dàn âm thanh hội trường, âm thanh lớp học, âm thanh phòng họp, loa trợ giảng

SKKN Một số giải pháp rèn kĩ năng viết câu văn sinh động, dựng đoạn trong bài văn tả cảnh cho học sinh lớp 5 ở Trường Tiểu học

SKKN Một số giải pháp rèn kĩ năng viết câu văn sinh động, dựng đoạn trong bài văn tả cảnh cho học sinh lớp 5 ở Trường Tiểu học

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp trở
thành một nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế. Nguồn lực con
người là nhân tố quyết định đến thắng lợi của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Nguồn nhân lực được phát triển về số lượng và chất lượng là liên quan
trực tiếp đến chất lượng giáo dục.
Trong hệ thống giáo dục, tiểu học là bậc học đầu tiên đặt nền móng để
xây dựng kho tàng tri thức và hình thành nhân cách cho học sinh, đây là bậc học
đặt nền tảng vững chắc cho cả hệ thống giáo dục. Nó góp phần quan trọng vào
việc tạo ra lớp người tự chủ, năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề.
Hiện nay, ngành giáo dục đã tiến hành đổi mới chương trình sách giáo khoa về
nội dung và phương pháp dạy học theo tinh thần phát huy những ưu điểm của
phương pháp dạy học truyền thống, kết hợp áp dụng những phương pháp dạy
học tiên tiến, phát huy được tính tích cực, chủ động của người học, đáp ứng
được mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ ở tiểu học. Môn Tiếng Việt là một
trong những môn học có nhiều giờ trong trường tiểu học nên có đổi mới nhiều
về chương trình, nội dung và phương pháp giảng dạy.
Ở môn Tiếng Việt, phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh các kĩ năng
sản sinh ngôn bản. Nó có vị trí đặc biệt trong quá trình dạy học tiếng mẹ đẻ.
Ngoài ra, phân môn Tập làm văn còn góp phần rèn luyện tư duy và hình thành
nhân cách cho học sinh. Nó rèn luyện tư duy hình tượng: óc quan sát, trí tưởng
tượng, từ khả năng tái hiện các chi tiết đã quan sát được đến khả năng nhào nặn
các chất liệu trong đời sống…
Dạy Tập làm văn trong trường tiểu học là giúp học sinh mở rộng vốn
sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc, thẩm mĩ, hình thành nhân
cách cho các em. Dạy Tập làm văn là dạy cho các em cách viết, cách nghĩ, cách
cảm chân thật, sáng tạo, luyện cách diễn đạt chính xác, sinh động, hồn nhiên tiến
tới có nét độc đáo riêng của mình. Đồng thời cũng dạy các em cách ghi lại sự
nhìn nhận của mình về các sự vật hiện tượng, cảnh vật, con người qua các văn
bản còn gọi là đoạn văn, bài văn một cách chính xác về đối tượng. Tập làm
văn nó còn thể hiện kĩ năng cảm thụ văn học và các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt
một cách tổng hợp.
Hơn nữa khi học văn miêu tả, các em có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của
con người, thiên nhiên qua các đoạn văn, bài văn miêu tả điển hình. Khi quan sát
đối tượng miêu tả, học sinh được rèn luyện cách nhìn đối tượng trong quan hệ
gần gũi giữa con người với thiên nhiên. Những cơ hội đó làm cho tình cảm yêu
mến, gắn bó với thiên nhiên, con người và sự vật xung quanh của học sinh được
2
nảy nở; tâm hồn, tình cảm của các em thêm phong phú, khơi gợi ở các em sự
hiểu biết và tình cảm yêu mến, gắn bó với thiên nhiên, với con người và vạn vật
xung quanh. Từ đây, tâm hồn và nhân cách của các em sẽ được hình thành và
phát triển.
Tập làm văn lớp 5 gồm nhiều nội dung, một trong những nội dung chính
của chương trình tập làm văn 5 là văn miêu tả. Nó có hệ thống xây dựng lí
thuyết riêng cho từng thể loại như tả cảnh, tả người, tả đồ vật, tả cây cối, tả
con vật,… và ở từng thể loại đòi hỏi GV phải có những cách rèn khác nhau để
đạt được những kĩ năng cần thiết. Một bài văn tả cảnh hay, có giá trị không
phải chỉ ở chỗ trình bày mạch lạc, dễ hiểu mà quan trọng hơn đó là sức truyền
cảm. Để viết được bài văn hay các em cần rèn luyện năng lực quan sát, năng
lực thu thập thông tin, năng lực tưởng tượng, năng lực phân tích tổng hợp và
các khả năng biểu đạt, bố cục, tạo phong cách. Làm thế nào để cho HS viết
văn hay và có hiệu quả là cả một vấn đề rất khó khăn, cần phải suy nghĩ và
dày công nghiên cứu của những người làm công tác giáo dục đặc biệt là GV.
Trong thực tế giảng dạy tập làm văn phần Tả cảnh, bản thân GV là
người hướng dẫn đôi khi cũng cảm thấy còn lúng túng, bí từ và không biết
phải hướng dẫn các em như thế nào để HS có thể viết được bài văn hay, có
hình ảnh, có cảm xúc. Hơn nữa một số tài liệu SGK, sách giáo viên, sách thiết
kế thì viết chung chung, một số sách khác như văn mẫu thì lại chỉ có các bài
văn mẫu viết sẵn mà không có một hướng dẫn nào để định hướng cho GV
cũng như HS. Do vậy tôi luôn trăn trở suy nghĩ làm thế nào để HS thích làm
văn, viết văn chân thật có cảm xúc và sinh động. Để nâng cao chất lượng các
giờ dạy Tập làm văn đặc biệt là văn tả cảnh và giúp các em rèn luyện kĩ năng
sản sinh văn bản, tạo điều kiện cho các em tự tìm, tự thể hiện những ý kiến,
suy nghĩ của mình một cách độc lập, không máy móc rập khuôn, tôi đã
nghiên cứu để đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực viết câu văn, đoạn văn
hay trong kiểu văn tả cảnh để góp phần nâng chất lượng giảng dạy phân môn
Tập làm văn.
Trong các thể loại văn các em được học thì thể loại văn miêu tả có đặc
điểm là giàu cảm xúc, giàu trí tưởng tượng và sự đánh giá của người viết đối với
đối tượng miêu tả. Trong thể loại văn miêu tả, kiểu bài văn tả cảnh yêu cầu các
em phải biết dùng lời để vẽ lên bức tranh phong cảnh giàu hình ảnh, giàu màu
sắc, âm thanh trong cùng một thời gian hay cùng một thời điểm nào đó. Để viết
được bài văn đạt những yêu cầu nêu trên, ngoài các kĩ năng phân tích đề, tìm ý,
lập dàn bài, dựng đoạn, các em cần phải biết dùng từ, đặt câu diễn tả chính xác
sinh động nội dung miêu tả.
Trong chương trình Tập làm văn lớp 5, thể loại văn miêu tả chiếm số
lượng nhiều tiết nhất, trong đó kiểu bài tả cảnh có số tiết nhiều hơn các kiểu bài
miêu tả khác. Qua thực tế giảng dạy phân môn Tập làm văn ở Tiểu học trong
3
những năm qua tôi nhận thấy, cùng với sự đổi mới về nội dung, chương trình thì
yêu cầu đặt ra là phải đổi mới phương pháp dạy học. Với đặc trưng của phân
môn này là thực hành, do đó giáo viên cần phải tổ chức cho học sinh sao cho có
hiệu quả, tránh dạy theo lối cũ (làm mẫu) cho học sinh làm theo. Tuy nhiên, đây
là vấn đề không phải người giáo viên nào cũng có thể làm tốt được.
Một thực tế nữa là hiện nay chất lượng bài Tập làm văn của các em chưa
cao. Hầu hết các em chỉ viết được bài văn hoàn chỉnh đủ ý nhưng còn khô khan,
khuôn sáo, tẻ nhạt. Có em sa vào liệt kê các hình ảnh và hoạt động tiêu biểu, ít
miêu tả, kĩ năng dùng từ đặt câu còn hạn chế. Các em chủ yếu viết câu đúng đủ
2 bộ phận chính hoặc những câu văn mở rộng thành phần phụ nhưng chưa có
hình ảnh, thiếu cảm xúc, từ dùng chưa chắt lọc, chưa phù hợp với văn cảnh.
Điều này khiến tôi băn khoăn trăn trở cần phải tìm ra biện pháp tối ưu để giúp
các em sáng tạo khi viết văn. Với lòng mong mỏi muốn đóng góp một phần kinh
nghiệm của bản thân với đồng nghiệp nhằm mục đích nâng cao chất lượng bài
Tập làm văn nói chung và bài văn tả cảnh nói riêng nên tôi đã đưa ra “Một số
giải pháp rèn kĩ năng viết câu văn sinh động, dựng đoạn trong bài văn tả
cảnh cho học sinh lớp 5 ở Trường Tiểu học H¶i Minh”.để trao đổi với đồng
nghiệp và đúc rút kinh nghiệm cho bản thân.
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP:
1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
1.1. Thực trạng của vấn đề dạy – học viết câu văn sinh động và dựng
đoạn trong bài văn tả cảnh của học sinh trường Tiểu học H¶i Minh:
Việc dạy – học Tập làm văn ở Tiểu học nói chung và và việc dạy học văn tả
cảnh ở lớp 5 nói riêng, bên cạnh những điểm tốt mang lại một số kết quả nhất
định cũng còn nhiều khuyết điểm. Khuyết điểm lớn nhất, dễ thấy nhất là bệnh
công thức, khuôn sáo, máy móc, thiếu tính chân thực trong cả cách dạy và cách
học… Cụ thể, giáo viên thường làm như sau:
– Khi tìm hiểu cấu tạo của kiểu bài, giáo viên cho học sinh đọc bài mẫu, thực
hiện các yêu cầu, rút ra nhận xét và làm bài luyện tập.(HS làm bài cá nhân, cả lớp)
– Các bài luyện tập viết đoạn, lập dàn ý….học sinh thường làm cá nhân, sau
đó GV gọi một số em đọc bài của mình, GV hướng dẫn học sinh nhận xét, góp ý
cho bài của bạn.
– Tiết trả bài, GV nhận xét chung về bài làm của học sinh, ưu nhược điểm,
đọc một số bài viết tốt, một số bài chưa tốt để HS nhận xét, sau đó trả bài cho
HS sửa. (Thực tế tiết này thường bị cắt đi).
– Giáo viên còn dạy theo phương pháp truyền thống, chưa lấy người học làm
trung tâm, chưa tạo được hứng thú cho HS, chưa phát huy được tính sáng tạo,
chủ động của các em. Nhiều em chưa quan sát được thực tế các cảnh đẹp nhưng
GV chưa có các tranh ảnh hoặc những đoạn clip minh họa để các em biết được
4
các cảnh đó. Ví dụ thực tế: các em ở trường Tiểu học Hải Minh hầu hết chưa
biết được cảnh đẹp biển Thịnh Long hay Tam Cốc, Bích Động… nhưng GV
chưa có đồ dùng trực quan để các em quan sát (trong khi các em chưa có điều
kiện đi tham quan). Thường là GV yêu cầu các em tả theo ý của cô. Mặt khác,
có những em có điều kiện quan sát đối tượng miêu tả nhưng GV chưa hướng
dẫn các em cách ghi chép lại những điều mà các em nhìn thấy, nghe thấy, ngửi
thấy…
– Để đối phó với việc học sinh làm bài kém, để đảm bảo chất lượng khi
kiểm tra nhiều giáo viên cho học sinh học thuộc một số bài bài văn mẫu để các
em khi gặp đề bài tương tự cứ thế chép ra. Vì thế dẫn đến tình trạng cả thầy và
trò nhiều khi bị lệ thuộc vào văn mẫu.
Qua thực tế dạy – học Tập làm văn, tôi thấy có những ưu điểm, hạn chế sau:
*Về phía học sinh:
+ Ưu điểm:
– Phần lớn các em biết làm bài văn miêu tả nói chung và tả cảnh nói riêng
có bố cục đầy đủ, diễn đạt tương đối đủ ý.
– Một số em có hứng thú khi học phân môn Tập làm văn, thích đọc những
đoạn văn, bài văn mẫu hay.
– Học sinh được tiếp cận với các bài, đoạn văn miêu tả có tính chuẩn mực
của các tác giả nổi tiếng. Qua đó, bồi dưỡng cái hay, cái đẹp của văn chương
ngôn từ và tình yêu với văn học.
– Đa số học sinh đạt được mức độ hoàn thành.
+ Hạn chế:
– Các em không biết tự học, tự sáng tạo mà còn vay mượn ý của người
khác, thường là của bài văn mẫu. Nói cách khác học sinh thường học thuộc bài
văn mẫu để đưa vào bài của mình. Với cách học ấy các em không cần quan sát,
không cần cảm xúc về đối tượng được tả.
– Miêu tả hời hợt, chung chung không có sắc thái riêng biệt nào của đối
tượng được tả… Vì thế bài làm ấy gắn cho đối tượng miêu tả nào cùng loại cũng
được. Một bài miêu tả như vậy đọc lên thấy mờ nhạt. Nguyên nhân chủ yếu là
các em không quan sát hoặc không biết cách quan sát hoặc các em không biết
cách hồi tưởng lại để viết văn.
– Nhiều HS không hề nắm được đặc điểm đối tượng mình đang tả và đã
viết không chân thực. Do vậy bài văn khó có thể truyền cảm cho người đọc.
Việc học tập trên lớp, vì thiếu tập trung và chưa có phương pháp học nên cũng
có những hạn chế nhất định. Có HS khi đọc đề bài lên, không biết mình cần viết
những gì và viết như thế nào, viết cái gì trước, cái gì sau.
– Học sinh học tương đối nhàn, ít khi tư duy cho việc rèn câu văn sinh
động để bài văn được hấp dẫn.
5
* Về phía giáo viên:
+ Ưu điểm:
– Nắm được nội dung, chương trình về thể loại văn miêu tả, kiểu bài tả cảnh.
– Dạy học theo đúng quy trình của kiểu bài tả cảnh.
– Dạy phân môn Tập làm văn tích hợp với các môn học khác.
+ Hạn chế:
– Nhiều giáo viên còn chưa tự bồi dưỡng vốn kiến thức, chưa chịu khó
viết các đoạn văn có các câu văn sinh động, hấp dẫn trước.
– Còn dạy mang hình thức chung chung để học sinh tự mày mò.
– Chỉ có một con đường duy nhất hình thành các hiểu biết về lý thuyết,
các kỹ năng làm bài là qua phân tích các bài mẫu. Còn ngại khó, ngại khổ khi sử
dụng phương pháp mới. Thiếu linh hoạt khi phối kết hợp nhiều phương pháp để
hướng dẫn học sinh học văn.
** Từ thực trạng dạy và học Tập làm văn tả cảnh ở lớp 5, tôi thấy hầu
hết giáo viên thường cho là kiểu bài văn khó, học sinh thường lúng túng trong
khi diễn đạt để có một đoạn văn hoặc bài văn hay. Đa số các em viết tương đối
đủ ý, nhưng dùng từ chưa thật chính xác, diễn đạt chưa trôi chảy, chưa sử dụng
được các nghệ thuật so sánh, nhân hóa … để làm cho bài văn sinh động, hấp dẫn.
Vì vậy, khi dạy văn tả cảnh giáo viên thường mất nhiều công sức.
1.2- Đánh giá về chất lượng làm bài văn tả cảnh của HS lớp 5 năm
học 2017- 2018. (Chưa áp dụng sáng kiến)
Trong quá trình giảng dạy phân môn Tập làm văn (kiểu bài tả cảnh) tôi
thấy các em biết viết bài văn có đầy đủ ý, bố cục rõ ràng nhưng bài văn còn khô
khan, thiếu cảm xúc, thiếu tự nhiên, câu văn chưa sinh động, chưa sáng tạo thậm
chí còn lủng củng. Nhìn chung, phần lớn các em chưa biết viết câu văn có hình
ảnh. Điều đó khiến tôi băn khoăn, trăn trở. Để giải quyết băn khoăn đó, tôi
hướng dẫn các em quan sát, tìm ý, dựng đoạn văn tả cảnh cụ thể và tiến hành
khảo sát chất lượng ở lớp 5A năm học 2017- 2018 với một đề cụ thể như sau:
Đề bài: Hãy tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong một vườn
cây (hay trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy).
Kết quả thu được như sau:

Lớpsố SĩBài văn sinh động, giàu
cảm xúc.
Bài văn đảm bảo
bố cục, nhưng diễn
đạt còn khô khan
Bài văn đảm bảo bố cục,
nhưng diễn đạt nghèo
hình ảnh, dùng từ chưa
chính xác
5A353/35 = 8,6%24/35 = 68,5%8/35 = 22,9 %

6
* Đánh giá kĩ năng viết câu văn sinh động qua việc làm bài của HS
Sau khi chấm bài tôi tiến hành phân loại bài và tổng hợp các lỗi phổ biến
về dùng từ, đặt câu, diễn đạt ngoài một số lỗi học sinh thường mắc phảỉ trong
Tập làm văn, tôi thấy kĩ năng viết câu văn gợi tả, gợi cảm của các em còn nhiều
hạn chế. Nếu có viết được các em thường tham khảo những câu văn đó trong
văn mẫu mà không có sáng tạo. Nhìn chung, phần lớn các em chưa biết viết câu
văn có hình ảnh, từ dùng chưa chắt lọc, lỗi phổ biến trong các bài Tập làm văn
của các em là kĩ năng chọn lọc từ trong miêu tả còn nhiều hạn chế, ít sáng tạo.
Số học sinh biết dùng từ gợi tả, gợi cảm để miêu tả còn rất ít, một số em đã cố
gắng viết câu văn sinh động nhưng thiếu tự nhiên, còn mang tính công thức, gò
bó sáo rỗng, không chân thực.
1.3- Nguyên nhân của những hạn chế:
1.3.1-Nguyên nhân từ phía học sinh (người học)
– Trong quá trình viết văn các em không nắm được trình tự miêu tả, sắp
xếp ý còn lộn xộn, diễn đạt ý lặp lại, lặp từ, không biết cách liên kết câu, đoạn
văn cho nội dung lôgic, phù hợp, lắp ghép câu từ không mạch lạc, tối nghĩa.
– Các em chưa biết sử dụng từ ngữ, dùng sai từ ngữ, không phù hợp với
đối tượng miêu tả, viết câu không đủ ý hoặc quá dài dòng không có chấm câu.
– Vốn hiểu biết thực tế cuộc sống và vốn từ ngữ của học sinh còn nghèo
nàn. Các em ít được tiếp xúc với những đoạn văn, đoạn thơ giàu hình ảnh, nhạc
điệu nên năng lực cảm thụ văn học còn hạn chế.
– Các em chưa có kĩ năng quan sát thực tế cảnh vật. Khả năng tư duy
tưởng tượng của các em chưa tốt.
– Học sinh ít được luyện tập các dạng bài về rèn kĩ năng viết câu văn gợi
tả, gợi cảm mà chủ yếu là viết văn luôn.
– Quỹ thời gian dành cho việc học Tập làm văn còn ít nên các em không
được luyện tập thường xuyên, liên tục.
– HS bị lệ thuộc vào các bài văn mẫu nhiều. (Do cách học ở những lớp dưới)
1.3.2- Nguyên nhân từ phía giáo viên
– Tích lũy vốn kiến thức Tập làm văn chưa phong phú, còn dạy theo
phương pháp truyền thống (chưa để các em chủ, động sáng tạo trong việc viết
văn)
– Chưa quan tâm đúng mức tới việc cung cấp, mở rộng vốn từ, rèn luyện
tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ cho học sinh.
– Giáo viên chưa chú trọng hướng dẫn học sinh có thói quen đọc sách, ghi
chép lại từ hay, câu hay, chưa tập viết câu văn sinh động.
– Việc dạy liên môn chưa có hiệu quả cao.
7
1.3.3- Một số nguyên nhân khác
– Phụ huynh còn nhận thức chưa đúng: không thích cho con học văn mà
thích học môn Toán nhiều hơn.
– Do sự đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa mới kéo theo sự
đổi mới phương pháp dạy học nên một số giáo viên nắm bắt “cái mới” còn chậm
và chưa có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy.
– Hệ thống bài tập rèn kĩ năng cho học sinh chưa toàn diện, thiếu bài tập
về luyện viết câu văn hay.
– Kiến thức sách vở cũng như kiến thức thực tế còn rất nhiều lỗ hổng.
Nhiều HS ở nông thôn chưa hề được ra thành phố, có em chưa từng được đến
công viên, vườn bách thú hay những danh lam thắng cảnh khác… Nhiều HS ở
thành phố chưa hề được nhìn thấy những đêm trăng sáng, hoặc quan sát cánh
đồng lúa khi thì xanh mướt, lúc thì vàng óng, trĩu bông…. Qua đó có thể thấy,
khi làm bài, nhiều HS không hề nắm được đặc điểm đối tượng mình đang tả và
đã viết không chân thực. Do vậy bài văn khó có thể truyền cảm cho người đọc.
– Ngoài ra có thể kể đến các nguyên nhân khác, như sự hấp dẫn của các trò
chơi hiện đại. Ngoài giờ học, các em thường bị thu hút vào các trò chơi GAMES
hoặc các trang WEB hấp dẫn khác trên INTERNET mà quên đi rằng thế giới
thiên nhiên xung quanh các em thực sự có sự hấp dẫn khác…. Đây mới là thế
giới có khả năng làm phong phú tâm hồn tuổi thơ và rèn luyện óc quan sát, nhận
xét,…
– Việc đọc sách của các em hiện nay cũng đang bị xem nhẹ. Cho nên vốn
liếng về cuộc sống, về văn học của HS tiểu học rất hạn chế. Chính điều này đã
tác động không nhỏ đến việc học văn và tập làm văn của HS.
– Do những nguyên nhân hạn chế nêu trên và thực tế dạy học ở trường
Tiểu học Hải Minh cho thấy khó có thể đáp ứng được yêu cầu đặt ra nếu chỉ
máy móc thực hiện chương trình theo quy định. Và nếu người giáo viên không
mạnh dạn cải tiến và vận dụng những biện pháp dạy học hữu hiệu khác thì chất
lượng bài tập làm văn của học sinh đạt chưa cao. Điều đó đã thôi thúc tôi tìm tòi,
nghiên cứu, đề xuất một số biện pháp, cách thức dạy học rèn kĩ năng viết câu
văn sinh động trong bài văn tả cảnh giúp học sinh vận dụng vào qua trình tập
làm văn đạt hiệu quả hơn. (Áp dụng trong năm học 2018 – 2019, 2019-2020)
2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến : Rèn kĩ năng viết câu văn sinh
động, dựng đoạn trong bài văn tả cảnh của lớp 5.
*Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp: Đó là:
– Thay đổi cách dạy của GV, cách học của học sinh.
– Đổi mới cách đánh giá.
8
– Giúp học sinh sáng tạo trong học tập làm văn, biết tìm ý phong phú, diễn
đạt câu văn giàu hình ảnh, có cảm xúc, chân thực để có được đoạn văn, bài văn
sinh động, hấp dẫn.
* Mô tả chi tiết các giải pháp:
Giải pháp 1: Làm tốt công tác chuẩn bị:
a/Giáo viên: Tập trung nghiên cứu nội dung chuẩn kiến thức, kĩ năng cần
đạt của từng bài học, từ đó xây dựng kế hoạch bài dạy chi tiết cho từng tiết học
theo phương pháp “lấy học sinh làm trung tâm” sao cho trong mọi hoạt động
học, học sinh được cùng nhau trải nghiệm, tương tác. Kế hoạch bài dạy cần xây
dựng kĩ ở phần nào ? Kiến thức trọng tâm nào nên thể hiện ở trò chơi ? Trong
mọi tiết học cần có những đồ dùng dạy học nào để hỗ trợ, có đáp án, thang điểm
đánh giá thi đua ở từng hoạt động. Các tình huống nào có thể xảy ra trong mỗi
đơn vị kiến thức bài học? Cách xử lí như thế nào? … Ngoài ra giáo viên cần
chuẩn bị trước gợi ý và hướng dẫn quan sát, ghi chép cho học sinh ở bài học tiếp
theo. Tất cả những việc làm trên đều góp phần quan trọng cho thành công việc
giảng dạy nói chung và việc dạy học sinh viết văn tả cảnh nói riêng.
b/Học sinh:
– Trước hết, các em phải hiểu: Thế nào là câu văn sinh động?
Câu văn sinh động: Những câu văn gợi tả, gợi cảm nếu được kết hợp sử
dụng các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa,… khéo léo sẽ làm cho
câu văn trở nên sinh động, hấp dẫn. Câu văn sinh động mang tính thông báo
thẩm mỹ, chứa đựng tình cảm riêng của người viết. Như vậy, câu văn sinh động
là câu văn vừa gợi tả, gợi cảm giúp người đọc hình dung một cách cụ thể hình
ảnh của sự vật thông qua những nét tinh tế, những rung động sâu sắc thể hiện
cảm xúc thẩm mĩ của người viết.
– Xây dựng nề nếp, thói quen hợp tác trong nhóm để cùng nhóm giải
quyết các yêu cầu đề ra một cách chủ động. Xây dựng sẵn các phương án cơ cấu
nhóm học tập linh hoạt, luân phiên và ưu tiên cho những em rụt rè, mặc cảm,
nhút nhát là nhóm trưởng, là người báo cáo. Những em khá giỏi làm người dẫn
dắt.
Giải pháp 2: Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học và làm giàu vốn từ
cho HS.
Không phải em học sinh nào cũng có vốn từ phong phú và cảm nhận được
đúng nội dung đoạn văn, đoạn thơ. Do vậy, giáo viên phải hướng dẫn các em
cách làm để các em có vốn từ phong phú, đa dạng. Muốn viết được câu văn giàu
hình ảnh trước hết các em phải có vốn từ. Vốn từ ấy đã có sẵn trong quá trình
sống của các em và được tích luỹ qua các bài học, các môn học trong chương
trình mà GV giảng dạy. Cụ thể:
a. Làm giàu vốn từ qua Sổ tay văn học:
9
– Ngay từ đầu năm học, tôi đã giới thiệu cho học sinh những thể loại và
kiểu bài mà các em sẽ được học trong chương trình Tập làm văn lớp 5. Giúp các
em có thể ghi nhớ và tích luỹ được vốn văn học có hệ thống, tôi hướng dẫn các
em lập một cuốn sổ để ghi chép những từ ngữ, câu văn, đoạn văn hay, những
áng thơ đặc sắc, những đoạn văn, bài văn giàu cảm xúc gọi là: Sổ tay văn học.
– Ngoài ra, tôi còn hướng dẫn các em có thói quen đọc sách (văn hóa đọc);
giới thiệu những bài văn hay, ghi lại những từ ngữ hay dùng chính xác, những
câu văn hay, tinh tế có khả năng miêu tả sâu sắc theo từng đối tượng cảnh vật
vào Sổ tay văn học. Và hàng tháng thi đua giữa các cá nhân xem ai tích lũy được
nhiều vốn từ nhất để nhận thưởng. Điều này đã kích thích được sự ham thích tìm
tòi sưu tầm vốn từ cho học sinh khá hiệu quả.
– Với việc tích lũy vốn từ ngữ, câu văn hay, GV cần hướng dẫn học sinh
ghi chép một cách khoa học theo từng chủ đề, từng đối tượng cảnh vật.
Ví dụ:
Tả về mưa:
+ Mưa xuân: lắc rắc, lất phất, những hạt mưa bé nhỏ, mềm mại rơi mà
như nhảy nhót, mưa xuân duyên dáng, bịn rịn lưu luyến người qua đường, mưa
xuân nhè nhẹ rơi, hạt nọ nối tiếp hạt kia thành một mầu trắng ngà như tấm khăn
voan mỏng tang của một nàng tiên mùa xuân vắt hờ hững lên làng quê, ….
+ Mưa rào: tầm tã, ào ào, rào rào, ầm ầm, những cơn mưa rào mùa hạ có
khi đến rất bất ngờ, như một vị khách đột ngột ghé thăm mà không báo trước.
Chợt đến rồi lại chợt đi ngay., ….
Tả hoàng hôn: mặt trời dần xuống nui, bầu trời hắt lên màu hồng rực,
những tia nắng yếu ớt bao trùm dãy nui tim thẫm phia xa, ông mặt trời vội vã
đạp xe về đỉnh nui phia Tây, từng áng mây trắng mây hồng bồng bềnh trôi, Phia
chân đê, từng đàn trâu đủng đỉnh ra về, ….
Các từ dùng để miêu tả cây cối: xanh mướt, xanh rì, xanh mơn mởn,
xanh non, xanh lá mạ, xanh biết, xanh lục, …. rung rinh, um tùm, sum suê,
khẳng khiu, rực rỡ, mỡ màng, vàng ua, xơ xác, trơ trụi, lác đác, xào xạc, lả tả,…
Các từ ngữ dùng để miêu tả âm thanh: vi vu, ầm ầm, đì đùng, xoèn
xoẹt, lách cách, cót két, phành phạch, râm ran, riu rit, rào rào, ti tách, đồm
độp, loong boong, loảng xoảng,…
Các từ dùng để tả mùi vị: thơm thoang thoảng, ngòn ngọt, chan chát,
nồng nồng, cay xè, ngai ngái, hăng hắc, dìu dịu, ngào ngạt, sực nức, ngọt mát,…
……..
b. Bồi dưỡng học sinh cảm thụ văn học:
– Bên cạnh đó, việc hướng dẫn học sinh tích luỹ vốn văn học còn rất hiệu
quả thông qua các tiết Tập đọc, Luyện từ và câu đặc biệt là các bài đọc về thể
10
loại văn miêu tả. Việc này đòi hỏi sự chuẩn bị hết sức chu đáo bài giảng của
giáo viên.
Ví dụ 1: Bài: Quang cảnh làng mạc ngày mùa (Tiếng Việt 5-Tập 1, tr.10)
Khi phân tích đoạn 2, đoạn 3, tôi giúp các em nhận thấy tác giả sử dụng
hàng loạt các từ đồng nghĩa đã được chọn lọc, giàu hình ảnh để gợi cho người
đọc những cảm nhận riêng về đặc điểm của từng cảnh vật: lua (vàng xuộm),
nắng (vàng hoe), quả xoan (vàng lịm), lá mit (vàng ối), tàu đu đủ và lá sắn héo
(vàng tươi), quả chuối (chin vàng), bụi mia (vàng xọng), rơm, thóc (vàng giòn),
mái nhà rơm (vàng mới), tất cả (màu vàng trù phu, đầm ấm). Qua đó, tôi giúp
học sinh hiểu rằng chính cách quan sát, cách lựa chọn chi tiết và dùng từ thật
tinh tế, đặc sắc của tác giả khi tả những màu vàng cụ thể của cảnh vật trong bức
tranh làng quê đã làm cho cảnh vật làng quê thật đẹp, thật trù phú và thể hiện rất
rõ tình yêu quê hương tha thiết của tác giả.
Ví dụ 2: Bài Mùa thảo quả (Tiếng Việt 5 – Tập 1, trang 113)
Trong phần tìm hiểu bài, tôi giúp các em thấy được tác giả dùng điệp từ,
câu ngắn đặt cạnh câu dài nhằm nhấn mạnh hương thơm đặc biệt và lan tỏa của
thảo quả. Các từ hương và thơm được lặp lại có tác dụng nhấn mạnh mùi hương
thơm đặc biệt của thảo quả. Tác giả dùng các từ ngữ gợi tả, gợi cảm: lướt thướt,
quyến, rải, ngọt lựng, thơm nồng gợi cảm giác thảo quả lan tỏa khắp không gian.
Các câu văn ngắn lặp lại từ thơm “Gió thơm. Cây cỏ thơm. Đất trời thơm” làm
cho người đọc có cảm giác tất cả không gian núi rừng đều chìm đắm trong
hương thơm đặc biệt của thảo quả. Bên cạnh đó, tôi cũng giúp học sinh hiểu
được sự phát triển mạnh mẽ của thảo quả được thể hiện rất rõ nét qua các từ
ngữ: qua một năm, một năm sau nữa, thoáng cái,… Đây chính là cách liên kết
đoạn văn theo thời gian – áng chừng.
Ngoài các giờ Tập đọc, Tập làm văn, tôi còn giúp các em hiểu thêm về
cách dùng từ, đặt câu của tác giả qua giờ cảm thụ văn học (học buổi 2)
Ví dụ 3: (Dạy vào buổi học thứ 2)
“Đồng chiêm phả nắng lên không
Cánh cò dẫn gió qua thung lúa vàng
Gió nâng tiếng hát chói chang
Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời.”
(Tiếng hát mùa gặt – Nguyễn Duy)
Tôi cho học sinh nhận xét về cách dùng từ của tác giả và phát hiện những
hình ảnh đẹp gây ấn tượng nhất trong đoạn thơ qua các câu hỏi gợi ý sau:
Đoạn thơ trên có những hình ảnh nào đẹp? Em có nhận xét gì về về cách
dùng từ của tác giả?
11
Sau khi cho học sinh phát hiện hình ảnh đẹp, những từ dùng hay, tôi gợi ý
để các em thấy được tác giả đã sử dụng một loạt động từ gợi cảm “phả, dẫn,
nâng, liếm” để miêu tả nhằm toát lên ý nghĩa đẹp đẽ cảnh mùa gặt ở nông thôn
Việt Nam thật vui tươi náo nức. Tất cả các hình ảnh đẹp đẽ đó đã tạo nên một
không khí đầm ấm, thanh bình nơi thôn quê khi mùa gặt đến. Nếu thay các từ “
toả, kéo, đưa, cắt” vào vị trí của các động từ trong đoạn thơ thì câu thơ không
còn nguyên giá trị biểu đạt nữa. Và mục đích là giúp các em hiểu được tác giả
đã sử dụng từ ngữ như thế nào để diễn tả cảnh vật chính xác mà lại sinh động,
hấp dẫn.
* Với cách bồi dưỡng cảm thụ văn học cho các em như thế sẽ giúp các em
làm giàu vốn từ ngữ, cách chọn lựa từ ngữ chính xác khi miêu tả từng đối tượng
cảnh vật đồng thời dần dần các em còn biết vận dụng các nghệ thuật so sánh,
nhân hóa, dùng điệp từ, điệp ngữ, đảo ngữ làm cho các câu văn thêm sinh động,
hấp dẫn giàu hình ảnh.
c. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu nghĩa của các từ ngữ:
– Tôi còn rèn cho các em có thói quen tìm hiểu nghĩa của từ qua từ điển
Tiếng Việt, qua mạng… để sử dụng từ ngữ chính xác khi miêu tả cảnh vật. Điều
này cũng khá thuận lợi vì lớp tôi có ti vi kết nối mạng và điện thoại thông minh
và mạng in-tơ-nét nhà em nào cũng có. Tôi hướng dẫn và tạo cho học sinh hứng
thú trao đổi với bạn khi có từ hay, có sức gợi tả, gợi cảm mạnh, ấn tượng qua
các trò chơi ngoại khóa, biết lựa chọn những từ ngữ phù hợp với từng văn cảnh
qua các bài tập phù hợp.
Ví dụ: Sử dụng từ láy: Trong Tiếng Việt, từ láy thường có giá trị gợi tả,
biểu cảm rất lớn. Chính vì vậy, sử dụng từ láy chính xác trong viết văn tả cảnh
sẽ làm cho người đọc, người nghe cảm nhận và hình dung được một cách cụ thể,
tinh tế và sống động hơn về sự vật hình tượng được miêu tả. Câu văn sẽ trở lên
“đát giá” hơn rất nhiều. Tôi thường lồng ghép các bài tập trong các tiết học Tập
làm văn, Luyện từ và câu, Chính tả hoặc trong các giờ ngoại khóa như:
Tìm các từ láy thay vào các từ ngữ in đâm để đoạn văn sinh động hơn.
Hồ Tơ-nưng năm ở phia bắc thị xã Plây-cu. Hồ rộng …, nước trong như
lọc. Hồ sáng đẹp….dưới ánh nắng ……của những buổi trưa hè. Hàng trăm thứ
cá ra đời….., nảy nở ở đây. Cá đi từng đàn, khi thì tự do……bơi lội, khi thì lao
nhanh….như những con thoi. Chim chóc cung đua nhau đến bên hồ làm tổ.
Những con bói cá mỏ dài, lông nhiều màu sắc….. Những con cuốc đen trui… len
lách giữa các bụi bờ.
* Đáp án: Các từ láy thay từ in đậm lần lượt là: mênh mông, long lanh,
chói chang, sinh sôi, tung tăng, vun vut, sặc sỡ, đen trùi trui.
Từ láy “xanh xao” dùng để tả màu sắc của đối tượng:
a. da người c. lá cây đã già b. lá cây còn non d. trời.
12
Tìm từ láy trong đoạn văn sau và cho biết chúng dùng để miêu tả sự
vât nào?
Bản làng đã thức giấc. Đó đây, ánh lửa hồng bập bùng trên các bếp.
Ngoài bờ ruộng đã có bước chân người đi, tiếng nói chuyện rì rầm, tiếng gọi
nhau í ới. Tảng sáng, vòm trời cao xanh mênh mông. Gió từ trên đỉnh núi tràn
xuống thung lung mát rượi.
…………..
Ví dụ: Sử dụng tính từ: Tính từ là từ có khả năng biểu thị những đặc
điểm, màu sắc với sắc thái riêng biệt của sự vật hiện tượng. Chính vì vậy, trong
văn tả cảnh thì tính từ là yếu tố ngôn ngữ không thể thiếu bởi vì các sự vật, hiện
tượng, hành động… trở nên sinh động, cụ thể và chúng có hồn khi gắn liền với
các đặc điểm, thuộc tính riêng vốn có của chúng. Tôi thường yêu cầu học sinh
làm các bài tập dạng :
Tìm các tính từ phù hợp cho các câu văn sau:
Vi dụ 1: Cánh đồng lua chin vàng xuộm đang chờ tay người đến gặt mang
về. (Tả cánh đồng lúa chín)
Vi dụ 2: Thế rồi những cơn gió bất chợt nổi lên. Gió điên cuồng vặt từng
đám lá cuốn lên cao rồi vứt tung tóe. Bụi bặm cung bị gió cuộn tung mù mịt.
Sấm ì ầm phia xa và những đám mây đen kịt ùn ùn kéo tới. (Tả cơn mưa).
Viết các tính từ sau vào từng cột cho phù hợp:
– xanh biếc, chắc chắn, tròn xoe, lỏng lẻo, mềm nhũn, xám xịt, vàng hoe, đen kịt,
cao lớn, mênh mông, trong suốt, chót vót, tí xíu, kiên cường, thật thà, xanh
mướt, xa tít, cao vút,

Tính từ chỉ màu sắcTính từ chỉ hình dángTính từ chỉ tính chất
phẩm chất

……………………………………
Giải pháp 3- Hướng dẫn HS làm dạng bài tâp về tìm hiểu và vân dụng
một số biện pháp tu từ
Để viết được bài văn hay, hấp dẫn, ngoài việc dùng từ viết câu phù hợp
văn cảnh còn cần đến nghệ thuật sử dụng biện pháp tu từ trong tiếng Việt, tôi rất
chú trọng rèn cho các em tìm hiểu tác dụng của một số biện pháp tu từ gần gũi
với học sinh tiểu học (so sánh, nhân hoá, dùng điệp từ, điệp ngữ, đảo ngữ) thông
qua các ví dụ cụ thể để các em học tập cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật đó
viết văn cho sinh động.
a. Sử dụng biện pháp nghệ thuât nhân hóa: Nhân hóa là biến sự vật (cỏ
cây, hoa lá, gió trăng, chim thú,… ) thành con người bằng cách gọi nó như con
13
người( dùng danh từ chỉ người: ông, bà, …) hoặc gán cho nó những hoạt động,
đặc điểm mang tính cách con người bằng các động từ, tính từ. Sử dụng biện
pháp nhân hóa trong văn tả cảnh sẽ giúp cho cảnh vật sống động và có hồn hơn.
Ví dụ:- Con đường làng chậm rãi bò qua những ngọn đồi, vươn về phia
xa xa,… (Tả con đường )
– Ông mặt trời cung dần lên cao. Thế mà sông vẫn năm đấy, ườn
mình ra đón những ánh vàng lấp loáng. (Tả dòng sông)
Ví dụ bài tâp 1 : Hãy chỉ ra biện pháp nhân hóa trong đoạn thơ sau và
cho biết tác dụng của nó.
“Chị chổi tre chải tóc bên ao
Nàng mây áo trắng ghé vào soi gương
Bác nồi đồng hát bùng boong
Bà chổi loẹt quẹt lom khom trong nhà”.
(Trần Đăng Khoa)
Sau khi học sinh phát hiện ra các biện pháp nhân hoá là dùng danh từ chỉ
người để gọi sự vật và dùng các động từ chải tóc, ghé vào, hát, loẹt quẹt, lom
khom, tôi gợi mở để học sinh thấy được tác dụng của biện pháp nhân hoá góp
phần diễn tả nội dung sinh động như thế nào?
Ví dụ bài tâp 2: Hãy sử dụng biện pháp nhân hoá để diễn đạt lại cho
các câu văn sau sinh động hơn:
a) Những bông hoa nở trong nắng sớm.
b) Mùa xuân, sân trường xanh mướt màu lá.
c) Chim hót ríu rít trong vòm cây.
Nhiều em đã viết được những câu văn có sử dụng biện pháp nhân hoá thích hợp.
HS1:
a)Trong vườn, những bông hoa đang hé nụ tươi cười chào đón bình minh.
b)Xuân sang, sân trường khoác chiếc áo màu xanh mướt.
c)Mấy chú chim ca hát véo von trong vòm cây.
HS 2:
a) Trong nắng sớm, những nàng hồng, nàng cuc đang tươi cười làm duyên.
b) Mùa xuân đến, sân trường thay chiếc áo màu xám khô khốc băng chiếc
áo màu xanh non mỡ màng.
c) Mấy chu chim đang trò chuyện riu rit trong vòm cây.
b. Sử dụng biện pháp so sánh: Là đối chiếu 2 sự vật, hiện tượng cùng có
một dấu hiệu chung nào đó với nhau, góp phần làm cho sự vật, hiện tượng được
miêu tả trở lên phong phú, cụ thể, sinh động và rõ ràng hơn.
14
Ví dụ: – Dưới làn cát trắng mát lạnh óng ánh như những hạt pha lê ấy là
vô vàn những chu ốc biên nhỏ xinh đáng yêu. (Tả cảnh biên luc bình minh)
– Hoàng hôn dần buông như ai đó rắc những tia nắng cuối cùng
trên mặt biên xanh êm đềm. (Tả cảnh biên luc hoàng hôn)
– Dòng sông như một dải lụa mềm ôm lấy những cánh đồng, xóm
thôn trù phu. (Tả dòng sông)
Ví dụ bài tâp 1: Chỉ ra những hình ảnh so sánh có trong đoạn thơ sau
và nêu tác dụng của biện pháp so sánh trong đoạn văn đoạn thơ đó.
Mùa thu của em
Là vàng hoa cúc
Như nghìn con mắt
Mở nhìn trời êm
Tôi hướng dẫn để các em chỉ ra hình ảnh so sánh rồi tìm hiểu tác dụng của
hình ảnh so sánh đó. Chẳng hạn đoạn thơ trên: Hình ảnh so sánh “như nghìn con
mắt /mở nhìn trời êm” diễn tả nội dung sinh động gợi tả như thế nào?
Hình ảnh “Nghìn con mắt mở nhìn trời êm” góp phần diễn tả vẻ đẹp tươi
sáng, dịu dàng của hoa cúc; như hàng nghìn con mắt trong sáng, hồn nhiên mở
nhìn trời êm gợi cảm xúc yêu mến mùa thu tươi đẹp mà yên bình. Từ đó học
sinh thấy được tác dụng của biện pháp so sánh và biết vận dụng vào các bài văn
miêu tả cảnh vật phù hợp.
Ví dụ bài tâp 2: Viết lại các câu văn sau cho gợi tả, gợi cảm bằng cách
sử dụng biện pháp so sánh
a) Cây phượng vĩ ở cổng trường đang nở hoa đỏ rực.
b) Những chiếc nón trắng nhấp nhô trên ruộng lua xanh.
c) Những giọt sương long lanh còn đọng trên lá.
d) Hai hàng cau thẳng tắp đứng nghiêm trang hai bên đường làng.
HS 1:
a) Cây phượng vĩ ở sân trường nở hoa đỏ rực giống như một bó đuốc khổng lồ.
b) Những chiếc nón lá như những bông hoa trắng thấp thoáng trên ruộng lua
xanh mượt.
c) Những giọt sương như những hạt ngọc đọng long lanh trên những chiếc lá
lua mỏng manh.
d) Hai hàng cau thẳng tắp đứng nghiêm trang như hai hàng quân danh dự
chào đón những người học trò ngoan chung em đi học.
c. Sử dụng biện pháp điệp từ, điệp ngữ: Là sự nhắc đi nhắc lại một từ
hoặc một cụm từ, một câu nhằm nhấn mạnh một ý nào đó, làm cho nó nổi bật
và hấp dẫn người đọc.
15

Ví dụ: Em yêu màu đỏ
Như máu con tim
Lá cờ Tổ quốc
Khăn quàng đội viên.
Em yêu màu xanh
Đồng băng, rừng nui
Biên đầy cá tôm
Bầu trời cao vợi. …..

Ví dụ bài tâp 1: Tìm điệp từ và nêu tác dụng của điệp từ trong đoạn
văn sau:
Thoắt cái, lác đác lá vàng rơi trong khoảnh khắc mùa thu. Thoắt cái, trắng
long lanh một cơn mưa tuyết trên những cành đào lê, mận. Thoắt cái, gió xuân
hây hẩy nồng nàn với những bông hoa lay ơn màu đen nhung hiếm quý.
Học sinh nhận ra được:
Điệp từ “thoắt cái” được sử dụng tới 3 lần tạo cho người đọc cái cảm xuc
đột ngột, ngỡ ngàng trước sự thay đổi nhanh chóng của thời tiết ở Sa Pa. Sự
thay đổi nhanh chóng đến mức bất ngờ ấy khiến du khách Sa Pa không những
được tận hưởng cảnh đẹp nên thơ mà còn được chứng kiến sự biến đổi huyền ảo
của thời tiết Sa Pa. và như lạc vàc một tiên cảnh vậy.
Ví dụ bài tâp 2: Dùng điệp ngữ viết lại những câu văn sau để nhấn
mạnh và gợi cảm xúc cho người đọc:
a) Tôi yêu căn nhà đơn sơ, khu vườn đầy hoa trái và cả luỹ tre quen thuộc
làng tôi.
b) Bức tranh buổi sớm quê hương tôi đẹp quá!
c) Làng quê tôi tràn ngập màu xanh của đồng lúa, bãi ngô, thảm cỏ.
d) Hoa hồng, hoa huệ, hoa nhài đều thơm, hương thơm lan toả khắp vườn.
e) Cánh đồng quê tôi tràn ngập màu vàng của ánh nắng và những thảm lúa chín.
*Đáp án:
a) Tôi yêu căn nhà đơn sơ, yêu khu vườn đầy hoa trái và yêu cả luỹ tre
quen thuộc của làng tôi.
b) Bức tranh buổi sớm quê hương tôi đẹp quá! Đẹp vô cùng!
c) Làng quê tôi tràn ngập màu xanh của đồng lua, màu xanh của bãi ngô,
màu xanh của thảm cỏ.
d) Hoa hồng thơm nồng nàn, hoa huệ thơm thanh tao, hoa nhài thơm tinh
khiết, hương thơm hoà quyện vào nhau lan toả khắp vườn.
e) Cánh đồng quê tôi tràn ngập một màu vàng, màu vàng chói chang của
ánh nắng ban trưa, màu vàng trù phu của những thảm lua đang mùa chin rộ.
Song song với việc rèn cho học sinh cách vận dụng biện pháp tu từ trong
viết văn, tôi rèn cho các em kĩ năng diễn đạt qua các dạng bài tập về câu nhằm
giúp các em diễn đạt rõ ràng, ngắn gọn, mạch lạc tiến tới diễn đạt chặt chẽ, sinh
động.
Giải pháp 4- Rèn kĩ năng viết những câu văn sinh động, gợi tả gợi
cảm, giàu hình ảnh và nhạc điệu:
16
– Câu văn là một bộ phận của một đoạn văn, bài văn. Vì vậy, muốn có một
đoạn văn hay thì phải có các câu văn hay. Muốn viết được câu văn hay, ngoài
việc dùng từ chính xác, câu văn cần phải có hình ảnh. Có hình ảnh, câu văn sẽ
có màu sắc, đường nét, hình khối,… Để câu văn có hình ảnh, giáo viên cần lưu ý
hướng dẫn các em sử dụng các từ ngữ gợi tả, gợi cảm và các biện pháp nghệ
thuật như so sánh, nhân hoá, điệp ngữ, đảo ngữ. Các hình thức nghệ thuật này sẽ
làm cho câu văn trở nên sinh động hơn rất nhiều.
– Từ cách dẫn dắt, gợi ý của giáo viên và từ một ý cho trước hay từ một
câu đơn chỉ có một cụm chủ ngữ, vị ngữ, giáo viên hướng dẫn học sinh tập mở
rộng câu bằng cách thêm thành phần phụ cho câu như trạng ngữ, bổ ngữ, động
từ, tính từ, từ láy, từ tượng thanh, tượng hình,…; sử dụng biện pháp nhân hóa,
so sánh, điệp từ, điệp ngữ, … phù hợp làm cho câu văn diễn đạt thêm cụ thể,
sống động, hấp dẫn giúp người đọc như cùng cảm nhận với mình. Yêu cầu rèn
luyện kĩ năng này có thể thực hiện ở các tiết học Luyện từ và câu hoặc tiết trả
bài tập làm văn hoặc các tiết học buổi hai hay ngoại khóa. Các bài tập luyện viết
câu sẽ giúp học sinh có ý thức viết văn ngày càng chặt chẽ về ý tứ, sinh động,
giàu cảm xúc. … Từ đó giúp các em thêm hứng thú học môn Tập làm văn hơn.
– Qua các giờ tập đọc, luyện từ và câu và tập làm văn hay các giờ ngoại
khóa tôi giúp các em hiểu được các từ ngữ đặc sắc, cảm thụ được cái hay, cái
đẹp của bài văn, bài thơ và luyện viết câu văn sinh động giàu hình ảnh. Tôi đã
hướng dẫn học sinh luyện tập thông qua các dạng bài tập sau:
a- Hướng dẫn HS làm dạng bài tâp dùng từ, đặt câu
Ví dụ: Bài tâp 1: Thêm từ ngữ vào chỗ trống để câu văn có sức gợi tả,
gợi cảm hơn:
a) Phía đông, … mặt trời …. nhô lên đỏ rực.
b) Bụi tre… ven hồ… nghiêng mình…. theo gió.
c) Trên cành cây…, mấy chú chim non… kêu………..
d) Khi hoàng hôn ….. xuống, tiếng chuông chùa lại ngân….
*Đáp án dự kiến:
a) Ông, đang, từ từ.
b) Ngà , đang, đu đưa.
c) Cao, đang riu rit, trong nắng chiều.

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *