dàn âm thanh hội trường, âm thanh lớp học, âm thanh phòng họp, loa trợ giảng

SKKN Xây dựng một số hoạt động học trong dạy học Vật lý gắn với việc bảo vệ môi trường

SKKN Xây dựng một số hoạt động học trong dạy học Vật lý gắn với việc bảo vệ môi trường

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề vô cùng cấp bách không chỉ của riêng một
vùng nào, từ thành thị, nông thôn cho tới cả các tỉnh miền núi, đe dọa tới các nguồn
nước và không khí, tàn phá đa dạng sinh học, gây biến đổi khí hậu và nhiều hệ lụy
khác ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống con người. Trong số những biện pháp mà Liên
hợp quốc đề ra trong chiến lược bảo vệ môi trường thì việc giáo dục ý thức cho thế hệ
trẻ là một trong những nhiệm vụ hàng đầu. Hơn nữa kết luận hội nghị lần thứ tám ban
chấp hành trung ương khóa XI có nêu “Chủ động chuẩn bị các phương án, nâng cao
khả năng phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu”.
Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục môi trường trong thập kỷ phát
triển bền vững, tháng 6/1998, Bộ chính trị ban chấp hành trung ương nước ta đã nhấn
mạnh: Cần phải đưa vấn đề bảo vệ môi trường vào trong hệ thống giáo dục quốc dân,
giáo dục môi trường (GDMT) được xem là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của nhà
nước ta và các nước trên thế giới, bởi lẽ đó là việc làm để bảo tồn và phát triển bền
vững “cái nôi của nhân loại”. Giáo dục môi trường trong nhà trường lại càng có ý
nghĩa quan trọng, được xem là một trong những biện pháp hàng đầu để bảo vệ môi
trường (BVMT) có hiệu quả. GDMT sẽ giúp con người có nhận thức đúng đắn về
môi trường, về việc khai thác sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và có ý thức thực
hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Nhà trường là nơi đào tạo thế hệ trẻ, những người
chủ tương lai của đất nước, những người sẽ làm nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục sau
này. Nếu họ có đầy đủ những nhận thức về bảo vệ môi trường, thì từ khi đang học
trên ghế nhà trường và cho đến khi ra đời, dù họ làm việc gì, ở bất cứ nơi đâu, bất kì
cương vị hoạt động nào, cũng đều có thể thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường một
cách có hiệu quả.
Thực tiễn đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm tích hợp trong giáo
dục và dạy học sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp
1
và làm cho việc học tập trở nên có ý nghĩa hơn đối với học sinh so với việc các
môn học, các mặt giáo dục được thực hiện riêng rẽ. Tích hợp là một trong những
quan điểm giáo dục nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những
người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện
đại. Với 11 môn học trong chương trình giáo khoa THPT, trong đó Vật lí là môn có
nhiều cơ hội để tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường. Vì thế, sẽ rất thuận
lợi cho việc giáo dục về bảo vệ môi trường cho học sinh phổ thông khi kết hợp với
môn Vật lí. Từ những mối quan hệ này ta có thể tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường,
để học sinh có ý thức sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường.
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
Ở trường trung học phổ thông (THPT), việc truyền thụ kiến thức GDMT đến
học sinh thuận lợi và hiệu quả nhất vẫn là hình thức tích hợp và lồng ghép vào các
môn học. Bên cạnh những kiến thức từ nội dung bài học, các em còn có thể tích lũy
được các kiến thức về môi trường từ đó hình thành ý thức bảo vệ, giữ gìn, kỹ năng
sống. Hiện nay, nội dung này đã và đang được triển khai, phổ biến rộng rãi trong giờ
học kể cả chính khóa lẫn ngoại khóa, đặc biệt là lồng ghép trong các môn học như:
Hóa học, Vật Lý, Sinh học, Địa lý, Giáo dục công dân,…
2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến
2.1. Cơ sở lý luận về vấn đề tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học
2.1.1. Những vấn đề chung về môi trường
2.1.1.1. Định nghĩa môi trường
Theo điều 3, Luật bảo vệ môi trường năm 2005 thì “Môi trường bao gồm các
yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người có ảnh hưởng đến đời sống,
sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.
Môi trường sống của con người theo chức năng được phân thành các loại:
– Môi trường tự nhiên: bao gồm các yếu tố tự nhiên như vật lí, hoá học, sinh
học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con
người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất,
2
nước… Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng
cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản
xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp
để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú.
– Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con người,
định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức
mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với
các sinh vật khác. Môi trường xã hội được thể hiện cụ thể bằng các luật lệ, thể chế,
cam kết, quy định, ước định…
Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả
các nhân tố do con người tạo ra như: nhà ở, phương tiện đi lại, công viên…
Môi trường nhà trường bao gồm không gian trường, cơ sở vật chất trong trường
như: lớp học, phòng thí nghiệm, sân chơi, vườn trường, thầy cô giáo, nội quy của nhà
trường, các tổ chức xã hội như đoàn, đội…
Như vậy: môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống
và phát triển.
Cấu trúc môi trường tự nhiên gồm 4 thành phần chính sau:
a. Thạch quyển
Thạch quyển là toàn bộ lớp vỏ của Trái đất và phần trên cùng của lớp Manti
(đến độ sâu khoảng 100 km) dưới đáy đại dương.
b. Thủy quyển
Thủy quyển là lớp vỏ lỏng không liên tục bao quanh Trái đất gồm: nước ngọt,
nước mặn ở cả 3 trạng thái rắn (băng, tuyết), lỏng và hơi nước. Nước rất cần cho tất
cả các sinh vật sống trên Trái đất và là môi trường sống của nhiều loài sinh vật.
c. Khí quyển
Khí quyển là lớp vỏ không khí bao bọc xung quanh Trái đất, được hình thành
do sự thoát hơi nước và các chất khí từ Thủy quyển và Thạch quyển.
Không khí đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người và thế giới sinh
vật. Các thành phần chính của không khí bao gồm nitơ, ôxi, hơi nước và một số loại
3
khí trơ cũng tham gia vào mọi quá trình xảy ra trên Trái đất. Hiện nay, tình trạng ô
nhiễm không khí đang thực sự gây hại cho sự sống trên bề mặt Trái đất.
d. Sinh quyển
Sinh quyển là một hệ thống tự nhiên động, rất phức tạp. Sự sống trên bề mặt
Trái đất được phát triển chính là nhờ vào tổng hợp các mối quan hệ tương hỗ giữa các
sinh vật với môi trường, tạo thành dòng liên tục trong quá trình trao đổi vật chất và
năng lượng, mà chúng ta thường gọi là các chu trình sinh địa hóa như: chu trình nước,
chu trình cacbon, chu trình nitơ, chu trình photpho… Nhờ hoạt động của các chu trình
này mà vật chất được chu chuyển, sinh vật sống được và tồn tại trong một trạng thái
cân bằng động, giúp cho chúng ổn định và phát triển.
2.1.1.2. Các chức năng cơ bản của môi trường
Môi trường có 4 chức năng cơ bản:
a. Môi trường là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật.
Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi người cần một khoảng không gian nhất định
để phục vụ các nhu cầu sống như: không khí để thở, nước để uống, nhà ở, đất để sản
xuất, để vui chơi, giải trí… Theo tính toán, trung bình mỗi người mỗi ngày cần 4m3
không khí sạch để hít thở; 2,5 lít nước để uống, một lượng lương thực, thực phẩm đủ
để sản sinh ra khoảng 2000 đến 2400 calo năng lượng nuôi sống bản thân. Chức năng
này đòi hỏi phải có khoảng không gian thích hợp cho mỗi người để ở, sinh hoạt và
sản xuất.
b. Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản
xuất của con người.
Để tồn tại và phát triển, con người đã tác động vào các hệ thống tự nhiên để tạo
ra của cải vật chất, năng lượng cần thiết cho hoạt động sinh sống, sản xuất. Thiên
nhiên là nguồn cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho con người.
Các nguồn tài nguyên này bao gồm:
– Rừng tự nhiên: Tạo độ phì nhiêu cho đất, bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp
gỗ củi, dược liệu và duy trì sự cân bằng sinh thái…
4
– Nguồn nước: cung cấp nước sinh hoạt, sản xuất, thủy hải sản, năng lượng, giao
thông đường thủy và là cảnh quan cho du lịch…
– Động vật, thực vật: cung cấp lương thực, thực phẩm …
– Khí hậu: gồm không khí, nhiệt độ, ánh sáng mặt trời, gió mưa,… không thể
thiếu được trong sự sống của con người và động, thực vật.
– Các loại khoáng sản: than, dầu khí, thiếc, đồng… cung cấp năng lượng và
nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất và đời sống…
c. Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải của đời sống và sản xuất.
Trong hoạt động sản xuất và sinh hoạt, con người đã thải các chất thải vào môi
trường. Chất thải dưới tác động của các vi sinh vật và các yếu tố môi trường khác như
nhiệt độ, độ ẩm, không khí,… sẽ bị phân hủy, biến đổi từ phức tạp thành đơn giản, từ
những thứ bỏ đi thành các chất dinh dưỡng nuôi sống cây trồng và nhiều sinh vật
khác, làm cho các chất thải trở lại trạng thái nguyên liệu của tự nhiên. Tuy nhiên, do
sự gia tăng dân số, do đô thị hóa, công nghiệp hóa, lượng chất thải thải vào môi
trường ngày càng nhiều và phần lớn không qua xử lí, dẫn đến ở nhiều nơi, nhiều chỗ
trở nên quá tải, gây ô nhiễm môi trường.
d. Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người.
– Cung cấp thông tin về lịch sử địa chất, lịch sử tiến hóa của vật chất và sinh vật,
lịch sử xuất hiện và phát triển của loài người: các hiện vật, di chỉ của con người phát
hiện, giúp giải thích được nhiều bí ẩn diễn ra trong quá khứ. Khi kết nối giữa những
sự kiện của hiện tại với quá khứ, con người sẽ dự đoán được những sự kiện xảy ra
trước đây và trong tương lai.
– Cung cấp các chỉ thị mang tính chất tín hiệu để báo động sớm các hiểm họa đối
với con người và các sinh vật sống trên Trái đất. Nhiều sinh vật do phản ứng sinh lí
của cơ thể với những biến đổi của điều kiện tự nhiên đã thông báo sớm cho chúng ta
những sự cố như bão, động đất, núi lửa…
– Môi trường còn lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gen,
động, thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp, cảnh quan thiên
nhiên để thưởng ngoạn…
5
2.1.2. Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học vật lí bậc THPT
2.1.2.1. Sự cần thiết của việc giáo dục bảo vệ môi trường
Những hiểm họa suy thoái môi trường đang ngày càng đe dọa cuộc sống của
loài người. Chính vì vậy, bảo vệ môi trường (BVMT) là vấn đề sống còn của nhân
loại và của mỗi quốc gia.
Các nhà khoa học và quản lí đã xác định một trong những nguyên nhân cơ bản
gây suy thoái môi trường là do sự thiếu hiểu biết, thiếu ý thức của con người.
Giáo dục BVMT là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tế nhất và
có tính bền vững để thực hiện mục tiêu BVMT và phát triển bền vững đất nước.
Thông qua giáo dục, từng người và cộng đồng được trang bị kiến thức về môi trường,
ý thức BVMT, năng lực phát hiện và xử lí các vấn đề môi trường.
Giáo dục BVMT còn góp phần hình thành nhân cách người lao động mới,
người chủ tương lai của đất nước – người lao động, người chủ có thái độ thân thiện
với môi trường, phát triển kinh tế hài hòa với việc BVMT, bảo đảm nhu cầu của hôm
nay mà không phương hại đến các thế hệ mai sau. Giáo dục BVMT là vấn đề có tính
chiến lược của mỗi quốc gia và toàn cầu.
Là nền tảng của nền giáo dục quốc dân, với gần 18 triệu HS, chiếm hơn 20%
dân số, giáo dục phổ thông giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành nhân
cách người lao động mới. Tác động đến 18 triệu HS phổ thông là tác động đến hơn
20% dân số trẻ. Nếu đội ngũ này có sự chuyển biến về nhận thức, tư tưởng và hành
vi, tất yếu sẽ có thay đổi lớn trong công tác BVMT.
Đích quan trọng của giáo dục BVMT không chỉ làm cho mọi người hiểu rõ sự
cần thiết phải BVMT mà quan trọng là phải có thói quen, hành vi ứng xử văn minh,
lịch sự với môi trường. Điều này phải được hình thành trong một quá trình lâu dài và
phải bắt đầu ngay từ tuổi ấu thơ.
2.1.2.2. Mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường trong các trường THPT
Giáo dục BVMT nói chung có mục tiêu đem lại cho người học các vấn đề sau:
– Hiểu biết bản chất của các vấn đề môi trường: tính phức tạp, quan hệ nhiều
mặt, nhiều chiều, tính hữu hạn của tài nguyên thiên nhiên và khả năng chịu tải của
6
môi trường; quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển, giữa môi trường địa
phương, vùng, quốc gia với môi trường khu vực và toàn cầu.
– Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môi trường như một
nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển của mỗi cá nhân, cộng đồng, quốc gia
và quốc tế. Từ đó có thái độ, cách ứng xử đúng đắn trước các vấn đề môi trường, xây
dựng quan niệm đúng về ý thức trách nhiệm, về giá trị nhân cách để dần hình thành
các kĩ năng thu thập số liệu và phát triển sự đánh giá thẩm mỹ.
– Có tri thức, kĩ năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lực lựa chọn
phong cách sống, thích hợp với việc sử dụng hợp lí và khôn ngoan các nguồn tài
nguyên thiên nhiên, có thể tham gia có hiệu quả vào việc phòng ngừa và giải quyết
các vấn đề môi trường cụ thể nơi sinh sống và làm việc.
Mục tiêu giáo dục BVMT trong chương trình giáo dục phổ thông:
* Kiến thức: HS hiểu về
– Khái niệm môi trường, các thành phần môi trường, quan hệ giữa chúng.
– Nguồn tài nguyên, khai thác, sử dụng, tái tạo tài nguyên và phát triển bền
vững.
– Sự ô nhiễm và suy thoái môi trường (hiện trạng, nguyên nhân, hậu quả).
– Các biện pháp BVMT.
* Thái độ – tình cảm:
– Có tình cảm yêu quý, tôn trọng thiên nhiên.
– Quan tâm thường xuyên đến môi trường sống của cá nhân, gia đình, cộng
đồng.
– Ủng hộ, chủ động tham gia BVMT, phê phán hành vi gây hại môi trường.
2.1.2.3. Nguyên tắc, phương thức, phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường trong
trường THPT
* Nguyên tắc
– Giáo dục BVMT là một lĩnh vực giáo dục liên ngành, tích hợp vào các môn
học và các hoạt động. Giáo dục BVMT không phải là ghép thêm vào chương trình
7
giáo dục như là một bộ môn riêng biệt hay một chủ đề nghiên cứu mà nó là một
hướng hội nhập vào chương trình.
– Mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục BVMT phải phù hợp với mục
tiêu đào tạo của cấp học, góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo của cấp học.
– Giáo dục BVMT phải trang bị cho HS một hệ thống kiến thức tương đối đầy
đủ về môi trường và kĩ năng BVMT, phù hợp với tâm lí lứa tuổi. Hệ thống kiến thức
kĩ năng được triển khai qua các môn học và các hoạt động theo hướng tích hợp nội
dung qua các môn học, thông qua chương trình dạy học chính khóa và các hoạt động
ngoại khóa, đặc biệt coi trọng việc đưa vào chương trình hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp.
– Nội dung giáo dục BVMT phải chú ý khai thác tình hình thực tế môi trường
của địa phương. Nội dung và phương pháp giáo dục BVMT phải chú trọng thực hành,
hình thành các kĩ năng, phương pháp hành động cụ thể để HS tham gia hiệu quả vào
các hoạt động BVMT của địa phương, của đất nước, phù hợp với độ tuổi.
– Cách tiếp cận cơ bản của giáo dục BVMT là: giáo dục về môi trường, trong
môi trường và vì môi trường, đặc biệt là giáo dục vì môi trường. Coi đó là thước đo
cơ bản hiệu quả của giáo dục BVMT.
– Phương pháp giáo dục BVMT nhằm tạo cho người học chủ động tham gia vào
quá trình học tập, tạo cơ hội cho HS phát hiện các vấn đề môi trường và tìm hướng
giải quyết vấn đề dưới sự tổ chức và hướng dẫn của GV.
– Tận dụng các cơ hội để giáo dục BVMT nhưng phải đảm bảo kiến thức cơ bản
của môn học, tính logic của nội dung, không làm quá tải lượng kiến thức và tăng thời
gian của bài học.
* Phương thức giáo dục
– Giáo dục BVMT là một lĩnh vực giáo dục liên ngành, vì vậy, được triển khai
theo phương thức tích hợp. Nội dung giáo dục BVMT được tích hợp trong các môn
học thông qua các chương, bài cụ thể.
Việc tích hợp thể hiện ở 3 mức độ là:
8
+ Mức độ toàn phần: Mục tiêu và nội dung của bài học hoặc của chương phù
hợp hoàn toàn với mục tiêu và nội dung của giáo dục BVMT.
+ Mức độ bộ phận: Chỉ có một phần bài học có mục tiêu và nội dung giáo dục
BVMT.
+ Mức độ liên hệ: Có điều kiện liên hệ một cách logic.
Ở THPT có thể tích hợp giáo dục BVMT ở tất cả các môn, tuy nhiên, một số
môn có cơ hội tích hợp nhiều hơn như: Sinh học, Hóa học, Vật lí, Địa lí, Công nghệ,
Giáo dục công dân… Ngoài ra, có thể dạy học một số chuyên đề như: Tác động của
sự nóng lên toàn cầu, sản xuất sạch…
– Các hoạt động giáo dục BVMT ngoài lớp học:
+ Câu lạc bộ môi trường: sinh hoạt theo các chủ đề bảo vệ rừng, bảo vệ động
vật hoang dã, sử dụng năng lượng sạch, …
+ Hoạt động tham quan theo chủ đề: vườn quốc gia, khu bảo tồn, công viên,
vườn thú, danh lam thắng cảnh, nơi xử lí rác, nhà máy, bảo tàng …
+ Điều tra, khảo sát, nghiên cứu tình hình môi trường địa phương, thảo luận
phương án xử lí.
+ Hoạt động trồng cây, xanh hóa nhà trường.
+ Tổ chức thi tìm hiểu về môi trường: thi điều tra, sáng tác (vẽ, viết…), văn
nghệ về chủ đề môi trường.
+ Hoạt động Đoàn TNCS Hồ Chí Minh bảo vệ môi trường: vệ sinh trường, lớp,
thôn xóm, tham gia chiến dịch tuyên truyền BVMT ở nhà trường, địa phương.
c. Các phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường
Là lĩnh vực giáo dục liên ngành, giáo dục BVMT sử dụng nhiều phương pháp
dạy học của các bộ môn, chịu sự chi phối của các phương pháp đặc trưng của bộ
môn, nhưng nó cũng có những phương pháp có tính đặc thù. Vì vậy, ngoài các
phương pháp chung như: thảo luận, trò chơi, … giáo dục BVMT thường vận dụng
nhiều phương pháp khác như:
– Phương pháp tham quan, điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực địa:
Có thể triển khai theo 2 cách:
9
+ Tổ chức cho HS đi tham quan học tập ở khu bảo tồn thiên nhiên, nhà máy xử
lí rác, khu chế xuất, danh lam thắng cảnh, …
+ Lập nhóm tìm hiểu, nghiên cứu môi trường ở trường hoặc địa phương.Các
nhóm có nhiệm vụ: Điều tra, tìm hiểu, nghiên cứu tình hình môi trường khu vực các
em khảo sát, báo cáo kết quả, nêu phương án cải thiện môi trường.
– Phương pháp thí nghiệm: Ví dụ: thí nghiệm về tiết kiệm năng lượng, thí
nghiệm ủ rác khi dạy về xử lí rác thải để biết khả năng phân hủy của từng loại rác, …
Ở nơi có điều kiện, có thể tiến hành các thí nghiệm ảo bằng mô hình hóa qua chương
trình phần mềm vi tính như: mô hình chu trình nước, mô hình sản xuất nước sạch, mô
hình về khí nhà kính, …
– Phương pháp khai thác kinh nghiệm thực tế để giáo dục: Môi trường có những
vấn đề toàn cầu như tầng ôzôn, Trái đất nóng lên… nhưng cũng có những vấn đề rất
gần gũi với HS như cơm ăn, nước uống, không khí để thở, ánh sáng để nhìn, nhà cửa,
cây cối… Các em có thể nhìn thấy, sờ thấy, nhận biết được bằng kinh nghiệm thực tế.
GV cần tận dụng các đặc điểm này để giáo dục các em.
– Phương pháp hoạt động thực tiễn: Đích cuối cùng mà giáo dục BVMT cần đạt
tới là các hành động dù nhỏ nhưng thiết thực nhằm góp phần cải thiện môi trường và
địa phương. Hoạt động thực tiễn giúp HS ý thức được giá trị của lao động, rèn luyện
kĩ năng, thói quen BVMT. Giáo viên có thể tổ chức các hoạt động như: trồng cây, thu
gom rác, dọn sạch trường lớp…
– Phương pháp giải quyết vấn đề cộng đồng: Ở mỗi cộng đồng địa phương có thể
có những vấn đề bức xúc về môi trường riêng. Ví dụ: môi trường làng nghề, môi
trường rừng, môi trường biển và ven bờ, môi trường ở khu vực công nghiệp… GV cần
khai thác tình hình môi trường địa phương để giáo dục HS cho đảm bảo tính thiết
thực và hiệu quả. Phương pháp này đòi hỏi GV phải thu thập số liệu, sự kiện và tìm
hiểu tình hình môi trường địa phương, tổ chức các hoạt động phù hợp để HS tham gia
góp phần cải tạo môi trường.
– Phương pháp học tập theo dự án: Đối với HS THPT, có thể cho các em nghiên
cứu một vấn đề về môi trường ở địa phương. GV là người hướng dẫn. Việc lựa chọn
10
các vấn đề nghiên cứu nên vừa sức với HS và phù hợp điều kiện có của nhà trường và
địa phương. Học tập theo dự án sẽ tạo hứng thú, đồng thời rèn luyện tính tự lập,
phương pháp giải quyết vấn đề, hạn chế việc học thụ động của HS.
– Phương pháp nêu gương: Hành vi của người lớn là tấm gương có ý nghĩa giáo
dục trực tiếp đối với HS. Muốn giáo dục HS có nếp sống văn minh, lịch sự đối với
môi trường, trước hết các thầy cô giáo, các bậc phụ huynh cần phải thực hiện đúng
các quy định BVMT.
– Phương pháp tiếp cận kĩ năng sống BVMT. Kĩ năng sống BVMT là khả năng
ứng xử một cách tích cực đối với các vấn đề môi trường. Một số kĩ năng quan trọng
cần phát triển là:
+ Kĩ năng nhận biết và phát hiện các vấn đề môi trường.
+ Kĩ năng xây dựng kế hoạch hành động vì môi trường.
+ Kĩ năng kiên định thực hiện kế hoạch hành động vì môi trường.
Trong quá trình giáo dục, cần chú ý rèn luyện kĩ năng sống BVMT thông qua
việc luyện tập, xử lí các tình huống môi trường cụ thể.
2.1.3. Thực trạng việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học bộ
môn vật lí bậc THPT
a. Đối với giáo viên
Về phương pháp dạy học, chủ yếu vẫn là thầy giảng, trò nghe và ghi chép. Trong
mỗi giờ học GV cố gắng truyền đạt hết lượng kiến thức đã được quy định trong
chương trình. Giảng giải cho HS hiểu rõ những kiến thức trọng tâm để họ có thể vận
dụng làm các bài tập trong SGK, sách bài tập. Các phương pháp dạy học hiện đại
cũng được GV áp dụng nhưng chưa nhiều. Chưa chú ý đến việc tích hợp giáo dục
BVMT cho HS, nếu có chỉ là mang tính thông báo nhưng cũng không sâu sắc, không
kết hợp tốt việc tích hợp với các phương pháp dạy học khác để làm tăng hiệu quả của
việc tích hợp, không làm cho HS thật sự hiểu sự cần thiết phải BVMT và có ý thức
vận dụng kiến thức được học vào BVMT.
11
Về phương tiện dạy học, đa số GV cho rằng chưa đáp ứng được yêu cầu của bộ
môn, vì vậy GV cũng không thật sự chú ý khai thác các phương tiện hỗ trợ cho việc
dạy học. Các kiến thức tích hợp giáo dục BVMT nếu có được thực hiện cũng chỉ
thông báo bằng lời, HS nghe, không sử dụng phương tiện dạy học hỗ trợ để bổ trợ
thêm kiến thức cho người học và vì vậy giờ học cũng kém sinh động.
Việc kiểm tra đánh giá các kiến thức đã được tích hợp giáo dục BVMT cũng rất
ít được GV quan tâm. GV thường cho rằng các kiến thức trọng tâm mới là quan
trọng, HS chỉ cần vận dụng được các kiến thức đó để giải các bài tập tương tự các bài
trong SGK, sách bài tập là đủ, kiến thức đã được tích hợp là phụ và không cần phải
kiểm tra đánh giá. Quá trình kiểm tra đánh giá vẫn là đánh giá kết quả cuối cùng kiểm
tra bài cũ hay kiểm tra định kì theo phân phối chương trình đã được soạn sẵn, không
thật sự làm cho HS hứng thú với quá trình kiểm tra đánh giá.
Đa số các GV cho rằng: mục đích của việc dạy học là khắc sâu các kiến thức
trọng tâm trong bài học và rèn luyện các kỹ năng cần thiết. Các câu hỏi và bài tập
trong SGK là những yêu cầu tối thiểu mà học sinh phải thực hiện, không chú trọng tới
việc HS có thể vận dụng được các kiến thức đó vào cuộc sống vì theo họ đó là những
kiến thức hàn lâm, xa vời với thực tế cuộc sống của người học. Vì vậy, nhiều GV cho
rằng việc dạy học chỉ cần là cung cấp đủ kiến thức trong SGK và quan niệm tích hợp
giáo dục BVMT là giới thiệu cho HS biết một số hiện tượng của môi trường liên quan
đến kiến thức của bài học. Ngoài ra một số GV cho rằng các kiến thức của SGK là
các kiến thức hàn lâm, không phù hợp với thực tế cuộc sống, các kiến thức giáo dục
BVMT trong các bài học là rất ít. Do vậy việc tích hợp giáo dục BVMT trong các giờ
dạy là hầu như không được chú trọng.
b. Đối với học sinh
Đa số HS nhận thức rằng mục đích học tập là có kiến thức để thi đỗ đại học tạo
điều kiện để tìm được một việc làm sau này. Do đó, phần lớn thời gian ngoài nhà
trường được HS dành cho việc đi học thêm. Cũng nhiều HS cho rằng các kiến thức
các em được học là rất xa vời với thực tế, các em không biết phải vận dụng các kiến
thức đó vào làm gì ngoài việc để kiểm tra và đi thi. Vì vậy, HS cũng không chú ý tìm
12
hiểu các thông tin về môi trường, không có ý thức vận dụng các kiến thức đã học vào
cuộc sống, vào công cuộc BVMT của toàn nhân loại.
Đối với việc BVMT, cũng nhiều HS cho rằng đó là công việc của công ty môi
trường, của các cấp lãnh đạo, không phải việc mà các em có thể làm được.
Về kiến thức thu được từ việc tích hợp giáo dục BVMT thì các em cho rằng nó
không quan trọng, GV nói thêm cho sinh động bài học chứ không phải nhằm mục đích
để các em phải học và vận dụng, các kiến thức đó không ảnh hưởng tới kết quả học tập
của mình nên không cần thiết phải học và tìm hiểu thêm về các kiến thức đó.
Về cách kiểm tra đánh giá hiện nay, nhiều HS cho rằng chưa khuyến khích thúc
đẩy được nhu cầu tìm hiểu về môi trường và BVMT đối với người học. Do đó, HS
vẫn chỉ tập trung vào các kiến thức trọng tâm và kĩ năng giải các bài tập, không quan
tâm đến các kiến thức về môi trường và BVMT, không có nhu cầu tìm hiểu xem các
kiến thức được học có liên quan đến môi trường hay không, có vận dụng được để
BVMT hay không.
Bên cạnh đó, vẫn có nhiều HS chưa nhận thức đúng vai trò, ý nghĩa quan trọng
của môi trường sống, chưa có quan niệm đúng đắn về trách nhiệm của bản thân mình
với môi trường, chưa có ý thức BVMT và vận động mọi người trong gia đình và xã
hội cùng chung tay BVMT.
2.1.4. Xây dựng một số hoạt động học trong dạy học Vật lí gắn với việc bảo vệ
môi trường
* Các kiểu triển khai dạy học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường
➢ Kiểu 1: Thông qua dạy học bộ môn.
– Dạng 1: Nội dung chủ yếu của bài học, hoặc có nội dung môn học trùng hợp với
nội dung môi trường (hình thức lồng ghép).
– VD: Mục tiêu tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học vật lí 12
1) Kiến thức
– HS nêu được các khái niệm cơ bản về năng lượng: năng lượng sóng cơ, năng
lượng sóng điện từ, điện năng, quang năng, năng lượng hạt nhân…, hiểu được ảnh
hưởng của các loại năng lượng đó đến môi trường, có thể trình bày lại hoặc nhận ra
chúng khi được yêu cầu hoặc vận dụng chúng để sử dụng trong BVMT.
13
– Nêu được các tác động của các đặc tính sinh lí của âm đến sức khỏe, thần
kinh của con người. Nêu được khái niệm ô nhiễm môi trường do tiếng ồn và các tác
hại của sự ô nhiễm tiếng ồn đến sức khỏe con người, cơ thể sống. Nhận biết được các
nguồn gây ô nhiễm tiếng ồn.
– HS hiểu được nguồn gốc sinh ra sóng điện từ và ảnh hưởng của điện từ
trường đối với môi trường, với sự sống trên trái đất.
– HS hiểu được các loại năng lượng để phát điện, ảnh hưởng của những nhà
máy điện đến môi trường. Nêu được những tác động tới môi trường trong quá trình
sản xuất, truyền tải và sử dụng điện năng.
– Mô tả và nêu lại được hiện tượng tán sắc, màu sắc ánh sáng. Hiểu được ảnh
hưởng của ánh sáng và sự nhìn, những tác động của ánh sáng đến con người và sinh
vật. Nêu được các nguồn ô nhiễm ánh sáng.
– Phân biệt được các loại tia: hồng ngoại, tử ngoại, tia X về định nghĩa, tính
chất, tác động sinh lí. Nêu được các tác động của các loại tia đó đến môi trường đến
đời sống sinh vật.
– Mô tả được quang điện trở, pin quang điện và ứng dụng của quang điện trở,
pin quang điện trong việc tiết kiệm năng lượng, tạo nguồn năng lượng sạch, an toàn
cho môi trường.
– HS nêu được định nghĩa, đặc điểm của hiện tượng phóng xạ và nêu được tác
động của phóng xạ đối với sức khỏe, đời sống con người và với môi trường.
– HS phát biểu được hiện tượng ô nhiễm phóng xạ, biết được một số nguồn
phóng xạ trong tự nhiên.

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ

Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

SGK, sách ôn thi, sách tham khảo giá rẻ


Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *