dàn âm thanh hội trường, âm thanh lớp học, âm thanh phòng họp, loa trợ giảng

SKKN Cách làm bạn với học sinh của giáo viên Trung học cơ sở

SKKN Cách làm bạn với học sinh của giáo viên Trung học cơ sở

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
1. Bối cảnh xã hội và mục tiêu giáo dục trong nhà trƣờng.
Bước sang thế kỷ thứ XX, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục có những bước
đột phá, tạo sự chuyển biến nhanh về mọi mặt trong đời sống của người Việt
Nam. Tuy nhiên, những biến động của nền kinh tế thị trường mở cửa cũng gây ra
không ít tác động tiêu cực đến đời sống tinh thần của nhiều người, đặc biệt là giới
trẻ, mà lực lượng đông nhất chính là học sinh trung học cơ sở và trung học phổ
thông. Điều này đòi hỏi gia đình và nhà trường phải có những giải pháp hợp lí
hướng đến giáo dục đạo đức, hình thành nhân cách tốt đẹp ở học sinh.
Giáo dục học sinh không phải chỉ là dạy cho các em về kiến thức, mà còn
phải giúp các em hình thành nhân cách; không chỉ là dạy chữ mà còn phải dạy
người. Vì lẽ đó mà sự nghiệp giáo dục dược mệnh danh là “trồng người”. Việc
trồng người này đòi hỏi phải có sự chung tay góp sức của các lực lượng xã hội,
mà quan trọng nhất là sự phối hợp ăn ý, chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường.
Thế nhưng các bậc cha mẹ đôi khi cũng bế tắc trong việc giáo dục con ở tuổi
thanh thiếu niên. Một số bậc cha mẹ vì quá bận rộn với việc làm kinh tế mà
không quan tâm được đến con và phó mặc cho thầy cô. Có người rất thật lòng:
“Ở nhà tôi rầy cỡ nào nó cũng không nghe. Tôi nói mười câu không bằng thầy
nói một câu.” Cũng có người thể hiện thái độ bất hợp tác: khóa điện thoại khi
thầy cô chủ nhiệm gọi đến.
Với một số học sinh, gia đình không phải là chốn bình yên, không phải là
nơi mà em muốn quay về sau mỗi ngày đi học, bởi ở nhà, “bố mẹ con chỉ biết
dùng từ thô tục chửi con, đánh con. Con sợ đòn roi, nhưng con không nể bố mẹ
con,… Cô cho con một câu trả lời, cô cho con một lời nào giúp con đi cô!” – Một
em học sinh đã gửi đi lời cầu cứu đến cô chủ nhiệm của mình như thế! Có em, vì
cha mẹ không có con trai, nên ngay từ nhỏ, đã cho con gái ăn mặc quần áo của
con trai, đối xử như với con trai. Đến trường, em hung hăng, nghênh ngang thể
hiện bản lĩnh “đàn anh” của mình. Lúc này, cha mẹ mới khẩn khoản: thầy cô làm
ơn giúp dùm gia đình. Cũng có em tâm sự: Cô ơi, con không thích học sư phạm,
nhưng mẹ con nói là sư phạm dễ kiếm việc làm, dễ lấy chồng nên bắt con thi.
Bây giờ con đăng ký thi ngành điện tử, ba mẹ con không nhìn tới mặt con, con
phải làm sao hả cô?
Và còn biết bao tình huống mà người giáo viên phải đối diện khi dạy học
sinh: các em nghĩ thầy cô đối xử bất công hay hiều lầm, mâu thuẫn với bạn bè
3
dẫn đến xô xát, muốn nghỉ học vì chán nản chuyện gia đình, vì hoàn cảnh khó
khăn,… Ở tuổi mới lớn, vì luôn muốn được quan tâm, đôi khi các em thổi phồng
vấn đề của mình lên quá mức, khiến cho việc nhỏ trở nên trầm trọng. Nếu không
được kịp thời giúp đỡ, khi cảm thấy không ai quan tâm đến mình, các em sẽ tự
giải quyết vấn đề và thông thường đó là những cách xử lý tiêu cực, đôi khi gây ra
hậu quả vô cùng trầm trọng.
Thiết nghĩ, trước những tình huống nảy sinh trong quá trình giáo dục,
người thầy cần phải có đủ thời gian, đủ kiên nhẫn, đủ bản lĩnh và quan trọng nhất
là phải có đủ tình thương để có thể lắng nghe, thông cảm, thấu hiểu, chia sẻ và
định hướng cho các em cách giải quyết những vấn đề khó khăn trong cuộc sống.
Tuy nhiên, ta không nên chờ đến khi thật sự có vấn đề rồi mới đi tìm cách giải
quyết, mà phải phát hiện được vấn đề khi nó còn tiềm ẩn, ngăn chặn những tình
huống xấu phát sinh. Bởi vậy thầy cô cần biết cách “làm bạn” và trở thành người
bạn của học sinh.
2. Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở.
– Tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển của trẻ từ 11 – 15 tuổi, các em được vào
học ở trường Trung học cơ sở (từ lớp 6 đến lớp 9). Lứa tuổi này có một vị trí đặc
biệt và tầm quan trọng trong thời kì phát triển của trẻ em, vì nó là thời kì chuyển
tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác
nhau như: “thời kì quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị”…
– Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần
khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành)
tạo nên nội dung cơ bản và khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ,
tình cảm, đạo đức… của thời kì này.
– Ở lứa tuổi thiếu niên có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người
lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều
kiện sống, hoạt động… của các em. Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự
khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn – điều
này do hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên. Hoàn cảnh đó
có cả hai mặt: Những yếu điểm của hoàn cảnh kiềm hãm sự phát triển tính người
lớn: trẻ chỉ bận vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha
mẹ có xu thế không để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhua của gia
đình, của xã hội. Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người
lớn: sự gia tăng về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp
khó khăn trong đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để mưu sinh. Điều đó
khiến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn.
4
– Phương hướng phát triển tính người lớn ở lứa tuổi này có thể xảy ra theo các
hướng sau:
Đối với một số em, tri thức sách vở làm cho các em có hiểu biết nhiều,
nhưng còn nhiều mặt khác trong đời sống xã hội các em biết rất ít. Có những em
ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường, mà chỉ quan tâm đến vấn đề làm thế
nào cho phù hợp với mốt, coi trọng việc giao tiếp với người lớn, với bạn lứa tuổi
để bàn bạc, trao đổi với họ các vấn đề trong cuộc, để tỏ ra mình cũng như người
lớn. Ở một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực
tế đang rèn luyện mình có những đức tính của người lớn như: dũng cảm, tự chủ,
độc lập…Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên có
vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đây là thời kì phát triển phức tạp nhất, và
cũng là thời kì chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này.
Thời kì thiếu niên quan trọng ở chỗ: trong thời kì này những cơ sở, phương
hướng chung của sự hình thành quan điểm xã hội và đạo đức của nhân cách được
hình thành, chúng sẽ được tiếp tục phát triển trong tuổi thanh niên. Hiểu rõ vị trí
và ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lí thiếu niên giúp chúng ta có cách đối xử
đúng đắn và giáo dục để các em có nhân cách toàn diện.
Ở độ tuổi 11-15, các em chưa phải là người lớn nhưng cũng không còn là
trẻ con, có khả năng nhận thức nhưng những nhận thức của các em chưa thật sự
chín chắn và có thể sẽ sai lệch nếu không được định hướng. Các em còn lệ thuộc
vào cha mẹ về cả kinh tế lẫn tinh thần. Tuy nhiệm vụ chính là học tập, nhưng các
em thường phải đối mặt với rất nhiều áp lực, từ nhiều phía: gia đình, nhà trường,
xã hội. Ở nhà, đó là những yêu cầu, kỳ vọng của cha mẹ, ông bà, là bầu không
khí trong gia đình, là mối quan hệ giữa con cái với cha mẹ,… Ở trường, là áp lực
về học tập, quan hệ với thầy cô, bạn bè….Ngoài xã hội, các em phải đối mặt với
những cám dỗ của các trò chơi, các trang thông tin mạng,… Và riêng bản thân
các em cũng phải lúng túng với những vấn đề mới nảy sinh: những thay đổi
vềtâm sinh lý, tình cảm tuổi học trò,… Cá biệt, có những em vấp phải vấn
đềnghiêm trọng hơn: lệch lạc về giới tính, bạo hành gia đình, tệ nạn xã hội,…Đối
diện với những vấn đề phức tạp đó, rất nhiều em sẽ không biết nhìn nhận, giải
quyết vấn đề như thế nào cho hợp lý. .
Trong những trường hợp như thế, học sinh rất cần đến sự chia sẻ, sự thông
hiểu từ người thân: gia đình, bạn bè,… Thế nhưng trong cuộc sống, người lớn
chúng ta thường đòi hỏi các em phải có ý thức trách nhiệm, có thái độ hợp lý, có
tính độc lập, nhưng mặt khác lại cũng đòi hỏi các em phải chịu sự sắp đặt của của
người lớn. Vì vậy, thay vì cho con những lời khuyên, các bậc cha mẹ lại thường
rót vào tai con cái những câu đại loại như: Con phải …, Con người ta … còn con
thì …, Hồi đó ba (mẹ) …, … Không muốn bị áp đặt, không muốn bị so sánh, và
5
không muốn nghe ba mẹ kể “chuyện đời xưa”, con cái thường che giấu cha mẹ
những điều mà các em đang trăn trở, những vướng mắc của bản thân, …
Lâu dần, vì lý do này hay lý do khác, các em đâm ra đề phòng cha mẹ, thầy
cô, thủ thế với bạn bè. Trong khi đó, trên báo chí, trên các trang mạng xã hội, lại
đầy những thông tin bất lợi đối với các em – những “người lớn – trẻ con” chưa đủ
sức sàng lọc để lựa chọn, giữ lại những điều tốt và loại bỏ cái xấu. Theo chuyên
gia tư vấn thuộc Trung tâm Tư vấn học đường tại TP.HCM – Chuyên viên
Nguyễn Hồng Sơn – thì: “Đối với trẻ vị thành niên, có thể bị mất thăng bằng bởi
chính những điều tưởng như vặt vãnh ấy, nếu không được những người xung
quanh quan tâm, giúp đỡ và chia sẻ kịp thời”. Bác sĩ Phạm Anh Tuấn, Khoa Cấp
cứu, Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương cho biết: 90% trẻ vị thành niên tự tử vì
cảm thấy không được gia đình thấu hiểu.
Có thể nói, lứa tuổi 11 – 15 là một trong những giai đoạn khủng hoảng và
khó khăn trong cuộc đời của mỗi người. Sự trợ giúp kịp thời và đúng đắn từ phía
người lớn là một nhu cầu bức thiết đối với trẻ, đặc biệt là khi các em đó rơi vào
sự khủng hoảng tâm lý. Học sinh cần được giãi bày, cần được tâm sự, cần được
những lời khuyên đúng đắn từ người lớn, mà gần gũi với các em nhất chính là
cha mẹ, thầy cô. Và khi không thể có được điều đó từ gia đình, nhiều em đó xem
thầy cô như một chỗ dựa tinh thần. Cho các em những lời khuyên, định hướng
đúng đắn cho các em con đường phải đi, giúp các em tìm lại niềm tin, niềm vui
trong cuộc sống…Mỗi thầy cô giáo cần là một người bạn của học sinh.
Là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn tại trường THCS Lê
Quý Đôn, tôi cũng luôn mong muốn cùng với những đồng nghiệp đóng góp sức
lực nhỏ bé của mình vào sự nghiệp giáo dục huyện nhà nói riêng, nước nhà nói
chung. Với tinh thần ấy, tôi xin đưa ra một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân về
cách “làm bạn” với học sinh của giáo viên Trung học cơ sở”.
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến
Thực hiện xây dựng sáng kiến tôi đã tiến hành tìm hiểu, quan sát:
1.1.Tìm hiểu thực trạng đạo đức của học sinh.
Theo kết quả khảo sát của Viện Nghiên cứu và Phát triển Giáo dục, tình
hình vi phạm các chuẩn mực đạo đức của học sinh là khá nghiêm trọng. Có đến
8% học sinh tiểu học thực hiện hành vi quay cóp trong thi cử và tỉ lệ gia tăng ở
các cấp học trên: Học sinh THCS là 55% và học sinh THPT là 60%. Hành vi nói
dối cha mẹ cũng gia tăng theo cấp học: tiểu học là 22%, trung học cơ sở là 50%,
trung học phổ thông là 64% (Trần Hữu Quang, 2012). Vì thế, nhận xét của hai tác
giả Đặng Văn Chương và Trần Đình Hùng (2012) làm cho những ai có trách
nhiệm phải suy ngẫm: “Càng học lên cao thì số HS, sinh viên vi phạm đạo đức
6
càng tăng lên.” Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có khoảng 1.600 vụ HS
đánh nhau ở trong và ngoài trường học trong một năm học, tính trên phạm vi toàn
quốc, trung bình xảy ra khoảng 5 vụ/ngày (Mai Chi, 2017).Nghiên cứu của tác
giả Lê Duy Hùng (2013) về đạo đức của học sinh cho thấy tỉ lệ học sinh vi phạm
các chuẩn mực đạo đức là không nhỏ. Hành vi vi phạm phổ biến nhất là: chửi thề,
chửi bậy; gây gổ, đánh nhau; trốn học, bỏ giờ và gian lận trong thi cử. Tỉ lệ 50%
học sinh được khảo sát cho biết thỉnh thoảng có chửi thề và 12% thường xuyên
có những hành vi đó. Tình trạng báo động học sinh gây gổ đánh nhau, trong đó
không chỉ có học sinh nam mà còn có cả học sinh nữ. Một tỉ lệ đáng kể (34,2%
HS) cho biết là thỉnh thoảng có thực hiện hành vi gây gổ, đánh nhau. Bên cạnh
đó, hành vi bỏ giờ, trốn học cũng trở thành phổ biến. Có đến 26,7 % HS được
khảo sát thừa nhận thỉnh thoảng và 7,5% cho biết là thường xuyên.
Tình trạng suy thoái đạo đức của một bộ phận giới trẻ nói chung và học
sinh nói riêng không chỉ là kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu và theo
dõi phản ánh của giới truyền thông, trong Văn kiện Đại hội Đảng khóa X (Đảng
CSVN, 2006), Đảng ta cũng đã nhận định “Tình trạng suy thoái, xuống cấp về
đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo ngại, nhất là
trong giới trẻ”.
Tôi đã quan sát thái độ, cách ứng xử, lời ăn tiếng nói của học sinh các
trường Trung học cơ sở khi tôi có dịp đến thăm, coi thi, tập huấn…Có khá nhiều
em ý thức chưa tốt, thậm chí tỏ ra ngỗ nghịch. Điều khiến tôi trăn trở nhất là thái
độ của các em đối với thầy cô giáo của mình: thiếu tôn trọng. Các em làm theo
lời thầy cô một các miễn cưỡng, thái độ thiếu hợp tác khi thầy cô căn dặn, có em
coi như không nghe thấy thầy cô nói gì…
Về nguyên nhân: Có rất nhiều nguyên nhân khách quan như tác động của
internet, điện thoại thông minh, mạng xã hội, phim ảnh, âm nhạc,… nhưng cần
thiết phải “tự soi lại chính mình” bằng việc xem xét lại hai nguyên nhân cơ bản
xuất phát từ gia đình và nhà trường. Tại hội nghị quốc tế lần thứ 5 về giáo dục
thế giới năm 2012 với chủ đề “Giáo dục đang đối mặt với những vấn đề đương
đại thế giới”, hai chuyên gia Clipa và Lorga (2012) đã khẳng định gia đình và nhà
trường là hai yếu tố quan trọng bậc nhất ảnh hưởng đến việc hình thành đạo đức
học sinh. Tuy nhiên, hai yếu tố then chốt này xét trong bối cảnh Việt Nam đang
có vấn đề bởi:Gia đình thiếu quan tâm hoặc là giáo dục con em mình không đúng
cách. Giáo dục đạo đức ở nhà trường chưa thực sự đạt hiệu quả, chưa đạt được
mục đích là giáo dục hướng thiện đối với con người. Có những việc tưởng rằng
nhỏ nhưng lại có tác động đáng kể đến quá trình hình thành nhân cách của học
sinh, tuy nhiên nhà trường lại không lưu tâm đến. Ví dụ như việc làm vệ sinh
trường lớp, tham gia hoạt động ngoại khóa của trường…Mặt khác, nói đến vai trò
7
của nhà trường trong việc dạy học sinh làm người, trước tiên phải đề cập đến vai
trò của người thầy. Tác giả Dương Văn Duyên (2011) cho rằng người học luôn
lấy người thầy làm mẫu. Thế nhưng hình ảnh mẫu mực của người thầy trong xã
hội chúng ta trong thời gian qua đang bị xem nhẹ. Hiện tượng giáo viên vi phạm
đạo đức như là có xảy ra, dù đó không phải là hiện tượng phổ biến nhưng đã gây
mất niềm tin của xã hội về một hình tượng cao quý trong tâm thức của nhiều thế
hệ. Mặt khác, Chỉ thị số 1737/CT-BGDĐT ngày 07-5-2018 của Bộ Giáo dục và
Đào tạo cũng đã chỉ ra rằng bên cạnh đa số giáo viên có phẩm chất đạo đức tốt thì
vẫn còn tình trạng giáo viên vi phạm đạo đức nhà giáo, gây bức xúc cho xã hội
(Bộ GDĐT, 2018).
Để nâng cao hiệu quả việc giáo dục đạo đức cho HS, chúng ta không thể
trông chờ vào các cơ quan quản lý nhà nước ở các lĩnh vực khác để hy vọng quản
lý tốt việc kinh doanh trò chơi điện tử hay hạn chế tác động tiêu cực của mạng xã
hội và các loại hình giải trí, … hoặc trông chờ vào lương tâm của những người
tạo ra sản phẩm “gây ngộ độc” cho đời sống đạo đức của HS, mà chính chúng ta,
những người làm công tác giáo dục phải tiên phong. Trong số rất nhiều giải pháp
hướng đến việc giáo dục đạo đức học sinh tôi nhận thấy: Mỗi giáo viên phải thực
sự là người mẹ, người cha và là người bạn biết lắng nghe và chia sẻ.Qua kinh
nghiệm thực tiễn của cá nhân và một số đồng nghiệp, chúng tôi nhận thấy nếu
giáo viên chỉ biết dùng kỷ luật và chỉ trích những học trò thuộc dạng khó dạy thì
khó mà chuyển hóa được học trò. Giáo viên phải ân cần lắng nghe, hiểu, chia sẻ
và thỉnh thoảng tìm những điểm tích cực để khen học trò nhằm khuyến khích các
em phát huy những điểm tích cực đó. Khi giáo viên đã trở thành “người bạn” của
học sinh – trở thành người các em tin tưởng, to nhỏ tâm sự, dám bộc bạch… giáo
viên sẽ hiểu và biết hướng giáo dục học sinh toàn diện.
1.2. Tìm hiểu mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh trong trƣờng Trung
học cơ sở.
Dân tộc Việt Nam có truyền thống hiếu học từ lâu đời. Người dân Việt
Nam dù ở giai đoạn nào của đất nước, vẫn coi trọng sự học, neo vào con chữ để
cho con em được học hành thành người, thành tài, thành người có ích cho xã hội.
Vì vậy, truyền thống “Tôn sư trọng đạo” luôn là một nét đẹp mang đậm tính nhân
văn của văn hóa Việt Nam. Coi trọng sự học, kính trọng người thầy là yếu tố cốt
lõi để làm nên giá trị nhân bản của việc học hành. Người thầy luôn được cả xã
hội tôn kính, người được nhân dân gửi gắm niềm tin về việc học hành và sự thành
đạt của con em họ.Từ vị trí quan trọng của người thầy, ông cha ta đã đúc rút
thành quan niệm và trở thành đạo lý từ ngàn đời nay “Lương Sư hưng Quốc”.
Một xã hội muốn hưng thịnh, muốn phát triển thì phải coi trọng người thầy, coi
trọng sự học. Đó là cái gốc để làm nên sự phát triển bền vững của một đất nước.
8
Đạo lý đó được cha ông ta gửi gắm vào câu ca dao được truyền tụng từ bao đời
nay: “Muốn sang thì bắc cầu kiều/Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”.
Trong xã hội xưa, mối quan hệ thầy và trò đã được nhắc đến và được cụ
thể hóa qua những bài học, lời dạy bảo của thầy đối với trò và cử chỉ, hành động
“Tôn sư trọng đạo” của trò đối với thầy. Tuy nhiên, mối quan hệ thầy và trò trong
xã hội xưa so với xã hội ngày nay có một màu sắc khác, một đặc trưng riêng biệt.
Xuất phát từ việc coi trọng sự học, hình ảnh người thầy luôn được nhân dân nhìn
nhận là những bậc “đạo cao đức trọng”, là “khuôn vàng thước ngọc” để dạy
người.Vì thế, người thầy trong xã hội xưa luôn có một khoảng cách nhất định đối
với học trò. Thầy có “đạo làm thầy”, trò có “đạo làm trò”, mỗi người đều có bổn
phận để làm tròn vai vị trí của mình. Người thầy trong xã hội xưa luôn có thái độ
nghiêm khắc trước học trò. Từ lời nói, cử chỉ, hành động của thầy đều thể hiện
tính “mô phạm” để giáo dục học trò. Hình ảnh thầy đồ ngồi giảng bài trên chõng
tre, bên dưới là những cậu học trò cặm cụi viết chữ, ngồi im nghe lời thầy giảng
mà không dám trò chuyện riêng hay làm việc riêng là hình ảnh quen thuộc trong
xã hội xưa. Đôi khi, trò vi phạm, nhất là vi phạm đạo đức, thầy trách phạt, thậm
chí dùng roi đánh vào tay, vào lưng, thậm chí từ chối sự giáo dục để học trò nhận
ra lỗi lầm của mình nhưng trò và gia đình không hề kêu ca, không hề trách mắng
thầy vì họ đều nhận thức được rằng, có như vậy, bản thân mới nên người, mới cố
gắng học hành để thành đạt. Khi ấy, trò chỉ có một cách duy nhất là khoanh tay
hoặc quỳ lạy để mong thầy tha thứ và tiếp tục cho học. Người thầy trong xã hội
xưa luôn dạy học trò phải tự soi mình để mà rèn luyện bản thân. Thầy luôn coi
trọng giáo dục đạo đức, nhân cách cho trò để mỗi người khi thành đạt trở thành
những con người vừa có đức, vừa có tài. Vì vậy, trong mối quan hệ thầy – trò,
thầy luôn đặt ra yêu cầu cao đối với học trò như phải biết lễ nghĩa, thưa gửi khi
gặp thầy, phải giữ chữ tín, đi đứng phải đúng mực, phải biết sửa lỗi khi mắc
lỗi…Có như thế mới giữ đúng đạo làm trò. Học trò khi gặp thầy phải đứng từ xa
mà cung kính vái chào, khi thầy cho phép đi, cho phép vào gặp thầy thì mới được
thực hiện.
Đối với học trò trong xã hội xưa, người thầy luôn là bậc bề trên, người sẽ
giúp họ học hành và đỗ đạt, trở thành những người có địa vị trong xã hội. Tuy là
“khuôn vàng thước ngọc” để học trò noi theo, tuy mô phạm nhưng người thầy
luôn gần gũi, thương yêu học trò. Thầy luôn coi trò là con, trong cách xưng hô,
trò luôn xưng con khi nói, thưa gửi với thầy. Vì thế, với bổn phận là học trò,
những người học trò trong xã hội xưa luôn học theo câu nói của cổ nhân: “Tiên
học lễ, hậu học văn”.Họ vừa kính trọng thầy dạy, vừa có những hành động để thể
hiện lòng biết ơn thầy như những ngày lễ tết, học trò đến nhà để chúc tết thầy.
Dân gian vẫn có câu: “Mùng 1 tết cha, mùng 2 tết chú, mùng 3 tết thầy”. Người
9
thầy là người đặc biệt quan trọng để mỗi khi tết đến xuân về, học trò đến tri ân
thầy. Một hình ảnh, một cử chỉ thật đẹp mà có lẽ đến nay đã bị mai một, đó là
cách trò chào thầy. Khi gặp thầy giữa đường hay ở sân trường, trò đứng nghiêm
lễ phép, bỏ mũ đang đội trên đầu rồi cúi đầu chào thầy. Đó là cách trò thể hiện sự
kính trọng đối với thầy.
Mối quan hệ giữa thầy và trò trong xã hội xưa không bị chi phối bởi các
yếu tố tiêu cực của xã hội mà chủ yếu xuất phát từ những triết lý giáo dục. Từ lời
dạy, lễ nghĩa, cử chỉ, hành động của thầy đối với trò đều mang tính giáo dục.
Đồng thời, sự trách phạt của thầy cũng mang hàm lượng giáo dục cao. Người
thầy “đạo cao đức trọng” là người luôn giữ phẩm chất cao đẹp, trong sáng, không
đòi hỏi hay ép buộc gia đình học trò phải cung phụng hay biếu xén bất cứ thứ gì,
thầy luôn lấy giáo dục làm đầu và luôn coi sự thành đạt của trò là uy tín, tài năng
đức độ của thầy.
Ngày nay, xã hội phát triển và đổi thay từng ngày. Vì thế, quan niệm về sự
học và mối quan hệ giữa thầy và trò cũng khác trước, mang một màu sắc mới trên
nền tảng những giá trị nhân văn từ truyền thống. Ở giai đoạn nào, xã hội cũng coi
trọng việc học hành, đặc biệt, xã hội càng phát triển thì việc học của con em nhân
dân luôn được đặt lên hàng đầu để mỗi đứa trẻ khi lớn lên vừa lập thân, vừa lập
nghiệp. Ở xã hội ngày nay, khoảng cách giữa thầy và trò không cách xa như
trước. Thầy và trò gần gũi, thân thiện hơn. Mối quan hệ giữa thầy và trò không
còn bị chi phối bởi những giáo lý nghiêm ngặt như trong xã hội xưa mà có phần
được giảm nhẹ, giản hóa những quy định về lễ nghĩa.Đặc biệt, cách dạy trò của
thầy cũng thay đổi. Không còn là thầy ngồi trên cầm chiếc thước hay cầm roi như
xưa nữa. Đồng thời, việc trách phạt hay mắng mỏ của thầy khi trò mắc lỗi dường
như đã giảm đi rất nhiều. Các nhà trường đều phát động phong trào thi đua “Xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” để nhằm tạo một môi trường thân
thiện giữa thầy và trò. Các cách ứng xử giữa thầy và trò cũng khác trước rất
nhiều. Điển hình như thầy phải dạy bảo trò một cách nhẹ nhàng với những
phương pháp giáo dục tích cực chứ không không được đánh mắng hay sử dụng
những hình phạt như: Cho đứng xó, phạt lao động, đứng trước cờ…Thầy không
được chê trách học trò dốt mà phải đánh giá là học sinh chưa ngoan để tìm cách
giáo dục cho học sinh tiến bộ…Khoảng cách giữa thầy và trò ngày nay cũng khác
trước. Trò có thể đứng gần trò chuyện, hỏi han bài vở với thầy, trò có thể gọi tên
thầy từ xa, có thể gọi điện, nhắn tin hỏi bài thầy rồi cùng thầy cô đi dã ngoại, trải
nghiệm thực tế…
Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường đã ảnh hưởng không nhỏ tới mối
quan hệ giữa thầy và trò. Điều đó dẫn đến những vụ việc không mong muốn nơi
10
học đường như: Gia đình học sinh dùng tiền hay những món quà vật chất để
mong thầy nương nhẹ, giúp đỡ con em mình. Thầy trách phạt học trò một cách
phản giáo dục dẫn đến việc hình thành những mâu thuẫn không nhỏ giữa phụ
huynh với giáo viên, với nhà trường. Cũng có thầy cô vì thu nhập mà tổ chức dạy
thêm trái quy định…Mối quan hệ giữa thầy và trò quá suồng sã làm mất đi tính
mô phạm trong giáo dục. Và những câu chuyện đau lòng hơn đã và đang diễn ra
trong xã hội ngày nay như: Thầy đánh trò, trò đánh thầy, phụ huynh đánh, chửi
rủa giáo viên khi họ đứng ra bênh vực con em mình…Điều đó đã như “con sâu
làm rầu nồi canh” khiến cho xã hội không khỏi trăn trở về nền giáo dục, một lĩnh
vực đặc biệt của xã hội là dạy người, đào tạo người.
Thiết nghĩ, ở bất kỳ giai đoạn nào của sự phát triển xã hội, hình ảnh người
thầy và sự học cũng luôn và cần được coi trọng. Trong đó, mối quan hệ thầy và
trò luôn được duy trì trong quá trình giáo dục. Để giữ đúng tính nhân văn trong
quan hệ giữa thầy và trò ngoài các biện pháp từ phía nhà trường, xã hội, bản thân
mỗi người thầy cần có cách “làm bạn”với học sinh để giữa thầy và trò có sự
đồng cảm, thấu hiểu, sẻ chia, kết nối – đây là những yếu tố quan trọng vô cùng
trong việc giáo dục toàn diện học sinh.
2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
Cho dù bạn là hiệu trưởng hay giáo viên bình thường, dù bạn là giáo viên
chủ nhiệm hay giáo viên bộ môn, dù bạn đang giảng dạy ở một ngôi trường lớn
với số đông học sinh hay một ngôi trường nhỏ thì mối quan hệ với học sinh luôn
là một phần trong sự thành công nghề nghiệp của bạn. Sẽ không còn những trở
ngại trong việc giáo dục học trò khi mỗi giáo viên biết cách “làm bạn” với học
sinh.
2.1. Những hành động nhỏ tạo nên “tình bạn lớn” giữa giáo viên và học sinh
của mình.
11
2.1.1. Trong buổi dạy đầu tiên của mình, bạn có thể chia sẻ một chút về bản
thân như: một vài lời về tiểu sử, sở thích và mối quan tâm, hoặc tại sao bạn yêu
thích công việc giảng dạy. Sự cởi mở này giúp học sinh cảm thấy bạn gần gũi
hơn, chúng có thể kết nối và nói chuyện với bạn như bạn đã làm với chúng. Một
giáo viên có vẻ dễ gần hơn khi họ chia sẻ các thông tin về chính mình, ngược lại
với những người không hề chia sẻ một chút thông tin gì về họ.
2.1.2. Hãy nhớ tên học sinh, ví dụ Nam, Hoa, Mai,… Khi bạn cố gắng nhớ và
gọi tên một ai đó, nghĩa là bạn đang nhận ra những nét đặc trưng của họ. Thật là
đơn giản, nhưng nó giúp học sinh của bạn biết rằng chúng đang được quan tâm
đặc biệt. Mỗi lần tôi gọi tên học sinh, đặc biệt là những học sinh mới, chúng
thường hỏi tôi: Cô, sao cô lại biết tên con??? và tôi nói: vì con rất đặc biệt mà…
2.1.3. Hãy nhớ và nhắc lại một vài thứ mà học sinh thích: Điều đó thậm chí
đơn giản kiểu như “Ngọc Lan, cô biết con thích màu xanh” hay “Hoàng Long,
thầy biết đội bóng mà con hâm mộ là Manchester”… bất cứ điều gì. Nó sẽ giúp
bạn gần hơn trong mắt học sinh.
2.1.4. Hãy nhấn mạnh vào một vài điểm nổi bật của học sinh: “Yến Nhi, hôm
nay con có áo mới. Cô rất thích chiếc áo mới của con, nó rất đẹp”… sau đó hãy
tiếp tục câu chuyện về chủ đề đó,… con mua cái áo đó ở đâu? ai mua cho con,
ngày còn còn nhỏ mẹ thầy cũng hay mua quần áo cho thầy,…bla, bla…
2.1.5. Hãy hỏi học sinh về những trải nghiệm của chúng sau một ngày ở
trƣờng: Bạn có thể nói một câu kiểu như là “Thái Hòa, cô rất ấn tượng với phần
mở bài của con khi con làm đề văn miêu tả mẹ. Con đang cảm thấy như thế nào?
Hoặc là “Con chơi đá cầu thật tuyệt, hãy nói cho cô biết làm như thế nào để con
có thể chơi giỏi như vậy?”. Những kiểu đối thoại như vậy sẽ diễn ra chỉ trong
khoảnh khoắc nó không hề tốn thời gian mà lại hiệu quả vô cùng.
2.1.6. Nếu học sinh đến muộn, hãy vào lớp cùng với học sinh. Thay vì nói
“Hãy vào lớp nhanh lên” hãy bắt đầu đoạn đối thoại với một bài câu nói kiểu như
“Cô thấy con vừa đi học muộn cách đây vài ngày, có chuyện gì xảy ra vậy? Con
có cần cô giúp điều gì không?”. Sau đó bạn hãy đi cùng với học sinh để bước vào
lớp.
2.1.7. Khi học sinh mâu thuẫn với nhau, hãy sử dụng nó nhƣ một cơ hội. Khi
là một giáo viên, chúng ta có sứ mệnh là giúp học sinh giải quyết những vấn đề
rắc rối của cuộc sống và nhanh chóng thoát khỏi nó. Ngôn ngữ mà bạn dùng ở
trong tình huống đó là một chìa khóa quan trọng. Dưới đây là một vài câu hỏi bạn
12
có thể dùng: “Có điều gì đã xảy ra vậy?” “ Con có thể làm một cách khác được
không?” “Con mong muốn điều gì?” “ Cô có thể làm điều gì để giúp con vượt
qua điều đó?”
2.1.8. Cho phép học sinh gọi bạn bằng một biệt danh. Bạn nghe thấy đâu đó
học sinh gọi bạn bằng một biệt danh “Cô Mai cận”, “cô Hoa kều”…, nếu nó hài
hước (không mang tính xúc phạm) bạn hãy công khai tên gọi đó và cho phép học
sinh được sử dụng nó. Điều này đem lại không khí hài hước và thoải mái. Việc
học sinh lúc nào cũng thưa thầy, thưa cô với dáng điệu và cử chỉ lễ phép cũng
khiến học sinh không muốn nói chuyện với bạn.
2.1.9. Nhận thức đƣợc rằng cần dành thời gian cho việc xây dựng mối quan
hệ với học sinh: Bạn nên nhớ rằng bạn cần phải dành thời gian cho các mối quan
hệ với học sinh, thậm chí đó là những học sinh cũ của bạn từ năm học trước. Tôi
đã từng thấy những giáo viên (nhất là giáo viên trẻ) họ ra trường với sự hăng say
và niềm đam mê với công việc, họ háo hức xây dựng quan hệ với người học và
họ thất bại sau đó, họ bỏ cuộc rất nhanh chóng. Họ quay sang chán nản công việc
giảng dạy. Hãy bình tĩnh nhé, vì mọi thứ đều cần phải có thời gian.
2.1.10. Hãy cởi mở, thành thật với học sinh của bạn. Không điều gì là không
có giới hạn, hãy thành thật với học sinh, bạn có thể nói “Xin lỗi con, cô vừa bị
con cô làm cho cô tức giận. Cô xin lỗi nếu như tinh thần của cô không tốt. Chúng
ta sẽ nói về chuyện đó sau.” Tôi cho rằng đó là vũ khí rất hữu hiệu đối với học
sinh. Khi đó, chúng có thể nói “Con cũng cãi nhau với mẹ con vào sáng nay và
con cảm thấy,…”. Tôi rất thích phương pháp đó, bởi vì vào thời điểm cuối ngày
khi bản thân đã kiệt sức, tôi biết khi đó tôi không thể bình tĩnh để đeo “mặt nạ”,
hãy đối mặt và thành thật như con người bình thường.
2.1.11. Hãy thể hiện tính cách của bạn và dùng nó để lôi cuốn học sinh. Nếu
bạn để ý sẽ thấy trong lời khuyên của mỗi chuyên gia tư vấn đều thể hiện vốn
sống và kinh nghiệm cá nhân của họ. Tôi đã từng thầy một chuyên gia tâm lí, ông
ta là fan hâm mộ hip-hop từ khi ông ta mới có 10 tuổi. Và bây giờ ông đã dùng
chính hip-hop giống như một phương tiện để liên kết, lôi kéo và cuốn hút học
sinh.
2.1.12. Hãy giúp học sinh của bạn biết rằng bất cứ câu trả lời nào của chúng
đều TỐT “vấn đề đối với mọi học sinh đó là chúng không muốn xuất hiện/thể
hiện mình khi chúng không biết về một thứ gì đó”. Điều đó là một chướng ngại
vô cùng lớn ngăn cản chúng đưa ra các câu hỏi đều hướng đến sự giúp đỡ từ giáo
13
viên. Nó chính là bức tường vô hình ngăn cản giáo viên bước vào thế giới của
học trò. Hãy phá bỏ nó bằng cách “luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu”.
2.1.13. Hƣớng dẫn học sinh của bạn trở thành các chuyên gia tƣ vấn cho
chính bản thân chúng. Một số học sinh học tốt trong môn nghệ thuật, một số
học sinh rất ngoan và có kỉ luật, một số học sinh có năng khiếu thuyết trình…
Hãy giúp học sinh nhận ra thế mạnh của chúng – cũng như những điểm mạnh của
những bạn cùng lớp – từ đó chúng có thể hỗ trợ lẫn nhau và biết ai là người có
thể tin tưởng để nhờ cậy sự giúp đỡ. Khi đó mối quan hệ sẽ vượt khỏi giới hạn
giữa giáo viên với từng học sinh mà lan tỏa thành mối quan hệ giữa các thành
viên với nhau.
2.1.14. Nhớ rằng bạn luôn quan tâm đến chính bản thân mình. Hãy duy trì
trạng thái cân bằng, đó là một việc cực kì quan trọng. Khi là một giáo viên, chúng
ta luôn luôn nghĩ cho học sinh. Chúng ta cũng đồng thời là chuyên gia tư vấn và
đôi khi còn nhiều hơn thế nữa. Khi cân nhắc về những điều học sinh cần, đừng
quên chính bạn cũng cần sự giúp đỡ. Nếu bạn rơi vào khủng hoảng, không cân
bằng được chính bản thân mình thì làm sao bạn có thể giúp được cho học sinh.
2.1.15. Hãy tạo nên sự kì vọng với học sinh vào ngày đầu tiên. Điều quan
trọng đối với học sinh đó là cảm giác trong ngày đầu tiên, khi mà “không khí”
lớp học sẽ bắt đầu được định hình. Những kì vọng đối với học sinh và giáo viên
là gì? Hãy cho học sinh cơ hội được xây dựng các chuẩn mực về hành vi trong
lớp học, nhưng bạn cũng là người nắm quyền “phủ quyết”. Hãy rõ ràng sự kì
vọng của bạn và miêu tả để học sinh nhận được ra điều đó. Nếu sự tôn trọng được
coi là một kì vọng thì hãy cho học sinh biết được như thế nào được gọi là tôn
trọng.
2.1.16. Cho dù bất kì điều gì xảy ra những lời khuyên vẫn là những lời
khuyên. Điều đó rất quan trọng, nó bao gồm sự tự tin trong những kì vọng để
học sinh cảm thấy thoải mái để chia sẻ cảm giác, khó khăn, sự thành công trong
một không gian an toàn. Học sinh không cảm thấy rằng đó là mệnh lệnh từ một
kẻ bề trên.
2.1.17. Hãy trọng tâm vào việc dạy cho học sinh những kĩ năng sẽ theo chúng
trong suốt cuộc đời. Dạy chúng biết cách quản lí thời gian, đặt mục tiêu cho
công việc, cách đối phó với deadline, cách sử dụng các công cụ trên mạng,… Đó
là cách khiến cho học sinh cảm thấy gần với giáo viên hơn.
14
2.1.18. Hãy chào đón học sinh, hoặc tạm biệt chúng khi ra về. Bạn có thể
dành thời gian để chào từng học sinh, vào thời điểm cuối ngày, bạn sẽ nghe
chúng sẽ nói về trường, về mối quan hệ trong trường, về cuộc sống về những điều
mà chúng muốn để giáo viên biết. Bạn sẽ có được mối quan hệ với học sinh,
nhưng vấn đề là bạn sẽ chấp nhận phải mất đi 10 – 15 phút mỗi ngày? Bạn có sẵn
sàng làm điều đó?
2.1.19. Hãy làm một vài điều hài hƣớc. “Nếu 36 đứa trẻ trong lớp học của bạn
là 36 tòa thành kiên cố, bạn sẽ làm gì để ngày mai có thể xây dựng mối quan hệ
với học sinh?” Hãy làm một điều gì đó thật hài hước, nó sẽ khiến lũ trẻ tự phá bỏ
bức tường và đến bên bạn.
2.1.20. Hãy vừa đi bộ vừa nói chuyện với học sinh: Khi học sinh đã có một
ngày với quá nhiều “vấn đề” ở trường. Khi học sinh của tôi đã có một ngày thực
sự “mệt mỏi”, tôi để học sinh đi khỏi lớp và cùng đi bộ, cùng nói chuyện, khi đó
học sinh có thể cảm thấy dễ dàng hơn để chia sẻ những điều bạn ấy đang nghĩ
trong đầu. Điều đó thực sự quan trọng đối với học sinh, chúng cảm nhận được
rằng chúng đang nhận được sự giúp đỡ từ thầy, cô và các bạn và lúc đó chúng sẽ
nghe bạn nói.
2.1.21. Hãy tổ chức các bữa liên hoan nhỏ. Tôi thường cộng ngàáy, tháng sinh
của toàn bộ học sinh trong lớp, chia trung bình để có ngày sinh nhật lớp. Trong
dịp đặc biệt ấy, tôi lên một thực đơn và mỗi người đều có một trách nhiệm. Học
sinh sẽ mang theo đồ ăn và chúng tôi ăn, nói chuyện và vui cười cùng nhau. Đó là
cách mà tôi mang học sinh đến gần tôi hơn. Nếu bạn từng là học sinh, bạn biết là
chúng luôn thích được lên kế hoạch nấu ăn, hay đi chơi cùng nhau để tổ chức
ngày sinh nhật hay một dịp nào đó. Hãy thử, bạn sẽ thấy mối quan hệ giữa bạn và
học sinh sẽ được cải thiện đáng kể đó.
2.1.22. Chú ý tác phong: Thầy cô giáo trên lớp là một hình ảnh trực quan tác
động mạnh mẽ tới tâm lí của học sinh. Và để được học sinh yêu thích hay nói
cách khác là để học sinh thích học mình, muốn nghe mình nói thì trước hết học
sinh phải yêu mình, kính trọng mình sau đó mới nói đến việc dạy cái gì? dạy như
thế nào?
Vậy để tạo được thiện cảm với học sinh thiết nghĩ mỗi người thầy, người
cô tạo ra một hình ảnh riêng thật gần gũi và thân thiện với học sinh. Nghĩa là làm
tất cả những gì mình có thể, phù hợp với tâm lí các em, phù học với chuẩn mực
đạo đức xã hội của một nhà giáo.
15
Tôi nhận thấy những hôm cô mặc quần áo mới, quần áo đẹp vào lớp dạy,
dường như trong lớp có một không khí mới hơn, vui hơn, hứng thú học hơn
(nhưng không có nghĩa là thầy cô không mặc quần áo mới thì hoàn toàn ngược
lại).
Tác phong đi lại của thầy cô cũng là một hình ảnh trực quan của học sinh.
Với các cô giáo, sự duyên dáng, nhẹ nhàng, trong từng bước đi, thế đứng cũng
tác động không nhỏ đến tâm lí học sinh.Nếu trong không gian yên tĩnh giờ kiểm
tra những bước chân thịch thịch, cục cục, cọc cọc của gót giày cũng tác động tới
các em (đôi khi khó tránh khỏi). Thầy cô bước đi dề dà, chậm chạp, điệu đà, cũng
khiến các em để ý.
Hành động của giáo viên là những việc làm diễn ra trước mắt học sinh.
Giáo viên phải tế nhị, kín đáo, ý tứ. Có những tình huống giáo viên xếch quần,
kéo áo, mặc áo ngắn, váy ngắn, nghe điện thoại nói oang oang, ném phấn vào học
sinh… đều là những hành động thiếu tế nhị không nên làm trước mặt các em.
Nét mặt của giáo viên biểu lộ trực tiếp thái độ với các em học sinh. Cô giáo
có khuôn mặt đẹp, dịu hiền là điều tuyệt vời, nhất là giáo viên dạy văn có khuôn
mặt đẹp sẽ tạo ấn với học sinh rất nhiều.
Nếu giáo viên không có khuôn mặt đẹp, nên để ý hơn khi lên lớp: Có thể
mỗi khi lên lớp trang điểm một chút, chỉn chu quần áo một chút để thấy mình đẹp
hơn, tự tin hơn, các em sẽ thích hơn, đó cũng là cách tôn trọng các em. Nhưng
không quá lạm dụng trang điểm lòe lẹt, nhuộn tóc quá đậm mầu… không phù
hợp với môi trường sư phạm, môi trường giáo dục.Thầy cô đẹp sang trọng là
đáng quí, đáng khích lệ nhưng phải đúng mực, chuẩn mực, đẹp tinh tế luôn có
sức hấp dẫn và tạo được thiện cảm giữa thày và trò.
Xây dựng mối quan hệ là một trong những yếu tố rất quan trọng. Khi học
sinh cảm thấy giữa chúng là bạn có một mối liên quan nào đó, chúng biết bạn
đang quan tâm đến chúng, điều đó sẽ là ngọn nguồn tạo nên sự khác biệt to lớn.
Nếu chúng ta muốn dạy học sinh, điều quan trong là học sinh phải ngồi yên nghe
chúng ta nói. Điều đó chỉ có được khi giáo viên và học sinh đã xây dựng được
một mối quan hệ: giáo viên không chỉ là người cha, người mẹ mà còn phải là
người bạn của học sinh. Hãy nhớ rằng HỌC SINH SẼ KHÔNG HỌC ĐƯỢC
BẤT CỨ THỨ GÌ TỪ GIÁO VIÊN MÀ CHÚNG KHÔNG THÍCH.

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ