dàn âm thanh hội trường, âm thanh lớp học, âm thanh phòng họp, loa trợ giảng

SKKN Kinh nghiệm xây dựng bảng tính khẩu phần ăn cho trẻ trong trường mầm non thông qua ứng dụng EXCEL

SKKN Kinh nghiệm xây dựng bảng tính khẩu phần ăn cho trẻ trong trường mầm non thông qua ứng dụng EXCEL

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
[TÊN TÁC GIẢ] 2
Con người là một thực thể sống, nhưng sự sống không thể có được nếu
không ăn uống. Tất cả chúng ta đều thấy rõ tầm quan trọng của việc ăn uống,
đây là nhu cầu hàng ngày, cấp bách và bức thiết không thể không có. Không
chỉ giải quyết chống lại cảm giác đói, ăn uống là để cung cấp năng lượng cho
cơ thể hoạt động. Ngoài ra thức ăn còn cung cấp các axitamin, vitamin,chất
khoáng là những chất cần thiết cho sự phát triển của cơ thể, duy trì các tế bào,
tổ chức…
Thật vậy, nếu thiếu hoặc thừa các chất dinh dưỡng đều có thể gây bệnh
hoặc ảnh hưởng bất lợi cho sức khoẻ. Nhờ có sự phát triển của khoa học dinh
dưỡng, nhiều loại bệnh đã từng một thời là mối nguy hiểm với tính mạng của
con người như bệnh scocbút do thiếu Vitamin C đối với các thuỷ thủ, bệnh tê
phù do thiếu Vitamin B1 ở các vùng do ăn gạo xay xát quá kỹ, bệnh pellagrơ
do thiếu niaxin ở những vùng do ăn toàn ngô; những bệnh này đã lùi vào quá
khứ. Tuy vậy hiện nay trong thời kì của nền kinh tế thị trường các vấn đề nảy
sinh do chế độ dinh dưỡng không đầy đủ và không hợp lí vẫn còn là điều phải
quan tâm xem xét. Chúng ta biết rằng tình trạng dinh dưỡng tốt của mọi người
phụ thuộc vào khẩu phần dinh dưỡng thích hợp, được chăm sóc sức khoẻ đầy
đủ, có môi trường sống hợp vệ sinh. Ngoài ra, tình trạng dinh dưỡng còn phụ
thuộc vào các kiến thức ăn uống khoa học của mỗi người, các thói quen và tập
quán ăn uống của địa phương. Muốn khoẻ mạnh cần ăn uống hợp hợp lí và
được chăm sóc sức khoẻ đầy đủ. Vì vậy vấn đề đặt ra là chúng ta phải ăn
uống như thế nào cho hợp lí, cơ cấu bữa ăn nên như thế nào cho phù hợp với
lứa tuổi, phù hợp với quá trình lao động… nhằm giúp con người phát triển
khoẻ mạnh và phòng tránh được bệnh tật.
Nếu chế độ ăn của mỗi người thiếu về số lượng và không cân đối về chất
lượng sẽ bị giảm cân, thiếu máu, giảm khả năng lao động, tăng khả năng mắc
bệnh, bệnh tật sẽ nhiều hơn, nặng hơn và kéo dài hơn. Ngược lại, ăn quá
nhiều, ăn không cân đối hoặc cơ thể ốm yếu, khả năng tiêu hoá, hấp thu, sử
dụng các chất dinh dưỡng không tốt sẽ dẫn đến rối loạn các chức phận, thay
đổi các chỉ số hoá sinh, diễn ra các biểu hiện lâm sàng về các bệnh suy dinh
dưỡng và các bệnh không lây truyền như bệnh huyết áp cao, tim mạch, đái
đường và một số loại ung thư.
[TÊN TÁC GIẢ] 3
Ở trẻ em, tuổi cơ thể đang phát triển mạnh, nhu cầu dinh dưỡng rất lớn.
Nếu thiếu ăn, trẻ em sẽ là đối tượng đầu tiên chịu hậu quả của các bệnh về
dinh dưỡng như: suy dinh dưỡng protein-năng lượng, các bệnh do thiếu vi
chất dinh dưỡng (đần độn do thiếu iốt, hỏng mắt do thiếu viatmin A…), ở
nước ta vấn đề thiếu dinh dưỡng hiện nay vẫn còn là vấn đề nghiêm trọng ở
các vùng nghèo và tầng lớp nghèo. Bên cạnh đó, căn bệnh béo phì ở trẻ em có
xu hướng gia tăng ở một số đô thị lớn (như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh
và một số thành phố khác).
Việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ đúng cách ngay từ những năm đầu đời có
ý nghĩa vô cùng quan trọng, quyết định đến tương lai phát triển lâu dài của
trẻ. Chế độ dinh dưỡng hợp lý không chỉ giúp trẻ em tăng trưởng tốt về thể
chất, sức khỏe mà còn cả về trí tuệ. Chế độ dinh dưỡng của trẻ ở trường mầm
non góp phần quan trọng trong sự phát triển đó vì thời gian trẻ hoạt động, ăn,
ngủ ở trường chiếm tỷ lệ khá lớn so với thời gian trong ngày. Nếu có chế độ
dinh dưỡng ở trường mầm non khoa học, hợp lý sẽ giúp trẻ phát triển hài hòa
về thể chất, tinh thần.
[TÊN TÁC GIẢ] 4
* Xây dựng khẩu phần cân đối, hợp lý cho trẻ tại trường mầm non cần
phải đảm bảo các nguyên tắc:
– Bữa ăn cần đảm bảo nhu cầu của cơ thể không chỉ về số lượng, năng
lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết mà các chất đó còn tồn tại trong mối
tương quan cân đối và hợp lý. Nhu cầu năng lượng đủ và tỷ lệ giữa các chất
dinh dưỡng cân đối.
– Xây dựng thực đơn trong thời gian dài, ít nhất 7-10 ngày giúp cho việc
điều hòa khối lượng thực phẩm (mua, bảo quản…) cũng như để tổ chức công
việc chế biến, chi tiêu. Thực đơn sắp xếp trong thời gian dài giúp ổn định
công tác nuôi ăn.
– Số bữa ăn và giá trị năng lượng của từng bữa phù hợp với nhu cầu của
trẻ, loại hình vận động, tình trạng sinh lý và các điều kiện khác để phân chia
và áp dụng các bữa ăn cho hợp lý.
– Đảm bảo tính đa dạng về giá trị dinh dưỡng của mỗi bữa ăn. Để thực
hiện mục đích đó mỗi bữa không chỉ cần có đủ các nhóm thực phẩm mà ngay
trong cùng nhóm thực phẩm cũng nên thay thế nhiều loại khác nhau kể cả
thịt, ngũ cốc hay rau quả. Một phần rau quả nên ăn tươi. Các món ăn cần
phong phú về màu sắc, mùi vị, nấu nướng ngon lành, nhiệt độ thích hợp.
* Một khẩu phần cân đối và hợp lý đối với trẻ cần hội đủ các yếu tố sau
– Đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng cho chuyển hóa cơ bản, tăng trưởng và
vận động. Cân bằng giữa năng lượng tiêu thụ và năng lượng tiêu hao chính là
nguyên tắc dinh dưỡng hợp lý.
– Đáp ứng đủ nhu cầu các chất dinh dưỡng: chất đạm, chất béo, đường
bột, vitamin và muối khoáng theo tuổi, tình trạng sinh lý và vận động. Nhu
cầu một số dưỡng chất thường tỷ lệ với năng lượng khẩu phần.
– Phân bổ bữa ăn hợp lý ra các bữa ăn trong ngày và đảm bảo tính cân
đối giữa các chất đạm-béo-bột đường.
– Phân chia thực phẩm theo nhóm – Thay thế thực phẩm
+ Nhóm 1: Chất đạm bao gồm sữa thịt, cá, trứng, đậu đỗ và chế phẩm
của chúng (đậu phụ, sữa đậu nành…).
+ Nhóm 2: Các chất béo bao gồm chất béo động vật (mỡ, bơ…) và chất
béo thực vật (dầu, lạc vừng, dừa…).
+ Nhóm 3: Nhóm ngũ cốc cung cấp nhiều tinh bột (gạo, ngô, khoai,
sắn…). Là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu của bữa ăn (50-60%).
[TÊN TÁC GIẢ] 5
+ Nhóm 4: Nhóm rau quả cung cấp chất khoáng, vitamin.
* Trong đó cần chú ý: Không có loại thức ăn nào là không có chất dinh
dưỡng, tuy nhiên cũng không có thực phẩm nào chứa đầy đủ tất cả các chất
dinh dưỡng. Khẩu phần có giá trị cao chỉ khi trong thành phần có đủ mặt các
nhóm ở tỷ lệ thích hợp. Đó là nguyên tắc cơ bản của dinh dưỡng hợp lý.
* Khi xây dựng khẩu phần, không phải các thực phẩm luôn luôn có mặt
đầy đủ để tùy ý ta lựa chọn mà khác nhau tùy theo điều kiện cung cấp, thời
tiết. Mặt khác, tùy theo tập quán dinh dưỡng, món ăn cần được thay đổi, ngon
miệng, hợp khẩu vị. Do đó cần thay đổi thực phẩm này bằng thực phẩm khác.
Tuy nhiên để thành phần và giá trị dinh dưỡng của khẩu phần không bị thay
đổi, cần tôn trọng nguyên tắc:
– Chỉ thay thế thực phẩm trong cùng một nhóm. Ví dụ có thể thay thế thịt
bằng cá hay đậu phụ, thay gạo bằng ngô hay bột mỳ…
– Trong trường hợp cần thiết có thể thay thế các thực phẩm thuộc nhóm
có tính chất tương tự ví dụ thay thế một phần thịt bằng pho-mát hay đậu đỗ.
[TÊN TÁC GIẢ] 6
– Khi thay thế cần chú ý tính lượng tương đương thế nào để cho giá trị
dinh dưỡng của khẩu phần không bị thay đổi.
Vậy làm cách nào để các nhà trường xây dựng được khẩu phần ăn hợp lý
cho trẻ trong điều kiện thiếu nhân lực, nhân viên kế toán chủ yếu là kiêm
nhiệm. Bên cạnh đó, việc một khẩu phần ăn hợp lý để trẻ phát triển tốt còn
phụ thuộc vào thu nhập của phụ huynh ở từng khu vực và mức đóng góp cho
nhà trường để phục vụ công tác tổ chức bữa ăn cho trẻ cho trẻ. Với trăn trở
phải làm sao để có khẩu phần ăn hợp lý, đủ các yêu cầu năng lượng, cân đối
về ding dưỡng và phù hợp về giá thành, đồng thời giảm tiện cho công tác tính
toán của Giám hiệu và kế toán, tôi đã nghiên cứu và áp dụng đề tài “Xây
dựng bảng tính khẩu phần ăn cho trẻ trong trường mầm non thông qua
ứng dụng EXCEL”
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT.
1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
Công tác tổ chức nuôi ăn bán trú trong trường mầm non là một nhiệm vụ
vô cùng quan trọng. Nếu như việc không đảm bảo an toàn vệ sinh gây hậu
quả tức thì thì việc cung cấp cho trẻ một khẩu phần ăn không hợp lý sẽ có tác
hại lâu dài hơn như: trẻ còi xương suy dinh dưỡng, trẻ béo phì, trẻ phát triển
không cân đối…..Với cách tính cũ, các nhà trường chỉ xây dựng thực đơn, sau
khi tổ chức cho trẻ ăn rồi mới ngẫu nhiên tính khẩu phần ăn để kiểm tra điều
chỉnh nếu không cân đối. Quy trình này ngược và mất thời gian, không cho ra
một thực đơn với khẩu phần ăn hợp lý ngay từ đầu.
Việc tính khẩu phần ăn nhằm cung cấp cho trẻ bữa ăn hợp lý, cân đối
luôn được các nhà trường chú trọng và được các cấp quản lý thường xuyên
kiểm tra, rà soát, cải tiến. Việc tính khẩu phần ăn cũng đã được một số công
ty phần mềm xây dựng và đưa vào ứng dụng tại một số đơn vị nhưng đều gặp
phải một số hạn chế và không hiệu quả với lý do; các nhà trường không chủ
động thực hiện và thường xuyên điều chỉnh nếu không hợp lý; các nhà trường
không chủ động sửa chữa nếu phần mềm bị lỗi; không phù hợp thực tế, nảy
[TÊN TÁC GIẢ] 7
sinh nhiều vấn đề cần giải quyết khi triển khai nhưng việc giải quyết phải chờ
công ty phần mềm xử lý; tốn kém tiền bạc.
Để thực hiện đề tài, tôi đã tiến hành khảo sát về việc tính khẩu phần ăn
theo cách cũ đối với 20 người gồm; cán bộ, giáo viên, nhân viên dinh dưỡng,
nhân viên kế toán với nội dung như sau:

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ
Nội dung khảo sát.Không
Việc xây dựng thực đơn có đảm bảo cung
cấp tỉ lệ dinh dưỡng phù hợp và đủ năng lượng
không?
20/20
Một số vi chất dinh dưỡng có được đánh
giá trong bảng tính khẩu phần ăn không?
20/20
Cách tính khẩu phần ăn có đảm bảo việc
điều chỉnh phù hợp tối đa không?
20/20
Cách tính khẩu phần ăn có tiết kiệm thời
gian và thuận tiện cho nhân viên kế toán, thay
thế được nhiều loại sổ không?
20/20
Tổng hợp:0%100%

Đánh giá: 100% cá nhân được khảo sát đều nhận định không hiệu quả.
– Việc xây dựng thực đơn trước khi tính khẩu phần ăn chỉ đáp ứng được
yêu cầu đảm bảo đủ các nhóm thực phẩm, tương đối cân đối. Các món ăn
không lặp lại trong tuần.
– Không đảm bảo việc cung cấp đủ năng lượng, cân đối giũa các bữa ăn
và cân đối giữa các chất. Không xác định tỉ lệ cung cấp vi chất, muối, Ca, B1.
– Việc tính khẩu phần ăn chỉ mang tính kiểm tra về độ phù hợp, nếu
không phù hợp thì điều chỉnh nhưng không xác định được rõ kết quả điều
chỉnh có tối ưu không?
– Các xây dựng thực đơn và cách tính khẩu phần ăn cũ mất nhiều thời
gian và không thuận tiện cho nhân viên kế toán
2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến.
[TÊN TÁC GIẢ] 8
Thực hiện việc “Xây dựng bảng tính khẩu phần ăn cho trẻ trong trường
mầm non thông qua ứng dụng EXCEL” tôi muốn đạt được các mục đích sau.
– Việc xây dựng thực đơn và tính khẩu phần ăn phải đi đồng thời và cùng
điều chỉnh cho nhau.
– Thực đơn được kiểm chứng bằng bảng tính khẩu phần ăn trước khi tiến
hành tổ chức cho trẻ ăn phải đảm bảo về các yêu cầu:
+ Đủ lượng năng lượng cần cung cấp cho trẻ trong một ngày đến trường.
Đáp ứng tỉ lệ năng lượng trong các bữa ăn.
+ Đủ các nhóm chất cần cung cấp cho trẻ, tỉ lệ giữa các chấtcân đối .
+ Cung cấp phù hợp các vi lượng theo khuyến nghị như muối, Ca, B1.
– Đơn vị chủ động trong việc xây dựng thực đơn và khẩu phần ăn, đảm
bảo linh hoạt, phù hợp với mức thu và tận dụng được nguồn thực phẩm của
địa phương.
– Xác định được giá tiền của các bữa ăn để đảm bảo công tác chi tài chính
ổn định, phù hợp với kế hoạch thu chi.
– Tiết kiệm thời gian cho nhân viên kế toán và thay thế được 3 loại sổ
quản lý nuôi ăn.
Để thực hiện đề tài “Xây dựng bảng tính khẩu phần ăn cho trẻ trong
trường mầm non thông qua ứng dụng EXCEL” đảm bảo các yêu cầu đặt ra,
tôi đã thực hiện các giải pháp sau:
2.1 Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo về tổ chức các bữa ăn cho trẻ tại
trường mầm non.
a. Các văn bản chỉ đạo về việc tổ chức nuôi ăn cho trẻ của Bộ GD – ĐT.
Theo chương trình Giáo dục mầm non ban hành theo Thông tư số
17/2009/TT – BGD ĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng bộ GD –
ĐT và thông tư số 28/2016/TT – BGD ĐT ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Bộ trưởng Bộ GD – ĐT sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Chương trình
GD MN ban hành kèm theo thông tư số 17/2009/TT – BGD – ĐT. Việc tổ
chức nuôi ăn cho trẻ phải đảm bảo những yêu cầu sau.
* Đối với trẻ nhà trẻ từ 12 – 36 tháng;
[TÊN TÁC GIẢ] 9
– Nhu cầu khuyến nghị năng lượng/ngày/trẻ trong khoảng 930 –
1000Kcal
– Nhu cầu khuyến nghị năng lượng tại cơ sở giáo dục mầm non/ngày/trẻ
chiếm 60 – 70% nhu cầu cả ngày.
– Số bữa ăn tại cơ sở giáo dục mầm non: Gồm 3 bữa (Hai bữa ăn chính
và một bữa ăn phụ)
+ Năng lượng phân phối cho các bữa ăn
-> Bữa ăn 1: Bữa ăn trưa, cung cấp từ 30 – 35% năng lượng cả ngày.
-> Bữa phụ cung cấp từ 5 – 10% năng lượng cả ngày.
-> Bữa ăn buổi chiều cung cấp từ 25 – 30% năng lượng cả ngày
+ Tỉ lệ các chất cung cấp năng lượng được khuyến nghị theo cơ cấu:
-> Chất đạm (Protit) cung cấp khoảng 13 – 20% năng lượng khẩu phần.
-> Chất béo (Lipit) cung cấp khoảng 30 – 40% năng lượng khẩu phần.
-> Chất bột (Glxit) cung cấp khoảng 47 – 50% năng lượng khẩu phần.
– Nước uống: khoảng 0,8 – 1,6 lít/trẻ/ngày (kể cả nước trong thức ăn)
– Xây dựng thực đơn hằng ngày theo tuần, theo mùa.
* Đối với trẻ mẫu giáo (Từ 3 – 6 tuổi)
– Nhu cầu khuyến nghị năng lượng/ngày/trẻ trong khoảng 1230Kcal –
1320Kcal
– Nhu cầu khuyến nghị năng lượng tại cơ sở giáo dục mầm non/ngày/trẻ
chiếm 50-55% nhu cầu cả ngày.
– Số bữa ăn tại cơ sở giáo dục mầm non: Một bữa chính và một bữa phụ
+ Năng lượng phân phối cho các bữa ăn
-> Bữa ăn buổi trưa, cung cấp từ 30 – 35% năng lượng cả ngày.
-> Bữa phụ cung cấp từ 15 – 25% năng lượng cả ngày.
+ Tỉ lệ các chất cung cấp năng lượng được khuyến nghị theo cơ cấu:
-> Chất đạm (Protit) cung cấp khoảng 13 – 20% năng lượng khẩu phần.
-> Chất béo (Lipit) cung cấp khoảng 25 – 35% năng lượng khẩu phần.
-> Chất bột (Glxit) cung cấp khoảng 52 – 60% năng lượng khẩu phần.
– Nước uống: khoảng 1,6 – 2,0 lít/trẻ/ngày (kể cả nước trong thức ăn)
– Xây dựng thực đơn hằng ngày theo tuần, theo mùa.
b. Chuẩn bị các tài liệu tham khảo khác.
[TÊN TÁC GIẢ] 1
0
– Bảng thành phần thực phẩm Việt Nam do bộ y tế làm chủ biên và được
nhà xuất bản y học xuất bản. Trong đó có 567 trang, cung cấp về thành phần
dinh dưỡng và vi chất của 554 loại thực phẩm.
– Khuyến nghị về lượng muối, Ca, B1 của viên dinh dưỡng quốc gia.
– Bài viết “Xây dựng khẩu phần cân đối và hợp lý cho trẻ tại trường
mầm non” của BS. Nguyễn Minh Huyền chuyên viên Vụ Giáo dục Mầm
non, được đăng trên Tạp chí Giáo dục Mầm non.- Số 1/2014.- Tr.: 32 – 33
– “Giáo trình dinh dưỡng trẻ em” của tác giả Lê Thị Mai Hoa – Lê Trọng
Sơn – Trường Đại học sư phạm Hà Nội chủ biên và xuất bản.
2.2 Xây dựng yêu cầu cần thực hiện trong bảng tính khẩu phần ăn
Để có một bảng tính khẩu phần ăn hiệu quả tôi đã tự xác định các yêu
cầu cần thể hiện trong bảng tính.
– Có số liệu thể hiện số trẻ ăn trong ngày, cụ thể cả nhà trẻ và mẫu giáo.
– Số liệu về tỉ lệ % năng lượng cung cấp cho trẻ 01 ngày ở trường. Tỉ lệ
này cố định, được nhà trường xác định dựa trên quy định tại các văn bản, đặc
điểm vùng miền và mức thu nhập của phụ huynh.
Trong đó chú ý: Vì trẻ mẫu giáo và nhà trẻ đóng góp tiền ăn như nhau ở
trường, vì vậy cần lựa chọn% năng lượng để đảm bảo công bằng cho trẻ (1).
Ví dụ:

Nhà trẻMẫu giáo
-Nhu cầu khuyến nghị năng
lượng/ngày/trẻ trong khoảng 930
– 1000Kcal
– Nhu cầu khuyến nghị năng
lượng tại cơ sở giáo dục mầm
non/ngày/trẻ chiếm 60 – 70% nhu
cầu cả ngày.
=> Khi lựa chọn cung cấp cho
trẻ 1000Kcal trong ngày và 65%
khi ở trường thì sẽ bằng 650kcal.
-Nhu cầu khuyến nghị năng
lượng/ngày/trẻ trong khoảng
1230Kcal – 1320Kcal
– Nhu cầu khuyến nghị năng lượng
tại cơ sở giáo dục mầm non/ngày/trẻ
chiếm 50 – 55% nhu cầu cả ngày.
=> Khi lựa chọn cung cấp cho trẻ
Mẫu giáo 1300Kcal trong ngày và
50% khi ở trường thì sẽ bằng
650kcal.

– Số liệu về tỉ lệ năng lượng cung cấp cho trẻ 01 ngày ở trường được
phân chia thành các bữa ăn. Tỉ lệ này cố định, được nhà trường lựa chọn phân
[TÊN TÁC GIẢ] 1
1
phối vào các bữa ăn trong ngày sao cho phù hợp, đảm bảo trẻ ăn hết suất và
khoảng cách thời gian giữa các bữa đủ để tiêu hóa.
– Số liệu về tỉ lệ các chất (Prootein, Lipit, Gluxit để) có tổng số là 100%.
Các bữa ăn có thể cân đối về tỉ lệ các chất hoặc cân đối trong 01 ngày ăn tại
trường về tỉ lệ các chất.
Ví dụ: Nếu bữa phụ trẻ chỉ uống sữa sẽ không cân đổi được tỉ lệ các chất
ở bữa đó. Vì vậy có thể chỉ cần tính tổng các chất trong 1 ngày ăn ở trường có
tỉ lệ cân đối là đảm bảo yêu cầu.
– Thực đơn trong ngày đảm bảo đủ 03 bữa với nhà trẻ và 02 bữa với mẫu
giáo. không lặp lại trong 1 tuần, thực đơn có đủ 3 nhóm chất, trong 1 ngày
không quá nhiều loại thực phẩm. Quan tâm đến giá thành và các loại thực
phẩm theo mùa, thực phẩm có sẵn tại địa phương. Quan tâm đến các món ăn
mà trẻ đang hào hứng để đưa vào thực đơn.
– Tên, số lượng, số gam thực phẩm để nấu các món có trong thực đơn,
trong đó phải thể hiện được; Số gam thực phẩm còn sau khi sơ chế; số các
chất có trong thực phẩm; số Kcalo năng lượng có được sau khi tiêu thụ thực
phẩm; số g Ca, B1 có trong thực phẩm và đơn giá các loại thực phẩm để nấu
thành món có trong thực đơn dành cho 01 bữa của 01 trẻ, dành cho 01 bữa
của toàn bộ trẻ mẫu giáo, nhà trẻ và cả trường trong 01 ngày
– Đơn giá các loại thực phẩm. Trong đó: đơn giá phải ổn định ít nhất
trong 1 tháng.
– Lượng muối ăn cả 1 ngày của trẻ khuyến nghị 1g/10kg trọng lượng.
Với mức quy đổi 1g muối tương đương 5ml mắm.
– Quan tâm đến tỉ lệ thức ăn có Vitamin B1, và Ca, tuy nhiên không phải
ngày nào cũng cần cung cấp đủ nguồn đến thực phẩm có chứa vi chất.
– Nếu mức thu tiền ăn không đủ để đảm bảo các yêu cầu: Trẻ ăn ngon,
đủ năng lượng, cân đối các chất, thì phải lựa chọn phương án trẻ ăn no, đủ
năng lượng, cố gắng cân đối các chất ở mức có thể.
– Lựa chọn thực phẩm giàu Protein và lipit có cả nguồn gốc thực vật,
động vật.
– Năng lượng được tạo ra khi tiêu thụ các chất được tính theo công thức.
Năng lượng = số g Prôtein x 4,1+ số g Lipit x 9 + số g Gluxit x 4,1
[TÊN TÁC GIẢ] 1
2
2.3. Chuyển đổi tài liệu Bảng thành phần thực phẩm Việt Nam do bộ y tế
làm chủ biên.
Trong đó có 567 trang, cung cấp về thành phần dinh dưỡng và vi chất
của 554 loại thực phẩm thành 554 dòng trên định dạng EXCEL để chuẩn bị
cho việc lập bảng tính khẩu phần ăn. Trong đó quan tâm đến 05 chỉ số:
– Lượng Protein
– Lượng Lipit
– Lượng Gluxit
– Lượng Vitamin B1
– Lượng Ca.
* Bên cạnh đó chú ý đến ô tỉ lệ sử dụng: Tỉ lệ này không cố định mà do
chính nhà trường xác định tùy thuộc loại thực phẩm lựa chọn.
Ví dụ: Tỉ sử lệ dụng của rau = khối lượng ban đầu của rau – khối lượng
đã thải bỏ. Nếu như nhà trường nhập rau đã sơ chế thì khối lượng thải bỏ = 0.
Tỉ lệ sử dụng = 100%.
[TÊN TÁC GIẢ] 1
3
2.4. Xây dựng bảng tính.
a. Việc đầu tiên khi xây dựng bảng tính, tôi phải lựa chọn các thông tin
mình cần có để xây dựng các cột dòng. Các thông tin được liệt kê như sau:
+ Ngày tháng áp dụng bảng tính.
+ Thực đơn sử dụng trong ngày.
+ Năng lượng trong ngày.
+ Tỉ lệ năng lượng giữa các bữa.
+ Tỉ lệ các chất.
+ Các loại thực phẩm trong ngày theo thực đơn, trong đó có thông tin:
-> Số gam thực phẩm chia theo các bữa ăn. Tổng số gam thực phẩm
trong 1 ngày cho riêng trẻ nhà trẻ và mẫu giáo. Tỉ lệ sử dụng của từng loại
thực phẩm.
-> Số gam các chất có trong từng loại thực phẩm với nguồn gốc động vật
và thực vật.
-> Thành tiền số gam thực phẩm của từng trẻ, thành tiền số gam thực
phẩm cho riêng trẻ nhà trẻ và mẫu giáo, thành tiền số gam thực phẩm của cả
trường trong 1 ngày trẻ ở trường.
+ Năng lượng được tạo từ việc tiêu thụ các chất thể hiện theo từng bữa
ăn và tổng số bữa ăn trong ngày.
+ Tổng số gam Prôtein, Lipit, Gluxit cần đạt trong ngày.
+ Tổng số gam Prôtein, Lipit, Gluxit đã ăn trong ngày.
+ Tỉ lệ các chất đã đạt được trong 1 ngày ăn của trẻ ở trường.
b. Xây dựng bảng tính:
[TÊN TÁC GIẢ] 1
4
– Sau khi xác định các yêu cầu, tôi tiến hành xây dựng bảng tính trên ứng
dụng EXCEL với hình thức được gói trọn trong 02 trang A4 (Tại phụ lục 1)
c. Thuyết minh bảng tính khẩu phần ăn đã xây dựng.

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ