• SKKN Các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa chuyển  mạnh sang hướng hoạt động trải nghiệm sáng tạo

    SKKN Các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa chuyển  mạnh sang hướng hoạt động trải nghiệm sáng tạo tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông mới tại trường THPT

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Điều kiện, hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
    1. “Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có
    đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập
    dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất năng lực
    của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Luật Giáo
    dục – 2005). Việc tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại
    khóa (HĐ GDNGLL, HĐNK) chuyển mạnh sang hướng hoạt động trải nghiệm sáng
    tạo (HĐ TNST) tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông (CT GDPT) mới là rất cần
    thiết phù hợp với mục tiêu giáo dục, nhằm góp phần đào tạo con người mới với đầy đủ
    các mặt đức, trí, thể, mĩ để học sinh (HS) được phát triển toàn diện đáp ứng những yêu
    cầu mới của xã hội.
    2. Việc tổ chức các HĐ GDNGLL – HĐNK chuyển mạnh sáng hướng HĐ TNST
    tiếp cận CT GDPT mới còn xuất phát từ yêu cầu của Bộ GD&ĐT, của Sở GD&ĐT
    Nam Định, của trường THPT Ngô Quyền
    Công văn số 3892/BGDĐT-GDTrH ngày 28/8/2019 Về việc hướng dẫn thực hiện
    nhiệm vụ giáo dục trong năm học 2019-2020 nêu rõ: “Việc tổ chức các hoạt động tập
    thể, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa chuyển mạnh sang
    hướng hoạt động trải nghiệm; tăng cường tổ chức và quản lí các hoạt động giáo dục
    kỹ năng sống; kỹ năng khởi nghiệp, tư duy thiết kế, tư duy quản lý tài chính cho học
    sinh; khuyến khích học sinh tham gia các câu lạc bộ sở thích. Chỉ đạo việc tăng cường
    công tác giáo dục kỹ năng sống, xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn
    2018-2025 theo Quyết định số 1299/QĐ-TTg ngày 03/10/2018 của Thủ tướng Chính
    phủ. Khuyến khích tổ chức, thu hút học sinh tham gia các hoạt động góp phần phát
    triển năng lực học sinh như: Văn hóa – văn nghệ, thể dục – thể thao;… trên cơ sở tự
    nguyện của nhà trường, cha mẹ học sinh và học sinh, phù hợp với đặc điểm tâm sinh
    lý và nội dung học tập của học sinh trung học, phát huy sự chủ động và sáng tạo của
    các địa phương, đơn vị; tăng cường tính giao lưu, hợp tác nhằm thúc đẩy học sinh
    hứng thú học tập, rèn luyện kĩ năng sống, bổ sung hiểu biết về các giá trị văn hóa
    truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa thế giới. Không giao chỉ tiêu, không lấy
    thành tích của các hoạt động giao lưu nói trên làm tiêu chí để xét thi đua đối với các
    đơn vị có học sinh tham gia”.
    Nội dung này này tiếp tục được Sở giáo dục và đào tạo Nam Định chỉ đạo thực
    hiện trong Hướng dẫn tổ chức Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp – Trải nghiệm
    sáng tạo (Kèm theo công văn số 1106/SGDĐT – GDTrH ngày 06/9/2019 của Sở
    2
    GDĐT về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trong năm học 2019-2020): “Việc tổ
    chức các hoạt động tập thể, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại
    khóa chuyển mạnh sang hướng hoạt động trải nghiệm sáng tạo; tăng cường tổ chức và
    quản lý các hoạt động giáo dục kỹ năng sống theo Thông tư số 04/2014/TT-BDĐT
    ngày 28/02/2014 của Bộ GDĐT. Căn cứ vào khung phân phối chương trình, tùy điều
    kiện cụ thể của địa phương và nhà trường, các đơn vị lựa chọn mỗi tháng thực hiện từ
    1 đến 2 hoạt động, miễn là đảm bảo các chủ đề hoạt động. Thời lượng trong năm học:
    18 tiết, trong hè: 6 tiết”. “Chương trình hoạt động trải nghiệm tập trung cao hơn vào
    nội dung hoạt động giáo dục hướng nghiệp. Thông qua các chủ đề sinh hoạt tập thể,
    hoạt động lao động sản xuất, câu lạc bộ hướng nghiệp và các hoạt động định hướng
    nghề nghiệp khác, các học sinh được đánh giá và tự đánh giá về năng, sở, hứng thú
    liên quan đến nghề nghiệp; có thể tự chọn cho mình ngành nghề phù hợp; được rèn
    luyện phẩm chất và năng lực để thích ứng với nghề nghiệp tương lai”; “Các đơn vị có
    thể tham khảo và lồng ghép một số nội dung trong chương trình GDPT mới dưới đây
    vào kế hoạch TNST của nhà trường, đảm bảo phù hợp với chủ đề hoạt động”, cụ thể:
    + Hoạt động hướng vào bản thân: Hoạt động khám phá bản thân (tìm hiểu hình ảnh
    về tính cách bản thân, tìm hiểu khả năng của bản thân); Hoạt động rèn luyện bản thân
    (rèn luyện nề nếp, thói quen tự phục vụ và ý thức trách nhiệm trong cuộc sống, rèn
    luyện các kỹ năng thích ứng với cuộc sống).
    + Hoạt động hướng đến xã hội: Hoạt động chăm sóc gia đình (Quan tâm, chăm sóc
    người thân và các quan hệ trong gia đình, tham gia các công việc của gia đình); hoạt
    động xây dựng nhà trường (xây dựng và phát triển quan hệ với bạn bè và thầy cô, cô
    tham gia xây dựng và phát huy truyền thống của nhà trường và của tổ chức Đoàn,
    đội); Hoạt động xây dựng cộng đồng (xây dựng và phát triển quan hệ với mọi người,
    tham gia các hoạt động xã hội, hoạt động giáo dục truyền thống, giáo dục chính trị,
    đạo đức, pháp luật).
    + Hoạt động hướng đến tự nhiên: Hoạt động tìm hiểu về bảo tồn cảnh quan thiên
    nhiên (Khám phá vẻ đẹp, ý nghĩa của cảnh quan thiên nhiên, tham gia bảo tồn cảnh
    quan thiên nhiên); hoạt động tìm hiểu và bảo vệ môi trường (tham gia bảo vệ môi
    trường).
    + Hoạt động hướng nghiệp: Hoạt động tìm hiểu nghề nghiệp (tìm hiểu ý nghĩa, ba
    đặc điểm và yêu cầu của nghề nghiệp, tìm hiểu yêu cầu về an toàn và sức khỏe nghề
    nghiệp, tìm hiểu thị trường lao động); Hoạt động rèn luyện phẩm chất, năng lực phù
    hợp với định hướng nghề nghiệp (tự đánh giá sự phù hợp của bản thân với định hướng
    nghề nghiệp, rèn luyện phẩm chất và năng lực phù hợp với định hướng nghề nghiệp);
    Hoạt động lựa chọn hướng nghề nghiệp và lập kế hoạch học tập theo định hướng nghề
    3
    nghiệp (tìm hiểu hệ thống trường trung cấp, cao đẳng, đại học và các cơ sở Giáo dục
    nghề nghiệp khác của địa phương, trung ương; tham vấn ý kiến của thầy cô, người
    thân và chuyên gia về định hướng nghề nghiệp; Lựa chọn cơ sở đào tạo trong tương
    lai và lập kế hoạch học tập phù hợp với định hướng nghề nghiệp)
    3. Việc tổ chức các HĐ GDNGLL – HĐNK chuyển mạnh sáng hướng HĐTNST
    tiếp cận CT GDPT mới còn xuất phát từ chính người học và vì người học
    Thông qua HĐ TNST, HS huy động tổng hợp kiến thức kỹ năng của các môn học
    và lĩnh vực giáo dục khác nhau để trải nghiệm thực tiễn gia đình, nhà trường, xã hội;
    tham gia các hoạt động phục vụ cộng đồng và hoạt động hướng nghiệp, dưới sự hướng
    dẫn, tổ chức của giáo viên (GV), từ đó hình thành những phẩm chất chủ yếu (yêu
    nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm) và năng lực chung (năng lực tự chủ
    và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo)
    Tổ chức các HĐ TNST cho HS giúp giáo dục kĩ năng sống (KNS), trang bị cho HS
    những hiểu biết và kinh nghiệm thực tế để trải nghiệm trong đời sống; giáo dục cho
    HS cách ứng phó với những thử thách như: tai nạn, điện giật, bị ngộ độc, động vật cắn,
    bị xâm hại tình dục, phòng, chống các tệ nạn xã hội… và mục đích quan trọng nhất,
    lâu dài đó là hình thành nhân cách cho học sinh, trong đó quan trọng nhất là giáo dục
    tình thân ái và các ứng xử văn hóa.
    4. Báo cáo sáng kiến “Đổi mới hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài
    giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa chuyển mạnh sang hướng hoạt động trải
    nghiệm sáng tạo tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông mới tại trường THPT
    Ngô Quyền, TP Nam Định” còn được chúng tôi lựa chọn còn xuất phát từ chính lòng
    yêu nghề và sự say mê với hoạt động trải nghiệm. Thực hiện đề tài này chúng tôi thực
    sự mong muốn được trao đổi với đồng nghiệp để được học hỏi và trau dồi về chuyên
    môn, về công tác tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa, hoạt
    động trải nghiệm sáng tạo, hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp.
    II. Mô tả giải pháp:
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    1.1.Thực trạng nhận thức của giáo viên và học sinh về hoạt động trải nghiệm sáng
    tạo (Xem Phiếu phỏng vấn số 01 – Phụ lục)
    Qua kết quả khảo sát chúng tôi nhận thấy:
    100% CBQL, GV và HS đánh giá đúng các hoạt động được coi là hoạt động
    trải nghiệm trong chương trình hiện hành; nhận thức đúng về mục tiêu, vai trò của
    HĐTNST; nhận thức được 3 yếu tố cơ bản cấu thành nên người thầy sáng tạo. Điều
    này chứng tỏ 100% CBQL, GV và HS cho rằng HĐTNST là hoạt động không thể
    thiếu được trong nhà trường THPT; CBQL triển khai và thực hiện khá đầy đủ tinh thần
    4
    chỉ đạo của Sở GD&ĐT về tổ chức các HĐTNST trong trường học; công tác kiểm tra
    đánh giá có sự chỉ đạo thống nhất từ Ban giám hiệu tới các tổ nhóm chuyên môn và
    toàn thể giáo viên trong nhà trường.
    Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận GV, HS nhận thức chưa đầy đủ về 4 nhóm nội
    dung HĐTNST cùng sự tập trung vào nhóm nội dung nào nhiều hơn theo từng cấp
    học. Một bộ phận GV, HS nhận thức chưa đầy đủ về những lực lượng tham gia tổ chức
    HĐTNST, những thiết bị cơ bản để thực hiện chương trình HĐTNST. Vẫn còn một số
    GV chưa nhận thức đúng đắn về mức độ ảnh hưởng của HĐTNST đối với sự hình
    thành, phát triển các phẩm chất và năng lực của HS. Một số GV chỉ chú tâm vào việc
    truyền thụ các tri thức khoa học và bỏ qua hoàn toàn việc tổ chức HĐTNST. Một số
    khác ngại khó nên không đầu tư tổ chức HĐTNST theo đúng kế hoạch mà chỉ thực
    hiện đối phó khi BGH kiểm tra.
    1.2 Thực trạng những hình thức tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động
    ngoại khóa tại trường THPT Ngô Quyền, TP Nam Định
    Để tìm hiểu thực trạng những hình thức tổ chức các HĐGDNGLL, HĐNK được tổ
    chức trong trường THPT Ngô Quyền, TP Nam Định, tỉnh Nam Định; chúng tôi đã đặt
    câu hỏi yêu cầu đối tượng được khảo sát đánh dấu vào phương án lựa chọn (Xem
    Phiếu phỏng vấn số 02 – Phụ lục)
    Qua kết quả khảo sát chúng tôi nhận thấy: Những hoạt động có tính khám phá
    như những chuyến đi thực địa, tham quan, dã ngoại,… được tổ chức rất thường xuyên;
    Những hình thức nhóm mang tính cống hiến (gồm các hoạt động tình nguyện, nhân
    đạo, vì cộng đồng,…) được tổ chức thường xuyên; nhưng thỉnh thoảng mới tổ chức
    những hoạt động mang tính thể nghiệm, giúp học sinh được trải nghiệm và thể nghiệm
    mình qua các hoạt động giao lưu, đóng kịch, sân khấu hóa,… và rất ít ỏi tổ chức những
    hoạt động có tính nghiên cứu và phân hóa, như những dự án, hoạt động nghiên cứu
    khoa học; chưa bao giờ tổ chức các hoạt động câu lạc bộ có tính định hướng có tính
    phân hóa. Điều đó cũng có nghĩa là hình thức và nội dung hoạt động chưa phong phú,
    hấp dẫn nên hiệu quả chưa cao và chưa thu hút được sự tham gia của HS.
    1.3. Thực trạng của việc tổ chức những loại hình hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại
    trường THPT Ngô Quyền, TP Nam Định
    Để tìm hiểu thực trạng của việc tổ chức những loại hình HĐTNST trong nhà
    trường chúng tôi đã đặt câu hỏi yêu cầu đối tượng được khảo sát trình bày ý kiến nhận
    xét đánh giá của cá nhân (Xem Phiếu phỏng vấn số 03 – Phụ lục)
    Kết quả thu được như sau:
    Những loại hình HĐTN rất thường xuyên và thường xuyên tiến hành đó là sinh
    hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp, hoạt động giáo dục theo chủ đề. Loại hình HĐTN chưa sử
    5
    dụng đó là Hoạt động những câu lạc bộ.
    Các hoạt động lớn như tổ chức văn nghệ, thể thao, đi tham quan, dã ngoại thì đều
    có tổ chức nhưng chưa thực sự hoành tráng vì nó liên quan đến kinh phí và quản lý
    HS. Việc sử dụng kinh phí, CSVC và phương tiện giảng dạy còn nhiều thiếu thốn;
    kinh phí dành cho HĐ TNST rất ít ỏi.
    Các phương pháp tổ chức HĐ TNST còn rất đơn điệu, nghèo nàn, mới chỉ tập
    trung vào một số phương pháp: thảo luận nhóm, thực hành luyện tập, trò chơi…. – đây
    là những phương pháp chủ yếu thực hiện bên trong khuôn viên nhà trường và ngay
    trong các giờ học. Tuy nhiên, những phương pháp này nếu không được tổ chức linh
    hoạt mà lặp đi lặp lại dễ gây nhàm chán, không thu hút được sự tham gia nhiệt tình của
    học sinh, các em không còn hứng thú và mất đi sự sáng tạo cũng như vai trò chủ thể
    của mình trong mỗi hoạt động.
    Tiến hành khảo sát ý kiến của HS chúng tôi nhận thấy lí do phần lớn HS không
    tham gia các hình thức giải quyết tình huống; dự án; giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn
    là do nhà trường rất ít tổ chức những hình thức hoạt động này. Một số HS còn e ngại,
    hướng trọng tâm vào việc học các bộ môn văn hóa. Một số em không nhận được sự
    đồng ý của gia đình nên không dám tham gia.
    Khảo sát sâu hơn về thực trạng của việc tổ chức các tiết sinh hoạt dưới cờ và
    sinh hoạt lớp (Xem Phiếu phỏng vấn số 04 – Phụ lục) chúng tôi nhận thấy các giờ
    sinh hoạt dưới cờ (SHDC) và sinh hoạt lớp (SHL) chủ yếu thầy cô dành thời gian để
    giáo dục HS vi phạm, nhắc nhở chung chung những lớp/cá nhân chưa hoàn thành các
    nhiệm vụ được giao, thông báo kế hoạch của nhà trường một cách khô khan; thời gian
    dành cho HS thực hiện các nội dung trải nghiệm, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể
    dục, thể thao,…chưa nhiều; vì thế chưa tạo ra sân chơi bổ ích cho HS, thiếu sự đối
    thoại giữa HS và nhà trường, HS chủ yếu là tiếp nhận thông tin một cách thụ động,
    việc hình thành và phát triển các năng lực, phẩm chất cho HS theo Thông tư số
    22/2016/TT-BGDĐT là rất hạn chế. Do đó, giờ SHDC và SHL trở thành một tiết học
    nặng nề, nhàm chán, ít hứng thú đối với HS.
    Đánh giá chung về thực trạng
    Về cơ bản, HĐTN đã được áp dụng thực hiện ở cấp Trung học phổ thông nói
    chung, trường THPT Ngô Quyền, TP Nam Định nói riêng trong thời gian gần đây
    nhưng chủ yếu là thông qua các môn học, gắn liền với từng môn học, là một phần của
    giáo dục môn học. (Minh chứng là từ năm học 2018-2019, trong công tác chỉ đạo,
    BGH nhà trường yêu cầu rõ, mỗi năm, từng tổ chuyên môn ít nhất phải thực hiện một
    chuyên đề về HĐ TNST ở mỗi khối; vì thế, các hoạt động trải nghiệm đang được triển
    khai thiên về đặc trưng của từng môn học nhiều hơn).
    6
    Việc bồi dưỡng năng lực chuyên môn và năng lực tổ chức cho GV, HS chưa được
    đầu tư; do đó kỹ năng tổ chức của GV bị hạn chế, HS ở trạng thái bị động, không có
    cơ hội tự mình thiết kế, điều khiển hoạt động theo ý tưởng của cá nhân.
    Sự phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường rất thấp; nhà trường
    chưa phát huy được sức mạnh của PHHS, chưa mở rộng phạm vi hoạt động và giao
    lưu với các lực lượng bên ngoài nhà trường.
    Việc tổ chức các HĐ TNST chưa có chiều sâu đặc biệt là việc lồng ghép giáo dục
    kĩ năng sống (KNS) thông qua HĐTN chưa đạt được hiệu quả mong muốn; kỹ năng
    thực hành của một bộ phận HS trong các hoạt động thường ngày chưa tốt; một số GV
    và một bộ phận HS còn lơ là, xem nhẹ vai trò của nội dung giáo dục này dẫn đến chưa
    nhiệt tình, năng nổ trong việc phối hợp thực hiện; sự phối kết hợp của một số bậc
    PHHS trong việc tổ chức các HĐ TNST, giáo dục KNS cho con em tại gia đình chưa
    được quan tâm đúng mức ….vì thế cần phải tiếp tục tăng cường công tác giáo dục, chỉ
    đạo để phát huy những mặt đã làm được và khắc phục những hạn chế trên.
    * Nguyên nhân của hạn chế
    – Nguyên nhân chủ quan
    HĐGDNGLL, HĐNK có những thời điểm tổ chức thực hiện không thường
    xuyên vì phải tập trung cho nhiệm vụ giảng dạy chuyên môn của GV. Nhận thức của
    một số GV, HS, PHHS về vai trò của HĐTN chưa cao; một số GV và HS còn bị áp lực
    về thi cử và chất lượng của các bộ môn văn hóa nên chưa đầu tư đúng mức và chưa tổ
    chức các HĐTN cho hiệu quả.
    HS phải tập trung học văn hóa, tiếp thu lượng kiến thức khá lớn ở các bộ môn
    trong học chính khóa, học ôn luyện thi, chịu sức ép về điểm số trong kiểm tra, thi cử
    còn khá nặng nề. Bởi vậy đã có không ít HS khi học THPT chỉ quan tâm đến học để
    thi nên chỉ học các môn theo khối thi. Hiện tượng HS học lệch, học xa rời thực tiễn và
    thiếu KNS đang tồn tại ở nhiều trường học, đặc biệt là các trường ở thành phố, trong
    đó có THPT Ngô Quyền. Việc thay đổi nhận thức ở HS về HĐ GDNGLL, HĐTN phải
    có sự tác động từ gia đình – nhà trường – xã hội; có như thế, HS mới thực sự là những
    nhân tố luôn tích cực, năng động, thích được tham gia và thể hiện khả năng.
    Đội ngũ cán bộ, GV được bồi dưỡng về công tác tổ chức, thực hiện HĐ
    GDNGLL, HĐTN là GV các bộ môn kiêm nhiệm, mới chỉ được bồi dưỡng chuyên đề
    nên kỹ năng tổ chức hoạt động còn hạn chế; bởi vậy lực lượng nòng cốt trong công
    tác HĐGDNGLL, HĐTN còn mỏng, thiếu GV có năng khiếu tổ chức, am hiểu nhiều
    lĩnh vực như: văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, hiểu biết xã hội,..
    Sự phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường chưa chặt chẽ, chưa
    phát huy được hết tiềm năng của các lực lượng giáo dục.
    7
    Hình thức hoạt động chưa phong phú, nội dung nghèo nàn, chưa phù hợp với
    nguyện vọng nên chưa lôi cuốn, tạo sức hấp dẫn đối với HS.
    Tổ chức quản lý chưa chặt chẽ, việc kiểm tra đánh giá chưa thường xuyên, công
    tác tổng kết, rút kinh nghiệm chưa được quan tâm đúng mức.
    Đầu tư kinh phí cho HĐ GDNGLL, HĐTN chưa nhiều, còn quá eo hẹp và chưa
    kịp thời. Cơ sở vật chất, cảnh quan môi trường của các nhà trường tuy đã được đầu tư,
    nâng cấp nhưng vẫn còn chưa đảm bảo theo yêu cầu; vì thế, việc tổ chức HĐ
    GDNGLL, HĐNK theo hình thức tập trung và chuyên sâu rất khó khăn.
    – Nguyên nhân khách quan:
    HĐTN là một yếu tố quan trọng trong việc hình thành, phát triển các phẩm chất
    và năng lực thực tiễn của HS, góp phần giáo dục toàn diện nhưng trên thực tế chưa
    thực sự là một tiêu chuẩn quan trọng trong đánh giá thi đua. Việc đánh giá nhà trường,
    đánh giá GV, HS chủ yếu căn cứ vào kết quả của hoạt động dạy – học nên nhà trường
    chỉ quan tâm đến chất lượng dạy học mà ít quan tâm đến HĐTN. Chuẩn kiểm tra đánh
    giá, khen thưởng cho hoạt động này chưa rõ ràng, chưa có tác dụng thúc đẩy hoạt động
    đi vào chiều sâu. Thời gian của GV và HS dành cho hoạt động này chưa nhiều, dẫn
    đến hình thức hoạt động chưa phong phú, nội dung chưa hấp dẫn. PHHS chưa quan
    tâm đến HĐ TNST nên không tạo điều kiện để các em hoạt động mà chỉ ép các em học
    các môn văn hóa.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến: “Đổi mới hình thức tổ chức các hoạt
    động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa chuyển mạnh sang hướng
    hoạt động trải nghiệm sáng tạo tiếp cận với chương trình giáo dục phổ thông mới
    tại trường THPT Ngô Quyền, TP Nam Định”
    Hiện tại, trường THPT Ngô Quyền nói riêng, các trường THPT trong cả nước
    nói chung vẫn thực hiện chương trình giáo dục hiện hành; dù chưa triển khai chương
    trình giáo dục phổ thông mới, nhưng đã tiếp cận những đổi mới chương trình giáo dục
    phổ thông mới.
    2.1. Giới thuyết chung về Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo
    dục phổ thông mới của Việt Nam
    2.1.1. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có chức năng tương đương với hoạt động
    ngoài giờ lên lớp hiện tại nhưng được đổi mới hoàn toàn về nội dung
    Với CT hiện hành, có thể coi hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động tập thể,
    hoạt động theo chủ điểm… và cả hoạt động Đoàn là hoạt động trải nghiệm.
    Hoạt động giáo dục trong CT GDPT mới có tên gọi là hoạt động trải nghiệm
    sáng tạo. HĐ TNST trong CT GDPT mới là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự
    hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cá nhân HS được tham gia trực tiếp vào
    8
    các hoạt động thực tiễn khác nhau của đời sống gia đình, nhà trường cũng như ngoài
    xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, các
    kỹ năng, tích luỹ kinh nghiệm riêng và phát huy tiềm năng sáng tạo của mỗi cá nhân.
    TNST là hoạt động được coi trọng trong từng môn học; đồng thời trong kế hoạch giáo
    dục cũng bố trí các hoạt động TNST riêng, hoạt động này mang tính tổng hợp của
    nhiều lĩnh vực giáo dục, kiến thức, kỹ năng khác nhau.
    HĐ TNST trong CT GDPT mới là hoạt động có tính mở, vừa kế thừa tất cả các
    hoạt động giáo dục phù hợp, có hiệu quả của CT GDPT hiện hành, vừa bổ sung, đổi
    mới nhiều hoạt động khác nhằm đáp ứng được mục tiêu và yêu cầu của CT
    GDPT mới.
    HĐ TNST được thực hiện từ lớp 1 đến lớp 12, bao gồm các nội dung bắt buộc
    và nội dung tự chọn được thiết kế theo 2 giai đoạn: giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp
    9) và giáo dục định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12). Trong CT mới, HĐ
    TNST cùng với dạy học các môn làm thành 2 loại hoạt động giáo dục chính của các
    nhà trường. Coi trọng và tăng cường HĐ TNST là một đổi mới căn bản của CT GDPT
    mới. Mỗi HĐ TNST đều có yêu cầu vận dụng tổng hợp nhiều lĩnh vực kiến thức, kỹ
    năng nên thường có tác động đến nhiều lĩnh vực giáo dục khác nhau, phụ thuộc chủ
    yếu vào nội dung và hình thức của hoạt động. Hệ thống các môn học và HĐ TNST
    được thiết kế theo định hướng bảo đảm cân đối nội dung các lĩnh vực giáo dục, phù
    hợp với từng cấp học, lớp học; thống nhất giữa các lớp học/cấp học; tích hợp mạnh ở
    các lớp dưới, phân hóa dần ở các lớp học trên, tương thích với các môn học ở nhiều
    nước trên thế giới. Trong kế hoạch giáo dục mà ban soạn thảo chương trình xác định,
    ngoại trừ lớp 10 trải nghiệm sáng tạo dự kiến 70 tiết/năm học, còn các lớp khác từ 1
    đến 12 đều được phân bổ 105 tiết/năm học.
    HĐ TNST sẽ tạo cơ hội cho HS huy động, tổng hợp kiến thức, kỹ năng của các
    môn học, các lĩnh vực giáo dục khác nhau để có thể trải nghiệm thực tiễn trong nhà
    trường, gia đình và xã hội; đồng thời giúp HS có cơ hội để tham gia các hoạt động
    phục vụ cộng đồng và hoạt động hướng nghiệp. Đặc biệt tất cả các hoạt động này phải
    dưới sự hướng dẫn, tổ chức của nhà giáo dục; qua đó hình thành những phẩm chất chủ
    yếu, những năng lực chung đã được xác định tại CT GDPT tổng thể. Các năng lực và
    phẩm chất chung này sẽ được thực hiện trong hoạt động trải nghiệm thông qua 3 mục
    tiêu của hoạt động trải nghiệm. Hoạt động trải nghiệm sẽ được tổ chức cả ở trong và
    ngoài lớp học, trong và ngoài nhà trường theo các quy mô: cá nhân, nhóm, lớp học,
    khối lớp hoặc quy mô trường.
    2.1.2. Phân loại hoạt động trải nghiệm và mục tiêu của từng loại hình đó
    Có 4 nhóm nội dung HĐTN (gồm nhóm nội dung hoạt động phát triển cá nhân;
    9
    nhóm hoạt động lao động, nhóm hoạt động xã hội và phục vụ cộng đồng; nhóm hoạt
    động giáo dục hướng nghiệp) nhằm thực hiện 3 mục tiêu cơ bản của HĐTN (năng lực
    thích ứng với cuộc sống; năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động; năng lực định hướng
    nghề nghiệp). Trong khi thực hiện 3 mục tiêu năng lực này thì HĐTNST phải thực
    hiện luôn tất cả các mục tiêu về phẩm chất và năng lực của chương trình, tức là phẩm
    chất và năng lực cốt lõi.
    Tùy vào từng cấp học mà trọng số ở nhóm nội dung hoạt động nào nhiều hơn
    nhưng cả 4 đều có mặt trong mỗi cấp học. Ví dụ nhóm nội dung hoạt động phát triển
    cá nhân tập trung rất mạnh ở bậc tiểu học. Nhưng bậc THCS có thể nhẹ hơn và bắt đầu
    tăng dần nhóm hoạt động xã hội và phục vụ cộng đồng. Đến bậc THPT thì các hoạt
    động phát triển cá nhân, hoạt động xã hội và phục vụ cộng đồng tất nhiên vẫn tiếp tục,
    nhưng đặc biệt đẩy mạnh hoạt động giáo dục hướng nghiệp.
    4 nhóm nội dung này sẽ được triển khai thực hiện thông qua 4 loại hình HĐTN
    trong nhà trường: sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp, hoạt động giáo dục theo chủ đề,
    hoạt động những câu lạc bộ. Với các hoạt động này, để GV có thể tổ chức cho HS một
    cách đầy đủ thì các nhà trường nên tổ chức đầy đủ các đại diện của 4 nhóm này. Tất
    nhiên trong 1 nhóm có nhiều hình thức và chúng ta không thể sử dụng tất cả các hình
    thức nhưng nên dùng đầy đủ 4 nhóm tổ chức hoạt động và trong nhóm có thể tổ chức
    1-2 loại hình thức hoạt động, như vậy để HS được hưởng đầy đủ ưu thế của từng nhóm
    tổ chức hoạt động mang lại.
    2.1.3. Những hình thức và phương pháp trải nghiệm cho các loại hình hoạt động đó
    HĐTNST được tổ chức trong và ngoài lớp học, trong và ngoài trường học; theo
    quy mô nhóm, lớp học, khối lớp hoặc quy mô trường; với 4 loại hình hoạt động chủ
    yếu là Sinh hoạt dưới cờ, Sinh hoạt lớp, Hoạt động giáo dục theo chủ đề và Hoạt động
    câu lạc bộ; với sự tham gia, phối hợp, liên kết của nhiều lực lượng giáo dục trong và
    ngoài nhà trường như: giáo viên chủ nhiệm lớp, giáo viên môn học, cán bộ tư vấn tâm
    lí học đường, cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, cán bộ quản lí nhà
    trường, cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân trong xã hội.
    HĐ TNST giúp hình thành và phát triển ở HS các năng lực tự chủ và tự học,
    giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo được biểu hiện qua các năng lực đặc
    thù: năng lực thích ứng với cuộc sống, năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động, năng
    lực định hướng nghề nghiệp. Thứ nhất là những hình thức nhóm mang tính cống hiến
    (gồm các hoạt động tình nguyện, nhân đạo, vì cộng đồng,…). Thứ hai là hoạt động có
    tính khám phá như những chuyến đi thực địa, tham quan, dã ngoại,… Thứ ba là hoạt
    động mang tính thể nghiệm, giúp học sinh được trải nghiệm và thể nghiệm mình luôn
    qua các hoạt động giao lưu, đóng kịch, sân khấu hóa,… Thứ tư là những hoạt động có
    10
    tính nghiên cứu và phân hóa, như những dự án, hoạt động nghiên cứu khoa học rồi các
    hoạt động câu lạc bộ có tính định hướng có tính phân hóa,…Như vậy, mỗi một hình
    thức hoạt động sẽ đạt được mục tiêu riêng.
    Đặc điểm của HĐ TNST của chương trình GDPT mới là hoạt động giáo dục do
    nhà giáo dục định hướng, thiết kế và hướng dẫn thực hiện, tạo cơ hội cho học sinh tiếp
    cận thực tế, thể nghiệm các cảm xúc tích cực, khai thác những kinh nghiệm đã có và
    huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng của các môn học. HĐTN thiên về những hoạt
    động tập thể ngoài giờ học chính khóa nhiều hơn và ở cấp Trung học phổ thông, người
    hướng dẫn chủ yếu là các thầy cô thuộc ban chấp hành Đoàn trường và các giáo viên
    chủ nhiệm lớp. Hình thức tổ chức HĐTN sẽ được thực hiện như sau: Hình thức có tính
    khám phá (Thực địa – thực tế, Tham quan, Cắm trại, Trò chơi…); Hình thức có tính thể
    nghiệm, tương tác (Diễn đàn, Giao lưu, Hội thảo, Sân khấu hoá…); Hình thức có tính
    cống hiến (Thực hành lao động; Hoạt động tình nguyện, nhân
    đạo…); Hình thức có tính nghiên cứu (Dự án và nghiên cứu khoa học, Hoạt động theo
    nhóm sở thích)”.
    2.1.4 Những thiết bị cơ bản để thực hiện chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng
    tạo
    Đồ dùng để trình diễn, hướng dẫn: video clip về các nội dung giáo dục; phần
    mềm về hướng nghiệp; dụng cụ lao động phù hợp với hoạt động lao động;
    Đồ dùng để phục vụ hoạt động tập thể: loa đài, ampli; bộ lều trại;
    Đồ dùng để thực hành: bộ tranh ảnh về quần áo, giày dép,… theo mùa, theo giới
    tính, theo lứa tuổi của học sinh; bộ tranh ảnh về trang phục các dân tộc Việt Nam; bộ
    tranh ảnh về trang phục các dân tộc trên thế giới; bộ tranh về các nghề, làng nghề
    truyền thống; bộ tranh về các lễ hội; bảng trắc nghiệm nhân cách; dụng cụ lao động
    phù hợp với hoạt động lao động;
    Đồ dùng khác phù hợp với chủ đề hoạt động cụ thể.
    2.1.5. Vai trò của người thầy trong trải nghiệm sáng tạo
    Giáo dục không chỉ trong lớp học, nhưng trong hoạt động định hướng phát triển
    sáng tạo, người thầy đóng vai trò quan trọng nhất, và đó phải là người thầy sáng tạo.
    Có 3 yếu tố cơ bản cấu thành nên Người Thầy sáng tạo. Yếu tố đầu tiên và quan trọng
    nhất: Thầy yêu thương trò. Yếu tố thứ 2: Thầy tận tâm mong mỏi trò học tốt, có tương
    lai tốt, thậm chí tốt hơn mình. Yếu tố thứ 3: Thầy nắm chắc tri thức cơ bản để dạy và
    có đam mê cập nhật tri thức mới, có khả năng mở rộng tri thức cơ bản ra những lĩnh
    vực nằm ngoài phần mình dạy.Tức là Thầy cũng có đam mê học suốt đời và mở rộng
    tri thức của bản thân, thì mới mong dạy trò đi theo đam mê học tập suốt đời được.
    11
    2.2 Một số biện pháp tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động
    ngoại khóa chuyển mạnh sang hướng hoạt động trải nghiệm sáng tạo tiếp cận
    chương trình giáo dục phổ thông mới
    2.2.1 Biện pháp 1: Phổ biến, tuyên truyền sâu rộng trong nhà trường, cộng
    đồng, phụ huynh về HĐTNST; tăng cường giao lưu, hợp tác với các tổ chức xã hội,
    các cá nhân và doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, nhất là các cơ sở tại địa phương… để
    tất cả cùng hiểu, đồng tình ủng hộ và cùng tham gia vào quá trình giáo dục
    2.2.2 Biện pháp 2: Bồi dưỡng giáo viên, gồm các giáo viên chủ nhiệm, các giáo
    viên bộ môn và các giáo viên thường xuyên thực hiện chương trình HĐ TNST để nhận
    thức đúng về mục tiêu, tính chất, nội dung, cách thức tiến hành, kiểm tra – đánh giá
    của hoạt động này trong CT GDPT mới
    2.2.3 Biện pháp 3: Xây dựng kế hoạch HĐTNST phù hợp với tình hình của nhà
    trường và đặc điểm của địa phương
    2.2.4 Biện pháp 4: Hướng dẫn giáo viên tìm hiểu các đặc điểm, điều kiện về
    nhân lực, kinh tế, văn hoá, xã hội, danh thắng, di tích… trên địa bàn để có thể khai
    thác sử dụng hiệu quả nhất vào mục đích tổ chức Hoạt động TNST phù hợp với đặc
    điểm tâm, sinh lý học sinh; góp phần gắn kế hoạch giáo dục nhà trường với việc phục
    vụ các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương; Hướng dẫn học sinh tìm
    hiểu các đặc điểm, điều kiện về nhân lực, kinh tế, văn hoá, xã hội, danh thắng, di
    tích… trên địa bàn để có định hướng nghề nghiệp trong tương lai
    2.2.5 Biện pháp 5: Khai thác hiệu quả các nguồn lực xã hội tổ chức hoạt động
    trải nghiệm sáng tạo
    Tuyên truyền cho PHHS nhà trường hiểu rõ tầm quan trọng của HĐ TNST từ
    đó tranh thủ sự ủng hộ của PHHS, tận dụng những kinh nghiệm thực tiễn của cá nhân
    phụ huynh và những người tham gia HĐ TNST để truyền thụ tới HS; gắn hoạt động
    của nhà trường với hoạt động của cộng đồng xã hội để cùng hướng tới mục tiêu phát
    triển toàn diện phẩm chất, năng lực người học..
    2.2.6 Biện pháp 6: Chỉ đạo bổ sung cơ sở vật chất, điều kiện phục vụ trải
    nghiệm
    Xã hội hóa giáo dục, xây dựng các tủ sách lớp học theo hướng tăng cường các
    đầu sách nuôi dưỡng tâm hồn học sinh, triển khai mỗi lớp một tivi thông minh phục vụ
    cho công tác dạy và học, mỗi tổ chuyên môn một máy tính có kết nối mạng, một máy
    in, một máy chiếu. Khuyến khích học sinh tham gia Câu lạc bộ Khoa học Vật lý –
    Người phụ trách: Đ/c Vũ Đình Bài -Tổ Vật lý; Câu lạc bộ Hóa học vui (Người phụ
    trách: Đ/c Nguyễn Thị Dung -Tổ Hóa học)
    12
    2.2.7 Biện pháp 7: Tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động trải nghiệm sáng tạo
    Nhằm hoàn thiện các biện pháp quản lý HĐTNST, chúng tôi tiến hành khảo sát
    tính cần thiết và mức độ khả thi của 67biện pháp (Xem PHIẾU THĂM DÒ số 02,
    PHIẾU THĂM DÒ số 03)
    Kết quả thu được cho thấy, các biện pháp đề xuất nêu trên đều cần thiết. Tuy
    nhiên, mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất là không đồng đều. Các biện pháp
    1,2,3,7 được cho là rất cần thiết vì các biện pháp này giúp các nhà quản lý và GV nắm
    rõ được nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức các hoạt động, qua đó họ có
    thể triển khai tại đơn vị; trong khi đó biện pháp 5,6 chỉ là tương đối cần thiết.
    Biểu đồ đánh giá mức độ khả thi các biện pháp tổ chức các HĐ TNST
    Các biện pháp đưa ra đều được đánh giá là khả thi; trong đó biện pháp 2,7 được
    cho là khả thi nhất.
    Tuy nhiên vẫn có ý kiến đánh giá một số biện pháp tính khả thi chưa cao, ví dụ
    như biện pháp 4,5,6. Điều đó đòi hỏi nhà trường cần phải làm thật tốt biện pháp 1, bởi
    có nhận thức đúng mới dẫn tới hành động đúng; và khi các lực lượng gia đình, xã hội
    chủ động tích cực trong việc phối kết hợp với nhà trường thì HĐ TNST sẽ đạt được
    hiệu quả cao. Mặt khác nhà trường cũng cần xây dựng hệ thống tiêu chí, các công cụ
    đánh giá và các thang đo phù hợp để đánh giá kết quả của HĐ TNST. Khi triển khai
    thực hiện các biện pháp phải nghiêm túc, đồng bộ và triệt để, có như vậy mới nâng cao
    được tính khả thi của các biện pháp.
    2.3. Đổi mới hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động
    ngoại khóa chuyển mạnh sang hướng hoạt động trải nghiệm sáng tạo tiếp cận
    chương trình giáo dục phổ thông mới
    Chương trình Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ
    thông mới là chương trình giáo dục bắt buộc có phân hoá và bao gồm các chương trình
    như sau:
    13
    Chương trình trải nghiệm hoạt động sinh hoạt hành chính nhà trường (Bắt buộc)
    Chương trình hoạt động trải nghiệm định hướng cá nhân (Bắt buộc)
    Chương trình hoạt động trải nghiệm giáo dục tổng hợp (Tự chọn bắt buộc)
    Chương trình hoạt động câu lạc bộ (Tự chọn phân hoá)
    Để thực hiện mục tiêu đổi mới hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ
    lên lớp, hoạt động ngoại khóa chuyển mạnh sang hướng hoạt động trải nghiệm sáng
    tạo tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông mới tại trường THPT Ngô Quyền, TP
    Nam Định, đối với loại chương trình thứ nhất, chúng tôi đề xuất đổi mới giờ sinh
    hoạt dưới cờ và sinh hoạt lớp; bởi hai giờ sinh hoạt này là không thể thiếu được
    trong quản lý nhà trường và quản lý lớp học; đối với loại chương trình thứ hai,
    chúng tôi đề xuất thành lập nhóm câu lạc bộ theo sở thích để phát huy được năng
    lực, sở trường của HS
    2.3.1. Đổi mới tiết Sinh hoạt dưới cờ và tiết Sinh hoạt lớp theo định hướng phát
    triển năng lực học sinh
    2.3.1.1. Đổi mới tiết Sinh hoạt dưới cờ theo định hướng phát triển năng lực học sinh
    * Thời gian thực hiện mỗi tuần 1 tiết vào thứ hai hàng tuần với thời lượng 45
    phút. Đối tượng tham gia bao gồm toàn bộ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học
    sinh nhà trường. Quy mô tổ chức: toàn trường.
    * Quy trình tổ chức tiết SHDC là quy trình phối hợp, đảm bảo tính logic giữa
    hoạt động của giáo viên và học sinh. Quy trình này gồm 3 bước: Bước chuẩn bị, Bước
    tiến hành, Bước đánh giá kết quả. Mỗi bước có nội dung hoạt động cụ thể cho đối
    tượng tham gia vào tiết SHDC, giữa các bước có mối liên hệ mật thiết với nhau tạo
    nên sự thống nhất trong việc tổ chức tiết SHDC sao cho mỗi tiết SHDC trở thành một
    tiết học bổ ích.
    * Về nội dung:
    Nội dung 1: Chào cờ
    Chào cờ đối với GV và HS là một hoạt động có ý nghĩa cao đẹp; đây là một
    nghi thức trang trọng thể hiện lòng yêu nước, tự hào dân tộc và sự biết ơn đối với các
    thế hệ cha anh đã hi sinh xương máu để đổi lấy độc lập, tự do cho Tổ quốc.
    Lễ chào cờ của các em học sinh trong tiết SHDC

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Một số giải pháp giáo dục kỹ năng tự nhận thức góp phần định hướng nghề nghiệp cho học sinh trường THPT

    SKKN Một số giải pháp giáo dục kỹ năng tự nhận thức góp phần định hướng nghề nghiệp cho học sinh trường THPT

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Giáo dục kỹ năng sống nói chung và hình thành kỹ năng tự nhận thức và định
    hướng nghề nghiệp nói riêng đang là đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới căn bản toàn diện
    giáo dục, góp phần giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học giai đoạn
    2018 – 2025, đồng thời là nhu cầu cấp thiết đối với học sinh trung học phổ thông
    (THPT). Đáp ứng nhu cầu đó, nội dung giáo dục kỹ năng sống đã được tích hợp trong
    một số môn học và hoạt động giáo dục trong trường phổ thông; có nhiều đề tài đã nghiên
    cứu về kỹ năng sống nhưng chủ yếu là nghiên cứu những vấn đề chung, những nhóm kỹ
    năng lớn mà vẫn chưa có những nghiên cứu thực sự đầy đủ, đi sâu về từng nhóm kỹ năng
    cụ thể như kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT.
    Bước vào thế kỷ XXI, trong xu thế cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang phát
    triển như vũ bão với những bước tiến nhảy vọt đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời
    sống xã hội của từng quốc gia và trên phạm vi toàn cầu trong đó có giáo dục đào tạo. Đổi
    mới giáo dục trở thành một xu thế tất yếu mang tính chất toàn cầu.
    Ở Việt Nam, để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn
    nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng yêu cầu hội
    nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học, giáo dục phổ thông đã và đang đổi mới
    mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI, mà thực chất là cách tiếp cận kỹ năng
    sống, đó là: Học để biết, Học để làm, Học để tự khẳng định mình và Học để cùng
    chung sống.
    Trong chương trình giáo dục phổ thông năm 2018đã cụ thể hóa mục tiêu giáo dục
    phổ thông, trong đó có mục tiêu: giúp người học làm chủ kiến thức phổ thông; biết vận
    dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời; có định hướng lựa chọn nghề
    nghiệp phù hợp; Riêng đối với chương trình giáo dục trung học phổ thông giúp học sinh
    tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và
    nhân cách công dân; khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời; khả năng lựa chọn nghề
    nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục
    học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động; khả năng thích ứng với những
    đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới.
    Nhằm thực hiện chủ trương trên, từ năm học 2017 – 2018, trường THPT Mỹ Lộc
    đã và đang thực hiện đổi mới công tác hướng nghiệp cho học sinh trong các giờ dạy
    chính khóa, trong các hoạt động trải nghiệm và hoạt động giáo dục kỹ năng sống. Những
    hoạt động đó đã góp phần không nhỏ giúp học sinh tự nhận thức bản thân, từ đó tự định
    hướng nghề nghiệp đúng đắn và hiệu quả.
    Bản thân tôi từ khi trở thành nhà giáo, trong hầu hết các năm học tôi đều đảm
    nhiệm công tác chủ nhiệm và thường chủ nhiệm liền một khóa học sinh. Tôi thường phải
    giải đáp các thắc mắc của các bậc phụ huynh, các em học sinh về năng lực cũng như việc
    2
    lựa chọn ngành nghề cho tương lai. Đây là một câu hỏi lớn, để có thể trả lời một cách
    chính xác không phải là điều dễ dàng. Đó cũng là điều mà một giáo viên chủ nhiệm như
    tôi luôn luôn trăn trở suy ngẫm để tìm ra phương án phù hợp nhất. Trong năm học 2018 –
    2019, tôi đã hướng dẫn hai em học sinh Nguyễn Thị Thu Hải và Nguyễn Minh Ánh đề
    tài nghiên cứu khoa học “Đề xuất một số giải pháp nhằm hình thành kỹ năng tự nhận
    thức góp phần định hướng nghề nghiệp cho học sinh THPT Mỹ Lộc”. Trong quá trình đó
    tôi đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu trong giáo dục kỹ năng sống cho học
    sinh.
    Từ các lý do trên, tôi mạnh dạn trình bày sáng kiến kinh nghiệm thuộc lĩnh vực
    15/THPT (Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp) với đề tài:“Một số giải pháp giáo dục
    kỹ năng tự nhận thức góp phần định hướng nghề nghiệp cho học sinh THPT Mỹ
    Lộc”với mong muốn được chia sẻ những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện các biện
    pháp giáo dục kỹ năng tự nhận thức bản thân và định hướng đúng đắn nghề nghiệp cho
    học sinh trung học phổ thông, tới bạn bè, đồng nghiệp.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Việc hình thành kỹ năng tự nhận thức bản thân góp phần định hướng nghề nghiệp
    cho học sinh phụ thuộc rất nhiều nhân tố giáo dục như nhà trường, cha mẹ học sinh và
    bản thân học sinh.
    Về phía nhà trường, thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Sở giáo dục và Đào
    tạo Nam Định về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT, trong các năm học gần đây,
    trường THPT Mỹ Lộc đã có kế hoạch và triển khai công tác giáo dục kỹ năng sống. Việc
    giáo dục kỹ năng sống được lồng ghép tích hợp trong các hoạt động giáo dục ngoài giờ
    lên lớp nhưng chủ yếu gắn với các chủ đề hàng tháng theo các ngày lễ lớn trong năm, qua
    các giờ chào cờ, giờ sinh hoạt lớp, qua các môn học văn hóa có ưu thế về giáo dục kỹ
    năng sống. Việc giáo dục kỹ còn hạn chế, chủ yếu nặng về kiến thức hàn lâm, thiếu tính
    thực tiễn. Việc dành thời gian cho học sinh thực hành các kỹ năng sống còn ít, hiệu quả
    của công tác giáo dục kỹ năng sống chưa cao.Đặc biệt đối với kỹ năng tự nhận thức qua
    đó góp phần định hướng nghề nghiệp cho học sinh còn chưa được chú trọng quan tâm
    đúng mức.
    Về phía cha mẹ học sinh, hầu hết gia đình học sinh THPT Mỹ Lộc đều sinh sống ở
    địa bàn nông thôn, đa số cha mẹ các bạn đều làm nông nghiệp kết hợp với làm thêm các
    nghề phụ khác. Vì vậy thời gian quan tâm và hiểu được mức độ cần thiết phải giáo dục
    kỹ năng sống cho các em là rất hạn chế. Nhiều bậc cha mẹ học sinh chưa hiểu rõ điểm
    mạnh, điểm yếu của con mình, chưa kịp thời động viên khích lệ các con, chưa hướng dẫn
    các con các biện pháp khắc phục điểm yếu. Đồng thời, các bậc phụ huynh thường không
    đi sâu vào tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của các con nên thường áp đặt lối sống, cách
    sống và chọn nghề, chọn trường cho con mình.
    3
    Về phía học sinh, đa số học sinh cả ba khối trường THPT Mỹ Lộc đều đã biết đến
    quan điểm đầy đủ nhất về kỹ năng tự nhận thức bản thânnhưng để hiểu sâu sắc về vai trò
    và làm cách nào có thể hình thành kỹ năng tự nhận thức thì rất nhiều học sinh tỏ ra lúng
    túng. Hơn nữa phần lớn học sinh không hiểu rõ về vai trò của kỹ năng tự nhân thức bản
    thân đối với việc định hướng nghề nghiệp.Hầu hết các em khi được hỏi về ngành nghề
    mơ ước và ngành nghề phù hợp với bản thân và xu hướng xã hội, các em mới chỉ liệt kê
    chung chung về từng nhóm ngành: doanh nhân, công an, quân đội, hoặc đơn giản là
    Game. Nhiều học sinh lựa chọn trường và ngành nghề phụ thuộc vào các bạn trong lớp
    lựa chọn gì, hay bố mẹ định hướng như thế nào. Có học sinh chỉ cần trường, khoa ngành
    có “hot” không mà không cần biết năng lực và nhu cầu nguyện vọng của mình đến đâu.
    Đặc biệt do áp lực về học hành, về thi cử, áp lực phải đỗ đại học nên nhiều em chỉ
    chú tâm vào việc học mà không chịu tham gia các hoạt động tập thể, các hoạt động ngoại
    khóa. Ngay cả việc học tập trên lớp, các em cũng chỉ chú tâm làm sao có thể nắm vững
    kiến thức các môn định hướng cho việc thi và xét đại học. Chính việc không nhận thức
    đúng về vai trò của kỹ năng tự nhận thức và định hướng nghề nghiệp đã dẫn đến việc
    nhiều bạn không hiểu được mình là ai, không thể chọn đúng trường, đúng nghề phù hợp.
    Có thể nói việc xác định đúng định hướng nghề nghiệp tương lai của học sinh
    THPT là việc vô cùng quan trọng. Để mỗi học sinh có sự định hướng đúng đắn nhất về
    nghề nghiệp trong tương lai cần phải có sự chung tay hỗ trợ của các lực lượng giáo dục
    trong nhà trường, sự hỗ trợ từ phía cha mẹ học sinh nhưng quan trọng nhất là kỹ năng tự
    nhận thức – bởi đây mới là yếu tố quyết định sự thành công của nghề nghiệp trong tương
    lai. Thày cô giáo, cha mẹ, bạn bè là những nhân tố hỗ trợ cho sự tự nhận thức của bản
    thân mỗi học sinh được đúng đắn hơn và giúp cho các em nhận thức đúng xu thế của xã
    hội và sự phù hợp với năng lực của bản thân mình.
    Xuất phát từ yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo định
    hướng phát triển các năng lực và phẩm chất của học sinh, tăng cường giáo dục kỹ năng
    sống cho học sinh để đáp ứng được các đòi hỏi cần thiết cho cuộc sống đặc biệt phục vụ
    cho quá trình định hướng nghề nghiệp phù hợp với bản thân và xu hướng xã hội, tôi đã
    mạnh dạn lựa chọn vấn đề này để nghiên cứu.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1.Cơ sở lý luận của việc giáo dục kỹ năng tự nhận thức góp phần định hướng nghề
    nghiệp
    2.1.1.Kỹ năng sống
    2.1.1.1. Quan niệm về kỹ năng sống
    Theo quan niệm chung nhất, kĩ năng sống bao gồm một loạt các kỹ năng cụ thể,
    cần thiết cho cuộc sống hằng ngày của con người. Bản chất của kỹ năng sống là kỹ năng
    tự quản lý bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập
    và làm việc hiệu quả. Nói cách khác, kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi
    4
    người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó
    tích cực trước các tình huống của cuộc sống.
    Có nhiều tên gọi khác nhau của kỹ năng sống; các kỹ năng sống không tự nhiên có
    được mà phải hình thành dần trong quá trình học tập, lĩnh hội và rèn luyện trong cuộc
    sống. Quá trình hình thành kỹ năng sống diễn ra cả trong và ngoài hệ thống giáo dục.
    2.1.1.2. Vai trò của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ
    thông
    Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông là xu thế chung
    của nhiều nước trên thế giới, là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ, góp phần thực hiện
    yêu cầu của đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay ở nước ta, thúc đẩy sự phát triển của cá
    nhân và xã hội.
    2.1.2. Kỹ năng tự nhận thức
    2.1.2.1. Quan niệm về kỹ năng tự nhận thức
    Kỹ năng tự nhận thức là một trong 21 kỹ năng sống cần có của học sinh THPT, là
    một kĩ năng sống rất cơ bản của con người.
    Tự nhận thức là tự nhìn nhận, tự đánh giá về bản thân.
    Mỗi người đều có bản sắc riêng, với những tiềm năng, tình cảm, sở thích, thói
    quen, điểm mạnh, điểm yếu riêng, không ai giống nhau hoàn toàn. Lứa tuổi học sinh
    THPT cũng vậy, các em có những điểm đáng tự hào, hài lòng về mình và có những điểm
    còn hạn chế, cần cố gắng rèn luyện thêm.
    Kỹ năng tự nhận thức là khả năng của con người hiểu về chính bản thân mình như
    cơ thể, tư tưởng, các mối quan hệ xã hội của bản thân; biết nhìn nhận, đánh giá đúng về
    khả năng, thái độ, hành vi, việc làm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu,…của bản
    thân mình; quan tâm và luôn ý thức được mình đang làm gì, kể cả nhận ra lúc bản thân
    đang cảm thấy căng thẳng.
    2.1.2.2. Vai trò của kỹ năng tự nhận thức
    Tự nhận thức về bản thân là một kỹ năng sống rất cơ bản của con người. Có hiểu
    đúng về mình, con người mới có những quyết định, những lựa chọn đúng đắn, phù hợp
    với khả năng của bản thân; mới giao tiếp và ứng xử phù hợp với những người xung
    quanh. Đánh giá quá cao hoặc quá thấp bản thân mình đều có thể dẫn con người đến
    những sai lầm, thất bại trong cuộc sống. Như TS. Joyce Brothers đã nói “Nhận thức về
    bản thân của một người là cơ sở nhân cách của người đó. Nó ảnh hưởng đến mọi phương
    diện đời sống của con người: khả năng học hỏi, khả năng trưởng thành và thay đổi, sự
    nghiệp và bạn đời. Không quá đáng khi nói rằng, nhận thức đúng về bản thân là sự chuẩn
    bị khả dĩ và tốt nhất cho những thành công trong cuộc sống”. Đặc biệt với lứa tuổi THPT,
    việc giáo dục kỹ năng tự nhận thức đóng vai trò hết sức quan trọng.
    5
    Thứ nhất, xã hội ngày nay ngày càng phát triển, kéo theo sự bùng nổ của khoa học
    công nghệ với rất nhiều tiện ích hiện đại cùng với những cám dỗ, những nguy cơ không
    lành mạnh đã ảnh hưởng không nhỏ tới thế hệ trẻ hiện nay. Nhiều thanh niên, học sinh
    thiếu kỹ năng cần thiết và không biết mình là ai, mình có khả năng gì, từ đó không đặt ra
    được mục tiêu phấn đấu của bản thân. Do đó, một trong những nhu cầu và là yêu cầu
    quan trọng đối với học sinh THPT là được trang bị những kỹ năng cần thiết nhất là kỹ
    năng tự nhận thức để xác định đúng nhu cầu bản thân và lựa chọn cách sống tích cực.
    Thứ hai, lứa tuổi học sinh THPT là những chủ nhân tương lai của đất nước, là
    những người sẽ quyết định sự phát triển của đất nước trong những năm tới. Đồng thời
    đây là lứa tuổi nhạy cảm, có những thay đổi to lớn về tâm sinh lý và các mối quan hệ xã
    hội. Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ
    thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được đặt
    vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị sống, phải đương đầu với những khó khăn,
    thách thức, những áp lực tiêu cực. Do đó trang bị kỹ năng tự nhận thức là một yêu cầu
    cần thiết để các bạn nhận thức đúng giá trị của bản thân mình nhằm phát huy điểm mạnh,
    khắc phục hạn chế tự điều chỉnh chính bản thân thích ứng với sự thay đổi của thời đại để
    ngày càng tiến bộ.
    Thứ ba, có nhận thức đúng về những điểm mạnh, điểm yếu, sở thích và đam mê
    của mình, các bạn học sinh mới có thể định hướng đúng nghề nghiệp tương lai.
    2.1.2.3. Quá trình hình thành kỹ năng tự nhận thức bản thân
    2.1.2.3.1.Tự lắng nghe
    Để tự nhận thức đúng về bản thân, mỗi học sinh phải biết tự suy ngẫm và tự sự với
    chính mình để đưa ra những nhận định về ưu điểm, nhược điểm, nhu cầu, sở thích,
    nguyện vọng, mong muốn, cảm xúc… của chính mình.Đồng thời phải biết lắng nghe
    người khác một cách tích cực và có tính chọn lọc. Người lắng nghe tốt luôn có thái độ tôn
    trọng, cầu tiến, chấp nhận những phản hồi của người khác thể hiện sự sẵn sàng không
    ngừng học hỏi. Điều này sẽ giúp bạn có nhiều cơ hội để phát triển trong tương lai.
    2.1.2.3.2.Tự bộc lộ chính mình
    Tự bộc lộ chính mình là tham gia các hoạt động tương tác với mọi người xung
    quanh, là quá trình tự trải nghiệm của bản thân trong học tập, rèn luyện, tham gia các
    hoạt động của gia đình, nhà trường và ngoài xã hội. Điều này sẽ giúp các bạn tích lũy
    được những kinh nghiệm sống, thấy được điểm mạnh, điểm yếu cũng như bồi đắp đam
    mê của bản thân mình trong các hoạt động đó; giúp người khác hiểu rõ hơn về chính bạn,
    đồng thời họ cũng sẽ chỉ ra những khía cạnh tích cực cũng như mặt hạn chế mà bạn chưa
    nhìn thấy về bản thân mình qua đó sẽ điều chỉnh thái độ và hành vi cho phù hợp.
    2.1.2.3.3. Tiến trình
    Hình thành kỹ năng tự nhận thức không thể trong “ngày một, ngày hai” mà đòi hỏi
    phải có cả quá trình: nhận thức – hình thành thái độ – thay đổi hành vi. Đây là một qua
    6
    trình mà mỗi yếu tố có thể là khởi đầu của một chu trình mới. Điều đó có nghĩa là có thể
    từ thay đổi thái độ dẫn đến mong muốn thay đổi nhận thức và hành vi, hoặc thay đổi hành
    vi tạo nên sự thay đổi nhận thức và thái độ.
    2.1.2.3.4. Thay đổi hành vi
    Mục đích cao nhất của việc hình thành kỹ năng tự nhận thức là giúp mỗi người
    thay đổi hành vi theo hướng tích cực, thúc đẩy sự thay đổi hay định hướng lại các giá trị,
    thái độ và hành động của mình. Thay đổi hành vi, thái độ và giá trị ở từng con người là
    một quá trình khó khăn, không đồng thời. Vì vậy, để hình thành kỹ năng tự nhận thức
    hiệu quả cần kiên trì chờ đợi và tổ chức các hoạt động liên tục để học sinh duy trì hành vi
    mới và có thói quen mới, tạo động lực cho học sinh điều chỉnh hoặc thay đổi giá trị, thái
    độ và những hành vi trước đó, thích nghi, chấp nhận các giá trị, thái độ và hành vi mới.
    2.1.2.3.5. Thời gian – môi trường giáo dục
    Việc hình thành kỹ năng tự nhận thức cần thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi và thực
    hiện càng sớm càng tốt. Giáo dục kỹ năng tự nhận thức được thực hiện trong gia đình,
    trong nhà trường và cộng đồng.
    2.1.3. Định hướng nghề nghiệp
    2.1.3.1. Quan niệm về định hướng nghề nghiệp
    Định hướng nghề nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học,
    sinh lý học, y học và nhiều lĩnh vực khoa học khác để học sinh chọn nghề thỏa mãn nhu
    cầu của xã hội, đồng thời thỏa mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với những năng lực, sở
    trường và tâm sinh lý của cá nhân nhằm phục vụ mục đích phân bổ và sử dụng hợp lý có
    hiệu quả lực lượng lao động dự trữ có sẵn của đất nước.
    2.1.3.2. Vai trò của định hướng nghề nghiệp cho học sinh THPT
    Định hướng nghề nghiệp đồng thời là định hướng tương lai, là khâu đầu tiên và
    quan trọng nhất trong quá trình lập nghiệp của bản thân mỗi người, là một trong những
    đòi hỏi cấp thiết đối với lứa tuổi học sinh THPT. Định hướng nghề nghiệp tốt sẽ giúp
    phân bổ nguồn nhân lực một cách hiệu quả, giúp giảm tải tình trạng thất nghiệp như hiện
    nay, giúp phát huy tối đa năng lực và phẩm chất của người lao động, phù hợp với yêu cầu
    phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, của địa phương, đáp ứng nhu cầu nâng cao chất
    lượng đào tạo nguồn nhân lực quốc gia, hội nhập khu vực và quốc tế. Muốn định hướng
    nghề nghiệp tốt ngoài các nhân tố ảnh hưởng mang tính khách quan thì yếu tố chủ quan
    giữ vai trò đặc biệt quan trọng, đó là mỗi học sinh phải tự nhận thức đúng về bản thân
    mình. Nói cách khác, hình thành kỹ năng tự nhận thức là một yêu cầu thiết yếu đối với
    bản thân mỗi học sinh THPT để giúp các bạn nhận ra được các giá trị sống, thông qua đó
    các bạn có thể định hướng nghề nghiệp một cách đúng đắn.
    Định hướng nghề nghiệp cho học sinh THPT tốt sẽ góp phần thực hiện đề án
    “Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông
    giai đoạn 2018 – 2025”.
    7
    2.2. Một số giải pháp giáo dục kỹ năng tự nhận thức góp phần định hướng nghề
    nghiệp cho học sinh THPT Mỹ Lộc
    Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng về giáo dục, hình thành kỹ năng tự
    nhận thức góp phần định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT Mỹ Lộc, tôi đề xuất tới
    nhà trường và bản thân đã tham gia thực hiện các nhóm giải pháp sau đây:

    NHÓM GIẢI PHÁP TỰ TRẢI
    NGHIỆM THÔNG QUA CÁC
    HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
    Hoạt
    động
    giữa
    Cha mẹ
    HS và
    HS
    Học tập
    các môn
    văn hóa
    Học nghề
    Kỹ
    NHÓM GIẢI PHÁP
    TỰ TRẢI NGHIỆM NGHỀ
    Trải
    nghiệm
    lao
    động
    thực sự
    Tham
    quan
    làng
    nghề, cơ
    sở sản
    xuất
    kinh
    doanh
    Cha mẹ
    đối với
    học sinh
    Học sinh
    đối với
    cha mẹ
    c

    Hoạt
    động
    giữa nhà
    trường
    và HS
    Đóng
    vai
    Tham gia
    trải
    nghiệm
    qua hoạt
    động GD
    ngoài giờ
    lên lớp
    năng tự nhận thứĐịnh hướng nghề nghiệp
    Sơ đồ nhóm giải pháp giáo dục kỹ năng tự nhận thức góp phần
    định hướng nghề nghiệp cho học sinh THPT Mỹ Lộc
    8
    2.2.1. Nhóm giải pháp tự trải nghiệm thông qua tham gia các hoạt động giáo dục để
    giáo dục kỹ năng tự nhận thức góp phần định hướng nghề nghiệp
    Kỹ năng tự nhận thức vừa mang tính xã hội vừa mang tính cá nhân. Vì vậy, việc
    giáo dục kỹ năng tự nhận thức cho học sinh THPT là một yêu cầu cấp thiết, phải được
    thực hiện thường xuyên trong quá trình học tập, lĩnh hội, rèn luyện trong suốt cả cuộc
    đời. Việc giáo dục kỹ năng tự nhận thức diễn ra cả trong và ngoài hệ thống giáo dục.
    Việc giáo dục kỹ năng tự nhận thức cần thực hiện ở mọi lúc mọi nơi (Nhà trường, gia
    đình, xã hội) và sự tham gia của các lực lượng xã hội (Thày cô giáo, cha mẹ, bạn bè, các
    tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường) và đặc biệt là quá trình tự trải nghiệm bản
    thân học sinh.
    2.2.1.1. Giáo dục kỹ năng tự nhận thức trên cơ sở tự trải nghiệm khi tham gia các hoạt
    động giáo dục của nhà trường
    Hiện nay, việc giáo dục kỹ năng tự nhận thức góp phần định hướng nghề nghiệp ở
    trường THPT chưa được tách thành một môn học riêng mà thường được lồng ghép, tích
    hợp qua các môn học trên lớp, qua các hoạt động giáo dục hướng nghiệp, hoạt động
    ngoài giờ lên lớp, qua các buổi sinh hoạt lớp, các buổi sinh hoạt đoàn. Vì vậy, cơ hội để
    giáo dục hướng dẫn học sinh thực hiện trải nghiệm quá trình hình thành kỹ năng tự nhận
    thức bản thân rất đa dạng.
    2.2.1.1.1. Giáo dục kỹ năng tự nhận thức thông qua trải nghiệm bản thân học sinh khi
    học tập các môn học văn hóa trong nhà trường

    HỌC TẬP CÁC MÔN VĂN HÓA
    CÁC MÔN TÁC ĐỘNG TRỰC
    TIẾP
    CÁC MÔN KHÁC
    GDCD
    LỚP
    10,11,12
    ĐỊA LÝ
    LỚP 12
    CÔNG
    NGHỆ
    LỚP 10
    SINH
    HỌC
    LỚP 11
    PHIẾU ĐỊNH HƯỚNG

    ĐÁNH GIÁ CHUNG
    9
    Mục tiêu:
    Thông qua việc học tập các môn học trên lớp với các phương pháp học tập tích
    cực, trên nền tảng kiến thức khoa học được lĩnh hội, học sinh dần nhận thức được điểm
    mạnh, điểm yếu của bản thân từ đó sẽ có biện pháp phát huy điểm mạnh, khắc phục
    những điểm yếu góp phần định hướng nghề nghiệp thực hiện ước mơ của bản thân mình.
    Cách thức tiến hành:
    Hướng dẫn học sinh chủ động tích cực học tập các môn văn hóa trong nhà trường
    phổ thông từ lớp 10 đến lớp 12
    Tôi cùng trao đổi với giáo viên giảng dạy mỗi bộ môn có liên quan xây dựng
    phiếu định hướng kỹ năng tự nhận thức góp phần định hướng nghề nghiệp thông qua
    nghiên cứu nội dung các bài học. Phiếu định hướng này được học sinh hoàn thiện trong
    quá trình học tập tiếp cận kiến thức khoa học.
    Thứ nhất, thông qua môn Giáo dục công dân
    Bộ môn giáo dục công dân có rất nhiều địa chỉ để tích hợp kỹ năng tự nhận thức
    bản thân từ đó góp phần định hướng nghề nghiệp. Môn GDCD là môn học đề cập và giải
    quyết một cách toàn diện hệ thống tri thức cơ bản, cần thiết của một công dân Việt Nam
    trong thời đại mới bao hàm từ những cái gần gũi thiết thực trong đời thường cá nhân,
    công dân, gia đình, xã hội… đến những vấn đề lớn hơn như quốc gia, nhân loại; vừa
    mang tính lí luận vừa mang tính thực tiễn đồng thời mang tính định hướng sâu sắc. Vì
    vậy học tập, nghiên cứu bộ môn này sẽ giúp học sinh có cái nhìn đúng đắn hơn về bản
    thân mình trong mối tương quan với cộng đồng, phù hợp với luật pháp Việt Nam và quốc
    tế.
    Cụ thể:
    Đối với chương trình lớp 10, trên cơ sở học sinh được hình thành thế giới quan và
    phương pháp luận cùng với những chuẩn mực đạo đức tiến bộ của xã hội từ đó các bạn
    có cách nhìn nhận và tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với những quan niệm,
    những chuẩn mực đạo đức tiến bộ của xã hội.
    Qua toàn bộ nội dung kiến thức lớp 10, bản thân tôi và cô giáo Nguyễn Thị Hằng đã xây
    dựng phiếu định hướng nhận thức bản thân sau khi học xong bài 16 và tiết học thực hành,
    ngoại khóa cuối năm học. Chúng tôi đã lập thành hai phiếu: một phiếu tự đánh giá về bản
    thân và một phiếu do các bạn trong lớp đánh giá về mình (thông qua tổ chức trò chơi:
    Sơ đồ giải pháp giáo dục kỹ năng tự nhận thức góp phần định hướng nghề nghiệp
    thông qua học tập các môn học văn hóa trong nhà trường.
    10
    NHẬN THỨC VỀ BẢN THÂN) để học sinh có thể nhận thức đúng đắn hơn về bản thân,
    từ đó điều chỉnh hành vi và định hướng nghề nghiệp.
    PHIẾU ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC BẠN VỀ BẢN THÂN

    Bài họcĐiểm mạnh của bạnĐiểm yếu của bạn
    Bài 16. Tự hoàn thiện bản
    thân

    PHIẾU ĐỊNH HƯỚNG TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN GÓP PHẦN ĐỊNH HƯỚNG
    NGHỀ NGHIỆP MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10

    Bài họcNội dung
    kiến thức
    lĩnh hội
    Điểm mạnh
    của bạn
    Điểm yếu
    của bạn
    Điều chỉnh
    hành vi
    Định hướng
    nghề nghiệp
    Bài 16. Tự
    hoàn thiện
    bản thân

    Sau đó, chúng tôi tổ chức cho học sinh tự đối chiếu so sánh giữa hai phiếu để thấy
    được điểm giống và khác nhau. Nhờ sự tự đánh giá và soi mình trong đánh giá của các
    bạn mà nhiều học sinh đã nhận thức đúng hơn về bản thân mình và bắt đầu có sự điều
    chỉnh thái độ hành vi và định hướng nghề nghiệp. Ví dụ, có học sinh xác định điểm mạnh
    của mình là khả năng thuyết trình tốt và có thiên hướng lựa chọn ngành sư phạm nhưng
    các bạn lại chỉ ra điểm yếu của học sinh đó là thiếu sự kiên nhẫn vì vậy bạn đã có kế
    hoạch để rèn luyện tính kiên nhẫn để tiếp tục theo đuổi ước mơ.
    Đối với chương trình lớp 11, học sinh được tìm hiểu các quy luật kinh tế cơ bản,
    các thành phần kinh tế, cũng như tính tất yếu khách quan của quá trình công nghiệp hóa
    hiện đại hóa đất nước và các chính sách của Đảng, của nhà nước. Trên cơ sở đó giúp học
    sinh có thể xác định được phương hướng học tập, lựa chọn ngành, nghề hoặc các lĩnh vực
    hoạt động khác khi ra trường; xác định được trách nhiệm của công dân đối với sự nghiệp
    xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
    Cũng như khi học chương trình lớp 10, đối với chương trình lớp 11, tôi đã cùng với cô
    Nguyễn Thị Hằng cũng xây dựng phiếu định hướng nghề nghiệp chủ yếu thông qua phần
    Công dân với kinh tế
    PHIẾU ĐỊNH HƯỚNG HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TỰ NHẬN THỨC GÓP PHẦN
    ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP ĐỐI VỚI HỌC SINH LỚP 11 THÔNG QUA BỘ
    MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN

    Chương/ bàiNội dung kiến
    thức lĩnh hội
    Xu thế phát
    triển kinh tế ở
    địa phương
    Các trung tâm
    kinh tế lớn
    trong nước
    Định hướng
    nghề nghiệp

    11

    Công dân với
    kinh tế

    Thông qua phiếu định hướng nghề nghiệp trên, các học sinh phải thực hiện việc
    tìm hiểu các làng nghề truyền thống ở địa phương, các vùng lân cận và xu thế phát triển
    của các ngành nghề đó đồng thời phải tìm hiểu về các ngành nghề ở các trung tâm kinh tế
    lớn của cả nước và xu thế phát triển của thời đại.Qua đó, các em học sinh đã bước đầu
    hình thành được định hướng nghề nghiệp trong tương lai phù hợp với bản thân, gia đình,
    quê hương, đất nước và thời đại. Ví dụ: Một số đã có ý định học nghề và phát triển chính
    ngành nghề tại địa phương mình, ngành nghề truyền thống của gia đình. Bên cạnh đó
    nhiều bạn có xu hướng theo học các trường đại học và có ý định làm việc tại các trung
    tâm kinh tế lớn trong nước: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,…
    Đối với chương trình lớp 12, trên cơ sở kiến thức được lĩnh hội những hiểu biết cơ
    bản về bản chất, vai trò và nội dung của pháp luật trong một số lĩnh vực của đời sống xã
    hội giúp học sinh có thể chủ động, tự giác điều chỉnh hành vi của cá nhân và đánh giá
    được hành vi của người khác theo quyền và nghĩa vụ của công dân trong giai đoạn xây
    dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ đó, học sinh có những nhận
    thức đúng đắn về bản thân và định hướng nghề nghiệp phù hợp với quy định của pháp
    luật
    PHIẾU ĐỊNH HƯỚNG TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN GÓP PHẦN ĐỊNH HƯỚNG
    NGHỀ NGHIỆP THÔNG QUA MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12

    Nội dungKiến thức lĩnh
    hội
    Tự nhận thức
    bản thân
    Điều chỉnh
    hành vi
    Định hướng
    nghề nghiệp
    Phần công dân
    với pháp luật

    Qua phiếu định hướng hoạt động học tập môn giáo dục công dân, tôi thấy các em
    học sinh đã nhận thức được vai trò quan trọng của pháp luật đối với nhà nước, đối với
    bản thân, là công cụ hữu hiệu để nhà nước quản lý xã hội đồng thời là phương tiện để
    công dân thực hiện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Từ đó, học sinh lớp 12
    có thể tự nhận thức, tự đều chỉnh hành vi góp phần định hướng nghề nghiệp phù hợp với
    những quy định của pháp luật, lựa chọn những ngành nghề, những lĩnh vực mà pháp luật
    không cấm.
    Thứ hai, thông qua bộ môn sinh học lớp 11:
    Bên cạnh rất nhiều nội dung hữu ích giúp học sinh lĩnh hội tri thức khoa học và
    hình thành các kỹ năng cần thiết thì nội dung chương III phần B – Sinh trưởng và phát
    triển ở động vật và chương IV phần B – Sinh sản ở động vật đóng vai trò đặc biệt
    quan trọng trong giáo dục kỹ năng biết tự chăm sóc và bảo vệ bản thân và kỹ năng tự
    nhận thức (về bản thân cơ thể mình cũng như biện pháp để nâng cao thể trạng cũng như
    12
    bảo vệ chính sức khỏe của bản thân) qua đó đảm bảo được cơ sở cần thiết để định hướng
    nghề nghiệp cũng như thực hiện được ước mơ của bản thân mình bởi vì “có sức khỏe sẽ
    có tất cả, không có sức khỏe là không có gì”.
    Để học sinh có thể tiếp cận được các kỹ năng này qua nội dung kiến thức trên thì
    tôi đã trao đổi với các cô giáo bộ môn sinh học lớp 11 của trường THPT Mỹ Lộc đó là cô
    Lê Thị Thanh Hương, cô Ngô Thị Mỹ Hằng và cô Vũ Thị Nga Qua trao đổi, các cô đã
    đồng ý với cách làm mà tôi đề xuất và tiến hành triển khai đối với toàn bộ học sinh khối
    11 từ năm học 2017 – 2018 ở trường THPT Mỹ Lộc.
    PHIẾU ĐỊNH HƯỚNG KỸ NĂNG TỰ NHẬN THỨC GÓP PHẦN ĐỊNH HƯỚNG
    NGHỀ NGHIỆP THÔNG QUA BỘ MÔN SINH HỌC LỚP 11

    Bài họcNội dung kiến
    thức lĩnh hội
    Tự nhận thức
    bản thân
    Điều chỉnh
    hành vi
    Định hướng
    nghề nghiệp
    Bài 38 và 39.
    Các nhân tố
    ảnh hưởng đến
    sinh trưởng và
    phát triển.
    Bài 47. Điều
    khiển sinh sản
    ở động vật và
    sinh đẻ có kế
    hoạch.

    Sau khi học xong bài 38, 39. Các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển
    ở động vật và bài 47. Điều khiển sinh sản ở động vật và sinh đẻ có kế hoạch ở người, với
    các phương pháp dạy học tích cực trong đó học sinh là chủ thể nghiên cứu và lĩnh hội
    kiến thức, hầu hết học sinh đã hiểu rõ hơn về cấu tạo cơ thể của mình cũng như sự thay
    đổi về tâm sinh lý của lứa tuổi THPT, hiểu rõ về các nhân tố ảnh hưởng đến sự sinh
    trưởng và phát triển của bản thân. Bên cạnh các nhân tố bên trong như yếu tố di truyền và
    các hooc – môn tăng trưởng thì các nhân tố bên ngoài như thức ăn, nhiệt độ, ánh sáng,
    thói quen vận động sinh hoạt góp phần không nhỏ vào đến sự sinh trưởng và phát triển
    của động vật nói chung và con người nói riêng. Hiểu được điều đó, bản thân học sinh đã
    nhận thức được sự thay đổi cơ thể của mình đến tuổi dậy thì, cũng như cách thức chăm
    sóc bản thân mình (chế độ dinh dưỡng hợp lý, tăng cường luyện tập thể dục thể thao) để
    đạt được chiểu cao tối ưu cũng như đảm bảo sức khỏe và biết cách bảo vệ bản thân
    (phòng tránh quan hệ tình dục trước hôn nhân, các biện pháp tránh thai an toàn, không sử
    dụng các chất kích thích, các chất gây nghiện) để có thể học tập tham gia hoạt động cộng
    đồng, định hướng cho nghề nghiệp tương lai. Nhiều học sinh xác định được ưu thế về sức
    khỏe, chiều cao, dáng vẻ bên ngoài của mình phù hợp với các ngành nghề ưu thế có liên
    quan như: thể dục thể thao, diễn viên, công an, quân đội. Một số em khác khi tìm hiểu về
    thực trạng của sự sinh trưởng và phát triển của động vật đã có khát vọng mong muốn tìm
    13
    hiểu sâu hơn nữa để phát triển nghề chăn nuôi ở chính gia đình mình. Một số khác lại mơ
    ước thành chuyên gia tư vấn dinh dưỡng để góp phần cải thiện giống nòi Việt Nam.
    Thứ ba, với môn công nghệ lớp 10:
    Công nghệ lớp 10 là môn học có nhiều ưu thế để các em học sinh có thể tìm hiểu
    và trải nghiệm để nhận thức sâu sắc hơn về bản thân mình, tạo dựng những cơ sở cần
    thiết cho sự lựa chọn ngành nghề trong tương lai. Đây là môn học thuộc lĩnh vực khoa
    học ứng dụng, nghiên cứu việc vận dụng các quy luật tự nhiên và các nguyên lí khoa học
    nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của con người. Chương
    trình công nghệ lớp 10 giúp các bạn học sinh làm quen với một số ứng dụng của công
    nghệ sinh học, hóa học, kinh tế học… trong các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, lâm
    nghiệp, ngư nghiệp, bảo quản , chế biến sản phẩm sau thu hoạch và trong tạo lập doanh
    nghiệp từ đó tác động đến niềm đam mê và sự định hướng nghề nghiệp trong tương lai.
    Xác định vấn đề đó, tôi cũng đã gặp gỡ và trao đổi với cô Vũ Thị Thu Quế – giáo viên
    trực tiếp giảng dạy môn công nghệ lớp 10 và nhận được sự ủng hộ tích cực từ cô và toàn
    bộ các bạn học sinh khối lớp 10 từ năm học 2017 – 2018.
    PHIẾU ĐỊNH HƯỚNG KỸ NĂNG TỰ NHẬN THỨC GÓP PHẦN
    ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP QUA MÔN CÔNG NGHỆ LỚP 10

    Chương, bàiNội dung
    kiến thức
    lĩnh hội
    Bạn hứng
    thú với lĩnh
    vực nào
    Bạn có khả
    năng thực
    hành tốt nội
    dung nào
    Triển vọng
    của lĩnh vực
    đó trong xã
    hội hiện nay.
    Định hướng
    nghề nghiệp
    của bạn trong
    tương lai
    Phần sản xuất
    nông lâm ngư
    nghiệp.
    Phần bảo
    quản chế biến
    các sản nông
    lâm ngư
    nghiệp.
    Phần tạo lập
    doanh nghiệp.

    Qua thống kê và trao đổi trực tiếp với cô giáo bộ môn và các em học sinh sau khi
    hoàn thành nhiệm vụ học tập và phiếu định hướng, tôi nhận thất mặc dù là lớp đầu cấp
    nhưng với sự định hướng trong quá trình học tập và nội dung chương trình gần gũi với
    thực tế, nên học sinh đã xác định được nội dung kiến thức và kỹ năng của bộ môn. Đa số
    các em đã nắm bắt một cách cơ bản nhất về đặc điểm của các lĩnh vực kinh tế, các
    phương pháp để nâng cao năng suất lao động, tạo ra sản phẩm có chất lượng, phục vụ thị
    trường. Nhiều em đã thực sự hứng thú say mê và có khả năng thực hành tốt một số lĩnh
    vực. Các em đã bước đầu nhận thức đúng về đam mê cũng như các ưu thế của mình qua
    14
    học tập và trải nghiệm môn công nghệ trên thực tế.Ví dụ: Một số em đã biết vận dụng các
    kiến thức để ngâm, ủ hạt giống, cải tạo đất ở gia đình mình, số khác đã nghĩ đến sáng
    kiến trồng rau sạch để kinh doanh; chế biến các loại siro, làm bánh, làm sữa chua; sữa
    đậu nành, các loại sữa từ rau, củ quả (ngô, bí ngô, gạo, khoai lang…) chiết xuất dầu
    dừa… để phục vụ bản thân và bán ra thị trường theo hình thức khởi nghiệp tầm vi mô.
    Một số học sinh đã nhận thức nông, lâm ngư nghiệp là một lĩnh vực nhiều tiềm năng
    được nhà nước quan tâm và gia đình có điều kiện để phát triển nên đã lựa chọn lĩnh vực
    này làm định hướng nghề nghiệp cho bản thân với ước mơ làm đầu bếp giỏi, làm kỹ sư
    nông nghiệp đem công nghệ mới về xây dựng mô hình nông thôn mới ở địa phương;
    hoặc trở thành một doanh nhân…; Đặc biệt với các học sinh có lực học trung bình, hoặc
    trung bình yếu, kết hợp với nghề nghiệp truyền thống gia đình, các em đã có những dự
    định trong tương lai như đi học nghề nấu ăn, nghề chế biến lâm sản, thủy sản, hoặc sau
    này sẽ dùng kiến thức đã học trong môn công nghệ để tham gia sản xuất tại địa phương
    mình với mô hình tự kinh doanh trên quy mô nhỏ, hình thành các doanh nghiệp nhỏ. Khi
    được hỏi “các em có dừng lại ở mục tiêu này không?” thì hầu hết các em đều cho rằng đó
    mới chỉ là bước khởi đầu. Trong quá trình học tập và sau này ra trường các em vừa tiếp
    tục học tập để cập nhật các công nghệ hiện đại vừa tích lũy kinh nghiệm trong thực tế để
    phát triển, tránh tụt hậu so với bạn bè và xã hội.
    Như vậy, thông qua các bài học này, các em đã bắt đầu nhận thức bản thân mình đúng
    đắn hơn, biết được mình có khả năng thực tế nào chứ không chỉ dừng lại ở sách vở, kiểm
    chứng được những hứng thú của mình đối với các hoạt động thực tiễn và quan trọng hơn,
    nhiều học sinh đã có định hướng nghề nghiệp đúng đắn cho mình mà không nhất thiết
    phải thông qua con đường đại học.
    Thứ tư, với môn Địa lí lớp 12:
    Môn Địa lí cũng là một môn học đề cập đến nhiều vấn đề liên quan tới việc làm và
    định hướng nghề nghiệp, nhận thấy điều đó, tôi đã gặp gỡ và trao đổi với các cô trong
    nhóm Địa lí của nhà trường (cô Phạm Thị Thu Quế, cô Đinh Thị Phương Lan, cô Vũ Thị
    Hảo). Trong đó, cô Đinh Thị Phương Lan đã có sáng kiến kinh nghiệm về “Hướng
    nghiệp cho học sinh khối 12 – trường THPT Mỹ Lộc trong giai đoạn hiện nay khi dạy bài
    17: Lao động và việc làm” năm học 2015-2016 đã được Hội đồng khoa học sở Giáo dục
    và Đào tạo Nam Định đánh giá cao. Đây là môn học vừa thuộc lĩnh vực khoa học xã hội (
    Địa lí kinh tế – xã hội) vừa thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên (Địa lí tự nhiên), từ đó giúp
    học sinh nắm được những đặc điểm tổng quát của khoa học Địa lý, các ngành nghề có
    liên quan đến địa lý, khả năng ứng dụng kiến thức địa lý trong đời sống; đồng thời, củng
    cố và mở rộng nền tảng tri thức, kỹ năng phổ thông cốt lõi đã được hình thành ở giai
    đoạn giáo dục cơ bản, tạo cơ sở vững chắc giúp học sinh tiếp tục theo học các ngành
    thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn và tạo điều kiện thuận lợi để người học hình
    thành kỹ năng tự nhận thức góp phần định hướng đúng trong việc lựa chọn một số ngành
    nghề liên quan.Qua trao đổi, và được sự đồng ý của nhà trường, các cô đã cùng với tôi

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Giải pháp tổ chức hiệu quả các hoạt động trải nghiệm cho học sinh THPT trong bối cảnh dịch Covd-19

    SKKN Giải pháp tổ chức hiệu quả các hoạt động trải nghiệm cho học sinh THPT trong bối cảnh dịch Covd-19

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Yêu cầu đổi mới trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể
    Theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2016 của Bộ Giáo dục
    và Đào tạo ban hành chương trình giáo dục phổ thông, trong số các hoạt động giáo
    dục bắt buộc trong chương trình chính khóa có các hoạt động: Giáo dục tập thể,
    giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục nghề phổ thông. Tiếp
    cận chương trình giáo dục phổ thông mới ban hành kèm theo thông tư số
    31/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hoạt động
    giáo dục ngoài giờ lên lớp được triển khai theo hướng trải nghiệm sáng tạo. Hoạt
    động trải nghiệm, hướng nghiệp trở thành một hoạt động giáo dục bắt buộc từ lớp
    1 đến lớp 12, là sự tích hợp các hoạt động: Giáo dục tập thể, giáo dục hướng
    nghiệp, giáo dục nghề phổ thông. Theo đó, việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm
    trong các nhà trường phổ thông cần phải thay đổi từ quan niệm đến cách tổ chức,
    từ nội dung đến hình thức, từ quá trình thực hiện đến cách đánh giá kết quả.
    2. Yêu cầu đổi mới trong thực tế triển khai hoạt động trải nghiệm
    Thực tế, việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho học sinh THPT sao cho
    hiệu quả là một thử thách! Để thu hút học sinh và đạt được mục tiêu giáo dục, hoạt
    động trải nghiệm vừa phải phù hợp với nguyện vọng chính đáng của các em, vừa
    mang ý nghĩa giáo dục; vừa kế thừa vừa đổi mới. Giáo viên có thể già đi theo năm
    tháng nhưng lứa tuổi học trò thì luôn luôn tươi trẻ; cái nhìn của giáo viên có thể ổn
    định dần theo tuổi tác nhưng cách nhìn nhận của mỗi thế hệ học trò không bao giờ
    có mẫu số chung. Thế nên, người làm công tác tổ chức hoạt động trải nghiệm luôn
    phải tự làm mới mình, làm mới cách nhìn của mình, làm mới hình thức tổ chức
    hoạt động của mình.
    3. Sự thay đổi về yêu cầu tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho học sinh và
    mong muốn lan tỏa cảm hứng tích cực trong bối cảnh dịch Covid-19
    Một trong những điểm thu hút của các hoạt động Đoàn trong nhà trường là
    tạo ra môi trường hoạt động tập thể để học sinh có sân chơi lành mạnh, vui vẻ, qua
    đó có thể tương tác, phát triển kĩ năng. Nhưng diễn biến phức tạp của dịch Covid-
    19 đã khiến các hoạt động tập trung đông người bị hạn chế hoặc dừng hẳn.Việc
    Giải pháp tổ chức hiệu quả các hoạt động trải nghiệm cho học sinh THPT
    trong bối cảnh dịch Covid-19
    2
    học sinh nghỉ học để phòng, chống dịch đã khiến các em không trực tiếp gặp gỡ,
    kết nối. Trong thời gian đi học trở lại, các em vừa đi học vừa phòng dịch.
    Thời gian dịch Covid-19 xuất hiện tại các tỉnh, thành trong cả nước, hoạt
    động của câu lạc bộ, chuyên mục của các khối lớp vốn là niềm vui của các em sau
    mỗi giờ học chiều đã tạm dừng. Giờ chào cờ tập trung dưới sân trường đã được
    thay bằng tiết chào cờ tại các lớp. Những ngày đến trường trong mùa dịch vì thế
    mà cũng vơi đi không ít hào hứng.
    Dịch Covid-19 còn diễn biến khó lường và tiềm ẩn nguy cơ bùng phát ở
    nước ta bất cứ lúc nào. Mỗi ngày đến lớp của các em có thể chỉ học theo thời khóa
    biểu và ra về trong sự đề phòng, cảnh giác nguy cơ bệnh dịch.Những chương trình
    chuyên mục khối, những đấu trường trí tuệ, những cuộc thi ứng xử trong kế hoạch
    hoạt động Đoàn – những hoạt động mà các em luôn mong đợi đang đứng trước
    nguy cơ phải dừng lại vô thời hạn. Các buổi sinh hoạt dưới cờ tại lớpcó thể sẽ trở
    thành các buổi thông báo các thủ tục hành chính đơn thuần.
    Sáng kiến “Giải pháp tổ chức hiệu quả các hoạt động trải nghiệm cho học
    sinh THPT trong bối cảnh dịch Covid-19” ra đời nhằm mục đích:
    – Giáo viên và học sinh toàn trường có thể linh hoạt tham giacác hoạt động
    trải nghiệm ở phạm vi tập thể lớp hoặc phạm vi cá nhân, khi đi học hoặc khi nghỉ
    để phòng, chống dịch, đảm bảo yêu cầu tránh tập trung đông người.
    – Tổ chức hiệu quả các chương trình nhằmtạo động lực học tập, tinh thần
    phấn chấn cho giáo viên và học sinh toàn trường trong tình hình dịch diễn biến
    phức tạp.
    – Nhiều nội dung trong kế hoạch hoạt động của Đoàn trường, của nhà trường
    được tiếp tục thực hiện với cách thức tổ chức phù hợp với quy định, khuyến cáo
    của các cấp, các ngành.
    – Dịch Covid-19 tạo ra không ít khó khăn nhưng sẽ là cơ hội để cán bộ, giáo
    viên, học sinh của nhà trường phát huy tinh thần tiên phong, sáng tạo, đoàn kết,
    sẵn sàng thích nghi mọi hoàn cảnh.
    Giải pháp tổ chức hiệu quả các hoạt động trải nghiệm cho học sinh THPT
    trong bối cảnh dịch Covid-19
    3
    B. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    I. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    1. Thực tế triển khai các hoạt động trải nghiệm khi bắt đầu xuất hiện dịch
    Covid-19
    1.1. Hoạt động sinh hoạt dưới cờ
    * Nội dung
    – Ổn định tổ chức
    – Nghi thức chào cờ.
    – Tổng kết tình hình thực hiện nề nếp và học tập của toàn trường, kết quả thi
    đua của lớp trong tuần vừa qua
    – Hướng dẫn triển khai một số hoạt động của trường và của lớp trong tuần
    học mới
    * Hình thức tổ chức
    – Thời gian:
    + Nếu học sinh nghỉ học, nhiều trường không tổ chức chào cờ. Một số rất ít
    các trường tổ chức chào cờ online qua Zoom nhưng không thường xuyên.
    + Nếu học sinh đi học thì 07h00 sáng thứ 2 đầu tuần, đồng loạt các lớp tổ
    chức sinh hoạt dưới cờ theo công văn chỉ đạo của Sở GD&ĐT.
    – Địa điểm: Để đảm bảo giãn cách xã hội, các lớp tổ chức chào cờ tại phòng
    học của lớp mình.
    * Giải pháp thực hiện:
    – Lãnh đạo nhà trường chỉ đạo, định hướng nội dung, lên lịch thực hiện.
    Đoàn thanh niên hỗ trợ cung cấp thông tin tổng kết thi đua hàng tuần.
    – Chương trình diễn ra dưới hình thức truyền thụ một chiều:Giáo viên chủ
    nhiệm đóng vai trò chủ đạo, là người cập nhật văn bản từ các tổ chức trong nhà
    trường, thông báo, triển khai hoạt động tới học sinh. Học sinh lắng nghe, nắm bắt
    thông tin.
    1.2. Hoạt động sinh hoạt lớp
    * Nội dung
    – Ổn định tổ chức.
    Giải pháp tổ chức hiệu quả các hoạt động trải nghiệm cho học sinh THPT
    trong bối cảnh dịch Covid-19
    4
    – Tổng kết, đánh giátình hình thực hiện nề nếp và học tập của lớp trong tuần
    vừa qua.
    – Thông báo kế hoạch một số hoạt động của trường và của lớp trong tuần
    học mới.
    – Để đảm bảo yêu cầu phòng, chống dịch, các lớp dừng hẳn hoặc hạn chế tổ
    chức các hoạt động liên hoan, trò chơi giao lưu trong giờ sinh hoạt lớp.
    * Hình thức tổ chức
    – Thời gian:
    + Nếu học sinh nghỉ học, rất nhiều trường không tổ chức sinh hoạt lớp. Rất
    ít trường tổ chức sinh hoạt lớp online qua Zoom và tần suấtkhông thường xuyên.
    + Nếu học sinh đi học thì tiết 5 thứ 7, đồng loạt các lớp tổ chức sinh hoạt lớp.
    – Địa điểm: Các lớp tổ chức sinh hoạt tại phòng học của lớp mình.
    * Giải pháp thực hiện:
    – Lãnh đạo nhà trường chỉ đạo, định hướng nội dung, lên lịch thực hiện.
    – Chương trình diễn ra dưới hình thức truyền thụ:
    + Giáo viên chủ nhiệm đóng vai trò chủ đạo, là người cập nhật văn bản từ
    các tổ chức trong nhà trường, thông báo, triển khai hoạt động tới học sinh. Học
    sinh lắng nghe, nắm bắt thông tin.
    + Ở một số lớp, lớp trưởng là người tổng hợp kết quả học tập và tình hình
    thực hiện nề nếp qua sổ theo dõivà cũng là người thông báo kết quả đó trong giờ
    sinh hoạt lớp.Giáo viên chủ nhiệm là người đánh giá, phân tích, định hướng giải
    pháp cho học sinh.
    1.3. Hoạt động trải nghiệm sau giờ học
    Các hoạt động diễn ra sau giờ học của học sinh chủ yếu là các hoạt động văn
    hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, hoạt động câu lạc bộ, các chuyến thực địa, việc
    chuẩn bị chương trình cho các ngày lễ lớn, chuẩn bị lễ tri ân và trưởng thành.
    – Khi học sinh nghỉ học và thực hiện giãn cách xã hội, các hoạt động này
    dừng hẳn.
    – Khi học sinh đi học trở lại, trong bối cảnh học sinh tới trường phải đeo
    khẩu trang và thực hiện nghiêm ngặt việc cấm tập trung đông người, giữ khoảng
    Giải pháp tổ chức hiệu quả các hoạt động trải nghiệm cho học sinh THPT
    trong bối cảnh dịch Covid-19
    5
    cách an toàn, các hoạt động trải nghiệm sau giờ học cũng không được tổ chức để
    hạn chế việc tiếp xúc trực tiếp/gián tiếp giữa người – người.
    2. Đánh giá các giải pháp thực hiện trước khi có sáng kiến
    – Về thời lượng, tần suất tổ chức các hoạt động trải nghiệm:
    Rõ ràng, dịch Covid-19 với diễn biến phức tạp của nó đã khiến học sinh bị
    mất đi cơ hội được tham gia các hoạt động trải nghiệm. Tổ chức để học sinh đi học
    an toàn đã là đáng quý. Các hoạt động trải nghiệm đã bị lược bỏ đi hầu hết trong kế
    hoạch hoạt động của nhà trường thời Covid, chỉ giữ lại nội dung tối thiểu, cơ bản
    nhất là hoạt động sinh hoạt dưới cờ và sinh hoạt lớp. Như vậy, các hoạt động khác,
    dù vẫn là mong mỏi của học sinh và là hình thức giáo dục hiệu quả nhưng lại
    không thể triển khai.
    – Vai trò của học sinh:
    Vốn dĩ, tính chất của hoạt động trải nghiệm trong nhà trườnglà học sinh
    đóng vai trò chủ thể tham gia vào thực tiễn dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
    + Khi người học bị hạn chế tiếp xúc với những người khác thì việc trải
    nghiệm cùng tập thể không thể diễn ra. Điều này đòi hỏi cách thức tổ chức hoạt
    động phải khai thác được việc học sinh làm việc cá nhân mà vẫn hiệu quả.
    + Các tiết sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt cuối tuần ở các lớp, nếu chỉ đơn thuần
    diễn ra việc thông báo thì các tiết này mang nặng tính hành chính – công vụ, học
    sinh cũng sẽ chỉ là người thụ động nghe và tiếp nhận, không có cơ hội phát huy vai
    trò chủ thể của mình.
    – Số lượng tham gia:
    + Khi học sinh đi học, các em tham gia theo quy mô lớp và thực hiện lịch
    sinh hoạt theo thời khóa biểu của nhà trường. Tuy nhiên chỉ có giáo viên chủ
    nhiệm tham gia cùng các em theo đúng trách nhiệm mình được phân công, còn các
    thành viên khác trong hội đồng giáo dục của nhà trường gần như không tham gia
    vào các lịch sinh hoạt này của học sinh
    + Khi các em nghỉ học, kể cả đối với các trường tổ chức được chào cờ, sinh
    hoạt lớp online thì cũng khó có thể kiểm soát được số lượng và chất lượng tham
    gia của học sinh, điều này bị lệ thuộc vào sự tự giác của các em. Mà muốn các em
    Giải pháp tổ chức hiệu quả các hoạt động trải nghiệm cho học sinh THPT
    trong bối cảnh dịch Covid-19
    6
    tự giác, giải pháp lâu dài nhất vẫn phải là thiết kế nội dung, hình thức hoạt động
    sao cho hay, làm cho các em thích, các em có nhu cầu tham gia. Mục tiêu giáo dục
    vì thế mới có thể đạt được.
    – Về nội dung chương trình:
    Thời lượng dành cho tiết sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt cuối tuầnlà 45
    phút/tiết.Trong bối cảnh không có dịch, trước đây tiết sinh hoạt dưới cờ do các tổ
    chức trong nhà trường, đặc biệt là Đoàn thanh niên của trường đảm nhiệm. Giáo
    viên chủ nhiệm chỉ phải tập trung cho chương trình sinh hoạt lớp.
    Trong bối cảnh mới, các thầy cô chủ nhiệm phải tổ chức sinh hoạt lớp vào
    tiết 5 thứ Bảy và tiếp tục tổ chức chào cờ tại lớp vào tiết 1 thứ Hai của tuần tiếp
    theo. Các thầy cô gặp nhiều khó khăn trong việc thiết kế nội dung chương trìnhđể
    vừa không trùng lặp lại vừa hấp dẫn.
    II.Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    Căn cứ vào thực tế triển khai, căn cứ vào sự phân loại các hoạt động trải
    nghiệm trong nhà trường theo các thời điểm trong ngày, chúng tôi đề xuất các giải
    pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm cho học sinh trong mùa dịch Covid-19 như sau:
    1. Đổi mới hình thức tổ chức các hoạt động sinh hoạt dưới cờ
    1.1. Tổ chức hoạt động chào cờ trực tuyến
    1.1.1. Bố cục nội dung
    Chương trình chào cờ trực tuyến được thực hiện với bố cục nội dung như sau:
    – Phần 1: Nghi thức chào cờ.
    – Phần 2: Phóng sự về các hoạt động nổi bật của nhà trường trong tuần vừa
    qua, tổng kết thi đua của các lớp trực tuần.
    – Phần 3: Phóng sự chuyên đề hoặc Chuyên mục học sinh.
    + Phóng sự chuyên đề được Ban chấp hành đoàn trường hoặc câu lạc bộ
    truyền thông của nhà trường thực hiện xoay quanh các chủ đề mang tính giáo dục,
    truyền thông cho công tác phòng, chống dịch Covid-19 của nhà trường như:
    Chuyên đề Công tác phòng, chống dịch trong trường và khu nội trú khi học sinh
    nghỉ học; Chuyên đề Đánh giá kết quả dạy và học online trong mùa dịch.
    Giải pháp tổ chức hiệu quả các hoạt động trải nghiệm cho học sinh THPT
    trong bối cảnh dịch Covid-19
    7
    + Chuyên mục của các khối lớp được thực hiện dưới hình thức online, xoay
    quanh các chủ đề: Thi Lăng kính khoa học (Ban chấp hành Đoàn trường và câu lạc
    bộ truyền thông), Bảo vệ môi trường (Khối chuyên Toán), Hưởng ứng ngày sách
    (Khối chuyên Văn), Kỉ niệm ngày sinh nhật Bác (Khối chuyên Hóa)…
    Hình ảnh nghi thức chào cờ xuất hiện trong chương trình
    Chào cờ trực tuyến
    1.1.2. Cách tổ chức
    – Chương trình được xuất bản dưới dạng video, thời lượng từ 30 – 40 phút.
    – Khi học sinh đi học, chào cờ tạo lớp, chương trình được phát đồng loạt
    tại tất cả các lớptrong trường thông qua hệ thống máy chiếu, tivi có kết nối
    internet lúc 07h00 sáng thứ 2 hàng tuầnvà phát lại trên kênh youtube, fanpage
    chính thức của nhà trường.
    – Khi học sinh nghỉ học để phòng, chống dịch, chương trình được xuất bản
    vào 07h00 sáng thứ 2 hàng tuần trên kênh youtube, fanpage chính thức của nhà
    trường.
    Giải pháp tổ chức hiệu quả các hoạt động trải nghiệm cho học sinh THPT
    trong bối cảnh dịch Covid-19
    8
    Học sinh thực hiện nghi thức chào cờ tại lớp
    (ghi hình ngày 16.3.2020)
    1.1.3. Giải pháp thực hiện
    * Xây dựng kịch bản và triển khai thực hiện nội dung
    Với mục đích và bố cục nội dung chương trình như trên, hàng tuần, chương
    trình chào cờ trực tuyến đòi hỏi đội ngũ thực hiện phải vừa thực hiện vai trò của giáo
    viên (xây dựng nội dung có tính giáo dục), vừa phải tổ chức ekip thực hiện theo mô
    hình một đài phát thanh và truyền hình thu nhỏ với các công việc như sau:
    – Tập hợp các tư liệu, đánh giá, tổng kết toàn bộ hoạt động phòng, chống
    dịch và các hoạt động khác của nhà trường trong tuần vừa qua.
    – Tập hợp các nguồn ảnh có liên quan để chuyển hóa tất cả các kết quả, tư
    liệu kênh chữ thành kênh hình.
    – Thiết kế và thực hiện ý tưởng kết nối các mạch nội dung sao cho tự nhiên,
    hấp dẫn.
    Giải pháp tổ chức hiệu quả các hoạt động trải nghiệm cho học sinh THPT
    trong bối cảnh dịch Covid-19
    9
    – Thiết kế giao diện video sao cho chuyên nghiệp, hiện đại nhất trong khả
    năng cho phép.
    – Chương trình được lãnh đạo nhà trường duyệt về kịch bản, sản phẩm trước
    khi xuất bản rộng rãi trên các kênh truyền thông.
    Ekip thực hiện nội dung chương trình
    * Khắc phục khó khăn về cơ sở vật chất và thời gian
    – Tận dụng chức năng ghi hình và ghi âm của điện thoại di động thay cho
    máy quay chuyên nghiệp.
    – “Trường quay” linh hoạt tùy vào hoàn cảnh: khi học sinh đi học thì không
    gian ghi hình là các không gian trong trường, lớp học; khi học sinh nghỉ học thì
    không gian ghi hình là góc học tập, phông nền phù hợp tại gia đình.
    – Người dẫn chương trình, biên tập viên, đọc lời bình thuyết minh: số đầu
    tiên là giáo viên (để học sinh xem, hình dung cách làm, cách dẫn), từ các số tiếp
    theo, học sinh đều chủ động thực hiện.
    – Vì chương trình sản xuất hàng tuần, yêu cầu tính cập nhật, tính thời sự, tính
    tổng hợp về nội dung, nên phải đến cuối tuần, đội ngũ thực hiện mới tổng hợp đủ
    số liệu, thông tin, tư liệu hình ảnh hoạt động của tuần rối mới có thểthực hiện khâu
    hậu kì.
    Giải pháp tổ chức hiệu quả các hoạt động trải nghiệm cho học sinh THPT
    trong bối cảnh dịch Covid-19
    10
    Hậu trường giản dị, tận dụng sáng tạo các thiết bị vốn có
    Giải pháp tổ chức hiệu quả các hoạt động trải nghiệm cho học sinh THPT
    trong bối cảnh dịch Covid-19
    11
    Khi có dịch, các MC lên hình linh hoạt trên nềntrường quay ảo,
    trường học, gia đình
    1.2. Tổ chức chương trình Lăng kính khoa học online
    1.2.1. Bố cục nội dung
    Phần 1: Phản xạ
    Mỗi thí sinh trả lời nhanh 10 câu hỏi về tất cả các lĩnh vực trong 1 phút. Mỗi
    câu trả lời đúng đươc 10 điểm.
    Giải pháp tổ chức hiệu quả các hoạt động trải nghiệm cho học sinh THPT
    trong bối cảnh dịch Covid-19
    12
    Phần 2: Logíc
    – Có 4 câu hỏi dành cho 4 thí sinh.
    – Mỗi câu hỏi gồm 3 khái niệm liên quan đến cùng một sự kiện hoặc một vấn
    đề. Thời gian giải thích và trả lời 3 khái niệm là 30 giây. Thời gian suy nghĩ và trả
    lời sự kiện hoặc vấn đề liên quan đến 3 khái niệm là 10 giây.
    – Nếu thí sinh gọi đúng 3 khái niệm được 30 điểm.
    – Nếu thí sinh gọi đúng 2 khái niệm được 20 điểm.
    – Nếu thí sinh gọi đúng 1 khái niệm được 10 điểm.
    – Nếu thí sinh đưa ra được sự kiện hoặc vấn đề liên quan đến 3 khái niệm
    được 10 điểm.
    – Lưu ý khi giải thích các khái niệm không được dùng ngoại ngữ, tiếng lóng,
    từ đồng nghĩa hoặc sử dụng bất kì từ nào trong khái niệm để giải thích.
    Phần 3: Bứt phá
    – Người chơi có quyền lựa chọn các gói câu hỏi 40, 60, 80 điểm.
    – Gói câu hỏi 40 điểm gồm 4 câu hỏi 10 điểm.
    – Gói câu hỏi 60 điểm gồm 2 câu hỏi 10 điểm và 2 câu hỏi 20 điểm.
    – Gói câu hỏi 80 điểm gồm gồm 1 câu hỏi 10 điểm, 2 câu hỏi 20 điểm và 1
    câu hỏi 30 điểm.
    – Nếu người chơi trả lời đúng câu hỏi nào thì ghi được điểm ở câu hỏi đó,
    nếu người chơi trả lời sai thì quyền trả lời thuộc về những người chơi còn lại
    nhưng chỉ có 2 người chơi bấm chuông nhanh nhất được quyền trả lời. Nếu người
    chơi đó trả lời đúng thì số điểm của câu hỏi đó sẽ được chuyển từ quỹ điểm của
    người chơi chọn câu hỏi. Nếu trả lời sai thì sẽ bị trừ đi nửa số điểm của câu hỏi đó
    còn người chơi chọn câu hỏi không bị trừ điểm.
    – Trong gói câu hỏi đó, người chơi có quyền đặt ngôi sao hi vọng 1 lần ở một
    câu mà người chơi đó cho là chắc chắn nhất. Nếu trả lời đúng thì được nhân đôi số
    điểm. Nếu trả lời sai thì bị trừ đi số điểm của câu hỏi đã chọn. Nếu đội chơi đó trả
    lời sai mà người chơi khác trả lời được thì chỉ bị trừ 1 lần.
    – Nếu cả 4 người chơi đều không có câu trả lời thì ban tổ chức đưa ra đáp án.
    – Thời gian suy nghĩ và trả lời cho câu hỏi 10 điểm là 10 giây.
    Giải pháp tổ chức hiệu quả các hoạt động trải nghiệm cho học sinh THPT
    trong bối cảnh dịch Covid-19
    13
    – Thời gian suy nghĩ và trả lời cho câu hỏi 20 điểm là 15 giây.
    – Thời gian suy nghĩ và trả lời cho câu hỏi 30 điểm là 20 giây.
    Giao diện cuộc thi Lăng kính khoa học online
    1.2.2. Cách tổ chức
    – Chương trình Lăng kính khoa học online được tổ chức trên ứng dụng
    Zoom.
    – Mỗi thí sinh tự chuẩn bị 1 máy tính hoặc điện thoại có kết nối mạng ổn
    định, có bật webcam trong suốt quá trình thi đấu.
    – Các thí sinh tự quay một clip giới thiệu ngắn gọn về bản thân trong 1-2
    phút và gửi một ảnh chân dung của mình (mặc đồng phục trường) cho Ban tổ chức.
    – Ban tổ chức chuẩn bị 02 laptop bao gồm 1 laptop chạy câu hỏi và quay
    MC, và 1 laptop quay được màn hình thành phần tham gia của tất cả các thí sinh
    trong suốt trận thi đấu, kết nối mạng, đường truyền ổn định.
    – Giáo viên trong Ban chấp hành Đoàn trường phụ trách Lăng kính khoa học
    chuẩn bị hệ thống câu hỏi thi, duyệt với Ban giám hiệu trước 1 tuần.
    – 2 học sinh trong Ban chấp hành đoàn trường phụ trách hỗ trợ thí sinh, MC
    về kĩ thuật và nội dung thi trong suốt quá trình thi đấu online.
    Giải pháp tổ chức hiệu quả các hoạt động trải nghiệm cho học sinh THPT
    trong bối cảnh dịch Covid-19
    14
    – Sau khi ghi hình online trên Zoom, Ban tổ chức thực hiện công tác hậu kì,
    đảm bảo hình ảnh phát sóng phải đan xen giữa hình ảnh thí sinh thi đấu với hình
    ảnh hệ thống câu hỏi, vừa có cảnh toàn vừa có cảnh cận, vừa có người dẫn chương
    trình vừa có cổ động viên.
    – Chương trình được phát sóng dưới dạng video, thời lượng khoảng 30 phút,
    là 1 nội dung nằm trong video Chào cờ trực tuyến, đăng tải trên kênh youtube của
    nhà trường.
    – Khi học sinh đi học, cuộc thi sẽ được phát sóng trong chương trình Chào cờ
    trực tuyến tại các lớp thông qua hệ thống máy chiếu hoặc tivi có kết nối mạng lúc
    07h00 sáng thứ 2.
    – Khi học sinh nghỉ học để phòng, chống dịch, chương trình được công
    chiếuvào 07h00 sáng thứ 2 trên kênh youtube, fanpage chính thức của nhà trường.
    Hình ảnh các thí sinh tham gia trận thi đấu Lăng kính khoa học online
    1.2.3. Giải pháp thực hiện
    * Quy trình ra đề và tập hợp câu hỏi
    – Để đảm bảo cho cuộc thi Lăng kính khoa học mang tính chính xác, phù
    hợp với đối tượng thí sinh tham gia, Ban chấp hành Đoàn trường phân công nhiệm

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Ứng dụng thuật toán tìm kiếm nhị phân để giải các bài toán trong dạy học  sinh giỏi cấp tỉnh

    SKKN Ứng dụng thuật toán tìm kiếm nhị phân để giải các bài toán trong dạy học  sinh giỏi cấp tỉnh

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIÊU KIÊN HOAN CANH TAO RA SANG KIÊN:
    Trong xã hội ngày nay, khoa hoc công nghê phát triển mạnh mẽ và lĩnh
    vực công nghê thông tin góp phần không nhỏ vào sự phát triển đó. Đặc biêt
    trong lĩnh vực công nghê phần mềm, các phần mềm mới được tạo ra và cải tiến
    liên tục.
    Nhằm giúp hoc sinh tiếp cận một cách có hê thống và bài bản để đáp ứng
    yêu cầu trong lĩnh vực sản xuất phần mềm, giảng dạy ngôn ngữ lập trình và các
    thuật toán là một yêu cầu cần thiết trong xã hội hiên đại.
    Trong quá trình dạy hoc sinh giỏi, các thầy cô giáo luôn trăn trở để tìm
    hướng tiếp cận mới giúp các em tiếp nhận kiến thức một cách hiêu quả hơn.
    Trong đó, trang bị cho hoc sinh những kiến thức cơ bản về thuật toán và kĩ thuật
    lập trình luôn là mục tiêu hàng đầu.
    Sau nhiều năm trực tiếp giảng dạy hoc sinh giỏi môn Tin hoc cấp Tinh
    khối THPT và các lớp chuyên Tin cua trương THPT chuyên Lê Hông Phong,
    chúng tôi đưa ra một số giải pháp để các em hoc sinh có thể tiếp cận các thuật
    toán một cách hiêu quả nhất. Một trong các giải pháp chúng tôi đưa ra là cải tiến
    thuật toán tìm kiếm nhị phân để các em có thể dễ dàng áp dụng giải một số bài
    toán.
    II. MÔ TA GIAI PHAP
    1. Mô ta giai phap trươc khi tao ra sang kiên
    Tìm kiếm nhị phân là một trong những thuật toán phô biến và được giới
    thiêu trong chương trình tin hoc lớp 10, 11. Bài toán được mô tả như sau:
    Cho day sô nguyên

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Sổ tay từ vựng Tiếng Anh THPT thông qua các ví dụ có ngữ cảnh và theo  các cụm từ

    SKKN Sổ tay từ vựng Tiếng Anh THPT thông qua các ví dụ có ngữ cảnh và theo  các cụm từ

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Từ vựng là trung tâm của việc học ngôn ngữ
    Trong cuốn sách “Linguistics in language teaching” của mình, Wilkins có
    viết “While without grammar very little can be conveyed, without vocabulary
    nothing can be conveyed” (Không có ngữ pháp, rất ít thông tin được truyền tải,
    không có từ vựng, không có thông tin nào được truyền đạt). Lời khẳng định này
    của Wilking cho thấy từ vựng có vai trò trung tâm trong việc học một ngôn ngữ.
    Do đó, việc nắm bắt các từ vựng cho từng chủ đề bài học là hết sức quan trọng.
    2. Chương trình tiếng Anh phổ thông mới
    Chương trình tiếng Anh phổ thông mới vẫn tập trung khai thác các chủ đề
    quen thuộc như gia đình, nhà trường, môi trường, công nghệ, sức khỏe,… tương
    đương chương trình tiếng Anh phổ thông cũ. Tuy nhiên, số lượng từ vựng và độ
    khó của từ vựng trong chương trình mới là nhiều hơn và cao hơn khá nhiều so với
    chương trình cũ. Vì vậy, đòi hỏi học sinh cần ghi nhớ nhiều từ vựng hơn, và để
    việc ghi nhớ từ vựng được hiệu quả thì các em cần có một hệ thống từ vựng theo
    chủ đề và có những ví dụ minh họa dễ hiểu và bám sát bài học.
    3. Yêu cầu trước khi lên lớp môn tiếng Anh, nhu cầu và những khó khăn của
    học sinh
    Thông thường, học sinh được yêu cầu chuẩn bị trước bài ở nhà, và môn
    tiếng Anh không phải là ngoại lệ. Khi chuẩn bị cho môn tiếng Anh, học sinh
    thường gặp phải các từ vựng mới. Khi đó, các em có thể dùng từ điển giấy hoặc từ
    điển online để tra cứu những từ vựng đó. Tuy nhiên, không phải tất cả học sinh đều
    có khả năng mua một cuốn từ điển chất lượng, và việc mua một thiết bị điện tử để
    phục vụ cho việc tra từ điển online lại càng khó khăn với đa số học sinh.
    Bên cạnh đó, khi học sinh tra từ điển rất nhiều khi các em chọn nghĩa tiếng
    Việt không phù hợp bối cảnh bài học. Sau đây là một vài ví dụ:
    Trong phần Listening Unit 8 (The world of work) của tiếng Anh lớp 12, có
    từ “tailor”. Khi chuẩn bị bài ở nhà, đa số học sinh viết nghĩa của từ là “thợ may”.
    3
    Tuy nhiên, từ “tailor” dùng trong bài học này thì mang nghĩa là “adapt something
    for a particular purpose” (điều chỉnh cho phù hợp)
    Trong phần Reading Unit 9 (Choosing a career) của tiếng Anh lớp 12, có
    câu “apprentices are assigned to a senior member of staff to spend sometime
    shadowing them and getting to grips with the basics of the job”, khi tra từ điển thì
    các em viết nghĩa của từ “shadow” là “bóng râm”, thay vì hiểu đúng nghĩa theo
    ngữ cảnh của bài học là “follow and watch” (đi theo để học hỏi). Trong ví dụ trên
    còn có thêm cụm từ “get to grips with”, đa số các em không tra được nghĩa của
    cụm từ này.
    Từ những lần tra từ sai nghĩa ngữ cảnh bài học, các học sinh mong muốn có
    một sự hỗ trợ nào đó giúp các em chuẩn bị bài trước khi lên lớp được tốt hơn.
    Sau khi xem xét tất cả các vấn đề trên, tôi nhận thấy cần có một sự hỗ trợ để
    các học sinh có thể tiếp cận từ vựng bài học hiệu quả hơn. Chính vì thế, tôi lựa
    chọn viết sáng kiến về “SỔ TAY TỪ VỰNG TIẾNG ANH THPT THÔNG QUA
    CÁC VÍ DỤ CÓ NGỮ CẢNH VÀ THEO CÁC CỤM TỪ”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    a. Hiện trạng trước khi áp dụng giải pháp mới:
    – Ưu điểm: nếu sử dụng từ điển online thì việc tra từ rất nhanh.
    – Nhược điểm:
    + Học sinh tra cứu từ đơn lẻ, không có ngữ cảnh trong câu, có thể dẫn đến
    hiểu sai nghĩa của từ.
    + Nhiều học sinh không có phương tiện để tra từ như từ điển giấy hoặc thiết
    bị điện tử để tra từ điển online nên các em sẽ mượn bài của bạn để chép bài cách
    chống đối. Điều này sẽ dẫn đến sai hệ thống nếu như có từ bị dịch sai nghĩa so với
    nghĩa theo chủ đề.
    + Học sinh chỉ tra từ và không có kèm ví dụ có ngữ cảnh, dẫn đến các em
    nhanh chóng quên từ đã tra cứu
    4
    + Học sinh có thể tra cứu tất cả các từ vựng các em chưa biết, nhưng có thể
    bỏ sót các từ vựng quan trọng theo chủ đề. Điều này dẫn đến việc ghi nhớ từ vựng
    lan man, không tập trung từ vựng quan trọng của chủ đề đó
    + Học sinh tra cứu và biết nghĩa của từ đơn lẻ, nhưng đa số không tra cứu
    được các cụm từ như “collocations”, “idioms” hoặc “phrasal verbs”
    + Học sinh có thể biết nghĩa của nhiều từ đơn lẻ, nhưng khi được yêu cầu
    viết một câu tiếng Anh có chứa từ hoặc cụm từ đó thì không làm được, hoặc kết
    hợp từ sai.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến: (trọng tâm)
    a. Vấn đề cần giải quyết: tất cả học sinh đều có cơ hội tiếp cận với một sự hỗ
    trợ trong việc tra cứu và học từ vựng sao cho đúng với ngữ cảnh của chủ đề bài
    học.
    b. Tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới
    – Về nội dung:
    + Mỗi đơn vị bài học (tính theo unit), sẽ gồm các phần “nouns”, “verbs”,
    “adjectives”, “word families”, “collocations”, “idioms”, và “phrasal verbs”. Việc
    phân loại này rất hữu ích trong việc tra cứu từ vựng của học sinh.
    + Từ vựng được trình bày theo từng chủ đề bài học, kèm với ví dụ có ngữ
    cảnh cụ thể và nghĩa tiếng Việt bám sát chủ đề bài học. Ví dụ, từ “tailor” của Unit
    8 tiếng Anh 12 như trình bày ở trên, được dịch tiếng Việt là “điều chỉnh”, và từ
    “shadow” của Unit 9 tiếng Anh 12 được dịch là “đi theo để học hỏi”.
    + Đặc biệt mỗi chủ đề bài học có liệt kê các cụm từ như “collocations”,
    “idioms”, và “phrasal verbs” giúp cho học sinh tra cứu được các cụm từ dễ dàng
    hơn.
    + Hơn nữa, mỗi chủ để bài học đều có liệt kê
    + Riêng đối với sổ tay từ vựng lớp 12, đa số các từ được kèm theo cách phát
    âm, bởi vì đa số học sinh lớp 12 đã có khả năng phát âm được từ qua việc nhìn
    phiên âm, đồng thời việc bổ sung phiên âm hỗ trợ học sinh lớp 12 rèn luyện về
    phần bài chọn từ có phần gạch chân khác với các từ còn lại và bài tìm từ có trọng
    âm chính khác với các từ còn lại.
    5
    – Về hình thức:
    + Mỗi chủ đề bài học được trình bày trên một giao diện PowerPoint thể hiện
    phần nào chủ đề bài học đó.
    + Mỗi chủ đề bài học được thiết kế đi kèm với hình ảnh thể hiện chủ đề đó.
    Đặc biệt, một số câu châm ngôn, các câu nói hay liên quan đến chủ đề bài học
    cũng được bổ sung, giúp học sinh hiểu thêm về chủ đề bài học để kết hợp trau dồi
    kĩ năng sống cho các em. Một ví dụ thể là trong trang đầu tiên của Unit 1: Family
    Life, tiếng Anh 10, có câu châm ngôn: “Having somewhere to go is Home, having
    someone to love is Family, having both is a Blessing”. Khi đọc câu này, các em
    học sinh hiểu ra mình là người rất may mắn vì được sống trong một gia đình hạnh
    phúc.
    – Về việc giải quyết các nhược điểm của giải pháp cũ:
    + Học sinh được tiếp cận với từ vựng thông qua các ví dụ có ngữ cảnh, và
    hiểu nghĩa của từ phù hợp chủ đề bài học.
    + Tất cả học sinh đều có cơ hội tra cứu từ như nhau vì việc sở hữu một cuốn
    sổ tay từ vựng là điều rất dễ dàng.
    + Học sinh hiểu và ghi nhớ từ tốt hơn vì được tiếp xúc với từ thông qua ngữ
    cảnh. Đặc biệt cuốn sổ tay cung cấp các cụm từ, giúp học sinh ghi nhớ từ vựng
    theo cụm từ – một cách học từ vựng khoa học và hiệu quả.
    + Cuốn sổ tay từ vựng này tập trung vào các từ quan trọng của từng chủ để
    bài học. Vì thế, học sinh được tiếp cận với trọng tâm bài học, tránh được tình trạng
    tra cứu từ lan man, không cần thiết.
    + Học sinh có thể tra cứu các cụm từ như “collocations”, “idioms” hoặc
    “phrasal verbs” một cách dễ dàng
    + Khi đã nắm được các cụm từ, việc viết một câu tiếng Anh trở nên dễ dàng
    và hiệu quả hơn.
    c. Cách thức và các bước thực hiện:
    + trước giờ lên lớp, các học sinh sẽ thực hiện việc chuẩn bị bài bằng cách tìm
    hiểu các từ vựng liên quan đến chủ đề bài học. Các em sẽ sử dụng cuốn “SỔ TAY
    TỪ VỰNG TIẾNG ANH THPT THÔNG QUA CÁC VÍ DỤ CÓ NGỮ CẢNH VÀ
    6
    THEO CÁC CỤM TỪ” như một cuốn từ điển giấy, hoặc thay thế cho việc tra từ
    điển online, điều mà đa số học sinh không tiếp cận được.
    + khi lên lớp, sau khi giáo viên cung cấp xong phần từ vựng của bài tương
    ứng, thì giáo viên dạy học sinh cách phát âm của từ.
    + trước khi bắt đầu tiết học tiếp theo, giáo viên cho học sinh ôn tập phần từ
    vựng từ bài trước để đảm bảo các em được tiếp xúc với từ vựng một cách thường
    xuyên. Lần này, học sinh được khuyến khích tự phát âm ra từ đó.
    + học sinh được khuyến khích đặt câu với các cụm từ thuộc chủ đề bài học.
    d. Điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp
    Mỗi học sinh có một cuốn “SỔ TAY TỪ VỰNG TIẾNG ANH THPT
    THÔNG QUA CÁC VÍ DỤ CÓ NGỮ CẢNH VÀ THEO CÁC CỤM TỪ”
    e. Khả năng áp dụng vào thực tế của giải pháp mới
    Cuốn sổ tay từ vựng này có khả năng rất cao để áp dụng vào thực tế bởi sự dễ
    dàng in ấn và nhỏ gọn tiện lợi mang theo bên mình. Đồng thời, cuốn sổ tay này
    mang lại lợi ích vô cùng thiết thực trong việc học từ vựng của học sinh, đó là việc
    ghi nhớ từ đúng ngữ cảnh, đúng chủ đề bài học.
    III. HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN ĐEM LẠI
    1. Hiệu quả kinh tế
    Với mỗi cuốn sổ tay từ vựng này, mỗi học sinh chỉ cần chi tối đa 10 nghìn
    đồng để có được. Lợi ích kinh tế hơn rất nhiều so với việc mua một cuốn từ điển
    thông thường giá thấp nhất khoảng từ 50 nghìn đồng. Và lợi ích kinh tế cuốn sổ tay
    này đem lại càng thể hiện rõ ràng hơn so với việc mua một thiết bị điện tử để tra từ
    điển online.
    2. Hiệu quả về mặt xã hội
    a. Nâng cao chất lượng giáo dục:
    – Khi có cuốn sổ tay từ vựng này, các học sinh sẽ được học từ vựng phù hợp
    với ngữ cảnh nhất, đồng thời giúp các em có vốn từ có thể sử dụng được thành câu,
    không như việc học trước đây dừng lại ở từ đơn lẻ.
    – Cụ thể, năm học 2019 – 2020, tôi giảng dạy 2 lớp 10A3 và 10A6, khi áp
    7
    dụng sổ tay từ vựng, kết quả thi của học sinh được nâng cao rõ rệt giữa 2 kì khảo
    sát chất lượng giữa kì I và cuối kì I, dưới đây là bảng thống kê chất lượng từ
    trường THPT B Nghĩa Hưng:
    8
    b. Hạn chế mâu thuẫn trong gia đình
    Trước đây khi học sinh không có cuốn sổ tay từ vựng này, khi chuẩn bị bài
    và cần tra cứu từ vựng, nhiều học sinh đã mượn điện thoại của bố mẹ để tra từ điển
    online. Tuy nhiên, đa số phụ huynh e ngại việc đưa điện thoại vào tay con em
    mình, vì sợ rằng chúng sẽ lợi dụng việc tra cứu từ vựng để lướt Web dẫn đến xao
    nhãng học tập. Khi đó, dễ dẫn đến nhiều học sinh tỏ ra khó chịu với sự e ngại của
    bố mẹ và bất mãn với sự nghi ngờ của bố mẹ.
    c. Sự đón nhận từ học sinh
    Một khảo sát về tính hiệu quả của cuốn sổ tay được thực hiện đã cho thấy đa
    số học sinh đều đón nhận cuốn sổ tay và cho rằng nó rất hữu ích cho việc học của
    các em:
    9
    10
    11
    12
    13
    14
    3. Khả năng áp dụng và nhân rộng
    – “SỔ TAY TỪ VỰNG TIẾNG ANH THPT THÔNG QUA CÁC VÍ DỤ CÓ
    NGỮ CẢNH VÀ THEO CÁC CỤM TỪ” có tính khả thi cực kì cao, có thể được
    nhân rộng, áp dụng cho tất cả các trường THPT.
    – Sáng kiến này đã và đang được áp dụng tại trường THPT B Nghĩa Hưng.
    IV. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền.
    Tôi cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền.
    TÁC GIẢ SÁNG KI

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Một số hoạt động tạo cơ hội và động lực cho học sinh thực hành  nói tiếng  Anh

    SKKN Một số hoạt động tạo cơ hội và động lực cho học sinh thực hành  nói tiếng  Anh

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập, trong khi đó để hội nhập là tiếng
    anh là rất cần thiết để giúp đất nước ta giao lưu và học hỏi với nước ngoài để mở
    rộng sự phát triển của đất nước nói chung và bản thân chúng ta nói riêng.
    Theo thống kê hàng năm cho thấy số người Việt Nam biết tiếng anh đang
    khá là ít, một phần do các yếu tố khách quan tuy nhiên từ bên trong vẫn có một
    yếu tố chủ quan đó là do người dân Việt Nam còn chưa xác định được tầm quan
    trọng của việc học tiếng anh cho tương lai của mình. Như vậy, tôi đã nhận thức
    sâu sắc về tầm quan trong của tiếng Anh
    Thứ nhất: Tiếng Anh là cơ hội để phát triển cuộc đời. Các nhà đầu tư nước
    ngoài đã khẳng định người Việt Nam có trình độ khá là tốt, tuy nhiên rào cản về
    ngôn ngữ đã khiến họ không thể làm việc được với chúng ta. Cụ thể đã cho thấy
    khi bạn đi ứng tuyển ở một công ty nào đó thì điều kiện về khả năng ngôn ngữ là
    một điều quan trọng thường thấy, giữa những người cùng đi ứng tuyển thì có
    khả năng tiếng anh sẽ được ưu tiên hơn. Thậm chí rằng, nếu chúng ta không cải
    thiện khả năng ngôn ngữ quốc tế thì sẽ có nguy cơ chúng ta sẽ mất việc làm
    ngay tại quê hương và đất nước của mình, bởi vì thời đại toàn cầu hóa ngày nay
    có rất nhiều người ở các quốc gia khác có vốn tiếng Anh tốt, hoặc sử dụng tiếng
    Anh như là ngôn ngữ mẹ đẻ họ sang Việt Nam làm việc, ví dụ như rất nhiều
    người nước ngoài làm việc tại các khu du lịch của Đà Nẵng và các khu du lịch
    nổi tiếng của Việt Nam, rất nhiều các giáo viên nước ngoài sang Việt Nam dạy
    tiếng Anh, thậm chí là người Philippine hay Singapore.
    Hơn nữa, có vốn kiến thức tiếng anh thì bạn hoàn toàn có thể đăng kí đi du
    học ở các nước hàng đầu thế giới như: Anh, Mỹ, Pháp… việc du học ở các nước
    đó chắc chắn sẽ là một trong những cơ hội đổi đời tốt nhất cho các bạn.
    Thứ hai: Tiếng Anh giúp chúng ta cập nhật thông tin ở khắp mọi nơi. Khi
    có vốn từ tiếng anh phong phú không bạn hoàn toàn có thể trao đổi với nhiều
    người nước ngoài, từ những cuộc trao đổi với họ bạn sẽ có thêm những kiến
    thức mới về phong cách và kĩ năng làm việc, tiếp thu những điều khiến giúp
    người nước ngoài phát triển.
    Thứ ba: Tiếng Anh giúp chúng ta đi xa hơn và học hỏi nhiều hơn. Tiếng
    Anh là ngôn ngữ chính thức của hơn 50 quốc gia và còn là ngôn ngữ chính thức
    của cả thế giới. việc có được vốn từ tiếng Anh sẽ giúp bạn có thểm nhiều cơ hội
    4
    đi xa hơn để học hỏi những điều mới mẻ của các nước trên thế giới về áp dụng
    cho đất nước nói chung và cho bản thân bạn nói riêng. Tất cả sẽ thêm tuyệt vời
    cho cuộc sống của bạn.
    Thứ 4: Có khả năng nói tiếng anh tốt bạn sẽ không tự ti khi đối mặt với
    nước ngoài, bạn hoàn toàn có thể nói chuyện và trao đổi nhiều hơn với người
    nước ngoài thay vì chỉ biết bắt tay và cười mỉm.
    Khi học bất kì một ngôn ngữ nào, mục tiêu cuối cùng cũng là để có thể giao
    tiếp một cách tự nhiên và thuần thục với người bản địa. Nếu không nói được thì
    cũng không thể giao tiếp được. Vì vậy, kỹ năng nói là một trong số những kỹ
    năng khá là quan trọng mà giáo viên chúng ta cần chú trọng rèn luyện và nâng
    cao khả năng sử dụng ngôn ngữ cho học sinh.
    Xét về thực trạng học kỹ năng nói ở trường THPT nói chung và trường
    THPT Trần Hưng Đạo nói riêng, chúng tôi có những trở ngại sau:
    Về phía giáo viên: Chúng tôi chịu áp lực khá lớn về chất lượng học sinh
    qua các kỳ thi. Tuy nhiên, trong các kỳ thi đó chỉ tập trung vào kỹ năng Nghe,
    Đọc,Viết, Ngữ Pháp và Từ vựng, có phần kiểm tra Phonetics nhưng đó mới chỉ
    là nhận biết các âm chứ chưa phải là hoạt động nói.Vì vậy, giáo viên chúng tôi
    dành thời gian nhiều và luyện nhiều hơn các kỹ năng này và chưa thật chú trọng
    vào kỹ năng viết cho học sinh. Trong suốt 1 năm học, trường kết hợp với trung
    tâm Sydney hỗ trợ dạy Nói và Nghe cho học sinh và có 2 lần kiểm tra nói sau
    khi kết thúc 2 học kỳ.
    Bản thân giáo viên cũng chưa tạo được động lực cho học sinh và khích lệ
    chúng hăng say nhiệt tình và thích thú trong việc thực hành nói. Quan trọng hơn,
    học sinh thực hành nói trên lớp thông qua các hoạt động, nội dung và chủ đề
    trong sách giáo khoa, bắt chước các bài hội thoại từ vựng, không sát với thực tế
    của riêng bản thân mình. Vì vậy chúng ta tạo cơ hội và các hoạt động thực tiễn
    chúng có thể áp dụng hằng ngày, để khi chúng được giao nhiệm vụ thay vì câu
    hỏi trong đầu là: “Nói cái này để làm gì?” “Tại sao phải nói?”, thì chúng sẽ tự
    trả lời được là ta có thể áp dụng vào cuộc sống hàng ngày, giao tiếp hàng ngày
    chứ không phải là một điều gì đó hàn lâm. Như vậy, chúng ta đã tạo cho các con
    “lý do” để thực hành nói tiếng Anh.
    Về phía học sinh: Học sinh ngày nay phải học và thi khá nhiều môn nên
    cũng khá là căng thẳng và áp lực. Phụ huynh và cả học sinh thì đặt mục tiêu vào
    kết quả thi cử trên giấy hơn so với việc rèn luyện sự tự tin và tự giác cho học
    5
    sinh. Năm học 2014-2015 là năm học đầu tiên trường chúng tôi dạy tiếng Anh
    thí điểm chương trình mới.
    Quan trọng hơn, học sinh khá tốt ngữ pháp, có thể viết ra những gì mình
    nghĩ. Tuy nhiên, vì không được thực hành nhiều nên các con không tự tin, rất
    nhát và sợ hãi khi đứng trước người nước ngoài.
    Bản thân tôi được đi tập huấn nhiều lần, lĩnh hội được chủ chương, tinh
    thần dạy học và mục tiêu của sách giáo khoa mới. Tôi vui mừng vì sách giáo
    khoa mới này chú trọng kỹ năng và năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học sinh.
    Tôi dành nhiều thời gian để học tập những khóa học như Ielts, TOFLE.. để vừa
    hoàn thiện bản thân, vừa dạy các con. Khi nghiên cứu về kỹ năng nói, chính bản
    thân tôi cũng đã tự tin lên rất nhiều khi giao tiếp. Tuy nhiên, việc thi cử không
    kèm theo kỹ năng và hoạt động nói, nhiều phụ huynh đề nghị giáo viên chú
    trọng nhiều dành nhiều thời gian để rèn luyện cho các con các dạng bài có trong
    các đề thi.
    Động lực học tiếng Anh của học sinh chủ yếu là học để vượt kỳ thi chứ
    chưa hướng đến kỹ năng thực hành ngôn ngữ trong thực tế.
    Trong quá trình dạy học, tôi quan sát thấy có một thực tại rằng là, khi tôi
    dạy học sinh kỹ năng phát âm, hay đọc một từ, học sinh đọc theo tôi một cách
    gượng ép, đọc cho qua. Nếu tôi yêu cầu học sinh đọc chuẩn, học sinh cũng đọc
    được, nhưng chỉ ngay lúc đó thôi, khi học sinh đứng lên tự đọc thì rất gượng
    gạo, và lại sai như ban đầu hoặc đọc theo cảm tính. Tôi thiết nghĩ những bài
    thuwck hành đó học sinh thấy không thực tế, hơi xa vời. Đó dường như là những
    câu chuyện của người khác chứ không phải của chúng và chúng thấy không cần
    thiết để làm điều đó.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Trong những năm học trước, mỗi một bài học sẽ gắn với các chủ đề khá
    thực tế, và mỗi đơn vị bài học sẽ có 01 tiết dành cho kỹ năng nói. Phần lớn các
    tiết học đó tôi đã bám rất sát sách giáo khoa, từ các nhiệm vụ cho đến chủ đề và
    nội dung. Các hoạt động tôi đã sử dụng như sau:
    + Hỏi đáp: Giáo viên đã khơi gợi ra chủ đề và học sinh trả lời về chủ đề đó
    dựa theo câu hỏi của giáo viên.
    Phần mở đầu tiết dạy speaking Unit 2: Your boday and you-English 10
    6
    Phần mở đầu tiết dạy Speaking-Unit 3: Music – English 10
    Phần chuẩn bị từ vựng và cấu trúc: giáo viên hỏi, học sinh trả lời trong tiết
    dạy Speaking Unit 6: Global warming- English 11
    7
    + Làm việc theo cặp: Phần lớn các hoạt động trong tiết dạy nói là học sinh
    làm việc theo cặp, cùng thảo luận về một chủ đề nào, một câu hỏi hoặc chia sẻ
    và trao đổi thông tin( jigsaw). Hoạt động này thực hiện thường xuyên bởi sĩ số
    học sinh trường tôi khá đông, lớp 10A5 năm học 2019-2020 là 46, dễ thực
    hiện theo cặp, nhưng học sinh cũng dễ nhàm chán do cứ làm việc mãi với một
    người, nếu đổi cặp thì lớp quá đông khi di chuyển tìm cặp, dẫn đến lớp rất ồn
    và ảnh hưởng đến các lớp khác.
    Hình ảnh về tiết dạy Speaking Unit 4: For a better community- English 10
    8
    + Làm việc theo nhóm: Tôi cũng thường xuyên tổ chức các hoạt động
    theo nhóm cho học sinh Nhóm không chỉ là nơi tập hợp nhiều cá nhân làm việc
    mà còn là nơi tụ hợp, nuôi dưỡng và phát huy các kỹ năng khác nhau của các cá
    nhân trong sự tương trợ lẫn nhau.
    Nhóm có thể được thành lập do sự phân công của giáo viên hay do một số
    bạn có cùng một mối quan tâm tìm hiểu về một chủ đề nào đó mà kết hợp thành
    nhóm để trao đổi, chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau nhằm đạt kết quả học tập tốt hơn.
    Năng suất và hiệu quả của mỗi cá nhân khi làm việc theo nhóm cao hơn
    hẳn so với năng suất và hiệu quả trung bình của mỗi cá nhân khi làm việc riêng
    lẻ. Vì nhóm có thể tận dụng những gì tốt nhất của mỗi cá nhân cả trong và ngoài
    chuyên môn. Thông qua làm việc, mỗi cá nhân sẽ tự rèn luyện thêm các kỹ năng
    sống và kỹ năng làm việc, giúp cá nhân đó trưởng thành hơn trong học tập và
    nghiên cứu.
    Khi được mời gọi vào nhóm, các thành viên còn rụt rè, chưa dám bộc lộ
    nhu cầu cũng như năng lực cá nhân. Bản thân họ chưa xác định được vai trò của
    mình và nhóm cũng chưa phân định rõ ràng vai trò của họ trong nhóm.
    Các thành viên đã hiểu và thích nghi được với điểm mạnh và điểm yếu
    của từng người trong nhóm. Họ biết được vai trò của mình trong nhóm cũng như
    của người khác. Mọi người bắt đầu cởi mở và tin tưởng nhau hơn, họ không còn
    e ngại khi phải đưa ý kiến thảo luận như lúc đầu. Sự cam kết với công việc và
    gắn bó giữa các thành viên trong nhóm rất cao.
    9
    + Chạy viết chính tả (running dictation):Giáo viên dán một câu chuyện
    hay một đoạn văn lên bảng. Học sinh làm việc theo nhóm, mỗi nhóm cử một
    người viết, các thành viên còn lại thay nhau lên bảng đọc 01 câu cho thành viên
    ghi chép. Đội nào xong sớm nhất hoặc viết được nhiều nhất đội đó sẽ thắng.
    Hoạt động này giúp học sinh có nhiều các kỹ năng và năng lực như phát
    âm, dấu câu, ghi chép nhanh, và đánh vần. Tuy nhiên khi thực hiện trên lớp với
    số lượng học sinh đông như vậy thì khó kiểm soát lớp, học sinh cũng khó di
    10
    chuyển khỏi vị trí do vướng bàn ghế sát nhau. Học sinh lười phát âm và hay nói
    và dịch bằng tiếng Viêt.
    Đây là một đoạn văn để học sinh làm việc nhóm với hoạt động Cuộc đua
    đọc chính tả.
    Trên đây là các hoạt động đã thực hiện trong các giờ nói tiếng Anh
    trên lớp, tuy nhiên học sinh nhiều khi không hứng thú bởi đó thường là lý
    thuyết, học sinh chưa được thực hành ở những tình huống cụ thể trong
    đời sống, những câu giao tiếp hàng ngày liên quan đến các chủ đề đã học.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
    Trong quá trình thực hiện những giải pháp cũ, tôi thấy học sinh chỉ được
    rèn lý thuyết ví dụ như cách đưa ra ý kiến, cách đồng ý, không đồng ý với các
    ý kiến khác, học sinh có vốn từ tốt hơn, có nền tảng tốt hơn và kiến thức tốt
    hơn về các chủ đề bài học. Tuy nhiên, khả năng vận dụng vào thực tiễn chưa
    được cao, và sau giờ học thì học sinh vẫn chưa thể tự tin giao tiếp vào những
    tình huống cụ thể. Chính vì vậy, ngoài những hoạt động cũ mà tôi đã và vẫn sử
    dụng để tạo kiến thức nền và vốn từ vựng cho học sinh, mỗi đơn vị bài học tôi
    sẽ hướng dẫn học sinh vào từng tình huống giao tiếp cụ thể trong đời sống
    hàng ngày, tạo sự gần gữi và tính thực tiễn, cần thiết của việc sử dụng tiếng
    Anh. Sau đây, tôi xin trình bày những hoạt động cụ thể tôi cho học sinh thực
    hiện thêm, ngoài những giải pháp cũ tôi đã sử dụng cụ thể với lớp 10A5 năm
    học 2019-2020, và năm nay là 11A5 năm học 2020-2021 tôi vẫn tiếp tục theo
    lên:
    11
    2.1. Ghi âm: Recording
    Điều kiện để thực hiện hoạt động này là học sinh chỉ cần một chiếc điện
    thoại có mạng. Việc này có thể áp dụng với mọi học sinh ở những điệu kiện
    khác nhau và ở mọi trình độ bởi hầu như mỗi một gia đình đều có điện thoại
    kết nối mạng, thậm chí ở các vùng quê bây giờ cũng đều đã kết nối mạng.
    Hoạt động này có thể áp dụng bất cứ bài nào và bất cứ thời điểm nào, với học
    sinh lớp 10, tôi chưa hiểu về học sinh, và cũng không có thời gian để 46 học
    sinh giới thiệu về bản thân mình, tôi yêu cầu học sinh về nhà ghi âm một đoạn
    tự giới thiệu về chính bản thân mình: tên, family, sở thích, mặt tốt, điểm tốt về
    bản thân, điểm yếu về bản thân, sau đó gửi vào email, hoặc qua zalo cho giáo
    viên.
    2.2. Hoạt động 1:
    Shopping for Healthy food
    Tôi áp dụng cho Unit 2: Your body and you và Unit 5: Inventions
    Đối tượng áp dụng: Mọi đối tượng học sinh.
    Sau khi thực hiện các nhiệm vụ học tập để tạo kiến thức nền cho học sinh
    (các nhiệm vụ trong tiết học speaking unit 2: Your boday and you), tôi yêu cầu
    học sinh thực hành việc sử dụng ngôn ngữ trong tình huống hàng ngày:
    Shopping for Healthy food (Đi chợ và mua đồ thực phẩm dinh dưỡng). Phần
    này khá là thực tế và giúp học sinh chuẩn bị cho kỹ năng nghe với nội dung
    Healthy food pyramid.
    Tôi chia học sinh theo các nhóm, mỗi nhóm là 6 học sinh, yêu cầu các em
    liệt kê các loại rau củ, thịt cá, trái cây dinh dưỡng mà chợ hoặc siêu thị gần
    nhà chúng ta hay bán. Giáo viên, kiểm tra, mở rộng vốn từ và dạy các em đọc
    từ:
    Học sinh được phát từ vựng từ giờ trước để nghiên cứu, và sử dụng.
    Từ vựng tiếng Anh về các loại rau, củ, quả
    1. Súp lơ: cauliflower
    2. Cà tím: eggplant
    3. Rau chân vịt (cải bó
    xôi): spinach
    4. Bắp cải: cabbage
    5. Bông cải xanh:
    broccoli
    6. Atiso: artichoke
    7. Cần tây: celery
    8. Đậu Hà Lan: peas
    9. Thì là: fennel
    10. Măng tây: asparagus
    11. Tỏi tây: leek
    12. Đậu: beans
    13. Ngô (bắp): corn
    14. Rau diếp: lettuce
    15. Củ dền: beetroot
    16. Bí: squash
    17. Dưa chuột (dưa leo):
    cucumber
    18. Khoai tây: potato
    12
    19. Tỏi: garlic
    20. Hành tây: onion
    21. Hành lá: green onion
    22. Cà chua: tomato
    23. Bí xanh: marrow
    24. Củ cải: radish
    25. Ớt chuông: bell pepper
    26. Ớt cay: hot pepper
    27. Cà rốt: carrot
    28. Bí đỏ: pumpkin
    29. Cải xoong: watercress
    30. Khoai lang: sweet
    potato
    31. Rau thơm: herbs/ rice
    paddy leaf
    32. Bí đao: wintermelon
    33. Gừng: ginger
    34. Củ sen: lotus root
    35. Nghệ: turmetic
    36. Su hào: kohlrabi
    37. Rau răm: knotgrass
    38. Rau thơm (húng lũi):
    mint leaves
    39. Rau mùi: coriander
    40. Rau muống: water
    morning glory
    41. Raurăm:polygonum
    42. Rau mồng tơi: malabar
    spinach
    43. Rau má: centella
    44. Rong biển: seaweed
    45. Đậu đũa: string bean
    46. Củ kiệu: leek
    47. Củ hẹ: shallot
    48. Mướp: see qua hoặc
    loofah
    49. Mía: sugar cane
    50. Lá lốt: wild betel
    leaves
    51. Đậu bắp: okra/ lady’s
    fingers
    52. Lá tía tô: perilla leaf
    53. Củ cải trắng: white
    turnip
    54. Giá đỗ: bean sprouts
    55. Pork: thịt lợn
    56. Pork’s leg: đùi heo
    57. Beef: thịt bò
    58. Lamb: thịt cừu
    59. Ham : thịt đùi
    60. F Ribs sườn heo
    61. Pork side: thịt ba chỉ
    62. Fat: mỡ
    63. fillet: thịt lưng
    2.1.1. NHỮNG MẪU CÂU DÙNG ĐỂ ĐI CHỢ

    Người muaNgười bán
    Hỏi đồ:
    – Excuse me, I can’t find the…
    – Do you have ……….?:
    – I’d like some meat to day?
    – Is this on sale?
    – Could I have a carrier bag, please?
    – Do you deliver?
    – I want to buy 5 kilos meats and a half kilo
    tomato.
    – I want to get 3 pieces of pork/ beef..
    – What kind of meat do you have? It’s from
    Vietnam or China?
    Chào khách:
    – How can I help?
    – Next please./ Any thing else?
    – How much do you want?
    – What kind do you need?
    – It’s over there, sir.
    – We just sell Vietnamese vegetable.

    13

    Hỏi giá cả
    – And how much for each?
    – How much is that?
    – How much do you sell it for?
    – How much does a kilo of tomato cost?
    – Could you chop it up for me ?
    – Could I have a refund?
    – What is the total?
    – I’m afraid you gave me the wrong
    change.
    Mặc cả:
    – I will give you 20,000 VND/ I will buy it
    for 20,000 VND
    – Can you lower the price?
    – Can you make it lower?
    – That’s too expensive. How about ….?
    – I will not give you more than 150.000
    VND
    – I saw this for $5 somewhere else
    – Then I’m not interested/ Then I will go
    somewhere else
    Trả lời về giá cả:
    – Meat price is 300,000VND per 1 kilo,
    and tomato is 5.000VND.
    – If you want 5 kilos meats and a half
    kilo tomato. The total cost you 305.000
    VND.
    – That is going to be 250,000 VND for a
    kilo/ piece
    – Here you are, thank you.
    – Yes, of course
    – Ican’t give you a discount
    – Sorry, but I can’t make it any cheaper.
    – Now I have lost my profit. Give me
    $180
    – We are charging reasonably for you

    Bước tiếp theo, tôi chuẩn bị thực phẩm, vì rau củ rất rẻ nên tôi đã mua
    sẵn các nguyên liệu, cho bảng giá thực phẩm. Nếu chúng ta không muốn đi chợ
    mua thực phẩm thật thì có thể mua mô hình đồ giả bằng nhựa. Nhưng tôi thấy
    rằng học sinh thích thú với vật thật hơn vì nó giống với cảm giác đi chợ và mua
    sắm, đó là cuộc sống hàng ngả, “real life” của chúng ta.
    Sau đó học sinh, sẽ thực hành mua, bán và tính tiền theo từng cấu trúc hỏi
    của người bán hàng và người mua hàng. Bước cuối cùng là cho các nhóm lên
    nhập vai, như sau:
    14
    Trong giờ học tôi thấy học sinh rất thích thú, đóng vai người mua hàng và
    bán hàng giống như hoạt động các em vẫn thường thấy, thấy rất phù hợp và cần
    thiết, và giống như mình đang đi chợ thực sự vậy. Các em được thực hành vai
    bán hàng khi người mua là người nước ngoài, hoặc khi ra nước ngoài hoặc đi du
    lịch, mình là khách hàng mua đồ của người nước ngoài. Các em cũng có nhu cầu
    này bời mỗi mùa hè các em được đi du lịch cùng bố me, gặp nhiều người nước
    15
    ngoài, thậm chí đi du lịch nước ngoài thì cần giao tiếp hoặc giao dịch bằng tiếng
    Anh.
    Tương tự như vậy, ngoài tình huống đi chợ, tôi cũng sắp xếp những
    tình huống như đặt phòng khách sạn, sân bay, (Áp dụng Unit 10 Ecotorism
    – English 10, và Unit 8: The Heritage sites – English 11) mua sắm các quầy
    hàng quần áo, đồ điện tử ( Unit 5 : Inventions – English 10).
    2.2.2. MẪU CÂU KHI ĐI MUA SẮM
    Những câu Tiếng Anh dùng để hỏi về “Giờ mở cửa”
    – What times are you open?
    – Mấy giờ cửa hàng mở cửa?
    – We’re open from 9am to 5pm, Monday to Friday
    – Chúng tôi mở cửa từ 9h sáng đến 5h chiều, từ thứ Hai đến thứ Sáu
    – We’re open from 10am to 8pm, seven days a week
    – Chúng tôi mở cửa từ 10h sáng đến 8h tối, bảy ngày trong tuần
    – Are you open on …? Cửa hàng có mở cửa vào … không?
    + Saturday thứ Bảy

    + SundayChủ Nhật
    – What time do you close?– Mấy giờ cửa hàng đóng cửa?

    – What time do you close today? – Hôm nay mấy giờ cửa hàng đóng cửa?
    – What time do you open tomorrow? – Ngày mai mấy giờ cửa hàng mở cửa?
    Những câu Tiếng Anh thường dùng để “Lựa chọn hàng hóa”
    – Can I help you? -Tôi có giúp gì được anh/chị không?
    – I’m just browsing, thanks – Cảm ơn, tôi đang xem đã
    – How much is this? – Cái này bao nhiêu tiền?
    – How much are these? – Những cái này bao nhiêu tiền?
    – How much does this cost? – Cái này giá bao nhiêu tiền?
    – How much is that … in the window? – Cái … kia ở cửa sổ bao nhiêu tiền?
    – That’s cheap – Rẻ thật
    – That’s good value – Đúng là được hàng tốt mà giá lại rẻ
    – That’s expensive – Đắt quá
    – Do you sell …? – Anh/chị có bán … không?
    – Do you have any …? _Bạn có … không?

    Ex: postcardsbưu thiếp
    – Sorry, we don’t sell them– Xin lỗi, chúng tôi không bán

    16
    – Sorry, we don’t have any left – Xin lỗi, chúng tôi hết hàng rồi

    – I’m looking for …
    Ex: the shampoo
    – Tôi đang tìm …
    – dầu gội đầu

    – a birthday card – thiếp chúc mừng sinh nhật

    – Could you tell me where the … is?
    Ex: washing up liquid
    -Where can I find the …?
    – Bạn có thể cho tôi biết … ở đâu không?
    – nước rửa bát
    – Tôi có thể tìm thấy … ở đâu?
    Ex: toothpastekem đánh răng

    – Have you got anything cheaper? – Anh/chị có cái nào rẻ hơn không?
    – It’s not what I’m looking for – Đấy không phải thứ tôi đang tìm
    – Do you have this item in stock? – Anh/chị còn hàng loại này không?
    – Do you know anywhere else I could try?
    – Anh/chị có biết nơi nào khác có bán không?
    – Does it come with a guarantee? – Sản phẩm này có bảo hành không?
    – It comes with a one year guarantee – Sản phẩm này được bảo hành 1 năm
    – Do you deliver? – Anh/chị có giao hàng tận nơi không?
    – I’ll take it – Tôi sẽ mua sản phẩm này

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Dạy học STEM SREAM theo các vấn đề thời sự chủ đề Corona

    SKKN Dạy học STEM SREAM theo các vấn đề thời sự chủ đề Corona

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    CHƯƠNG I. ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Hiện nay, tràn ngập trên các phương tiện thông tin đại chúng mọi người chia
    sẻ và cập nhật rất nhiều thông tin về bệnh viêm phổi từ chủng coronavirus mới được
    đặt tên là 2019 Novel Coronavirus (2019-nCoV), được phát hiện đầu tiên ở Vũ Hán,
    Trung Quốc. Sau nhiều tháng đại dịch Covid-19 hoành hành, gần như toàn bộ thế giới
    đã trở thành nạn nhân, những hậu họa do Covid-19 gây ra đã đưa ra lời cảnh báo rằng
    thế giới cần chuẩn bị nhiều hơn để đối phó với một đại dịch có thể xảy ra trong tương
    lai. Câu hỏi đặt ra là còn đại dịch nào thực sự chờ đợi chúng ta phía trước, con người
    sẽ phải làm gì để chung tay nhau ngăn chặn những vấn đề này? Theo Lê Thanh Hải,
    “Cả nhân loại đang đối mặt mới một hoàn cảnh khủng hoảng mới mà không có một
    mô hình giáo dục nào đã được nghiên cứu trước đó, đó không phải là giáo dục trực
    tuyến (e-learning hay online education), cũng không phải là giáo dục tại nhà
    (homeschooling) giống như các mô hình trước đây đã được các nhà giáo dục nghiên
    cứu và xây dựng; phải gọi đó là giáo dục thời kỳ đại dịch; dạy và học trong lúc này
    chắc chắn là không giống như bình thường, hay như bất kỳ một mô hình nào trước đây
    đã được nghiên cứu; một cách tiếp cận mới chắc chắn phải được thay thế và triển khai,
    chắc chắn thế hệ học sinh này sẽ cần có nhiều kỹ năng mới so với trước đây bởi các
    em đang sống trong một thế giới đang bị thay đổi sâu sắc bởi đại dịch”.
    Trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người luôn là yếu tố giữ vai trò trung tâm và
    quan trọng nhất. Trường THPT Ngô Quyền, 48 năm qua, đã xây dựng được một nền
    tảng sư phạm khá vững vàng và chiếm được niềm tin của học sinh và phụ huynh qua
    nhiều thế hệ. Với sự cố gắng và nỗ lực của thầy trò nhà trường cùng tinh thần tự lực,
    tự cường, bám trường, bám lớp, thực hiện tốt nhiệm vụ dạy và học, ngọn lửa giáo dục
    trên mảnh đất “địa linh nhân kiệt” sáng ngời hào khí Đông A ngày càng rực sáng. Vì
    sự nghiệp giáo dục đào tạo của nước nhà, vì tương lai con em chúng ta, giáo viên và
    học sinh trường THPT Ngô Quyền cùng chung một ý chí, cùng chung một tấm lòng,
    cùng chung một niềm tin chiến thắng đại dịch Covid-19. Nhà trường đã tuyên truyền
    2
    cho giáo viên và học sinh qua bảng điện tử ngay tại cổng trường với nội dung: Thầy
    và trò trường THPT Ngô Quyền quyết tâm thực hiện hai mục tiêu: chống dịch
    Covid-19 và dạy tốt, học tốt. Ý tưởng dạy học gắn với chủ đề coronavirus được hình
    thành.
    2. Thêm nữa, thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng “lý luận phải gắn với thực
    tiễn”, thực hiện lời dạy của tiền nhân “ học phải đi đôi với hành”; các năm qua, toàn
    Ngành giáo dục đã có nhiều cố gắng làm chuyển biến tích cực chất lượng dạy học gắn
    liền thực tiễn và cụ thể hoá bằng nhiều cách làm hay, mô hình tốt như: dạy học trải
    nghiệm tại các cơ quan hành chính, khu di tích, bảo tàng, công ty, nhà máy sản xuất,
    khu chế biến; lao động chăm sóc khu vườn trường; dạy học theo dự án, dạy học qua
    sản phẩm; dạy học theo chủ đề … và giáo viên THPT Ngô Quyền cũng không phải là
    ngoại lệ.
    Trong năm học 2019 -2020 trường THPT Ngô Quyền yêu cầu các tổ chuyên môn
    thực hiện dạy học theo chủ đề: chủ đề liên môn (bao gồm các nội dung dạy học gần
    giống nhau, có liên quan chặt chẽ với nhau, có thể đang trùng nhau trong các môn học
    của chương trình hiện hành, biên soạn thành chủ đề liên môn) và chủ đề tích hợp, liên
    môn (có nội dung giáo dục liên quan đến các vấn đề thời sự của địa phương, đất nước;
    ví dụ: Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; bảo vệ chủ quyền biên
    giới, biển đảo; …. Như vậy, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, để học sinh nhận thấy học
    đi đôi với hành, học ứng dụng vào đời sống, chứ không phải học những kiến thức đơn
    lẻ của từng môn học một cách cứng nhắc mà là những tiết học thực sự bổ ích, giữa các
    môn học có sự gắn kết với nhau góp phần không chỉ cung cấp kiến thức từng bộ môn
    mà còn giáo dục nhân cách, hoàn thiện tư cách và trách nhiệm người công dân mới,
    hình thành và rèn các kĩ năng sống cho học sinh, ý tưởng dạy học theo các vấn đề thời
    sự vì thế được hình thành.
    3. Mặt khác việc đổi mới phương pháp giảng dạy đang được đặt lên hàng đầu
    đối với ngành giáo dục và phương pháp giáo dục STEM đã mang lại kết quả tốt.
    Giáo dục STEM là một trong những xu hướng giáo dục đang được coi trọng ở
    nhiều quốc gia trên thế giới. Thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 của Thủ
    tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp
    3
    lần thứ 4; Thực hiện Chỉ thị số 2268/CT-BGDĐT ngày 08/8/2019 của Bộ Giáo dục và
    Đào tạo (GDĐT) về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2019 – 2020 của ngành Giáo dục;
    Ngành Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) tỉnh nhà trong thời gian qua đã có nhiều hoạt
    động chủ động nhằm đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, giáo dục học sinh
    hướng tới mục tiêu phát triển năng lực, có tri thức, năng động, hội nhập thế giới; các
    phương pháp dạy học tích cực đã được chú ý triển khai thực hiện trong thời gian qua
    như phương pháp Dạy học theo dự án, phương pháp nghiên cứu khoa học, phương
    pháp “bàn tay nặn bột” và phương pháp giáo dục STEM đã mang lại kết quả tốt.
    Tháng 8/2018 Sở Giáo dục và Đào tạo Nam Định đã tổ chức tập huấn dạy học
    STEM cho các giáo viên. Trường THPT Ngô Quyền cũng đã triển khai nhiệm vụ tới
    các tổ, nhóm chuyên môn về kế hoạch dạy học tiếp cận STEM. Trước nhiệm vụ này
    chúng tôi đã chủ động tìm hiểu qua các tài liệu tập huấn, trang mạng internet,…về
    STEM/STEAM.
    Trong cuốn sách “Giáo dục STEM/STEAM: từ trải nghiệm thực hành đến tư
    duy sáng tạo”, tác giả Lê Thanh Hải nói sơ lược về lịch sử ra đời của thuật ngữ giáo
    dục STEAM. Và ngay trong phần Mở đầu cuốn sách này, tác giả Lê Thanh Hải cũng
    có nhắc đến hội chứng viêm đường hô hấp cấp (SARS) như là một trong những vấn đề
    vốn thuộc về khoa học – công nghệ nhưng lại quan hệ mật thiết với đời sống xã hội.
    Trong tương lai, những vấn đề như thế sẽ càng rất nhiều, khi mà khoa học – công nghệ
    ngày càng ảnh hưởng sâu rộng đến với mọi mặt của đời sống xã hội; do vậy, việc
    chuẩn bị một nền tảng kiến thức và tư duy mang tính liên ngành giữa khoa học và xã
    hội (socio-scientific reasoning) ở mức phổ quát, căn bản là một đòi hỏi vô cùng quan
    trọng đối với nền giáo dục và sự thịnh vượng của quốc gia, để chuẩn bị cho thế hệ
    công dân toàn cầu trong tương lai. Mấy tháng gần đây, tràn ngập trên các phương tiện
    thông tin đại chúng mọi người chia sẻ và cập nhật rất nhiều thông tin về bệnh viêm
    phổi từ chủng coronavirus mới được đặt tên là 2019 Novel Coronavirus (2019-nCoV),
    được phát hiện đầu tiên ở Vũ Hán, Trung Quốc. Việc đưa chủ đề thời sự bệnh viêm
    phổi cấp vào các bài học học về khoa học là cần thiết. Tùy theo từng trình độ mà các
    giáo viên chủ động giới thiệu với học sinh những kiến thức liên quan đến chủ đề thời
    sự này. Quá trình dạy học này còn kết hợp với hướng nghiệp cho các em học sinh về
    những nghề nghiệp tương lai; giúp chương trình giáo dục STEM/STEAM ở Việt Nam
    được giảng dạy có chiều sâu, bài bản hơn để các học sinh hiểu được mối quan hệ liên
    ngành và đa chiều phức tạp trong các vấn đề về khoa học, công nghệ và xã hội; đặc
    biệt, có được kiến thức và kỹ năng để phân tích, đánh giá (tư duy phản biện) khi tiếp
    cận các nguồn thông tin khác nhau.
    Cũng theo tác giả Lê Thanh Hải, giáo dục STEM không chỉ gói gọn trọng sự liên
    môn giữa các nhóm kiến thức khoa học tự nhiên mà giờ đây các giáo viên tại Mỹ đã
    chủ động lồng ghép thêm các yếu tố về văn hóa, xã hội, nhân văn, nghệ thuật (gọi
    chung là các môn nghệ thuật khai phóng – liberal arts); do vậy STEM đã được phát
    triển lên thành STEAM; thỉnh thoảng STEAM được viết thành STE(A)M với chữ A
    4
    được viết trong ngoặc đơn với chủ đích diễn tả các chương trình học có nhấn mạnh các
    môn nghệ thuật khai phóng trên nền tảng của giáo dục STEM nói chung.
    Trong cuốn sách “Từ STEM đến STEAM”, hai tác giả David Sousa và Tom
    Lilecki gần đây cũng có đề cập đến khái niệm các môn nghệ thuật (Arts – chữ art được
    viết dưới dạng danh từ số nhiều, có s). Theo hai tác giả này, các môn nghệ thuật chính
    là các cách biểu đạt sự sáng tạo của con người thông qua các kỹ năng, giúp làm phong
    phú sự cảm nhận bằng các giác quan, từ âm nhạc cho đến kịch nghệ, điện ảnh. Danh
    sách các dạng hình nghệ thuật thì dường như dài bất tận, vì có những loại hình nghệ
    thuật mà hiện nay người ta vẫn chưa biết đặt tên cho nó là như thế nào, vì nó là sự trộn
    lẫn giữa các loại hình nghệ thuật với nhau, chẳng hạn như sự kết hợp giữa việc tạo ra
    các kiến trúc điêu khắc kết hợp với sự sắp đặt có chủ ý để tạo ra các hiệu ứng về âm
    thanh khi có gió thổi. Ngày nay, với sự phát triển của ứng dụng công nghệ và kỹ thuật,
    nhiều loại hình nghệ thuật với độ chính xác và tinh xảo rất cao. Chính vì lẽ đó, xu
    hướng các bài học STEM giờ đây luôn dành một khoảng không gian cho việc kết nối
    với các chủ đề về xã hội, văn hóa, và các môn nghệ thuật. Ở đó, học sinh được khuyến
    khích vận dụng óc sáng tạo về các môn nghệ thuật, các kiến thức về lịch sử và nhân
    văn để tạo ra một sản phẩm mới, có giá trị và ý nghĩa cho xã hội. Chẳng hạn, khi học
    về khoa học môi trường, các em học sinh lớp cấp hai ở Mỹ không chỉ được tìm hiểu lý
    thuyết về mối quan hệ giữa con người với môi trường mà còn được thưc hành dùng
    phần mềm SketchUp và Google Earth (cả hai đều miễn phí) để thiết kế những khu vui
    chơi kết hợp với bảo tồn thiên nhiên, thậm chí hướng đến cả đối tượng người khuyết
    tật, khó khăn trong việc di chuyển; đó là những ý tưởng hoàn toàn mới mà không bao
    giờ có thể tìm thấy trong sách giáo khoa. Chính nhờ đưa các môn nghệ thuật vào giáo
    dục STEM đã giúp giải phóng sự tưởng tượng và sáng tạo của trẻ nhỏ. Nói về vai trò
    của trí tưởng tượng trong giáo dục, Albert Einstein là nhà vật lý lý thuyết, đã nói một
    câu đầy cảm hứng về trí tưởng tượng: “Tôi đủ chất nghệ sĩ để tự do vẽ theo trí tưởng
    tượng của tôi. Trí tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức. Kiến thức là hạn chế, còn trí
    tưởng tượng bao quanh khắp thế giới”. (“I am enough of an artist to draw freely upon
    my imagination. Imagination is more important than knowledge. Knowledge is
    limited. Imagination encircles the world.”). Ngày nay, khi nhìn vào bất kỳ một vật
    dụng hay thiết bị nào mà chúng ta đang sử dụng, chúng ta dễ dàng nhận thấy đó là sự
    kết hợp của rất là nhiều kiến thức từ rất nhiều lĩnh vực để tạo nên nó, trong đó có cả
    yếu tố thẩm mĩ và văn hóa. Khi khoa học và công nghệ đang phát triển nhanh, việc
    đưa một ý tưởng thành một sản phẩm chỉ tính bằng ngày hoặc bằng giờ. Và khi xã hội
    càng phát triển, thì các sản phẩm tiêu dùng càng được cá nhân hóa nhiều hơn. Chẳng
    hạn: Với công nghệ in 3-D, khách hàng có thể tự in chiếc áo để mặc theo cách riêng,
    hay thậm chí khách hàng có thể tự thiết kế để in cái nhà để ở. Điều đó nói lên rằng,
    sống trong xã hội ngày nay, ít nhiều chúng ta cũng cần đến tư duy thiết kế và óc nghệ
    thuật.Thông qua cách tiếp cận giáo dục STEAM, học sinh nhận thức được sự giao thoa
    giữa các ngành khoa học, toán học và các môn nghệ thuật, thấy được sự cần thiết của
    5
    các kiến thức chuyên ngành để có thể giải quyết một vấn đề hay tạo nên một sản phẩm.
    Đồng thời, nhờ được tạo cơ hội khuyến khích sáng tạo dựa trên sở thích riêng của bản
    thân, nên các em học sinh tự tin hơn trong quá trình học tập và làm việc nhóm. Điều
    thú vị là các chương trình giáo dục STEAM còn có thể giúp học sinh được trải nghiệm
    qua các cảm xúc của thất bại trong quá trình học tập, một trong những yếu tố cần thiết
    cho sự trưởng thành của trẻ khi bước vào đời.
    4. Báo cáo sáng kiến “Dạy học STEM/STEAM theo các vấn đề thời sự: Chủ
    đề Coronavirus” được người viết lựa chọn còn xuất phát từ chính lòng yêu nghề, sự
    say mê với nghề, tinh thần trách nhiệm và lòng nhiệt tâm với thế hệ trẻ Thành Nam.
    Thực hiện đề tài này chúng tôi thực sự mong muốn được trao đổi với đồng nghiệp để
    được học hỏi và trau dồi về chuyên môn, nghiệp vụ.
    CHƯƠNG II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    I. MÔ TẢ CƠ SỞ THỰC TẾ TRƯỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN
    Hệ thống SGK chương trình hiện hành cấp học THPT đã được tái bản lần thứ
    mười, in xong và nộp lưu chiểu tháng 1/2018. Như vậy với thế hệ HS 2000, các em
    đang phải học một chương trình SGK quá cũ, quá lạc hậu, có những số liệu cách đây
    mười mấy năm so với thời điểm hiện tại nhiều khi phản ánh sai vấn đề. Nhiều năm
    qua, việc xây dựng nội dung sách giáo khoa cũng như các loại sách bài tập tham khảo
    của giáo dục nước ta nhìn chung còn mang tính hàn lâm, kinh viện nặng về thi cử;
    chưa chú trọng đến tính sáng tạo, năng lực thực hành và hướng nghiệp cho học sinh;
    chưa gắn bó chặt chẽ với nhu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội cũng như
    nhu cầu của người học. HS còn hạn chế về năng lực phản biện, tư duy, sáng tạo, kỹ
    năng thực hành, khả năng thích ứng với nghề nghiệp; kỷ luật lao động, tinh thần hợp
    tác và cạnh tranh lành mạnh chưa cao; khả năng tự lập nghiệp còn hạn chế. Tóm lại có
    thể nói, chương trình hiện hành mới chú trọng cung cấp cho HS những kiến thức cơ
    bản nhất, khái quát nhất, có những nội dung kiến thức đã cũ vì vậy đòi hỏi GV và HS
    phải cập nhật những vấn đề nóng bỏng của thời đại, phải có cái nhìn khái quát và sự
    hiểu biết rộng về nhiều vấn đề đã và đang diễn ra trong đời sống kinh tế xã hội thế giới
    cũng như trong nước, có như thế mới hòa nhập và thích ứng được với cuộc sống hiện
    tại, mới kích thích được niềm say mê, hứng thú dạy và học của cả GV và HS.
    Trong thời gian 45 phút lên lớp, do nhiều nguyên nhân khác nhau, GV chỉ truyền
    thụ những kiến thức liên quan tới nội dung bài học đã có trong SGK, việc cập nhật
    kiến thức còn rất hạn chế. Như vậy học xong bài học, HS cũng chỉ dừng lại ở việc nắm
    được những kiến thức cơ bản của bài học, mà không biết được nhưng kiến thức cập
    nhật đang diễn ra hàng ngày hàng giờ trên thế giới. Điều này lâu dần sẽ dẫn tới việc
    HS thụ động nhìn bài và chép nội dung vào vở, không có sự sáng tạo, không phát huy
    được năng lực tự học, sự hứng thú với môn học của HS.
    Trong quá trình giảng dạy, các giáo viên đã sử dụng các phương pháp dạy học
    truyền thống kết hợp một số phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học tích cực: dạy học
    6
    theo nhóm nhỏ, sử dụng kĩ thuật mảnh ghép, phương pháp đàm thoại gợi mở, kĩ thuật
    phòng tranh… khai thác kênh hình và kênh chữ sách giáo khoa với các thí nghiệm
    minh hoạ, sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin, chủ yếu là Powerpoint, sử
    dụng các video minh họa… để tăng tính trực quan, kích thích tư duy học sinh. Tuy
    nhiên, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, tính đến thời điểm hiện tại, tại các lớp học chưa
    có máy chiếu hay tivi thông minh, bởi vậy trong các giờ học, học sinh chủ yếu lắng
    nghe, tiếp thu các kiến thức một cách thụ động được quy định sẵn; học sinh chỉ nắm
    được kiến thức lí thuyết, còn nội dung mở rộng, vận dụng, mang tính cập nhật, thời
    sự… nhiều học sinh chưa tiếp cận được; học sinh chủ yếu được rèn luyện kĩ năng
    nghe, quan sát, đọc chọn lọc ý từ sách giáo khoa, vận dụng kiến thức mà cọc sinh chưa
    khám phá hết năng lực của bản thân, chưa chủ động trong việc học tập, khả năng sáng
    tạo và vận dụng kiến thức để giải quyết tình huống thực tiễn cuộc sống còn hạn chế.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI CÓ SÁNG KIẾN “DẠY HỌC STEM/STEAM
    THEO CÁC VẤN ĐỀ THỜI SỰ – CHỦ ĐỀ CORONAVIRUS”
    Có thể nói, trải qua giai đoạn biến động cực mạnh trong xã hội từ ảnh hưởng
    của dịch Covid-19 nói riêng và toàn cầu hoá nói chung, nền giáo dục của mỗi quốc gia
    đứng trước áp lực lớn khi nhiều người đều có cảm giác rằng kiến thức thông thường
    trở nên vô ích giống như người đi biển thiếu la bàn. Điều đó cho ta thấy điểm mấu
    chốt của vấn đề trong giáo dục là hướng đến giúp con người có tầm nhìn rộng, khả
    năng thích nghi và khả năng tự học, tự nghiên cứu suốt đời để luôn phát triển bản thân.
    Có như vậy, mỗi cá nhân sẽ không phải lo về vấn đề thất nghiệp mà còn có thể tự tạo
    ra cơ hội việc làm cho mình và cho người khác. Giáo dục hiện nay cũng như trong
    tương lai sẽ không đơn thuần truyền thụ kiến thức, đó còn là dạy học sinh cách học,
    học cách nghĩ, cách sống. Giáo dục cần hướng tới trang bị và cung cấp cho học sinh
    kiến thức tổng quát, trải rộng ở nhiều lĩnh vực khác nhau, cho người học công cụ khám
    phá bản thân, thế giới xung quanh để sau này họ có thể tiếp cận, chuyển đổi công việc
    linh hoạt, không bị lỗi thời. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ cũng như
    tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, những kỹ năng quan trọng cho
    thế kỷ 21 này đó chính là khả năng tự học, phân tích, diễn đạt ý nghĩ của mình và khả
    năng giải quyết vấn đề. Trong hoàn cảnh ấy, dạy học “Dạy học STEM/STEAM nói
    chung và “Dạy học STEM/STEAM theo các vấn đề thời sự: Chủ đề Coronavirus” có ý
    nghĩa vô cùng quan trọng.
    1. Giới thuyết về STEM/STEAM
    1.1. Sự khác biệt giữa STEM và STEAM
    STEM được viết tắt từ các từ: “Science, Technology, Enginerring, Math” –
    “Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học”. Hiểu một cách đơn giản thì phương pháp
    này cung cấp cho học sinh kiến thức toàn diện về 4 lĩnh vực trên bằng cách kết hợp
    giữa việc học lý thuyết và thực hành, hoạt động thực tiễn, trải nghiệm đời sống. STEM
    cho phép học sinh được thường xuyên thảo luận, tự rút ra kết luận và ghi nhớ kiến thức
    sâu sắc hơn. Có thể nói, phương pháp STEM giống như một cái búa, giúp phá vỡ bức
    7
    tường chắn bấy lâu nay giữa hàn lâm và thực tiễn.
    Qua một thời gian hình thành và phát triển, phương pháp STEM được cải thiện
    thành STEAM. Chữ “A” trong STEAM là viết tắt cho “Art” – “Nghệ thuật”. Nếu giáo
    dục STEM là tập trung vào giải quyết các vấn đề với tư duy, kỹ năng phân tích thì
    STEAM khác biệt ở chỗ, nó giúp học sinh khám phá các môn học tương tự, nhưng kết
    hợp thêm tư duy sáng tạo và nghệ thuật ứng dụng vào giảng dạy, cùng với các tình
    huống thực tế. Đồng thời, giáo viên đưa ra câu hỏi cho học sinh và học sinh cũng được
    đặt câu hỏi ngược lại. Các nhà giáo dục tin rằng, nếu tích hợp thêm “Nghệ thuật” vào
    giảng dạy, học sinh có thể sử dụng cả hai mặt của bộ não là phân tích và sáng tạo. Từ
    đó những đứa trẻ sẽ có tiền đề phát triển tốt nhất cho tương lai
    1.2. STEM – phương pháp giáo dục hàng đầu; STEAM – Phương pháp giáo dục
    hiện đại và lí tưởng
    Là khởi đầu cho một sự thay đổi lớn ở Mỹ và là tương lai của cả một nền giáo
    dục, STEAM được tạo thành từ thuật ngữ “STEM” và “Nghệ thuật – Art”. Ra đời từ
    thập kỷ trước, STEM (viết tắt của Khoa học – Science, Công nghệ – Technology, Kỹ
    thuật – Engineering, và Toán học – Mathematics) đã luôn là một phương pháp giáo
    dục hàng đầu tại thời điểm lúc bấy giờ. STEM tập trung vào việc đào tạo cho học sinh
    8
    về 4 lĩnh vực trên. Tuy nhiên, chủ trương của nền giáo dục hiện đại, ngày nay lại đánh
    giá cao tầm quan trọng của Nghệ thuật trong việc thúc đẩy sự đổi mới và sáng tạo, đó
    cũng chính là lý do tại sao phương pháp giáo dục STEAM ra đời.
    STEAM là ý tưởng sáng tạo ban đầu của Trường Thiết Kế Rhode Island (Mỹ),
    sau đó được sử dụng bởi nhiều nhà giáo dục và dần dần lan rộng ra cả Hoa Kỳ. Đây là
    một phương pháp tiếp cận giáo dục kiểu mới, trong đó Khoa Học, Công Nghệ, Kỹ
    Thuật, Nghệ Thuật, và Toán Học cùng được sử dụng để giảng dạy và hướng dẫn cho
    học sinh. STEAM là một sự chuyển đổi từ cách thức giáo dục truyền thống, dựa vào
    tiêu chuẩn điểm số để đánh giá, sang một phương pháp giáo dục hiện đại và lý tưởng,
    trong đó quá trình học tập và kết quả cùng được xem trọng như nhau.
    Tại sao chúng ta cần nghệ thuật?
    Vào ngày 06/05/2011, Ủy ban Nghệ thuật và Nhân văn của Tổng thống Obama
    đã ban hành một bản báo cáo tại Hội nghị Đối tác giáo dục nghệ thuật (AEP) được gọi
    là “Tái đầu tư trong giáo dục nghệ thuật: Làm chủ tương lai nước Mỹ thông qua các
    trường học sáng tạo”. Trong đó, ủy ban đã nêu rõ “khi học sinh được tham gia vào các
    bộ môn nghệ thuật, thành tích học tập của các em có thể tăng gấp bốn lần, điểm số
    GPA/SAT cũng cao hơn, và các em còn có thể cải thiện chỉ số IQ về không gian-thời
    gian của mình lên đến 56%. Trình độ Toán học của học sinh khối 12 được nâng lên
    một cách đáng kể, học sinh tương tác với các thầy cô và bạn bè của mình nhiều hơn,
    và trở nên tự tin và trình bày quan điểm của mình tốt hơn nhiều so với trước kia”. Bản
    báo cáo trên đã chứng minh cho tầm quan trọng của việc kết nối giữa nghệ thuật, văn
    hóa, sự sáng tạo và đổi mới, đồng thời nêu lên sự cấp thiết cho ra đời một chương trình
    mới nhằm cải cách nền giáo dục ở Mỹ.
    Chúng ta dường như quên rằng sự đổi mới thực sự không đến từ một phương
    trình toán học, công nghệ hay các loại hóa chất mới, nó đến từ những nơi như nghệ
    thuật, thiết kế, hay đơn giản hơn nó đến từ chính con người chúng ta. Đổi mới trong
    cuộc sống của mọi người nói chung và trong các ngành khoa học nói riêng luôn gắn
    liền với những trải nghiệm của con người, bằng một phương thức nào đó, dù trực tiếp
    hay gián tiếp. Những trải nghiệm của con người có được thông qua việc tương tác với
    những gì liên quan đến nghệ thuật như nghe nhạc, hay chiêm ngưỡng một tác phẩm
    nghệ thuật… Chính nghệ thuật giúp bạn nhìn nhận sự việc bằng một cách thức tự
    nhiên, dễ tiếp nhận hơn, và trong một không gian cởi mở hơn. Thế giới của chúng ta
    được xây dựng nên bởi những nhà tư duy phân tích. Tuy nhiên, những nghệ sĩ hay nhà
    thiết kế – những nhà tư duy trực giác lại là người mở ra cho chúng ta vô vàn khả năng.
    Những sự đổi mới to lớn ra đời khi chúng ta biết kết hợp lối tư duy phân tích và tư duy
    trực giác lại với nhau.
    Tiến sĩ Jerome Kagan, Giáo sư Danh dự tại Đại học Harvard và là một trong 22
    nhà tâm lý học nổi tiếng và được trọng vọng nhất của thế kỷ 20, nói rằng nghệ thuật
    góp phần thúc đẩy con người học tập tốt đến đáng ngạc nhiên, bởi các bộ môn nghệ
    thuật thường kết hợp ba công cụ chính mà trí não con người sử dụng để tiếp nhận, lưu
    trữ và truyền đạt kiến thức, đó là: các kỹ năng vận động, sự hình dung thông qua giác
    quan, và ngôn ngữ. Tiến sĩ Kagan đã phát biểu tại buổi nói chuyện về sự tiếp thu, nghệ
    thuật và não bộ con người tại Trường Đại học John Hopkins vào năm 2009 như sau:
    “Nghệ thuật và âm nhạc đòi hỏi con người ta phải sử dụng đến cả kiến thức về biểu đồ
    9
    và tiến trình, chính vì vậy sẽ giúp cho một đứa trẻ hiểu rộng hơn và sâu hơn về một
    vấn đề nào đó, và về thế giới này”.
    Với sự nhận thức này, các nhà giáo dục của Hoa Kỳ đang hợp nhất giữa nghệ
    thuật và các bộ môn khoa học lại với nhau. Tại Viện Woft Trap ở Virginia, các nhà
    giáo dục đang kết hợp môn nhảy múa với những bộ môn như toán số và hình học. Tại
    Trường thiết kế Rhode Island, nhà nghiên cứu của Học viện công nghệ Massachusetts,
    Jie Qui đã giới thiệu cho các sinh viên về loại giấy điện tử, trong đó mở ra việc sử
    dụng công nghệ trong nghệ thuật diễn cảm. Bản nghiên cứu này của cô đã làm cho các
    sinh viên thích thú hơn về các bộ môn khoa học, đồng thời thúc đẩy trí tưởng tượng
    của họ bay xa hơn. Việc kết hợp giữa khoa học và trí tưởng tượng được xem như một
    sự pha chế hoàn hảo, mang đến cho nền giáo dục của chúng ta bước lên một giai đoạn
    phát triển mới.
    Sáng tạo sẽ luôn là loại “gia vị” bí mật của một nền giáo dục toàn diện
    Thật vậy, chúng ta biết rằng để những thế hệ trẻ có thể đối mặt và vượt qua
    được những thách thức lớn sau này, đòi hỏi phải có những giải pháp thực sự sáng tạo,
    nhưng chỉ một mình STEM không thể mang đến điều đó. Chính STEAM và sự tham
    gia của nghệ thuật vào trong giáo dục là rất quan trọng dành cho học sinh ở cấp lớp từ
    mầm non lên đến lớp 12. Theo đó, việc tiếp nhận những bộ môn Khoa học, Công
    Nghệ, Kỹ thuật, và Toán học trong STEM đối với học sinh cũng trở nên dễ dàng hơn,
    và đồng thời đảm bảo được trong hành trình đổi mới của chúng ta, sự sáng tạo không
    bị quên lãng và bỏ lại phía sau. Các công ty và tổ chức mà trước kia vẫn tìm kiếm
    những tài năng từ trong các trường đại học nghiên cứu cỡ lớn, nay lại chuyển hướng đi
    tìm những người có khả năng sáng tạo, những người có thể mang đến những kỹ năng
    giải quyết vấn đề độc đáo, và một sự hiểu biết sâu sắc về trải nghiệm của người dùng.
    Gần đây, trong cuốn sách bán chạy nhất của Walter Issacson viết về tiểu sử
    Steve Jobs, có nhắc đến việc Jobs đã từng nói rằng nhiều kỹ sư tài năng nhất của
    Apple đều rất giỏi trong âm nhạc hay một loại hình nghệ thuật nào đó. Lisa Phillips,
    một tác giả, nhà báo, và là một nhà giáo dục về kỹ năng lãnh đạo và nghệ thuật cũng
    đã liệt kê ra một danh sách 10 kỹ năng mà những người trẻ tuổi sẽ lĩnh hội được thông
    qua việc học nghệ thuật, đó là
    1. Sáng tạo
    2. Tự tin
    3. Giải quyết vấn đề
    4. Kiên trì
    5. Tập trun
    6. Giao tiếp phi ngôn từ
    7. Tiếp nhận phản hồi mang tính xây dựng
    8. Hợp tác
    9 Tận tâm
    10. Trách nhiệm
    Các học sinh, sinh viên có khuynh hướng nghệ thuật hay được đào tạo toàn diện
    cả về kiến thức và nghệ thuật hiện nay đang có một tác động rất lớn vào việc đổi mới
    xã hội. Chính các em là những người giúp giải quyết các vấn đề toàn cầu quan trọng,
    là người đưa ra những giải pháp sáng tạo đối với môi trường, và những thách thức của
    xã hội.
    Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta cần những chương trình đào tạo kết hợp hài
    hòa giữa các bộ môn Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học và Nghệ thuật để đào
    tạo ra những thế hệ trẻ toàn diện cả về học thuật, và thúc đẩy sự sáng tạo bên trong
    của mỗi người. Chúng ta cần những ý tưởng mới, những giải pháp mới cho các vấn
    10
    đề hiện tại và sau này. Chúng ta cần đánh thức những “nghệ sĩ” bên trong chính
    những thế hệ học sinh nhỏ tuổi để các em có thể trở thành những công dân toàn cầu
    thực thụ.
    Tin rằng, đổi mới từ STEM sang STEAM là điều vô cùng cần thiết để cải
    thiện nền giáo dục của chúng ta. Cho dù bạn là một nghệ sĩ, nhà thiết kế, kỹ sư công
    nghệ, nhà khoa học, thì việc chuyển đổi sang STEAM là cấp thiết hiện nay; sự sáng
    tạo là điều kiện cần cho sự phát triển giáo dục của chúng ta. Không ai có thể phủ
    nhận thêm nữa về tầm quan trọng của giáo dục nghệ thuật, nơi mang đến những sự
    đổi mới cho cuộc sống và tương lai của chúng ta.
    Hiện nay, trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, Hệ thống Trường Tây Úc đang áp
    dụng phương pháp giáo dục STEAM cho trẻ từ cấp lớp mầm non lên đến năm 12.
    Phương pháp này cần được mở rộng ra không chỉ riêng tại TP. Hồ Chí Minh mà trên
    toàn Việt Nam. Đối với Khối Mầm non và Tiểu học, giáo viên sẽ khuyến khích các
    bé tự do thử sức với nhiều ý tưởng khác nhau, và không để cho cảm giác “sợ sai”
    kiềm chế khả năng của mình. Giáo viên sẽ là người luôn lắng nghe đa chiều và mang
    lại cho các em học sinh một nền tảng kiến thức thực tế ngay từ khi còn nhỏ. Ở bậc
    trung học, STEAM đòi hỏi và trang bị cho học sinh những kỹ năng đánh giá về nghề
    nghiệp, sở thích, cơ hội và sự phát triển trong bối cảnh lịch sử, hiện tại và tương lai,
    từ quy mô địa phương ra đến toàn cầu. Các em được học và áp dụng những kiến thức
    từ nền tảng đến chuyên sâu, những kỹ năng và sự kỷ luật thông qua việc thực hiện
    các dự án thực tế và việc nghiên cứu những cập nhập mới nhất về các lĩnh vực liên
    quan. Học sinh còn có cơ hội tự đánh giá niềm đam mê, sở thích, trải nghiệm và tài
    năng của chính mình nhằm cải thiện sự phát triển của mỗi cá nhân ngày qua ngày.
    Điều này vô cùng hữu ích cho các em khi theo đuổi những khát vọng tương lai sau
    khi ra trường. Với những ưu điểm nổi trội trên, tin rằng STEAM sẽ giúp đào tạo
    những đứa trẻ – với đủ mọi trình độ và khả năng, trở thành những công dân toàn cầu
    trong chính cộng đồng của mình.
    1.3. Những điểm mạnh của giáo dục STEM/STEAM
    Thứ nhất: Giáo dục STEM/STEAM là phương thức giáo dục tích hợp theo cách
    tiếp cận liên môn (interdisciplinary) và thông qua thực hành, ứng dụng. Thay vì dạy
    bốn môn học như các đối tượng tách biệt và rời rạc, STEM kết hợp chúng thành một
    mô hình học tập gắn kết dựa trên các ứng dụng thực tế. Qua đó, học sinh vừa học được
    kiến thức khoa học, vừa học được cách vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn.
    Giáo dục STEM/STEAM sẽ phá đi khoảng cách giữa hàn lâm và thực tiễn, tạo
    ra những con người có năng lực làm việc “tức thì” trong môi trường làm việc có tính
    sáng tạo cao với những công việc đòi hỏi trí óc của thế kỷ 21.
    Điều này phù hợp với cách tiếp cận tích hợp trong Chương trình GDPT mới. Vì
    thế, tư tưởng này của giáo dục STEM/STEAM cần được khai thác và đưa vào mạnh
    mẽ trong Chương trình GDPT mới.
    Thứ hai: Giáo dục STEM/STEAM đề cao đến việc hình thành và phát triển
    năng lực giải quyết vấn đề cho người học. Trong mỗi bài học theo chủ đề STEM, học
    sinh được đặt trước một tình huống có vấn đề thực tiễn cần giải quyết liên quan đến
    các kiến thức khoa học.
    Để giải quyết vấn đề đó, học sinh phải tìm tòi, nghiên cứu những kiến thức
    11
    thuộc các môn học có liên quan đến vấn đề (qua sách giáo khoa, học liệu, thí nghiệm,
    công nghệ) và sử dụng chúng để giải quyết vấn đề đặt ra.
    Các kiến thức và kỹ năng này phải được tích hợp, lồng ghép và bổ trợ cho nhau
    giúp học sinh không chỉ hiểu biết về nguyên lý mà còn có thể thực hành và tạo ra được
    những sản phẩm trong cuộc sống hằng ngày. Tư tưởng này của giáo dục
    STEM/STEAM cũng cần được khai thác và đưa vào mạnh mẽ trong Chương trình
    GDPT mới.
    Thứ ba: Giáo dục STEM/STEAM đề cao một phong cách học tập mới cho
    người học, đó là phong cách học tập sáng tạo. Đặt người học vào vai trò của một nhà
    phát minh, người học sẽ phải hiểu thực chất của các kiến thức được trang bị; phải biết
    cách mở rộng kiến thức; phải biết cách sửa chữa, chế biến lại chúng cho phù hợp với
    tình huống có vấn đề mà người học đang phải giải quyết.
    Sự thẩm thấu kiến thức theo cách như vậy chính là một trong những định hướng
    mà giáo dục cần tiếp cận. Tuy vậy, có thể thấy phương thức dạy học như trên là không
    hề dễ dàng ngay cả đối với thế giới chứ không chỉ riêng trong điều kiện hiện nay của
    chúng ta.
    1.4. Các cấp độ của tổ chức dạy học STEM/STEAM
    Việc tổ chức dạy học STEM có nhiều cấp độ khác nhau. Tùy thuộc vào điều
    kiện hoàn cảnh của từng trường mà lựa chọn cấp độ để đạt được hiệu quả giáo dục tốt
    nhất. Có 4 cấp độ dạy học STEM/STEAM như sau:
    Cấp độ định hướng STEM/STEAM: Tập trung dạy liên môn, học sinh được
    cung cấp kiến thức các môn STEM chắc chắn, khả năng sáng tạo, tư duy logic, hiệu
    suất làm việc vượt trội có cơ hội phát triển các kĩ năng mềm toàn diện hơn, có khả
    năng định hướng nghề nghiệp tương lai. Cấp độ này hiện giờ là phù hợp cho trình độ
    giáo viên và học sinh ở nhiều trường THPT ở nước ta hiện nay, nhất là các trường ở
    vùng nông thôn điều kiện cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế.
    Cấp độ bổ trợ môn học STEM/STEAM: Dạy các môn công nghệ, Robotics- các
    môn điển hình cho dạy học STEM/STEAM. Thông qua lập trình lắp ráp robot, học
    sinh hiểu được: nguyên lí cơ bản về lập trình và các công nghệ mới hiện nay, có thể
    tiếp thu các kĩ thuật lắp ráp, đồng thời phát triển tính tư duy kĩ thuật. Học công nghệ
    thông qua thực hành và thông qua hoạt động dưới dạng trò chơi làm tăng hứng thú,
    tránh cảm giác nặng nề quá tải.
    Cấp độ bán STEM/STEAM: Dạy học tích hợp, lồng ghép liên môn của STEM
    theo một giáo trình được nghiên cứu và thử nghiệm nghiêm túc, hiệu quả. Học sinh
    được thực hành thông qua xem các video trong không gian ảo. Tuy nhiên cách học này
    mới đảm bảo được một mặt: những kiến thức và kĩ năng cần thiết liên quan đến các
    lĩnh vực khoa học công nghệ, kĩ thuật và toán học, lồng ghép và bổ trợ cho nhau trong
    một giáo trình có chủ đích. Còn về mặt ứng dụng thực tiễn của STEM chưa được đề
    cập, học sinh chưa được trực tiếp làm mới được thấy thực tế ở mức độ mô tả, hình
    dung.
    Cấp độ tiếp cận quan điểm STEM/STEAM hoàn toàn: Dạy học cấp độ bán
    STEm kết hợp học sinh được thực hành thông qua các dự án STEM. Dự án ở đây là
    một bài tập tình huống, một chủ đề mà người học phải giải quyết bằng kiến thức
    STEM.
    12
    Giáo dục STEM/STEAM nói chung và dạy học STEM/STEAM nói riêng
    không phải là để học sinh trở thành những nhà khoa học mà là xây dựng cho học sinh
    những năng lực cần thiết để làm việc trong thế giới công nghệ hiện đại, trong tương
    lai. Để đạt được hiệu quả trong dạy học STEM/STEAM, trước hết giáo viên phải có
    những nhận thức đúng, chính xác về STEM/STEAM.
    1.5. Các tiêu chí để đánh giá một bài học STEM/STEAM
    Tiêu chí 1: Chủ đề bài học STEM/STEAM tập trung vào các vấn đề thực tiễn
    Trong các bài học STEM/STEAM, học sinh được đặt vào các vấn đề thực tiễn
    xã hội, kinh tế, môi trường và yêu cầu tìm giải pháp
    Tiêu chí 2: Cấu trúc bài học STEM/STEAM được thiết kế theo quy trình kĩ thuật
    hoặc quy trình nghiên cứu khoa học
    Quy trình thiết kế kỹ thuật :
    Thiết kế kỹ thuật là cụ thể hóa ý tưởng của dự án nhằm thể hiện đầy đủ các giải
    pháp, thông số kỹ thuật và vật liệu sử dụng phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ
    thuật được áp dụng, là cơ sở để triển khai thiết kế bản vẽ thi công.
    Quy trình thiết kế kỹ thuật cung cấp một tiến trình linh hoạt đưa học sinh từ
    việc xác định một vấn đề hoặc một yêu cầu thiết kế đến sáng tạo và phát triển giải
    pháp. Trong quy trình thiết kế kỹ thuật, các nhóm học sinh thử nghiệm các ý tưởng
    dựa trên nghiên cứu của mình, sử dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau mắc sai lầm,
    chấp nhận và học từ sai lầm, và thử lại. Sự tập trung của học sinh là phát triển các giải
    pháp. Một quy trình thiết kế kĩ thuật gồm những bước sau:
    13
    Quy trình nghiên cứu khoa học:
    Nghiên cứu khoa học là quá trình tìm hiểu thế giới thông qua các suy luận
    logic, thí nghiệm kiểm chứng để tìm hiểu quy luật vận hành của vạn vật hay tăng sự
    hiểu biết về thế giới. Một quy trình nghiên cứu khoa học gồm những bước sau:
    Tiêu chí 3:Phương pháp dạy học STEM/STEAM đưa học sinh vào những hoạt
    động tìm tòi và khám phá, định hướng hành động, trải nghiệm và sản phẩm
    Trong bài học STEM, hoạt động của học sinh được thực hiện theo hướng mở có
    “ khuôn khổ” về các điều kiện ma học sinh được sử dụng (chẳng hạn các vật liệu khả
    dụng). Hoạt động học của học sinh là hoạt động được chuyển giao và hợp tác; các
    quyết định về giải pháp giải quyết vấn đề là của chính học sinh. Học sinh thực hiện các
    hoạt động trao đổi thông tin để chia sẻ ý tưởng và tái thiết kế nguyên mẫu của mình
    nếu cần. Học sinh tự điều chỉnh các ý tưởng của mình và thiết kế hoạt động khám phá
    của bản thân.
    Tiêu chí 4: Hình thức tổ chức bài học STEM/STEAM lôi cuốn học sinh vào hoạt
    động nhóm kiến tạo
    Giúp học sinh làm việc cùng nhau như một nhóm kiến tạo không bao giờ là
    một việc dễ dàng. Tuy nhiên, việc này sẽ trở nên dễ dàng hơn nếu tất cả giáo viên
    STEM ở trường làm việc cùng nhau để áp dụng làm việc nhóm, sử dụng cùng một
    ngôn ngữ, tiến trình và mong đợi cho học sinh. Làm việc nhóm trong thực hiện các
    hoạt động của bài học STEM/STEAM là cơ sở phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác.
    Tiêu chí 5: Nội dung và bài học STEM/STEAM áp dụng chủ yếu từ nội dung
    khoa học và toán học mà học sinh đã và đang học
    Trong các bài học STEM/STEAM, giáo viên cần kết nối và tích hợp một cách
    có mục đích nội dung từ các chương trình khoa học, công nghệ và toán. Lập kế hoạch
    để hợp tác với các giáo viên toán, công nghệ và khoa học khác để hiểu rõ nội hàm của
    việc làm thế nào để các mục tiêu khoa học có thể tích hợp trong một bài học đã cho.
    Từ đó, học sinh dần thấy rằng khoa học, công nghệ và toán không phải là các môn học
    14
    độc lập, mà chúng liên kết với nhau để giải quyết các vấn đề. điều đó có liên quan đến
    việc học toán, công nghệ và khoa học của học sinh.
    Tiêu chí 6: Tiến trình bài học STEM/STEAM tính đến có nhiều đáp án đúng và
    coi sự thất bại như là một phần cần thiết trong học tập
    Một câu hỏi nghiên cứu đặt ra, có thể đề xuất nhiều giả thuyết khoa học; một
    vấn đề cần giải quyết, có thể đề xuất nhiều phương án, và lựa chọn phương án tối ưu.
    Trong các giả thuyết khoa học, chỉ có một giả thuyết đúng. Ngược lại, các phương án
    giải quyết vấn đề đều khả thi, chỉ khác nhau ở mức độ tối ưu khi giải quyết vấn đề.
    Tiêu chí này cho thấy vai trò quan trọng của năng lực giải quyết vấn đề và sáng
    tạo trong bài học STEM/STEAM
    1.6. Các bước thiết kế một hoạt động/dự án dạy học định hướng STEM/STEAM
    Để xây dựng một dự án STEM/STEAM cần chú ý:
    Chú ý 1. Luôn yêu cầu học sinh tiến hành theo trình tự:
    – Làm như sách
    – Làm tốt hơn sách
    – Làm tốt hơn nữa
    Chú ý 2. Sau mỗi dự án cần tiến hành điều tra ý kiến học sinh để hoàn thiện và
    rút kinh nghiệm cho dự án tiếp theo:
    PHIẾU LẤY Ý KIẾN HỌC SINH SAU DỰ ÁN

    STTCâu hỏiCâu trả lời
    1Khi làm sản phẩm, em thích điều gì nhất? vì sao?
    2Ứng dụng toán (hóa học/vật lý/ sinh học…) ở chỗ
    nào? Liên quan đến mảng kiến thức nào?
    3Theo em sản phẩm này ứng dụng được vào trong
    thực tế như thế nào?
    4Các em đã phân công công việc trong nhóm như
    thế nào?
    5Các em gặp những khó khăn gì? Các em đã giải
    quyết ra sao?
    6Điều gì em nghĩ có thể làm mới hơn so với sách,
    so với các bạn?

    Các bước xây dựng hoạt đông/dự án STEM/STEAM bao gồm:
    Bước 1: Xác định chủ đề dự án dạy học định hướng STEM/STEAM: Dự án
    STEM/STEAM cần khơi gợi những đam mê, hứng thú của học sinh, giúp học sinh
    thông qua dự án STEM/STEAM lĩnh hội kiến thức và định hướng học sinh theo đuổi
    ước mơ, ngành nghề trong tương lai. Khi lựa chọn dự án cần chú ý các vấn đề sau:
    – Dự án phải là một vấn đề, một chủ đề có tính bao quát, tính thực tiễn và tính thời sự.
    – Nội dung dự án phải gắn với yếu tố nghiên cứu khoa học, yếu tố kĩ thuật của các
    ngành nghề hiện đại, kiến thức của dự án phải nằm trong chương trình giáo dục trung
    học phổ thông do Bộ Giáo Dục quy định.
    Bước 2: Xác định mục tiêu của dự án
    Trong bước này cần cụ thể và lượng hóa các năng lực chuyên môn của những
    môn học liên quan, các năng lực và kĩ năng mà học sinh cần hình thành qua chủ đề.
    Đối với mỗi một năng lực cần phân tích và tìm hiểu từng thành tố, biểu hiện và hành vi
    cấu thành nên năng lực đó.
    Bước 3: Xác định các vấn đề cần giải quyết trong dự án/Câu hỏi nghiên cứu:
    Dự án đề cập đến đối tượng nào? Đối tượng đó có mặt trong lĩnh vực nào của đời
    15
    sống? Đối tượng đó liên quan đến những kiến thức khoa học nào? Xác định các nội
    dung kiến thức STEM/STEAM cần sử dụng để giải quyết vấn đề. Trả lời cho câu hỏi:
    Vận dụng những nội dung kiến thức nào để thực hiện dự án?
    Bước 5: Xây dựng các hoạt động, Lập kế hoạch dạy học, các giai đoạn giải quyết vấn
    đề của dự án
    • Tên hoạt động
    • Câu hỏi hoạt động
    • Kiến thức liên quan
    • Chỉ số hành vi cần đánh giá
    • Nguyên vật liệu
    • Các bước tiến hành
    • Kết quả, giải thích và đánh giá kết quả
    • Giáo án (Ai? Làm gì? Như thế nào? Bao lâu?)
    • Lựa chọn hoạt động
    • Sự kết hợp giữa các giáo viên (nếu cần)
    • Xây dựng công cụ đánh giá
    Bước 6: Tổ chức dạy học và đánh giá
    • Tiến hành theo giáo án
    • Đánh giá và điều chỉnh
    2. Xây dựng dự án dạy học định hướng STEM/STEAM: “Dạy học
    STEM/STEAM theo các vấn đề thời sự: Chủ đề Coronavirus
    Bước 1. Xác định chủ đề dự án giáo dục: Chung tay đẩy lùi đại dịch Covid 19
    Bước 2: Xác định mục tiêu của dự án
    Kiến thức: Giúp học sinh có kiến thức tổng hợp trên nhiều lĩnh vực như: Khoa học,
    công nghệ, kỹ thuật, toán học (STEM) và nghệ thuật.
    Trình bày được các kiến thức cơ bản về dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do
    chủng mới của virus Corona gây ra như tên gọi, nguồn gốc, lịch sử dịch bệnh, cấu trúc,
    hình thức lây truyền, dấu hiệu và triệu chứng, giao thức chuẩn đoán, cách phòng ngừa
    dịch bệnh.
    Trình bày và phân tích được tình hình diễn biến dịch Covid-19 trên thế giới và
    ở Việt Nam thông qua hệ thống biểu đồ, bảng số liệu.
    Hiểu được vai trò của cá nhân và cộng đồng, hiểu được thế nào là nhân nghĩa,
    hợp tác; hiểu trách nhiệm của công dân trước vấn đề có tính cấp thiết toàn cầu.
    Đọc hiểu văn bản và viết được các đoạn nghị luận xã hội liên quan đến Covid-
    19.
    Tìm hiểu các loại hình nghệ thuật để truyền tải những thông điệp nhân văn về
    công tác phòng chống bệnh Covid-19, bước đầu có thể vẽ tranh cổ động, sáng tác thơ,
    nhạc, video clip, gửi những thông điệp từ trái tim… liên quan đến Covid-19 tới cộng
    đồng.
    Kĩ năng: Giúp học sinh biết vận dụng kiến thức STEM để giải quyết tình huống thực
    tiễn
    Kĩ năng tính toán, vẽ biểu đồ, bảng số liệu, kĩ năng viết báo cáo ngắn (nhận xét,
    phân tích vấn đề)
    Kĩ năng thu thập xử lí thông tin, số liệu trên mạng Internet.
    Kĩ năng đọc hiểu văn bản thông tin, văn bản nhật dụng; kĩ năng viết văn nghị
    luận xã hội bàn về một hiện tượng trong đời sống, bàn về một vấn đề tư tưởng đạo lí.
    Kĩ năng thuyết trình, trình bày một vấn đề; kĩ năng phản biện một vấn đề
    16
    Kĩ năng sáng tạo: vẽ tranh, làm thơ, viết tự truyện, sáng tác các bài hát, điệu
    nhảy, quay dựng clip hoặc phim ngắn.
    Phẩm chất đạo đức, thái độ hành vi:
    Giúp học sinh có ý thức, trách nhiệm và có những hành động thiết thực để
    phòng,chống Covid-19 và tuyên truyền cộng đồng phòng,chống Covid-19.
    Giáo dục cho HS ý thức sống gắn kết và có trách nhiệm với với bản thân, gia
    đình và cộng đồng.
    Giáo dục cho HS Thái độ nghiêm túc tuân thủ các chủ trương, chính sách, pháp
    luật của nhà nước trong phòng chống dịch Covid-19.
    Định hướng phát triển năng lực
    Hình thành cho học sinh những năng lực chung như: năng lực giải quyết vấn đề
    và sáng tạo; năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực tự chủ và tự học; năng lực tư duy;
    năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực sử dụng CNTT và truyền thông; năng lực phản
    biện; năng lực thực hành, làm việc nhóm; năng lực làm chủ bản thân; kĩ năng quản lý
    thời gian, thao tác thực hành trong quá trình thực hiện dự án.
    Hình thành cho học sinh những năng lực chuyên biệt như:
    Năng lực chuyên biệt môn Toán: năng lực tính toán (Năng lực sử dụng các
    phép tính, Năng lựcsử dụng ngôn ngữ toán, Năng lực mô hình hóa, Năng lực sử dụng
    công cụ đo, vẽ, tính);
    Năng lực chuyên biệt môn Tin học: Năng lực CNTT-TT cơ bản (Nhận biết,
    thao tác với phần mềm, thiết bị CNTT, Sử dụng CNTT-TT hỗ trợ học tập, Sử dụng
    CNTT-TT trong giao tiếp, Đạo đức, hành vi phù hợp khi sử dụng CNTT-TT), năng lực
    khoa học máy tính (Giải quyết vấn đề dựa trên tin học, Định hướng nghề nghiệp)
    Năng lực chuyên biệt môn Địa lý: năng lực sử dụng số liệu thống kê, sử dụng
    hình vẽ, tranh ảnh địa lý, mô hình, video…
    Năng lực chuyên biệt môn Ngữ văn: năng lực đọc hiểu văn bản; năng lực tạo
    lập văn bản; năng lực cảm thụ thẩm mĩ.
    Năng lực chuyên biệt môn Sinh học: Năng lực kiến thức sinh học (bao gồm các
    kiến thức của chương III Virut và bệnh truyền nhiễm), cụ thể Bài 30: Sự nhân lên của
    virut trong tế bào chủ (Chương trình SGK Sinh học 10); Năng lực nghiên cứu khoa
    học (bao gồm quan sát các hiện tượng trong thực tiễn hay trong học tập để xác lập vấn
    đề nghiên cứu; thu thập các thông tin liên quan thông qua nghiên cứu tài liệu; hình
    thành giả thuyết khoa học, thu thập và phân tích dữ liệu; giải thích và rút ra kết luận);
    Năng lực chuyên biệt môn Giáo dục công dân: năng lực tự nhận thức, tự điều
    chỉnh hành vi phù hợp với pháp luật và chuẩn mực đạo đức xã hội; năng lực tự chịu
    trách nhiệm và thực hiện trách nhiệm công dân với cộng đồng đất nước; năng lực giải
    quyết các vấn đề đạo đức, pháp luật, chính trị, xã hội; năng lực đánh giá (năng lực tư
    duy phê phán)
    Năng lực chuyên biệt môn hóa học: năng lực thực hành thí nghiệm và vận dụng
    kiến thức hóa học vào thực tiễn (điều chế dung dịch rửa tay khô)
    Năng lực chuyên biệt các môn nghệ thuật: năng lực cảm thụ thẩm mĩ, từ đó
    đánh giá và sáng tạo thẩm mĩ.
    Bước 3: Xác định các vấn đề cần giải quyết trong dự án/ Câu hỏi nghiên cứu
    1. Thực trạng đại dịch Covid-19. Trả lời câu hỏi: Đại dịch Covid 19 trên thế
    giới và ở Việt Nam đang diễn ra như thế nào?
    2. Phân tích nguyên nhân lây lan của dịch bệnh. Trả lời các câu hỏi: Cơ chế lây
    truyền của bệnh gây ra bởi virut Côrôna, biểu hiện của bệnh như thế nào? Tại sao căn
    bệnh này lại lây lan nhanh trên phạm vi toàn cầu và mức độ nguy hiểm của nó.
    17
    3. Đề xuất các giải pháp để chung tay đẩy lùi đại dịch Covid-19
    Trả lời các câu hỏi: Tuyên truyền về đại dịch Covid -19bằng cách nào? Những hành
    động cụ thể nào nhằm đẩy lùi đại dịch Covid-19
    Bước 4: Xác định các nội dung kiến thức STEM cần sử dụng để giải quyết vấn đề
    Trả lời cho câu hỏi: Vận dụng những nội dung kiến thức nào để thực hiện dự
    án?
    Ngoài các nội dung kiến thức của 4 lĩnh vực: Khoa học, công nghệ, kĩ thuật, toán học;
    dự án còn vận dụng kiến thức của lĩnh vực nghệ thuật.
    1. Khoa học (Science)
    Dự án vận dụng một số kiến thức cơ bản của các môn khoa học tự nhiên:
    Sinh học qua việc tìm hiểu Tên gọi; nguồn gốc; lịch sử dịch bệnh; cấu trúc;
    hình thức lây truyền, dấu hiệu và triệu chứng; giao thức chuẩn đoán; cách phòng ngừa
    dịch bệnh.
    Toán học, hóa học, lí học: Điều chế nước rửa tay khô. Tính toán hàm lượng
    thành phần, nồng độ Ethanol (Cồn); Deionized Water (Nước tinh khiết); Sodium
    Lactate (Chất hút ẩm); Fragrance (Hương liệu tạo mùi/Tinh dầu làm thơm);
    Benzalkonium Chloride (Chất diệt khuẩn); giải thích Sự bay hơi của cồn; tính toán
    hàm lượng thành phần, nồng độ chất dưỡng ẩm, dưỡng da tay, làm sao cho tay không
    bị khô (có thể thay thế bằng gel nha đam hoặc vitamin E dạng dầu lỏng), tinh dầu
    (thành phần này không bắt buộc trong cách làm nước rửa tay khô; đây là thành phần
    thêm vào giúp giảm bớt mùi của cồn, tạo mùi thơm dễ chịu và có công dụng dưỡng ẩm
    tốt hơn, có thể sử dụng các loại như tinh dầu tràm, tinh dầu quế, tinh dầu bạc hà,…),
    tính toán diện tích mô hình bệnh viện cho phù hợp với diện tích trường Ngô Quyền để
    có thể chuyển trường học thành một bệnh viện dã chiến trong trường hợp khẩn cấp .
    Ngoài ra, dự án còn vận dụng kiến thức cơ bản của các môn khoa học khác như:
    Địa lí, Ngữ văn, Giáo dục công dân, Lịch sử, Thể dục: Tính toán và vẽ biểu đồ số ca
    nhiễm; tìm hiểu lịch sử dịch bệnh; nêu những bài học rút ra từ cuộc chiến “chống dịch
    như chống giặc” ; Trách nhiệm của công dân với cộng đồng và với việc phòng ngừa,
    đẩy lùi những dịch bệnh hiểm nghèo nói chúng, đẩy lùi coronavirus nói riêng?
    Ngay cả môn Thể dục, có thể làm các clip rất chân thực, tự nhiên khi cảnh quay
    là tại nhà của các giáo viên để hướng dẫn HS rèn luyện các bài tập TDTT cơ bản để
    nâng cao sức khỏe.
    2. Công nghệ (Technology)
    Sử dụng mạng Internet để tìm hiểu các vấn đề cần giải quyết
    Sử dụng Power point để trình bày các vấn đề tìm hiểu, báo cáo dự án.
    Sử dụng các trang facebook, zalo để liên hệ làm việc nhóm trong giai đoạn cách

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Thiết kế và tổ chức dạy học chủ đề STEM tại câu lạc bộ STEM trường THPT

    SKKN Thiết kế và tổ chức dạy học chủ đề STEM tại câu lạc bộ STEM trường THPT

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    I. ĐIỀU KIỆN TẠO RA SÁNG KIẾN
    Bộ Giáo dục và Đào tạo đã giao quyền tự chủ xây dựng và thực hiện kế
    hoạch giáo dục, phát huy vai trò sáng tạo của nhà trường và giáo viên; chỉ đạo các
    cơ sở giáo dục trung học, tổ chuyên môn và giáo viên chủ động, linh hoạt trong
    việc xây dựng kế hoạch giáo dục định hướng phát triển năng lực học sinh phù hợp
    với điều kiện thực tế của nhà trường, địa phương và khả năng của học sinh. Từ
    năm học 2013-2014, các trường phổ thông được giao quyền tự chủ trong việc xây
    dựng và triển khai kế hoạch giáo dục dựa vào mục tiêu giáo dục quy định trong
    chương trình góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, phù hợp với điều kiện cụ thể
    của nhà trường theo tinh thần các văn bản chỉ đạo của Bộ GDĐT: Công văn số
    3535/BGDĐT-GDTrH ngày 27 tháng 5 năm 2013 về việc Hướng dẫn triển khai
    thực hiện phương pháp “Bàn tay nặn bột” và các phương pháp dạy học tích cực
    khác; Công văn số 791/HD-BGDĐT ngày 25 tháng 6 năm 2013 về việc hướng
    dẫn thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông; Công văn số
    5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08 tháng 10 năm 2014 về việc hướng dẫn sinh hoạt
    chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và
    quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học/trung tâm giáo dục
    thường xuyên qua mạng; các công văn hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục
    trung học hằng năm. Theo đó, thay cho việc dạy học đang được thực hiện theo
    từng bài/tiết trong sách giáo khoa như hiện nay, các tổ/nhóm chuyên môn căn cứ
    vào chương trình và sách giáo khoa hiện hành, lựa chọn nội dung để xây dựng
    các chủ đề dạy học trong mỗi môn học và các chủ đề tích hợp liên môn phù hợp
    với việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực trong điều kiện thực tế của nhà
    trường. Trên cơ sở rà soát chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương trình
    hiện hành và các hoạt động học dự kiến sẽ tổ chức cho học sinh theo phương
    pháp dạy học tích cực, xác định các năng lực và phẩm chất có thể hình thành cho
    học sinh trong mỗi chuyên đề đã xây dựng.
    Theo nội dung chỉ đạo của các công văn, khuyến khích các nhà trường:
    Trong năm học 2015-2016, nếu có điều kiện thuận lợi, nhà trường có thể giao cho
    các tổ/nhóm chuyên môn xây dựng và thực hiện một vài chủ đề tích hợp liên môn
    phù hợp. Trong trường hợp chưa có điều kiện thực hiện trong năm học 2015-
    2016, các nhà trường cần tổ chức xây dựng kế hoạch giáo dục trong đó có các
    chủ đề tích hợp liên môn để thực hiện từ năm học 2016-2017.
    Các kiến thức liên môn có thể nằm ở chương trình của các lớp khác nhau,
    hay ở cùng một môn học nhưng ở các giai đoạn khác nhau đều có thể được lựa
    3
    chọn để xây dựng thành các chủ đề dạy học tích hợp liên môn hay tích hợp kiến
    thức ở cùng một môn học.
    Thể theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, kế hoạch triển khai các bài học/chủ
    đề STEM và tổ chức các hoạt đông của câu lạc bộ STEM trong nhà trường.
    Với những lý do trên tôi chọn đề tài: “Thiết kế và tổ chức dạy học chủ đề
    STEM tại câu lạc bộ STEM trường THPT Nguyễn Khuyến” để hướng dẫn HS
    học tập bài học STEM và tổ chức các hoạt động trải nghiệm tại câu lạc bộ STEM
    của trường.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    1.1. Đến nay, khái niệm STEM không còn xa lạ gì đối với đa số giáo viên ở
    các cấp các cấp học, tuy nhiên không ít giáo viên vẫn còn những nhầm lẫn giữa
    khái niệm STEM và S TEAM hay STREAM
    Tôi cũng có dịp tham gia các lớp tập huấn về triển khai đưa giáo dục STEM
    vào trong các nhà trường tại TP Hải Phòng, tại thành phố Đã Nẵng, hay Đại học
    Bách khoa Hà Nội. hay là thành viên tham gia tích cực của các diễn đàn: “Nhóm
    STEM 4.0”; nhóm facebook “Công đồng giáo viên STEM”” …thì gặp rất nhiều
    các tình huống như:
    Tham quan một sản phẩm của một chủ đề STEM, tại gian trưng bày của
    ngày Hội STEM, có vài giáo viên tranh luận nhau sôi nổi, “Đây là sản phẩm
    STEM”, nhóm khác thì đây là sản phẩm “STEAM” .. Như vậy, việc việc hiểu căn
    kẽ về khái niệm STEM cũng chưa thống nhất giữa những người sẽ triển khai việc
    giảng dạy các chủ đề STEM trong nhà trường
    Trên nhóm “Cộng đồng giáo viên STEM” có rất nhiều ý kiến: “Các thầy cô
    ơi ai có giáo án STEM lịch sử 7 cho em xin”, hay những câu tương tự về giáo án
    hay chủ đề STEM cho các môn Văn học, Địa lí … Thực trạng này cũng đang sảy
    ra ở rất nhiều trường học nhiều giáo viên tiến hành cho học sinh làm một thí
    nghiệm trong giờ Hóa học hay một giừo Vật lí học sinh chỉ quan sát, hoặc được
    làm theo một thao tác có trước và gọi đó là một giờ dạy STEM , với những nội
    dung trên nêu ra trên diễn đàn mà điều này đã có lúc thành viên tích cực Đỗ
    Hoàng Sơn – Giám đốc Công ty Cổ phần Văn hóa Giáo dục Long Minh đã trả lời
    “không có STEM cho Văn học, STEM cho Lịch sử; hay không có STEM Hóa
    hco mà chỉ có thí nghiệm Hóa…”
    4
    Và khi nhà trường, đã có câu lạc bộ STEM triển khai đến các nhóm nhỏ
    dựu án, thì các nhóm dự án này lại lấy tên các tiêu đề “CLB STEM Hóa học”.
    “Câu lạc STEM quan trắc mặn” … như vậy việc hiểu cá thaautj ngữ STEM ở đây
    chưa nhất quán rõ ràng
    Tóm lại, cần phải nghiên cứu kỹ tổng quan về STEM, định hướng đưa giáo
    dục STEM trong chương trình giáo dục ở các cơ sở giáo dục, nắm vững mục
    đích, chủ chương đường lối về giáo dục STEM của đơn vị để triển khai một cách
    đồng bộ với các hoạt động giáo dục khác.
    1.2. Việc quyết liệt của các cấp quản lí cũng như các cơ sở giáo dục đưa giáo
    dục STEM vào nhà trường dẫn đến một thực tế là:
    Nhiều giáo viên còn mơ hồ về khái niệm và mục tiêu của giáo dục STEM,
    chưa phân biệt được như thế nào là bài giảng STEM, như thế nào là hoạt động
    trải nghiệm STEM. Do chưa hiểu thấu đáo, nên khi tham gia các buổi tập huấn,
    các diễn đàn về giáo dục STEM, họ còn có một số ngộ nhận thường gặp như:
    – Nghe diễn giải về máy in 3D, về lập trình và lắp ráp robot là giáo dục
    STEM, có nhiều giáo viên quan niệm giáo dục STEM là thực hiện quy trình in
    3D, thực hiện lập trình lắp ráp robot. Giáo dục STEM có nền tảng từ giáo dục
    khoa học nên chủ đề giáo dục STEM rất đa dạng đi từ những kiến về Vật lí, Hóa
    học, Sinh học, khoa học môi trường, khoa học vũ trụ … Khi phân tích máy in 3D,
    thì phải được hiểu nó đang trong khâu nào của quy trình thiết kế kỹ thuật trong
    giáo dục STEM, hay học sinh lập trình và lắp ráp robot thì câu hỏi đặt ra là học
    sinh học được những kiến thức gì? Có sự gắn kết giữa các nhóm kiến thức STEM
    với nhau như thế nào? Chương trình giúp học sinh học được kỹ năng gì? Học sinh
    liên hệ được gì với thực tế xung quanh.
    Như vậy, cần nghiên cứu một quy trình thiết kế kỹ thuật trong giáo dục
    STEM chuẩn nhất áp dụng cho các bài dạy dạy STEM và hoạt động trải nghiệm
    STEM với sự linh hoạt phù hợp cho từng chủ đề, từng mục tiêu giáo dục cụ thể
    và cũng vừa sức, phù hợp với đặc điểm của cơ sở giáo dục. Đồng thời áp dụng
    của một số phương pháp dạy học hiệu quả cho hoạt động giáo dục STEM như:
    Phương pháp 5E; Quy trình thiết kế kỹ thuật gồm 6 bước (hỏi, tượng tưởng, lên
    kế hoạch, sáng tạo, kiểm tra và cải thiện, chia sẻ); phương pháp dạy học các chủ
    đền STEM dựa trên khám phá; hay xây dựng bộ công cụ đánh giá chủ đề STEM,
    để tổ chức dạy học các chủ đề STEM được hiệu quả.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    5
    Phần 1.
    NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ STEM
    VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁO DỰC STEM TRONG CHƯƠNG TRÌNH
    GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018
    1. 1. Giải nghĩa các thuật từ STEM
    Thuật ngữ STEM là viết tắt của bốn chữ: Khoa học (Science), Công nghệ
    (Technology), Kỹ thuật (Engineering), Toán (Mathematics). Thuật ngữ này bắt
    đầu vào những năm 1990 tại Hoa kỳ.
    Thuật ngữ STEAM: Năm 2008 tại một hội nghị khoa khọc về giáo dục
    công nghệ tại một thành phố của Mỹ, người ta đã đề xuất mô hình giáo dục kết
    hợp với yếu tố nghệ thuật (Art) và gọi đó là giáo dục STEAM = STEM + ARrt,
    tích hợp thêm yếu tố nghệ thuật , theo quan điểm của người sáng lập thì yếu tố
    nghệ nghệ thuật ở đây bao gồm nghệ thuật ngôn ngữ, nghiên cứu xã hội, nghệ
    thuật về thể chất, mỹ thuật và âm nhạc, với mô hình giáo dục này đã lan nhanh
    đến nhiều nước, như ở Hàn Quốc, Bộ Giáo dục Khoa học và Công nghệ đã đưa
    vào chương trình giáo dục tổng thể, là một chương trình giáo dục đào tạo cho học
    sinh phổ thông từ năm 2010. Chương trình giáo dục này được đông đảo giáo viên
    cấp tiểu học và mầm non ủng hộ, vì ở các cấp học này quá trình tích hợp trong
    dạy học dễ dàng hơn.
    Thuật từ STREAM: năm 2014, theo luận điểm của tiến sĩ Rob Rurman, Mỹ
    sẽ là thiếu sót lớn nếu bỏ qua rèn luyện khi bỏ qua rèn luyện khả năng đọc hiểu và
    viết cho học sinh. Nên ông đề nghị bổ sung thêm chữ R (viết tắt của Reading
    trong tiếng anh) và trở thành STREAM, theo đó STREAM có được theo công
    thức STREAM = STEAM + Arts + [reading + writing].
    Như vậy, việc tìm hiểu các thuật ngữ STEM, STEAM, STREAM, để giúp
    giáo viên có cái nhìn tổng thể giúp cho giáo viên chủ động trong việc giải thích
    thắc mắc của đồng nghiệp của học sinh, … Theo chương trình giáo dục phổ thông
    mới có định hướng cụ thể, rõ ràng là tập trung sâu vào triển khai các chủ đề giáo
    dục STEM, phải thể hiện rõ được giáo dục STEM với sự đa dạng trong cách tiếp
    cận chú trọng thực hành khoa học và kỹ thuật, tư duy cao, có sự gắn kết liên môn.
    1.2. Định hướng giáo dục STEM trong chương trình giáo dục phổ thông
    2018
    Việt Nam là quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
    hội nhập quốc tế, cuộc Cách mạng 4.0 mở ra nhiều cơ hội trong việc nâng cao
    trình độ công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất và cạnh tranh sản phẩm đồng thời
    6
    là cơ hội lớn cho sản xuất công nghiệp với trình độ và công nghệ tiên tiến.
    Tại Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 4/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ đã chỉ rõ:
    “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với xu hướng phát triển dựa trên nền
    tảng tích hợp cao độ của hệ thống kết nối số hóa – Vật lí – Sinh học với sự đột
    phá của Internet vạn vật và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi căn bản nền sản
    xuất của thế giới. Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với đặc điểm là tận dụng
    một cách triệt để sự lan tỏa của số hóa và công nghệ thông tin. Làn sóng công
    nghệ mới này đang diễn ra với tốc độ khác nhau tại các quốc gia trên thế giới,
    nhưng đang tác động mạnh mẽ, ngày một tăng tới mọi mặt của đời sống kinh
    tế- xã hội, dẫn đến việc thay đổi phương thức và lực lượng sản xuất của xã
    hội”.
    Tuy nhiên, nếu không bắt nhịp được với tốc độ phát triển của thế giới và khu
    vực, Việt Nam sẽ phải đối mặt những thách thức, tác động tiêu cực như: Sự tụt
    hậu về công nghệ dẫn đến suy giảm sản xuất kinh doanh; dư thừa lao động có kĩ
    năng và trình độ thấp gây phá vỡ thị trường lao động truyền thống, ảnh hưởng tới
    tình hình kinh tế xã hội đất nước.”
    Chúng ta đang tích cực thực hiện đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đào tạo
    theo tinh thần của Nghị quyết 29-BCHTW, đổi mới phương pháp dạy, hình thức
    tổ chức dạy học để chuyển từ chủ yếu quan tâm đến việc cung cấp kiến thức sang
    việc quan tâm hình thành, phát triển các năng lực, phẩm chất người học, phát huy
    tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, tăng cường kĩ năng thực hành…
    Như vậy, theo chương trình giáo dục phổ thông mới 2018, giáo dục STEM
    được thể hiện rõ qua các luận điểm [2]:
    1.2.1. Về nhận thức và hành động
    Về TƯ TƯỞNG (chiến lược, định hướng) giáo dục, bên cạnh định hướng
    giáo dục toàn diện, THÚC ĐẨY giáo dục 4 lĩnh vực: Toán học, Khoa học tự
    nhiên, Kĩ thuật, Công nghệ với mục tiêu “định hướng và chuẩn bị nguồn nhân lực
    đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các ngành nghề liên quan tới các lĩnh vực
    STEM, nhờ đó, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế”;
    Về phương pháp TIẾP CẬN LIÊN MÔN (khoa học, công nghệ, kĩ thuật,
    toán) trong dạy học với mục tiêu: nâng cao hứng thú học tập các môn học STEM;
    vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đề thực tiễn; (3) kết nối trường
    học và cộng đồng; định hướng hành động, trải nghiệm trong học tập; (hình thành
    và phát triển năng lực và phẩm chất người học.
    1.2.2. Về phương pháp tiếp cận liên môn và phát triển năng lực của người
    học:
    7
    Giáo dục STEM trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 có đầy đủ
    các môn học STEM. Đó là, các môn toán, khoa học tự nhiên, công nghệ, tin học.
    Việc hình thành nhóm môn Công nghệ và Nghệ thuật ở giai đoạn giáo dục định
    hướng nghề nghiệp cùng với quy định chọn 5 môn học trong 3 nhóm sẽ đảm bảo
    mọi học sinh đều được học các môn học STEM;
    Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã nâng cao vai trò giáo dục tin học
    và giáo dục cộng nghệ. Điều này không chỉ thể hiện rõ tư tưởng giáo dục STEM
    mà còn là sự điểu chỉnh kịp thời của giáo dục phổ thông trước cuộc cách mạng
    công nghiệp 4.0;
    Các chủ đề STEM trong chương trình môn học tích hợp ở giai đoạn giáo
    dục cơ bản như các môn môn Khoa học tự nhiên, mở rộng ở lớp 10, 11, 12; các
    hoạt động trải nghiệm dưới hình thức câu lạc bộ nghiên cứu khoa học, trong đó có
    các hoạt động nghiên cứu STEM;
    + Các nội dung giáo dục STEM đa dạng, phong phú thể hiện và xây dựng
    thông qua chương trình địa phương, kế hoạch giáo dục nhà trường; qua những
    chương trình, hoạt động STEM được triển khai,
    1.2.3. Về mức độ phù hợp ở các cấp độ dạy học tích hợp theo chủ đề liên
    môn, vận dụng kiến thức liên môn giải quyết các vấn đề thực tiễn.
    Nghiên cứu chương trình giáo dục phổ thông 2018, có thể chỉ ra các hình
    thức giáo dục STEM như: (1) Dạy học theo chủ đề liên môn; (2) Hoạt động
    nghiên cứu khoa học của học sinh; (3) Hoạt động câu lạc bộ khoa học – công
    nghệ; (4) Hoạt động tham quan, thực hành, giao lưu với các cơ sở giáo dục đại
    học, giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp. Các hoạt động dạy và học có thể
    được thực hiện ở phòng học bộ môn, vườn trường, không gian sáng chế
    (makerspaces),… hoặc ở các cơ sở giáo dục, đơn vị kinh tế – xã hội ngoài khuôn
    viên trường học.
    1.2.4. Cơ hội thực hiện một dung giáo dục STEM thể hiện qua một số môn
    học [2]:
    Môn Vật lí:
    Môn vật lí thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, mô tả các hiện tượng tự nhiên
    và đặc tính của vật chất; nội dung môn vật lí bao gồm từ cấu tạo hạt cơ bản tới
    cấu trúc vũ trụ. Vật lí học là cơ sở của nhiều ngành kĩ thuật và công nghệ quan
    trọng. Vì vậy những hiểu biết và phương pháp nhận thức vật lí có giá trị to lớn
    trong quá trình nhận thức và trong cuộc sống. Có rất nhiều cơ hội trong việc tích
    hợp những nội dung vật lí với các môn học khác để thực hiện dạy học theo phương
    thức STEM, theo đó học sinh được vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đem đến sự
    8
    hứng thú và những trải nghiệm có ý nghĩa trong học tập môn học. Bản chất dạy
    học các ứng dụng kĩ thuật của vật lí có sự tích hợp rõ ràng giữa vật lí và kĩ thuật.
    Việc này càng rõ ràng hơn nếu vận dụng quy trình thiết kế kĩ thuật để tổ chức dạy
    học các kiến thức vật lí trong từng bài học.
    Môn Hóa học:
    Hoá học là ngành khoa học thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, nghiên cứu về
    thành phần cấu trúc, tính chất và sự biến đổi của các đơn chất và hợp chất. Hoá
    học có sự kết hợp chặt chẽ giữa lí thuyết và thực nghiệm, là cầu nối các ngành
    khoa học tự nhiên khác như vật lí, sinh học, y dược và địa chất học. Những tiến
    bộ trong lĩnh vực hoá học gắn liền với sự phát triển của những phát hiện mới
    trong các lĩnh vực của các ngành sinh học, y học và vật lí. Hoá học đóng vai trò
    quan trọng trong cuộc sống, sản xuất, góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội.
    Những thành tựu của hoá học được ứng dụng vào các ngành vật liệu, năng lượng,
    y dược, công nghệ sinh học, nông – lâm – ngư nghiệp và nhiều lĩnh vực khác.
    Trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Hóa học là môn học thuộc giai
    đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp ở cấp trung học phổ thông, được học sinh
    lựa chọn theo định hướng nghề nghiệp, sở thích và năng lực của bản thân.
    Các kiến thức trong Hóa học đều có mối quan hệ hữu cơ với các môn học
    khác như Toán học, Vật lí, Sinh học. Ví dụ: Cấu tạo nguyên tử, phương trình hóa
    học, điều chế, thu khí, tính chất vật lí của các chất… có mối quan hệ đến kiến
    thức Toán học, Vật lí; Các kiến thức về quang hợp, axit lipit, gluxit, protein… gắn
    liền với kiến thức sinh học. Do đó, việc dạy học Hóa học bằng phương thức giáo
    dục tích hợp theo cách tiếp cận liên môn là cần thiết. Bên cạnh đó, các kiến thức
    về phân bón hóa học, ứng dụng của các chất… đều gắn kết với công nghệ; các bài
    học có tích hợp giáo dục môi trường như chống ô nhiễm môi trường nước, hiệu
    ứng nhà kính, mưa axit, dầu mỏ, nhiên liệu… đều liên quan đến việc giáo dục ý
    thức bảo vệ môi trường, đến lĩnh vực kinh tế – xã hội. Thông qua mô hình STEM,
    học sinh được học Hóa học trong một chỉnh thể có tích hợp với toán học, công
    nghệ, kĩ thuật và các môn khoa học khác; không những thế học sinh còn được trải
    nghiệm, được tương tác với xã hội, với các doanh nghiệp. Từ đó kích thích được sự
    hứng thú, tự tin, chủ động trong học tập của học sinh; hình thành và phát triển các
    năng lực chung và năng lực đặc thù học tập; tạo ra sản phẩm giáo dục đáp ứng
    với nhu cầu nguồn nhân lực hiện đại.
    Môn Công nghệ:
    Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, môn Công nghệ phản ánh hai
    thành phần là T (technology) và E (engineering) trong bốn thành phần của STEM.
    9
    Vì vậy, môn Công nghệ có vai trò quan trọng thể hiện tư tưởng giáo dục STEM
    trong chương trình giáo dục phổ thông mới.
    Sản phẩm, quá trình công nghệ môn học đề cập luôn mang tính tính hợp, gắn
    với thực tiễn, liên hệ chặt chẽ với Toán học và Khoa học. Đặc điểm này là cơ sở
    để tăng cường giáo dục STEM ngay trong dạy học môn Công nghệ dựa vào các
    hoạt động thiết kế kĩ thuật, hoạt động nghiên cứu khoa học kĩ thuật.
    Có sự tương đồng về phương pháp, hình thức tổ chức dạy học giữa dạy học
    công nghệ và giáo dục STEM. Đó là chú trọng vào hoạt động, thực hành, trải
    nghiệm và định hướng sản phẩm. Đây cũng là cơ sở để triển khai dạy học nhiều
    nội dung công nghệ tiếp cận STEM.
    Giáo dục STEM trong môn Công nghệ được thực hiện thông qua dạy học
    các chủ đề, mạch nội dung, chuyên đề học tập từ tiểu học tới trung học như mô
    hình điện gió, mô hình điện mặt trời, ngôi nhà thông minh, các bài toán thiết kế kĩ
    thuật và công nghệ, nghề nghiệp STEM; các dự án nghiên cứu thuộc các lĩnh vực
    kĩ thuật cơ khí, hệ thống nhúng, robot và máy thông minh. Khi triển khai chương
    trình, giáo dục STEM trong dạy học môn Công nghệ sẽ tiếp tục được mở rộng
    thông qua dạy học các chủ đề liên môn giữa các môn học STEM.
    Môn Công nghệ cung cấp kiến thức có hệ thống về quy trình và kĩ thuật dùng
    để chế biến vật liệu và thông tin, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng
    trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ. Công nghệ, dựa trên những thành
    tựu của khoa học, tạo ra các sản phẩm, dịch vụ công nghệ, giải quyết các vấn đề
    đặt ra trong thực tiễn, cải tạo thế giới, định hình môi trường sống của con người.
    Công nghệ là cầu nối, góp phần làm nổi rõ tính ứng dụng, gắn kết với thực tiễn của
    khoa học và toán học với thế giới, thể hiện rõ sự sáng tạo của con người thông qua
    các giải pháp công nghệ và tối ưu. Do vậy, Công nghệ đóng vai trò quan trọng
    trong việc cụ thể hóa triển khai các chủ đề STEM.
    Môn Toán:
    Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, môn Toán phản ánh thành phần
    M (mathematics) của STEM. Vì vậy, môn Toán có nhiều cơ hội thể hiện tư tưởng
    giáo dục STEM trong chương trình giáo dục phổ thông mới.
    Môn Toán với tính đặc thù là công cụ nền tảng trong nghiên cứu tất cả các
    môn khoa học tự nhiên nên gần như mặc định là nó luôn xuất hiện trong mọi chủ
    đề giáo dục STEM. Các tính toán thường hiện hữu một cách ngầm ẩn nơi người
    học sinh dù họ có ý thức hoặc không để tâm đến việc mình đang sử dụng Toán
    học như một công cụ trong các giải pháp cụ thể để giải quyết vấn đề mà người
    giáo viên đặt ra trong ngữ cảnh môn học Vật lý, Hoá học, Sinh học, Công nghệ,
    Tin học,… Và vì vậy, vị trí của môn Toán thường khá khiêm tốn trong một chủ
    10
    đề giáo dục STEM.
    Dù vậy, vẫn có thể xây dựng một số chủ đề dạy học theo định hướng giáo
    dục STEM mà trong đó một số tri thức Toán đóng vai trò chính. Đó thường là khi
    tri thức Toán này có mối quan hệ liên môn hoặc xuyên môn như gắn liền với tri
    thức tương ứng bên Vật lý (véctơ toán-vectơ lực, tâm tỉ cự-trọng tâm, …), trong
    Sinh học (xác suất-tỉ lệ trong lai 1 tính trạng, …), … Trong những trường hợp
    này, vấn đề của môn học khoa học có thể được dùng như “vật liệu” để tổ chức hoạt
    động nghiên cứu tri thức Toán và sản phẩm của hoạt động STEM sẽ gắn với ứng
    dụng của tri thức khoa học tương ứng
    Môn Tin học:
    Khoa học máy tính yêu cầu và có liên quan rất nhiều đến sự hiểu biết, ứng
    dụng, đánh giá các công nghệ của nhiều chuyên ngành khác nhau. Có thể nói tư
    duy máy tính, các nguyên tắc cơ bản của tính toán, các cơ sở lí thuyết giải quyết
    vấn đề dựa trên máy tính là chìa khóa dẫn đến thành công của các nhánh khoa học
    khác như kĩ nghệ, kinh doanh và thương mại trong thế kỷ 21.
    Trong giáo dục phổ thông, Tin học là môn học có nhiều cơ hội thể hiện tư
    tưởng giáo dục STEM. Môn học này có nhiều điểm chung nhất với đồng thời tất
    cả các thành phần của STEM là S (Science), T (Technology), E (Engineering), M
    (Mathematics). Cụ thể là:
    – Hướng kiến thức này dựa trên một hệ thống cơ sở lí luận toán học chặt chẽ,
    logic và khoa học.
    – Trọng tâm của Khoa học máy tính là “tư duy máy tính” lấy cơ sở lí luận
    hàn lâm làm nền tảng kết hợp thực nghiệm và đánh giá, đo đạc số liệu một cách
    khoa học.
    – Lõi của Khoa học máy tính là phần kiến thức thiết kế, xây dựng, kiểm thử
    và đánh giá các lập trình, một kĩ năng đòi hỏi quá trình tiêu chuẩn kĩ thuật.
    – Môn Tin học cung cấp các kiến thức công cụ cốt lõi về máy vi tính và ứng
    dụng của máy vi tính trong đời sống và kĩ thuật. Cơ hội tích hợp nội dung của
    môn Tin học là rất lớn. Môn Tin học vừa thể hiện như một dạng thức công nghệ
    trong STEM vừa là nơi kết nối với tư duy lôgic trong toán học. Ngay khi sáng chế
    ra máy vi tính, hàng loạt giải pháp kĩ thuật và các vấn đề khoa học đã được giải
    quyết hiệu quả và nhanh chóng, ở trong trường phổ thông các thí nghiệm khoa
    học ghép nối với các cảm biến cũng là một dạng thức sơ khai của việc tích hợp tin
    học với lĩnh vực khoa học. Với sự phát triển vũ bão của công nghệ thông tin, yếu
    tố công nghệ trong môn tin học đóng vai trò then chốt trong các chủ đề STEM về
    robotic, trí tuệ nhân tạo và Internet vạn vật (IoT)
    11
    Môn Sinh học:
    Sinh học là môn khoa học nghiên cứu về thế giới sinh vật vô cùng gần gũi
    với đời sống hằng ngày của con người. Bên cạnh đó, môn Sinh học cũng có mối
    quan hệ chặt chẽ với các môn học khác như Vật lí, Hóa học, Toán học,…; vận
    dụng kiến thức của các môn học này vào giải thích các hiện tượng, quy luật sinh
    học. Cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, kiến thức Sinh học ngày càng
    được bổ sung nhiều hơn và ngày càng rút ngắn khoảng cách giữa lí thuyết và ứng
    dụng. Chính vì thế các chủ đề STEM trong môn Sinh học cũng khá phong phú và
    đa dạng, từ những chủ đề liên quan đến việc chăm sóc sức khỏe bản thân, gia đình
    đến những chủ đề giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu như biến đổi khí hậu,
    ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học,
    1.3. Phân tích nghiên cứu công văn của Bộ Giáo dục và Đào tạo [1] và
    lập kế hoạch chi tiết phù hợp với đặc thù môn học và cơ sở vật chất, điều
    kiện của nhà trường, cụ thể gồm các nội dung:
    – Dạy học các môn khoa học theo bài học STEM
    + Đây là hình thức tổ chức giáo dục STEM chủ yếu trong nhà trường. Theo
    cách này giáo viên thiết kế các bài học STEM để triển khai trong quá trình dạy
    học các môn học thuộc chương trình giáo dục phổ thông theo hướng tiếp cận tích
    hợp nội môn hoặc tích hợp liên môn ngay trong quá trình dạy học;
    + Các chủ đề, bài học, hoạt động STEM bám sát nội dung chương trình của
    các môn học nhằm thực hiện chương trình giáo dục phổ thông theo thời lượng
    quy định của các môn học trong chương trình.
    + Học sinh thực hiện bài học STEM được chủ động nghiên cứu sách giáo
    khoa, tài liệu học tập để tiếp nhận và vận dung kiến thức thông qua các hoạt
    động: lựa chọn giải pháp giải quyết vấn đề; thực hành thiết kế, chế tạo, thử
    nghiệm mẫu thiết kế; chia sẻ, thảo luận, hoàn thiện hoặc điều chỉnh mẫu thiết kế
    dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
    – Tổ chức hoạt động trải nghiệm STEM
    + Trong hoạt động trải nghiệm STEM, học sinh được khám phá các thí
    nghiệm, ứng dụng khoa học, kỹ thuật trong thực tiễn đời sống. Qua đó, nhận biết
    được ý nghĩa của khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học đối với đời sống con
    người, nâng cao hứng thú hoc tập các môn học STEM.
    + Để tổ chức thành công các hoạt động trải nghiệm STEM, cần có sự tham
    gia hợp tác của với các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở nghiên cứu, cơ sở giáo dục
    nghề nghiệp, doanh nghiệp, hộ kinh doanh, các thành phần kinh tế – xã hội khác
    12
    và gia đình để tổ chức có hiệu quả các hoạt động trải nghiệm STEM phù hợp với
    các quy định hiện hành.
    + Tập trung tổ chức tốt hoạt động của câu lạc bộ STEM tạo tiền đề khác thác
    các dựu án nghien cứu trong khuôn khổ cuộc thi khoa học kỹ thuật, đồng thời qua
    tham gia câu lạc bộ STEM còn là cơ hội để học sinh thấy được sự phù hợp về
    năng lực, sử thích, giá trị của bản thân với nghề nghiệp thuộc lĩnh vực STEM.
    + Hoạt động trải nghiệm STEM được tổ chức theo kế hoạch giáo dục hàng
    năm của nhà trường; nội dung mỗi buổi trải nghiệm được thiết kế thành bài học
    cụ thể, mô tả rõ mục đích, yêu cầu, tiến trình trải nghiệm và dự kiến kết quả. Ưu
    tiên những hoạt động liên quan, hoạt động tiếp nối ở mức vận dụng (thiết kế, thử
    nghiệm, thảo luận và chỉnh sửa) của các hoạt động trong bài học STEM theo kế
    hoạch dạy học của nhà trường.
    – Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học, kĩ thuật
    + Giáo dục STEM thực hiện thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học và tổ
    chức các cuộc thi sáng tạo khoa học kỹ thuật với các chủ đề khác nhau thuộc các
    lĩnh vực năng lượng … robot, năng lượng tái tạo, môi trường, biến đổi khí hậu,
    nông nghiệp thông minh …
    + Hoạt động này dành cho những học sinh có năng lực, sở thích và hứng thú
    với các hoạt động tìm tòi, khám phá khoa học, kỹ thuật giải quyết các vấn đề thực
    tiễn; thông qua quá trình tổ chức dạy học các bài học STEM và hoạt động trải
    nghiệm STEM phát hiện các học sinh có năng khiếu để bồi dưỡng, tạo điều kiện
    thuận lợi học sinh tham gia nghiên cứu khoa học, kĩ thuật.
    + Tổ chức tốt hoạt động nghiên cứu khoa học, kĩ thuật được thực hiện dưới
    dạng một đề tài/dự án nghiên cứu bởi một cá nhân hoặc nhóm hai thành viên,
    dưới sự hướng dẫn của giáo viên hoặc nhà khoa học có chuyên môn phù hợp.
    Phân tích các nội dung trên, theo tôi có thể xây dựng chủ đề STEM thông
    qua các bước:
    Bước 1: Xác định đối tượng, thời gian, hình thức chủ đề chủ đề STEM
    + Về đối tượng: bám sát đối tượng phù hợp với chủ đề trên cơ sở chương
    trình kế hoạch giáo dục của tổ nhóm chuyên môn trong nhà trường (với trường
    THPT Nguyễn Khuyến tập trung vào đối tượng học sinh là lóp 10 và lớp 11)
    + Về thời gian: xác định rõ thời gian chuẩn bị và thời gian thực hiện. Với
    chủ đề dạy học trên lớp thì thời gian thực hiện là 45 phút, ở câu lạc bộ là 45 phút;
    13
    + Về hình thức: tổ chức giờ học chính khóa tại câu lạc bộ, hoạch có thể tại
    cơ sở sản xuất, doanh nghiệp, xưởng đào tạo …
    Bước 2: Nêu vấn đề thực tiễn
    + Giáo viên có thể nêu vấn đề thực tiễn bằng nhiều hình thức như một câu
    chuyện tinhfh uống thực tiễn, một dự án học tập giải quyết vấn đề thực tiễn, một
    hoạt động trải nghiệm sáng tạo, hay một hoạt động nghiên cứu khoa học… làm
    xuất hiện vấn đề thực tiễn cho học sinh cần giải quyết.
    Bước 3. Đặt câu hỏi định hướng, hình thành ý tưởng của chủ đề, hệ thống
    kiến thức STEM trong chủ đề
    Các câu hỏi tập trung vào các nội dung: Chủ đề nhằm mục đích gì? Nhiệm
    vụ chính trong chủ đề là gì? Chủ đề có ý nghĩa gì trong thực tiễn? Kiến thức các
    môn học STEM nào có liên quan?…
    Xây dựng kiến hệ thống kiến thức thuộc lĩnh vực STEM trong chủ đề, cần
    xác định trọng tâm, kết hợp kiến thức liên môn
    Bước 4. Xác định mục tiêu của chủ đè
    Phải làm rõ được mục tiêu của chủ đề về kiến thức, kỹ năng, thái độ cần đạt
    được sau khi thực hiện chủ đề STEM cho học sinh. Mục tiêu đảm bảo rõ ràng, có
    tính khả thi, phù hợp năng lực học sinh, và điều kiện địa phương, ., nhà trường
    Bước 5. Chuẩn bị các mẫu vật, bằng hóa chất, dụng cụ, thiết bị, vị trí để thực
    hiện chủ đề
    Trên cơ sở, mục tiêu, yêu cầu đạt được của chủ đề, giáo viên chuẩn bị hoặc
    hướng dẫn học sinh chuẩn bị đầy đủ các cơ sở vật chất, dụng cụ … cần thiết để tổ
    chức thực hiện chủ đề
    Bước 6. Xác định quy trình (các chuỗi hoạt động) kỹ thuật giải quyết vấn đề
    thực tiễn bằng ứng dụng STEM và thực hiện được các hoạt động giải quyết vấn
    đề thực tiễn
    Giáo viên xây dựng quy trình thiết kế thực hiện chủ đề STEM theo các hoạt
    động một cách rõ rang, chi tiết, cụ thể để học sinh dễ tthực hiện
    Bước 7. Báo cáo kết quả, nêu kiến nghị, đề xuất hướng phát triển (mới) của
    chủ đề
    14
    Sau khi thực hiện chủ đề, học sinh báo cáo kết quả ứng dụng STEM giải
    quyết vấn đề thực tiễn, có thể đề xuất các vấn đề mới phát sinh, ý tưởng mới liên
    quan đến chủ để đã hoàn thành. Giáo viên tổng kết, kết luận và đánh gái chủ đề.
    1.4. Định hướng và tầm nhìn của trường THPT Nguyễn Khuyến Nam
    Định
    Lãnh đạo nhà trường triển khai quyết liệt từ việc phổ biến toàn bộ cho giáo
    viên nghiên cứu chương trình giáo dục phổ thông 2018, triển khai nhiều hoạt
    động giáo dục trong đó có các hoạt động giáo dục STEM nhằm đáp ứng những
    yêu cầu và mục đích của chương trình giáo dục phổ thông mới, có thể kể đến một
    số các nội dung:
    Toàn bộ giáo viên của nhà trường tham gia nghiên cứu chương trình giáo
    dục phổ thông 2018, BGH có tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm cho từng giai
    đoạn’
    Từ đầu năm 2019, nhà trường đã thành lập các câu lạc bộ STEM, giao cho
    cá nhân phụ trách, liên kết với các trưng tâm có năng lực và kinh nghiệm về giáo
    dục STEM như đại học VinUni, đại học Bách khoa Hà Nội, trường THPT Lê
    Hồng Phong Nam Định, hay mời các chuyên gia về STEM tư vấn hướng dẫn các
    hoạt động của nhà trường, tạo điều kiện thuận lợi về nhân sự, vật chất cho câu lạc
    bộ STEM hoạt động. Trong năm học 2020-2021, BGH chỉ đạo cho CLB tuyển
    thành viên, triển khai các dự án STEM trọng điểm trong năm học như: Dự án
    quan trắc mặn. dự án thiết kế lắp đặt tưới nước tự động cho hệ thống cây cảnh và
    hoa tại khu B của nhà trường, dự án cải tạo và phục chế xe đạp cũ, dự án ứng
    dụng lập trình Arduino cho nhà thông minh, …
    Với sự năng động sáng tạo của lãnh đạo nhà trường, đa phần giáo viên đã
    nghiêm túc nghiên cứu chương trình giáo dục phổ thông mơi, các nhóm dự án
    nhỏ đã triển khai đi, lịch học cố định của các thành viên câu lạc STEM vào chiều
    thứ 3 hàng tuần.
    15
    Phần 2.
    XÂY DỰNG KẾ HOẠCH DẠY HỌC CHỦ ĐỀ STEM TRONG
    TRƯỜNG THPT NGUYỄN KHUYẾN
    1. Xây dựng các tiêu chí xây dựng chủ đề STEM
    Căn cứ văn bản chỉ đạo, kế hoạch triển khai dạy các hoạt động giáo dục
    STEM của nhà trường, nghiên cứu tài liệu hướng dẫn triển khai đưa giáo dục
    STEM vào nhà trường, xây dựng các tiêu chí xây dựng chủ đề dạy học STEM
    gồm:
    1.1. Tiêu chí 1: Chủ đề dạy học STEM tập trung vào các vấn của thực
    tiễn
    Trong năm học 2020-2021, trường THPT Nguyễn Khuyến ngoài các chủ
    đề STEM như thiết kế thiết bị đo TDS trong nước, chế tạo bộ cảm biết bật tắt đèn
    tự động trên nền lập trình Arduino, thiết kế máy bay không động cơ, thiết kế chế
    tạo tên lửa nước, thiết kế chế tạo đèn lồng kéo quân…. Nhà trường định hướng
    vào các chủ đề STEM có tính thực tế là: Dự án quan trắc mặn, đây là dự án liên
    kết với trường đại học Bách Khoa Hà Nội khảo sát vấn đề xâm nhập mặn ở một
    số huyện Hải Hậu, Giao Thủy, Nghĩa Hưng; Dự án phục chế và cải tạo xe đạp
    cũ, với những chiếc xe đạp cũ dư thừa trong các gia định, nhớm sẽ quyên góp ủng
    hộ đề lên kế hoạch lắp đặt, phục chế để thành các xe đạp chắc chắn làm công tác
    thiện nguyện giúp những người dân khó khăn; Dự án thiết kế và lắp đặt hệ thống
    tưới nước tự động cho cây cảnh và hoa tại khu B của nhà trường,
    1.2. Tiều chí 2: Cấu trúc chủ đề/ bài học STEM kết hợp tiến trình khoa
    học và quy trình thiết kế kĩ thuật
    Tiến trình bài học STEM trong nhà trường cũng phải đảm bảo theo một quy
    trình thiết kế kỹ thuật trong giáo giục STEM. Theo quy trình này học sinh cẩn thực hiện
    theo một quy trình cụ thể [2]:
    16
    1.3. Tiêu chí 3: Phương pháp dạy học bài học/chủ đè STEM đưa học sinh
    vào hoạt động tìm tòi và khám phá, định hướng hành động, trải nghiệm và tạo
    ra sản phẩm
    Quá trình tìm tòi khám phá được thể hiện trong tất cả các hoạt động của chủ
    đề STEM, tuy nhiên trong hoạt động 2 và hoạt động 4 quá trình này cần được
    khai thác triệt để. Trong hoạt động 2 học sinh sẽ thực hiện các quan sát, tìm tòi,
    khám phá để xây dựng, kiểm chứng các quy luật. Qua đó, học được kiến thức nền
    đồng thời rèn luyện các kĩ năng tiến trình như: Quan sát, đưa ra dự đoán, tiến
    hành thí nghiệm, đo đạc, thu thập số liệu, phân tích số liệu… Trong hoạt động 4,
    quá trình tìm tòi khám phá được thể hiện giúp học sinh kiểm chứng các giải pháp
    khác nhau để tối ưu hoá sản phẩm.
    Trong các bài học STEM, hoạt động học của học sinh được thực hiện theo
    hướng mở có “khuôn khổ” về các điều kiện mà học sinh được sử dụng (chẳng hạn
    các vật liệu khả dụng). Hoạt động học của học sinh là hoạt động được chuyển
    giao và hợp tác; các quyết định về giải pháp giải quyết vấn đề là của chính học
    17
    sinh. Học sinh thực hiện các hoạt động trao đổi thông tin để chia sẻ ý tưởng và tái
    thiết kế nguyên mẫu của mình nếu cần. Học sinh tự điều chỉnh các ý tưởng của
    mình và thiết kế hoạt động tìm tòi, khám phá của bản thân.
    1.4. Tiêu chí 4: Hình thức tổ chức bài học STEM lôi cuốn học sinh vào
    hoạt động nhóm kiến tạo
    Giúp học sinh làm việc trong một nhóm kiến tạo là một việc khó khăn, đòi
    hỏi tất cả giáo viên STEM được phân công phụ trách câu lạc bộ làm việc cùng
    nhau để áp dụng phương thức dạy học theo nhóm, tiến trình và yêu cầu về sản
    phẩm học tập mà học sinh phải hoàn thành. Làm việc nhóm trong thực hiện các
    hoạt động của bài học STEM là cơ sở phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho
    học sinh
    1.5. Tiêu chí 5: Nội dung bài học STEM áp dụng chủ yếu từ nội dung
    khoa học và toán mà học sinh đã và đang học
    Trong các bài học STEM, giáo viên cần kết nối và tích hợp một cách có mục
    đích nội dung từ các chương trình khoa học, công nghệ, tin học và toán. Lập kế
    hoạch để hợp tác với các giáo viên toán, công nghệ, tin học và khoa học khác để
    hiểu rõ nội hàm của việc làm thế nào để các mục tiêu khoa học có thể tích hợp
    trong một bài học đã cho. Từ đó, học sinh dần thấy rằng khoa học, công nghệ, tin
    học và toán không phải là các môn học độc lập, mà chúng liên kết với nhau để
    giải quyết các vấn đề. Điều đó có liên quan đến việc học toán, công nghệ, tin học
    và khoa học của học sinh
    1.6. Tiêu chí 6: Trong tiến trình bài học STEM một nhiệm vụ có thể có
    nhiều đáp án đúng và coi sự thất bại như là một phần cần thiết trong học tập
    Một câu hỏi nghiên cứu đặt ra, có thể đề xuất nhiều giả thuyết khoa học; một
    vấn đề cần giải quyết, có thể đề xuất nhiều phương án, và lựa chọn phương án tối
    ưu. Trong các giả thuyết khoa học, chỉ có một giả thuyết đúng. Ngược lại, các
    phương án giải quyết vấn đề đều khả thi, chỉ khác nhau ở mức độ tối ưu khi giải
    quyết vấn đề. Tiêu chí này cho thấy vai trò quan trọng của năng lực giải quyết
    vấn đề và sáng tạo trong dạy học STEM
    2. Xây dựng kế hoạch dạy học chủ đề/bài học STEM tại nhà trường
    THPT Nguyễn Khuyến [2]
    Với mỗi chủ đề/bài học STEM trong nhà trường phải đặt ra được yêu cầu là
    học sinh phải học và sử dụng được kiến thức nền thuộc một môn nào đó trong nội
    dung chương trình để sử dựng vào giải quyết vấn đề. Tiến trình mỗi bài học
    STEM được thực hiện phỏng theo quy trình kĩ thuật, trong đó việc “Nghiên cứu
    18
    kiến thức nền” trong tiến trình dạy học mỗi bài học STEM chính là việc học để
    chiếm lĩnh nội dung kiến thức trong chương trình giáo dục phổ thông tương ứng
    với vấn đề cần giải quyết trong bài học, trong đó học sinh là người chủ động
    nghiên cứu sách giáo khoa, tài liệu bổ trợ, tiến hành các thí nghiệm theo chương
    trình học (nếu có) dưới sự hướng dẫn của giáo viên; vận dụng kiến thức đã học để
    đề xuất, lựa chọn giải pháp giải quyết vấn đề; thực hành thiết kế, chế tạo, thử
    nghiệm mẫu; chia sẻ, thảo luận, điều chỉnh thiết kế. Thông qua quá trình học tập
    đó, học sinh được rèn luyện nhiều kĩ năng để phát triển phẩm chất, năng lực.
    Như vậy, tiến trình bài học STEM là sự kết hợp giữa tiến trình khoa học và
    chu trình thiết kế kĩ thuật. Mặc dù vậy, các “bước” trong quy trình không được
    thực hiện một cách tuyến tính (hết bước nọ mới sang bước kia) mà có những
    bước được thực hiện song hành, tương hỗ lẫn nhau. Cụ thể là việc “Nghiên cứu
    kiến thức nền có thể được” được thực hiện đồng thời với “Đề xuất giải pháp”;
    “Chế tạo mô hình” cũng có thể được thực hiện đồng thời với “Thử nghiệm và
    đánh giá”, trong đó bước này vừa là mục tiêu vừa là điều kiện để thực hiện bước
    kia, những nội dung này thể hiện qua tiến trình bài học chủ đề sau [2];
    Hình 5: Tiến trình bài học/
    Xác định vấn đề
    Nghiên cứu kiến thức nền
    Toán Lí Hóa Sinh Tin CN
    (Nội dung dạy học theo chương trình được sắp xếp lại phù hợp)
    Đề xuất các giải pháp/bản thiết kế
    Lựa chọn giải pháp/bản thiết kế
    Chế tạo mô hình (nguyên mẫu)
    Thử nghiệm và đánh giá
    Chia sẻ và thảo luận
    Điều chỉnh thiết kế
    19
    Hoạt động 1: Xác định vấn đề
    Trong hoạt động này, giáo viên giao cho học sinh nhiệm vụ học tập chứa
    đựng vấn đề, trong đó học sinh phải hoàn thành một sản phẩm học tập cụ thể với
    các tiêu chí đòi hỏi học sinh phải sử dụng kiến thức mới trong bài học để đề xuất,
    xây dựng giải pháp và thiết kế nguyên mẫu của sản phẩm cần hoàn thành. Tiêu chí
    của sản phẩm là yêu cầu hết sức quan trọng, bởi đó chính là “tính mới” của sản
    phẩm, kể cả sản phẩm đó là quen thuộc với học sinh; đồng thời, tiêu chí đó buộc
    học sinh phải nắm vững kiến thức mới thiết kế và giải thích được thiết kế cho sản
    phẩm cần làm
    Mục tiêu: Xác định tiêu chí sản phẩm; phát hiện vấn đề/nhu cầu.
    Cần xác định rõ mục tiêu của hoạt động này là tìm hiểu, thu thập thông tin,
    “giải mã công nghệ” để từ đó học sinh có hiểu biết rõ ràng về một tình huống thực
    tiễn; nguyên lí hoạt động của một thiết bị công nghệ hoặc một quy trình công
    nghệ; xác định được vấn đề cần giải quyết hoặc đòi hỏi của thực tiễn theo nhiệm
    vụ được giao; xác định rõ tiêu chí của sản phẩm phải hoàn thành.
    Nội dung: Tìm hiểu về hiện tượng, sản phẩm, công nghệ; đánh giá về hiện
    tượng, sản phẩm, công nghệ…
    Với mục tiêu nói trên, nội dung của hoạt động này chủ yếu là tìm tòi, khám
    phá tình huống/hiện tượng/quá trình trong thực tiễn; tìm hiểu quy trình công
    nghệ; nghiên cứu cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của thiết bị công nghệ. Tùy
    vào điều kiện cụ thể mà hoạt động này được tổ chức theo các hình thức khác
    nhau: nghiên cứu qua tài liệu khoa học (kênh chữ, hình, tiếng); khảo sát thực địa
    (tham quan, dã ngoại); tiến hành thí nghiệm nghiên cứu.
    Cùng một nội dung, tùy vào điều kiện, có thể tổ chức cho học sinh hoạt động
    ở trên lớp hoặc ngoài thực tiễn. Ví dụ: Cùng một yêu cầu nghiên cứu quy trình
    chăn nuôi có thể được tổ chức cho học sinh hoạt động trên lớp thông qua video
    hoặc tài liệu in; cũng có thể tổ chức cho học sinh đến tham quan thực tế tại một
    trại chăn nuôi; cũng có thể yêu cầu học sinh tìm hiểu tại chính gia đình mình.
    Vấn đề quan trọng là giáo viên phải giao cho học sinh thật rõ ràng yêu cầu
    thu thập thông tin gì và làm gì với thông tin thu thập được. Để thực hiện hoạt
    động này có hiệu quả, yêu cầu học sinh hoạt động cá nhân hết sức quan trọng, sau
    đó mới tổ chức để học sinh trình bày, thảo luận về những gì mình thu thập được
    kèm theo ý kiến của cá nhân học sinh về những thông tin đó (trong nhóm, trong
    lớp).
    20
    – Dự kiến sản phẩm hoạt động của học sinh: Các mức độ hoàn thành nội
    dung (Bài ghi chép thông tin về hiện tượng, sản phẩm, công nghệ; đánh giá, đặt
    câu hỏi về hiện tượng, sản phẩm, công nghệ).
    Yêu cầu về sản phẩm (của hoạt động này) mà học sinh phải hoàn thành là
    những thông tin mà học sinh thu thập được từ việc tìm hiểu thực tiễn; ý kiến của
    cá nhân học sinh về hiện tượng/quá trình/tình huống thực tiễn hoặc quy trình, thiết
    bị công nghệ được giao tìm hiểu. Những thông tin và ý kiến cá nhân này có thể sai
    hoặc không hoàn thiện ở các mức độ khác nhau. Giáo viên có thể và cần phải dự
    đoán được các mức độ hoàn thành của sản phẩm này để định trước phương án xử
    lí phù hợp
    – Cách thức tổ chức hoạt động: Giáo viên giao nhiệm vụ (nội dung,
    phương tiện, cách thực hiện, yêu cầu sản phẩm phải hoàn thành); Học sinh thực
    hiện nhiệm vụ (qua thực tế, tài liệu, video; cá nhân hoặc nhóm); Báo cáo, thảo
    luận (thời gian, địa điểm, cách thức); Phát hiện/phát biểu vấn đề (giáo viên hỗ
    trợ).
    –Đánh giá: Trên cơ sở các sản phẩm của cá nhân và nhóm học sinh, giáo viên
    đánh giá, nhận xét, giúp học sinh nêu được các câu hỏi/vấn đề cần tiếp tục giải
    quyết, xác định được các tiêu chí cho giải pháp (sản phẩm khoa học hoặc sản
    phẩm kĩ thuật) cần thực hiện để giải quyết vấn đề đặt ra. Từ đó định hướng cho
    hoạt động tiếp theo của học sinh.
    Hoạt động 2: Nghiên cứu kiến thức nền và đề xuất giải pháp
    Trong hoạt động này, học sinh thực hiện hoạt động học tích cực, tự lực dưới
    sự hướng dẫn của giáo viên. Trong bài học STEM sẽ không còn các “tiết học”
    thông thường mà ở đó giáo viên “giảng dạy” kiến thức mới cho học sinh. Thay vào
    đó, học sinh tự tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức để sử dụng vào việc đề xuất, thiết kế
    sản phẩm cần hoàn thành. Kết quả là, khi học sinh hoàn thành bản thiết kế thì đồng
    thời học sinh cũng đã học được kiến thức mới theo chương trình môn học tương
    ứng.
    – Mục tiêu: Mục tiêu của hoạt động này là trang bị cho học sinh kiến thức, kĩ
    năng theo yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông.
    – Nội dung: Nghiên cứu nội dung sách giáo khoa, tài liệu, thí nghiệm để tiếp
    nhận, hình thành kiến thức mới và đề xuất giải pháp/thiết kế.
    Về bản chất, nội dung của hoạt động này là học kiến thức mới của chương
    trình các môn học cần sử dụng để xây dựng và thực hiện giải pháp giải quyết vấn
    đề đặt ra. Học sinh được hướng dẫn nghiên cứu sách giáo khoa, tài liệu bổ trợ,
    21
    làm thực hành, thí nghiệm để chiếm lĩnh kiến thức và rèn luyện kĩ năng theo yêu
    cầu cần đạt của chương trình. Các nhà trường, giáo viên sử dụng khung thời gian
    dành cho việc thực hiện nội dung này của chương trình để tổ chức hoạt động học
    của học sinh theo phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực; tăng cường hướng dẫn
    học sinh tự lực nghiên cứu sách giáo khoa và tài liệu bổ trợ để tiếp nhận và vận
    dụng kiến thức (ngoài thời gian trên lớp),
    Phân 3.
    NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG
    DẠY HIỆU QUẢ TRONG GIÁO DỤC STEM
    Thực hiện mục tiêu phát triển các năng lực của học sinh theo chương trình giáo
    dục phổ thông mới, theo tôi chúng ta có thể nghiên cứu và áp dụng một số phương
    pháp, mô hình dạy học sau [2]:
    1. Mô hình dạy học 5E
    Dạy học khám phá theo mô hình 5E được Bybee và các cộng sự giới thiệu. 5E viết
    tắt của 5 từ bắt đầu bằng chữ E trong tiếng Anh: Engage (Lôi cuốn), Explore (khám phá),
    Explain (Giải thích), Elaborate (Mở rộng – củng cố), và Evaluate (Đánh giá). Phương
    pháp 5E dựa trên thuyết kiến tạo (constructivism) của quá trình học, theo đó học sinh
    xây dựng các kiến thức mới dựa trên các kiến thức hoặc trải nghiệm đã biết trước đó.
    Các giai đoạn của phương pháp 5E cụ thể như sau:
    1.1. Giai đoạn Engage (Lôi cuốn): Giáo viên /hoạt động học tập đề cập tới kiến
    thức đã có của HS và định hướng cho học sinh được mong muốn tham gia vào tìm hiểu
    kiến thức mới thông qua một số hoạt động nhỏ nhằm kích thích sự tò mò mà gợi ra
    những kiến thức đã có từ trước. Các hoạt động nên tạo được mối liên kết giữa những
    kinh nghiệm học tập có được trong quá khứ và hiện tại, bộc lộ được những quan niệm đã
    có từ trước, và sắp xếp được những suy nghĩ của học sinh.
    1.2. Giai đoạn Explore (Khám phá): Cung cấp cho học sinh các hoạt động cơ sở
    làm nền tảng mà ở đó các quan niệm hiện tại (ví dụ: quan niệm sai lầm…), các quá trình,
    các kĩ năng được thể hiện và sự thay đổi về mặt quan niệm được diễn ra dễ dàng. HS
    thực hiện các hoạt động trong phòng thí nghiệm qua đó giúp HS vận dụng các kiến thức
    đã biết để tự tạo ra các ý tưởng mới, giải thích được các câu hỏi và các khả năng có thể
    xảy ra, và tự thiết kế và tiến hành các khảo sát
    1.3. Giai đoạn Explain (Giải thích): Tập trung sự chú ý của học sinh vào các
    khía cạnh cụ thể các pha trước và cung cấp các cơ hội để chứng minh các hiểu biết
    thuộc về quan niệm, kĩ năng xử lí hoặc hành vi. Ở pha này cũng đồng thời cung cấp cơ
    22
    hội cho giáo viên để có thể đưa ra trực tiếp các quan niệm, quá trình hoặc kĩ năng. HS
    giải thích sự hiểu biết của họ về các quan niệm đó. Sự giải thích từ giáo viên hoặc từ
    giáo trình có thể giúp họ hiểu sâu hơn, chính xác hơn
    1.4. Giai đoạn Elaborate (Mở rộng- củng cố): Giáo viên đưa ra các thử thách và
    mở rộng những hiểu biết thuộc về khái niệm và các kĩ năng của học sinh. Thông qua các
    thí nghiệm, các trải nghiệm mới, học sinh phát triển sâu hơn và rộng hơn sự hiểu biết,
    có thêm các thông tin và đạt được các kĩ năng tương ứng. Học sinh áp dụng các hiểu
    biết của họ về các khái niệm bằng cách tiến hành các hoạt động bổ sung
    1.5. Giai đoạn Evaluate (đánh giá): khuyến khích học sinh tiếp cận các hiểu biết
    và khả năng của họ và cung cấp cơ hội cho giáo viên đánh giá tiến trình của học sinh
    trên con đường đạt được các mục tiêu học tập đề ra. Đánh giá không phải là một giai
    đoạn nằm độc lập ở cuối cùng mà song hành với tất cả 4 pha còn lại
    Trong trường hợp thuận lợi, phù hợp cho chủ đề có thể bổ sung một giai đoạn nữa
    vào trở thành phương pháp dạy học 6E để sử dụng phù hợp hơn cho việc tổ chức dạy
    học các bài học STEM, đó là giai đoạn Engineer (chế tạo). Giai đoạn Engineer này
    ngay sau giai đoạn 3 Explain. Ở đó học sinh được vận dụng các kiến thức kĩ năng đã
    được học vào chế tạo các sản phẩm phục vụ các nhu cầu thực tiễn.
    2. Dạy học dựa trên mô hình thiết kế kỹ thuật (EDP)
    https://www.nasa.gov/audience/foreducators/best/edp.html
    Việc nghiên cứu quy trình thiết kế kỹ thuật (Engineering Design Process – EDP)
    giúp giáo viên và học sinh giải quyết một vấn đề trong cuộc sống nhờ công nghệ, kỹ
    thuật
    23
    Theo quy trình thiết kế kỹ thuật này, các bước gòm:
    2.1. Đặt câu hỏi (Ask). gồm:
    + Xác định vấn đề, vấn đề là gì?
    + Xác định yêu cầu;
    + Xác định những hạn chế gặp phải …
    2.2. Tưởng tưởng (Imagine), gồm:
    + Xây dựng ý tưởng bao gồm các giải pháp, sáng kiến nào?
    + Xác định các giải pháp đã thực hiện, sẽ thực hiện ..
    2.3. Lên kế hoạch (Plan), gồm:
    + Chọn từ 2 đến 3 ý tưởng từ bước tưởng tưởng;
    + Vẽ phác thảo ý kiến tiềm năng;
    + Liệt kê nguyên vật liệu cần thiết;
    + Chọn một thiết kế tốt nhất làm sản phẩm
    2.4. Thiết kế/ chế tạo (Create) và sáng tạo, gồm:
    + Chế tạo sản phẩm mẫu đáp ứng yêu cầu thiết kế đặt ra;
    + Nhấn mạnh vai trò của làm việc nhóm;
    24
    + Tuân thủ các kế hoạch đã lập ra, thực hiện hóa ý tưởng
    2.5. Kiểm nghiệm/kiểm tra (Experiment) và cải thiện, gồm:
    + Kiểm tra sản phẩm theo các tiêu chí, yêu cầu đặt ra?
    + Tiến hành các thí nghiệm;
    + Ghi đo;
    + Kiểm tra.
    + Đành giá sản phẩm có đạt yêu ccaauf chưa? Cần làm gì đề tốt hơn?
    2.6. Cải tiến (Improve) và chia sẻ, gồm:
    + Dựa vào kết quả thí nghiệm, kiểm tra xác định:
    Kết quả nào đạt?
    Kết quả nào chưa đạt?
    Điều gì có thể làm tốt hơn?
    + Xác định thay đổi, sửa đổi thiết kế
    + Trình bày ý tưởng với nhóm, với cộng đồng
    Như vậy, quy trình thiết kế kỹ thuật trên thể hiện qua sơ đồ tóm tắt sau:
    Quy trình
    thiết kế kỹ
    thuật
    (Trong giáo
    dục STEM)
    25
    3. Mô hình dạy học dựa vào khám phá [3]:

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Nâng cao hiệu quả giáo dục sức khỏe sinh sản thông qua trải  nghiệm bằng  hình thức sinh hoạt câu lạc bộ CSE

    SKKN Nâng cao hiệu quả giáo dục sức khỏe sinh sản thông qua trải  nghiệm bằng  hình thức sinh hoạt câu lạc bộ CSE

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    CHƯƠNG I. ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Hiện nay, tràn ngập trên các phương tiện thông tin đại chúng mọi người chia
    sẻ và cập nhật rất nhiều thông tin về bệnh viêm phổi từ chủng coronavirus mới được
    đặt tên là 2019 Novel Coronavirus (2019-nCoV), được phát hiện đầu tiên ở Vũ Hán,
    Trung Quốc. Sau nhiều tháng đại dịch Covid-19 hoành hành, gần như toàn bộ thế giới
    đã trở thành nạn nhân, những hậu họa do Covid-19 gây ra đã đưa ra lời cảnh báo rằng
    thế giới cần chuẩn bị nhiều hơn để đối phó với một đại dịch có thể xảy ra trong tương
    lai. Câu hỏi đặt ra là còn đại dịch nào thực sự chờ đợi chúng ta phía trước, con người
    sẽ phải làm gì để chung tay nhau ngăn chặn những vấn đề này? Theo Lê Thanh Hải,
    “Cả nhân loại đang đối mặt mới một hoàn cảnh khủng hoảng mới mà không có một
    mô hình giáo dục nào đã được nghiên cứu trước đó, đó không phải là giáo dục trực
    tuyến (e-learning hay online education), cũng không phải là giáo dục tại nhà
    (homeschooling) giống như các mô hình trước đây đã được các nhà giáo dục nghiên
    cứu và xây dựng; phải gọi đó là giáo dục thời kỳ đại dịch; dạy và học trong lúc này
    chắc chắn là không giống như bình thường, hay như bất kỳ một mô hình nào trước đây
    đã được nghiên cứu; một cách tiếp cận mới chắc chắn phải được thay thế và triển khai,
    chắc chắn thế hệ học sinh này sẽ cần có nhiều kỹ năng mới so với trước đây bởi các
    em đang sống trong một thế giới đang bị thay đổi sâu sắc bởi đại dịch”.
    Trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người luôn là yếu tố giữ vai trò trung tâm và
    quan trọng nhất. Trường THPT Ngô Quyền, 48 năm qua, đã xây dựng được một nền
    tảng sư phạm khá vững vàng và chiếm được niềm tin của học sinh và phụ huynh qua
    nhiều thế hệ. Với sự cố gắng và nỗ lực của thầy trò nhà trường cùng tinh thần tự lực,
    tự cường, bám trường, bám lớp, thực hiện tốt nhiệm vụ dạy và học, ngọn lửa giáo dục
    trên mảnh đất “địa linh nhân kiệt” sáng ngời hào khí Đông A ngày càng rực sáng. Vì
    sự nghiệp giáo dục đào tạo của nước nhà, vì tương lai con em chúng ta, giáo viên và
    học sinh trường THPT Ngô Quyền cùng chung một ý chí, cùng chung một tấm lòng,
    cùng chung một niềm tin chiến thắng đại dịch Covid-19. Nhà trường đã tuyên truyền
    2
    cho giáo viên và học sinh qua bảng điện tử ngay tại cổng trường với nội dung: Thầy
    và trò trường THPT Ngô Quyền quyết tâm thực hiện hai mục tiêu: chống dịch
    Covid-19 và dạy tốt, học tốt. Ý tưởng dạy học gắn với chủ đề coronavirus được hình
    thành.
    2. Thêm nữa, thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng “lý luận phải gắn với thực
    tiễn”, thực hiện lời dạy của tiền nhân “ học phải đi đôi với hành”; các năm qua, toàn
    Ngành giáo dục đã có nhiều cố gắng làm chuyển biến tích cực chất lượng dạy học gắn
    liền thực tiễn và cụ thể hoá bằng nhiều cách làm hay, mô hình tốt như: dạy học trải
    nghiệm tại các cơ quan hành chính, khu di tích, bảo tàng, công ty, nhà máy sản xuất,
    khu chế biến; lao động chăm sóc khu vườn trường; dạy học theo dự án, dạy học qua
    sản phẩm; dạy học theo chủ đề … và giáo viên THPT Ngô Quyền cũng không phải là
    ngoại lệ.
    Trong năm học 2019 -2020 trường THPT Ngô Quyền yêu cầu các tổ chuyên môn
    thực hiện dạy học theo chủ đề: chủ đề liên môn (bao gồm các nội dung dạy học gần
    giống nhau, có liên quan chặt chẽ với nhau, có thể đang trùng nhau trong các môn học
    của chương trình hiện hành, biên soạn thành chủ đề liên môn) và chủ đề tích hợp, liên
    môn (có nội dung giáo dục liên quan đến các vấn đề thời sự của địa phương, đất nước;
    ví dụ: Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; bảo vệ chủ quyền biên
    giới, biển đảo; …. Như vậy, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, để học sinh nhận thấy học
    đi đôi với hành, học ứng dụng vào đời sống, chứ không phải học những kiến thức đơn
    lẻ của từng môn học một cách cứng nhắc mà là những tiết học thực sự bổ ích, giữa các
    môn học có sự gắn kết với nhau góp phần không chỉ cung cấp kiến thức từng bộ môn
    mà còn giáo dục nhân cách, hoàn thiện tư cách và trách nhiệm người công dân mới,
    hình thành và rèn các kĩ năng sống cho học sinh, ý tưởng dạy học theo các vấn đề thời
    sự vì thế được hình thành.
    3. Mặt khác việc đổi mới phương pháp giảng dạy đang được đặt lên hàng đầu
    đối với ngành giáo dục và phương pháp giáo dục STEM đã mang lại kết quả tốt.
    Giáo dục STEM là một trong những xu hướng giáo dục đang được coi trọng ở
    nhiều quốc gia trên thế giới. Thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/5/2017 của Thủ
    tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp
    3
    lần thứ 4; Thực hiện Chỉ thị số 2268/CT-BGDĐT ngày 08/8/2019 của Bộ Giáo dục và
    Đào tạo (GDĐT) về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2019 – 2020 của ngành Giáo dục;
    Ngành Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) tỉnh nhà trong thời gian qua đã có nhiều hoạt
    động chủ động nhằm đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, giáo dục học sinh
    hướng tới mục tiêu phát triển năng lực, có tri thức, năng động, hội nhập thế giới; các
    phương pháp dạy học tích cực đã được chú ý triển khai thực hiện trong thời gian qua
    như phương pháp Dạy học theo dự án, phương pháp nghiên cứu khoa học, phương
    pháp “bàn tay nặn bột” và phương pháp giáo dục STEM đã mang lại kết quả tốt.
    Tháng 8/2018 Sở Giáo dục và Đào tạo Nam Định đã tổ chức tập huấn dạy học
    STEM cho các giáo viên. Trường THPT Ngô Quyền cũng đã triển khai nhiệm vụ tới
    các tổ, nhóm chuyên môn về kế hoạch dạy học tiếp cận STEM. Trước nhiệm vụ này
    chúng tôi đã chủ động tìm hiểu qua các tài liệu tập huấn, trang mạng internet,…về
    STEM/STEAM.
    Trong cuốn sách “Giáo dục STEM/STEAM: từ trải nghiệm thực hành đến tư
    duy sáng tạo”, tác giả Lê Thanh Hải nói sơ lược về lịch sử ra đời của thuật ngữ giáo
    dục STEAM. Và ngay trong phần Mở đầu cuốn sách này, tác giả Lê Thanh Hải cũng
    có nhắc đến hội chứng viêm đường hô hấp cấp (SARS) như là một trong những vấn đề
    vốn thuộc về khoa học – công nghệ nhưng lại quan hệ mật thiết với đời sống xã hội.
    Trong tương lai, những vấn đề như thế sẽ càng rất nhiều, khi mà khoa học – công nghệ
    ngày càng ảnh hưởng sâu rộng đến với mọi mặt của đời sống xã hội; do vậy, việc
    chuẩn bị một nền tảng kiến thức và tư duy mang tính liên ngành giữa khoa học và xã
    hội (socio-scientific reasoning) ở mức phổ quát, căn bản là một đòi hỏi vô cùng quan
    trọng đối với nền giáo dục và sự thịnh vượng của quốc gia, để chuẩn bị cho thế hệ
    công dân toàn cầu trong tương lai. Mấy tháng gần đây, tràn ngập trên các phương tiện
    thông tin đại chúng mọi người chia sẻ và cập nhật rất nhiều thông tin về bệnh viêm
    phổi từ chủng coronavirus mới được đặt tên là 2019 Novel Coronavirus (2019-nCoV),
    được phát hiện đầu tiên ở Vũ Hán, Trung Quốc. Việc đưa chủ đề thời sự bệnh viêm
    phổi cấp vào các bài học học về khoa học là cần thiết. Tùy theo từng trình độ mà các
    giáo viên chủ động giới thiệu với học sinh những kiến thức liên quan đến chủ đề thời
    sự này. Quá trình dạy học này còn kết hợp với hướng nghiệp cho các em học sinh về
    những nghề nghiệp tương lai; giúp chương trình giáo dục STEM/STEAM ở Việt Nam
    được giảng dạy có chiều sâu, bài bản hơn để các học sinh hiểu được mối quan hệ liên
    ngành và đa chiều phức tạp trong các vấn đề về khoa học, công nghệ và xã hội; đặc
    biệt, có được kiến thức và kỹ năng để phân tích, đánh giá (tư duy phản biện) khi tiếp
    cận các nguồn thông tin khác nhau.
    Cũng theo tác giả Lê Thanh Hải, giáo dục STEM không chỉ gói gọn trọng sự liên
    môn giữa các nhóm kiến thức khoa học tự nhiên mà giờ đây các giáo viên tại Mỹ đã
    chủ động lồng ghép thêm các yếu tố về văn hóa, xã hội, nhân văn, nghệ thuật (gọi
    chung là các môn nghệ thuật khai phóng – liberal arts); do vậy STEM đã được phát
    triển lên thành STEAM; thỉnh thoảng STEAM được viết thành STE(A)M với chữ A
    4
    được viết trong ngoặc đơn với chủ đích diễn tả các chương trình học có nhấn mạnh các
    môn nghệ thuật khai phóng trên nền tảng của giáo dục STEM nói chung.
    Trong cuốn sách “Từ STEM đến STEAM”, hai tác giả David Sousa và Tom
    Lilecki gần đây cũng có đề cập đến khái niệm các môn nghệ thuật (Arts – chữ art được
    viết dưới dạng danh từ số nhiều, có s). Theo hai tác giả này, các môn nghệ thuật chính
    là các cách biểu đạt sự sáng tạo của con người thông qua các kỹ năng, giúp làm phong
    phú sự cảm nhận bằng các giác quan, từ âm nhạc cho đến kịch nghệ, điện ảnh. Danh
    sách các dạng hình nghệ thuật thì dường như dài bất tận, vì có những loại hình nghệ
    thuật mà hiện nay người ta vẫn chưa biết đặt tên cho nó là như thế nào, vì nó là sự trộn
    lẫn giữa các loại hình nghệ thuật với nhau, chẳng hạn như sự kết hợp giữa việc tạo ra
    các kiến trúc điêu khắc kết hợp với sự sắp đặt có chủ ý để tạo ra các hiệu ứng về âm
    thanh khi có gió thổi. Ngày nay, với sự phát triển của ứng dụng công nghệ và kỹ thuật,
    nhiều loại hình nghệ thuật với độ chính xác và tinh xảo rất cao. Chính vì lẽ đó, xu
    hướng các bài học STEM giờ đây luôn dành một khoảng không gian cho việc kết nối
    với các chủ đề về xã hội, văn hóa, và các môn nghệ thuật. Ở đó, học sinh được khuyến
    khích vận dụng óc sáng tạo về các môn nghệ thuật, các kiến thức về lịch sử và nhân
    văn để tạo ra một sản phẩm mới, có giá trị và ý nghĩa cho xã hội. Chẳng hạn, khi học
    về khoa học môi trường, các em học sinh lớp cấp hai ở Mỹ không chỉ được tìm hiểu lý
    thuyết về mối quan hệ giữa con người với môi trường mà còn được thưc hành dùng
    phần mềm SketchUp và Google Earth (cả hai đều miễn phí) để thiết kế những khu vui
    chơi kết hợp với bảo tồn thiên nhiên, thậm chí hướng đến cả đối tượng người khuyết
    tật, khó khăn trong việc di chuyển; đó là những ý tưởng hoàn toàn mới mà không bao
    giờ có thể tìm thấy trong sách giáo khoa. Chính nhờ đưa các môn nghệ thuật vào giáo
    dục STEM đã giúp giải phóng sự tưởng tượng và sáng tạo của trẻ nhỏ. Nói về vai trò
    của trí tưởng tượng trong giáo dục, Albert Einstein là nhà vật lý lý thuyết, đã nói một
    câu đầy cảm hứng về trí tưởng tượng: “Tôi đủ chất nghệ sĩ để tự do vẽ theo trí tưởng
    tượng của tôi. Trí tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức. Kiến thức là hạn chế, còn trí
    tưởng tượng bao quanh khắp thế giới”. (“I am enough of an artist to draw freely upon
    my imagination. Imagination is more important than knowledge. Knowledge is
    limited. Imagination encircles the world.”). Ngày nay, khi nhìn vào bất kỳ một vật
    dụng hay thiết bị nào mà chúng ta đang sử dụng, chúng ta dễ dàng nhận thấy đó là sự
    kết hợp của rất là nhiều kiến thức từ rất nhiều lĩnh vực để tạo nên nó, trong đó có cả
    yếu tố thẩm mĩ và văn hóa. Khi khoa học và công nghệ đang phát triển nhanh, việc
    đưa một ý tưởng thành một sản phẩm chỉ tính bằng ngày hoặc bằng giờ. Và khi xã hội
    càng phát triển, thì các sản phẩm tiêu dùng càng được cá nhân hóa nhiều hơn. Chẳng
    hạn: Với công nghệ in 3-D, khách hàng có thể tự in chiếc áo để mặc theo cách riêng,
    hay thậm chí khách hàng có thể tự thiết kế để in cái nhà để ở. Điều đó nói lên rằng,
    sống trong xã hội ngày nay, ít nhiều chúng ta cũng cần đến tư duy thiết kế và óc nghệ
    thuật.Thông qua cách tiếp cận giáo dục STEAM, học sinh nhận thức được sự giao thoa
    giữa các ngành khoa học, toán học và các môn nghệ thuật, thấy được sự cần thiết của
    5
    các kiến thức chuyên ngành để có thể giải quyết một vấn đề hay tạo nên một sản phẩm.
    Đồng thời, nhờ được tạo cơ hội khuyến khích sáng tạo dựa trên sở thích riêng của bản
    thân, nên các em học sinh tự tin hơn trong quá trình học tập và làm việc nhóm. Điều
    thú vị là các chương trình giáo dục STEAM còn có thể giúp học sinh được trải nghiệm
    qua các cảm xúc của thất bại trong quá trình học tập, một trong những yếu tố cần thiết
    cho sự trưởng thành của trẻ khi bước vào đời.
    4. Báo cáo sáng kiến “Dạy học STEM/STEAM theo các vấn đề thời sự: Chủ
    đề Coronavirus” được người viết lựa chọn còn xuất phát từ chính lòng yêu nghề, sự
    say mê với nghề, tinh thần trách nhiệm và lòng nhiệt tâm với thế hệ trẻ Thành Nam.
    Thực hiện đề tài này chúng tôi thực sự mong muốn được trao đổi với đồng nghiệp để
    được học hỏi và trau dồi về chuyên môn, nghiệp vụ.
    CHƯƠNG II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    I. MÔ TẢ CƠ SỞ THỰC TẾ TRƯỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN
    Hệ thống SGK chương trình hiện hành cấp học THPT đã được tái bản lần thứ
    mười, in xong và nộp lưu chiểu tháng 1/2018. Như vậy với thế hệ HS 2000, các em
    đang phải học một chương trình SGK quá cũ, quá lạc hậu, có những số liệu cách đây
    mười mấy năm so với thời điểm hiện tại nhiều khi phản ánh sai vấn đề. Nhiều năm
    qua, việc xây dựng nội dung sách giáo khoa cũng như các loại sách bài tập tham khảo
    của giáo dục nước ta nhìn chung còn mang tính hàn lâm, kinh viện nặng về thi cử;
    chưa chú trọng đến tính sáng tạo, năng lực thực hành và hướng nghiệp cho học sinh;
    chưa gắn bó chặt chẽ với nhu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội cũng như
    nhu cầu của người học. HS còn hạn chế về năng lực phản biện, tư duy, sáng tạo, kỹ
    năng thực hành, khả năng thích ứng với nghề nghiệp; kỷ luật lao động, tinh thần hợp
    tác và cạnh tranh lành mạnh chưa cao; khả năng tự lập nghiệp còn hạn chế. Tóm lại có
    thể nói, chương trình hiện hành mới chú trọng cung cấp cho HS những kiến thức cơ
    bản nhất, khái quát nhất, có những nội dung kiến thức đã cũ vì vậy đòi hỏi GV và HS
    phải cập nhật những vấn đề nóng bỏng của thời đại, phải có cái nhìn khái quát và sự
    hiểu biết rộng về nhiều vấn đề đã và đang diễn ra trong đời sống kinh tế xã hội thế giới
    cũng như trong nước, có như thế mới hòa nhập và thích ứng được với cuộc sống hiện
    tại, mới kích thích được niềm say mê, hứng thú dạy và học của cả GV và HS.
    Trong thời gian 45 phút lên lớp, do nhiều nguyên nhân khác nhau, GV chỉ truyền
    thụ những kiến thức liên quan tới nội dung bài học đã có trong SGK, việc cập nhật
    kiến thức còn rất hạn chế. Như vậy học xong bài học, HS cũng chỉ dừng lại ở việc nắm
    được những kiến thức cơ bản của bài học, mà không biết được nhưng kiến thức cập
    nhật đang diễn ra hàng ngày hàng giờ trên thế giới. Điều này lâu dần sẽ dẫn tới việc
    HS thụ động nhìn bài và chép nội dung vào vở, không có sự sáng tạo, không phát huy
    được năng lực tự học, sự hứng thú với môn học của HS.
    Trong quá trình giảng dạy, các giáo viên đã sử dụng các phương pháp dạy học
    truyền thống kết hợp một số phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học tích cực: dạy học
    6
    theo nhóm nhỏ, sử dụng kĩ thuật mảnh ghép, phương pháp đàm thoại gợi mở, kĩ thuật
    phòng tranh… khai thác kênh hình và kênh chữ sách giáo khoa với các thí nghiệm
    minh hoạ, sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin, chủ yếu là Powerpoint, sử
    dụng các video minh họa… để tăng tính trực quan, kích thích tư duy học sinh. Tuy
    nhiên, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, tính đến thời điểm hiện tại, tại các lớp học chưa
    có máy chiếu hay tivi thông minh, bởi vậy trong các giờ học, học sinh chủ yếu lắng
    nghe, tiếp thu các kiến thức một cách thụ động được quy định sẵn; học sinh chỉ nắm
    được kiến thức lí thuyết, còn nội dung mở rộng, vận dụng, mang tính cập nhật, thời
    sự… nhiều học sinh chưa tiếp cận được; học sinh chủ yếu được rèn luyện kĩ năng
    nghe, quan sát, đọc chọn lọc ý từ sách giáo khoa, vận dụng kiến thức mà cọc sinh chưa
    khám phá hết năng lực của bản thân, chưa chủ động trong việc học tập, khả năng sáng
    tạo và vận dụng kiến thức để giải quyết tình huống thực tiễn cuộc sống còn hạn chế.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI CÓ SÁNG KIẾN “DẠY HỌC STEM/STEAM
    THEO CÁC VẤN ĐỀ THỜI SỰ – CHỦ ĐỀ CORONAVIRUS”
    Có thể nói, trải qua giai đoạn biến động cực mạnh trong xã hội từ ảnh hưởng
    của dịch Covid-19 nói riêng và toàn cầu hoá nói chung, nền giáo dục của mỗi quốc gia
    đứng trước áp lực lớn khi nhiều người đều có cảm giác rằng kiến thức thông thường
    trở nên vô ích giống như người đi biển thiếu la bàn. Điều đó cho ta thấy điểm mấu
    chốt của vấn đề trong giáo dục là hướng đến giúp con người có tầm nhìn rộng, khả
    năng thích nghi và khả năng tự học, tự nghiên cứu suốt đời để luôn phát triển bản thân.
    Có như vậy, mỗi cá nhân sẽ không phải lo về vấn đề thất nghiệp mà còn có thể tự tạo
    ra cơ hội việc làm cho mình và cho người khác. Giáo dục hiện nay cũng như trong
    tương lai sẽ không đơn thuần truyền thụ kiến thức, đó còn là dạy học sinh cách học,
    học cách nghĩ, cách sống. Giáo dục cần hướng tới trang bị và cung cấp cho học sinh
    kiến thức tổng quát, trải rộng ở nhiều lĩnh vực khác nhau, cho người học công cụ khám
    phá bản thân, thế giới xung quanh để sau này họ có thể tiếp cận, chuyển đổi công việc
    linh hoạt, không bị lỗi thời. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ cũng như
    tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, những kỹ năng quan trọng cho
    thế kỷ 21 này đó chính là khả năng tự học, phân tích, diễn đạt ý nghĩ của mình và khả
    năng giải quyết vấn đề. Trong hoàn cảnh ấy, dạy học “Dạy học STEM/STEAM nói
    chung và “Dạy học STEM/STEAM theo các vấn đề thời sự: Chủ đề Coronavirus” có ý
    nghĩa vô cùng quan trọng.
    1. Giới thuyết về STEM/STEAM
    1.1. Sự khác biệt giữa STEM và STEAM
    STEM được viết tắt từ các từ: “Science, Technology, Enginerring, Math” –
    “Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học”. Hiểu một cách đơn giản thì phương pháp
    này cung cấp cho học sinh kiến thức toàn diện về 4 lĩnh vực trên bằng cách kết hợp
    giữa việc học lý thuyết và thực hành, hoạt động thực tiễn, trải nghiệm đời sống. STEM
    cho phép học sinh được thường xuyên thảo luận, tự rút ra kết luận và ghi nhớ kiến thức
    sâu sắc hơn. Có thể nói, phương pháp STEM giống như một cái búa, giúp phá vỡ bức
    7
    tường chắn bấy lâu nay giữa hàn lâm và thực tiễn.
    Qua một thời gian hình thành và phát triển, phương pháp STEM được cải thiện
    thành STEAM. Chữ “A” trong STEAM là viết tắt cho “Art” – “Nghệ thuật”. Nếu giáo
    dục STEM là tập trung vào giải quyết các vấn đề với tư duy, kỹ năng phân tích thì
    STEAM khác biệt ở chỗ, nó giúp học sinh khám phá các môn học tương tự, nhưng kết
    hợp thêm tư duy sáng tạo và nghệ thuật ứng dụng vào giảng dạy, cùng với các tình
    huống thực tế. Đồng thời, giáo viên đưa ra câu hỏi cho học sinh và học sinh cũng được
    đặt câu hỏi ngược lại. Các nhà giáo dục tin rằng, nếu tích hợp thêm “Nghệ thuật” vào
    giảng dạy, học sinh có thể sử dụng cả hai mặt của bộ não là phân tích và sáng tạo. Từ
    đó những đứa trẻ sẽ có tiền đề phát triển tốt nhất cho tương lai
    1.2. STEM – phương pháp giáo dục hàng đầu; STEAM – Phương pháp giáo dục
    hiện đại và lí tưởng
    Là khởi đầu cho một sự thay đổi lớn ở Mỹ và là tương lai của cả một nền giáo
    dục, STEAM được tạo thành từ thuật ngữ “STEM” và “Nghệ thuật – Art”. Ra đời từ
    thập kỷ trước, STEM (viết tắt của Khoa học – Science, Công nghệ – Technology, Kỹ
    thuật – Engineering, và Toán học – Mathematics) đã luôn là một phương pháp giáo
    dục hàng đầu tại thời điểm lúc bấy giờ. STEM tập trung vào việc đào tạo cho học sinh
    8
    về 4 lĩnh vực trên. Tuy nhiên, chủ trương của nền giáo dục hiện đại, ngày nay lại đánh
    giá cao tầm quan trọng của Nghệ thuật trong việc thúc đẩy sự đổi mới và sáng tạo, đó
    cũng chính là lý do tại sao phương pháp giáo dục STEAM ra đời.
    STEAM là ý tưởng sáng tạo ban đầu của Trường Thiết Kế Rhode Island (Mỹ),
    sau đó được sử dụng bởi nhiều nhà giáo dục và dần dần lan rộng ra cả Hoa Kỳ. Đây là
    một phương pháp tiếp cận giáo dục kiểu mới, trong đó Khoa Học, Công Nghệ, Kỹ
    Thuật, Nghệ Thuật, và Toán Học cùng được sử dụng để giảng dạy và hướng dẫn cho
    học sinh. STEAM là một sự chuyển đổi từ cách thức giáo dục truyền thống, dựa vào
    tiêu chuẩn điểm số để đánh giá, sang một phương pháp giáo dục hiện đại và lý tưởng,
    trong đó quá trình học tập và kết quả cùng được xem trọng như nhau.
    Tại sao chúng ta cần nghệ thuật?
    Vào ngày 06/05/2011, Ủy ban Nghệ thuật và Nhân văn của Tổng thống Obama
    đã ban hành một bản báo cáo tại Hội nghị Đối tác giáo dục nghệ thuật (AEP) được gọi
    là “Tái đầu tư trong giáo dục nghệ thuật: Làm chủ tương lai nước Mỹ thông qua các
    trường học sáng tạo”. Trong đó, ủy ban đã nêu rõ “khi học sinh được tham gia vào các
    bộ môn nghệ thuật, thành tích học tập của các em có thể tăng gấp bốn lần, điểm số
    GPA/SAT cũng cao hơn, và các em còn có thể cải thiện chỉ số IQ về không gian-thời
    gian của mình lên đến 56%. Trình độ Toán học của học sinh khối 12 được nâng lên
    một cách đáng kể, học sinh tương tác với các thầy cô và bạn bè của mình nhiều hơn,
    và trở nên tự tin và trình bày quan điểm của mình tốt hơn nhiều so với trước kia”. Bản
    báo cáo trên đã chứng minh cho tầm quan trọng của việc kết nối giữa nghệ thuật, văn
    hóa, sự sáng tạo và đổi mới, đồng thời nêu lên sự cấp thiết cho ra đời một chương trình
    mới nhằm cải cách nền giáo dục ở Mỹ.
    Chúng ta dường như quên rằng sự đổi mới thực sự không đến từ một phương
    trình toán học, công nghệ hay các loại hóa chất mới, nó đến từ những nơi như nghệ
    thuật, thiết kế, hay đơn giản hơn nó đến từ chính con người chúng ta. Đổi mới trong
    cuộc sống của mọi người nói chung và trong các ngành khoa học nói riêng luôn gắn
    liền với những trải nghiệm của con người, bằng một phương thức nào đó, dù trực tiếp
    hay gián tiếp. Những trải nghiệm của con người có được thông qua việc tương tác với
    những gì liên quan đến nghệ thuật như nghe nhạc, hay chiêm ngưỡng một tác phẩm
    nghệ thuật… Chính nghệ thuật giúp bạn nhìn nhận sự việc bằng một cách thức tự
    nhiên, dễ tiếp nhận hơn, và trong một không gian cởi mở hơn. Thế giới của chúng ta
    được xây dựng nên bởi những nhà tư duy phân tích. Tuy nhiên, những nghệ sĩ hay nhà
    thiết kế – những nhà tư duy trực giác lại là người mở ra cho chúng ta vô vàn khả năng.
    Những sự đổi mới to lớn ra đời khi chúng ta biết kết hợp lối tư duy phân tích và tư duy
    trực giác lại với nhau.
    Tiến sĩ Jerome Kagan, Giáo sư Danh dự tại Đại học Harvard và là một trong 22
    nhà tâm lý học nổi tiếng và được trọng vọng nhất của thế kỷ 20, nói rằng nghệ thuật
    góp phần thúc đẩy con người học tập tốt đến đáng ngạc nhiên, bởi các bộ môn nghệ
    thuật thường kết hợp ba công cụ chính mà trí não con người sử dụng để tiếp nhận, lưu
    trữ và truyền đạt kiến thức, đó là: các kỹ năng vận động, sự hình dung thông qua giác
    quan, và ngôn ngữ. Tiến sĩ Kagan đã phát biểu tại buổi nói chuyện về sự tiếp thu, nghệ
    thuật và não bộ con người tại Trường Đại học John Hopkins vào năm 2009 như sau:
    “Nghệ thuật và âm nhạc đòi hỏi con người ta phải sử dụng đến cả kiến thức về biểu đồ
    9
    và tiến trình, chính vì vậy sẽ giúp cho một đứa trẻ hiểu rộng hơn và sâu hơn về một
    vấn đề nào đó, và về thế giới này”.
    Với sự nhận thức này, các nhà giáo dục của Hoa Kỳ đang hợp nhất giữa nghệ
    thuật và các bộ môn khoa học lại với nhau. Tại Viện Woft Trap ở Virginia, các nhà
    giáo dục đang kết hợp môn nhảy múa với những bộ môn như toán số và hình học. Tại
    Trường thiết kế Rhode Island, nhà nghiên cứu của Học viện công nghệ Massachusetts,
    Jie Qui đã giới thiệu cho các sinh viên về loại giấy điện tử, trong đó mở ra việc sử
    dụng công nghệ trong nghệ thuật diễn cảm. Bản nghiên cứu này của cô đã làm cho các
    sinh viên thích thú hơn về các bộ môn khoa học, đồng thời thúc đẩy trí tưởng tượng
    của họ bay xa hơn. Việc kết hợp giữa khoa học và trí tưởng tượng được xem như một
    sự pha chế hoàn hảo, mang đến cho nền giáo dục của chúng ta bước lên một giai đoạn
    phát triển mới.
    Sáng tạo sẽ luôn là loại “gia vị” bí mật của một nền giáo dục toàn diện
    Thật vậy, chúng ta biết rằng để những thế hệ trẻ có thể đối mặt và vượt qua
    được những thách thức lớn sau này, đòi hỏi phải có những giải pháp thực sự sáng tạo,
    nhưng chỉ một mình STEM không thể mang đến điều đó. Chính STEAM và sự tham
    gia của nghệ thuật vào trong giáo dục là rất quan trọng dành cho học sinh ở cấp lớp từ
    mầm non lên đến lớp 12. Theo đó, việc tiếp nhận những bộ môn Khoa học, Công
    Nghệ, Kỹ thuật, và Toán học trong STEM đối với học sinh cũng trở nên dễ dàng hơn,
    và đồng thời đảm bảo được trong hành trình đổi mới của chúng ta, sự sáng tạo không
    bị quên lãng và bỏ lại phía sau. Các công ty và tổ chức mà trước kia vẫn tìm kiếm
    những tài năng từ trong các trường đại học nghiên cứu cỡ lớn, nay lại chuyển hướng đi
    tìm những người có khả năng sáng tạo, những người có thể mang đến những kỹ năng
    giải quyết vấn đề độc đáo, và một sự hiểu biết sâu sắc về trải nghiệm của người dùng.
    Gần đây, trong cuốn sách bán chạy nhất của Walter Issacson viết về tiểu sử
    Steve Jobs, có nhắc đến việc Jobs đã từng nói rằng nhiều kỹ sư tài năng nhất của
    Apple đều rất giỏi trong âm nhạc hay một loại hình nghệ thuật nào đó. Lisa Phillips,
    một tác giả, nhà báo, và là một nhà giáo dục về kỹ năng lãnh đạo và nghệ thuật cũng
    đã liệt kê ra một danh sách 10 kỹ năng mà những người trẻ tuổi sẽ lĩnh hội được thông
    qua việc học nghệ thuật, đó là
    1. Sáng tạo
    2. Tự tin
    3. Giải quyết vấn đề
    4. Kiên trì
    5. Tập trun
    6. Giao tiếp phi ngôn từ
    7. Tiếp nhận phản hồi mang tính xây dựng
    8. Hợp tác
    9 Tận tâm
    10. Trách nhiệm
    Các học sinh, sinh viên có khuynh hướng nghệ thuật hay được đào tạo toàn diện
    cả về kiến thức và nghệ thuật hiện nay đang có một tác động rất lớn vào việc đổi mới
    xã hội. Chính các em là những người giúp giải quyết các vấn đề toàn cầu quan trọng,
    là người đưa ra những giải pháp sáng tạo đối với môi trường, và những thách thức của
    xã hội.
    Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta cần những chương trình đào tạo kết hợp hài
    hòa giữa các bộ môn Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học và Nghệ thuật để đào
    tạo ra những thế hệ trẻ toàn diện cả về học thuật, và thúc đẩy sự sáng tạo bên trong
    của mỗi người. Chúng ta cần những ý tưởng mới, những giải pháp mới cho các vấn
    10
    đề hiện tại và sau này. Chúng ta cần đánh thức những “nghệ sĩ” bên trong chính
    những thế hệ học sinh nhỏ tuổi để các em có thể trở thành những công dân toàn cầu
    thực thụ.
    Tin rằng, đổi mới từ STEM sang STEAM là điều vô cùng cần thiết để cải
    thiện nền giáo dục của chúng ta. Cho dù bạn là một nghệ sĩ, nhà thiết kế, kỹ sư công
    nghệ, nhà khoa học, thì việc chuyển đổi sang STEAM là cấp thiết hiện nay; sự sáng
    tạo là điều kiện cần cho sự phát triển giáo dục của chúng ta. Không ai có thể phủ
    nhận thêm nữa về tầm quan trọng của giáo dục nghệ thuật, nơi mang đến những sự
    đổi mới cho cuộc sống và tương lai của chúng ta.
    Hiện nay, trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, Hệ thống Trường Tây Úc đang áp
    dụng phương pháp giáo dục STEAM cho trẻ từ cấp lớp mầm non lên đến năm 12.
    Phương pháp này cần được mở rộng ra không chỉ riêng tại TP. Hồ Chí Minh mà trên
    toàn Việt Nam. Đối với Khối Mầm non và Tiểu học, giáo viên sẽ khuyến khích các
    bé tự do thử sức với nhiều ý tưởng khác nhau, và không để cho cảm giác “sợ sai”
    kiềm chế khả năng của mình. Giáo viên sẽ là người luôn lắng nghe đa chiều và mang
    lại cho các em học sinh một nền tảng kiến thức thực tế ngay từ khi còn nhỏ. Ở bậc
    trung học, STEAM đòi hỏi và trang bị cho học sinh những kỹ năng đánh giá về nghề
    nghiệp, sở thích, cơ hội và sự phát triển trong bối cảnh lịch sử, hiện tại và tương lai,
    từ quy mô địa phương ra đến toàn cầu. Các em được học và áp dụng những kiến thức
    từ nền tảng đến chuyên sâu, những kỹ năng và sự kỷ luật thông qua việc thực hiện
    các dự án thực tế và việc nghiên cứu những cập nhập mới nhất về các lĩnh vực liên
    quan. Học sinh còn có cơ hội tự đánh giá niềm đam mê, sở thích, trải nghiệm và tài
    năng của chính mình nhằm cải thiện sự phát triển của mỗi cá nhân ngày qua ngày.
    Điều này vô cùng hữu ích cho các em khi theo đuổi những khát vọng tương lai sau
    khi ra trường. Với những ưu điểm nổi trội trên, tin rằng STEAM sẽ giúp đào tạo
    những đứa trẻ – với đủ mọi trình độ và khả năng, trở thành những công dân toàn cầu
    trong chính cộng đồng của mình.
    1.3. Những điểm mạnh của giáo dục STEM/STEAM
    Thứ nhất: Giáo dục STEM/STEAM là phương thức giáo dục tích hợp theo cách
    tiếp cận liên môn (interdisciplinary) và thông qua thực hành, ứng dụng. Thay vì dạy
    bốn môn học như các đối tượng tách biệt và rời rạc, STEM kết hợp chúng thành một
    mô hình học tập gắn kết dựa trên các ứng dụng thực tế. Qua đó, học sinh vừa học được
    kiến thức khoa học, vừa học được cách vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn.
    Giáo dục STEM/STEAM sẽ phá đi khoảng cách giữa hàn lâm và thực tiễn, tạo
    ra những con người có năng lực làm việc “tức thì” trong môi trường làm việc có tính
    sáng tạo cao với những công việc đòi hỏi trí óc của thế kỷ 21.
    Điều này phù hợp với cách tiếp cận tích hợp trong Chương trình GDPT mới. Vì
    thế, tư tưởng này của giáo dục STEM/STEAM cần được khai thác và đưa vào mạnh
    mẽ trong Chương trình GDPT mới.
    Thứ hai: Giáo dục STEM/STEAM đề cao đến việc hình thành và phát triển
    năng lực giải quyết vấn đề cho người học. Trong mỗi bài học theo chủ đề STEM, học
    sinh được đặt trước một tình huống có vấn đề thực tiễn cần giải quyết liên quan đến
    các kiến thức khoa học.
    Để giải quyết vấn đề đó, học sinh phải tìm tòi, nghiên cứu những kiến thức
    11
    thuộc các môn học có liên quan đến vấn đề (qua sách giáo khoa, học liệu, thí nghiệm,
    công nghệ) và sử dụng chúng để giải quyết vấn đề đặt ra.
    Các kiến thức và kỹ năng này phải được tích hợp, lồng ghép và bổ trợ cho nhau
    giúp học sinh không chỉ hiểu biết về nguyên lý mà còn có thể thực hành và tạo ra được
    những sản phẩm trong cuộc sống hằng ngày. Tư tưởng này của giáo dục
    STEM/STEAM cũng cần được khai thác và đưa vào mạnh mẽ trong Chương trình
    GDPT mới.
    Thứ ba: Giáo dục STEM/STEAM đề cao một phong cách học tập mới cho
    người học, đó là phong cách học tập sáng tạo. Đặt người học vào vai trò của một nhà
    phát minh, người học sẽ phải hiểu thực chất của các kiến thức được trang bị; phải biết
    cách mở rộng kiến thức; phải biết cách sửa chữa, chế biến lại chúng cho phù hợp với
    tình huống có vấn đề mà người học đang phải giải quyết.
    Sự thẩm thấu kiến thức theo cách như vậy chính là một trong những định hướng
    mà giáo dục cần tiếp cận. Tuy vậy, có thể thấy phương thức dạy học như trên là không
    hề dễ dàng ngay cả đối với thế giới chứ không chỉ riêng trong điều kiện hiện nay của
    chúng ta.
    1.4. Các cấp độ của tổ chức dạy học STEM/STEAM
    Việc tổ chức dạy học STEM có nhiều cấp độ khác nhau. Tùy thuộc vào điều
    kiện hoàn cảnh của từng trường mà lựa chọn cấp độ để đạt được hiệu quả giáo dục tốt
    nhất. Có 4 cấp độ dạy học STEM/STEAM như sau:
    Cấp độ định hướng STEM/STEAM: Tập trung dạy liên môn, học sinh được
    cung cấp kiến thức các môn STEM chắc chắn, khả năng sáng tạo, tư duy logic, hiệu
    suất làm việc vượt trội có cơ hội phát triển các kĩ năng mềm toàn diện hơn, có khả
    năng định hướng nghề nghiệp tương lai. Cấp độ này hiện giờ là phù hợp cho trình độ
    giáo viên và học sinh ở nhiều trường THPT ở nước ta hiện nay, nhất là các trường ở
    vùng nông thôn điều kiện cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế.
    Cấp độ bổ trợ môn học STEM/STEAM: Dạy các môn công nghệ, Robotics- các
    môn điển hình cho dạy học STEM/STEAM. Thông qua lập trình lắp ráp robot, học
    sinh hiểu được: nguyên lí cơ bản về lập trình và các công nghệ mới hiện nay, có thể
    tiếp thu các kĩ thuật lắp ráp, đồng thời phát triển tính tư duy kĩ thuật. Học công nghệ
    thông qua thực hành và thông qua hoạt động dưới dạng trò chơi làm tăng hứng thú,
    tránh cảm giác nặng nề quá tải.
    Cấp độ bán STEM/STEAM: Dạy học tích hợp, lồng ghép liên môn của STEM
    theo một giáo trình được nghiên cứu và thử nghiệm nghiêm túc, hiệu quả. Học sinh
    được thực hành thông qua xem các video trong không gian ảo. Tuy nhiên cách học này
    mới đảm bảo được một mặt: những kiến thức và kĩ năng cần thiết liên quan đến các
    lĩnh vực khoa học công nghệ, kĩ thuật và toán học, lồng ghép và bổ trợ cho nhau trong
    một giáo trình có chủ đích. Còn về mặt ứng dụng thực tiễn của STEM chưa được đề
    cập, học sinh chưa được trực tiếp làm mới được thấy thực tế ở mức độ mô tả, hình
    dung.
    Cấp độ tiếp cận quan điểm STEM/STEAM hoàn toàn: Dạy học cấp độ bán
    STEm kết hợp học sinh được thực hành thông qua các dự án STEM. Dự án ở đây là
    một bài tập tình huống, một chủ đề mà người học phải giải quyết bằng kiến thức
    STEM.
    12
    Giáo dục STEM/STEAM nói chung và dạy học STEM/STEAM nói riêng
    không phải là để học sinh trở thành những nhà khoa học mà là xây dựng cho học sinh
    những năng lực cần thiết để làm việc trong thế giới công nghệ hiện đại, trong tương
    lai. Để đạt được hiệu quả trong dạy học STEM/STEAM, trước hết giáo viên phải có
    những nhận thức đúng, chính xác về STEM/STEAM.
    1.5. Các tiêu chí để đánh giá một bài học STEM/STEAM
    Tiêu chí 1: Chủ đề bài học STEM/STEAM tập trung vào các vấn đề thực tiễn
    Trong các bài học STEM/STEAM, học sinh được đặt vào các vấn đề thực tiễn
    xã hội, kinh tế, môi trường và yêu cầu tìm giải pháp
    Tiêu chí 2: Cấu trúc bài học STEM/STEAM được thiết kế theo quy trình kĩ thuật
    hoặc quy trình nghiên cứu khoa học
    Quy trình thiết kế kỹ thuật :
    Thiết kế kỹ thuật là cụ thể hóa ý tưởng của dự án nhằm thể hiện đầy đủ các giải
    pháp, thông số kỹ thuật và vật liệu sử dụng phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ
    thuật được áp dụng, là cơ sở để triển khai thiết kế bản vẽ thi công.
    Quy trình thiết kế kỹ thuật cung cấp một tiến trình linh hoạt đưa học sinh từ
    việc xác định một vấn đề hoặc một yêu cầu thiết kế đến sáng tạo và phát triển giải
    pháp. Trong quy trình thiết kế kỹ thuật, các nhóm học sinh thử nghiệm các ý tưởng
    dựa trên nghiên cứu của mình, sử dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau mắc sai lầm,
    chấp nhận và học từ sai lầm, và thử lại. Sự tập trung của học sinh là phát triển các giải
    pháp. Một quy trình thiết kế kĩ thuật gồm những bước sau:
    13
    Quy trình nghiên cứu khoa học:
    Nghiên cứu khoa học là quá trình tìm hiểu thế giới thông qua các suy luận
    logic, thí nghiệm kiểm chứng để tìm hiểu quy luật vận hành của vạn vật hay tăng sự
    hiểu biết về thế giới. Một quy trình nghiên cứu khoa học gồm những bước sau:
    Tiêu chí 3:Phương pháp dạy học STEM/STEAM đưa học sinh vào những hoạt
    động tìm tòi và khám phá, định hướng hành động, trải nghiệm và sản phẩm
    Trong bài học STEM, hoạt động của học sinh được thực hiện theo hướng mở có
    “ khuôn khổ” về các điều kiện ma học sinh được sử dụng (chẳng hạn các vật liệu khả
    dụng). Hoạt động học của học sinh là hoạt động được chuyển giao và hợp tác; các
    quyết định về giải pháp giải quyết vấn đề là của chính học sinh. Học sinh thực hiện các
    hoạt động trao đổi thông tin để chia sẻ ý tưởng và tái thiết kế nguyên mẫu của mình
    nếu cần. Học sinh tự điều chỉnh các ý tưởng của mình và thiết kế hoạt động khám phá
    của bản thân.
    Tiêu chí 4: Hình thức tổ chức bài học STEM/STEAM lôi cuốn học sinh vào hoạt
    động nhóm kiến tạo
    Giúp học sinh làm việc cùng nhau như một nhóm kiến tạo không bao giờ là
    một việc dễ dàng. Tuy nhiên, việc này sẽ trở nên dễ dàng hơn nếu tất cả giáo viên
    STEM ở trường làm việc cùng nhau để áp dụng làm việc nhóm, sử dụng cùng một
    ngôn ngữ, tiến trình và mong đợi cho học sinh. Làm việc nhóm trong thực hiện các
    hoạt động của bài học STEM/STEAM là cơ sở phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác.
    Tiêu chí 5: Nội dung và bài học STEM/STEAM áp dụng chủ yếu từ nội dung
    khoa học và toán học mà học sinh đã và đang học
    Trong các bài học STEM/STEAM, giáo viên cần kết nối và tích hợp một cách
    có mục đích nội dung từ các chương trình khoa học, công nghệ và toán. Lập kế hoạch
    để hợp tác với các giáo viên toán, công nghệ và khoa học khác để hiểu rõ nội hàm của
    việc làm thế nào để các mục tiêu khoa học có thể tích hợp trong một bài học đã cho.
    Từ đó, học sinh dần thấy rằng khoa học, công nghệ và toán không phải là các môn học
    14
    độc lập, mà chúng liên kết với nhau để giải quyết các vấn đề. điều đó có liên quan đến
    việc học toán, công nghệ và khoa học của học sinh.
    Tiêu chí 6: Tiến trình bài học STEM/STEAM tính đến có nhiều đáp án đúng và
    coi sự thất bại như là một phần cần thiết trong học tập
    Một câu hỏi nghiên cứu đặt ra, có thể đề xuất nhiều giả thuyết khoa học; một
    vấn đề cần giải quyết, có thể đề xuất nhiều phương án, và lựa chọn phương án tối ưu.
    Trong các giả thuyết khoa học, chỉ có một giả thuyết đúng. Ngược lại, các phương án
    giải quyết vấn đề đều khả thi, chỉ khác nhau ở mức độ tối ưu khi giải quyết vấn đề.
    Tiêu chí này cho thấy vai trò quan trọng của năng lực giải quyết vấn đề và sáng
    tạo trong bài học STEM/STEAM
    1.6. Các bước thiết kế một hoạt động/dự án dạy học định hướng STEM/STEAM
    Để xây dựng một dự án STEM/STEAM cần chú ý:
    Chú ý 1. Luôn yêu cầu học sinh tiến hành theo trình tự:
    – Làm như sách
    – Làm tốt hơn sách
    – Làm tốt hơn nữa
    Chú ý 2. Sau mỗi dự án cần tiến hành điều tra ý kiến học sinh để hoàn thiện và
    rút kinh nghiệm cho dự án tiếp theo:
    PHIẾU LẤY Ý KIẾN HỌC SINH SAU DỰ ÁN

    STTCâu hỏiCâu trả lời
    1Khi làm sản phẩm, em thích điều gì nhất? vì sao?
    2Ứng dụng toán (hóa học/vật lý/ sinh học…) ở chỗ
    nào? Liên quan đến mảng kiến thức nào?
    3Theo em sản phẩm này ứng dụng được vào trong
    thực tế như thế nào?
    4Các em đã phân công công việc trong nhóm như
    thế nào?
    5Các em gặp những khó khăn gì? Các em đã giải
    quyết ra sao?
    6Điều gì em nghĩ có thể làm mới hơn so với sách,
    so với các bạn?

    Các bước xây dựng hoạt đông/dự án STEM/STEAM bao gồm:
    Bước 1: Xác định chủ đề dự án dạy học định hướng STEM/STEAM: Dự án
    STEM/STEAM cần khơi gợi những đam mê, hứng thú của học sinh, giúp học sinh
    thông qua dự án STEM/STEAM lĩnh hội kiến thức và định hướng học sinh theo đuổi
    ước mơ, ngành nghề trong tương lai. Khi lựa chọn dự án cần chú ý các vấn đề sau:
    – Dự án phải là một vấn đề, một chủ đề có tính bao quát, tính thực tiễn và tính thời sự.
    – Nội dung dự án phải gắn với yếu tố nghiên cứu khoa học, yếu tố kĩ thuật của các
    ngành nghề hiện đại, kiến thức của dự án phải nằm trong chương trình giáo dục trung
    học phổ thông do Bộ Giáo Dục quy định.
    Bước 2: Xác định mục tiêu của dự án
    Trong bước này cần cụ thể và lượng hóa các năng lực chuyên môn của những
    môn học liên quan, các năng lực và kĩ năng mà học sinh cần hình thành qua chủ đề.
    Đối với mỗi một năng lực cần phân tích và tìm hiểu từng thành tố, biểu hiện và hành vi
    cấu thành nên năng lực đó.
    Bước 3: Xác định các vấn đề cần giải quyết trong dự án/Câu hỏi nghiên cứu:
    Dự án đề cập đến đối tượng nào? Đối tượng đó có mặt trong lĩnh vực nào của đời
    15
    sống? Đối tượng đó liên quan đến những kiến thức khoa học nào? Xác định các nội
    dung kiến thức STEM/STEAM cần sử dụng để giải quyết vấn đề. Trả lời cho câu hỏi:
    Vận dụng những nội dung kiến thức nào để thực hiện dự án?
    Bước 5: Xây dựng các hoạt động, Lập kế hoạch dạy học, các giai đoạn giải quyết vấn
    đề của dự án
    • Tên hoạt động
    • Câu hỏi hoạt động
    • Kiến thức liên quan
    • Chỉ số hành vi cần đánh giá
    • Nguyên vật liệu
    • Các bước tiến hành
    • Kết quả, giải thích và đánh giá kết quả
    • Giáo án (Ai? Làm gì? Như thế nào? Bao lâu?)
    • Lựa chọn hoạt động
    • Sự kết hợp giữa các giáo viên (nếu cần)
    • Xây dựng công cụ đánh giá
    Bước 6: Tổ chức dạy học và đánh giá
    • Tiến hành theo giáo án
    • Đánh giá và điều chỉnh
    2. Xây dựng dự án dạy học định hướng STEM/STEAM: “Dạy học
    STEM/STEAM theo các vấn đề thời sự: Chủ đề Coronavirus
    Bước 1. Xác định chủ đề dự án giáo dục: Chung tay đẩy lùi đại dịch Covid 19
    Bước 2: Xác định mục tiêu của dự án
    Kiến thức: Giúp học sinh có kiến thức tổng hợp trên nhiều lĩnh vực như: Khoa học,
    công nghệ, kỹ thuật, toán học (STEM) và nghệ thuật.
    Trình bày được các kiến thức cơ bản về dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do
    chủng mới của virus Corona gây ra như tên gọi, nguồn gốc, lịch sử dịch bệnh, cấu trúc,
    hình thức lây truyền, dấu hiệu và triệu chứng, giao thức chuẩn đoán, cách phòng ngừa
    dịch bệnh.
    Trình bày và phân tích được tình hình diễn biến dịch Covid-19 trên thế giới và
    ở Việt Nam thông qua hệ thống biểu đồ, bảng số liệu.
    Hiểu được vai trò của cá nhân và cộng đồng, hiểu được thế nào là nhân nghĩa,
    hợp tác; hiểu trách nhiệm của công dân trước vấn đề có tính cấp thiết toàn cầu.
    Đọc hiểu văn bản và viết được các đoạn nghị luận xã hội liên quan đến Covid-
    19

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa