Có nhiều cuốn sách có sẵn mà bạn có thể đọc để học thêm về LaTeX. Là người mới học LaTeX thì việc đọc những hướng dẫn cơ bản sẽ có ích rất nhiều, vì những sách như vậy thường cung cấp nhiều thông tin hơn những gì ta nói tới ở đây.
Guide to LaTeX bởi Helmut Kopka và Patrick Daly: có sẵn dưới dạng sách điện tử
LaTeX for Complete Novices bởi Nicola Talbot: có sẵn dưới dạng sách điện tử miễn phí hoặc sách in có giá thấp
Học sinh lớp 10 học ít môn hơn, được chọn môn theo năng khiếu, sở thích. Năm học 2022-2023, học sinh lớp 10 sẽ học ít môn hơn so với chương trình hiện hành và được lựa chọn môn học theo năng khiếu, sở thích. Năm học 2022-2023 là năm đầu tiên học sinh lớp 10 học theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018.
1. Có nhiều bộ sách giáo khoa
Để thực hiện cũng như cụ thể hóa mục tiêu cốt lõi của chương trình giáo dục phổ thông mới, Bộ GD&ĐT đã đề ra chủ trương “Một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa”. Vì vậy phụ huynh và học sinh cần hiểu đúng về vai trò của SGK trong chương trình mới, cần hiểu rằng SGK chỉ là tài liệu tham khảo trong quá trình dạy và học, trong khi đó chương trình mới là pháp lệnh.
Sách giáo khoa lớp 10 và lớp 7 năm học 2022-2023 sẽ thay đổi so với hiện hành. Các em sẽ sử dụng một trong 3 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, Chân trời sáng tạo và Cánh diều tuỳ thuộc vào lựa chọn của các trường, địa phương.
2. Số môn học ít hơn
Học sinh sẽ học ít môn hơn và được lựa chọn theo năng khiếu, sở thích của mình.
Ở chương trình hiện hành, học sinh phải học 17 môn và hoạt động giáo dục. Với chương trình mới, học sinh sẽ được chọn một số môn, một số nội dung sao cho phù hợp với sở trường và mong muốn. Đồng nghĩa với việc học sinh sẽ học ít môn hơn.
Các em phải học 7 môn và hoạt động giáo dục bắt buộc gồm Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1, Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng an ninh, Hoạt động trải nghiệm – hướng nghiệp, Nội dung giáo dục của địa phương.
Bên cạnh đó, các em chọn năm môn lựa chọn khác từ ba nhóm môn (mỗi nhóm chọn ít nhất một môn):
Nhóm Khoa học xã hội gồm Lịch sử (có thể là môn học bắt buộc), Địa lý, Giáo dục kinh tế và pháp luật.
Nhóm Khoa học tự nhiên gồm Vật lý, Hóa học, Sinh học.
Nhóm Công nghệ và Nghệ thuật gồm: Công nghệ, Tin học, Nghệ thuật – Âm nhạc và Mỹ thuật.
Đây là điểm mới hoàn toàn so với hiện tại, với định hướng nghề nghiệp rất cao.
Có thể nói, gần như học sinh sẽ phải chọn trường đại học (thực ra là khối thi) ngay từ lớp 9 thay vì lớp 12, và cơ hội chỉ có 1 lần duy nhất.
Bên cạnh đó, học sinh phải lựa chọn ba nhóm chuyên đề sao cho phù hợp với nguyện vọng bản thân và khả năng tổ chức dạy học của nhà trường. Đây cũng là điểm khác biệt. Cụ thể, mỗi môn học Ngữ văn, Toán, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục kinh tế và pháp luật, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Công nghệ, Tin học, Nghệ thuật có một số chuyên đề tạo thành cụm chuyên đề của môn học, nhằm thực hiện yêu cầu phân hóa sâu, giúp học sinh tăng kiến thức và kỹ năng thực hành để giải quyết các vấn đề thực tiễn, đáp ứng yêu cầu định hướng nghề nghiệp.
3. Thay đổi về cách dạy, cách học
Chương trình mới yêu cầu giáo viên và học sinh chuyển từ dạy học “nhồi nhét” sang dạy tổ chức các hoạt động cho học sinh tự tìm tòi nghiên cứu. Thay vì cảnh tượng quen thuộc, thầy đọc – trò chép khiến học sinh tiếp thu kiến thức một chiều, thầy cô sẽ thường xuyên tổ chức các hoạt động thực hành trên lớp để học sinh tự tìm hiểu, trao đổi và khám phá kiến thức.
Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực giúp học sinh biết dùng năng lực để giải quyết bài học, tự đánh giá được năng lực bản thân, biết mình trau dồi kiến thức nào. Thậm chí học sinh có thể tự khám phá ra điều mới mẻ vượt ngoài điều thầy cô dạy. Đây là điểm mới được đánh giá cao, tuy nhiên, điều này cũng đặt ra yêu cầu các em cũng cần thay đổi cách học, cần chủ động hơn trong quá trình học và lĩnh hội kiến thức.
4. Thay đổi về cách kiểm tra thi cử
Nếu Chương trình GDPT hiện hành đánh giá kết quả của học sinh ở những thời điểm nhất định trong quá trình dạy học, đặc biệt là trước và sau khi dạy, thì Chương trình GDPT mới 2018 đánh giá trong mọi thời điểm của quá trình dạy học, chú trọng đến đánh giá trong khi học.
Kết quả giáo dục được tính theo các kỳ kiểm tra đánh giá thường xuyên và kiểm tra đánh giá định kỳ.
Việc kiểm tra đánh giá thường xuyên do giáo viên bộ môn lựa chọn thời gian phù hợp, về hình thức được thực hiện thông qua: hỏi – đáp, viết, thuyết trình, thực hành, thí nghiệm, sản phẩm học tập.
Việc kiểm tra đánh giá định kỳ cũng sẽ có thay đổi lớn. Trước đây, ở tất cả các môn học có quy định số tiết học trên mỗi tuần, quy định có tuần kiểm tra định kỳ, có tuần kiểm tra học kỳ, kiểm tra học kỳ I thường vào tuần 18, kiểm tra học kỳ II ở tuần 35 của năm học. Nhưng trong chương trình mới, nhà trường có thể linh động sắp xếp thời khóa biểu, thời điểm kiểm tra giữa kỳ, cuối kỳ, miễn sao đảm bảo số tiết trong năm học.
Đối với chương trình GDPT mới, phương pháp kiểm tra, đánh giá sẽ đi theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh. Theo đó học sinh sẽ được đánh giá phẩm chất, năng lực dựa trên ngữ cảnh học tập, thực tiễn cuộc sống, hoạt động giáo dục, trải nghiệm, sự tiến bộ của bản thân; thông qua công cụ đánh giá về nhiệm vụ, bài tập trong tình huống, bối cảnh thật.
Squat là những bài tập rất tuyệt vời cho cả nam và nữ. Bài tập này đặc biệt rất hữu ích trong việc tập mông và đùi, giúp thân hình trở nên cân đối, săn chắc và gợi cảm. Nếu luyện tập squat đúng tư thế, bạn sẽ nhận được kết quả trên cả tuyệt vời.
SQUAT là gì?
Squat là động tác được biết đến từ lâu đời và là động tác nổi tiếng nhất trong tập thể hình, nó được gọi là vua của các bài tập tạ.
Squat nổi tiếng là vì tác dụng cực tốt mà nó đem lại cho bạn. Bạn cần tăng sức mạnh, sự phối hợp của các bộ phận cơ thể, tăng cơ bắp hay thậm chí là phục hồi chức năng sau chấn thương thì squat đều có thể giúp bạn. Hầu hết các vận động viên nổi tiếng đều phải tập luyện squat mới có được thành công như vậy.
Squat là bài tập đứng lên, ngồi xuống với tạ hoặc tay không. Hơn thế nữa, bạn có thể tập ở bất cứ nơi đâu như ở nhà, phòng tập thể hình hay tại nơi làm việc. Tuy động tác rất đơn giản nhưng hiệu quả mà squat đúng tư thế mang tới rất lớn.
Squat tác động đến nhiều nhóm cơ, đặc biệt là vùng hông, mông, đùi và bổ trợ cho toàn cơ thể. Các bài tập squat hiện nay được ưa chuộng nhờ những tính năng vượt trội trong việc giúp duy trì vóc dáng hoàn hảo, tăng cường sức khỏe, sự dẻo dai, đặc biệt giúp cải thiện vòng 3 thon gọn, săn chắc và gợi cảm hơn.
Lợi ích của bài tập SQUAT
Tăng cường hormon;
Tăng cường cho xương khớp;
Tăng cường và củng cố sức mạnh cho các nhóm cơ chính (core);\Giúp đốt cháy Calo hiệu quả;
Huy động nhiều nhóm cơ lớn để vận động.
Hướng dẫn tập squat đúng cách
Để không phải gặp những rủi ro đáng tiếc trong lúc tập luyện, bạn cần nắm vững các nguyên tắc và phương pháp tập luyện squat đúng tư thế. Đây là bước cực kỳ quan trọng vì nếu làm sai, bạn sẽ khiến công sức bỏ ra trở nên vô ích.
Để tập squat đúng cách thì khi hạ người thấp xuống, bạn hãy lưu ý những vị trí đầu, lưng, bụng dưới đây:
Để mặt thẳng, mắt nhìn về phía trước, đầu ngẩng tự nhiên (không quá thấp cũng không quá cao), hai tay đan lại hoặc song song trước ngực;
Sống lưng thẳng tự nhiên;
Giữ ngực nở, vai mở rộng và bụng hóp lại.
Đầu, lưng và bụng trong tư thế squat đúng
Để tập squat đúng cách thì khi hạ người thấp xuống, bạn hãy lưu ý những vị trí đầu, lưng, bụng dưới đây:
Để mặt thẳng, mắt nhìn về phía trước, đầu ngẩng tự nhiên (không quá thấp cũng không quá cao), hai tay đan lại hoặc song song trước ngực;
Sống lưng thẳng tự nhiên;
Giữ ngực nở, vai mở rộng và bụng hóp lại.
Squat đúng tư thế với chân, đầu gối và mông
Chân và đầu gối: Bạn đứng thẳng, hai chân dang rộng bằng hai vai, đầu gối mở rộng hai bên sao cho thẳng hàng và không nhìn thấy mũi chân (bạn chú ý không nên để đầu gối quá hẹp hay vượt quá so với mũi chân nhé). Trong quá trình chuyển động lên xuống, bạn nhớ hãy giữ chuyển động của khớp gối, để luyện tập sự săn chắc cho vòng 3 của mình;
Mông: Khi hạ người xuống, bạn kết hợp đẩy hông và mông về phía sau, dồn trọng lượng vào gót chân thay vì mũi chân. Trong lúc đẩy người lên, bạn siết cơ mông lại để có tác dụng tối đa nhé.
Hít thở đều để tập squat đúng tư thế
Khi hạ người xuống: bạn hít thở bằng mũi sâu và chậm rãi;
Khi đẩy người lên, bạn thở ra nhanh bằng miệng.
Chú ý: Trong lúc thực hiện bài tập squat, bạn luôn siết chặt cơ bụng, hít thở đều và đúng nhịp sẽ cho hiệu quả tốt hơn. Đây là bài tập giúp hỗ trợ vòng 3 và cải thiện sức khỏe cho toàn cơ thể, vì thế bạn đừng lo lắng việc tập luyện nhiều sẽ làm bắp chân mình to ra và mất thẩm mỹ.
Đứng đặt hai tay lên một chiếc ghế, hơi cúi người và lấy chiếc ghế để giữ thăng bằng.
Chân trái hơi gập và bước và duỗi thẳng chân phải ra sau
Nhấn gót chân trái để cảm nhận sự căng ở bắp chân
Giữ trong khoảng 15-20 giây và lặp lại mỗi bên
2. Nhấc chân sang bên
Đứng thẳng, đặt tay lên lưng ghế giữ thăng bằng
Dồn trọng lượng vào chân phải, nhấc chân trái sang bên, giữ thẳng và cảm nhận sự căng ở bắp chân
Giữ 3-5 giây và trở về vị trí ban đầu
Lặp lại mỗi bên chân 10 lần
3. Ép gối
Nằm ngửa hoặc ngồi trên ghế, gập hai đầu gối
Đặt một chiếc gối giữa hai đầu gối và bắt đầu ép hai đầu gối để nén chiếc gối lại
Giữ nguyên trong 5 giây
Lặp lại 10 lần
Động tác ép gối sẽ giúp tăng cường sức mạnh bên trong của chân, hỗ trợ đầu gối
4. Kiễng gót
Đứng thẳng, hai tay đặt trên ghế đặt trước mặt
Nhón chân, nâng gót, đứng bằng các ngón chân
Giữ trong 3 giây và trở lại vị trí ban đầu
Lặp lại 10 lần
5. Thăng bằng một chân
Đứng thẳng, có thể đặt một chiếc ghế trước mặt nhưng không vịn tay vào ghế
Từ từ nhấc chân trái khỏi sàn về phía sau.
Mục tiêu la giữ thăng bằng trong 20 giây mà không tựa vào ghế
Lặp lại mỗi bên chân 2 lần
6. Bước bậc thang
Đặt một chiếc ghế ở phía trước, đứng cách ghế một khoảng bằng nửa bước chân.
Nhấc một chân đặt lên ghế như leo bậc thang
Thắt chặt cơ đùi, và nhấc chân còn lại lên
Giữ các cơ bắp co chặt và từ từ hạ xuống
Lặp lại mỗi bên chân 10 lần.
7. Căng gân kheo
Nằm ngửa
Vòng một tấm ga hoặc một chiếc khăn tập xung quanh chân và kéo chân thẳng lên
Giữ trong 20 giây và trở lại vị trí ban đầu
Lặp lại mõi chân hai lần
Bài tập này giúp cơ thể trở nên linh hoạt và cải thiện phạm vi chuyển động, hạ thấp tỉ lệ đau và chấn thương chân
8. Nhấc chân thẳng
Nằm thẳng
Nhấc phần cơ thể trên bằng cách tựa các khuỷu tay ra phía sau
Đầu gối phải gập lại, nhấc chân trái lên và giữ thẳng
Các ngón chân hướng lên trên, thắt chặt cơ đùi
Giữ nguyên trong 3 giây và hạ từ từ chân xuống vị trí ban đầu
Lặp mỗi bên chân 10 lần
9. Bó cơ đùi
Nằm trên sàn, để hai chân thẳng và thoải mái
Gồng cơ bắp ở đùi và giữ chân phải căng trong 5 giây
Lặp mỗi bên chân 10 lần
Bài tập có thể thực hiện nếu không thế thực hiện bài nhấc chân thẳng
10. Cử động khớp háng
Ngồi trên ghế
Chân trái hơi co lại phía sau, ngón chân trái chạm sàn
Hơi Nâng chân phải lên phía trước sao cho đầu gối gập cong
Giữ trong 3 giây và trở về vị trí ngồi ban đầu
Chuyển chân và lặp lại mỗi bên 10 lần
11. Tập Squat
Squat là bài tập vận động đứng lên – ngồi xuống đặc biệt rất được dân GYM yêu thích sử dụng. Tuy chỉ là các thao tác giản đơn nhưng squat đúng cách lại giúp cho cơ thể của bạn trở nên khỏe khoắn. Khi tập squat bạn phải sử dụng lực từ cơ mông và cơ đùi giúp cho vòng 3 trở nên săn chắc không bị chảy xệ.
Squat đúng cách sẽ đánh tan được mỡ bụng, mỡ đùi giúp cho người tập nhanh chóng sở hữu được vòng eo săn chắc. Đồng thời thông qua quá trình thoát mồ hôi và đốt cháy năng lượng calo, squat giúp cho bạn thải được các loại độc tố, đem đến làn da mịn màng căng bóng.
Bạn có thể thử một số bài tập đơn giản giúp dễ chịu đầu gối như bơi lội, thể dục nhịp điệu dưới nước, đạp xe.. Những bài tập này giúp giảm cân và giảm áp lực lên xương.
Lưu ý:
Hãy đặt mục tiêu tập luyện 30 phút một ngày
Có thể bắt đầu nhẹ bằng cách thực hiện 10 phút mỗi ngày để tránh bị đau và từ từ đạt được mục tiêu
Cơ bắp nhức mỏi khi mới tập luyện là điều rất bình thường nên hãy cứ tiếp tục tập luyện để đạt được mục tiêu. Có thể dùng đá lạnh hoặc thuốc giảm đau theo chỉ định của bác sĩ để giảm bớt sự đau mỏi
Chúng tôi xin giới thiệu phần tiếp theo của Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ (APA) trong Sổ tay hướng dẫn cho Giáo viên và Cha mẹ những kiến thức về các đặc điểm phát triển của trẻ em.
Có thể hiểu được quan điểm của người khác: nhận thức được rằng người khác có thể có những suy nghĩ khác với bản thân.
Có thể tập trung vào một số khía cạnh của một vấn đề tại một thời điểm.
Có thể tập trung vào những gì trẻ làm trong khoảng thời gian dài hơn trước.
Tăng khả năng giải quyết vấn đề, nhưng chưa được như người lớn.
Có thể nghĩ ra những kế hoạch đơn giản trước khi hành động. Ví dụ, khi mời bạn bè đến chơi, trẻ có thể lên kế hoạch trước về trò chơi mà trẻ sẽ chơi.
Có thể bắt đầu hiểu thời gian và các ngày trong tuần; đến 10 tuổi, trẻ có thể sắp xếp các sự kiện theo trình tự thời gian.
Cải thiện trí nhớ ngắn hạn và dài hạn.
Có thể nói và cũng có thể viết; đến 10 tuổi, trẻ có vốn từ vựng 20.000 từ (cha mẹ lưu ý đây là đối với trẻ em Mỹ và sử dụng tiếng Anh) và học trung bình 20 từ mới mỗi ngày; cũng có thể hiểu rằng một từ có thể có các nghĩa khác nhau.
Có thể giao tiếp tốt hơn và lâu hơn với người khác, thể hiện bản thân và hiểu mọi thứ.Có thể hiểu rõ hơn và nội bộ hóa các quy tắc đạo đức về hành vi (đúng/sai; tốt/xấu; tuyệt vời/khủng khiếp).
Bắt đầu hiểu rằng công bằng liên quan đến thành tích: ai làm việc chăm chỉ hơn xứng đáng được đối xử tốt hơn.
Có khả năng đồng cảm với người khác tốt hơn và chấp nhận ý tưởng dành sự quan tâm đặc biệt cho những người có nhu cầu cao hơn.
2. Kỹ năng xã hội
Có thể tự đánh giá bản thân dựa trên: cách họ thể hiện ở trường; năng lực kết bạn; và ngoại hình của họ.
Hiểu rằng họ có thể cảm nhận được hai cảm xúc cùng một lúc (Tôi thích Jenny nhưng tôi ghét cách cô ấy nói chuyện với tôi).
Có hứng thú mãnh liệt với bạn bè đồng giới, thích bạn bè đồng giới hơn; phát triển tình bạn được đánh dấu bằng cách cho và nhận, sự tin tưởng lẫn nhau và chia sẻ kinh nghiệm.
Cảm thấy rằng sự thuộc về và chấp nhận của bạn bè là rất quan trọng. (Trẻ em có thể tìm kiếm bạn bè đồng trang lứa nhiều hơn là tìm kiếm sự hài lòng của người lớn).
Chơi không còn chỉ là trò chơi tưởng tượng mà trí tưởng tượng là yếu tố then chốt; trẻ em thường chọn các trò chơi dựa trên quy tắc trong đó các quy tắc là yếu tố chính và chiến thắng trong trò chơi thường là mục tiêu.
Có mối quan tâm lớn đến công lý và công bằng; công bằng hay bình đẳng là quan trọng và một số trẻ có thể cố gắng đạt được sự đồng đều và trở nên hung hăng bằng lời nói hoặc thể chất.
Tiếp tục phát triển các kỹ năng xã hội như sự đồng cảm và lòng trắc ẩn.Có thể tự làm nhiều việc hơn và kết quả là mối quan hệ của chúng với cha mẹ cũng thay đổi.
3. Lời khuyên cho ba mẹ
Giúp trẻ phát triển năng lực: cho trẻ cơ hội thành thạo một số kỹ năng như nấu ăn, xây dựng mô hình, làm đồ thủ công, chơi nhạc cụ.
Học cách dần dần chia sẻ quyền kiểm soát cuộc sống của con bạn với con gái hoặc con trai của bạn.
Củng cố sự hiểu biết về đúng sai và hậu quả.
Dạy cách giải quyết vấn đề cho con bạn. Sử dụng mô hình IDEAL (Identify – Determine – Evaluate – Act – Learn) để:
Xác định vấn đề và cảm xúc liên quan (Con bạn đang bị bắt nạt và sợ đi học).
Cùng trẻ xác định các giải pháp khả thi mà không sử dụng bạo lực.
Đánh giá với trẻ về giá trị của từng giải pháp khả thi.
Hành động, lựa chọn giải pháp tốt nhất.
Học hỏi từ những gì bạn và con bạn đã làm để giải quyết vấn đề.
Sử dụng các tình huống thực tế (trong gia đình bạn hoặc một tình huống giả định) và khi bạn đang ở trên xe buýt, trong xe hơi hoặc trong nhà bếp, hãy chơi trò chơi IDEAL (LÝ TƯỞNG) với con bạn. Một kịch bản giả có thể là: Một đứa trẻ không thể xem TV vì nó chưa làm bài tập về nhà và nó nổi điên và làm hỏng điều khiển từ xa.
Củng cố các kỹ năng xã hội như chia sẻ, cảm thông, hợp tác bằng cách yêu cầu trẻ làm những việc như giúp chăm sóc em bé, thu thập thức ăn cho nơi trú ẩn.
Tạo cơ hội cho con bạn phát triển sự hiểu biết về các quy tắc bằng cách chơi các trò chơi trên bàn đơn giản dựa trên cơ hội thay vì dựa vào các kỹ năng như thẻ bài, domino, tic-tac-toe.
Dạy bằng cách nói to với chính mình (để con bạn nghe thấy) về một vấn đề và cách giải quyết vấn đề đó. Một ví dụ: Chúng tôi hết sữa, bánh mì và trái cây. Tôi không được khỏe. Tôi sẽ gọi cho bố và yêu cầu ông ấy ghé qua cửa hàng tạp hóa trên đường về nhà để lấy chúng.
Chứng minh rằng các hành vi và hành động có hậu quả đối với tất cả mọi người liên quan đến một tình huống: Nếu bạn làm điều đó, điều này sẽ xảy ra hoặc khi bạn làm điều này, thì bạn sẽ nhận được điều này.
Có thể nghĩ về đồ vật, con người và sự kiện mà không cần nhìn thấy chúng.
Mặc dù ít hơn trước, vẫn nghĩ rằng chúng là trung tâm của thế giới và gặp khó khăn khi nhìn mọi thứ từ góc độ của người khác.
Có khả năng sử dụng các từ để bày tỏ suy nghĩ và cảm xúc và chia sẻ kinh nghiệm nhiều hơn.
Nói to với bản thân như một cách để kiểm soát hành vi của trẻ.
Có thể nghĩ về những sự kiện trong quá khứ hoặc những sự kiện chưa xảy ra.
Bắt đầu suy nghĩ trước và lập kế hoạch hành động của chúng; thường có thể lường trước những hậu quả vật chất của những hành động không quá phức tạp.
Bắt đầu thấy sự khác biệt giữa những thứ trẻ nhìn thấy và những thứ thực sự là (một con chó nhồi bông không phải là một con chó).
Bắt đầu thấy mối quan hệ của nhân quả (Nếu tôi làm điều này, thì điều đó sẽ xảy ra).
Hỏi nhiều câu hỏi tại sao, như thế nào, khi nào.
Học bằng cách bắt chước, quan sát và bằng cách khám phá, sáng tạo và làm mọi thứ.
Hiểu rằng bữa sáng là trước bữa trưa; bữa trưa là trước bữa tối, v.v.
Bắt đầu hiểu trước/sau; lên/xuống; trên/dưới; hôm nay/hôm qua/ngày mai.
Không thể chơi hoặc làm điều gì đó quá lâu hoặc trở nên buồn chán và mệt mỏi trừ khi có sự hướng dẫn của người lớn.
2. Kỹ năng Xã hội
Có thể đọc và giải thích cảm xúc của người khác; có thể biết khi ai đó tức giận hoặc khó chịu.
Không thể hiểu những cảm xúc trừu tượng như thương hại, tham lam, biết ơn.
Sử dụng nhiều cách khác nhau để kiểm soát cảm xúc của chính mình: nhắm mắt bịt tai; loại bỏ bản thân khỏi hoàn cảnh; đôi khi có thể chống lại sự cám dỗ để đáp lại bất cứ điều gì đang làm phiền chúng.
Có thể phát triển mối quan hệ bạn bè thực sự đầu tiên vì bạn bè trở nên rất quan trọng.
Cách trẻ em giai đoạn này chơi: Khi 3 tuổi, chúng thường chơi gần một người bạn, cảm thấy khó khăn khi thay phiên nhau và chia sẻ mọi thứ; 4 tuổi, các em có thể bắt đầu chơi hợp tác, vẫn còn khó khăn khi chia sẻ nhưng bắt đầu hiểu việc đi theo lượt, bắt đầu đưa đồ cho người khác; 5 tuổi, thích chơi với các trẻ khác, thường hợp tác tốt, có những người bạn đặc biệt.
Ít gây hấn về thể chất hơn so với trước.
Sử dụng lời nói gây hấn thường xuyên hơn như lăng mạ, đe dọa, trêu chọc để làm tổn thương trẻ khác; sự bắt nạt xuất hiện: chúng hiểu được sức mạnh của sự từ chối.
Hiểu các quy tắc xã hội và có thể hành động phù hợp với các quy tắc đó.
Có mong muốn thực hiện một số trách nhiệm; đề nghị giúp đỡ.
Hiểu rằng việc khen ngợi hoặc đổ lỗi xảy ra do những gì họ làm.
Bắt đầu hiểu sự khác biệt của việc làm những việc “có chủ đích” và “tình cờ”; tập trung nhiều hơn vào thiệt hại hơn là ý định của thủ phạm.
Đến 4 tuổi, bắt đầu có ý thức về bản sắc dân tộc của họ và về cách nhóm xã hội của họ được nhìn nhận trong xã hội.
Tăng khả năng sử dụng trí tưởng tượng; có thể tưởng tượng những điều khủng khiếp có thể xảy ra với họ và có thể dẫn đến sợ hãi; ác mộng có thể xảy ra.
3. Lời khuyên cho cha mẹ
Dạy con sử dụng lời nói khi tức giận, buồn bã. (“Bạn đang buồn vì ông nội đã mất.”)
Yêu cầu con bạn thể hiện cảm xúc tức giận, điên cuồng, buồn, vui và ngạc nhiên bằng khuôn mặt của chúng và cho bạn biết điều gì khiến mọi người cảm thấy như vậy.
Yêu cầu con bạn vẽ một bức tranh về cảm xúc điên cuồng của chúng và nói về chúng.
Cho con bạn cơ hội để hoàn thành một việc gì đó như sắp xếp đồ chơi và sách, giúp lập danh sách hàng tạp hóa; truyền tải thông điệp ngắn cho người khác, đưa ra kết thúc của chính chúng cho một câu chuyện trong sách.
Giúp con bạn đối phó với nỗi sợ hãi tưởng tượng bằng cách chỉ ra sự khác biệt giữa thực tế và tưởng tượng.
Giữ con bạn tránh xa các tình huống gây ra nỗi sợ hãi thực sự như nhìn thấy bạo lực trong nhà hoặc hàng xóm, xem bạo lực trên TV và bị trừng phạt thể xác.
Khi có một cuộc chiến:
(a) Dừng đánh nhau, trước tiên hãy đến chỗ đứa trẻ bị thương để làm nó bình tĩnh.
(b) Dành thời gian để xoa dịu đứa trẻ là kẻ gây hấn (Không quá một phút cho mỗi năm tuổi của đứa trẻ).
(c) Khi cả hai đứa trẻ đều bình tĩnh, hãy nói chuyện với chúng và hỏi: Chuyện gì đã xảy ra? Mỗi đứa cảm thấy như thế nào? Yêu cầu chúng nghĩ ra giải pháp; nói rằng bạn có thể tức giận hoặc nổi điên nhưng không được làm tổn thương.
(d) Khen ngợi cả hai trẻ vì đã nghĩ ra cách giải quyết. Hãy nhớ thể hiện tình yêu và sự quan tâm của bạn ngay cả khi bạn không đồng ý với cách cư xử của chúng.
Chúng tôi xin giới thiệu phần tiếp theo của Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ (APA) trong Sổ tay hướng dẫn cho Giáo viên và Cha mẹ những kiến thức về các đặc điểm phát triển của trẻ em.
Nhớ (hình dung) được hình ảnh của người và đồ vật không ở trước mặt.
Có thể sử dụng trí tưởng tượng và bắt đầu chơi trò chơi giả vờ (pretend games).
Sử dụng một đồ vật để đại diện cho một người, như một con búp bê để đại diện cho một người mẹ hoặc một đứa trẻ.
Kể lại các sự kiện trong ngày và bắt chước các hành động và sự kiện đã xảy ra trong quá khứ.
Có vốn từ vựng vài trăm từ; có thể sử dụng câu từ hai đến ba từ; nhắc lại được các từ.
Nghe những câu chuyện trong một khoảng thời gian ngắn.
Hiểu được hình ảnh và tranh ảnh đại diện cho vật thể/con người thực.
Có một khái niệm mơ hồ về thời gian; vẫn nhầm lẫn ý nghĩa của ngày hôm nay, ngày mai và ngày hôm qua.
Nói chung trẻ có khoảng thời gian chú ý ngắn và có thể dễ bị phân tâm.
Mới bắt đầu ghi nhớ các quy tắc và không thực sự hiểu đúng sai.
2. Kỹ năng Xã hội (Social Skills)
Đang phát triển một cảm giác mạnh mẽ về bản thân như những cá nhân riêng biệt.
Nghĩ rằng chúng là trung tâm của thế giới.
Bắt đầu có dấu hiệu tự lập; có thể bướng bỉnh và ngang ngược: nói Không với người lớn.
Có tính sở hữu, với quan niệm mạnh mẽ về lãnh thổ: Đây là của tôi! Gặp khó khăn trong việc chia sẻ mọi thứ với người khác.
Có thể gặp khó khăn khi phải chờ đợi và luôn muốn mọi thứ ngay lập tức.
Gặp khó khăn khi thể hiện cảm xúc bằng lời nói; khi thất vọng hoặc tức giận có thể nổi cơn thịnh nộ hoặc đánh và đá để đạt được điều chúng muốn.
Chơi một mình bên cạnh những đứa trẻ khác nhiều hơn là chơi cùng với chúng.
Bắt đầu hiểu rằng người khác có kỳ vọng ở họ.
Nhận thức rõ hơn về cảm xúc của người khác; thích sự chú ý của người lớn.
Thể hiện cảm xúc của chúng thông qua trò chơi giả vờ, trò chơi làm cho tin tưởng.
3. Lời khuyên cho cha mẹ
Thật khó cho những đứa trẻ ở độ tuổi này để chia sẻ mọi thứ và thay phiên nhau.
Cách tốt nhất để giải quyết tranh chấp về đồ chơi là có nhiều hơn một món đồ chơi cho chúng.
Trẻ em ở độ tuổi này luôn bận rộn và thường không thể làm cùng một việc trong thời gian dài. Đừng mong đợi chúng hạnh phúc ở một nơi hoặc cùng một hoàn cảnh (bữa tối gia đình chẳng hạn) hoặc chơi với cùng một món đồ chơi hoặc cùng một đứa trẻ trong hơn nửa giờ hoặc lâu hơn mà không có sự hỗ trợ và chú ý của bạn.
Khi trẻ em tranh giành đồ chơi giống nhau, hãy dạy các giải pháp tích cực và bất bạo động: (1) cung cấp đồ chơi khác hoặc loại bỏ đồ chơi đó; (2) nếu điều đó không hiệu quả, hãy chuyển hướng sự chú ý của trẻ em sang một thứ khác hoặc đưa chúng đến một nơi khác. Luôn nói rõ rằng việc làm tổn thương đứa trẻ khác là không thể chấp nhận được.
Luôn giúp con bạn giải quyết xung đột bằng cách sử dụng lời nói để diễn đạt những gì đang xảy ra (Chẳng hạn nếu con bạn muốn chơi với ô tô và Joanna đang chơi với ô tô? Hãy bảo con nói Joanna với rằng: “Tớ muốn chơi với ô tô”).
Cơn thịnh nộ là điển hình của thời đại này, nhưng khi chúng xảy ra:
(a) Giữ bình tĩnh; sử dụng một vài lời nói nhẹ nhàng để xoa dịu hoặc làm con bạn mất tập trung.
(b) Đừng la hét hoặc đánh con của bạn.
(c) Đừng cố gắng nói chuyện hoặc dạy dỗ con khi trẻ đang nổi cơn thịnh nộ.
(d) Ít chú ý hoặc phớt lờ.
(e) Chuyển sự chú ý của con bạn sang thứ khác.
(f) Giữ vững lập trường, không nhượng bộ trước những cơn giận dữ; cố gắng không bao giờ thưởng cho một cơn giận dữ.
(g) Cố gắng tìm hiểu nguyên nhân.
Người lớn nên cố gắng tiết chế việc nói “Không” với các tình huống liên quan đến an toàn và tình cảm. Trong các tình huống khác, hãy đưa ra sự lựa chọn.
O2 Education xin Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ (APA) trong Sổ tay hướng dẫn cho Giáo viên và Cha mẹ những kiến thức về các đặc điểm phát triển của trẻ em.
Nhớ người và đồ vật dù họ/chúng không ở trước mặt trẻ.
Bắt chước nét mặt, âm thanh và hành động của người khác.
Bắt chước những gì trẻ nhìn thấy trên TV, ngay cả khi chúng không hiểu mình đang làm gì.
Hiểu những gì trẻ nghe thấy trước khi chúng có thể nói.
Gây ồn ào để giao tiếp với người khác và thể hiện sự hài lòng hoặc không hài lòng.
Nhận ra tên riêng của mình.
Bắt đầu khám phá môi trường, chạm và thao tác các đồ vật.
Học bằng cách bắt chước và quan sát người khác.
Thể hiện sự hiểu biết về từ ngữ đối với những đồ vật rất quen thuộc.
Hiểu về khoảng 12 cụm từ thông dụng.
Bắt đầu sử dụng đại từ tôi, bạn.
Hiểu và có thể làm theo những hướng dẫn rất đơn giản.
Có khoảng thời gian chú ý rất ngắn.
2. Kỹ năng Xã hội
Khóc, khua chân múa tay khi đau, mệt, đói, lạnh, khát, ướt, cô đơn hoặc trong hoàn cảnh lạ hoặc với người lạ.
Mỉm cười, nói bi bô và thủ thỉ để thể hiện sự thích thú, vui vẻ và hào hứng.
Nhận ra sự khác biệt giữa người quen và người lạ.
Phát triển mối quan hệ mạnh mẽ với những người thường xuyên chăm sóc trẻ, cha mẹ hoặc người lớn khác và tỏ ra lo lắng khi bị chia cách.
Thân thiện với những người quen thuộc và sợ người lạ.
Nhận ra sự đau khổ của người khác bằng cách tỏ ra đau khổ và khóc.
Bắt đầu biết làm khán giả và vỗ tay.
Có thể chơi một mình trong khoảng thời gian ngắn.
Trở nên tức giận khi thất vọng.
Sợ người lạ và đề phòng những tình huống bất ngờ.
3. Lời khuyên cho Cha mẹ
Nếu trẻ đau khổ và khóc, hãy an ủi trẻ. Điều này sẽ không làm hư con bạn. Khi trẻ khóc, chúng cần những phản ứng nhẹ nhàng và ấm áp để cảm thấy yên tâm và an toàn. Sự tin tưởng này tạo nền tảng cho mối quan hệ sau này của bạn với con bạn.
Đừng trừng phạt một đứa trẻ đang khóc. Hãy kiên nhẫn, bé chỉ đang cố nói với bạn rằng có điều gì đó không ổn. Những phản ứng gay gắt sẽ khiến trẻ sợ hãi và khiến mọi thứ trở nên tồi tệ hơn.
Chơi với con bạn mỗi ngày. Hãy biến thời gian vui chơi với trẻ trở thành một phần thời gian của bạn với trẻ.
Cung cấp đồ chơi được thiết kế phù hợp với lứa tuổi của con bạn và an toàn.
Thường xuyên nói chuyện với con bạn, sử dụng những từ ngữ trực tiếp đơn giản và đưa ra những hướng dẫn tích cực. (Nói “Hãy chơi với cái lục lạc”, thay vì “Đừng chơi với cái nĩa!”)
Đọc những cuốn sách đơn giản cho con của bạn mỗi ngày; những đồ vật quen thuộc để kích thích ngôn ngữ và giao tiếp.
Nếu có thể, hãy giảm bớt sự xa cách của trẻ với bạn hoặc luôn có một người thân quen chăm sóc con bạn.
Tạo và duy trì các thói quen hàng ngày để giúp bé yên tâm và xây dựng lòng tin.