dàn âm thanh hội trường, âm thanh lớp học, âm thanh phòng họp, loa trợ giảng

SKKN Tổ chức dạy học chuyên đề Vật lý với giáo dục bảo vệ môi trường theo định hướng giáo dục STEM nhằm phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh

SKKN Tổ chức dạy học chuyên đề Vật lý với giáo dục bảo vệ môi trường theo định hướng giáo dục STEM nhằm phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề vô cùng cấp bách không chỉ riêng với
quốc gia nào mà của toàn thế giới, không chỉ riêng với thành thị mà cả nông
thôn, miền núi.Nó đe dọa đến nguồn nước, không khí, đất…ảnh hưởng trực tiếp
tới đời sống con người. Bảo vệ môi trường đã, đang và sẽ là vấn đề cấp thiết của
toàn nhân loại.Việc giáo dục ý thức và trang bị kiến thức về bảo vệ môi trường
cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ hàng đầu mà Liên Hiệp Quốc đề ra trong chiến dịch
bảo vệ môi trường.
Thế kỷ XXI là thế kỉ của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sự phát triển
khoa học kĩ thuật và công nghệ diễn ra nhanh chóng thúc đẩy sự phát triển của
mọi mặt đời sống xã hội.Cùng với nó thì vấn đề ô nhiễm môi trường sẽ càng trở
trầm trọng và việc bảo vệ môi trường càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, do
đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ – chủ nhân
tương lai của đất nước. Thế kỉ XXI đòi hỏi con người phải tích cực, chủ động,
năng động, sáng tạo, phát triển những phẩm chất và phát triển năng lực phù hợp
để đáp ứng nhu cầu đất nước và xã hội đồng thời phải có ý thức trong gìn giữ và
bảo vệ môi trường.
Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, “Vật lí với giáo dục bảo vệ
môi trường” là một trong ba chuyền đề dạy học lớp 10 nhằm hình thành kiến
thức về môi trường, ý thức bảo vệ môi trường cũng như kĩ năng tự học cho học
sinh khi bắt đầu bước sang giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp. Đây là
một nội dung mới hoàn toàn mà chương trình giáo dục cũ cũng chưa hề có. Nếu
có nhắc đến thì cũng chỉ ở mức độ tích hợp mở rộng, liên hệ thực tế nếu bài học
có liên quan.
Mặt khác, Nghị quyết số 29-NQ/TW tại Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp
hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới
mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của HS; khắc phục lối truyền
thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ,
khuyến khích tự học, tạo cơ sở để HS tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng,
phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học
tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy
mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học.”
Tuy nhiên thực tế ở các trường trung học phổ thông hiện nay, hoạt động đổi
mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông nói chung và môn Vật
2
Lý nói riêng chưa mang lại hiệu quả cao, dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến
thức lí thuyết. Việc rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết các tình huống
thực tiễn cho HS thông qua khả năng vận dụng tri thức chưa thực sự được quan
tâm. Việc áp dụng phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực
cho HS còn chưa nhiều, chưa triệt để nhất là dạy cho học sinh cách tự học, tự
tìm tòi khám phá và bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh. Hoạt động kiểm tra
đánh giá chủ yếu chú ý đến yêu cầu tái hiện kiến thức và đánh giá qua điểm số,
ít quan tâm quá trình tư duy xây dựng kiến thức, ít quan tâm vận dụng kiến thức
nhất là vận dụng sáng tạo trong các tình huống cụ thể mới lạ, thực tế dẫn đến hệ
quả là không rèn luyện được tính độc lập, tự giác sáng tạo trong quá trình
học. Việc tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học vẫn còn mang tính chất cục
bộ, chưa đồng loạt và chưa mang lại hiệu quả.
Trong các trường học, các địa phương, ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường
của học sinh cũng như người dâncòn chưa cao.Sự hiểu biết về ô nhiễm môi
trường, các nguyên nhân gây ô nhiễm cũng như hậu quả ô nhiễm còn hạn
chế.Việc xả rác bừa bãi ra sân trường là vấn đề thường thấy.Việc đốt rơm rạ
ngày mùa, những dòng sông nước đen toàn rác…là những hình ảnh quá quen
thuộc đối với người dân.Học sinh cũng như người dân chưa hiểu được các tác
hại của ô nhiễm môi trường cũng như sự cần thiết phải bảo bệ môi trường.Vì
vậy, giáo dục cho thế hệ trẻ biết được các nguyên nhân và tầm quan trọng của
môi trường là vấn đề cốt lõi để giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trườngvề lâu
dài. Giáo dục cho thế hệ trẻ cũng đồng nghĩa với việc sẽ hình thành cho các em
ý thức phải bảo vệ môi trường và tuyên truyền cho mọi thế hệ trong xã hội
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
Trong phân phối chương trình của bộ môn vật lí không có chuyên đề
riêng hay bài đọc riêng nào để nói về môi trường cũng như giáo dục bảo vệ môi
trường, đặc biệt là đề cập đến vai trò của vật lý trong giáo dục bảo vệ môi
trường. Trong khi đó, Vật lí là môn khoa học mang tính thực tiễn cao, chúng ta
hoàn toàn có thể đưa ra các biên pháp giáo dục bảo vệ môi trường với những ví
dụ liên quan đến kiến thức và rất gần gũi với sự hiểu biết của học sinh.
Trong quá trình giảng dạy, nhiều giáo viên đã chú ý việc liên hệ kiến thức
ra ngoài thực tế. Nhiều kiến thức trong vật lí có liên quan trực tiếp đến vấn đề
môi trường từ đó giáo dục cho các em về ý thức xây dựng và bảo vệ môi
trường.Tuy nhiên, việc làm này còn chưa thường xuyên, chỉ hạn chế ở một số
bài và không đồng loạt trong giáo viên. Đa số giáo viên chỉ dạy học liên hệ, tích
hợp khi có sinh hoạt chuyên đề, hay hội giảng.
3
Trong những năm gần đây, Bộ giáo dục và sở giáo dục cũng như các
trường học cũng đề cập đến việc dạy học tích hợp liên môn và kiến thức về môi
trường cũng là đề tài tích hợp được nhiều môn học như sinh, kỹ thuật công
nghiệp, kỹ thuật nông nghiệp, hóa học, vật lý….nhưng cũng chưa mang lại hiệu
quả và gần như đa số học sinh vẫn không chắc chắn được vật lý có liên quan gì
với môi trường hay không.
Mặc dù môi trường là rất quan trọng nhưng nhận thức học sinh về vấn đề
môi trường cũng như ô nhiễm môi trường còn rất hạn chế. Các em không biết
rằng nhiều vấn đề môi trường đang được quan tâm hiện nay đều có liên quan
trực tiếp đến quá trình vật lí.
Chính vì vậy, việc xây dựng một chuyên đề giáo dục học sinh vai trò của
vật lí với môi trường cũng như giáo dục bảo vệ môi trường là rất cần thiết trong
quá trình dạy học.Bởi chính những thế hệ trẻ này sẽ phải giải quyết bài toán ô
nhiễm môi trường đang ngày càng trầm trọng và cấp thiết. Muốn vậy, các em
phải hiểu sâu sắc tầm quan trọng của môi trường cũng như ý thức, trách nhiệm
của bản thân trong việc bảo vệ và xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp.
2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
2.1. Mục đích sáng kiến
Xây dựng, thực hành dạy và học chuyên đề “Vật lí với giáo dục về bảo vệ
môi trường” (Vật lí 10- Chương trình giáo dục phổ thông mới) theo định hướng
giáo dục STEM nhằm phát triển phẩm chất năng lực cho học sinh sẽ giúp cho
người học nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của môi trường đối với cá
nhân,tập thể, quốc gia và thếgiới. Từ đó có thái độ, ứng xử đúng đắn trước các
vấn đề về môi trường và dần hình thành nhân cách sống, ý thức trách nhiệm cho
các em trong cuộc sống.
Giáo dục STEM là một phương pháp dạy học đang được bộ và các trường
khuyến khích. Nó giúp học sinh tự lĩnh hội kiến thức một cách chủ động, rất
hiệu quả và thực hành vận dụng ngay vào trong cuộc sống, giúp các em chủ
động yêu thích môn học hơn và phát triển toàn diện hơn. Nếu áp dụng vào
chuyên đề này thì hiệu quả học tập sẽ cao hơn và ứng dụng vào thực tiễn hơn.
2.2. Đối tượng và phạm vi sáng kiến
– Đối tượng: Tiến trình dạy và học chuyên đề “Vật lí với giáo dục về bảo vệ
môi trường” (Vật lí 10- Chương trình giáo dục phổ thông mới) theo định hướng
giáo dục STEM nhằm phát triển phẩm chất năng lực cho học sinh.
– Phạm vi sáng kiến: Quá trình dạy và học chuyên đề Vật lí 10 tại trường
THPT Mỹ Lộc.
2.3. Giả thuyết khoa học
4
Nếu thực hiện được chuyên đề dạy học “Vật lí với giáo dục về bảo vệ môi
trường” đáp ứng được các yêu cầu của việc dạy học theo định hướng phát triển
nănglực tự học của học sinh thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học, đáp
ứng tốt nhiệm vụ mà chương trình giáo dục phổ thông mới đề ra, hình thành cho
các em phương pháp để tự tìm tòi và lĩnh hội kiến thức thay cho việc học thụ
động trên lớp.
Học sinh khi thấy được tầm quan trọng của môi trường với cuộc sống thì
các em sẽ tự hình thành ý thức bảo vệ môi trường qua những hành động cụ thể,
hành vi ứng xử tích cực trước các vấn đề về môi trường. Các em sẽ là những
nhân tố tích cực để bảo vệ và cải thiện môi trường trong tương lai.
2.4. Nhiệm vụ sáng kiến
– Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc phát triển năng lực của học sinh nói
chung và năng lực tự học nói riêng.
– Xác định được mục tiêu dạy học và xây dựng được nội dung dạy
học chuyên đề “Vật lí với giáo dục về bảo vệ môi trường”.
2.5. Phương pháp nghiên cứu
– Nghiên cứu lí luận dạy học Vật lí.
– Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc phát triển năng lực tự học của học sinh
trong dạy học; cơ sở lí luận của các phương pháp dạy học ở trường phổ thông.
– Phương pháp sử dụng công nghệ thông tin
– Phương pháp điều tra thực tiễn hoạt động dạy và học của GV và HS, điều
tra thực tiễn sự hiểu biết của học sinh về môi trường trong trường THPT Mỹ Lộc
– Phương pháp thực nghiệm.
5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN DẠY HỌC VẬT LÍ THEO ĐỊNH
HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH, DẠY
HỌC STEM VÀ THỰC TRẠNG TỰ HỌC VẬT LÍ CỦA HỌC SINH,
HIỂU BIẾT CỦA HỌC SINH VỀ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG.
1. Dạy học vật lí theo định hướng phát triển năng lực tự học của học
sinh THPT
1.1. Khái niệm năng lực
Theo quan điểm của những nhà tâm lý học thì năng lực là tổng hợp các đặc
điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt
động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao.
Như vậy năng lực có thể được hiểu:
– Thứ nhất là: chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một
hoạt động nào đó.
– Thứ hai là: Là một phẩm chất tâm sinh lí tạo cho con người có khả năng
để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao.
Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm
năng lực được sử dụng như sau:
– Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy học
được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành;
– Trong các môn học, những nội dung và hoạt động cơ bản được liên kết
với nhau nhằm hình thành các năng lực;
– Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn…;
– Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá
mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động và hành động dạy
học về mặt phương pháp;
– Năng lực mô tả việc giải quyết những đòi hỏi về nội dung trong các tình
huống cụ thể,… hiểu và vận dụng được các phép tính cơ bản;
– Các năng lực chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành nền tảng
chung cho công việc giáo dục và dạy học;
– Mức độ đối với sự phát triển năng lực có thể được xác định trong các
chuẩn: Đến một thời điểm nhất định nào đó, HS có thể/phải đạt được những gì?
1.2. Các năng lực chuyên biệt của bộ môn Vật lí được cụ thể hóa từ năng
lực chung
Thông qua dạy học phải phát triển cho học sinh các năng lực chung: Năng
lực tự học, Năng lực giải quyết vấn đề, Năng lực sáng tạo, Năng lực tự quản lí,
Năng lực giao tiếp, Năng lực hợp tác, Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và
truyền thông, Năng lực sử dụng ngôn ngữ, Năng lực tính toán. Các năng lực
6
chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành nền tảng chung cho công
việc giáo dục và dạy học. Từ các cách hiểu trên, chúng ta có thể nhận thấy năng
lực của học sinh phổ thông chính là khả năng vận dụng kết hợp kiến thức, kĩ
năng và thái độ để thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập, giải quyết có hiệu quả
những vấn đề có thực trong cuộc sống của các em. Từ các năng lực chung ta có
thể cụ thể hóa các năng lực chuyên biệt môn Vật lí như bảng sau:
Bảng 1: Bảng năng lực chuyên biệt môn Vật lí được cụ thể hóa từ năng lực chung

STTNăng lực chungNăng lực trong môn Vật lí
Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân
1Năng lực tự học– Lập được kế hoạch tự học và điều chỉnh, thực
hiện kế hoạch có hiệu quả.
– Tìm kiếm thông tin về nguyên tắc cấu tạo, hoạt
động của các ứng dụng kĩ thuật.
– Đánh giá được mức độ chính xác nguồn thông
tin.
– Đặt được câu hỏi về hiện tượng sự vật quanh ta.
– Tóm tắt được nội dung vật lí trọng tâm của văn
bản.
– Tóm tắt thông tin bằng sơ đồ tư duy, bản đồ
khái niệm, bảng biểu, sơ đồ khối.
– Tự đặt câu hỏi và thiết kế, tiến hành được
phương án thí nghiệm để trả lời cho các câu hỏi
đó.
2Năng lực giải
quyết vấn đề (Đặc
biệt quan trọng là
năng lực giải quyết
vấn đề bằng con
đường thực
nghiệm hay còn
gọi là năng lực
thực nghiệm)
– Đặc biệt quan trọng là năng lực thực nghiệm.
Đặt được những câu hỏi về hiện tượng tự nhiên:
Hiện tượng… diễn ra như nào? Điều kiện diễn ra
hiện tượng là gì? Các đại lượng trong hiện tượng
tự nhiên có mối quan hệ với nhau như nào? Các
dụng cụ có nguyên tắc cấu tạo và hoạt động như
thế nào?
– Đưa ra được cách thức tìm ra câu trả lời cho các
câu hỏi đã đặt ra.
– Tiến hành thực hiện các cách thức tìm câu trả lời
bằng suy luận lí thuyết hoặc khảo sát thực
nghiệm.
– Khái quát hóa rút ra kết luận từ kết quả thu
được.

7

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ
– Đánh giá độ tin cậy và kết quả thu được.
3Năng lực sáng tạo– Thiết kế được phương án thí nghiệm để kiểm tra
giả thuyết (hoặc dự đoán)
– Lựa chọn được phương án thí nghiệm tối ưu.
– Giải được bài tập sáng tạo.
– Lựa chọn được cách thức giải quyết vấn đề một
cách tối ưu.
4Năng lực tự quản líKhông có tính đặc thù
Nhóm năng lực về quan hệ xã hội
5Năng lực giao tiếp– Sử dụng được ngôn ngữ vật lí để mô tả hiện
tượng.
– Lập được bảng và mô tả bảng số liệu thực
nghiệm.
– Vẽ được đồ thị từ bảng số liệu cho trước.
– Vẽ được sơ đồ thí nghiệm.
– Mô tả được sơ đồ thí nghiệm.
– Đưa ra các lập luận lô gic, biện chứng.
6Năng lực hợp tác– Tiến hành thí nghiệm theo nhóm.
– Tiến hành thí nghiệm theo các khu vực khác
nhau.
Nhóm năng lực công cụ (Các năng lực này sẽ được hình thành trong quá
trình hình thành các năng lực ở trên)
7Năng lực sử dụng
công nghệ thông
tin và truyền thông
(ICT)
– Sử dụng một số phần mềm chuyên dụng (maple,
coachs…) để mô hình hóa quá trình vật lí.
– Sử dụng phần mềm mô phỏng để mô tả đối
tượng vật lí.
8Năng lực sử dụng
ngôn ngữ
– Sử dụng ngôn ngữ vật lí, ngôn ngữ toán học để
diễn tả quy luật vật lí.
– Sử dụng bảng biểu, đồ thị để diễn tả quy luật vật
lí.
– Đọc hiểu được đồ thị, bảng biểu.

1.3. Các phương pháp, hình thức dạy học Vật lí theo định hướng phát
triển năng lực cho học sinh
Các phương pháp dạy học Vật lí theo định hướng phát triển năng lực trong
dạy học thường được sử dụng và có vai trò quan trọng trong việc phát triển năng
lực chung và năng lực chuyên biệt Vật lí là: dạy học phát hiện và giải quyết vấn
đề, dạy học dựa trên tìm tòi khám phá…. Còn các hình thức dạy học có vai trò
8
trong việc phát triển năng lực đang được áp dụng có thể nêu ra ở đây là: dạy học
phân hóa, dạy học dự án, dạy học theo trạm, góc, dạy học theo tình huống, dạy
học webquest và đặc biệt là hướng dẫn tự học và bồi dưỡng năng lực tự học cho
học sinh….
1.4. Tổ chức hoạt động dạy học Vật lí theo định hướng phát triển năng
lực tự học của học sinh
1.4.1. Quan niệm về tự học
Theo quan điểm dạy học tích cực, bản chất của học là tự học, nghĩa là
người học luôn là chủ thể nhận thức, tác động vào nội dung học một cách tích
cực, tự lực, chủ động và sáng tạo để đạt được mục tiêu học tập. Theo đó, quá
trình hình thành kiến thức, kĩ năng, thái độ, chủ yếu là do HS tự thực hiện, còn
môi trường học, hình thức học chỉ đóng vai trò trợ giúp. Việc học chỉ có hiệu
quả khi người học ý thức được việc học (có nhu cầu học tập) từ đó có động cơ, ý
chí và quyết tâm để vượt qua những khó khăn, trở ngại trong học tập. Tự học là
một quá trình chủ thể nhận thức tác động một cách tích cực, tự lực, chủ động và
sáng tạo vào đối tượng học nhằm chuyển hoá chúng thành tài sản riêng, làm cho
chủ thể thay đổi và phát triển.
Do cuộc sống có nhiều biến động và phát triển vì vậy để đảm bảo đáp ứng
nhu cầu xã hội con người ai cũng phải tự học, song vấn đề quan trọng là tự học ở
mức độ nào và tự học như thế nào… và phải hướng tới học suốt đời.
Đặc điểm cơ bản quan trọng không thể thiếu của tự học là sự tự giác và
kiên trì cao, sự tích cực, độc lập và sáng tạo của HS tự mình thực hiện việc học.
Như vậy, tự học là sự tích cực, tự lực, chủ động của chủ thể nhận thức trong
hoạt động học, quá trình tự học do người học tự thực hiện tuy nhiên, cần chú ý
rằng với HS phổ thông để việc tự học đạt hiệu quả thường cần phải có sự hướng
dẫn, trợ giúp của GV hay người trợ giúp. Theo đó, GV cần tạo ra môi trường để
HS phát huy nội lực của mình trong quá trình khám phá kiến thức.
Tự họccó hai mức độ: tự học hoàn toàn và tự học có hướng dẫn. Tự học có
hướng dẫn là hình thức tự học để chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng
tương ứng với sự hướng dẫn tổ chức chỉ đạo của GV hay người hướng dẫn,
thông qua bài giảng hoặc tài liệu hướng dẫn học. Tự học có hướng dẫn là việc
học cá nhân và tự chủ, được sự giúp đỡ và tăng cường của một số yếu tố như
GV hay người hướng dẫn hay công nghệ giáo dục hiện đại. Khi đó, người học là
chủ thể, trung tâm, tự mình chiếm lĩnh tri thức, chân lí bằng hành động của
mình. Người thầy là tác nhân hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho trò tự học trong
sự hợp tác với bạn, với thầy, với học liệu,…
9
Như vậy, tựhọc là tự mình thực hiện việc học. Tự học không thể thiếu trong
hoạt động học, trong đó HS phải biết huy động hết khả năng trí tuệ, tình cảm và ý
chí của mình để lĩnh hội một cách sáng tạo tri thức kĩ năng và hoàn thiện nhân
cách của mình dưới sự hướng dẫn của GV. Kết quả tự học cao hay thấp phụ thuộc
vào kĩ năng tự học của mỗi cá nhân và đặc biệt với HS THPT thì còn phải phụ
thuộc rất lớn đến sự hướng dẫn của GV hay học liệu, phương tiện hỗ trợ,…
Xét theo con đường và không gian học tập thì tự học có thể diễn ra theo các
hình thức sau: Tự học không theo con đường nhà trường, học thông qua thực tế;
tự học ở trường lớp.
Quá trình tự học thường được diễn ra theo các giai đoạn: tự nghiên cứu, tự
thể hiện, tự điều chỉnh và vận dụng. Mỗi giai đoạn vừa nêu trên có các bước cơ
bản để thực hiện, có thể mô tả chúng như phần dưới đây:
– Giai đoạn I. Tự nghiên cứu
+ Bước 1. Xác định mục tiêu học tập, nội dung cần học, lên kế hoạch tự
học.
+ Bước 2. Xác định kiến thức, kĩ năng cơ bản thuộc mỗi nội dung hay
chủ đề;
+ Bước 3. Hệ thống hoá kiến thức. Xác định quan hệ giữa kiến thức, kĩ
năng mới thu nhận với nhau và với kiến thức, kĩ năng đã có;
– Giai đoạn II. Tự thể hiện và hợp tác
+ Bước 4. Tự thể hiện;
+ Bước 5. Thảo luận;
– Giai đoạn III. Tự điều chỉnh
+ Bước 6. Tự đánh giá;
+ Bước 7: Tự điều chỉnh;
– Giai đoạn IV. Vận dụng kiến thức
+ Bước 8. Vận dụng kiến thức: Vận dụng tốt kiến thức, kĩ năng là bước
cuối cùng của quá trình học hay tự học.
1.4.2. Vị trí, vai trò của tự học
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khoá XI
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo có nêu lên mục tiêu cụ thể,
trong đó có đề cập tới việc “phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích
học tập suốt đời”; trong các giải pháp có nêu “tập trung dạy cách học, cách nghĩ,
khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ
năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình
thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khoá, nghiên cứu khoa
học. Đẩy mạnh ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy và học”.
10
Như vậy:
– Tự học được xem là một mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học;
– Rèn luyện kĩ năng tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực cho
HS trong quá trình học tập;
– Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời.
1.4.3. Những thành tố cơ bản của tự học
Muốn tự học, mỗi người cần thiết phải có được bốn thành tố cơ bản, là:
a) Động cơ học tập gồm:
– Các động cơ hứng thú nhận thức;
– Các động cơ trách nhiệm trong học tập.
b) Học tập có kế hoạch
Để có được mục tiêu khả thi và hữu ích, HS cần xác định mục tiêu học tập
của mình theo năm yếu tố sau đây:
– Cụ thể và rõ ràng;
– Đo lường được;
– Có thách thức;
– Thực tế;
– Có thời gian để hoàn thành;
Sau khi đã xác định được các vấn đề trọng tâm, phải sắp xếp các phần việc
trong kế hoạch chung một cách hợp lí, logic về cả nội dung lẫn thời gian, đặc
biệt cần tập trung hoàn thành dứt điểm từng phần, từng hạng mục theo thứ tự
được thể hiện chi tiết trong kế hoạch như:
– Học ở đâu;
–Khi nào nên học tập;
– Học cho giờ lí thuyết;
– Học cho giờ cần phát biểu, trả bài;
– Sửa đổi kế hoạch học tập.
c) Thực hiện kế hoạch học tập để chiếm lĩnh kiến thức
Đây là giai đoạn quyết định và chiếm nhiều thời gian công sức nhất. Khối
lượng kiến thức và các kĩ năng được hình thành nhanh hay chậm, nắm bắt vấn
đề nông hay sâu, rộng hay hẹp, có bền vững không,… tuỳ thuộc vào chính bản
thân người học trong bước mang tính đột phá này. Theo đó, nó thường bao gồm
các hoạt động như:
– Tiếp nhận/thu thập thông tin:
+ Tìm kiếm thông tin:
+ Tiến hành thu thập thông tin:
+ Sắp xếp thông tin đã chọn lọc một cách hệ thống, theo từng nội dung.
11
– Xử lí thông tin: Để hình thành kĩ năng này, người học thường phải tiến
hành các thao tác như:
+ Tóm tắt, phân loại thông tin;
+ Phân tích thông tin;
+ Tổng hợp, hệ thống hoá thông tin:
– Vận dụng tri thức, thông tin:
– Trao đổi, phổ biến thông tin: Để hình thành và ngày càng hoàn thiện kĩ
năng này, người học thường phải thực hiện có hiệu quả các hành động như:
+ Hợp tác với bạn, với thầy;
+ Trình bày vấn đề bằng ngôn ngữ nói hoặc viết;
+ Tham gia tranh luận, trao đổi, chia sẻ thông tin.
d) Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập:
Trong bất kì hoạt động nào đánh giá kết quả cũng đều quan trọng, vì nó
giúp cho chủ thể kịp thời phát hiện ưu điểm hay thiếu sót, hạn chế và điều chỉnh
các hoạt động, phù hợp với mục đích đề ra. Trong tự học, tự kiểm tra, tự đánh
giá có một ý nghĩa quan trọng, đảm bảo kết quả, chất lượng của tự học.
Muốn học tập có hiệu quả, nhất thiết HS phải chủ động tự giác, học bất cứ
lúc nào có thể, bằng chính nội lực, vì nội lực chính là nhân tố quyết định cho sự
phát triển. Ngoài ra, còn rất cần tới vai trò của người thầy hay người trợ giúp với
tư cách là ngoại lực trong việc giúp cho HS có được một hệ thống kiến thức, kĩ
năng, thái độ,… cùng với phương pháp tự học cụ thể, khoa học, nhờ vào kinh
nghiệm của thầy. Nhờ đó, hoạt động tự học của HS ngày càng đi vào chiều sâu,
thực chất.
1.4.4. Hướng dẫn học sinh tự học
Để HS tự học có hiệu quả, ngoài việc tạo động cơ, hứng thú cho các em,
cũng như hướng dẫn các em lập kế hoạch học tập hay tự kiểm tra đánh giá còn
cần sử dụng một số phương pháp và kĩ thuật tự học thông dụng. Một vàiphương
pháp và kĩ thuật tự học thông dụng được đề cập như phần dưới đây:
a) Hướng dẫn học sinh nghe hiệu quảtrong tự học:Biết nghe giảng đúng
cách hay nghe tích cực sẽ giúp HS rút ngắn thời gian học tập, làm bài tập nhanh
chóng và dễ dàng hơn, tự tin, hứng thú hơn và không ngỡ ngàng khi gặp lại các
nội dung học tập, nhất là trọng tâm bài học.
b) Hướng dẫn học sinh tự ghi chép hiệu quả: Ghi chép không những có thể
khiến tăng cường sự tập trung mà còn là một công cụ hỗ trợ ghi nhớ. Khả năng
ghi chép phụ thuộc vào từng người và được bắt nguồn từ những kinh nghiệm có
sẵn. Ghi chép còn giúp chúng ta nguồn lưu trữ thông tin để sau này dùng lại hay
ôn lại nếu cần. Song để ghi chép được nhanh và hiệu quả nên sử dụng các thủ
12
thuật như: dùng từ viết tắt, dùng chữ bắt đầu của một từ; dùng các kí hiệu hoặc
tạo ra những từ viết tắt riêng cho mình; đặt tựa đề riêng cho đề mục và ghi lùi
sang phải từng chi tiết liên quan với đề mục; dùng những chấm riêng cho từng
dòng và xuống dòng cho mỗi chi tiết; chừa chỗ trống nhiều so với lề trái, khoảng
1/3 chiều ngang tờ giấy; … Không cần ghi lại mọi thứ mà hãy tư duy, lắng nghe
để hiểu và ghi được những điều quan trọng nhất. Lưu ý:
c) Hướng dẫn học sinh tự đọc hiệu quả là đọc một cách tập trung và kĩ
lưỡng để hiểu được chính xác những gì đọc được. Ta biết rằng một từ, một cụm từ
hay một chữ, thường có hai phần là âm và nghĩa. Đứng về mặt kĩ thuật, đọc là một
quá trình kết hợp lướt mắt qua các con chữ và nhập nghĩa của các con chữ đó vào
đầu.
d) Hướng dẫn học sinh tự đọc tích cực SQ3R (Francis Robinson, 1970)là
một kĩ thuật hữu hiệu nhằm giúp ta nắm được toàn bộ nội dung thông tin của
một tài liệu hay một quyển sách,…thông qua việc ta phải chú tâm tới đọc tài liệu
một cách tích cực.
e) Hướng dẫn học sinh ghi nhớ thông tin hiệu quả trong tự học: Ghi nhớ là
quá trình tiếp nhận thông tin và lưu giữ thông tin ấy trong đầu, để sau đó có thể
nhắc lại, dùng lại được. Ghi nhớ đòi hỏi yêu cầu cao với người học. Để có thể
ghi nhớ thông tin nhanh và lâu, cần lưu ý hướng dẫn học sinh thực hiện các các
bước sau:
–Đọc đi đọc lại;
– Nắm ý chính;
– Trích lược những chi tiết quan trọng;
– Ghi thành dàn bài;
– Nhẩm trong óc;
–Ghi ra giấy;
– Hỏi và tự trả lời.
g) Hướng dẫn học sinh liên tưởng trong tự học: Liên tưởng giúp các em
phát huy tính khám phá, tính sáng tạo bằng cách kết nối một vấn đề đang học,
một vấn đề đang gặp phải, cần được ghi nhớ, một vấn đề chưa thật quen thuộc,
chưa thật hiểu rõ, với cái mà mình đã biết. Nhờ đó, ta sẽ dễ nhớ và dễ truy cập, sử
dụng một vấn đề nào đó khi cần.
Để sử các em vận dụng tốt liên tưởng, cần hướng dẫn các em tìm các luật
liên tưởng: Luật đặc trưng, Luật tương phản; Luật gần nhau, Luật quan hệ.
Ngoài ra còn có: Luật sáng rõ; Luật lặp lại, Luật (thời gian) xa gần.

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *