dàn âm thanh hội trường, âm thanh lớp học, âm thanh phòng họp, loa trợ giảng

SKKN Một số biện pháp ứng dụng phương pháp Glenn Doman nhằm mở rộng vốn từ cho trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non

SKKN Một số biện pháp ứng dụng phương pháp Glenn Doman nhằm mở rộng vốn từ cho trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Việc chăm sóc tốt cho trẻ lứa tuổi mầm non sẽ góp phần tạo nền móng vững chắc
cho sự phát triển toàn diện của trẻ. Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục mầm
non ngày càng khẳng định được vai trò to lớn của mình trong xã hội. Ý thức được
tầm quan trọng của giáo dục mầm non đối với sự phát triển trong những năm đầu
đời của trẻ nhà nước ta ngày càng chú trọng và đẩy mạnh phát triển giáo dục mầm
non.
Ngôn ngữ là thành tựu lớn nhất của con người nó là phương tiện giao tiếp
quan trọng của con người trong xã hội. Hơn thế ngôn ngữ là công cụ để chúng ta tư
duy, là chìa khóa vạn năng thông minh nhất để chúng ta mở kho tàng tri thức.Nhờ
có ngôn ngữ con người có thể trao đổi cho nhau những kinh nghiệm, hiểu biết; chia
sẻ với nhau những nguyện vọng, tình cảm. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non tạo
điều kiện cơ hội cho trẻ lĩnh hội những bài học kinh nghiệm lịch sử – xã hội của xã
hội loài người. Giúp trẻ tích lũy kiến thức, phát triển tư duy, giúp trẻ giao tiếp với
mọi người xung quanh, giúp trẻ lĩnh hội, điều chỉnh những giá trị đạo đức chuẩn
mực. Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong cuộc sống của con người. Nhờ có ngôn ngữ
mà con người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những kinh
nghiệm, tâm sự với nhau những điều thầm kín.
Vốn từ là nền móng để phát triển ngôn ngữ, mà ngôn ngữ đóng vai trò quan
trọng cho sự phát triển trí tuệ của trẻ. Mở rộng vốn từ cho trẻ là một trong những nội
dung của phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non. Vốn từ của trẻ Mẫu
giáo lớn thì đã phát triển hơn các lứa tuổi trước, số lượng từ loại đã tăng lên, trẻ có
thể hiểu và sử dụng được một số từ cơ bản vào trong giao tiếp, trẻ đã có thể hiểu
4
được những câu chuyện dài và phức tạp hơn, thậm chí còn kể lại được vài mẩu
chuyện theo đúng trình tự câu chuyện. Vốn từ ngữ của trẻ phát triển không ngừng cả
về số lượng lẫn chất lượng và trẻ biết cách sử dụng tốt vốn từ ngữ của mình trong
giao tiếp tuy nhiên vẫn chưa hoàn thiện. Việc mở rộng vốn từ cho trẻ nhằm làm tăng
số lượng từ trong trường nghĩa tạo điều kiện cho trẻ lựa chọn. Nếu vốn từ ít thì khả
năng lựa chọn sẽ bị hạn hẹp, hiệu quả dùng từ sẽ giảm, ảnh hưởng đến chất lượng
giao tiếp của trẻ. Vốn từ của trẻ mẫu giáo bé trẻ nói được khoảng 1200 từ, mẫu giáo
nhỡ khoảng 2000 từ nhưng đối với trẻ mẫu giáo lớn thì vốn từ của trẻ phong phú
hơn là khoảng 3000 từ. Đối với trẻ mấu giáo lớn, vốn từ của trẻ rất đa dạng, trẻ nghe
và nói được rất nhiều từ, hiểu được nhiều từ ngữ, những câu chuyện, câu dố, thuộc
các bài thơ, câu chuyện. Ở lứa tuổi này, ngôn ngữ của trẻ có tốc độ phát triển nhanh
cả về số lượng lẫn chất lượng, ngôn ngữ phát triển giúp trẻ biết tự hướng sự chú ý
của mình vào đối tượng nhất định. Tuy nhiên vốn từ của trẻ vẫn còn hạn chế, trẻ
chưa hiểu được các nghĩa khác nhau của từ như từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, biểu
cảm của từ và trẻ phát âm chưa mạch lạc nhất là các từ khó, có những trẻ hiểu được
nghĩa của từ nhưng cũng có nhiều trẻ chưa nắm bắt được hết nghĩa của từ cũng như
cách dùng từ ngữ chưa chính xác và không phù hợp với hoàn cảnh khiến giữa các
trẻ có sự chênh lệch phát triển không đồng đều. Do đó, việc mở rộng vốn từ cho trẻ
Mẫu giáo lớn là rất cần thiết để giúp trẻ giao tiếp tốt hơn. Ngày nay, có rất nhiều
phương pháp giáo dục mới cho trẻ trong đó có phương pháp Glenn Doman, phương
pháp này giúp sẽ phát triển toàn diện về cả thể chất, kích thích trí thông minh, trí tuệ
cảm xúc và cả năng lực thông qua những bài học về vận động, ngôn ngữ, lượng số
và cả thế giới xung quanh. Từ đó, vốn từ của trẻ được mở rộng, ngôn ngữ của trẻ
phong phú và đa dạng là những kiến thức cần thiết, những hành trang quan trọng
cho trẻ trong suốt chặng đường phía trước
5
Nhận thức được rõ về ý nghĩa và vai trò to lớn của nội dung nghiên cứu,
tôi đã lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp ứng dụng phương pháp Glenn
Doman nhằm mở rộng vốn từ cho trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non”
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT
1. Mô tả giải pháp kỹ thuật trước khi tạo ra sáng kiến
* Thực trạng
Trong quá trình triển khai nghiên cứu thực hiện đề tài này, tôi luôn được sự
quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường và tổ chuyên môn đã có kế hoạch giáo
dục từng chủ đề và tôi đã xây dựng kế hoạch với những biện pháp cụ thể để mở
rộng vốn từ cho trẻ tại lớp tôi, đây chính là những định hướng giúp tôi thực hiện
như: Nhà trường đã trang bị cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi đầy đủ cho trẻ trong
mọi hoạt động và giáo viên trong nhà trường đã được tiếp cận và làm quen với
phương pháp Glenn Doman
Nhưng bên cạnh đó, tôi cũng gặp một số những vấn đề sau:
Về phía trẻ: Khả năng sử dụng ngôn ngữ mạch lạc, tự tin của trẻ còn hạn chế,
trẻ chưa biết diễn đạt ngôn ngữ bằng lời một cách linh hoạt, khéo léo. Trẻ chưa hiểu
được những từ đồng nghĩa, trái nghĩa, từ khó, ý nghĩa của tu từ do đó khi trả lời trẻ
còn bị vấp chưa biểu đạt được ý của các từ, sử dụng từ sai ngữ cảnh. Vốn từ trẻ còn
hạn chế, nghèo nàn chưa phong phú
Về phía giáo viên: Một số giáo viên trẻ tuổi chưa có nhiều kinh nghiệm, vốn
từ chưa phong phú và việc nắm nghĩa các từ của giáo viên còn hạn chế nên giải
nghĩa cho trẻ còn chưa sâu. Giáo viên sử dụng phương pháp truyền thống, không
có phương pháp đổi mới trong các tiết học, các hình thức dạy học chưa phong
phú, chưa chú ý đến sự phát triển vốn từ cho trẻ
Về phía các bậc cha mẹ: Do cha mẹ bị công việc lôi cuốn nên ít có thời gian
quan tâm đến con và chưa nắm được đặc điểm phát triển vốn từ của con, nhiều trẻ
6
còn phát âm sai do ảnh hưởng của người lớn xung quanh
Để đạt được kết quả cao thì việc điều tra thực trạng và việc nhìn lại để đánh giá
kết quả của năm trước là vô cùng quan trọng . Vì đó là thước đo, từ đó giúp ta điều
chỉnh và định hướng được việc làm cần thiết cho năm tới sao cho đạt kết quả tốt
hơn.
Để làm rõ những khó khăn trên tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng tổ chức
hoạt động tại trường mầm non Thống Nhất và nhận thấy như sau:
Bảng 2.1. Khảo sát 15 giáo viên mẫu giáo về những năng lực tổ chức hoạt
động cho trẻ tại nhóm lớp theo phương pháp GD Glenn Doman của giáo viên

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ
STTNội dungKết quả trên giáo viên
TôtTỷ
lệ%
KháTỷ
lệ%
Trung
bình
Tỷ lệ%
1Lựa chọn nội dung
và lập kế hoạch tổ
chức các hoạt động
320533747
2Thực hiện hoạt
động dựa trên
phương pháp GD
Glenn Doman
173201173

Nhận xét: Qua bảng khảo sát trên ta thấy
Ở tiêu chí 1: Khả năng lựa chọn nội dung và lập kế hoạch tổ chức các hoạt
động của giáo viên có 20% đạt loại Tốt, 33% đạt loại khá, 47% đạt loại trung bình
Ở tiêu chí 2: Khả năng Thực hiện hoạt động dựa trên phương pháp GD Glenn
Doman có 7% đạt loại Tốt, 20% đạt loại khá, 73% đạt loại trung bình
-> Như vậy có thể thấy năng lực tổ chức các hoạt động cho trẻ tại nhóm lớp
theo phương pháp giáo dục Glenn Doman của giáo viên hiện nay còn rất thấp
7
Bảng 2.2. Khảo sát 35 trẻ tại trường Mầm non Thống Nhất
TP Nam Định
Kết quả khảo sát tại trường Mầm Non Thống Nhất

Nội dungTốtKháTrung
bình
KémGhi
chú
Trẻ biết sử dụng vốn từ
một cách phong phú,
đa dạng và phù hợp
3
trẻ
9%7
trẻ
20%10
trẻ
28%15
trẻ
43%
Trẻ hiểu được các từ
mang tính chất biểu cảm,
các từ đồng nghĩa,
trái nghĩa, từ khó
3
trẻ
9%5
trẻ
14%8
trẻ
23%19
trẻ
54%

* Nhận xét:
– Tiêu chí 1: Trẻ biết sử dụng vốn từ một cách phong phú, đa dạng và phù hợp
ở mức tốt rất thấp là 9%, mức khá là 20%, mức trung bình là 28%, còn mức kém là
43%
– Tiêu chí 2: Trẻ hiểu được các từ mang tính chất biểu cảm, các từ đồng nghĩa,
trái nghĩa, từ khó ở mức tốt rất thấp là 9%, mức khá là 14%, mức trung bình là 23%,
còn mức kém là 54%
=> Vì vậy, để mở rộng vốn từ cho trẻ thì phải có nhiều giải pháp hay lôi cuốn
và thu hút trẻ.
2. Mô tả biện pháp kỹ thuật sau khi tạo ra sáng kiến
Từ những khó khăn trên tôi đã đưa ra các biện pháp sau:
2.1. Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động nhằm mở rộng vốn
từ cho trẻ thông qua phương pháp Glenn Doman
Để trẻ phát triển vốn từ phong phú và đa dạng, ngay từ đầu năm học Tổ
chuyên môn và các đồng chí giáo viên đã xây dựng kế hoạch về việc tổ chức các
8
hoạt động ứng dụng phương pháp Glenn Doman của các khối cho cả năm học. Sau
các buổi họp về chuyên môn tôi định được các vẫn đề cốt lõi trong tổ chức thực hiện
hoạt động này trong cả năm học như sau:
+ Gợi ý nội dung các bài dạy về các bài học cho trẻ tại nhóm
+ Thời gian thực hiện các hoạt động phân chia theo thời gian trong từng tuần,
từng chủ đề
+ Hình thức tổ chức hoạt động sử dụng phương pháp Glenn Doman cho trẻ
thông qua các hoạt động hàng ngày
Nhờ có định hướng về các nội dung tổ chức hoạt động ứng dụng phương pháp
Glenn Doman trong cả năm học nên tôi có thể luôn chủ động xây dựng được kế
hoạch cho từng hoạt động cụ thể để tôi chuẩn bị tốt các bài học cho trẻ
Sau khi xây dựng kế hoạch hoạt động ứng dụng phương pháp Glenn Doman,
tôi tiếp tục tổ chức hoạt động học cho trẻ tại lớp của mình. Chính việc làm này đã
giúp đỡ cho tôi không gặp khó khăn trong việc lựa chọn nội dung bài học cũng như
dễ dàng tích hợp, lồng ghép nội dung của phương pháp Glenn Doman vào các hoạt
động trong ngày của trẻ, đồng thời giúp trẻ linh hoạt hơn và phát triển vốn từ cho trẻ
Ví dụ: Kế hoạch tổ chức hoạt động bằng phương pháp Glenn Doman
năm học 2018- 2019
KHUNG CHƯƠNG TRÌNH ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP GLENN DOMAN
Lứa tuổi: Khối mẫu giáo 5-6 tuổi

Thời gianNội dung hoạt độngChủ đề dự
kiến
Dự kiến địa
điểm tổ
chức
Tháng
9/2018
– Tìm hiểu về các loại hoa qua thẻ chữ
– Trẻ chơi với các thẻ chữ để gọi tên các
loại hoa
Các loại hoa

9

Tháng
10/2018
– Sự phong phú của các loại quả
– Khám phá các loại quả thông qua thẻ
chữ
Các loại quả– Ngoài trời
– Trong lớp
học
– Trong các
góc hoạt
động
Tháng
11/2018
– Động vật nuôi trong gia đình
– Động vật sống dưới nước
– Động vật sống trong rừng
– Các loại côn trùng
Động vật
Tháng
12/2018
– Tìm hiểu về một số nghềNghề nghiệp
Tháng
1/2019
– Đặc điểm của các loại cờ của các nướcCờ các nước
Tháng
2/2019
– Phương tiện giao thông đường bộ
– Phương tiện giao thông đường thủy
– Phương tiện giao thông đường sắt
– Phương tiện giao thông đường hàng
không
Phương tiện
giao thông
Tháng
03/2019
– Đặc điểm của các hình khốiHình khối
Tháng
04/2019
– Khám phá điều kì diệu của màu sắcMàu sắc

2.2. Biện pháp 2: Ứng dụng phương pháp Glenn Doman trong việc cung cấp
vốn từ cho trẻ
Glen Doman là phương pháp dạy con theo cách giáo dục sớm. Nhờ phương
pháp này, trẻ phát triển trí thông minh tốt, kích thích tiềm năng của mỗi đứa trẻ ngay
từ khi còn nhỏ. Cô hãy tạo cho trẻ sự thích thú trong mỗi “giờ học”. Với không khí
vui vẻ, những tấm thẻ chứa đầy sự mới mẻ, hấp dẫn đối với trẻ và tình yêu thương
của cô, trẻ sẽ có tâm lý thoải mái nhất và ghi nhớ một cách tốt nhất.
10
Tôi đã ứng dựng phương pháp Glenn Doman lồng ghép vào các hoạt động học
cho các con. Phương pháp này tạo hứng khởi và định hướng giúp trẻ thông minh
vừa học, vừa chơi, vừa mở trí thông minh, óc sáng tạo, tài năng cho trẻ. Trẻ được
phát triển một cách tự nhiên “Học mà chơi, chơi mà học”. Tôi đã thường xuyên lồng
ghép bài học cho các con, trẻ phát triển vốn từ rất nhiều và mang lại hiệu quả cao.
Cô cần chuẩn bị các loại thẻ Dot Card (giúp trẻ làm quen với số lượng và phép
toán), thẻ Flash Card (giúp trẻ làm quen với mặt chữ và từ vựng), thẻ theo chủ đề
(cây cối, con vật, danh xưng, …) giúp bé làm quen với thế giới xung quanh.
Để dạy trẻ theo phương pháp này thì cần những nguyên tắc nhất định. Cô phải
gây hứng thú cho trẻ như bắt đầu 1 trò chơi và học khi trẻ thoải mái nhất và luôn
dừng trước khi trẻ muốn dừng. Cô cho trẻ học đủ số lần rồi thì trẻ có muốn học
thêm cũng không được, hãy để sự hứng thú sang ngày mai. Giọng điệu cô phải
truyền cảm. Cô thực hiện thao tác đưa trẻ thật nhanh để duy trì sự hứng thú, nhưng
phải chú ý giữ giọng điệu tự nhiên, truyền cảm, đừng biến thành 1 cái máy và mỗi
thẻ chỉ đưa ra dưới một giây. Cô thao tác với 5 từ 1, sau khi hết 5 từ, hãy ôm hôn
con và khen con thông minh, thật hứng khởi. Sau mỗi lần tráo phải thay đổi thứ tự
thẻ.
Để duy trì hứng thú, tính phù hợp, tôi luôn thiết kế chương trình phù hợp và vui
nhộn, không được quá tải và chứa đầy kỳ vọng của cô, nên là những kiến thức gần
gũi trong thực tế, nên dạy hàng ngày, lượng tài liệu mới phù hợp nhu cầu của trẻ.
Cách thức tương tác phải thu hút. Cô thường xuyên để ý thái độ và tâm trạng của trẻ
khi học. Khi tráo thẻ, cô đưa thẻ cao hơn tầm với của trẻ, không mô tả, không tỉ mỉ
và nên chuẩn bị 200 từ đơn trước khi bắt đầu, phải chuẩn bị thẻ thật nhanhCô cần
thành thạo thao tác: Cầm thẻ tay trái, đỡ thẻ bằng tay trái và dùng ngón cái giữ 1
bên, 1 ngón còn lại giữ 1 bên, tráo bằng tay phải, tráo từ sau ra trước để nhìn thẻ.
Nguyên tắc tiếp cận: Bắt đầu từ từ đơn -> từ ghép -> cụm từ -> câu -> sách. Khi
11
tăng từ thì nên dựa vào những từ đã học (từ từ đơn sang từ ghép). Bắt đầu từ các
nhóm từ quen thuộc, trong nhóm cũng dạy các từ quen thuộc trước
Ảnh minh họa: Bộ thẻ chữ
Khi trẻ đã học được 200 thẻ từ đơn trở lên thì cô cho trẻ học từ ghép, cô cho
ghép các từ đã học với nhau thành các từ ghép, có thể lồng ghép thêm các từ mới.
Ghép các từ chỉ màu sắc với danh tư như: bưởi vàng, bưởi xanh v.v… Màu sắc: đỏ,
tím, xanh da trời, cam, vàng, đen, hồng, trắng, xám, xanh lá cây, nâu, tím nhạt…
Các từ trái nghĩa: to – nhỏ, dài – ngắn, béo – gầy, phải – trái, sạch – bẩn, vui vẻ -buồn,
bằng phẳng – gồ ghề, rỗng – đầy, đẹp – xấu, tối – sáng… Sau đó, cô cho trẻ đọc các
cụm từ (Có 3 cách, nên dùng cả 3): 5 thẻ tên người hoặc động vật + từ đơn + hành
động, dùng 1 bảng 15×40 cm để tạo 1 cụm 5 từ, giảm cỡ chữ xuống 5cm, cho xem 3
lần / ngày liên tục trong 5 ngày, sau đó bỏ đi 2, thêm mới 2. Chuyển nhanh vì trẻ sẽ
học rất nhanh. Làm quyển các cụm từ đơn giản, 5 cụm từ, có hình minh họa ( hình
của bé càng tốt), có thể làm cỡ 25cm x 60cm, gấp đôi, chữ cao 5m.
Khi trẻ đọc được các cụm từ rồi thì cô nên chuyển ch trẻ đọc các câu. Câu hoàn
chỉnh hơn: bổ sung trạng từ và tính từ vào các cụm từ bước thứ 3, ví dụ bước 3 là:
“mẹ đang ăn”, thì giờ là “mẹ đang ăn một quả chuối màu vàng”. Cỡ chữ bây giờ còn
12
5 cm. Học xong câu có thể cho trẻ chuyển qua đọc sách.Có thể tạo ra các câu lạ. Ví
dụ: bố đang ôm quả dâu… Việc ghép thành câu sẽ là 1 trò chơi thú vị, đôi khi nghe
thật lạ nhưng thật vui. Sẽ rất hay nếu từ 50 từ ghép thành thật nhiều câu. Có thể
dùng thẻ nhỏ hơn, giảm cỡ chữ (2,5cm), tăng số từ, chuyển sang chữ màu đen. Cỡ
chữ giảm từ từ để trẻ quen.
Mỗi ngày tôi cho trẻ xem 5 thẻ bất cứ theo chủ đề. Ngày hôm sau tôi bỏ 1 thẻ cũ đi
và thêm 1 thẻ mới vào. Với cách dạy này tôi không cần mất nhiều thời gian để soạn
thẻ theo chủ đề. Khi tôi vận dụng phương pháp này, trẻ hứng thú và học rất nhanh.
Qua đó, vốn từ của trẻ được mở rộng, ngôn ngữ của trẻ phong phú và đa dạng hơn
Phương pháp Glenn Doman khuyến khích trẻ hoạt động học một cách tự nhiên
bằng phương pháp áp dụng lồng ghép những từ ngữ như khi trẻ học đọc, học viết,
học nhìn nhận và ghi nhớ sự vật thông qua những hình ảnh, hoặc những mảnh bìa
hết sức đơn giản. Điều này có thể cho thấy rằng vốn từ mà trẻ học được rất quan
trọng, nhưng quan trọng hơn nữa đó chính là hiểu được tâm tư tình cảm của trẻ và
giúp trẻ yêu thích nó một cách tự nguyện chứ không mang tính chất ép buộc. Giáo
dục trẻ cần có thời gian cũng như phương pháp hiệu quả và hợp lý, luôn đặt trẻ lên
trước tiên để mang đến những điều tốt nhất cho trẻ. Bài học này không chỉ giúp trẻ
khỏe – thông minh – nhanh nhạy – vui vẻ mà còn rèn luyện cho bé kỹ năng tự học
suốt đời, tự thích nghi, phát triển một cách tích cực và nổi trội nhất, giúp trẻ mở
rộng vốn từ nhiều hơn.
13
Ảnh minh họa: Trẻ được học tráo thẻ bằng phương pháp Glenn Doman
2.3. Biện pháp 3: Phát triển khả năng nói mạch lạc và sử dụng vốn từ một cách
phong phú thông qua hoạt động làm quen với văn học
Phương pháp Glenn Doman được ứng dụng thông qua hoạt động làm quen với
văn học. Qua hoạt động này trẻ có thê biết lồng ghép các thẻ chữ thành những câu
thơ, đoạn hội thoại trong câu chuyện hoặc trẻ có thể đọc những đoạn truyện ngắn.
Hoạt động làm quen với văn học gồm các nội dung:
– Đàm thoại
Trò chuyện với trẻ theo câu hỏi: Đây là biện pháp chính hướng dẫn trẻ làm
quen với đối tượng nhận thức. Giáo viên chuẩn bị một hệ thống câu hỏi để trẻ trả
lời. Các câu hỏi có tác dụng hướng sự chú ý của trẻ tới đối tượng cần nhận thức, dạy
trẻ biết quan sát đối tượng một cách tổng thể cũng như quan sát tỉ mỉ các đặc điểm,
tính chất và các mối quan hệ của sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên. Các câu hỏi
cũng đồng thời kích thích trẻ nói, gọi tên hoặc mô tả đối tượng đang quan sát. Qua
đó vốn từ của trẻ ngày càng được mở rộng hơn. Giáo viên cần chú ý sao cho câu hỏi
đa dạng, buộc trẻ trả lời bằng các từ loại khác nhau như hỏi về tên gọi, đặc điểm tính
chất, công dụng, hoạt động,…
14
Ví dụ: Cô có con vật gì đây?
Con gà mái có những bộ phận nào?
Tiếng kêu của con gà mái như thế nào nhỉ?
Thức ăn của gà mái là gì?
Con gà mái có lợi ích gì?
Khi trò chuyện, tôi cũng có thể sử dụng phối hợp một số thủ thuật như nói
mẫu, nhắc lại, giảng giải, khen ngợi, cho trẻ sử dụng các thao tác sờ mó, cầm nắm
(đối với các vật thật).
Biện pháp sử dụng lời kể của cô giáo: Lời kể của cô giáo dễ gây hứng thú cho
trẻ khi quan sát và giúp trẻ tri giác toàn bộ đối tượng, thấy được mối quan hệ giữa
các sự vật, hiện tượng; điều này làm cho trẻ dần dần hiểu đầy đủ hơn ý nghĩa của từ.
Lời kể của cô giáo còn tạo ra mẫu mực ngôn ngữ cho trẻ noi theo về giọng nói, ngữ
âm, ngữ điệu, điệu bộ,… Yêu cầu lời kể của giáo viên phải rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu
đối với trẻ, chủ yếu là mô tả các đặc điểm, tính chất các hành động của đối tượng.
Lời kể cần logic đầy đủ các phần: mở đầu, mô tả, kết thúc. Mở đầu của lời kể là giới
thiệu về đối tượng cho trẻ làm quen và sau đó mô tả các chi tiết, các đặc điểm, tính
chất của đối tượng. Kết thúc lời kể là những nhận xét, đánh giá lời kể của trẻ. Giáo
viên có thể tiến hành kể trước hoặc sau khi trò chuyện, nó tùy thuộc vào khả năng
nhận thức của trẻ và mức độ phức tạp của chủ đề cho trẻ làm quen. Để trẻ hứng thú
trong bài học tôi đã sử dụng mô hình kết hợp với lời kể giúp trẻ dễ hiểu bài và hăng
hái trả lời các câu hỏi của cô, từ đó giúp trẻ nói nhiều hơn phát triển khả năng nói
mạch lạc, rèn tính tự tin cho trẻ.
15
Ảnh minh họa: Trẻ quan sát mô hình thông qua truyện “Chú đỗ con”
Cô cho trẻ tự kể những gì trẻ đã được làm quen: Đây là một biện pháp tích
cực hóa vốn từ của trẻ. Khi trẻ tự kể chuyện, trẻ sẽ gọi tên, kể ra các đặc điểm của
các loại hoa quả, con vật và đó là điều kiện để các từ ngữ ở trạng thái bị động
chuyển thành chủ động, tích cực.
Khi cho trẻ tiếp xúc với các tác phẩm văn học, tôi cần chú ý vận dụng các biện
pháp phù hợp để giúp trẻ hiểu nghĩa của từ, nhất là những từ ngữ nghệ thuật. Có thể
phối hợp vận dụng biện pháp dùng lời kết hợp với biện pháp quan sát. Để giải thích
cho trẻ hiểu từ trong tác phẩm văn học bằng biện pháp này thì trước hết cần phải chọn
từ có nghĩa cụ thể. Có như vậy thì việc sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với lời giải
thích mới đạt hiệu quả cao.
Ví dụ: Trong bài thơ Hoa kết trái có thể lựa chọn một số từ có nghĩa cụ thể
sau để giải thích:
“Chói chang” trong câu “Hoa lựu chói chang”
“Rung rinh” trong câu “Rung rinh trong gió”
16
Khi giải thích từ tôi phải đọc cả câu một đến hai lần hay đọc cả đoạn, như vậy từ
mới không bị tách khỏi ngữ cảnh và trẻ sẽ cảm nhận tốt hơn. Sau đó, tôi phải lựa chọn
đồ dùng trực quan phù hợp với từ đó, kết hợp với lời giải thích để giúp trẻ hiểu nghĩa
của từ mà tác giả dùng trong tác phẩm ấy. Lời giảng giải của tôi cần phải ngắn gọn, cô
đọng, dễ hiểu, hấp dẫn trẻ.
Ví dụ: Trong bài thơ Giữa vòng gió thơm
Tôi giải thích từ “khép rủ” trong câu “Cánh màn khép rủ”. Tôi cho trẻ quan
sát bức tranh vẽ một căn nhà nhỏ có chiếc giường, có người nằm bên trong, màn
buông xuống, hai cánh màn khép lại. Sau đó cô chỉ vào bức tranh và dùng lời để giải
thích cho trẻ hiểu. Tác giả đưa từ “khép rủ” vào câu thơ ý muốn nói tới cảnh bà bị
ốm nằm trên giường, không gian cũng trở nên ảm đạm, buồn bã.
Việc sử dụng biện pháp này yêu cầu giáo viên phải sử dụng đồ dùng trực
quan một cách linh hoạt, sáng tạo, kết hợp với lời giảng giải diễn tả về nghĩa của từ
trong văn cảnh đó sẽ giúp trẻ hiểu và cảm nhận từ ngữ nghệ thuật một cách sâu sắc,
tạo cho trẻ niềm say mê, hứng thú, tích cực, tìm tòi khám phá thế giới xung quanh.
– Giải nghĩa từ bằng cách so sánh, đối chiếu
Giáo viên giải nghĩa của từ mới này bằng cách so sánh với từ khác để thấy
được điểm khác nhau về nghĩa của hai từ. Từ đó trẻ sẽ khắc sâu hơn nghĩa của các
từ được giáo viên cung cấp
Ví dụ: + Giải nghĩa từ “đồi” bằng cách so sánh “đồi” với “núi”

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ


Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *