Sau khi thành thạo các kĩ năng viết mở bài, thân bài nghị luận thì mời các em tham khảo Cách viết kết bài trong văn nghị luận.
Yêu cầu của kết bài văn nghị luận
Phần kết bài có tính chất tổng kết, khái quát những vấn đề đã trình bày ở phần thân bài.
Giáo sư Trần Đình Sử cũng đã nêu vấn đề này như sau : Một kết bài phải thể hiện đúng quan điểm đã trình bày ở phần thân bài, chỉ nêu những ý khái quát có tính tổng kết, đánh giá. Không lan man hay lặp lại cụ thể những gì đã trình bày ở thân bài hay lặp nguyên văn lời lẽ mở bài.
Cách viết kết bài trong văn nghị luận
Có 4 cách kết bài như sau:
Cách một : Tóm lược (tóm tắt quan điểm, nội dung đã nêu ở thân bài);
Cách hai: Phát triển , mở rộng thêm vấn đề đặt ra;
Cách ba: vận dụng, nêu phương hướng, bài học phát huy hay khắc phục vấn đề nêu ở thên bài;
Cách bốn: Liên tưởng, mượn ý tương tự – những ý kiến có uy tín- để thay cho lời tóm tắt của người làm.
Một kết bài hay trước hết là một kết bài đúng. Đúng nguyên tắc, đúng cách, cho nên một kết bài hay phải đi lên từ một kết bài đúng.
Kết bài 1: Người lính Tây Tiến ra đi nhưng hình ảnh của anh không bao giờ mờ phai trong tâm trí con người. Hình ảnh người lính và những kỉ niệm đậm mãi trong lòng Quang Dũng và chúng ta “Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi” Bài thơ khép lại nhưng âm điệu vẫn vang vọng mãi trong tâm hồn mỗi chúng ta. Nhịp điệu trùng điệp, nét lãng mạn hào hùng của bài thơ để lại dấu ấn trong ta. Có những tác phẩm đã gặp nhiều nhưng ta lại quên đi nhưng có những tác phẩm ta bắt gặp một lần nhưng sống mãi. Ấy là Tây Tiến.
Kết bài 2: Mở đầu bài thơ là dòng sông Mã và kết thúc bài thơ vẫn là tiếng gầm réo của dòng sông. Dòng sông tiễn đưa a và lại đón anh về. Quang Dũng một lần nữa khẳng định ý niệm “nhất khứ bất phục hoàn”(một đi không trở lại). Đó cũng chính là ý chí quyết tâm của cả thế hệ-của cả một thời đại. Những gian khổ hi sinh của cuộc kháng chiến là những kỉ niệm không thể nào quên. Sẽ không bao giờ có lại thời kì gian khổ đến như thế và hào hùng đến như thế. Và cũng khó có một bài “Tây Tiến” lần thứ hai.
Văn nghị luận là một dạng văn mà trong bài người viết, người nói tác giả dùng chủ yếu các lý lẽ, các dẫn chứng sau đó lập luận chỉ ra các những điểm nhấn, luận điểm nhằm xác định chỉ ra cho người đọc, người nghe thấy được tư tưởng, quan điểm của tác giả gửi gắm vào tác phẩm.
Văn nghị luận được viết ra nhằm giúp cho người đọc, người nghe tin, tán thưởng và hiểu để cùng đồng hành với người viết
Đặc điểm của văn nghị luận
Mỗi bài văn nghị luận đều phải có luận điểm, luận cứ và lập luận:
Luận điểm là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm trong bài văn nghị luận. Một bài văn thường có các luận điểm:
luận điểm chính
luận điểm xuất phát
luận điểm khai triển
Luận cứ là đưa ra dẫn chứng và lí lẽ nhằm sáng tỏ luận điểm.
Lập luận là cách tổ chức vận dụng lí lẽ, dẫn chứng sao cho luận điểm được nổi bật và có sức thuyết phục. Lập luận bao gồm các cách suy lý, quy nạp, diễn dịch, so sánh, phân tích, tổng hợp sao cho luận điểm đưa ra là hợp lý, không thể bác bỏ.
Bố cục của một bài văn nghị luận
Bố cục của bài văn nghị luận gồm có:
Đặt vấn đề (mở bài). Giới thiệu vấn đề, tầm quan trọng của vấn đề, nêu được luận điểm cơ bản cần giải quyết. Mời các em tham khảo Cách viết mở bài nghị luận.
Giải quyết vấn đề (thân bài). Triển khai các luận điểm, dùng lí lẽ dẫn chứng lập luận để thuyết phục người nghe theo quan điểm đã trình bày. Mời các em tham khảo Cách viết thân bài nghị luận
Kết thúc vấn đề (kết bài). Khẳng định tầm quan trọng, ý nghĩa của vấn đề đã nêu.
Các loại văn nghị luận
Trong chương trình học THCS và THPT, các loại văn nghị luận gồmcó:
Nghị luận về một vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học
Nghị luận văn học
Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
Nghị luận về tác phẩm truyện
Ngoài những kiến thức trọng tâm trên, để hoàn thành tốt bài làm văn của mình, bạn còn cần ghi nhớ đầy đủ các lạo thao tác lập luận trong một bài văn nghi luận.
Tương ứng với luận điểm: Tùy theo đề có thể một hoặc nhiều luận điểm, các luận điểm liên quan với nhau và làm sáng rõ chủ đề.
Tương ứng với luận cứ: Đó là những khía cạnh và lí lẽ làm sáng tỏ luận điểm. Mỗi luận điểm có thể nhiều luận cứ được minh họa bằng dẫn chứng.
Các đoạn văn ở phần trình bày luận cứ và dẫn chứng có quan hệ phụ thuộc với đoạn văn ở luận điểm.
Tương ứng với tiểu kết của luận điểm.
Tương ứng với sự chuyển tiếp của hai luận điểm.
Yêu cầu về diễn ý và hành văn hay
Sau khi đã có ý thì vấn đề quan trọng không kém là cách diễn đạt hay. Biết diễn đạt khéo léo thành lời văn cụ thể sẽ có một đoạn văn hay. Diễn ý hay phụ thuộc nhiều yếu tố sau đây tôi xin nêu ngắn gọn các yếu tố tạo nên như sau:
Giọng văn và sự thay đổi giọng văn trong bài viết.
Dùng từ độc đáo.
Viết câu linh hoạt.
Viết văn có hình ảnh.
Biết so sánh phù hợp.
Dẫn chứng và trình bày dẫn chứng.
2. Cách viết thân bài nghị luận
Các em học sinh cần luyện tập viết từng đoạn văn một, sau khi đã có khả năng lập luận, diễn đạt tốt thì sẽ thử sức với việc viết cả một bài văn dài.
Luyện viết đoạn văn tương ứng với luận điểm
Yêu cầu : Trình bày rõ ràng, chính xác nội dung luận điểm trong câu chủ đề. Câu chủ đề thường đặt ở vị trí đầu đoạn (đoạn diễn dịch) hoặc cuối đoạn (đoạn quy nạp)
Minh họa:Bình luận cách nhìn của Nam Cao về người nông dân qua tác phẩm “Đôi mắt”?
Mẫu: Luận điểm: Sự đối lập về cách nhìn của Hoàng và Độ về người nông dân. Đoạn văn: Hai nhân vật trung tâm trong truyện ngắn này là Hoàng và Độ. Hai người đại diện cho hai cách nhìn về người nông dân. Người kia chỉ nhìn thấy cái hình thức bên ngoài lố bịch , ngu dốt, đáng khinh và đáng cười của người nông dân. Người kia biết vượt qua được hình thức bên ngoài, nhìn thấy “những nguyên cớ thật đẹp bên trong” của người dân cày. Nam Cao đã làm nổi bật tư tưởng , thái độ cũng như quan điểm của mình qua sự đối lập cách nhìn của hai nhân vật này về người nông dân.
Viết đoạn văn tương ứng với luận cứ.
Yêu cầu: Cách viết các đoạn văn tương ứng với luận cứ phải căn cứ vào yêu cầu của từng dạng đề như phân tích, chứng minh, giải thích, bình giảng…
Minh họa: Đề 1: Phân tích vẻ đẹp của tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống ở các nhân vật: Tràng, người vợ nhặt, bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân? Luận cứ: Tình huống của vợ nhặt. Đoạn văn: Có thể nói Kim Lân đã thật xuất sắc khi dựng lên tình huống “nhặt vợ” của anh cu Tràng. Tình huống ấy là cánh cửa khép mở để nhân vật bộc lộ nét đẹp trong tâm hồn mình. Dường như trong đói khổ người ta dễ đối xử tàn nhẫn với nhau, khi miếng ăn của mỗi người chưa đủ thì làm sao có thể đèo bòng thêm người này, người kia. Trong tình huống ấy, người dễ cấu xé nhau, dễ ích kỉ hơn là vị tha và người ta dễ đối xử tàn nhẫn làm cho nhau đau khổ. Nhưng nhà văn lại khám phá ra một điều ngược lại như ở nhân vật anh cu Tràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ. Chúng ta từng kinh hãi trước “xác người chết đói ngập đầy đường” “người lớn xanh xám như những bóng ma” , trước không khí “vẩn lên mùi hôi của rác rưởi và mùi gây của xác người”, từng ớn lạnh trước “tiếng quạ kêu từng hồi thê thiết” ấy, nhưng lạ thay, chúng ta không thể cầm lòng xúc động trước nghĩa cử cao đẹp mà bình thường, dung dị ấy của Tràng, bà cụ Tứ và cả người vợ ấy của Tràng nữa.
Đề 2: Phân tích bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng? Luận cứ: Nét lãng mạn và hào hùng của người chiến sĩ Tây Tiến. Đoạn văn: Giữa bao nhiêu khó khăn hình tượng người lính Tây Tiến vẫn luôn “Quân xanh màu lá giữ oai hùm” Nét dữ tợn của người lính Tây Tiến ở đây không hề bị nhạt đi trong lòng người đọc. Bệnh tật, ốm đau tưởng chừng làm người chiến sĩ yếu đuối nhưng thật bất ngờ khi chúng ta bắt gặp dáng vẻ “dữ oai hùm” của anh lính. “Dữ oai hùm” đã làm mất đi vẻ yếu ớt trong hình ảnh “không mọc tóc” và “quân xanh màu lá”. Câu thơ trên như tô đậm hơn nét vẽ về người lính Tây Tiến. “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” Đây là hai câu thơ tập trung vẽ nên bức tranh người lính Tây Tiến vừa sống lại với hình ảnh Hà Nội, vừa chiến đấu với tương lai trước mắt. Hai câu thơ vừa mang nét lãng mạn vừa mang nét hào hùng. Mắt người lính “trừng” có vẻ dữ tợn nhưng lại thể hiện sự quyết tâm, quyết tâm chiến đấu cho Tổ quốc, cho đất nước. Bên cạnh đó những chàng trai Tây Tiến cũng không hề đánh mất đi vẻ đẹp tâm hồn mình: sự mộng mơ. Hai câu thơ trên đã có thời bị coi là buồn rớt, là bi quan, là tiểu tư sản. Đành rằng câu thơ có nét buồn nhưng cái buồn ấy không hề làm mất đi sự quyết tâm của người lính. Quyết tâm đánh giặc và chất men lãng mạn đã kết hợp hài hòa tạo nên một vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ một cách sâu sắc. Những người lính Tây Tiến mơ về mảnh đất Hà Thành nơi có hình bóng của người thương, những giấc mộng và mơ ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho những người lính Tây Tiến sống và chiến đấu. Chính vì thế hai câu thơ thật sự lãng mạn và hào hùng.
Luyện viết ngắn, viết dài
Yêu cầu: Cách luyện này rất có ích , hữu hiệu đối với tất cả các em. Tại sao vậy? Tại đặc điểm của văn nghị luận cũng giống như vũ trụ mà chúng ta đang sống vậy. Có thể dài rộng vô cùng nhưng cũng có thể rút gọn thành tối giản. Và bài văn cũng vậy có thể kéo dài thành một cuốn sách cũng có thể rút lại ở một vài câu.
Sau khi luyện viết ngắn thành thạo thì sẽ luyện viết dài thành bài văn nghị luận. các bài văn dài thật ra là sự phát triển của một bài văn ngắn. Tuy nhiên cần lưu ý khi viết một bài nghị luận thì không thể kéo dài như viết một cuốn sách mà là độ dài phù hợp với một bài viết, khi viết một bài nghị luận thường là viết theo một khía cạnh của vấn đề vì vậy kích thước phù hợp sẽ là một yếu tố tạo nên thành công của bài nghị luận.
Phương pháp luyện tập: Có thể luyện tập theo từng cách hoặc các cách sau:
Thứ nhất: Dựa vào khung dàn ý viết lần lượt từng luận điểm.
Thứ hai: Tập tóm tắt văn bản nghị luận.
Thứ ba:Tập chuyển đoạn văn nghị luận ngắn đã viết thành đoạn văn nghị luận dài.
Thứ tư : từ bài nghị luận tìm xem có câu nào, luận điểm nào có thể triển khai được không.
Thứ năm: Có thể từ luận điểm phát triển thêm các luận cứ.
Thứ sau: Luyện chung. Các em chọn một bài và cùng nhau nghiên cứu tìm ý và triển khai.
Luyện viết ngắn rồi từ ngắn luyện viết dài là cách mà Bác Hồ đã luyện và rất hiệu nghiệm để nâng cao trình độ viêt báo, viết văn của mình hồi Người mới bắt đầu viết.
Luyện viết câu, đoạn chuyển tiếp
Một bài văn là một chỉnh thể thống nhất hoàn chỉnh được tạo ra bởi các phần, các đoạn,các câu. Nếu các phần đó không kết dính với nhau thành một khối thì bài văn sẽ bị phá vỡ. Trong một bài viết thường có nhiều đoạn văn tự thân nó không kết dính được. Chính vì vậy ta phải dùng từ ngữ kết dính , dùng từ ngữ câu đoạn chuyển tiếp.
Những cách thông dụng dùng câu chuyển tiếp.
Cách một: Dùng kết từ hoặc từ ngữ tương đương với kết từ;
Cách hai: Cách đặt câu hỏi. Ví dụ: “Ta thấy gì trong xã hội ấy?”;
Văn nghị luận là thể loại văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng nào đó đối với các sự việc, hiện tượng trong đời sống hay trong văn học bằng các luận điểm, luận cứ và lập luận.
Văn nghị luận gồm có nghị luận xã hội và nghị luận văn học:
Nghị luận xã hội là phương pháp nghị luận lấy đề tài từ các lĩnh vực xã hội, chính trị, đạo đức làm nội dung bàn bạc làm sáng tỏ cái đúng – sai, tốt – xấu của vấn đề được nêu ra. Từ đó đưa ra một cách hiểu thấu đáo về vấn đề nghị luận cũng như vận dụng nó vào trong đời sống. Thông thường sẽ có hai loại chính: Nghị luận về một tư tưởng đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống xã hội. Ngoài ra còn có nghị luận về một vấn đề xã hội rút ra trong tác phẩm văn học.
Nghị luận văn học là dạng văn bản dùng để bày tỏ sự cảm thụ tác phẩm văn học theo suy nghĩ của cá nhân, là những lý lẽ để đánh giá, phân tích, bàn bạc về vấn đề thuộc lĩnh vực văn học để khám phá thế giới nội tâm của tác giả, đồng thời tìm ra những giá trị thuyết phục người khác nghe theo quan điểm, ý kiến cá nhân của mình.
2. Yêu cầu của đoạn mở bài văn nghị luận
Phần mở bài còn gọi là đặt vấn đề, có nhiệm vụ nêu vấn đề giải quyết trong phần thân bài. Do đó mở bài phải đi thẳng vào vấn đề không được đề cập đến bất cứ luận điểm, luận cứ nào ở phần dàn ý chi tiết phần thân bài.
Mô hình đoạn mở bài gồm có:
Dẫn dắt
Nêu vấn đề (luận đề)
Giới hạn phạm vi vấn đề
Một mở bài cần đảm bảo:
Ngắn gọn: Dẫn dắt vài ba câu ngắn gọn
Đầy đủ: Đọc xong mở bài người đọc biết được bài viết bàn vấn đề gì? Trong nội dung tư liệu nào?
Độc đáo: Phải gây được sự chú ý của người đọc tới vấn đề mình viết.
Tự nhiên: Viết văn cần giản dị tự nhiên.
Một mở bài tốt cần tránh những ý sau:
Tránh vòng vo quá xa mới gắn được vào việc nêu vấn đề.
Tránh dẫn dắt không liên quan gì vấn đề sẽ nêu.
Tránh nêu vấn đề dài dòng, chi tiết khi viết thân bài lại lặp lại ý.
3. Cách viết mở bài nghị luận
Mở bài trực tiếp
Người viết đi thẳng vào vấn đề cần giải quyết.
Ví dụ:Phân tích đoạn thơ sau trong đoạn trích “Đất Nước”( trích: Trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm.
“Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu . . . Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha”
Mở bài mẫu: Trong nền văn học Việt Nam cảm hứng về đất nước không bao giờ khô cạn. Cảm hứng ấy càng được biểu hiện thiết tha trong thơ ca viết về cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Có một nhà thơ đã có cái nhìn, cách cảm nhận về quê hương , đất nước rất riêng đó chính là nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm với đoạn thơ tiêu biểu “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu . . . Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha” (Trích: trường ca Mặt đường khát vọng)
Mở bài gián tiếp
Người viết dẫn dắt từ một ý liên quan đến vấn đề sẽ nêu, rồi trình bày vấn đề cần giải quyết. Một số cách mở bài gián tiếp thường gặp
Mở bài gắn với thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong cùng một giai đoạn lịch sử
Ví dụ:Thông qua đoạn một của đoạn trích “Đất Nước” ” trích trong Trường ca “mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm, anh chị hãy phân tích cảm hứng riêng về đất nước của nhà thơ.
Mở bài mẫu: Cùng với Nguyễn Mỹ, Xuân Quỳnh, Lê Anh Xuân. . .Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong khói lửa ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Nguyễn Khoa Điềm gắn bó sâu sắc với vùng Trị -Thiên, đặc biệt với thành phố Huế quê hương ông. Với những tác phẩm như tập thơ “Đất ngoại ô” và nhất là trường ca “Mặt đường khát vọng” , Nguyễn Khoa Điềm được coi là một nhà thơ giàu cảm xúc và chất trí tuệ, biểu hiện tập trung những suy tư của người thanh niên trí thức nỗ lực đóng góp vào cuộc chiến đấu của dân tộc. Trường ca “Mặt đường khát vọng” được sáng tác vào mùa đông năm 1971 tại chiến trường Trị -Thiên và được in ở miền Bắc vào năm 1974. “Đất Nước” trích gần trọn chương V của trường ca thể hiện khá tập trung những cảm nhận sâu sắc mới mẻ về đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm.
Mở bài xuất phát từ một sự kiện lịch sử
Ví dụ:Phân tích bài thơ “Việt Bắc” để thấy tình nghĩa thủy chung với ngọn nguồn của cách mạng và của dân tộc qua lối hát giao duyên của dân ca.
Mở bài mẫu: Tháng 10-1954, cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi. Từ căn cứ địa cách mạng, Bác Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ trở về Hà Nội. Đáp lại ân tình của đồng bào Việt Bắc đã chở che, đùm bọc cho cách mạng, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “ Việt Bắc” theo lối hát giao duyên của dân ca để nói lên tình nghĩa thủy chung của nhân dân ta với ngọn nguồn của cách mạng, của dân tộc.
Mở bài từ những sự kiện quan trọng trong đời sống
Ví dụ:Phân tích vẻ đẹp của tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống của các nhân vật Tràng, người vợ nhặt, bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân.
Mở bài mẫu: Nạn đói khủng khiếp dữ dội năm 1945 hằn in trong tâm trí Kim Lân-Một nhà văn hiện thực có thể xem là con đẻ của đồng ruộng, một con người có lòng đi về với “ những gì thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống nông thôn”. Ngay sau cách mạng, ông bắt tay vào viết tiểu thuyết “ Xóm ngụ cư”. Khi hòa bình lặp lại (1954) nỗi trăn trở thôi thúc ông viết tiếp thiên truyện ấy. Và cuối cùng truyện ngắn “Vợ nhặt” ra đời. Trong lần này Kim Lân đã thật sự đem đến cho tác phẩm của mình một khám phá mới, một điểm sáng soi chiếu toàn tác phẩm. Đó là vẻ đẹp của tình người và niềm hi vọng vào cuộc sống của những người nông dân nghèo, tiêu biểu như Tràng, người vợ nhặt, bà cụ Tứ. Thiên truyện thể hiện thành công, khả năng dựng truyện, dẫn truyện và đặc sắc nhất là Kim Lân đã có khám phá ra diễn biến tâm lí thật bất ngờ.
Mở bài từ một đề tài quen thuộc.
Ví dụ :Phân tích bài thơ “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh.
Mở bài mẫu:
Tình yêu là một đề tài quen thuộc trong thơ ca. Nhưng không phải vì thế mà nó thành đơn điệu và nhàm chán. Mỗi bài thơ, mỗi nhà thơ là một thế giới riêng, một nhu cầu, một khát khao riêng không ai giống ai. Chẳng thế mà ta gặp Xuân Diệu trong thi đàn Việt Nam với chất men say tình yêu nồng nàn, mãnh liệt, người tự cho mình là “kẻ uống tình yêu dập cả môi”, ta gặp Nguyễn Bính “người nhà quê” chân chất thật thà. . . và thật bất ngờ khi gặp một nữ sĩ với tâm hồn dạt dào và say đắm trong tình yêu-Xuân Quỳnh. Thơ tình yêu của Xuân Quỳnh chân thành nữ tính nhưng không kém phần cháy bỏng, nồng nàn. Điều đó thể hiện rõ nét trong bài “Sóng”.
Phân phối chương trình môn Hóa học 10 năm 2022 2023
Số tiết
Tên bài học
HỌC KÌ I
Mở đầu (2 tiết)
2
Bài 1. Nhập môn hoá học (2 tiết)
Chương 1. Cấu tạo nguyên tử (13 tiết)
2
Bài 2. Thành phần của nguyên tử (5 tiết)
2
Bài 2. Thành phần của nguyên tử (tiếp theo)
1
Bài 2. Thành phần của nguyên tử (tiếp theo)
1
Bài 3. Nguyên tố hoá học (3 tiết)
2
Bài 3. Nguyên tố hoá học (tiếp theo)
2
Bài 4. Cấu trúc lớp vỏ electron của nguyên tử (4 tiết)
2
Bài 4. Cấu trúc lớp vỏ electron của nguyên tử (tiếp theo)
1
Ôn tập chương 1
1
Kiểm tra
Chương 2. Bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học (9 tiết)
2
Bài 5. Cấu tạo bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học (3 tiết)
1
Bài 5. Cấu tạo bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học (tiếp theo)
1
Bài 6. Xu hướng biến đổi một số tính chất của nguyên tử các nguyên tố, thành phần và một số tính chất của hợp chất trong một chu kì và nhóm (3 tiết)
2
Bài 6. Xu hướng biến đổi một số tính chất của nguyên tử các nguyên tố, thành phần và một số tính chất của hợp chất trong một chu kì và nhóm (tiếp theo)
2
Bài 7. Định luật tuần hoàn ‒ Ý nghĩa của bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học (2 tiết)
1
Ôn tập chương 2
1
Kiểm tra
Chương 3. Liên kết hoá học (12 tiết)
1
Bài 8. Quy tắc octet (1 tiết)
1
Bài 9. Liên kết ion (2 tiết)
1
Bài 9. Liên kết ion (tiếp theo)
1
Bài 10. Liên kết cộng hoá trị (6 tiết)
2
Bài 10. Liên kết cộng hoá trị (tiếp theo)
2
Bài 10. Liên kết cộng hoá trị (tiếp theo)
1
Bài 10. Liên kết cộng hoá trị (tiếp theo)
1
Kiểm tra học kì I
HỌC KÌ II
2
Bài 11. Liên kết hydrogen và tương tác van der Waals (2 tiết)
1
Ôn tập chương 3
Chương 4. Phản ứng oxi hoá – khử (4 tiết)
1
Bài 12. Phản ứng oxi hoá – khử và ứng dụng trong cuộc sống (3 tiết)
2
Bài 12. Phản ứng oxi hoá – khử và ứng dụng trong cuộc sống (tiếp theo)
1
Ôn tập chương 4
Chương 5. Năng lượng hoá học (7 tiết)
1
Bài 13. Enthalpy tạo thành và biến thiên enthalpy của phản ứng hoá học (4 tiết)
2
Bài 13. Enthalpy tạo thành và biến thiên enthalpy của phản ứng hoá học
1
Bài 13. Enthalpy tạo thành và biến thiên enthalpy của phản ứng hoá học (tiếp theo)
1
Bài 14. Tính biến thiên enthalpy của phản ứng hoá học (2 tiết)
1
Bài 14. Tính biến thiên enthalpy của phản ứng hoá học (tiếp theo)
1
Ôn tập chương 5
1
Kiểm tra
Chương 6. Tốc độ phản ứng hoá học (6 tiết)
1
Bài 15. Phương trình tốc độ phản ứng và hằng số tốc độ phản ứng (2 tiết)
1
Bài 15. Phương trình tốc độ phản ứng và hằng số tốc độ phản ứng (tiếp theo)
1
Bài 16. Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng hoá học (3 tiết)
2
Bài 16. Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng hoá học (tiếp theo)
1
Ôn tập chương 6
1
Kiểm tra
Chương 7. Nguyên tố nhóm VIIA (10 tiết)
2
Bài 17. Tính chất vật lí và hoá học các đơn chất nhóm VIIA (5 tiết)
2
Bài 17. Tính chất vật lí và hoá học các đơn chất nhóm VIIA (tiếp theo)
1
Bài 17. Tính chất vật lí và hoá học các đơn chất nhóm VIIA (tiếp theo)
1
Bài 18. Hydrogen halide ‒ Một số phản ứng của ion halide (4 tiết)
2
Bài 18. Hydrogen halide ‒ Một số phản ứng của ion halide (tiếp theo)
1
Bài 18. Hydrogen halide ‒ Một số phản ứng của ion halide (tiếp theo)
1
Ôn tập chương 7
1
Kiểm tra
1
Kiểm tra học kì II
DỰ KIẾN PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN ĐỀ HỌC TẬP HOÁ HỌC 10
(Bộ sách Chân trời sáng tạo – Nxb Giáo dục Việt Nam)
Số tiết
Tên bài học
Chuyên đề 1. Cơ sở hoá học (15 tiết)
3
Bài 1. Liên kết hoá học
3
Bài 2. Phản ứng hạt nhân
3
Bài 3. Năng lượng hoạt hoá của phản ứng hoá học
4
Bài 4. Entropy và biến thiên năng lượng tự do Gibbs
1
Ôn tập chuyên đề 1
1
Kiểm tra
Chuyên đề 2. Hoá học trong việc phòng chóng cháy nổ (10 tiết)
2
Bài 5. Sơ lược về phản ứng cháy và nổ
3
Bài 6. Điểm chớp cháy, nhiệt độ tự bốc cháy và nhiệt độ cháy
3
Bài 7. Hoá học về phản ứng cháy, nổ
1
Ôn tập chuyên đề 2
1
Kiểm tra
Chuyên đề 3. Thực hành hoá học và công nghệ thông tin (10 tiết)HS chọn học 2 trong 3 bài (Bài 8, 9 và 10)
Ví dụ. Một chiếc hộp có chín thẻ đánh số từ 1 đến 9. Rút ngẫu nhiên hai thẻ rồi nhân hai số ghi trên hai thẻ với nhau. Tính xác suất để kết quả nhận được là một số chẵn.
Giải:
Kết quả nhận được là số chẵn khi và chỉ khi trong hai thẻ có ít nhất một thẻ chẵn.
Gọi A là biến cố “Rút được một thẻ chẵn và một thẻ lẻ”, B là biến cố “Cả hai thẻ được rút là thẻ chẵn” thì biến cố “Tích hai số ghi trên hai thẻ là một số chẵn” là A ∪ B.
Do hai biến cố A và B xung khắc nên P(A∪B)=P(A)+P(B) – P(AB).
Vì có 4 thẻ chẵn và 5 thẻ lẻ nên ta có: \[P\left( A \right) = \dfrac{{C_5^1.C_4^1}}{{C_9^2}} = \dfrac{{20}}{{36}}, P\left( B \right) = \dfrac{{C_4^2}}{{C_9^2}} = \dfrac{6}{{36}}.\]
Do đó: \[P\left( {A \cup B} \right) = P\left( A \right) + P\left( B \right) = \dfrac{{20}}{{36}} + \dfrac{6}{{36}} = \dfrac{{26}}{{36}} = \dfrac{{13}}{{18}}.\]
Tổng quát: Cho tập biến cố $ \{A_i\}, i = \overline{1,n} $, khi đó ta có: $$ \begin{aligned} P\Bigg(\bigcup _{i=1}^n{A_i}\Bigg) &= \sum _{i=1}^nP(A_i) \\ \ &- \sum_{1 \le i_1 < i_2 \le n}P(A_{i_1}A_{i_2}) \\ \ &+ \sum_{1 \le i_1 < i_2 < i_3 \le n}P(A_{i_1}A_{i_2}A_{i_3}) \\ \ &- \ldots + (-1)^{n+1}P(A_1A_2 \ldots A_n) \end{aligned} $$
Trong đó, tổng $\sum_{1 \le k_1 < \cdots < k_i \le n} P\Big(\bigcap_{j=1}^iA_{k_j}\Big)$ là tổng của tất cả các xác suất giao của tập con gồm $i$ phần từ tập $\\{1,2,…,n\\}$.
Nếu các biến cố này tạo thành không gian biến cố $ \Omega $ thì:
$$ P(\Omega) = \sum_{i=1}^nP(A_i) = 1 $$
Do, $ A $ và $ \bar{A} $ tạo thành không gian biến cố nên ta có: $$\begin{aligned} \ &P(A) + P(\bar{A}) = 1 \\ \iff &P(A) = 1 – P(\bar{A}) \\ \iff &P(\bar{A}) = 1 – P(A) \end{aligned} $$
Xác suất có điều kiện
Là xác suất của một biến cố xảy ra khi biết xác suất của biến cố khác đã xảy ra. Xác suất của biến cố $ A $ khi biết $ B $ đã xảy ra được kí hiệu là $ P(A|B) $. Công thức tính xác suất của $ A $ được xác định như sau: $$ P(A|B) = \frac{P(AB)}{P(B)}, \forall P(B)>0 $$
Nếu $ A $ và $ B $ là độc lập, tức $ A $ không phụ thuộc vào $ B $ thì: $ P(A|B) = P(A) $ và $ P(B|A) = P(B) $.
Tích xác suất là xác suất của biến cố giao. Từ công thức xác suất có điều kiện ta có thể tính được xác suất giao như sau:
P(AB) = P(B)P(A|B) = P(A)P(B|A)
Hai biến cố A,B được gọi là độc lập nếu sự xảy ra hay không xảy ra của A không làm ảnh hưởng tới xác suất xảy ra của biến cố B.
Nếu hai biến cố A, B độc lập với nhau thì
P(AB) = P(A).P(B)
Ví dụ: Một chiếc máy có hai động cơ I và II hoạt động độc lập với nhau. Xác suất để động cơ I chạy tốt là 0,8 và xác suất để động cơ II chạy tốt là 0,7. Hãy tính xác suất để cả hai động cơ đều chạy tốt.
Giải:
Gọi A là biến cố: “Động cơ I chạy tốt”, B là biến cố: “Động cơ II chạy tốt”, C là biến cố: “Cả hai động cơ đều chạy tốt”.
Ta thấy A, B là hai biến cố độc lập với nhau và C = AB. Theo công thức nhân xác suất ta có:
P(AB) = P(A).P(B) = 0,8.0,7 = 0,56.
Trường hợp tổng quát, cho $\\{A_i\\}, i = \overline{1,n}$ thì tích xác suất của chúng được tính như sau: $$P\Bigg(\bigcap_{i=1}^nA_i\Bigg) = P(A_1)P(A_2|A_1)P(A_3|A_1A_2)…P(A_n|A_1A_2…A_{n-1})$$ Hay viết gọn thành: $$P\Bigg(\bigcap_{i=1}^nA_i\Bigg) = \prod_{i=1}^nP\Big(A_i|\bigcap_{j=1}^{i-1}A_j\Big)$$
Tích xác suất còn được gọi là quy tắc chuỗi xác suất bởi cách biểu diễn liên hoàn thành chuỗi như trên.
Nếu $\\{A_i\\}$ là độc lập từng đôi một thì ta có:
Xác suất hậu nghiệm (tiếng Anh: posterior probability) của một biến cố ngẫu nhiên hoặc một mệnh đề không chắc chắn là xác suất có điều kiện mà nó nhận được khi một bằng chứng có liên quan được xét đến.
Từ công thức tính tích xác suất ta có $$P(A)P(B|A) = P(B)P(A|B)$$
Từ đó, ta có thể tính xác suất của A khi biết B: $$ P(A|B) = \frac{P(A)P(B|A)}{P(B)} $$
Trong đó:
$ P(A|B) $: xác suất hậu nghiệm
$ P(A) $: xác suất tiền nghiệm
$ P(B) $: hằng số chuẩn hóa
$ P(B|A) $: khả năng (likelihood)
Trường hợp mở rộng, cho hệ xác suất tiền nghiệm $ \\{A_i\\}, i = \overline{1,n} $, với mỗi biến cố $ B $ bất kì, vì $\displaystyle P\Big(\bigcup_{i=1}^nA_i\Big) = 1 $ ta có: \begin{aligned} P(B) &= P\Big(B\bigcup_{i=1}^nA_i\Big) \\ \iff P(B) &= P\Big(\bigcup_{i=1}^nBA_i\Big) \\ \iff P(B) &= \sum_{i=1}^nP(BA_i) \\ \iff P(B) &= \sum_{i=1}^nP(A_i)P(B|A_i) \end{aligned}
Công thức trên được gọi là công thức xác suất đầy đủ. Nếu $ P(B) > 0 $ thì với bất kì $ A \in {A_i} $, ta tính được xác suất của $ A $ sau khi quan sát $ B $ như sau: $$P(A|B) = \frac{P(A)P(B|A)}{\sum_{i=1}^nP(A_i)P(B|A_i)}$$
Công thức Bec-nu-li (Bernoulli)
Trong nhiều bài toán thực tế, ta thường gặp trường hợp cùng một phép thử được lặp đi lặp lại nhiều lần. Trong mỗi phép thử có thể xảy ra hay không xảy ra một biến cố A nào đó và ta quan tâm đến tổng số lần xảy ra biến cố A trong dãy phép thử. Chẳng hạn, nếu tiến hành sản xuất hàng loạt một loại chi tiết nào đó ta thường quan tâm đến tổng số chi tiết đạt tiêu chuẩn của cả quá trình sản xuất. Bài toán này có thể giải quyết khá dễ dàng nếu các phép thử độc lập với nhau.
Các phép thử được gọi là độc lập với nhau nếu xác suất để xảy ra một biến cố nào đó trong từng phép thử sẽ không phụ thuộc vào việc biến cố đó có xảy ra ở phép thử khác hay không. Chẳng hạn: tung nhiều lần một đồng xu hoặc lấy ngẫu nhiên có hoàn lại n sản phẩm từ một lô hàng sẽ tạo nên các phép thử độc lập.
Một phép thử mà kết quả chỉ có 2 biến cố là xảy ra A với xác suất P(A) = p hoặc không xảy ra A với xác suất $P(\bar{A}) = 1 – p = q$ được gọi là phép thử Bec-nu-li. Khi đó xác suất để xảy ra biến cố $A$ đúng $k$ lần được tính bằng công thức sau: $$P(A^k)=C_{n}^{k}p^kq^{n-k}$$
Chứng minh: Gọi Ai là biến cố “ở phép thử thứ i, A xảy ra” (i = 1, 2,…, n). Suy ra \(\overline {{A_i}}\) sẽ là biến cố “ở phép thử thứ i, A không xảy ra”. Gọi B là biến cố “trong n phép thử, A xảy ra đúng k lần”. B có thể xảy ra theo nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn, k phép thử đầu, A xảy ra, còn n-k phép thử sau A không xảy ra. Trường hợp này ta có thể biểu diễn bằng biến cố tích:
\[{A_1}.{A_2}….{A_k}.{\overline A _{k + 1}}.{\overline A _{k + 2}}…\overline {{A_n}}\]
Hoặc n-k phép thử đầu A không xảy ra, còn n-k phép thử cuối A xảy ra. Trường hợp này ta có thể biểu diễn bằng biến cố tích có dạng:
\[\overline {{A_1}} .\overline {{A_2}} …{\overline A _{n – k}}.{\overline A _{n – k + 1}}…{A_n}\]
Tổng số các tích như vậy chính là số cách chọn k phép thử để biến cố A xảy ra, tức bằng \(C_n^k\) và biến cố B chính là tổng của những biến cố tích ấy.
Đối với mỗi tích, ta thấy biến cố A xảy ra đúng k lần, còn \(\overline A\) xảy ra đúng (n- k) lần. Do đó xác suất của mỗi tích đều bằng \({p^k}{q^{n – k}}\).
Vì các biến cố tích là các biến cố xung khắc từng đôi, nên ta có:
\[{P_k}(A) = P(B) = C_n^k{p^k}{q^{n – k}}\]
Ví dụ: Một lô hàng có tỷ lệ phế phẩm là 5%. Lấy ngẫu nhiên từ lô hàng đó ra 5 sản phẩm để kiểm tra (lấy có hoàn lại). Tìm xác suất để có 2 phế phẩm trong 5 sản phẩm lấy ra kiểm tra?
Giải: Ta coi việc kiểm tra một sản phẩm là thực hiện một phép thử. Vì kiểm tra 5 sản phẩm nên ta coi như thực hiện 5 phép thử độc lập.
Gọi A là biến cố “sản phẩm lấy ra kiểm tra là phế phẩm”. Ta thấy trong mỗi phép thử chi có thể xảy ra một trong hai trường hợp: Hoặc sản phẩm kiểm tra là phế phẩm (tức A xảy ra), hoặc sản phẩm kiểm tra là sản phẩm tốt (tức A không xảy ra).
Xác suất để A xảy ra trong mỗi phép thử đều bằng 0,05. Vậy các điều kiện để áp dụng công thức Bernoulli đều thoả mãn. Vì vậy, xác suất để có 2 phế phẩm trong 5 sản phẩm lấy ra kiểm tra là:
Phép thử Bec-nu-li được sử dụng rất rộng rãi trong thực tế, ví dụ như bài toán phân lớp nhị phân (chỉ có 2 nhãn) thì ta có thể sử dụng công thức này để tính khả năng có bao nhiêu phân tử thuộc vào 1 nhãn nào đó.
Đọc đoạn trích sau rồi thực hiện các yêu cầu ở dưới
Có bao giờ sông chảy thẳng đâu em
Sông lượn khúc lượn dòng mà đến biển
Bờ bãi loi thoi xóm làng ẩn hiện
Đời sông như đời người trên sông
Em yêu anh có yêu được như sông
Sông chẳng theo ai, tự chảy nên dòng
Sông nhớ biển lao ghềnh vượt thác
Mang suối nguồn đi đến suốt mênh mông
………..
Đời sông trôi như đời người trên sông
Anh tin bến, tin bờ, tin sức mình đến bể
Tin ánh sáng trên cột buồm, ngọn lửa
Tin mái chèo cày trên sóng cần lao
Anh tin em khi đứng mũi chịu sào
Anh chẳng sợ mọi đá ngầm sóng cả
Anh yêu sông, yêu tự nguồn đến bể
Gió về rồi, nào ta kéo buồm lên
(“Tình yêu-dòng sông”- Vũ Quần Phương)
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. (0,5 điểm)
Câu 2: Trong bài thơ, tác giả đã bày tỏ niềm băn khoăn: Em yêu anh có yêu được như sông. Vậy nhà thơ đã nêu ra những điểm tương đồng nào giữa dòng sông và tình yêu? (0,5 điểm)
Câu 3: Nêu thông điệp tình yêu tác giả gửi gắm trong hai câu: Anh yêu sông, yêu tự nguồn đến bể/Gió về rồi, nào ta kéo buồm lên. (1 điểm)
Câu 4: Thông điệp tình yêu nào trong văn bản có ý nghĩa nhất với anh/chị? (1 điểm)
Phần II. Làm văn (7,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm): Từ những dòng sông trong hai câu mở đầu của bài thơ Đọc-hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bày tỏ những suy nghĩ của mình về cách ứng xử của con người trước khó khăn trong cuộc sống: Có bao giờ sông chảy thẳng đâu em/Sông lượn khúc lượn dòng mà đến biển.
Câu 2 (5 điểm):
Đế Thích: Ông Trương Ba… (đắn đo rất lâu rồi quyết định) Vì lòng quí mến ông, tôi sẽ làm cu Tị sống lại, dù có bị phạt nặng… Nhưng còn ông… rốt cuộc ông muốn nhập vào thân thể ai?
Hồn Trương Ba: (sau một hồi lâu): Tôi đã nghĩ kĩ… (nói chậm và khẽ) Tôi không nhập vào hình thù ai nữa! Tôi đã chết rồi, hãy để tôi chết hẳn!
Đế Thích: Không thể được! Việc ông phải chết chỉ là một lầm lẫn của quan thiên đình. Cái sai ấy đã được sửa bằng cách làm cho hồn ông được sống.
Hồn Trương Ba: Có những cái sai không thể sửa được. Chắp vá gượng ép chỉ càng làm sai thêm. Chỉ có cách là đừng bao giờ sai nữa, hoặc phải bù lại bằng một việc đúng khác. Việc đúng còn làm kịp bây giờ là làm cu Tị sống lại. Còn tôi, cứ để tôi chết hẳn…
Đế Thích: Không! Ông phải sống, dù với bất cứ giá nào…
Hồn Trương Ba: Không thể sống với bất cứ giá nào được, ông Đế Thích ạ! Có những cái giá đắt quá, không thể trả được… Lạ thật, từ lúc tôi có đủ can đảm đi đến quyết định này, tôi bỗng cảm thấy mình lại là Trương Ba thật, tâm hồn tôi lại trở lại thanh thản, trong sáng như xưa…
Đế Thích: Ông có biết ông quyết định điều gì không? Ông sẽ không còn lại một chút gì nữa, không được tham dự vào bất cứ nỗi vui buồn gì! Rồi đây, ngay cả sự ân hận về quyết định này, ông cũng không có được nữa.
Hồn Trương Ba: Tôi hiểu. Ông tưởng tôi không ham sống hay sao? Nhưng sống thế này, còn khổ hơn là cái chết. Mà không phải chỉ một mình tôi khổ! Những người thân của tôi sẽ còn phải khổ vì tôi. (Lưu Quang Vũ, Hồn Trương Ba,da hàng thịt,Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục – 2008, tr.151-152)
Cảm nhận của anh/chị về nhân vật hồn Trương Ba trong đoạn trích trên. Từ đó, nhận xétchiều sâu triết lí về con người của nhà văn Lưu Quang Vũ.
———Hết——–
Đáp án đề thi tốt nghiệp Hồn Trương Ba da hàng thịt
Phần
Câu/Ý
Nội dung
Điểm
I
Đọc hiểu
3.0
1
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm
0.5
2
Điểm tương đồng giữa dòng sông và tình yêu:
– Sông nhớ biển lao ghềnh vượt thác: trong tình yêu hai người luôn mang nỗi nhớ cồn cào, da diết.
– Sông lượn khúc, lượn dòng mà tới biển; Đã yêu sông anh chẳng ngại sâu nông: trong tình yêu cả hai người phải trải qua nhiều thử thách khó khăn.
– Sông chẳng theo ai tự chảy nên dòng: bản lĩnh, ý chí vượt qua mọi khó khăn trong tình yêu.
0.5
3
Thông điệp tình yêu tác giả gửi gắm trong hai câu: Anh yêu sông, yêu tự nguồn đến bể/Gió về rồi, nào ta kéo buồm lên.
– Trong tình yêu cần có sự lạc quan, niềm tin.
– Tình yêu cần sự chân thành, chung thủy.
-….
1.0
0.5
0.5
4
Thông điệp tình yêu nào trong văn bản có ý nghĩa nhất: Học sinh trình bày thông điệp theo quan điểm cá nhân và sau đây là gợi ý:
– Niềm tin trong tình yêu sẽ đem đến sức mạnh cho những người yêu nhau đến được với nhau.
– Sức mạnh tình yêu chính là hình ảnh đẹp, tiếp thêm động lực trong cuộc sống cho những người yêu nhau. Vì vậy, con người cần biết trân trọng tình yêu trong cuộc sống.
1.0
0.5
0.5
II
Làm văn
1
Từ những dòng sông trong hai câu mở đầu của bài thơ Đọc-hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bày tỏ những suy nghĩ của mình về cách ứng xử của con người trước khó khăn trong cuộc sống: Có bao giờ sông chảy thẳng đâu em/Sông lượn khúc lượn dòng mà đến biển.
2.0
a. Yêu cầu về kĩ năng
– Biết cách làm đoạn văn nghị luận về một tư tưởng đạo lý
– Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp
– Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận 200 chữ. (Nếu HS viết từ 2 đoạn trở lên thì không cho điểm cấu trúc)
b. Yêu cầu về kiến thức
– Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Cách ứng xử của con người trước những khó khăn của cuộc sống.
– Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng lí lẽ và dẫn chứng phải hợp lí; cần làm rõ được các ý chính sau:
* Giải thích
– Hai câu thơ là những suy nghiệm về hình ảnh dòng sông tự nhiên trong hành trình đến biển. Do đặc điểm địa hình khác nhau ở từng nơi mà dòng sông chảy qua; nên để đến biển thì dòng sông nào cũng phải lượn khúc, lượn dòng. Đó là lí do sông không bao giờ chảy thẳng.
– Phép nhân hóa Sông lượn khúc, lượn dòng mà tới bể gợi liên tưởng dòng sông như một con người, dù phải đối mặt với nhiều ngáng trở trên hành trình nhưng vẫn kiên trì mục tiêu, vượt mọi khó khăn để tới đích.
=> Câu thơ đã cho thấy cách con người ứng xử trước những khó khăn trong cuộc sống.
* Bàn luận
– Nếu sông chảy thẳng thì khi va phải núi cao, vực sâu…dòng chảy sẽ bị chặn lại, không bao giờ sông có thể tới biển; việc lượn khúc, lượn dòng giúp cho dòng sông có thể vượt qua trở ngại, tiếp tục hành trình tìm đến biển. Cuộc sống của con người cũng vậy: Khát vọng càng lớn thì khó khăn càng nhiều. Để đến đích, mỗi cá nhân không chỉ cần nỗ lực hết mình mà còn cần sự linh hoạt, tỉnh táo, có cách ứng xử phù hợp trong mọi hoàn cảnh
– Trước những khó khăn, con người cũng cần biết tự lượng sức mình, không đối đầu một cách liều lĩnh.
– Cuộc đời con người nếu quá hanh thông, suôn sẻ không trải qua những lần vấp ngã thì khi gặp khó khăn rất dễ bị đánh gục.
– Khó khăn không phải là thứ ngáng trở ta tiến bước mà đó là động lực giúp ta mạnh mẽ hơn, kiên cường hơn để vươn đến thành công.
* Mở rộng
– Phê phán những người cứng nhắc, bảo thủ, liều lĩnh hoặc những người dễ nản lòng, thiếu kiên trì trong cuộc sống.
– Cần phân biệt cách ứng xử linh hoạt, mềm dẻo với sự hèn nhát, thiếu quyết đoán, né tránh khó khăn.
– Liên hệ bản thân và tổng kết vấn đề
0.25
0.25
1.0
c. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.
0,25
d. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu. (Sai từ 2 lỗi trở lên sẽ không tính điểm này)
0,25
2
Cảm nhận của anh/chị về nhân vật hồn Trương Ba trong đoạn trích khi đối thoại với Đế Thích. Từ đó, nhận xét chiều sâu triết lí về con người của nhà văn Lưu Quang Vũ.
5,0
1. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.
(0,25)
2. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Nhân vật hồn Trương Ba trong đoạn trích khi đối thoại với Đế Thích; chiều sâu triết lí về con người của nhà văn Lưu Quang Vũ.
(0,25)
3. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng. Cụ thể:
3.1.Mở bài:
-Trong làng kịch nói Việt Nam, có lẽ ai cũng biết đến Lưu Quang Vũ – một hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch trường những năm tám mươi của thế kỉ XX. Tuy có tài ở nhiều lĩnh vực như viết truyện ngắn, soạn kịch, làm thơ, vẽ tranh… nhưng ông được xem là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại. Trong các vở kịch của Lưu Quang Vũ, đáng chú ý nhất là vở “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”. Bằng nghệ thuật xây dựng nội tâm độc đáo, cảnh VII, đoạn cuối vở kịch đem đến cho người đọc nhiều vấn đề tư tưởng sâu sắc qua nhân vật Trương Ba trong thân xác anh hàng thịt.
-Đoạn trích khi nhân vật Hồn Trương Ba đối thoại với Đế Thích đã thể hiện chiều sâu triết lí về con người của nhà biên kịch Lưu Quang Vũ.
3.2.Thân bài:
a. Khái quát về vở kịch, đoạn trích:
-Hồn Trương Ba, da hàng thịt là vở kịch được Lưu Quang Vũ viết năm 1981, công diễn lần đầu tiên năm 1984, sau đó được diễn lại nhiều lần trong và ngoài nước. Từ cốt truyện dân gian, Lưu Quang Vũ đã xây dựng lại thành một vở kịch nói hiện đại và lồng vào đó nhiều triết lí nhân văn về cuộc đời và con người.
– Vị trí, nội dung đoạn trích: thuộc đoạn cuối của cảnh VII
b. Cảm nhận nhân vật hồn Trương Ba trong đoạn trích:
b.1. Về nội dung:
– Hoàn cảnh xuất hiện cuộc đối thoại: Trong tác phẩm, Trương Ba là một ông lão gần sáu mươi, thích trồng vườn, yêu cái đẹp, tâm hồn thanh nhã, giỏi đánh cờ. Chỉ vì sự tắc trách của Nam Tào gạch nhầm tên mà Trương Ba chết oan. Theo lời khuyên của “tiên cờ” Đế Thích, Nam Tào, Bắc Đẩu “sửa sai” bằng cách cho hồn Trương Ba được tiếp tục sống trong thân xác của anh hàng thịt mới chết gần nhà. Nhưng điều đó lại đưa Trương Ba và một nghịch cảnh khi linh hồn mình phải trú nhờ vào người khác. Do phải sống tạm bợ, lệ thuộc, Trương Ba dần bị xác hàng thịt làm mất đi bản chất trong sạch, ngay thẳng của mình, bị người thân từ chối. Ý thức được điều đó, Trương Ba dằn vặt, đau khổ và quyết định chống lại bằng cách tách ra khỏi xác thịt, không chấp nhận để Đế Thích cho nhập vào xác cu Tị.
– Nhân vật hồn Trương Ba phê phán sai lầm của Đế Thích:
+ Đế Thích gợi ý để hồn rời xác anh hàng thịt sang xác cu Tị. Nhưng hồn Trương Ba, sau một “quãng đời” vô cùng thấm thía đã qua, hình dung ra những “nghịch cảnh” khác khi phải sống trong thân xác một đứa bé đã quyết định xin cho cu Tị được sống và mình được chết hẳn.
+ Thần thánh cũng sai lầm, qua lời của Đế Thích: “Việc ông phải chết chỉ là một sai lầm của quan thiên đình. Cái sai ấy đả được sửa bằng cách làm cho hồn ông được sống”. Nghe Đế Thích trần tình như thế, Hồn Trương Ba đã đáp lại: “Có những cái sai không thể sửa được. Chắp vá và gượng ép chỉ làm sai thêm. Chỉ có cách là đừng bao giờ sai nữa, hoặc phải bù lại bằng một việc đúng khác”. Hồn Trương Ba đã lí luận đúng, ngay từ sự việc của Trương Ba. Trương Ba phải chết vì sự sai lầm cùa các thần quan trên thiên đình. Từ sai lầm ấy, và vì tính háo danh, muốn “người trên trời, dưới đất mới biết tới cao cờ như thế nào” nên Đế Thích mới chắp vá và gượng ép” cho hồn Trương Ba nhập vào xác hàng thịt tạo nên nỗi khổ không chỉ cho Trương Ba mà còn với cả những người thân. Cũng vì ích kỉ, háo danh mà Đế Thích quyết phạm một sai lầm khác là cho Hồn Trương Ba nhập vào cu Tị, nếu Hồn Trương Ba không kịch liệt phản đối;
– Nhân vật hồn Trương Ba có quan niệm sống đúng đắn: sống là chính mình, sống vị tha, cao thượng, nhân hậu:
+ Dù rất ham sống (“Ông tưởng tôi không ham sống hay sao?”) nhưng Hồn Trương Ba lại quyết định “không muốn nhập vào hình thù ai nữa” vì hơn ai hết ông thấu hiểu nỗi khổ của bản thân mình khi phải nương nhờ vào thân xác của người khác.Ông cũng không muốn những người thân của mình phải khổ, phải liên lụy vì mình.
+ Với quyết định này, Trương Ba đã tự viết nên cái kết có hậu cho cuộc đời mình và cho những người xung quanh. Mặc dù sự sống của Trương Ba đã sắp đi đến hồi kết thúc nhưng Trương Ba đã tìm thấy lại được con người thật của chính bản thân mình: “Lạ thật, từ lúc tôi có đủ can đảm đi đến quyết định này, tôi bỗng cảm thấy mình lại là Trương Ba thật, tâm hồn tôi lại trở lại thanh thản, trong sáng như xưa...”. Không chỉ phục sinh lại những giá trị tốt đẹp của bản thân, Trương Ba còn trở nên bất tử trong suy nghĩ của tất cả những người thân bằng tình cảm nhớ thương, yêu quý.
+ Hồn Trương Ba lại phải giải thích rằng cũng ham sống lắm, nhưng sống mà mình không còn là mình, bắt người thân phải khổ vì mình thì đó là cái giá không thể trả được. Và Hồn Trương Ba đã đặt ngược lại vấn đề rồi đi đến kết luận: “Cuộc sống giả tạo này có lợi cho ai? Họa chăng chỉ có lão lí tưởng và đám trương tuần hỉ hả thu lợi lộc! Đúng, chỉ bọn khốn kiếp là lợi lộc”.
+ Cách giải quyết của Hồn Trương Ba là duy nhất đúng và toàn vẹn nhất dù cách đó có thể khiến Hồn Trương Ba vĩnh viễn rời xa cuộc đời này, thậm chí “cả sự ân hận về quyết định này, ông cũng không có được nữa”. Vì chỉ khi “chết hẳn”, Hồn Trương Ba mới tìm lại được sự thanh thản, trong sáng; những người thân của Trương Ba cũng sẽ không còn phải khổ vì ông; thằng con của Trương Ba sẽ có cơ hội trở lại con đường ngay thẳng. Cho đến phút cuối cùng, Hồn Trương Ba vẫn rất nhân hậu, vị tha.
– Khái quát: Những lời thoại của Hồn Trương Ba với Đế Thích chứng tỏ nhân vật đã ý thức rõ về tình cảnh trớ trêu, đầy tính chất bi hài của mình, thấm thía nỗi đau khổ về tình trạng ngày càng vênh lệch giữa hồn và xác, đồng thời càng chứng tỏ quyết tâm giải thoát nung nấu của nhân vật. Qua màn đối thoại, có thể thấy tác giả gửi gắm nhiều thông điệp vừa trực tiếp vừa gián tiếp, vừa mạnh mẽ, quyết liệt vừa kín đáo và sâu sắc về thời đại chúng ta đang sống, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của những người lao động trong cuộc đấu tranh chống lại sự dung tục, giả tạo để bảo vệ quyền được sống toàn vẹn, hợp với lẽ tự nhiên cùng sự hoàn thiện nhân cách.
– Về nghệ thuật:
+Sáng tạo lại cốt truyện dân gian.
+Nghệ thuật dựng cảnh, dựng đối thoại, độc thoại nội tâm. Hành động của nhân vật phù hợp với hoàn cảnh, tính cách, góp phần phát triển tình huống kịch.
+ Có chiều sâu triết lý khách quan.
c. Nhận xét nhận xét chiều sâu triết lí về con người của nhà văn Lưu Quang Vũ.
-Màn thoại giữa Trương Ba và Đế Thích một lần nữa khắc sâu vấn đề trung tâm nhất, cốt lõi nhất của toàn bộ tác phẩm, đó là việc người sống vẫn có sự hài hòa giữa linh hồn và thể xác, giữa bên trong và bên ngoài. Việc một người vẫn còn đầy khao khát sống như Trương Ba sau quá trình trăn trở, lựa chọn đã chối từ cả hai cơ hội được sống để nhận về mình cái chết đã cho thấy để sống cho ra một người không hề dễ dàng. Người ta không thể sống bằng bất cứ giá nào, người chỉ thực sự được là mình khi có sự thống nhất, hòa hợp giữa hoạt động bên ngoài với tâm trạng, cảm xúc bên trong.
– Tác giả không chỉ đặt ra vấn đề để người đọc trăn trở suy nghĩ mà đã đi đến trả lời cho câu hỏi: sống như thế nào là sống có ý nghĩa? Trương Ba chết hẳn để đổi lại sự sống cho anh hàng thịt, cho cu Tị, để đổi lấy tiếng cười và niềm hạnh phúc cho tất cả những người xung quanh thì câu hỏi: sống như thế nào là có ý nghĩa đã được trả lời một cách rõ ràng: một sự sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi người không chỉ biết sống vì mình mà còn biết sống, biết vun đắp, thậm chí biết hi sinh cho hạnh phúc của những người xung quanh. Rõ ràng ở đây nhà văn đã đề cao lối sống vị tha, cao thượng. Đó cũng chính là lý do cho sự thay đổi đầy dụng ý của tác giả khi biến một người nông dân chung chung trong truyện cổ dân gian thành một người làm vườn trong tác phẩm của mình. Hình tượng người làm vườn chính là đại diện cho những người biết vun xới, chăm lo cho hạnh phúc của người khác. Ở khía cạnh này chúng ta thấy tư tưởng của nhà văn dù tiến bộ và mới mẻ đến đâu vẫn có sự bắt rễ sâu và hoàn toàn thống nhất với truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc.
3.3.Kết bài:
– Kết luận về nội dung, nghệ thuật vẻ đẹp nhân vật hồn Trương Ba qua đoạn trích;
– Nêu cảm nghĩ về quan niệm về lẽ sống đẹp dành cho con người.
(4.00)
4. Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.
(0,25)
5. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.
Người ta xếp hai quả cầu có cùng bán kính r vào một chiếc hộp hình trụ sao cho các quả cầu đều tiếp xúc với hai đáy, đồng thời hai quả cầu tiếp xúc với nhau và mỗi quả cầu đều tiếp xúc với đường sinh của hình trụ (tham khảo hình vẽ). Biết diện tích xung quanh của hình trụ là 2 72 cm thể tích của mỗi khối cầu là (kết quả làm tròn đến hàng phần chục).
Xếp ngẫu nhiên 6 học sinh nam và 4 học sinh nữ quanh một bàn tròn. Xác suất để các học sinh nữ luôn ngồi cạnh nhau là
Trong không gian với hệ tọa độ Oxyz cho mặt cầu 2 2 2 S x y z 1 2 2 9 và hai điểm A(4; – 4; 2), B(6; 0; 6). Biết M(a; b; c) là điểm thuộc mặt cầu (S) sao cho MA + MB đạt giá trị lớn nhất. Khi đó biểu thức P = a2 + b2 – c2 bằng?
Cho hình chóp S.ABCD có đáy là hình vuông cạnh a, tam giác SAB vuông cân tại S và nằm trong mặt phẳng vuông góc với đáy. M là trung điểm cạnh CD. Tang của góc giữa hai đường thẳng SD và BM bằng?
Đề thi thử tốt nghiệp THPT 2022 môn hóa THPT Yên Lạc 2 Vĩnh Phúc lần 3 có đáp án
Yên Lạc 2 – Vĩnh Phúc (Lần 3)
⇒ Mã đề: 177
41D
42D
43C
44B
45D
46B
47D
48D
49C
50C
51A
52B
53B
54C
55C
56C
57D
58D
59A
60B
61A
62A
63D
64D
65C
66C
67A
68A
69B
70B
71A
72C
73A
74D
75A
76C
77B
78B
79A
80B
Câu 41: Chất nào sau đây là chất lỏng ở nhiệt độ thường?
A. Alanin. B. Tristearin. C. Saccarorơ. D. Anilin.
Câu 42: Cacbohidrat nào có nhiều trong cây mía và củ cải đường?
A. Xenlulozo. B. Glucozo C. Fructozo D. Saccarozo
Câu 43: Ở điều kiện thường hợp chất nào sau đây tác dụng được với nước?
A. Al2O3 B. Na2CO3 C. CaO D. NaCl.
Câu 44: Axit oleic có số nguyên tử H trong phân tử là
A. 31 . B. 34. C. 32. D. 33.
Câu 45: Sắt (III) sunfat có công thức là
A. FeS. B. FeSO4. C. Fe2SO4. D. Fe2(SO4)3.
Câu 46: Cho hỗn hợp rắn CH3COONa, NaOH và CaO vào ống nghiệm chịu nhiệt rồi đun nóng. Khí sinh ra có đặc điểm nào sau đây?
A. Làm mất màu dung dịch brom. B. Nhẹ hơn không khí.
C. Làm mất màu dung dịch thuốc tím. D. Tan tốt trong nước.
Câu 47: Polime nào sau đây chỉ chứa hai nguyên tố C và H?
A. Poli(vinyl axetat). B. Poliacrilonitrin.
C. Poli(vinyl clorua). D. Polietilen.
Câu 48: Thành phần chính của quặng manhetit là
A. FeCO3. B. Fe2O3. C. FeS2. D. Fe3O4.
Câu 49: Kim cương, than chì và fuleren là
A. các đồng vị của cacbon. B. các hợp chất của cacbon.
C. các dạng thù hình của cacbon. D. các đồng phân của cacbon.
Câu 50: Chất nào sau đây không có phản ứng tráng gương?
A. HCOOH. B. CH3-CHO. C. CH3-C≡CH D. C6H12O6.
Câu 51: Kim loại nào sau đây có nhiệt độ nóng chảy cao nhất?
A. W. B. Al. C. Hg. D. K.
Câu 52: Trong công nghiệp, kim loại nào sau đây được điều chế bằng phương pháp nhiệt luyện?
A. Mg B. Fe C. Na D. Al
Câu 53: Chất nào sau đây không phải là chất điện li?
A. CH3COOH. B. C6H12O6. C. HF. D. NaNO3.
Câu 54: Sản phẩm của phản ứng este hóa giữa ancol metylic và axit axetic là
A. etyl fomat. B. metyl fomat. C. metyl axetat. D. etyl axetat.
Câu 55: Fe tác dụng với dung dịch lượng dư dung dịch nào sau đây tạo ra muối sắt (III)
A. H3PO4. B. H2SO4 loãng. C. HNO3 loãng. D. HCl.
Câu 56: Muối ngậm nước CaSO4.H2O có tên thường gọi là
A. vôi tôi. B. thạch cao sống. C. thạch cao nung. D. thạch nhũ.
Câu 57: Kim loại nào sau đây không phản ứng với dung dịch HCl ?
A. Na. B. Fe. C. Mg. D. Cu.
Câu 58: Kim loại nào sau đây là thành phần chính của gang và thép?
A. Cr B. Cu. C. Al. D. Fe.
Câu 59: Kim loại nào sau đây có thể dát thành lá mỏng 0,01 mm và dùng làm giấy gói kẹo, gói thuốc lá?
A. Al. B. Ag. C. Cu. D. Fe.
Câu 60: Chất X có công thức phân tử C4H8O2. Khi X tác dụng với dung dịch NaOH sinh ra chất Y có công thức CH3COONa. Công thức cấu tạo của X là
A. C2H5COOCH3. B. CH3COOC2H5. C. CH3COOC3H5. D. HCOOC3H7.
Câu 61: Dung dịch chất nào sau đây làm quỳ tím chuyển sang màu xanh?
A. Lysin. B. Alanin. C. Glyxin. D. Axit glutamic.
Câu 62: Một mẫu nước có chứa các ion Ca2+, Mg2+, HCO3-, Cl-. Mẫu nước trên thuộc loại
A. nước cứng toàn phần. B. nước mềm.
C. nước cứng vĩnh cửu. D. nước cứng tạm thời.
Câu 63: Đốt cháy hoàn toàn a gam triglixerit X cần vừa đủ 3,26 mol O2, thu được 2,28 mol CO2 và 39,6 gam H2O. Mặt khác, thủy phân hoàn toàn a gam X trong dung dịch NaOH, đun nóng, thu được dung dịch chứa b gam muối. Giá trị của b là
A. 31,92. B. 35,60. C. 40,40. D. 36,72.
Câu 64: Điện phân 500 ml dung dịch CuSO4 0,2M (điện cực trơ) cho đến khi ở catot thu được 3,2 gam kim loại thì thể tích khí (đktc) thu được ở anot là
A. 2,24 lít. B. 1,12 lít. C. 3,36 lít. D. 0,56 lít
Câu 65: Cho sơ đồ chuyển hóa:
Biết: X, Y, Z, E, F là các hợp chất khác nhau; mỗi mũi tên ứng với một phương trình hóa học của phản ứng xảy ra giữa hai chất tương ứng. Các chất E, F thỏa mãn sơ đồ trên lần lượt là
A. Na2SO4, NaOH B. Na2CO3, HCl. C. NaHCO3, HCl. D. CO2, Na2SO4.
Câu 66: Cho m gam glyxin tác dụng với lượng dư dung dịch HCl thu được 4,46 gam muối. Giá trị của m là
A. 35,6. B. 3,56. C. 3,00. D. 30,0.
Câu 67: Cho 17,6 gam hỗn hợp X gồm Fe và Cu vào dung dịch HCl loãng dư thấy có 4,48 lít khí H2 (đktc) thoát ra. Khối lượng Cu trong X là
A. 6,4 gam. B. 11,2 gam. C. 12,8 gam. D. 3,2 gam.
Câu 68: Trong quá trình sản xuất đường glucozơ thường còn lẫn 10% tạp chất (tạp chất này không tham gia phản ứng tráng bạc). Lấy a gam đường glucozơ trên cho phản ứng hoàn toàn với dung dịch AgNO3/NH3 (dư), thu được 10,8 gam Ag. Giá trị của a là
A. 10 gam. B. 20 gam. C. 9 gam. D. 18 gam.
Câu 69: Cho 3,6 gam Mg tác dụng hết với dung dịch HNO3 (dư), sinh ra V lít khí NO (ở đktc, sản phẩm khử duy nhất). Giá trị của V là
A. 4,48. B. 2,24. C. 3,36. D. 1,12.
Câu 70: Cho 8,1 gam Al phản ứng hoàn toàn với khí Cl2 dư, thu được m gam muối. Giá trị của m là
A. 7,64. B. 40,05. C. 36,07. D. 26,04.
Câu 71: Cho các nhận định sau: (a) Tất cả các amin đều làm quỳ tím ẩm chuyển màu xanh. (b) Cho lòng trắng trứng vào Cu(OH)2 trong NaOH thấy xuất hiện màu tím (c) Đề rửa sạch ống nghiệm có dính anilin, có thể dùng dung dịch HCl (d) H2N-CH2-CONH-CH(CH3)-COOH là một đipeptit (e) Ở điều kiện thường H2NCH2COOH là chất rắn, dễ tan trong nước. Số nhận định đúng là
A. 4. B. 1. C. 3. D. 2
Câu 72: Phát biểu nào sau đây là sai?
A. Tơ xenlulozơ axetat là polime nhân tạo.
B. Cao su là những vật liệu có tính đàn hồi.
C. Các tơ poliamit bền trong môi trường kiềm hoặc axit.
D. Trùng hợp vinyl clorua, thu được poli(vinyl clorua).
Câu 73: Đốt cháy hỗn hợp X gồm 3 kim loại Mg, Zn, Cu thu được 34,5 gam hỗn hợp rắn Y gồm các oxit kim loại. Để hòa tan hết hỗn hợp Y cần dùng vừa đủ dung dịch chứa 0,8 mol HCl. Khối lượng hỗn hợp X là
A. 28,1 gam. B. 24,9 gam. C. 21,7 gam. D. 31,3 gam.
Câu 74: Tiến hành thí nghiệm theo các bước sau: – Bước 1: Cho vào hai ống nghiệm mỗi ống 2 ml etyl axetat. – Bước 2: Thêm 2 ml dung dịch H2SO4 20% vào ống thứ nhất, 4 ml dung dịch NaOH 30% vào ống thứ hai. – Bước 3: Lắc đều cả hai ống nghiệm, lắp ống sinh hàn, đun sôi nhẹ trong khoảng 5 phút, để nguội. Cho các phát biểu dưới đây: (a) Sau bước 2, chất lỏng trong ống thứ nhất phân lớp, chất lỏng trong ống thứ hai đồng nhất. (b) Sau bước 3, chất lỏng trong cả hai ống nghiệm đều đồng nhất. (c) Sau bước 3, sản phẩm phản ứng thủy phân trong cả hai ống nghiệm đều tan tốt trong nước. (d) Ở bước 3, có thể thay việc đun sôi nhẹ bằng đun cách thủy (ngâm trong nước nóng). (e) Ống sinh hàn có tác dụng hạn chế sự thất thoát của các chất lỏng trong ống nghiệm. (g) Sau bước 3, ở ống thứ 2 có lớp chất rắn màu trắng nổi lên Số phát biểu đúng là
A. 1. B. 2. C. 4. D. 3.
Câu 75: Cho m gam hỗn hợp gồm Na, Na2O, Ba, BaO (trong đó tỉ lệ khối lượng giữa kim loại và oxi là 10 : 1) tác dụng với một lượng dư H2O, thu được 1,12 lít H2 (đktc) và 300 ml dung dịch X. Cho X tác dụng với 200 ml dung dịch chứa hỗn hợp gồm H2SO4 0,25M và HCl 0,3M, thu được 500 ml dung dịch có pH = 1,7. Giá trị của m là
A. 4,4. B. 5,4. C. 8,6. D. 6,8.
Câu 76: Cho m gam hỗn hợp X gồm MgO, CuO, MgS và Cu2S (oxi chiếm 30% khối lượng) tan hết trong dung dịch H2SO4 và NaNO3, thu được dung dịch Y chỉ chứa 4m gam muối trung hòa và 0,672 lít (đktc) hỗn hợp khí gồm NO2, SO2 (không còn sản phẩm khử khác). Cho Y tác dụng vừa đủ với dung dịch Ba(NO3)2, được dung dịch Z và 9,32 gam kết tủa. Cô cạn Z được chất rắn T. Nung T đến khối lượng không đổi, thu được 2,688 lít (đktc) hỗn hợp khí (có tỉ khối so với H2 bằng 19,5). Giá trị của m gần nhất với giá trị nào sau đây?
A. 4,0. B. 2,5. C. 3,0. D. 3,5.
Câu 77: Tiến hành các thí nghiệm sau: (1) Cho bột Fe vào dung dịch AgNO3. (2) Cho Fe vào dung dịch Fe2(SO4)3 dư. (3) Cho dung dịch FeCl2 vào dung dịch AgNO3 (dư). (4) Dẫn khí CO (dư) qua bột Fe2O3 nung nóng. Số thí nghiệm có tạo thành kim loại là
A. 2. B. 3. C. 1. D. 4.
Câu 78: Hỗn hợp X gồm C2H2, C3H6, C4H10 và H2. Cho 11,2 lít (đktc) hỗn hợp X qua bình đựng dung dịch brom dư thấy có 64 gam brom tham gia phản ứng. Mặt khác, đốt cháy hoàn toàn 11,2 lít (đktc) hỗn hợp X được 55 gam CO2 và m gam nước. Giá trị của m là
A. 31,5. B. 24,3. C. 27. D. 22,5.
Câu 79: Đốt cháy hoàn toàn 10,92 gam hỗn hợp E gồm ba este mạch hở X, Y, Z (đều có số liên kết pi (π) lớn hơn 2, MX < MY < MZ < 180) cần vừa đủ 0,51 mol O2, thu được 10,752 lít khí CO2 (đktc). Cho 10,92 gam E tác dụng hết với dung dịch KOH (lấy dư 25% so với lượng phản ứng) rồi chưng cất dung dịch, thu được hỗn hợp hai ancol no, đơn chức, đồng đẳng kế tiếp và hỗn hợp rắn khan T gồm hai chất. Đốt cháy hoàn toàn T, thu được K2CO3, CO2 và 1,575 gam H2O. Biết nY = nX + 2nZ, phần trăm khối lượng của Y trong E là
A. 57,88%. B. 26,37%. C. 52,75%. D. 63%.
Câu 80: Chất hữu cơ X mạch hở có công thức phân tử C7H10O6. Đun nóng X với dung dịch NaOH vừa đủ, thu được một ancol Y và hỗn hợp gồm hai muối Z và T (MZ < MT). Nung nóng Z cũng như T với vôi tôi xút đều thu được một hiđrocacbon đơn giản nhất. Cho các nhận định sau: (a) Oxi hóa Y bằng CuO dư, đun nóng thu được anđehit hai chức. (b) Z và Y có cùng số nguyên tử cacbon. (c) X tác dụng được với kim loại Na, giải phóng khí H2. (d) Trong phân tử của T có số nguyên tử cacbon bằng số nguyên tử oxi. (e) X có 2 đồng phân cấu tạo thỏa mãn. (f) Axit tạo ra muối Z được điều chế trực tiếp từ ancol Y và khí CO. (g) X là hợp chất hữu cơ tạp chức. Số nhận định đúng là