phải làm”

    “Em có thể làm gì nữa?”

    “Thưa cô, em có thể suy nghĩ về những gì em đã làm trong dự án vừa qua”

    “Ý kiến của em hay đấy”

    “Lần trước em đã đi thư viện và tìm kiếm trên máy tính. Em đã mất rất nhiều thời gian mà không tìm thấy gì”

    “Vậy lần này em có thể làm việc gì khác?”

    “Thưa cô, có lẽ em sẽ nhờ Holly giúp em chọn đúng các từ khoá tìm kiếm. Bạn ấy thật sự giỏi việc đó.“

    “Có vẻ đây là điểm khởi đầu cho một kế hoạch tốt đấy”

    Jason rất thông minh và rất ham mê khoa học, nhưng em thiếu các khả năng giúp em thực hiện những dự án phức tạp. Khi trao đổi với Jason, giáo viên đã giúp em suy nghĩ một cách siêu nhận thức, vì vậy em bắt đầu có ý thức về các quá trình tư duy của mình, vạch ra chiến lược để hoàn thành dự án, và theo dõi tính hiệu quả của những chiến lược này.

    Siêu nhận thức, hoặc “tư duy về tư duy”, là các quá trình trí tuệ có khả năng điều khiển và điều chỉnh cách thức suy nghĩ của con người. Siêu nhận thức có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện dự án bởi vì học sinh phải quyết định phương pháp nào sẽ sử dụng và sử dụng ra sao.

    Nghiên cứu của Marzano (1998) về 4000 phương thức can thiệp trong giáo dục đã cho thấy phương thức có hiệu quả nhất đối với việc cải thiện quá trình học tập của học sinh là tập trung vào cách thức học sinh suy nghĩ về quá trình tư duy của mình và cách thức học sinh cảm nhận về bản thân với vai trò là người học.

    Siêu nhận thức Metacognition là gì?

    Phần này chúng tôi trích đăng từ Tạp chí Giáo dục, Số 472 (Kì 2 – 2/2020), tr 50-54; 7

    Theo Flavell, J. H., siêu nhận thức là: Sự hiểu biết của cá nhân liên quan đến quá trình nhận thức của bản thân, các sản phẩm và những yếu tố khác có liên quan, trong đó còn đề cập đến việc theo dõi tích cực, điều chỉnh kết quả và sắp xếp các quá trình này luôn hướng tới mục tiêu đặt ra.

    Brown, A. L. tiếp tục phát triển khái niệm của Flavell bằng cách thêm hai khái niệm. Theo Brown: SNT là kiến thức về nhận thức và sự điều chỉnh nhận thức. Kiến thức về nhận thức bao gồm: kiến thức khai báo, kiến thức thủ tục và kiến thức điều kiện; sự điều chỉnh về nhận thức là biểu thị của việc lập kế hoạch, giám sát và đánh giá nhận thức.

    Cũng theo Brown: Kĩ năng SNT đề cập đến khả năng kiểm soát, giám sát và tự điều chỉnh các hoạt động diễn ra khi học tập và giải quyết vấn đề. Từ quan niệm về SNT, Brown cho rằng kĩ năng SNT gồm có: dự đoán, lập kế hoạch, giám sát và đánh giá.

    Những thành phần của siêu nhận thức

    Siêu nhận thức Metacognition là gì? 13

    Thành phần cơ bản nhất của siêu nhận thức là ý thức về quá trình tư duy. Ý thức này bao gồm những cách mà học sinh thường tiếp cận nhiệm vụ và những cách thức khác mà các em có thể dùng đến. Những học sinh giỏi luôn ý thức về cách thức mà các em tư duy và có thể đưa ra những sự lựa chọn sáng suốt về những chiến lược hiệu quả.

    Thành phần lập kế hoạch của siêu nhận thức chịu trách nhiệm về “việc nhận biết hoặc kích hoạt các kỹ năng đặc biệt, các chiến thuật, và các quá trình sẽ được sử dụng để hoàn thành mục tiêu” (Marzano, 1998, trang 60). Một học sinh trong giai đoạn này sẽ tự hỏi là mình có thể làm những gì và cách thức nào là hiệu quả nhất trong tình huống hiện tại. Với công việc đơn giản, người ta thậm chí không hề có ý thức về những gì mình đang lựa chọn. Tuy nhiên, đối với một công việc phức tạp, quá trình siêu nhận thức sẽ rõ ràng hơn khi có nhiều lựa chọn khác nhau hiện lên trong đầu.

    Thành phần cuối cùng của siêu nhận thức là theo dõi. Chức năng này có nhiệm vụ kiểm tra tính hiệu quả của kế hoạch và những chiến lược đã sử dụng. Chẳng hạn, một sinh viên năm thứ 2 ngành sinh học quyết định thiết kế một sơ đồ trên máy tính nhằm ôn lại một chương nào đó để chuẩn bị cho bài kiểm tra. Sau vài phút, anh nhận ra rằng mình đã dành nhiều thời gian cho việc tìm hiểu phần mềm hơn là cho nội dung bài học và quyết định vẽ sơ đồ trên giấy. Một học sinh lớp 5 đang tạo lập dữ liệu về nhiệt độ và độ ẩm bắt đầu thêm vào danh sách dài những con số và sau đó nhận ra rằng công việc sẽ tiến hành nhanh hơn và chính xác hơn nếu em sử dụng chương trình bảng tính. Liên tục theo dõi các quá trình tư duy và đưa ra những thay đổi cần thiết là thành phần then chốt của siêu nhận thức.

    Tài liệu tham khảo
    Marzano, R. J. (1998). A theory-based meta-analysis of research on instruction. Aurora, CO: McREL.
    www.mcrel.org/PDF/Instruction/5982RR_InstructionMeta_Analysis.pdf* (PDF, 172 trang)

  • Dạy Siêu nhận thức Metacognition

    Dạy siêu nhận thức (Metacognition). Hãy tìm hiểu những cách thức giáo viên kết hợp siêu nhận thức trong lớp học theo dự án. Chúng tôi giới thiệu bài viết từ trang https://www.intel.com. Dạy học Siêu nhận thức là một trong những phương pháp dạy học hiệu quả giúp học sinh có kết quả tốt hơn. Mời bạn xem thêm trong bài ĐIỀU GÌ GIÚP HỌC SINH THÀNH CÔNG? HÃY DẠY CÁC EM HỌC CÁCH HỌC.

    Dạy Siêu nhận thức Metacognition

    Dạy cho học sinh cách thức suy nghĩ về tư duy của mình

    Khả năng siêu nhận thức của học sinh có thể phát triển mạnh trong một môi trường mà ở đó quá trình tư duy thực sự là một phần quan trọng của việc dạy học và giao tiếp suốt cả ngày. Để tạo ra môi trường như vậy, giáo viên và học sinh phải xây dựng một hệ thống ngôn ngữ về tư duy mà tất cả mọi người đều phải sử dụng một cách nhất quán với nhau. Khi giáo viên sử dụng những thuật ngữ như “kỹ thuật”, “quá trình” và “siêu nhận thức” thường xuyên, họ có thể truyền đạt tầm quan trọng của chúng đến với học sinh, đồng thời nhấn mạnh những quá trình quan trọng đối với việc học hiệu quả.

    Tishman, Jay và Perkins (1992) đề nghị treo những tấm tranh áp phích xung quanh phòng học để nhắc nhở học sinh suy nghĩ về tư duy của mình. Những câu hỏi gợi ý như “Đây có phải là chiến lược tốt nhất cho bài tập này không?” hoặc “Kế hoạch của các em có phải đang được thực hiện theo cách tốt nhất không?” sẽ giúp học sinh nhớ làmình phải tư duy siêu nhận thức.

    Việc cung cấp cho học sinh thời gian và công cụ để giúp các em có thể tư duy siêu nhận thức nhiều hơn trong việc học là một trong những cách hữu hiệu nhất để cải thiện thành tích học tập của các em (1998). Sổ tay ghi chép và nhật ký học tập có thể giúp các em nhận ra những chiến lược mà các em đã sử dụng hoặc có thể sẽ sử dụng và sau đó đánh giá hiệu quả của chúng. Việc đưa ra những lời gợi ý hoặc nhắc nhở như “Các em sẽ làm gì tiếp theo?”; “các chiến lược của các em đang được thực hiện tốt đến mức nào?” có thể cung cấp cho học sinh một cấu trúc đòi hỏi các em phải tư duy siêu nhận thức. Nhiều học sinh, nhất là những em có nhu cầu đặc biệt, có thể thu được nhiều lợi ích nhờ những lời hướng dẫn rõ ràng và được lặp đi lặp lại về các kỹ thuật tư duy siêu nhận thức. Ví dụ, một giáo viên có thể bắt đầu với việc nói lên suy nghĩ về siêu nhận thức như sau:
    Được rồi. Cô sẽ làm gì với bước tiếp theo của dự án này? Cô cần phải đưa tất cả những thông tin mà cô đã thu thập được vào một bài báo cáo. Cô có thể đưa từng đoạn thông tin vào 1 mẫu ghi và sau đó sắp xếp chúng thành một dàn bài, nhưng việc làm các mẫu ghi sẽ tốn rất nhiều thời gian. Cô có thể đọc lướt qua những mẫu ghi của mình và đánh dấu vào mỗi mẫu ghi theo từng loại, sau đó gạch bỏ tất cả những phiếu mà cô sẽ không dùng đến. Sau đó, cô sẽ quan sát xem công
    việc diễn ra như thế nào.

    Mặc dù việc đề cập đến các quá trình nhận thức thực sự là một phần của việc làm mẫu cho quá trình siêu nhận thức, nhưng việc quan trọng là làm mẫu cho quá trình tư duy nhằm tác động đến khả năng tự điều chỉnh của học sinh. Việc làm mẫu các kỹ thuật học tập, như phương pháp hiểu các bài khóa (ví dụ đặt câu hỏ) hoặc giải quyết vấn đề về từ vựng (ví dụ nhận ra những sự biến đổi của từ) là một phương pháp hiệu quả trong việc dạy cho học sinh các chiến lược học tập, nhưng nếu việc nhận thức, lập kế hoạch và theo dõi tư duy không được thực hiện rõ ràng thì việc làm mẫu sẽ không có tác động gì đến tư duy siêu nhận thức của học sinh.

    Những nguồn tài liệu khác có thể hướng dẫn về tư duy siêu nhận thức, nhất là đối với học sinh lớn tuổi hơn, bao gồm tiểu sử, nhật ký, thư và những bài viết mang tính cá nhân khác của những chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực mà các em đang nghiên cứu. Được tiếp cận với những kỹ thuật giải quyết vấn đề của những nhà tư tưởng “huyền thoại” có thể tạo cảm hứng và nâng cao kiến thức cho học sinh.

    Sau khi làm mẫu về siêu nhận thức, bước tiếp theo là tạo cho học sinh cơ hội thực hành những kỹ năng siêu nhận thức với sự trợ giúp của giáo viên. Học sinh có thể vừa suy nghĩ vừa nói theo cặp hoặc theo nhóm. Việc lắng nghe cách thức bạn mình tiếp cận với những vấn đề phức tạp có thể giúp học sinh mở rộng vốn hiểu biết về những kỹ thuật có thể thực hiện.

    Cuối cùng, sử dụng các câu hỏi gợi ý như “Trước tiên các em có thể làm gì?” và “Các em có thể thử làm điều gì nữa?” và “Chiến lược của các em hiệu quả ở mức độ nào?” sẽ gợi cho học sinh suy nghĩ về tư duy của mình trong lúc các em đang làm việc.

    Những câu hỏi thúc đẩy siêu nhận thức

    Ý thức

    • Tôi sẽ tiếp cận bài tập này như thế nào?
    • Tôi sẽ phải làm gì trong dự án này?
    • Tôi sẽ làm gì khi không hiểu những gì tôi đang đọc?
    • Khi tôi gặp khó khăn, tôi sẽ làm gì?
    • Tôi nghĩ tới điều gì trong khi tôi đang đọc sách?

    Lập kế hoạch

    • Bài tập này thuộc loại gì?
    • Mục tiêu của tôi là gì?
    • Tôi cần những thông tin nào?
    • Tôi có thể gặp phải những vấn đề nào trong lúc đang thực hiện và cách thức xử lý chúng ra sao?
    • Tôi có những tài liệu tham khảo nào?
    • Bài tập này sẽ mất thời gian bao lâu?
    • Có những bài tập nhỏ nào trong dự án lớn đó?
    • Những việc nào tôi phải làm theo đúng thứ tự và những việc nào tôi có thể làm bất kỳ lúc nào?
    • Tôi cần phải hợp tác với những ai và với những sự kiện nào?
    • Ai có thể giúp tôi?
    • Tôi muốn học được điều gì từ dự án này?

    Theo dõi

    • Những việc mà tôi đang làm có hiệu quả không?
    • Tôi không hiểu điểm nào trong bài tập này?
    • Liệu tôi có thể làm bài tập này một cách khác không?
    • Tôi có phải bắt đầu lại không?
    • Tôi có cần phải thay đổi cách thức làm việc một chút để đạt hiệu quả hơn không?
    • Tôi có thể kiểm soát điều gì trong môi trường làm việc của mình?
    • Tôi có thể xử lý những khó khăn ngoài mong đợi như thế nào?
    • Tôi đang học được điều gì?
    • Tôi có thể làm gì để học được nhiều hơn và tốt hơn?
    • Đây có phải là cách tốt nhất để làm việc này không?

    Tài liệu tham khảo

    Marzano, R.J. (1998). Siêu phân tích dựa trên lý thuyết các nghiên cứu về dạy học. Auroral, Co: McREL www.mcrel.org/PDF/Instruction/5982RR_InstructionMeta_Analysis.pdf*

    Tishman, J, E. Jay & D.N. Perkins (1992). Dạy cách tổ chức tư duy: Từ chuyển giao đến hội nhập văn hóa. Cambridge, MA: ALPS. http://learnweb.harvard.edu/alps/thinking/docs/article2.html*

  • HỌC VỀ SỰ HỌC: NĂNG LỰC SIÊU NHẬN THỨC (METACOGNITIVE)

    HỌC VỀ SỰ HỌC: NĂNG LỰC SIÊU NHẬN THỨC (METACOGNITIVE)

    Tác giả ANITA E.WOOLFOLK, bản dịch của TLHGD

    Năng lực học và nhớ ở các cá nhân rất khác biệt. Điều này dẫn các nhà tâm lý học (viết tắt: TLH) tới việc nghiên cứu Siêu nhận thức.

    HỌC VỀ SỰ HỌC: NĂNG LỰC SIÊU NHẬN THỨC (METACOGNITIVE)

    Siêu nhận thức là gì?

    Thuật ngữ Metacognition (Siêu nhận thức) là để nói đến việc hiểu biết và kiểm soát sự suy nghĩ và các hoạt động học. Nó dính líu đến ít nhất là hai thành tố riêng rẽ:

    • (1) nhận biết về các kỹ năng, chiến lược, và nguồn cần có để thực hiện một nhiệm vụ một cách hiệu quả – tức là biết phải làm gì;
    • (2) năng lực sử dụng các cơ chế tự điều chỉnh để bảo đảm hoàn thành thành công nhiệm vụ – tức là biết làm thế nào khi nào. 

    Các chiến lược ở thành tố thứ nhất – biết phải làm cái gì – bao gồm nhận dạng ý tưởng chính, thông tin thực hành, tạo ra những liên kết và hình ảnh, sử dụng thuật ghi nhớ, tổ chức vật liệu mới để làm cho dễ nhớ, áp dụng các kỹ thuật đo nghiệm, phác ra các ý chính, và ghi chú.

    Các cơ chế điều chỉnh – thành tố thứ hai, biết làm sao và khi nào – bao gồm kiểm tra xem bạn có hiểu không, lường trước kết quả, đánh giá hiệu quả của một nỗ lực, hoạch định bước tiếp theo, đo nghiệm các chiến lược, quyết định cách thức phân chia thời gian và nỗ lực, và xem lại hay chuyển qua các chiến lược khác để khắc phục những khó khăn gặp phải.

    Việc sử dụng các cơ chế điều chỉnh này gọi là giám sát nhận thức (cognitive monitoring). Ghi chú rằng những tiến trình này giám sát nhận thức này có thể coi như một phần của các tiến trình kiểm soát thực hiện đối với dòng thông tin thông qua các hệ thống ghi nhớ trong hình mẫu xử lý thông tin.

    Nhìn chung, các năng lực siêu nhận thức bắt đầu phát triển ở độ tuổi 5-7 và cải thiện qua trường học. Nhưng có sự đa dạng lớn trong cùng lứa tuổi. Phần lớn HS đi qua một thời kỳ trung chuyển qua đó các em có thể áp dụng một chiến lược đặc biệt nhưng sẽ không tự mình áp dụng. 

    Dạy chiến lược

    Một mục tiêu của giáo dục là giúp HS học cách sử dụng các chiến lược nhận thức. May thay, nghiên cứu cách dạy những kỹ năng kiểm soát thực hiện này đã trở thành một ưu tiên hàng đầu trong giáo dục và nhiều nguyên tắc quan trọng đã được nhận dạng.

    Thoạt tiên, HS phải được giới thiệu những chiến lược khác nhau – không chỉ các chiến lược tư duy nói chung mà những chiến lược rất đặc thù, chẳng hạn các kỹ thuật ghi nhớ đã mô tả bên trên.

    Thứ hai, việc dạy cho HS khi nào, ở đâu, vì sao sử dụng chiến lược dường như rất quan trọng. Mặc dù dường như đó là hiển nhiên, các GV thường bỏ qua thông tin này, bởi vì họ không nhận thức được ý nghĩa của nó, hoặc họ cho rằng HS sẽ tự mình suy ra.

    Thứ ba, ta không thể quên mối quan hệ giữa việc thực hiện và thái độ. HS có thể biết lúc nào sử dụng và sử dụng thế nào một chiến lược, nhưng các em cũng phải phát triển ham muốn sử dụng những kỹ năng ấy.

    Thứ tư, việc trực tiếp giảng dạy kiến thức sơ giản thường là thành tố quan trọng của việc huấn luyện chiến lược. Nhằm nhận dạng những ý tưởng chính – một kỹ năng quyết định cho nhiều chiến lược học – ta phải có một sơ đồ thích đáng để giảng nghĩa vật liệu học.

    Hiệu quả của việc huấn luyện sơ đồ cụ thể đã được chứng minh nhiều lần. Chẳng hạn, nhận thức được hình thức điển hình của các lối kể chuyện sẽ cải thiện việc nhớ lại câu chuyện kể. Những hình thức điển hình này được gọi là các văn phạm của câu chuyện (story grammars). Ví dụ, chàng trai gặp cô gái, chàng và nàng phải lòng nhau, có sự hiểu lầm nhau, chàng đánh mất nàng, rồi tái hợp… Nói cách khác, đó là một cấu trúc chung điển hình – một sơ đồ hay khuôn mẫu – có thể hợp với nhiều câu chuyện cụ thể. Nếu biết câu chuyện sẽ đi đến đâu, ta sẽ có thể thấy dễ hiểu và nhớ câu chuyện.

    Mời bạn tham khảo thêm trong bài ĐIỀU GÌ GIÚP HỌC SINH THÀNH CÔNG? HÃY DẠY CÁC EM HỌC CÁCH HỌC

    Siêu nhận thức và việc đọc

    Để minh hoạ ý nghĩa thực hành của siêu nhận thức, ta hãy tập chú vào một nhiệm vụ thông thường của nhà trường – đọc hiểu. Rõ ràng là nhiều kiến thức mà HS có được là từ các vật liệu viết. Đọc hiểu là quan trọng cho mọi HS. Những năm gần đây, nghiên cứu về siêu nhận thức đã đóng góp nhiều vào sự hiểu biết của chúng ta về tiến trình này.

    HỌC VỀ SỰ HỌC: NĂNG LỰC SIÊU NHẬN THỨC (METACOGNITIVE) 14

    Nếu ta được yêu cầu mô tả mình đã làm gì khi đọc đoạn văn trước, có thể ta nói rằng: “Ý anh là sao, tôi đã làm gì hả? Tôi chỉ đọc các chữ thôi”. Nhưng đọc hiểu là một tiến trình phức hợp hơn nhiều so với “đọc các chữ”. Hiểu là kết quả của sự tương tác giữa bản thân văn bản với các cấu trúc nhận thức (các văn phạm của câu chuyện, những sơ đồ khác, các mạng lưới mệnh đề, các chiến lược) mà người đọc dựa vào và áp dụng trong tiến trình đọc. Để có được một cảm nhận về sự tương tác này, ta có thể xem xét những khác biệt về kỹ năng siêu nhận thức giữa người đọc chuyên gia và người đọc tập sự hay không có kỹ năng.

    Người đọc không có kỹ năng coi việc đọc như một tiến trình giải mã (tìm cách hiểu từng từ riêng rẽ) hơn là một tiến trình nắm bắt nghĩa (hiểu nghĩa của cả văn bản). Giải mã là việc dịch từ chữ in ra lời nói. Trẻ được dạy đọc bằng cách giải mã, cho nên với các em thường đó là hoạt động duy nhất trong việc đọc.

    Nói cách khác, bất kể các em đọc để học, để chơi hay đọc lướt qua, các em không điều chỉnh cách đọc. Các em cũng khó chọn lọc những ý quan trọng trong văn bản và phát hiện những vi phạm về cấu trúc logic trong văn bản. Chẳng hạn, nếu 2 câu trong cùng đoạn văn mâu thuẫn với nhau, các em có thể không nhận ra. Hơn thế nữa, các em có khó khăn trong việc nghĩ đến kiến thức có liên quan và sử dụng văn cảnh để giúp mình diễn giải cái mình đang đọc. Cuối cùng, các em có ít chiến lược để đối phó với việc không hiểu văn bản, ngay cả khi thấy ra được vấn đề.

    Huấn luyện các chiến lược đọc hiểu

    Một phương pháp rất thành công là làm mẫu bằng lối dạy tương hỗ (reciprocal teaching). Phương pháp này dạy HS 4 chiến lược: tóm tắt nội dung một đoạn văn; nêu câu hỏi về điểm trung tâm; làm sáng tỏ những phần khó trong văn liệu; và dự đoán cái gì sẽ đến tiếp.

    Thoạt tiên GV và nhóm HS im lặng đọc một đoạn ngắn. Rồi GV cho HS một hình mẫu 4 bước như trên. Tiếp đó, mỗi HS đọc một đoạn khác, và HS bắt đầu đóng vai GV. Thường thì những thực hành đầu tiên của HS là sai sót. Nhưng GV cho gợi ý, chỉ dẫn, khuyến khích (điều mà Vygotsky gọi là bắc giàn – scaffolding) để giúp HS nắm được những chiến lược ấy.     

  • ĐIỀU GÌ GIÚP HỌC SINH THÀNH CÔNG? HÃY DẠY CÁC EM HỌC CÁCH HỌC

    ĐIỀU GÌ GIÚP HỌC SINH THÀNH CÔNG? HÃY DẠY CÁC EM HỌC CÁCH HỌC

    Bài viết của tác giả Patrice Bain do Đức Hà dịch, đăng trên Nội san Dạy học số 40 năm 2021.

    Đôi khi những điều học sinh nhớ nhất về lớp học của mình lại là những điều rất đỗi bình thường. Mấy năm trước, tôi có dạy Abby, một học sinh có nhu cầu đặc biệt. Abby luôn học trong các lớp học chuyên biệt, vì vậy giáo viên của Abby gửi em tới lớp học của tôi để làm quen với việc hòa nhập và cải thiện kỹ năng xã hội. Và Abby đã hoà nhập rất tốt. Một năm sau, Abby bắt đầu ghé qua lớp tôi vài lần một tuần để đưa ghi chú từ văn phòng trường, và tôi luôn rất vui mỗi khi thấy em.

    ĐIỀU GÌ GIÚP HỌC SINH THÀNH CÔNG? HÃY DẠY CÁC EM HỌC CÁCH HỌC

    Một ngày nọ, tôi tổ chức cho lớp học thảo luận về siêu nhận thức (metacognition) – một chiến lược dạy học cho học sinh cấp 2. Abby bước vào lớp ngay khi tôi vừa đặt câu hỏi: “nêu một từ khó yêu thích của cô mà bắt đầu bằng chữ M.” Abby đáp ngay sau vài giây: “Mesopotamia”. Mặc dù từ tôi muốn nói đến ở đây là “Metacognition”, nhưng câu trả lời của Abby khiến tôi vô cùng tự hào. Dù Abby đã học và tìm hiểu về Mesopotamia hơn 1 năm rưỡi trước, vậy mà em có thể tức khắc nhắc về nó trong vỏn vẹn vài giây.

    Câu chuyện về Abby hầu như không có gì quá đặc biệt. Học sinh của tôi thường cảm thấy ngạc nhiên về chính mình mỗi khi các em học tốt môn Lịch sử. “Em chưa bao giờ học tốt môn Lịch sử cả!”. Đó là những gì học sinh thường nói với tôi. Điều này thường bắt đầu từ suy nghĩ vô cùng đau lòng nhưng lại rất phổ biến: “Em không thông minh.” Mỗi khi nghe các em nói như vậy, tôi nhận ra học sinh của mình đã tự chấp nhận thất bại khi các em mới chỉ 11 tuổi.

    Điều đó khiến tôi đưa ra 2 câu hỏi: Làm cách nào để những học sinh mất niềm tin vào chính bản thân mình như Abby có thể lưu giữ kiến thức trong nhiều năm? Và chúng ta có thể chỉ cho các em thấy rằng điểm kém không phải là thất bại, mà chỉ là do chưa tìm được cách học phù hợp?

    Tham gia nghiên cứu

    Lý do mà tôi đề cập về siêu nhận thức trong lớp của mình là vì một phần của khái niệm đó liên quan đến việc phân biệt những gì đã biết với những gì chưa biết. Những học sinh xuất sắc nhất thường cho rằng các em phải tập trung thời gian để học những gì chưa biết. Tuy nhiên điều đó không phù hợp với phần lớn học sinh. Và đó là lúc cần tới giáo viên. Điều đầu tiên tôi dạy học sinh của mình là học cách học, rồi sau đó mới tới nội dung môn học. Học sinh sẽ thay đổi nhận thức từ “Em không thông minh” thành “Em không biết phần này vì em chưa học”. Chính sự thay đổi trong tư duy mới là yếu tố tạo nên sự khác biệt. Thực sự thì tôi đã từng không tin tưởng nhận định trên cho lắm. Nhưng một cuộc gặp gỡ tình cờ với hai nhà khoa học về nhận thức của đại học Washington, Tiến sĩ Mark McDaniel và Tiến sĩ Henry Roediger III đã thay đổi hoàn toàn suy nghĩ của tôi. Họ nhận tài trợ của bang và muốn thực hiện nghiên cứu trong lớp học của tôi, và tất nhiên là tôi đồng ý. Nghiên cứu bắt đầu từ lớp học của tôi, rồi ngày càng mở rộng hơn và trở thành một nghiên cứu xác thực và nghiêm ngặt được tiến hành qua nhiều khối lớp, trường học trong nhiều năm.

    Nghiên cứu được thực hiện với hơn 1500 học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông. Mục đích của nghiên cứu là tìm ra phương pháp học tập hiệu quả nhất đối với học sinh trong lớp học.
    Đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện trong các phòng nghiên cứu ở các trường đại học, nhưng đây là nghiên cứu đầu tiên được thực hiện trực tiếp tại các lớp học. Kết quả chỉ ra rằng việc sử dụng các nguyên tắc đã được nghiên cứu của khoa học học tập – cụ thể là siêu nhận thức dựa trên phản hồi và một quy trình khác được gọi là truy xuất (retrieval) – đã làm cải thiện điểm số cá nhân lên từ một đến hai bậc, thường là thay đổi từ điểm C thành điểm A.

    Những nguyên tắc về siêu nhận thức và truy xuất dựa trên phản hồi đã giúp việc dạy của tôi trở nên hiệu quả hơn rất nhiều so với suy nghĩ của chính tôi. Nói tóm lại, tôi bắt đầu hiểu tại sao học sinh của mình lại học (và nếu không học thì tại sao không).

    Học cách học

    Nhiều học sinh nói với tôi rằng các em dành nhiều giờ để học mà vẫn bị điểm kém. Lí do là gì? Học sinh thường không ôn tập những gì các em đã biết cũng như bỏ qua những bài tập khó. Tuy nhiên, có bằng chứng cho thấy việc phản hồi kịp thời và hiệu quả có tác dụng rất lớn đối với những học sinh đang gặp khó khăn. Phản hồi giúp học sinh phân biệt được những gì các em đã biết và chưa biết – siêu nhận thức.

    Phần thứ hai trong chiến lược học tập của tôi dựa trên quy trình truy xuất (retrieval). Theo định nghĩa yêu thích của tôi về thuật ngữ này, khi nghĩ về việc học, chúng ta thường tập trung vào việc “nhồi” thông tin vào đầu học sinh. Quy trình truy xuất, theo một cách khác, lại tập trung vào việc thể hiện những thông tin mà học sinh đã biết ra ngoài. Có thể bạn cho rằng bạn biết mọi thứ về xã hội cổ đại Mesopotamian, nhưng chỉ khi bạn được yêu cầu giải thích lại những gì bạn biết thì bạn mới nhận ra những điều mà bạn còn chưa thực sự hiểu rõ ràng. Với nhiều học sinh, khoảnh khắc nhận ra những thiếu sót đó thường xảy ra khi các em thực hiện bài kiểm tra quan trọng. Và khi đó thì đã muộn!

    Khi đã hiểu rõ hơn về nghiên cứu này, tôi mới nhận ra học sinh không tiếp thu được nhiều từ việc làm đi làm lại bài tập về nhà và bài kiểm tra. Siêu nhận thức và truy xuất là những công cụ mạnh mẽ mà tôi cần đưa vào trong lớp học của mình. Hơn một thập kỷ trước, tôi bắt đầu áp dụng chúng vào các tiết dạy hàng ngày. Tôi dừng hẳn việc giao bài tập về nhà và thay vào đó cho các em làm những bài trắc nghiệm nhỏ: một bài tập mà học sinh không cần đầu tư quá nhiều. Tôi sẽ chọn ngẫu nhiên 5 nội dung đã học trong buổi trước và yêu cầu học sinh viết lại những gì mà các em nhớ được. Sau đó chúng tôi thảo luận và học sinh sẽ nhận được phản hồi ngay lập tức.

    Những bài trắc nghiệm nhỏ này giúp học sinh xác định những gì các em đã biết và chưa biết. Phương pháp có thực sự hiệu quả? Nếu không, truy xuất cần phải được nghiên cứu thêm. Bằng cách này, tôi đã giảm được thời gian chấm bài tập của mình từ 2 giờ mỗi buổi tối xuống còn 15 phút phân tích các bài trắc nghiệm nhỏ. Từ đó, tôi phát hiện được những mảng kiến thức học sinh chưa học hoặc chưa nắm chắc để tập trung hơn vào chúng trong các buổi ôn tập.

    Sau khi thấy được sự thành công của các bài trắc nghiệm đơn giản, tôi thích thú xem tôi có thể điều chỉnh những chiến lược dạy học mà mình đã sử dụng trở thành những công cụ mạnh mẽ như thế nào. Tôi bắt đầu sử dụng các nút bấm (clicker) để đưa ra những đánh giá không chính thức (informal assessments) và định kỳ (formative assessments). Tôi thường cho học sinh thực hiện một bài đánh giá nhanh trước khi bắt đầu bài học, một bài cách vài ngày sau bài học, và một bài trước khi kiểm tra tổng kết chương. Tôi muốn biết học sinh của mình ghi nhớ được những gì và nhớ đến khi nào.

    Cụ thể hơn, tôi bắt đầu nhận thấy những thành tựu đáng kể với những học sinh có nhu cầu đặc biệt (Individualized Education Program) – một nhóm đặc thù trong lớp học của tôi, bao gồm cả những học sinh giống như Abby. Các em thường dành thời gian ngoài giờ học cùng giáo viên giáo dục đặc biệt, và tôi muốn biết liệu phương pháp học tập của mình có giúp các em nắm được bài mới ngay trong lần đầu tiên hay không. Một số em cần nhận được hỗ trợ trong quá trình học tập như học thêm giờ hay ôn tập trước kiểm tra vẫn thực hiện đánh giá thường xuyên giống như những bạn học khác.

    Vào một năm, khi tôi theo dõi kết quả của 14 học sinh có nhu cầu đặc biệt, tôi phát hiện ra rằng các em thực sự đã học và ghi nhớ các kiến thức. Ví dụ trong một bài học về Ai Cập, những em này đã có khoảng 39% thông tin trước khi bắt đầu bài học. Vài ngày sau, tỷ lệ tỷ lệ trả lời chính xác trong bài kiểm tra của các em lên tới khoảng 70%. Tới bài đánh giá trước khi tổng kết chương, con số này chạm mốc 82%. Và với những học sinh có nhu cầu đặc biệt mà tôi dạy trong những năm sau, tôi cũng thu được kết quả tương tự. Đối với tôi, điều đó cho thấy rằng học sinh đã tận dụng thời gian hiệu quả cùng giáo viên để cải thiện kết quả học tập, đồng thời học cách đánh giá và ôn lại những gì mà các em chưa biết.

    Việc thay đổi phương pháp, đồng thời áp dụng các nguyên tắc dựa trên nghiên cứu của khoa học học tập đã tác động mạnh mẽ đến việc lưu giữ thông tin của học sinh. Nó đã thay đổi hoàn toàn “sự nghiệp” học hành của các em . Trên thực tế, nghiên cứu mà tôi tham gia đã chỉ ra rằng mối quan hệ giữa sự hiểu biết của học sinh về việc học của bản thân với việc học thực tế của các em có tác động lớn và lâu dài đến thói quen, động cơ và cả việc học tập nói chung.

    Trong những năm qua, điểm số những bài kiểm tra ngắn kia vẫn cứ tăng lên và sự tự tin được cải thiện. Nhiều học sinh của tôi đã chia sẻ rằng các em không còn cảm thấy bản thân là kẻ thất bại trong việc học nữa. Các em luôn nhớ về tôi như người đã góp phần giúp các em thành công; Về phần mình, tôi luôn cho rằng thành công có được hoàn toàn là công sức của các em. Học sinh của tôi đã học cách học – một kỹ năng mà các em khó có thể quên được.

  • NHỮNG CUỐN SÁCH THIẾU NHI HAY CHO CẢ BÉ VÀ BỐ MẸ

    NHỮNG CUỐN SÁCH THIẾU NHI HAY CHO CẢ BÉ VÀ BỐ MẸ

    1. Những Tấm Lòng Cao Cả – Edmondo De Amicis

    NHỮNG CUỐN SÁCH THIẾU NHI HAY CHO CẢ BÉ VÀ BỐ MẸ 15

    Những tấm lòng cao cả (còn được dịch ở Việt Nam với tên Những tâm hồn cao thượng, Tâm hồn cao thượng) ra đời từ những năm 80 của thế kỷ 19 đã làm cho tên tuổi nhà văn Edmondo De Amicis (1846 – 1908) trở nên nổi tiếng khắp thế giới.

    Cho đến nay tác phẩm bất hủ này vẫn vang vọng và để lại dấu ấn đậm nét trong lòng người đọc đặc biệt là các em thiếu nhi ở các thời đại khác nhau.

    Đó là một câu chuyện giản dị, với những con người bình thường nhất nhưng nhân cách của họ, mối quan hệ của họ, cùng những tấm lòng cao cả, thánh thiện của họ mãi là những bài học đạo đức sâu sắc và đáng quý.

    Một cậu bé người Ý, Enrico, hằng ngày ghi lại những việc lớn nhỏ diễn ra trong đời học sinh của cậu, những cảm tưởng và suy nghĩ của cậu thành một cuốn nhật ký.

    Đây là một trong những cuốn sách thiếu nhi hay nhất mà bố mẹ nên cho bé nhà mình đọc để có được tấm lòng rộng mở và biết yêu thương hơn.

    2. Truyện Kể Hằng Đêm Dành Cho Các Cô Bé Cá Tính

    NHỮNG CUỐN SÁCH THIẾU NHI HAY CHO CẢ BÉ VÀ BỐ MẸ 16

    Bộ sách tập hợp các câu chuyện truyền cảm hứng về những người phụ nữ xuất chúng truyền cảm hứng, từ Elizabeth Đệ Nhất tới “nữ hoàng quần vợt” Serena Williams. Những người phụ nữ này đã vượt qua rào cản xã hội và bất công về giới để tạo ra những thành tựu đáng kinh ngạc.

    Cuốn sách gối đầu giường không thể thiếu của mọi cô bé và các thiếu nữ.

    Geri Stengel, Forbes

    Tranh vẽ rất đẹp, nhiều màu sắc gồm minh họa của 60 nữ họa sĩ từ mọi nơi trên địa cầu, đây là dự án gây quỹ làm sách lớn nhất từng có, tạo cảm giác tích cực. Bộ sách này không chỉ dành riêng cho các bé gái mà các bé trai, cũng như bố mẹ cũng rất nên đọc để thấy được thế giới rộng lớn, đa chiều và nhiều người phụ nữ tuyệt vời tới thế nào.

    NHỮNG CUỐN SÁCH THIẾU NHI HAY CHO CẢ BÉ VÀ BỐ MẸ 17

    Nhóm tác giả của bộ sách gồm:

    • ELENA FAVILLI là người giành được giải thưởng báo chí uy tín, đồng thời là một doanh nhân trong ngành truyền thông.
    • FRANCESCA CAVALLO là nhà văn và đạo diễn sân khấu từng đạt giải thưởng uy tín. “Truyện kể hằng đêm cho các cô bé cá tính” là cuốn sách thứ bảy cô viết cho thiếu nhi.

    3. Chú Sâu Háu Ăn – The Very Hungry Caterpillar

    Chú Sâu Háu Ăn (The very hungry caterpillar) là cuốn truyện thiếu nhi nổi tiếng thế giới kể về câu chuyện trong bảy ngày của một chú sâu xanh.

    Lúc nào chú ta cũng cảm thấy đói bụng và chú ta bắt đầu bò đi tìm kiếm thức ăn. Mỗi ngày trôi qua số lượng đồ ăn chú sâu ấy ăn vào bụng càng nhiều, cho tới khi chú không còn là một chú sâu bé nhỏ nữa, mà đã trở thành chú sâu to béo có thể tự xây nhà trong cái Kén bao quanh mình. Và rồi một sáng đẹp trời, chú đã hóa thành một chú bướm xinh đẹp chui ra khỏi cái Kén của mình.

    NHỮNG CUỐN SÁCH THIẾU NHI HAY CHO CẢ BÉ VÀ BỐ MẸ 18

    Sách rất dễ thương, có nhiều hình vẽ sống động giúp bé tập đếm, gọi tên món ăn, thấy được quá trình phát triển tự nhiên của sâu bướm. Bố mẹ cũng có thể tham gia trò chơi với bé trong quá trình đọc sách, như chỉ ra “7749” các món chú sâu “măm măm” cả ngày khiến cho bị đau bụng…

    NHỮNG CUỐN SÁCH THIẾU NHI HAY CHO CẢ BÉ VÀ BỐ MẸ 19

    Mời bạn xem thêm BỘ SÁCH DÀNH CHO BÉ TỪ 0-3T

    4. Ehon Nhật Bản: Bé Trứng

    Ehon Nhật Bản: Bé Trứng Lời Kangawa Jesrika & hình ảnh Yaggu Gerichira thích hợp cho bé từ 2 đến 3 tuổi.

    Ehon là một chuỗi truyện tranh với 7 quyển sách khác nhau được dành cho trẻ em dưới 10 tuổi ở Nhật. Mỗi quyển sách đều chứa một câu chuyện khác nhau phù hợp với từng lứa tuổi. Trong đó, có quyển sách “Ehon Nhật Bản: Bé Trứng” là một phiên bản phù hợp dành cho trẻ em dưới 3 tuổi.

    NHỮNG CUỐN SÁCH THIẾU NHI HAY CHO CẢ BÉ VÀ BỐ MẸ 20

    Mỗi quả trứng được nhắc đến trong quyển sách là một điều bí ẩn sắp được bật mí. Trong đó có thể là một bạn gà, bạn rùa hay bạn rắn, … Tất cả những bí mật này sẽ giúp trẻ học cách khám phá và tìm tòi những điều mới lạ từ thế giới xung quanh.

    5. Ngủ Ngon Nhé Trăng – Goodnight Moon

    Nội dung của Ngủ ngon nhé trăng khá đơn giản. Có một chú thỏ con đang nằm trong phòng riêng của minh, chuẩn bị đi ngủ.

    Qua từng trang sách, chú sẽ chúc một con vật gì đó ngủ ngon, một chú chuột, một chú mèo con, rồi một đôi găng cho đến khi cả thế giới đã nghỉ ngơi, chú mới chìm dần vào giấc ngủ. Sách có một vài trang ảnh được minh họa màu, mà một số khác chỉ là tranh ảnh trắng đen, và qua từng trang sách, căn phòng của chú thỏ sẽ tối hơn, chó đến lúc mặt trăng và các vì sao đã lấp lánh bên ngoài.

    NHỮNG CUỐN SÁCH THIẾU NHI HAY CHO CẢ BÉ VÀ BỐ MẸ 21

    Sách rất tốt để đọc trước khi ngủ, có ẩn trong từng trang sách những chi tiết hình ảnh thú vị. Bố mẹ và bé có thể tham gia trò chơi tìm kiếm các đồ đạc và con vật qua từng bức tranh. Ví dụ như tập trung vào từng hình để tìm xem chú chuột bé xíu chạy đi đâu.

    6. Cây Táo Yêu Thương – The Giving Tree

    Cuốn sách là câu chuyện đơn giản nhưng đầy tính triết lý về mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, về sự cho và nhận trong tình cảm gia đình. Cuốn sách có thể làm cho các bé yên lặng lắng nghe còn bố mẹ vừa đọc vừa rơi nước mắt.

    NHỮNG CUỐN SÁCH THIẾU NHI HAY CHO CẢ BÉ VÀ BỐ MẸ 22

    Cuốn sách lạ khi toàn bộ câu chuyện chỉ là 25 bức vẽ trắng đen. Đã vậy, cốt truyện của The Giving Tree được gói gọn trong những câu kể ngắn, rất ngắn, không có phù thủy, không có công chúa, càng chẳng có phép màu, chẳng li kỳ thú vị như những truyện thiếu nhi khác. Kết thúc truyện cũng không có “cái thiện chiến thắng cái ác” hay “họ sống chung bên nhau hạnh phúc suốt đời”, mà thay vào đó, lại là một câu chuyện buồn nhiều dư vị…

    Dẫu có thế nào đi nữa, quyển sách của Shel Silverstein vẫn đứng vững trong lòng bạn đọc suốt 50 năm, được dịch ra 30 ngôn ngữ khác nhau trên thế giới và trở thành cuốn sách yêu thích của hàng triệu trẻ em. The Giving Tree liên tục nằm trong những truyện thiếu nhi bán chạy nhất, xếp thứ 24 trong 100 cuốn sách thiếu nhi được yêu thích nhất theo khảo sát của Hiệp hội Giáo dục Quốc gia Hoa Kì (NEA), và gần đây là vị trí thứ 3 trong danh sách The Giving Tree của cộng đồng Goodreads với gần 50.000 lượt bình chọn.

    7. Totto-Chan Bên Cửa Sổ

    NHỮNG CUỐN SÁCH THIẾU NHI HAY CHO CẢ BÉ VÀ BỐ MẸ 23

    Vừa vào lớp một được vài ngày, Totto-chan đã bị đuổi học!!!

    Không còn cách nào khác, mẹ đành đưa Totto-chan đến một ngôi trường mới, trường Tomoe. Đấy là một ngôi trường kỳ lạ, lớp học thì ở trong toa xe điện cũ, học sinh thì được thoả thích thay đổi chỗ ngồi mỗi ngày, muốn học môn nào trước cũng được, chẳng những thế, khi đã học hết bài, các bạn còn được cô giáo cho đi dạo. Đặc biệt hơn ở đó còn có một thầy hiệu trưởng có thể chăm chú lắng nghe Totto-chan kể chuyện suốt bốn tiếng đồng hồ! Chính nhờ ngôi trường đó, một Totto-chan hiếu động, cá biệt đã thu nhận được những điều vô cùng quý giá để lớn lên thành một con người hoàn thiện, mạnh mẽ.

    Totto-chan bên cửa sổ chính là cuốn tự truyện của Kuroyanagi Tetsuko, là cuốn sách bán chạy nhất ở Nhật Bản sau Thế chiến thứ hai. Tác phẩm là những kỉ niệm đẹp thời thơ ấu của chính tác giả khi được học tập, được lớn lên dưới ngôi trường Tomoe xinh đẹp. Với những tình huống dở khóc dở cười của cô bé hiếu động Totto-chan, tác phẩm không chỉ đem lại cho chúng ta tiếng cười vui thích thú, làm sống lại trong ta cả một thời học sinh tươi đẹp mà ai cũng từng trải qua mà hơn thế Totto-chan bên cửa sổ còn đem lại cho bạn những bài học cuộc sống ý nghĩa, đưa bạn đến với ngôi trường của một nền giáo dục hiện đại, một phương pháp giảng dạy tuyệt vời.

    8. Bộ Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên – Laura Ingalls Wilder

    Tác phẩm Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên  là những câu chuyện thuở ấu thơ đầy cảm xúc của tác giả Laura Ingalls Wilder, được kể lại qua cô bé Laura. Tác phẩm này được xuất bản lần đầu tiên vào năm 2013 và được mệnh danh là một trong những cuốn sách dành cho thiếu nhi hay nhất mọi thời đại.

    NHỮNG CUỐN SÁCH THIẾU NHI HAY CHO CẢ BÉ VÀ BỐ MẸ 24

    Qua tác phẩm này, Laura Ingalls không những muốn ca ngời  tình cảm gia đình ấm áp, luôn bên nhau trải qua biết bao khó khăn gian khó mà còn ca ngợi tình bạn thủy chung và còn đề cao những con người lạc quan, yêu đời, sẵn sàng vượt qua khó khăn.

    9. Cuộc Phiêu Lưu Kì Lạ Của Karik Và Valia

    Tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Yan Larri kể về cuộc phiêu lưu của hai anh em Karik và Valia sau khi uống nhầm thuốc thu nhỏ của giáo sư Enotov và bám theo con chuồn chuồn bay khỏi nhà. Phát hiện ra sự việc, giáo sư Enotov cũng quyết định uống thuốc thu nhỏ để đuổi theo cứu hai đứa trẻ. Dưới hình dạng tí hon, ba bác cháu được chứng kiến một thế giới sinh vật kì ảo ngay trong khu vườn bé tẹo thường ngày với nhiều bất ngờ đến khó tin và vô cùng hấp dẫn, nhưng cũng gặp không ít hiểm nguy khi phải chạm trán với những “quái vật khổng lồ”… Những tình tiết hồi hộp đến thót tim cứ bám theo họ trong suốt cuộc hành trình.

    NHỮNG CUỐN SÁCH THIẾU NHI HAY CHO CẢ BÉ VÀ BỐ MẸ 25

    Từ bao năm nay, Cuộc Phiêu Lưu Kì Lạ Của Karik Và Valia là tác phẩm gắn bó với nhiều thế hệ thiếu nhi Liên Xô và Việt Nam. Cuốn sách đã được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh vào năm 1987 và là một trong những bộ phim sử dụng nhiều kĩ xảo nổi tiếng ở Liên Xô thời đó.

    10. Cơ thể con là của con – Dagma Geisler

    Sau giai đoạn từ 6 tuổi, các kỹ năng để ứng phó với các tình huống xảy ra trong cuộc sống là điều mà bố mẹ cần giáo dục cho trẻ. Trong đó, giúp trẻ nhận biết và bảo vệ cơ thể của chính mình là điều cần thiết.

    NHỮNG CUỐN SÁCH THIẾU NHI HAY CHO CẢ BÉ VÀ BỐ MẸ 26

    “Cơ thể con là của con” đề cập đến vấn đề này một cách nhẹ nhàng nhất từ câu chuyện của cô bé Clara. Quyển sách cho trẻ hiểu được rằng cơ thể mình sẽ liên tục có nhiều biến đổi và đó là điều đáng tự hào. Bên cạnh đó, bé cần biết cách bảo vệ bản thân mình và biết từ chối những động chạm từ người lạ.

  • TOP những câu nói ngụy biện điển hình

    TOP những câu nói ngụy biện điển hình

    Có một thói quen rất nguy hiểm mà người Việt thường xuyên sử dụng trong giao tiếp, đó là thói quen ngụy biện. Thói quen này đã lây nhiễm một cách vô hình từ giao tiếp thường nhật, từ tâm lý thắng thua khi tranh cãi, và nhất là trong cộng đồng cư dân mạng. Dưới đây là TOP những câu nói ngụy biện điển hình nhất.

    Ngụy biện là gì?

    Ngụy biện (fallacy) là lập luận sai về mặt logic trong tranh luận. Ngụy biện là việc sử dụng lập luận sai, không hợp lý, cố ý vi phạm các quy tắc logic trong suy luận.

    Ngụy biện có thể biến một vấn đề từ sai thành có cảm giác đúng, và từ đúng trở thành có vẻ sai. Ngụy biện có thể dẫn đến những cái nhìn sai lệch và tư duy sai lầm mà chính bản thân người nói cũng không nhận ra được.

    TOP những câu nói ngụy biện điển hình

    Những ai đã có kiến thức về ngụy biện đều hiểu một điều đáng buồn rằng: Người Việt rất hay ngụy biện và tư duy ngụy biện! Chúng ta đều biết hai chữ “ngụy biện”, nhưng liệu chúng ta có thật sự hiểu về nó? Bạn có tin rằng tại Việt Nam, ngụy biện đã cướp đi mạng sống của con người?

    Trên thế giới, ngụy biện đã trở thành một thứ “kiến thức” được biết đến rộng rãi, và các nhà nghiên cứu đã thống kê khoảng trên dưới 100 loại ngụy biện khác nhau. Đáng tiếc là tài liệu về ngụy biện tiếng Việt chỉ có một vài nguồn, đó là trang GS Nguyễn Văn Tuấn, trang Thư viện khoa học, hay trang “Ngụy biện – Fallacy” của TS. Phan Hữu Trọng Hiền.

    Dưới đây xin được tổng hợp lại 9 câu “ngụy biện” điển hình của người Việt đã được nêu ra tại các nguồn tài liệu trên.

    TOP những câu nói ngụy biện điển hình

    1. “NHÌN LẠI MÌNH ĐI RỒI HÃY NÓI NGƯỜI KHÁC”

    Mình làm sai thì là sai rồi, sao lại không nhận sai, không nói thẳng vào vấn đề “mình sai” mà lại quay qua tìm điểm yếu của người khác? Việc này cũng giống như là khi nhận được góp ý: “Viết sai chính tả rồi kìa”, thì thay vì sửa sai, bạn lại bốp chát: “Thế mày chưa viết sai bao giờ à?”

    2. “CÓ LÀM ĐƯỢC GÌ CHO ĐẤT NƯỚC ĐÂU MÀ TO MỒM”

    Người ta có làm được gì hay không thì là điều mình chưa biết, hơn nữa bạn đã “lạc đề” rồi. Vấn đề người ta nêu ra thì bạn không trả lời, không đưa ra luận điểm logic, mà lại đi đường vòng, chuyển qua công kích người khác.

    3. “NÓ ĂN TRỘM CHÓ THÌ CỨ ĐÁNH CHO NÓ CHẾT”

    Lập luận này đã khiến cho những kẻ trộm chó vốn không đáng phải chết bị giết chết bởi chính những người dân tưởng chừng “lương thiện”. “Ăn trộm chó” là sai, nhưng “giết người” cũng là sai, hai sai thì không phải là một đúng, mà là sai lại càng sai.

    4. “LÀM ĐƯỢC NHƯ NGƯỜI TA ĐI RỒI HÃY NÓI”

    Lại một hình thức “lạc đề”. Luận điểm mà người ta đưa ra thì bạn không xoay quanh mà bàn luận, lại cứ phải công kích cá nhân người khác thì mới vừa lòng sao?

    5. “NẾU KHÔNG THÍCH THÌ CÚT RA NƯỚC NGOÀI MÀ SỐNG”

    Lời nói này không chỉ đánh lạc hướng vấn đề, mà còn rất bất lịch sự, chuyên dùng để làm người đối diện tức giận, chứ chẳng có một chút logic nào trong đó cả.

    6. “CHỈ CÓ NHỮNG NGƯỜI CHÂN LẤM TAY BÙN TỪ NHỎ MỚI LÀ NGƯỜI CẦN CÙ CHĂM CHỈ XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC “

    Câu khẩu hiệu này đã từng xuất hiện ở Việt Nam trong quá khứ. Người ta có câu “vơ đũa cả nắm”, ấy chính là để chỉ việc lập luận cảm tính, khái quát cảm tính, mà không hề đưa ra logic hợp lý nào cả. Cũng như vậy, khi phân chia giai cấp và tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp, thì người ta đã mắc sai lầm ngụy biện, ví như chủ đất không nhất định là xấu, chủ doanh nghiệp cũng không nhất định là xấu, và người làm công ăn lương hay nông dân chắc gì đã là một người tốt cần cù chăm chỉ?

    7. “NƯỚC NÀO MÀ CHẲNG CÓ THAM NHŨNG”

    Vì nước nào cũng có tham nhũng nên Việt Nam được phép có tham nhũng hay sao? Vì mọi người đều vượt đèn đỏ nên tất nhiên tôi cũng phải vượt đèn đỏ? Vì xã hội thiếu gì nghiện hút nên trong nhà có người hút chích cũng là bình thường?

    8. “NẾU ANH LÀ HỌ MÀ ANH LÀM ĐƯỢC THÌ HẴNG NÓI”

    Đặt mình vào vị trí người khác là một tiêu chuẩn người xưa dùng để tu sửa bản thân, hướng vào bản thân tìm lỗi, là một nét văn hóa rất độc đáo của phương Đông. Tuy nhiên câu nói đó chỉ sử dụng khi một người tự răn mình, chứ không phải là một câu nói dùng trong tranh luận. Việc sử dụng nó trong tranh luận không chỉ là sự bịt miệng những phê bình của người khác, không giải thích các luận điểm của người khác, mà còn chứng tỏ rằng chúng ta đang phá hoại và lãng quên văn hóa truyền thống của chính mình.

    9. “TẠI SAO ANH DÁM NÓI CHÚNG TÔI SAI? ANH LÀ MỘT TÊN PHẢN BỘI DÂN TỘC “

    Kiểu lập luận chụp mũ này mặc nhiên coi mình là đúng, họ là sai, và những người đồng quan điểm với họ cũng là sai. Nó không hề đưa ra một thứ logic nào, nhưng lại cắt ngang một cái giới tuyến, và tùy tiện định tội cho người khác.

    Tất nhiên đây mới chỉ là những câu ngụy biện cơ bản nhất, thường thấy nhất và ngày càng xuất hiện thường xuyên hơn, muôn hình vạn trạng hơn trong tư duy của người Việt. Vậy nguyên nhân của thói quen này là từ đâu?

    Trong phần nhiều các lỗi ngụy biện thường gặp của người Việt, có một tâm lý cơ bản hiện rõ ra khi tham gia thảo luận, đó chính là tâm tranh đấu, hiếu thắng, và không hề tôn trọng người đối diện. Ngoài đó ra, chúng ta cũng hay bị ảnh hưởng của tâm lý đám đông, lợi dụng tâm lý đám đông để che đi trách nhiệm của bản thân mình.

    Muốn tránh cách tư duy ngụy biện, chúng ta không những phải sửa lối tư duy vòng vo, thiếu suy nghĩ, mà còn phải sửa chính từ tâm thái của mình khi trao đổi và luận bàn về mọi việc. Điều cơ bản nhất khi tham gia tranh luận là có trách nhiệm trong lời nói của chính mình và biết tôn trọng người đối diện”.