ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN Đất nước ta đang bước vào giai đoạn Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa với mục tiêu sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở thành nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế, do đó việc học Tiếng Anh, với tư cách là môn ngoại ngữ, là môn văn hóa cơ bản không thể thiếu của chương trình giáo dục phổ thông. Đây là chìa khóa cung cấp cho học sinh một công cụ giao tiếp mới để tiếp thu những tri thức khoa học, kỹ thuật tiên tiến, tìm hiểu các nền văn hóa đa dạng và phong phú trên thế giới, dễ dàng hội nhập với cộng đồng quốc tế. Việc họcTiếng Anh hiện nay đòi hỏi người học phải phát triển tốt các kỹ năng Nghe, Nói, Đọc, Viết để Tiếng Anh thực sự trở thành phương tiện giao tiếp có hiệu quả. Việc xây dựng được một hình ảnh có tính hệ thống, thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại nhiều thuận lợi về các mặt như ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, trí tưởng tượng và khả năng sáng tạo cao là cần thiết và quan trọng. Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy nếu chỉ dạy học sinh bằng cách ghi chép thông thường theo cách học truyền thống thì rất nhiều học sinh không có hứng thú học hoặc nếu học cũng sẽ quên rất nhanh những từ vựng, ngữ pháp,nội dung trọng tâm của bài đã học trên lớp. Vì vậy, bản thân tôi đã mạnh dạn viết đề tài: “Sử dụng Sơ đồ tư duy Mindmap vào giảng dạy và nâng cao khả năng tự học môn Tiếng Anh cho học sinh ở trường THCS”. Bộ môn tiếng Anh là một bộ môn khó và tương đối khô khan đối với học sinh trong việc tiếp thu kiến thức mới, hiểu và nắm được nội dung chủ đề của bài đọc, đặc biệt là các em tìm thấy khó để học thuộc hết từ vựng bằng hình thức ghi chép, thậm chí các em đã thuộc và hiểu bài nhưng chỉ sau đó một vài ngày là lại quên hết. Vì thế nhiều học sinh ít có hứng thú và thụ động trong giờ học.Tôi luôn suy nghĩ làm thế nào để mang lại cho học trò những bài học thật thú vị, mới mẻ, kích thích sự ham học, tính chủ động của các em từ khá giỏi đến yếu kém, làm sao sau mỗi bài học không chỉ học sinh khắc sâu kiến thức, ấn tượng, nhớ mãi mà còn giúp các em tự tin, chủ động dần lên. Nếu coi mỗi phương pháp học Tiếng Anh là một hình thái nghệ thuật. Thì sơ đồ tư duy (SDTD) Tiếng Anh là một trong những hình thái sáng tạo nhất. Sơ đồ tư duy đã được công nhận tính hiệu quả trong rất nhiều lĩnh vực. Tất nhiên sẽ không ngoại lệ với việc học Tiếng Anh. Chúng ta cũng biết hiện nay trên thị trường học liệu cũng có nhiều ấn phẩm về sơ đồ tư duy, các ấn phẩm này cũng đã lựa chọn các chủ đề, chủ điểm thân thuộc, gắn liền với thực tế, nhưng để bán sát từng bài, từng phần hay từng khối lớp thì chưa có. Quan 2 trọng hơn là người giáo viên cần tìm hiểu và hướng dẫn các em có thể tự tạo sơ đồ tuy duy để tổng hợp kiến thức, không chỉ bộ môn Tiếng Anh mà các môn học khác. Bên cạnh đó giúp các em tích hợp các môn học trong chương trình giáo dục phổ thông.Với sơ đồ tư duy, tôi có thể vận dụng trong bất cứ giai đoạn nào của một bài học, lôi cuốn được mọi đối tượng học sinh tham gia, làm cho các em hứng thú với môn học này và đặc biệt còn kích thích được sự tư duy, tính tò mò, khả năng tìm tòi mở rộng kiến thức của các em. Điều này là rất cần thiết và quan trọng bởi vì không nên dạy cho trẻ em những gì chúng phải suy nghĩ, mà dạy cho chúng cách suy nghĩ. Phương pháp này nhằm mục đích giúp giáo viên và học sinh chuyển từ phương pháp dạy, học truyền thống sang phương pháp dạy, học sử dụng sơ đồ tư duy; rèn luyện cho học sinh kĩ năng thuyết trình, và tự nghiên cứu từ đó giúp học sinh hứng thú hơn trong giờ học Tiếng Anh và kết quả học tập sẽ có hiệu quả hơn. Bên cạnh đó có thể áp dụng được cho nhiều môn học phù hợp với các đối tượng tương ứng. II/ MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1/ Mô tả giải pháp trước khi có sáng kiến Thực tế môi trường học ngôn ngữ ở các trường THCS hiện nay chưa đáp ứng được những yêu cầu của môn học, chưa kể là ở các điểm trường miền núi, miền đồng bằng. – Việc dạy từ và cấu trúc câu còn nặng theo phương pháp cũ, nên chưa kích thích khơi dậy ý thức tự học ở các em. Hơn nữa số lượng từ vựng và mẫu câu ngày càng tăng lên và khó hơn theo từng đơn vị bài học, điều này dẫn đến tâm lý nhiều em ngại học, sợ học. – Số lượng học sinh trong một lớp còn đông so với yêu cầu của một lớp học ngôn ngữ, điều này cũng ảnh hưởng đến việc tổ chức dạy học, cũng như giúp giáo viên có thể theo dõi quá trình phát triển các kỹ năng của học sinh. – Trang thiết bị đáp ứng cho mô hình trường học mới còn sơ sài, càng chưa đảm bảo kiện thuận lợi cho môi trường học ngoại ngữ. Do đó việc sử dụng đa dạng các phương thức dạy học và sử dụng một cách linh hoạt sao cho phù hợp với nội dung của bài, phù hợp với đối tượng học sinh, đồng thời kết hợp với các thủ thuật sư phạm nhằm kích thích hứng thú học tập của các em, giúp các em học tập đạt kết quả là điều nhiều giáo viên đang trăn trở. 3 2/ Mô tả giải pháp khi có sáng kiến 2.1 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu Phương pháp dạy học tích cực sử dụng “Sơ đồ tư duy” là phương pháp khá mới được áp dụng ở tất cả các cấp học nhưng nó mới chỉ dừng lại ở dạng đơn giản với các chủ đề thông dụng, các lĩnh vực như dạy từ vựng theo chủ điểm, hay tóm tắt các chủ đề trong chương trình. Chính vì phạm vi sử dụng còn hạn chế như vậy nên trong đề tài này tôi đã cố gắng nghiên cứu, áp dụng sơ đồ tư duy trong từng phần riêng biệt của một số bài cụ thể trong chương trình Tiếng Anh lớp 7, 8 mà tôi đang giảng dạy. 2.2 Các phương pháp nghiên cứu Để viết đề tài này, bản thân đã tích lũy kinh nghiệm trong quá trình dạy học dự giờ rút kinh nghiệm từ đồng nghiệp; tham khảo các trang web, bài viết hay nói về lợi ích của SĐTD. Bên cạnh đó, bản thân đã tích cực tham khảo những tài liệu viết về vấn đề đổi mới PPDH của ngành; tham khảo các bài viết về việc sử dụng sơ đồ tư duy trong giảng dạy; nghiên cứu tài liệu (sách giáo khoa và bài tập môn tiếng Anh lớp 7,8, hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng môn Tiếng Anh THCS, quan sát, đánh giá, so sánh và tổng hợp tình hình, kết quả học tập của học sinh sau các tiết dạy có sử dụng sơ đồ tư duy. 2.3 Cách thức thực hiện, các bước thực hiện của giải pháp mới A/ Quá trình ra đời và phát triển của sơ đồ tư duy Được biết sơ đồ tư duy là con đẻ của ngài Tony Buzan, là một tác gia, nhà tâm lý học, sinh năm 1942 tại Luân Đôn. Ông là tác giả của hơn 92 đầu sách trong đó hầu hết đều được dịch ra trên 30 thứ tiếng và xuất bản rộng rãi trên 125 quốc gia và vùng lãnh thổ. Phương pháp sơ đồ tư duy này của ngài đã được áp dụng vào trong các lĩnh vực thông tin, số liệu, mà phải kể đến đó là ngành giáo dục, giúp cho hàng trăm triệu người trên thế giới tiết kiệm được thời gian cũng như có thể ghi nhớ nhanh chóng. Ưu điểm: • Nhìn vào tổng thể sơ đồ sẽ thấy nổi bật rõ những tiêu đề chính, làm cho ta dễ dàng xác định các dữ liệu cần tìm nhanh chóng • Hệ thống các thông tin có sự gắn kết với nhau dẫn ra một ý nghĩa tường tận, những ý càng quan trọng, lưu ý sẽ càng nằm gần ý chính • Thị giác sẽ trở nên nhạy bén với các khái niệm then chốt • Khi cần thiết dễ dàng tìm kiếm thông tin, ôn tập và ghi nhớ cũng trở nên dễ dàng hơn • Nếu thông tin bị thiếu có thể thêm nhánh trực tiếp vào sơ đồ tư duy, nhưng vẫn đảm bảo được tính khách quan dễ nhìn dễ hiểu 4 • Với mỗi một bản đồ sẽ có những màu sắc hay các trình bày khác nhau, từ đó dễ phân biệt trong quá trình làm việc • Có thể tận dụng triển khai trên máy tính qua đó phát triển khả năng ứng dụng công nghệ thông tin bằng các phương pháp nhập liệu máy tính, hay sử dụng khả năng Mỹ thuật đơn giản là đã có thể tạo ra được sơ đồ tư duy. Nhắc đến thi cử quả là một vấn đề đau đầu, nhức óc của nhiều bạn học sinh sinh viên, khi phải tiêu thụ một khối lượng lớn những thông tin cũng như kiến thức và bài tập. Không kể những bạn siêng năng chép tập vở đầy đủ, thì có những bạn vẫn lơ mơ mặc dù ngày thi cận kề. Cầm những bản photo mà không có cảm giác chỉ cảm thấy chán ngán vì quá nhiều không thể nhồi nhét vào được. Giải pháp để khắc phục tình trạng này là ngay từ đầu năm cần lập ra một hệ thống sơ đồ cụ thể, trong đó gồm những ý chính và các nhánh rẽ. Mỗi ngày học dành ra khoảng 5 phút để xây dựng trình bày thêm vào sơ đồ tư duy, và sau đó cứ đến những ngày ôn tập chỉ cần mở ra với một trang gói gọn đầy đủ thông tin cần thiết quả là một cách hiệu quả để ghi nhớ. B/ Sơ đồ tư duy Sơ đồ tư duy (Mindmap) là một dạng lược đồ phân nhánh thể hiện sự phân tích một chủ đề, thông thường từ tổng quan đến chi tiết. Phương pháp này tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não dưới dạng một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo. Một sơ đồ tư duy sẽ kết hợp từ ngữ và hình ảnh để trình bày kiến thức một cách tổng quan, tóm tắt và dễ ghi nhớ nhất. a. Cấu tạo của sơ đồ tư duy • Chủ đề chính là vấn đề phân tích ( điểm trung tâm) • Các nhánh con triển khai ý phân tích (nhánh) • Từ khóa • Hình ảnh minh họa • Các liên kết • Màu sắc phân biệt, kích cỡ các nhánh thể hiện chức năng (nhánh lớn, nhánh nhỏ) Trong mindmap có hai yếu tố chính bao gồm: + Điểm trung tâm: Đây chính là ý tưởng lớn mà chúng ta đang tìm hiểu, nằm ở trung tâm sơ đồ tư duy. Đây chính là điểm nút, nơi các “nhánh” tỏa ra khắp nơi. + “Nhánh”: Chính là những đường thẳng nối điểm trung tâm tới những ý tưởng nhỏ hơn. Từ các nhánh lớn, người thiết lập bản đồ tư duy có thể trỏ ra những “nhánh” nhỏ hơn, làm rõ nội dung của các đường nhánh lớn. Ngoài việc sử dụng chữ và các đường kẻ nối nhau trong mindmap, bạn hoàn toàn có thể sử dụng hình ảnh minh họa cho các đường nhánh và điểm nút 5 trung tâm. Càng trực quan bao nhiêu, bản đồ tư duy của bạn lại càng trở nên hiệu quả và phát huy sức mạnh của nó lên bấy nhiêu. b. Các bước vẽ sơ đồ tư duy hiệu quả Bước 1: Thiết lập ý tưởng trung tâm Ý tưởng trung tâm, hay còn gọi là điểm nút trung tâm, chính là xuất phát điểm của mọi mindmap. Nó biểu hiện cho chủ đề trọng tâm mà bạn đang muốn khám phá và tìm hiểu. Ví dụ: Unit 1- My hobbies- English 7 Trong mindmap, điểm nút trung tâm thường được biểu diễn bằng một hình tròn, hoặc hình vuông có đoạn text thể hiện nội dung của ý tưởng đó. Bước 2:Tạo các nhánh con Từ điểm nút trung tâm, ta tạo ra những đường nhánh nhỏ, thể hiện những ý tưởng nhỏ bổ trợ cho điểm nút trung tâm. Từ điểm nút trung tâm là My hobbies, có rất nhiều những khía cạnh liên quan tới nó, như cycling, taking photos, cooking, bird watching, gardening, skating,… Mỗi khía cạnh, ta vạch ra một nhánh con từ điểm trung tâm là My hobbies. Bước 3: Mở rộng sơ đồ tư duy Trong mỗi nhánh con, ta lại mở rộng thêm những nhánh con nhỏ tách từ nhánh lớn bên trên. MY HOBBIES MY HOBBIES skating cycling taking photos cooking bird gardening watching 6 Ví dụ, từ nhánh nhỏ skating của điểm trung tâm My hobbiess ta có thể phát triển ra những nhánh nhỏ khác, như with my friends, with my brother. Bước 4: “Tô màu” cho sơ đồ tư duy Để mindmap của bạn trở nên trực quan, sinh động và dễ tiếp thu hơn, bạn nên tô màu riêng biệt cho các nhánh của bản đồ tư duy. Ví dụ, trong mindmap My hobbies, nhánh cycling và các nhánh nhỏ của nó được tô màu đỏ, nhánh taking photos được tô màu xanh , và tương tự như vậy cho tất cả các nhánh còn lại. MY HOBBIES skating cycling taking photos cooking bird watching gardening with my friends with my brother MY HOBBIES skating cycling taking photos cooking bird watching gardening with my friends with my brother 7 C/ Vận dụng sơ đồ tư duy a.Vận dụng bản đồ tư duy trong công việc Trong quá trình làm việc, bạn gặp nhiều khó khăn trong việc hình thành và ý tưởng trong công việc. Thêm vào đó, lượng công việc thì nhiều, mà bạn không biết nên bắt đầu từ đâu, sắp xếp các thứ tự sao cho khoa học và hiệu quả. Với mindmap, trước tiên, bạn hoàn toàn có thể hình thành ý tưởng độc đáo từ một ý tưởng lớn chung. Thứ tự công việc cũng sẽ được sắp xếp một cách khoa học và đơn giản, khi các đầu công việc được liên kết với nhau tuần tự và chi tiết thông qua các điểm nút và đường nhánh trong bản đồ tư duy. b. Vận dụng bản đồ tư duy trong giải quyết vấn đề Trước tiên, mindmap giúp con người ta tìm ra nguyên nhân của vấn đề thông qua hình ảnh trực quan. Sau đó, người ta dùng các “nhánh” tư duy nhỏ hơn để đào ra gốc rễ của vấn đề. Sự hiểu biết tường tận và sâu xa bản chất của vấn đề giúp con người ta giải quyết chúng một cách đúng đắn. c.Ứng dụng bản đồ tư duy trong học tập Chỉ tiếp nhận lượng kiến thức khổng lồ hàng ngày qua các con chữ là một điều “bất khả thi” với bất kỳ ai. Bản đồ tư duy sẽ công cụ hỗ trợ đắc lực cho chúng ta trong việc tiếp thu kiến thức học tập. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, việc tiếp thu kiến thức qua hình ảnh trực quan thường dễ dàng hơn việc tiếp thu kiến thức qua con chữ đơn thuần. D/ 4 lợi ích khi ứng dụng sơ đồ tư duy trong cuộc sống và công việc Việc sử dụng sơ đồ tư duy trong cuộc sống, công việc và học tập hàng ngày có thể đem lại cho bạn những lợi ích bất ngờ. a. Tìm ra bản chất của vấn đề Với mindmap, bạn có thể tìm ra nguyên nhân của vấn đề mà mình không tài nào tìm ra với phương thức tư duy thông thường. Bản chất mọi vấn đề đều có sự liên kết chặt chẽ với nhau. Khi bạn trực quan hóa nó, tự khắc những vấn đề cốt lõi sẽ dần dần hiện ra. b. Nâng cao hiệu suất làm việc Khi nhóm các đầu công việc vào với nhau, bạn có thể thực hiện chúng theo trình tự khoa học học nhất có thể. Điều này không chỉ giúp công việc của bạn trở nên gọn gàng, tuần tự, mà còn giúp hiệu suất làm việc của bạn được cải thiện một cách đáng kể. c. Tiếp thu tốt lượng kiến thức khổng lồ Khi nhìn kiến thức với khối lượng lớn, được sắp xếp một cách lộn xộn, học sinh thường có xu hướng nản không muốn tiếp thu. Khi chúng được nhóm lại, chúng trở nên đơn giản tới lạ thường. Việc mindmap lại hệ thống kiến thức giúp học sinh dễ dàng tiếp nhận chúng hơn. 8 d. Phát triển tư duy sáng tạo Thông qua những hình vẽ trực quan, chúng ta không còn bị gò bó qua những con chữ, con số khô khan hay những mẫu câu, cấu trúc phúc tạp. Mọi việc dường như vượt xa mọi khuôn khổ cho phép. Giờ đây, học sinh dễ dàng tìm cho mình những ý tưởng mới lạ, khám phá những chân trời mới qua sự liên kết của những ý tưởng lớn. Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều ấn phẩm sử dụng minmap trên các lĩnh vực: Toán, Lý, Văn, Sử…..ở lĩnh vực Ngoại ngữ lại càng phổ biến hơn vì nó rất hữu ích trong việc tiếp cập lĩnh vực này, tuy nhiên không phải ở bài học nào trong chương trình học của học sinh cũng đều có cả, hơn nữa các ấn phẩm này mới chỉ dừng lại ở phần học từ vựng còn các kỹ năng khác của môn học Ngoại ngữ thì vẫn chưa được áp dụng. Mặt khác, những ấn phẩm này sẽ không thể giúp học sinh phát huy khả năng vận dụng kiến thức, khả năng tìm tòi nghiên cứu. 9 Để tạo ra một minmap khá đơn giản, chúng ta có thể hai chất liệu đơn giản là giấy và bút, hay phấn và bảng, cao hơn chút nữa chúng ta có thể sử dụng những công cụ vẽ mindmap đa nền tảng lại hoàn toàn miễn phí với mọi người dùng trên máy tính. Có rất nhiều phần mềm vẽ mindmap như: Coggle, Mandly, Draw.io, Mandmup, Stormboard, SimpleMind….Mỗi phần mềm có những tính năng ưu việt của nó, tùy thuộc vào yêu cầu công việc của người dùng, nhưng với đối tượng là học sinh chúng ta có thể hướng dẫn học sinh sử dụng các ứng dụng đơn giản, để các em vừa tích hợp các môn học với bộ môn Tin học, Mỹ thuật. Bản thân tôi thường dùng các tính năng có sẵn trên máy tính để tạo ra sơ đồ tuy duy cũng như là hướng dẫn học sinh tự tạo ra sơ đồ tư duy. Đó là chúng ta vào Insert trong thanh công cụ, click chuột vào Shapes sau đó chọn biểu tượng theo ý thích của chúng ta để làm điểm trung tâm, tiếp đó vẫn trong Shapes chúng ta chọn Lines để tạo nhánh. Tính năng tô màu cũng có sẵn trên máy tính, chúng ta click chuột vào nhánh cần tô màu, tiếp đến vào Page Layout chọn Page color, cuối cùng là chọn màu, khi đó chúng ta đã có một sơ đồ tư duy rất thẩm mỹ. 10 Ngoài ra các bạn cũng có thể hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ tơ duy với phần mềm Coggle. Với phần mềm này sau phút đăng nhập vào Coggle, chúng ta sẽ chỉ cho học sinh thấy nhận rằng vẽ bản đồ tư duy chưa bao giờ đơn giản và dễ dàng đến như vậy. Template của Coggle đã chứa sẵn điểm trung tâm và các nút để chúng ta thêm các “nhánh” xung quanh. Việc của chúng ta là chỉ cần nhấn vào nút, Coggle sẽ tự động đặt đường nhánh sao cho dễ nhìn và trực quan nhất có thể. Ví dụ: Unit 2- English 8 Hay với phần mềm Xmind, chúng ta chỉ việc lên Google, ấn Xmind và tải phần mềm xuống, đây cũng là phần mềm hoàn toàn miễn phí. Đặc điểm của phần mềm này trên nó có các thanh công cụ để chúng ta thêm bớt nhánh chính, nhánh phụ, sau đó nhập nội dung vào . Ví dụ: Unit 11- Looking back – part 2- English 8 11 Ví dụ: Unit 4 – A closer lool 1- part 3- English 7 Với các phần mềm này sau khi làm xong giáo viên có thực hiện thêm một số thao tác đó là lưu lại hoặc dùng các phím chức năng để chụp lại sơ đồ tư duy và dùng chèn vào bài giảng powerpoint của mình. Các thao tác này được hướng dẫn rất chi tiết trên Google, giáo viên cũng có thể hướng dẫn học sinh thực hiện các thao tác này, để các em thực hành trong các tiết Tin học của mình. Hoạt động này đã kích thích khả năng tìm tòi, khám phá của rất nhiều học sinh, hướng các em đến những hoạt động tích cực trong học tập. E. Lợi ích của sơ đồ tư duy trong học Tiếng Anh Được mệnh danh là công cụ vạn năng cho bộ não, sơ đồ tư duy Tiếng Anh sẽ giúp học sinh khai thác tối đa năng lực ghi nhớ. Đây có thể coi là chìa khóa giải bài toán hóc búa khi học ngoại ngữ. Điều tuyệt vời là học sinh sẽ có được cái nhìn tổng quan về kiến thức song song với khả năng ghi nhớ tỉ mỉ. Học sinh có thể dễ dàng tạo một sơ đồ tư duy bằng phần mềm chuyên dụng hoặc bút và giấy. Cùng khám phá sơ đồ tư duy Tiếng Anh với từ vựng, ngữ pháp, cách học để chinh phục Tiếng Anh theo cách thật sáng tạo mà siêu hiệu quả. F. Tự tạo sơ đồ tư duy học Tiếng Anh hiệu quả cho chính mình Một sơ đồ tư duy học Tiếng Anh là công cụ mang tính chiến lược giúp học sinh xây dựng lộ trình học tập. Sử dụng sơ đồ, học sinh sẽ có cái nhìn tổng quan về việc học Tiếng Anh. Hệ thống hóa các vấn đề liên quan để có chiến lược học tập hiệu quả nhất. Ngay khi bắt đầu môn học chúng ta có thể giúp học sinh nên triển khai sơ đồ với các nhánh chính. Mục tiêu học là gì? (giao tiếp, học thuật,…), Phương pháp học như thế nào?, Học ở đâu?, Tài liệu học tập gồm những gì? Tùy vào trình độ hiện tại của học sinh để thiết lập các nội dung cần thiết và thêm vào những điểm lưu ý riêng. 12 a. Những nguyên tắc cơ bản để học hiệu quả với sơ đồ tư duy Không có một khuôn mẫu cố định cho việc tạo lập sơ đồ tư duy Tiếng Anh. Tuy nhiên, cần lưu ý một vài nguyên tắc cơ bản để phát huy tối đa hiệu quả của công cụ quyền lực này. • Đảm bảo tính thẩm mỹ. Nên sử dụng nhánh cong cho các ý tưởng, ghi chú nội dung rõ ràng • Phân biệt rõ ràng nhánh chính, nhánh phụ • Sử dụng từ khóa cho mỗi nhánh • Mã hóa bằng màu sắc cho các nhánh
Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY
Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education
Trong thời đại ngày nay với vô vàn hình thức giải trí thì hát karaoke là lựa chọn số 1 giúp giải tỏa căng thẳng, thư giãn sau một ngày làm việc. Các hộ gia đình có nhu cầu tìm dịch vụ lắp đặt dàn karaoke gia đình tại các tỉnh thành nhưng không biết công ty nào uy tín, giá thành rẻ. Hãy cùng tìm hiểu dịch vụ lắp đặt dàn karaoke của công ty Âm Thanh AHK dưới đây!
Dịch vụ lắp đặt dàn karaoke gia đình tại các tỉnh thành
Dịch vụ tư vấn khảo sát lắp đặt dàn karaoke gia đình tại Âm Thanh AHK cung cấp các gói thiết bị âm thanh karaoke chính hãng, chuyên lắp đặt dàn âm thanh karaoke gia đình trọn gói uy tín giá tốt, chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt số 1 tại Hà Nội, TPHCM và các tỉnh thành trong cả nước.
Đội ngũ KTV tiến hành căn chỉnh dàn karaoke bằng phần mềm máy tính chuyên dụng
Không chỉ cung cấp sản phẩm giá tốt đến cho khách hàng, mà dịch vụ lắp đặt hệ thống dàn âm thanh karaoke trọn gói gia đình Âm Thanh AHK còn luôn lắng nghe khách hàng, chu đáo tận tâm trong từng khâu tư vấn lắp đặt, giải đáp tất cả thắc mắc khách hàng trong suốt quá trình từ mua hàng đến sau sử dụng.
Vào thời điểm cận Tết hàng năm thị trường dàn karaoke, thiết bị âm thanh karaoke luôn nhộn nhịp đông đúc khách hàng tìm đến chọn cho gia đình mình bộ dàn karaoke hát hay nghe nhạc chất lượng để giải trí mỗi khi dịp Tết đến gần.
Thời điểm bận rộn cuối năm rất nhiều người muốn sắm cho gia đình bộ dàn karaoke đón Tết nhưng lại ngại vấn đề thời gian, không có thời gian đến tận nơi xem các thiết bị và không biết bộ dàn nào phù hợp với gia đình mình.
Âm Thanh AHK sẽ giải quyết vấn đề khách hàng đang gặp phải. Với quy trình tư vấn – khảo sát – báo giá nhanh chóng không làm mất thời gian khách hàng, chủ động trong quá trình thi công lắp đặt không cần khách phải có mặt ở nhà giám sát. Chúng tôi thấu hiểu nỗi lo lắng bận rộn công việc cuối năm của khách hàng mà đội ngũ thi công chuyên nghiệp luôn ý thức trách nhiệm – thời gian đảm bảo tiến độ nhanh chóng bàn giao cho khách hàng bộ dàn karaoke hát hay giải trí ngày Tết.
Quy trình lắp đặt dàn karaoke trọn gói tại các tỉnh
Quy trình lắp đặt dàn karaoke gia đình tại các tỉnh thành của Âm Thanh AHK
Trong quá trình lắp đặt dàn karaoke tại các tỉnh thành, công ty Âm Thanh AHK luôn đảm bảo:
Công khai nguồn gốc xuất xứ của thiết bị Tất cả thiết bị âm thanh karaoke mà Âm Thanh AHK tư vấn lắp đặt cho khách luôn được công khai rõ ràng nhất, chế độ bảo hành, nguồn gốc xuất xứ, chất lượng thiết bị, có đầy đủ chứng từ COCQ.
Báo giá chính xác chi phí lắp đặt dàn karaoke trọn gói và cam kết không phát sinh thêm ngoài bảng báo giá. Không tăng giá lắp đặt dù ngoài giờ làm việc, giờ hành chính hay ngày nghỉ.
Lắp đặt đúng kỹ thuật. Đội ngũ kỹ thuật viên âm thanh tỉ mỉ trong công việc lắp đặt với những máy móc trang thiết bị hiện đại. Nhân viên chuyên nghiệp tay nghề cao với nhiều năm kinh nghiệm và hơn hết là niềm đam mê trong nghề sẽ cân chỉnh lắp đặt bộ dàn karaoke âm thanh hay nhất cho gia đình khách. Quá trình lắp đặt nhanh chóng, bàn giao hướng dẫn khách hàng sử dụng đơn giản dễ hiểu.
Đặt quyền lợi của khách hàng lên hàng đầu. Âm Thanh AHK luôn lựa chọn những nhà cung cấp thiết bị âm thanh uy tín, đã qua kiểm duyệt về chất lượng âm thanh cũng như giá thành tốt nhất. Tất cả thiết bị dù là dây dẫn nhỏ nhất cũng được chọn lọc nhà cung cấp uy tín chất lượng nhằm mang đến cho khách hàng đúng giá trị sản phẩm và bảo đảm an toàn trong quá trình sử dụng. Cam kết bồi thường 100% nếu sản phẩm không đúng giá trị, hàng nhái, hàng kém chất lượng.
Thái độ nhân viên phục vụ tận tình lễ phép. Chủ động liên hệ với khách hàng trước khi đến tư vấn khảo sát hay ngày giờ lắp đặt. Ngoài kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực âm thanh, đội ngũ nhân viên Âm Thanh AHK luôn đề cao đạo đức trách nhiệm với nghề, tận tâm thân thiện lễ phép với khách hàng. Luôn nhiệt tình hỗ trợ không tốn thêm bất kỳ chi phí nào nếu khách có yêu cầu hỗ trợ cân chỉnh hay.
Đội ngũ nhân viên nhiều năm kinh nghiệm tại Âm Thanh AHK đã phối ghép các thiết bị âm thanh dựa trên nhu cầu của đại đa số khách hàng. Dưới đâu là tổng hợp các bộ dàn karaoke chuyên nghiệp cao cấp được cân đo đong đếm phù hợp với từng nhu cầu của mỗi gia đình. Bạn có thể tham khảo ngay tại đây để chọn lựa cho mình được một bộ dàn âm thanh ưng ý nhất.
Bảng báo giá dịch vụ lắp đặt dàn karaoke trọn gói
Quý khách tham khảo một số cấu hình cụ thể trong link sau:
Các loại áo khoác nữ mỏng nhẹ phù hợp với tiết trời thu đông như áo blazer, denim, cardigan,… sẽ là những item không thể thiếu trong tủ đồ của phái đẹp. Cùng điểm qua 10 mẫu áo khoác thu đông nữ đẹp nhất, không thể thiếu trong tủ đồ nhé!
#1 Áo khoác dù là một trong những áo khoác thu đông nữ đẹp
Áo khoác dù hay còn gọi là áo khoác gió được làm từ vải dù có đặc tính bền, nhẹ, không nhăn. Vải dù là sự kết hợp của 4 chất liệu polyester, cotton, nylon và tơ nhân tạo. Chất liệu này rất ít thấm nước hơn so với các loại vải khác.
Hiện nay, nhiều loại vải dù khác nhau như vải dù 650T, vải dù 420T, vải dù 210T,…
Hiện nay, nhiều loại vải dù khác nhau như vải dù 650T, vải dù 420T, vải dù 210T,… Độ thông thoáng của loại áo này khá tốt chỉ xếp sau vải cotton do đặc tính mỏng và nhẹ.
Với vẻ đẹp đầy cá tính mang cảm hứng thể thao, loại áo khoác này chiếm trọn cảm tình của các cô nàng mạnh mẽ. Áo khoác gió kết hợp với jeans, quần short ngắn cùng đôi giày thể thao chắc chắn sẽ khiến bạn trông thật “cool” cho các buổi dạo phố hay đi học, đi tập thể thao.
Bên cạnh các ưu điểm thì áo khoác dù có nhược điểm là khả năng thoát nhiệt không cao và độ co dãn kém.
#2 Áo khoác bomber
Áo khoác bomber là loại áo khoác không có mũ và có dây kéo ở phía trước. Áo được thiết kế phần cổ tay, phần cổ áo và chân áo được may bo lại bằng chất liệu chun co giãn. Áo khoác bomber có phom dáng rộng và thoải mái. Áo được may với nhiều chất liệu vải khác nhau như vải nỉ, vải da,…
Áo khoác bomber được may bằng nhiều chất liệu khác nhau như: Vải nỉ, vải polyester, vải da, vải polyurethane, vải cotton,… Mỗi chất liệu vải mang đến những ưu điểm khác nhau làm nên sự độc đáo và riêng biệt nhất.
Áo khoác bomber ban đầu được sản xuất dành cho phi công và cuối cùng trở thành một phần của văn hóa và trang phục đại chúng. Nó đã phát triển thành nhiều phong cách và kiểu dáng khác nhau, bao gồm cả áo khoác “letterman” và áo khoác “bomber” thời trang được biết đến ngày nay.
Kiểu áo này mang hơi thở thể thao khỏe khoắn. Áo len cổ lọ và bomber là sự kết hợp tuyệt vời cho những ngày đông chớm lạnh. Ngoài ra, áo bomber kết hợp cùng quần Jeans lửng, chân váy,… sẽ phong cách và thời trang hơn.
#3 Áo khoác denim
Áo denim là loại áo được dệt đan chéo chắc chắn bằng 100% cotton. Chất liệu có khả năng chống co rút và chống nhăn hiệu quả. Áo khoác denim phù hợp phối cùng áo thun màu xanh đậm, áo sơ mi màu sáng hoặc áo thun có cổ cùng với quần jean/kaki màu tối.
Denim là loại vải rất thô nhưng bền, được dệt đan chéo các sợi vải rất chắc chắn với nguyên liệu từ 100% cotton. Người ta sử dụng hình thức dệt thoi kết hợp nhiều sợi trắng và các sợi chàm. Vải denim chất lượng tốt còn được pha thêm với sợi polyester hoặc lycra để chống co rút và chống nhăn rất hiệu quả.
Thông thường các mẫu áo denim thường được dùng làm áo khoác nhiều hơn là các loại áo bình thường. Bởi lẽ, chất liệu của denim khá dày, cứng nên thích hợp để giữ ấm cơ thể hơn. Không những vậy, những chiếc áo khoác này cũng mang đến phong cách thời trang cá tính, đậm chất street style được giới trẻ yêu thích.
Có thể bạn chưa biết, các loại áo khoác hoodie sử dụng chất liệu denim (như denim hoodie jacket) rất thịnh hành ở các nước Âu Mĩ. Ngoài ra, thị trường thời trang Hàn Quốc cũng lăng xê rất thành công mẫu áo này. Vì thế, chỉ cần biết cách mix chiếc jacket denim này với chiếc áo croptop hay quần jogger đơn giản cũng đủ thu hút rồi.
#4 Áo cardigan là mẫu áo khoác thu đông nữ đẹp nhất
Áo Cardigan là một loại áo khoác len được thêu dệt nút cài ở phía trước và được sử dụng rộng rãi cho mọi lứa tuổi. Chiếc áo này thường được sử dụng khi thời tiết vào thu hơi se lạnh.
Áo Cardigan rất dễ phối đồ từ trang phục nhẹ nhàng thanh lịch cho đến những set đồ phong cách, sành điệu… Áo cardigan mặc cùng chân váy hoặc quần jeans ngắn giản dị nhưng cũng không kém phần cá tính.
Áo cardigan có nguồn gốc từ Anh và được dùng thay áo khoác khóa kéo thông thường. Khi mặc, áo đem lại sự nhẹ nhàng cho các cô nàng hoặc chàng trai.
Áo khoác kaki (khaki) thường được may bằng cotton 100% hoặc sợi cotton đan chéo với sợi tổng hợp.
Vải kaki có tính chất nổi bật là bền, mát, không nhăn, co giãn tốt. Loại vải này có mình vải khá cứng và dày. Vải kaki thường không có khả năng co giãn (trừ vải kaki thun), thường được sử dụng để may những mẫu áo khoác hay quần dài. Đặc trưng lớn nhất của chất liệu này là đứng dáng, form đẹp, có thể phù hợp với nhiều phong cách thời trang khác nhau.
Những chiếc áo khoác kaki có thiết kế thường có cúc dọc và có túi nắp ở hai bên ngực. Màu sắc của áo khoác kaki cũng rất đa dạng. Không những vậy, áo khoác kaki còn là item nhận được sự yêu thích của cả phái mạnh và phái đẹp. Loại áo này có thể phối cùng áo thun ngắn, áo sơ mi nữ và quần jean nữ để dạo phố, đi chơi hoặc đi làm thật ấn tượng.
#6 Áo hoodie
Áo hoodie truyền thống có những đặc điểm: Áo dài đến ngang hông, có đai, có mũ, trước ngực có túi hoặc chữ lớn. Loại áo này đem lại cảm giác ấm áp, thoải mái cho các hoạt động thường ngày.
Hoodie thể hiện phong cách casual – ăn mặc thoải mái hàng ngày nên rất thích hợp cho các hoạt động ngoại khóa ngoài trời, đi học và đi chơi cùng gia đình hoặc bạn bè.
Hoodie kết hợp với giày thể thao và quần baggy với phong cách đơn giản, thoải mái là outfit tuyệt vời cho một ngày dài năng động.
#7 Áo vest, áo blazer
Áo blazer là một loại áo khoác dáng dài, giống với áo khoác vest nhất nhưng đường cắt may tạo kiểu ngẫu nhiên hơn. Được thiết kế dựa trên khoác suit (kiểu áo khoác vest bắt nguồn từ phương tây), áo blazer có thể mặc phối với nhiều kiểu quần áo và trong nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Đây là món đồ thời trang thanh lịch dành cho các quý cô văn phòng diện chất cho các buổi dạo phố cùng nhóm bạn.
Mẫu áo khoác dạng vest thanh lịch này sẽ càng phát huy trọn vẹn sự sang trọng và thời thượng của mình khi kết hợp cùng với quần cullotes (quần ống rộng).
#8 Áo khoác da
Áo khoác da là loại áo được làm chủ yếu từ chất liệu da, thường là da tổng hợp nên có giá rẻ và vừa phải. Nếu áo khoác bằng da thật thì sẽ có giá vô cùng đắt.
Áo khoác da mang đến cho các nàng một nét mạnh mẽ cá tính nhưng cũng không kém phần quyến rũ. Không dừng lại ở đó, việc mặc trên mình một chiếc áo khoác da phù hợp còn thể hiện bạn là một người có gu thẩm mỹ và kỹ năng phối đồ cao.
Chất liệu da từ áo khoác thường được nhuộm màu đen, màu nâu và nhiều màu sắc với hàng loạt form dáng khác nhau: từ ngắn, dài, vừa phải cho đến những mẫu áo giả váy,…
Áo khoác da khi mặc kết hợp quần skinny hoặc chân váy ngắn sẽ giúp bạn trông cao ráo hơn. Áo khoác da nữ thời trang đang rất được các cô nàng cá tính yêu thích, phù hợp trong những chuyến du ngoạn chơi, dạo phố, hoặc khoác trên mình như những chiếc áo lạnh thời trang cực chất.
#9 Áo khoác dạ nữ
Áo khoác dạ thường được may từ sợi bông hoặc sợi nhân tạo như polyester. Vải dạ có đặc điểm là giữ nhiệt rất tốt, dày hơn vải nỉ.
Áo khoác dạ phù hợp mix với quần tây nữ, quần skinny jeans vừa kín đáo, vừa khỏe khoắn.
Ngoài việc mua sẵn thì các nàng có thể lựa chọn tự may áo khoác dạ để vừa vặn với form người nhất. Chọn vải may áo khoác dạ bạn nên chọn những tấm vải sờ vào cảm thấy mềm, mịn, không bị xù nhiều (dù dạ xù như mức độ xù cũng vừa phải). Kiểm tra sợ vải chắc, bề mặt nhẵn mịn. Trường hợp nếu sờ lên mà thấy mặt vải ráp, hơi ngứa tay thì chứng tỏ dạ đó không tốt. Đặc biệt, nếu vuốt tay mà các sợi lông bám vào tay thì chứng tỏ vải dạ đó rất dễ xù lông đấy.
Với những loại vải may áo khoác dạ dù bền hơn so với áo dạ mua nhưng khi giặt thì chỉ nên giặt khô hoặc là hơi. Chất liệu dạ loại thường rất dễ bám bẩn vì thế trước khi giặt bạn cần phải giũ nhẹ cho sạch rồi trải đồ lên mặt phẳng và dùng khăn ướt phủ lên và lớp bụi bẩn sẽ được làm sạch nhanh chóng.
#10 Áo phao nữ
Đây là kiểu áo giữ ấm cực tốt được may bằng chất liệu bông và lông vũ mềm nhẹ tạo độ phồng vừa phải và dáng dài qua gối. Dù không có thiết kế thon gọn và điệu đà như áo khoác dạ nhưng áo phao dáng dài vẫn có ưu điểm về thời trang của riêng mình.
Kiểu áo này có thể mix quần culottes (loại quần ống rộng dáng suông hoặc xếp ly, kiểu lửng thường có độ dài qua đầu gối), chân váy ngắn, áo len cổ lọ,… và đi cùng giày thể thao trở thành một outfit hoàn hảo vừa đẹp, vừa giữ ấm cho mùa đông.
ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN 1. Đặt vấn đề Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu ngày càng sâu rộng hiện nay, tiếng Anh là một ngôn ngữ quan trọng. Nó là chìa khóa để giúp chúng ta tiếp cận được những tinh hoa, tiến bộ về văn hóa, giáo dục, khoa học, kĩ thuật và rất nhiều lĩnh vực khác của nhân loại. Bởi vậy, nó là ngôn ngữ thứ hai, là môn học bắt buộc của nhiều quốc gia trên toàn thế giới. Ở Việt Nam, tiếng Anh cũng đã được đưa vào chương trình chính khóa ở mọi cấp học. Việc dạy học tiếng Anh trong nhà trường là rất quan trọng, là bước khởi đầu để các em làm quen với tiếng Anh, giúp các em hình thành các kĩ năng cơ bản trong giao tiếp và sử dụng tiếng Anh. Cũng giống như các môn học khác, đổi mới phương pháp dạy học luôn được các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lí và các giáo viên trực tiếp giảng dạy quan tâm. Trong giờ học, giáo viên chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn giúp các em chủ động, sáng tạo tìm ra các kiến thức cơ bản, chân lí đúng đắn, ở trường cũng như ở nhà học sinh luôn phát huy tối đa của mình trong các kĩ năng cơ bản: Nghe – nói – đọc – viết, qua đó rèn luyện thói quen lao động độc lập sáng tạo phù hợp với yêu cầu của xu thế phát triển. Tiếng Anh được đưa vào giảng dạy ngay từ bậc Tiểu học đã cho học sinh thấy nhu cầu cũng như yêu cầu giao lưu quốc tế là rất quan trọng. Với môn học tiếng Anh ở trường Tiểu học, học sinh cần đạt được các yêu cầu cụ thể sau: – Nắm được các kiến thức cơ bản. – Có kỹ năng sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp đơn giản dưới dạng nghe – nói – đọc – viết . – Hình thành các kĩ năng học tiếng Anh và phát triển tư duy. 5 Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy rằng học sinh tiểu học đặc biệt là học sinh ở nông thôn trong đó có học sinh của trường Tiểu học Nghĩa Thái rất ngại giao tiếp. Các em quá e dè, nhút nhát, đôi khi là quá tự ti với bản thân. Các em không có thói quen bày tỏ quan điểm của mình trước một vấn đề gì đó, nhiều em tâm lí còn thụ động, chờ đợi phụ thuộc vào người khác. Trong khi đó phương pháp giảng dạy mới đòi hỏi phải phát huy tối đa khả năng độc lập, sáng tạo của học sinh. Hơn nữa, môn học tiếng Anh đòi hỏi học sinh rèn luyện 4 kĩ năng nghe-nói-đọc-viết, đặc biệt là kĩ năng nghe nói. Và mục đích cuối cùng của việc dạy và học tiếng Anh là để giao tiếp, mà bản chất của giao tiếp là sự tương tác. Vậy để giúp học sinh tương tác bằng tiếng Anh có hiệu quả giáo viên không chỉ rèn các kĩ năng cho học sinh mà còn phải giúp các em hấp thụ được vốn từ vựng nhất định giúp các em tự tin, chủ động trong quá trình giao tiếp. Chính vì suy nghĩ này tôi đã tìm tòi, nghiên cứu tìm đưa ra một số giải pháp giúp các em học sinh mà chủ thể chính là học sinh khối lớp 4 của trường Tiểu học xã Nghĩa Thái- huyện Nghĩa Hưng- tỉnh Nam Định để các em nắm bắt được một số hình thức giúp các em tự trau dồi vốn từ vựng của bản thân. Vì vậy với kinh nghiệm của bản thân, tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm trong sáng kiến “Một số cách thức giúp học sinh tự học từ vựng tiếng Anh hiệu quả” mà tôi đã áp dụng và thu được hiệu quả. 2. Đối tượng nghiên cứu “Một số cách thức giúp học sinh tự học từ vựng tiếng Anh hiệu quả” 3. Phạm vi nghiên cứu Trong khuôn khổ sáng kiến kinh nghiệm này, tôi tập trung đưa ra “Một số cách thức giúp học sinh tự học từ vựng tiếng Anh hiệu quả” tại trường Tiểu học xã Nghĩa Thái-huyện Nghĩa Hưng-tỉnh Nam Định. 4. Phương pháp nghiên cứu – Phương pháp nghiên cứu lý thuyết. – Phương pháp tìm hiểu thực tế. 6 – Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê. – Phương pháp thực nghiệm. II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến 1.1. Cơ sở lí luận Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng D.A. Wilkins đã từng nói rằng “Without grammar, very little can be conveyed; without vocabulary, nothing can be conveyed.” (Không có ngữ pháp, rất ít thông tin có thể được truyền đạt; Không có từ vựng, không thông tin nào có thể truyền đạt). Thật vậy, từ vựng được coi là sự bắt đầu của tất cả việc học ngoại ngữ và quyết định sự thành công của người học. Do vậy, để việc học tiếng Anh của mình thật sự hiệu quả và có tính ứng dụng cao, thì bản thân người học phải nắm rõ được tầm quan trọng của từ vựng. Từ vựng có thể được định nghĩa là từ “chúng ta phải biết để giao tiếp hiệu quả; từ ngữ nói (từ vựng biểu cảm) và từ ngữ nghe (từ vựng dễ tiếp thu)” (Neuman & Dwyer), 2009, trang 385. Hornby (1995) định nghĩa từ vựng là “tổng số từ trong một ngôn ngữ; một danh sách các từ có nghĩa của chúng”. Ngoài ra, Burns (1972) định nghĩa từ vựng là “kho từ được sử dụng bởi một người, vựng là trọng tâm của ngôn ngữ và có tầm quan trọng đối với việc học ngôn ngữ điển hình”. Hơn nữa, Diamond và Gutlohn (2006) trong www.readinggrockets.org/article nói rằng từ vựng là kiến thức về từ và nghĩa của từ. Từ các định nghĩa trên, có thể kết luận rằng từ vựng là tổng số từ cần thiết để truyền đạt ý tưởng và diễn đạt ý nghĩa của người nói. Đó là lý do tại sao việc học từ vựng rất quan trọng. Theo các nhà nghiên cứu, bộ não con người thường chỉ còn lưu giữ khoảng 20% thông tin đã tiếp nhận sau một tháng. Trong khi đó, để đáp ứng nhu cầu và mở rộng hiểu biết thì việc tiếp nhận thêm kiến thức chưa bao giờ dừng lại. Với tầm quan trọng của việc học từ vựng tiếng anh cũng vậy, xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập văn hóa hiện nay khi tiếng Anh trở thành ngôn ngữ toàn cầu thì việc đẩy mạnh học từ vựng 7 tiếng Anh là như cầu vô cùng thiết yếu. Vậy thì với cách nào chúng ta có thể khắc phục những vấn đề trên? 1.2. Cơ sở thực tiễn Những năm gần đây do càng ngày càng nhận thức được vai trò quan trọng của tiếng Anh nên việc dậy và học tiếng Anh được các cấp, ngành và toàn xã hội quan tâm. Tuy nhiên qua việc trực tiếp giảng dạy các em học sinh khối lớp 4 trường Tiểu học xã Nghĩa Thái tôi nhận thấy vẫn còn một số thực trạng. *) Thuận lợi: + Thường xuyên được tham gia tập huấn của SGD&ĐT, PGD&ĐT + Được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường, sự quan tâm của cha mẹ học sinh, xã hội. + Chương trình sách giáo khoa được xây dựng xoay quanh các chủ điểm gần gũi với học sinh. + Giáo viên: tích cực tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn; tích cực đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao hiệu quả giờ dạy, phát huy tính tích cực chủ động của học sinh. + Đa số các em học sinh ngoan ngoãn, say sưa với việc học tiếng Anh. + Học sinh được làm quen với công nghệ thông tin, sớm tiếp xúc với máy tính, với mạng Internet và thu nhận được nhiều thông tin từ đây. *) Khó khăn: – Về giáo viên: + Việc hướng dẫn cho học sinh sử dụng tiếng Anh vào giao tiếp hàng ngày còn hạn chế. – Về học sinh: + Tiếng anh là một môn học mới, rất khó với học sinh tiểu học. + Số học sinh trong lớp đông nên khó khăn cho việc tổ chức và kiểm soát các hoạt động. 8 + Học sinh vùng nông thôn còn rụt rè, e ngại chưa chủ động lĩnh hội và thực hành tiếng Anh. + Học sinh thiếu môi trường để giao tiếp tiếng Anh. – Về phụ huynh: + Phần lớn gia đình các em đều làm nông nghiệp nên điều kiện kinh tế còn khó khăn. + Một số phụ huynh chưa thực sự vào cuộc, chưa quan tâm, hỗ trợ các em luyện tập, thực hành ở nhà. – Về thời gian: + Thời lượng dành cho việc học tiếng Anh còn ít. 1.3. Khảo sát khả năng từ vựng tiếng Anh của học sinh Sau kì nghỉ hè, ngay từ đầu năm học tôi đã cho các em học sinh khối 4 làm một bài khảo sát về từ vựng với các chủ đề quen thuộc các em đã được học ở lớp 3 gồm 20 từ vựng và kết quả thu được như sau:
Mức độ Lớp
0-5 từ
Từ 6-10 từ
10-15 từ
Trên 15 từ
4A(30)
10
10
7
3
4B(30)
12
10
6
2
4C(30)
10
8
8
4
4D(31)
14
9
6
2
Khối 4(121)
46
37
27
11
Kết quả khảo sát cho thấy các em đã chưa ghi nhớ và sử dụng được vốn từ vựng đã học, thậm chí còn có nhiều em không còn nhớ gì. Với những thực trạng này, là giáo viên dạy tiếng Anh nhiều năm, tôi nhận thấy cần phải có biện pháp giúp các em hứng thú học từ vựng, tự giác trau dồi vốn từ vựng của mình. 9 2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến 2.1. Mục tiêu của giải pháp Giúp học sinh nắm bắt được các hình thức tự trau dồi vốn từ vựng và áp dụng từ vựng vào giao tiếp một cách hiệu quả, từ đó nâng cao được chất lượng dạy và học môn tiếng Anh. 2.2. Cách thức thực hiện giải pháp Là giáo viên dạy tiếng Anh đã nhiều năm, tôi luôn xác định mình phải làm thế nào để học sinh có hứng thú học tập phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo giúp các em tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên. Từ đó nâng cao hiệu quả học cũng như khả năng giao tiếp của các em. Đặc thù của các em học sinh tiểu học là hiếu động, thích cái mới nhưng cũng nhanh chán, nhanh quên. Bằng các phương pháp mới đã được học, bằng sự sáng tạo của bản thân, tôi đã tìm tòi mọi cách thức để hướng dẫn học sinh học có hiệu quả hơn trong từng tiết học, từng bài học, tạo môi trường tiếng Anh để học sinh “ngấm” tiếng Anh từng giờ, từng ngày. Và cũng giúp các em có được hứng thú học tập để các em tích cực, sáng tạo, chủ động lĩnh hội kiến thức. Vậy nên tôi đã nghiên cứu, tìm tòi và đưa ra một số cách thức giúp các em tự trau dồi vốn từ vựng: – Học từ vựng tiếng Anh qua chuyện chêm – Học từ vựng tiếng Anh qua hình ảnh. – Học từ vựng qua game luyện từ vựng – Học từ vựng qua việc đọc truyện song ngữ – Học từ vựng qua các bài hát, phim hoạt hình. 2.2.1. Học từ vựng tiếng Anh qua chuyện chêm Hiểu một cách đơn giản, học tiếng Anh qua chuyện chêm là việc chúng ta chêm các từ tiếng Anh vào một đoạn văn, câu chuyện bằng tiếng Việt. Từ đó ghi nhớ được từ cần học. 2.2.1.1. Đọc các mẩu chuyện quen thuộc có chêm thêm các từ tiếng Anh: 10 Từ các câu chuyện quen thuộc, gần gũi, thông qua việc hiểu câu chuyện đó thì phương pháp học qua chuyện chêm sẽ giúp các em dễ ghi nhớ từ vựng, hơn nữa còn giúp các em biết sử dụng từ vựng vào hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ câu chuyện: “The Lion and the Rabbit” “ Một con sư tử cruel sống trong rừng. Hằng ngày, nó giết và ăn rất lot loài vật. Muông thú afraid rằng Sư Tử sẽ giết và ăn thịt tất cả các loài trong rừng. Chúng nói với Sư tử rằng “ Chúng ta hãy thỏa thuận nếu ngài promise rằng mỗi ngày ngài chỉ ăn một con vật thì hằng ngày một trong số chúng tôi sẽ tới đây nộp mạng. Ngài sẽ không phải hunt và giết chúng tôi nữa”. Sư tử thấy thỏa thuận nghe rất well nên nó đã agree, nhưng nó cũng nói rằng: Nếu mỗi ngày không có một đứa tới nạp mạng, tao sẽ giết tất cả chúng mày vào ngày hôm sau. Cứ như vậy một con vật lại đến nộp mạng cho Sư Tử. Và như thế tất cả muông loài đều safe. Finally, đến lượt Thỏ tới nộp mạng cho Sư Tử. Thỏ hôm đó đến rất muộn nên Sư Tử rất angry. Sư Tử tức giận hỏi thỏ: “Sao mày đến muộn?” “Tôi đã hide một con Sư Tử khác trong rừng. Con Sư Tử đó là chúa sơn lâm nên tôi rất sợ hãi” “Tao là chúa sơn lâm duy nhất trong khu rừng này. Đưa tao đến gặp nó, tao sẽ giết nó”- Sư Tử nói với Thỏ. Thỏ replied “Tôi rất vui mừng được chỉ cho ngài nơi hắn sống” 11 Thỏ đưa Sư Tử tới một cái giếng ở middle khu rừng. Chiếc giếng sâu hun hút và có nước ở bottom. Thỏ nói với Sư Tử “Ngài hãy nhìn vào trong này. Hắn sống ở dưới đấy, kia kìa”. Khi Sư Tử nhìn xuống đáy giếng, nó thấy chính khuôn mặt mình in trên mặt nước. Nó nghĩ đó là con Sư Tử kia. Không đợi một moment nào, Sư Tử nhảy xuống giếng để attack con Sư Tử kia. Nó không bao giờ có thể thoát ra được nữa. Tất cả các loài động vật khác ở trong rừng đều rất please với clever trick của Thỏ.
– cruel: hung dữ – lot: nhiều – afraid: sợ – promise: hứa – hunt: săn bắt – well: tốt – agree: đồng ý – safe: an toàn – finally: cuối cùng – angry: tức giận
Có rất nhiều các câu chuyện chêm như vậy như: The friendly ghost; The best prince; The starfish; The big race… 2.2.1.2. Hướng dẫn học sinh tự viết các câu chuyện chêm theo các chủ đề từ vựng đã học: Ở lứa tuổi này các em học sinh rất hiếu động, thích khám phá và ham mê sáng tạo vậy nên giáo viên có thể khích lệ các em vận dụng các chủ đề từ đã học để viết nên những câu chuyện chêm về các chủ đề mà mình thích. Ví dụ: Các em có thể vận dụng các từ vựng về chủ đề đồ chơi để viết về đồ chơi yêu thích của mình: “My favourite toy” 12 Món đồ chơi yêu thích của tôi là doll Barbie. Đồ chơi special này là present trong birthday party của tôi. Nó rất quan trọng với me vì nó là món quà mà tôi mong đợi từ sister của tôi. Nó rất cute và pretty. Tóc của nó là yellow. Váy của nó cũng rất nice.
doll: đồ chơi present: món quà birthday party: tiệc sinh nhật me: tôi
2.2.1.3. Chêm thêm các từ tiếng Anh quen thuộc trong các hội thoại hàng ngày: Theo cách nói chuyện hàng ngày của các em bây giờ, các em rất hay kết hợp, chèn thêm một số từ nóng vào trong hội thội hàng ngày của mình ví dụ như : bạn ấy đúng là một “hot boy ”… Từ đây, giáo viên có thể khuyến khích các em sử dụng nhiều hơn nữa các từ vựng tiếng Anh đã học trong các hội thoại hàng ngày của các em. Ví dụ: “ Cho mình mượn ruler của ban nhé? ” “ Con mèo này cute quá.” “ Cái này nhìn fake quá” “ Đi shopping đi” “Birthday của bạn là khi nào vậy? ” … 2.2.2. Học từ vựng tiếng Anh qua hình ảnh Não bộ của chúng ta có xu hướng nhớ hình ảnh và ý nghĩa của từ nhiều hơn. Việc nhớ từ xuất hiện một cách đơn thuần. Cách học từ vựng qua hình ảnh sẽ giúp việc học trở nên thú vị, không gây nhàm chán. Đồng thời giúp não bộ kích thích, do 13 đó giúp các em nhớ từ lâu hơn. Các em có thể dễ dàng hồi tưởng khi bắt gặp những hình ảnh thân quen đã được học trước đó. 2.2.2.1. Ở trường học – Giáo viên sử dụng flashcasd, tranh ảnh để dạy từ vựng: Từ việc quan sát hình ảnh các em sẽ ghi nhớ được từ đó nhanh hơn, giáo viên cũng không phải giải thích nghĩa tiếng Việt cho các em. Việc này cũng giúp các em có được suy nghĩ trực tiếp từ hình ảnh sang tiếng Anh mà không cần thông qua tiếng Việt. 14 – Sử dụng flashcard giúp các em ôn tập hoặc kiểm tra từ vựng: Tổ chức các trò chơi sử dụng flashcard cho các em ôn tập từ vựng và thông qua đó giáo viên cũng có thể nắm bắt, đánh giá mức độ nhận biết, ghi nhớ, vận dụng từ vựng của học sinh. + “Slap the picture” Mục đích: ở trò chơi này, học sinh có cơ hội được luyện tập khả năng nghe từ và nhận biết hình ảnh tương ứng với từ nghe được. Điều kiện thực hiện: Giáo viên hệ thống nhóm từ cần ôn tập, kiểm tra; chuẩn bị các hình ảnh tương ứng. Cách thức thực hiện: – Giáo viên gắn tranh lên bảng – Chọn hai đội chơi (số lượng người chơi tùy vào lượng từ vựng cần ôn tập, kiểm tra) xếp thành hai hàng dọc – Giáo viên chọn một học sinh là người gọi từ – Khi có khẩu lệnh bắt đầu các bạn đứng đầu hàng của hai đội chơi sẵn sàng, chú ý lắng nghe xem từ được gọi, đồng thời quan sát, tìm xem hình ảnh tương ứng là gì rồi chạy nhanh đến đập tay vào tranh đó nếu đúng và nhanh hơn đội đó sẽ ghi được điểm; tiếp các từ khác và các bạn đứng tiếp theo cho đến hết. – Giáo viên có thể tổ chức vài lượt chơi để cả lớp có cơ hội tham gia . Ví dụ: Unit 13 – Lesson 2- Sách tiếng Anh 4 – Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Mục đích: tổ chức cho các em chơi trò chơi “Slap the picture” sau khi giới thiệu từ vựng để giúp các em ghi nhớ sâu hơn các từ vừa được học. Cách thức thực hiện: 15 – Giáo viên gắn 4 tranh chỉ đồ ăn lên bảng – Chọn hai đội chơi, mỗi đội 4 em – Giáo viên gọi to tên một loại đồ ăn, bạn đứng đầu hàng nghe và xác định là tranh nào thì chạy nên vỗ vào tranh đó, đội nào nhanh hơn và chính xác thì sẽ ghi được điểm + Matching the word with the picture” Mục đích: Trò chơi này giúp các em luyện tập khả năng nhận biết, ghi nhớ mặt chữ tương ứng với hình ảnh. Điều kiện thực hiện: giáo viên phải chuẩn bị tranh ảnh và thẻ từ tương ứng Cách thức thực hiện: – Giáo viên gắn một số tranh lên bảng cùng với số thẻ từ tương ứng hoặc nhiều hơn không theo trật tự – Chọn hai đội chơi xếp thành hai hàng – Giáo viên hoặc một học sinh làm nhiệm vụ gọi từ; hai đội chú ý lắng nghe, quan sát để tìm được đúng từ gắn vào đúng tranh tương ứng; đội nào chọn nhanh và chính xác sẽ ghi được điểm. trò chơi này giáo viên cũng có thể tổ chức nhiều lượt chơi cho nhiều học sinh được tham gia. Ví dụ: Unit 14 – Lesson 1- Sách tiếng Anh 4 – Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Mục đích: tổ chức cho các em chơi trò chơi “Matching the word with the picture” nhằm giúp các em nhận biết, phân biệt được các tính từ chỉ hình dáng, kích thước, đặc điểm vừa được học. Điều kiện thực hiện: giáo viên chuẩn bị hình ảnh chỉ hình dáng, kích thước, đặc điểm và các thẻ từ tương ứng Cách thức thực hiện: 16 – Giáo viên gắn tranh và thẻ từ lên bảng không theo trật tự nào – Chọn hai đội chơi, mỗi đội 5 em – Hai đội chú ý nghe giáo viên đọc từ, quan sát tìm từ tương ứng và gắn vào đúng tranh – Đội nào tìm đúng và nhanh hơn sẽ giành phần thắng – Sử dụng cac sản phẩm thủ công hay các sản phẩm của môn Mĩ thuật gắn thêm từ tiếng Anh để học 2.2.2.2. Ở nhà Ngoài việc học ở trường, về nhà các em cũng có thể dễ dàng tìm được các chủ đề từ vựng bằng hình ảnh vô cùng đa dạng, sinh động thông qua mạng Internet, từ các phương tiện như tivi, điện thoại, sách báo để tự ôn tập, trau dồi thêm vốn từ vựng của mình. 17 Ví dụ: Các em dễ dàng tìm được các chủ đề từ vựng quen thuốc gần gũi, sinh động về: + Về hình khối + Về thời tiết: 18 + Về nghề nghiệp: – Các em cũng có thể sử dụng các bộ flashcash theo chủ đề 19 – Hoặc có thể tự vẽ một số hình ảnh đơn giản và ghi chú từ. 2.2.3. Học từ vựng qua các “game luyện từ vựng” Phương pháp học kết hợp “game luyện từ vựng” tiếng Anh hiện nay đang được đánh giá là một cách giúp việc học tiếng Anh sẽ trở nên thú vị hơn, tiếp thu một cách tự nhiên cũng như ghi nhớ lâu hơn. Với việc phát triển công nghệ của thời đại 4.0 thì các phần mềm, ứng dụng game từ vựng trở nên đa dạng và phổ biến hơn bao giờ hết. tận dụng các game về từ vựng này các em sẽ có cho mình một công cụ tuyệt vời hỗ trợ mình để tiến xa hơn trong việc nắm vững kiến thức tiếng Anh. Có thể liệt kê ra đây một số “game luyện từ vựng” như: + Fast English “Fast English” là một game đơn giản dành cho người học từ vựng từ mức độ cơ bản. Để tham gia trò chơi, các em chỉ cần nghe các từ và bấm vào hình ảnh phù hợp với chúng. Tốc độ trò chơi sẽ đẩy nhanh hơn khi các em đi tới các quá trình khó hơn. Các em có thể chọn bộ từ vựng để luyện tập với khoảng 30 bộ nội dung bao gồm hầu hết các mục từ vựng cơ bản. 20 Với game từ vựng này các em có thể tải về máy tính để học và luyện tập hàng ngày. Trên lớp các thầy cô cũng có thể sử dụng game “Fast English” để tổ chức cho các em chơi để học, ôn tập các chủ điểm từ vựng quen thuộc. + Word Bingo Để bắt đầu game, các em hãy nghe từ vựng mà con bọ Bingo nói và bấm vào từ tương ứng trên màn hình. Khi các em đạt được 4 từ đúng theo chiều dọc, chiều ngang hay đường chéo thì sẽ nhận được Bingo và giành chiến thắng. Với game này, các em có thể tải về điện thoại thông minh để luyện tập. 21 + 4 pics 1 word “4 Pics 1 Word” là một game học từ vựng tiếng Anh rất phổ biến và có tính hấp dẫn cao. Luật của trò chơi rất đơn giản: mỗi mức độ sẽ hiển thị 4 bức ảnh được liên kết bởi 1 từ vựng, nhiệm vụ của người chơi là tìm ra từ vựng đó dựa vào các chữ cái được đưa ra bên dưới các hình ảnh. + Crossword Trò chơi ô chữ đã khá quen thuộc với người học tiếng Anh. Thông qua game học từ vựng tiếng Anh này, các em sẽ có thể bổ sung được rất nhiều từ vựng đồng nghĩa để đa dạng hơn vốn từ của mình. 22 + Pictoword “ Pictoword” là một ứng dụng học từ vựng tiếng anh qua trò chơi đố chữ rất thú vị. Người chơi sẽ được cung cấp 2 hình ảnh ẩn chứa liên quan 1 từ vựng. Câu đố có thể là sự kết hợp của 2 bức tranh: ví dụ một hình ảnh của tai (ear) và chiếc nhẫn (ring) có thể tạo thành từ vựng về bông tai (earring), hay thông qua một từ đồng âm, hình ảnh hiệp sĩ (knight) và con ngựa cái (mare) sẽ là chìa khóa cho từ cơn ác mộng (nightmare), … 2.2.4. Học từ vựng qua việc đọc truyện song ngữ Ở lứa tuổi của các em, đọc truyện tranh là một sở thích không trừ ai. Hầu hết các em đều đã đọc qua các câu chuyện cổ tích ngắn. Vì vậy việc đọc truyện song ngữ cũng là một hình thức giúp các em có thể nâng cao vốn từ vựng của mình. Các em đọc truyện vừa để giải trí vừa để học tập.
Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY
Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education
Lý do chọn đề tài Trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay, cùng với s phát tri n như v o của cuộc “Cách mạng khoa học-công nghệ”, chiến lược phát tri n ngoại ngữ đ trở thành ộ phận tất yếu của chiến lược con người cho tương lai ở mọi quốc gia trên thế giới Ngoại ngữ không chỉ tạo đi u kiện đ cho các ân tộc trên thế giới x ch lại gần nhau hơn mà còn hỗ trợ cho con người rất nhi u trong lĩnh v c khoa học và x hội. Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức to lớn , phải sáng tạo đ có th hội nhập vào khu v c và thế giới, th c hiện thành công s nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa, xây ng, phát tri n đất nước trong thời đại ùng nổ công nghệ thông tin Với ối cảnh đó, ngoại ngữ đ có một vai trò, vị tr mới v chất Đó là: – Được nâng lên như một năng l c phẩm chất cần thiết v nhân cách của con người Việt Nam hiện đại. – Th c s trở thành công cụ giao tiếp cần thiết, phương tiện thông tin nhạy én, phong phú và vô cùng hiệu quả. Đ th c s phát huy hết được vai trò quan trọng của tiếng Anh, đòi hỏi cả người dạy và người học đ u phải nỗ l c không ngừng đ trau dồi kiến thức và phát tri n ở cả bốn kĩ năng Thầy cô luôn phải chú trọng v việc phát tri n những kỹ năng ngôn ngữ quan trọng ở học sinh. Như chúng ta đ iết, trong nhà trường THCS hiện nay việc giảng dạy Tiếng Anh theo phương pháp giao tiếp đ đạt được một số hiệu quả nhất định Phương pháp giao tiếp đang được khuyến kh ch sử dụng đ nhằm phát tri n cả bốn kĩ năng: nghe – nói – đọc -viết Kĩ năng viết được coi là các kỹ năng cơ ản trong lớp học, và việc sử dụng kĩ năng này rất cần thiết sau khi một quá trình giáo ục ch nh thức kết thúc Vào thời đại mà các chuyên gia ành một phần ba thời gian của họ đ đọc và viết email, thì giao tiếp bằng văn ản là quan trọng hơn ao giờ hết đ thành công trong học tập c ng như trong công việc tương lai Từ đó, việc tăng cường s t tin với các kỹ năng viết có th giúp 2 học sinh đạt được hiệu quả cao hơn trong việc truy n đạt s hi u biết, giúp học sinh th hiện tốt hơn kiến thức của mình trong học tập c ng như tham gia thử sức trong các kì thi (như thi đầu vào trường trung học phổ thông chuyên Lê Hồng Phong, Toefl Junior, IELTS…, thậm ch cả các kì thi phong trào o các trường trong nước và quốc tế tổ chức). Tuy nhiên, các giáo viên Tiếng Anh hơn ai hết hi u rằng viết là một kỹ năng khó cho người học và cả người dạy, nó đòi hỏi người dạy phải nắm vững phương pháp giảng dạy hiệu quả và th c hiện tốt nguyên lý “Học đi đôi với hành” Khi dạy kĩ năng viết mà nếu giáo viên không khéo léo, không iết cách phối hợp các hình thức dạy học hoặc không iết áp ụng các thủ thuật dạy học tốt thì rất dễ làm không kh của lớp học bị tẻ nhạt, dẫn đến học sinh không t ch c c tham gia vào ài học và giờ học có th không đạt được kết quả như mong muốn. Bên cạnh đó, viết là một hình thức ki m tra toàn iện kiến thức của học sinh vì các em phải vận dụng vốn hi u biết v các vấn đ trong x hội, từ ngữ và các cấu trúc ngữ pháp được áp dụng cho kĩ năng viết mà các em đ học vào ài viết của mình Mặc ù khác với nói, trong khi viết học sinh có thời gian suy nghĩ và có th thay đổi được những gì mình đ viết ra nhưng viết lại khó hơn nói ở chỗ nó phải được gọt gi a cẩn thận và phải tuân theo một bố cục hết sức chặt chẽ và lôgic. Từ đó cho ta thấy rõ ràng rằng kĩ năng viết là một kĩ năng khó và vô cùng quan trọng, đồng thời là thách thức đối với học sinh. Từ kinh nghiệm giảng dạy 22 năm và đặc biệt được chọn là người đầu tiên dạy chương trình tiếng Anh th đi m (hệ 10 năm) của Tỉnh Nam Định k từ năm 2013, tôi nhận thấy với mục tiêu nâng cao khả năng viết đoạn văn và viết luận cho học sinh, chương trình mới đ được chú trọng hơn rất nhi u trong thiết kế nội ung, đa ạng v chủ đ so với chương trình c Mặc ù vậy, trong 4 kỹ năng cơ bản là nghe, nói, đọc, viết thì học sinh thường gặp nhi u khó khăn nhất trong kĩ năng viết, thậm ch các em có xu hướng “ngại” viết. Xuất phát từ th c tế này, là giáo viên phụ trách ộ môn tiếng Anh ở trường THCS với mong muốn vừa truy n thụ kiến thức, vừa giúp học sinh thấy yêu và dễ tiếp thu môn học, đặc biệt là hỗ trợ giúp các em học viết một cách ễ àng hơn, cùng với mong muốn được chia sẻ 3 kinh nghiệm của mình với các đồng nghiệp trong việc dạy kĩ năng viết, tôi mạnh dạn chọn đ tài: Phương pháp dạy kĩ năng viết môn Tiếng Anh ở trường trung học cơ sở 2. Mục đích nghiên cứu * Chia sẻ một số kinh nghiệm th c tiễn trong việc rèn kĩ năng viết đoạn văn bằng Tiếng Anh cho học sinh đại trà các lớp 6,7,8,9 và viết luận bằng tiếng Anh cho học sinh giỏi lớp 8,9 giúp các ạn đồng nghiệp có thêm tư liệu tham khảo trong giảng dạy kĩ năng viết. * Giúp học sinh có thói quen tư uy, lập àn ý và phát tri n những ý trong ài viết của mình theo đúng văn phong trong Tiếng Anh. * Giúp hình thành kỹ năng viết trong học sinh, luyện tập viết đồng thời kết hợp với các kỹ năng khác đ đạt kết quả cao trong các kì thi, đặc biệt là kì thi vào các trường trung học phổ thông và kì thi Tuy n sinh lớp 10 vào trường chuyên Lê Hồng Phong c ng như trường chuyên ngữ của Đại học quốc gia 3. Đối tượng nghiên cứu Chủ yếu tập trung vào đối tượng học sinh khối Trung học sơ sở và chương trình tiếng Anh THCS hệ 10 năm (chương trình Tiếng Anh mới), kĩ năng viết được thiết kế trong phần Skills 2 của mỗi Unit Trong áo cáo này, tôi chia kĩ năng viết thành 2 phần: phần 1 là trình ày phương pháp viết đoạn văn “paragraph” và phần 2 là trình ày phương pháp viết “essay”, lồng ghép các kinh nghiệm mà cá nhân tôi đ áp ụng một cách hiệu quả trong việc rèn kĩ năng viết cho học sinh của tôi. 4. Phạm vi nghiên cứu Từ năm học 2017-2018, 2018-2019, 2019-2020, 2020-2021 Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 6A3,6A8, 7A7, 7A3, 8A6, 8A7, 8A8 và bồi ưỡng đội tuy n học sinh giỏi môn Tiếng Anh Trường THCS Trần Đăng Ninh ở TP Nam Định. 5. Cơ sở nghiên cứu Tôi nghiên cứu vấn đ này a trên những cơ sở sau: – Kiến thức học được từ các khóa học nâng cao và ồi ưỡng cho giáo viên cốt cán o hội đồng Anh tổ chức trong nước và ngoài nước. 4 – Kinh nghiệm rút ra được từ các cuộc hội thảo trong nước và quốc tế. – Kinh nghiệm th c tế qua nhi u năm giảng dạy. – D a trên một số ý kiến đóng góp của đồng nghiệp trong nhà trường và đồng nghiệp trên các trang we https://busyteacher.org/ – Sách giáo khoa và các loại sách tham khảo Tiếng Anh lớp 6,7,8,9 hệ 10 năm – Sách giáo viên, sách phương pháp ạy viết (phụ lục) – Cuốn “An Essay Concerning Human Un erstan ing” – https://violet.vn – https://busyteacher.org – http://www.emergingedtech.com – https://www.academia.edu/ – www.EasyTeacherWorksheets.com – https://www.teachingenglish.org.uk/ (British council) – australianetwork.com/studyenglish – bbc.co.uk/worldservice/learningenglish 5 II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến: THỰC TRẠNG: Những thuận lợi – Cùng với s phát tri n chung của thời đại, Tiếng Anh ngày càng có vị thế quan trọng hơn trong cuộc sống. Với Trường trung học cơ sở Trần Đăng Ninh, Tiếng Anh là một môn học được nhà trường rất quan tâm, các ậc phụ huynh và học sinh c ng rất đầu tư và coi trọng, vì thế đối với bản thân học sinh, các em rất cố gắng và luôn có thái độ, động cơ học tập say mê, đúng đắn. – Trong các đ thi môn tiếng Anh cuối kì, đ thi t chọn ành cho học sinh giỏi đ u có ài viết đoạn văn hoặc viết luận trong các đ thi học sinh giỏi cấp Thành phố và cấp Tỉnh c ng như đ thi tuy n sinh vào vào lớp 10 trường chuyên Lê Hồng Phong Nam Định, đi u này làm học sinh có ý thức cao trong việc luyện kĩ năng viết. – Sở GDĐT và PGDĐT luôn quan tâm tổ chức các lớp học bồi ưỡng nâng cao, các đợt tập huấn, hội thảo bồi ưỡng chuyên môn c ng như phương pháp giảng dạy cho giáo viên Tiếng Anh toàn tỉnh nên tất cả giáo viên đ u được tiếp cận với phương pháp ạy học mới phù hợp, t ch c c, cùng với các thiết ị, đồ ùng ạy học hiện đại đ được trang ị, khả năng ạy học của giáo viên ngày càng được nâng lên v chất lượng. Những khó khăn: – Chương trình sách giáo khoa Tiếng Anh mới rất hay, rất khoa học tuy nhiên độ khó c ng cao hơn nhi u, và là chương trình được iên soạn với nội dung liên thông từ cấp ti u học, o đó đòi hỏi học sinh có một trình độ nhất định mới đáp ứng được yêu cầu. Trong khi qua th c tiễn các năm giảng dạy, có nhi u học sinh khi chuy n giao từ ti u học lên trung học cơ sở còn non cả v kiến thức c ng như các kĩ năng, đặc biệt là kĩ năng viết trong môn Tiếng Anh Đi u này mang lại tương đối nhi u khó khăn cho cả giáo viên và học sinh, thậm ch còn làm một số học sinh hoang mang dẫn đến việc các em không t tin khi học tiếng Anh nói chung và kĩ năng viết nói riêng. 6 – Đặc biệt đ làm chủ kĩ năng viết đoạn văn hay viết ài luận trong Tiếng Anh, đòi hỏi người học phải chịu khó, đầu tư nhi u thời gian và phải có phương pháp học đúng, ngoài ra các em cần phải t đọc đ mở rộng thêm kiến thức n n v các vấn đ phổ biến trong cuộc sống mà cần thiết cho yêu cầu của những ài viết. Tuy nhiên, học sinh chưa có nhi u kiến thức v các lĩnh v c x hội ên cạnh đó còn có một số học sinh thấy Tiếng Anh là môn học khó, học không vào nên có tâm lý sợ học môn Tiếng Anh, các em chỉ học ở trên lớp, còn v nhà chưa th c s đam mê ành nhi u thời gian cho môn học. – Tài liệu chia sẻ v phương pháp ạy kĩ năng viết trong các trường phổ thông th c tại chưa có nhi u như các kĩ năng khác, o vậy người dạy chưa có nhi u nguồn đ tham khảo áp ụng vào các giờ dạy viết th c tế trên lớp. 2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến: Theo tôi, việc áp ụng sáng kiến này vào luyện tập kĩ năng viết bao gồm cả viết đoạn văn và viết luận trong môn Tiếng Anh ở Trường THCS là cần thiết bởi sáng kiến đã đưa ra sự nhận biết đúng đắn về các bước dạy kĩ năng viết đúng theo từng loại; các phương pháp áp dụng đơn giản, dễ vận dụng, phù hợp và các minh họa dễ hiểu. Sáng kiến là một trong rất ít tài liệu chia sẻ, hướng dẫn chi tiết, cụ thể về phương pháp dạy và học viết thực tế tại các trường phổ thông hiện nay với chương trình sách giáo khoa mới. Đối với giáo viên thì sáng kiến sẽ là một nguồn tư liệu tham khảo bổ ch đ tìm ra phương pháp ạy kĩ năng viết phù hợp và hiệu quả nhất với từng đối tượng người học. Sáng kiến c ng sẽ giúp cho học sinh tiếp cận được kĩ năng viết một cách ch nh xác và dễ àng nhất, từ đó các em cảm thấy t tin hơn với kĩ năng viết trong các đ thi môn Tiếng Anh đ đạt được kết quả cao nhất đồng thời các em c ng có th ùng ngôn ngữ viết đ bộc lộ những suy nghĩ của mình như một công cụ giao tiếp hiệu quả. 7 PHẦN I A – CƠ SỞ LÝ LUẬN Đ viết được một đoạn văn (paragraph) hay một ài luận, trước tiên người dạy phải giúp người học hi u rõ các yêu cầu v bố cục, cách sử dụng từ v ng, cấu trúc, ngữ pháp, văn phong, và những đi u cần tránh khi viết một đoạn văn, từ đó giúp người học tránh mắc lỗi “nghĩ sao viết vậy”. B – NHẬN BIẾT “PARAGRAPH” VÀ “ESSAY” I. PHÂN BIỆT SỰ KHÁC NHAU GIỮA “A PARAGRAPH” VÀ “AN ESSAY” Trước hết người dạy phải xác định rõ được những đi m giống và khác nhau giữa hai dạng ài viết đoạn văn “paragraph” và ài luận “essay” đ trong quá trình ạy kĩ năng này giáo viên áp ụng đúng với từng đối tượng học sinh, đồng thời c ng nắm được những đi m dễ bị nhầm lẫn cần giúp học sinh tránh đ các em có th viết được ài một cách ch nh xác nhất theo yêu cầu của từng dạng bài, tránh viết lạc đ . Nếu học sinh hi u và có kĩ năng viết tốt dạng ài paragraph thì khi chuy n sang kĩ năng viết ài essay sẽ dễ àng với các em và hiệu quả hơn rất nhi u bởi “essay” th c chất là s kết hợp của nhi u “paragraph”. PARAGRAPH (ĐOẠN VĂN) 1. Khái niệm: A PARAGRAPH: Là một tập hợp các câu (khoảng từ 80-100 hoặc 100- 120 từ) được viết thành một đoạn văn nhằm diễn tả ý tưởng xuyên suốt cả đoạn. 2. Các dạng đoạn văn: Gồm 4 dạng ch nh: – Descriptive : đoạn văn mô tả người, s vật, nơi chốn… – Narrative: đoạn văn k chuyện: k một câu chuyện (trình t thời gian) từ lúc ắt đầu → iễn biến → kết thúc – Expository: đoạn văn hướng dẫn từng ước đ làm một việc gì đó – Persuasive: đoạn văn thuyết phục: người viết đưa ra ẫn chứng đ thuyết phục người đọc tin theo luận đi m của mình 8 Trong đó ạng cuối cùng (persuasive paragraph) là phổ biến nhất trong chương trình và trong các đ thi, vì vậy chúng ta tập trung vào khai thác ạng viết này. 3. Bố cục: Một paragraph thường gồm ba phần chính được viết li n, không xuống dòng: 1. Topic sentence( câu chủ đ ) thường là câu đầu tiên của đoạn nêu ý ch nh sẽ nói trong đoạn , viết lại câu chủ đ sao cho giữ nguyên ý (paraphrase topic), gồm từ 12 câu (tùy theo số lượng từ mà đầu ài yêu cầu nhưng thông thường là một câu). 2. Supporting sentences (câu hỗ trợ ý): ổ sung, giải th ch cho câu chủ đ lúc đầu, gồm khoảng từ 68/10 câu (tùy theo số lượng từ mà đầu ài yêu cầu). 3. Concluding sentence (câu kết) là câu cuối kết thúc đoạn và tóm tắt lại ý ch nh trong đoạn một lần nữa, gồm khoảng từ 12 câu (tùy theo số lượng từ đầu ài yêu cầu.) THE BASIC STRUCTURE OF A PARAGRAPH AN EXAMPLE PARAGRAPH Write a short paragraph (100-120 words) about causes of obesity. There is a fact that obesity has become a common disease in our society due to some different factors. First of all, obesity occurs when a person eats more calories than the o y urns Besi es, if one‟s parent is o ese, he or she will e easily Topic sentence (Main idea) Supporting sentence 1 Develop the topic sentence Supporting sentence 3 Develop the topic sentence Supporting sentence 2 Develop the topic sentence Concluding sentence (restatement / summary / final comment ) 9 obese. Another reason is that more and more teenagers are obese because of their poor eating habits or overeating a lot of fast-food or junk food. Some are so busy with their homework or some are so lazy that they are not able to spend any time doing exercise. Last but not least, watching TV or playing computer games for hours and hours are also the reason for them to be overweight. Being obese, teenagers can face with a number of health problems such as heart diseases, breathing problems, sleeping problems, and so on. More seriously, they may often have low-esteem and lack confidence in life. As I have mentioned, it is suggested that each person has to maintain a healthy lifestyle to avoid becoming obese. ( Phan Ngọc Minh – Class 7A3- Tran Dang Ninh Secondary School) ESSAY (BÀI LUẬN) 1. Định nghĩa An essay là 1 ài viết ngắn (khoảng 250-300 từ) gồm nhi u đoạn văn (paragraph) đ nói v một chủ đ cụ th có t nh th c tế cao, nhằm diễn tả, sàng lọc, chứng minh hay phân t ch một đ tài nào đó trong cuộc sống. V hình thức viết ta phải xuống òng đ ngăn cách mỗi đoạn. Viết essay là kĩ năng viết ở cấp độ cao hơn thường ành cho học sinh giỏi cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông trở lên vì nó đòi hỏi người viết phải có kiến thức nhất định v nhi u lĩnh v c trong cuộc sống, đồng thời phải biết sử dụng ngôn từ, lập luận linh hoạt, sắc én, phù hợp với nhi u chủ đi m trong cuộc sống. 2. Một số dạng bài luận “essay” chủ yếu Autobiographical essay (Bài luận tự truyện): k lại cuộc đời người viết, đặc iệt là đ ghi nhớ v một chặng đời hay một kh a cạnh nào đó trong cuộc sống. Argumentative essay (Bài luận mang tính tranh luận): giới thiệu một quan đi m ủng hộ hay phản đối một chủ đ nào đó Narrative essay (Bài luận tường thuật): k lại tiến trình của một s kiện hay trải nghiệm nào đó Descriptive essay (Bài luận mô tả): tả lại một chủ đ nào đó (con người, nơi chốn hay nét văn hóa truy n thống…). 10 Persuasive essay (Bài luận thuyết phục): Thuyết phục người đọc tin theo quan đi m ản thân Photo essay (Bài luận bằng hình ảnh): là một ộ sưu tập các hình ảnh có chung nội dung liên quan tới một câu chuyện nào đó trong đó tác giả có th thêm ình luận hay đoạn văn nhằm iễn tả rõ hơn nội dung ức ảnh muốn chuy n tải 3. Cấu trúc của 1 bài luận (essay) Tuy có nhi u ạng khác nhau nhưng nhìn chung essay là một văn ản có cấu trúc liên tục được chia thành nhi u đoạn văn nhỏ và có chung cấu trúc cơ ản, gồm 3 phần chính như sau: 1. Introduction paragraph (Mở bài): thường là 1 đoạn với 2 nội dung: cung cấp thông tin cơ ản v chủ đ (topic) sẽ được được àn luận đến, giải th ch ối cảnh của vấn đ và thông áo cho người đọc phần thân ài của essay sẽ đ cập đến những nội dung gì 2. Body paragraph (Thân bài): Thường chia làm 2-3 đoạn, trong đó mỗi đoạn gồm những nội dung sau: nêu ý chính của đoạn sau đó giải thích, củng cố hoặc đưa ra những ý kiến trái chi u đ đưa ra những góc nhìn khác nhau v cùng một vấn đ 3. Conclusion paragraph (Kết luận): thường chỉ bao gồm một đoạn văn duy nhất với việc kết luận khôi phục luận đi m và tập hợp các chủ đ của lập luận được trình ày ên trên đồng thời cho người đọc biết là tác giả đ hoàn thành mục đ ch của ài 11 THE BASIC STRUCTURE OF AN ESSAY AN EXAMPLE ESSAY TOPIC : “ Is reading a book better than watching a movie?” Why or why not? It is believed that reading a book is a better way to improve people’s creativity, imagination, and linguistic skills than watching a movie. To a certain extent, I would agree in the statement, but I do believe that watching a good film at the proportionate time brings about positive values to our mind and language as well. One the one hand, it is true that reading brings a lot of benefits for mankind and books are instrumental in enhancing people’s literacy and developing their imaginative thinking. Let us have an example, a person reading a fairly tale with illustration will have to think, fantasize and use their creativeness to comprehend ideas and reasoning, which in turn sharpen their mental skills. Moreover, reading books helps to improve language skills. Spending time reading a book which is not written in our mother tongue leads to the development of a strong language base referring to its vocabulary, or comprehending meaning of a word in different contexts. Besides, reading out a book for children is also an effective way to help them improve their communication skill, which is greatly stimulated as the kids grab a spoken word and use it in daily conversations. On the other hand, watching a movie is considered an important activity as reading in order to cultivate one‟s imaginativeness. Viewers can improve their listening and speaking skills as they can listen to the sound of the word and how it is used in spoken context with vivid images to illustrate the exact meaning. For instance, when viewers watch a film, they are exposed to a wide range of knowledge by seizing images of landscapes or feel tastes of specialties in various geographical regions, characters, ways of life, etc. Furthermore, through INTRODUCTION PARAGRAPH (Thesis statement +Paraphrase) BODY PARAGRAPH 1 (Topic sentence + Supporting sentences) BODY PARAGRAPH 2 (Topic sentence+ Supporting sentences) CONCLUSION PARAGRAPH (Summary main idea(s)) 12 foreign films, viewers not only easily learn vocabularies or grammar but also widen their knowledge about many other countries in the world. However, the reason why watching is not a good choice for learning such skills lies on the fact that it is more difficult to keep people‟s attention on learning than reading. In conclusion, I pen down saying that although watching movies has undeniable benefits, they cannot outweigh the role of reading books not only in developing language skills and imagination but also in many other ways. ( Student Doan Minh Tue –Class 9A8 – Tran Dang Ninh Secondary School) II. Cấu trúc và nội dung cần đảm bảo của “paragraph” và “essay” 1. Cấu trúc và nội dung cần đảm bảo của một “paragraph” Một đoạn văn (a paragraph) là một loạt câu (a series of sentences) phát tri n, ủng hộ, chứng minh một ý nào đó; và ý này thường là câu chủ đ (topic sentence) của đoạn văn Các câu còn lại phát tri n, giải th ch, minh họa cho câu chủ đ này (supporting sentences).Câu kết luận (conclu ing sentence), câu thường đứng cuối đoạn văn, là câu tóm tắt lại ý ch nh của đoạn văn đó ằng cách iễn đạt khác (Teacher’s manual: Writing English in Context – Trang 26) Topic sentence
A paragraph
Supporting ideas
Concluding sentence
Cụ thể như sau: a. Topic sentence (Câu chủ đề): * Topic sentence (câu chủ đ ): Thường là câu thường đứng đầu mỗi đoạn văn mang ý tổng quát của cả đoạn văn, cho người đọc biết chủ đ đoạn văn sẽ nói v chủ đ gì . * Câu chủ đ thường gồm có hai phần chính: 1. Topic (chủ đ ): là câu đầu tiên mang nghĩa khái quát nhất của đoạn. 2. Controlling idea(s) (ý chủ đạo): là các câu giải th ch, minh họa rõ hơn cho câu chủ đ , trả lời ý cho các câu hỏi: How? Why? In what ways? What does that mean? * Chúng ta cùng phân t ch v ụ sau đ hi u rõ thêm: 13 Topic: “Write a short paragraph about some changes in a rural area.” (SGK Tiếng Anh 8- Unit 2(p23)- Writing) Phân t ch đầu ài thì ta có th xác định như sau: Topic sentence: some changes in a rural area – Topic : a rural area – Controlling idea: some changes ( About How? In what ways? Influence on local people’s life? ) b. Supporting sentences (Các câu bổ trợ): * Supporting sentences (Các câu bổ trợ): Các câu hỗ trợ phát tri n ý này là những câu chứng minh cho câu chủ đ , do vậy chúng cung cấp thông tin chi tiết hơn và giải th ch hoặc minh hoạ bằng v ụ (examples) hoặc dữ kiện (facts), số liệu (statistics) hoặc quotations (tr ch ẫn) hoặc kinh nghiệm bản thân (personal experience). * Đ một đoạn văn có t nh thuyết phục thường cần t nhất 3 câu phát tri n ý (supporting sentences). Trong đó mỗi một câu chứng minh cho câu chủ đ phải tập trung phát tri n câu chủ đ đó mà thôi (tức là đoạn văn phải có t nh thống nhất “unity”). * Ngoài ra, các câu hỗ trợ ý này phải được viết một cách có lô g c và phải được liên kết với nhau bằng các từ nối th ch hợp. (như sẽ nêu ở phần từ nối) * Có th minh họa supporting sentences bằng sơ đồ như sau: c. Concluding sentence (Câu kết đoạn): Concluding sentence (Câu kết đoạn): là câu kết thúc đoạn văn nhắc lại ý ch nh hoặc nói lại câu chủ đ của đoạn văn ằng cách diễn đạt khác, hoặc cho biết quan đi m/ nhận xét của người viết v chủ đ đó
Supporting ideas
supporting idea 2: main idea+ explanation + example(s) / facts/ statistics/ quotations…
supporting idea 3: main idea+ explanation+ example(s) / facts/ statistics/ quotations…
supporting idea 1: main idea + explanation+ example(s)/ facts/ statistics/ quotations…
14 SUMMARY Có thể tóm tắt câu trúc cơ bản của một đoạn văn như sau: THE BASIC STRUCTURE OF A PARAGRAPH Tips:
Sentence 1 Sentence 2
: Topic sentence : State main idea 1 (Supporting sentence 1)
Sentence 3, 4 : Give further explanation and an example for main idea 1
Sentence 5
: State main idea 2 (Supporting sentence 2)
Sentence 6,7 : Give further explanation and an example for main idea 2
Sentence 8
: State main idea 3 (Supporting sentence 3)
Sentence 9, 10: Give further explanation and example for main idea 3
Sentence 11 Sentence 12
: Futher explanation for example (the same to supporting idea 1, 2) : Concluding sentence
Topic sentence Introduce the topic + contain controlling idea(s) Supporting sentence 1 Develop the topic sentence by giving: reasons, examples, facts, statistics, quotations…… Supporting sentence 3 Develop the topic sentence by giving: reasons, examples, facts, statistics, quotations …… Supporting sentence 2 Develop the topic sentence by giving: reasons, examples, facts, statistics, quotations ….. Concluding sentence (restatement of the topic sentence / summary of the main points/ giving a final comment on the topic) 15 AN EXAMPLE TOPIC
What are advantages of doing leisure activities?
(a) It is undeniable that doing leisure activities is significant to people‟s life because of numerous benefits it brings about. (b)Firstly, leisure activities offer people opportunities to reduce tress after a hard-working day. (b1) For example, a person who likes participating in a football club will reduce depression by helping to increase his positive mood and moderate the balance in life. (c)Secondly, leisure activities give its contribution to enhance our immune system. (c1)In fact, physical activities like going swimming or walking can help improve the respiratory system, make bones stronger and maintain control in some furious diseases such as cancer, diabetes or obesity. (d)Last but not least, leisure activities help to develop social communication skill. (d1) For instance, when a person loves collecting things, they can have opportunities to meet and make friends with other people who have the same interest if he takes part in one club. (e)To summarize, all the aforementioned virtues of leisure activities are the reasons why people like doing them in free time.
(a) Topic sentence: nói lên chủ đ cả đoạn là v “a vantages of oing leisure activities ” (b) Supporting sentence 1: lợi ch thứ nhất của “ oing leisure activities ” (b1) Hỗ trợ ý cho supporting sentence1 : v dụ minh họa và phân t ch rõ cho lợi ch 1 (c) Supporting sentence 2: lợi ch thứ hai của “ oing leisure activities ” (c1) Hỗ trợ ý cho supporting sentence 2: giải th ch + minh họa cho lợi ch 2 (d) Supporting sentence 3: lợi ch thứ ba của “ oing leisure activities ” (d1) Hỗ trợ ý cho supporting sentence 3: giải th ch + minh họa cho lợi ch 3 (e) Câu kết: Tóm tắt nội ung toàn ài là “advantages of doing leisure activities”
16 2. Cấu trúc và nội dung cần đảm bảo trong bài luận (essay) Một ài luận (an essay): là một ài văn v quan đi m của người viết đối với một vấn đ nào đó hoặc đưa ra nguyên nhân, hậu quả và giải pháp cho một vấn đ hoặc thảo luận ưu đi m (advantages) và nhược đi m (disadvantages) của một cái gì đó (Theo “An Essay Concerning Human Understanding”) Introduction paragraph AN ESSAY Body paragraph(s) Conclusion paragraph a. Introduction paragraph (Giới thiệu) * Introduction paragraph (Đoạn giới thiệu chung): thường là 1 đoạn đứng đầu ài luận mang ý tổng quát của cả ài viết và cho người đọc biết chủ đ của cả ài là gì * Đoạn giới thiệu chung thường gồm 2 nội dung ch nh: + General statement (paraphrase topic): the give the introduction contextualizes the topic cung cấp thông tin cơ ản v chủ đ (topic) sẽ được được àn luận đến, giải th ch ối cảnh của vấn đ + Thesis statement: tells the readers what the essay is going to say thông áo cho người đọc phần thân ài của essay sẽ đ cập đến những nội dung gì. * Chúng ta cùng phân t ch v ụ sau đ hi u rõ thêm Topic: “Nowadys more and more people choose a foreign country for their further study.” What are the advantages and disadvantages of this trend? Phân t ch đầu ài thì ta có th xác định Introduction paragraph như sau: + General statement: diễn đạt lại (paraphrase) nội dung phần trong ngoặc kép ở đ ài theo lối diễn đạt khác, v ụ có th bắt đầu bằng: Eg: It is a fact that …. + Thesis statement: trả lời câu hỏi của đ ài – khẳng định xu hướng/ giải pháp này mang đến cả lợi ch lẫn bất lợi. 17 Eg: This trend would create certain benefits but there will also be some drawbacks. b. Body paragraph(s) (Thân bài) * Câu đầu tiên nêu lên s kết nối với đoạn văn ngay trước nó. (có th không cần). * Thân ài thường chia làm 2 đoạn (c ng có th là 3 hoặc 4 đoạn tùy theo người viết và theo yêu cầu của đầu ài v số lượng từ), trong đó mỗi đoạn gồm: + Topic sentence: đứng ở đầu đoạn và nêu ý ch nh của đoạn văn + Supporting sentences: các câu tiếp theo iễn giải ý ch nh của đoạn ằng cách đưa ra luận đi m (reasoning) đ giải th ch / củng cố ý ch nh; đưa ra luận cứ (supporting evidence) đ củng cố ý ch nh; hoặc đưa ra những ý kiến trái chi u (alternatives, contradiction) đ đưa ra những góc nhìn khác nhau v cùng một vấn đ Câu cuối cùng tổng kết lại ý ch nh của đoạn * Ngoài ra, giữa các câu trong một đoạn và giữa các đoạn trong ài phải được viết một cách có lô g c và phải được liên kết với nhau bằng các từ nối th ch hợp (như sẽ nêu ở phần từ nối) * Có th minh họa body paragraph(s) bằng sơ đồ như sau: PARAGRAPH (Topic sentence + Supporting sentences) BODY PARAGRAPH PARAGRAPH 2 (Topic sentence + Supporting sentences) PARAGRAPH 3/4/5… (nếu có) c. Conclusion paragraph (Kết luận) Conclusion paragraph (Đoạn kết luận): thường chỉ bao gồm một đoạn văn duy nhất với việc kết luận tóm tắt lại luận đi m và tập hợp các chủ đ của lập luận được trình ày ên trên và cho người đọc biết là tác giả đ hoàn thành mục đ ch của ài
Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY
Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education
SKKN Một số biện pháp tư vấn tâm lý giáo dục cho học sinh THCS của giáo viên chủ nhiệm
ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN Chúng ta đang sống trong thời kỳ mà đời sống chính trị, kinh tế, xã hội cả ở trong nước và trên thế giới đang có rất nhiều thay đổi và biến động sâu sắc. Trước những diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid 19 đã ảnh hưởng không nhỏ đến tất cả các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Ở trong nước toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang chuẩn bị mọi điều kiện tốt nhất cho cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV và Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, đây cũng là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước được tổ chức vào thời điểm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng vừa kết thúc thắng lợi. Nhìn lại chặng đường hội nhập kinh tế quốc tế sau 35 năm đổi mới của đất nước ta, chúng ta thấy rõ hơn những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội, “đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín cao như ngày hôm nay”. Trước những thuận lợi và khó khăn, những cơ hội và thách thức đan xen, Chính phủ nước ta đã chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ, linh hoạt, hiệu quả “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch bệnh hiệu quả, bảo vệ sức khỏe nhân dân, vừa phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội, nỗ lực phấn đấu phát huy tốt nhất các kết quả đã đạt được, tiếp tục chủ động, tích cực để đạt được những thành tựu mới, vững chắc hơn trong thời gian tới. Đất nước đã và đang chuyển mình bước sang một kỉ nguyên mới: “công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, đặc biệt cuộc “Cách mạng Công nghiệp 4.0” và hội nhập kimh tế, quốc tế ngày càng sâu rộng. Song, bên cạnh những thành tựu tốt đẹp đáng khích lệ mà chúng ta đã đạt được góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế, dân tộc ta cũng đang đứng trước những thử thách lớn mà một trong số đó là sự tha hoá phẩm chất đạo đức của một bộ phận công dân Việt Nam chưa có ý thức tự rèn luyện, trau dồi đạo đức, vi phạm pháp luật, chưa thực hiện nghiêm chỉnh mọi chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước và nhiều hơn cả có lẽ là tình trạng thiếu kỹ năng sống, không hiểu hết giá trị sống của một số thanh thiếu niên, học sinh hiện nay. 2 Để xây dựng một đất nước ngày một giàu mạnh, văn minh là nhiệm vụ cấp bách được đặt ra với tất cả các ngành, các cấp và đặc biệt là ngành Giáo dục – ngành chăm lo cho thế hệ trẻ tất cả vì sự nghiệp “trồng người”. Như chúng ta đã biết: “Vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Câu nói của Bác Hồ đã thấm nhuần vào Đường lối của Đảng và Chủ trương của Nhà nước ta. Hiện nay Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự nghiệp chăm sóc và phát huy yếu tố con người. Điều đó xuất phát từ nhận thức sâu sắc về những giá trị lớn lao và ý nghĩa mang tính quyết định của yếu tố con người, chủ thể của tất cả những sáng tạo, những nguồn của cải vật chất và văn hóa, những nền văn minh của nhân loại; xây dựng và phát triển con người có trí tuệ cao, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực đồng thời cũng là mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội. Muốn đạt được điều đó phải phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, sẽ nâng cao mặt bằng dân trí, tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao, yếu tố thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội của mỗi quốc gia trong mỗi giai đoạn lịch sử. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang trên con đường đẩy nhanh, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện hội nhập Quốc tế. Vì vậy Nghị quyết của Hội nghị ban Chấp hành Trung ương lần thứ 2 ( khóa III ) đã khẳng định: “ Thực sự coi giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu”; “ giáo dục – đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục – đào tạo là đầu tư phát triển”. Song để thực hiện được vai trò to lớn đó giáo dục và đào tạo đòi hỏi phải quan tâm đến việc phát triển toàn diện của người học. Với mục đích cao cả như thế, tôi thiết nghĩ việc giáo dục trong nhà trường thì việc đầu tiên phải lấy giáo dục đạo đức con người làm gốc, lấy giáo dục tài năng là kết quả của tinh hoa đạo đức. Để giáo dục con người toàn diện, con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa chúng ta phải kết hợp dạy “chữ” và dạy “người” đúng như mục tiêu giáo dục đã chỉ rõ. Để thực hiện mục tiêu giáo dục này thì trường học chính là nơi đào tạo nhiều thế hệ học trò, là môi trường tạo dựng cho đất nước những con người xã hội chủ nghĩa – có đủ tài năng trí tuệ và những phẩm chất đạo đức cách mạng, để sau này thực sự là người chủ nhân tương lai của đất nước. Người trực tiếp đào tạo những con 3 người như thế không ai khác chính là giáo viên, những thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy các em và đặc biệt là người giáo viên chủ nhiệm lớp. Giáo viên là những người được đào tạo về kiến thức, về kỹ năng về nghiệp vụ chuyên môn nhằm giáo dục học sinh phát triển toàn diện, trở thành những công dân có ích cho xã hội. Bên cạnh công tác giảng dạy các bộ môn, thì người giáo viên còn làm một công việc đầy ý nghĩa đó là công tác chủ nhiệm lớp, đây là một công việc mà bất kì người giáo viên nào có tâm huyết cũng không thể xem nhẹ được. Tuy nhiên công tác chủ nhiệm trong nhà trường hiện nay gặp phải không ít những khó khăn trong việc quản lý, giáo dục học sinh sa sút về đạo đức, thiếu ý thức trong việc học tập, đặc biệt là những học sinh cá biệt, chậm tiến. Như chúng ta vẫn thấy, người giáo viên chủ nhiệm lớp đóng một vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt trong trường trung học cơ sở, bởi đây là giai đoạn các em hình thành nhân cách, chính vì thế mà người giáo viên chủ nhiệm có sự ảnh hưởng không nhỏ có trong việc hình thành cho những chủ nhân tương lai của đất nước những cơ sở về sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng sống cơ bản để học sinh phát triển trở thành những người toàn diện. Người ta thường nói con cái là hình ảnh của cha mẹ, một tập thể lớp chính là hình ảnh của giáo viên chủ nhiệm, nói như vậy cũng đúng phần nào vì rõ ràng giáo viên chủ nhiệm là người cha, người mẹ thứ 2 của các em. Ngoài những giờ giảng dạy trên lớp, giáo viên chủ nhiệm là người gần gũi với các em nhiều nhất, dễ dàng tiếp cận với các em qua những giờ sinh hoạt lớp, sinh hoạt đầu giờ, những buổi sinh hoạt tập thể, những buổi lao động, những khi cắm trại và cả những lúc ở nhà mà người giáo viên bộ môn không có được điều đó,… Những lúc như thế này thầy trò càng hiểu nhau hơn, các em dễ dàng chia sẻ với thầy cô giáo chủ nhiệm nhiều hơn, tự nhiên hơn mà không hề cảm thấy có khoảng cách hay sợ sệt. Chính vì có một vị trí quan trọng như vậy, nên mỗi người giáo viên chủ nhiệm lớp cần phải có nhận thức hết sức đúng đắn về vai trò của mình trong lớp học. Người giáo viên chủ nhiệm lớp cũng như người chỉ huy ngoài chiến trường, muốn dành thắng lợi thì người đó phải biết tổ chức, bao quát, xử lí tốt các tình huống mới giành được thắng lợi. 4 Đối với người giáo viên không chỉ dạy các em về kiến thức, văn hoá mà còn dạy các em về nền nếp, cách sống, cách làm người và ý thức làm chủ tương lai của đất nước. Nhưng thực trạng hiện nay, công tác chủ nhiệm chưa đạt được hiệu quả cao trong việc tư vấn tâm lý giáo dục cho học sinh trong để các em có ý thức rèn luyện nề nếp tốt, nâng cao chất lượng học tập và các hoạt động khác.Từ nhận thức trên, người giáo viên chủ nhiệm lớp hết sức quan trọng trong việc hướng dẫn, chỉ đạo lớp và đào tạo thế hệ trẻ theo mục tiêu giáo dục toàn diện. Người giáo viên chủ nhiệm lớp đóng rất nhiều vai trò: Vừa là thầy dạy học, vừa là người chỉ huy, vừa là người cha, người mẹ và cũng có lúc phải là người bạn tốt, thân nhất của các em. Từ đó có thể uốn nắn các em đi theo quỹ đạo của mình. Giáo viên chủ nhiệm lớp có chỉ đạo, quản lí lớp và tư vấn tâm lý giáo dục cho các em học sinh tốt thì việc học của các em chắc chắn sẽ tốt hơn và việc giảng dạy của các giáo viên bộ môn sẽ đạt hiệu quả hơn. Đã là một giáo viên chủ nhiệm, thì bất kỳ ai cũng quan tâm đến việc làm thế nào để đưa lớp tiến lên, đây không chỉ là trách nhiệm lớn của những ai làm công tác chủ nhiệm, đồng thời cũng là khẳng định mình về năng lực và nhất là có lương tâm của một nhà giáo. Giáo viên chủ nhiệm nhận thấy rõ mỗi tập thể lớp là cơ sở quan trọng để xây dựng nhà trường vững mạnh, một tập thể tốt chắc chắn sẽ có những học sinh tốt, những con người vừa có đủ cả “ đức” lẫn “ tài”. Như vậy nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm có vai trò quan trọng, ảnh hưởng nhất định đến việc học tập cũng như rèn luyện đạo đức của học sinh. Trên thực tế, chủ nhiệm lớp là công tác vô cùng khó khăn, phức tạp, vui cũng nhiều, buồn cũng không ít, thành công cũng có, thất bại cũng không phải là hiếm. Bởi lẽ, mỗi một tập thể lớp đều có những đặc thù riêng của lớp đó, có lớp như thế này, có lớp như thế khác. Nhìn chung, trong mỗi lớp học có rất nhiều những em học sinh ngoan, có ý thức tổ chức kỷ luật tốt góp phần không nhỏ trong việc xây dựng tập thể lớp vững mạnh đạt được được những chỉ tiêu của trường đề ra đáp ứng được niềm mong mỏi của thầy cô và đặc biệt là của chính cha mẹ các em. Bên cạnh đó, ở lớp nào cũng thế luôn có một số ít em học sinh cá biệt về học tập, chưa ngoan về đạo đức, hay là học sinh có hoàn cảnh đặc biệt, gia đình khó khăn về kinh tế, con mồ côi, bố mẹ li thân, li dị, bố mẹ đi làm ăn 5 xa…Tất cả những điều đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển tâm sinh lý của các em, đó cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng một số em chưa tích cực trong học tập, thiếu ý thức trong việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức… thậm chí có em vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật. Thực tiễn là thế, cho nên đòi hỏi người giáo viên chủ nhiệm lớp phải có phương pháp chủ nhiệm như thế nào để có hiệu quả cao nhất. Là một giáo viên chủ nhiệm lớp tôi luôn trăn trở, suy nghĩ làm thế nào để nâng cao chất lượng của công tác chủ nhiệm mà trong đó tôi đặc biệt quan tâm đó là việc tư vấn tâm lý giáo dục cho các em học sinh để các em học sinh của tôi luôn có cái nhìn tích cực vào cuộc sống, có được sự phát triển toàn diện, có đầy đủ các kỹ năng “mềm” trong nền Giáo dục – Đào tạo Thành phố Nam Định với bề dày truyền thống là đơn vị luôn dẫn đầu của Tỉnh, góp phần quan trọng vào thành tích gần 30 năm liên tục là đơn vị dẫn đầu toàn quốc về Giáo dục – Đào tạo Tỉnh Nam Định. Sự nghiệp “trồng người” đã gắn bó với tôi gần 20 năm, trong đó nhiều năm tôi tham gia công tác giáo dục đạo đức học sinh, nhiều lần tham gia những lớp học chuyên đề về tư vấn tâm lý giáo dục đạo đức cho học sinh và nhất là trực tiếp qua những cuộc nói chuyện, chia sẻ, tư vấn cho các em học sinh về các lĩnh vực trong cuộc sống thông qua những bài giảng cũng như hoạt động ngoài giờ lên lớp, những buổi sinh hoạt lớp, tôi luôn trăn trở làm thế nào để các em học sinh thân yêu của tôi không chỉ là những học sinh giỏi mà còn là người có kỹ năng sống thật tốt, hiểu được giá trị sống để trở thành những con người có ích góp phần xây dựng Tổ quốc. Chính vì những điều đó, với nhận thức và từ những việc làm thực tế, bằng kinh nghiệm của bản thân, trong khuôn khổ của sáng kiến này, tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Một số biện pháp tư vấn tâm lý giáo dục cho học sinh trung học cơ sở của giáo viên chủ nhiệm” để mong được chia sẻ cùng các đồng chí. II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT . 1. Mô tả giải pháp kỹ thuật trước khi tạo ra sáng kiến Đứng trước yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện nền Giáo dục nước nhà, trường Trung học cơ sở Tô Hiệu – thành phố Nam Định – nơi tôi đang công tác đã có những khó 6 khăn, thuận lợi trực tiếp ảnh hưởng đến công tác chủ nhiệm lớp, đặc biệt là vấn đề tư vấn tâm lý giáo dục học sinh như sau: * Về thuận lợi: Kế thừa và phát huy truyền tốt đẹp của ngành GD- ĐT tỉnh Nam Định nhiều năm liên tục là một trong những lá cờ đầu toàn quốc về giáo dục – đào tạo, mỗi giáo viên Thành Nam luôn phấn đấu, rèn luyện và phát huy hết mình cho sự nghiệp giáo dục. Bản thân tôi là một giáo viên đã có gần 20 năm gắn bó với nghề với nhiều năm làm công tác giáo dục đạo đức học sinh, tôi luôn ý thức việc tự rèn luyện và trau dồi bản thân là một việc không thể thiếu đối với mỗi nhà giáo và trên thực tế trong những năm học qua tôi luôn cố gắng hết mình cho sự nghiệp giáo dục để đạt được những thành tích đáng khích lệ và được cấp trên ghi nhận với nhiều năm là chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, năm 2015 là chiến sĩ thi đua cấp tỉnh, nhiều lần được giám đốc Sở Khoa học công nghệ khen, 10 lần được giám đốc Sở Giáo dục khen thưởng và nhiều phần thưởng khác cùng với danh hiệu Giáo viên ưu tú Thành Nam, đây chính là nguồn cổ vũ động viên to lớn để cho tôi luôn cố gắng hơn nữa trong mọi lĩnh vực công tác của mình. . Những năm học qua, Sở Giáo dục- đào tạo, Phòng Giáo dục – đào tạo luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao về công tác chuyên môn, công tác chủ nhiệm lớp, và các công tác tư vấn tâm lý học đường…tạo điều kiện để giáo viên được thường xuyên tập huấn học tập chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ, đặc biệt quan tâm tới việc đổi mới căn bản Giáo dục nhằm mục đích giáo dục học sinh trở thành những con người có đủ năng lực, phẩm chất đáp ứng được yêu cầu xã hội trong giai đoạn hiện nay. Chi bộ Đảng, Ban giám hiệu, tập thể sư phạm nhà trường luôn luôn xác định nhiệm vụ trọng tâm đó chính là giáo dục học sinh trở thành những con người phát triển toàn diện., Ban lãnh đạo nhà trường luôn chú trọng, quan tâm đến việc giáo dục đạo đức học sinh, đồng thời, luôn thường xuyên quan tâm đến công tác chủ nhiệm cũng như năng lực chủ nhiệm của giáo viên làm công tác chủ nhiệm để có những chiến lược mới nhằm xây dựng những tập thể lớp chất lượng theo tiêu chí “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Các đồng chí giáo viên trong trường, đặc biệt là các đồng chí giáo 7 viên chủ nhiệm luôn nhiệt tình, quan tâm sát sao đến công tác chủ nhiệm, tích cực học hỏi, trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm chủ nhiệm lớp với nhau để giáo dục đạo đức học sinh, để lớp chủ nhiệm của mình ngày một tốt hơn, các giáo viên đều có tinh thần, trách nhiệm cao, có ý thức phấn đấu về chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ, tâm huyết với nghề. Nhà trường đã chăm lo, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm thêm trang thiết bị trong từng lớp học, mỗi lớp đều có ti vi kết nối Internet để phục vụ cho hoạt động dạy và học, hệ thống camera giám sát để giáo viên chủ nhiệm ở bất kỳ đâu cũng có thể theo dõi, quan sát kịp thời quan tâm đến học sinh lớp chủ nhiệm, giáo viên tích cực tham gia tập huấn sử dụng các thiết bị hiện đại như cập nhật, sử dụng sổ liên lạc điện tử, theo dõi camera, đầu tư nhiều thời gian vào việc nghiên cứu tìm ra những phương pháp rèn đạo đức cho học sinh, tư vấn tâm lý cho các em vì chỉ khi nào các em có đạo đức tốt, có tâm lý ổn định, thoải mái thì việc tiếp thu kiến thức mới thực sự có hiệu quả. Nền nếp học sinh trong những năm gần đây luôn ổn định và phát triển, chất lượng dạy và học đã được nâng cao hơn, hầu hết các em học sinh đều có ý thức học tập tốt. * Về khó khăn: Song song với những thuận lợi như đã nêu, bản thân tôi nói riêng cũng như nhà trường nói chung đã gặp không ít khó khăn trong quá trình công tác, đặc biệt trong công tác chủ nhiệm lớp cũng như trong việc tổ chức hoạt động tư vấn tâm lý giáo dục cho các em học sinh trong lớp: Trường THCS Tô Hiệu nằm trên địa bàn phường Trần Tế Xương -TP Nam Định, hầu hết các học sinh là con em của các hộ gia đình nghèo, đời sống kinh tế gặp khó khăn, mặt bằng dân trí thấp, có nhiều địa điểm tiêu cực đã ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, đặc biệt nhiều em hoàn cảnh gia đình rất phức tạp, nhiều em chính bố mẹ các em có những hành vi chưa thật lành mạnh liên quan trực tiếp đến pháp luật đã ảnh hưởng xấu đến việc nhận thức, đến tâm hồn trong sáng của các em, khiến các em có cái nhìn chưa thật đúng đắn vào cuộc sống, do đó đã tác động không nhỏ đến sự phát triển toàn diện của các em. 8 Trước thực trạng đó, để đạt được thành công trong công tác chủ nhiệm lớp, đặc biệt là việc tổ chức các hoạt động tư vấn tâm lý giáo dục cho các em, với tư cách là một giáo viên giảng dạy môn giáo dục công dân, môn học có liên quan trực tiếp đến việc tư vấn giáo dục đạo đức học sinh, hơn nữa lại là một giáo viên tham gia vào hoạt động tư vấn tâm lý giáo dục học sinh trong nhà trường, tôi luôn trăn trở, suy nghĩ làm thế nào để các em có được những nhận thức đúng đắn về các vấn đề diễn ra trong cuộc sống, trong các mối quan hệ với mọi người xung quanh, từ đó tự các em có thể giải quyết được những vấn đề của các em đang vướng mắc, nhằm đạt được mục đích cuối cùng đó là giáo dục cho học sinh trở thành những con người toàn diện. Với kinh nghiệm của bản thân qua nhiều năm công tác cùng với việc tìm tòi nghiên cứu về đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của các em, tôi nghĩ rằng bằng cách tư vấn tâm lý giáo dục cho các em sẽ giúp các em có được những nhận thức đúng đắn, những kỹ năng cần thiết để các có thể giải quyết được, vượt qua được những khó khăn, vướng mắc trong mọi mối quan hệ, từ đó các em vững tin hơn trong mọi lĩnh vực cuộc sống tương lai của mình. * Thành công Thực tế trước đây đa phần trong quan niệm của một số giáo viên, học sinh và đặc biệt là phụ huynh cũng như toàn xã hội đều cho rằng học sinh đến trường chủ yếu để học những kiến thức khoa học hàn lâm mà họ quên đi rằng mỗi một công dân để phát triển toàn diện không chỉ cần những kiến thức khô khan, khó hiểu đó mà họ còn cần có những kỹ năng cơ bản để có cách ứng xử phù hợp khi quan hệ với bản thân, quan hệ với người khác, quan hệ với công việc, quan hệ với cộng đồng, đất nước, nhân loại và còn nhiều mối quan hệ khác. Hơn nữa họ còn cho rằng vai trò của giáo viên chủ nhiệm chỉ để trách phạt học sinh và để thu tiền… , song khi tôi áp dụng một số phương pháp tư vấn tâm lý giáo dục cho học sinh mà đôi khi là cả tư vấn tâm lý cho phụ huynh học sinh, tôi cảm thấy có sự tác động mạnh mẽ đến sự thay đổi về nhận thức, thay đổi nhân cách của phần lớn các đối tượng học sinh đặc biệt là một số em học sinh chưa ngoan. Ý thức đạo đức của các em được nâng cao, thậm trí được cải thiện rõ rệt, góp phần chung trong việc nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, cũng như khẳng định vị thế, vai trò quan trọng 9 của việc tư vấn tâm lý nhằm giáo dục ý thức học tập, rèn luyện đạo đức cho học sinh trong giai đoạn hiện nay. * Hạn chế : Hiện nay trên thực tế ở một số trường chưa thật sự coi trọng công tác tư vấn tâm lý giáo dục học sinh, cũng như không quan tâm đến công tác chủ nhiệm lớp, mà chủ yếu là quan tâm nâng cao chất lượng các môn học, vì vậy một số phương pháp mà tôi đưa ra chưa được áp dụng rộng rãi trong một số trường học vì nó còn mất khá nhiều thời gian, công sức trong điều kiện giáo viên và học sinh còn có quá nhiều áp lực trong việc học tập kiến thức và thi đua về chất lượng học tập kiến thức. Một số học sinh vẫn theo nếp sống cũ của bản thân, thích được thể hiện, thích làm theo ý mình, chưa tự giác tích cực, chưa chủ động phối hợp với giáo viên chủ nhiệm nên kết quả một số hoạt động chưa cao. Nhận thức về học tập của các em còn có sự chênh lệch giữa các đối tượng học sinh. Bên cạnh đó, sự phối hợp của các gia đình cũng không giống nhau cũng là những hạn chế cho giáo viên làm công tác chủ nhiệm. Những hoạt động trong công tác chủ nhiệm lớp đặc biệt trong việc tư vấn tâm lý giáo dục học sinh, kết quả của nó không được đánh giá một cách cụ thể, rõ ràng bằng định lượng ngay lập tức mà nó chỉ được khẳng định bằng định tính trong cả một quá trình thậm trí là đôi khi hiệu quả mà nó đem lại chỉ được đánh giá sau khi các em đã ra trường và được thể hiện khi các em đã trưởng thành trở về với mái trường xưa, với thầy cô giáo đặc biệt là người giáo viên chủ nhiệm lớp năm xưa.Vì vậy làm công tác chủ nhiệm đòi hỏi người giáo viên chủ nhiệm phải có lòng kiên trì, tận tâm và hết mình… * Các nguyên nhân và các yếu tố tác động : Trong những năm gần đây tình hình thiếu kỹ năng sống, không hiểu được giá trị sống, vi phạm đạo đức và cả vi phạm pháp luật của một bộ phận không nhỏ học sinh đang ở tình trạng đáng báo động và ngày càng trở nên nghiêm trọng. Những vấn đề nảy sinh trong các mối quan hệ của các em ngày càng trở nên phức tạp hơn, đôi khi chỉ vì những mâu thuẫn, khúc mắc nhỏ trong cuộc sống mà các em không biết cách giải quyết hoặc giải quyết không đúng khiến các em phải trả một cái giá quá đắt cho những hành vi 10 của mình, làm đau đầu không ít các bậc phụ huynh và các thầy cô giáo. Thật đau lòng khi có những em học sinh đã tìm đến cái chết, hay dùng bạo lực thậm trí là cướp đi mạng sống của người khác chỉ vì có những khúc mắc rất đơn giản trong cuộc sống… Trong những năm gần đây, đi tìm nguyên nhân cho những thực trạng trên xã hội hay đổ lỗi cho nhà trường thiếu sự quan tâm, giáo dục ý thức đạo đức cho học sinh, thiếu sân chơi lành mạnh, bổ ích, chỉ quan tâm đến việc học văn hóa mà không quan tâm đến việc giáo dục ý thức đạo đức, cái nền tảng để hình thành nhân cách con người lại bị bỏ quên. Còn phụ huynh, họ luôn nhắc nhở con em mình tập trung vào vấn đề quan trọng hiện nay là học kiến thức, trau dồi kiến thức các môn thi như Văn – Toán – Ngoại ngữ,.. học những môn năng khiếu để tham gia vào các kỳ thi, với hy vọng sau này kiếm được nhiều tiền,vì thế họ xem nhẹ việc giáo dục ý thức đạo đức cho các em- một trong những yếu tố quan trọng để phát triển con người toàn diện. Bên cạnh đó cũng còn có những nguyên nhân như: đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi có nhiều thay đối của đối tượng học sinh trung học sơ sở, tính cách ham chơi và nhận thức chậm của một số đối tượng học sinh, địa bàn sinh sống của học sinh luôn tiềm ẩn nhiều trò chơi, lôi kéo, cám dỗ các …tất cả là những yếu tố đó có tác động lớn đến công tác chủ nhiệm của những giáo viên chủ nhiệm lớp. Tuy nhiên, đó chỉ là những nguyên nhân từ phía học sinh, còn để làm tốt công tác chủ nhiệm đặc biệt là công tác tư vấn tấm lý giáo dục cho học sinh thì chính người giáo viên làm công tác chủ nhiệm mới thật sự là yếu tố có tính tác động quyết định nhất đến sự thành công hay thất bại của công tác chủ nhiệm. Vì thế, người làm công tác chủ nhiệm đặc biệt là công tác tư vấn tấm lý giáo dục cho học sinh phải là những người luôn nhiệt huyết, năng động, chuyên cần và luôn có những thay đổi trong quá trình chủ nhiệm để có thể đạt được những kết quả tốt, hoàn thành xuất sắc công tác chủ nhiệm lớp của mình. Trước tình hình đó việc tư vấn tâm lý giáo dục cho học sinh đặc biệt trong công tác của giáo viên chủ nhiệm là việc làm cần thiết, để các em có cái nhìn tích cực hơn, cụ thể hơn, đúng đắn hơn về những vấn đề mà các em quan tâm và gặp phải, từ đó các em tự mình có thể giải quyết được những vấn đề mà các em đang bị vướng mắc. Phải chăng đó 11 chính là việc rèn luyện kỹ năng sống, giá trị sống cho học sinh để các em tự tin hơn, vững vàng hơn bước vào cuộc sống tương lai sau này. Vậy tư vấn tâm lý là gì? Người giáo viên chủ nhiệm cần và nên làm như thế nào để đạt hiệu quả cao trong việc tư vấn tâm lý giáo dục cho học sinh cũng như trong công tác chủ nhiệm của bản thân? Tư vấn là từ chỉ một hoạt động chuyên môn hoặc chỉ một nghề nghiệp chuyên giúp người khác có thể đưa ra quyết định và giải quyết vấn đề, nâng cao năng lực sống cá nhân bằng những phương pháp nghiệp vụ chuyên môn. Trong công tác giáo dục đạo đức học sinh để hỗ trợ học sinh trong quá trình phát triển toàn diện, nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác, người giáo viên cũng cần có khả năng tư vấn, hỗ trợ học sinh. Một số dạng tư vấn thường được sử dụng trong công tác chủ nhiệm lớp đó là tư vấn tâm lý và tư vấn giáo dục. Tư vấn tâm lý là quá trình nhà tư vấn vận dụng những tri thức, phương pháp và kỹ thuật tâm lý học nhằm trợ giúp đối tượng được tư vấn nhận ra chính mình, từ đó thay đổi hành vi, thái độ, tự tái lập lại thế cân bằng tâm lý của bản thân mình. Tư vấn giáo dục là qúa trình tư vấn mà nhà tư vấn sử dụng các phương pháp giáo dục nhằm can thiệp, phòng ngừa, hỗ trợ học sinh trong quá trình phát triển. Như vậy, quá trình tư vấn là quá trình từ khi nhà tư vấn bắt đầu làm việc với người cần tư vấn đến khi đạt được một kết quả nhất định mà cả hai chấp nhận được. Kết quả tư vấn là sự thay đổi về chất ở một mức độ nhất định nào đó của người cần tư vấn, và ở đây đó là tư vấn tâm lý, giáo dục giúp cho học sinh phát triển toàn diện, để làm được điều đó thì khó có ai có thể làm tốt hơn người giáo viên chủ nhiệm lớp. Công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học cơ sở có không ít những khó khăn vất vả, nhưng tựu trung lại ta thấy những khó khăn đó đều xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh. Ở cấp học này gồm những em học sinh có độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi, lứa tuổi này chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển tâm, sinh lý ở trẻ. Đây là thời kỳ quá độ từ trẻ con sang người lớn, thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và đây là giai đoạn các em đang “ẩm ương” nhất. Các em chưa tự ý thức được bản thân trước mọi tình huống trong cuộc sống, từ hành động, việc làm, lời nói 12 luôn thích thể hiện mình, làm theo cảm tính theo bản năng, theo tình cảm, sở thích. Đây là khó khăn rất lớn của giáo viên chủ nhiệm lớp. Ở lứa tuổi này các em đang thích thể hiện mình, nhiều em thích tỏ ra mình là người lớn, thích chơi hơn thích học, nhưng các em chưa hiểu hết vai trò, trách nhiệm của bản thân nên thường chán học, thậm chí bỏ học tự do đi chơi với bạn bè, có những em lại có tình cảm đặc biệt với bạn khác giới sớm nên thường bỏ bê việc học. Bản tính của các em ở lứa tuổi này thường rất hiếu động, hay nghịch ngợm mà giáo viên không thường xuyên ở bên cạnh các em mọi lúc mọi nơi để hướng dẫn và uốn nắn cho các em được. Các em chưa tự ý thức hết đúng sai trong cuộc sống nên dễ hành động bột phát, việc thực hiện các quy định của nhà trường, của lớp học chưa được đầy đủ và nghiêm túc… . Do vậy việc tổ chức hoạt động tư vấn tâm lý giáo dục cho học sinh ở mỗi nhà trường đặc biệt là ở lớp chủ nhiệm cần được quan tâm, đầu tư để đáp ứng nhu cầu của các em, nhằm nâng cao nhận thức, kỹ năng sống, giúp cho các em nhận ra được bản thân mình, tự mình giải quyết được mọi vấn đề đang diễn ra góp phần giáo dục các em trở thành những con người toàn diện. Thực tế hiện nay ở một số trường đặc biệt là trong công tác chủ nhiệm lớp đã có sự quan tâm đầu tư đúng mức cho hoạt động tư vấn tâm lý giáo dục học sinh. Tuy nhiên ở một số trường khác lại chưa hề có sự để ý, thậm trí còn bỏ qua hoạt động này, mà có chăng việc thực hiện các hoạt động này còn mang tính hình thức, hiệu quả của hoạt động chưa cao, do đó các em học sinh chưa thực sự được tư vấn một cách thỏa đáng, phù hợp, những em khác gặp những vấn đề rắc rối trong cuộc sống, trong học tập không được hỗ trợ kịp thời để tự mình tự tìm ra cách giải quyết cho chính bản thân mình dẫn đến việc đôi khi có những hậu quả đáng tiếc xảy ra. Chính vì những lý do đó, chúng ta có thể thấy việc tổ chức có hiệu quả hoạt động tư vấn tâm lý giáo dục học sinh đặc biệt là ở lớp chủ nhiệm có tầm quan trọng trong việc góp phần giáo dục học sinh phát triển một cách toàn diện, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội hiện nay. Song hoạt động này chiếm rất nhiều thời gian, công sức của giáo viên chủ nhiệm – người trực tiếp tư vấn, nó đòi hỏi người giáo viên chủ nhiệm khi tư vấn phải thật sự tâm huyết có sự đầu tư, sáng tạo, có hiểu biết, tìm tòi trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, mà sâu hơn là tìm hiểu tâm sinh lý của các em 13 để thấu hiểu được các em… Có như vậy mới tổ chức thành công, đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động tư vấn tâm lý giáo ở lớp chủ nhiệm. Qua đó giúp các em nâng cao kỹ năng sống trong các mối quan hệ, tự mình có thể giải quyết được những vấn đề của bản thân mình. 2. Mô tả giải pháp kỹ thuật sau khi có sáng kiến Học sinh trung học cơ sở là học sinh có độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi, đây là lứa tuổi có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ. Ở giai đoạn này các em có sự thay đổi, phát triển rất lớn, đó là sự phát triển từ trẻ con sang người lớn, đây cũng là giai đoạn tạo nên sự phát triển đặc thù về mọi mặt, phát triển về thể chất, trí lực, đạo đức, xã hội…Chính vì vậy, không thể không cần có một người thường xuyên hướng dẫn giúp đỡ, chỉ bảo cho các em, người đó không ai khác ngoài những người thân trong gia đình thì đó là các thầy cô giáo mà đặc biệt là người giáo viên chủ nhiệm lớp. Giáo viên chủ nhiệm lớp có vai trò quan trọng trong việc giáo dục nhân cách của học sinh trong lớp phát triển một cách toàn diện. Bởi lẽ họ là người trực tiếp đảm đương vai trò quản lí học sinh trong một lớp, trực tiếp tổ chức cho học sinh thực thi mọi yêu cầu giáo dục của nhà trường đưa ra. Giáo viên chủ nhiệm là người gần gũi học sinh nhất, hiểu tâm tư tình cảm của các em, luôn trực tiếp uốn nắn những hành vi sai trái của học sinh và giúp học sinh phát triển đúng hướng. Có rất nhiều phương pháp được đưa ra khi đảm nhiệm công việc của một giáo viên chủ nhiệm lớp nhằm giáo dục học sinh trở thành những con người toàn diện cũng như đưa tập thể lớp ngày một phát triển. Các phương pháp đều được kết hợp một cách hài hòa, mềm dẻo, linh hoạt và sáng tạo nhưng trong số đó theo tôi phương pháp tư vấn tâm lý giáo dục cho học sinh lớp chủ nhiệm là một trong số những phương pháp điển hình mà trong quá trình chủ nhiệm lớp tôi đã áp dụng đem lại hiệu quả cao. Hoạt động tư vấn tâm lý giáo dục của người giáo viên là hoạt động mà người giáo viên nói chuyện, trao đổi, chia sẻ với học sinh về những vấn đề diễn ra trong học tập cũng như trong cuộc sống , từ đó người giáo viên có thể đưa ra những lời khuyên, những lời gợi ý, hoặc cung cấp các thông tin hỗ trợ để những em học sinh cần giúp đỡ có thể tự 14 giải quyết được các vấn đề của mình. Trong quá trình hoạt động tư vấn diễn ra, người giáo viên có thể giúp các em đang gặp khó khăn được cảm nhận, được trải nghiệm một cách bình tĩnh nhất, nhìn nhận một cách sâu sắc, thấu đáo nhất những vấn đề của các em, qua đó giúp các em ngộ ra, tự nhận thức ra, từ đó các em có mong muốn thay đổi chính bản thân mình, cố gắng để bản thân mình ngày càng hoàn thiện hơn. Để cho công tác chủ nhiệm lớp đạt được hiệu quả cao thì ngay từ khi tiếp nhận lớp, giáo viên chủ nhiệm phải thấy rằng đó là một trách nhiệm lớn lao, phải bắt tay ngay vào công việc, phải xem học sinh trong lớp chủ nhiệm như là những người thân trong gia đình của mình, đó là em, là con mình. Xuất phát từ nhận thức trên, người giáo viên chủ nhiệm mới để hết tâm trí, tình cảm của mình vào công việc quan trọng này, và những việc làm đó dù có như thế nào thì theo tôi việc tác động đến tâm lý các em vẫn là một việc làm quan trọng và cần thiết nhất mà người giáo viên chủ nhiệm lớp cần làm, và với tôi đó là những việc làm cụ thể: 2.1. Nắm bắt tình hình học sinh trong lớp để hiểu được tâm tư nguyện vọng, tâm sinh lý của từng học sinh từ đó giáo viên có biện pháp tư vấn phù hợp. Được phân công làm công tác chủ nhiệm, khi mới nhận lớp tôi đã cố gắng nắm bắt thật nhanh và thật cụ thể về tình hình của lớp như sĩ số học sinh, số học sinh nam, nữ, các đối tượng học sinh… thông qua các kênh thông tin như: nghiên cứu hồ sơ, lý lịch của các em, thông qua giáo viên chủ nhiệm của các em trong những năm học trước, thông qua giáo viên giảng dạy các bộ môn của năm học trước, giáo viên tổng phụ trách Đội …và nhiều khi là từ chính các em học sinh. Bởi theo tôi nếu chúng ta không làm tốt yêu cầu tiên quyết này thì những tác động sư phạm mà chúng ta lựa chọn sau này sẽ không phù hợp, hiệu quả giáo dục không cao mà thậm trí còn thất bại. Trước tiên tôi nghiên cứu hồ sơ, học bạ, sổ điểm, sổ đầu bài, gặp gỡ, trao đổi chi tiết với giáo viên chủ nhiệm của các em trong năm học trước, nói chuyện với các giáo viên bộ môn đã từng dạy các em để bước đầu nắm bắt được các thông tin cơ bản về các em như: nghề nghiệp của bố mẹ, mức sống, hoàn cảnh sống của gia đình, các đặc điểm 15 thể chất, tâm lý, tính cách, thói quen hành vi đạo đức, học lực và các đặc điểm nhận thức, học tập, về quan hệ cộng đồng, bạn bè… Tiếp đó tôi sẽ trò chuyện với các em, tự giới thiệu làm quen, tôi sẽ quan sát để có thể phán đoán sự tự tin, năng động của mỗi em. Và một việc mà theo tôi là rất cần thiết để hiểu hơn về các em mà mỗi năm tôi đều làm với tất cả các lớp tôi dạy đó là tôi cho học sinh tự bộc lộ bản thân mình thông qua phiếu hỏi mà tôi soạn sẵn phát cho các em. Ngoài tất cả những thông tin của bản sơ yếu lý lịch học sinh tôi tìm hiểu hơn ở các em những thông tin như: – Hoàn cảnh của gia đình em như thế nào? – Em đã từng làm cán bộ lớp chưa? – Em tự đánh giá bản thân về sức khoẻ, học tập, các môn học ưa thích, năng khiếu, sở thích của bản thân… Đặc biệt tôi quan tâm đến điều các em mong muốn như: – Em muốn nhận nhiệm vụ gì trong ban cán sự lớp? – Em muốn tham gia các hoạt động thuộc lĩnh vực gì?. – Em muốn bạn nào làm Ban cán sự lớp? – Nguyện vọng của em về chỗ ngồi trong lớp?… Để cho phong trào học tập, sinh hoạt và rèn luyện của tập thể lớp và cho mỗi học sinh đạt hiệu quả cao, tôi cũng muốn tự các em đưa ra các cách thức tổ chức, hình thức khen thưởng, xử phạt…mà theo em là phù hợp. Sau khi tìm hiểu kỹ các thông tin về các em, tôi sẽ cố gắng cân nhắc những nguyện vọng, sở thích, sở trường để phù hợp với sự phát triển mọi mặt của các em, tập trung ổn định tổ chức lớp càng sớm càng tốt để lớp đi vào nền nếp cũng như học tập. 2.2. Sắp xếp chỗ ngồi phù hợp Để ổn định tổ chức lớp, việc tiếp đến là tôi sắp xếp chỗ ngồi của các em. Chỗ ngồi có tác động rất lớn đến tâm lý các em vì thường là chỗ ngồi sẽ tạo nên sự gắn kết giữa các em, đặc biệt là những đôi bạn thân thời học sinh thường hay xuất phát từ việc ngồi cạnh nhau, các em được ngồi bên cạnh bạn nào, ngồi ở vị trí nào đôi khi sẽ giúp các em 16 tiến bộ rõ rệt mà đôi khi cũng làm cho ý thức của các em ảnh hưởng không nhỏ. Trong một năm học tôi thường đổi chỗ các em nhiều lần, khoảng một tháng một lần, đôi khi là một tuần một lần, để các em đều được có cơ hội như nhau, ngồi ở những vị trí phù hợp, đảm bảo phát triển cân đối về mọi mặt. Khi xếp chỗ tôi thường không để các em học sinh yếu, ý thức chưa tốt, hay nói chuyện ngồi bên cạnh nhau vì như vậy các em sẽ có bạn để nói chuyện đôi khi lại cùng nhau nghĩ và bầy ra những trò nghịch ngợm. Những em này cũng không nên cho các em ngồi bàn cạnh cửa ra vào hoặc cửa sổ vì như vậy các em sẽ không tập trung vào lớp mà đôi khi hay bị những yếu tố bên ngoài lớp tác động làm ảnh hưởng đến chất lượng khi các em đang học. Tôi thường cố gắng sắp xếp các em học yếu, hay nói chuyện ngồi cùng với các bạn học tốt, có đạo đức tốt để các bạn giúp đỡ nhau, mà các em nói chuyện cũng không có cơ hội nói chuyện. Tôi cố gắng xây dựng được những đôi bạn học tập ở trường cũng như ở nhà. Tuy nhiên không phải chỗ ngồi nào hay em nào cũng hài lòng về chỗ ngồi của mình, chính điều đó đòi hỏi người giáo viên chủ nhiệm phải làm công tác tư vấn tâm lý với các em, khéo léo giải thích cho học sinh hiểu vì sao cô lại xếp em ngồi ở vị trí này, ngồi cạnh bạn này. Có một lưu ý là khi làm công tác tâm lý cho các em giáo viên tuyệt đối không được chê học sinh mà phải tìm ra điểm mạnh của từng em để các em không cảm thấy tự ti cũng như thấy bị xúc phạm. Ví dụ khi giáo khi viên chủ nhiệm lớp xếp một em nghịch ngợm, phá phách ngồi cạnh một bạn hiền lành, chịu khó chúng ta không thể nói là vì con nghịch ngợm nên cô xếp con ngồi cạnh bạn để bạn theo dõi, giám sát hay kèm cặp con mà chúng ta có thể nói là vì con rất năng động, sôi nổi còn bạn học rất tốt, ngoan, hiền nhưng đôi khi bạn còn hơi nhút nhát, trầm tính nên cô muốn hai bạn ngồi cạnh nhau để có thể chia sẻ những điểm mạnh cho nhau, giúp nhau tiến bộ hơn… 2.3. Tư vấn, hướng dẫn cho học sinh bầu đội ngũ Ban cán sự lớp và hướng dẫn Ban cán sự lớp trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình. Để làm tốt công tác chủ nhiệm lớp điều mà tôi trăn trở nhất là việc xây dựng được một đội ngũ ban cán sự lớp có năng lực quản lý lớp. Đội ngũ ban cán sự lớp chính là cầu nối của giáo viên chủ nhiệm lớp đối với mỗi thành viên trong lớ
Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY
Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm hình thành và phát triển năng lực phẩm chất cho học sinh THCS
ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN: Từ xưa quan điểm giáo dục “Học đi đôi với hành” luôn là cơ sở khoa học giáo dục tiến bộ nhằm phát triển toàn diện nhân cách con người. Quan điểm này có mối quan hệ chặt chẽ với lí luận mà sinh thời chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra “Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm vào lí luận đồng thời học phải đi đôi với hành”. Kế thừa và phát triển quan điểm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về giáo dục, nghị quyết Đại Hội Đảng XI đã xác định “Đổi mới căn bản, toàn diện ngành giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lí giáo dục và dào tạo, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực tạo ra, kĩ năng thực hành, khả năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục…Đổi mới mạnh mẽ nội dung chương trình, phương pháp dạy học”. Hiện nay chương trình giáo dục phổ thông nhằm tạo ra những con người Việt Nam phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, có những phẩm chất tốt đẹp, có các năng lực chung và phát huy tiềm năng của bản thân. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở bậc THCS thường tập trung vào việc hình thành các phẩm chất nhân cách, những thói quen, kĩ năng sống cơ bản như tích cực tham gia và tổ chức các hoạt động; biết cách sống tích cực, khám phá bản thân, điều chỉnh bản thân; biết cách tổ chức cuộc sống và biết làm việc có kế hoạch, có trách nhiệm. Đặc biệt ở giai đoạn này, mỗi học sinh cũng bắt đầu xác nhận được năng lực, sở trường và chuẩn bị một số năng lực cơ bản cho người lao động tương lai và người công dân có trách nhiệm. Ở bậc THCS, hoạt động TNST cũng nhằm hình thành lối sống tích cực, biết cách hoàn thiện bản thân, biết tổ chức cuộc sống cá nhân, biết làm việc có kế hoạch, tinh thần hợp tác, có trách nhiệm, có ý thức công dân… và tích cực tham gia các hoạt động xã hội. 3 Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 nêu giải pháp cụ thể cho giáo dục phổ thông là “ Thực hiện đổi mới chương trình và sách giáo khoa từ sau năm 2015 theo định hướng phát triển năng lực học sinh, vừa đảm bảo tính thống nhất trong toàn quốc, vừa phù hợp với đặc thù của mỗi địa phương”. Từ đó chương trình mới sau năm 2015 phải hướng tới phát triển các năng lực chung mà mọi học sinh cần có trong cuộc sống như năng lực tự học, năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, tìm kiếm và xử lí thông tin… nhằm tránh phát triển năng lực, phẩm chất tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị. Kĩ năng sống và năng lực chung cần có ở con người trong xã hội hiện đại, kết hợp hài hòa giữa “dạy chữ, dạy người”. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm hình thành và phát triển phẩm chất, nhân cách, các năng lực tâm lí, xã hội… giúp học sinh tích lũy kinh nghiệm riêng, cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình, làm tiền đề cho mỗi cá nhân, tạo dựng được sự nghiệp và cuộc sống hạnh phúc sau này. Trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, hoạt động giáo dục thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của các hoạt động GD NGLL, hoạt động học tập thể, sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp…và thêm vào đó là những mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục của giai đoạn mới. Như vậy căn cứ vào định nghĩa về hoạt động GDNGLL trong các chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, căn cứ vào định nghĩa về GDNGLL trong các chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, căn cứ vào yêu cầu đổi mới giáo dục, hoạt động trải nghiệm sáng tạo được định nghĩa như sau “Hoạt động TNST là hoạt động giáo dục, trong đó, từng cá nhân học sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong môi trường nhà trường cũng như trong môi trường gia đình và xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đọa đức, phẩm chất nhân cách, các năng lực…Từ đó tích lũy kiến thức kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình”. Khái niệm Hoạt động TNSTkhẳng định vai trò chủ đạo của nhà giáo dục đối với hoạt động này; tính tham gia trực tiếp, sự chủ động, tích cực của học sinh; phạm vi chủ đề hay nội dung hoạt động và 4 phẩm chất, tiềm năng sáng tạo và hoạt động là phương thức cơ bản của sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Hoạt động TSTN tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm trong thực tiễn để tích lũy và chiêm nghiệm các kinh nghiệm, từ đó có thể khái quát thành hiểu biết theo cách riêng của mình, đó đã được gọi là sáng tạo của bản thân học sinh. Hoạt động TNST có khả năng huy động sự tham gia tích cự của học sinh ở tất cả các khâu của quá trình hoạt động phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và khả năng của bản thân; tạo cơ hội cho các em được trải nghiệm, được bày tỏ quan điểm, ý tưởng sáng tạo; được đánh gái lựa chọn ý tưởng hoạt động, được thể hiện, tự khẳng định bản thân, được đánh giá và đánh giá kết quả hoạt động của bản thân mình và cảu bạn bè. Nội dung của hoạt động TNST rất đa dạng và mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức, kĩ năng cuả nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục như giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục giá trị sống, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục môi trường, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục các phẩm chất người lao động, người nghiên cứu… Điều này giúp cho các nội dung giáo dục thiết thực hơn, gần gũi với cuộc sống thực tế hơn, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của học sinh, giúp các em vận dụng vào trong thực tiễn cuộc sống một cách dễ dàng, thuận lợi hơn. Bên cạnh hoạt động có tính tích hợp, học sinh được lựa chọn một số hoạt động chuyên biệt phù hợp với năng lực, sở trường, hứng thú của bản thân để phát triển năng lực, sáng tạo riêng của mỗi cá nhân. Hoạt động TNST được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng như trò chơi, hội thi, diễn đàn, giao lưu, tham quan, du lịch, sân khấu hóa, thể dục thể thao, câu lạc bộ, tổ chức các ngày hội, các công trình nghiên cứu khoa học học kĩ thuật… Mỗi một hình thức hoạt động trên đều tiềm tàng trong đó những khả năng giáo dục nhất định. Nhờ các hình thức tổ chức đa dạng, phong phú mà việc giáo dục học sinh được thực hiện một cách tự nhiên, sinh động, nhẹ nhàng, hấp dẫn, không gò bó và khô cứng, phù hợp với đặc điểm tâm lí cũng như nhu cầu, nguyện vọng của học sinh. Trong quá trình thiết kế, tổ chức, đánh giá các 5 hoạt động TNST, cả giáo viên và học sinh đều có cơ hội thể hiện sáng tạo, chủ động, linh hoạt của mình, làm tăng thêm tính hấp dẫn, độc đáo của các hình thức tổ chưc hoạt động. Sự đa dạng của hình thức trải nghiệm cũng tạo cơ hội giáo dục phân hóa. Hoạt động TNST đòi hỏi sự phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường khác với hoạt động dạy học, hoạt động TNST cần thu hút sự tham gia, phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như giáo viên chủ nhiệm lớp, giáo viên bộ môn, cán bộ Đoàn, tổng phụ trách Đội, Ban giám hiệu nhà trường, cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương, hội khuyến học, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, hội cựu chiến binh, các cơ quan, tổ chức khác như kĩ năng sống, Econect…Tùy nội dung tính chất từng hoạt động mà sự tham gia của các lực lượng có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp. Hoạt động TNST là một phương thức học hiệu quả, nó giúp hình thành năng lực cho người học. Phương pháp trải nghiệm có thể thực hiện đối với bất cứ lĩnh vực tri thức nào, khoa học hay đạo đức, kinh tế xã hội… Hoạt động TNST cũng cần có tổ chức, có hướng dẫn theo quy trình nhất định của nhà trường thì hiệu quả của việc học TNST sẽ tốt hơn. Hoạt động giáo dục nhân cách học sinh chỉ có thể tổ chức qua hoạt động TNST. Năm học 2020 – 2021, kế hoạch của Trường THCS Hàn Thuyên đặc biệt quan tâm xây dựng và triển khai kế hoạch tổ chức các hoạt động TNST. Nội dung các hoạt động được tổ chức theo hướng tăng cường năng lực thực hành, vận dụng kiến thức, giáo dục đạo đức, rèn luyện kĩ năng sống, hiểu biết xã hội, chấp hành tốt luật giao thông. Để nâng cao hiệu quả hoạt động TNST, nhà trường đã tổ chức hội thi, cuộc thi, các chương trình văn nghệ…nhằm phát huy tối đa năng khiếu, năng lực cá nhân, hình thành và phát triển nhân cách học sinh. II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KĨ THUẬT: II.1. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KĨ THUẬT TRƢỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN: + Từ trước đến này, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là một bộ phận của quá trình giáo dục ở trường phổ thông. Đó là những hoạt động đuợc tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là sự tiếp 6 nối hoạt động dạy học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực hành, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động, góp phần hình thành tình cảm, niềm tin ở học sinh. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là con đường quan trọng hình thành và phát triển nhân cách cho các em. +Thực tế hiện nay công tác Đội và phong trào thiếu nhi ở trường THCS Hàn Thuyên trong toàn tỉnh nói chung và thành phố Nam Định nói riêng phần lớn đã được nâng cao. Đã có nhiều Liên đội bạn thực hiện rất tốt chương trình công tác Đội và nhận được kết quả xứng đáng. Song bên cạnh đó, vẫn có những nơi như trường chúng tôi còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Bởi công tác Đội và phong trào thiếu nhi thực sự có tầm quan trọng và ảnh hưởng lớn trong việc giáo dục toàn diện nhân cách, con người học sinh, các phong trào còn ít hoặc chưa phong phú và đa dạng, đôi khi còn mang tính qua lao; các cuộc thi chưa được đầu tư sâu, hoạt động còn nghèo nàn dẫn đến chưa khơi dậy được lòng đam mê, chưa thu hút được sự yêu thích tham gia hoạt động Đội của các em học sinh nên chất lượng của công tác Đội và phong trào thiếu nhi chưa cao. +Vì thế yêu cầu đặt ra cho các nhà trường là phải đổi mới phương pháp giáo dục phổ thông là phải “khuyến khích tự học” phải“bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề” nên các hoạt động ngoài giờ lên lớp được thay bằng các hoạt động TNST bởi hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giữ vai trò rất quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông mới. Hoạt động này giúp cho học sinh có nhiều cơ hội trải nghiệm để vận dụng những kiến thức học được vào thực tiễn, từ đó, hình thành năng lực thực tiễn cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân. + Theo PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa – thành viên ban soạn thảo chương trình giáo dục phổ thông mới – người trực tiếp nghiên cứu, soạn thảo nội dung hoạt động trải nghiệm sáng tạo “Trong chương trình hiện hành hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giúp học sinh củng cố kiến thức, kỹ năng thông qua các hoạt động rèn luyện, thực hành, vận dụng kiến thức. Nhưng do không bắt buộc nên có trường làm, có trường không làm.Hoạt động này chủ yếu ngoài lớp học nên phụ thuộc nhiều vào điều kiện mỗi trường, địa phương. Vì vậy hoạt động trải 7 nghiệm sáng tạo được đưa vào trong nhà trường để tất các các nhà trường đều phải thực hiện.Hoạt động trải nghiệm sáng tạo, theo thiết kế của chương trình, sẽ sử dụng những thành tựu của các môn học cộng với yêu cầu xã hội để tạo thành chương trình hoạt động cho học sinh. Đây là một cách giúp học sinh thích ứng với xã hội”. +Hoạt động TNST chính là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động khác nhau của đời sống nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, từ đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình. Trong đó khái niệm “trải nghiệm” dùng để chỉ phương thức giáo dục, còn “sáng tạo” chính là mục tiêu giáo dục. Khi trực tiếp tham gia các hoạt động trong thực tiễn với tư cách chủ thể hoạt động, học sinh sẽ phát triển về kiến thức, kĩ năng, phẩm chất. +Trong quá trình tham gia hoạt động TNST, để giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn, học sinh sẽ phải vận dụng kiến thức, kĩ năng đã có để giải quyết vấn đề, ứng dụng trong tình huống mới hoặc nhận biết được vấn đề trong các tình huống tương tự; có thể độc lập tìm kiếm ra giải pháp thay thế và kết hợp được các phương pháp đã biết để đưa ra hướng giải quyết mới cho một vấn đề. Đó chính là sự sáng tạo của học sinh, là mục tiêu giáo dục tích cực mà ta cần đạt được. +Từ những quan điểm trên, do yêu cầu đổi mới của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, là những người trực tiếp chỉ đạo, lên kế hoạch cho học sinh tham gia vào các hoạt động trải nghiệm sáng tạo của nhà trường, chúng tôi đã tìm tòi, sáng tạo và linh hoạt vận dụng các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, áp dụng vào trường THCS Hàn Thuyên sao cho đạt hiệu quả cao nhất. II.2. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KĨ THUẬT SAU KHI TẠO RA SÁNG KIẾN: 2.1. KHÁI NIỆM HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO: +Sự trải nghiệm được hiểu là kết quả của sự tương tác giữa con người với thế giới khách quan. Sự tương tác này bao gồm cả hình thức và kết quả 8 các hoạt động thực tiễn trong xã hội, bao gồm cả kỹ thuật và kỹ năng, cả những nguyên tắc hoạt động và phát triển thế giới khách quan. – Trải nghiệm là kiến thức kinh nghiệm thực tế; là thể thống nhất bao gồm kiến thức và kỹ năng.Trải nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con người và thế giới, được truyền từ thế hệ này sang. – Sáng tạo là biểu hiện của tài năng trong những lĩnh vực đặc biệt nào đó, là năng lực tiếp thu tri thức, hình thành ý tưởng mới và muốn xác định được mức độ sáng tạo cần phải phân tích các sản phẩm sáng tạo. + Sáng tạo được hiểu là hoạt động của con người nhằm biến đổi thế giới tự nhiên, xã hội phù hợp với các mục đích và nhu cầu của con người trên cơ sở các qui luật khách quan của thực tiễn, đây là hoạt động đặc trưng bởi tính không lặp lại, tính độc đáo và tính duy nhất. – Sáng tạo là một thuộc tính nhân cách tồn tại như một tiềm năng ở con người. Tiềm năng sáng tạo có ở mọi người bình thường và được huy động trong từng hoàn cảnh sống cụ thể. + Hoạt động TNST là hoạt động giáo dục, dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc trong xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, phẩm chất nhân cách, các năng lực và tích luỹ kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân. +Hoạt động trải nghiệm trong nhà trường cần được hiểu là hoạt động có động cơ, có đối tượng để chiếm lĩnh, được tổ chức bằng các việc làm cụ thể của học sinh, được thực hiện trong thực tế , được sự định hướng, hướng dẫn của nhà trường. Đối tượng để trải nghiệm nằm trong thực tiễn. Qua trải nghiệm thực tiễn, người học có được kiến thức, kĩ năng, tình cảm và ý chí nhất định. Sự sáng tạo sẽ có được khi phải giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn phải vận dụng 9 kiến thức, kĩ năng đã có để giải quyết vấn đề, ứng dụng trong tình huống mới, không theo chuẩn đã có, hoặc nhận biết được vấn đề trong các tình huống tương tự, độc lập nhận ra chức năng mới của đối tượng, tìm kiếm và phân tích được các yếu tố của đối tượng trong các mối tương quan của nó, hay độc lập tìm kiếm ra giải pháp thay thế và kết hợp được các phương pháp đã biết để đưa ra hướng giải quyết mới cho một vấn đề. 2.2.Đặc điểm của hoạt động TNST: Theo dự thảo chương trình phổ thông mới, hoạt động TNST là hoạt động giáo dục được thực hiện từ lớp 1 đến lớp 12. Hoạt động TNST sẽ tạo cho học sinh cơ hội huy động tổng hợp kiến thúc; kĩ năng các môn học và lĩnh vực giáo dục khác nhau để trải nghiệm thực tiễn đời sống gia đình, nhà trường và xã hội tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động, từ thiết kế hoạt động đến chuẩn bị, thực hiện đánh giá kết quả hoạt động TNST, bày tỏ quan điểm, ý tưởng sáng tạo, lựa chọn ý tưởng hoạt động, thể hiện và tự khẳng định bản thân, đánh giá và tự đánh giá kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm và của học sinh dưới sự hướng dẫn, tổ chức của nhà trường. Qua đó hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực của học sinh. Đặc điểm của TNST tạo cơ hội cho học sinh huy động tổng hợp kiến thức kĩ năng của các môn học và lĩnh vực giáo dục khác nhau để trải nghiệm thực tiễn, đời sống gia đình, nhà trường và xã hội tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động từ thiết kế hoạt động đến chuẩn bị thực hiện đánh giá kết quả hoạt động TNST, bày tỏ quan điểm, ý tưởng sáng tạo, lựa chọn ý tưởng hoạt động thể hiện và tự khẳng định bản thân đánh giá và tự đánh giá kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm và của các bạn dưới sự hướng dẫn, tổ chức của các nhà giáo dục, qua đó hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực của học sinh. Ở bậc THCS, hoạt động TNST nhằm hình thành lối sống tích cực, biết cách hoàn thiện bản thân,biết cách tổ chức cuộc sống cá nhân, biết làm việc có 10 kế hoạch, tinh thần hợp tác, có trách nhiệm, có ý thức công dân…và biết tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội. 2.3.Bảng so sánh hoạt động TNST và hoạt động giáo dục NGLL:
Hoạt động TNST
Hoạt động giáo dục NGLL
Vị trí, vài trò
+Là một bộ phận của chương trình có quan hệ chặt chẽ với hoạt động dạy học, gắn lý thuyết với thực tiễn, phát triển phẩm chất, nhân cách và năng lực chung, năng lực đặc thù
+ Là một bộ phận của chương trình có quan hệ chặt chẽ với hoạt động dạy học, gắn lý thuyết với thực tiễn phát triển nhân cách toàn diện của học sinh được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa.
Mục tiêu
+ Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm hình thành và phát triển phẩm chất, nhân cách, các năng lực tâm lí – xã hội. Giúp học sinh tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình làm tiền đề cho mỗi cá nhân, tạo dựng được sự nghiệp và cuộc sống hạnh phúc sau này.
+Kiến thức: củng cố mở rộng khắc sâu kiến thức đã học, nâng cao hiểu biết của các lĩnh vực của đời sống, xã hội và giá trị truyền thống và nhân loại. +Kĩ năng: Góp phần hình thành năng lực chủ yếu như tự hoàn thiện, thích ứng, hợp tác, giao tiếp, ứng xử, có lỗi sống phù hợp với các giá trị xã hội. + Thái độ: Có ý thức trách nhiệm với bản than, gia đình, xã hội, tích cực tham gia hoạt động tập thể, lựa chọn nghề nghiệp tương lai…
11
Nội dung
+ Các lĩnh vực : -Giá trị sống, kĩ năng sống. – Quê hương đất nước và hòa bình thế giới. – Gia đình và nhà trường. – Khoa học, nghệ thuật… Được thể hiện qua các chủ đề đa dạng, phong phú, vừa đảm bảo yêu cầu chung, vừa phù hợp với đặc điểm của từng trường, địa phương.
– Giáo dục truyền thống. -Ý thức học tập. – Tổ quốc, Đảng, Đoàn… – Tình bạn, gia đình… – Hòa bình, hữu nghị và hợp tác. – Tình nguyện. Được thể hiện trong 9 chủ đề theo tháng.
Phƣơng phát và hình thức tổ chức
+ Hình thức giống nhau. + Phương pháp: Thiết kế nhiệm vụ rõ ràng, hướng tới mục tiêu hình thành các năng lực cụ thể.
+ Hình thức hoạt động: -Hướng dẫn hoạt động chung, phát huy vai trò chủ thể của học sinh trong hoạt động.
Đánh giá
+ Đánh giá năng lực cụ thể thông qua các chỉ số hành vi và tiêu chí chất lượng. +Thông qua các công cụ cho mỗi hình thức +Quá trình và kết quả hoạt động trên từng cá nhân và xác định vị trí của mỗi học sinh trên đường phát triển năng lực.
+Đánh giá sự phát triển về hình thức, kĩ năng, thái độ, thực hiện bằng nhiều con đường tự nhận xét, nhận xét của tập thể, của các giáo viên qua quan sát hoạt động, trò chuyện qua sản phẩm.
12
+Minh chứng: Bộ hồ sơ hoạt động của học sinh.
Sử dụng kết quả, đánh giá
-Để báo cáo kết quả hoạt động cho học sinh. -Điều chỉnh các yếu tố giúp học sinh nâng cao mức dộ năng lực trên đường phát triển. – Là điều kiện càn thiết của dánh giá xếp loại toàn diện học sinh để xét lên lớp, chuyển cấp và xét tuyển cho những hoạt động đặc thù….
+ Góp phần vào đánh giá hạnh kiểm; nâng cao chát lượng giáo dục toàn diện.
Qua bảng so sánh trên, chúng ta thấy hai hoạt động trên có vị trí và vai trò hình thức tổ chức khá đồng nhất. Tuy nhiên sự khác biệt cơ bản ở chỗ là trong hoạt động TNST, mục tiêu được diễn đạt dưới dạng năng lực và các năng lực này được đánh gía thông qua phương pháp và công cụ chuyên biệt; cách thức tổ chức hoạt động phải làm sao để 100% học sinh tham gia trong các hoạt động mà nhà trường tổ chức. Sau mỗi hoạt động các em học sinh được đánh giá sử dụng cho việc xếp loại. 2.4.Yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực: * Yêu cầu cần đạt về phẩm chất: + Sống yêu thương: Thể hiện ở sự sẵn sàng tham gia các hoạt động giữ gìn, bảo vệ đất nước, phát huy truyền thống gia đình Việt Nam, các giá trị di sản văn hóa của quê hương đất nước, tôn trọng các nền văn hóa trên thế giới, yêu thương con người, biết khoan dung và thể hienj tình yêu thiên nhiên cuộc sống… 13 + Sống tự chủ: là sống với lòng tự trọng, trung thực, luôn tự lực vượt khó khăn và biết hoàn thiện bản thân. + Sống trách nhiệm, quan tâm đến sự phát triển, hoàn thiện bản thân, tham gia hoạt động cộng đồng góp cho việc giữ gìn và phát triển của cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên, luôn biết tuân thủ, chấp hành kỉ cương, quy định của nhà trường, hiến pháp và pháp luật sống theo giá trị chuẩn mực, đạo đức xã hội. * Yêu cầu cần đạt về năng lực chung: + Năng lực tự học: Là khả năng xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động, tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu, thực hiện. + Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Là khả năng nhận diện vấn đề, thiết lập không gian vấn đề, xác định được các phương pháp khác nhau, từ đó lựa chọn và đánh giá được cách giải quyết vấn đề, làm cơ sở cho việc hiệu chỉnh cần thiết. + Năng lực thẩm mĩ: là năng lực nhận diện và cảm thụ cái đẹp, biết thể hiện được cái đẹp trong hành vi, trong lời nói, trong sản phẩm và biết sáng tạo ra cái đẹp. +Năng lực thể chất: Là khả năng sống thcihs ứng và hài hòa với môi trường, biết rèn luyện sức khỏe, thể lực và nâng cao sức khỏe tinh thần. +Năng lực giao tiếp: Là khả năng lựa chọn nội dung, cách thức, thái độ giao tiếp để đạt được mục đích giao tiếp và mang lại sự thỏa mãn cho các bên tham gia giao tiếp. +Năng lực hợp tác: Là khả năng cùng làm việc giữa hai hay nhiều người để giải quyết những vấn đề nhằm mang lại lợi ích cho tất cả các bên. +Năng lực tính toán: Là khả năng sử dụng các phép tính và đo lường công cụ toán học để giải quyết những vấn đề trong học tập và cuộc sống. + Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông: Là khả năng sử dụng thiết bị kĩ thuật số, máy tính, phần mềm… để tìm kiếm thông tin phục vụ 14 tích cựu và hiệu quả cho học tập và cuộc sống. Là khả năng sàng lọc và tham gia truyền thông trên môi trường mạng một cách có văn hóa. * Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù: Căn cứ vào nhiệm vụ của hoạt động TNST trong định hướng phát triển chương trình giáo dục phổ thông, căn cứ vào đặc thù của hoạt động TNST. Bên cạnh những phẩm chất và năng lực chung hoạt động TNST hướng tới mục tiêu là một số năng lực đặc thù sau: +Năng lực tham gia và tổ chức hoạt động: Thể hiện ở sự tích cực tham gia hoặc thiết ké tổ chức các hoạt động, đặc biệt là các hoạt động xã hội, biết đóng góp vào thành công chung, thể hiện tính tuân thủ với quyết định của tập thể cũng như sự cam kết, trách nhiệm với công việc được giao, biết quản lí thời gian và công việc cũng như sự hợp tác hoặc tập hợp khích lệ… các cá nhân tham gia giải quyết vấn đề và sẵn sàng hỗ trợ giúp đỡ mọi người. + Năng lực tự quản: Là khả năng tự sắp xếp biết chia sẻ công việc, biết lập kế hoạch hoạt động, biết tạo bàu không khí tích cực trong lớp. +Năng lực tự nhận thức và tích cực hóa bản thân: Là khả năng nhận thức về giá trị của bản thân, là sự nhận thức về điểm mạnh cũng như điểm yếu trong năng lực và tính cách của bản thân, tìm được động lực để tích cực hóa quá trình hoàn thiện và phát triển nhân cách, là sự xác định đúng vị trí xã hội của bản thân trong các mối quan hệ và ngữ cảnh giao tiếp hay hoạt động để ứng xử phù hợp, luôn thể hiện người sống lạc quan với suy nghĩ tích cực. + Năng lực khám phá và sáng tạo: Thể hiện tính tò mò, ham hiểu biết., luôn quan sát thế giới xung quanh mình, thiết lập mối liên hệ, quan hệ giữa các sự vật hiện tượng thể hiện ở khả năng tư duy linh hoạt, mền dẻo, tìm ra được phương pháp độc dáo và tạo ra sản phẩm độc đáo. 15 2.5: Chỉ số về phẩm chất và năng lực chung mà hoạt động TNST cần đạt đƣợc:
Phẩm chất và năng lực chung
Yêu cầu cần đạt
Sống yêu thương
Tích cự tham gia vào các hoạt động xã hội, các hoạt động từ thiện, các hoạt động bảo vẹ môi trường, di sản văn hóa, tham gia các hoạt động lao động, sinh hoạt trong gia đình nhà trường…
Sống tự chủ
Thực hiện các hành vi phù hợp với các yêu cầu hay quy định đối với người học sinh và không vi phạm pháp luật trong quá trình tham gia hoạt động TNST cũng như ngoài cuộc sống.
Sống có trách nhiệm
Thực hiện dược các nhiệm vụ được giao, biết giúp đỡ các bạn trong hoạt động, thể hiện sự quan tâm lo lắng tới kết quả của hoạt động…
Năng lực tự học
Có thái độ học hỏi thầy cô và các bạn trong quá trình hoạt động và có những kĩ năng học tập như: Quan sát, ghi chép, tổng hợp, báo cáo… những gì thu được từ hoạt động…
Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Phát hiện và giải quyết vấn đè một cách sáng tạo, hiệu quả nảy sinh trong quá trình hoạt động về nội dung hoạt động cũng như quan hệ giữa các cá nhân và vấn đề của chính bản thân…
Năng lực giao tiếp
Thể hiện kĩ năng giao tiếp phù hợp với mọi người trong quá trình tham gia tổ
16
chức hoạt động TNST, có kĩ năng thuyết phục, thương thuyết trình bày theo mục đích , đối tượng và nội dung hoạt động.
Năng lực hợp tác
Phối hợp với các bạn cùng chuẩn bị xây dựng kế hoạch, tố chức triển lkhai hoạt động và giải quyết vấn đề thể hiện sự giúp đỡ, hỗ trợ, chia sẻ… để hoàn thành nhiệm vụ chung.
Năng lực tính toán
Lập được kế hoạch hoạt động, định lượng thời gian cho hoạt động, xây dựng kế hoạch kinh phí, xác định nguồn lực đánh giá… cho hoạt động.
Năng lực CNTT và truyền thông
Sử dụng internet để tìm kiếm thông tin, trình bày thông tin và phục vụ cho hoạt động TNST. Có kĩ năng truyenf thông hiệu quả trong hoạt động và về hoạt động.
Năng lực thẩm mĩ
Cảm thụ được cái đẹp trong thiên nhiên, trong hành vi của con người… thể hiện sự cảm thụ thông qua sản phẩm, hành vi và tinh thần khỏe mạnh.
Năng lực thể chất
Biết cách chăm sóc sức khỏe, thể chất và sức khỏe tinh thần, thể hiện sự tham gia nhiệt tình vào các hoạt động TDTT và luôn có suy nghĩ về cuộc sống tích cực.
17 III. CÁC BƢỚC TIẾN HÀNH TỔ CHỨC, TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO: + Việc xây dựng kế hoạch hoạt động TNST được gọi là thiết kế hoạt động TNST cụ thể. Đây là việc quan trọng, quyết định tới một phần sự thành công của hoạt động. Việc thiết kế các hoạt động TNST cụ thể được tiến hành theo các bước sau: *Bƣớc 1: Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động TNST: Bước này bao gồm một số công việc: – Căn cứ nhiệm vụ, mục tiêu và chương trình giáo dục, cần tiến hành khảo sát nhu cầu, điều kiện tiến hành. – Xác định rõ đối tượng thực hiện. Việc hiểu rõ đặc điểm học sinh tham gia, vừa giúp nhà giáo dục thiết kế hoạt động phù hợp, đặc điểm lứa tuổi, vừa giúp có các biện pháp phòng ngừa những đáng tiếc có thể xảy ra cho học sinh. * Bƣớc 2: Đặt tên cho hoạt động: +Là một việc làm cần thiết vì tên của hoạt động tự nó đã nói lên được chủ đề, mục tiêu, nội dung, hình thức của hoạt động. Tên hoạt động cũng tạo ra sự hấp dẫn lôi cuốn, tạo ra được trạng thái tâm lí đầy hứng khởi và tích cực của học sinh. Vì vậy, cần có sự tìm tòi, suy nghĩ để đặt tên cho hoạt động sao cho phù hợp và hấp dẫn. – Việc đặt tên cho hoạt dộng cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:Rõ ràng, chính xác, ngắn gọn. Phản ánh được chủ đề và nội dung của hoạt động. Tạo được ấn tượng ban đầu cho học sinh. * Bƣớc 3: Xác định mục tiêu của hoạt động: +Mỗi hoạt động đều thực hiện mục đích chung của từng chủ đề theo tháng nhưng cũng có những mục tiêu cụ thể của hoạt động đó. + Mục tiêu cầu hoạt động là dự kiến trước kết quả của hoạt động. + Các mục tiêu hoạt động cần phải được xác định rõ ràng cụ thể và phù hợp, phản ánh được các mức độ cao thấp của yêu cầu cần đạt về tri thức, kĩ năng thái độ và định hướng giá trị. – Nếu xác định đúng mục tiêu sẽ có các tác dụng là: 18 – Định hướng cho hoạt động, là cơ sở để chọn lựa nội dung và điều chỉnh hoạt động. – Căn cứ để đánh giá kết quả hoạt động. – Kích thích tính tích cực hoạt động của thầy và trò. Tùy theo chủ đề của hoạt động TNST ở mỗi tháng, đặc điểm học sinh và phụ thuộc vào tình hình thực tế của nhà trường, tình hình chung của xã hội mà hệ thống mục tiêu sẽ được cụ thể hóa và mang màu sắc riêng cho mỗi một hoạt động TNST. *Bƣớc 4: Xác định nội dung và phƣơng pháp, phƣơng tiện, hình thức của hoạt động: – Mục tiêu có thể đạt được hay không phụ thuộc vào việc xác định đầy đủ và hợp lí những nội dung và hình thức của hoạt động. – Cần liệt kê đầy đủ các nội dung hoạt động phải thực hiện. – Từ nội dung xác định cụ thể phương pháp tiến hành, xác định những phương tiện cần có để tiến hành hoạt động. Từ đó lựa chọn hình thức hoạt động tương ứng. Có thể một hoạt động nhưng có nhiều hình thức khác nhau, được thực hiện đan xen hoặc trong đó có một hình thức nào đó là chủ đạo, còn hình thức khác là phụ trợ. * Bƣớc 5: Lập kế hoạch: Lập kế hoạch để thực hiện hệ thống mục tiêu, không gian, thời gian… cần cho việc hoàn thành các mục tiêu. – Chi phí về tất cả các mặt phải được xác định. Hơn nữa phải tìm ra phương án chi phí ít nhất cho việc thực hiện mỗi một mục tiêu. Vì đạt dược mục tiêu với chi phí ít nhất để đạt được hiệu quả cao nhất trong công việc. Đó là điều mà bất kì người quản lí tổ chức hoạt động nào cũng mong muốn và cố gắng đạt được. * Bƣớc 6: Thiết kế chi tiết hoạt động trên bản giấy. + Trong bước này cần phải xác định: – Có bao nhiêu việc cần phải thực hiện? – Các việc đó là gì. Nội dung của mỗi việc đó ra sao? -Tiến trình và thời gian thực hiện các việc đó như thế nào? 19 – Các công việc cụ thể cho các lớp, liên lớp, cho Đội viên. – Yêu cầu đạt được của mỗi việc. *Bƣớc 7: Kiểm tra và điều chỉnh và hoàn thiện chƣơng trình hoạt động. + Rà soát, kiểm tra lại nội dung và trình tự của các việc, thời gian thực hiện cho từng việc, xem xét tính hợp lí, khả năng thực hiện và kết quả cần đạt được. +Nếu phát hiện những sai sót hoặc bất hợp lí ở khâu nào, bước nào, nội dung nào hay việc nào thì kịp thời điều chỉnh. + Cuối cùng, hoàn thiện bản thiết kế chương trình hoạt động và cụ thể hóa chương trình đó bằng văn bản. Đó là giáo án tố chức hoạt động. *Bƣớc 8: Lƣu trữ kết quả hoạt động vào hồ sơ của nhà trƣờng, của Chi Đội và của học sinh. IV.THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC TRIỂN KHAI MỘT HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO “TỔ CHỨC HỘI THI, CUỘC THI” ĐỂ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC, PHẨM CHẤT Ở HỌC SINH TRƢỜNG THCS HÀN THUYÊN: IV. ĐẶC ĐIỂM, MỤC ĐÍCH, HÌNH THỨC CỦA CÁC HOẠT ĐỘNG TNST “HỘI THI, CUỘC THI” : +Trong các hoạt động TNST thì hội thi, cuộc thi là một trong những hình thức tổ chức hoạt động hấp dẫn lôi cuốn học sinh và đạt hiệu quả cao trong việc tập hợp giáo dục, rèn luyện và định hướng giá trị cho tuổi trẻ. Hội thi, cuộc thi mang tính chất thi đua giữa các cá nhân nhóm hoặc tập thể luôn hoạt động tích cực để vươn lên đạt được mục tiêu mong muốn, thông qua việc tìm ra người đội thắng cuộc. Chính vì vậy tổ chức hội thi cho học sinh là một việc làm quan trọng cần thiết của trường THCS Hàn Thuyên trong năm học 2020 – 2021. +Với mục đích tổ chức hội thi, cuộc thi nhằm lôi cuốn học sinh tham gia một cách chủ động, tích cực vào các hoạt động giáo dục, đáp ứng nhu cầu về vui chơi giải trí cho học sinh, thu hút tài năng và sự sáng tạo của học sinh, phát triển khả năng hoạt động tích cực và tương tác của học sinh, góp phần bồi dưỡng cho các em động cơ học tập tích cực, kích thích hứng thú trong quá trình nhận thức. 20 +Hội thi, cuộc thi được tổ chức bằng nhiều hình thức khác nhau như “Bày cỗ trung thu” nhân dịp trung thu hay tổ chức cuộc thi “An toàn giáo thông cho nụ cưởi ngày mai” do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo phát động” , tổ chức cuộc thi “Vé số hoa điểm tốt – Vé số hoa người tốt việc tốt” do BCH TW Đoàn phát động… +Các cuộc thi trên có khả năng thu hút của tất cả các học sinh trong toàn trường, từ cá nhân đến nhóm tập thể với các quy mô tổ chức khác nhau như quy mô lớp, quy mô khối lớp hoặc quy mô toàn trường. Điều đáng chú ý là khi tổ chức các hội thi, cuộc thi là phải linh hoạt, sáng tạo, tránh máy móc thì hội thi, cuộc thi mới hấp dẫn. Đặc biệt khi tổ chức hoạt động TNST này nên kết hợp với văn nghệ của liên lớp trực tuần, trò chơi…để hội thi, cuộc thi thêm phong phú đa dạng thu hút được nhiều học sinh tham gia hơn. III.1.CÁC BƢỚC TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG TNST “ HỘI THI, CUỘC THI”: +Từ nhận thức trên, năm học 2020 – 2021 trường THCS Hàn Thuyên đã tổ chức một số hội thi ,cuộc thi tiêu biểu, không chỉ gây hứng thú cho học sinh mà còn nhằm phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh tham gia. Chúng tôi đã riển khai các hoạt động TNST tổ chức hội thi, cuộc thi như cuộc thi “Vé số hoa điểm tốt – Vé số hoa người tốt việc tốt, hội thi “Bày cỗ trung thu”, cuộc thi “An toàn giao thông cho nụ cưởi ngày mai. Mỗi hoạt động TNST này, chúng tôi đều tiến hành triển khai thực hiện theo 7 bước. + Sau đây là minh chứng cụ thể hoạt động TNST nhằm phát triển năng lực , phẩm chất học sinh theo mô hình “vé số hoa điểm tốt – vé số ngƣời tốt, việc tốt” đã mang lại hiệu quả rõ rệt khi áp dụng triển khai ở trường THCS Hàn Thuyên: III.2. Các bƣớc triển khai cuộc thi “vé số hoa điểm tốt – vé số ngƣời tốt, việc tốt: *Bƣớc 1: Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động TNST: +Căn cứ vào nhiệm vụ, mục tiêu và chương trình giáo dục đưa hoạt động TNST vào triển khai đối với các tháng theo chủ điểm của tháng. 21 +Căn cứ vào kế hoạch công tác Đội và phong trào thiếu nhi năm học 2020 – 2021 kế hoạch và công văn triển khai của Thành Đoàn Nam Định. +Để tạo không khí sôi nổi sau những tiết học căng thẳng và giúp các em hình thành phẩm chất năng lực và có kĩ năng trong quá trình tham gia hoạt động trải nghiệm sáng tạo,TPT đã lập kế hoạch trình lên BGH xét duyệt. * Bƣớc 2: Đặt tên cho hoạt động: +Tên của hoạt động: “Vé số hoa điểm tốt” – “vé số người tốt, việc tốt” – Không mệnh giá. * Bƣớc 3: Xác định mục tiêu của hoạt động: + Nhằm khuyến khích học sinh tham gia phong trào “Hội học hội giảng đợt II” của nhà trường dành nhiều bông hoa điểm tốt. +Tạo không khí thi đua sôi nổi trong Chi Đội, giữa Chi Đội này với Chi Đội khác. + Gây hứng thú cho các em học sinh trong các giờ học. + Dành thật nhiều bông hoa điểm tốt để chào mừng ngày 8/3 và 26/3. Đây là phong trào có tính chất mới mẻ, chưa triển khai lần nào ở nhà trường, tạo sự hứng thú cho các em học sinh đồng thời có tác dụng kích lệ học tập ở các em theo phương châm “Học đi đôi với hành” . *Bƣớc 4: Xác định nội dung và phƣơng pháp, phƣơng tiện, hình thức của hoạt động: + Nội dung triển khai phong trào “Vé số hoa điểm tốt – Vé số người tốt, việc tốt” lồng ghép trong chương trình kỉ niệm 90 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/03/1931 – 26/03/2021). + Ngoài lễ kỉ niệm, chương trình quay vé số mở thưởng sẽ đan xen 02 tiết mục chào mừng ở đầu buổi lễ kỉ niệm và giữa lễ kỉ niệm và chương trình quay số mở thưởng là chương trình văn nghệ của giáo viên ( hát 01 bài) và hoạt cảnh về người anh hùng nhỏ tuổi Nguyễn Bá Ngọc – tấm gương quả cảm của các em Đội viên. + Sau khi quay xong 45 số trúng thưởng, tổ chức phát thưởng cho học sinh. 22 + Kết thúc: Đánh giá, tổng kết phong trào. * Bƣớc 5: Lập kế hoạch: +Thực hiện kế hoạch công tác Đội và phong trào thiếu nhi năm học 2020 – 2021, Liên Đội trường THCS Hàn Thuyên đã xây dựng kế hoạch triển khai phong trào “Vé số hoa điểm tốt – vé số người tốt việc tốt” không mệnh giá để chào mừng kỉ niệm 90 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/03/1931 – 26/03/2021). + Sau khi nhận được công văn triển khai của Hội Đồng Đội thành phố Nam Định. Liên Đội THCS Hàn Thuyên đã lập kế hoạch báo cáo BGH và triển khai sâu rộng tới tất cả các em Đội viên nhằm khích lệ các em Đội viên nỗ lực vươn lên trong học tập bằng cách họp GVCN gửi kế hoạch về từng lớp và triển khai trước cờ: Nội dung kế hoạch: ĐỘI TNTP HỒ CHÍ MINH LIÊN ĐỘI THCS HÀN THUYÊN Nam Định, ngày 17 tháng 02 năm 2021 KẾ HOẠCH Triển khai mô hình “Vé số hoa điểm tốt” chào mừng kỉ niệm 90 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/03/1931 – 26/03/2021); kỉ niệm 80 năm ngày thành lập Đội TNTP Hồ Chí Minh (15/05/1941 – 15/05/2021) Thực hiện kế hoạch công tác Đội và phong trào thiếu nhi năm học 2020 – 2021, kế hoạch triển khai của Hội đồng Đội thành phố Nam Định, Liên Đội trường THCS Hàn Thuyên xây dựng kế hoạch triển khai phong trào “ Vé số hoa điểm tốt ” chào mừng kỉ niệm 90 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/03/1931 – 26/03/2021); kỉ niệm 80 năm ngày thành lập Đội TNTP Hồ Chí Minh (15/05/1941 – 15/05/2021) I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU: – Phát huy tinh thần thi đua học tập, hăng hái phát biểu trong các giwof học tập của đội viên. – Động viên và khuyến khích các đội viên biết sống nhân ái, yêu lao động, khiêm tốn, thật thà nhặt được của rơi và trả lại người đánh mất. 23 – Tạo không khí vui tươi, phấn khởi cho các đội viên trong buổi sinh hoạt dưới cờ của tuần quay số trúng thưởng. II. ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN: 1. Đối tƣợng: Tất cả các đội viên trong Liên Đội. 2. Thời gian: Từ ngày 17/02/2021 đến 17/03/2021 III. NỘI DUNG, HÌNH THỨC TRIỂN KHAI: 1. Liên Đội phát động phong trào “Vé số hoa điểm tốt” không mệnh giá dành cho các đội viên đạt điểm 9 và 10. Cụ thể: – Kiểm tra miệng và điểm kiểm tra 15 phút, 45 phút: Mỗi điểm 10, đội viên nhận được 02 vé, mỗi điểm 9 mỗi đội viên nhận được 01 vé. 2. Liên Đội phát động phong trào “Vé số” không mệnh giá dành cho các đội viên nhặt đƣợc của rơi trả lại ngƣời đánh mất: Cụ thể: -Hiện vật như: Phù hiệu, mũ, túi bút….: Nhận được 01 vé. -Hiện vật hoặc tiền trị giá từ 20 đến 50.000 đ: Nhận được 02 vé. -Hiện vật hoặc tiền trên 50.000 đ đến 100.000đ: Nhận được 03 vé. -Những việc làm tốt hoặc những hiện vật lớn hơn, Liên Đội sẽ căn cứ vào tình hình thực tế để trao số vé cho phù hợp. 3.Hình thức triển khai: – TPT Đội xây dựng kế hoạch trình Ban Giám Hiệu phê duyệt. – Triển khai tới tất cả các đồng chí giáo viên trong toàn trường. – TPT Đội triểm khai đối với tất cả các đội viên trong toàn trường; Các đồng chí GVCN sẽ triển khai tới lớp mình. – TPT và BCH Liên Đội sẽ theo dõi tiến độ thi đua của các Chi Đội, thống kê điểm và cấp vé cho các Chi Đội vào thứ 7 hàng tuần. * Lƣu ý: Hàng ngày Chi Đội trưởng sẽ tổng hợp danh sách về cho TPT và nhận vé số. – Mỗi đội viên trong tuần bị điểm dưới TB thì sẽ bị trừ vé (nếu tuần đó được thưởng vé. – Những điểm thuộc bài kiểm tra 15 phút, 45 phút, Đội viên nộp bài về cho TPT. +Tiến hành quay số mở thƣởng và trao giải thƣởng: Sau khi phát hành hết 03 bộ vé ( mỗi bộ vé tương ứng với 1000 vé không mệnh giá – Từ số 000 đến số 24 999 – ba màu: đỏ, tím, vàng) cho các đội viên đạt yêu cầu, Liên Đội sẽ tổ chức quay số mở thưởng vào sáng ngày 25/03/2021. -Cơ cấu giải: 03 giải đặc biệt, 06 giải nhất, 09 giải nhì và 12 giải ba, 15 giải khuyến khích.Tổng giải thưởng hiện vật trị giá10.000.000 đồng. Ngƣời lập kế hoạch:
HIỆUTRƢỞNG: ( Đã kí) Nguyễn Thị Hạnh Quyên
TPT Đội ( Đã kí) Trần Thị Hoa Trang
25 *Bƣớc 6: Thiết kế chi tiết hoạt động trên bản giấy: +Phân công nhiệm vụ đối với BCH Liên Đội và Chi Đội trƣởng: – Chi Đội trưởng: Hàng ngày cập nhật điểm tốt, việc tốt của lớp mình vào tờ thống kê “Vé số hoa điểm tốt – vé số, người tốt việc tốt” và nộp cho BCH Liên Đội vào tiết 5 ngày thứ 7 mỗi tuần sau giờ sinh hoạt. – BCH Liên Đội thu thống kê của mỗi lớp và phát vé số theo quy định và cập nhật vào sổ theo dõi. – Sáng thứ 2 đầu tuần TPT sẽ công bố kết quả vé số hoa điểm tốt và vé số hoa người tốt, việc tốt (Tuyên dương những lớp đạt nhiều vé và động viên những lớp được ít vé, tuyên dương những tấm gương người tốt điển hình mỗi tuần). – Khi phát hết 3000 vé số, BCH Liên Đội sẽ thông báo cho tất cả các em Đội viên trên hệ thống loa phát thanh của nhà trường và thông báo dừng phát hành vé số. 2.2. Phân công nhiệm vụ đối với giáo viên và học sinh trong buổi quay số mở thƣởng lồng ghép vào lễ kỉ niệm 90 năm thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh: Công tác chuẩn bị: – Mời khách: Cô Phương Loan, cô Hoa Trang. – Đón và tiếp khách: Cô Len, Cô Phương Dung, cô Thu Thủy. – Chuẩn bị lồng quay vé số: Thầy Thành. – Chuẩn bị quà và gói quà: cô Phương, cô Len, cô Hà, cô Hằng, thầy Bảo, thầy Tùng, thầy Minh, cô Mai, cô Thúy Hương. – Chuẩn bị phông: Thầy Mạnh. – Chuẩn bị loa đài: Thầy Hưng. – Chuẩn bị văn nghệ: Liên lớp trực tuần 8A1,7A1, 8A4,7A2, 6A2, 6A4, 6A5: Các bài hát, múa, kịch phù hợp với lễ kỉ niệm ngày thành lập Đoàn. – Dẫn chương trình: Em Trần Hoàng Nhi – Liên Đội trưởng. – Viết nội dung chương trình: Cô Hoa Trang – TPT. – Đọc báo cáo kỉ niệm: cô Thu Hằng – Bí thư Đoàn trường. 26 – Tham gia quay vé số: Thầy Bảo, thầy Tùng, thầy Đại Dương. – Dẫn chương trình quay vé số: Cô Mai Anh. – Trao quà: Các thầy cô trong BGH, Bí thư Đoàn và TPT. – Trang phục: Giáo viên nữ mặc quần áo dài, nam mặc sơ mi thắt cavat, quần âu; TPT và Bí thư Đoàn, Đoàn viên giáo viên mặc áo Đoàn; học sinh đồng phụ sơ vi quần âu đối với nam, bộ sơ mi và váy đối với nữ. 2.3. Tiến trình buổi lễ kỉ niệm 90 năm thành lập Đoàn và chƣơng trình quay số mở thƣởng: * Phần 1: lễ kỉ niệm 90 năm thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh: + Đón khách: + Văn nghệ chào mừng: Liên lớp trực tuần biểu diễn 02 tiết mục chào mừng. + Chào cờ: Hát quốc ca, Đội ca và hô đáp khẩu hiệu. + Tuyên bố lí do, giới thiệu thành phần đại biểu. + ĐC Bùi Thị Thu Hằng – Bí thư Đoàn trường thay mặt cho Chi Đoàn nhà trường lên đọc diễn văn kỉ niệm 90 năm ngày thành lập Đoàn TN CS Hồ Chí Minh. + Đại biểu lên tặng hoa chúc mừng. * Phần 2: Chƣơng trình quay số mở thƣởng: + TPT lên công bố thể lệ cách thức quay số mở thưởng. + Cô Mai Anh dẫn chương trình. + Thầy giáo Hoàng Gia Bảo: Phụ trách chữ số hàng đơn vị. + Thầy giáo Đào Xuân Tùng : Phụ trách chữ số hàng chục. + Thầy giáo Hoàng Đại Dương : Phụ trách chữ số hàng trăm. +Ban thư kí: Gồm cô giáo Lương Thị Thanh Huyền, Cô Giáo Đặng Mai Hương văn.
Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY
Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education
SKKN Xây Dựng Môi Trường Yêu Thương Cho Học Sinh Ở Trường THCS
ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN: Một ngày cuối tháng 5 năm 2017, khi một học sinh hỏi tôi “Có học sinh nào thầy không thích không?”. Tôi đã trả lời “Không, Thầy yêu tất cả học sinh của mình!”, nhưng lúc trả lời cũng là lúc tôi nhận đó là lời nói dối! Sự thật là, tất cả chúng ta đôi khi gặp phải những học sinh khó ưa. Có thể đó là những đứa trẻ từ chối những nhiệm vụ được giao hoặc nói quá nhiều. Cũng có thể là đứa luôn đòi hỏi quyền lợi cả những khi không hoàn thành công việc ở lớp. Đổi lại học sinh như thế nào với giáo viên? Có thể học sinh không thích chúng ta chẳng vì lý do gì, và chúng cũng không ngại nói ra điều đó. Nếu để ý, việc ghét thầy cô cũng được nhiều bạn “bày tỏ” trên Facebook bằng cách lập ra các fanpage với các tên: hội những người căm ghét giáo viên chủ nhiêm; Hội những người ghét bị giáo viên gọi lên bảng; Hội những người ghét giáo viên dạy họa… Chỉ cần gõ tìm kiếm trên Facebook với từ khóa “ghét giáo viên” là có thể tìm thấy nhiều hội cùng nội dung được lập ra. Ở các hội này các bạn gia nhập để “dìm hàng”, nói xấu, thậm chí nói về giáo viên bằng những từ ngữ quá đáng… chỉ vì những việc không đáng hoặc có mâu thuẫn nhỏ với giáo viên. Và lạ thay, các hội này có số lượt nguời like tăng rất nhanh!. Còn học sinh với học sinh như thế nào hiện nay? Các con số thống kê từ Cục phòng chống tệ nạn xã hội cũng cho thấy tình trạng học sinh chán đời, bỏ nhà đi bụi, nghiện ma túy, phạm tội… ngày càng tăng. Hành vi nổi loạn của HS hiện rất phức tạp, không còn đơn thuần là các trò nghịch dại của lứa tuổi học trò. Nhiều HS đến trường thủ vũ khí trong người, sẵn sàng gây hấn với bạn bè, thầy cô. Các trò quậy phá như như đốt cồn gây cháy ở trường học, đánh nhau, đua xe, sử dụng chất kích thích… xuất hiện rất nhiều trong giới HS. Ở lứa tuổi cấp 2, đặc biệt là ở khối lớp 8, trường nào cũng gặp nhóm HS nổi loạn, các em trốn và nhà vệ sinh hút thuốc, đánh nhau… Đặc biệt là các em nữ, năm trước còn rất ngoan, học giỏi thì chỉ một thời gian đã kết bè phái nổi loạn tưng bừng, đến giáo viên và phụ huynh cũng hoảng vì quá bất ngờ… Trước các thực tế hiện nay của giới trẻ nói chung và học sinh nói riêng, với vai trò Giáo viên Tổng phụ trách Đội, ngoài việc kết hợp cùng các tổ chức đoàn thể trong nhà trường trong các hoạt động, tôi luôn mong muốn xây dựng một môi trường an toàn, lành mạnh, dân chủ, tôn trọng thầy trò trong tình yêu thương. Vì vậy tôi đã tiến hành đề tài “Xây dựng môi trường yêu thương cho học sinh ở trường THCS”. Xây dựng môi trường yêu thương cho học sinh ở trường THCS 2 II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP 2.1 Cơ sở lý luận: 2.1.1. Vai trò của hoạt động Đội trong nhà trường: Đội là tổ chức nòng cốt trong các phong trào thiếu nhi, là vai trò chủ động tập hợp thiếu nhi vào các hoạt động do Đội tổ chức. Thực tế hàng chục năm qua các phong trào của Đội đã lôi cuốn biết bao các thế hệ thiếu nhi tham gia và đã trở thành truyền thống của Đội như: phong trào “Nghìn việc tốt”, công tác “Trần Quốc Toản”, phong trào “Kế hoạch nhỏ”, phong trào “Quỹ vì bạn nghèo”, phong trào “Tấm áo tặng bạn”; “Áo lụa tặng bà”; ủng hộ đồng bào lũ lụt miền Trung… Đội được khẳng định là lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nó thể hiện sự lớn mạnh của Đội trong quá trình hoạt động, tạo cho đội viên được tiếp cận tự giáo dục, tính tự giác, tự quản,… thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. 2.1.2. Nội dung của hoạt động Đội: – Hoạt động giáo dục chính trị, phẩm chất đạo đức của người đội viên: + Giáo dục ý thức chấp hành pháp luật, rèn luyện đạo đức, lối sống. + Xác định phương hướng hành động cho người đội viên. + Rèn luyện các em thành con người hành động. – Hoạt động giúp phục vụ học tập: + Định hướng cho thiếu nhi thực hiện nghiêm túc nề nếp, kỷ cương học đường. + Nâng cao hiệu quả các phong trào, hoạt động thi đua học tốt trong nhà trường qua các hoạt động. – Hoạt động đền ơn, đáp nghĩa: + Giáo dục thiếu nhi về tình yêu quê hương, đất nước. + Giáo dục về lịch sử, truyền thống cách mạng của dân tộc. – Hoạt động lao động, sáng tạo: + Phát huy khả năng sáng tạo, đam mê nghiên cứu khoa học của thiếu nhi. + Giáo dục đội viên, học sinh ý thức tiết kiệm, tình yêu lao động, bảo vệ môi trường. – Vui chơi giải trí: + Tạo môi trường lành mạnh, an toàn để thiếu nhi sinh hoạt. + Rèn luyện sức khoẻ, phát triển năng khiếu của đội viên. – Giáo dục tính thẩm mỹ: Xây dựng môi trường yêu thương cho học sinh ở trường THCS 3 + Giáo dục đội viên – học sinh biết yêu cái đẹp, biết tạo nên nét đẹp trong cuộc sống, lao động và học tập. – Giáo dục tinh thần đoàn kết, hữu nghị quốc tế. + Bồi đắp tinh thần đoàn kết, chia sẻ yêu thương của đội viên trong các mối quan hệ ở gia đình và ngoài xã hội. 2.1.3. Nhiệm vụ của Đội: Đội là lực lượng dự bị của Đoàn, vừa thể hiện tính tự phát triển của Đội vừa là nhiệm vụ của Đội, giúp đội viên phấn đấu trở thành đoàn viên Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh góp phần trực tiếp vào việc đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp của đất nước mà bắt đầu đặt nền móng từ các trường tiểu học. Như vậy, tổ chức tốt các hoạt động Đội là một phần, phần nữa nhằm nâng cao hiệu quả của các hoạt động ấy là một nhiệm vụ không thể thiếu được. Các hoạt động Đội mà lơ là, sao nhãng hoặc làm không có trách nhiệm, đối phó thì không thu hút được thiếu nhi. Mà mục tiêu của hoạt động Đội là nhằm phát triển toàn diện cho thế hệ trẻ, đồng hành với việc giáo dục trong nhà làm sao thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước có được những kiến thức, vốn hiểu biết về thế giới muôn màu xung quanh, tinh thần đoàn kết, hữu nghị quốc tế với bè bạn năm Châu theo di chúc của Bác Hồ để lại. Qua các hoạt động tập thể Đội phải có trách nhiệm giúp đỡ đội viên phát triển mọi khả năng trong học tập, hoạt động, vui chơi, giải trí. Đội phải thực hiện tốt quyền và bổn phận của trẻ em đã được nêu ở luật bảo vệ và chăm sóc giáo dục trẻ em. Nhiệm vụ này thể hiện nghĩa vụ người công dân nhỏ tuổi để từ đó hình thành những phẩm chất của người công dân tốt sau này. Mặt khác, các em thể hiện khi các em thực hiện tốt các điều quy định trong Luật nghĩa là các em đã và đang từng bước trưởng thành trong quá trình phấn đấu của mình. Ngoài ra các em phải thể hiện được tình đoàn kết quốc tế, hợp tác với các tổ chức, phong trào thiếu nhi khu vực và thế giới để cùng đấu tranh, bảo vệ những quyền của trẻ em, vì hạnh phúc, hòa bình của các dân tộc trên thế giới. 2.1.4. Nhiệm vụ xây dựng môi trường biết yêu thương ở trường THCS: Giới trẻ đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ở mỗi quốc gia vì đó là một lực lượng đảm bảo cho sự phát triển bền vững. Khi còn sinh thời, trong một lần nói chuyện với học sinh (HS), Chủ tịch Hồ Chí Xây dựng môi trường yêu thương cho học sinh ở trường THCS 4 Minh đã khẳng định rằng “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó.” Thế nhưng, một thực tế đang báo động là lối sống đạo đức của một bộ phận HS đang đi xuống do nhiều nguyên nhân, trong đó có cả nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan. Nguyên nhân dẫn đến các sa sút về đạo đức, lối sống của học sinh nói riêng, của giới trẻ nói chung hiện nay trước tiên phải khẳng định là do từ chính giới trẻ, chính các em – chủ thể của các hành vi vô đạo đức mà chưa được giáo dục đầy đủ, kém phát triển về phẩm chất đạo đức, nhân cách. Thứ hai là từ phía gia đình các em học sinh, sinh viên như gia đình đã thiếu sự quan tâm đến con cái, thả lỏng, buông trôi việc giáo dục đạo đức, con cái mình, phó mặc cho nhà trường. Thứ 3, nguyên nhân từ tập thể lớp học, nhà trường đã chưa đủ sức trở thành tấm gương, nguồn sức mạnh giáo dục răn đe con trẻ. Nhiều thầy cô đã tạo nên những áp lực học tập quá mức, không cần thiết, thiếu minh bạch, công tâm, đôi lúc chưa thực sự gương mẫu trước các em. Thứ 4, hành vi đạo đức của một số em có chịu tác động xúi bẩy của một số người hoặc nhóm bạn xấu trong lớp mà nhà trường, thầy cô giáo chưa biết cách ngăn chặn kịp thời. Thứ 5, tác động của văn hóa đạo đức thiếu lành mạnh từ các Game vô luân đang lan tràn hiện nay cũng là một trong những nguyên nhân gợi ý các em có những hành vi thiếu chuẩn mực. Thứ 6, về phía xã hội, phải nhìn nhận thẳng thắn là trong nhiều năm qua, chúng ta đã buông lỏng giáo dục đạo đức cho người dân nói chung và cho con trẻ nói riêng. Trong nhà trường, khi nói “thầy/cô yêu tất cả học sinh của mình.” Thì đây là một điều khó khăn nhất của mỗi giáo viên nói chung. Không ai nhìn thấy điểm tốt (hoặc ít nhất cố gắng nhìn nhận mặt tốt) của học sinh như giáo viên. Thật không may, thỉnh thoảng vẫn có những học sinh khiến chúng ta không được thoải mái, thậm chí cảm thấy khó có thể yêu quý. Trước khi bạn đưa ra lời nhận xét, bây giờ tôi muốn bạn hiểu rằng cả tôi cũng đang không thoải mái với thực tế này. Phải chăng đó đều bởi giáo viên và học sinh không “hợp” nhau? Khi không “hợp” nhau, tất nhiên giữa học sinh và giáo viên sẽ có nhiều ác cảm, dù là cá nhân hay tập thể lớp cũng khiến cho giáo viên và học sinh không “hợp” nhau, dù ít hay Xây dựng môi trường yêu thương cho học sinh ở trường THCS 5 nhiều thì đều khiến học sinh thấy có ác cảm với giáo viên, từ đấy ghét học môn học do giáo viên ấy giảng dạy. Và cũng có nhiều bạn nghĩ ghét giáo viên không có gì là xấu cả. Chỉ vì thầy cô đối xử với mình không tốt nên mình có quyền có ác cảm với họ. Có thể hiểu, ác cảm với một ai đấy là chuyện bình thường, kể cả giáo viên của mình. Và ngược lại giáo viên cũng có khi ác cảm với học sinh. Vậy hành động sao cho khoảng cách giữa giáo viên và học sinh ngày một gần gũi hơn là một nhiệm vụ hiện nay. 2.1.5. Vai trò của Tổng phụ trách Đội (TPTĐ) ở trường THCS: Bản thân là một giáo viên nhạc được cử làm TPTĐ nhiều năm liên tục và có nhiều thuận lợi vì được làm chuyên trách nên tôi đã không ngừng học hỏi người đi trước và đọc nhiều tài liệu về Đội thiếu niên cùng những kinh nghiệm đúc rút trong nhiều năm công tác, tôi thấy người TPTĐ phải hiểu biết rộng, phải nhanh nhẹn và linh hoạt trong cách tổ chức các hoạt động cho các em Đội viên. Tôi đánh giá được tầm quan trọng với vai trò Tổng phụ trách Đội của nhà trường. Cụ thể: – Vị trí vai trò của TPTĐ gắn chặt với vị trí vai trò của tổ chức Đội, thực tiễn những năm vừa qua cho thấy Đội TNTP Hồ Chí Minh ngày càng trở thành một lực lượng giáo dục không thể thiếu được trong cả 3 khâu : “Dạy chữ – Dạy nghề – Dạy người” trường đạt được danh hiệu tiên tiến xuất sắc, công tác Đội đóng góp một phần không nhỏ. Lại nói hoạt động Đội trong nhà trường mạnh hay yếu, tốt hay xấu một phần rất quan trọng phụ thuộc vào phẩm chất và năng lực của người giáo viên TPTĐ. Chính ở đây lời căn dặn của Hồ Chủ Tịch được thể hiện rõ nét nhất : “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” , “Có cán bộ tốt là có tất cả”. – Trong nhà trường GV- TPTĐ đóng một vai trò quan trọng bởi chính GV TPTĐ là người gần gũi các em hơn ai hết, là người hiểu thế giới nội tâm của các em học sinh, có điều kiện tiếp cận được nhiều đối tượng HS trong nhà trường: những HS tiêu biểu, HS có hoàn cảnh khó khăn, HS cá biệt… , nên GV – TPTĐ hiểu kỹ hơn về những tâm tư, tình cảm của các em, hiểu được cá tính của các em, nắm bắt được những nhu cầu mà các em muốn, coi các em như những đứa con của mình. Để từ đó biết động viên, an ủi hoặc cảm hoá, giúp đỡ các em vượt khó và sửa chữa những lỗi lầm của minh. Người TPTĐ phải biết thu phục nhân tâm từ chính tấm gương sáng của bản thân mình trong cuộc sống và trong mọi công việc. Điều đó muốn khẳng định rằng: TPTĐ chẳng những ở cương vị là người thầy, người cô mẫu mực, mà còn là người cha, người mẹ đỡ đầu, người anh, người chị quý mến của của Xây dựng môi trường yêu thương cho học sinh ở trường THCS 6 các em khi các em tiến bộ cũng như khi các em mắc khuyết điểm, sai lầm, thực sự là chỗ dựa về mặt tinh thần cho các em trong bối cảnh xã hội đầy biến động. – Người GV – TPTĐ đóng vai trò của một nhà tổ chức và đương nhiên phải thông thạo về kỹ năng, nghiệp vụ trong công tác Đội, có khả năng tổ chức nhiều hoạt động vui chơi bổ ích nhằm thu hút đông đảo lực lượng học sinh tham gia để các em “ Học mà chơi, chơi mà học”. Đây thực sự là sân chơi bổ ích đối với các em học sinh trong các nhà trường. – Người GV – TPTĐ phải có trách nhiệm xây dựng nhiều mối quan hệ khác nhau trong và ngoài nhà trường để giúp mình hoàn thành tốt công việc được giao. 2.2. Thực trạng của Liên đội trƣớc khi tạo ra giải pháp: 2.2.1. Thực trạng nền nếp và đạo đức đội viên – học sinh THCS : Khoa học ngày càng phát triển, đời sống của mọi tầng lớp nhân dân được cải thiện, kế hoạch dân số của Đảng và Nhà nước mỗi cặp vợ chồng có 1 đến 2 con có ý nghĩa thiết thực, tạo điều kiện cho cha mẹ có khả năng nuôi nấng, chăm sóc con nên đại bộ phận học sinh nói chung, học sinh THCS nói riêng đều chăm ngoan, có ý thức vươn lên trong học tập và tham gia các hoạt động khác. Tuy nhiên do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, hiện tượng tiêu cực của xã hội, phần nào đó đã làm ảnh hưởng đến nhân cách, tình bạn bè, lòng kính thầy cô giáo, cha mẹ của một số em học sinh. Các tệ nạn xã hội như nghiện hút, cờ bạc, trò chơi ăn tiền, chơi game chát… ngày càng nhiều, đó là những cạm bẫy đối với học sinh mà các cơ quan chức năng, các tổ chức xã hội vẫn chưa kiểm soát và ngăn chặn được. Theo kết quả khảo sát của Viện Nghiên cứu và Phát triển Giáo dục, tình hình vi phạm các chuẩn mực đạo đức của HS là khá nghiêm trọng. Có đến 8% HS Tiểu học thực hiện hành vi quay cóp trong thi cử và tỉ lệ gia tăng ở các cấp học trên: HS THCS là 55% và HS THPT là 60%. Hành vi nói dối cha mẹ cũng gia tăng theo cấp học: Tiểu học là 22%, Trung học cơ sở là 50%, Trung học phổ thông là 64% (Trần Hữu Quang, 2012). Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có khoảng 1.600 vụ HS đánh nhau ở trong và ngoài trường học trong một năm học, tính trên phạm vi toàn quốc, trung bình xảy ra khoảng 5 vụ/ngày (Mai Chi, 2017). Tỉ lệ HS vi phạm các chuẩn mực đạo đức là không nhỏ hành vi vi phạm phổ biến nhất là: chửi thề, chửi bậy; gây gổ, đánh nhau; trốn học, bỏ giờ và gian lận trong thi cử. Tỉ lệ 50% HS được khảo sát cho biết thỉnh thoảng có chửi thề và 12% Xây dựng môi trường yêu thương cho học sinh ở trường THCS 7 thường xuyên có những hành vi đó. Tình trạng báo động HS gây gổ đánh nhau, trong đó không chỉ có HS nam mà còn có cả HS nữ. Một tỉ lệ đáng kể (34,2% HS) cho biết là thỉnh thoảng có thực hiện hành vi gây gổ, đánh nhau. Bên cạnh đó, hành vi bỏ giờ, trốn học cũng trở thành phổ biến. Có đến 26,7 % HS được khảo sát thừa nhận thỉnh thoảng và 7,5% cho biết là thường xuyên. Tình trạng suy thoái đạo đức của một bộ phận giới trẻ nói chung và HS nói riêng không chỉ là kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu và theo dõi phản ánh của giới truyền thông, trong Văn kiện Đại hội Đảng khóa X (Đảng CSVN, 2006), Đảng ta cũng đã nhận định “Tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo ngại, nhất là trong giới trẻ”. 2.2.1. Thực trạng nền nếp và đạo đức đội viên – học sinh trường THCS Lý Tự Trọng: 2.2.1.1. Thuận lợi: – Đội TNTP Hồ Chí Minh trường THCS Lý Tự Trọng được sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, BGH nhà trường, các tổ chức đoàn thể. – Đội ngũ các anh, chị phụ trách luôn kịp thời trong việc thu nhận thông tin và vạch hướng giải quyết thông tin đến chi đội mình, cùng với sự nhiệt tình của BCH Liên, Chi đội và toàn thể đội viên trong Liên đội. – Ban giám hiệu nhà trường luôn tạo điều kiện về thời gian, hỗ trợ vật chất, kinh phí, trang thiết bị phục vụ cho các hội thi, các hoạt động công tác Đội và phong trào thanh thiếu nhi trong nhà trường. – Các đội viên nhiệt tình tham gia các hoạt động công tác Đội. – Các giáo viên chủ nhiệm là các anh chị phụ trách luôn quan tâm đến các hoạt động công tác Đội, các phong trào và các hội thi. – Nhiều năm liền Liên đội đạt và giữ vững Liên đội mạnh được giấy khen của Thành Đoàn. 2.2.1.2. Khó khăn: – Liên đội Trường THCS Lý Tự Trọng nằm sâu trong địa bàn dân cư, là trường thuộc phường có đời sống khó khăn, học sinh đa phần là con em người lao động nên tương đối khó khăn trong việc tham gia các hội thi, các hoạt động phong trào do các cấp tổ chức, hiệu quả còn thấp. Xây dựng môi trường yêu thương cho học sinh ở trường THCS 8 – BCH Liên, Chi đội nhiệt tình nhưng vì năng lực công tác Đội còn hạn chế nên việc tiếp thu, truyền đạt và tổ chức các hoạt động trong công tác Đội chưa thật tốt dẫn đến hiệu quả các hoạt động Đội còn thấp. – Kinh phí phục vụ cho hoạt động công tác Đội còn rất ít. – Đội viên hiểu biết về thế giới xung quanh còn hạn chế, ít quan tâm đến những vấn đề mang tính chính trị- xã hội, thời sự và kiến thức về lịch sử Việt Nam và thế giới. – Đội ngũ Ban chỉ huy Liên đội không được bồi dưỡng thường xuyên, hoạt động không đều tay, hay rụt rè, thiếu mạnh dạn, tự tin khi thực hiện nhiệm vụ; chưa mạnh dạn và phát huy năng lực lãnh đạo, chưa sáng tạo trong công việc nên chất lượng hoạt động chưa cao. Tình hình nề nếp đôi khi còn lộn xộn, chưa đi vào khuôn khổ; ý thức tự quản của các Chi đội và đội viên chưa đáp ứng được yêu cầu chung của Liên đội. – Hiện tượng học sinh cá biệt, học sinh hư hỏng gia tăng. Số học sinh này thường xuyên gây gổ đánh nhau, nói tục, chửi thề với các bạn, thường xuyên nói dối và không vâng lời cha mẹ, thầy cô giáo và người lớn, trốn học lang thang ngoài đường. Một số các em đã nghỉ học đi chơi điện tử và xem những ấn phẩm, sách báo, băng đĩa có nội dung xấu. Có những em tiếp thu bài kém lại có tính nhút nhát, không tích cực trong việc xây dựng bài ở lớp, nếu đi học thì đến lớp ngồi yên, lâu ngày các em trở nên lầm lì, không tích cực trong học tập, xem việc học là “cực hình” dẫn đến tình trạng thích bỏ học để đi chơi. Một số em thường hay nghỉ học không có lý do. Xuất phát từ những hạn chế, khiếm khuyết các mặt chuẩn mực hành vi đạo đức của học sinh, chưa nhận thức đúng đắn được vai trò, trách nhiệm của bản thân, dẫn đến chất lượng học tập và các hoạt động Đội của các em bị suy giảm. Trong nhiều năm qua, Liên đội trường THCS Lý Tự Trọng đạt danh hiệu Liên đội mạnh và giữ vững danh hiệu ấy trong nhiều năm liền. Xuất thân từ con em lao động nên bản chất các em học sinh trường THCS của tôi quản lý đều ngoan, thật thà, lễ phép với thầy, cô giáo. Các em được gia đình chăm sóc, nuôi nấng, dạy dỗ nên các em rất quý trọng người lao động, góp phần xây dựng kinh tế gia đình. Nhìn chung các em chăm học, chăm làm, cần cù khiêm tốn, có tinh thần tập thể, đoàn kết nhất trí, luôn phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện và đó xuất hiện nhiều tấm gương tốt trong đạo đức, học tập. Các em đã thể hiện trách nhiệm, giúp đỡ nhau trong hoàn cảnh khó khăn như ủng hộ cho quỹ “Vì học sinh có nguy cơ bỏ học”, thăm hỏi bạn Xây dựng môi trường yêu thương cho học sinh ở trường THCS 9 bè ốm đau, thực hiện tốt phong trào “Uống nước nhớ nguồn”, ủng hộ học sinh vùng cao, hội người mù … Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng thực chất của các hoạt động Đội của trường đều được tổ chức hoạt động, có sự tham gia giúp đỡ, hộ trợ từ nhiều phía của các tổ chức, ban ngành, chính quyền địa phương, nhìn chung các hoạt động ấy đều thành công tốt đẹp. Song thực tế mà nói thì chất lượng, hiệu quả của các hoạt động trong Liên đội vẫn chưa cao, chưa được như ý mong muốn của người làm công tác Đội. Bên cạnh đại bộ phận học sinh tốt vẫn còn những học sinh chưa tốt, vi phạm hành vi đạo đức học sinh. Đó là vô lễ với thầy cô giáo, không nghe lời cha mẹ, gây gổ đánh nhau, uống rượu, hút thuốc, nhuộm tóc, sử dụng điện thoại ở lớp học, ăn cắp tiền, xe đạp, máy tính casio, ăn quà vặt vặt và làm bẩn sân trường, thực hiện an toàn giao thông không nghiêm túc, yêu đương trai gái, đam mê chơi game dẫn đến học yếu, bỏ học… Nhiều hành vi tiêu cựu của học sinh đã và đang diễn ra theo nhiều hướng khác nhau. Phần nổi trong những hành vi tiêu cực của học trò được cảnh báo, còn phần chìm, có vô vàn kiểu nổi loạn của học sinh (HS) làm “đau đầu” nhà trường, gia đình. Kết quả khảo sát 200 học sinh trường THCS Lý Tự Trọng trong năm học 2018-2019 về vi phạm đạo đức: 80 HS (40%) còn quay cóp trong kiểm tra; 100 HS nói dối (50%); nói tục, chửi thề 45 HS (22,5%); thi thoảng có gây gổ, đánh nhau 40hs (20%); có 5 hs có ý muốn bỏ học (2,5%) cũng nói lên những khó khăn của nhà trường nói chung và của GV làm Tổng phụ trách Đội nói riêng. Các chuyên gia tâm lý cho hay, phía sau hành vi nổi loạn của học trò có thể chứa đựng rất nhiều vấn đề. Có em vì học yếu, không được ghi nhận ở một lĩnh vực nào khác nên nổi loạn để khẳng định bản thân, để thể hiện mình ở một môi trường khác. Nhưng cũng có thể các em nổi loạn để trốn tránh các vấn đề về gia đình, cuộc sống mà các em đang phải đối diện. Hành vi tiêu cực với việc phạm tội là một ranh giới cực kỳ mong mong nếu không được chấn chỉnh, ngăn chặn kịp thời. Theo Ông Trần Đăng Thảo (chuyên gia tâm lý Tổng đài 1088) nhấn mạnh HS có những hành vi tiêu cực như đua xe, nghiện hút, thích gây sự với mọi người… có thể là những biểu hiện cho thấy các em bị căng thẳng, trầm cảm do thường xuyên bị chê bai hoặc gặp sự cố trong cuộc sống gia đình, bạn bè, tình yêu… Ông Thảo nhấn mạnh, vấn đề tuổi mới lớn thường gặp là nguyện vọng độc lập do cha mẹ muốn con thực hiện theo khuôn mẫu do mình đặt ra, áp đặt suy nghĩ của mình lên con. Trẻ nổi loạn đôi khi nhằm thiết lập một chuẩn mực mới. Nhà trường, Xây dựng môi trường yêu thương cho học sinh ở trường THCS 10 gia đình cần phải nắm bắt được tâm lý, mong muốn của trẻ để có cách giáo dục phù hợp. 2.3. Giải pháp trong hoạt động của liên đội để tạo môi trƣờng biết yêu thƣơng: 2.3.1. Xây dựng trong nhà trường môi trường biết yêu thương: Đối với một nhà trường, lý do để nó ra đời, tồn tại và phát triển là ở nhiệm vụ chính trị, xã hội của nó, mà trước hết là trách nhiệm với HS. Điều này đã được quy định ở Điều lệ trường tiểu học, THCS, THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học. Theo đó nhà trường tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động giáo dục đạt chất lượng theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông các cấp do Bộ trưởng Bộ GD-ĐT ban hành. Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, mục tiêu này đã được xác định là giúp HS làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kỹ năng đã học vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội, có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại. Nhà trường có trách nhiệm tiếp thu ý kiến HS bằng những hình thức phù hợp; có trách nhiệm trả lời, giải quyết thỏa đáng những vấn đề thuộc phạm vi của mình hoặc trình cấp trên nếu vượt quá phạm vi của trường. Mặt khác, trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, chủ trương của ngành giáo dục là xây dụng mô hình: “Trường học hạnh phúc – Thầy cô hạnh phúc – Học sinh hạnh phúc”. Trường học cần trở thành một môi trường thân thiện, yêu thương để học sinh cảm thấy hạnh phúc mỗi ngày đến trường, giúp học sinh một cuộc sống có ý nghĩa. Ở nhà trường THCS, học sinh hầu hết ở độ tuổi còn nhỏ, từ 11 – 15 tuổi. Xét về phương diện tâm lí độ tuổi, lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị”…. Vì vậy nên trong hoạt động học tập cũng như các hoạt động Đội vai trò chỉ đạo, hướng dẫn của giáo viên Tổng phụ trách và giáo viên phụ trách là hết sức quan trọng và cần thiết để học sinh mến trường, mến lớp, để các em “Mỗi ngày đến trường thực sự là một ngày vui”. Đối với trường THCS ngoài hoạt động học tập phải nói đến vai trò rất quan trọng của hoạt động Đội. Tổ chức tốt các hoạt động Đội là tổ chức tốt các hoạt động vui Xây dựng môi trường yêu thương cho học sinh ở trường THCS 11 chơi, giải trí bổ trợ cho hoạt động học tập; là giáo dục cho các em biết tham gia tích cực các hoạt động cộng đồng, các hoạt động tập thể hữu ích. 2.3.2. Giải pháp thực hiện 2.3.2.1. Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ của lứa tuổi học sinh trung học cơ sở Ở lứa tuổi này hoạt động * Tri giác: các em đã có khả năng phân tích, tổng hợp các sự vật, hiên tượng phức tạp hơn khi tri giác sự vật, hiện tượng. Khối lượng tri giác tăng lên, tri giác trở nên có kế hoạch, cơ trình tự và hoàn thiện hơn. * Trí nhớ: của thiếu niên cũng được thay đổi về chất. Đặc điểm cơ bản của trí nhớ ở lứa tuổi này là sự tăng cường tính chất chủ định, năng lực ghi nhớ có chủ định được tăng lên rõ rệt, cách thức ghi nhớ được cải tiến, hiệu suất ghi nhớ cũng được nâng cao. Học sinh trung học cơ sở có nhiều tiến bộ trong việc ghi nhớ tài liệu trừu tượng, từ ngữ. Các em có những kỹ năng tổ chức hoạt động tư duy, biết tiến hành các thao tác như so sánh, hệ thống hóa, phân loại nhằm ghi nhớ tài liệu. Kỹ năng nắm vững phương tiện ghi nhớ của thiếu niên được phát triển ở mức độ cao, các em bắt đầu biết sử dụng những phương pháp đặc biệt để ghi nhớ và nhớ lại. Tốc độ ghi nhớ và khối lượng tài liệu được ghi nhớ tăng lên. Ghi nhớ máy móc ngày càng nhường chỗ cho ghi nhớ logic, ghi nhớ ý nghĩa. Hiệu quả của trí nhớ trở nên tốt hơn. Các em thường phản đối các yêu cầu của giáo viên bắt học thuộc lòng từng câu, từng chữ có khuynh hướng muốn tái hiện bằng lời nói của mình. Vì thế giáo viên cần phải: + Dạy cho học sinh phương pháp ghi nhớ lôgic. + Cần giải thích cho các em rõ sự cần thiết phải ghi nhớ chính xác những định nghĩa, những qui luật. Ở đây phải chỉ rõ cho các em thấy, nếu ghi nhớ thiếu một từ nào đó thì ý nghĩa của nó không còn chính xác nữa. + Rèn luyện cho các em có kỹ năng trình bày chính xác nội dung bài học theo cách diễn đạt của mình. + Chỉ cho các em, khi kiểm tra sự ghi nhớ, phải bằng sự tái hiện mới biết được sự hiệu quả của sự ghi nhớ.(Thường thiếu niên hay sử dụng sự nhận lại) + Giáo viên cần hướng dẫn các em vận dụng cả hai cách ghi nhớ máy móc và ghi nhớ ý nghĩa một cách hợp lý. Xây dựng môi trường yêu thương cho học sinh ở trường THCS 12 + Cần chỉ cho các em thiết lập các mối liên tưởng ngày càng phức tạp hơn, gắn tài liệu mới với tài liệu củ, giúp cho việc lĩnh hội tri thức có hệ thống hơn, đưa tài liệu củ vào hệ thống tri thức. * Tư duy : Hoạt động tư duy của học sinh trung học cơ sở có những biến đổi cơ bản: – Tư duy nói chung và tư duy trừu tượng nói riêng phát triển mạnh là một đặc điểm cơ bản của hoạt động tư duy ở thiếu niên. Nhưng thành phần của tư duy hình tượng – cụ thể vẫn được tiếp tục phát triển, nó vẫn giữ vai trò quan trọng trong cấu trúc của tư duy. – Các em hiểu các dấu hiệu bản chất của đối tượng nhưng không phải bao giờ cũng phân biệt được những dấu hiệu đó trong mọi trường hợp. Khi nắm khái niệm các em có khi thu hẹp hoặc mở rộng khái niệm không đúng mức. – Ở tuổi thiếu niên, tính phê phán của tư duy cũng được phát triển, các em biết lập luận giải quyết vấn đề một cách có căn cứ. Các em không dễ tin như lúc nhỏ, nhất là ở cuối tuổi này, các em đã biết vận dụng lí luận vào thực tiễn, biết lấy những điều quan sát được, những kinh nghiệm riêng của mình để minh họa kiến thức. Từ những đặc điểm trên, giáo viên cần lưu ý: + Phát triển tư duy trừu tượng cho học sinh trung học cơ sở để làm cơ sở cho việc lĩnh hội khái niệm khoa học trong chương trình học tập. + Chỉ dẫn cho các em những biện pháp để rèn luyện kỹ năng suy nghĩ có phê phán và độc lập 2.3.2.2. Xây dựng các hoạt động phù hợp để tạo môi trường thân thiện, yêu thương: Sự hoạt động của con người nói chung, của học sinh nói riêng thường đem lại một kết quả nhất định, những nhận thức mới về sự vật, những bài học kinh nghiệm và những dịp rèn luyện đạo đức phẩm chất. Quá trình hình thành phẩm chất đạo đức con người là lâu dài và bằng nhiều con đường, nhiều biện pháp. Xây dựng các hoạt động Đội phong phú về hình thức, toàn diện về nội dung, phù hợp với lứa tuổi là những bài học linh hoạt nhẹ nhàng, được nhắc đi nhắc lại, giúp các em tiếp thu một cách sâu sắc, rèn luyện một cách thoải mái, qua đó mà hình thành nhân cách con người mới. Hoạt động Đội chính là biện pháp giáo dục chủ yếu của Đội nên người phụ trách Đội xây dựng và thực hiện các hoạt động tích cực theo định hướng đã đề ra. Các hoạt động đó cần thực hiện được: Xây dựng môi trường yêu thương cho học sinh ở trường THCS 13 – Hoạt động Đội xác định phương hướng hành động cho người đội viên (học sinh) của mình. Hoạt động đưa các đội viên tiếp xúc với xã hội xung quanh, tạo môi trường khác nhau thuận lợi cho người đội viên phát huy khả năng toàn diện của mình giúp các em mạnh dạn suy nghĩ, hành động dưới sự hướng dẫn của tập thể theo một phương hướng nhất định đã được vạch ra ngay từ lúc các em bước vào tổ chức Đội. – Hoạt động Đội rèn luyện các em thành con người hành động. Đó là các hoạt động giúp các em biết tự tổ chức, có trách nhiệm về những hành động của mình, biết rút ra những kinh nghiệm hay cho mình. Đó là những con người có tinh thần trách nhiệm cao, những con người làm chủ tập thể, làm việc vì mọi người. Thông qua hoạt động Đội, người phụ trách Đội nói riêng và giáo viên nói chung hiểu rõ hơn đối tượng giáo dục của mình. Khi tham gia các hoạt động Đội các em sẽ bọc lộ những ưu điểm, khuyết điểm của mình, qua từng đợt hoạt động thầy cô và phụ trách Đội có đánh giá đúng đắn về các em của mình phụ trách để có thể đề ra những biện pháp giáo dục thích hợp đi và chiều sâu của từng vấn đề hơn. 2.3.2.2.1. Hoạt động Đội hướng các em vào hành động làm chủ xã hội, góp phần đáng kể vào xây dựng, bảo vệ và xây dựng phong trào thiếu nhi. – Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục thiếu nhi về lịch sử, truyền thống cách mạng của dân tộc, của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Đội TNTP Hồ Chí Minh và của địa phương gắn với Hành trình “Em yêu Tổ quốc Việt Nam” đến các địa chỉ đỏ trong các dịp kỷ niệm ngày lễ lớn của dân tộc, của Đoàn, Đội trong năm. – Tổ chức cho đội viên, học sinh tìm hiểu tác phẩm Lịch sử nước ta, 5 điều Bác Hồ dạy và các câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan đến thiếu nhi. Nghiên cứu triển khai các hình thức tuyên truyền mới, hấp dẫn học sinh, thiếu nhi như: infographic, phim ngắn, clip, phim hoạt hình… – Thực hiện nghiêm túc Lễ chào cờ, hát Quốc ca và
Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY
Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education
SKKN Một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường THCS
Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến 1. Cơ sơ lí luân Thực hiện Nghị quyết số 29 – NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện đổi mới đồng bộ các yếu tố: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, thiết bị và đánh giá chất lượng giáo dục. Với quan điểm trên thì học sinh có thể học tập dưới nhiều hình thức trong đó học tập dưới dạng trải nghiệm là chìa khóa thực hiện việc học đi đôi với hành, học qua làm việc, học giải quyết các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống hay trong lớp, trong trường. Đây là phương pháp ưu việt cho sự phát triển năng lực sáng tạo, giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức, hình thành các kĩ năng sống, giá trị và phẩm chất bản thân. Vì vậy, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là việc làm rất cần thiết, phù hợp với mục tiêu giáo dục, góp phần đào tạo “con người mới” với đầy đủ các mặt “Đức- Trí – Thể – Mĩ”. “Kĩ năng sống” là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống. Có thể nói, kĩ năng sống chính là nhịp cầu nối giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Người có kĩ năng sống sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách hiệu quả. Ngược lại, người thiếu kĩ năng sống thường bị vấp váp, thiếu tự tin, dễ bị thất bại trong cuộc sống. Chính vì vậy, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh có ý nghĩa rất quan trọng. Hoạt động giáo dục kĩ năng sống giúp các em xác định rõ giá trị của bản thân và tập thể, sống tự tin, có trách nhiệm với chính mình và xã hội. Khi được trang bị những kĩ năng cần thiết, các em sẽ tự chủ, tự tin, mạnh dạn để giải quyết tốt nhiệm vụ học tập và rèn luyện, biết cách ứng xử với các tình huống trong cuộc sống hàng ngày, giúp các em sống an toàn, mạnh khỏe và phát triển toàn diện về nhân cách. Kĩ năng sống của học sinh được hình thành thông qua hoạt động học tập, rèn luyện cũng như các hoạt động giáo dục khác trong và ngoài nhà trường. Qua nghiên cứu tôi thấy: Hoạt động trải nghiệm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc rèn kĩ năng sống cho học sinh. Bởi nhiệm vụ trọng tâm cơ bản của hoạt động trải nghiệm là củng cố, tăng cường nhận thức, bồi dưỡng thái độ tình cảm và hình thành hệ thống kĩ năng hành vi. Hoạt động trải nghiệm là những hoạt động gần gũi, phù hợp với tâm sinh lý 4 lứa tuổi, lôi cuốn các em học sinh tham gia. Học sinh dễ tiếp thu, được trải nghiệm trực tiếp các hoạt động từ đó hình thành kĩ năng một cách nhanh chóng. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm là một việc làm vô cùng cần thiết giúp các em say mê, hứng thú trong học tập, các em thấy mình mạnh dạn hơn trong giao tiếp, tự tin hơn trong công việc. Để làm được điều này, giáo viên Tổng phụ trách phải hết sức linh hoạt, có những phương pháp mới, cách làm mới mang lại hiệu quả giáo dục cao. Rèn kĩ năng sống cho học sinh là việc đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI: Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình, học để cùng chung sống. Đặc biệt, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh được xác định là một trong những nội dung cơ bản của phong trào thi đua: “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực ” hay “trường học hạnh phúc”. Bên cạnh đó, học sinh trung học cơ sở là lứa tuổi có nhiều thay đổi mạnh mẽ về thể chất, sức khỏe và tâm sinh lý (tuổi dậy thì). Ở lứa tuổi này thì các em dễ thay đổi tình cảm, hành vi, nhanh vui nhanh buồn. Mâu thuẫn giữa ý muốn thoát khỏi sự giám sát của bố mẹ, muốn khẳng định mình trong gia đình và ngoài xã hội với ý thức “các em vẫn còn là trẻ con” trong suy nghĩ của các bậc cha mẹ, thầy cô đã nảy sinh những xung đột mà các em chưa được trang bị kĩ năng cần thiết để ứng phó và giải quyết. Đây là một trong những nguyên nhân chính, dẫn đến tình trạng phạm pháp ở thanh thiếu niên, nhất là ở độ tuổi Trung học cơ sở ngày càng gia tăng đến mức độ đáng báo động trong toàn xã hội. Cho nên, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là việc làm cấp bách ở mọi bậc học nhưng đặc biệt với học sinh Trung học cơ sở. Hiểu rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng sống cho học sinh, với cương vị là Tổng phụ trách Đội, tôi đã lựa chọn và mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường THCS”. Sáng kiến kinh nghiệm của tôi đã được áp dụng tại đơn vị và mang lại hiệu quả rõ rệt. 2. Cơ sơ thực tiễn Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. “Trồng người” ở đây chính là phải tập trung giáo dục kĩ năng sống, trước khi giáo dục kiến thức cho học sinh. Trong bất kì ngôi trường nào chúng ta cũng nhìn thấy khẩu hiệu: “Tiên học lễ, hậu học văn”. Điều này cho thấy giá trị đạo đức, kĩ năng sống của con người mới chính là yếu tố hàng đầu làm nên sự thành công trong mọi lĩnh vực. Chính vì thế, trong những năm qua trường trung học cơ sở Phương Định thường xuyên nghiên cứu, cải tiến nâng cao chất lượng giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, không ngừng đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với nội dung chương trình. Đặc biệt chú trọng đến 5 việc“Giáo dục kĩ năng sống” cho học sinh. Nhà trường coi đây là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Cho nên, ngay sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống lồng ghép vào các môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Nhà trường đã tiến hành triển khai đồng bộ đến toàn thể cán bộ, giáo viên về việc tăng cường rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh. Đẩy mạnh thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Mỗi giáo viên trong nhà trường không chỉ nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ, mà còn thường xuyên quan tâm đến đời sống tinh thần, đến tâm tư tình cảm của học sinh. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường đã được quan tâm và chú ý đến. Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy tôi thấy tình trạng dạy và học kĩ năng sống hiện nay còn nhiều hạn chế bởi sách giáo khoa riêng về kĩ năng sống và khung chương trình dạy học chưa có. Ngoài ra, năng lực giáo viên còn hạn chế do chưa được đào tạo bài bản nội dung cũng như phương pháp giảng dạy. Chủ yếu tiếp cận và dạy học bằng kinh nghiệm, cho nên nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc tổ chức thực hiện các chương trình hoạt động. Bên cạnh đó, các trường chỉ tập trung vào việc cung cấp kiến thức chứ chưa hình thành kĩ năng cho các em. Nhiều học sinh không thể vận dụng linh hoạt kiến thức đã học vào cuộc sống dẫn đến khả năng ứng phó của các em với các tình huống thực tế chưa nhanh nhẹn, chưa mạnh dạn, chưa thật sự tự tin, đôi khi còn bế tắc trong cách xử lý sự việc. Đặc biệt về phía gia đình, nhiều phụ huynh học sinh còn coi trọng kiến thức nên chưa thực sự quan tâm đến việc giáo dục kĩ năng sống cho các em. Qua nghiên cứu tài liệu, tôi thấy các đề tài nghiên cứu trước đây đều có chung nhận định: Học sinh thời nay năng động, tự tin, mạnh dạn bày tỏ chính kiến của mình và thường có mức yêu cầu cao đối với bản thân. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các em bước đầu hình thành những quan niệm cơ bản về kĩ năng sống. Bên cạnh đó, các em cũng nhận định được nguyên nhân chính dẫn đến việc thiếu kĩ năng sống là do chưa có sự hòa hợp trong giao tiếp giữa các em với cha mẹ, thầy cô. Đồng thời cũng bị ảnh hưởng bởi lối sống, quan niệm sống từ bạn bè cùng lớp, cùng trường và từ các phương tiện thông tin đại chúng (mạng Internet, báo chí, diễn đàn…). Tuy nhiên, chỉ mới dừng ở việc nhận thức, đa số học sinh vẫn chưa tiếp cận được những biện pháp rèn luyện để hình thành kĩ năng sống. Điều này cần sự nỗ lực từ nhiều phía: Gia đình, nhà trường, xã hội và chính bản thân học sinh. Qua khảo sát thực nghiệm đối với các em học sinh trường trung học cơ sở Phương Định tôi thấy: Hầu hết các em biết được tầm quan trọng của kĩ năng sống và có những nhận thức ban đầu về việc tiếp xúc và giải quyết các tình huống. Tuy nhiên, hầu hết các em chưa được tiếp cận một cách thường xuyên và giáo dục đúng đắn về các kĩ năng sống. 6 Từ thực trạng trên tôi nhận thấy giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là một việc làm vô cùng cần thiết. Giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm không những giúp các em rèn luyện kĩ năng ứng xử, giao tiếp mà còn hình thành khả năng phân tích đánh giá tình hình, khả năng xử lý tình huống một cách hợp lí. II. Mô tả giải pháp kĩ thuât 1. Mô tả giải pháp kĩ thuât trước khi tạo ra sáng kiến Kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và vững vàng trước những thay đổi của cuộc sống… Hiểu một cách đơn giản: Kĩ năng sống là kĩ năng học tập, kĩ năng thích ứng và hòa nhập với cuộc sống, kĩ năng làm việc, hợp tác, giúp các em tạo dựng khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp mọi người trong xã hội, khả năng ứng phó, bảo vệ mình và những người xung quanh trước mọi tình huống của cuộc sống. Thực tế từ những năm 2016 trở về trước ban giám hiệu cùng với giáo viên trong trường chưa quan tâm nhiều đến giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp mà mới chỉ tập trung nhiều vào việc giảng dạy, nâng cao chất lượng văn hóa và những giờ dạy đạo đức cho học sinh trên lớp. Nhà trường cũng đã tổ chức một số hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh nhưng chưa thường xuyên, mới chỉ chú trọng đến học sinh khối 8 và khối 9. 2. Mô tả giải pháp kĩ thuât sau khi có sáng kiến 2.1. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua buổi sinh hoạt dưới cờ đầu tuần Thực hiện Đề án 1501/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ về “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2015-2020”, trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của ngành và Uỷ ban Nhân dân tỉnh Nam Định, các cơ sở giáo dục trong toàn ngành đã lồng ghép, tích hợp các hoạt động giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho học sinh trong các môn học, giờ sinh hoạt, trong đó có đổi mới tiết chào cờ đầu tuần… Qua đó, góp phần bồi dưỡng kiến thức, phẩm chất đạo đức, kĩ năng ứng xử, giao tiếp cho học sinh ngày càng tốt hơn. Vào sáng thứ 2 hàng tuần, trường Trung học cơ sở Phương Định tổ chức sinh hoạt dưới cờ cho học sinh. Khi hồi trống tập trung vang lên, học sinh từ các lớp náo nức cùng nhau ra xếp hàng chào cờ. Chỉ vài phút sau, mỗi lớp đã xếp thành hai hàng ngay ngắn trước sân khấu. Cùng lúc đó, các thầy cô giáo cũng đã ra đầy đủ ngồi dự cùng các em. Cả trường như rợp màu đồng phục dưới lá cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới. Tiếng trống chào cờ vang lên, cả trường im lặng trong một phút thiêng liêng thành kính. Tiếp theo là giai điệu quen thuộc của bài Quốc ca và Đội ca. Phút chào cờ là phút lắng đọng đầy thành kính và xúc động. Mỗi đội viên đều cảm nhận được sự 7 thiêng liêng của hình ảnh lá Quốc kì tung bay trong gió, nhắc nhở về sự hy sinh cao cả của thế hệ cha ông. Đội viên thầm hứa sẽ cố gắng học tập, phấn đấu dưới mái trường thân yêu của mình để trở thành người con ngoan, trò giỏi, đội viên tốt, cháu ngoan Bác Hồ. Sau nghi thức chào cờ trang nghiêm, Liên đội trưởng thay mặt Liên đội đánh giá tổng kết thi đua tuần trước. Bản tổng kết ngắn gọn nhưng đầy đủ thành tích của các lớp trong tuần vừa qua. Nhìn lại một tuần học tập và rèn luyện, học sinh nào cũng thấy vui vẻ khi được góp phần vào bảng thành tích của lớp. Tiếp theo, tôi tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp theo chủ đề đã được đăng ký từ đầu năm. Tiết mục văn nghệ đầu tuần của lớp 9A1 trường THCS Phương Định Tổ chức cho các em học sinh tham gia các trò chơi dân gian: Kéo co, bịt mắt bắt dê; biểu diễn dân vũ; thi văn nghệ; thi kể chuyện, hoặc thi hùng biện Tiếng Anh, tuyên truyền phổ biến pháp luật, tuyên truyền an toàn giao thông…. Không chỉ là những tiết học lý thuyết khô khan trên lớp, trong sách vở mà qua những buổi tuyên truyền, được tận mắt nhìn thấy những hình ảnh sống động sẽ giúp các em hào hứng, nắm chắc kiến thức về pháp luật từ đó biết điều chỉnh hành vi của mình theo những chuẩn mực đạo 8 đức, pháp luật. Đặc biệt là tuyên truyền và giáo dục học sinh các biện pháp phòng chống dịch bệnh Covid – 19, phòng chống “bạo lực học đường” vì nạn bạo lực học đường đang có xu hướng ngày càng gia tăng trên thế giới và ở Việt Nam, ảnh hưởng rất lớn đến quá trình đào tạo và phát triển con người của đất nước. Tuyên truyền phòng chống bạo lực học đường giúp học sinh biết đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ và để môi trường học đường luôn là một môi trường an toàn, lành mạnh. Các nội dung thi được lồng ghép vào tiết chào cờ. Hai tuần/1 lần sẽ có một lớp hoặc một khối biểu diễn…như vậy tiết chào cờ sẽ có thêm nội dung hấp dẫn. Tuy tiết chào cờ diễn ra trong thời gian ngắn nhưng đã mang đến cho các em niềm hân hoan, phấn khởi đón chào một tuần học mới. Tiếp thêm ý chí để mỗi em đội viên hoàn thành công việc trong tuần, đưa thành tích của lớp, của trường đi lên. Cán bộ giáo viên và học sinh trường THCS Phương Định trong buổi tuyên truyền về ATGT 9 Đồng chí công an huyện Trực Ninh tuyên truyền phổ biến pháp luật tại trường THCS Phương Định Lãnh đạo PGD-ĐT Trực Ninh trao quà cho học sinh trường THCS Phương Định trong chương trình An toàn trường học. 10 Học sinh trường THCS Phương Định trong buổi tuyên tuyền, phổ biến pháp luật. Hình ảnh Hội thi phòng chống bạo lực học đường của học sinh trường THCS Phương Định. 11 Ban giám khảo thu và chấm bài dự thi tìm hiểu về phòng chống bạo lực học đường, trường THCS Phương Định. Đại diện nhà trường trao thương cho các em tham dự cuộc thi “ Phòng chống bạo lực học đường”. 12 Những thay đổi trong tiết chào cờ không chỉ tạo ra không khí sôi nổi cho học sinh mà còn là một giờ học mới. Chính nhờ những thay đổi đó, đã khiến cho giờ chào cờ có ý nghĩa. Quan trọng hơn là tạo cho học sinh thói quen và hình thành những phẩm chất tư tưởng, đạo đức tốt đẹp, để cùng hành trang kiến thức giúp các em bước vào tương lai. 2.2. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua các hoạt động xã hội, đền ơn đáp nghĩa Đây là một hoạt động tuy khó nhưng nó mang một ý nghĩa vô cùng to lớn. Thông qua hoạt động xã hội, đền ơn đáp nghĩa giáo dục cho các em tình yêu quê hương đất nước, niềm tự hào dân tộc và giáo dục các em có tinh thần trách nhiệm, có nghĩa vụ đối với cộng đồng. Các em sẽ được bồi dưỡng thêm về nhân cách, đặc biệt là tình người. Trong những năm qua, hoạt động này được Liên đội trường Trung học cơ sở Phương Định tổ chức rất tốt và được triển khai thường xuyên nhằm phát triển tối đa nhân cách của học sinh. Vào dịp kỷ niệm ngày thương binh liệt sĩ 27/7 hay ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12,… Để ghi nhớ công ơn của các anh hùng liệt sĩ, những thế hệ cha anh đi trước, tôi đã tuyên truyền cho các em học sinh ý nghĩa nhân văn cao quý của những ngày lễ lớn này. Sau khi tuyên truyền, tôi tổ chức cho đội viên tham gia viếng nghĩa trang liệt sĩ, lễ thắp nến tri ân, tới thăm gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng trên địa bàn xã Phương Định. Tuyên truyền giáo dục học sinh biết yêu thương, chia sẻ khó khăn với đồng bào các vùng đang bị ảnh hưởng bởi thiên tai, lũ lụt, những gia đình bị ảnh hưởng do dịch bệnh Covid-19 gây ra. Giúp các em sống luôn biết chia sẻ “ Thương người như thể thương thân” và làm theo lời Bác dạy “ Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình”. Cách tổ chức này vừa phối hợp giáo dục truyền thống vừa rèn cho học sinh kĩ năng tự xác định giá trị, biết được những gì quan trọng, ý nghĩa đối với bản thân mình, có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống.
Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY
Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education