• SKKN Ứng dụng một số bài tập bổ trợ nhằm phát triển sức mạnh và hoàn thiện kỹ  thuật đứng ném lựu đạn xa trúng đích cho học sinh lớp 11 THPT

    SKKN Ứng dụng một số bài tập bổ trợ nhằm phát triển sức mạnh và hoàn thiện kỹ  thuật đứng ném lựu đạn xa trúng đích cho học sinh lớp 11 THPT

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN .
    Giáo dục Quốc phòng – An ninh là một bộ phận của nền giáo dục quốc
    gia, tác động tích cực và trực tiếp đến nhận thức của toàn dân trong nhiệm vụ
    bảo vệ tổ quốc ,giữ gìn an ninh của đất nước, một nội dung cơ bản trong xây
    dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, là môn học chính khoá trong
    chương trình giáo dục của cấp THPT.
    Môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh góp phần vào giáo dục toàn diện
    cho học sinh về lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, niềm tự hào và sự trân
    trọng đối với truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc, của lực
    lượng vũ trang nhân dân Việt Nam; có ý thức cảnh giác trước âm mưu thủ đoạn
    của các thế lực thù địch; có kĩ năng quân sự, an ninh cần thiết để tham gia vào
    sự nghiệp xây dựng, củng cố quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân.
    Hiện nay với xu hướng dạy học lấy học sinh làm trung tâm nhằm khuyến
    khích học sinh tự học, tự nghiên cứu.Nhằm nâng cao được chất lượng giáo dục
    trong nhà trường. Theo Quyết định số 16/2006 QĐ – BGD&ĐT ngày
    05/06/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu “phải phát huy tính tích cực, tự
    giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, khả năng
    hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình
    cảm, đem lại niềm vui hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”. Chính vì
    vậy chúng ta không thể nhồi nhét vào đầu óc học sinh khối lượng kiến thức ngày
    càng nhiều mà chúng ta phải chú trọng đến phương pháp rèn luyện cho học sinh
    một kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo ra cho học sinh lòng ham học,
    khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên.
    Giờ dạy môn GDQP – AN thực sự mang lại cho tôi cảm hứng muốn tìm
    tòi nghiên cứu và học hỏi nhiều hơn nữa. Qua thời gian giảng dạy, nghiên cứu
    tài liệu tôi thấy có một số thầy cô đã đề cập đến, đã nghiên cứu và đưa ra
    phương pháp luyện tập kỹ thuật “ ném lựu đạn xa trúng đích” của khối 11, tôi
    đã tham khảo và vận dụng vào thực tế tại đơn vị. Tuy nhiên, khi áp dụng tôi thấy
    nó lại phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thực tế của từng đơn vị, từng đối tượng
    3
    học sinh. Đối với trường THPT Đại An – Huyện ý yên – Tỉnh Nam Định, là đơn
    vị mới thành lập, điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu thốn; điều
    kiện kinh tế vùng miền khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều, chất lượng
    tuyển sinh học sinh đầu cấp còn thấp…. Do đó, việc hình thành kỹ năng động
    tác của học sinh chưa đảm bảo yêu cầu.
    Bên cạnh đó hội thao GDQP được trường tổ chức mỗi năm một lần qua
    đó nâng cao tinh thần học tập cũng như trao đổi kinh nghiệm giảng dạy giữa
    giáo viên trong trường. Học sinh được trau dồi những kỹ năng cũng như học tập
    được nhiều kiến thức qua từng nội dung thi đấu. Là một giáo viên huấn luyện
    học sinh trong nội dung thi đấu “ném lựu đạn” để thi hội thao toàn trường ,tôi
    nhận ra sự thích thú cũng như quyết tâm thi đấu để đạt được thành tích cao nhất
    của các em học sinh. Tuy nhiên qua nội dung thi “ném lựu đạn xa trúng đích” tôi
    nhận thấy một điều là về kĩ thuật đa phần học sinh đều thực hiện tương đối tốt
    động tác tuy nhiên về độ chính xác cũng như thể lực để thực hiện tốt tất cả các
    lượt ném thì lại không đảm bảo.
    Xuất phát từ những lý do nói trên với những kinh nghiệm của bản thân,
    tôi tiến hành thực hiện sáng kiến kinh nghiệm: “Ứng dụng một số bài tập bổ trợ
    nhằm phát triển sức mạnh và hoàn thiện kỹ thuật đứng ném lựu đạn xa trúng
    đích cho học sinh lớp 11 trường THPT Đại An” với hy vọng việc rèn luyện thể
    lực và kỹ thuật động tác của học sinh được cải thiện, góp phần nâng cao chất
    lượng bộ môn cũng như chất lượng toàn diện của học sinh nhà trường .
    Sáng kiến kinh nghiệm của tôi đã áp dụng trong việc giảng dạy ở khối 11
    lớp 11B1, 11B2, 11B3, 11B4, trường THPT Đại An do tôi phụ trách trong năm
    học 2019 -2020 đã đem lại kết quả rất khả quan.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1.Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến.
    Để đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ mới của đất nước công tác giáo dục
    quốc phòng ở trường phổ thông tiếp tục được đổi mới.
    Căn cứ vào quyết định số 79/2007/QĐ- BGD&ĐT môn giáo dục quốc
    phòng được đổi tên thành “Giáo dục Quốc phòng – An ninh” cho phù hợp với
    4
    điều kiện phát triển của đất nước. Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định Giáo
    dục Quốc phòng – An ninh là một bộ phận của nền giáo dục quốc dân, một nội
    dung cơ bản trong xây dựng nền Quốc phòng toàn dân, An ninh nhân dân, là
    môn học chính khoá trong chương trình giáo dục cấp trung học phổ thông.
    Nhằm góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh về lòng yêu nước và giữ nước
    của dân tộc ta, của lực lượng vũ trang và nhân dân. Trên cơ sở đó, nâng cao
    cảnh giác cách mạng, ý thức trách nhiệm của công dân, tích cực hoạt động góp
    phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
    Để đảm bảo hoà nhập trong quá trình đổi mới giáo dục ở cấp trung học phổ
    thông. Ngày 05 tháng 5 năm 2006 Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo ban hành
    quyết định số 16/2006 QĐ- BGD &ĐT về chương trình phổ thông cấp trung học
    phổ thông, trong đó có môn học Giáo dục Quốc phòng – An ninh với thời gian
    35 tiết cho mỗi khối lớp học, 105 tiết cho cả cấp học, đáp ứng yêu cầu tổ chức
    dạy học theo phân phối chương trình.
    1.1. Thuận lợi:
    Bản thân tôi tốt nghiệp cử nhân sư phạm ngành GDTC – GDQP ghép
    môn nên được đào tạo cơ bản vững về chuyên môn và bản thân luôn nhiệt tình
    hăng say với công việc.
    Đối với môn Giáo dục Quốc phòng – An ninh, nhà trường cùng các cấp lãnh đạo
    luôn quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi như cử đi bồi dưỡng về chuyên môn,
    thực hiện đảm bảo các chế độ đối với giáo viên và học sinh .
    Điều kiện sân bãi, dụng cụ luôn được nhà trường quan tâm mua bổ sung đảm
    bảo cho môn học.
    1.2. Khó khăn
    – Đối với giáo viên: Đội ngũ giáo viên Giáo dục quốc phòng – An ninh là
    những giáo viên được đào tạo từ chuyên ngành giáo dục thể chất sang hoặc ghép
    môn. Tuy đã được đào tạo bồi dưỡng và tập huấn hàng năm, nhưng do đây là
    một lĩnh vực mới, kiến thức lại khá rộng nhiều nội dung trùng lặp với một số
    môn như Địa lý, lịch sử, giáo dục công dân… kiến thức học xen lẫn thực hành
    5
    với lý thuyết, thời gian bồi dưỡng của giáo viên lại ngắn nên đã gặp không ít
    những khó khăn trong khi giảng dạy.
    – Đối với học sinh: Do các em sinh ra và lớn lên trong thời bình, do yêu cầu về
    lượng kiến thức của các môn học nhiều, nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất
    lượng của bộ môn. Thể lực của học sinh còn yếu do các em không chú trọng rèn
    luyện hàng ngày.
    Do một bộ phận không nhỏ học sinh và phụ huynh còn ngộ nhận coi đây là
    môn học phụ nên dẫn đến ý thức học tập chưa tốt.
    – Về khách quan:
    Sân bãi không đảm bảo sau khi mưa một hai ngày sân lầy lội.
    Trong khi đang học thực hành gặp phải những buổi trời mưa, thậm chí mưa
    kéo dài trong nhiều ngày, nên ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập
    Do trường nằm trong khu vực xa trung tâm nên việc mua sách giáo khoa
    cũng rất khó, nhiều cửa hàng không bán, thư viện trường cũng thiếu đầu sách
    cho học sinh mượn.
    Dụng cụ trang thiết bị tuy được cấp tương đối đầy đủ và một số tự trang bị
    nhưng vẫn còn thiếu như tranh ảnh giảng dạy còn hạn chế ở một số nội dung
    hoặc là một số thiết bị không đảm bảo chất lượng hay lâu ngày nên đã bi hỏng
    như máy bắn TEC 1, súng AK tập (composite), bia số 4… Vì vậy đã ảnh hưởng
    không nhỏ đến chất lượng học tập của học sinh.
    Việc học môn GDQP – AN đòi hỏi người học phải nắm được cả nội dung
    lý thuyết và thực hành được kỹ thuật động tác. Trong khi đó chương trình sách
    giáo khoa môn GDQP số tiết thực hành ít và thời gian một tiết học thực hành
    phải học nhiều động tác mới nên học sinh có ít thời gian để luyện tập và hình
    thành kỹ năng kỹ xảo. Đặc biệt là ở khối lớp 11 bài 6: Kỹ thuật sử dụng lựu đạn
    là một nội dung khó nhưng thời gian học ít 3 tiết trong đó 1 tiết lý thuyết, 2 tiết
    thực hành.
    Tiết 26: Giới thiệu một số loại lựu đạn Việt Nam. Quy tắc bảo quản và sử
    dụng lựu đạn.
    Tiết 27: Tư thế động tác đứng ném lựu đạn
    6
    Tiết 28: Ném lựu đạn xa trúng đích.
    Với thời lượng như trên thì việc giảng dạy chủ yếu nghiêng về mặt học
    mới động tác, thời gian luyện tập còn ít mà yêu cầu cần đạt lại khá cao là: Nam
    25 m, Nữ 20m ném trúng đích đối với chương trình phổ thông. Để đạt được kết
    quả này các em học sinh phải có thể lực tốt và luyện tập nhiều. Nhưng thực tế
    hiện nay các em học sinh có thể lực rất yếu do các em có nhiều môn học thời
    gian giành cho có các hoạt động rèn luyện thể lực ít và nhiều em không có ý
    thức tự học ở nhà.
    Đối với bài này học sinh phải nắm được kiến thức phần lý thuyết về cấu tạo,
    tính năng chiến đấu và nguyên lý hoạt động của Lựu đạn. Sau đó ở phần thực
    hành tiết 27 phải nắm được kĩ thuật động tác, tiết 28 thực hành ném lựu đạn xa
    trúng đích. Thông thường khi ta dạy bài này giáo viên thị phạm động tác rồi tổ
    chức cho học sinh tập luyện theo ba bước hoặc là theo phương pháp mới học
    sinh tự nghiên cứu bài sau đó giáo viên chuẩn kiến thức rồi cho học sinh chia
    nhóm tự tập luyện giáo viên giám sát chỉ đạo chung. Cả hai cách này đều dẫn
    đến kết quả không cao thậm chí có những em không hề thực hiện được động tác
    chứ không nói đến đạt được thành tích tốt. Hơn nữa khi ném các em còn phải
    cầm súng và đeo lựu đạn trên người, điều này càng khiến các em khó khăn hơn
    trong việc thực hiện kĩ thuật, .
    * Những sai lầm học sinh thường mắc phải khi học bài này:
    – Khi thực hiện kĩ thuật ném lựu đạn các em hay co tay ở giai đoạn trước khi rời
    lựu đạn.
    – Các em chưa biết cách phối hợp sức mạnh của toàn thân, lực rời rạc.
    – Tâm lý khi lên thực hiện kĩ thuật chưa tốt, đặc biệt khi vào cuộc thi.
    2.Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến.
    2.1. Đối với học sinh.
    – Học sinh hiểu được mục đích và ý nghĩa, trường hợp vận dụng của kĩ thuật
    ném lựu đạn.
    – Học sinh cần phải hiểu rõ về nguyên lý kỹ thuật động tác.
    7
    – Học sinh phải tự nghiên cứu bài ở nhà trước, xây dựng tâm lý tự tin sẵn
    sàng.
    Nhìn về tổng quát của nội dung này chúng ta thấy không có gì là khó khăn
    đối với người học, nhưng trong thực tế khi giảng dạy chúng ta mới thấy nảy sinh
    ra nhiều vấn đề đối với người học như các em không biết cách thực hiện động
    tác hay là tâm lý còn ngại ngùng khi thực hiện động tác, đặc biệt là những học
    sinh nữ. Chính vì vậy giáo viên phải đưa ra được những phương pháp hợp lý để
    học sinh có thể nhanh chóng tiếp thuđược kiến thức cũng như không bị nhàm
    chán trong khi học tập.
    Để đảm bảo được thời gian và nội dung bài học ở bài này, nếu giao cho
    học sinh tự nghiên cứu rồi giáo viên tổ chức tập luyện thì khó có thể đảm bảo
    được thời gian cũng như học sinh tiếp thuđược động tác. Chính vì vậy ở nội
    dung này, để đảm bảo được tính hiệu quả ngay từ tiết 26 lý thuyết: Giới thiệu
    một số loại lựu đạn Việt Nam. Quy tắc bảo quản và sử dụng lựu đạn. Giáo viên
    nên dạy tập trung vào những ý chính, sau đó dành thời gian cho học sinh quan
    sát video, hình ảnh về tư thế động tác đứng ném lựu đạn, để các em bước đầu
    hình thành ra động tác. Yêu cầu học sinh về nhà thực hiện trước động tác bằng
    cách đọc sách giáo khoa và xem các video clip về đứng ném lựu đạn để tham
    khảo trước . Tiết 27, 28 thực hành giáo viên giành nhiều thời gian cho học sinh
    luyện tập động tác và tập một số bài tập bổ trợ, nhằm phát triển thể lực và giúp
    các em hoàn thiện kỹ thuật động tác.
    2.2. Đối với giáo viên.
    Giáo viên phải xây dựng một kế hoạch cụ thể, tổ chức luyện tập khoa học, chuẩn
    bị đầy đủ thiết bị dụng cụ dạy học. Duy trì nghiêm chế độ học tập đã được triển
    khai theo kế hoạch. Đây là nội dung quan trọng, quyết định trực tiếp đến chất
    lượng bài học.
    Xây dựng kế hoạch học tập là một nội dung hết sức quan trọng nhằm điều
    hành, duy trì học tập của lớp học không gây nhàm chán. Tổ chức luyện tập
    không chặt chẽ, phương pháp luyện tập không tốt không những kết quả luyện
    tập không cao mà còn làm cho động tác có tật khó sửa.
    8
    Đối tượng tôi chọn là học sinh 4 lớp 11 với 153 em, tỷ lệ nam, nữ giữa các
    lớp tương đương với nhau. Thể lực giữa các lớp lúc chọn vào là ngẫu nhiên gần
    như bằng nhau.Được chia làm 2 nhóm; 1 nhóm làm thực nghiệm, nhóm còn lại
    để đối chứng.
    Nhóm thứ nhất: Tập luyện bình thường theo hướng dẫn của sách giáo khoa
    và phương pháp học như năm trước bao gồm các lớp:
    11B1 có 38 học sinh
    11B2 có 39 học sinh
    Tổng số học sinh của nhóm thứ nhất là 77 học sinh.
    Nhóm thứ hai: Tập luyện theo phương pháp thực nghiệm áp dụng các bài tập
    bổ trợ gồm các lớp:
    11B4 có 37 học sinh
    11B3 có 39 học sinh
    Tổng số học sinh nhóm thứ hai là: 76 học sinh.
    Trước khi áp dụng một số bài tập cho nhóm thực nghiệm, thực hiện kiểm tra
    hai nhóm thu được kết quả sau:
    2.2.1. Bảng 1: Nhóm đối chứng:

    LớpTSGiỏi (9-10)Khá (7-8)Tb (5-6)Không đạt(dưới
    5)
    SL%SL%SL%SL%
    11B13825,3923,71025,61847,4
    11B23912,6820,51128,21948,7
    Tổng7733,81722,02127,03748,1

    9
    2.2.2. Bảng 2: Nhóm thực nghiệm:

    LớpTSGiỏi (9-10)Khá (7-8)Tb (5-6)Không đạt(dưới 5)
    SL%SL%SL%SL%
    11B33925,11025,61128,21641,0
    11B43712,7718,9924,32054,1
    Tổng7633,91722,32026,43647,4

    2.3. Biện pháp thực hiện các bài tập bổ trợ.
    Để góp phần nâng cao hiệu quả của tiết học kĩ thuật sử dụng lựu đạn nhằm
    nâng cao thành tích cũng như tạo sự hăng say tập luyện của học sinh, tôi đã
    nghiên cứu và vận dụng đem vào giảng dạy các bài tập bổ trợ phát triển thể lực
    song song vào trong thời gian tiết học và với thời gian theo phân phối chương
    trình, chỉ có 3 tiết ( 1 lý thuyết và 2 thực hành), tôi luôn chủ động nhắc nhở học
    sinh nên tập luyện thêm ờ nhà để nhằm nâng cao kết quả học tập cũng như sức
    khỏe mỗi bản thân với thời gian cho phép.
    2.3.1. Nhóm các bài tập phát triển sức mạnh.
    – Đặc điểm khi thi đấu ném lựu đạn và tập luyện nội dung ném lựu đạn là
    người học cần có một thể lực thật tốt để luôn đảm bảo được khi thi đấu thì phải
    thực hiện tốt tất cả yêu cầu được đề ra.Như chúng ta thấy khi đi tham gia thi đấu
    hội thao GDQP mỗi học sinh cần phải thực hiện đầy đủ 7 lượt ném (trong đó có
    hai lượt ném thử và năm lần ném tính điểm).Vì vậy luôn đặt ra cho VĐV khi thi
    đấu là phải đảm bảo có một nền tảng thể lực thật tốt.
    – Từ cơ sở lý luận cũng như quan điểm vận động tập luyện và khi thi đấu
    môn ném lựu đạn. Các bài tập để phát triển sức mạnh được tôi đưa vào cho học
    sinh tập luyện như sau.
    Bài tập 1: Ném lựu đạn xa.
    – Mục đích: Phát triển sức mạnh của cánh tay và phối hợp động tác ra tay
    đúng trong động tác ném lựu đạn .
    – Chuẩn bị: quả lựu đạn tập, sân tập, súng Ak, bao xe (Tùy theo điều kiện cụ
    thể của trường để chuẩn bị sân tập cho hợp lý).

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Một số biện pháp phát triển phong trào tập luyện môn Bóng rổ của học sinh trường THPT

    SKKN Một số biện pháp phát triển phong trào tập luyện môn Bóng rổ của học sinh trường THPT

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Thể dục Thể thao là một bộ phận quan trọng không thể thiếu được trong công
    cuộc xây dựng nền văn hoá mới, con người mới. Ngoài ra Thể dục thể thao còn là
    một phương tiện tối ưu để rèn luyện sức khoẻ. Rèn luyện TDTT không những nâng
    cao sức khoẻ, khả năng vận động, giáo dục phẩm chất đạo đức cho con người mà
    còn phát triển năng lực trí tuệ.
    Trong hệ thống Giáo dục – Đào tạo của nước ta. Giáo dục thể chất là một bộ
    phận quan trọng trong công tác giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ nhằm đào tạo cho
    họ thành những chủ nhân tương lai của đất nước có nhân cách đạo đức tốt, trình độ
    chuyên môn cao, có sức khoẻ dồi dào, có tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.
    Những năm qua công tác giáo dục thể chất trong các nhà trường luôn được
    Đảng, Nhà nước quan tâm cả về vật chẫn lẫn tinh thần thông qua việc đầu tư, tăng
    cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, cải tiến chương trình giảng dạy nhằm đáp
    ứng những yêu cầu trong thời đại mới. Trong các môn thể thao, Bóng rổ là một
    môn thể thao có sức hấp dẫn, thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia
    tập luyện và thi đấu, từ lứa tuổi thanh thiếu niên, học sinh cho đến người cao tuổi.
    Thậm chí cả những người khuyết tật cũng có thể tham gia tập luyện môn thể thao
    này. Hiện nay Bóng rổ là môn thể thao được tổ chức trong các kỳ đại hội thể thao
    quốc tế, đại hội thể thao các quốc gia, các giải thi đấu của học sinh – sinh viên các
    cấp. Tại Việt Nam Bóng rổ hiện đang là môn thể thao có tốc độ phát triển mạnh,
    đặc biệt là trong môi trường học đường.
    Hiện nay phong trào tập luyện và thi đấu môn Bóng rổ trong trường THPT
    Thịnh Long vẫn được duy trì thông qua các giờ học chính khóa của môn Thể dục,
    các buổi ngoại khóa, thậm chí ngay trong các giờ giải lao trong các buổi học. Tuy
    nhiên thực tế hiện tại cho thấy do tác động của xã hội cùng với sự bùng nổ của
    2
    công nghệ thông tin, các trò chơi công nghệ số đang thu hút hầu hết các em học
    sinh tham gia qua đó làm ảnh hưởng rất lớn đến phong trào tập luyện và thi đấu của
    các môn thể thao nói chung và môn Bóng rổ nói riêng..
    Bên cạnh đó môn Bóng rổ có kỹ thuật khó, tiêu hao thể lực nhiều, phong trào
    tập luyện môn Bóng rổ tại khu vực trường đóng quân chưa phát triển. Do đó phong
    trào tập luyện môn thể thao này là điểm yếu của phong trào thể thao trường THPT
    Thịnh Long.
    Xuất phát từ thực tế nêu trên, với mong muốn đẩy mạnh phong trào tập luyện
    môn Bóng rổ cho học sinh trường THPT Thịnh Long, tôi tiến hành nghiên cứu và
    áp dụng “Một số biện pháp phát triển phong trào tập luyện môn Bóng rổ của học
    sinh trường THPT Thịnh Long”. Nhằm mục đích nâng cao chất lượng học tập
    môn Thể dục nói chung và nội dung Bóng rổ nói riêng của học sinh trong nhà
    trường.
    Mục đích của sáng kiến:
    Thông qua việc phân tích lý luận và đánh giá thực trạng phong trào tập luyện
    môn Bóng rổ của học sinh trường THPT Thịnh Long vào thời điểm hiện tại, sáng
    kiến xây dựng và áp dụng thực tế các nhóm biện pháp thích hợp, có tính khả thi
    theo hướng nhằm phát triển phong trào tập luyện môn Bóng rổ của học sinh trường
    THPT Thịnh Long.
    Mục tiêu của sáng kiến:
    Căn cứ vào mục đích đã đặt ra, sáng kiến giải quyết 2 mục tiêu sau:
    Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng phong trào tập luyện môn Bóng rổ của học
    sinh trường THPT Thịnh Long.
    3
    Giải quyết mục tiêu nghiên cứu này chính là việc đánh giá thực trạng về
    công tác GDTC, phong trào tập luyện môn Bóng rổ của học sinh trường THPT
    Thịnh Long, làm cơ sở để giải quyết mục tiêu tiếp theo của sáng kiến.
    Mục tiêu 2: Xây dựng và áp dụng thực tế một số biện pháp phát triển phong
    trào tập luyện môn Bóng rổ của học sinh trường THPT Thịnh Long.
    Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn của phong trào tập luyện môn Bóng
    rổ, sáng kiến đã tiến hành xây dựng và áp dụng thực tế một số biện pháp phát triển
    phong trào tập luyện môn Bóng rổ của học sinh trường THPT Thịnh Long. Đồng
    thời thông qua việc tổ chức áp dụng thực tế các biện pháp đã lựa chọn trong thực
    tiễn, sáng kiến đã tiến hành xác định hiệu quả của các biện pháp đó thông qua việc
    thực nghiệm một số biện pháp được lựa chọn.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Cơ sở lý luận để xây dựng sáng kiến
    1.1. Những biện pháp phát triển TDTT
    1.1.1 Khái niệm về các biện pháp
    Nghiên cứu các tài liệu về quản lí TDTT, có thể nhận thấy các biện pháp
    chưa được nghiên cứu sâu và hệ thống hoá một cách đầy đủ. Do đó cần phải tiến
    hành việc phân loại trên cơ sở khoa học và kinh nghiệm quản lí thu nhận được từ
    quá trình áp dụng các biện pháp vào thực tiễn.
    Trên cơ sở phân tích tài liệu, có thể đi đến nhận định là giữa phương pháp và
    thực tiễn quản lí còn có khoảng cách. Việc ứng dụng các phương pháp quản lí vào
    quá trình quản lí phụ thuộc vào nhiều yếu tố trên cơ sở phù hợp của chúng với điều
    kiện thực tiễn:
    + Yếu tố hình thức là yếu tố hiện trạng của quá trình quản lí khác, đây là tình
    trạng nội lực, ngoại lực (khách quan, chủ quan) trong quản lí.
    4
    + Yếu tố mục tiêu trong quản lí cần đạt ở mức độ, phạm vi nào?
    + Sự thông minh, sáng tạo của người quản lí
    Về bản chất của giải pháp là những phương pháp, phương tiện, hành vi công
    cụ được tác động sử dụng thông qua quản lí theo một lộ trình nhất định. Các
    phương tiện, hành vi, công cụ này thể hiện ở hình thức là các chương trình và dự án
    được thực hiện trong phạm vi lộ trình để đạt được mục tiêu quản lí. Nói tóm lại giải
    pháp là những chương trình, dự án được sử dụng như một phương pháp quản lí để
    đạt được mục tiêu quản lí đề ra. Giải pháp là những phương pháp cụ thể, là cách
    thức thực hiện các phương pháp. Giải pháp là cụ thể hoá các phương pháp hay ứng
    dụng các phương pháp vào thực tiễn quản lí. Trong một phương pháp có nhiều giải
    pháp, mặt khác một giải pháp cụ thể có thể tập hợp nhiều phương pháp khác nhau.
    Như vậy giữa phương pháp và giải pháp có sự tương đồng nhưng không phải đồng
    nghĩa với nhau. Một nhóm giải pháp cụ thể tổng hợp thành phương pháp quản lí
    1.1.2. Phân loại các biện pháp phát triển TDTT
    Theo cách tiếp cận các phân loại các giải pháp quản lí xã hội của các tác giả
    Nguyễn Tuấn Dũng, Đỗ Minh Hợp và K.A.Vôrônôva, việc phân loại các nhóm giải
    pháp quản lí xã hội như sau:
    a. Trong phương pháp quản lí hành chính có nhóm biện pháp hành chính. Đó
    là nhóm giải pháp mang tính bắt buộc, cưỡng chế, mệnh lệnh dựa trên cơ sở pháp lí
    được luật pháp thừa nhận. Đây là nguyên lí cấp dưới phục tùng cấp trên , người dân
    sống và làm việc theo pháp luật. Nhóm giải pháp này bao gồm các giải pháp cụ thể
    như sau:
    – Biện pháp tổ chức ( hình thành các loại hình tổ chức trong xã hội)
    – Các văn bản pháp luật, dưới luật, chỉ thị, nghị quyết, nghị định, thông tư, kế
    hoach.
    5
    – Thanh tra, kiểm tra, kiểm soát.
    b. Trong phương pháp quản lí kinh tế có nhóm biện pháp kinh tế (vận dụng
    phương pháp quản lí kinh tế). đây là nhóm giải pháp vận dụng các quy luật kinh tế
    để áp dụng vào quản lí xã hội.
    Quy luật kinh tế cơ bản nhất gồm có:
    – Lợi nhuận và lợi ích kinh tế, các hoạt động xã hội đều lấy lợi ích, lợi nhuận
    kinh tế làm thước đo, đánh giá hiệu quả và mục đích hoạt động.
    – Quy luật về phân phối lợi ích sản phẩm xã hội.
    – Quy luật cung cấp, quy luật giá trị.
    – Quy luật kinh tế thị trường…
    Trên cơ sở đó nhóm các biện pháp kinh tế bao gồm:
    – Hệ thống chế độ, chính sách và khen thưởng vật chất.
    – Hệ thống lương và phụ cấp ngoài lương.
    Trong quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ dẫn đến sự đa
    dạng hoá các loại hình sở hữu, trong quản lý điều hành phát triển xã hội. Sở hữu
    nhà nước (Công lập) và sở hữu ngoài nhà nước (Ngoài công lập) gồm có bán công,
    dân lập, tư nhân.
    Biện pháp xã hội hoá để thu hút và khai thác các nguồn lực xã hội. Các quan
    điểm đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đối với công tác xã hội hoá thể dục thể thao
    là:
    + Thể dục thể thao là một bộ phận quan trọng của xã hội. phát triển thể dục
    thể thao là một phương tiện hữu hiệu để phát triển con người toàn diện – đây vừa là
    mục tiêu, vừa là động lực phát triển xã hội. Thể dục thể thao góp phần tích cực
    6
    nâng cao sức khoẻ, phát triển nhân cách con người, tạo ra lối sống lành mạnh, văn
    minh trong xã hội.
    + Thể dục thể thao Việt Nam phải là một nền thể thao phát triển và tiến bộ,
    có tính độc lập, khoa học và mang tính toàn dân.
    + Thể dục thể thao là sự nghiệp của quần chúng, là trách nhiệm của toàn xã
    hội. Mọi tổ chức Đảng, Chính quyền, Tổ chức xã hội ở các cấp phải coi trong, có
    trách nhiệm phát triển thể dục thể thao.
    Những quan điểm trên là căn cứ, cơ sở giúp cho việc hoạch định có hiệu quả
    trong mọi phạm vi hoạt động của thể dục thể thao, trong đó bao gồm cả hoạt động
    tổ chức, xây dựng quản lý các tổ chức xã hội về thể dục thể thao.
    c. Nhóm biện pháp đạo đức (Vận dụng các phương pháp Quản lý đạo đức).
    Đây là nhóm giải pháp về con người, xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng con nguời có
    nhân cách phát triển để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ quản lý. Đạo đức ở đây là
    xây dựng và hình thành nhân cách con người trong hệ thống quản lý. Con người
    vừa là chủ thể, vừa là khách thể quản lý. Đạo đức của con người trong hệ thống
    quản lý là nhân tố quan trọng quyết định tới sự thành công hay thất bại của quá
    trình quản lý.
    Nội dung biện pháp quản lý đạo đức gồm có :
    + Hoàn thiện hệ thống giáo dục đào tạo con người trong xã hội.
    + Hệ thống chế độ sử dụng nguồn lực con người trong xã hội, chế độ tuyển
    dụng, chế độ lao động, công tác…
    + Tuyên truyền, vận động, giáo dục truyền thông cho mọi người về chính trị,
    tư tưởng, về tư cách đạo đức…
    7
    Ngoài cách phân loại các biện pháp quản lí nói trên, khi vận dụng các nhóm
    biện pháp vào thực tiễn của quá trình quản lí cần phải sử dụng linh hoạt các loại
    giải pháp hỗ trợ khác.
    1.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc phát triển phong trào tập
    luyện môn Bóng rổ.
    Muốn phát triển phong trào tập luyện và thi đấu môn Bóng rổ cần phải phát
    triển cả phong trào quần chúng và thể thao thành tích cao. Trong đó phong trào tập
    luyện của lứa tuổi học sinh đóng vai trò hết sức quan trọng. Quá trình tuyển chọn
    nhân tài cũng như quá trình đào tạo nhân tài ở các môn thể thao cần phải tìm ra
    những đặc điểm chung và những yếu tố đặc thù đối với từng bộ môn. Với môn
    Bóng rổ ở trường THPT Thịnh Long sự phát triển thường bị các nhân tố sau chi
    phối:
    1.2.1 Nhận thức của cấp uỷ Đảng, Ban giám hiệu, các ban ngành đoàn thể, các
    CB – GV – CNV trong trường THPT Thịnh Long đối với công tác Giáo dục thể
    chất.
    Trong nhiều năm qua công tác Giáo dục thể chất ở trường THPT Thịnh Long
    luôn được chi bộ Đảng, ban Giám hiệu và các ban ngành đoàn thể trong nhà trường
    quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện tích cực về cả vật chất và tinh thần. Quán triệt nghị
    quyết, chỉ thị của Đảng và nhà nước đối với công tác TDTT nói chung, công tác
    Giáo dục thể chất nói riêng, cấp uỷ Đảng, ban Giám hiệu và các ban ngành đoàn
    thể trong nhà trường đã khẳng định xây dựng và phát triển phong trào TDTT là một
    bộ phận trong chiến lược phát triển nhà trường.
    Trong những năm qua cấp ủy, ban Giám hiệu trong nhà trường đã quán triệt
    đường lối đổi mới của Đảng, của ngành, vận dụng vào thực tiễn nhà trường với các
    nhiệm vụ cụ thể sau:
    8
    + Tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền để không ngừng nâng cao nhận thức của
    các tổ chức đoàn thể, CB – GV – CNV và học sinh về nhiệm vụ duy trì và phát triển
    phong trào tập luyện và thi đấu các môn thể thao trong nhà trường để đáp ứng nhu
    cầu, nhiệm vụ mới.
    + Hoàn thành xây dựng quy hoạch phát triển các công trình phục vụ cho công tác
    Giáo dục thể chất. Đẩy mạnh xã hội hoá phục vụ cho các hoạt động TDTT. Huy
    động các nguồn lực đầu tư cho công tác TDTT, đa dạng hoá các loại hình hoạt
    động thể thao trong nhà trường, duy trì và phát triển đa dạng các môn thể thao học
    sinh, đặc biệt là những môn thể thao thế mạnh của nhà trường, của địa bàn dân cư
    nơi trường đóng quân như Bóng rổ, Điền kinh, Bóng bàn, Bóng chuyền, Bóng đá.
    + Phát triển mạnh, sâu rộng phong trào Thể thao học đường, đẩy mạnh thực
    hiện cuộc vận động “ Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Đặc
    biệt nâng cao chất lưọng giáo dục thể chất góp phần đào tạo con người mới phát
    triển toàn diện về Đức – Trí – Thể – Mĩ. Thông qua các hoạt động của thể thao trong
    nhà trường phát hiện và bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho đội tuyển TDTT của nhà
    trường, của ngành GD&ĐT Nam Định.
    Đối với trường THPT Thịnh Long các môn thể thao nói chung và môn Bóng rổ
    nói riêng dành cho CB – GV – CNV và học sinh đều được Chi bộ – BGH, Công
    đoàn, Đoàn Thanh niên đặc biệt quan tâm, thường xuyên tổ chức các giải thi đấu
    động viên khen thưởng kịp thời, tạo không khí sôi nổi trong tập luyện và thi đấu
    trong nhà trường.
    1.2.2. Công tác tổ chức quản lí.
    Đây là một nhân tố hết sức quan trọng, một khi đã có chủ trương đúng có
    được tiền đề về các nhân lực, vật lực mà tổ chức quản lí không tốt sẽ không phát
    huy được hiệu quả. Khâu tổ chức quản lí chủ yếu về ba lĩnh vực:
    + Tổ chức quản lí con người
    9
    + Tổ chức quản lí vật chất, dụng cụ sân bãi.
    + Phát huy sự hợp đồng hỗ trợ của nguồn lực bên trong và bên ngoài.
    Nói đến tổ chức con người là một phạm trù rất rộng. Trong đó chủ yếu là đội
    ngũ cán bộ, giáo viên giáo dục thể chất, ngoài ra còn có đội ngũ hướng dẫn viên,
    BCH Công đoàn, BCH Đoàn trường, giáo viên chủ nhiệm…Nếu công tác tổ chức
    quản lí có sự phối hợp rộng rãi thì sẽ phát huy được sức mạnh cộng đồng.
    Với công tác TDTT học sinh ở trường THPT Thịnh Long để làm tốt khâu
    này, lãnh đạo của nhà trường chủ yếu là tạo điều kiện về thời gian và cơ sở vật chất
    cho việc tập luyện và công tác tổ chức các giải thi đấu.
    1.2.3 Trình độ và năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên giáo dục thể
    chất trường THPT Thịnh Long
    Muốn làm tốt bất kì một công việc gì đòi hỏi con người phải có sự nhiệt tình
    và phải có tri thức. Trong thời đại ngày nay khi thế giới bùng nổ cuộc cách mạng
    thông tin cũng như khoa học công nghệ phát triển với tốc độ chóng mặt đã ảnh
    hưởng đếm sự phát triển của TDTT làm cho sự tiếp cận trình độ của nhau ngày
    càng gần hơn. Sự đua tranh trên sàn đấu ngày càng căng thẳng và gay cấn hơn.
    đứng trước tình hình đó, nhiều nhà khoa học của các nước có nền thể thao tiên tiến
    như Nga, Mĩ, Nhật và Trung Quốc đã cho rằng các cuộc tranh tài thể thao ở thế kỉ
    XXI không chỉ còn là sự đua tranh về kĩ chiến thuật mà còn là sự đua tranh về trình
    độ trí tuệ của các vận động viên, huấn luyện viên.
    Khoa học TDTT là một môn khoa học đã can thiệp, chịu ảnh hưởng hàng
    loạt các ngành khoa học khác như Sinh lí, Sinh học, Sinh cơ, Tâm lí, Quản lí…
    Đồng thời các môn khoa học này cũng không ngừng tiến bộ phát triển. Đối mặt với
    tri thức, nếu người giáo viên GDTC không chịu đổi mới, nâng cao trình độ tri thức
    thì khó có thể đào tạo được những tài năng trong lĩnh vực thể thao.
    10
    Trường THPT Thịnh Long hiện có 04 giáo viên bộ môn GDTC – QPAN
    hiện đang sinh hoạt trong tổ Thể dục – QPAN – Sinh học – KTNN.
    Tất cả đều đạt trình độ chuẩn trong đó có 01 đồng chí có trình độ trên chuẩn. Lực
    lượng này là một yếu tố rất quan trọng trong việc phát triển phong trào tập luyện
    TDTT nói chung và phong trào tập luyện môn Bóng rổ nói riêng của học sinh
    trường THPT Thịnh Long .
    1.3 Tiềm năng phát triển môn Bóng rổ của học sinh trường THPT Thịnh
    Long.
    Để phát triển một môn thể thao nào đó trở thành một môn thể thao được phát
    triển rộng rãi cần phải khảo sát tới tiềm năng phát triển của môn thể thao đó.
    Tiềm năng là năng lực tiềm ẩn còn chưa được phát triển, khai thác đầy đủ.
    Tiềm năng bao gồm các lĩnh vực như con người, điều kiện chính trị, kinh tế xã hội,
    địa lí, khí hậu, môi trường…
    Trường THPT Thịnh Long có những tiềm năng rất thuận lợi để phát triển
    phong trào tập luyện và thi đấu môn Bóng rổ đó là:
    Cấp uỷ Đảng, Ban giám hiệu và các ban ngành đoàn thể trong nhà trường
    đều rất quan tâm đến việc phát triển TDTT nhằm nâng cao sức khoẻ cho học sinh.
    Điều này được thể hiện qua việc xây dựng, đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho tập
    luyện và thi đấu TDTT với nguồn ngân sách lớn. Hàng năm có sự kiểm kê, duy tu,
    sửa chữa, bổ sung cơ sở vật chất phục vụ tốt nhất cho học sinh tập luyện. Hàng năm
    nhà trường đều dành một khoản tài chính lớn để tổ chức Hội khoẻ Phù Đổng cấp
    trường và tham gia các giải thi đấu thể thao học sinh cấp huyện, cấp tỉnh. Nhà
    trường còn đưa công tác rèn luyện thân thể, công tác tham gia các cuộc thi đấu
    trong nhà trường trở thành một tiêu chí thi đua đối với học sinh và cán bộ giáo
    viên. Các cá nhân có thành tích thi đấu cao tại các giải đều được khen thưởng động
    11
    viên kịp thời. Điều đó đã khích lệ tinh thần tập luyện và thi đấu của các em học
    sinh.
    Trong quá trình tập luyện và thi đấu môn Bóng rổ phù hợp với sự phát triển
    thể chất và thể lực của học sinh. Cơ sở vật chất phục vụ cho tập luyện và thi đấu
    không quá tốn kém, diện tích sử dụng không cần quá lớn.
    Bóng rổ là một môn thể thao quần chúng, dễ học, dễ chơi, nên số lượng
    người chơi từ già đến trẻ khá nhiều. Vì vậy đã tạo ra một lực lượng huấn luyện
    viên, hướng dẫn viên, vận động viên nghiệp dư rất lớn. Trên địa bàn huyện Hải
    Hậu nói chung, địa bàn trường đóng quân nói riêng phong trào tập luyện và thi đấu
    môn Bóng rổ diễn ra khá sôi nổi nên đã thu hút được khá đông học sinh tham gia
    tập luyện và thi đấu nhằm rèn luyện thể chất và giải trí sau những giờ học căng
    thẳng.
    Môn Bóng rổ là môn thể thao đòi hỏi trí thông minh, tính sáng tạo, sự quyết
    đoán và khả năng xử lý tình huống nhanh, chính xác. Những tố chất này lại rất phù
    hợp với sự phát triển về thể chất và tinh thần ở lứa tuổi học sinh, đặc biệt là lứa tuổi
    học sinh THPT.
    Từ việc nghiên cứu, phân tích những cơ sở lý luận sáng kiến đã hình thành
    nên những cơ sở lý luận quan trọng trong việc tổ chức, quản lý phong trào tập
    luyện môn Bóng rổ của học sinh trường THPT Thịnh Long, định hướng cho các
    bước nghiên cứu tiếp theo của sáng kiến. Vấn đề này được thực hiện theo các bước
    sau:
    Bước 1: Đánh giá thực trạng phong trào tập luyện và thi đấu môn Bóng rổ
    của học sinh trường THPT Thịnh Long bao gồm các yếu tố:
    + Đặc điểm công tác của trường THPT Thịnh Long.
    + Thực trạng phong trào TDTT học sinh trường THPT Thịnh Long.
    12
    + Thực trạng cơ sở vật chất, sân bãi, dụng cụ phục vụ cho phong trào tập
    luyện và thi đấu môn Bóng rổ của học sinh.
    + Thực trạng đội ngũ giáo viên GDTC trong trường THPT Thịnh Long
    + Sự phát triển của CLB và số lượng học sinh thường xuyên tham gia tập
    luyện trong các CLB Bóng rổ.
    Bước 2: Để nâng cao hiệu quả phong trào tập luyện môn Bóng rổ của học
    sinh trường THPT Thịnh Long, cần nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cũng như
    khảo sát thực trạng công tác tổ chức, quản lý, tập luyện và nhu cầu, sự ham thích
    tập luyện TDTT nói chung và môn Bóng rổ nói riêng của học sinh. Đồng thời
    thông qua việc tham khảo ý kiến của các, các cán bộ quản lý, các giáo viên để xây
    dựng các biện pháp một cách có hiệu quả nhằm phát triển phong trào tập luyện môn
    Bóng rổ đối với học sinh trường THPT Thịnh Long.
    môn Bóng rổ của học sinh trường THPT Thịnh Long. Đồng thời trong giai đoạn
    nghiên cứu này sáng kiến cũng tiến hành khảo sát, phỏng vấn các cán bộ quản lý,
    các giáo viên, trong và ngoài nhà trường. Xây dựng kế hoạch thực nghiệm và tiến
    hành thực nghiệm sư phạm một số giải pháp lựa chọn. Kết quả nghiên cứu của giai
    đoạn này là xác định được cơ sở lý luận, luận cứ khoa học cho việc lựa chọn, ứng
    dụng các biện pháp phát triển phong trào tập luyện môn Bóng rổ của học sinh
    trường THPT Thịnh Long.
    2. Kết quả đạt được của sáng kiến
    2.1 Đánh giá thực trạng phong trào tập luyện môn Bóng rổ của học sinh
    trường THPT Thịnh Long
    Để đánh giá thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển phong trào tập
    luyện môn Bóng rổ của học sinh trường THPT Thịnh Long, sáng kiến đã tiến hành
    khảo sát các yếu tố liên quan chủ yếu chi phối hiệu quả phát triển phong trào tập
    luyện môn Bóng rổ của học sinh trường THPT Thịnh Long đó là:
    13
    1. Đặc điểm trường THPT Thịnh Long
    2. Đặc điểm phong trào TDTT học sinh trường THPT Thịnh Long.
    3. Cơ sở vật chất, dụng cụ, trang thiết bị phục vụ cho phong trào tập luyện
    môn Bóng rổ của học sinh trường THPT Thịnh Long.
    4. Đội ngũ giáo viên GDTC và trình độ Bóng rổ của học sinh trường THPT
    Thịnh Long.
    5. Sự phát triển của số học sinh thường xuyên tham gia tập luyện môn Bóng
    rổ trong trường THPT Thịnh Long.
    6. Đối tượng thường xuyên tham gia tập luyện môn Bóng rổ tại trường THPT
    Thịnh Long
    7. Các giải thi đấu TDTT và giải Bóng rổ được tổ chức hàng năm .
    8. Chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên, thành viên ban
    chủ nhiệm CLB thể thao trường học.
    2.1.1 Đặc điểm trường THPT Thịnh Long:
    Năm 2001 nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của con em thị trấn Thịnh Long và
    các xã lân cận trong huyện Hải Hậu. UBND tỉnh Nam Định ra quyết định số
    278/2001/QĐ – UB thành lập trường THPT Thịnh Long đặt tại TDP số 18 thị trấn
    Thịnh Long – huyện Hải Hậu – tỉnh Nam Định.
    Năm học đầu tiên HĐSP nhà trường với 17 cán bộ giáo viên và 260 học sinh
    đến từ 35 xã – thị trấn trong huyện và các xã, thị trấn khác của huyện Nghĩa Hưng,
    Trực Ninh, Xuân Trường, Giao Thủy. Cơ sở vật chất còn nghèo nàn thiếu thốn, nhà
    trường chỉ có 5 phòng học và 5 phòng dành cho các ban ngành, đoàn thể làm việc.
    Các năm học tiếp theo nhà trường được trang bị thêm cơ sở vật chất, đội
    ngũ giáo viên cũng được Sở GD & ĐT Nam Định quan tâm điều động đủ so với cơ
    số lớp.
    14
    20 năm qua với sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, sự nỗ lực phấn đấu không
    ngừng của các thầy cô giáo và các em học sinh trường THPT Thịnh Long đã đạt
    dược những thành tích xuất sắc; gần 7000 học sinh đỗ vào các trường ĐH – CĐ –
    TCCN trên cả nước. Nhiều học sinh đã ra trường và có công việc ổn định
    Bên cạnh chất lượng giáo dục nhà trường liên tục đạt được những danh hiệu
    thi đua cao quý trong các lĩnh vực công tác khác nhau:
    + Năm học 2012 – 2013, 2014 – 2015 nhà trường vinh dự được công nhận là
    trường tiên tiến xuất sắc, trường THPT đạt chuẩn Quốc gia, trường THPT đầu tiên
    trong tỉnh Nam Định đạt chuẩn Xanh – Sạch – Đẹp – An toàn.
    + Được UBND huyện Hải Hậu công nhận là trường học có nếp sống văn hóa.
    + Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Công đoàn nhà trường liên tục được nhận bằng
    khen của TW Đoàn, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Liên đoàn lao động tỉnh
    Nam Định, Tỉnh đoàn Nam Định, Công đoàn ngành GD&ĐT Nam Định . Nhiều
    CBGV được nhận bằng khen của Thủ tướng chính phủ, Bộ trưởng bộ GD&ĐT,
    Chủ tịch UBND tỉnh Nam Định, Giám đốc Sở GD & ĐT Nam Định và nhiều đồng
    chí được công nhận là CSTĐ cấp tỉnh, CSTĐ cấp cơ sở, giáo viên giỏi cấp tỉnh.
    2.1.2 Đặc điểm phong trào TDTT học sinh trường THPT Thịnh Long.

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy kỹ thuật di chuyển trong cầu lông cho nam học sinh THPT

    SKKN Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy kỹ thuật di chuyển trong cầu lông cho nam học sinh THPT và nâng cao thành tích cho nam đội tuyển cầu lông cấp THPT

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Thể dục thể thao (TDTT) là một hoạt động không thể thiếu được trong
    đời sống xã hội, TDTT không những có vai trò đặc biệt đối với việc bảo vệ và
    phát triển hoàn thiện thể lực con người mà còn có ý nghĩa xã hội to lớn là làm
    cho con người có khả năng tự thể hiện, tự khẳng định mình và hoàn thiện
    mình, tạo cho con người niềm vui giao tiếp gắn bó với tập thể, cộng đồng và
    xã hội, góp phần vào xây dựng lối sống lành mạnh, nâng cao tính tích cực, tự
    giác của xã hội.
    Ngay khi nước nhà giành được độc lập, Bác Hồ cũng đã rất quan tâm đến sự
    nghiệp phát triển TDTT của nước nhà. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra chiến
    lược về sức khỏe thể chất cho dân tộc Việt Nam, người nói: “Gìn giữ dân chủ,
    xây dựng nước nhà gây đời sống mới việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành
    công”, “Mỗi người dân yếu ớt làm cho đất nước yếu ớt một phần, mỗi một
    người dân khỏe mạnh là góp phần cho cả nước khỏe mạnh”.
    Sự chuyển mình của đất nước ta sau này sẽ góp phần lớn chông chờ vào thế
    hệ trẻ – những người chủ tương lai của đất nước. Muốn vậy thế hệ trẻ hiện nay
    ngoài việc bồi dưỡng tri thức trong mọi lĩnh vực còn phải tham gia rèn luyện
    thân thể để có một sức khỏe tốt để gánh vác nhiệm vụ của đất nước.
    Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta cũng luôn khẳng định về tầm quan trọng của
    TDTT trong việc thực hiện và phát huy nhân tố con người tạo ra động lực để
    phát triển đất nước. Tại Nghị quyết Đại hội Đảng IX đã xác định phát triển
    mạnh hoạt động TDTT cả về quy mô và chất lượng góp phần nâng cao thể
    lực, phát huy tinh thần dân tộc Việt Nam.
    Trong những năm gần đây sự phát triển của TDTT nước nhà đã và đang lớn
    mạnh không ngừng. Song song với những môn thể thao khác thì môn thể thao
    2
    cầu lông cũng được chú trọng và phát triển. Cầu lông là một môn thể thao rất
    dễ chơi và tham gia. Cầu lông thuộc loại hình các môn bóng không va chạm
    trực tiếp bởi quy luật ngăn cách lưới, sân và không gian trên lưới, tính đối
    kháng cũng như căng thẳng, gay cấn giữa tấn công và phòng thủ. Bởi vậy
    phong trào cầu lông nước ta ngày nay đã phát triển sâu rộng từ thành thị đến
    nông thôn, trung du và miền núi, ở mọi lứa tuổi đều tham gia. Phong trào cầu
    lông đã có những bước phát triển mạnh mẽ và có nhiều tiến bộ về trình độ, Và
    môn cầu lông đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa vào chương trình giảng
    dạy chính thức trong các nhà trường THPT.
    Trường THPT Quất Lâm_Giao Thủy _Nam Định là một trường được chú
    trọng trong công tác giảng dạy, phong trào học tập và rèn luyện . Phong trào
    TDTT cũng được chú trọng và quan tâm, đặc biệt là phong trào tập luyện và
    thi đấu cầu lông nhà trường đã đạt được thành tích trong các hội thi của
    huyện, của tỉnh dành cho khối học sinh như: Hội khỏe phù đổng…
    Tuy nhiên, qua quan sát thực tế về giảng dạy, huấn luyện và thi đấu của các
    em tôi nhận thấy việc thực hiện kỹ thuật còn hạn chế đặc biệt là kỹ thuật di
    chuyển của các em – đây là một kỹ thuật cơ bản và là tiền đề cho cầu lông
    thành tích cao.
    Tính chất của môn cầu lông là vừa tiếp xúc cầu với thời gian ngắn nhất nhưng
    lại hoạt động với thời gian dài với tốc độ hoạt động nhanh, biến hóa có sức
    mạnh tốc độ, phải biết nhiều kỹ thuật, động tác khác nhau để tiếp xúc cầu và
    vợt; xử lý, điều khiển, khống chế được cầu chính xác mà hình thức vận động
    là tay và chân di chuyển. Trong môn cầu lông, di chuyển là một kỹ thuật cơ
    bản cần được tiếp thu đầu tiên – kỹ thuật di chuyển trong cầu lông có vị trí đặc
    biệt quan trọng nếu như ngay từ ban đầu học cầu lông mà không nắm bắt
    được kỹ thuật di chuyển thì sẽ không có một nền tảng vững chắc để nâng cao
    trình độ tập luyện. Khi đánh cầu nếu chỉ có động tác tay nhanh, mạnh cũng
    3
    chưa đủ mà còn phải biết kết hợp hài hòa các bước di chuyển của chân với
    mỗi kỹ thuật trong từng vị trí và thời điểm. Di chuyển tốt ngoài việc tạo thuận
    lợi trong kiểm soát cầu còn giúp học sinh tiết kiệm được sức lực.
    Việc nắm vững và vận dụng một cách linh hoạt kỹ thuật di chuyển sẽ tạo hiệu
    quả đánh cầu đặc biệt là trong tập luyện và thi đấu sẽ dành được các thành
    tích cao.
    Là một người được học tập, rèn luyện cầu lông tại trường ĐHSP TDTT Hà
    Nội nay lại gắn bó giảng dạy tại trường THPT Quất Lâm_Giao Thủy _Nam
    Định. Qua quan sát các em tập luyện và thi đấu tôi đã nhận thấy được những
    hạn chế mà các em còn mắc phải, vì vậy tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài
    “Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy
    kỹ thuật di chuyển trong cầu lông cho nam học sinh THPT và nâng cao
    thành tích cho nam đội tuyển cầu lông cấp THPT Quất Lâm”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Trong những năm gần đây phong trào tập luyện TDTT phát triển rộng khắp
    đặc biệt là ở các lứa tuổi trẻ. Trường THPT Quất Lâm_Giao Thủy _Nam Định
    có phong trào tập luyện TDTT rất mạnh trong đó có phong trào tập luyện cầu
    lông cũng được các em học sinh quan tâm và hưởng ứng. §ược sự quan tâm
    chỉ đạo sát xao của BGH nhà trường, Giáo viên nhà trường thì hằng ngày các
    em học sinh đều tham gia chơi và tập luyện cầu lông vào mỗi buổi chiều, sự
    hăng hái nhiệt tình tập luyện của các em học sinh đã thúc đẩy phong trào tập
    luyện trong trường phát triển ngày càng mạnh, đặc biệt sự đầu tư về cơ sở vật
    chất, dụng cụ tập luyện và điều kiện tốt, Đội ngũ Giáo viên có trình độ nhưng
    vẫn chưa đáp ứng đủ so với nhu cầu tập luyện và đội ngũ giáo viên của nhà
    tr-êng cũng chỉ đủ đảm bảo được số lượng, về chất lượng chưa đạt hiệu quả
    cao. Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lý của nam học sinh trường
    4
    THPT Quất Lâm và cơ sở lý luận của việc huấn luyện sức nhanh di chuyÓn,
    nghiên cứu kế hoạch dạy học của giáo viên nhà trường. §ång thời qua quan
    sát thực tế các buổi tập luyện và thi đấu tôi thấy rằng khả năng di chuyển của
    các em còn yếu, di chuyển còn chưa đúng kỹ thuật (Tư thế chuẩn bị, xuất
    phát: sai) một số các em còn di chuyển một cách bột phát, chạy để đánh hoặc
    đỡ cầu… Do đó ảnh hưởng tới việc huấn luyện các kỹ thuật khác.
    Do đó việc cần phải làm là đưa ra những bài tập hợp lý dựa trên cơ sở lý
    luận, khoa học để đưa vào công tác giảng dạy nâng cao hiệu quả huấn luyện
    bước chân di chuyển cho nam học sinh và đội tuyển trong trường THPT
    THPT Quất Lâm là cần thiết.
    2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến
    2.1. Đặc điểm về huấn luyện cầu lông.
    Trong công tác giảng dạy cũng như giảng dạy của bất kỳ môn thể thao nào
    cũng đòi hỏi người Giáo viên phải nắm vững đặc điểm vận động của môn thể
    thao đó, các tố chất chuyên môn cơ bản trên cơ sở đó lựa chọn phương tiện,
    phương pháp giảng dạy huấn luyện, hình thức tổ chức buổi tập cho hợp lý để
    đạt hiệu quả.
    Đặc điểm và tầm quan trọng của kỹ thuật di chuyển trong nhiều môn thể thao,
    để đạt được những thành tích cao trong tập luyện và thi đấu đòi hỏi các em
    học sinh phải nắm vững và vận dụng thuần thục kỹ thuật và chiến thuật.
    Trong tập luyện và thi đấu cầu lông gồm các nhóm kỹ thuật cơ bản sau:
    – Kỹ thuật về di chuyển bước chân
    – Kỹ thuật phát cầu
    – Kỹ thuật phòng thủ
    – Kỹ thuật tấn công
    5
    Trong quá trình tập luyện và thi đấu để đạt hiệu quả đòi hỏi người thực hiện
    phải phối hợp thuần thục, linh hoạt các kỹ thuật trên để tạo cho mình một thế
    chủ động trong thi đấu giành điểm từ đối phương, dồn ép đối phương vào thế
    bị động. Tính chất của môn cầu lông là vừa tiếp xúc cầu với thời gian ngắn
    nhất nhưng lại hoạt động trong thời gian dài với tốc độ hoạt động nhanh biến
    hóa có sức mạnh tốc độ, biết nhiều kỹ thuật động tác khác nhau để tiếp xúc
    giữa cầu và vợt, xử lý điều khiển, khống chế được cầu chính xác mà hình thức
    hoạt động là tay và chân di chuyển. Di chuyển trong cầu lông chủ yếu hoạt
    động trên ½ bàn chân của mình, người thực hiện phải di chuyển liên tục để
    đánh trả những quả cầu của đối phương đánh sang. Trong đó sân cầu lông có
    diện tích rộng 35
    2
    m đối với sân đánh đơn và 44m2 với sân đánh đôi. Chính vì
    vậy đối thủ có rất nhiều điểm trên sân để đánh về phần sân của mình lúc này
    đòi hỏi học sinh phải di chuyển linh hoạt và tạo tư thế thuận lợi cho mình để
    đánh trả cầu và giành điểm. Dó đó có thể nói di chuyển là điều kiện tiền đề
    cho việc thực hiện những kỹ thuật đánh cầu khác. Một học sinh có khả năng
    di chuyển tốt sẽ luôn chủ động và sử dụng có hiệu quả những ý đồ chiến thuật
    riêng của mình. Ngược lại một học sinh di chuyển kém sẽ luôn tự tạo cho
    mình thế bị động khi đánh trả cầu đối phương và bị mất điểm. Ngoài ra học
    sinh có kỹ thuật di chuyển tốt sẽ tiết kiệm được sức lực và di chuyển được
    trong thời gian kéo dài và tần số động tác cao sẽ đạt được những hiệu quả
    trong đánh cầu.
    Trong thi đấu cầu lông đường cầu luôn có sự biến đổi phức tạp và biến hóa
    theo ý đồ chiến thuật của đối phương, đòi hỏi người tập phải sử dụng linh
    hoạt kỹ thuật di chuyển và xuất phát nhanh, hợp lý ngoài ra còn phụ thuộc vào
    các yếu tố khác như:
    – Yếu tố phán đoán tình huống: Đối phương luôn đánh cầu ở nhiều góc độ
    nhiều điểm rơi trên sân, tốc độ bay của cầu đều phụ thuộc vào ý đồ chiến
    6
    thuật đánh cầu của đối phương. Do vậy, đòi hỏi học sinh phải có tốc độ phản
    ứng nhanh và phán đoán chuẩn xác. Như vậy, hệ thần kinh phải hoạt động với
    sự tập trung cao độ, duy trì sự chú ý, phát huy tối đa mức độ nhạy bén của
    thính giác, thị giác, phân biệt được sự biến đổi phương hướng đánh cầu của
    đối phương. Chỉ có như vậy mới nâng cao được năng lực phán đoán và phản
    ứng giúp cho sự lựa chọn bước di chuyển được chính xác hợp lý và đạt hiệu
    quả cao trong đánh cầu.
    – Tư thế chuẩn bị: Đóng vai trò quan trọng trong đánh cầu lông là cơ sở kỹ
    thuật cho tất cả các động tác. Tư thế chuẩn bị hợp lý tạo điều kiện thuận lợi
    cho việc đánh cầu đạt hiệu quả, linh hoạt trong các tình huống mà cầu đối
    phương đánh sang dồn đối phương vào thế bị động.
    Tư thế chuẩn bị là một tư thế cơ bản ban đầu trong một quả đỡ giao cầu do
    đối phương giao cầu sang phần sân bên mình. Tư thế chuẩn bị cơ bản trong
    cầu lông là chân trước chân sau, trọng tâm dồn vào chân trước hai chân rộng
    bằng vai mắt nhìn quan sát cầu, trọng tâm hạ thấp gối hơi khựu.
    – Di chuyển bước chân do trọng lực: Được tiến hành khi trọng tâm rời khỏi
    chân để gây ra lực di chuyển cho cơ thể. Nếu góc nghiêng của chân nhỏ (30 –
    45 0) thì lực di chuyển lớn, nếu góc nghiêng lớn hơn (45 0) thì lực di chuyển
    nhỏ. Di chuyển trọng lực có ảnh hưởng rất lớn đến sự di chuyển nói chung và
    di chuyển do đạp chân nói riêng. Nếu di chuyển do trọng lực cùng hướng với
    di chuyển đạp chân thì sẽ có hiệu quả cao, còn nếu ngược hướng với di
    chuyển đạp chân sẽ tạo ra chuyển động quay, cơ thể sẽ mất thăng bằng, dễ
    ngã.
    – Di chuyển do đạp chân: Trong quá trình tâp luyện và thi đấu di chuyển do
    đạp chân có vai trò quan trọng đến sự di chuyển, chuyển động của cơ thể. Nếu
    lực đạp chân không thông qua lực đạp chân của cơ thể, nó sẽ chia thành hai
    7
    phần lực. Một gây ra sự chuyển dịch cơ thể, hai lực tác dụng vào các bộ phận
    khác như tay, thân người.
    – Yếu tố điều chỉnh vị trí sau khi đánh cầu: Trong khi đánh cầu, mỗi lần quả
    cầu được đánh đi thì đòi hòi học sinh phải về ở tư thế sẵn sàng di chuyển và
    về vị trí đứng phù hợp (Đánh đơn thì đứng về đ-êng giữa trung tâm). Mục
    đích chính là làm cho học sinh trước mỗi đường cầu có tư thế chuẩn bị tốt,
    gần điểm tiếp xúc với cầu, di chuyển nhanh đến điểm cầu rơi, và đánh trả với
    tư thế tốt và hợp lý nhất. Ở tư thế chuẩn bị hai chân đứng rộng bằng vai trọng
    tâm dồn vào hai chân và 2/3 của mũi bàn chân trước (Gót chân kiễng), giữ
    trạng thái thăng bằng đầu gối hơi khùu, trọng tâm thấp, mắt quan sát cầu. Có
    như vậy khi di chuyển cảm giác dùng lực tốt di chuyển sẽ nhanh hơn.
    Trong mỗi một nội dung đánh cầu: Thi đấu đôi, đơn, đôi nam nữ thì có sử
    dụng những kỹ thuật di chuyển khác nhau để phù hợp với từng lối đánh, từng
    chiến thuật riêng của mỗi học sinh. Đường cầu đánh đi rất đa dạng và để phù
    hợp với những đường cầu đó thì việc di chuyển cũng phải biến đổi sao cho
    phải phù hợp. Điều đó có nghĩa là phải phân tích một cách hợp lý, có hệ thống
    để vận dụng nó một cách linh hoạt trong các tình huống khác nhau. Trong cầu
    lông có một số cách di chuyển cơ bản:
    – Di chuyển bước chân trong lối đánh phỏng thủ.
    – Di chuyển bước chân trong lối đánh tấn công.
    – Phối hợp di chuyển bước chân trong cả phòng thủ và tấn công.
    Tất cả các cách di chuyển trên đều được vận dụng trong các nội dung đánh
    đơn, đôi của cầu lông. Ở cầu lông đỉnh cao lối đánh cầu nhanh, mạnh thường
    được sử dụng . Vì vậy, để đạt được đến trình độ cao đòi hỏi sức nhanh trong
    di chuyển bước chân là rất quan trọng. Trong mỗi tình huống những đường
    cầu đánh trả của đối phương thường có tốc độ nhanh, điểm rơi của cầu luôn
    8
    thay đổi và để đỡ và đánh trả những đường cầu đó thì đòi hỏi người chơi phải
    phản ứng nhanh với những bước chân di chuyển linh hoạt kết hợp với tay
    đánh cầu sao cho hợp lý. Trong quá trình giảng dạy và huấn luyện về sức
    nhanh di chuyển cần phải căn cứ, đánh giá đúng đắn về lối đánh của mỗi học
    sinh sao cho trong quá trình giảng dạy huấn luyện có hiệu quả nhất.
    1.2. Đặc điểm về huấn luyện chiến thuật cầu lông.
    Cầu lông là một môn thể thao thi đấu gián tiếp mang tính cá nhân di chuyển
    liên tục trên một diện tích lớn và thực hiện những động tác phức tạp hoạt
    động trong thời gian dài. Chính vì vậy mà yêu cầu của môn cầu lông là phát
    triển tốt các tố chất vận động sức nhanh, sức mạnh, sức bền, sự khéo léo có
    tâm lý thi đấu tốt ý trí vững vàng…Đó là những yếu tố quan trọng để cấu
    thành nên thành tích cao . Để có được những tố chất đó học sinh phải tập
    luyện bền bỉ, lâu dài với cường độ và khối lượng lớn .
    Trong cầu lông di chuyển là một trong những kỹ thuật rất quan trọng trong
    tập luyện và thi đấu của môn cầu lông. Muốn di chuyển tốt phải lựa chọn cho
    bản thân một tư thế chuẩn bị thích hợp.
    Qua phân tích và đánh giá các nhà chuyên môn đã nhận định có tính chất
    khoa học: Muốn đạt thành tích cao trong thi đấu cần có sự phối hợp hết sức
    chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các động tác, kỹ thuật với nhau. Nếu chỉ có động
    tác nhanh mạnh cũng chưa đủ mà còn phải kết hợp hài hòa các bước di
    chuyển của chân đối với mỗi kỹ thuật của tay trong từng vị trí, từng thời điểm
    một cách hợp lý cùng với sự thông minh sáng tạo mới có thể giành được hiệu
    quả cao và giành được thắng lợi trong trận đấu. Chính vì vậy kỹ thuật di
    chuyển trong cầu lông có một vị trí quan trọng, nó là động tác đầu tiên chuẩn
    bị tốt cho việc thực hiện kỹ thuật đánh cầu đạt hiệu quả cao.
    9
    Sự di chuyển của cơ thể phải được tiến hành do lực tác dụng của cơ bắp và
    quán tính do quá trình di chuyển của c¬ thể đó là:
    – Di chuyển do trọng lực
    – Di chuyển do đạp chân
    Di chuyển trong cầu lông là loại hình di chuyển phức tạp không mang tính
    chất chu kỳ và biên độ không ổn định, tốc độ và hướng di chuyển thay đổi
    theo tình huống trong kỹ thuật di chuyển của môn cầu lông. Dựa trên nguyên
    lý về di chuyển và tác dụng của từng loại di chuyển mà được chia thành 3
    nhóm:
    1 Kỹ thuật di chuyển đơn bước
    2 Kỹ thuật di chuyển đa bước
    3 Kỹ thuật di chuyển bước nhảy
    Cả 3 nhóm kỹ thuật di chuyển trên đều có thể thực hiện theo các hướng: Tiến,
    lùi, sang trái, sang phải, chếch sang trái, chếch sang phải.
    1.2.1 Kỹ thuật di chuyển đơn bước.
    Di chuyển đơn bước là sự di chuyển chỉ thay đổi vị trí của một chân, còn chân
    kia vẫn giữ nguyên. Kỹ thuật này được sử dụng nhiều trong các trường hợp
    khi đối phương đánh cầu sang ở gần bên người (Bên phải, trái hoặc trước,
    sau, sát người) khoảng 1m đến 1,5m. Độ dài di chuyển bước chân đơn còn
    phụ thuộc vào điểm rơi của cầu đòi hỏi học sinh phải biết quan sát và phản
    ứng nhanh với mỗi đường cầu đÓ xử lý cầu, đánh trả cầu dồn đối phương vào
    thế bị động.
    Kỹ thuật di chuyển này thường được áp dụng phối hợp với các kỹ thuật phòng
    thủ và tấn công của cầu lông, với những điểm cầu rơi gần người. Nếu xa thân
    người (quá tầm tay của vợt) thì ta phải di chuyển đa bước.
    10
    Tư thế chuẩn bị của kỹ thuật di chuyển đơn bước là hai chân đứng song song
    rộng bằng vai, gối khựu trọng tâm dồn vào giữa hai chân, người hơi đổ về
    phía trước, lưng cong, đầu ngửa, mắt theo dõi cầu, hai tay co để tự nhiên. Từ
    tư thế này có các bước di chuyển sau:
    Di chuyển một bước lên lưới đánh cầu thuận tay
    Di chuyển một bước lên lưới đánh cầu trái tay
    1. Di chuyển một bước lùi đánh cầu thuận tay
    1. Di chuyển một bước lùi đánh cầu trái tay
    1.2.2. Di chuyển đa bước.
    Có những trường hợp đối phương đánh cầu sang xa người thì phải sử dụng kỹ
    thuật di chuyển nhiều bước mới thực hiện được động tác đánh cầu.
    Di chuyển nhiều bước là sự di chuyển có sự thay đổi vị trí của hai chân và
    thường là từ hai bước trở lên. Kỹ thuật này được sử dụng thường xuyên có
    ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của kỹ thuật đánh cầu cũng như thực hiện
    các dạng chiến thuật. Di chuyển nhiều bước giữ một vai trò quan trọng trong
    sự phối hợp với các kỹ thuật tấn công và phòng thủ. Vì vậy, nó không thể
    thiếu trong tập luyện và thi đấu cầu lông.
    Ở loại di chuyển này tư thế chuẩn bị cũng như ở di chuyển đơn bước đấu thủ
    dùng sức đạp của chân và đổ trọng tâm về hướng di chuyển đẩy người đi. Hai
    chân bước luân phiên đến điểm cầu rơi với tần số nhanh, chậm, dài, ngắn tùy
    thuộc vào tình huống của cầu bay tới. Khi di chuyển nhiều bước, bước cuối
    cùng nhất thiết phải chiếm được tư thế đánh cầu thích hợp tạo điều kiện thuận
    lợi cho động tác đánh cầu tốt nhất, tạo thế chủ động tấn công và giành điểm.
    Di chuyển nhiều bước gồm có:
    Di chuyển ngang
    11
    Di chuyển tiến, lùi
    * Di chuyển ngang.
    Khi ở tư thế cơ bản, đứng ở giữa sân (trên đường trung tâm) nếu di chuyển
    sang phải thì đạp mạnh chân trái( tay phải cầm vợt) đồng thời quay người 90 0
    sang phải, đổ trọng tâm sang phải, bước chân trái về trước sau đó bước tiếp
    chân phải gối khựu, trọng tâm thấp bước đến đường biên dọc. Bước cuối cùng
    chân phải(tay phải cầm vợt) ở trên chạm mép biên, trọng tâm lúc này dồn vào
    chân phải, người ở tư thế đánh cầu phải. Sau đó, dùng lực đạp mạnh chân trái
    quay vòng thân người sang trái ra sau 180 0 đồng thời với việc quay thân,
    chân trái bước lùi và xoay chân theo hướng ngược lại, chân phải xoay theo và
    bước lên để di chuyển sang trái. Bước cuối cùng khi sang trái là chân phải ở
    trước và chạm biên dọc bên trái để tạo thành tư thế đánh cầu trái, cứ như thế
    tiến hành sang trái, sang phải liên tục. Lúc đầu tập với tốc độ chậm, sau nâng
    dần lên. Nam di chuyển từ 32 – 38 lần/ phút – Nữ từ 27 – 34 lần/phút
    * Di chuyển tiến lùi.
    Di chuyển tiến lùi là thực hiện các bước di chuyển đưa cơ thể di chuyển về
    phía trước hay lùi về phía sau để đánh cầu. Từ tư thế chuẩn bị cơ bản ở cuối
    sân đấu thủ đổ người về phía trước đồng thời đạp mạnh chân bên tay cầm vợt
    bước về phía trước sau đó bước tiếp chân kia, trọng tâm hạ thấp, gối khựu,
    bước dài. Bước cuối cùng ở gần lưới sao cho chân thuận ở trên để thực hiện
    động tác đánh cầu phía trước, trọng tâm lúc này dồn vào chân trước, sau đó
    đạp nhanh chân trước theo hướng ngược lại và bước lùi về phía sau, trọng tâm
    lại đổ về phía chân sau ở tư thế cao, cứ di chuyển lùi bằng hai chân luân phiên
    như vậy cho đến cuối sân sao cho chân cùng tay cầm vợt trong bước cuối
    cùng lại ở phía sau chạm vào đường biên ngang để tạo thành tư thế đánh cầu
    12
    đúng. Quá trình di chuyển lùi chú ý trọng tâm cao, đầu ngửa, mắt theo dõi
    cầu, bước dài và tần số nhanh.
    * Di chuyển bước nhảy.
    + Nhảy về trước: Là kỹ thuật rất quan trọng trong phối hợp phòng thủ, được
    áp dụng nhiều để đỡ những quả cầu đối phương, bỏ nhỏ sát lưới hay dọc biên.
    Kỹ thuật này rất có hiệu quả với những quả cầu rơi xa người mà bước đơn di
    chuyển không có kết quả.
    Từ tư thế chuẩn bị c¬ bản học sinh dùng sức mạnh bột phát của chân bật
    mạnh đưa cơ thể lao lên cao, về trước theo hướng di chuyển – chân phải
    (thuận) cùng với tay cầm vợt nhanh chóng vươn dài về phía trước, chân kia
    vẫn ở phía sau người lúc này có giai đoạn bay trên không về hướng di chuyển
    khi chạm đất chân phải xuống trước, mũi bàn chân xoay sang trái để hoãn
    sung, gối khựu, trọng tâm dồn vào chân trước. Người và tay cầm vợt vươn dài
    về trước tới điểm cầu rơi và thực hiện động tác đánh cầu. Sau khi đánh xong
    nhanh chóng đạp mạnh chân trước theo hướng ngược lại để đẩy người về tư
    thế chuẩn bị.
    + Di chuyển bước nhảy có bước đệm
    Nhảy bước đệm cũng giống như kỹ thuật nhảy về trước nhưng khác là ở động
    tác này có hai giai đoạn bật và bay. Đầu tiên hai chân dùng sức bột phát bật
    lên cao đưa cơ thể bay trên không về hướng di chuyển nhanh chóng dùng một
    chân tiếp xúc với mặt đất (thường là chân ngược với tay cầm vợt) rồi lại
    nhanh chóng bật tiếp lần nữa để đưa cơ thể bay nhanh hơn về hướng di
    chuyển, chân thuận vươn dài về trước và tiếp đất giống như di chuyển nhảy
    về trước để đánh cầu.
    + Di chuyển nhảy lên cao:
    13
    Nhảy lên cao đánh cầu thường xuyên được áp dụng, phối hợp trong các kỹ
    thuật tấn công. Với kỹ thuật này cho phép ta khống chế chiều cao của đường
    cầu bay đến tranh thủ đánh cầu sớm, nhanh và điểm đập cầu ở trên cao tạo
    được đường cầu mạnh và cắm hơn.
    Kỹ thuật này học sinh từ tư thế chuẩn bị chân trước chân sau trọng tâm dồn
    vào chân trước, gối khựu, lưng cong, đầu ngửa tay cầm vợt giơ cao, mặt vợt
    ngang tầm chán. Khi thực hiện động tác bật nhảy đánh cầu thì nhanh chóng
    chuyển trọng tâm từ chân trước ra chân sau, chân trái rời mặt đất trước đồng
    thời chân phải bật mạnh tiếp theo đưa cơ thể lên cao. Khi cảm giác thấy người
    lên đến điểm cao nhất thì thực hiện động tác đánh cầu. Khi rơi xuống chân
    chạm đất trước là chân ngược với tay cầm vợt, sau đó chân kia hạ xuống tiếp
    và nhanh chóng đưa cơ thể về tư thế ban đầu.
    1.3. Huấn luyện thể lực chung và chuyên môn.
    Để thực hiện chiến thuật có hiệu quả mỗi học sinh cần phải có thể lực xung
    mãn, thể lực chuyên môn trong cầu lông là sức bền tốc độ và sức nhanh tốc
    độ. Trong tập luyện và thi đấu cầu lông học sinh phải liên tục sử dụng kỹ
    thuật đập cầu cao, sâu, góc nhỏ và di chuyển liên tục với cường độ lớn. Bởi
    vậy đòi hỏi học sinh phải có thể lực tốt và bền bỉ.
    Thể lực là nền tảng để thực hiện các kỹ thuật, chiến thuật trong tập luyện và
    thi đấu, nếu không có thể lực tốt thì khó có thể thực hiện tốt chiến thuật của
    mình. Huấn luyện thể lực bao gồm:
    + Huấn luyện thể lực chung: là quá trình giáo dục toàn diện những năng lực
    thể chất cho học sinh
    + Huấn luyện thể lực chung là nền tảng cho việc nâng cao thể lực chuyên môn
    14
    + Huấn luyện thể lực chuyên môn là khâu cơ bản quyết ®ịnh đến thành tích,
    nó cần thiết phải chia thành hai thành phần:
    – Huấn luyện thể lực chuyên môn là cơ sở, là hướng đến việc xây dựng đến
    các nền tảng cơ bản phù hợp với đặc thù chuyên môn
    – Huấn luyện thể lực chuyên môn cơ bản mà mục đích của nó là việc phát
    triển rộng rãi các tố chất vận động, thỏa mãn đòi hỏi của môn thể thao
    1.4. Phương pháp phát triển sức nhanh di chuyển.
    Sức nhanh là khả năng hoạt động với tốc độ cực hạn và nó được biểu
    hiện dưới bốn hình thức
    + Thời gian tiền phục của phản ứng vận động
    + Tốc độ của động tác đơn
    + Tần số động tác
    + Tần số ban đầu của động tác
    Bên cạnh đó sức nhanh chịu tác động của bốn nhân tố

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Sử dụng công cụ tư duy THINKING TOOL trong ôn tập Địa lí 12- Phần địa lí tự nhiên

    SKKN Sử dụng công cụ tư duy THINKING TOOL trong ôn tập Địa lí 12- Phần địa lí tự nhiên

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
    Tục ngữ có câu : “ Có công mài sắt, có ngày nên kim”, hay câu “văn ôn,
    võ luyện”, nhấn mạnh đến việc rèn luyên trong một quá trình lâu dài mới đạt
    được kết quả tốt, kết quả như mong muốn. Mọi sự thành công đều phải trải qua
    quá trình rèn luyện gian khổ.
    Hiện nay, chúng ta đang sống trong thế kỉ XXI, và giờ đây trong thế giới
    phẳng, công việc và nghề nghiệp của thế kỉ XXI đang đòi hỏi những kĩ năng vượt
    xa so với sách vở trong nhà trường. Vậy câu hỏi đặt ra là giáo viên trong thế kỉ
    XXI cần cung cấp cho học sinh những kĩ năng, năng lực gì để thích ứng với
    tương lai của các em? Theo giáo sư Haruô Kurokami-trường đại học Kansai Nhật
    Bản- thì “Đó là năng lực tư duy, kĩ năng giải quyết vấn đề sáng tạo. Để việc học
    tập có hứng thú hơn khi bạn nhận thấy những kiến thức của mình đang được học
    được ứng dụng trong đời sống, hoặc là khi bạn đang đọc sách giáo khoa, bạn sẽ
    thấy: À, hóa ra những kiến thức này mình vẫn gặp hàng ngày, đó là khi bạn đang
    tư duy.”. Trong khi cách học, ôn tập truyền thống ít nhiều gây mất hứng thú cho
    các học sinh, đa phần các em thấy khá mệt mỏi, thậm chí chán học, nhiều em
    dùng từ “khủng khiếp” khi nhắc tới tên môn học mình không hứng thú. Thậm chí
    có em còn muốn “dừng” môn học vì nó rất “khó hiểu”…
    Tháng 12-2017, một dự án học tập do VTV7 &Campus study lab khởi
    động dự án “HỌC SAO CHO TỐT” đã thu hút hơn 600 em học sinh trên toàn
    quốc đăng kí tham dự, cùng với đó 12 bạn sinh viên đến từ các trường đại học,
    đóng vai trò là người hướng dẫn trực tiếp. Các bạn sinh viên này được các
    chuyên gia Nhật Bản trực tiếp đào tạo kĩ lưỡng để là người bạn học tập với 12
    em học sinh được tuyển chọn.
    Từ tháng 12-2017, 12 học sinh trên toàn quốc đã tham gia trải nghiệm một
    phương pháp học tập mới cùng với công cụ tư duy THINKING TOOL của nhóm
    2
    chuyên gia đến từ trường đại học Kansai-Nhật Bản. Quá trình học tập trải nghiệm
    kéo dài 1 học kì và các em vẫn học trong môi trường truyền thống. Phương pháp
    học tập mới đã làm thay đổi cách học tập của các em, giúp các em tìm lại hứng
    thú học tập của chính mình.
    Dự án học tập : “HỌC SAO CHO TỐT” được chia thành 12 số với nội
    dung như sau:

    STTMôn họcNội dung
    Số 1Tiếng AnhTự tin lên nào!
    Số 2Vật líVật lí xung quanh ta
    Số 3Lịch sửBước ngoặt/ Cùng cải tiến phương pháp học Lịch sử
    Số 4ToánMôn toán đáng sợ… và mẹ
    Số 5Tiếng AnhNgôi nhà mới
    Số 6Vật líTự vượt qua môn Vật lí
    Số 7Vật líCơn “ác mộng” ban ngày
    Số 8Các môn xã hộiTìm lại tình yêu với môn học
    Số 9Tiếng AnhĐối thủ nặng kí
    Số 10VănĐể môn văn không còn là nỗi sợ
    Số 11ToánVì sao phải học
    Số 12ToánBước tiếp

    Như vậy trong dự án học tập này không có số nào nhắc đến môn Địa lí,
    trong khi đó Địa lí cũng là một trong ba môn thi THPT quốc gia thuộc nhóm
    Khoa học xã hội. Phải chăng môn Địa lí dễ học hơn các môn khác? Cho nên
    không có em nào quá bức xúc đến mức chán học, sợ học như các môn Văn,
    Toán, Anh, Sử, Vật lí…Thực tế môn Địa không dễ, cũng không khó. Môn Địa dễ
    đối với những em biết cách học Địa vì Địa lí rất gần gũi với đời sống hàng ngày.
    Các hiện tượng thời tiết, khí hậu thường được dự báo trên bản tin truyền hình
    hàng ngày đều có thể sử dụng kiến thức Địa lí giải thích được. Môn Địa khó đối
    với những em không biết lựa chọn phương pháp học tập và không có động lực
    học tập.
    3
    Là người trực tiếp giảng dạy học sinh thi THPT quốc gia, tôi đã xem hết
    các số của dự án “HỌC SAO CHO TỐT”, tôi nhận thấy dự án đã hướng dẫn cho
    các em cách ghi chép bài, cách học bài rất khoa học dựa vào công cụ tư duy
    THINKING TOOL do giáo sư Haruô Kurokami-trường đại học Kansai Nhật Bản
    sáng tạo ra. Các em học sinh tham gia dự án này đã thay đổi được phương pháp
    học tập, sử dụng thành thạo công cụ tư duy THINKING TOOL trong quá trình
    học tập trong 1 học kì và đã đạt được những thành công nhất định. Sau khi xem
    dự án học tập này, tôi luôn trăn trở, và suy nghĩ là mình có thể sử dụng công cụ
    tư duy THINKING TOOL để hướng dẫn các em lớp 12 học Địa lí và sử dụng
    công cụ này trong học tập không? Thực tế công cụ tư duy THINKING TOOL có
    thể áp dụng cho tất cả các môn học, cấp học, vấn đề sử dụng phương pháp nào
    trong công cụ này tùy thuộc vào nội dung môn học và mục đích của người học.
    Và để giúp các em học, ôn tập Địa lí thêm hứng thú, giảm bớt sự đọc, chép, thúc
    đẩy sự tự học của các em, tôi có sử dụng công cụ THINKING TOOL trong ôn
    tập Địa lí 12-phần Địa lí tự nhiên. Tôi chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm của
    mình là “SỬ DỤNG CÔNG CỤ TƯ DUY THINKING TOOL TRONG ÔN
    TẬP ĐỊA LÍ 12- PHẦN ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN” để chia sẻ kinh nghiệm, hi vọng
    nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô để tôi có thêm kinh nghiệm dạy
    học Địa lí đạt kết quả tốt hơn.
    2.MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
    -Đề xuất và tiến hành thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
    giảng dạy, ôn tập địa lí lớp 12- phần địa lí tự nhiên
    -Tăng cường năng lực tự học, năng lực làm việc với tài liệu và công cụ
    học tập Thinking Tool.
    -Nâng cao năng lực hợp tác, hiệu quả nhóm học tập của học sinh
    -Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của các giải pháp.
    3.ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
    *Đối tượng: Học sinh lớp 12A9, 12A trường THPT Trực Ninh năm học
    2019-2020
    *Phạm vi: trong đề tài này, tôi chỉ đề xuất phương pháp ôn tập địa lí Tự
    nhiên lớp 12 bằng cách sử dụng công cụ học tập Thinking Tool.
    4
    4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
    -Điều tra thực tế
    -Sưu tầm, tổng hợp tài liệu
    -Phương pháp thực nghiệm
    5.THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
    -Học kì I năm 2019-2020
    6.CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
    Phần nội dung của đề tài gồm
    Phần 1: Giới thiệu về công cụ học tập THINKING TOOL
    Phần 2: Sử dụng công cụ học tập THINKING TOOL trong dạy học Địa lí
    tự nhiên lớp 12 – phần Địa lí tự nhiên
    Phần 3: Đánh giá kết quả học tập của học sinh sau khi sử dụng công cụ
    học tập THINKING TOOL trong Địa lí.
    II.NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN
    PHẦN 1: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG CỤ HỌC TẬP THINKING TOOL
    Phương pháp học tập và tư duy thông minh THINKING TOOL tôi đề cập
    trong chuyên đề được phát triển bời giáo sư đại học Kansai Nhật Bản, ông
    Kurokami tập trung vào 4 bước bao gồm: hiểu, ghi nhớ, áp dụng và hiểu sâu hơn.
    1.CÁC PHƯƠNG PHÁP TƯ DUY
    1.1.Biểu đồ mũi tên/ hình hộp/ hình tròn
    Đây là phương pháp đầu tiên được nhắc đến trong công cụ tư duy
    THINKING TOOL. Trong phương pháp này sử dụng các hình học là hình vuông,
    5
    tròn, tam giác, mũi tên… để thể hiện mối quan hệ, mối liên hệ; lí do, nền tảng,
    căn cứ; thể hiện quan hệ nguyên nhân, kết quả…. Các hình tròn, chữ nhật, hình
    vuông dùng để ghi thông tin hay nội dung. Còn mũi tên có nhiều vai trò khác
    nhau: mối quan hệ về thời gian, mối quan hệ về trình tự, cách thức thực hiện
    nhiều công việc, nhiệm vụ; mối quan hệ về thứ tự thực hiện; mối quan hệ về sự
    liên quan của nhiều sự việc với nhau. Hướng mũi tên cũng rất quan trọng, giúp
    cho người xem nhìn rõ lí do, căn cứ.
    1.2.Biểu đồ chữ Y,X, W
    Biểu đồ chữ Y, X, W dùng để xem xét sự vật hiện tượng theo nhiều góc
    khác nhau, áp dụng để phát triển ý tưởng theo nhiều hướng khác nhau hoặc tập
    trung ý tưởng/ suy nghĩ về một sự việc. Đối với chữ cái Y, chia bảng thành 3
    khoảng không gian tương ứng với 3 điểm nổi bật của một vấn đề nào đó. Đối với
    biểu đồ chữ X là phát triển 4 nội dung của một vấn đề; đối với biểu đồ W là phát
    triển nội dung của một vấn đề theo 5 hướng.
    1 1
    2
    3 X1 42 3
    1W2 3 4 5
    6
    Các bước thực hiện khi sử dụng biểu đồ Y, X, W là:
    1.Chúng ta đặt 1 góc nhìn để định hình suy nghĩ dựa trên mục tiêu của
    công việc.
    2.Chuẩn bị một tờ giấy khổ to đủ để ta vẽ biểu đồ và viết ra các góc nhìn
    3.Quan sát sự vật/ hiện tượng từ mỗi góc nhìn, cảm xúc và các thông tin
    thu thập được
    4.Dựa trên những ý nghĩ đã được viết ra, bạn viết lại thành các bản báo
    cáo, lời thoại cho bài thuyết trình, các ấn tượng và tương tự.
    1.3.Biểu đồ khái niệm
    Đối với biểu đồ khái niệm, bạn viết ra các ý tưởng và mối quan hệ của các
    ý tưởng đó, từ đó tạo ra cấu trúc tổng thể. Dưới đây là cách sử dụng biểu đồ khái
    niệm:
    1.Nghĩ về chủ đề/sự việc cần tìm hiểu và đưa vào hình tròn trung tâm.
    2.Lựa chọn các chủ đề/sự việc có mối liên hệ với sự việc đang xem xét
    viết vào các hình tròn vệ tinh (bạn có thể thêm, bớt trong khi viết).
    3.Kết nối quan hệ về sự việc/ chủ đề bằng các đường thẳng.
    4.Chia sẻ với bạn bè trong nhóm hoặc trong lớp học để lấy thêm ý kiến.
    5.Nhìn lại tổng thể biểu đồ và đưa ra kết luận cho toàn bộ mối liên hệ của
    chủ đề /sự việc cần tìm hiểu.
    7
    1.4.Biểu đồ hình sứa
    Đối với biểu đồ hình sứa được đánh giá là biểu đồ hữu hiệu nhất khi thể
    hiện nguyên nhân của một sự kiện, hiện tượng nào đó. Cách sử dụng biểu đồ:
    1.Viết sự kiện/ vấn đề ở phần đầu sứa.
    2.Viết các nguyên nhân ở phần tua sứa.
    3.Nhìn lại tổng thể, đưa ra lời giải thích logic về sự kiện/ vấn đề cho thấy
    rõ lí do và khả năng xảy ra các lí do đó.
    Đối với biểu đồ này ưu điểm là dễ thực hiện và nhận diện nội dung vấn đề
    nhanh nhất và đơn giản nhất khi thể hiện nguyên nhân của vấn đề. Biểu đồ hình
    sứa được sử dụng trong các môn lịch sử để tìm nguyên nhân thắng lợi, thất bại
    trong một chiến dịch, một trận đánh, một giai đoạn lịch sử….
    1.5.Biểu đồ từng bước
    8
    Trong biểu đồ từng bước, sử dụng mũi tên và ô hình chữ nhật để thể hiện
    trình tự phát triển của vấn đề hoặc sắp xếp theo thứ tự các bước/ tiến trình. Có
    thể sử dụng số lượng các hộp chữ nhật và hướng các mũi tên theo như mong
    muốn. Biểu đồ này dùng để tóm tắt lại qui trình từng bước giải một bài toán, một
    bài vật lí, hóa học, các bước trong bài nghị luận văn học. Ưu điểm nổi bật của
    biểu đồ này giúp cho các em học sinh không làm tắt, các bước tuần tự giải quyết
    vấn đề một cách khoa học. Và quan trọng nhất là các em không bị mất điểm
    trong quá trình làm bài thi.
    1.6.Biểu đồ Kim tự tháp
    Đối với biểu đồ kim tự tháp dùng để biểu diễn các tầng kiến thức, qua đó
    sẽ hiểu sâu một khái niệm. Thông thường phần đỉnh tháp viết kết luận, vấn đề;
    các tầng tháp thứ 2, 3 viết các nội dung có liên quan. Biểu đồ kim tự tháp còn thể
    hiện được sự phát triển của vấn đề….
    9
    1.7.Biểu đồ ma trận
    Biểu đồ ma trận sử dụng khi muốn phân loại, tổ chức/ sắp xếp, so sánh,
    xem xét đa chiều một vấn đề. Trong biểu đồ ma trận sử dụng bảng với những cột
    dọc và hàng ngang. Việc tăng hay giảm số lượng cột dọc hay hàng ngang phụ
    thuộc vào nội dung cần thể hiện của vấn đề. Đưa các thông tin, sự kiện, trạng thái
    của sự vật cần thể hiện vào mỗi ô. Cuối cùng so sánh các ô, tập chung vào những
    nội dung giống nhau và khác nhau, từ đó tóm tắt các quan điểm, ý kiến dựa vào
    các lí do trên.
    1.8.Biểu đồ xương cá
    Đây là biểu đồ dùng để mở rộng, tổng hợp vấn đề ở nhiều phương diện
    khác nhau. Sự việc được đưa vào phần đầu cá. Các yếu tố có liên quan được đưa
    10
    vào phần xương ở thân cá (xương đường thẳng và xương chấm), viết thêm cả
    phần phân tích các nguyên nhân vào biểu đồ. Biểu đồ giúp bạn nhận ra vấn đề và
    nguyên nhân, bạn sẽ tìm ra biện pháp ngăn chặn và cải thiện vấn đề. Bạn có thể
    tăng hoặc giảm số lượng xương cá của biểu đồ tùy thuộc vào nội dung bạn muốn
    thể hiện.
    1.9.Biểu đồ hình Bướm
    Để có cái nhìn đa chiều hơn trong quá trinh tiếp thu kiến thức thì biểu đồ
    hình cánh bướm là phù hợp nhất. Phần thân của chú bướm là chủ đề được nói tới.
    Hai cánh bướm thể hiện cho hai mặt của vấn đề. Hai mặt này song song tồn tại
    nhưng đối nghịch nhau. Biểu đồ hình cánh bướm giúp bạn nhìn nhận vấn đề từ
    hai quan điểm trái chiều, bạn sẽ hiểu sâu sắc hơn về sự việc, từ đó các kiến thức
    sẽ được hệ thống một cách khoa học hơn, dễ hiểu hơn.
    1.10.Biểu đồ Venn
    11
    Biểu đồ Venn dùng để so sánh, phân loại hai đối tượng được thể hiện
    trong hai hình tròn. Mỗi hình tròn tương đương một vấn đề cần so sánh. Phần
    giao nhau giữa hai vòng tròn chính là điểm giống nhau của vấn đề.Phần khác
    nhau của hai vấn đề được viết vào phần còn lại của hai hình tròn.
    1.11.Biểu đồ hình ảnh
    Biểu đồ hình ảnh dùng để chú giải các đại lượng của một biểu thức, công
    thức, một vấn đề nào đó. Trong biểu đồ hình ảnh, sử dụng các hình tròn, hình
    tròn ở trung tâm thể hiện nội dung chính, các hình tròn xung quanh thể hiện
    Giống nhau
    12
    những vấn đề nhỏ của nội dung chính. Các hình tròn nối với nhau bằng đoạn
    thẳng. Số lượng các hình tròn có thể thay đổi để phù hợp với nội dung cần đề cập
    tới. Bạn có thể thay hình tròn bằng hình vuông, hình chữ nhật, hình tam giác….
    2.Dụng cụ học tập thông minh
    Để việc ôn tập theo công cụ tư duy THINKING TOOL đạt hiệu quả tốt
    nhất, tôi hướng dẫn các em mua một số dụng cụ học tập cần dùng tới: sổ tay nhỏ,
    bút màu, hạn chế dùng bút xóa bởi vì các em sẽ học được từ chính những lỗi sai
    của mình. Ngoài ra các em có thể chuẩn bị thêm giấy khổ A4, A3….
    PHẦN 2: SỬ DỤNG CÔNG CỤ HỌC TẬP TRONG ÔN TẬP ĐỊA LÍ LỚP
    12- PHẦN ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN
    Phần Địa lí Tự nhiên Việt Nam từ bài số 2 đến bài 15, trong phần này đối
    với mỗi bài, tôi sử dụng các biểu đồ tư duy khác nhau của công cụ THINKING
    TOOL để hướng dẫn các em ôn tập một phần nội dung của bài, phần còn lại của
    bài học các em có thể tự lựa chọn biểu đồ tư duy để hoàn thiện nội dung ôn tập.
    1.Bài 2: Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ
    Trong bài 2: “VỊ TRÍ ĐỊA LÍ VÀ PHẠM VI LÃNH THỔ”, có các nội
    dung chính là vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ và ảnh hưởng của vị trí địa lí đến tự
    nhiên, kinh tế, xã hội, quốc phòng. Đối với bài ôn tập này tôi hướng dẫn các em
    sử dụng biểu đồ hình ảnh cho phần vị trí địa lí trên đất liền.Biểu đồ hình ảnh cho
    vị trí địa lí trên đất liền như hình dưới.
    13
    Ngoài sử dụng biểu đồ hình ảnh, tôi hướng dẫn các em có thể sử dụng
    biểu đồ hình xương cá để thể hiện nội dung trên.Đối với phần các bộ phận thuộc
    vùng biển nước ta, tôi hướng dẫn các em khái quát theo sơ đồ như sau:
    Các nội dung khác của bài tôi gợi ý các em sử dụng biểu đồ hình ảnh để
    hoàn thiện bài ôn tập của mình. Tuy nhiên các em vẫn có thể tự lựa chọn biểu đồ
    thích hợp khác cho phần bài ôn tập của mình. Chẳng hạn có thể dùng biểu đồ ma
    trận đối với ý nghĩa vị trí địa lí của nước ta.
    2.Bài 6: Đất nước nhiều đồi núi
    VỊ TRÍ ĐỊA
    LÍ ĐẤT
    LIỀN
    CỰC BẮC:
    23O23′ B: xã
    Lũng Cú-
    Đồng Văn-Hà
    Giang
    CỰC ĐÔNG:
    109O24’Đ:
    Vạn ThạnhVạn NinhKhánh Hòa
    CỰC NAM:
    8o34’B: Đất
    Mũi-Ngọc
    Hiển-Cà Mau
    CỰC TÂY
    102O09’Đ: Sín
    Thầu-Mường
    Nhé-Điện
    Biên
    14
    Trong bài 6: “ĐẤT NƯỚC NHIỀU ĐỒI NÚI” gồm các nội dung là đặc
    điểm chung của địa hình Việt Nam và địa hình núi. Đối với bài ôn tập này, tôi
    hướng dẫn tỉ mỉ cho các em hoàn thiện biểu đồ hình ảnh cho phần đặc điểm
    chung của địa hình nước ta.
    Ngoài biểu đồ hình ảnh như trên, tôi gợi ý cho các em có thể sử dụng biểu
    đồ hình xương cá cho nội dung phần này, với đầu cá là đặc điểm chung địa hình,
    phần thân cá sẽ tương ứng với các đặc điểm: địa hình đồi núi thấp, cấu trúc địa
    hình, địa hình vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, chịu tác động của con người.
    Đối với địa hình núi của nước ta gồm bốn khu vực: Đông Bắc, Tây Bắc,
    Trường Sơn Bắc, Trường Sơn Nam và địa hình bán bình nguyên và đồi trung du.
    Đối với nội dung này, tôi gợi ý các em có thể sử dụng biểu đồ hình ảnh hoặc
    cũng có thể sử dụng biểu đồ ma trận để so sánh đặc điểm vùng núi Đông Bắc với
    Tây Bắc, Trường Sơn Bắc với Trường Sơn Nam. Cũng có thể sử dụng biểu đồ
    xương cá cho phần này với đầu cá là địa hình núi, phần thân cá là đặc điểm vùng
    Đông Bắc, Tây Bắc, Trường Sơn Bắc, Trường Sơn Nam. Có thể sử dụng biểu đồ
    ĐẶC ĐIỂM
    CHUNG CỦA
    ĐỊA HÌNH
    VIỆT NAM
    ĐỒI NÚI
    THẤP
    CHIẾM
    PHẦN LỚN
    DIỆN
    TÍCH
    CẤU TRÚC
    ĐỊA HÌNH
    NƯỚC TA
    KHÁ ĐA
    DẠNG
    ĐỊA HÌNH
    CHỊU TÁC
    ĐỘNG
    CỦA CON
    NGƯỜI
    ĐỊA HÌNH
    CỦA VÙNG
    NHIỆT ĐỚI
    ẨM GIÓ
    MÙA
    2
    hướngch
    ính
    Hướng tây
    bắc-đông
    nam
    Hướng
    vòng
    cung
    Được tân kiên
    tạo làm trẻ lại,
    phân bậc,
    ¾ đồi núi. ¼
    đồng bằng
    Xâm thực ở
    vùng núi
    Bồi tụ ở
    đồng bằng
    Đắp đê
    Làm ruộng
    bậc thang
    85% dưới
    1000m, 1%
    trên 2000m
    15
    VENN cho địa hình bán bình nguyên và đồi trung du, điểm giống nhau đây là
    vùng chuyển tiếp giữa miền núi với đồng bằng, điểm khác nhau thể hiện ở phân
    bố, đặc điểm đất.
    Biểu đồ ma trận cho vùng núi Đông Bắc và Tây Bắc.

    Đông BắcTây Bắc
    Vị tríphía đông thung lũng sông HồngTừ hữu ngạn sông Hồng đến
    sông Cả
    Hướngvòng cung với 4 cánh cung lớn:
    Sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn,
    Đông Triều mở ra ở phía bắc và
    phía đông, chụm lại ở Tam Đảo.
    Tây Bắc-Đông Nam
    Đặc điểm-Địa hình núi thấp chiếm phần lớn diện
    tích
    -Theo hướng của các dãy núi là hướng
    vòng cung của các thung
    lũng sông Cầu, Thương, Lục Nam.
    -Địa hình thấp dần từ tây bắc xuống
    đông nam:
    +Những đỉnh cao trên 2000m nằm ở
    thượng nguồn sông Chảy
    +Giáp biên giới Việt Trung là các khối
    núi đá vôi đồ sộ ở Hà Giang, Cao
    Bằng.
    +Trung tâm là đồi núi thấp, độ cao
    trung bình 500-600m
    -Vùng núi cao nhất cả nước với
    3 dải địa hình
    +Phía Đông là dãy núi cao đồ
    sộ Hoàng Liên Sơn có đỉnh
    Phanxipang cao 3143m
    +Phía Tây: là địa hình núi
    trung bình của các dãy núi
    chạy dọc biên giới Việt –Lào
    từ Khoan La San đến sông Cả:
    Pudendinh, pu san sao…
    +Ở giữa thấp hơn, địa hình
    chủ yếu là các dãy núi, các sơn
    nguyên và cao nguyên đá vôi
    ở Ninh Bình, Thanh Hóa.
    -Xen giữa các dãy núi là các
    thung lũng cùng hướng sông
    Đà, sông Mã, sông Chu…

    3.Bài 7: Đất nước nhiều đồi núi (tiếp theo)
    16
    Trong bài 7: “ ĐẤT NƯỚC NHIỀU ĐỒI NÚI (tiếp theo)”, tôi hướng dẫn
    học sinh ôn tập sử dụng biểu đồ VENN cho phần đồng bằng châu thổ sông gồm
    đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Phần giống nhau của hai
    đồng bằng này là nguồn gốc hình thành. Phần khác nhau là về đặc điểm địa hình,
    đất, diện tích..
    Ngoài biểu đồ VENN, đối với phần so sánh đặc điểm địa hình đồng bằng
    sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, tôi còn gợi ý học sinh có thể dùng biểu
    đồ ma trận.để so sánh sự giống và khác nhau giữa hai đồng bằng.

    Đặc điểmĐồng bằng sông HồngĐồng bằng sông Cửu Long
    Giống nhauDo phù sa sông bồi tụ trên vịnh biển nông, thềm lục địa mở rộng
    Nguồn
    gôc
    Do phù sa sông Hồng và Thái
    Bình bồi đắp
    Do phù sa sông Tiền, sông Hậu
    bồi đắp

    ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
    -Diện tích: 15 nghìn km2
    -Do phù sa sông Hồng và Thái
    Bình
    -Con người khai phá và làm biến
    đổi
    -Cao ở rìa phía tây, tây bắc,
    thấp dần ra biển
    Bị chia cắt thành nhiều ô
    -Có đê
    -Trong đê: không bồi đắp phù sa
    -Ngoài đê: Phù sa bồi đắp
    ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU
    LONG
    -Diện tích: 40 nghìn km2
    -Phù sa sông Mê Công
    -Thấp, bằng phẳng
    -Không có đê
    -Mạng lưới sông ngòi nhiều
    -Mùa lũ nước ngập
    -Mùa cạn: thủy triều
    2/3 đất mặn, phèn
    -Có vùng trũng lớn
    Tạo thành
    và phát
    triển do phù
    sa sông bồi
    tụ dần trên
    vịnh
    biểnnông,
    thềmlục
    địamở rộng
    17

    Khác
    nhau
    Diện
    tích
    Khoảng 15 nghìn km2Khoảng 40 nghìn km2
    Địa
    hình
    Cao ở rìa phía tây bắc, thấp
    dần ra biển
    Thấp và bằng phẳng hơn
    Bề
    mặt
    đồng
    bằng
    -Có đê ngăn lũ
    +Vùng trong đê không được
    bồi tụ phù sa
    +Vùng ngoài đê được bồi tụ
    phù sa hàng năm.
    -Mạng lưới sông ngòi, kênh
    rạch chằng chịt
    -2/3 đất bị nhiễm mặn, nhiễm
    phèn.

    Trong phần đánh giá thuận lợi, khó khăn của khu vực đồng bằng và khu
    vực núi, tôi hướng dẫn học sinh có thể sử dụng biểu đồ ma trận hoặc sử dụng
    biểu đồ hình bướm để học sinh ôn tập. Đối với biểu đồ ma trận sẽ có 3 cột và 3
    hàng

    Khu vựcThuận lợiKhó khăn
    Đồi núi-Khoáng sản
    -Thủy điện
    -Đất, rừng
    -Cây công nghiệp, cây ăn quả
    -Du lịch
    -Giao thông vận tải
    -Khai thác tài nguyên, giao
    lưu kinh tế
    -Nhiều thiên tai (lũ, xói mòn
    đất)
    Đồng
    bằng
    -Phát triển nông nghiệp nhiệt đới
    -GTVT đường bộ, đường sông
    -Tập trung các thành phố, khu
    công nghiệp, trung tâm thương
    mại
    -Cung cấp thủy sản, khoáng sản,
    lâm sản
    -Thiên tai: bão, lũ lụt, hạn
    hán…

    Biểu đồ bướm cho đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long.
    18
    KHU
    4.Bài 8: Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển
    Trong bài 8: “THIÊN NHIÊN CHỊU ẢNH HƯỞNG SÂU SẮC CỦA
    BIỂN”, tôi tiếp tục dùng biểu đồ hình ảnh để hướng dẫn học sinh ôn tập phần
    khái quát biển Đông:
    THẾ MẠNH
    VÀ HẠN
    CHẾ VỀ TỰ
    NHIÊN
    KHU VỰC ĐỒI NÚI
    Thuận lợi
    -Khoáng sản:
    Nhiên liệu công nghiệp
    -Rừng, đất trồng: lâm
    Nghiệp, cây công
    nghiệp,
    Gia súc lớn.
    -Sông ngòi: thủy điện
    -Phát triển du lịch
    -Khó khăn: địa hình
    chia cắt. giao thông. Lũ
    quét…
    KHU VỰC ĐỒNG BẰNG
    Thuận lợi
    -Là cơ sở để phát triển
    nông nghiệp
    -Nông sản chính: lúa gạo
    -Cung cấp thủy sản,
    khoáng sản
    -Tập trung các thành phố,
    khu CN
    -Phát triển giao thông
    -Khó khăn: bão, lũ lụt, hạn
    hán…
    19
    Phần ảnh hưởng của biển Đông đến thiên nhiên nước ta để học sinh tự lựa
    chọn công cụ tư duy phù hợp. Tôi gợi ý cho các em có thể dùng biểu đồ hình
    ảnh, cũng có thể sử dụng biểu đồ ma trận.Đối với biểu đồ ma trận, tôi hướng dẫn
    các em hoàn thành bảng ma trận sau:

    Nhân tốẢnh hưởng
    Khí hậu
    Địa hình và các
    hệ sinh thái
    Tài nguyên thiên
    nhiên vùng biển
    Thiên tai

    5.Bài 9: thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa
    Trong bài 9 “THIÊN NHIÊN NHIỆT ĐỚI ẨM GIÓ MÙA”, tôi dùng biểu
    đồ sứa để hướng dẫn học sinh thể hiện nguyên nhân thiên nhiên nước ta có đặc
    điểm là nhiệt đới ẩm gió mùa.
    KHÁI
    QUÁT
    VỀ BIỂN
    ĐÔNG
    Rộng 3,447
    triệu km2,
    trong vùng
    nhiệt đới
    Tương đối kín
    Tính chất gió
    mùa và khép
    kín thể hiện
    qua hải văn,
    sinh vật biển
    Ảnh hưởng
    mạnh mẽ đến
    thiên nhiên
    nước ta
    20
    Còn các nội dung tính chất nhiệt đới, lượng mưa, độ ẩm lớn, hoạt động
    của gió mùa tôi hướng dẫn học sinh có thể sử dụng biểu đồ hình ảnh.
    Phần hoạt động của gió mùa, tôi hướng dẫn các em có thể dùng biểu đồ
    hình ảnh như hình dưới:

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học trực tuyến môn Địa lí cho học sinh lớp 12 ở trường THPT

    SKKN Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học trực tuyến môn Địa lí cho học sinh lớp 12 ở trường THPT

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Trong những năm gần đây, dạy và học trực tuyến đang trở thành xu hướng lan rộng
    ra tất cả các trường học bởi tính ưu việt của nó như: linh hoạt, dễ tiếp cận; nội dung
    phong phú; tiết kiệm chi phí, thời gian; mang tính toàn cầu; đáp ứng tốt nhu cầu học tập
    đa dạng của người học. Ở Việt Nam, dạy học trực tuyến được biết đến như một phương
    pháp giáo dục mới, chỉ thực sự bắt đầu phát triển trong vài năm gần đây nhằm kết hợp
    với phương pháp dạy học truyền thống nên hiệu quả còn chưa cao.
    Năm học 2019 – 2020 do ảnh hưởng của dịch covid-19, lần đầu tiên trong lịch sử
    Giáo dục Việt Nam học sinh phải tạm nghỉ đến trường dài ngày (khoảng hơn 2 tháng
    với học sinh THPT tỉnh Nam Định). Trong thời gian nghỉ do ảnh hưởng của dịch bệnh,
    ngành giáo dục cũng đã có nhiều giải pháp để giúp học sinh “tạm ngừng đến trường,
    không ngừng học”, trong đó điển hình nhất là giải pháp dạy và học trực tuyến. Đây cũng
    là hình thức dạy học mà nhiều giáo viên sử dụng “lần đầu tiên” trong sự nghiệp giáo dục
    của mình. Chính vì thế nên việc bỡ ngỡ, gặp khó khăn, lúng túng và “cười ra nước mắt”
    là điều không thể tránh khỏi.
    Chiều ngày 3 tháng 6 năm 2020, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức hội nghị trực
    tuyến với 63 tỉnh, thành phố về đánh giá chất lượng dạy học trực tuyến, dạy học từ xa.
    Ngoài việc tổng kết, đánh giá chất lượng hội nghị cũng chỉ ra những điểm còn hạn chế,
    khó khăn của phương thức dạy học này để có giải pháp khắc phục. Bộ trưởng Phùng
    Xuân Nhạ đánh giá: “Quá trình triển khai dạy và học trực tuyến trong mùa dịch Covid-
    19 đã khẳng định ngành giáo dục có nhiều tiềm năng, thế mạnh để tiên phong ứng dụng
    công nghệ. Đồng thời khẳng định phương thức dạy học trực tuyến không chỉ là giải
    pháp tạm thời trong mùa dịch mà còn là giải pháp quan trọng nâng cao chất lượng giáo
    dục từ mầm non đến đại học”. Tuy nhiên, việc dạy học trực tuyến cũng còn một số hạn
    chế về đường truyền, hạ tầng công nghệ chưa đồng bộ, học sinh ở nông thôn và miền
    núi còn khó khăn để tiếp cận với hình thức dạy học này.
    Với trường THPT Lý Tự Trọng, ngay sau khi có thông báo nghỉ dịch lần 1 (từ ngày
    4/2/2020 đến ngày 1/3/2020), Ban giám hiệu nhà trường đã xây dựng kế hoạch ôn tập
    trực tuyến cho học sinh trong thời gian nghỉ dịch. Việc ôn tập thường xuyên cho học
    sinh lớp 12 là hết sức cấp thiết. Tuy nhiên, với lần triển khai này ngoài việc bỡ ngỡ với
    hình thức dạy học mới, giáo viên khi tham gia dạy học trực tuyến còn gặp rất nhiều khó
    khăn như sử dụng các phần mềm chưa thành thạo, chưa linh hoạt, một số học sinh nhà
    không có máy tính, không có mạng internet, hoặc có đầy đủ phương tiện tham gia học
    trực tuyến nhưng lại không tham gia hoạt động học…. Là một giáo viên dạy Địa lí của
    trường, sau mỗi giờ học trực tuyến tôi luôn băn khoăn, tìm tòi hướng khắc phục những
    hạn chế của từng bài giảng để mỗi giờ học của tôi đạt hiệu quả cao nhất các mục tiêu đã
    đề ra. Việc làm thế nào để học sinh chờ đợi đến giờ học trực tuyến môn Địa lí, chủ động
    tham gia nhiệt tình các hoạt động học trong giờ học; làm thế nào để mỗi bài học địa lí
    trở thành sự đam mê thích thú, sự mong ước được tìm hiểu khám phá của mỗi học sinh;
    làm thế nào để việc ôn tập, trang bị kiến thức chuẩn bị cho kì thi Tốt nghiệp THPT, xét
    tuyển đại học của học sinh lớp 12 được diễn ra thường xuyên, liên tục, đạt kết quả cao
    1
    … là điều tôi muốn hướng tới. Chính những điều này đã thôi thúc tôi thực hiện sáng
    kiến Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học trực tuyến môn Địa Lí cho
    học sinh lớp 12 ở trường THPT Lý Tự Trọng. Qua sáng kiến này học sinh chắc chắn
    sẽ hứng thú hơn với các giờ học, với từng hoạt động học trực tuyến; yêu thích học tập
    môn Địa lí từ đó chủ động lĩnh hội kiến thức. Các nội dung, chuyên đề ôn tập cũng
    được diễn ra thường xuyên, liên tục, từ đó giúp học sinh phát triển các nội dung đã được
    học tập; định hướng ôn tập cho những kì thi lớn. Bản thân tôi cũng vận dụng ngày
    càng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, phương pháp dạy học trực tuyến hơn nữa để
    góp phần nhỏ bé của mình cho thành công của nhà trường nói riêng và sự nghiệp giáo
    dục nước nhà nói chung.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    1.1. Một số vấn đề chung về dạy và học trực tuyến
    Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và sự ra đời của mạng Internet đã
    đem lại cho con người nhiều ứng dụng tiện ích. Trong đó, dạy và học trực tuyến đang
    trở thành một giải pháp của giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
    cho xã hội. Dạy học trực tuyến là một hình thức đào tạo qua mạng hoặc qua truyền
    hình, có nhiều đổi mới hơn so với dạy học truyền thống, cung cấp cho học sinh sự kết
    hợp hài hòa giữa nhìn, nghe và sự chủ động tích cực trong mọi hoạt động. Chính nhờ
    những tiện ích đó, dạy học trực tuyến đã mang lại hiệu quả cho việc học tập như: thu
    hút được nhiều đối tượng học sinh trong và ngoài trường (có thể còn là học sinh trên
    phạm vi toàn cầu), cắt giảm được nhiều chi phí xuất bản, in ấn tài liệu. Người học trực
    tuyến có thể chủ động chọn cho mình những kiến thức phù hợp với hình thức tiếp thu
    thụ động trên lớp theo lối truyền thống. Ngoài ra, người học còn có khả năng tự kiểm
    soát tốc độ học của mình sao cho phù hợp với bản thân mà vẫn đảm bảo được chất
    lượng học tập. Chính vì những ưu điểm trên học trực tuyến đang là một giải pháp tối ưu
    nhất với sự thu hút ngày càng đông đảo của học sinh, sinh viên.
    Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về dạy học trực tuyến (dạy học online), nhưng
    cách hiểu cơ bản đó là một phương thức phân phối các tài liệu, nội dung học tập dựa
    trên các công cụ điện tử hiện đại như: điện thoại, máy tính, ipad… thông qua mạng
    internet. Trong đó, nội dung, tài liệu học tập có thể được cung cấp từ các thầy cô giáo,
    cũng có thể được cập nhật từ các website trường học trực tuyến và các ứng dụng di
    động khác.
    Giáo dục trực tuyến là phương thức học ảo thông qua một máy vi tính, điện thoại
    thông minh nối mạng đối với một máy chủ ở nơi khác có lưu giữ sẵn bài giảng điện tử
    và phần mềm cần thiết để có thể hỏi/yêu cầu/ra đề cho học sinh học trực tuyến từ xa.
    Giáo viên có thể truyền tải hình ảnh và âm thanh qua đường truyền băng thông rộng
    hoặc kết nối không dây (Wifi, WiMax), mạng nội bộ (LAN). Mở rộng ra, các cá nhân
    hay các tổ chức đề có thể tự lập ra một trường học trực tuyến (E-School) mà nơi đó vẫn
    nhận đào tạo học sinh, đóng học phí và có các bài kiểm tra như các trường học khác.
    Khái niệm học trực tuyến cũng được dùng như một thuật ngữ chỉ môi trường học
    tập mà trong đó, người học có thể tương tác với môi trường học tập thông qua Internet
    hoặc các phương tiện truyền thông điện tử khác. Đây là môi trường có khả năng chia sẻ
    cao, vận hành không phụ thuộc vào không gian, thời gian, tạo điều kiện để mọi người
    2
    trao đổi, tìm kiếm, học tập một cách dễ dàng. Việc học không chỉ bó hẹp cho học sinh,
    sinh viên ở các trường mà dành cho tất cả mọi người, không kể tuổi tác, hoàn cảnh
    sống.
    Việc dạy học trực tuyến đã có từ khá lâu. Khóa học qua mạng đầu tiên được đưa
    ra vào năm 1986 bởi trường Đại học John F. Kennedy ở California – Hoa Kỳ. Các
    chuyên gia về đào tạo giáo dục đã có hơn 30 năm nghiên cứu cho thấy kết quả học tập
    trực tuyến không hề thua kém so với các lớp học truyền thống. Tuy nhiên, việc học trực
    tuyến có đạt hiệu quả cao hay không cũng còn tùy thuộc vào giáo viên và sự hợp tác
    của học sinh. Ở Việt Nam, phương thức dạy học trực tuyến vẫn còn khá mới mẻ và
    đang đặt ra những thách thức không nhỏ đối với cả người dạy và người học do chưa
    được triển khai đồng đều, cơ sở hạ tầng của nhiều trường chưa thể đáp ứng tốt yêu cầu
    của đào tạo từ xa, cách thực hiện của mỗi trường lại rất khác nhau. Tuy còn nhiều khó
    khăn nhưng phương thức dạy học này vẫn đang ngày càng phát triển và lan rộng; các
    phần mềm dạy học trực tuyến cũng không ngừng được nâng cấp và thay đổi để phù hợp
    hơn với nhu cầu của xã hội. Mô hình học tập này không chỉ giúp thầy và trò tiếp tục học
    tập, bồi dưỡng kiến thức mà còn nâng cao tính tự học và động lực học tập của học sinh,
    kể cả tính trách nhiệm lẫn kỉ luật tự giác trong học tập. Có rất nhiều phương thức cho
    quá trình dạy học trực tuyến như: dạy học bằng các văn bản thuần túy thông qua thư
    điện tử, qua truyền hình, qua các phần mềm hỗ trợ dạy học như zoom, shub, …. Ngoài
    ra, với việc học trực tuyến học sinh cũng có thể truy cập các liên kết bên ngoài, những
    mô phỏng chất lượng cao và các hiệu ứng sinh động. Chính vì thế, tùy thuộc vào yêu
    cầu, mục đích của từng nội dung học tập mà giáo viên có thể lựa chọn hình thức dạy
    học trực tuyến phù hợp, để các hoạt động học đạt hiệu quả cao nhất.
    E-learning (giáo dục trực tuyến hay dạy học online) có những giá trị, vẻ đẹp
    riêng, nhưng cũng đang có những hiểu lầm tai hại, nhất là trong thời điểm dịch vius
    corona, hình thức giảng dạy, học tập này được nói đến nhiều hơn. Để có thể áp dụng
    dạy và học trực tuyến một cách hiệu quả cần hiểu rõ về hình thức giảng dạy và học tập
    này.
    Việc hiểu E-learning là gì, những ứng dụng của nó trong giảng dạy ở Việt Nam
    còn chưa được hiểu một cách đầy đủ và sâu sắc. Có thể tạm phân việc ứng dụng Elearning của các trường hiện nay thành 5 bậc:
    + Bậc 1 gồm 100% lớp học truyền thống.
    + Bậc 2, E-learning chỉ là nền tảng lưu trữ và chia sẻ một số tài nguyên học tập.
    + Bậc 3, E-learning được sử dụng rộng rãi hơn, nhiều tài nguyên hơn nhưng lớp
    học trực tiếp vẫn là chủ đạo.
    + Bậc 4, E-learning kết hợp trong phương thức và triết lí giáo dục, trở thành một
    thành phần quan trọng của quá trình tổ chức lớp học với các triết lí như học đảo ngược
    (flipped classroom). Đây là bậc cao. Ở mức độ này, có sự hiểu biết và đầu tư mạnh của
    lãnh đạo nhà trường, nhưng E-learning ẫn chỉ là công cụ dạy và học chứ chưa thay đổi
    cấu trúc và mô hình vận hành của nhà trường.
    + Ở bậc 5, trường học đã thực sự chuyển đổi số hoàn toàn (digitalization) mô
    hình hoạt động của mình từ học tập, giảng dạy, quản lí chất lượng. Ở bậc này nó thực
    sự thay đổi về cách tiếp cận và chất lượng giáo dục.
    3
    Theo đánh giá của các chuyên gia thì hầu hết các trường ở Việt Nam đang ở bậc
    2, số ít ở bậc 3; bậc 4 diễn ra ở một số môn học, một số trường lớn nhưng chưa mang
    tính hệ thống. Mặc dù đã xuất hiện khá lâu (khoảng 13 đến 15 năm) ở Việt Nam nhưng
    ứng dụng của E-learning vẫn khá thấp. Lý do cơ bản là do đa số lãnh đạo nhà trường,
    các thầy cô giáo đều quen với cách dạy “truyền thống”, chưa trang bị kĩ năng số và
    chưa vượt ra khỏi vùng an toàn của chính mình. Điều cần thiết bây giờ là đào tạo kĩ
    năng số cho các thầy cô giáo, động viên họ dám dấn thân để ứng dụng E-learning hiệu
    quả nhất.
    Dạy học trực tuyến hay tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới
    nội dung, phương pháp dạy và học, kiểm tra, đánh giá là chủ trương của Bộ Giáo dục và
    Đào tạo. Cụ thể, với giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo đẩy mạnh ứng
    dụng công nghệ thông tin trong đổi mới nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra
    đanh giá ở các nhà trường; giáo viên có thể thiết kế học liệu số, bài giảng E-learning
    giúp học sinh tự học.
    Bộ Giáo dục và Đào tạo hiện có kho dữ liệu gồm hơn 5000 bài giảng điện tử Elearning đoạt giải trong các cuộc thi quốc gia thiết kế bài giảng E-learning do Bộ tổ
    chức. Kho dữ liệu này có bài giảng đầy đủ các cấp học: mầm non, tiểu học, trung học
    cơ sở, trung học phổ thông với nội dung phong phú của các môn học trải dài các lớp
    học. Đây là nguồn học liệu chất lượng để các nhà trường lựa chọn và hướng dẫn học
    sinh tham khảo, cùng với hệ thống bài giảng điện tử mà giáo viên nhà trường chủ động
    xây dựng để cung cấp kiến thức, kĩ năng cho người học; đặc biệt là trong dịp các em
    không thể đến trường vì dịch Covid 19.
    Hiện nay, đa phần các giáo viên dạy học trực tuyến lựa chọn các công cụ như
    mạng xã hội Facebook, Zalo, qua Email hoặc các phần mềm hệ thống như Zoom,
    Google Classroom, Microsoft Team… để dạy học. Tuy nhiên, với các nền tảng này,
    nhiều thầy cô đang tìm cách để làm quen và dạy học trực tuyến với không ít khó khăn.
    Giáo viên mất nhiều thời gian soạn bài giảng, đọc, chấm bài, báo cáo với nhà trường,
    khó để quản lí chất lượng học sinh. Để đạt hiệu quả cao trong các hoạt động học, trước
    mỗi bài học trực tuyến, giáo viên phải cung cấp nội dung học tập, yêu cầu, tài liệu học
    tập trước cho học sinh. Trong quá trình giảng bài không ôm đồm, sa đà vào phân tích
    giảng giải nội dung mà chủ yếu quan tâm xem học sinh tiếp thu được đến đâu, lưu ý
    những điểm học sinh chưa rõ; tăng cường hướng dẫn học sinh tự học, chủ động lĩnh hội
    kiến thức.
    Nghị quyết Trung ương II khóa VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: “Đổi mới
    phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học, áp dụng những phương pháp giáo
    dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên năng lực tư duy, sáng tạo, năng lực
    giải quyết vấn đề. Đổi mới phương pháp giáo dục – đào tạo khắc phục lối truyền thụ
    một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học…”. Một trong những
    biện pháp quan trọng là chúng ta cần phải nhanh chóng ứng dụng những thành tựu của
    công nghệ thông tin để biên soạn bài giảng điện tử áp dụng trong dạy và học ở Việt
    Nam nhằm tích cực hóa quá trình học tập của học sinh, sinh viên. Cùng với sự phát
    triển và yêu cầu ngày càng cao của xã hội, việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy
    học không thể chỉ dừng lại ở việc kết hợp với phương pháp dạy học truyền thống mà
    cần chuyển sang một trang mới để phù hợp hơn với mọi yêu cầu của xã hội, giúp người
    học có thể tham gia bài học mọi lúc, mọi nơi, tránh được các giờ học truyền thụ kiến
    4
    thức nhàm chán với người học. Để giải quyết những vấn đề này, dạy học trực tuyến
    chính là giải pháp tối ưu, hiệu quả nhất hiện nay.
    Hơn nữa, cho đến nay dịch Covid-19 vẫn còn đang diễn biến hết sức phức tạp,
    Indonesia đã vượt qua Singapore, trở thành quốc gia đứng đầu Đông Nam Á về số ca
    mắc và tử vong, Trung Quốc đang đứng trước làn sóng dịch bệnh thứ hai. Đến ngày 11
    tháng 7 năm 2020 tổng số ca nhiễm trên toàn thế giới đã là 12.584.802; số ca tử vong là
    561.386. Ở Việt Nam, số ca nhiễm là 369, đang điều trị 19 và chưa có ca nào tử vong
    (Theo https://ncov.moh.gov.vn/). Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch Covid 19 đề
    nghị người dân thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch trong tình hình mới, tiếp tục
    thực hiện các biện pháp phòng chống dịch theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ với
    “nhiệm vụ kép”, vừa phát triển kinh tế, vừa phòng chống dịch Covid-19, giữ vững
    thành quả chống dịch đạt được. Trước những diễn biến khó lường của dịch bệnh, mỗi
    giáo viên phải luôn có kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, tích cực bồi dưỡng
    kiến thức công nghệ thông tin; luôn sẵn sàng, chủ động dạy học hiệu quả nhất với mọi
    điều kiện và hoàn cảnh. Do vậy, việc lựa chọn hình thức dạy học trực tuyến càng trở
    nên cần thiết hơn. Giáo viên cần chủ động hơn trong ứng dụng các thành tựu của khoa
    học công nghệ, sử dụng linh hoạt hơn các phương pháp, hình thức dạy học, tiếp cận
    nhanh chóng các phần mềm, công cụ hỗ trợ dạy học để việc dạy và học trực tuyến
    không còn là sự lúng túng, ngại dạy của các thầy cô; học sinh cũng không còn những lí
    do cá nhân, những lí do mà các em cố đưa ra để trốn tránh các giờ học trực tuyến nữa.
    Với sự chỉ đạo của Sở Giáo dục và đào tạo Nam Định; sự chỉ đạo, đôn đốc, động
    viên, hướng dẫn thường xuyên của Lãnh đạo trường THPT Lý Tự Trọng, các thầy cô
    giáo nhà trường đã mạnh dạn hơn trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy
    học, các giờ dạy trực tuyến ngày càng được tổ chức nhiều hơn, hiệu quả hơn. Tuy nhiên
    sự đổi mới đó vẫn còn nhiều hạn chế như một số thầy cô sử dụng chưa linh hoạt, thuần
    thục các phần mềm, phương tiện hỗ trợ dạy học bộ môn hoặc các phương pháp, phương
    tiện, phần mềm sử dụng lại không phù hợp với một số đối tượng học sinh, hoặc dạy học
    trực tuyến còn mang tính hình thức…. Bản thân tôi cũng nhận thấy một số phần mềm,
    công cụ hỗ trợ dạy học tôi áp dụng còn cứng nhắc, hiệu quả chưa cao, chưa phát huy tối
    đa các ứng dụng của từng phần mềm hỗ trợ dạy học. Vì vậy tôi thực hiện sáng kiến kinh
    nghiệm này vừa để học sinh được tiếp cận với các phương thức học chủ động, phát huy
    tốt nhất ý thức, nhận thức của học sinh, vận dụng được kiến thức môn học vào thực
    tiễn; vừa để bản thân tôi hiểu sâu sắc hơn, vận dụng nhuần nhuyễn hơn các phương
    pháp dạy và học tích cực trong môn Địa Lí, điều quan trọng hơn nữa là để bản thân tôi
    luôn sẵn sàng tâm thế bồi dưỡng kiến thức cho học sinh, hướng dẫn học sinh chủ động
    học tập trong điều kiện, hoàn cảnh phức tạp nhất. Việc tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng
    công nghệ thông tin trong dạy học theo hướng tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần
    thứ 4, phát triển năng lực tự học của học sinh và nâng cao kĩ năng tổ chức dạy học qua
    Internet, trên truyền hình; tăng cường mối liên hệ giữa nhà trường và gia đình trong
    việc tổ chức và hỗ trợ học sinh học tập; thực hiện dạy học bám sát điều chỉnh nội dung
    dạy học là những nhiệm vụ và giải pháp quan trọng.
    1.2. Một số hiểu lầm hay gặp phải của dạy học online
    Việc dạy và học trực tuyến đang gặp phải rât nhiều khó khăn. Đầu tiên, nhiều
    người quan niệm cách giảng dạy này có chất lượng thấp. Ở bậc 1 thì chất lượng thấp là
    đúng, nhưng nguyên nhân chính là do người dùng, do giáo viên. Nhiều doanh nghiệp đã
    5
    đi trước các trường học khá xa, họ đã xây dựng được hệ thống riêng của mình. Nhiều
    người cũng cho rằng dạy học online thì tương tác giữa giáo viên với học sinh sẽ kém.
    Điều này không hoàn toàn đúng vì hình thức này có khả năng tương tác khá cao vì học
    sinh, giáo viên có thể trao đổi, trả lời, chia sẻ rất hiệu quả. Các hệ thống Live streaming
    (giảng dạy thời gian thực) hiện nay cho chất lượng rất tốt, không kém già các lớp học
    truyền thống mà còn ưu điểm hơn à học sinh và giáo viên không phải di chuyển và có
    thể xem lại buổi học bất cứ lúc nào. Với học sinh lớp 12, việc ôn tập của các em cũng
    trở nên nhẹ nhàng hơn, đơn giản hơn, tránh được việc chen lấn vào các lớp học thêm
    như trước đây. Các em có thể chủ động hơn trong việc học tập của mình, tránh được
    những mệt mỏi, căng thẳng không cần thiết, nhất là khi các em phải ôn tập, trang bị
    kiến thức chuẩn bị cho kì thi Tốt nghiệp THPT sắp diễn ra vào tháng 8 tới trong điều
    kiện thời tiết nóng bức như hiện nay.
    Có rất nhiều giáo viên, phụ huy học sinh, học sinh còn lo ngại bị mất thông tin cá
    nhân hay bị kẻ xấu tác động trong quá trình dạy học trực tuyến. Vấn đề này có thể có
    các cách khắc phục khác nhau tùy theo từng phần mềm, phương tiện mà giáo viên hay
    học sinh sử dụng.
    Nhiều ý kiến lầm tưởng rằng dạy học online chi phí đắt nhưng trên thực tế chi
    phí cho việc dạy và học này lại rất rẻ cho cả giáo viên và học sinh. Giáo viên có thể
    xem lại bài giảng của mình, hoàn thiện hơn về chuyên môn; học sinh có thể học chủ
    động hơn với các chủ đề, nội dung học tập. Có ý kiến lại nói rằng giáo viên sẽ mất bản
    quyền khi dạy học online. Điều này cũng không đúng. Nội dung hiện nay rất nhiều và
    miễn phí khắp nơi nên đây không phải là vấn đề lớn. Mặt khác, các hệ thống E-learning
    đều có các lớp bảo mật nên cũng không đáng lo ngại. Nếu bài giảng của chúng ta có
    người muốn tham khảo, muốn lấy là tư liệu cho họ, muốn chia sẻ cho bạn bè của họ thì
    chúng ta cũng đã được coi như thành công và rất đáng tự hào rồi. Không ít các thầy cô
    giáo được các em học sinh cả nước, thậm chí quốc tế biết đến nhờ những bài giảng hay,
    ý nghĩa, hữu ích với các em. Đây chính là những tấm gương sáng về việc tiếp cận công
    nghệ số, luôn tiên phong đi đầu để thầy cô chúng ta noi theo.
    1.3. Những lợi ích của E-learning
    E-learning có rất nhiều lợi ích cho giáo viên và học sinh nhà trường. Đầu tiên,
    đây là một phương thức tổ chức kiến thức hiệu quả và dân chủ. Cái hay nhất của Elearning chính là một nền tảng tổ chức, chia sẻ và lưu trữ thông tin, kiến thức một cách
    hệ thống. Khi chúng ta có tài liệu hoặc bài giảng hay, chúng ta có thể chia sẻ ngay lập
    tức cho học sinh hoặc đồng nghiệp của mình. Đây chính là không gian học tập dân chủ
    và lành mạnh nhất.
    Tiếp theo, chúng ta có thể dạy và học ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào. Học sinh
    có thể vào bài học bất cứ lúc nào thuận tiện với họ, học bao nhiêu lần cũng được, học
    theo tốc độ và trí thông minh của mình. Lớp học truyền thống bắt buộc mọi người cùng
    học ở một thời điểm và vị trí, với cùng một tốc độ như nhau nên kém hiệu quả hơn ở
    góc độ này. Về chuẩn hóa chất lượng, sau khi các nội dung giảng dạy được xây dựng và
    đưa lên hệ thống thì nó minh bạch và trở nên chuẩn hóa. Giáo viên từ đó có thể liên tục
    cải tiến chất lượng, nhà trường cũng dễ dàng hơn trong việc quản lí và đảm bảo chất
    lượng giáo dục chung.
    6
    E-learning cũng giải phóng giáo viên rất tốt. Nếu thầy, cô dạy cùng một môn học
    cho 3 lớp/học kì, 2 học kì/năm, trong 5 năm liên tục, thầy cô sẽ dễ dàng trở thành “thợ
    dạy”. Với E-learning thì khác. Sau khi đầu tư nghiêm túc các bài giảng và tài nguyên số
    thì thầy cô giáo được giải phóng để liên tục cải tiên và sáng tạo những nội dung mới
    cho môn học của mình. Sau khi học sinh đã học những nội dung cơ bản thì thời gian
    trên lớp có thể dùng để thực hành, ứng dụng và nâng cao. Hoặc ngược lại, học sinh có
    thể trang bị những kiến thức mới trên lớp và ôn tập theo các chủ đề mà giáo viên xây
    dựng trên lớp học trực tuyến. Khi học sinh có những thắc mắc về bài học, giáo viên có
    thể tổng hợp và tạo ra một câu trả lời chuẩn trên hệ thống, cứ như vậy nội dung môn
    học sẽ liên tục được cập nhật và cải tiến.
    E-learning cũng tiết kiệm chi phí rất rõ. Chi phí (tài chính, thời gian, khả năng
    tiếp cận, nguồn lực khác) dành cho việc học thấp đi đáng kể đối với học sinh, đối với
    nhà trường, chi phí quản lí và tổ chức lớp học cũng giảm đáng kể. Đặc biệt thuận lợi với
    các sinh viên ở vùng sâu, vùng xa, có thể tham gia các khóa học trên E-learning mọi
    lúc, mọi nơi, chỉ cần có mạng Internet. Với những lợi ích này, E-learning cần được sử
    dụng rộng rãi hơn, không chỉ trong các trường đại học mà cả các trường THPT do học
    sinh ở các trường THPT đều rất nhạy bén với tiếp cận công nghệ thông tin, nhu cầu học
    tập cao.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1. Khái quát phạm vi áp dụng sáng kiến
    Trường THPT Lý Tự Trọng nằm trên địa bàn xã Nam Thanh, huyện Nam Trực,
    Tỉnh Nam Định. Năm học 2019 – 2020 khối 12 của trường có 10 lớp (384 HS) trong đó
    chỉ có 12 học sinh học khối C, 68 học sinh chọn tổ hợp môn Sử – Địa – GDCD là môn
    điều kiện để xét tốt nghiệp. Học sinh khối 10 và 11 đa số đều theo ban Khoa học tự
    nhiên. Vì vậy, việc tạo hứng thú cho học sinh đầu tư thời gian tìm hiểu các hoạt động
    học của môn Địa lí còn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên đầu vào của học sinh trường
    THPT Lý Tự Trọng khá cao; đa số các em học sinh đều có tư duy, khả năng tự tìm tòi,
    học hỏi tốt. Hầu hết các đều có khả năng tiếp nhận thông tin nhạy bén, nhanh nhẹn, tiếp
    cận nhanh được các hình thức học trực tuyến. Vì vậy, với sáng kiến này các em sẽ biết
    cách lựa chọn thông tin chính xác, nâng cao khả năng tự học, tự tìm hiểu, chủ động
    khám phá kiến thức, có khả năng thích ứng với đời sống xã hội, phát huy được những
    ưu điểm của bản thân từ đó định hướng nghề nghiệp cho tương lai, phát triển cộng
    đồng.
    2.2. Phạm vi và phương pháp dạy học tích cực
    2.2.1. Phạm vi áp dụng sáng kiến
    Sáng kiến được áp dụng để giảng dạy môn Địa lí cả 3 khối lớp tại trường THPT
    Lý Tự Trọng; đặc biệt hiệu quả với học sinh 12 ôn thi Tốt nghiệp THPT và ôn thi đại
    học.
    2.2.2. Một số phần mềm và công cụ dạy học trực tuyến miễn phí tốt nhất năm 2020
    – Thứ nhất: Phần mềm Microsoft Teams: Là phần mềm dạy học trực tuyến
    được đánh giá là có độ bảo mật cao dùng để dạy học và làm việc online giúp giáo viên
    và học sinh duy trì được các hoạt động dạy và học từ xa đồng thời nâng cao hiệu suất
    7
    làm việc và học tập. Đây là ứng dụng trò chuyện, họp, gọi và làm việc trực tuyến bất kể
    bạn ở đâu. Teams có nhiều ưu điểm như:
    + Có thể truy cập trực tiếp trên web, cài trên máy tính, tải trên di động. Tuy
    nhiên, để thuận tiện nhất và sử dụng đầy đủ các tính năng của Teams bạn nên cài đặt và
    sử dụng trên máy tính.
    + Sử dụng miễn phí trong 6 tháng: Teams được phát hành từ năm 2018 với hai
    phiên bản miễn phí và trả phí (với nhiều tính năng nâng cao). Tuy nhiên, từ đầu tháng
    3/2020 phiên bản trả phí này sẽ được hãng Microsoft phát hành miễn phí cho người
    dùng trong 6 tháng để hỗ trợ cộng đồng.
    + Microsoft Teams Meeting tích hợp nhiều công cụ làm việc: không chỉ có khả
    năng thực hiện họp qua video call, lưu trữ tài liệu, bài giảng, ứng dụng này còn tích hợp
    với bộ công cụ văn phòng Office 365 Microsoft giúp tối ưu hóa công việc lên cao nhất,
    nâng cao hiệu quả giảng dạy và làm việc nhóm.
    + Bạn có thể sử dụng Teams trên hầu hết các nền tảng phổ biến:
    ➢ Trên giao diện website Microsoft: https://teams.microsoft.com,
    ➢ Sử dụng phần mềm đã tải về trên máy tính.
    ➢ App trên điện thoại di động
    – Thứ 2: Phần mềm Zoom Meeting: Là phần mềm dạy học trực tuyến miễn phí hỗ trợ
    cho nhà trường tổ chức các buổi giảng dạy nhanh và ổn định nhất trong mùa dịch Covid
    19. Đây còn là sự lựa chọn của nhiều doanh nghiệp để hội họp, bàn công việc trong mùa
    dịch tránh gặp gỡ tiếp xúc. Zoom meeting cung cấp tài khoản miễn phí và tài khoản
    nâng cấp lên các bản trả phí với các tính năng vô cùng giá trị.
    Ở bản miễn phí, ngoài các tính năng cơ bản Zoom meeting còn cung cấp các tùy
    chọn giới hạn nhưng vẫn đáp ứng phần lớn nhu cầu dạy học online như:
    ➢ Phòng học tối đa 100 người tham gia.
    ➢ Giới hạn 40 phút cho mỗi lần meeting.
    ➢ Không giới hạn số lần meeting.
    Ở bản trả phí chúng ta chỉ cần bỏ ra 300.000 VNĐ/tháng để nâng cấp tài khoản
    lên bản Pro là có thể sử dụng được những tính năng vô cùng giá trị như:\
    ➢ Tổ chức được các phòng học trên 100 người tham gia.
    ➢ Tạo video khóa học trực tuyến bằng cách lưu trữ lại nội dung trên nền
    tảng đám mây của zoom với dung lượng lên tới 1 GB. Video này có thể
    tải về máy từ trình duyệt web.
    ➢ Không giới hạn thời lượng cho cuộc Meeting với việc tăng tối đa thời
    lượng cho mỗi lần Meeting lên 24 tiếng.
    Với những tính năng nổi trội trên thì có thể khẳng định Zoom meeting là một nền
    tảng xây dựng lớp học trực tuyến đáng để sử dụng kể cả trong các doanh nghiệp và
    trong trường học.
    – Thứ 3: Phần mềm EDUBIT.VN – Đây là nền tảng dạy học online chuyên
    nghiệp có phí dành cho nhà trường, giáo viên thiết lập bài giảng của mình. Bên cạnh
    8
    việc đăng tải, lưu trữ các video bài giảng thì giáo viên còn tổ chức các buổi giảng dạy
    trực tuyến để tương tác với học sinh, nâng cao chất lượng bài giảng. Edubit.vn là nền
    tảng dạy học online với nhiều tính năng nổi bật: Hỗ trợ hệ thống E-learning chuyên
    nghiệp; bảo mật thông tin bài giảng, chống dowload video bài giảng – chia sẻ tài khoản
    – hạn chế quay màn hình. Với chức năng tổ chức dạy học trực tuyến, học sinh sẽ được
    trao đổi trực tiếp với giáo viên; có bảng viết online để vẽ, viết, lưu lại; không phải ghi
    chép nhiều; có thể xe m lại buổi học nếu cần. Hiện phần mềm dạy trực tuyến này có
    hỗ trợ dùng miễn phí để trải nghiệm, bản miễn phí cho phép 100 học sinh tham gia.
    – Thứ 4: Thực hiện video giảng dạy online nhanh chóng qua ứng dụng
    SKYPE – Nhắc đến các phần mềm hỗ trợ tổ chức lớp học trực tuyến cho việc giảng dạy
    trong thời điểm hiện nay thì Skype là sự lựa chọn lý tưởng không nên bỏ qua. Bởi đây
    là ứng dụng phổ biến có thể dùng đươc trên điện thoại lẫn PC/ laptop, có thể thực hiện
    được các cuộc gọi video, gửi tin nhắn tức thời như SMS,… Ứng dụng thích nghi với
    mọi cấu hình, chỉ cần đảm bảo tốc độ mạng mà không cần trả thêm bất kì chi phí nào.
    Nếu tìm kiếm một phần mềm hỗ trợ dạy học trực tuyến miễn phí dành cho các nhóm lẻ
    (như bồi dưỡng học sinh giỏi) thỉ Skype sẽ là gợi ý hoàn hoản. giao diện đơn giản sẽ
    giúp người dùng dễ sử dụng.
    – Thứ 5: Tổ chức lớp học trực tuyến miễn phí với ứng dụng Meeting từ
    Google: HANGOUTS MEET
    Tính năng của Hangouts cũng tương tự như Skype, cho phép người dùng thực
    hiện các cuộc gọi miễn phí. Người dùng có thể kết hợp cuộc gọi video, gọi nhóm,… vì
    vậy đây có thể coi là một trong những công cụ hỗ trợ cho quá trình học tập trực tuyến
    hiệu quả. Cách thức sử dụng Hangouts rất đơn giản. Giáo viên sẽ là người tạo cuộc họp
    trực tuyến và mời học sinh tham gia nhóm bằng cách gửi đường dẫn. Từ đó hỗ trợ giảng
    dạy, kết nối giữa học sinh với giáo viên. Hangouts hoạt động bằng cách gọi video trực
    tuyến. Từ đó thầy và trò có thể học tập ngay tại nhà, cung cấp kiến thức trong mọi thời
    điểm mà không phải di chuyển, đi lại nhiều.
    – Thứ 6: Áp dụng Workplace (Facebook) vào dạy học trực tuyến hiệu quả.
    Workplace Facebook được ra đời với mục đích duy trì kết nối giữa các thành
    viên trong một team. Nó cung cấp các tính năng giống như Facebook Groups hay
    Facebook Messenge. Đây là giải pháp hỗ trợ dạy học trực tuyến vô cùng hiệu quả cho
    thầy và trò. Workplace Facebook được tích hợp những tính năng tốt nhất của Facebook
    như News Feed, chia sẻ nhóm, Live, Reaction, search, thực hiện các cuộc trò chuyện,…
    Đồng nghĩa với việc các giáo viên có thể live stram để giảng bài. Bên cạnh đó ứng dụng
    còn hỗ trợ hiển thị lượng người tham gia, theo dõi. Workplace thực chất không phải là
    một dịch vụ miễn phí. Tuy nhiên đối với các tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức giáo dục
    chúng ta sẽ được sử dụng miễn phí. Hoặc nhà trường, giáo viên có thể dùng thử miễn
    phí 3 tháng và trả 1 – 3 USD/tháng nếu có khoảng 1000 đến 10.000 thành viên.
    – Thứ 7: VNPT E-learning – Lớp học số thời 4.0
    Trong thời điểm dịch bệnh còn diễn biến phức tạp, khó kiểm soát ở nhiều quốc
    gia trên thế giới, để giúp học sinh nắm vững kiến thức, thầy trò có thể dạy và học từ xa
    cũng như trao đổi sách vở, bài giảng, giao bài tập và chấm điểm,… thì phần mềm
    VNPT E-learning sẽ là phần mềm dạy học trực tuyến miễn phí phù hợp nhất dành cho
    thầy cô, nhà trường. Ứng dụng này không chỉ hỗ trợ cho học sinh trong quá trình tìm lại
    9
    kiến thức mà còn giúp ích cho giáo viên, giảm thiểu tài liệu, biên soạn, giúp việc giảng
    dạy trở nên đơn giản và nhanh chóng hơn. Đồng thời giúp nhà trường dễ dàng quản lí.
    Khi giáo viên sử dụng VNPT E-learning sẽ giúp số hóa tài liệu, thiết kế bài giảng điện
    tử, giúp chuẩn bị tài liệu, thết lập giáo án điện tử,… Các tư liệu có thể ở dạng phim, ảnh
    hoặc tài liệu, nhằm thu hút học sinh. Ngoài ra còn hỗ trợ theo dõi học sinh, điểm danh,
    đánh giá chất lượng học tập. Học sinh không chỉ được theo dõi bài giảng mà còn có thể
    làm bài trực tuyến, theo dõi kết quả học tập, live stream, chat với giáo viên theo thời
    gian thực. VNPT E-learning xây dựng chương trình học tương tác qua Whiteboard và
    bài giảng Scorm – phương pháp học trực quan sinh động.
    – Thứ 8: Phần mềm học trực tuyến VioEdu
    Đây là phần mềm hỗ trợ học trực tuyến dành cho học sinh tiểu học và trung học.
    Đặc biệt với những học sinh sắp sửa bắt tay vào kì thi Tốt nghiệp THPT sắp tới thì việc
    học tập, củng cố kiến thức tại VioEdu sẽ giúp các em vững tâm và tự tin hơn rất nhiều.
    Ở mỗi bài giảng sẽ có hệ thống các câu hỏi bài tập nhằm củng cố kiến thức và có bảng
    đánh giá tiến độ của học sinh để phụ huynh và thầy cô có thể theo dõi. Phần mềm có
    nhiều tính năng nổi bật như: đưa ra những hệ thống kê cơ bản về thời gian học, số
    lượng câu hỏi, lịch sử làm bài của học sinh. Trong quá trình học, hệ thống sẽ chỉ ra
    điểm mạnh, yếu của từng học sinh và có các cách khắc phục hiệu quả. Báo cáo, đánh
    giá và nhận xét với học sinh sẽ được cập nhật chi tiết và thường xuyên. Từ đó giúp giáo
    viên và phụ huynh có cái nhìn tổng quát về khả năng của con em mình; có thể tư vấn,
    hỗ trợ khắc phục những hạn chế mà các em gặp phải.
    – Thứ 9: Phần mềm dạy học online trên mạng với ViettelStudy
    Đây là phần mềm dạy học online không còn xa lạ với các cơ sở giáo dục trên cả
    nước. Hiện nay, Viettel đang triển khai chương trình học trực tuyến với các bài giảng,
    bộ đề miễn phí. Ngoài ra, tại đây giáo viên và học sinh có thể tương tác, trao đổi trực
    tuyến với hệ thống bảo mật cao, đảm bảo đem lại hiệu quả tốt nhất.
    – Thứ 10: Dạy học online qua các trang mạng xã hội
    Tận dụng tính năng của mạng xã hội, giáo viên và học sinh có thể dạy và học
    bằng cách livestream trên Fanpage, trang cá nhân, các nhóm chat, Group lớp…
    + Dạy học trực tuyến trên Facebook: 85% người dùng Internet hiện nay đều có ít
    nhất 1 tài khoản Facebook. Hiện nay, nhiều giáo viên đã sử dụng Facebook để truyền
    tải thông tin, kiến thức, bài học đến học sinh. Cách dạy học online này vừa tiện lợi, vừa
    tăng khả năng tương tác với học sinh.
    + Dạy học online qua Zalo: Đây cũng là lựa chọn hàng đầu cho giáo viên, là một
    ứng dụng do người Việt Nam phát triển với tính năng bảo mật về thông tin và các tin
    nhắn cực cao. Với các chức năng như: chat video, chat voice, tạo nhóm, chia sẻ link,
    video nhanh chóng. Zalo cũng là mạng xã hội giúp tăng khả năng tương tác của học
    sinh với giáo viên.
    + Dạy học thông qua Youtobe: Chắc chắn các thầy cô giáo không thể tìm ở đâu
    chứa nhiều nội dung bài học đa dạng và chi tiết như Youtobe. Chỉ cần sử dụng điện
    thoại, máy tính bảng hoặc Laptop thầy cô có thể truyền tải thông tin bài giảng dễ dàng.
    Hơn thế nữa, nội dung bài giảng không chỉ phục vụ cho việc học của học sinh của thầy

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Ý tưởng tổ chức các hoạt động dạy học sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực

    SKKN Ý tưởng tổ chức các hoạt động dạy học sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Quá trình chuyển sang cách phương pháp dạy học tích cực hướng đến việc
    phát triển năng lực học sinh, khiến các thầy cô giáo phải chú ý đến việc tổ chức các
    hoạt động dạy học nhiều hơn là giảng bài và thuyết trình. Bên cạnh đó, những áp
    lực của công việc khiến các giáo viên không có đủ thời gian để suy ngẫm và liên
    tục sáng tạo những ý tưởng mới. Làm sao để có được những hoạt động dạy học thú
    vị, hấp dẫn cho mỗi bài học. Làm sao để những ý tưởng mới, sáng tạo có thể đến
    được với lớp học. Đó là điều mà các thầy cô giáo đều mong muốn và đang cảm
    thấy băn khoăn, trăn trở. Vì vậy chúng tôi đã viết đề tài “Ý tưởng tổ chức các hoạt
    động dạy học sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực” nhằm cung cấp các ý
    tưởng sáng tạo để tổ chức các hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng
    lực. Đề tài gồm ba nội dung chính, là gợi ý cho các hoạt động theo tiến trình của
    một giờ học:
    1. Ý tưởng tổ chức tình huống xuất phát
    2. Ý tưởng tổ chức hoạt động hình thành kiến thức mới
    3. Ý tưởng tổ chức hoạt động luyện tập, vận dụng
    Mỗi ý tưởng đưa ra đều đi kèm những hướng dẫn chi tiết và cụ thể để giáo
    viên có thể hiểu được mục đích của hoạt động, những điều cần chuẩn bị, cách thức
    tổ chức hoạt động, lưu ý và các hoạt động mở rộng kèm theo. Điểm đặc biệt của đề
    tài này còn nằm ở chỗ cố gắng xây dựng và lựa chọn các hoạt động dạy học có thể
    áp dụng được trên phạm vi rộng ở cả ba cấp học và với tất cả các môn học. Những
    ý tưởng có trong đề tài sẽ là cẩm nang cần thiết và hữu ích đối với những người
    mới bắt đầu công việc giảng dạy, cũng như các thầy cô giáo đang thay đổi phương
    pháp giảng dạy. Tài liệu cũng sẽ là cơ sở để các thầy cô có thể sáng tạo thêm những
    ý tưởng mới cho các tiết dự giờ, chuyên đề hay đơn giản hơn là trong mỗi bài giảng
    trên lớp.
    II. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI CÓ SÁNG KIẾN
    Trước khi có sáng kiến, giáo viên đã vận dụng một số phương pháp dạy học
    tích cực, đổi mới hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá, ứng dụng công nghệ
    thông tin trong dạy học, tuy nhiên hiệu quả mang lại chưa cao. Cần thiết phải lựa
    chọn phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học, phù hợp, hiệu quả cao
    hơn để phát huy tối đa năng lực của học sinh.
    1. Phương pháp dạy học
    Giáo viên sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống, đồng thời kết hợp
    một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực nhưng việc vận dụng chưa mang lại
    hiệu quả cao.
    Khi dạy giáo viên đã vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực: dạy
    học theo nhóm nhỏ, sử dụng kĩ thuật động não, phương pháp đàm thoại gợi mở,
    phương pháp đóng vai… Các phương pháp này, bước đầu đã tạo hứng thú cho học
    2
    sinh và phát triển một số năng lực của học sinh. Tuy nhiên còn nhiều năng lực của
    học sinh chưa được kích thích phát triển. Đặc biệt, trong các giờ học, giáo viên vẫn
    đóng vai trò là người truyền thụ kiến thức, là trung tâm của quá trình dạy học; học
    sinh chủ yếu lắng nghe, tiếp thu thụ động các kiến thức được quy định sẵn, ít được
    thể hiện các năng lực của bản thân.
    Vì vậy, cần thiết phải lựa chọn những phương pháp hiệu quả hơn để phát huy
    đầy đủ năng lực của học sinh.
    2. Phương tiện dạy học
    Trong quá trình dạy học, giáo viên đã biết khai thác tốt kênh hình và kênh
    chữ sách giáo khoa. Đồng thời sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin, chủ
    yếu là Powerpoint, sử dụng các video minh họa… để tăng tính trực quan, kích thích
    tư duy học sinh. Tuy nhiên, học sinh mới chỉ dừng lại ở quan sát và tư duy. Việc
    dạy học sẽ hiệu quả hơn nếu học sinh được trực tiếp trải nghiệm các ứng dụng công
    nghệ thông tin. Trang bị về công nghệ thông tin là một hành trang quan trọng cho
    sự phát triển sau này của học sinh.
    3. Kiểm tra đánh giá
    Giáo viên mới chỉ chú trọng kiểm tra kiến thức lý thuyết của học sinh bằng
    hình thức kiểm tra viết (tự luận, trắc nghiệm hoặc cả tự luận và trắc nghiệm) với
    các câu hỏi yêu cầu học sinh tái hiện kiến thức. Các câu hỏi này ít gắn với thực
    tiễn. Việc kiểm tra, đánh giá trong quá trình tổ chức dạy học và đánh giá các kĩ
    năng mà học sinh đạt được trong quá trình học tập chưa được quan tâm. Giáo viên
    đánh giá kết quả học sinh thông qua điểm số. Điều này đã dẫn tới tình trạng học
    thụ động trong học sinh. Học sinh chỉ quan tâm, học thuộc lòng lý thuyết mà giáo
    viên cung cấp để đạt điểm số cao trong khi bản thân có thể không hiểu nội dung
    đó. Từ đó, kết quả kiểm tra đánh giá bị sai lệch.
    Trong các buổi đánh giá, giáo viên là người đánh giá duy nhất. Học sinh
    không tham gia tự đánh giá và đánh giá các bạn học khác. Các bài kiểm tra đôi khi
    còn mang nặng tính chủ quan của giáo viên, thiếu chính xác, khách quan, công
    bằng. Giáo viên cần phải tạo cơ hội để học sinh tự nhìn nhận đánh giá bản thân,
    đánh giá học sinh khác để tìm ra cái mình đã đạt được, những điều còn thiếu sót từ
    đó phát huy các năng lực bản thân.
    4. Về kết quả học tập của học sinh
    – Thái độ học tập của học sinh
    Còn nhiều học sinh chưa hứng thú trong các giờ học, biểu hiện:. có nhiều
    học sinh chỉ lắng nghe các kiến thức, thụ động ghi chép; không có sự hào hứng;
    không thắc mắc, đặt câu hỏi, cả đối với những nội dung chưa hiểu rõ; học sinh
    không tích cực tham gia xây dựng bài học trên lớp… Về nhà, không tìm hiểu kiến
    thức liên quan, làm bài tập chống đối..
    3
    Theo khảo sát, 500 học sinh các khối về bộ môn số học sinh rất hứng thú với
    bài học trước khi áp dụng sáng kiến là 21,7 %; số học sinh chưa hứng thú với bài
    học là 22,9%
    – Kiến thức đạt được
    Học sinh chỉ nắm được kiến thức lí thuyết, nội dung mở rộng, vận dụng,
    mang tính cập nhật, thời sự;… nhiều học sinh không nắm được.
    Kết quả bài đánh giá: trong tổng số học sinh tham gia bài đánh giá: 30%
    giỏi; 40% khá 20% trung bình, 10% không đạt yêu cầu
    – Kĩ năng đạt được
    Học sinh, chủ yếu được rèn luyện kĩ năng: đọc, nghe, chọn lọc ý từ sách giáo
    khoa; khai thác bản đồ, bảng số liệu; vận dụng công thức tính toán….
    Học sinh không khám phá hết năng lực của bản thân, thụ động trong việc học
    tập, khả năng sáng tạo và vận dụng tri thức để giải quyết tình huống thực tiễn cuộc
    sống còn hạn chế.
    III. GIẢI PHÁP
    4
    CHƯƠNG I:
    Ý TƯỞNG TỔ CHỨC TÌNH HUỐNG XUẤT PHÁT
    1.1. Lưu ý chung
    Điều cốt yếu nhất khi tổ chức tình huống xuất phát là phải thu hút được sự
    “tập trung” và “chú ý”, là hai trạng thái tâm lý cần thiết cho quá trình học tập.
    Những ý tưởng hoạt động đó không đơn giản là một trò chơi để giúp học sinh cảm
    thấy hứng thú mà còn phải kích thích sự suy ngẫm, liên tưởng với bài học và là
    những bước trải nghiệm đầu tiên trong tiết học.
    – Để thực hiện các hoạt động khởi động một cách hiệu quả nhất, chúng ta cần
    lưu ý một số điểm sau:
    + Lựa chọn các hoạt động phù hợp với đặc điểm của lớp học và nội dung bài
    học
    + Luôn có phương án dự phòng khi học sinh không hợp tác cùng giáo viên
    + Có sự kỳ vọng cao ở học sinh, không nên chỉ coi đây là một trò chơi giải
    trí đơn thuần
    + Cần có sự chuẩn bị để dẫn vào bài mới sao cho hợp lý mà không bị gẫy
    hoạt động.
    – Về phương pháp tổ chức các tình huống xuất phát, các thầy cô có thể thực
    hiện theo các bước sau:
    + Tập trung chú ý của học sinh
    + Đứng trước lớp đưa hướng dẫn (không đứng ở giữa lớp), các khẩu lệnh
    phải chắc chắn, có sức ảnh hưởng đến học sinh
    + Đưa hướng dẫn hoạt động rõ ràng (Ai làm gì? Ở đâu? Làm như thế nào?
    Dựa vào cái gì để thực hiện? Trả lại sản phẩm gì? Yêu cầu về sản phẩm)
    + Làm nháp rồi mới làm thật (nếu khởi động dưới hình thức thi giữa các
    đội)
    + Bình tĩnh làm lại nếu như làm sai.
    1.2. Các ý tưởng tổ chức tình huống xuất phát
    1.2.1 Chuyển phát nhanh
    Đây là hoạt động khởi động thú vị dành cho giáo viên khi bắt đầu tiết học, đồng
    thời nhằm khuyến khích học sinh suy nghĩ sâu hơn về nội dung của bài học và ôn
    tập lại kiến thức cũ.
    – Mục đích
    + Giúp học sinh ôn lại những kiến thức đã được học ở buổi trước
    + Rèn luyện khả năng phản ứng nhanh
    + Tăng tính bất ngờ và ngẫu nhiên
    + Buộc tất cả học sinh đều phải tập trung suy nghĩ
    – Chuẩn bị
    + 1 chiếc hộp nhỏ
    5
    + 10 – 20 câu hỏi có liên quan đến bài học
    + 3 – 5 bài hát/ đoạn nhạc mà học sinh thích
    – Các bước thực hiện
    + Chọn 1 hộp có chứa các câu hỏi liên quan đến chủ đề bài học
    + Giáo viên mở to một đoạn nhạc, hoặc một bài hát (có thể tìm các bài hát có
    liên quan đến nội dung bài học đồng thời học sinh phải luân chuyển chiếc hộp đó
    theo thứ tự.
    + Giáo viên cho nhạc dừng lại ở một thời điểm bất kỳ, chiếc hộp ở vị trí của
    học sinh nào thì học sinh đó phải chọn một câu hỏi trong hộp và đưa ra câu trả lời.
    + Nếu học sinh không trả lời được, có thể nhờ sự trợ giúp.
    – Mở rộng
    + Để tiết kiệm thời gian chuẩn bị, giáo viên có thể cho học sinh luân chuyển
    chiếc mũ, cây bút, cái thước, …
    + Khi đoạn nhạc dừng ở đâu, giáo viên có thể đặt ra các câu hỏi để học sinh
    đưa ra câu trả lời.
    + Có thể chuẩn bị một số phần thưởng cho học sinh.
    – Ví dụ minh họa
    Khi dạy bài 9 – Nhật Bản tiết 1 (địa lí lớp 11)
    + Giáo viên chuẩn bị các câu hỏi cho tình huống xuất phát như sau (có thể kết
    hợp sử dụng powerpoint và máy chiếu
    Câu 1: Trong các lá cờ sau, lá cờ nào được gọi là “cờ Mặt Trời”?
    Câu 2: Đây là ngọn núi lửa nào? Vẻ đẹp hùng vĩ của nó đã trở thành biểu tượng
    của một quốc gia. Ngọn núi này đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới.
    Câu 3: Đây là hiện tượng tự nhiên nào?
    – Nó có thể hình thành do động đất hoặc núi lửa phun trào dưới đáy biển.
    – Nó thường cao từ 20 – 40m, di chuyển với vận tốc rất nhanh, từ 400 – 800km/h
    – Trước khi nó xuất hiện, nước biển thường sủi bọt, hoặc có mùi trứng thối, hoặc
    nước biển lùi rất xa bờ
    1
    5 6
    2 3
    4
    6
    Câu 4: Hiện tượng trong dân số, tỉ lệ người trên độ tuổi lao động rất cao, chiếm
    trên 15%, còn tỉ lệ người dưới tuổi lao động rất thấp, dưới 25%, được gọi là gì?
    Câu 5: Quốc gia nào trên thế giới mà tên gọi của nó có nghĩa là “Mặt Trời mọc”?
    + Giáo viên chuẩn bị một số bài hát tiếng Nhật nổi tiếng.
    + Giáo viên bật nhạc và cho HS lần lượt chuyển một cây bút. Khi nhạc dừng giáo
    viên đưa câu hỏi trên màn hình và yêu cầu HS trả lời. Cứ tiếp tục cho đến khi hết
    câu hỏi sau đó giáo viên dẫn HS vào bài học mới.
    1.2.2 Đánh bại giáo viên
    – Mục đích:
    + Kích thích học sinh tham gia tích cực hơn vào các hoạt động
    + Tạo cảm giác cạnh tranh, thử thách học sinh
    + Giúp học sinh thực sự làm chủ và chiếm lĩnh kiến thức khi trở thành người
    ra đề, đặt câu hỏi và tạo nên các thử thách cho giáo viên.
    – Chuẩn bị: Bảng, bút, giấy trắng, hộp câu hỏi
    – Các bước thực hiện:
    Bước 1: Giáo viên và học sinh cùng chuẩn bị các câu hỏi liên quan đến nội
    dung bài học, sau đó cùng bỏ vào trong một chiếc hộp.
    Bước 2: Đặt giới hạn thời gian (ví dụ 3 phút).
    Bước 3: Học sinh và giáo viên sẽ cùng trả lời các câu hỏi/ làm các bài tập
    trong hộp.
    Bước 4: Giáo viên phải tự mình đưa ra câu trả lời, còn học sinh được phép hỗ
    trợ, giúp đỡ nhau.
    Bước 5: Tổng kết và cùng đưa phản hồi về những câu trả lời.
    Học sinh rất hứng thú với trò chơi này vì chúng có cảm giác cạnh tranh với
    giáo viên, cả hai bên cũng đưa ra những câu hỏi mang tính thử thách.
    – Lưu ý
    + Các câu hỏi giáo viên đưa ra không nên quá khó hoặc đánh đố học sinh quá
    nhiều.
    + Nên đưa ra các câu hỏi khuyến khích học sinh tìm kiếm thông tin, tư duy
    sâu và có sự hợp tác.
    + Giáo viên nên thành thật và dũng cảm trong những trường hợp bị thua.
    + Nên có sự suy ngẫm sau hoạt động.
    – Mở rộng
    + Giáo viên có thể tổ chức giữa các lớp với cùng một chủ đề/ bài dạy.
    + Chia học sinh theo các nhóm và thi đấu cùng nhau.
    7
    – Ví dụ: Mẫu phiếu ghi câu hỏi và mẫu phiếu ghi câu trả lời trong trò chơi
    1.2.3 Ai là triệu phú
    Đây là trò chơi được sử dụng theo chương trình Ai là triệu phú. Học sinh sẽ
    trả lời các câu hỏi mà giáo viên đưa ra và nhận được các phần thưởng hay sự trợ
    giúp giống như của chương trình.
    – Mục đích
    + Học sinh tham gia tích cực hơn vào việc trả lời các câu hỏi
    + Học sinh nhận được sự trợ giúp
    – Chuẩn bị
    + Powerpoint mẫu của trò chơi này
    + Giáo viên cần chuẩn bị các câu hỏi và 4 đáp án A, B, C, D cho mỗi câu hỏi
    + Phần thưởng cho người chơi xuất sắc
    – Hướng dẫn thực hiện
    + Học sinh có thể chơi cá nhân hoặc theo nhóm.
    + Bắt đầu trò chơi và nhấp vào các câu hỏi theo thứ tự.
    + Yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi.
    + Nếu trả lời đúng học sinh sẽ được trả lời các câu hỏi tiếp theo và phần thưởng
    sẽ tăng lên. Nếu trả lời sai, học sinh phải dừng lại.
    + Học sinh sẽ nhận được quyền trợ giúp bất cứ khi nào.
    + Khi câu trả lời đúng được chọn, một slide mới xuất hiện, và chuyển tiếp
    sang câu hỏi mới.
    – Lưu ý
    8
    + Giáo viên có thể chèn thêm hiệu ứng về âm thanh giống như nhạc điệu của
    chương trình.
    + Giáo viên cần rèn luyện kĩ năng dẫn chương trình giống như một MC thực
    thụ
    + Cần bổ sung các phần giải thích, mở rộng thông tin liên quan đến nội dung
    câu hỏi.
    – Mở rộng
    + Phụ thuộc vào thời gian tiết học, giáo viên có thể điều chỉnh số lượng câu
    hỏi và mức điểm thưởng cho phù hợp.
    + Giáo viên có thể điều chỉnh hình thức của trò chơi bằng cách để tất cả học
    sinh cùng tham gia và cùng đưa ra đáp án A, B, C, D. Nếu học sinh nào đưa đáp án
    sai sẽ bị loại.
    + Những học sinh còn lại sẽ làm công việc hỗ trợ giáo viên để kiểm soát các
    người chơi còn lại.
    – Ví dụ: trò chơi “Ai là triệu phú”, chủ đề Halloween, môn tiếng Anh
    9
    1 2
    3 4
    5 6
    10
    7 8
    9 10
    11 12
    11
    13 14
    15 16
    17 18
    12
    19 20
    21 22
    23 24
    13
    25 26
    27 28
    29 30
    31 32
    14
    1.2.4. Trò chơi hẹn hò
    Đây là trò chơi khởi động khá thú vị, thu hút được sự tham gia của nhiều học
    sinh, giúp kiểm tra được nội dung kiến thức đa dạng, đồng thời kích thích học sinh
    tương tác trong lớp học.
    – Mục đích
    + Để lôi cuốn học sinh tham gia vào hoạt động ngay từ khi bắt đầu tiết học
    + Dùng để kiểm tra bài cũ đầu giờ học
    + Học sinh được chủ động, tạo không khí thoải mái, hấp dẫn .
    – Chuẩn bị
    + Các tờ giấy note hoặc tấm thẻ
    + Lớp học được bố trí với khoảng không giang rộng rãi để học sinh có thể
    di chuyển
    + Giáo viên có thể chuẩn bị đồng hồ đếm ngược để đặt thời gian cho học
    sinh.
    – Cách thực hiện

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Định hướng chung về Phương pháp ôn và làm bài trắc nghiệm thi THPT Quốc Gia môn Lịch Sử

    SKKN Định hướng chung về Phương pháp ôn và làm bài trắc nghiệm thi THPT Quốc Gia môn Lịch Sử

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Dân ta phải biết sử ta
    Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam
    Lịch sử là ngành khoa học chuyên nghiên cứu quá trình phát triển của xã
    hội loài người nói chung hay của từng quốc gia, dân tộc. Lâu nay việc dạy và
    học Lịch sử luôn được dư luận xã hội quan tâm đặc biệt. Học lịch sử, hiểu lịch
    sử, để góp phần làm người có ích. Lời nói đầu của Hiến Pháp năm 2013 ghi rõ:
    “Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân Việt Nam lao động cần cù, sáng
    tạo, đấu tranh anh dũng để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền
    thống yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường, bất khuất và xây dựng nền
    văn hiến Việt Nam”.
    Tại Đại hội của Hội Khoa học lịch sử diễn ra ngày 30/11/2015, Chủ tịch
    nước Trương Tấn Sang đã nhấn mạnh: “Hội Khoa học lịch sử Việt Nam phải có
    trách nhiệm làm cho các cơ quan quản lý và xã hội thấy được tầm quan trọng
    của môn Lịch sử trong hệ thống giáo dục quốc dân, đồng thời có những đóng
    góp tích cực trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học môn Lịch sử”.
    “Cần triển khai tích cực những hoạt động để nâng cao hiểu biết và niềm yêu
    thích của nhân dân, nhất là những thế hệ trẻ đối với lịch sử dân tộc”.
    Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
    giáo dục và đào tạo “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo
    hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
    thức, kĩ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
    máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
    người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực. Chuyển
    từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt
    động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
    thông tin và truyền thông trong dạy và học”, “Đổi mới căn bản hình thức và
    phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm
    trung thực, khách quan. Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo
    cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế
    giới tin cậy và công nhận. Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình
    học và đánh giá cuối kì, cuối năm học, đánh giá của người dạy với tự đánh giá
    của người học, đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và xã hội”.
    Trước yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam hiện nay,
    đổi mới kiểm tra đánh giá được xác định là khâu đột phá trong đổi mới giáo
    dục. Ngày 09/9/2014, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT ban hành quyết định số 3538/QĐ
    về việc phê duyệt phương án thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao
    đẳng từ năm 2015 (gọi tắt là kì thi THPT Quốc gia). Trong kì thi THPT Quốc
    gia năm 2015, kết quả bài thi của thí sinh đã được xét công nhận tốt nghiệp
    THPT và làm căn cứ để các cơ sở giáo dục đại học sử dụng trong tuyển sinh đại
    học, cao đẳng.
    Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 ban hành kèm theo
    Quyết định 711/QĐ – TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ:
    “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện
    theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự
    học của người học”, “Đổi mới kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông, kì thi
    tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách
    quan và công bằng, kết hợp kết quả kiểm tra, đánh giá trong quá trình giáo dục
    với kết quả thi”.
    Những quan điểm, định hướng nêu trên tạo tiền đề, cơ sở và môi trường
    pháp lí thuận lợi cho việc đổi mới giáo dục phổ thông nói chung.
    Từ năm 2016 – 2017, bộ môn Lịch sử đã có một thay đổi to lớn. Bộ GD –
    ĐT đã quyết định thực hiện đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá. Theo đó,
    bộ môn Lịch sử được kiểm tra theo hình thức trắc nghiệm khách quan. Bộ môn
    Lịch sử nằm trong tổ hợp môn xã hội: Sử – Địa – Giáo dục công dân khi kiểm
    tra THPT Quốc gia cho học sinh lớp 12. Sự thay đổi này đã tạo nên một sự
    chuyển biến lớn trong việc ôn luyện và kiểm tra THPT Quốc gia nói chung và
    bộ môn Lịch sử nói riêng.
    Hiện nay ở các trường phổ thông, đã áp dụng rất nhiều phương pháp dạy
    học, nhiều phương tiện kĩ thuật mới và bước đầu mang lại những hiệu quả thiết
    thực cho quá trình dạy và học, nhất là đối với bộ môn lịch sử. Quá trình sử dụng
    công nghệ thông tin trong dạy học là một xu thế hiện nay đã mang lại hiệu quả
    đáng kể. Hay áp dụng nguyên tắc dạy học liên môn, dạy học theo nhóm, dạy
    học theo chuyên đề… đã góp phần tích cực vào việc nâng cao hiệu quả dạy học
    môn lịch sử.
    Việc thay đổi hình thức thi từ tự luận sang trắc nghiệm, đã tác động lớn
    đến sự thay đổi về phương pháp học và kết quả môn học. Sự thay đổi phương
    pháp thi theo hướng mới khiến không ít học sinh, nhất là các em học sinh lớp 12
    băn khoăn, thắc mắc về phương pháp học, phương pháp ôn thi, phương pháp
    làm bài như thế nào để có kết quả tốt nhất. Sự thay đổi này cũng gây không ít
    khó khăn cho giáo viên trong việc ôn tập, hệ thống hóa kiến thức cho học sinh.
    Từ thực tế nhiều năm hướng dẫn học sinh ôn thi THPT Quốc gia môn
    Lịch sử (từ năm học 2016-2017 đến năm học 2028-2019) và ôn thi tốt nghiệp
    (năm học 2019-2020). Qua kết quả các kì thi những năm trước cho thấy, rất
    nhiều em yêu thích môn lịch sử và lựa chọn môn này làm môn thi THPT Quốc
    gia nhưng lại khó khăn trong việc tìm ra phương pháp học tập, ôn luyện. Không
    ít học sinh rất tự tin vào kiến thức của mình, kể cả một số học sinh đã từng ôn
    thi học sinh giỏi nhưng vẫn lúng túng khi xác định và trả lời các dạng câu hỏi
    trắc nghiệm. Do đó, kết quả thi thường không tương xứng với kiến thức mà các
    em đang có. Học sinh cần có sự điều chỉnh phương pháp học để khắc phục
    những hạn chế trên.
    Bản thân Tôi là giáo viên trực tiếp hướng dẫn học sinh ôn thi môn Lịch
    sử, đây là môn học đòi hỏi độ tư duy cao, không chỉ học thuộc hay chăm chỉ
    giải đề trắc nghiệm, môn Sử yêu cầu các em có cách học và ôn thi đúng đắn. Từ
    thực tiễn giảng dạy, Tôi luôn trăn trở để tìm ra những phương pháp và cách thức
    ôn tập phù hợp nhằm nâng cao chất lượng cho bài thi của học sinh. Vì vậy, Tôi
    đã nghiên cứu và lựa chọn đề tài
    “ĐỊNH HƯỚNG CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP ÔN VÀ LÀM BÀI
    TRẮC NGHIỆM THI THPT QUỐC GIA MÔN LỊCH SỬ”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    1.1. Vai trò của môn Lịch sử ở trường THPT
    Trong các bộ môn ở trường THPT thì môn Lịch sử có một vị trí vô cùng
    quan trọng. Bởi lịch sử giúp học sinh có được những kiến thức cơ bản, cần thiết
    về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, góp phần hình thành ở học sinh thế giới
    quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, phát huy truyền thống
    tốt đẹp của cha ông, niềm tự hào dân tộc, tình đoàn kết quốc tế. Đồng thời, học
    lịch sử còn bồi dưỡng năng lực tư duy, hành động và thái độ ứng xử đúng đắn
    trong cuộc sống cho các em, góp phần rất lớn trong việc hoàn thiện nhân cách
    học sinh. Điều này rất phù hợp với mục tiêu đào tạo của nền giáo dục nước ta,
    đó là đào tạo ra những con người phát triển toàn diện cả đức lẫn tài.
    Lịch sử là hiện thực khách quan, chính là cuộc sống lao động đấu tranh.
    Vì vậy, học lịch sử không chỉ là phản ánh đúng cuộc sống đã qua mà phải gắn
    với cuộc sống hiện tại và dự đoán sự phát triển của tương lai. Nguyên lí “học đi
    đôi với hành”, gắn học tập với đời sống, phải thực hiện đúng, có hiệu quả cao.
    Điều này càng có ý nghĩa khi mà ngày nay cuộc sống có nhiều biến đổi. Qua
    khứ – hiện tại –tương lai là những giai đoạn khác nhau về chất của quá trình
    phát triển lịch sử, nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau,giúp chúng ta đúc rút ra
    được những bài học kinh nghiệm quý báu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ
    đất nước. Dù còn là một học sinh ngồi trên ghế nhà trường hay đã là một công
    dân thì việc cần làm là nhận thức cho đúng đắn, phải có sự am hiểu rõ về Lịch
    sử dân tộc để không bị lôi kéo vào con đường phản bội, xuyên tạc quê hương,
    đất nước.
    Quá trình dạy học lịch sử là quá trình nhận thức, nó không chỉ có nội
    dung mà còn có phương pháp dạy học, bởi vậy việc đổi mới nội dung gắn liền
    với đổi mới phương pháp. Vì vậy dạy học lịch sử theo phương pháp “ lấy học
    sinh làm trung tâm” là nhằm để phát huy tính chủ động, năng lực tư duy sáng
    tạo của học sinh trong học tập lịch sử có hiệu quả. Từ đó giúp cho học sinh có
    nhận thức đúng đắn trong việc nắm bắt những kiến thức của khoa học lịch sử cơ
    bản ở trường phổ thông.
    Theo PGS.TS Võ Văn Sen“lịch sử Việt Nam có hàng ngàn năm văn hiến,
    lịch sử của ta đẫm máu và đầy những trang anh hùng ca chống chọi với các kẻ
    thù lớn mạnh. Với bề dày lịch sử như thế, dạy học sinh hiểu, biết về sử cũng như
    văn, tiếng Việt là vấn đề sống còn đất nước”. “Học sinh tốt nghiệp THPT thì
    phải hiểu biết lịch sử dân tộc, hiểu biết về đất nước, phải có kiến thức căn bản
    đó để trở thành một công dân, để làm người”. Học lịch sử, hiểu lịch sử, để góp
    phần làm người có ích.
    Giá trị của dạy học Lịch sử là những giá trị tinh thần, giá trị của ý thức
    truyền thống, của niềm tin, của tính nhân văn cao cả. Lịch sử là quá khứ, là nơi
    chứa đựng giá trị văn hóa, là nguồn dữ liệu để tham chiếu kinh nghiệm cha ông
    vào sự phát triển hôm nay. Nếu không có lịch sử không thể hiểu được vị trí của
    hiện tại, với ý nghĩa đó thì nếu lịch sử còn thì văn hóa còn, và văn hóa còn thì
    dân tộc còn.
    1.2. Thực trạng dạy và học môn Lịch sử ở trường THP
    Lâu nay việc dạy và học Lịch sử luôn được dư luận xã hội quan tâm, là
    giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Lịch sử ở trường THPT, Tôi thấy tồn tại
    nhiều vấn đề có những thuận lợi cũng như khó khăn.
    1.2.1. Về phía giáo viên
    Đội ngũ giáo viên giảng dạy môn Lịch sử ở trường THPT rất nhiệt tình,
    tận tâm trong giảng dạy, đều nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của bộ
    môn, đều có kiến thức chuyên môn đạt chuẩn, luôn có xu hướng tìm tòi, tích lũy
    kiến thức, tích cực đổi mới phương pháp dạy học sao cho thu hút học sinh.
    Giáo viên giảng dạy tại các trường THPT không tránh khỏi những áp lực
    lớn từ “căn bệnh thành tích” qua các cuộc thi, các kì thi, … với khối lượng kiến
    thức nhiều mà thời lượng dành cho bộ môn ít, nên dẫn tới thực trạng dạy học
    môn lịch sử ở một số trường trung học phổ thông chỉ là sự truyền thụ kiến thức
    một chiều, cung cấp kiến thức một cách thụ động, làm cho bài giảng trở nên khô
    khan dễ gây nên sự nhàm chán ở học sinh, hệ quả là làm cho học sinh không
    thích thú với việc học sử.Đồng thời giáo viên dạy Lịch sử cũng chưa nhận được
    sự quan tâm đúng mức của các cấp quản lý, phụ huynh học sinh về bộ môn.
    1.2.2. Về phía học sinh
    Đa số học sinh đều có thái độ tốt, hứng thú học tập với bộ môn, say mê
    sưu tầm các loại tài liệu tham khảo bổ sung cho học tập, một số học sinh có
    năng khiếu bộ môn có điều kiện để nghiên cứu chuyên sâu. Bên cạnh đó, nhiều
    em lại không hứng thú với môn Lịch sử cho nên vẫn chưa chủ động khám phá
    kiến thức, chưa chủ động lên kế hoạch học tập, đi học còn thiếu sách vở, không
    ghi chép bài, không làm bài tập, nhiều học sinh còn không nắm được kiến thức
    cơ bản….
    Thực tế có những em rất yêu thích lịch sử, học lịch sử rất tốt ở các năm
    học trước nhưng đến kỳ thi THPT quốc gia, các em đành phải lựa chọn một
    cách thực dụng để có thể đạt kết quả tốt nhất cho mục tiêu quan trọng nhất của
    tương lai – đó chính là việc xét tuyển ĐH. Rất nhiều trường ĐH, ngành nghề
    trên ĐH đã từ chối môn sử dù ai cũng có thể chỉ ra rằng môn sử rất quan trọng
    cho nghề nghiệp trong tương lai như báo chí, kiến trúc…, nên học sinh chẳng
    mấy quan tâm đến học lịch sử cũng là dễ hiểu.
    Môn sử chỉ còn xuất hiện trong tổ hợp bài thi xã hội để xét tốt nghiệp.
    Ngay chính trong bài tổ hợp xã hội này, môn sử lại tiếp tục bị thờ ơ vì nó là
    gánh nặng cho các em học sinh. Bài thi xã hội gồm có sử – địa – giáo dục công
    dân. Môn giáo dục công dân nội dung ôn tập nhẹ nhàng, môn địa lý có cứu cánh
    là Atlat thì môn sử gây lo sợ với khối lượng kiến thức quá nhiều. Cho nên sự
    lựa chọn của các thí sinh là học sơ sài, không có hệ thống nhằm mục tiêu không
    bị điểm liệt là đủ. Trong sự thờ ơ đó, nỗ lực của các giáo viên cũng như gió vào
    nhà trống và phổ điểm u ám đối với bộ môn lịch sử là một hệ quả tất yếu. Đối
    với học sinh khối 12, chương trình môn Lịch sử chiếm 1.5 tiết/tuần, lượng kiến
    thức khá nặng, chưa kể thi theo cấu trúc của Bộ GD-ĐT trong những năm qua
    có cả kiến thức lớp 11. Vì vậy, số lượng các em đăng kí thi THPT Quốc gia
    theo THXH và THTN có sự chênh nhau rất lớn ở một số trường, trong đó có
    trường Tôi đang giảng dạy.
    Trong bối cảnh học thực dụng như hiện nay, tình trạng học yếu môn lịch
    sử sẽ còn tiếp diễn trong các năm sau vì việc điều chỉnh độ khó, dễ của đề thi
    chỉ giải quyết được phần ngọn của vấn đề.
    1.3. Kết quả thi THPT Quốc gia
    1.3.1. Kết quả năm 2017
    Theo báo VietNamNet – Ngày 7/7/2017 – (Xem phụ lục 1)
    Theo đó, điểm trung bình của môn Lịch sử năm nay trên cả nước là 4.6
    điểm. Số thí sinh có điểm dưới trung bình là 315.957 TS – chiếm 61,9%. Số TS
    có điểm liệt (<=1 điểm) là 869 TS. Điểm số có nhiều TS đạt nhất là 4.0 điểm.
    Cả nước có 107 TS đạt điểm 10 môn Lịch sử. Số TS đạt từ 9 đến 9,75
    điểm là 3876 TS. Có 501 TS có điểm 0.
    1.3.2. Kết quả năm 2018
    Theo báo VietNamNet – Ngày 11/7/2018- (Xem phụ lục 2)
    Theo đó, điểm trung bình của môn Lịch sử năm nay trên cả nước là 3,79
    điểm. Số thí sinh có điểm dưới trung bình là 468.628 TS – chiếm 83,24%. Số
    TS có điểm liệt (<=1 điểm) là 1.277 TS. Điểm số có nhiều TS đạt nhất là 3,25
    điểm.
    Cả nước có 11 TS đạt điểm 10 môn Lịch sử. Số TS đạt từ 9 đến 9,75
    điểm là 658 TS. Có 527 TS có điểm 0.
    1.3.3. Kết quả thi năm 2019
    Theo báo VietNamNet – Ngày 15/7/2019- (Xem phụ lục 3)
    Trong kỳ thi THPT quốc gia năm 2019, có 569.905 thí sinh dự thi môn
    Lịch sử (thuộc tổ hợp bài Khoa học Xã hội). Thống kê của Bộ GD&ĐT qua dữ
    liệu điểm thi THPT quốc gia 2019 cho thấy, số thí sinh có điểm dưới trung bình
    là 399.016 (chiếm 70,01%). Số thí sinh có điểm liệt (<=1 điểm) là 395. Môn
    Lịch sử có điểm trung bình là 4,3 và có 80 bài thi đạt điểm 10 trong cả nước.
    Như vậy, so với năm 2018, điểm trung bình của môn Lịch sử 2019 là 4,3,
    cao hơn năm 2018. Tuy nhiên, so với năm 2017, điểm thi năm 2018 thấp hơn
    (năm 2017 là 4,6 điểm).
    1.3.4. Kết quả thi năm 2020
    Theo báo VietNamNet – Ngày 27/8/2020- (Xem phụ lục 4)
    Trong kì thi THPT quốc gia năm 2020, có 553.987 thí sinh dự thi
    môn Lịch sử (thuộc tổ hợp bài Khoa học Xã hội). Thống kê của Bộ GD&ĐT
    qua dữ liệu điểm thi THPT quốc gia 2020 cho thấy, số thí sinh có điểm dưới
    trung bình là 260.074 (chiếm 46.95%). Số thí sinh có điểm liệt (<=1 điểm) là
    111 (chiếm 0,02%). Môn Lịch sử có điểm trung bình là 5,19 và có 371 bài thi
    đạt điểm 10 trong cả nước.
    Như vậy, so với những nămtrước đó (2017, 2018, 2019) điểm
    trung bình môn lịch sử năm 2020 là 5,19 – cao hơn.
    1.4. Nguyên nhân
    Theo kết quả công bố của Bộ giáo dục về điểm môn Lịch sử “rớt” một
    cách thê thảm qua các kì thi THPT quốc gia. Nhiều người sốc, cảm giác lo lắng
    trước điểm thi môn Sử nhưng lại không hề bất ngờ. Chẳng có gì là lạ và cũng
    đừng ai vội giật mình, dường như đây là câu chuyện “đến hẹn lại lên” của mỗi
    mùa thi lớn. Nhưng vì đâu mà nên cơ sự này?
    Trước hết, phải thừa nhận rằng, học môn Lịch sử khó và không hấp dẫn.
    Ðã là lịch sử, nhất thiết phải gắn với sự kiện, nhân vật và hiểu lịch sử nhất định
    phải nắm vững những sự kiện, nhân vật cơ bản, quan trọng trong suốt quá trình
    hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Nhưng
    chương trình do Bộ Giáo dục và Ðào tạo quy định là yêu cầu học sinh phải nắm
    được hầu như tất cả các nội dung về lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới, trong
    khi đó, số tiết quy định quá ít. Mặt khác, do yêu cầu của chương trình, nội dung
    trong sách giáo khoa quá nặng, nội dung trong sách giáo khoa như một “đĩa
    nén”, đầy ắp thông tin mà học sinh không thể nhớ hết được, tôi cũng như nhiều
    thầy cô dạy Sử cho rằng quá nặng nề, chi tiết, bắt các em phải nhớ quá nhiều,
    cách kiểm tra vẫn là học thuộc lòng. Chúng ta vẫn giáo dục theo hướng tiếp cận
    nội dung mà chưa chuyển sang tiếp cận năng lực. Nhồi nhét một mớ kiến thức
    có sẵn vừa nặng về học thuộc ghi nhớ, vừa nặng về tuyên truyền mà không biết
    áp dụng vào đâu sẽ gây ra sự nhàm chán, dẫn đến tình trạng “học trước quên
    sau”. Dạy môn học này theo tôi là truyền cho học sinh tinh thần của dân tộc, cái
    hồn của núi sông, lòng biết ơn với tổ tiên qua những nhân vật lịch sử thì mới
    khắc sâu và đọng lại trong các em, gây sự hứng thú.
    Thứ hai: Lịch sử là một môn học cần có sự chăm chú và tư duy cao.
    Trước đây, đề thi không theo hình thức trắc nghiệm, thậm chí nhiều học sinh
    luồn lách giở tài liệu để quay cóp nên khá “ung dung”. Nhưng bây giờ thì khác,
    đề thi hiện nay đòi hỏi học sinh cần có cả nhận thức và kiến thức, trong khi môn
    Lịch sử vốn đã khó và thậm chí là cực khó khi đó là những kiến thức về lịch sử
    của cả dân tộc và nhân loại. Học vẹt, học tủ, học để chống đối cho qua điểm liệt
    đã không còn có tác dụng thậm chí là phản tác dụng.Đã đến lúc cần thẳng thắn
    nói với nhau rằng, quan niệm về Lịch sử là môn học thuộc lòng, máy móc đã
    hoàn toàn sai lầm. Hơn thế, Lịch sử là một môn khoa học cần tư duy và lập luận
    logic. Nếu không thay đổi cách học, cứ để học sinh mãi “lơ tơ mơ” về môn này,
    thì không bao giờ có kết quả cao được. Thực tế, để nhận thức một vấn đề lịch sử
    đòi hỏi học sinh có nền tảng lý luận và nhận thức tổng hợp, phân tích chuyên
    sâu.
    Ở một khía cạnh khác, do trình độ nhận thức về môn học này chưa được
    đúng đắn. Có thể thấy các em học sinh luôn xem Lịch sử là môn phụ và chỉ cần
    học thuộc lòng thì sẽ qua. Chính vì thế, thái độ học tập của các em chỉ là hình
    thức đối phó với thầy cô và góp phần “dung dưỡng” cho bệnh thành tích phát
    triển.
    Thứ ba:Giáo viên chưa đủ tâm huyết để gây hứng thú trong những giờ
    học Lịch sử, nhưng với 1,5 tiết/tuần thì thật khó, rồi khi có dự giờ, thao giảng,
    hội giảng, sinh hoạt chuyên môn cụm, hội thi giáo viên giỏi cấp trường, cấp
    tỉnh…, thật buồn là đồng nghiệp chỉ chăm chăm đánh giá giáo viên có truyền thụ
    hết kiến thức trong sách giáo khoa hay không, dạy còn thiếu ý này, ý khác, ý
    này là trọng tâm, ý kia là cơ bản, có liên hệ, có lồng ghép, có tích hợp, có giáo
    dục kiến thức, rèn kỹ năng, giáo dục thái độ tình cảm… để xếp loại tiết dạy chứ
    không xem học sinh có hiểu bài hay không?
    Thứ tư:Hệ quả của những định kiến và nhu cầu về mặt xã hội, đa số phụ
    huynh và học sinh đều xem nhẹ môn học này – nếu không muốn nói là xem
    thường. Vì cho rằng thực tế lịch sử học để biết vậy thôi chứ không ứng dụng gì
    trong nghề nghiệp tương lai sau này (chỉ cần thiết nếu học để đi dạy lịch sử
    hoặc nghiên cứu sử). Do vậy, phụ huynh chỉ đầu tư cho con học toán, lý,
    hóa…nhằm theo đuổi những ngành nghề đang hót của xã hội như kinh tế, ngân
    hàng, tài chính… để có thu nhập cao, kể cả các nhà tuyển dụng đều không có
    nhu cầu cao về việc học sinh phải học giỏi sử. Và khi khoa học lịch sử ít tiếng
    nói, cơ hôi tìm việc làm của những người giỏi sử ít đi thì môn Lịch sử sẽ không
    phải là sự lựa chọn. Theo đuổi đam mê và sự giàu có đó là ước mơ của mỗi con
    người, nói cách khác qui luật của cuộc sống là vậy.Trong bối cảnh xã hội Việt
    Nam hiện tại, xu hướng quy tất cả vào giá trị vật chất và lợi ích thực dụng đã
    khiến cho phụ huynh, học sinh không nhìn nhận ra bản chất đích thực và cuối
    cùng của giáo dục: tạo ra con người tốt đẹp có năng lực cải tạo xã hội và sống
    hạnh phúc.
    Vì thế, tất cả những gì không phục vụ trực tiếp việc thăng tiến vị trí và
    kiếm ra tiền đều bị gạt xuống hàng thứ yếu. Bên cạnh đó, quan điểm tuyển sinh
    thực dụng, học thực dụng, thi thực dụng cũng khiến môn Sử “yếu thế” hơn.
    Thay vì trước đây học môn gì thi môn đó thì nay, thi môn gì học môn đó. Cách
    học thực dụng dẫn đến sự chủ quan trong việc dạy học, chủ quan trong tiếp
    nhận kiến thức và chủ quan cả hình thức ra đề – thi trắc nghiệm các môn trong
    đó có Lịch sử.
    Thứ năm: Hình thức thi trắc nghiệm trong môn thi Lịch sử khiến các em
    nhác học hơn so với cách thi tự luận trước đây. Vào phòng thi chủ yếu đoán mò
    là nhiều, làm theo kiểu “phủ xanh đất trống, đồi trọc”, “chơi trò may rủi”, thậm
    chí trả lời theo linh cảm, chỉ cần qua điểm liệt, dừng ở mức đỗ tốt nghiệp mà
    thôi. Sẽ chẳng có gì ngạc nhiên và cũng đừng đổ lỗi tại đề khó cho kết quả thấp,
    vì tư duy môn học vẹt nên nhận kết quả như vậy là điều tất nhiên. Rõ ràng, đó là
    kết quả buộc những người có tâm huyết với nền giáo dục nước nhà không thể
    vô cảm.
    Việc học và khai thác Lịch sử ở khía cạnh tư liệu về những điều đã diễn
    ra khiến Lịch sử trở thành một môn khoa học “chết”. Cần thổi một làn gió mới
    vào quá khứ đã qua, tôn trọng sự thật nhưng không có nghĩa là đóng khung tư
    duy trong những con số khô cứng. Lịch sử luôn cần là sự thật cũng như môn
    Lịch sử cần được học thật, thi thật, học bằng tất cả tình yêu với lịch sử nước nhà
    và sự phát triển của nhân loại từ quá khứ đến hiện tại và tương lai.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến kinh nghiệm
    2.1. Định hướng phương pháp học và ôn thi
    Một trong những vấn đề mà đa số Thầy cô và các em học sinh quan tâm
    chính là phương pháp học và ôn môn lịch sử như thế nào hiệu quả nhất. Từ thực
    tế quá trình giảng dạy và nhiều năm ôn luyện thi THPT Quốc gia, Tôi nhận thấy
    tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện học tập, khả năng nhận thức, quỹ thời gian
    mà mỗi em học sinh lại có cho mình những phương pháp học khác nhau. Mỗi
    phương pháp đều có những ưu điểm – nhược điểm khác nhau mà không phải
    trong trường hợp nào cũng có thể vận dụng để đạt hiệu quả cao nhất. Do vậy,
    trong khuôn khổ của sáng kiến, Tôi sẽ đưa ra một số phương pháp học và ôn
    môn lịch sử, các em học sinh có thể tham khảo và chọn ra phương pháp học và
    ôn phù hợp nhất với bản thân và quỹ thời gian của mình.
    2.1.1. Xác định đúng mục tiêu, quyết tâm học tập, có kế hoạch cụ thể cho việc
    học
    Từ thực tế cho thấy, các em học sinh lựa chọn môn Lịch sử với quan
    điểm “học để thi”, số còn lại học vì đam mê. Vì vậy trước khi bắt đầu quá trình
    ôn tập, các em cần xác định rõ mục tiêu. Khi chọn môn Lịch sử để thi THPT
    Quốc gia và là một trong ba môn của tổ hợp KHXH để xét tuyển, các em cần
    xác định rõ đây là môn học khó nhất trong tổ hợp, cần được đầu tư nhiều thời
    gian và nhất thiết phải có người hướng dẫn trong suốt quá trình học. Các em
    nên đặt ra điểm số cần đạt cho bản thân để lấy đó làm động lực phấn đấu. Mỗi
    giai đoạn trong quá trình học đều nên kiểm tra lại khả năng của bản thân để xác
    định mục tiêu ở giai đoạn kế tiếp, nhất là ở giai đoạn nước rút. Việc kiểm tra có
    thể căn cứ vào làm các đề thi thử trên mạng, nhất là các trường chuyên hoặc đề
    minh họa của Bộ GD-ĐT.
    Cần xác định quyết tâm cao độ trong việc học, bởi nếu không có đam mê
    thì việc học môn khó như Lịch sử là điều nhiều em học sinh rất ngại. Trong quá
    trình học các em cần xây dựng thời gian biểu hợp lý và kiên quyết làm theo.
    Thông thường, các em sẽ tự chia thời gian biểu cho việc học của mình, tuy
    nhiên ngoài các môn khác, trong thời gian học chính khóa các em nên giành cho
    môn sử thời gian ít nhất một tiếng mỗi ngày để học. Đến giai đoạn nước rút, các
    em tăng tốc thì đã có một lượng kiến thức cơ bản tích lũy để làm nền tảng.
    2.1.2. Nắm vững kiến thức cơ bản
    Việc học và nắm vững kiến thức cơ bản của môn Lịch sử là vô cùng quan
    trọng, là chiếc chìa khóa để giải đáp tất cả những câu hỏi trong đề thi, nhưng
    nhiều em vẫn còn lúng túng trong việc lựa chọn cho mình một phương pháp
    nắm vững kiến thức cơ bản hiệu quả. Kiến thức cơ bản được coi như xương
    sống của một giai đoạn, tiến trình lịch sử. Trong SGK cơ bản lớp 12, toàn bộ
    các sự kiện, giai đoạn, nhân vật lịch sử đều được trình bày thành các bài theo lối
    thông sử hết sức cơ bản. Do vậy, cách tốt nhất để nắm kiến thức cơ bản là bám
    sát SGK, các em cũng cần xác định các phần giảm tải để loại bỏ nó ra khỏi
    chương trình học, bởi đấy được xem là kiến thức không cơ bản, hoàn toàn
    không có trong đề thi.

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Một số biện pháp nâng cao phẩm chất và năng lực học sinh trong giảng dạy môn Lịch sử ở trường THPT

    SKKN Một số biện pháp nâng cao phẩm chất và năng lực học sinh trong giảng dạy môn Lịch sử ở trường THPT

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Lí do chọn đề tài
    Nghị quyết 29/NQ-TW của Hội nghị TW lần thứ 8, khóa XXI ngày 4/11/2013
    đã đưa ra các quan điểm chỉ đạo nhằm đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và
    đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong điều kiện
    nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa; trong đó nhấn mạnh đến những vấn đề lớn,
    cốt lõi, cấp thiết từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến nội dung, phương pháp, cơ
    chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện. Một trong những quan điểm chỉ đạo
    của Nghị quyết cũng đã nhấn mạnh “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân
    trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ
    yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học.
    Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với
    giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” và “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để
    phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu
    hội nhập quốc tế để phát triển đất nước.”
    Thực hiện theo nghị quyết 29 – NQ/TW, Bộ giáo dục và đào tạo đã ra công
    văn 5555 / BGDĐT-GDTrH ngày 8/10/2014 V/v hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn
    về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá; tổ chức và quản lý các hoạt
    động chuyên môn của trường trung học/trung tâm giáo dục thường xuyên qua
    mạng…tạo ra sự thay đổi lớn trong Ngành giáo dục và đạo tạo về phương pháp
    giảng dạy, phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh ở các cấp học và ngành học.
    Trong Nghị quyết 88/2014/QH XIII ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi
    mới chương trình sách giáo khoa phổ thông đã đặt ra mục tiêu đổi mới là “kết hợp
    dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục
    nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm
    chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi
    học sinh.”
    Tiếp tục cụ thể hóa quan điểm đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục, Thủ
    tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/03/2015
    2
    cũng đề ra mục tiêu cho nền giáo dục là “tăng cường tương tác, phát huy tính
    tích cực, chủ động và tạo cảm hứng học tập cho học sinh; tạo điều kiện cho học
    sinh dần nâng cao năng lực tự học hỏi, tìm tòi, hiểu biết môi trường, cuộc sống
    xung quanh và rèn luyện các kỹ năng sống, làm việc”.
    Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 của Bộ giáo dục và đào tạo
    cũng đã định hướng hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ
    yếu sau: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. Những năng lực
    chung như: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải
    quyết vấn đề và sáng tạo.
    Môn Lịch sử là một môn học có vai trò quan trọng góp phần hình thành những
    phẩm chất và năng lực học sinh. Chương trình môn Lịch sử góp phần hình thành
    cho học sinh những thành phần năng lực đặc thù sau:
    3
    Tìm hiểu lịch sử: Học sinh bước đầu nhận diện được các loại hình tư liệu lịch
    sử; hiểu được nội dung, khai thác và sử dụng được tư liệu lịch sử trong quá trình
    học tập. Tái hiện và trình bày được dưới hình thức nói hoặc viết diễn trình của các
    sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử từ đơn giản đến phức tạp; xác định được các sự
    kiện lịch sử trong không gian và thời gian cụ thể.
    Nhận thức và tư duy lịch sử: Học sinh giải thích được nguồn gốc, sự vận động
    của các sự kiện lịch sử từ đơn giản đến phức tạp; chỉ ra được quá trình phát triển
    của lịch sử theo lịch đại và đồng đại; so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa các
    sự kiện lịch sử, lí giải được mối quan hệ nhân quả trong tiến trình lịch sử. Đưa ra
    được những ý kiến nhận xét, đánh giá của cá nhân về các sự kiện, nhân vật, quá
    trình lịch sử trên cơ sở nhận thức và tư duy lịch sử; hiểu được sự tiếp nối và thay
    đổi của lịch sử; biết suy nghĩ theo những chiều hướng khác nhau khi xem xét, đánh
    giá, hay đi tìm câu trả lời về một sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử.
    Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: Học sinh bước đầu có thể rút ra được bài
    học lịch sử và vận dụng được kiến thức lịch sử để lí giải những vấn đề của thực
    tiễn cuộc sống; trên nền tảng đó, có khả năng tự tìm hiểu những vấn đề lịch sử,
    phát triển năng lực sáng tạo, có khả năng tiếp cận và xử lí thông tin từ những nguồn
    khác nhau, có ý thức và năng lực tự học lịch sử suốt đời.
    Trong những năm qua, từ thực tiễn chỉ đạo của các cấp, từ TW đến các cấp
    cơ sở, bản thân tôi nhận thức rằng cần phải thay đổi về phương pháp dạy học, gắn
    lí luận với thực tiễn, chuyển từ lối truyền thu kiến thức sang dạy học tích cực nhằm
    phát triển phẩm chất và năng lực học sinh. Để góp phần đổi mới phương pháp dạy
    học, đổi mới kiểm tra đánh giá đối với môn Lịch sử, tôi mạnh dạn đề xuất “MỘT SỐ
    BIỆN PHÁP NÂNG CAO PHẨM CHẤT VÀ NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG
    GIẢNG DẠY MÔN LỊCH SỬ LỚP Ở TRƯỜNG THPT”
    Đây là SKKN được đúc rút trong thực tiễn giảng dạy cho học sinh cấp THPT môn
    Lịch sử Trường THPT C Hải Hậu. Tôi hi vọng, với đề tài SKKN này sẽ là kênh tham
    khảo cho giáo viên và học sinh trong quá trình giảng dạy môn Lịch sử hiện nay ở trường
    THPT.
    4
    2. Mục đích của sáng kiến
    – Đánh giá thực trạng việc dạy học môn Lịch sử hiện nay ở Trường THPT C Hải
    Hậu
    – Nêu ra một số giải pháp đã được thực hiện trong giảng dạy môn Lịch sử ở
    trường THPT C Hải Hậu nhằm phát triển phẩm chất và năng lực học sinh.
    – Chia sẻ với đồng nghiệp về một số giải pháp nhằm nâng cao phẩm chất và
    năng lực học sinh qua giảng dạy môn Lịch sử ở trường THPT.
    3. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
    -Đưa ra một số giải pháp kinh nghiệm tronggiảng dạy môn Lịch sử ở trường THPT
    theo tinh thần đổi mới chương trình GDPT 2018.
    – Phát triển cho học sinh các phẩm chất, năng lực môn Lịch sử trong chương trình Lịch sử
    ởtrường THPT
    4. Đóng góp của sáng kiến
    Để góp phần đổi mới phương pháp dạy học nói chung, phương pháp ôn thi môn
    Lịch sử nói riêng ở trường THPT, phát triển về phẩm chất, năng lực học sinh nâng cao
    chất lượng dạy học môn Lịch sử “MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO PHẨM
    CHẤT VÀ NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG GIẢNG DẠY MÔN LỊCH SỬ Ở
    TRƯỜNG THPT” là một đề tài SKKN có tính thực tiễn cao, có thể được áp dụng
    hiệu quả trong quá trình giảng dạy môn Lịch sử ở các tỉnh thành trên cả nước.
    PHẦN II: GIẢI PHÁP
    1. Thực trạng của việc giảng dạy Lịch sử ở trường THPT C Hải Hậu.
    * Về phía giáo viên:
    Trong những năm qua, để đáp ứng nhu cầu ôn thi THPT quốc gia và thi Đại
    học, các thầy cô trong trường đã tích cực giảng dạy nhằm trang bị cho học sinh các
    kiến thức cần thiết về nội dung để phục vụ cho việc thi cử, lên lớp, tốt nghiệp…mà
    chưa đi sâu vào việc phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh, chưa thực sự
    có những phương pháp phù hợp và tích cực trong giảng dạy, từ đó chưa khơi dậy
    được niềm đam mê yêu thích thực sự với bộ môn lịch sử.
    Nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc đổi mới phương pháp, kĩ thuật dạy
    học, chưa chú trọng đến việc phát triển phẩm chất và năng lực học sinh, còn nặng
    5
    về dạy học theo lối truyền thống, khiến giờ học Lịch sử trở nên khô cứng, kém
    hứng thú đối với học sinh.
    * Về phía học sinh:
    Đa số các em học Lịch sử còn là do yêu cầu bắt buộc của việc thi tốt nghiệp,
    thực sự bản thân chưa có sự yêu thích đối với bộ môn, nhiều học sinh có tư tưởng
    học một cách miễn cưỡng do vậy học sinh chưa phát huy được những phẩm chất
    và năng lực của bộ môn . Ví dụ như:Năng lực tìm tòi và khám phá Lịch sử; Năng
    lực nhận thức và tư duy lịch sử; Năng lực vận dụng kiến thức Lịch sử vào thực
    tiễn…
    Do vậy, thông qua bộ môn Lịch sử, học sinh chưa có định hướng lựa chọn
    nghề nghiệp, trân trọng những di sản lịch sử, văn hóa của đất nước, khu vực và thế
    giới và cũng chưa thể hiện được những phẩm chất và năng lực của bản thân. Vậy
    làm thế nào để trong quá trình giảng dạy bộ môn Lịch sử ở trường THPT, thầy cô
    giáo có thể khơi dậy được ngọn lửa đam mê, phát triển được cao nhất phẩm chất
    và năng lực của học sinh?
    2. Những giải pháp đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát triển phẩm
    chất và năng lực của học sinh.
    Vậy cần hiểu thế nào về những phẩm chất và năng lực của học sinh có thể phát
    triển trong quá trình dạy học Lịch sử.
    – Về phẩm chất: 5 phẩm chất đó là: nhân ái, yêu nước, chăm chỉ, trung thực, trách
    nhiệm.
    – Về năng lực: 10 năng lực đó là:
    Những năng lực chung, được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần
    hình thành, phát triển: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác,
    năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
    Những năng lực chuyên môn, được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một
    số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, tính toán, tìm
    hiểu tự nhiên và xã hội, công nghệ, tin học, thẩm mỹ, thể chất.
    Năng lực đặc thù của bộ môn Lịch sử là: Tìm hiểu lịch sử, Nhận thức và tư duy
    lịch sử,Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học
    6
    Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát triển phẩm chất năng lực của học
    sinh thực chất là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng chuyển từ chương trình
    giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ
    quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được
    cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương
    pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng
    kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Tăng cường việc
    học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có
    ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những
    tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề
    học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
    Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và
    phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông
    tin…), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy.
    Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc
    thù của môn học để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng
    phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức
    với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.
    Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy
    học. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình
    thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài
    lớp… Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu
    cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng
    thú cho người học.
    Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định.
    Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học
    và phù hợp với đối tượng học sinh. Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong
    dạy học.
    7
    2.1. Phương pháp đồ dùng trực quan, đặc biệt là công nghệ thông tin trong
    quá trình dạy học
    2.1.1. Mục đích sử dụng
    Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp
    dạy học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học.
    Hiện nay, việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông
    từng bước được tăng cường. Tuy nhiên các phương tiện dạy học tự làm của giáo
    viên luôn có ý nghĩa quan trọng, cần được phát huy. Đa phương tiện và công nghệ
    thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là phương tiện dạy học trong dạy học hiện
    đại. Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần
    tăng cường sử dụng các phần mềm dạy học cũng như các phương pháp dạy học sử
    dụng mạng điện tử (E-Learning), mạng trường học kết nối, video, …
    Năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã Phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng công
    nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy – học, nghiên cứu khoa
    học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016 – 2020, định
    hướng đến năm 2025” Việc sử dụng công nghệ thông tin như giáo án điện tử,
    video…đã trở thành một phương tiện hữu hiệu cho giáo viên sử dụng trong quá
    trình giảng dạy góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng giờ dạy học
    Lịch sử nói riêng và các tiết dạy trong các môn học khác nói chung.
    Môn học Lịch sử là một môn học liên quan nhiều đến quá khứ, do vậy nó đòi
    hỏi giáo viên phải tăng cường sử dụng đồ dùng trực quan sinh động, đặc biệt là
    công nghệ thông tin. Theo triết học Mác – Lênin, nhận thức không phải là sự phản
    ánh thụ động, giản đơn, mà là một quá trình biện chứng. Như Lênin đã chỉ ra: “Từ
    trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó
    là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực
    khách quan”Việc vận dụng phương pháp dạy học qua phương tiện trực quan sẽ
    giúp giáo viên hình thành ở học sinh các năng lực : Tìm hiểu lịch sử, Nhận thức,
    tư duy lịch sử.
    2.1.2. Cách thức sử dụng
    8
    VD. Khi giảng dạy về Bài 3+4: Chuyên đề Các quốc gia cổ đại phương
    Đông và phương Tây trong chương trình Lịch sử lớp 10 THPT
    Đây là bài giảng về thời cổ đại, cách ngày nay đã mấy nghìn năm lịch sử, học
    sinh sẽ rất khó hình dung lại quá khứ, do vậy giáo viên cần sử dụng tư liệu Lịch sử
    bằng hình ảnh để minh họa cho học sinh hiểu được một cách trung thực và khách
    quan về những thành tựu văn hóa của người phương Đông và phương Tây, để từ
    đó đưa ra được những nhận xét đánh giá một cách công bằng, khách quan nhất về
    nền văn hóa của hai khu vực.
    Văn hóa cổ đại phương Đông và văn hóa cổ đại phương Tây
    – Hoạt động 1: Văn hóa cổ đại phương Đông
    * Mục tiêu: Trình bày được một số thành tựu văn hoá cổ đại phương Đông, giúp
    học sinh nhận thức được những giá trị văn hóa của người phương Đông cổ đại và
    đóng góp của họ cho nhân loại hôm nay.
    Giáo dục học sinh thái độ trân trọng các giá trị văn hóa cổ đại.
    * Phương thức hoạt động: Giáo viên cho học sinh làm việc theo nhóm
    Bước 1: Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh:
    Nhóm 1: Quan sát hình 1 và kết hợp tìm hiểu SGK trình bày sự hiểu biết của người
    phương Đông về lịch học và thiên văn học.Nhận xét và đánh giá về ý nghĩa những
    thành tựu đó.
    Nhóm 2: Quan sát hình 2 và kết hợp tìm hiểu SGK trình bày sự hiểu biết của người
    phương Đông về chữ viết. Nhận xét và đánh giá vềý nghĩa về những thành tựu đó.
    Nhóm 3: Quan sát hình 3 và kết hợp tìm hiểu SGK trình bày sự hiểu biết của người
    phương Đông về Toán học. Nhận xét và đánh giá về ý nghĩa của những thành tựu
    đó.
    Nhóm4: Quan sát hình 4,5 và kết hợp tìm hiểu SGK trình bày sự hiểu biết của
    người phương Đông về kiến trúc. Nhận xét và đánh giá về ý nghĩa những thành
    tựu đó.
    9
    Hình 1. Lịch học của người Maya- một thành tựu văn minh tuyệt vời
    Hình 2. Chữ viết của người phương Đông cổ đại.
    10
    Hình 3. Toán học thời cổ đại
    Hình 4. Vườn treo Ba-bi-lon (Lưỡng Hà)
    11
    Hình 5. Kim tự tháp ở Ai Cập
    * Gợi ý sản phẩm
    Nhóm 1: Sự ra đời của lịch và thiên văn học
    – Nguyên nhân :Thiên văn học và lịch là 2 ngành khoa học ra đời sớm nhất, gắn
    liền với nhu cầu sản xuất nông nghiệp.
    + Để cày cấy đúng thời vụ, người nông dân đều phải “trông Trời, trông Đất”. Họ
    quan sát chuyển động của mặt Trăng, mặt Trời và từ đó sáng tạo ra lịch.
    + Nông lịch (lịch nông nghiệp), lấy 365 ngày là một năm và chia làm 12 tháng, họ
    biết chia mùa: mùa mưa, mùa khô, họ chia mỗi ngày thành 24 giờ
    + Mở rộng hiểu biết: Con người đã vươn tầm mắt tới trời, đất, trăng, sao vì mục
    đích làm ruộng của mình và nhờ đó đã sáng tạo ra hai ngành thiên văn học và phép
    tính lịch
    Nhóm 2: Chữ viết
    + Nguyên nhân: Chữ viết ra đời là do xã hội ngày càng phát triển, các mối quan
    hệ phong phú, đa dạng. Hơn nữa do nhu cầu ghi chép, cai trị, lưu giữ những kinh
    nghiệm mà chữ viết đã ra đời.
    + Ban đầu là chữ tượng hình, sau đó là tượng ý, tượng thanh.
    12
    Chữ viết xuất hiện vào thiên niên kỷ thứ IV TCN mà sớm nhất là ở Ai Cập và
    Lưỡng Hà. Ban đầu là chữ tượng hình (vẽ hình giống vật để biểu thị), sau này
    người ta cách điệu hóa chữ tượng hình thành nét và ghép các nét theo quy ước để
    phản ánh ý nghĩa con người một cách phong phú hơn gọi là chữ tượng ý.
    + Chất liệu: Người Ai Cập viết trên giấy pa- pi- rút (vỏ cây sậy cán mỏng), người
    Lưỡng Hà viết trên đất sét rồi đem nung khô, người Trung Quốc viết trên mai rùa,
    thẻ tre, trúc hoặc trên lụa bạch,…
    – Ý nghĩa sự ra đời của chữ viết: Đây là phát minh quan trọng nhất, nhờ nó mà
    chúng ta hiểu được phần nào lịch sử thế giới cổ đại.
    Nhóm 3: Toán học
    – Nguyên nhân ra đời: Do nhu cầu tính lại diện tích ruộng đất sau khi bị ngập
    nước, tính toán vật liệu và kích thước khi xây dựng các công trình xây dựng, tính
    các khoảng nợ nần nên toán học.
    + Thành tựu: Người Ai Cập giỏi về tính hình học, họ đã biết cách tính diện tích
    hình tam giác, hình thang,… họ còn tính được số Pi bằng 3,16 (tương đối),… Người
    Lưỡng Hà hay đi buôn xa giỏi về số học, hoc có thể làm các phép tính nhân, chia
    cho tới hàng triệu. Người Ấn Độ phát minh ra số 0,…
    Nhóm 4: Kiến trúc
    – Nguyên nhân ra đời: Do uy quyền của các nhà vua mà hàng loạt các công trình
    kiến trúc đã ra đời: Kim tự tháp Ai Cập, vườn treo Ba-bi-lon…
    – Kim tự tháp: Ra đời 3000 – 2000 năm TCN rải rác ở xa mạc, hạ lưu sông Nin.
    Cao khoảng 146,5 m gần bằng tòa nhà 50 tầng, cạnh 230 m, diện tích 52,9 m vuông.
    Được xây 30 vạn tảng đá, mỗi tảng 2,5 đến 7 tấn xếp chồng khít lên nhau.
    – Giữa có hành lang hẹp, phòng lớn có xác ướp Pharaon, có khắc chữ khoa học…
    Những công trình này là những kì tích về sức lao động và tài năng sáng tạo của
    con người.
    Hoạt động 2. Tìm hiểu về văn hóa cổ đại Hi Lạp, Rô-ma
    * Mục tiêu: HS nắm được các thành tựu nổi bật của văn hóa Hi Lạp, Rô-ma thời
    cổ đại và ý nghĩa lịch sử của các thành tựu đó.
    13
    So sánh đánh giá về sự phát triển và tính kế thừa, tính sáng tạo của văn hóa phương
    Tây so với phương Đông
    * Phương thức: Hoạt động: Nhóm/lớp
    – Giáo viên chia lớp thành 3 nhóm và giao nhiệm vụ:
    Quan sát các hình ảnh sau và làm việc theo nhóm
    Hình 1. Lược đồ quốc gia cổ đại Hi Lạp và Rô-ma
    Hình 2. Thuyết địa tâm của Ptôlêmê
    14
    Hình 3. Chữ cái La tinh
    Hình 4. Đền Pác-tê-nông (Hi Lạp)
    15
    Hình 5. Tượng người lực sĩ ném đĩa.
    Hình 6. Khải hoàn môn La Mã
    16
    Hình 7.Đấu trường Cô-li-dê
    Nhóm 1:
    – Câu hỏi:Quan sát hình 2,3 đọc tư liệu SGK trình bày những hiểu biết của cư
    dân Địa Trung Hải về lịch và chữ viết? So với cư dân cổ đại phương Đông có gì
    tiến bộ hơn? Ý nghĩa của việc phát minh ra chữ viết?
    Nhóm 2:
    – Trả lời câu hỏi: Trình bày những hiểu biết về các lĩnh vực khoa học của cư dân
    Địa Trung Hải? Tại sao nói: “Khoa hoạc đã có từ lâu nhưng đến Hi Lạp, Rô-ma,
    khoa học mới thực sự trở thành khoa học” ?
    Nhóm 3:
    – Câu hỏi:Quan sát hình 4,5,6,7 đọc tư liệu SGK trình bày những hiểu biết của cư
    dân Địa Trung Hải về văn học- nghệ thuật? So với cư dân cổ đại phương Đông
    những thành tựu về văn học, nghệ thuật của cư dân cổ đại Địa Trung Hải? Nhận
    xét về giá trị của các tác phẩm văn học và nghệ thuật Hi Lạp, Rô-ma?
    * Dự kiến sản phẩm:
    Nhóm 1: Lịch và chữ viết
    17
    + Người Hi Lạp đã có hiểu biết chính xác hơn về Trái Đất và hệ Mặt Trời. Nhờ đi
    biển, họ đã thấy Trái Đất không phải như cái đĩa mà như hình quả cầu tròn. Người
    Rô-ma đã tính được 1 năm có 365 ngày và ¼ nên họ định 1 tháng lần lượt có 30
    và 31 ngày, riêng tháng 2 có 28 ngày.
    + Cuộc sống bôn ba trên biển, trình độ phát triển của nền kinh tế đã đặt ra cho cư
    dân Địa Trung Hải nhu cầu sáng tạo ra chữ viết gồm các kí hiệu đơn giản, nhưng
    phải có khả năng ghép chữ rất linh hoạt thành từ để thể hiện ý nghĩ của con người.
    Hệ thống chữ cái ra đời, ban đầu gồm 20 chữ, sau thêm 6, làm thành hệ thống chữ
    cái hoàn chỉnh ngày nay.
    Nhận xét: Lịch học cư dân Địa Trung Hải đã nâng cao hiểu biết, rút kinh nghiệm
    và cải tiến lịch chính xác hơn (một năm có 365 ngày và ¼, mỗi tháng lần lượt có
    30, 31 ngày, riêng tháng 2 có 28 ngày).
    – Chữ viết: đạt trình độ khái quát hóa của khoa học và tư duy, là cống hiến lớn lao
    của cư dân Địa Trung Hải cho nền văn minh nhân loại.
    Nhóm 2: Sự ra đời của khoa học
    + Những hiểu biết khoa học đã có từ hàng nghìn năm trước. Nhưng phải đến thời
    Hi Lạp, Rô-ma, những hiểu biết đó mới thực sự trở thành khoa học.
    +Toán học: Với người Hi Lạp, toán học đã vượt lên trên việc ghi chép và giải các
    bài riêng biệt. Những nhà toán học mà tên tuổi vẫn còn lại đến ngày nay, để lại
    những định lí, định đề có giá trị khái quát cao.
    VD: Định lí nổi tiếng trong hình học của Ta-lét, những cống hiến của trường phái
    Pi-ta-go về tính chất của các số nguyên và định lí về các cạnh của tam giác vuông…
    sau nhiều thế kỉ vẫn là những kiến thức cơ sở của Toán học.
    + Vật lý: Phát minh về lực đẩy, ròng rọc, guồng nước, đòn bẩy …(Acsimet)
    – Giải thích: Thời Hy Lạp, Rô-ma, khoa học mới thực sự trở thành khoa học vì có
    độ chính xác của khoa học, được khái quát thành định lý, định luật, lí thuyết và
    được thực hiện bởi các nhà khoa học có tên tuổi, đặt nền móng cho ngành khoa
    học đó
    Nhóm 3: Văn học – Nghệ thuật
    Văn học:

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Một số giải pháp nâng cao hiệu quả phương pháp dạy học theo định hướng giáo dục STEM môn Công nghệ 11

    SKKN Một số giải pháp nâng cao hiệu quả phương pháp dạy học theo định hướng giáo dục STEM môn Công nghệ 11

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIÊN, HOAN CANH TAO RA SANG KIÊN
    Dạy học truyền thống là những cách thức dạy học quen thuộc được truyền từ
    lâu đời và được bảo tồn, duy trì qua nhiều thế hệ. Về cơ bản, phương pháp DH này lấy
    hoạt động của người thầy là trung tâm. Theo Frire – nhà xã hội học, nhà giáo dục học
    nổi tiếng người Braxin đã gọi PPDH này là “Hệ thống ban phát kiến thức”, là quá trình
    chuyển tải thông tin từ đầu thầy sang đầu trò. Thực hiện lối dạy này, giáo viên là người
    thuyết trình, diễn giảng, là “kho tri thức” sống, học sinh là người nghe, nhớ, ghi chép
    và suy nghĩ theo. Với PPDH truyền thống, giáo viên là chủ thể, là tâm điểm, học sinh
    là khách thể, là quỹ đạo. Giáo án dạy theo phương pháp này được thiết kế kiểu đường
    thẳng theo hướng từ trên xuống. Do đặc điểm hàn lâm của kiến thức nên nội dung bài
    dạy theo phương pháp truyền thống có tính hệ thống, tính logic cao. Song do quá đề
    cao người dạy nên nhược điểm của PPDH truyền thống là học sinh thụ động tiếp thu
    kiến thức, giờ dạy dễ đơn điệu, buồn tẻ, kiến thức thiên về lý luận, ít chú ý đến kỹ
    năng thực hành của người học; do đó kỹ năng hành dụng vào đời sống thực tế bị
    hạn chế.
    Rào cản lớn nhất trong nền giáo dục truyền thống là sự tách rời giữa bốn lĩnh
    vực quan trọng: Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật, Toán học. Sự tách rời này sẽ tạo ra
    khoảng cách lớn giữa học và làm, giữa nhà trường (nơi sử dụng nguồn nhân lực). HS
    đươc đào tạo theo mô hình truyền thống sẽ mất một khoảng thời gian dài để hiểu các
    cơ sở lí thuyết, nguyên lí, rồi chuyển chúng thành các ứng dụng thực tế trong khi kiến
    thức đã bị mài mòn. Hơn nữa, tư duy liên kết các sự vật, hiện tượng với các ứng dụng
    và kì thuật cũng rất hạn chế. Đây cũng chính là lí do mà HS Việt Nam, sau khi tốt
    nghiệp, khó có thể tìm kiếm được công việc phù hợp.
    Mặt khác, theo luật giáo dục 2005 – điều 28 mục 2 có nêu “ Phương pháp
    giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học
    sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự
    học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực
    tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” thì dạy
    học theo định hướng STEM là một giải pháp phát huy năng lực tự học, hợp tác, sáng
    tạo của người học để quá trình học tập đạt hiệu quả nhất đồng thời rèn luyện kĩ năng
    vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
    Đặc biệt, kiến thức môn Công nghệ 11 có rất nhiều ứng dụng trong thực tiễn.
    Tuy nhiên, HS còn chưa hứng thú với môn học do có tâm lý môn Công nghệ là môn
    không thi, nên việc áp dụng dạy học phù hợp là hết sức cần thiết. Từ đó, tôi đưa ra
    3
    sáng kiến kinh nghiệm: “ Một số giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học theo định hướng
    giáo dục STEM môn Công nghệ 11”.
    II. MÔ TA GIAI PHAP
    II.1. Mô ta giai phap trươc khi tao ra sang kiên
    a. Thuận lợi
    Giáo dục STEM là phương thức giáo dục tích hợp theo cách tiếp cận liên môn
    (interdisciplinary) và thông qua thực hành, ứng dụng. Thay vì dạy bốn môn học như
    các đối tượng tách biệt và rời rạc, STEM kết hợp chúng thành một mô hình học tập
    gắn kết dựa trên các ứng dụng thực tế. Qua đó, học sinh vừa học được kiến thức khoa
    học, vừa học được cách vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn. Giáo dục STEM sẽ phá
    đi khoảng cách giữa hàn lâm và thực tiễn, tạo ra những con người có năng lực làm việc
    “tức thì” trong môi trường làm việc có tính sáng tạo cao với những công việc đòi hỏi
    trí óc của thế kỷ 21. Điều này phù hợp với cách tiếp cận tích hợp trong Chương trình
    GDPT mới. Vì thế, tư tưởng này của giáo dục STEM cần được khai thác và đưa vào
    mạnh mẽ trong Chương trình GDPT mới.
    Giáo dục STEM đề cao đến việc hình thành và phát triển năng lực giải quyết
    vấn đề cho người học. Trong mỗi bài học theo chủ đề STEM, học sinh được đặt trước
    một tình huống có vấn đề thực tiễn cần giải quyết liên quan đến các kiến thức khoa
    học.Để giải quyết vấn đề đó, học sinh phải tìm tòi, nghiên cứu những kiến thức thuộc
    các môn học có liên quan đến vấn đề (qua sách giáo khoa, học liệu, thiết bị thí nghiệm,
    thiết bị công nghệ) và sử dụng chúng để giải quyết vấn đề đặt ra. Các kiến thức và kỹ
    năng này phải được tích hợp, lồng ghép và bổ trợ cho nhau giúp học sinh không chỉ
    hiểu biết về nguyên lý mà còn có thể thực hành và tạo ra được những sản phẩm trong
    cuộc sống hằng ngày. Tư tưởng này của giáo dục STEM cũng cần được khai thác và
    đưa vào mạnh mẽ trong Chương trình GDPT mới.
    Giáo dục STEM đề cao một phong cách học tập mới cho người học, đó là
    phong cách học tập sáng tạo. Đặt người học vào vai trò của một nhà phát minh, người
    học sẽ phải hiểu thực chất của các kiến thức được trang bị; phải biết cách mở rộng
    kiến thức; phải biết cách sửa chữa, chế biến lại chúng cho phù hợp với tình huống có
    vấn đề mà người học đang phải giải quyết. Sự thẩm thấu kiến thức theo cách như vậy
    chính là một trong những định hướng mà giáo dục cần tiếp cận. Tuy vậy, có thể thấy
    phương thức dạy học như trên là không hề dễ dàng ngay cả đối với thế giới chứ không
    chỉ riêng trong điều kiện hiện nay của chúng ta.
    Giáo dục STEM còn tạo cơ hội phát triển nâng cao chất lượng giáo dục.
    b. Kho khăn
    Do chưa “chương trình hóa” giáo dục STEM nên giáo viên rất khó khăn trong
    việc tổ chức các nội dung, chủ đề sao cho vừa đảm bảo yêu cầu của chương trình giáo
    dục phổ thông, vừa vận dụng được giáo dục STEM.
    Trình độ giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu khi giáo dục STEM cũng là một
    thách thức lớn. Giáo viên tốt nghiệp sư phạm chưa được tiếp cận về giáo dục STEM,
    chủ yếu tập trung giảng dạy về khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội, ít quan
    4
    tâm đến các lĩnh vực như công nghệ, kỹ thuật… Vì vậy, để thực hiện chương trình,
    cần thiết phải bồi dưỡng giáo viên.
    Cách kiểm tra, đánh giá hiện nay còn là rào cản trong giáo dục STEM. Việc
    kiểm tra, đánh giá hiện nay ở trường phổ thông được tổ chức theo hình thức làm bài thi
    trắc nghiệm kiểm tra kiến thức, kỹ năng, trong khi kiểm tra, đánh giá theo mô hình
    giáo dục STEM là thông qua sản phẩm, đánh giá quá trình. Vì vậy, nếu không đổi mới
    kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực thì đó sẽ là rào cản lớn nhất của việc
    triển khai giáo dục STEM.
    Giáo dục STEM chỉ đạt hiệu quả khi có sự phối hợp tốt giữa trường phổ thông
    với các trường đại học trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho
    giáo viên. Hiện nay chưa có sự phối hợp tốt giữa trường phổ thông với trường đại học
    và các viện nghiên cứu, tổ chức, doanh nghiệp.
    Quan trọng nhất là điều kiện cơ sở vật chất hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu
    đề ra khi triển khai giáo dục STEM. Sĩ số mỗi lớp học quá đông cũng gây khó khăn
    cho tổ chức hoạt động, cản trở việc đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên.
    Không có phòng học STEM hoặc phòng thực hành để học sinh có nơi làm việc nhóm,
    nghiên cứu, thí nghiệm cũng là một khó khăn. Ngoài ra, với các nội dung học tập
    chuyên sâu hơn như khoa học máy tính, robotic, lập trình thì cần đầu tư kinh phí lớn
    hơn.
    II.2. Giai phap sau khi co sang kiên
    II.2.1. Phân môt: Cơ sở lý luận
    1. STEM là gì?
    Giáo dục STEM vận dụng phương pháp học tập chủ yếu dựa trên thực hành và
    các hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Các phương pháp giáo dục tiến bộ, linh hoạt nhất
    như Học qua dự án – chủ đề, Học qua trò chơi và đặc biệt phương pháp h ọc qua hành
    luôn dduowwjc áp dụng triệt để cho các môn học tích hợp STEM. Với phương pháp
    “học qua hành”, HS được thu nhận kiến thức từ kinh nghiệm thực hành chứ không
    phải từ lí thuyết. Bằng cách xây dựng các bài giảng theo chủ đề và dựa trên thực hành,
    HS sẽ hiểu sâu về lí thuyết, nguyên lí thông qua các hoạt động thực tế. Chính các hoạt
    động thực tế này sẽ giúp HS nhớ lâu hơn. HS sẽ được làm việc theo nhóm, tự thảo
    luận tìm tòi kiến thức, tự vận dụng kiến thức vào các hoạt động thực hành rồi sau đó
    có thể truyền đạt lại kiến thức cho người khác. Với cách học này, GV không còn là
    người truyền đạt kiến thức mà sẽ là người hướng dẫn để HS tự xây dựng kiến thức cho
    mình.
    Giao duc STEM là gi?
    Giáo dục STEM về bản chất được hiểu là trang bị cho người học những kiến thức
    và kỹ năng cần thiết liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán
    học. Các kiến thức và kỹ năng này phải được tích hợp, lồng ghép và bổ trợ cho nhau,
    giúp học sinh không chỉ hiểu biết về nguyên lý mà còn có thể thực hành và tạo ra được
    những sản phẩm trong cuộc sống hằng ngày. Giáo dục STEM sẽ thu hẹp khoảng cách
    giữa hàn lâm và thực tiễn, tạo ra những con người có năng lực làm việc “tức thì” trong
    môi trường có tính sáng tạo cao và sử dụng trí óc có tính chất công việc ít lặp lại trong
    thế kỷ 21.
    5
    Cac kỹ năng STEM được hiểu như thê nào?
    Giáo dục STEM không phải là để học sinh trở thành những nhà toán học, nhà
    khoa học, kỹ sư hay những kỹ thuật viên mà là phát triển cho học sinh các kỹ năng có
    thể được sử dụng để làm việc và phát triển trong thế giới công nghệ hiện đại ngày nay.
    Vâng, đó chính là kỹ năng STEM. Kỹ năng STEM được hiểu là sự tích hợp, lồng ghép
    hài hòa từ bốn nhóm kỹ năng là: Kỹ năng khoa học, kỹ năng công nghệ, kỹ năng kỹ
    thuật và kỹ năng toán học.
    Kỹ năng khoa học: là khả năng liên kết các khái niệm, nguyên lý, định luật và
    các cơ sở lý thuyết của giáo dục khoa học để thực hành và sử dụng kiến thức này để
    giải quyết các vấn đề trong thực tế.
    Kỹ năng công nghệ: Là khả năng sử dụng, quản lý, hiểu biết, và truy cập được
    công nghệ. Công nghệ là từ những vật dụng hằng ngày đơn giản nhất như quạt mo, bút
    chì đến những hệ thống sử dụng phức tạp như mạng internet, mạng lưới điện quốc gia,
    vệ tinh… Tất cả những thay đổi của thế giới tự nhiên mà phục vụ nhu cầu của con
    người thì được coi là công nghệ.
    Kỹ năng kỹ thuật: Là khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn diễn ra trong cuộc
    sống bằng cách thiết kế các đối tượng, hệ thống và xây dựng các quy trình sản xuất để
    tạo ra đối tượng. Hiểu một cách đơn giản, học sinh được trang bị kỹ năng kỹ thuật là
    có khả năng sản xuất ra đối tượng và hiểu được quy trình để làm ra nó. Học sinh phải
    có khả năng phân tích, tổng hợp và kết hợp để biết cách làm thế nào cân bằng các yếu
    tố liên quan (như khoa học, nghệ thuật, công nghệ, kỹ thuật) để có được một giải pháp
    tốt nhất trong thiết kế và xây dựng quy trình. Ngoài ra, học sinh còn có khả năng nhìn
    nhận ra nhu cầu và phản ứng của xã hội trong những vấn đề liên quan đến kỹ thuật.
    Kỹ năng toan học: Là khả năng nhìn nhận và nắm bắt được vai trò của toán học
    trong mọi khía cạnh tồn tại trên thế giới. Học sinh có kỹ năng toán học sẽ có khả năng
    thể hiện các ý tưởng một cách chính xác, áp dụng các khái niệm và kĩ năng toán học
    vào cuộc sống hằng ngày.
    Giao duc STEM còn cung cấp những kỹ năng gi?
    Ngoài những kỹ năng về khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học, giáo dục
    STEM còn cung cấp cho học sinh những kỹ năng cần thiết giúp học sinh phát triển tốt
    trong thế kỷ 21 như: kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy phản biện, kỹ năng cộng tác, kỹ
    năng giao tiếp…
    Kỹ năng giải quyết vấn đề là kỹ năng rất cần cho học sinh trong thế kỷ 21, thế kỷ mà
    số lượng các công việc có tính chất sáng tạo và không lặp đi lặp lại tăng mạnh, đòi hỏi
    người lao động phải chủ động trang bị năng lực giải quyết vấn đề. Tư duy phản biện
    được hiểu là một quá trình tư duy và phân tích thông tin theo một hướng khác của một
    vấn đề để từ đó làm sáng tỏ và khẳng định lại vấn đề. Đây thực sự là một cách tiếp cận
    tốt trong giáo dục mà vốn từ xưa tới nay, học sinh tiếp nhận thông tin, kiến thức từ
    giáo viên một cách thụ động. Tư duy phản biện sẽ giúp học sinh hiểu vấn đề sâu hơn,
    hình thành lối suy nghĩ logic và kỹ năng xử lý thông tin tốt hơn. Kỹ năng cộng tác và
    giao tiếp cũng là các kỹ năng vô cùng quan trọng để phát triển trong thế kỷ 21 bởi các
    công việc ngày càng đòi hỏi sự chia sẻ, giao tiếp và các kỹ năng này sẽ khiến vấn đề
    được giải quyết một cách nhanh chóng, trôi chảy và mang lại hiệu quả cao.
    Vai trò của Công nghệ (T) và Kỹ thuật (E)
    6
    Chương trình giáo dục của thế kỷ 20 chủ yếu tập trung vào Khoa học (S) và Toán
    học (M) mà xem nhẹ vai trò của Công nghệ (T) và Kỹ thuật (E). Không chỉ cần Toán
    học và Khoa học, trong thế kỷ 21 chúng ta còn cần Công nghệ và Kỹ thuật cũng như
    các kỹ năng cần thiết như: kỹ năng tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, làm việc theo
    nhóm, và cộng tác. Các kỹ năng về kĩ thuật cho phép học sinh có thể tiếp cận những
    phương pháp, nền tảng để thiết kế và xây dựng các thiết bị từ đơn giản đến phức tạp
    mà xã hội cần hoặc đã và đang sử dụng. Học sinh được cung cấp các kiến thức về công
    nghệ sẽ có khả năng sử dụng công nghệ thành thạo, đem lạitính hiệu quả cao hơn,
    nhanh hơn, chính xác trong công việc. Nếu nền giáo dục không có T and E thì học sinh
    chỉ được trang bị lý thuyết, khái niệm, nguyên lý, công thức, định luật mà không được
    trang bị kiến thức để áp dụng vào thực tiễn. Vì vậy, việc kết hợp các kỹ năng STEM
    ngày càng trở nên quan trọng trong thế kỷ 21.
    Môn học STEM là gì?
    STEM là môn học mà học sinh được học các kiến thức về khoa học, công nghệ,
    kỹ thuật và toán học một cách tích hợp. Thông thường, các môn học STEM được thiết
    kế ở dạng chủ đề và học sinh được học kiến thức tích hợp dựa trên các chủ đề này. Ví
    dụ, khi học một chủ đề về hệ mặt trời, học sinh không chỉ đơn thuần học về khoa học
    để nghiên cứu xem hệ mặt trời gồm những thành phần nào hay đặc điểm của chúng ra
    sao mà còn được học những ý tưởng phát hiện ra kính thiên văn (tức là tìm hiểu Công
    nghệ), học về giá đỡ cho kính thiên văn (liên quan đến môn Kỹ thuật), hay học cách
    tính tỷ lệ khoảng cách giữa các ngôi sao hay bán kính của các ngôi sao (chính là môn
    Toán học). Môn học Robotics chính là môn học điển hình cho giáo dục STEM.
    2. Day học theo đinh hương giao duc STEM
    Một bài giang STEM luôn cần gắn với thực tế để học sinh cảm thấy sự liên quan giữa
    bài học và cuộc sống của chính mình, từ đó giúp học sinh nhận ra giá trị của các kiến thức và
    kĩ năng được học, đồng thời rèn luyện tư duy giải quyết vấn đề thực tế ngay từ khi còn đang
    còn ngồi trên ghế nhá trường.
    Như đã giới thiệu, một trong những cách để tạo nên bài giảng như vậy đó là hướng
    dẫn học sinh quan sát và phân tích 1 vấn đề dưới nhiều góc độ thực tế, tránh nói chung chung,
    xa vời và quá sâu xa. Bên cạnh đó, đòi hỏi giáo viên cần phải nắm được các hoạt động thực tế
    mà học sinh cần phải thực hiện như sau:
    2.1. Để thiêt kê bài giang STEM giao viên cân nắm được 3 hoat đông thực tê mà
    học sinh cân thực hiện
    2.1.1. Hoat đông tim hiểu thực tiễn, phat hiện vấn đề
    Trong các bài giang STEM, học sinh được đặt trước các nhiệm vụ thực tiễn: giải
    quyết một tình huống hoặc tìm hiểu, cải tiến một ứng dụng kĩ thuật nào đó. Thực hiện nhiệm
    vụ này, học sinh cần phải thu thập được thông tin, phân tích được tình huống, giải thích được
    ứng dụng kĩ thuật từ đó xuất hiện các câu hỏi hoặc xác định được vấn đề cần giải quyết.
    2.1.2. Hoat đông nghiên cưu kiên thưc nền
    Từ những câu hỏi hoặc vấn đề cần giải quyết, học sinh được yêu cầu/hướng dẫn tìm
    tòi, nghiên cứu để tiếp nhận kiến thức, kĩ năng cần sử dụng cho việc trả lời câu hỏi hay giải
    quyết vấn đề. Đó là những kiến thức, kĩ năng đã biết hay cần dạy cho học sinh trong chương
    trình giáo dục phổ thông.
    7
    Hoạt động này bao gồm: nghiên cứu tài liệu khoa học (bao gồm sách giáo khoa); quan
    sát/thực hiện các thí nghiệm, thực hành; giải các bài tập/tình huống có liên quan để nắm vững
    kiến thức, kĩ năng.
    2.1.3. Hoat đông giai quyêt vấn đề
    Về bản chất, hoạt động giải quyết vấn đề là hoạt động sáng tạo khoa học, kĩ thuật, nhờ
    đó giúp cho học sinh hình thành và phát triển các phẩm chất và năng lực cần thiết thông qua
    việc đề xuất và kiểm chứng các giả thuyết khoa học hoặc đề xuất và thử nghiệm các giải pháp
    kĩ thuật. Tương ứng với đó, có hai loại sản phẩm là “kiến thức mới” (dự án khoa học) và
    “công nghệ mới” (dự án kĩ thuật).
    Đối với hoạt động sáng tạo khoa học: kết quả nghiên cứu là những đề xuất mang tính
    lí thuyết được rút ra từ các số liệu thu được trong thí nghiệm kiểm chứng giả thuyết khoa học.
    Ví dụ: tìm ra chất mới; yếu tố mới, quy trình mới tác động đến sự vật, hiện tượng, quá trình
    trong tự nhiên…
    Đối với hoạt động sáng tạo kĩ thuật: kết quả nghiên cứu là sản phẩm mang tính ứng
    dụng thể hiện giải pháp công nghệ mới được thử nghiệm thành công. Ví dụ: dụng cụ, thiết bị
    mới; giải pháp kĩ thuật mới…
    2.2. Để tổ chưc được cac hoat đông noi trên, mỗi bài giang STEM cân phai được
    xây dựng theo 6 tiêu chí sau:
    Tiêu chí 1: Chủ đề bài học STEM tập trung vào cac vấn đề của thực tiễn
    Trong các bài học STEM, học sinh được đặt vào các vấn đề thực tiễn xã hội, kinh tế,
    môi trường và yêu cầu tìm các giải pháp.
    Tiêu chí 2: Cấu trúc bài học STEM theo quy trinh thiêt kê kĩ thuật
    Quy trình thiết kế kĩ thuật cung cấp một tiến trình linh hoạt đưa học sinh từ việc xác
    định một vấn đề – hoặc một yêu cầu thiết kế – đến sáng tạo và phát triển một giải pháp. Theo
    quy trình này, học sinh thực hiện các hoạt động:
    Trong thực tiễn dạy học, quy trình 8 bước này được thể hiện qua 5 hoạt động chính:
    8
    Hoạt động 1: Xác định vấn đề (yêu cầu thiết kế, chế tạo)
    Hoạt động 2: Nghiên cứu kiến thức nền và đề xuất các giải pháp thiết kế
    Hoạt động 3: Trình bày và thảo luận phương án thiết k
    Hoạt động 4: Chế tạo mô hình/thiết bị… theo phương án thiết kế (đã được cải tiến theo
    góp ý); thử nghiệm và đánh giá
    Hoạt động 5: Trình bày và thảo luận về sản phẩm được chế tạo; điều chỉnh thiết kế ban
    đầu. Trong quy trình kĩ thuật, các nhóm học sinh thử nghiệm các ý tưởng dựa nghiên cứu của
    mình, sử dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau, mắc sai lầm, chấp nhận và học từ sai lầm, và
    thử lại. Sự tập trung của học sinh là phát triển các giải pháp để giải quyết vấn đề đặt ra, nhờ
    đó học được và vận dụng được kiến thức mới trong chương trình giáo dục.
    Tiêu chí 3: Phương phap day học bài học STEM đưa học sinh vào hoat
    đông tim tòi và kham pha, đinh hương hành đông, trai nghiệm và san phẩm
    Quá trình tìm tòi khám phá được thể hiện trong tất cả các hoạt động của chủ đề
    STEM, tuy nhiên trong hoạt động 2 và hoạt động 4 quá trình này cần được khai thác
    triệt để. Trong hoạt động 2 học sinh sẽ thực hiện các quan sát, tìm tòi, khám phá để
    xây dựng, kiểm chứng các quy luật, qua đó học được kiến thức nền đồng thời rèn
    luyện các kĩ năng tiến trình như: quan sát, đưa ra dự đoán, tiến hành thí nghiệm, đo
    đạc, thu thập số liệu, phân tích số liệu… Trong hoạt động 4, quá trình tìm tòi khám
    phá được thể hiện giúp học sinh kiểm chứng các giải pháp khác nhau để tối ưu hoá sản
    phẩm.
    Trong các bài giảng STEM, hoạt động học của học sinh được thực hiện theo hướng
    mở có “khuôn khổ” về các điều kiện mà học sinh được sử dụng (chẳng hạn các vật liệu
    khả dụng). Hoạt động học của học sinh là hoạt động được chuyển giao và hợp tác; các
    quyết định về giải pháp giải quyết vấn đề là của chính học sinh. Học sinh thực hiện các
    hoạt động trao đổi thông tin để chia sẻ ý tưởng và tái thiết kế nguyên mẫu của mình
    nếu cần. Học sinh tự điều chỉnh các ý tưởng của mình và thiết kế hoạt động tìm tòi,
    khám phá của bản thân.
    Tiêu chí 4: Hinh thưc tổ chưc bài học STEM lôi cuốn học sinh vào hoat
    đông nhom kiên tao
    Giúp học sinh làm việc trong một nhóm kiến tạo là một việc khó khăn, đòi hỏi
    tất cả giáo viên STEM ở trường làm việc cùng nhau để áp dụng phương thức dạy học
    theo nhóm, sử dụng cùng một ngôn ngữ, tiến trình và yêu cầu về sản phẩm học tập mà
    học sinh phải hoàn thành. Làm việc nhóm trong thực hiện các hoạt động của bài học
    STEM là cơ sở phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh.
    Tiêu chí 5: Nôi dung bài học STEM ap dung chủ yêu từ nôi dung khoa học
    và toan mà học sinh đã và đang học
    Trong các bài học STEM, giáo viên cần kết nối và tích hợp một cách có mục
    đích nội dung từ các chương trình khoa học, công nghệ, tin học và toán. Lập kế hoạch
    để hợp tác với các giáo viên toán, công nghệ, tin học và khoa học khác để hiểu rõ nội
    hàm của việc làm thế nào để các mục tiêu khoa học có thể tích hợp trong một bài học
    đã cho. Từ đó, học sinh dần thấy rằng khoa học, công nghệ, tin học và toán không phải
    9
    là các môn học độc lập, mà chúng liên kết với nhau để giải quyết các vần đề. Điều đó
    có liên quan đến việc học toán, công nghệ, tin học và khoa học của học sinh.
    Tiêu chí 6: Tiên trinh bài học STEM tính đên co nhiều đap an đúng và coi
    sự thất bai như là môt phân cân thiêt trong học tập
    Một câu hỏi nghiên cứu đặt ra, có thể đề xuất nhiều giả thuyết khoa học; một
    vấn đề cần giải quyết, có thể đề xuất nhiều phương án, và lựa chọn phương án tối ưu.
    Trong các giả thuyết khoa học, chỉ có một giả thuyết đúng. Ngược lại, các phương án
    giải quyết vấn đề đều khả thi, chỉ khác nhau ở mức độ tối ưu khi giải quyết vấn đề.
    Tiêu chí này cho thấy vai trò quan trọng của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
    trong dạy học STEM.
    2.3. Quy trinh 4 bươc trong thiêt kê bài giang STEM
    Bươc 1: Lựa chọn chủ đề bài học
    Căn cứ vào nội dung kiến thức trong chương trình môn học và các hiện tượng,
    quá trình gắn với các kiến thức đó trong tự nhiên; quy trình hoặc thiết bị công nghệ có
    sử dụng của kiến thức đó trong thực tiễn… để lựa chọn chủ đề của bài học. Những ứng
    dụng đó có thể là: Sữa chua/dưa muối – Vi sinh vật – Quy trình làm sữa chua/muối
    dưa; Thuốc trừ sâu – Phản ứng hóa học – Quy trình xử lí dư lượng thuốc trừ sâu; Hóa
    chất – Phản ứng hóa học – Quy trình xử lí chất thải; Sau an toàn – Hóa sinh – Quy
    trình trồng rau an toàn; Cầu vồng – Ra đar – Máy quang phổ lăng kính; Kính tiềm
    vọng, kính mắt; Ống nhòm, kính thiên văn; Sự chìm, nổi – lực đẩy Ác–si–mét –
    Thuyền/bè; Hiện tượng cảm ứng điện từ – Định luật Cảm ứng điện từ và Định luật
    Lenxơ – Máy phát điện/động cơ điện; Vật liệu cơ khí; Các phương pháp gia công cơ
    khí; Các cơ cấu truyền và biến đổi chuyển động; Các mối ghép cơ khí; Mạch điện điều
    khiển cho ngôi nhà thông minh…
    Bươc 2: Xac đinh vấn đề cân giai quyêt
    Sau khi chọn chủ đề của bài học, cần xác định vấn đề cần giải quyết để giao cho
    học sinh thực hiện sao cho khi giải quyết vấn đề đó, học sinh phải học được những
    kiến thức, kĩ năng cần dạy trong chương trình môn học đã được lựa chọn (đối với
    STEM kiến tạo) hoặc vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã biết (đối với STEM vận
    dụng) để xây dựng bài học. Theo những ví dụ nêu trên, nhiệm vụ giao cho học sinh
    thực hiện trong các bài học có thể là: Thiết kế, chế tạo một máy quang phổ đơn giản
    trong bài học về bản chất sóng của ánh sáng; Thiết kế, chế tạo một ống nhòm đơn giản
    khi học về hiện tượng phản xạ và khúc xạ ánh sáng; Chế tạo bè nổi/thuyền khi học về
    Định luật Ác–si–mét; Chế tạo máy phát điện/động cơ điện khi học về cảm ứng điện từ;
    Thiết kế mạch lôgic khi học về dòng điện không đổi; Thiết kế robot leo dốc, cầu bắc
    qua hai trụ, hệ thống tưới nước tự động, mạch điện cảnh báo và điều khiển cho ngôi
    nhà thông minh; Xây dựng quy trình làm sữa chua/muối dưa; Xây dựng quy trình xử lí
    dư lượng thuốc trừ sâu trong rau/quả; Xây dựng quy trình xử lí hóa chất ô nhiễm trong
    nước thải; Quy trình trồng rau an toàn… Trong quá trình này, việc thử nghiệm chế tạo
    trước các nguyên mẫu có thể hỗ trợ rất tốt quá trình xây dựng chủ đề. Qua quá trình
    xây dựng, giáo viên có thể hình dung các khó khăn học sinh có thể gặp phải, các cơ
    10
    hội vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề cũng như xác định được đúng đắn các tiêu
    chí của sản phẩm trong bước 3.
    Bươc 3: Xây dựng tiêu chí của thiêt bi/giai phap giai quyêt vấn đề
    Sau khi đã xác định vấn đề cần giải quyết/sản phẩm cần chế tạo, cần xác định rõ
    tiêu chí của giải pháp/sản phẩm. Những tiêu chí này là căn cứ quan trọng để đề xuất
    giả thuyết khoa học/giải pháp giải quyết vấn đề/thiết kế mẫu sản phẩm. Đối với các ví
    dụ nêu trên, tiêu chí có thể là: Chế tạo máy quang phổ sử dụng lăng kính, thấu kính hội
    tụ; tạo được các tia ánh sáng màu từ nguồn sáng trắng; Chế tạo ống nhòm/kính thiên
    văn từ thấu kính hội tụ, phân kì; quan sát được vật ở xa với độ bội giác trong khoảng
    nào đó; Quy trình sản xuất sữa chua/muối dưa với tiêu chí cụ thể của sản phẩm (độ
    ngọt, độ chua, dinh dưỡng…); Quy trình xử lí dư lượng thuốc trừ sâu với tiêu chí cụ thể
    (loại thuốc trừ sâu, độ “sạch” sau xử lí); Quy trình trồng rau sạch với tiêu chí cụ thể
    (“sạch” cái gì so với rau trồng thông thường)… Các tiêu chí cũng phải hướng tới việc
    định hướng quá trình học tập và vận dụng kiến thức nền của học sinh chứ không nên
    chỉ tập trung đánh giá sản phẩm vật chất.
    Bươc 4: Thiêt kê tiên trinh tổ chưc hoat đông day học.
    Tiến trình tổ chức hoạt động dạy học được thiết kế theo các phương pháp và kĩ
    thuật dạy học tích cực với 5 loại hoạt động học đã nêu ở trên. Mỗi hoạt động học được
    thiết kế rõ ràng về mục đích, nội dung và sản phẩm học tập mà học sinh phải hoàn
    thành. Các hoạt động học đó có thể được tổ chức cả ở trong và ngoài lớp học (ở
    trường, ở nhà và cộng đồng). Cần thiết kế bài học điện tử trên mạng để hướng dẫn, hỗ
    trợ hoạt động học của học sinh bên ngoài lớp học.
    II.2.2. Phân hai: Nôi dung
    1. Điều kiện cân thiêt để ap dung giai phap
    – Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về STEM.
    – Thiết kế và xây dựng phòng học STEM cả về lí thuyết và thực hành.
    – Kích thích sự hứng thú của HS khi nghiên cứu về STEM.
    – Bám sát chủ đề STEM cấp Trung học cơ sở.
    – Huy động kinh phí.
    – Nghiên cứu, liên kết với các trường Đại học.
    2. Tính mơi, tính sang tao của giai phap
    Dạy học theo định hướng giáo dục STEM môn công nghệ 11 đạt được các yêu
    cầu đổi mới đó là: định hướng vào người học, định hướng vào thực tiễn và định hướng
    vào sản phẩm.
    11
    Tôi đã xây dựng và triển khai có hiệu quả chủ đề sau:
    “Thiết kế mô hình ngôi nhà chống thiên tai (bão, lũ)”.
    Bảng mô tả minh họa tính mới, tính sáng tạo, tính ưu việt của giải pháp mới so
    với giải pháp cũ:
    a. Xây dựng hệ thống chủ đề ap dung việc day học theo đinh hương giao duc
    STEM môn công nghệ 11

    Chủ đề thực tiễnKiên thưc môn Công nghệ
    Mô hình nhà đơn giản
    Mô hình ngôi nhà chống thiên tai (bão,
    lũ)
    Mô hình hộp đựng đồ dùng học tập
    Bài 2. Hình chiếu vuông góc
    Bài 5. Hình chiếu trục đo
    Bài 8. Thiết kế và bản vẽ kỹ thuật
    Bài 11. Bản vẽ xây dựng
    Cánh tay robotBài 19. Tự động hóa trong chế tạo cơ khí

    b. So sanh giai phap cũ và giai phap mơi

    Giai phap cũGiai phap mơi
    – Dạy các bài theo phân phối chương trình
    và chuẩn kiến thức kĩ năng.
    – Dạy đơn bài
    – Chỉ thực hiện trong phạm vi lớp học.
    – Trong giờ học chỉ tổ chức được 1 đến 2
    hoạt động nhóm cho học sinh thảo luận.
    – Không thực hiện được các hoạt động trải
    nghiệm cho học sinh.
    – Xây dựng được kế hoạch thực hiện và ý
    tưởng một cách chi tiết cho cả chủ đề.
    – Thiết kế được mô hình ngôi nhà chống
    thiên tai từ đồ tái chế bảo vệ môi trường.
    – Thiết kế có thể được sử dụng trong thực
    tế áp dụng cho các Tỉnh miền Trung trong
    mùa bão lũ.

    c. Ví du minh họa môt chủ đề STEM trong môn Công nghệ 11

    Nôi dungGiai phap cũGiai phap mơi

    12

    Đia điểm– Trong lớp học.– Trong và ngoài lớp học.
    Cach thưc– GV: Đóng vai trò trung tâm,
    lập kế hoạch và điều khiển
    các hoạt động học tập. Thậm
    chí còn truyền thụ kiến thức
    áp đặt một chiều.
    – Học sinh:
    + Thảo luận nhóm trong phạm
    vi lớp học.
    + Trong giờ học chỉ tổ chức 1,
    2 hoạt động nhóm trong 3-5
    phút, chỉ có những HS tích
    cực tham gia, không huy động
    được cả nhóm.
    + Chủ yếu là nghe giảng, ghi
    chép.
    + Không tự chủ trong các hoạt
    động của mình.
    + Phát hiện ra kiến thức nhờ
    sự truyền thụ của giáo viên.
    – GV đóng vai trò định hướng, giám sát các
    hoạt động học tập.
    – Hoạt động 1: Xác định vấn đề.
    – Hoạt động 2: Nghiên cứu kiến thức nền và
    đề xuất giải pháp
    + HS được GV cho tự nghiên cứu kiến thức
    khoa học trên mọi tư liệu mạng internet, sách
    khoa học, thực tiễn,…., quyết định kiến thức,
    lựa chọn mục tiêu của chủ đề. Trong chủ đề
    có sự kiên hệ nội dung học tập với hoàn cảnh
    thực tiễn và đời sống xã hội.
    + Dưới sự hướng dẫn của GV, HS các nhóm
    định hướng các công việc cần làm, thời gian
    nghiên cứu, dự trù kinh phí, vật liệu, phương
    pháp tiến hành và phân công công việc trong
    nhóm
    HS thu thập và xử lý thông tin, làm việc
    nhóm và các nhân theo kế hoạch đã đề ra.
    – Hoạt động 3: báo cáo phương án thiết kế.
    + Các nhóm sẽ báo cáo phương án thiết kế
    ngôi nhà của nhóm mình trên bản vẽ kĩ thuật.
    Nhóm còn lại sẽ đặt câu hỏi phản biện.
    – Hoạt động 4: Chế tạo và thử nghiệm.
    + Các hoạt động trí tuệ và hoạt độngthực
    hành thực tiễn trải nghiệm sáng tạo được
    thực hiện xen kẽ và tác động qua lại với
    nhau, từ đó tạo ra sản phẩm của nhóm. Như

    13

    vậy, kiến thực được tích lũy qua quá trình
    làm việc và được thử nghiệm qua thực hành
    thực tiễn.
    – Hoạt động 5: Trình bày sản phẩm và đánh
    giá.
    + Tất cả HS theo nhóm cá hoặc cá nhân cần
    được tạo điều kiện để trình bày kết quả cùng
    với kiến thức mới mà mình đã tích lũy thông
    qua quá trình thực hiện.
    + Đánh giá: HS được tham gia cùng GV
    đánh giá, tự đánh giá bản thân, đánh giá chéo
    các bạn trong nhóm và nhóm khác. (Đánh giá
    theo phương pháp đánh giá đồng đẳng).

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa