• SKKN Dạy học trong việc hình thành phát triển năng lực môn Giáo dục công dân ở trường trung học cơ sở

    SKKN Dạy học trong việc hình thành phát triển năng lực môn Giáo dục công dân ở trường trung học cơ sở

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình
    giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học. Nghĩa là từ chỗ
    quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng
    được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành
    công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy
    cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và
    phẩm chất; đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm
    tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề,
    coi trọng cả kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra đánh giá trong quá trình
    học tập để có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động
    dạy học và giáo dục.
    Trong quan niệm dạy học phát triển năng lực giáo viên chủ yếu là người tổ
    chức, hỗ trợ học sinh tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức. Chú trọng sự phát triển khả
    năng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp, sử dụng các quan điểm, phương pháp và
    kỹ thuật dạy học tích cực… Một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích
    cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri
    thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi
    dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng
    thú học tập cho người học. Ngoài những yêu cầu có tính chất truyền thống như: bám
    sát mục tiêu giáo dục, nội dung dạy học, đặc trưng môn học; phù hợp với đặc điểm
    tâm sinh lí lứa tuổi học sinh (HS); dạy học phát triển năng lực còn có những yêu cầu
    mới như: được thực hiện thông qua việc GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS
    theo hướng chú ý đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, nhu cầu
    hành động và thái độ tự tin; được thực hiện theo nguyên tắc tương tác nhiều chiều:
    giữa GV với HS, giữa HS với nhau (chú trọng cả hoạt động dạy của người dạy và
    hoạt động học của người học). Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ cách dạy học nào cũng
    phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ học tập dưới
    sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.
    Xác định việcđổi mới phương pháp dạy và học,phát triển năng lựcnhằm
    phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của học
    sinh; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; tăng cường kỹ
    năng vận dụng kiến thức; tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học;
    bảo đảm cân đối giữa trang bị kiến thức, rèn luyện kỹ năng và định hướng thái độ,
    hành vi cho học sinh; chú ý việc tổ chức dạy học phân hoá theo năng lực của học
    sinh dựa theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của Chương trình giáo dục phổ thông.Đặc
    biệt môn Giáo dục công dân giữ vai trò chủ chốt trong việc giáo dục cho học sinh
    ý thức và hành vi của công dân, góp phần hình thành và phát triển ở các em những
    phẩm chất và năng lực cần thiết của công dân trong một xã hội công bằng, dân
    1
    chủ, văn minh, giáo dục các em trở thành những người công dân toàn cầu hòa
    nhập với sự phát triển của thế giới, nhất là trong bối cảnh “bùng nổ thông tin”,
    “cuộc sống số” và đặc biệt là sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng 4.0
    hiện nay. Xuất phát từ những yêu cầu đó tôi đã chọn đề tài: “Dạy học trong việc
    hình thành phát triển năng lực môn Giáo dục công dân ở trường trung học cơ sở”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Từ thực tế giảng dạy, bản thân nhận thấy sự sáng tạo trong việc đổi mới
    phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, tự học của học sinh ở môn GDCD
    chưa nhiều. Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức. Việc rèn luyện kỹ năng
    chưa được quan tâm. Hoạt động kiểm tra, đánh giá chưa thực sự khách quan, chính
    xác (chủ yếu tái hiện kiến thức), chú trọng đánh giá cuối kỳ chưa chú trọng đánh
    giá quá trình. Tất cả những điều đó dẫn tới học sinh học còn thụ động, lúng túng
    khi giải quyết các tình huống trong thực tiễn. Điều đó thể hiện ở những tồn tại sau:
    – Dạy học tích hợp đã được chú trọng, tuy nhiên, dạy học tích hợp vẫn mang
    tính khiên cưỡng, nội dung tích hợp vào bài học như bảo vệ môi trường, giáo dục
    kỹ năng sống… một cách cứng nhắc. Chưa làm cho học sinh huy động kiến thức,
    kỹ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực… để giải quyết các nhiệm vụ học tập.
    Việc tích hợp nội môn và tích hợp liên môn chưa thực sự hiệu quả, chính vì vậy
    chưa giúp học sinh hình thành kiến thức, kỹ năng mới và tất nhiên các năng lực
    của học sinh chưa được phát triển.
    – Việc vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực còn mang
    tính hình thức. Phương pháp thảo luận nhóm được tổ chức ở các lớp thực hiện
    chương trình SGK hiện hành nhưng chủ yếu vẫn dựa vàomột vài cá nhân học sinh
    tích cực tham gia, các thành viên còn lại còn dựa dẫm, ỉ lại chưa thực sự chủ động.
    Mục đích của thảo luận nhóm chưa đạt được tính dân chủ, mọi cá nhân được tự do
    bày tỏ quan điểm, thói quen bình đẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng để hình
    thành quan điểm cá nhân.
    – Mặc dù đã có giáo viên thực hiện thay đổi phương pháp dạy học, thay đổi
    cách thức tổ chức giờ nhằm đạt mục tiêu dạy học phát triển năng lực cho học sinh
    song kết quả chưa đạt được như mong muốn mà nguyênnhân là:
    + Về phía giáo viên: Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng không được
    thực hiện một cách triệt để, vẫn còn nặng về phương pháp truyền thống, có đổi mới
    song chỉ dừng lại ở hình thức, chưa đi sâu vào thực chất nhằm giúp khai thác kiến
    thức một cách có chiều sâu; việc hiểu hết bản chất của nhóm năng lực chung và
    năng lực chuyên biệt ở môn GDCD ở một vài GV vẫn còn hạn chế. Lý do không
    2
    nhỏ là GV chuyên giảng dạy môn GDCD THCS còn đếm trên đầu ngón tay, chủ
    yếu là GV dạy kiêm nhiệm, chéo ban.
    + Về phía học sinh: chủ yếu sinh sống vùng nông thôn, tr×nh ®é d©n trÝ ch-a
    caonên việc tiếp cận và tìm tòi những thông tin thời sự phục vụ cho bài học còn hạn
    chế. Một số học sinh chưa có phương pháp học tập phù hợp, chưa tích cực trong
    việc tìm tòi nghiên cứu bài học nên chưa đảm bảo các năng lực.
    Trước thực trạng trên, tôi mạnh dạn đưa sáng kiến về việc “Dạy học trong
    việc hình thành phát triển năng lực môn Giáo dục công dân ở trường trung học cơ
    sở”.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1. Những định hướng chung
    Tổ chức dạy học nhằm giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực, phẩm
    chất cũng không phải là mới. Bởi trong quá trình dạy học, chúng ta không chỉ chú ý
    tích cựchóa học sinh về mặt trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn
    đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt
    động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong
    nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan
    trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ
    năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức
    hợp nhằm phát triển năng lực giải Tuy nhiên, quá trình tổ chức dạy học để phát huy
    năng lực cá nhân, tạo điều kiện cho học sinh được sáng tạo và tương trợ lẫn nhau
    trong học tập thì mỗi tiết học cần sự thay đổi và thay đổi cụ thể trong mỗi giáo
    viên. Một thay đổi cần làm cụ thể, thiết thực và quan trọng để dạy học hình thành,
    phát triển phẩm chất, năng lực của cá nhân.
    Trước hết, ta cần hiểu năng lực của con người là gì?Theo từ điển Tiếng Việt:
    Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một
    hoạt động nào đó. Hoặc: Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ
    năng để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định.
    Năng lực gồm có năng lực chung và năng lực đặc thù. Năng lực chung là năng lực
    cơ bản cần thiết mà bất cứ người nào cũng cần phải có để sống và học tập, làm
    việc. Năng lực đặc thù thể hiện trên từng lĩnh vực khác nhau như năng lực đặc thù
    môn học là năng lực được hình thành và phát triển do đặc điểm của môn học đó
    tạonên.
    Vậy dạy học phát triển phẩm chất, năng lực là thế nào? Đó là cách dạy người
    học được xem như một nội dung giáo dục, một phương pháp giáo dục như phương
    pháp dạy học nêu vấn đề, phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh.
    Điểm khác nhau giữa các phương pháp là ở chỗ dạy học phát triển phẩm chất, năng
    lực người học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn, đòi hỏi người dạy phải có
    3
    phẩm chất, năng lực giảng dạy nói chung cao hơn trước đây. Điều quan trọng hơn
    cả là nếu so sánh với các quan niệm dạy học trước đây, việc dạy học phát triển
    phẩm chất, năng lực sẽ làm cho việc dạy và việc học được tiếp cận gần hơn, sát
    hơn với mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách con người…
    Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và
    phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông
    tin…), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy.
    Có thể lựa chọn một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp
    đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào
    cũng phải đảm bảo được nguyên tắc: “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận
    thức với tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.
    Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với hình thức dạy học. Tùy theo
    mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích
    hợp như học cá nhân, học nhóm; trong lớp học, ngoài lớp học… Cần chuẩn bị tốt về
    phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực
    hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học.
    Cần sử dụng đủ, hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiếu đã quy định.
    Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và
    phù hợp với đối tượng học sinh. Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học.
    2.2. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh thể hiện ở các nội
    dung:
    – Trong soạn
    – Trong giảng
    – Trong kiểm tra đánh giá.
    2.3. Yêu cầu cụ thể
    2.3.1. Trong soạn:
    Thiết kế bài giảng ngắn gọn, đầy đủ các bước lên lớp quy định, sắp xếp hợp
    lý hoạt động của giáo viên và học sinh (đặc biệt cần có hoạt động dẫn dắt vào bài,
    chuyển hoạt động để tạo hứng thú học tập cho học sinh). Ở mỗi bài học trên cơ sở
    chuẩn KT-KN cần xác định rõ các năng lực cần đạt để từ đóxây dựng hệ thống câu
    hỏi phù hợp với đối tượng học sinh và nội dung bài học, tăng cường các loại câu
    hỏi kích thích tư duy để phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo cũng như các
    năng lực của học sinh trong quá trình học tập.
    Trong phần Mục tiêu bài dạy, giáo viên phải xác định rõ trọng tâm kiến
    thức, kỹ năng, thái độ và các năng lực cần đạt; phần Dạy bài mới phải thể hiện
    rõ các hoạt động của giờ dạy (gồm công việc cụ thể của giáo viên, học sinh) và
    các yêu cầu cần đạt; phần chuẩn bị và dặn dò học sinh: phải nêu rõ những yêu cầu
    4
    thật cụ thể đối với giáo viên và học sinh để chuẩn bị cho bài học, các công việc
    cần làm ở nhà; Mục đích cuối cùng là học sinh đạt được mục tiêu bài học trên tất
    cả các mặt kiến thức, kỹ năng và thái độ và phát huy được các năng lực trong quá
    trình học tập.
    Các năng lực của học sinh ở các bộ môn:
    * Các năng lực chung (Cho tất cả các bộ môn):
    – Năng lực tự học
    – Năng lực giải quyết vấn đề
    – Năng lực tư duy sáng tạo
    – Năng lực tự quản lí
    – Năng lực giao tiếp
    – Năng lực hợp tác
    – Năng lực truyền thông và sử dụng công nghệ thông tin
    – Năng lực sử dụng ngôn ngữ
    – Năng lực tính toán
    * Năng lực chuyên biệt các môn GDCD
    – Năng lực tự nhận thức, tự điều chỉnh hành vi phù hợp với pháp luật và
    chuẩn mực đạo đức xã hội
    – Năng lực tự chịu trách nhiệm và thực hiện trách nhiệm công dân đối với cộng đồng.
    – Năng lực giải quyết các vấn đề đạo đức, pháp luật, chính trị và xã hội
    *Cấu trúc giáo án dạy học phát huy năng lực:
    Giáo án (kế hoạch bài học) được điều chỉnh cụ thể hơn so với truyền thống.
    Có thể có nhiều cấu trúc để thiết kế một kế hoạch dạy học (giáo án). Sau đây là
    một cấu trúc giáo án có các hoạt động và mục tiêu cụ thể….
    Mục tiêu bài học:
    + Nêu rõ yêu cầu HS cần đạt về KT, KN, thái độ;
    + Các mục tiêu được biểu đạt bằng động từ cụ thể, có thể lượng hoá
    được.Chuẩn bị về phương pháp và phương tiện dạy học:
    + GV chuẩn bị các thiết bị dạy học (tranh ảnh, mô hình, hiện vật, hoá
    chất…), các phương tiện dạy học (máy chiếu, TV, đầu video, máy tính, máy
    projector…) và tài liệu dạy học cần thiết;
    + Hướng dẫn HS chuẩn bị bài học (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu và
    đồ dùng học tập cần thiết).
    5
    Tổ chức các hoạt động dạy học: Trình bày rõ cách thức triển khai các hoạt
    động dạy – học cụ thể. Với mỗi hoạt động cần chỉ rõ:
    + Tên hoạt động ;
    + Mục tiêu của hoạt động;
    + Cách tiến hành hoạt động;
    + Thời lượng để thực hiện hoạt động;
    + Kết luận của GV về: những KT, KN, thái độ HS cần có sau hoạt động;
    những tình huống thực tiễn có thể vận dụng KT, KN, thái độ đã học để giải quyết;
    những sai sót thường gặp; những hậu quả có thể xảy ra nếu không có cách giải quyết
    phù hợp;…
    Hướng dẫn các hoạt động tiếp nối: xác định những việc HS cần phải tiếp tục
    thực hiện sau giờ học để củng cố, khắc sâu, mở rộng bài cũ, hoạt động ứng dụng kết
    quả bài học vào cuộc sống (ở lớp, nhà, cộng đồng; có thể cùng bạn, gia đình, làng
    xóm, khối phố) hoặc để chuẩn bị cho việc học bài mới.
    2.3.2. Trong giảng:
    Theo quan niệm dạy học mới (tổ chức) một giờ học tốt là một giờ học phát
    huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học
    nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào
    thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm,
    đem lại hứng thú học tập cho người học. Ngoài những yêu cầu có tính chất truyền
    thống như: bám sát mục tiêu giáo dục, nội dung dạy học, đặc trưng môn học; phù
    hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh (HS); giờ học đổi mới PPDH còn có
    những yêu cầu mới như: được thực hiện thông qua việc GV tổ chức các hoạt động
    học tập cho HS theo hướng chú ý đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng
    tự học, nhu cầu hành động và thái độ tự tin; được thực hiện theo nguyên tắc tương
    tác nhiều chiều: giữa GV với HS, giữa HS với nhau (chú trọng cả hoạt động dạy của
    người dạy và hoạt động học của người học).
    Về phương pháp dạy học: Việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng
    phát triển năng lực thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:
    Một, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học
    sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thức
    được sắp đặt sẵn. Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt
    động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các
    tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn…
    Hai, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và các tài
    liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và phát
    6
    hiện kiến thức mới… Định hướng cho học sinh cách tư duy như phân tích, tổng
    hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dần hình thành và
    phát triển tiềm năng sáng tạo.
    Ba, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở thành
    môi trường giao tiếp GV – HS và HS – HS nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh
    nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung.
    Bốn, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến
    trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng
    phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình
    thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có
    thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót.
    Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học:
    Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống: Đổi mới phương pháp dạy
    học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết
    trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả
    và hạn chế nhược điểm của chúng. Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy
    học này người giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành
    thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, kỹ
    thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu
    trong luyện tập. Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn
    chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử
    dụng các phương pháp dạy học mới, có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của
    học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề.
    Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học: Việc phối hợp đa dạng các
    phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương
    hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học. Dạy
    học toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và dạy học cá thể là những hình thức xã hội
    của dạy học cần kết hợp với nhau, mỗi một hình thức có những chức năng riêng.
    Tình trạng độc tôn của dạy học toàn lớp và sự lạm dụng phương pháp thuyết trình
    cần được khắc phục, đặc biệt thông qua làm việc nhóm. Trong thực tiễn dạy học ở
    trường trung học hiện nay, nhiều giáo viên đã cải tiến bài lên lớp theo hướng kết
    hợp thuyết trình của giáo viên với hình thức làm việc nhóm, góp phần tích cực hoá
    hoạt động nhận thức của học sinh. Tuy nhiên hình thức làm việc nhóm rất đa dạng,
    không chỉ giới hạn ở việc giải quyết các nhiệm vụ học tập nhỏ xen kẽ trong bài
    thuyết trình, mà còn có những hình thức làm việc nhóm giải quyết những nhiệm vụ
    phức hợp, có thể chiếm một hoặc nhiều tiết học, sử dụng những phương pháp
    chuyên biệt như phương pháp đóng vai, nghiên cứu trường hợp, dự án. Mặt khác,
    việc bổ sung dạy học toàn lớp bằng làm việc nhóm xen kẽ trong một tiết học mới
    chỉ cho thấy rõ việc tích cực hoá “bên ngoài” của học sinh. Muốn đảm bảo việc tích
    7
    cực hoá “bên trong” cần chú ý đến mặt bên trong của phương pháp dạy học, vận
    dụng dạy học giải quyết vấn đề và các phương pháp dạy học tích cực khác.
    Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề: Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu
    vấn đề, dạy học nhận biết và giải quyết vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát
    triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề. Học được đặt trong
    một tình huống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông
    qua việc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp
    nhận thức. Dạy học giải quyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực
    nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những
    mức độ tự lực khác nhau của học sinh. Các tình huống có vấn đề là những tình
    huống khoa học chuyên môn, cũng có thể là những tình huống gắn với thực tiễn.
    Trong thực tiễn dạy học hiện nay, dạy học giải quyết vấn đề thường chú ý đến
    những vấn đề khoa học chuyên môn mà ít chú ý hơn đến các vấn đề gắn với thực
    tiễn. Tuy nhiên nếu chỉ chú trọng việc giải quyết các vấn đề nhận thức trong khoa
    học chuyên môn thì học sinh vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải quyết các
    tình huống thực tiễn. Vì vậy bên cạnh dạy học giải quyết vấn đề, lý luận dạy học
    còn xây dựng quan điểm dạy học theo tình huống.
    Vận dụng dạy học theo tình huống: Dạy học theo tình huống là một quan điểm
    dạy học, trong đó việc dạy học được tổ chức theo một chủ đề phức hợp gắn với các
    tình huống thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp. Quá trình học tập được tổ chức trong
    một môi trường học tập tạo điều kiện cho học sinh kiến tạo tri thức theo cá nhân và
    trong mối tương tác xã hội của việc học tập. Các chủ đề dạy học phức hợp là những
    chủ đề có nội dung liên quan đến nhiều môn học hoặc lĩnh vực tri thức khác nhau,
    gắn với thực tiễn. Trong nhà trường, các môn học được phân theo các môn khoa học
    chuyên môn, còn cuộc sống thì luôn diễn ra trong những mối quan hệ phức hợp. Vì
    vậy sử dụng các chủ đề dạy học phức hợp góp phần khắc phục tình trạng xa rời thực
    tiễn của các môn khoa học chuyên môn, rèn luyện cho học sinh năng lực giải quyết
    các vấn đề phức hợp, liên môn. Phương pháp nghiên cứu trường hợp là một phương
    pháp dạy học điển hình của dạy học theo tình huống, trong đó học sinh tự lực giải
    quyết một tình huống điển hình, gắn với thực tiễn thông qua làm việc nhóm. Vận
    dụng dạy học theo các tình huống gắn với thực tiễn là con đường quan trọng để gắn
    việc đào tạo trong nhà trường với thực tiễn đời sống, góp phần khắc phục tình trạng
    giáo dục hàn lâm, xa rời thực tiễn hiện nay của nhà trường phổ thông. Tuy nhiên, nếu
    các tình huống được đưa vào dạy học là những tình huống mô phỏng lại, thì chưa
    phải tình huống thực. Nếu chỉ giải quyết các vấn đề trong phòng học lý thuyết thì
    học sinh cũng chưa có hoạt động thực tiễn thực sự, chưa có sự kết hợp giữa lý thuyết
    và thực hành.
    Vận dụng dạy học định hướng hành động: Dạy học định hướng hành động là
    quan điểm dạy học nhằm làm cho hoạt động trí óc và hoạt động chân tay kết hợp
    chặt chẽ với nhau. Trong quá trình học tập, học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập
    8
    và hoàn thành các sản phẩm hành động, có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt động trí
    tuệ và hoạt động tay chân. Đây là một quan điểm dạy học tích cực hoá và tiếp cận
    toàn thể. Vận dụng dạy học định hướng hành động có ý nghĩa quan trong cho việc
    thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp lý thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động,
    nhà trường và xã hội. Dạy học theo dự án là một hình thức điển hình của dạy học
    định hướng hành động, trong đó học sinh tự lực thực hiện trong nhóm một nhiệm
    vụ học tập phức hợp, gắn với các vấn đề thực tiễn, kết hợp lý thuyết và thực hành,
    có tạo ra các sản phẩm có thể công bố. Trong dạy học theo dự án có thể vận dụng
    nhiều lý thuyết và quan điểm dạy học hiện đại như lý thuyết kiến tạo, dạy học định
    hướng học sinh, dạy học hợp tác, dạy học tích hợp, dạy học khám phá, sáng tạo,
    dạy học theo tình huống và dạy học định hướng hành động.
    Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lý hỗ
    trợ dạy học: Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương
    pháp dạy học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy
    học. Hiện nay, việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông
    từng bước được tăng cường. Tuy nhiên các phương tiện dạy học tự làm của giáo
    viên luôn có ý nghĩa quan trọng, cần được phát huy. Đa phương tiện và công nghệ
    thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là phương tiện dạy học trong dạy học hiện
    đại. Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần
    tăng cường sử dụng các phần mềm dạy học cũng như các phương pháp dạy học sử
    dụng mạng điện tử (E-Learning), mạng trường học kết nối.
    Sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo: Kỹ thuật
    dạy học là những cách thức hành động của của giáo viên và học sinh trong các tình
    huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các kỹ thuật
    dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học. Có những kỹ thuật
    dạy học chung, có những kỹ thuật đặc thù của từng phương pháp dạy học, ví dụ kỹ
    thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại. Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử
    dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như
    “động não”, “tia chớp”, “bể cá”, bản đồ tư duy…
    Chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn: Phương pháp dạy học
    có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học, việc sử dụng các phương pháp
    dạy học đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn. Các phương pháp dạy
    học đặc thù bộ môn được xây dựng trên cơ sở lý luận dạy học bộ môn…
    Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh: Phương pháp học tập
    một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực hoá, phát huy tính sáng
    tạo của học sinh. Có những phương pháp nhận thức chung như phương pháp thu
    thập, xử lý, đánh giá thông tin, phương pháp tổ chức làm việc, phương pháp làm
    việc nhóm, có những phương pháp học tập chuyên biệt của từng bộ môn. Bằng
    nhiều hình thức khác nhau, cần luyện tập cho học sinh các phương pháp học tập
    chung và các phương pháp học tập trong bộ môn.
    9
    Tóm lại, có rất nhiều phương hướng đổi mới phương pháp dạy học với
    những cách tiếp cận khác nhau, trên đây chỉ là một số phương hướng chung. Việc
    đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ
    sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lý. Ngoài ra, phương
    pháp dạy học còn mang tính chủ quan. Mỗi giáo viên với kinh nghiệm riêng của
    mình cần xác định những phương hướng riêng để cải tiến phương pháp dạy học và
    kinh nghiệm của cá nhân.
    Về hình thức tổ chức dạy học
    Đa dạng hóa các hình thức học tập, chú ý các hoạt động trải nghiệm sáng
    tạo, nghiên cứu khoa học của học sinh; sử dụng các hình thức dạy học trên cơ sở
    ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông như: dạy học trực tuyến, trường học
    ảo;… Ngoài việc tổ chức cho học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trên lớp,
    cần coi trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn học sinh tự học và tự nghiên cứu.
    Chủ động thực hiện tích hợp giáo dục đạo đức, học tập và làm theo tấm gương
    đạo đức Hồ Chí Minh; giáo dục pháp luật; giáo dục phòng chống tham nhũng; chú
    trọng tuyên truyền, giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển, đảo; sử dụng
    năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; bảo vệ môi trường; đa dạng sinh học và bảo tồn
    thiên nhiên; giáo dục về tài nguyên và môi trường biển, hải đảo; ứng phó với biến
    đổi khí hậu, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai; giáo dục an toàn giao thông …
    2.3.3. Trong kiểm tra, đánh giá
    Theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đổi mới kiểm tra đánh giá theo
    hướng chú trọng đánh giá phẩm chất và năng lực của học sinh. Chú trọng đánh giá
    quá trình: đánh giá trên lớp; đánh giá bằng hồ sơ; đánh giá bằng nhận xét; tăng
    cường hình thức đánh giá thông qua sản phẩm dự án; bài thuyết trình;kết hợp kết
    quả đánh giá trong quá trình giáo dục và đánh giá tổng kết cuối kỳ, cuối năm học;
    Các hình thức kiểm tra, đánh giá đều hướng tới phát triển năng lực của học
    sinh; coi trọng đánh giá để giúp đỡ học sinh về phương pháp học tập, động viên sự
    cố gắng, hứng thú học tập của các em trong quá trình dạy học;
    Việc kiểm tra, đánh giá không chỉ là việc xem học sinh học được cái gì mà
    quan trọng hơn là biết học sinh học như thế nào, có biết vận dụng không.
    Trong quá trình thực hiện các hoạt động dạy học, giáo dục, giáo viên cần coi
    trọng việc quan sát và hướng dẫn học sinh tự quan sát các hoạt động và kết quả
    hoạt động học tập, rèn luyện của các em; nhận xét định tính và định lượng về kết
    quả hoạt động, qua đó đề xuất hoặc triển khai kịp thời các hướng dẫn, góp ý, điều
    chỉnh nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học
    sinh.
    Chủ động, kết hợp một cách hợp lý, phù hợp giữa hình thức tự luận với trắc
    nghiệm khách quan.
    10
    Tiếp tục nâng cao yêu cầu vận dụng kiến thức liên môn vào thực tiễn; gắn
    với thời sự quê hương, đất nước để học sinh được bày tỏ chính kiến của mình về
    các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội… Việc cho điểm có thể kết hợp giữa đánh giá
    kết quả bài làm với theo dõi sự cố gắng, tiến bộ của học sinh. Chú ý hướng dẫn học
    sinh đánh giá lẫn nhau và biết tự đánh giá năng lực của mình.
    Thực hiện nghiêm túc việc xây dựng đề kiểm tra, đề thi theo hướng phát
    triển năng lực nhận thức của học sinh; cấu trúc đề thi, đề kiểm tra phải phân hoá
    được năng lực nhận thức của học sinh.
    Tăng cường xây dựng “Nguồn học liệu mở” (thư viện) câu hỏi, bài tập, đề
    thi, kế hoạch bài dạy, tài liệu tham khảo có chất lượng trên website của của đơn
    vị…
    2.4. Triển khai chuyên đề cụ thể: GDCD lớp 8
    CHỦ ĐỀ: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CÔNG DÂN VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN
    XÃ HỘI, BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
    Tiết 21 – Bài 14:
    PHÒNG, CHỐNG NHIỄM HIV/AIDS
    I. MỤC TIÊU BÀI HỌC
    1. Kiến thức
    – Hiểu được tính chất nguy hiểm của HIV/AIDS đối với loàingười:
    + Hủy hoại sức khỏe, cướp đi tính mạng con người.
    + Phá hoại hạnh phúc gia đình.
    + Hủy hoại tương lai, nòi giống dân tộc.
    + Ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, xã hội đất nước.
    – Nêu được một số quy định của pháp luật và trách nhiệm của công dân trong
    việc phòng chống nhiễmHIV/AIDS.
    – Nêu được các biện pháp phòng, chống nhiễm HIV/AIDS, nhất là các biện
    pháp đối với bảnthân:
    + Sống an toàn, lành mạnh, tránh xa các tệ nạn xã hội, đặc biệt là ma túy,
    mại dâm.
    + Không phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS và gia đình của họ.
    + Tích cực tham gia các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS ở nhà trường và
    cộng đồng.
    11
    2. Kĩnăng
    – Biết tự phòng, chống nhiễm HIV/AIDS và giúp người khác phòng,chống.
    + Sống lành mạnh, không tiêm chích ma túy.
    + Yêu cầu xét nghiệm cẩn thận trước khi cho hoặc được truyền máu.
    + Yêu cầu tiệt trùng các dụng cụ khi đi khám, chữa bệnh, nhổ răng, xâu lỗ tai…
    + Không quan hệ tình dục bừa bãi.
    – Biết chia sẻ, giúp đỡ, động viên người nhiễmHIV/AIDS
    – Tham gia các hoạt động do nhà trường, cộng đồng tổ chức để phòng, chống
    nhiễmHIV/AIDS.
    3. Tháiđộ
    – Tích cực phòng, chống nhiễmHIV/AIDS
    – Quan tâm, chia sẻ và không phân biệt, đối xử với người cóHIV/AIDS.
    II. PHƢƠNG TIỆN, THIẾT BỊ SỬ DỤNG, PHƢƠNG PHÁP VÀ ĐỊNH
    HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
    1. Phƣơng tiện, thiết bi ṣ ƣ̉ duṇ g, phƣơng phá p
    a. Phương tiện, thiết bị:
    – SGK, SGV GDCD 8, chuẩn kiến thức kĩ năng môn GDCD.
    – Hình ảnh, đoạn phim vềHIV/AIDS
    – Bảng số liệu về HIV/AIDS năm 2018
    – Máy tính, máychiếu
    – Phiếu học tập
    b. Phương pháp:
    – Dạy học dự án
    – Đóng vai, giải quyết tình huống
    – Đàm thoại
    – Dạy học nhóm
    -Độngnão
    – Tròchơi
    – Nghiên cứu trường hợp điển hình
    12
    – Trải nghiệm, khám phá
    2. Điṇ h hƣớ ng phá t triển năng lƣc̣ , phẩm chất
    a. Năng lực:
    – Những năng lực chung: giải quyết vấn đề và sáng tạo; giao tiếp và hợp tác;
    tự chủ và tự học.
    – Năng lực chuyên biệt: tự nhận thức và tự điều chỉnh hành vi; giải quyết vấn
    đề cá nhân và hợp tác giải quyết vấn đề xã hội; tự chịu trách nhiệm và thực hiện
    trách nhiệm công dân với cộng đồng, đấtnước.
    b. Phẩm chất:
    – Yêu gia đình, quê hương, đất nước
    – Nhân ái
    – Có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại
    – Tôn trọng chấp hành pháp luật
    III. XÂY DỰNG BẢNG MÔ TẢ CÁC MỨC ĐỘ NHẬN THỨC

    Nôị dungNhận biếtThông hiểuVận dụngVận dụng cao
    HIV/AIDS
    là gì?
    Nêu được khái
    niệm
    HIV/AIDS
    Hiểu được các
    giai đoạn của
    HIV/AIDS và
    biểu hiện của
    từng giai đoạn
    Tán thành hay
    không tán thành
    với ý kiến:
    người trông
    khỏe mạnh
    không thể
    nhiễm HIV
    Hậu quảNêu được hậu
    quả của
    HIV/AIDS đối
    với người bệnh,
    gia đình và xã
    hội
    – Giải thích
    được vì sao
    HIV/AIDS là
    căn bệnh vô
    cùng nguy
    hiểm
    -Hiểu được tính
    chất nguy hiểm
    của HIV/AIDS
    Đánh giá
    được mức độ
    lây lan của
    HIV/AIDS
    Các quy
    định của
    Nêu đươc̣ các
    quy định của
    Giải thích
    được vì sao
    Vận dụng được
    các quy định của

    13

    pháp luậtpháp luật trong
    việc phòng,
    chống
    HIV/AIDS
    pháp luật
    nghiêm cấm
    các hành vi
    mua bán dâm,
    tiêm chích ma
    túy
    pháp luật trong
    đời sống hàng
    ngày để phòng
    chốngHIV/AIDS
    Trách
    nhiệm của
    công dân
    – Nêu được
    trách nhiệm của
    công dân trong
    phòng, chống
    HIV/AIDS.
    – Nêu được các
    biện pháp
    phòng, chống
    nhất là các biện
    pháp đối với
    bảnthân.
    Lý giải được vì
    sao HIV/AIDS
    nguy hiểm
    nhưng thực sự
    không đáng sợ.
    Giải quyết
    được các tình
    huống trong đời
    sống thực tế.

    IV. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
    1. Ổn định tổ chức
    2. Kiểm tra:
    Kiểm tra việc chuẩn bị của học sinh.
    3. Bài mới:
    * Hoạt động 1: Khởi động
    * Phương pháp dạy học:
    – Phương pháp dạy học dự án.
    – Phương pháp đóng vai, giải quyết tình huống.
    – Phương pháp động não.
    – Phương pháp đàm thoại.
    * Kĩ thuậ

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Giáo dục kỹ năng sống cho đội viên thông qua các mô hình hoạt động Đội

    SKKN Giáo dục kỹ năng sống cho đội viên thông qua các mô hình hoạt động Đội

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    I. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
    Theo Điều 2 của Luật Giáo dục năm 2019:”Mục tiêu giáo dục nhằm phát
    triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe,
    thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng
    yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ
    nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao
    dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự
    nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế”.Trong quá trình giáo dục,
    ngoài việc hình thành cho học sinh thái độ đúng đắn, các hành vi và thói quen
    tốt, các kỹ năng hoạt động và ứng xử trong các mối quan hệ xã hội về chính trị,
    đạo đức, pháp luật…, còn phải giúp các em bổ sung và hoàn thiện những tri thức
    đã học trên lớp. Vì vậy, quá trình giáo dục không những được thực hiện thông
    qua việc tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp mà còn thông qua các hoạt động
    giáo dục kỹ năng sống thông qua các mô hình hoạt động của Đội.
    Hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua các mô hình hoạt động của Đội
    là hoạt động giáo dục được tổ chức ngoài thời gian học tập trên lớp. Đây là hoạt
    động ngoài giờ lên lớp, là một trong hai hoạt động giáo dục cơ bản, được thực
    hiện một cách có tổ chức, có mục đích theo kế hoạch của nhà trường, của Liên
    đội; là hoạt động tiếp nối và thống nhất hữu cơ với hoạt động học tập trên lớp,
    nhằm góp phần hình thành và phát triển nhân cách học sinh theo mục tiêu đào
    tạo, đáp ứng những yêu cầu đa dạng của xã hội đối với thế hệ trẻ.Để hoạt động
    giáo dục kỹ năng sống thông qua các mô hình hoạt động của Đội đạt hiệu quả,
    ngoài năng lực, đòi hỏi giáo viên TPT phải có tâm huyết, sáng tạo và nghệ thuật
    để cuốn hút các em tham gia hoạt động, nhằm phát triển phẩm chất, năng lực và
    tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật.
    II. Mô tả giải pháp
    1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến
    1.1, Tình hình địa phƣơng
    Xã Xuân Tiến là xã trọng điểm kinh tế của huyện Xuân Trường, Đảng và
    chính quyền địa phương nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vai trò của giáo dục đào
    tạo, quan tâm đúng mức đến công tác giáo dục của nhà trường, địa phương.
    Đại đa số phụ huynh học sinh nhà có điều kiện về kinh tế, luôn quan tâm
    chăm lo đến việc học của con em mình, luôn phối hợp tốt với nhà trường trong
    công tác giáo dục học sinh nói chung, hoạt động hoạt động giáo dục kỹ năng
    sống thông qua các mô hình hoạt động của Đội nói riêng, các hoạt động của nhà
    Trường nói chung. Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận nhỏ phụ huynh chưa nhận
    thức đầy đủ về ý nghĩa của hoạt động này, không có điều kiện về thời gian hoặc
    ngại tham gia vào các hoạt động ….
    1. 2, Tình hình nhà trƣờng
    Trường THCS Xuân Tiến đươc̣ thành lâp̣ vào tháng 7/1969 theo quyết định
    của UBND huyện Xuân Th ủy vớ i tên goị Trườ ng cấp 2 Xuân Tiến, đánh dấu
    bướ c đầu phát triển của sự nghiêp̣ giáo duc̣ xã nhà . Năm đầu thành lâp̣ , trườ ng
    2
    mớ i có 2 lớ p 5, 1 lớ p 6, 1 lớ p 7 vớ i tổng số 160 học sinh. Các lớp học được
    mươṇ từ nhà thờ xứ Kiên Lao , văn phòng đươc̣ mươṇ từ nhà dân . Trườ ng có 40
    bô ̣bàn ghế cả cũ lâñ mớ i và môṭ tủ đưṇ g hồ sơ , các đồ dung dạy học chưa có .
    Đến năm 1974, Trườ ng đã xây dưṇ g môṭ daỹ nhà cấp 4 gồm 9 gian ở caṇ h
    UBND xã đư ợc 2 phòng học và văn phòng trường (các lớp còn lại vẫn đi học
    nhờ ). Tháng 1 năm 1976 ngôi trườ ng đươc̣ xây dưṇ g mớ i , nay là Trường Tiểu
    học. Đến 7/2018, trườ ng chuyển về điạ điểm mớ i như hiêṇ nay vớ i quy mô 24
    phòng học, có đầy đủ phòng chức năng và lần đầu tiên Liên đôị đã có phòng
    Đội. Liên đội có 21 chi đội với tổng số 854 đội viên. Liên đội nhiều năm liền
    được Tỉnh đoàn, Trung ương Đoàn tặng Bằng khen, Cờ thi đua xuất sắc.
    2, Thực trạng công tác tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống
    thông qua các mô hình hoạt động của Đội trong thời gian qua
    2.1.Sự quan tâm vào cuộc của Ban giám hiệu
    Ban giám hiệu đã xác định đúng mục đích, ý nghĩa, vai trò của hoạt động
    giáo dục kỹ năng sống thông qua các mô hình hoạt động của Đội nên đã có sự
    quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Chất lượng và hiệu quả của hoạt động đã
    có bước chuyển biến tích cực. Nội dung giáo dục phong phú, hình thức đa dạng
    hơn. hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua các mô hình hoạt động của Đội
    đã trở thành hoạt động thường xuyên không thể thiếu trong hoạt động giáo dục
    chung của nhà trường.
    2.2. Việc tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua
    các mô hình hoạt động Đội của giáo viên
    Trong những năm trước, do quan điểm đánh giá học sinh chủ yếu tập trung ở
    việc nắm kiến thức các môn học mà chưa quan tâm nhiều đến việc hình thành,
    phát triển phẩm chất, năng lực của các em nên đa số giáo viên chưa thực sự nhận
    thức được vai trò và tác dụng to lớn của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
    đối với việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh. Giáo viên
    còn xem nhẹ hoạt động này, chỉ tập trung vào các hoạt động dạy học trên lớp;
    chưa có sự đầu tư nghiên cứu, thiếu các kỹ năng, phương pháp tổ chức; phối hợp
    tổ chức cáchoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua các mô hình hoạt động
    của Độimột cách hời hợt nhằm đối phó với sự quản lí, chỉ đạo của Ban giám
    hiệu mà chưa quan tâm đến chất lượng và hiệu quả của nó. Hoạt động giáo dục
    kỹ năng sống thông qua các mô hình hoạt động của Độikhông được đầu tư dẫn
    đến nội dung nghèo nàn, hình thức đơn điệu, chưa thiết thực, chưa gắn với nhu
    cầu thực tế cuộc sống, chưa đáp ứng được nhu cầu nguyện vọng của đội viên.
    Chính vì vậy, các hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua các mô hình hoạt
    động của Đội chưa hấp dẫn lôi cuốn đội viên tham gia; chất lượng và hiệu quả
    của các hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua các mô hình hoạt động của
    Độichưa đáp ứng với mục tiêu giáo dục và yêu cầu của sự đổi mới.
    Từ năm học 2014 – 2015 trở lại đây, hoạt động giáo dục kỹ năng sống
    thông qua các mô hình hoạt động của Độiđã được nhà trường, đa số giáo viên
    quan tâm cải tiến về nội dung và hình thức, thu hút được đội viên tham gia.
    Nhận thức của giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh đối với hoạt động
    này có nhiều chuyển biến. Giáo viên chủ nhiệm đã quan tâm và phối kết hợp với
    3
    Liên đội cũng như các tổ chức đoàn thể trong nhà trường nhiều hơn đến các hoạt
    động này.
    2.3. Sự tham gia của phụ huynh học sinh
    Nhiều phụ huynh còn có những quan niệm chưa đúng về hoạt động giáo dục
    kỹ năng sống thông qua các mô hình hoạt động của Đội; chưa hiểu được vai trò,
    tác dụng cũng như yêu cầu của việc tổ chức các hoạt động trong chương trình
    giáo dục THCS. Vì vậy họ chỉ đầu tư nhiều cho hoạt động học tập, thu nhận các
    kiến thức văn hóa, khoa học mà chưa khuyến khích tạo điều kiện cho trẻ tham
    gia vào các hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua các mô hình hoạt động
    của Độicủa Liên đội. Thậm chí nhiều phụ huynh không muốn cho con em mình
    tham gia vào hoạt động này vì sợ mất nhiều quỹ thời gian học tập của trẻ và ảnh
    hưởng trực tiếp tới kết quả, thành tích học tập của các em. Chính những suy
    nghĩ, nhìn nhận sai lầm ấy đã chi phối đến cách nhận thức của trẻ đối với hoạt
    động này. Do vậy, nhiều học sinh không có ý thức tự nguyện, tự giác, không
    tích cực khi tham gia hoạt động. Nhiều em tham gia lấy lệ, chưa phát huy hết
    năng lực sở trường của bản thân, chưa thể hiện được bản lĩnh của mình trước tập
    thể. Vì thế chất lượng hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua các mô hình
    hoạt động của Đội chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới.
    3, Các giải pháp
    3.1, Xây dựng kế hoạch tổ chứchoạt động giáo dục kỹ năng sống thông
    qua các mô hình hoạt động của Đội
    Xây dựng kế hoạch là điểm khởi đầu cho một chu trình quản lí khoa học mà
    người giáo viên nào cũng phải thực hiện. Giáo viên TPT quản lí, tổ chức các
    hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua các mô hình hoạt động của Đội cũng
    phải bắt đầu từ việc xây dựng kế hoạch.
    Đầu mỗi năm học, giáo viên TPT xây dựng kế hoạch và phối hợp với các bộ
    phận trong nhà trường xây dựng kế hoạch công tác, trong kế hoạch đó có nội
    dung phối hợp với liên đội tổ chức các hoạt động giáo dục theo chủ đề, chủ
    điểm; đặc biệt là kế hoạch của Ban giám hiệu nhà trường, kế hoạch của tổ nhóm
    chuyên môn, kế hoạch của giáo viên chủ nhiệm lớp, kế hoạch của các tổ chức
    Đoàn, Công đoàn.
    Liên đội xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục (kế hoạch năm, tháng, tuần)
    thống nhất với kế hoạch chung của nhà trường, với kế hoạch của các bộ phận
    (để tránh tổ chức các hoạt động chồng chéo trong cùng một thời điểm, đồng thời
    có sự hỗ trợ và phối hợp tổ chức hoạt động của các bộ phận có liên quan). Giáo
    viên TPT tham mưu Hiệu trưởng đưa kế hoạch này vào kế hoạch hoạt động
    chung của nhà trường để toàn trường cùng thực hiện. Kế hoạch này được thông
    qua trước toàn thể Hội đồng sư phạm vào đầu mỗi năm học.
    3.1.1Yêu cầu đối với việc xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục kỹ năng
    sống thông qua các mô hình hoạt động của Đội
    – Đối với hoạt động giáo dục theo chủ đề, chủ điểm hàng tháng, theo chủ đề
    các môn học để củng cố kiến thức các môn học, rèn kĩ năng cho học sinh cần
    dựa vào đặc điểm tâm sinh lý, nội dung các môn học của từng khối lớp; vì vậy,
    kế hoạch hoạt động của các hoạt động giáo dục này cũng được tích hợp vào kế
    4
    hoạch của các tổ chuyên môn và tích hợp vào kế hoạch hoạt động giáo dục kỹ
    năng sống thông qua các mô hình hoạt động của Đội:
    + Kế hoạch phải được xây dựng phù hợp với điều kiện cụ thể của trường,
    đáp ứng nhiệm vụ giáo dục trọng tâm của từng năm học và nhiệm vụ chính trị
    của địa phương.
    + Phải có kế hoạch, lịch hoạt động cho toàn trường, cho từng khối lớp, cho
    từng thời kì tiến tới ổn định thành nề nếp.
    + Có kế hoạch hoạt động đều đặn, cân đối từ đầu năm cho đến cuối năm học
    và trong hè.
    3.1.2. Nội dung Kế hoạch năm học cáchoạt động giáo dục kỹ năng sống
    thông qua các mô hình hoạt động của Đội
    a, Tình hình nhà trƣờng, địa phƣơng, chỉ đạo của các cấp quản lí
    Nêu một số nhận định về tình hình nhà trường, địa phương có ảnh hưởng
    đến việc tổ chức các hoạt động hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua các
    mô hình hoạt động của Đội.
    b, Mục tiêu tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua các
    mô hình hoạt động của Đội
    – Mục tiêu chung: hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua các mô hình
    hoạt động của Độiở nhằm góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục đội viên, góp
    phần hình thành những cơ sở ban đầu rất quan trọng cho sự phát triển toàn diện,
    hài hòa của đội viên.
    – Các mục tiêu cụ thể
    + Góp phần củng cố, khắc sâu và phát triển ở đội viên những kỹ năng về tự
    nhiên, xã hội và con người phù hợp với lứa tuổi.
    + Bước đầu hình thành cho các em đội viên năng lực thực tiễn, năng lực hoạt
    động chính trị- xã hội, năng lực thích ứng, năng lực hòa nhập, …
    + Bước đầu hình thành cho các em đội viên các phẩm chất quan trọng như:
    tinh thần đồng đội, tính mạnh dạn, tự tin, tự trọng, kỉ luật, trách nhiệm, nhân ái,
    khoan dung, cảm thông, chia sẻ, trung thực, hợp tác, yêu lao động,…
    + Phát triển ở đội viên các kỹ năng hoạt động tập thể và các kỹ năng sống
    cần thiết, phù hợp với lứa tuổiđội viên;
    + Giáo dục thẩm mĩ và phát triển sức khỏe thể chất và tinh thần cho đội
    viên;
    + Phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu cho đội viên
    3.2,Các biện pháp lớn để thực hiện mục tiêu
    – Tham gia các lớp tập huấn bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để nâng cao năng
    lực của bản thân về tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua các mô
    hình hoạt động của Đội, cụ thể bản thân tôi đã tham gia các lớp tập huấn về
    nghiệp vụ về công tác Đội do Hội đồng Đội TW tổ chức: năm 2015 ở TP Hải
    Phòng, năm 2016 ở Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa, Năm 2017 ở TP Đà Nẵng, năm
    2018 ở TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương…., tham gia Trại huấn luện Kim
    Đồng toàn quốc do Hội đồng huấn luyện TW Đội TNTP Hồ Chí Minh tổ chức
    và đạt chứng nhận “Huấn luyện viên cấp I TW” về công tác Đội năm 2015.
    5
    – Thực hiện nghiêm túc kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống
    thông qua các mô hình hoạt động của Đội. Chủ động thiết lập các quan hệ, trao
    đổi, đề nghị và kêu gọi hỗ trợ, giúp đỡ, phối hợp của Hội cha mẹ học sinh và các
    lực lượng xã hội khác, đặc biệt là các công ty đóng trên địa bàn xã để huy động
    nguồn lực để tổ chức các hoạt động Đội;
    – Xây dựng qui chế thi đua và tuyên dương, khen thưởng lớp, giáo viên phụ
    trách, đội viên tích cực tham gia các hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua
    các mô hình hoạt động của Đội;
    – Nâng cao nhận thức cho đội viên về quyền tham gia của trẻ em, về những
    ích lợi đối với các em khi tham gia hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua
    các mô hình hoạt động của Đội
    – Tạo cơ hội cho đội viên được bày tỏ nhu cầu hoạt động, được tham gia ý
    kiến và lựa chọn nội dung, hình thức hoạt động; được tham gia điều khiển, thực
    hiện và đánh giá hoạt động một cách phù hợp.
    – Bồi dưỡng cho đội viên những kĩ năng hoạt động tập thể cần thiết (kỹ năng
    lập kế hoạch hoạt động, kỹ năng tổ chức và quản lí các hoạt động, kỹ năng đánh
    giá kết quả hoạt động) và các kỹ năng hoạt động cụ thể khác.
    – Hướng dẫn và giao việc cho đội viên theo mức độ phức tạp và khối lượng
    tăng dần. Luôn động viên, khích lệ các em đội viên
    – Chia hoạt động thành nhiều công việc, nhiều nhiệm vụ nhỏ để tăng cường
    thu hút số lượng đội viên tham gia;
    – Lựa chọn các ý tưởng, nội dung, hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kỹ
    năng sống thông qua các mô hình hoạt động của Đội đa dạng, mới mẻ, hấp dẫn
    đội viên, thu hút được sự quan tâm của đội viên, đáp ứng được nhu cầu khám
    phá của các emđội viên .
    – Phổ biến rõ để mỗi đội viên đều biết công việc, cách thực hiện, thời gian,
    địa điểm, … trước khi tham gia hoạt động.
    – Phổ biến, nâng cao nhận thức cho phụ huynh học sinh để họ động viên,
    khuyến khích, tạo điều kiện về thời gian, kinh phí, vật chất cho con em tham gia
    hoạt động;
    – Tổ chức giao lưu học hỏi kinh nghiệm về tổ chức hoạt động giáo dục kỹ
    năng sống thông qua các mô hình hoạt động của Đội giữa các chi đội/khối chi
    đội trong Liên đội;
    – Phối hợp các lực lượng xã hội động viên khuyến khích HS tham gia hoạt động
    giáo dục kỹ năng sống thông qua các mô hình hoạt động của Đội; thông báo rộng rãi
    với cha mẹ đội viên về các hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua các mô hình
    hoạt động của Đội của liên đội;
    – Tham mưu nhà trường xây dựng cở sở vật chất trường lớp, sách báo tham
    khảo, tài chính đáp ứng yêu cầu các hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua
    cácmô hình hoạt động của Đội.
    3.3. Chƣơng trình cáchoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua các
    mô hình hoạt động của Đội của năm học (cụ thể năm học 2019 -2020)

    Thời
    gian
    Chủ
    điểm
    Nội dung và
    hình thức HĐ
    Mục đích yêu
    cầu
    Phối hợp thực
    hiện
    Điều
    kiện

    6

    thực
    hiện
    Tháng
    9
    Mái
    trường
    thân yêu
    của em
    – Nói chuyện
    truyền thống
    nhà trường.
    – Tổ chức ngày
    hội trò chơi
    dân gian trong
    ngày lễ khai
    giảng năm học
    mới
    – Tổ chức “Hội
    rằm trung thu”
    – Tổ chức tập
    huấn BCH
    Liên đội lâm
    thời và đội
    nghi thức
    – Tổ chức tập
    nghi thức Đội
    và múa hát sân
    trường theo
    chủ đề
    – Tổ chức Đại
    hội Liên đội
    – 100% học sinh
    tham gia với thái
    độ tích cực
    – Tạo không khí
    vui vẻ trong
    ngày đầu của
    năm học mới
    – Theo kế hoạch
    của BCH Đoàn

    -Lựa chọn đội
    viên có năng
    khiếu
    – 100% học sinh
    tham gia với thái
    độ tích cực
    – Lựa chọ được
    các đội viên
    chăm ngoan, học
    tốt, nhiệt tình,
    trách nhiệm
    trong công việc
    được giao vào
    BCH Liên đội
    – GV phụ trách
    chi đội,
    GVTPT đội
    – GVTPT đội,
    BCH Liên đội,
    GV phụ trách
    chi đội
    – GV phụ trách
    các chi đội,
    GVTPT đội,
    đội nghi lễ
    – GV phụ trách
    các chi đội,
    GVTPT đội,
    BCH Liên
    – GVTPT đội,
    BCH Liên đội
    đội cũ, GV phụ
    trách các chi
    đội.
    Lập kế
    hoạch,
    dự trù
    kinh phí
    hoạt
    động, xin
    ý kiến
    chỉ đạo
    của
    BGH, tài
    liệu về
    truyền
    thống
    nhà
    trường,
    nghi
    thức Đội,
    các trang
    thiết bị:
    âm
    thanh,
    máy
    chiếu,
    dụng cụ
    tổ chức
    trò chơi,
    ..
    Tháng
    10
    Vòng tay
    bạn bè
    – Phát động
    phong trào
    quyên góp sách
    GK, vở tặng
    các bạn có
    hoàn cảnh khó
    khăn.
    – Tập huấn, bồi
    dưỡng phụ
    trách chi đội,
    BCH Chi đội,
    – 100% học sinh
    tham gia với thái
    độ tích cực, biết
    chia sẽ và giúp
    đỡ các bạn có
    hoàn cảnh khó
    khăn.
    – Hướng dẫn
    Phụ trách các
    chi đọi các kỹ
    năng tổ chức
    sinh hoạt chi
    – GV phụ trách
    các chi đội,
    GVTPT đội,
    BCH chi đội,
    Liên đội
    – Giáo viên
    TPT Đội, phụ
    trách các chi
    đội
    -GV phụ trách
    – Lập kế
    hoạch,
    dự trù
    kinh phí
    hoạt
    động, xin
    ý kiến
    chỉ đạo
    của
    BGH,
    chuẩn bị
    các tài

    7

    Liên đội
    – Phát động
    phong trào “
    Đọc và làm
    theo Báo đội”
    – Sinh hoạt chủ
    điểm tháng 10
    – Vòng tay bè
    bạn
    độihiệu quả
    Thực hiện tốt
    các phương
    hướng hoạt động
    Đội đề ra
    – HD cho các
    bạn đội viên biết
    kỉ năng tổ chức
    đội.
    các chi đội,
    TPT Đội và
    học sinh.
    – GV TPT, đội
    tuyên truyền
    măng non
    liệu về
    ATGT,h
    ướng dẫn
    sinh hoạt
    chi đội,
    các trang
    thiết bị:
    âm
    thanh,
    máy
    chiếu,
    Tháng
    11
    Biết ơn
    thầy cô
    giáo
    – Phát động
    phong trào Viết
    nhật kí “ Thiếu
    nhi làm theo 5
    điều Bác dạy”
    Chào mừng
    ngày Nhà giáo
    Việt Nam
    – Các chi đội
    làm báo tường
    chủ đề về thầy
    cô, mái trường.
    – Tổ chức sinh
    hoạt chuyên đề
    “ chúng em với
    An toàn giao
    thông”, tổ chức
    lễ tưởng niệm
    nạn nhân tử
    vong do tai nạn
    giao thông
    -100% học sinh
    tham gia HĐ,
    biết tỏ thái độ
    kính trọng biết
    ơn thầy cô giáo
    – viết các bài
    thơ, bài văn về
    chủ đề thầy cô
    giáo, nhà trường
    thái độ kính
    trọng biết ơn
    thầy cô giáo
    – phổ biến các
    thông điệp về
    ATGT, văn hóa
    giao thông từ đó
    nâng cao ý thức
    chấp hành tốt
    luật ATGT
    GV phụ trách
    chi đội,
    GVTPT đội
    – GV phụ trách
    chi đội,Chi đội
    – GV phụ trách
    chi đội, TPT
    Đội.
    – BGH, GV
    phụ trách chi
    đội, TPT Đội,
    Công ty Hon
    Đa Vũ Hoàng
    Lê phối hợp
    Các
    phương
    tiện phục
    vụ hoạt
    động: âm
    thanh,
    máy
    chiếu,
    hội
    trường,
    trang
    phục;
    Liên hệ
    Hướng
    dẫn viên
    của công
    ty Hon
    Đa Vũ
    Hoàng
    Tháng
    12
    Uống
    nước nhớ
    nguồn
    – Tìm hiểu về
    truyền thống
    quân đội
    NDVN;
    – Tổ chức buổi
    nói chuyện
    chuyên đề:
    “Biến nhà tu đế
    quốc thành
    trường học
    cách mạng”
    – Sinh hoạt câu
    – 100% học sinh
    tham gia HĐ,
    Biết tỏ thái độ
    yêu quê hương
    đất nước, biết sự
    hy sinh to lớn
    của các chú bộ
    đội “ Uống nước
    nhớ nguồn”
    Nhằm giáo dục
    ý thức đạo đức,

    GVCN,GVTPT
    đội
    Tài liệu
    về quê
    hương
    đát nước,
    Các
    phương
    tiện phục
    vụ hoạt
    động: âm
    thanh,
    máy

    8

    lạc bộ mĩ thuật
    chủ đề: Uống
    nước nhớ
    nguồn;
    Tổ chức hoạt
    động ngoại
    khóa với chủ
    đề:” Xây dựng
    tình bạn đẹp
    nói không với
    bạo lực học
    đường”
    lối sống văn
    hóa, ngăn chặn
    nạn bạo lực học
    đường, định
    hướng xây dựng
    tình bạn đẹp cho
    học sinh
    GV TPT,
    BGH, HĐ Đ
    huyện, GV Phụ
    trách các chi
    đội.
    chiếu,
    hội
    trường,
    trang
    phục,
    Liên hệ
    mời
    chuyên
    gia giáo
    dục kỹ
    năng
    sống.
    Tháng
    1
    Ngày tết
    quê em
    -Tổ chức quyên
    góp ủng hộ các
    bạn nghèo đón
    tết; thăm và
    tặng quà cô nhi
    viện bùi chu
    – Tổ chức hoạt
    động tham
    quan địa chỉ
    đỏ.
    – Tổ chức ngày
    hội gói bánh
    chưng cho đội
    viên có hoàn
    cảnh đặc biệt
    với chủ đề:
    “Bánh chưng
    xanh dành yêu
    thương”
    100% học sinh
    tham gia HĐ,
    thể hiện việc giữ
    gìn truyền thống
    dân tộc bằng
    hành động, lời
    nói trong giao
    tiếp hàng ngày
    – giúp cho các
    em đội viên hiểu
    về truyền thống
    cách mạng của
    huyện Xuân
    Trường nói
    chung, về truyền
    thống khoa bảng
    và cách mạng
    của gia đình
    Tổng bí thư
    Trường Chinh
    nói riêng.
    GV phụ trách
    các chi đội, GV
    TPT, Ban BCH
    các chi đội,
    BCH Liên đội,
    TT Hội cha mẹ
    học sinh.
    Tài liệu
    về truyền
    thống
    văn hóa
    dân tộc,
    Các
    phương
    tiện phục
    vụ hoạt
    động: âm
    thanh,
    máy
    chiếu,
    hội
    trường,
    trang
    phục
    Tháng
    2
    Em yêu tổ
    quốc Việt
    Nam
    (không tổ
    chức hoạt
    động do
    dịch
    covid19)
    – Tổ chức cho
    học sinh tìm
    hiểu về truyền
    thống địa
    phương;
    – Tổ chức Ngày
    hội Đọc sách;
    – Sinh hoạt tập
    thể kỷ niệm
    ngày 3/2, nghe
    nói chuyện về
    100% học sinh
    tham gia HĐ,
    thể hiện việc giữ
    gìn truyền thống
    dân tộc bằng
    hành động, lời
    nói trong giao
    tiếp hàng ngày
    GV phụ trách
    chi đội,
    GVTPT đội,
    BCH chi đội,
    Liên đội
    Tài liệu
    về truyền
    thống
    văn hóa
    dân tộc,
    Các
    phương
    tiện phục
    vụ hoạt
    động: âm
    thanh,

    9

    truyền thống
    quê hương, đất
    nước, Đảng;
    – Tổ chức giao
    lưu : Nghi thức
    đội và múa hát
    tập thể;
    – Ra mắt câu
    lạc bộ học tập.
    máy
    chiếu,
    hội
    trường,
    trang
    phục
    Tháng
    3
    Yêu quý
    mẹ và cô
    (không tổ
    chức hoạt
    động do
    dịch
    covid19)
    – Tổ chức ngày
    hội Kế hoạch
    nhỏ;
    – Thi kể chuyện
    về bà, mẹ, các
    vị nữ anh hùng
    dân tộc;
    Tổ chức ngày
    hội: Thiếu nhi
    vui khỏe – Tiến
    bước lên Đoàn
    100% học sinh
    tham gia HĐ, có
    thái độ và cử chỉ
    đẹp thể hiện tình
    cảm kính trọng
    mẹ và cô
    GV phụ trách
    chi đội,
    GVTPT đội,
    BCH chi đội,
    Liên đội
    Các
    phương
    tiện phục
    vụ hoạt
    động: âm
    thanh,
    máy
    chiếu,
    hội
    trường,
    trang
    phục
    Tháng
    4
    Hòa bình
    và hữu
    nghị
    (không tổ
    chức hoạt
    động do
    dịch
    covid19)
    – Tổ chức cuộc
    thi sưu tầm
    tranh ảnh, tư
    liệu về cuộc
    sống của thiếu
    nhi các nước
    trên thế giới;
    – Tổ chức giao
    lưu: “Tuyên
    truyền ca khúc
    cách mạng”.
    100% học sinh
    tham gia HĐ,
    biết cách bày tỏ
    thái độ thể hiện
    hòa bình hữu
    nghị khi gặp
    khách nước
    ngoài
    GV phụ trách
    chi đội,
    GVTPT đội,
    BCH chi đội,
    Liên đội.
    Tài liệu
    về hòa
    bình,
    hữu
    nghị,
    Các
    phương
    tiện phục
    vụ hoạt
    động: âm
    thanh,
    máy
    chiếu,
    hội
    trường,
    trang
    phục
    Tháng
    5
    Bác Hồ
    kính yêu
    – Sinh hoạt tập
    thể kỷ niệm
    ngày sinh nhật
    Bác: Nghe kể
    chuyện về Bác
    Hồ. Tìm hiểu
    100% học sinh
    tham gia HĐ,
    biết thể hiện
    lòng kính trọng
    và biết ơn Bác
    qua các việc làm
    Tổ trưởng CM,
    GV phụ trách
    chi đội,
    GVTPT đội
    Tài liệu
    về Bác
    Hồ với
    thiếu nhi,
    Các
    phương

    10

    về Bác Hồ với
    thiếu nhi Việt
    Nam;
    – Tổ chức giao
    lưu: “Chúng
    em kể chuyện
    Bác Hồ”;
    Tổ chức cuộc
    thi vẽ tranh
    “Bác Hồ với
    thiếu nhi –
    Thiếu nhi với
    Bác Hồ”
    – Tổ chức kết
    nạp Đội viên.
    cụ thểtiện phục
    vụ hoạt
    động: âm
    thanh,
    máy
    chiếu,
    hội
    trường,
    trang
    phục
    Tháng
    6
    Hoa thơm
    dâng Bác
    – Đại hội cháu
    ngoan Bác Hồ;
    tổng kết cuộc
    thi vẽ tranh
    “Bác Hồ với
    thiếu nhi –
    Thiếu nhi với
    Bác Hồ”
    – Góp phần
    khẳng định vị trí
    của tổ chức Đội,
    thu hút sự quan
    tâm của các cấp,
    các ngành, các
    lực lượng xã hội
    đối với việc bảo
    vệ, chăm sóc,
    giáo dục thiếu
    niên, nhi đồng
    và xây dựng Đội
    TNTP Hồ Chí
    Minh vững
    mạnh.
    BGH, GVTPT
    đội, bí thư chi
    đoàn, Giáo
    viên phụ trách
    các chi đội,
    BCH Liên đội.
    Huy
    động các
    nguồn
    lực của
    các tổ
    chức để
    tổ chức
    đại hội
    cháu
    ngoan
    Bác Hồ
    được
    trọng thể
    và ý
    nghĩa
    Tháng
    7,8
    – Phối hợp với
    Đoàn địa
    phương tổ chức
    các HĐ;
    100% tham gia
    hoạt động hè ở
    nơi cư trú
    GVTPT đội, bí
    thư chi đoàn,
    BCH Đoàn Xã
    Tài liệu
    về hoạt
    động hè,
    văn bản
    phối hợp
    giữa nhà
    trường
    và Ban
    chấp
    hành
    Đoàn địa
    phương

    3.4, Xây dựng lịch hoạt động
    11
    Việc xây dựng lịch hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua các mô hình
    hoạt động của Độicủa liên độithành nền nếp theo thời gian thực chất là cụ thể hóa
    các hoạt động vào kế hoạch hoạt động của nhà trường. Đó là những hoạt động
    diễn ra hàng ngày, tuần, tháng, học kì ở các nhà trường. Giáo viên TPT đội cần
    phối hợp tốt với giáo viên phụ trách chi đội, giáo viên bộ môn và các đoàn thể
    để tìm ra những hình thức hoạt động hấp dẫn, phù hợp với lứa tuổi và điều kiện
    cụ thể của trường, lớp mình để chuyển tải những nội dung giáo dục khá quen
    thuộc thì mới có thể thu hút sự hào hứng tham gia của đông đảo học sinh, khi đó
    hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua các mô hình hoạt động của Độimới
    đạt chất lượng giáo dục cao. Lịch hoạt động thành nền nếp, theo thời gian gồm
    các nội dung:
    3.4.1. Hoạt động hàng ngày
    – Ở lớp:
    + Trực nhật: vệ sinh trường lớp, chăm sóc cây hoa
    + Sinh hoạt 15 phút đầu giờ: truy bài, đọc báo Đội (báo Thiếu niên Tiền
    phong), văn nghệ…
    + Bình xét thi đua cuối buổi học, cuối ngày học.
    – Toàn trường:
    + Thể dục giữa giờ, múa hát tập thể
    + Bản tin hàng ngày
    + Hoạt động của đội Sao đỏ, để duy trì nề nếp, kỉ luật nhà trường.
    3.4.2. Hoạt động hàng tuần
    – Ở lớp:
    + Hoạt động ngoài giờ lên lớp theo chương trình
    + Sinh hoạt lớp, sinh hoạt chi đội, phát động thi đua, sơ kết hàng tuần, phổ
    biến công việc, trao đổi thảo luận những vấn đề học sinh lớp quan tâm, văn
    nghệ, trò chơi, …
    – Ở trường:
    + Sinh hoạt dưới cờ: chào cờ đầu tuần, câu chuyện dưới cờ theo chủ điểm
    giáo dục, giao lưu khách mời, thời sự, thi đua, văn nghệ, trò chơi…
    + Phát thanh học đường theo các chủ đề: phòng chống tệ nạn xã hội, an toàn
    giao thông, bảo vệ môi trường, người tốt, việc tốt, văn nghệ…
    + Sinh hoạt câu lạc bộ: câu lạc bộ văn hay chữ đẹp, câu lạc bộ giải toán qua
    mạng, câu lạc bộ Tiếng anh, câu lạc bộ khéo tay hay làm, câu lạc bộ cờ vua, câu
    lạc bộ điền kinh, câu lạc bộ bóng đá, võ thuật, câu lạc bộ những ca sĩ nhí….
    3.4.3. Hoạt động hàng tháng
    – Tổ chức sinh hoạt theo chủ điểm;
    – Tổ chức ngày hội truyền thống;
    – Công tác xã hội: lao động công ích, hoạt động từ thiện xã hội, hoạt động
    hướng về cội nguồn…
    – Tổ chức các hoạt động tuyên truyền các sự kiện chính trị lớn trong cả nước
    như tuyên truyền về Đại hội Đảng các cấp, tuyên truyền về cách phòng và chống
    dịch bệnh…
    12
    – Biểu diễn văn nghệ, thi đấu thể thao, thi khéo tay, thi vẽ tranh theo chủ
    đề…
    – Tổ chức cắm trại, tham quan dã ngoại theo chủ đề, du lịch, tổ chức sinh
    nhật cho các bạn sinh cùng tháng;
    – Sinh hoạt câu lạc bộ giải toán qua mạng, CLB Tiếng anh, CLB khéo tay
    hay làm.
    3.4.4. Hoạt động hàng kỳ
    Sơ kết, tổng kết, bình xét thi đua, rút ra bài học kinh nghiệm để việc tổ chức
    các hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua các mô hình hoạt động của
    Độitrong thời gian tiếp theo đạt kết quả cao hơn.
    4. Bồi dƣỡng nâng cao nhận thức cho đội viên về Quyền tham gia của
    trẻ em, về những ích lợi đối với các em khi tham gia hoạt động giáo dục kỹ
    năng sống thông qua các mô hình hoạt động của Đội
    4.1. Đối với Ban cán sự lớp, Ban chỉ huy Đội
    Bồi dưỡng giáo dục để các em có nhận thức đúng về việc tham gia các hoạt
    động ngoại khóa. Học sinh phải hiểu được tham gia hoạt động giáo dục kỹ năng
    sống thông qua các mô hình hoạt động của Độichính là quyền lợi và cũng trách
    nhiệm của mỗi học sinh. Qua các hoạt động ngoại khóa giúp các em phát triển
    về nhận thức về các kĩ năng cần thiết. Từ đó các em tuyên truyền, vận động phụ
    huynh, các bạn trong lớp, trong trường tích cực tham gia tốt hoạt động này;
    Bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, về năng lực tổ chức, điều hành, hướng
    dẫn, quản lí tập thể lớp tổ của đội ngũ, ban chỉ huy Liên đội, chi đội.
    Bồi dưỡng về kĩ năng tổ chức, tham gia các hoạt động tập thể. Rèn tính chủ
    động, tự giác, tính tập thể, tính sáng tạo trong tham gia hoạt động ngoài giờ lên
    lớp.
    4.2. Đối với đội viêntoàn trƣờng
    Bồi dưỡng giáo dục để các em có nhận thức đúng về việc tham gia các hoạt
    động ngoại khóa. Học sinh phải hiểu được tham gia hoạt động ngoài giờ lên lớp
    chính là quyền lợi và cũng trách nhiệm của mỗi học sinh. Qua các hoạt động
    ngoại khóa giúp các em phát triển về nhận thức về các kĩ năng cần thiết.
    5. Xây dựng và tổ chức tốt các hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông
    qua các mô hình hoạt động của Độitheo chủ đề, chủ điểm
    Để tổ chức có hiệu quả các hoạt động giáo dục theo chủ đề, chủ điểm người
    giáo viên cần lưu ý các nội dung sau:
    5.1. Về nguyên tắc tổ chức
    – Hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua các mô hình hoạt động của
    Đội phải tạo cơ hội cho đội viên được phát triển tối đa tiềm năng bản thân
    – Nội dung và hình thức hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua các mô
    hình hoạt động của Đội phải phong phú, đa dạng, tươi vui, phù hợp với đặc điểm
    lứa tuổi tiểu học và đáp ứng được nhu cầu hoạt động của đội viên;
    – Hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua các mô hình hoạt động của
    Đội phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tế của nhà trường; phải gần gũi
    với cuộc sống thực tiễn của đội viên; phù hợp với đặc điểm VH-XH và yêu
    cầugiáo dục của địa phương.
    13
    – Phải đảm bảo huy động được sự tham gia tích cực của học sinh vào tất cả
    các khâu của quá trình hoạt động phù hợp với khả năng của các em.
    – Cần phải bố trí, sắp xếp hoạt động giáo dục kỹ năng sống thông qua các
    mô hình hoạt động của Đội đan xen với việc dạy học các môn học khác, với các
    hoạt động khác của nhà trường một cách hợp lí.
    – Phải có sự phối hợp chặt chẽ của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà
    trường.
    5.2. Về hình thức và phương pháp tổ chức
    Chọn lựa hình thức tổ chức đa dạng, phong phú, hấp dẫn đội viên. Không
    nên
    lặp đi, lặp lại quá nhiều lần một hình thức tổ chức, dễ gây tâm lí nhàm chán
    với đội viên
    Cải tiến nội dung và hình thức tổ chức các ngày lễ kỉ niệm trong năm. Tránh
    những bài thuyết trình quá dài dòng, bắt học sinh phải nghe mà không đọng lại
    nhiều trong nhận thức của các em, dẫn đến việc các em nói chuyện riêng, gây
    mất trật tự trong giờ sinh hoạt và không còn hứng thú với hoạt động tiếp theo.
    Việc chọn lựa hình thức, phương thức tiến hành các hoạt động giáo dục
    ngoài giờ lên lớp cần có sự xem xét đến nhu cầu và đặc điểm tâm lí của từng đối
    tượng đội viên.
    5.3. Về nội dung giáo dục
    Nội dung của tiết hoạt động giáo dục có thể dựa vào nội dung chương trình
    các môn học trong thời điểm tổ chức hoạt động hoặc theo chủ điểm giáo dục
    hàng tháng (đã nêu ở phần 3.3. Chương trình các hoạt động giáo dục hoạt động
    giáo dục kỹ năng sống thông qua các mô hình hoạt động của Đội năm học). Cấu
    trúc nội dung một tiết hoạt động giáo dục gồm:
    + Củng cố, khắc sâu kiến thức đã được học trong chương trình chính khóa;
    + Rèn kĩ năng làm việc hợp tác nhóm nhỏ, cặp đôi;
    + Mở rộng, nâng cao kiến thức cho học sinh theo sở thích, sở trường để bồi
    dưỡng năng khiếu cho các nhóm đối tượng.
    5.4. Các khâu tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
    – Khâu chuẩn bị:
    Chuẩn bị là khâu quan trọng quyết định sự thành công của hoạt động. Nếu
    chuẩn bị tốt thì hoạt động giáo dục sẽ đạt hiệu quả giáo dục cao, ít sơ suất. Quá
    trình chuẩn bị, người tổ chức thực hiện phải xác định rõ: Làm cái gì? Ai làm?
    Và làm như thế nào?
    – Khâu tiến hành hoạt động:
    Khi tiến hành các hoạt động cần chú ý đến việc phát huy tốt vai trò chủ động
    tích cực của học sinh. Các hoạt động phải vừa sức với đội viên, phù hợp với
    lượng thời gian định tổ chức, đảm bảo được tính tập thể, tính sư phạm trong suốt
    quá trình của hoạt động.
    Trong quá trình tiến hành hoạt động cần lưu ý khả năng tự điều khiển của
    học sinh để giáo viên hỗ trợ, giúp đỡ khi cần thiết và giảm bớt được sự lúng lúng
    của đội viên khi điều khiển các hoạt động

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Cách làm bạn với học sinh của giáo viên Trung học cơ sở

    SKKN Cách làm bạn với học sinh của giáo viên Trung học cơ sở

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Bối cảnh xã hội và mục tiêu giáo dục trong nhà trƣờng.
    Bước sang thế kỷ thứ XX, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục có những bước
    đột phá, tạo sự chuyển biến nhanh về mọi mặt trong đời sống của người Việt
    Nam. Tuy nhiên, những biến động của nền kinh tế thị trường mở cửa cũng gây ra
    không ít tác động tiêu cực đến đời sống tinh thần của nhiều người, đặc biệt là giới
    trẻ, mà lực lượng đông nhất chính là học sinh trung học cơ sở và trung học phổ
    thông. Điều này đòi hỏi gia đình và nhà trường phải có những giải pháp hợp lí
    hướng đến giáo dục đạo đức, hình thành nhân cách tốt đẹp ở học sinh.
    Giáo dục học sinh không phải chỉ là dạy cho các em về kiến thức, mà còn
    phải giúp các em hình thành nhân cách; không chỉ là dạy chữ mà còn phải dạy
    người. Vì lẽ đó mà sự nghiệp giáo dục dược mệnh danh là “trồng người”. Việc
    trồng người này đòi hỏi phải có sự chung tay góp sức của các lực lượng xã hội,
    mà quan trọng nhất là sự phối hợp ăn ý, chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường.
    Thế nhưng các bậc cha mẹ đôi khi cũng bế tắc trong việc giáo dục con ở tuổi
    thanh thiếu niên. Một số bậc cha mẹ vì quá bận rộn với việc làm kinh tế mà
    không quan tâm được đến con và phó mặc cho thầy cô. Có người rất thật lòng:
    “Ở nhà tôi rầy cỡ nào nó cũng không nghe. Tôi nói mười câu không bằng thầy
    nói một câu.” Cũng có người thể hiện thái độ bất hợp tác: khóa điện thoại khi
    thầy cô chủ nhiệm gọi đến.
    Với một số học sinh, gia đình không phải là chốn bình yên, không phải là
    nơi mà em muốn quay về sau mỗi ngày đi học, bởi ở nhà, “bố mẹ con chỉ biết
    dùng từ thô tục chửi con, đánh con. Con sợ đòn roi, nhưng con không nể bố mẹ
    con,… Cô cho con một câu trả lời, cô cho con một lời nào giúp con đi cô!” – Một
    em học sinh đã gửi đi lời cầu cứu đến cô chủ nhiệm của mình như thế! Có em, vì
    cha mẹ không có con trai, nên ngay từ nhỏ, đã cho con gái ăn mặc quần áo của
    con trai, đối xử như với con trai. Đến trường, em hung hăng, nghênh ngang thể
    hiện bản lĩnh “đàn anh” của mình. Lúc này, cha mẹ mới khẩn khoản: thầy cô làm
    ơn giúp dùm gia đình. Cũng có em tâm sự: Cô ơi, con không thích học sư phạm,
    nhưng mẹ con nói là sư phạm dễ kiếm việc làm, dễ lấy chồng nên bắt con thi.
    Bây giờ con đăng ký thi ngành điện tử, ba mẹ con không nhìn tới mặt con, con
    phải làm sao hả cô?
    Và còn biết bao tình huống mà người giáo viên phải đối diện khi dạy học
    sinh: các em nghĩ thầy cô đối xử bất công hay hiều lầm, mâu thuẫn với bạn bè
    3
    dẫn đến xô xát, muốn nghỉ học vì chán nản chuyện gia đình, vì hoàn cảnh khó
    khăn,… Ở tuổi mới lớn, vì luôn muốn được quan tâm, đôi khi các em thổi phồng
    vấn đề của mình lên quá mức, khiến cho việc nhỏ trở nên trầm trọng. Nếu không
    được kịp thời giúp đỡ, khi cảm thấy không ai quan tâm đến mình, các em sẽ tự
    giải quyết vấn đề và thông thường đó là những cách xử lý tiêu cực, đôi khi gây ra
    hậu quả vô cùng trầm trọng.
    Thiết nghĩ, trước những tình huống nảy sinh trong quá trình giáo dục,
    người thầy cần phải có đủ thời gian, đủ kiên nhẫn, đủ bản lĩnh và quan trọng nhất
    là phải có đủ tình thương để có thể lắng nghe, thông cảm, thấu hiểu, chia sẻ và
    định hướng cho các em cách giải quyết những vấn đề khó khăn trong cuộc sống.
    Tuy nhiên, ta không nên chờ đến khi thật sự có vấn đề rồi mới đi tìm cách giải
    quyết, mà phải phát hiện được vấn đề khi nó còn tiềm ẩn, ngăn chặn những tình
    huống xấu phát sinh. Bởi vậy thầy cô cần biết cách “làm bạn” và trở thành người
    bạn của học sinh.
    2. Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở.
    – Tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển của trẻ từ 11 – 15 tuổi, các em được vào
    học ở trường Trung học cơ sở (từ lớp 6 đến lớp 9). Lứa tuổi này có một vị trí đặc
    biệt và tầm quan trọng trong thời kì phát triển của trẻ em, vì nó là thời kì chuyển
    tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác
    nhau như: “thời kì quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị”…
    – Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần
    khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành)
    tạo nên nội dung cơ bản và khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ,
    tình cảm, đạo đức… của thời kì này.
    – Ở lứa tuổi thiếu niên có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người
    lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều
    kiện sống, hoạt động… của các em. Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự
    khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn – điều
    này do hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên. Hoàn cảnh đó
    có cả hai mặt: Những yếu điểm của hoàn cảnh kiềm hãm sự phát triển tính người
    lớn: trẻ chỉ bận vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha
    mẹ có xu thế không để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhua của gia
    đình, của xã hội. Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người
    lớn: sự gia tăng về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp
    khó khăn trong đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để mưu sinh. Điều đó
    khiến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn.
    4
    – Phương hướng phát triển tính người lớn ở lứa tuổi này có thể xảy ra theo các
    hướng sau:
    Đối với một số em, tri thức sách vở làm cho các em có hiểu biết nhiều,
    nhưng còn nhiều mặt khác trong đời sống xã hội các em biết rất ít. Có những em
    ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường, mà chỉ quan tâm đến vấn đề làm thế
    nào cho phù hợp với mốt, coi trọng việc giao tiếp với người lớn, với bạn lứa tuổi
    để bàn bạc, trao đổi với họ các vấn đề trong cuộc, để tỏ ra mình cũng như người
    lớn. Ở một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực
    tế đang rèn luyện mình có những đức tính của người lớn như: dũng cảm, tự chủ,
    độc lập…Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên có
    vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đây là thời kì phát triển phức tạp nhất, và
    cũng là thời kì chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này.
    Thời kì thiếu niên quan trọng ở chỗ: trong thời kì này những cơ sở, phương
    hướng chung của sự hình thành quan điểm xã hội và đạo đức của nhân cách được
    hình thành, chúng sẽ được tiếp tục phát triển trong tuổi thanh niên. Hiểu rõ vị trí
    và ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lí thiếu niên giúp chúng ta có cách đối xử
    đúng đắn và giáo dục để các em có nhân cách toàn diện.
    Ở độ tuổi 11-15, các em chưa phải là người lớn nhưng cũng không còn là
    trẻ con, có khả năng nhận thức nhưng những nhận thức của các em chưa thật sự
    chín chắn và có thể sẽ sai lệch nếu không được định hướng. Các em còn lệ thuộc
    vào cha mẹ về cả kinh tế lẫn tinh thần. Tuy nhiệm vụ chính là học tập, nhưng các
    em thường phải đối mặt với rất nhiều áp lực, từ nhiều phía: gia đình, nhà trường,
    xã hội. Ở nhà, đó là những yêu cầu, kỳ vọng của cha mẹ, ông bà, là bầu không
    khí trong gia đình, là mối quan hệ giữa con cái với cha mẹ,… Ở trường, là áp lực
    về học tập, quan hệ với thầy cô, bạn bè….Ngoài xã hội, các em phải đối mặt với
    những cám dỗ của các trò chơi, các trang thông tin mạng,… Và riêng bản thân
    các em cũng phải lúng túng với những vấn đề mới nảy sinh: những thay đổi
    vềtâm sinh lý, tình cảm tuổi học trò,… Cá biệt, có những em vấp phải vấn
    đềnghiêm trọng hơn: lệch lạc về giới tính, bạo hành gia đình, tệ nạn xã hội,…Đối
    diện với những vấn đề phức tạp đó, rất nhiều em sẽ không biết nhìn nhận, giải
    quyết vấn đề như thế nào cho hợp lý. .
    Trong những trường hợp như thế, học sinh rất cần đến sự chia sẻ, sự thông
    hiểu từ người thân: gia đình, bạn bè,… Thế nhưng trong cuộc sống, người lớn
    chúng ta thường đòi hỏi các em phải có ý thức trách nhiệm, có thái độ hợp lý, có
    tính độc lập, nhưng mặt khác lại cũng đòi hỏi các em phải chịu sự sắp đặt của của
    người lớn. Vì vậy, thay vì cho con những lời khuyên, các bậc cha mẹ lại thường
    rót vào tai con cái những câu đại loại như: Con phải …, Con người ta … còn con
    thì …, Hồi đó ba (mẹ) …, … Không muốn bị áp đặt, không muốn bị so sánh, và
    5
    không muốn nghe ba mẹ kể “chuyện đời xưa”, con cái thường che giấu cha mẹ
    những điều mà các em đang trăn trở, những vướng mắc của bản thân, …
    Lâu dần, vì lý do này hay lý do khác, các em đâm ra đề phòng cha mẹ, thầy
    cô, thủ thế với bạn bè. Trong khi đó, trên báo chí, trên các trang mạng xã hội, lại
    đầy những thông tin bất lợi đối với các em – những “người lớn – trẻ con” chưa đủ
    sức sàng lọc để lựa chọn, giữ lại những điều tốt và loại bỏ cái xấu. Theo chuyên
    gia tư vấn thuộc Trung tâm Tư vấn học đường tại TP.HCM – Chuyên viên
    Nguyễn Hồng Sơn – thì: “Đối với trẻ vị thành niên, có thể bị mất thăng bằng bởi
    chính những điều tưởng như vặt vãnh ấy, nếu không được những người xung
    quanh quan tâm, giúp đỡ và chia sẻ kịp thời”. Bác sĩ Phạm Anh Tuấn, Khoa Cấp
    cứu, Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương cho biết: 90% trẻ vị thành niên tự tử vì
    cảm thấy không được gia đình thấu hiểu.
    Có thể nói, lứa tuổi 11 – 15 là một trong những giai đoạn khủng hoảng và
    khó khăn trong cuộc đời của mỗi người. Sự trợ giúp kịp thời và đúng đắn từ phía
    người lớn là một nhu cầu bức thiết đối với trẻ, đặc biệt là khi các em đó rơi vào
    sự khủng hoảng tâm lý. Học sinh cần được giãi bày, cần được tâm sự, cần được
    những lời khuyên đúng đắn từ người lớn, mà gần gũi với các em nhất chính là
    cha mẹ, thầy cô. Và khi không thể có được điều đó từ gia đình, nhiều em đó xem
    thầy cô như một chỗ dựa tinh thần. Cho các em những lời khuyên, định hướng
    đúng đắn cho các em con đường phải đi, giúp các em tìm lại niềm tin, niềm vui
    trong cuộc sống…Mỗi thầy cô giáo cần là một người bạn của học sinh.
    Là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn tại trường THCS Lê
    Quý Đôn, tôi cũng luôn mong muốn cùng với những đồng nghiệp đóng góp sức
    lực nhỏ bé của mình vào sự nghiệp giáo dục huyện nhà nói riêng, nước nhà nói
    chung. Với tinh thần ấy, tôi xin đưa ra một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân về
    cách “làm bạn” với học sinh của giáo viên Trung học cơ sở”.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến
    Thực hiện xây dựng sáng kiến tôi đã tiến hành tìm hiểu, quan sát:
    1.1.Tìm hiểu thực trạng đạo đức của học sinh.
    Theo kết quả khảo sát của Viện Nghiên cứu và Phát triển Giáo dục, tình
    hình vi phạm các chuẩn mực đạo đức của học sinh là khá nghiêm trọng. Có đến
    8% học sinh tiểu học thực hiện hành vi quay cóp trong thi cử và tỉ lệ gia tăng ở
    các cấp học trên: Học sinh THCS là 55% và học sinh THPT là 60%. Hành vi nói
    dối cha mẹ cũng gia tăng theo cấp học: tiểu học là 22%, trung học cơ sở là 50%,
    trung học phổ thông là 64% (Trần Hữu Quang, 2012). Vì thế, nhận xét của hai tác
    giả Đặng Văn Chương và Trần Đình Hùng (2012) làm cho những ai có trách
    nhiệm phải suy ngẫm: “Càng học lên cao thì số HS, sinh viên vi phạm đạo đức
    6
    càng tăng lên.” Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có khoảng 1.600 vụ HS
    đánh nhau ở trong và ngoài trường học trong một năm học, tính trên phạm vi toàn
    quốc, trung bình xảy ra khoảng 5 vụ/ngày (Mai Chi, 2017).Nghiên cứu của tác
    giả Lê Duy Hùng (2013) về đạo đức của học sinh cho thấy tỉ lệ học sinh vi phạm
    các chuẩn mực đạo đức là không nhỏ. Hành vi vi phạm phổ biến nhất là: chửi thề,
    chửi bậy; gây gổ, đánh nhau; trốn học, bỏ giờ và gian lận trong thi cử. Tỉ lệ 50%
    học sinh được khảo sát cho biết thỉnh thoảng có chửi thề và 12% thường xuyên
    có những hành vi đó. Tình trạng báo động học sinh gây gổ đánh nhau, trong đó
    không chỉ có học sinh nam mà còn có cả học sinh nữ. Một tỉ lệ đáng kể (34,2%
    HS) cho biết là thỉnh thoảng có thực hiện hành vi gây gổ, đánh nhau. Bên cạnh
    đó, hành vi bỏ giờ, trốn học cũng trở thành phổ biến. Có đến 26,7 % HS được
    khảo sát thừa nhận thỉnh thoảng và 7,5% cho biết là thường xuyên.
    Tình trạng suy thoái đạo đức của một bộ phận giới trẻ nói chung và học
    sinh nói riêng không chỉ là kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu và theo
    dõi phản ánh của giới truyền thông, trong Văn kiện Đại hội Đảng khóa X (Đảng
    CSVN, 2006), Đảng ta cũng đã nhận định “Tình trạng suy thoái, xuống cấp về
    đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo ngại, nhất là
    trong giới trẻ”.
    Tôi đã quan sát thái độ, cách ứng xử, lời ăn tiếng nói của học sinh các
    trường Trung học cơ sở khi tôi có dịp đến thăm, coi thi, tập huấn…Có khá nhiều
    em ý thức chưa tốt, thậm chí tỏ ra ngỗ nghịch. Điều khiến tôi trăn trở nhất là thái
    độ của các em đối với thầy cô giáo của mình: thiếu tôn trọng. Các em làm theo
    lời thầy cô một các miễn cưỡng, thái độ thiếu hợp tác khi thầy cô căn dặn, có em
    coi như không nghe thấy thầy cô nói gì…
    Về nguyên nhân: Có rất nhiều nguyên nhân khách quan như tác động của
    internet, điện thoại thông minh, mạng xã hội, phim ảnh, âm nhạc,… nhưng cần
    thiết phải “tự soi lại chính mình” bằng việc xem xét lại hai nguyên nhân cơ bản
    xuất phát từ gia đình và nhà trường. Tại hội nghị quốc tế lần thứ 5 về giáo dục
    thế giới năm 2012 với chủ đề “Giáo dục đang đối mặt với những vấn đề đương
    đại thế giới”, hai chuyên gia Clipa và Lorga (2012) đã khẳng định gia đình và nhà
    trường là hai yếu tố quan trọng bậc nhất ảnh hưởng đến việc hình thành đạo đức
    học sinh. Tuy nhiên, hai yếu tố then chốt này xét trong bối cảnh Việt Nam đang
    có vấn đề bởi:Gia đình thiếu quan tâm hoặc là giáo dục con em mình không đúng
    cách. Giáo dục đạo đức ở nhà trường chưa thực sự đạt hiệu quả, chưa đạt được
    mục đích là giáo dục hướng thiện đối với con người. Có những việc tưởng rằng
    nhỏ nhưng lại có tác động đáng kể đến quá trình hình thành nhân cách của học
    sinh, tuy nhiên nhà trường lại không lưu tâm đến. Ví dụ như việc làm vệ sinh
    trường lớp, tham gia hoạt động ngoại khóa của trường…Mặt khác, nói đến vai trò
    7
    của nhà trường trong việc dạy học sinh làm người, trước tiên phải đề cập đến vai
    trò của người thầy. Tác giả Dương Văn Duyên (2011) cho rằng người học luôn
    lấy người thầy làm mẫu. Thế nhưng hình ảnh mẫu mực của người thầy trong xã
    hội chúng ta trong thời gian qua đang bị xem nhẹ. Hiện tượng giáo viên vi phạm
    đạo đức như là có xảy ra, dù đó không phải là hiện tượng phổ biến nhưng đã gây
    mất niềm tin của xã hội về một hình tượng cao quý trong tâm thức của nhiều thế
    hệ. Mặt khác, Chỉ thị số 1737/CT-BGDĐT ngày 07-5-2018 của Bộ Giáo dục và
    Đào tạo cũng đã chỉ ra rằng bên cạnh đa số giáo viên có phẩm chất đạo đức tốt thì
    vẫn còn tình trạng giáo viên vi phạm đạo đức nhà giáo, gây bức xúc cho xã hội
    (Bộ GDĐT, 2018).
    Để nâng cao hiệu quả việc giáo dục đạo đức cho HS, chúng ta không thể
    trông chờ vào các cơ quan quản lý nhà nước ở các lĩnh vực khác để hy vọng quản
    lý tốt việc kinh doanh trò chơi điện tử hay hạn chế tác động tiêu cực của mạng xã
    hội và các loại hình giải trí, … hoặc trông chờ vào lương tâm của những người
    tạo ra sản phẩm “gây ngộ độc” cho đời sống đạo đức của HS, mà chính chúng ta,
    những người làm công tác giáo dục phải tiên phong. Trong số rất nhiều giải pháp
    hướng đến việc giáo dục đạo đức học sinh tôi nhận thấy: Mỗi giáo viên phải thực
    sự là người mẹ, người cha và là người bạn biết lắng nghe và chia sẻ.Qua kinh
    nghiệm thực tiễn của cá nhân và một số đồng nghiệp, chúng tôi nhận thấy nếu
    giáo viên chỉ biết dùng kỷ luật và chỉ trích những học trò thuộc dạng khó dạy thì
    khó mà chuyển hóa được học trò. Giáo viên phải ân cần lắng nghe, hiểu, chia sẻ
    và thỉnh thoảng tìm những điểm tích cực để khen học trò nhằm khuyến khích các
    em phát huy những điểm tích cực đó. Khi giáo viên đã trở thành “người bạn” của
    học sinh – trở thành người các em tin tưởng, to nhỏ tâm sự, dám bộc bạch… giáo
    viên sẽ hiểu và biết hướng giáo dục học sinh toàn diện.
    1.2. Tìm hiểu mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh trong trƣờng Trung
    học cơ sở.
    Dân tộc Việt Nam có truyền thống hiếu học từ lâu đời. Người dân Việt
    Nam dù ở giai đoạn nào của đất nước, vẫn coi trọng sự học, neo vào con chữ để
    cho con em được học hành thành người, thành tài, thành người có ích cho xã hội.
    Vì vậy, truyền thống “Tôn sư trọng đạo” luôn là một nét đẹp mang đậm tính nhân
    văn của văn hóa Việt Nam. Coi trọng sự học, kính trọng người thầy là yếu tố cốt
    lõi để làm nên giá trị nhân bản của việc học hành. Người thầy luôn được cả xã
    hội tôn kính, người được nhân dân gửi gắm niềm tin về việc học hành và sự thành
    đạt của con em họ.Từ vị trí quan trọng của người thầy, ông cha ta đã đúc rút
    thành quan niệm và trở thành đạo lý từ ngàn đời nay “Lương Sư hưng Quốc”.
    Một xã hội muốn hưng thịnh, muốn phát triển thì phải coi trọng người thầy, coi
    trọng sự học. Đó là cái gốc để làm nên sự phát triển bền vững của một đất nước.
    8
    Đạo lý đó được cha ông ta gửi gắm vào câu ca dao được truyền tụng từ bao đời
    nay: “Muốn sang thì bắc cầu kiều/Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”.
    Trong xã hội xưa, mối quan hệ thầy và trò đã được nhắc đến và được cụ
    thể hóa qua những bài học, lời dạy bảo của thầy đối với trò và cử chỉ, hành động
    “Tôn sư trọng đạo” của trò đối với thầy. Tuy nhiên, mối quan hệ thầy và trò trong
    xã hội xưa so với xã hội ngày nay có một màu sắc khác, một đặc trưng riêng biệt.
    Xuất phát từ việc coi trọng sự học, hình ảnh người thầy luôn được nhân dân nhìn
    nhận là những bậc “đạo cao đức trọng”, là “khuôn vàng thước ngọc” để dạy
    người.Vì thế, người thầy trong xã hội xưa luôn có một khoảng cách nhất định đối
    với học trò. Thầy có “đạo làm thầy”, trò có “đạo làm trò”, mỗi người đều có bổn
    phận để làm tròn vai vị trí của mình. Người thầy trong xã hội xưa luôn có thái độ
    nghiêm khắc trước học trò. Từ lời nói, cử chỉ, hành động của thầy đều thể hiện
    tính “mô phạm” để giáo dục học trò. Hình ảnh thầy đồ ngồi giảng bài trên chõng
    tre, bên dưới là những cậu học trò cặm cụi viết chữ, ngồi im nghe lời thầy giảng
    mà không dám trò chuyện riêng hay làm việc riêng là hình ảnh quen thuộc trong
    xã hội xưa. Đôi khi, trò vi phạm, nhất là vi phạm đạo đức, thầy trách phạt, thậm
    chí dùng roi đánh vào tay, vào lưng, thậm chí từ chối sự giáo dục để học trò nhận
    ra lỗi lầm của mình nhưng trò và gia đình không hề kêu ca, không hề trách mắng
    thầy vì họ đều nhận thức được rằng, có như vậy, bản thân mới nên người, mới cố
    gắng học hành để thành đạt. Khi ấy, trò chỉ có một cách duy nhất là khoanh tay
    hoặc quỳ lạy để mong thầy tha thứ và tiếp tục cho học. Người thầy trong xã hội
    xưa luôn dạy học trò phải tự soi mình để mà rèn luyện bản thân. Thầy luôn coi
    trọng giáo dục đạo đức, nhân cách cho trò để mỗi người khi thành đạt trở thành
    những con người vừa có đức, vừa có tài. Vì vậy, trong mối quan hệ thầy – trò,
    thầy luôn đặt ra yêu cầu cao đối với học trò như phải biết lễ nghĩa, thưa gửi khi
    gặp thầy, phải giữ chữ tín, đi đứng phải đúng mực, phải biết sửa lỗi khi mắc
    lỗi…Có như thế mới giữ đúng đạo làm trò. Học trò khi gặp thầy phải đứng từ xa
    mà cung kính vái chào, khi thầy cho phép đi, cho phép vào gặp thầy thì mới được
    thực hiện.
    Đối với học trò trong xã hội xưa, người thầy luôn là bậc bề trên, người sẽ
    giúp họ học hành và đỗ đạt, trở thành những người có địa vị trong xã hội. Tuy là
    “khuôn vàng thước ngọc” để học trò noi theo, tuy mô phạm nhưng người thầy
    luôn gần gũi, thương yêu học trò. Thầy luôn coi trò là con, trong cách xưng hô,
    trò luôn xưng con khi nói, thưa gửi với thầy. Vì thế, với bổn phận là học trò,
    những người học trò trong xã hội xưa luôn học theo câu nói của cổ nhân: “Tiên
    học lễ, hậu học văn”.Họ vừa kính trọng thầy dạy, vừa có những hành động để thể
    hiện lòng biết ơn thầy như những ngày lễ tết, học trò đến nhà để chúc tết thầy.
    Dân gian vẫn có câu: “Mùng 1 tết cha, mùng 2 tết chú, mùng 3 tết thầy”. Người
    9
    thầy là người đặc biệt quan trọng để mỗi khi tết đến xuân về, học trò đến tri ân
    thầy. Một hình ảnh, một cử chỉ thật đẹp mà có lẽ đến nay đã bị mai một, đó là
    cách trò chào thầy. Khi gặp thầy giữa đường hay ở sân trường, trò đứng nghiêm
    lễ phép, bỏ mũ đang đội trên đầu rồi cúi đầu chào thầy. Đó là cách trò thể hiện sự
    kính trọng đối với thầy.
    Mối quan hệ giữa thầy và trò trong xã hội xưa không bị chi phối bởi các
    yếu tố tiêu cực của xã hội mà chủ yếu xuất phát từ những triết lý giáo dục. Từ lời
    dạy, lễ nghĩa, cử chỉ, hành động của thầy đối với trò đều mang tính giáo dục.
    Đồng thời, sự trách phạt của thầy cũng mang hàm lượng giáo dục cao. Người
    thầy “đạo cao đức trọng” là người luôn giữ phẩm chất cao đẹp, trong sáng, không
    đòi hỏi hay ép buộc gia đình học trò phải cung phụng hay biếu xén bất cứ thứ gì,
    thầy luôn lấy giáo dục làm đầu và luôn coi sự thành đạt của trò là uy tín, tài năng
    đức độ của thầy.
    Ngày nay, xã hội phát triển và đổi thay từng ngày. Vì thế, quan niệm về sự
    học và mối quan hệ giữa thầy và trò cũng khác trước, mang một màu sắc mới trên
    nền tảng những giá trị nhân văn từ truyền thống. Ở giai đoạn nào, xã hội cũng coi
    trọng việc học hành, đặc biệt, xã hội càng phát triển thì việc học của con em nhân
    dân luôn được đặt lên hàng đầu để mỗi đứa trẻ khi lớn lên vừa lập thân, vừa lập
    nghiệp. Ở xã hội ngày nay, khoảng cách giữa thầy và trò không cách xa như
    trước. Thầy và trò gần gũi, thân thiện hơn. Mối quan hệ giữa thầy và trò không
    còn bị chi phối bởi những giáo lý nghiêm ngặt như trong xã hội xưa mà có phần
    được giảm nhẹ, giản hóa những quy định về lễ nghĩa.Đặc biệt, cách dạy trò của
    thầy cũng thay đổi. Không còn là thầy ngồi trên cầm chiếc thước hay cầm roi như
    xưa nữa. Đồng thời, việc trách phạt hay mắng mỏ của thầy khi trò mắc lỗi dường
    như đã giảm đi rất nhiều. Các nhà trường đều phát động phong trào thi đua “Xây
    dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” để nhằm tạo một môi trường thân
    thiện giữa thầy và trò. Các cách ứng xử giữa thầy và trò cũng khác trước rất
    nhiều. Điển hình như thầy phải dạy bảo trò một cách nhẹ nhàng với những
    phương pháp giáo dục tích cực chứ không không được đánh mắng hay sử dụng
    những hình phạt như: Cho đứng xó, phạt lao động, đứng trước cờ…Thầy không
    được chê trách học trò dốt mà phải đánh giá là học sinh chưa ngoan để tìm cách
    giáo dục cho học sinh tiến bộ…Khoảng cách giữa thầy và trò ngày nay cũng khác
    trước. Trò có thể đứng gần trò chuyện, hỏi han bài vở với thầy, trò có thể gọi tên
    thầy từ xa, có thể gọi điện, nhắn tin hỏi bài thầy rồi cùng thầy cô đi dã ngoại, trải
    nghiệm thực tế…
    Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường đã ảnh hưởng không nhỏ tới mối
    quan hệ giữa thầy và trò. Điều đó dẫn đến những vụ việc không mong muốn nơi
    10
    học đường như: Gia đình học sinh dùng tiền hay những món quà vật chất để
    mong thầy nương nhẹ, giúp đỡ con em mình. Thầy trách phạt học trò một cách
    phản giáo dục dẫn đến việc hình thành những mâu thuẫn không nhỏ giữa phụ
    huynh với giáo viên, với nhà trường. Cũng có thầy cô vì thu nhập mà tổ chức dạy
    thêm trái quy định…Mối quan hệ giữa thầy và trò quá suồng sã làm mất đi tính
    mô phạm trong giáo dục. Và những câu chuyện đau lòng hơn đã và đang diễn ra
    trong xã hội ngày nay như: Thầy đánh trò, trò đánh thầy, phụ huynh đánh, chửi
    rủa giáo viên khi họ đứng ra bênh vực con em mình…Điều đó đã như “con sâu
    làm rầu nồi canh” khiến cho xã hội không khỏi trăn trở về nền giáo dục, một lĩnh
    vực đặc biệt của xã hội là dạy người, đào tạo người.
    Thiết nghĩ, ở bất kỳ giai đoạn nào của sự phát triển xã hội, hình ảnh người
    thầy và sự học cũng luôn và cần được coi trọng. Trong đó, mối quan hệ thầy và
    trò luôn được duy trì trong quá trình giáo dục. Để giữ đúng tính nhân văn trong
    quan hệ giữa thầy và trò ngoài các biện pháp từ phía nhà trường, xã hội, bản thân
    mỗi người thầy cần có cách “làm bạn”với học sinh để giữa thầy và trò có sự
    đồng cảm, thấu hiểu, sẻ chia, kết nối – đây là những yếu tố quan trọng vô cùng
    trong việc giáo dục toàn diện học sinh.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    Cho dù bạn là hiệu trưởng hay giáo viên bình thường, dù bạn là giáo viên
    chủ nhiệm hay giáo viên bộ môn, dù bạn đang giảng dạy ở một ngôi trường lớn
    với số đông học sinh hay một ngôi trường nhỏ thì mối quan hệ với học sinh luôn
    là một phần trong sự thành công nghề nghiệp của bạn. Sẽ không còn những trở
    ngại trong việc giáo dục học trò khi mỗi giáo viên biết cách “làm bạn” với học
    sinh.
    2.1. Những hành động nhỏ tạo nên “tình bạn lớn” giữa giáo viên và học sinh
    của mình.
    11
    2.1.1. Trong buổi dạy đầu tiên của mình, bạn có thể chia sẻ một chút về bản
    thân như: một vài lời về tiểu sử, sở thích và mối quan tâm, hoặc tại sao bạn yêu
    thích công việc giảng dạy. Sự cởi mở này giúp học sinh cảm thấy bạn gần gũi
    hơn, chúng có thể kết nối và nói chuyện với bạn như bạn đã làm với chúng. Một
    giáo viên có vẻ dễ gần hơn khi họ chia sẻ các thông tin về chính mình, ngược lại
    với những người không hề chia sẻ một chút thông tin gì về họ.
    2.1.2. Hãy nhớ tên học sinh, ví dụ Nam, Hoa, Mai,… Khi bạn cố gắng nhớ và
    gọi tên một ai đó, nghĩa là bạn đang nhận ra những nét đặc trưng của họ. Thật là
    đơn giản, nhưng nó giúp học sinh của bạn biết rằng chúng đang được quan tâm
    đặc biệt. Mỗi lần tôi gọi tên học sinh, đặc biệt là những học sinh mới, chúng
    thường hỏi tôi: Cô, sao cô lại biết tên con??? và tôi nói: vì con rất đặc biệt mà…
    2.1.3. Hãy nhớ và nhắc lại một vài thứ mà học sinh thích: Điều đó thậm chí
    đơn giản kiểu như “Ngọc Lan, cô biết con thích màu xanh” hay “Hoàng Long,
    thầy biết đội bóng mà con hâm mộ là Manchester”… bất cứ điều gì. Nó sẽ giúp
    bạn gần hơn trong mắt học sinh.
    2.1.4. Hãy nhấn mạnh vào một vài điểm nổi bật của học sinh: “Yến Nhi, hôm
    nay con có áo mới. Cô rất thích chiếc áo mới của con, nó rất đẹp”… sau đó hãy
    tiếp tục câu chuyện về chủ đề đó,… con mua cái áo đó ở đâu? ai mua cho con,
    ngày còn còn nhỏ mẹ thầy cũng hay mua quần áo cho thầy,…bla, bla…
    2.1.5. Hãy hỏi học sinh về những trải nghiệm của chúng sau một ngày ở
    trƣờng: Bạn có thể nói một câu kiểu như là “Thái Hòa, cô rất ấn tượng với phần
    mở bài của con khi con làm đề văn miêu tả mẹ. Con đang cảm thấy như thế nào?
    Hoặc là “Con chơi đá cầu thật tuyệt, hãy nói cho cô biết làm như thế nào để con
    có thể chơi giỏi như vậy?”. Những kiểu đối thoại như vậy sẽ diễn ra chỉ trong
    khoảnh khoắc nó không hề tốn thời gian mà lại hiệu quả vô cùng.
    2.1.6. Nếu học sinh đến muộn, hãy vào lớp cùng với học sinh. Thay vì nói
    “Hãy vào lớp nhanh lên” hãy bắt đầu đoạn đối thoại với một bài câu nói kiểu như
    “Cô thấy con vừa đi học muộn cách đây vài ngày, có chuyện gì xảy ra vậy? Con
    có cần cô giúp điều gì không?”. Sau đó bạn hãy đi cùng với học sinh để bước vào
    lớp.
    2.1.7. Khi học sinh mâu thuẫn với nhau, hãy sử dụng nó nhƣ một cơ hội. Khi
    là một giáo viên, chúng ta có sứ mệnh là giúp học sinh giải quyết những vấn đề
    rắc rối của cuộc sống và nhanh chóng thoát khỏi nó. Ngôn ngữ mà bạn dùng ở
    trong tình huống đó là một chìa khóa quan trọng. Dưới đây là một vài câu hỏi bạn
    12
    có thể dùng: “Có điều gì đã xảy ra vậy?” “ Con có thể làm một cách khác được
    không?” “Con mong muốn điều gì?” “ Cô có thể làm điều gì để giúp con vượt
    qua điều đó?”
    2.1.8. Cho phép học sinh gọi bạn bằng một biệt danh. Bạn nghe thấy đâu đó
    học sinh gọi bạn bằng một biệt danh “Cô Mai cận”, “cô Hoa kều”…, nếu nó hài
    hước (không mang tính xúc phạm) bạn hãy công khai tên gọi đó và cho phép học
    sinh được sử dụng nó. Điều này đem lại không khí hài hước và thoải mái. Việc
    học sinh lúc nào cũng thưa thầy, thưa cô với dáng điệu và cử chỉ lễ phép cũng
    khiến học sinh không muốn nói chuyện với bạn.
    2.1.9. Nhận thức đƣợc rằng cần dành thời gian cho việc xây dựng mối quan
    hệ với học sinh: Bạn nên nhớ rằng bạn cần phải dành thời gian cho các mối quan
    hệ với học sinh, thậm chí đó là những học sinh cũ của bạn từ năm học trước. Tôi
    đã từng thấy những giáo viên (nhất là giáo viên trẻ) họ ra trường với sự hăng say
    và niềm đam mê với công việc, họ háo hức xây dựng quan hệ với người học và
    họ thất bại sau đó, họ bỏ cuộc rất nhanh chóng. Họ quay sang chán nản công việc
    giảng dạy. Hãy bình tĩnh nhé, vì mọi thứ đều cần phải có thời gian.
    2.1.10. Hãy cởi mở, thành thật với học sinh của bạn. Không điều gì là không
    có giới hạn, hãy thành thật với học sinh, bạn có thể nói “Xin lỗi con, cô vừa bị
    con cô làm cho cô tức giận. Cô xin lỗi nếu như tinh thần của cô không tốt. Chúng
    ta sẽ nói về chuyện đó sau.” Tôi cho rằng đó là vũ khí rất hữu hiệu đối với học
    sinh. Khi đó, chúng có thể nói “Con cũng cãi nhau với mẹ con vào sáng nay và
    con cảm thấy,…”. Tôi rất thích phương pháp đó, bởi vì vào thời điểm cuối ngày
    khi bản thân đã kiệt sức, tôi biết khi đó tôi không thể bình tĩnh để đeo “mặt nạ”,
    hãy đối mặt và thành thật như con người bình thường.
    2.1.11. Hãy thể hiện tính cách của bạn và dùng nó để lôi cuốn học sinh. Nếu
    bạn để ý sẽ thấy trong lời khuyên của mỗi chuyên gia tư vấn đều thể hiện vốn
    sống và kinh nghiệm cá nhân của họ. Tôi đã từng thầy một chuyên gia tâm lí, ông
    ta là fan hâm mộ hip-hop từ khi ông ta mới có 10 tuổi. Và bây giờ ông đã dùng
    chính hip-hop giống như một phương tiện để liên kết, lôi kéo và cuốn hút học
    sinh.
    2.1.12. Hãy giúp học sinh của bạn biết rằng bất cứ câu trả lời nào của chúng
    đều TỐT “vấn đề đối với mọi học sinh đó là chúng không muốn xuất hiện/thể
    hiện mình khi chúng không biết về một thứ gì đó”. Điều đó là một chướng ngại
    vô cùng lớn ngăn cản chúng đưa ra các câu hỏi đều hướng đến sự giúp đỡ từ giáo
    13
    viên. Nó chính là bức tường vô hình ngăn cản giáo viên bước vào thế giới của
    học trò. Hãy phá bỏ nó bằng cách “luôn luôn lắng nghe, luôn luôn thấu hiểu”.
    2.1.13. Hƣớng dẫn học sinh của bạn trở thành các chuyên gia tƣ vấn cho
    chính bản thân chúng. Một số học sinh học tốt trong môn nghệ thuật, một số
    học sinh rất ngoan và có kỉ luật, một số học sinh có năng khiếu thuyết trình…
    Hãy giúp học sinh nhận ra thế mạnh của chúng – cũng như những điểm mạnh của
    những bạn cùng lớp – từ đó chúng có thể hỗ trợ lẫn nhau và biết ai là người có
    thể tin tưởng để nhờ cậy sự giúp đỡ. Khi đó mối quan hệ sẽ vượt khỏi giới hạn
    giữa giáo viên với từng học sinh mà lan tỏa thành mối quan hệ giữa các thành
    viên với nhau.
    2.1.14. Nhớ rằng bạn luôn quan tâm đến chính bản thân mình. Hãy duy trì
    trạng thái cân bằng, đó là một việc cực kì quan trọng. Khi là một giáo viên, chúng
    ta luôn luôn nghĩ cho học sinh. Chúng ta cũng đồng thời là chuyên gia tư vấn và
    đôi khi còn nhiều hơn thế nữa. Khi cân nhắc về những điều học sinh cần, đừng
    quên chính bạn cũng cần sự giúp đỡ. Nếu bạn rơi vào khủng hoảng, không cân
    bằng được chính bản thân mình thì làm sao bạn có thể giúp được cho học sinh.
    2.1.15. Hãy tạo nên sự kì vọng với học sinh vào ngày đầu tiên. Điều quan
    trọng đối với học sinh đó là cảm giác trong ngày đầu tiên, khi mà “không khí”
    lớp học sẽ bắt đầu được định hình. Những kì vọng đối với học sinh và giáo viên
    là gì? Hãy cho học sinh cơ hội được xây dựng các chuẩn mực về hành vi trong
    lớp học, nhưng bạn cũng là người nắm quyền “phủ quyết”. Hãy rõ ràng sự kì
    vọng của bạn và miêu tả để học sinh nhận được ra điều đó. Nếu sự tôn trọng được
    coi là một kì vọng thì hãy cho học sinh biết được như thế nào được gọi là tôn
    trọng.
    2.1.16. Cho dù bất kì điều gì xảy ra những lời khuyên vẫn là những lời
    khuyên. Điều đó rất quan trọng, nó bao gồm sự tự tin trong những kì vọng để
    học sinh cảm thấy thoải mái để chia sẻ cảm giác, khó khăn, sự thành công trong
    một không gian an toàn. Học sinh không cảm thấy rằng đó là mệnh lệnh từ một
    kẻ bề trên.
    2.1.17. Hãy trọng tâm vào việc dạy cho học sinh những kĩ năng sẽ theo chúng
    trong suốt cuộc đời. Dạy chúng biết cách quản lí thời gian, đặt mục tiêu cho
    công việc, cách đối phó với deadline, cách sử dụng các công cụ trên mạng,… Đó
    là cách khiến cho học sinh cảm thấy gần với giáo viên hơn.
    14
    2.1.18. Hãy chào đón học sinh, hoặc tạm biệt chúng khi ra về. Bạn có thể
    dành thời gian để chào từng học sinh, vào thời điểm cuối ngày, bạn sẽ nghe
    chúng sẽ nói về trường, về mối quan hệ trong trường, về cuộc sống về những điều
    mà chúng muốn để giáo viên biết. Bạn sẽ có được mối quan hệ với học sinh,
    nhưng vấn đề là bạn sẽ chấp nhận phải mất đi 10 – 15 phút mỗi ngày? Bạn có sẵn
    sàng làm điều đó?
    2.1.19. Hãy làm một vài điều hài hƣớc. “Nếu 36 đứa trẻ trong lớp học của bạn
    là 36 tòa thành kiên cố, bạn sẽ làm gì để ngày mai có thể xây dựng mối quan hệ
    với học sinh?” Hãy làm một điều gì đó thật hài hước, nó sẽ khiến lũ trẻ tự phá bỏ
    bức tường và đến bên bạn.
    2.1.20. Hãy vừa đi bộ vừa nói chuyện với học sinh: Khi học sinh đã có một
    ngày với quá nhiều “vấn đề” ở trường. Khi học sinh của tôi đã có một ngày thực
    sự “mệt mỏi”, tôi để học sinh đi khỏi lớp và cùng đi bộ, cùng nói chuyện, khi đó
    học sinh có thể cảm thấy dễ dàng hơn để chia sẻ những điều bạn ấy đang nghĩ
    trong đầu. Điều đó thực sự quan trọng đối với học sinh, chúng cảm nhận được
    rằng chúng đang nhận được sự giúp đỡ từ thầy, cô và các bạn và lúc đó chúng sẽ
    nghe bạn nói.
    2.1.21. Hãy tổ chức các bữa liên hoan nhỏ. Tôi thường cộng ngàáy, tháng sinh
    của toàn bộ học sinh trong lớp, chia trung bình để có ngày sinh nhật lớp. Trong
    dịp đặc biệt ấy, tôi lên một thực đơn và mỗi người đều có một trách nhiệm. Học
    sinh sẽ mang theo đồ ăn và chúng tôi ăn, nói chuyện và vui cười cùng nhau. Đó là
    cách mà tôi mang học sinh đến gần tôi hơn. Nếu bạn từng là học sinh, bạn biết là
    chúng luôn thích được lên kế hoạch nấu ăn, hay đi chơi cùng nhau để tổ chức
    ngày sinh nhật hay một dịp nào đó. Hãy thử, bạn sẽ thấy mối quan hệ giữa bạn và
    học sinh sẽ được cải thiện đáng kể đó.
    2.1.22. Chú ý tác phong: Thầy cô giáo trên lớp là một hình ảnh trực quan tác
    động mạnh mẽ tới tâm lí của học sinh. Và để được học sinh yêu thích hay nói
    cách khác là để học sinh thích học mình, muốn nghe mình nói thì trước hết học
    sinh phải yêu mình, kính trọng mình sau đó mới nói đến việc dạy cái gì? dạy như
    thế nào?
    Vậy để tạo được thiện cảm với học sinh thiết nghĩ mỗi người thầy, người
    cô tạo ra một hình ảnh riêng thật gần gũi và thân thiện với học sinh. Nghĩa là làm
    tất cả những gì mình có thể, phù hợp với tâm lí các em, phù học với chuẩn mực
    đạo đức xã hội của một nhà giáo.
    15
    Tôi nhận thấy những hôm cô mặc quần áo mới, quần áo đẹp vào lớp dạy,
    dường như trong lớp có một không khí mới hơn, vui hơn, hứng thú học hơn
    (nhưng không có nghĩa là thầy cô không mặc quần áo mới thì hoàn toàn ngược
    lại).
    Tác phong đi lại của thầy cô cũng là một hình ảnh trực quan của học sinh.
    Với các cô giáo, sự duyên dáng, nhẹ nhàng, trong từng bước đi, thế đứng cũng
    tác động không nhỏ đến tâm lí học sinh.Nếu trong không gian yên tĩnh giờ kiểm
    tra những bước chân thịch thịch, cục cục, cọc cọc của gót giày cũng tác động tới
    các em (đôi khi khó tránh khỏi). Thầy cô bước đi dề dà, chậm chạp, điệu đà, cũng
    khiến các em để ý.
    Hành động của giáo viên là những việc làm diễn ra trước mắt học sinh.
    Giáo viên phải tế nhị, kín đáo, ý tứ. Có những tình huống giáo viên xếch quần,
    kéo áo, mặc áo ngắn, váy ngắn, nghe điện thoại nói oang oang, ném phấn vào học
    sinh… đều là những hành động thiếu tế nhị không nên làm trước mặt các em.
    Nét mặt của giáo viên biểu lộ trực tiếp thái độ với các em học sinh. Cô giáo
    có khuôn mặt đẹp, dịu hiền là điều tuyệt vời, nhất là giáo viên dạy văn có khuôn
    mặt đẹp sẽ tạo ấn với học sinh rất nhiều.
    Nếu giáo viên không có khuôn mặt đẹp, nên để ý hơn khi lên lớp: Có thể
    mỗi khi lên lớp trang điểm một chút, chỉn chu quần áo một chút để thấy mình đẹp
    hơn, tự tin hơn, các em sẽ thích hơn, đó cũng là cách tôn trọng các em. Nhưng
    không quá lạm dụng trang điểm lòe lẹt, nhuộn tóc quá đậm mầu… không phù
    hợp với môi trường sư phạm, môi trường giáo dục.Thầy cô đẹp sang trọng là
    đáng quí, đáng khích lệ nhưng phải đúng mực, chuẩn mực, đẹp tinh tế luôn có
    sức hấp dẫn và tạo được thiện cảm giữa thày và trò.
    Xây dựng mối quan hệ là một trong những yếu tố rất quan trọng. Khi học
    sinh cảm thấy giữa chúng là bạn có một mối liên quan nào đó, chúng biết bạn
    đang quan tâm đến chúng, điều đó sẽ là ngọn nguồn tạo nên sự khác biệt to lớn.
    Nếu chúng ta muốn dạy học sinh, điều quan trong là học sinh phải ngồi yên nghe
    chúng ta nói. Điều đó chỉ có được khi giáo viên và học sinh đã xây dựng được
    một mối quan hệ: giáo viên không chỉ là người cha, người mẹ mà còn phải là
    người bạn của học sinh. Hãy nhớ rằng HỌC SINH SẼ KHÔNG HỌC ĐƯỢC
    BẤT CỨ THỨ GÌ TỪ GIÁO VIÊN MÀ CHÚNG KHÔNG THÍCH.

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Một số kinh nghiệm phối kết hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với giáo viên dạy bộ môn Tin học trong việc giáo dục về Luật An ninh mạng cho học sinh THCS

    SKKN Một số kinh nghiệm phối kết hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với giáo viên dạy bộ môn Tin học trong việc giáo dục về Luật An ninh mạng cho học sinh THCS

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của giáo dục trong quá
    trình hình thành con người. Theo Bác, nhân cách được hình thành phần lớn
    trong giáo dục “Hiền dữ đâu phải là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”.
    Thấm nhuần tư tưởng của Người, công tác giáo dục pháp luật luôn được xác
    định là nội dung quan trọng trong nhà trường phổ thông nhằm hình thành cho
    học sinh ý thức tôn trọng, tuân thủ pháp luật, góp phần xây dựng các em trở
    thành những công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
    Trong xã hội hiện đại việc giáo dục pháp luật cho học sinh đóng một vai trò
    hết sức quan trọng. Đặc biệt, với sự phát triển và tiến bộ của khoa học kĩ thuật,
    thế giới đang thay đổi nhanh chóng từng ngày. Với sự bùng nổ của công nghệ
    thông tin đã tạo những điều kiện và cơ hội cho mọi người giao lưu, liên kết, chia
    sẻ sở thích, sự quan tâm, ý tưởng, những việc làm bằng phương tiện truyền
    thông hiện đại – nhất là sự phát triển ngày càng đa dạng của internet, trong đó
    có mạng xã hội. Việt Nam là nước thứ 13 trong tốp 20 quốc gia có dân số sử
    dụng mạng xã hội và internet cao nhất trên thế giới. Bởi mạng xã hội mang lại
    nhiều tiện ích cho con người trong cuộc sống. Đối với học sinh, những tiện ích
    mà mạng xã hội đem lại như sử dụng nó trong giao tiếp, trao đổi thông tin và
    quan trọng nhất nó còn là một trợ thủ, cố vấn đắc lực không thể thiếu được trong
    học tập. Đây là một trong những kênh giúp học sinh có được phương pháp học
    nhanh chóng và tiếp nhận tri thức một cách dễ dàng hơn, nâng cao hiệu quả học
    tập. Tăng khả năng sáng tạo, tự học, tự trau dồi kiến thức. Ngoài ra, nó còn giúp
    học sinh thư giãn và giải trí hơn thông qua các kênh nghe nhạc, xem video… sau
    những giờ học mệt mỏi để học sinh trở lại học tập tốt hơn. Đồng thời tạo nên
    những con người năng động trong thời đại công nghệ 4.0. Tuy nhiên, bên cạnh
    những mặt tích cực thì việc sử dụng mạng xã hội cũng gây ra những tác động
    không tốt với học sinh. Sử dụng mạng xã hội quá nhiều gây sao nhãng thời gian
    học tập. Lãng phí thời gian như lên mạng chát chít, tán gẫu, bình luận lung tung
    3
    trêu chọc nhau, thậm chí bới móc, xỉa xói và nói xấu người khác. Không biết tận
    dụng và phát huy mạng xã hội để chia sẻ thông tin hữu ích, truy cập thông tin
    phục vụ học tập, trao đổi và nâng cao kiến thức ngoài giờ lên lớp mà lại chìm
    đắm trong thế giới ảo, dần mất đi sự tự tin, suy thoái đạo đức khi thường xuyên
    xem các tin tức và hình ảnh xấu liên quan đến bạo lực, văn hóa không lành
    mạnh… Khi sử dụng không gian mạng chưa chuẩn mực, chưa biết cách chọn lọc
    thông tin để tiếp thu… rất dễ dẫn đến vi phạm luật an ninh mạng. Chính vì vậy,
    khiến cho giáo viên không thể không băn khoăn, trăn trở và không chỉ với giáo
    viên chủ nhiệm lớp mà còn với tất cả giáo viên đặc biệt là giáo viên dạy bộ môn
    tin học là làm thế nào để học sinh nắm rõ Luật An ninh mạng một cách tốt nhất,
    hiệu quả nhất. Vai trò của chúng tôi lại càng quan trọng hơn khi đối tượng học
    sinh ở tuổi 12 đến 15, cái tuổi muốn khám phá cái mới mẻ, tò mò và hiếu động
    thì việc định hướng, trang bị cho các em về kiến thức phòng chống tội phạm và
    vi phạm luật trên không gian mạng là việc làm cần thiết. Từ đó chúng tôi mạnh
    dạn đưa ra: “Một số kinh nghiệm phối kết hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với
    giáo viên dạy bộ môn Tin học trong việc giáo dục về Luật An ninh mạng cho
    học sinh THCS”.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến
    Gần 20 năm qua, mạng internet đã trở thành một phần không thể thiếu và
    đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng xã hội thông tin và phát triển kinh
    tế tri thức, đem lại lợi ích to lớn cho con người và xã hội. Trong giáo dục mạng
    internet giữ vai trò quan trọng trong việc đổi mới của quá trình dạy và học.
    Những hình ảnh về một đứa trẻ học bài với chiếc đèn đom đóm, đèn dầu và
    đống sách vở đã chỉ còn trong kí ức. Thay vào đó là những chiếc máy tính có kết
    nối mạng rất thuận tiện cho các em trong học tập. Tuy vậy, mạng internet cũng
    gây ra những tác động tiêu cực với con người nói chung và học sinh nói riêng.
    Trước những tác động tiêu cực đó, Quốc hội khóa XIV đã thông qua: “Luật An
    ninh mạng 2018” với hơn 86% đại biểu tán thành và có hiệu lực chính thức từ
    ngày 01/01/2019.
    4
    * Đối với giáo viên: Bản thân tất cả các giáo viên nhất là giáo viên chủ
    nhiệm và giáo viên dạy bộ môn Tin khi giảng dạy trong một số tiết trong giờ
    sinh hoạt lớp, Hoạt động ngoài giờ và trong giờ Tin học cũng đã tuyên truyền và
    xen kẽ giáo dục cho các em cách sử dụng mạng Internet, sử dụng mạng xã hội
    an toàn. Tuy nhiên, việc giáo dục về Luật An ninh mạng cho học sinh chưa được
    quan tâm đúng mức. Do thời lượng học cho các nội dung này còn ít nên chưa
    đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của học sinh.
    * Đối với học sinh: Theo thống kê từ năm 2017 đến nay Công an tỉnh
    Nam Định đã tiếp nhận, giải quyết 93 tin báo, vụ việc, khởi tố 28 vụ, 116 bị can
    phạm tội với thủ đoạn có liên quan đến không gian mạng. Đặc biệt trong số 116
    bị can có 95 bị can trong độ tuổi thanh, thiếu niên, học sinh, sinh viên chiếm
    81,9%. Ở địa bàn huyện Hải Hậu cũng có nhiều vụ liên quan đến học sinh vi
    phạm Luật an ninh mạng.
    Là trường nằm ở trung tâm huyện, đời sống nhân dân ở mức khá nên
    nhiều gia đình có điều kiện cho con tiếp cận mạng từ nhỏ. Tuy nhiên nhận thức
    và hành vi của các em học sinh THCS khi sử dụng mạng đa số phụ thuộc vào sự
    nhắc nhở, quản lý của cha mẹ học sinh, thầy cô giáo. Những kiến thức về Luật
    An ninh mạng của học sinh còn ít và chưa hiểu rõ được những tác hại của mạng
    đem lại cũng như những vi phạm khi sử dụng không gian mạng.
    Trong thực tế ở trường cũng có một số học sinh chưa hiểu về Luật An
    ninh mạng nên cũng đã vi phạm như bình luận, nói xấu bạn trên facebook dẫn
    đến xích mích. Hay trong đợt nghỉ dịch Covid – 19 khi học trực tuyến một số em
    còn vẽ bậy lên màn hình, chia sẻ mật khẩu cho nhiều người dẫn đến trong giờ
    học bị một số kẻ xấu quấy phá làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập.
    Từ những lí do nêu trên chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nhằm
    nhằm khắc phục những tồn tại trên.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1. Tuyên truyền, giáo dục cho học sinh hiểu về Luật An ninh mạng.
    5
    2.1.1. Tuyên truyền, giáo dục cho học sinh lớp 8A hiểu về Luật An
    ninh mạng trong một số tiết Hoạt động ngoài giờ lên lớp.
    a. Đƣa ra các ví dụ thực tế, mới nhất trong cuộc sống hàng ngày để
    học sinh tìm hiểu Luật An ninh mạng.
    Cách thực hiện gồm các bước sau:
    – Bước 1: Đưa ra các ví dụ thực tế trong cuộc sống
    – Bước 2: Đặt các cau hỏi để học sinh thảo luận trả lời
    – Bước 3: Học sinh trả lời và giáo viên giuos học sinh hiểu rõ hơn qua
    một số điều lệ trong luật an ninh mạng.
    Cụ thể thực hiện như sau:
    * Trong tiết Hoạt động ngoài giờ lên lớp chúng tôi đưa ra câu chuyện xảy
    ra ngày 22/03/2019 tại trường THCS Phù Ủng huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên về
    sự việc một nhóm gồm 5 em học sinh lớp 9 tham gia đánh hội đồng em nữ sinh
    N.T.H.Y khiến em phải nhập viện. Điều đáng tiếc là sự việc đã xảy ra từ rất lâu
    nhưng chỉ khi các em phát tán clip với nội dung bạo lực (đánh đâp, chửi rủa, xúc
    phạm danh dự, lột đồ nữ sinh Y) lên mạng xã hội thì sự việc mới được đưa ra
    ánh sáng.
    – Từ đây giáo viên đưa ra vấn đề thảo luận cho các em:
    + Câu 1: Hành vi của 5 em học sinh đã vi phạm những điều luật nào.
    + Câu 2: Nếu các em là người trong cuộc thì sẽ xử lí như thế nào.
    – Các nhóm thảo luận đưa ra ý kiến: Câu 1 các em cho rằng hành vi của 5
    bạn học sinh trên vi phạm quyền trẻ em; xâm phạm bất khả xâm phạm về thân
    thể công dân; quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe và danh dự
    và nhân phẩm của công dân. Tuy nhiên với câu hỏi thảo luận thứ 2 thì các em
    chỉ đưa ra được giải pháp cũ khó giải quyết triệt để được vấn đề như: không
    tham gia và khuyên nhủ các bạn không lên làm như thế nữa…
    – Nhận ra điều này chúng tôi đã tổng kết câu trả lời và đưa ra những giải
    pháp và kiến thức về Luật An ninh mạng (cụ thể ở mục 2.1.2)
    6
    Giáo viên chủ nhiệm lớp 8A trợ giúp học sinh khi thảo luận nhóm về tìm hiểu
    Luật An ninh mạng qua ví dụ thực tế trong cuộc sống.
    7
    Học sinh lớp 8A thảo luận nhóm tìm hiểu về Luật An ninh mạng.
    * Trong tiết Hoạt động ngoài giờ lên lớp khác sau dịch Covid-19 khi các em
    đi học trở lại chúng tôi đưa ra một số hiện tượng tung tin giả lên facebook như:
    Covid-19 phát tán qua mạng 5G; sử dụng đồ uống cồn giúp phòng chống lây
    nhiễm Covid-19; ăn tỏi để không bị nhiễm covid; phun thuốc trên bầu trời để
    phòng chống dịch Covid; đã tìm ra vắc xin phòng bệnh rồi uống thuốc sốt rét sẽ
    khỏi được bệnh Covid… Hay hiện tượng kẻ xấu xâm nhập vào lớp dạy học qua
    internet, có biểu hiện quấy rối, bắt nạt trên mạng lúc học sinh học qua mạng do
    dịch Covid-19. Sau đó tôi hỏi các em những hiện tượng như tung tin giả lên
    facebook; xâm nhập, quấy rối lớp học trực tuyến sẽ bị xử lí như thế nào? Các em
    8
    cũng đã trả lời được là có thể bị xử lí vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách
    nhiệm hình sự. Có em nói rất cụ thể là khi tổ chức, các nhân cung cấp thông tin
    sai sự thật lên mạng xã hội sẽ bị xử phạt từ 10 – 15 triêu với cá nhân, từ 20 – 30
    triệu đối với tổ chức.
    Một số hình ảnh dạy học qua mạng internet do dịch Covid-19
    9
    * Trong một tiết Hoạt động ngoài giờ lên lớp khác: Chúng tôi tiếp tục đưa ra
    thông tin về một nhóm học sinh THPT tự tạo nhóm chat trên mạng xã hội để
    10
    thay phiên mắng chửi, xúc phạm đến ngoại hình của một nữ sinh khiến em này
    gặp biến chứng về tâm lí. Dù đã “cầu xin” để được thoát ra được nhóm đó
    nhưng kẻ cầm đầu là một nam sinh gốc Việt hiện đang học ở Singapore vẫn liên
    tục thêm “nạn nhân” vào cuộc trò chuyện để tiếp tục chửi rủa. Đỉnh điểm là câu
    nói “Mày xấu vậy thì chết đi!”. Sau khi “nạn nhân” đăng bài lên tiếng về hành vi
    này của nhóm bạn trẻ kể trên thì nhóm này không tỏ ra hối lỗi mà vẫn tiếp tục
    bịa đặt làm gia đình “nạn nhân” nghĩ sai về em rồi nhốt em lại không cho tiếp
    xúc với mọi người. Sự việc chỉ kết thúc khi cộng đồng mạng dậy sóng gửi mail
    về nhà trường của học sinh tham gia nhóm chat này đã có hành vi, lời nói, xúc
    phạm danh dự người khác. Áp lực từ dư luận đã khiến nhóm học sinh này nhận
    ra hành vi sai trái của mình và khắc phục hậu quả bằng cách trực tiếp cùng phụ
    huynh đến nhà nạn nhân để xin lỗi và bồi thường danh dự. Vậy theo các em
    nhóm học sinh trên vi phạm điều luật nào và qua đó em rút ra bài học gì? Trong
    tiết học này thì các em đã trả lời khá tự tin khi đã nắm được Luật An ninh mạng
    đó là xúc phạm, bôi xấu danh dự, nhân phẩm của người khác sẽ bị phạt từ 20
    triệu đến 30 triệu đồng. Các em rút ra bài học không được xúc phạm danh dự,
    nhân phẩm người khác, không bịa đặt nói xấu, tung tin giả lên mạng…
    * Như vậy qua một số tiết Hoạt động ngoài giờ lên lớp khi chúng tôi đưa ra
    các ví dụ thực tế trong cuộc sống hàng ngày nhất là ví dụ mà chính các em là
    người đã từng chứng kiến đó là: Khi dịch Covid -19 hoành hành, việc thực hiện
    cách ly toàn xã hội nên các em không thể tới trường, việc học online được triển
    khai, thầy và trò đã không còn khoảng cách nhưng đồng thời lại phải đối diện
    với rất nhiều khó khăn và thử thách. Đó là lỗ hổng bảo mật qua phần mềm học
    trực tuyến Zoom, một phần do ý thức kém của một số em học sinh chia sẻ mật
    khẩu, những kẻ xấu đã truy cập chia sẻ lên những hình ảnh, video thiếu văn hóa
    lên lớp học trực tuyến. Khi có hiện tượng đó xảy ra, chúng tôi đã kịp thời thay
    đổi mật khẩu và chỉ thông báo mật khẩu khi lớp học bắt đầu. Đồng thời chúng
    tôi cũng giáo dục luôn cho các em ý thức khi sử dụng không gian mạng đúng
    cách trong lúc dạy trực tuyến. Vì khi được tiếp xúc với phương tiện học tập mới,
    một số em đã lạm dụng sự tin tưởng của phụ huynh để mượn điện thoại của bố
    11
    mẹ chơi game, sử dụng mạng xã hội để giao lưu, kết bạn với người không quen
    biết… rất dễ dẫn đến vi phạm luật khi sử dụng không gian mạng. Nhận thấy đây
    là một việc làm cần phải thực hiện ngay để giáo dục cho các em hiểu rõ hơn về
    pháp luật nên chúng tôi đã cung cấp và phân tích cho các em một số điều trong
    Luật An ninh mạng.
    b. Cung cấp và phân tích cho học sinh lớp 8A hiểu điều:1,2,8,9,18,29
    trong Luật An ninh mạng.
    – Giáo viên trích dẫn một số điều trong Luật An ninh mạng (có hiệu lực từ
    ngày 01/01/2019)
    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
    Luật này quy định về hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự,
    an toàn xã hội trên không gian mạng; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân
    có liên quan.
    Điều 2. Giải thích từ ngữ
    Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
    1. An ninh mạng là sự bảo đảm hoạt động trên không gian mạng không
    gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích
    hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
    2. Bảo vệ an ninh mạng là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi
    xâm phạm an ninh mạng.
    3. Không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ
    thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống
    thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người
    thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian.
    4. Không gian mạng quốc gia là không gian mạng do Chính phủ xác lập,
    quản lý và kiểm soát.
    5. Cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia là hệ thống cơ sở vật chất, kỹ
    thuật để tạo lập, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin trên
    không gian mạng quốc gia, bao gồm:
    12
    a) Hệ thống truyền dẫn bao gồm hệ thống truyền dẫn quốc gia, hệ thống
    truyền dẫn kết nối quốc tế, hệ thống vệ tinh, hệ thống truyền dẫn của doanh nghiệp
    cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet, các dịch vụ gia tăng trên
    không gian mạng;
    b) Hệ thống các dịch vụ lõi bao gồm hệ thống phân luồng và điều hướng
    thông tin quốc gia, hệ thống phân giải tên miền quốc gia (DNS), hệ thống chứng
    thực quốc gia (PKI/CA) và hệ thống cung cấp dịch vụ kết nối, truy cập Internet
    của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet, các
    dịch vụ gia tăng trên không gian mạng;
    c) Dịch vụ, ứng dụng công nghệ thông tin bao gồm dịch vụ trực tuyến;
    ứng dụng công nghệ thông tin có kết nối mạng phục vụ quản lý, điều hành của
    cơ quan, tổ chức, tập đoàn kinh tế, tài chính quan trọng; cơ sở dữ liệu quốc gia.
    Dịch vụ trực tuyến bao gồm chính phủ điện tử, thương mại điện tử, trang
    thông tin điện tử, diễn đàn trực tuyến, mạng xã hội, blog;
    d) Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin của đô thị thông minh, Internet vạn vật,
    hệ thống phức hợp thực – ảo, điện toán đám mây, hệ thống dữ liệu lớn, hệ thống
    dữ liệu nhanh và hệ thống trí tuệ nhân tạo.
    6. Cổng kết nối mạng quốc tế là nơi diễn ra hoạt động chuyển nhận
    tín hiệu mạng qua lại giữa Việt Nam và các quốc gia, vùng lãnh thổ khác.
    7. Tội phạm mạng là hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin
    hoặc phương tiện điện tử để thực hiện tội phạm được quy định tại Bộ luật Hình sự.
    8. Tấn công mạng là hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông
    tin hoặc phương tiện điện tử để phá hoại, gây gián đoạn hoạt động của mạng
    viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và
    điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu, phương tiện điện tử.
    9. Khủng bố mạng là việc sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin
    hoặc phương tiện điện tử để thực hiện hành vi khủng bố, tài trợ khủng bố.
    10. Gián điệp mạng là hành vi cố ý vượt qua cảnh báo, mã truy cập,
    mật mã, tường lửa, sử dụng quyền quản trị của người khác hoặc bằng phương
    thức khác để chiếm đoạt, thu thập trái phép thông tin, tài nguyên thông tin trên
    13
    mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử
    lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu, phương tiện điện tử của cơ quan, tổ
    chức, cá nhân.
    11. Tài khoản số là thông tin dùng để chứng thực, xác thực, phân quyền
    sử dụng các ứng dụng, dịch vụ trên không gian mạng.
    12. Nguy cơ đe dọa an ninh mạng là tình trạng không gian mạng xuất hiện
    dấu hiệu đe dọa xâm phạm an ninh quốc gia, gây tổn hại nghiêm trọng trật tự,
    an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
    13. Sự cố an ninh mạng là sự việc bất ngờ xảy ra trên không gian mạng
    xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp
    của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
    14. Tình huống nguy hiểm về an ninh mạng là sự việc xảy ra trên không
    gian mạng khi có hành vi xâm phạm nghiêm trọng an ninh quốc gia, gây tổn hại
    đặc biệt nghiêm trọng trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của
    Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm về an ninh mạng
    1. Sử dụng không gian mạng để thực hiện hành vi sau đây:
    a) Hành vi quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này;
    b) Tổ chức, hoạt động, câu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo,
    huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
    c) Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại
    đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt
    chủng tộc;
    d) Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong Nhân dân, gây thiệt hại cho
    hoạt động kinh tế – xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước
    hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan,
    tổ chức, cá nhân khác;
    đ) Hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin
    dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội,
    sức khỏe của cộng đồng;
    e) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội.
    14
    2. Thực hiện tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng;
    gây sự cố, tấn công, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, làm sai lệch, gián đoạn,
    ngưng trệ, tê liệt hoặc phá hoại hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
    3. Sản xuất, đưa vào sử dụng công cụ, phương tiện, phần mềm hoặc có
    hành vi cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng viễn thông, mạng Internet,
    mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin,
    phương tiện điện tử; phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của
    mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống
    xử lý và điều khiển thông tin, phương tiện điện tử; xâm nhập trái phép vào mạng
    viễn thông, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển
    thông tin, cơ sở dữ liệu, phương tiện điện tử của người khác.
    4. Chống lại hoặc cản trở hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng;
    tấn công, vô hiệu hóa trái pháp luật làm mất tác dụng biện pháp bảo vệ an ninh mạng.
    5. Lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm
    chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích
    hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi.
    6. Hành vi khác vi phạm quy định của Luật này.
    Điều 9. Xử lý vi phạm pháp luật về an ninh mạng
    Người nào có hành vi vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính chất,
    mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu
    trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của
    pháp luật.
    Điều 18. Phòng, chống hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ
    thông tin, phƣơng tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia,
    trật tự, an toàn xã hội
    1. Hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện
    điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội bao gồm:
    a) Đăng tải, phát tán thông tin trên không gian mạng có nội dung quy định
    tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 16 và hành vi quy định tại khoản 1 Điều 17
    của Luật này;
    15
    b) Chiếm đoạt tài sản; tổ chức đánh bạc, đánh bạc qua mạng Internet;
    trộm cắp cước viễn thông quốc tế trên nền Internet; vi phạm bản quyền và sở
    hữu trí tuệ trên không gian mạng;
    c) Giả mạo trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, cá nhân; làm giả,
    lưu hành, trộm cắp, mua bán, thu thập, trao đổi trái phép thông tin thẻ tín dụng,
    tài khoản ngân hàng của người khác; phát hành, cung cấp, sử dụng trái phép các
    phương tiện thanh toán;
    d) Tuyên truyền, quảng cáo, mua bán hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục cấm
    theo quy định của pháp luật;
    đ) Hướng dẫn người khác thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;
    e) Hành vi khác sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện
    điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
    Điều 29. Bảo vệ trẻ em trên không gian mạng
    1. Trẻ em có quyền được bảo vệ, tiếp cận thông tin, tham gia hoạt động
    xã hội, vui chơi, giải trí, giữ bí mật cá nhân, đời sống riêng tư và các quyền khác
    khi tham gia trên không gian mạng.
    2. Chủ quản hệ thống thông tin, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên
    mạng viễn thông, mạng Internet, các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng
    có trách nhiệm kiểm soát nội dung thông tin trên hệ thống thông tin hoặc
    trên dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp để không gây nguy hại cho trẻ em,
    xâm phạm đến trẻ em, quyền trẻ em; ngăn chặn việc chia sẻ và xóa bỏ thông tin
    có nội dung gây nguy hại cho trẻ em, xâm phạm đến trẻ em, quyền trẻ em;
    kịp thời thông báo, phối hợp với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng
    thuộc Bộ Công an để xử lý.
    3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trên không gian mạng có
    trách nhiệm phối hợp với cơ quan có thẩm quyền trong bảo đảm quyền của trẻ
    em trên không gian mạng, ngăn chặn thông tin có nội dung gây nguy hại cho
    trẻ em theo quy định của Luật này và pháp luật về trẻ em.
    16
    4. Cơ quan, tổ chức, cha mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em và cá nhân
    khác liên quan có trách nhiệm bảo đảm quyền của trẻ em, bảo vệ trẻ em khi
    tham gia không gian mạng theo quy định của pháp luật về trẻ em.
    5. Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và các cơ quan chức năng
    có trách nhiệm áp dụng biện pháp để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý
    nghiêm hành vi sử dụng không gian mạng gây nguy hại cho trẻ em, xâm phạm
    đến trẻ em, quyền trẻ em.
    * Giáo viên hướng dẫn cho học sinh tự tìm hiểu Luật An ninh mạng đầy
    đủ thông qua mạng internet (Phần Luật An ninh mạng có trong phần phụ lục
    4)
    * Như vậy khi chúng tôi cung cấp và phân tích cho các em một số điều
    như trên trong Luật An ninh mạng thì các em đã nắm được các hành vi bị
    nghiêm cấm về an ninh mạng, khi vi phạm sẽ bị xử lý vi phạm như thế nào .Từ
    đó học sinh sẽ tránh xa những trang mạng xấu; không tung tin giả lên mạng;
    không bình luận, nói xấu, xúc phạm danh dự nhân phẩm nhau trên mạng… và
    đặc biệt là các em biết thêm về quyền bảo vệ trẻ em trên không gian mạng. Để
    các em hiểu cụ thể hơn về quyền bảo vệ trẻ em chúng tôi đã hướng dẫn cho các
    em cài đặt và sử dụng tổng đài 111.
    c. Hƣớng dẫn học sinh cà đặt và sử dụng tổng đài 111 bảo vệ trẻ em
    khỏi xâm hại, bạo hành.
    * Theo điều 29 Luật An ninh mạng về bảo vệ quyền trẻ em trên không
    gian mạng và qua ví dụ 1 phần 2.1.1 cũng như gần đây có rất nhiều những vụ
    bạo hành, xâm hại tình dục trẻ em xảy ra. Chính vì vậy là giáo viên chủ nhiệm
    lớp tôi đã cung cấp thêm cho các em tìm hiểu về tổng đài 111. Tổng đài 111 có
    nhiệm vụ: Tiếp nhận, xử lý thông tin, thông báo tố giác nguy cơ, hành vi xâm
    hại trẻ em, tư vấn chính sách và pháp luật cho trẻ em, kết nối dịch vụ, can thiệp
    bảo vệ trẻ em và trị liệu tâm lý.
    17
    18
    19
    * Từ những ví dụ thực tế trong cuộc sống khi chúng tôi đưa ra thì trong các
    tiết đầu các em còn lúng túng, gặp khó khăn trong các giải pháp cần xử lí như
    thế nào. Vì vậy, chúng tôi đưa ra một số điều trong Luật An ninh mạng và phân
    tích để học sinh biết cách sử dụng mạng an toàn không xảy ra lỗi vi phạm Luật
    An ninh mạng. Các tiết Hoạt động ngoài giờ lên lớp tiếp theo khi chúng tôi đưa
    ra một số ví dụ khác dù các em đã giải quyết tốt hơn nhưng thiết nghĩ để khắc
    sâu hơn nữa cho học sinh cũng như sử dụng mạng đúng cách, hiệu quả, không vi
    20
    phạm luật thì cần có thêm các biện pháp khác. Chúng tôi nhận thấy không chỉ
    cung cấp và phân tích Luật An ninh mạng cho học sinh lớp 8A hiểu nói riêng
    mà cần lan tỏa cho tất cả học sinh toàn trường bằng cách trao đổi thảo luận với
    các giáo viên chủ nhiệm trong toàn trường, các ban nghành đoàn thể thì mới có
    thể đạt kết quả toàn diện khi giáo dục pháp luật cho các em.
    2.1.2. Trao đổi với các giáo viên chủ nhiệm trong toàn trƣờng để cùng
    kết hợp giáo dục về Luật An ninh mạng cho học sinh.
    Trong buổi sinh hoạt về giáo dục pháp luật cho học sinh với tất cả các giáo
    viên chủ nhiệm trong toàn trường chúng tôi đưa ra một số mặt tích cực và hạn
    chế khi giáo dục Luật An ninh mạng ở lớp 8A đó là:
    – Ưu điểm: Qua các tiết Hoạt động ngoài giờ lên lớp các em đã biết đến Luật
    An ninh mạng.
    – Hạn chế: Các em chưa được thực hành trực tiếp trên máy tính có mạng để
    biết cách chặn một số trang mạng xấu. Chưa lan tỏa đến toàn thể học sinh trong
    toàn trường.
    – Chúng tôi đề xuất một số biện pháp như: Nên tuyên truyền về Luật An
    ninh mạng cho học sinh trong toàn trường vào một số tiết Hoạt động ngoài giờ
    lên lớp của giáo viên chủ nhiệm; có sự kết hợp giữa giáo viên chủ nhiệm trong
    toàn trường với giáo viên dạy bộ môn Tin, GDCD và với các ban ngành trong
    trường để tuyên truyền, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về Luật An ninh mạng thì
    học sinh mới hiểu rõ hơn và biết sử dụng mạng đúng cách, không vi phạm luật.
    21
    Giáo viên chủ nhiệm toàn trường trong buổi sinh hoạt về giáo dục
    pháp luật cho học sinh.
    Trước những nội dung chúng tôi đưa ra thì các giáo viên chủ nhiệm trong
    trường đều tán thành và cùng phối kết hợp trong việc giáo dục pháp luật cho học
    22
    sinh nhất là Luật An ninh mạng. Bởi hơn ai hết các giáo viên chủ nhiệm đều
    hiểu rõ vai trò và trách nhiệm của người làm công tác chủ nhiệm lớp. Nhất là
    việc sử dụng mạng internet với học sinh hiện nay rất cần sự quan tâm, giáo dục
    của giáo viên chủ nhiệm với các em . Tuy nhiên, các giáo viên chủ nhiệm cũng
    đưa ra ý kiến về cách giáo dục cần phù hợp với tâm lí của mỗi lứa tuổi học sinh
    của các khối lớp sẽ là khác nhau. Vì vậy, trong khi giáo dục pháp luật ở mỗi tiết
    học trong các môn, các khối lớp khác nhau giáo viên cần khéo léo lựa chọn cách
    giáo dục sao cho phù hợp nhất mang lại kết quả tốt nhất.
    2.1.3. Tuyên truyền, giáo dục Luật An ninh mạng cho học sinh xen
    kẽ trong các giờ học bộ môn Tin học trong tất cả các khối lớp
    Qua phần tuyên truyền tìm hiểu lí thuyết về Luật An ninh mạng cho học
    sinh trong một số tiết Hoạt động ngoài giờ lên lớp thì chúng tôi sẽ tổ chức cho
    học sinh tìm hiểu thêm trực tiếp trên máy tính có kết nối mạng.
    Chúng tôi hướng dẫn cho các em các bước tìm hiểu luật An ninh mạng
    trên mạng internet:
    23
    24
    Cụ thể trong môn Tin học lớp 8A, khi dạy bài: Tổ chức và truy cập thông tin
    trên Internet chúng tôi đã đưa ra dẫn chứng là câu chuyện có thật tại địa phương:
    Một nhóm học sinh khối 8 tại trường THCS đã có hành vi vi phạm luật An ninh
    mạng khi tải ảnh đại diện của bạn học cùng lớp để tạo tài khoản Facebook giả
    danh. Sau đó đưa những hình ảnh, những bình luận không đúng sự thật lên
    mạng. Hành vi đó đã bị phát hiện và bị phạt theo pháp luật.
    Sau khi đưa tình huống giáo viên đặt câu hỏi:
    Nếu em được rủ tham gia nhóm học sinh đó thì em sẽ làm gì?
    Sau khi cho học sinh thảo luận giáo viên chốt lại các em nên làm gì trong
    tình huống trên.
    (Em sẽ không tham gia và khuyên các bạn dừng ngay việc đó lại. Nếu các
    bạn vẫn tiếp tục thì báo với thầy/ cô).
    25
    Học sinh lớp 8A tìm hiểu về Luật An ninh mạng trong giờ Tin học
    Học sinh lớp 9A say sưa tìm hiểu về Luật an ninh mạng trong giờ Tin học
    26
    Bài “Sử dụng thư điện tử” môn Tin học 9 chúng tôi đặt ra câu hỏi:
    Câu 1: Khi tạo Gmail em có cần đọc Điều khoản sử dụng không?
    HS thảo luận nhóm để trả lời.
    Sau khi các nhóm thảo luận và trình bày giáo viên đã phân tích kỹ cho học
    sinh về Điều khoản sử dụng khi tạo Gmail. Chúng ta có thói quen là đánh dấu
    luôn mục tôi đồng ý để tạo tài khoản cho nhanh nhưng không đọc Điều khoản sử
    dụng. Điều này có thể gây ra những vấn đề về pháp lý.
    Cụ thể: Trong Điều khoản của Google có quy định như sau:
    Yêu cầu về độ tuổi:
    Nếu chưa đủ tuổi để tự quản lý Tài khoản Google theo quy định, bạn phải
    được cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp cho phép thì mới có thể sử dụng Tài
    khoản Google. Vui lòng yêu cầu cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp cùng bạn
    đọc các điều khoản này.
    Nếu bạn là cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp và bạn cho phép con bạn
    sử dụng các dịch vụ này, thì bạn phải tuân theo các điều khoản này và chịu trách
    nhiệm đối với hoạt động của con bạn trong các dịch vụ đó.
    Một số dịch vụ của Google có các yêu cầu bổ sung về độ tuổi như mô tả
    trong các chính sách và điều khoản bổ sung dành riêng cho từng dịch vụ.
    Quyền sử dụng nội dung của bạn:
    Một số dịch vụ của chúng tôi được thiết kế để bạn có thể tải lên, nộp, lưu
    trữ, gửi, nhận, chia sẻ hoặc tải nội dung của bạn lên. Bạn không có nghĩa vụ
    cung cấp bất kỳ nội dung nào của bạn cho các dịch vụ của chúng tôi và bạn có
    thể chọn nội dung bạn muốn cung cấp. Nếu bạn chọn chia sẻ hoặc tải nội dung
    lên, vui lòng đảm bảo rằng bạn có các quyền cần thiết để làm điều đó và rằng
    nội dung đó là nội dung hợp pháp.
    Như vậy khi sử dụng Gmail, học sinh cần phải tuân thủ theo các quy định
    của pháp luật và cần sự trợ giúp của cha mẹ học sinh.
    Câu 2: Em nên sử dụng mật khẩu Email như thế nào?
    27
    Chúng tôi tạo cơ hội để học sinh thảo luận và trình bày. Có em học sinh
    trả lời: Đặt đơn giản cho dễ nhớ như dãy số liên tục 12345678 hay ngày sinh, số
    điện thoại bố, mẹ, tên những người thân trong gia đình… Chúng tôi đã phân tích
    cho các em về cách đặt mật khẩu sao cho an toàn. Từ đó các em có ý thức tạo và
    bảo mật mật khẩu tài khoản thư điện tử của mình. Một số em đã có hành vi đổi
    mật khẩu chưa an toàn của mình để đảm bảo độ bảo mật hơn.
    Học sinh nghiên cứu về điều khoản khi tạo Gmail
    28
    Với học sinh lớp 7 chúng tôi xen kẽ trong các giờ dạy để giáo dục về các
    trò chơi điện tử Games online và đặt ra câu hỏi: Games Online có lợi hay có
    hại? Sau đó yêu cầu học sinh thảo luận nhóm để trả lời. (HS trả lời theo ý hiểu).
    Sau đó chúng tôi phân tích cho các em mặt có lợi của các trò chơi:
    Sau đó giáo viên phân tích các mặt có hại của các trò chơi điện tử:
    – Ngồi quá gần so với màn hình vi tính trong một thời gian dài có thể làm
    cho mắt bị mỏi, nặng hơn là bị cận thị, sức khỏe giảm sút nhanh chóng.
    – Tiêu tốn thời gian của bản thân, tiền bạc của gia đình một cách vô ích
    – Nhiều thói hư tật xấu nảy sinh như: nói dối, trộm cắp, lừa lọc, thậm chí
    còn giết người.
    – Không những thế ham mê trò chơi điện tử học sinh sẽ xao nhãng việc
    học, bỏ học, trốn học, không làm bài tập dẫn đến học tập sút kém, kiến thức mơ
    hồ.
    – Trò chơi điện tử khiến tâm hồn con người bị đầu độc bạo lực, chém giết,
    bắn phá khiến con người dễ rơi vào thế giới ảo, đầu mưu mô, nhiều thủ đoạn dẫn
    đến việc luôn luôn tìm mọi cách đối phó với gia đình, bạn bè, thầy cô.
    – Các mối quan hệ bạn bè, gia đình ngoài thực tế giảm dần.
    Sau đó giáo viên đặt thêm câu hỏi: Làm thế nào để hạn chế tình trạng
    nghiện trò chơi điện tử?
    Học sinh thảo luận nhóm trả lời.
    Giáo viên phân tích thêm:
    Mỗi chúng ta phải xác định được nhiệm vụ chính là học tập, rèn luyện, tu
    dưỡng đạo đức, nhân cách, không lãng phí thời gian vào trò chơi vô bổ, thậm chí
    có hại, biết chế ngự, kìm nén bản thân để không sa vào những trò chơi chết
    người đó.
    Khuyên những người bạn ham mê điện tử, bên cạnh đó phải có sự quan
    tâm thường xuyên của gia đình, sự quản lý của nhà trường và xã hội, để giúp
    cho con em mình tránh xa những đam mê tai hại đó.
    Cần tạo ra những sân chơi bổ ích có trí tuệ để tất cả các bạn đều tham gia.
    Cha mẹ không nên cho trẻ ở độ tuổi nhỏ chơi trò chơi điện tử
    29
    Cha mẹ nên thường xuyên trò chuyện, tâm sự cùng trẻ.
    Cho trẻ tham gia những hoạt động lành mạnh bên ngoài, những hoạt động
    xã hội bổ ích.
    Theo dõi thời gian biểu của trẻ để kịp thời phát hiện những dấu hiệu của
    việc nghiện game.
    Không tiếp xúc với những môi trường dễ nghiện Games.
    Học sinh đang tìm hiểu về thông tin về tác hại của Games
    Khi học các tiết học Tin của khối 6 khi dạy về thông tin, chúng tôi trao
    đổi về các tình huống khi học sinh tìm kiếm thông tin trên mạng và đặt ra câu
    hỏi: khi tìm kiếm thông tin về vấn đề nào đó trên Internet, các kết quả nhận được
    xuất hiện các hình ảnh không phù hợp lứa tuổi em làm thế nào?
    Chúng tôi để cho học sinh trả lời theo cách giải quyết của các em. Sau đó
    nếu ý kiến nào cần chấn chỉnh thì chúng tôi phân tích cho các em hiểu. Khi gặp
    các tình huống như thế em cần bình tĩnh, thoát khỏi các trang web, các cửa sổ
    phụ đó. Lưu ý khi gõ từ tìm kiếm cần xác định nhóm từ gần với nội dung cần
    tìm kiếm nhất, có thể đặt trong dấu ngoặc kép “ …”.
    30
    * Như vậy thông qua giáo dục Luật An ninh mạng cho học sinh xen kẽ
    trong các giờ học bộ môn Tin học ở tất cả các khối lớp trong toàn trường chúng
    tôi nhận thấy các em đã biết cách xử lý ngăn chặn các trang mạng xấu; không
    đăng tải, bình luận và chia sẻ những thông tin xấu lên facebook; biết cách sử
    dụng thư điện tử tạo tài khoản Gmail an toàn… và đặc biệt là biết được tác hại
    của các trò chơi điện tử để xác định được rõ nhiệm vụ chính là học tập, tu dưỡng
    đạo đức, nhân cách không lãng phí thời gian vào các trò chơi vô bổ; khuyên các
    bạn ham mê điện tử từ bỏ tránh xa những đam mê độc hại đó. Qua các tiết học
    Tin các em được thực hành trực tiếp trên máy sẽ giúp các em nắm bắt nhanh
    hơn, dễ hiểu hơn về Luật An ninh mạng để các em không vi phạm luật. Bên
    cạnh đó, chúng tôi còn tích hợp với môn GDCD trong một số tiết ở lớp 6 và 9 để
    giáo dục pháp luật cho học sinh.
    2.1.4. Tích hợp với môn Giáo dục công dân để giáo dục pháp luật cho
    học sinh
    Trong quá trình giảng dạy chúng tôi đã giúp các em tìm kiếm các thông
    tin, hiểu sâu hơn các kiến thức được học ở bộ môn Giáo dục công dân. Có được
    thông tin chính xác, sự giải thích cặn kẽ của chúng tôi và giáo viên bộ môn Giáo
    dục công dân giúp cho học sinh có được kiến thức, thông tin đúng. Từ đó có
    những hành vi đúng, việc làm đúng theo pháp luật.
    Ví dụ: Ở môn Giáo dục công dân 6 có bài: Chúng tôi đã giúp các em tìm
    kiếm thông tin về “Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, thân thể, sức
    khỏe, danh dự và nhân phẩm”.
    Cách tìm kiếm:
    Bước 1: Mở trình duyệt Web.

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN về công tác chủ nhiệm THCS

    SKKN về công tác chủ nhiệm THCS

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN TẠO RA SÁNG KIÊN
    Bộ giáo dục đã ban hành
    Chương trình giáo dục phổ thông
    tổng thể mới theo định hướng
    phát triển phẩm chất và năng lực
    học sinh như mô hình bên cạnh.
    Để thực hiện được định hướng
    này, tôi nghĩ công tác chủ nhiệm
    lớp rất quan trọng. Sự tương tác
    giữa giáo viên chủ nhiệm lớp,
    giáo viên bộ môn với đội ngũ cán
    bộ lớp và các thành viên trong
    lớp có đạt hiệu quả hay không,
    một phần rất quan trọng là đội
    ngũ cán bộ lớp – trung tâm của sự
    tương tác đó.
    Trường THCS Nghĩa Hưng
    là trường chất lượng cao của toàn
    huyện nên sẽ có cơ hội tuyển
    chọn nhiều em có tố chất về học.
    Yêu cầu phát triển phẩm chất và
    năng lực cho học sinh càng trở
    nên cấp thiết. Đây là điều kiện trực tiếp để tôi có sáng kiến mới.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. MÔ TẢ GIẢI PHÁP TRƢỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. HIỆN TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN GIẢI PHÁP MỚI
    Đầu mỗi năm học, giáo viên chủ nhiệm lớp muốn giữ đội ngũ cán bộ lớp của
    năm cũ thì hầu như những học sinh đó đều có ý kiến không làm nữa. Học sinh giải
    thích, vì quá áp lực, bị các bạn nói, bị thầy cô gọi hỏi rồi đủ mọi chuyện dồn lên
    cán bộ lớp “ Em không làm nữa đâu cô!”. Đây là một thực trạng cần giải quyết
    ngay. Lớp học mà không có đội ngũ cán bộ lớp đồng thuận cùng với giáo viên chủ
    nhiệm thì lớp học sẽ không đảm bảo, kết cấu sẽ lỏng lẻo, phụ huynh sẽ lo lắng.
    Trong khi đó chúng ta đang hướng tới một lớp học an toàn, hạnh phúc.
    Trước khi tiến hành sáng kiến, tôi thấy đội ngũ cán bộ lớp hiện nay làm việc
    chưa mang lại hiệu quả cao. Nguyên nhân từ đâu? Có thể do cách thức làm việc
    của học sinh bây giờ chưa có đường lối cụ thể, khoa học, ghi chép lung tung ở các
    quyển vở nào đó, có khi giấy nháp… Làm việc rập khuôn hay ngẫu hứng
    3
    Theo cách cũ, Lớp trưởng vừa chỉ đạo vừa đôn đốc và trực tiếp làm mọi việc
    của lớp như: Lao động vệ sinh, văn nghệ, học tập…vậy một vấn đề cấp thiết đặt ra
    là Lớp trưởng có quá sức? Nếu quá sức liệu có dẫn đến căng thẳng, buông xuôi…
    Các tổ trưởng cũng áp lực, trong tiết học, cứ ôm quyển vở theo dõi các bạn
    để chấm phát biểu, ghi ý thức… Từ đó, nảy sinh nhiều mâu thuẫn cá nhân.
    Vì vậy, một vấn đề cấp thiết đặt ra: Phải có sổ theo dõi chuyên biệt cùng với
    sự phân công rõ ràng, chỉ đúng người đúng việc phù hợp với năng lực và phẩm
    chất của học sinh.
    1.2. ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP CŨ
    Ưu điểm: Không cần đầu tư nhiều thời gian để thay đổi
    Nhược điểm: Lớp học vẫn lộn xộn, lao động vệ sinh lớp học bẩn hoặc muộn
    giờ, giờ truy bài ồn, tổ trưởng và sao đỏ làm việc căng thẳng, lớp trưởng thì áp lực
    chồng chất…
    2. MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI CÓ SÁNG KIẾN
    2.1. NÊU VẤN ĐỀ
    Thiết kế bộ máy lớp học cùng sổ theo dõi cho đội ngũ cán bộ lớp nhằm nhát
    huy được phẩm chất và năng lực của đội ngũ can bộ lớp nói riêng cũng như tập thể
    lớp nói chung. Góp phần thực hiện mục tiêu dạy học theo định hướng giáo dục kĩ
    năng sống cho học sinh. Có thể khẳng định, các PPDH mới có sự khác biệt so với
    PP DH truyền thống. Tuy nhiên ở đây không thể phủ nhận một số PP truyền thống
    vẫn phù hợp, phát huy được hiệu quả. Cho nên, tùy vào điều kiện từng lớp, từng
    trường mà chúng ta phải linh hoạt kết hợp giữa PPDH mới với PPDH truyền thống
    để lấyngười học là trung tâm. Học sinh được chủ động làm việc, được tôn trọng,
    được giáo dục hướng tới những phẩm chất và năng lực mà Bộ giáo dục đã thông
    qua.
    Vì vây, hãy thay đổi để thành công, hãy mạnh dạn làm điều khác biệt để
    thay đổi.
    2.2 CÁCH THỨC THỰC HIỆN
    Thứ nhất: Sơ đồ bộ máy lớp học
    Trên Sơ đồ bộ máy lớp học thể hiện được vị trí tối cao thuộc về giáo viên
    chủ nhiêm, phó chủ nhiệm. Sau đó, người được ủy quyền sẽ là Lớp trưởng. Lớp
    trưởng trực tiếp chỉ đạo đội ngũ cán bộ lớp, ban quản lý. Lớp phó học tập quan
    tâm, đôn đốc, tìm ra giải pháp giúp vấn đề học tập của lớp đi lên. Lớp phó văn
    nghệ sẽ phụ trách về mảng văn nghệ trại thu hay các ngày lễ lớn, lên kế hoạch và
    đạo diễn chương trình sinh nhật cho các bạn . Lớp phó Lao động phân công chịu
    trách nhiệm toàn bộ những vấn đề về lao động vệ sinh; trực tiếp phân công nhiệm
    vụ cho từng tổ đồng thời đôn đốc, kiểm tra. Lớp phó đời sống thì chăm lo đến sức
    khỏe cũng như một số bạn có hoàn cảnh đặc biệt trong lớp để báo cho giáo viên
    chủ nhiệm nắm bắt kịp thời. Sao đỏ làm nhiệm vụ mà Đội giao. Thủ quỹ thu chi
    4
    cũng phải rõ ràng bằng sổ, có xác nhận chữ ký của người nộp cũng như người
    nhận. Các Ban quản lý được thành lập nhằm chỉ đúng người đúng việc, không à
    uôm nhất là trong một tập thể lớp đông học sinh. Các thành viên được sự quan
    tâm, chia sẻ trực tiếp của đội ngũ cán bộ lớp.
    SƠ ĐỒ BỘ MÁY LỚP 8A2
    NĂM HỌC 2019 – 2020

    GVCN
    Cô Trần Thị Duyên
    ĐT: 0913 375 626
    GVPCN
    Thầy Nguyễn Văn Nhất
    ĐT: 0941 145 168
    LỚP TRƢỞNG
    Phạm Duy Hƣng
    LỚP
    PHÓ
    HỌC
    TẬP
    Đinh
    Hoàng
    Khánh
    LỚP PHÓ
    LAO
    ĐỘNG
    Đinh
    Phương
    Khanh
    LỚP PHÓ
    VĂN
    NGHỆ
    Phạm
    An
    Bình
    LỚP PHÓ
    ĐỜI
    SỐNG
    Đinh
    Gia Khiêm
    SAO
    ĐỎ
    Hoàng
    Khánh
    Hưng

    Phạm
    Ngọc
    Quỳnh
    THỦ QUỸ
    Trần
    Phương
    Mai
    TỔ 1
    TT: Dương Thị
    Phương Anh
    TỔ 2
    TT: Trần
    Phương Mai
    TỔ 3
    TT: Nguyễn
    Hoàng Hải
    TỔ 4
    TT: Nguyễn
    Công Minh
    Thành viên: 7
    hs
    Ly, Hồng, Ngọc
    Anh, Ngọc Ánh,
    Bình, Tiên, Linh
    Thành viên: 6 hs
    Khanh, Quỳnh,
    Hưng, Đỗ Minh,
    Hiếu, Phương Bảo
    Thành viên: 6
    hs
    Đỗ Khánh,
    Công, Dũng,
    Khoa, Quân,
    Khiêm
    Thành viên: 5 hs
    Đinh Khánh,
    Giang, Quang,
    Huy, Đức Anh
    Quản lýQuản lýQuản lýQuản lý

    5

    thƣ viện
    Lưu Thị Phương
    Bảo
    chìa khóa, điện
    Trần Phương Mai
    và Nguyễn Hoàng
    Hải
    máy tính
    Phạm Tiến
    Dũng
    ghế nhựa
    Đỗ Quốc Khánh

    Thứ hai: Nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ lớp
    Căn cứ vào quy định của từng trường cũng như từng lớp ở mỗi vùng miền sẽ
    có sự khác nhau. Để từ đó, đội ngũ cán bộ lớp, Ban quản lý sẽ nắm được rõ nhiệm
    vụ cũng như quyền hạn của mình trong quá trình quản lý lớp học. Góp phần vào
    hoạt động tự quản, tự chủ của lớp được tốt hơn.

    Quy định nhiệm vụ và quyền hạn của các cán bộ lớp 8A2 – trƣờng THCS
    Nghĩa Hƣng năm học 2019 – 2020
    1. Lớp trƣởng: Chịu trách nhiệm chung tất cả các vấn đề của lớp với
    tinh thần
    – Trực tiếp chỉ đạo Lớp phó học tập, lớp phó lao động, lớp phó văn
    nghệ, lớp phó đời sống, các tổ trưởng.
    – Kí sổ sao đỏ hàng này
    – Quản lý sĩ số lớp: Điểm danh đầu giờ truy bài, ghi tổng số hs của
    lớp, hs vắng (có phép hay không); Tuần học. Nếu có học sinh bỏ tiết
    phải kịp thời báo cho giáo viên bộ môn của tiết đó hoặc gvcn, BGH.
    – Bình nhật vào giờ ra chơi trước tiết sinh hoạt lớp hàng tuần (viết kết
    quả xếp thứ lên bảng)
    – Nếu thành viên lớp xẩy ra xô xát, đánh nhau thì lớp trưởng cùng
    một số thành viên có mặt phải can ngăn.
    – Là thành viên của cả 4 tổ.
    2. Lớp phó học tập: Chịu trách nhiệm chung về vấn đề học tập của
    lớp
    – Kiểm tra bài của Lớp trưởng và 4 tổ trưởng.
    – Tìm hiểu, phân loại năng lực học của các bạn trong lớp để có kế
    hoạch giúp các bạn vươn lên bẳng cách thông qua các tổ trưởng.
    – Tìm ra các giải pháp để thúc đẩy phong trào học tập của lớp đi lên,
    ví dụ: tiến hành “Đôi bạn cùng tiến” ; giúp bạn chép bài, giảng cho

    6

    bạn khi bạn bị ốm phải nghỉ họ hay đăng ký “Tôi sẽ thay đổi”…
    3. Lớp phó lao động: Chịu trách nhiệm chung về tất cả các vấn đề lao
    động vệ sinh của lớp, của trường.
    – Trực tiếp phân công lao động, xếp thứ và chỉ đạo các tổ trưởng làm
    công tác vệ sinh.
    – Quản lý vật dụng lao động của lớp (chổi, hót rác, xô…)
    – Trực tiếp đến báo cáo kết quả xếp loại cuối tuần cho lớp trưởng
    trước tiếp sinh hoạt lớp
    4. Lớp phó văn nghệ: chịu trách nhiệm với tất cả các vấn đề văn nghệ
    của lớp của trường
    – Lên kế hoạch các ngày lễ lớn trong năm với các tiết mục tương ứng
    – Bắt nhịp cho các bạn khi có trống hát.
    – Lên kế hoạch, đạo diễn chương trình trải nghiệm: tổ chức sinh nhật
    cho các bạn trong lớp
    – Nếu lớp xẩy ra xô xát hoặc đánh nhau phải chạy ngay đi gọi Gv
    hoặc BGH. Trong tình huống hôm đó Lớp phó văn nghệ không
    có mặt thì lớp trƣởng, các tổ trƣởng sẽ đi thay
    5. Lớp phó đời sống:
    – Tìm hiểu về hoàn cảnh gia đình các bạn trong lớp, xem có những
    bạn nào cần được giúp đỡ. Kế hoạch giúp đỡ những bạn khó khăn
    ntn?
    – Quan tâm về sức khỏe của các bạn trong lớp để kịp thời báo cho
    giáo viên bộ môn hoặc nhân viên y tế.
    – Tìm hiểu về tâm tư, nguyện vọng của các bạn trong lớp rồi kịp thời
    báo cáo cho GVCN.
    6. Tổ trƣởng: Chịu trách nhiệm chung về các thành viên của tổ mình
    – Kiểm tra, giúp đỡ thành viên trong giờ truy bài hoặc thời gian nào
    nếu có thể.
    – Kịp thời cập nhận thông tin theo dõi thành viên để các bạn nhìn thấy
    sự cố gắng của mình đến đâu.
    7. Sao đỏ: Chịu trách nhiệm đi theo dõi các lớp với tinh thần: chấm đúng

    7

    và công bằng giữa các lớp.
    8. Các ban quản lý thì chịu trách nhiệm với nhiệm vụ được phân công
    9. Thủ quỹ: yêu cầu thu – chi rõ ràng, mỗ tháng quyết toán trước lớp 1
    lần

    Thứ ba: Quy định khen thƣởng
    Tùy theo điều kiện từng lớp, từng trường, từng địa phương cũng như sự
    quan tâm của phụ huynh học sinh để có hình thức khen thưởng sao cho phù hợp và
    hiệu quả nhất.

    Quy định khen thƣởng của lớp 8A2 – trƣờng THCS Nghĩa Hƣng
    Năm học 219 – 2020
    Chia làm 2 đợt khen thƣởng: Đợt 1 hết học kỳ 1, đợt 2 cuối năm học
    *Khen thƣởng cho cá nhân
    – Đối với cán bộ lớp
    + Lớp trưởng: Nếu lớp xếp chung toàn trường từ thứ 1 – 6.
    + Lớp phó lao động: Nếu sao đỏ trừ điểm về lao động vệ sinh tối đa chỉ
    6 điểm.
    + Lớp phó học tập: Nếu trong các kì thi, lớp đứng chung thứ 1-2 của
    khối.
    +Lớp phó văn nghệ: Nếu trong các cuộc thi văn nghệ lớp đứng vào tốp
    đầu của khối hoặc của trường.
    + Lớp phó đời sống: Nếu hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, giúp đỡ
    được một số trường hợp trong lớp…
    + Tổ trưởng: xét thưởng từ thứ 1 đến thứ 4.
    + Quản lý thư viện: tủ sách đa dạng, luôn gọn gàng; không để mất sách
    + Quản lý chìa khóa, điện của lớp: đảm bảo thời gian mở khóa cửa
    đồng thời phải biết tiết kiện điện.
    + Quản lý ghế nhựa: không để mất, gẫy ghế và đảm bảo ghế xếp thắng
    hàng ngoài sân trường khi tập trung.

    8

    – Đối với cá nhân có thành tích học tập xuất sắc
    + Thi hết học kì 1 và cuối năm: xếp từ thứ 1 – 10 của lớp.
    + Thi học sinh khá giỏi cấp huyện: giải nhất, giải nhì, giải ba và giải kk
    – Đối với những học sinh hoàn thành xuất sắc tất cả các nhiệm vụ của
    năm học (xếp thứ nhất của các tổ)
    – Đối với những học sinh có sự tiến bộ vượt bậc về ý thức học và kết quả
    học tập ( sẽ có sự bình bầu bằng phiếu kín hoặc giơ tay)
    *Khen thƣởng tập thể
    – Đối với tổ xuất sắc nhất về thực hiện nhiệm vụ lao động.
    – Đối với tổ xuất sắc nhất về hoàn thành các nhiệm vụ của năm học

    Thứ tƣ: Các bảng, sổ theo dõi của cán bộ lớp
    Bảng theo dõi của Lớp trưởng:
    Theo cách cũ, thì ngày nào lớp trưởng cũng bình nhật nên mất nhiều thời
    gian, công sức. Để bình nhật theo cách mới, Lớp trưởng có thể đưa ra các nội
    dung: Về lao động vệ sinh, sổ sao đỏ, sổ đầu bài. Tùy hiệu quả của từng công việc
    mà đưa mức điểm cũng như hệ số cho phù hợp. Vì những nội dung này có tác
    động trực tiếp đến vấn đề thi đua của tập thể lớp trong năm học.


    Đ
    Nội dung1 2 3 4Về lao
    động vệ
    sinhLấy kết quả từ Lớp phó lao độngVề sổ sao
    đỏTổ đó không ai
    bị ghi ở sổ sao
    đỏ lần nào
    trong tuần.Tổ đó bị sao
    đỏ nhắc nhở
    trong giờ truy
    bài nhưng
    không bị trừ
    điểm ở sổ saoTổ đó bị sao
    đỏ ghi và trừ
    lớp 1 điểm.Tổ đó bị
    sao đỏ ghi
    và trừ lớp
    2 điểm trở
    lên.

    9


    đỏ.Về Sổ đầu
    bàiTổ đó không ai
    bị ghi phạt
    nhưng phải có
    bạn được điểm
    tốt trong sổ đầu
    bài.Tổ đó không
    có tên ai trong
    sổ đầu bài.Tổ đó có học
    sinh vừa bị
    ghi phạt vừa
    có điểm tốt
    trong sổ đầu
    bài.Tổ đó có
    học sinh bị
    ghi phạt và
    không có
    điểm tốt
    trong sổ
    đầu bài.BẢNG ĐÁNH GIÁ THI ĐUA GIỮA CÁC TỔ, Tuần………………..
    Lớp trƣởng tổng hợp và viết kết quả bình nhật lên bảng vào giờ ra chơi
    trƣớc tiết sinh hoạt lớp hàng tuần
    TỔ LAO ĐỘNG
    VS
    (hệ số 1)SỔ SAO
    ĐỎ
    (hệ số 2)SỔ ĐẦU
    BÀI
    (hệ số 3)TỔNG
    ĐIỂMXẾP
    LOẠI1 2 3 4

    Sổ theo dõi của Lớp phó lao động
    Lao động vệ sinh là một trong những vấn đề bất cập trong các trường học
    hiện nay. Nó không chỉ góp phần bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp; rèn về nếp
    sống văn minh; ý thức trách nhiệm đối với bản thân và đối với tập thể lớp. Mà còn
    rèn tác phong nhanh nhẹn, làm việc khoa học, hiệu quả. Bởi lao động là sáng tạo.
    Trong sổ theo dõi của Lớp phó lao động có quy định: lao động là trách
    nhiệm của tất cả các thành viên, trừ một số trường hợp đặc biệt. Lớp phó lao động
    sẽ phân công nhiệm vụ cho từng tổ vào mỗi tuần và trực tiếp chỉ đạo các tổ trưởng.
    10
    Phân công phải có tính luôn phiên để công bằng giữa các tổ. Các tổ trưởng sẽ trực
    tiếp chỉ đạo các thành viên và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước tập thể lớp.
    Trong trường hợp Lớp phó lao động nghỉ học thì Lớp trưởng làm thay. Nếu
    tổ trưởng nghỉ học thì Lớp phó lao động hoặc lớp trưởng làm thay nhiệm vụ . Tùy
    theo đặc thù của từng lớp, từng trường mà có yêu cầu cụ thể sám sát với thực tiễn.

    Quy định và theo dõi thi đua về công tác Lao động vệ sinh
    Lớp 8A2 – Trƣờng THCS Nghĩa Hƣng, năm học 219 – 2020
    1. VỆ SINH TRONG LỚP
    – Thời gian có mặt: từ 6h15 – 6h25.
    – Quét nhà, hàng lang, đổ rác hàng ngày.
    – Kê bàn ghế trong lớp thẳng hàng.
    – Giặt dẻ, lau bảng, vệ sinh bàn giáo viên: giặt dẻ 1 -2 lần buổi sáng và 1 – 2
    lần buổi chiều. Lau bảng sạch sau khi kết thúc tiết học môn ; gấp khăn lau
    bảng gọn gàng; xắp xếp đồ trên bàn gv phải ngay ngắn, gọn gàng.
    – Chăm sóc cây: ngày tưới 1 lần
    – Chuẩn bị chậu nước rửa tay: 1 lần/ 1 buổi.
    – Chuẩn bị nước uống đầy đủ: Lúc nào trong bình cũng còn ¼ nước trở lên.
    2. VỆ SINH NGOÀI SÂN TRƢỜNG
    a. QUÉT RÁC
    – Yêu cầu phải đi sớm, khoảng 6h15 – 6h25 có mặt
    – Quét sạch khu vực được phân công, dập thành các đống gọn gàng.
    b. HÓT – ĐỔ RÁC
    – Yêu cầu có mặt khoảng 6h20 – 6h30.
    – Hót sạch các đống rác rồi mang đi rổ vào hố rác.
    – Cuối giờ lao động, quan sát xem quanh khu vực của lớp có vật dụng lao
    động không. Nếu có, thì phải mang về lớp ngay
    c. NHẶT CỎ BỒN CÂY VÀ SÂN TRƢỜNG
    – Quy định vào đầu giờ sáng thứ hai hàng tuần (trước giờ tập trung đầu tuần)
    phải nhặt sạch cỏ. Nếu sạch, những ngày còn lại trong tuần sẽ đc nghỉ lao

    11

    động.
    CÁCH XẾP THI ĐUA TRONG TUẦN
    – XT1:Trong tuần ngày nào cũng đảm bảo đúng thời gian; công việc (cơ bản
    sạch, gọn gàng…)
    – XT 2: Trong tuần có một vài lần trống đánh truy bài mà chưa xong nhưng
    vẫn đảm bảo sạch, gọn gàng mà không bị sao đỏ ghi.
    – XT 3: Trong tuần có một vài lần Có vệ sinh nhưng qua loa, vẫn còn bẩn mặc
    dù đúng giờ.
    – XT 4: Trong tuần một vài lần bị ghi vào sổ sao đỏ (Nếu ở NV nào bị ghi sổ
    đỏ thì tổ đó hoàn toàn chịu TN).
    NV LÀM VỆ
    SINH
    TRONG
    LỚPLÀM VỆ SINH NGOÀI SÂN
    TRƢỜNG XẾP TQUÉT
    RÁCHÓT –
    ĐỔ RÁCLÀM CỎ XẾP LOẠITU
    ẦN
    TỔ1 2 3 4 1 2 3 4 1 2 3 4 1 2 3 4 1 2 3 4 4 1 21 *2 *3 *4 *Chú ý:Các tổ nhìn dấu “*” để xem nhiệm vụ đƣợc phân công trong tuần
    học.
    Lớp phó lao động phải phân công vào giờ ra chơi trước tiết sinh hoạt lớp của
    tuần trước để các bạn biết nhiệm vụ của tuần sau ( lưu ý phần công luôn
    phiên giữa các tổ cho hợp lý và công bằng)
    Lớp phó lao động ghi kết quả xếp thứ vào giờ ra chơi trước tiết sinh hoạt lớp

    12

    hàng tuần

    Sổ theo dõi của Lớp phó học tập
    Lớp phó học tập sẽ trực tiếp kiểm tra Lớp trưởng và các tổ trưởng về các
    mặt: Ý thức tự giác ở nhà, trong giờ truy bài 15 phút, sổ sao đỏ, sổ đầu bài.
    Tôi xin lưu ý về phiếu đánh giá học sinh về Ý thức tự giác ở nhà do Phụ
    huynh theo dõi và điền vào phiếu đánh giá hàng tuần. Nếu trường nào có học sinh
    ở nội trú thì cô bảo mẫu sẽ thay phụ huynh xác nhận. Nếu phụ huynh nào muốn
    chụp gửi lên Zalo của nhóm để trao đổi cũng được. Tùy theo đặc thù của từng lớp,
    từng nơi để phối hợp với phụ huynh trong việc giáo dục các con được tốt hơn.
    Phiếu đánh giá này mỗi tuần nộp 1 lần.
    PHIẾU ĐÁNH GIÁ HỌC SINH VỀ “Ý THỨC TỰ GIÁC”
    Phụ huynh học sinh:………………………………..Lớp……..
    Những tiêu chí đánh giá học sinh về ”Ý thức tự giác”
    Tiêu chí 1: Tự giác làm đủ bài tập về nhà
    – Lên kế hoạch phân bố thời gian hợp lý để làm bài tập về nhà mà không
    cần phụ huynh nhắc nhở.
    – Sau khi làm xong bài tập thầy cô giáo giao về nhà thì có thể tự học thêm
    kiến thức nào đó nếu còn thời gian
    Tiêu chí 2: Về thời gian biểu
    – Nếu biết trước hôm sau nghỉ học vì có việc thì phải viết giấy xin phép
    nghỉ học gửi bạn mang đến lớp. Nếu có việc đột xuất thì trước 7h sáng
    phải gọi điện cho giáo viên chủ nhiệm xin phép. Nếu muốn nghỉ buổi
    chiều thì có thể điện trực tiếp cho giáo viên dạy buổi hôm đó.
    – Đi đâu cũng phải xin phép bố mẹ: đi đâu? đi bao lâu? Mấy giờ về?
    – Đi học đúng giờ, khi tan học thì phải về nhà ngay.
    Tiêu chí 3: Về sinh hoạt của cá nhân
    – Vệ sinh thân thể ; thu dọn phòng ở gọn gàng, sạch sẽ, có góc học tập hợp

    – Ăn uống điều độ, đặc biệt là phải ăn sáng; vui chơi thể thao lành mạnh.
    Tiêu chí 4: Về việc giúp đỡ gia đình làm việc nhà và ứng xử với mọi ngƣời
    – Quét nhà, rửa bát, nhặt rau, tưới cây; Làm các món ăn cho gia đình…
    – Cùng bố mẹ tiết kiệm chi tiêu nếu có thể.
    13
    – Về ứng xử với mọi người: kính trên, nhường dưới; hòa nhã với mọi
    người; giúp đỡ những người gặp khó khăn; tuyệt đối không được gây gổ
    đánh nhau, nói xấu bôi nhọ danh dự người khác…
    Tiêu chí 5: Về việc sử dụng điện thoại, máy tính, ti vi…
    – Phải được sự đồng ý cho phép của bố mẹ. Xem những chương trình lành
    mạnh, có tính giáo dục…
    – Không được ra ngoài quán chơi game…

    Mức độ đánh
    giá về ý thức
    tự giác
    Điều kiệnĐá
    nh
    dấu
    (X)
    Chữ kí; ghi rõ họ và tên
    của phụ huynh và ngày ký
    Rất tốtCon đáp ứng được hết 5
    tiêu chí trên
    TốtCon gần đáp ứng được
    những tiêu chí trên.
    KháTrong tuần có một số
    tiêu chí chưa thực hiện
    được.
    Cần phải cố
    gắng nhiều
    Con không thực hiện
    được tiêu chí nào.
    Sổ theo dõi của Lớp phó học tập 8 A2 – Trƣờng THCS Nghĩa Hƣng
    Năm học 2019 – 2020
    ĐIỂM
    NỘI
    DUNG1 2 3 4

    14


    Về ý thức
    tự giác ở
    nhàNếu phụ huynh
    đánh dấu vào ô
    “rất tốt” .Nếu phụ
    huynh đánh
    dấu vào ô
    “tốt” .Nếu phụ hunh
    đánh dấu vào
    ô “lúc thì tự
    giác lúc thì
    chưa”.Nếu phụ
    huynh
    đánh dấu
    vào ô “cần
    phải cố
    gắng rất
    nhiều”
    hoặc
    không nộp
    giấy đánh
    giá của
    phụ huynh.Về kiểm
    tra 15
    phút truy
    bài đầu
    giờNếu cả tuần
    chuẩn bị đầy
    đủ bài tập và
    để sẵn trước
    mặt bàn trước
    khi lớp phó
    học tập đến
    kiểm tra đồng
    thời nghiêm
    túc đi kiểm tra
    bài và giúp đỡ
    các thành viên
    .Nếu cả tuần
    chuẩn bị đầy
    đủ bài tập và
    để sẵn trước
    mặt bàn rồi đi
    kiểm tra bài
    của các thành
    viên.Nếu cả tuần
    thiếu ít bài tập
    nhưng vẫn cố
    gắng đi kiểm
    tra bài các
    bạn.Nếu cả
    tuần thiếu
    nhiều bài
    tập.Về lao
    động vệ
    sinhNếu cả tuần có
    mặt đúng giờ,
    chỉ đạo và tự
    giác làm những
    công việc của
    tổ được phân
    công. Nếu còn
    thời gian rỗi,Nếu cả tuần
    Có mặt đúng
    giờ, chỉ đạo
    và tự giác làm
    những công
    việc của tổ
    được phân
    công.Nếu cả tuần
    Có mặt đúng
    giờ nhưng
    không chỉ đạo
    được các
    thành viên.Nếu trong
    tuần một
    số lần Có
    mặt muộn
    khoảng 10
    phút,
    không chỉ
    đạo, không

    15


    có thể giúp đỡ
    các tổ khác lao
    động vệ sinh.tự giác làm
    vệ sinh
    hoặc
    không làm
    vệ sinh.Về sổ sao
    đỏNếu cả tuần
    không bị ghi ở
    sổ sao đỏ lần
    nào trong tuần.Nếu trong
    tuần một vài
    lần Bị lóp
    trưởng hoặc
    sao đỏ nhắc
    nhở trong giờ
    truy bài
    nhưng không
    bì trừ điểm ở
    sổ sao đỏ.Nếu trong
    tuần Bị sao đỏ
    ghi và trừ lớp
    1 điểm.Bị sao đỏ
    ghi và trừ
    lớp 2 điểm
    trở lên.Về Sổ đầu
    bàiNếu cả tuẩn
    không bị ghi
    phạt nhưng
    phải được điểm
    tốt trong sổ đầu
    bài.Nếu trong
    tuần không có
    tên trong sổ
    đầu bài.Nếu trong
    tuần Vừa bị
    ghi phạt vừa
    có điểm tốt
    trong sổ đầu
    bài.Nếu trong
    tuần vừa
    Bị ghi phạt
    vừa không
    có điểm tốt
    trong sổ
    đầu bài.BẢNG THEO DÕI LỚP TRƢỞNG CÁC TỔ TRƢỞNG VÀ TỰ THEO
    DÕI BẢN THÂN TRONG TUÀN………
    Về ý
    thức tự
    giác ở
    nhà (hệKiểm tra
    15 phút
    truy bàiLao
    động
    vệ sinh
    (hệ sốSổ
    Sao
    đỏ
    (hệSổ
    đầu
    bài
    (hệTổng
    điểmXT

    16


    số 1) (hệ số 2) 3) số 4) số 5)TT TỔ 1TT TỔ 2TT TỔ 3TT TỔ 4LỚP
    TRƢỞNGLỚP PHÓ
    HỌC TẬP

    Sổ theo dõi của các tổ trưởng
    Trong sổ theo dõi này, không theo dõi chéo giữa các tổ mà Tổ trưởng trực
    tiếp theo dõi thành viên của tổ mình luôn: Theo dõi cũng dựa vào những nội dung:
    Ý thức tự giác ở nhà, giờ truy bài 15 phút, sổ sao đổ, sổ đầu bài. Mỗi tuần xếp loại
    1 lần
    Tùy theo đặc điểm của từng lớp, từng môi trường mà đưa ra tiêu chí cũng
    như các nội dung theo dõi sao cho phù hợp.

    Sổ theo dõi của Tổ trƣởng lớp 8A2 – Trƣờng THCS Nghĩa Hƣng
    Năm học 2019 – 2020
    BẢNG THEO DÕI CÁC THÀNH VIÊN TRONG TỔ……….Lớp …
    PHỤ TRÁCH: TỔ TRƢỞNG……………………………………………….
    CÁCH TÍNH ĐIỂM
    Điểm1 2 3 4

    17


    Nội dungVề ý thức
    tự học ở
    nhàNếu phụ huynh
    đánh dấu vào ô
    “rất tốt” .Nếu phụ
    huynh đánh
    dấu vào ô
    “tốt” .Nếu phụ hunh
    đánh dấu vào
    ô “Khá ”.Nếu phụ
    huynh
    đánh dấu
    vào ô “cần
    phải cố
    gắng rất
    nhiều”
    hoặc không
    nộp giấy
    đánh giá
    của phụ
    huynh.Về kiểm
    tra 15
    phút truy
    bài đầu
    giờNếu trong tuần
    chuẩn bị đầy
    đủ bài tập và
    để sẵn trước
    mặt bàn trước
    khi tổ trưởng
    đến kiểm tra
    đồng thời tự
    giác học một
    nội dung kiến
    thức nào đó
    hoặc 1 vài lần
    giúp đỡ bạn
    ngồi cạnh
    mình học bài.Nếu chuẩn bị
    đầy đủ bài tập
    và để sẵn
    trước mặt bàn.Nếu thiếu ít
    bài tập nhưng
    cố gắng hỏi
    bạn để làm
    luôn trong giờ
    truy bài.Nếu thiếu
    nhiều bài
    tập.Về lao
    động vệ
    sinhcó mặt đúng
    giờ, tự giác
    làm những
    công việc củaCó mặt đúng
    giờ, tự giác
    làm những
    công việc củaCó mặt đúng
    giờ nhưng để
    tổ trưởng dục
    nhiều lần mớiCó mặt
    muộn
    khoảng 10
    phút,

    18


    tổ được phân
    công. Nếu còn
    thời gian rỗi,
    có thể giúp đỡ
    các tổ khác lao
    động vệ sinh
    khi còn thời
    gian.tổ được phân
    công.làm. không tự
    giác làm vệ
    sinh hoặc
    không làm
    vệ sinh.Về sổ sao
    đỏkhông bị ghi ở
    sổ sao đỏ lần
    nào trong tuần.Bị tổ trưởng
    hoặc sao đỏ
    nhắc nhở
    trong giờ truy
    bài nhưng
    không bị trừ
    điểm ở sổ sao
    đỏ.Bị sao đỏ ghi
    và trừ lớp 1
    điểm.Bị sao đỏ
    ghi và trừ
    lớp 2 điểm
    trở lên.Về Sổ đầu
    bàikhông bị ghi
    phạt nhưng
    phải được
    điểm tốt trong
    sổ đầu bài.không có tên
    trong sổ đầu
    bài.Vừa bị ghi
    phạt vừa có
    điểm tốt trong
    sổ đầu bài.Bị ghi phạt
    và không
    có điểm tốt
    trong sổ
    đầu bài.THEO DÕI THEO TUẦN
    BẢNG THEO DÕI CÁC THÀNH VIÊN TRONG TUÀN………TỔ …

    19


    Nội dung
    HỌ VÀ TÊNÝ thức
    tự học
    ở nhà
    (hệ số
    1)Kiểm
    tra 15
    phút
    truy bài
    (hệ số 2)Lao
    động
    vệ sinh
    (hệ số
    3)Sổ
    Sao
    đỏ
    (hệ
    số 4)Sổ
    đầu
    bài
    (hệ
    số 5)Tổng
    điểmXT

    Sổ theo dõi của Lớp phó văn nghệ
    Lớp phó văn nghệ là người trực tiếp chỉ đạo hoạt động ngoại khóa, trải
    nghiệm theo sự hướng dẫn của giáo viên Tổng phụ trách đội, giáo viên chủ nhiệm.
    Các hoạt động nhằm hướng tới rèn kỹ năng sống cho các em học sinh.
    Giáo viên chủ nhiệm hội ý và thông qua những hoạt động chính trong một
    năm học mà lớp sẽ thực hiện để Lớp phó văn nghệ lên kế hoạch cụ thể.
    Trong các hoạt động trải nghiệm hay ngoại khóa rất cần có sự tham gia hỗ
    trợ của các bậc phụ huynh. Các bậc phụ huynh có thể đến tham gia trực tiếp hay
    ủng hộ về vật chất cũng như tinh thần cũng được.
    Về tổ chức sinh nhật tùy theo điều kiện của mỗi lớp, chúng ta có thể tổ chức
    hàng tháng, theo quý hay theo đợt sao cho phù hợp.

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Hiệu trưởng chỉ đạo công tác tự đánh giá kđclgd để nâng cao chất lượng giáo dục tại đơn vị trường thcs

    SKKN Hiệu trưởng chỉ đạo công tác tự đánh giá kđclgd để nâng cao chất lượng giáo dục tại đơn vị trường thcs

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
    I. 1 Cơ sở lí luận:
    Trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, giáo dục giữ một vị
    trí quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp
    phần xây dựng một nền kinh tế tri thức. Tuy nhiên, giáo dục ở các cấp học và trình độ
    đào tạo đang phải đối mặt với những khó khăn và thách thức mới, nhất là tình trạng
    chất lượng giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn
    hiện nay. Thực hiện Luật Giáo dục 2005 sửa đổi và Nghị định số 75/2006/NĐ-CP
    ngày 02/08/2006 của Chính phủ quy định chi tiết về hướng dẫn thi hành một số điều
    của Luật Giáo dục; Bộ Giáo dục-Đào tạo (GD-ĐT) đang triển khai đổi mới mục tiêu,
    nội dung, phương pháp giáo dục, tiếp tục đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, tăng
    cường cơ sở vật chất, đẩy mạnh công tác đánh giá kiểm định chất lượng giáo dục
    (KĐCLGD) ở các cấp học và trình độ đào tạo nhằm nhanh chóng tạo bước chuyển
    biến lớn về chất lượng giáo dục để góp phần thực thắng lợi Nghị quyết Hội nghị lần
    thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về Đổi mới
    căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại
    hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc
    tế.
    Phát triển nguồn nhân lực là yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài, cần được thực hiện
    một cách bài bản, có tầm chiến lược, theo tinh thần xã hội hóa, huy động đông đảo các lực
    lượng xã hội tham gia, với nhiều giải pháp khác nhau, đáp ứng được những yêu cầu phát
    triển và hội nhập.
    Nhu cầu học tập của người dân tăng lên, giáo dục chất lượng là nhu cầu cấp thiết, do
    sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
    hóa, do sự mở rộng thị trường và hội nhập sâu hơn kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.
    Nhân dân sẽ cần đến những hình thức học tập đa dạng và phải được trang bị kiến thức, kỹ
    năng để có những cơ hội thực hiện được phương thức học tập suốt đời. Với yêu cầu đó,
    nguồn lực con người càng trở nên có ý nghĩa cực kì quan trọng, quyết định sự thành
    công của công cuộc phát triển đất nước. Trường THCS có vai trò, nhiệm vụ quan trọng
    trong việc chuyển tiếp các em học sinh tiếp tục học lên THPT, Đại học trở thành
    những sinh viên, hoặc đi học nghề làm công nhân, người lao động có chất lượng, góp
    phần xây dựng một thế hệ người lao động mới cho địa phương, đất nước, đáp ứng yêu
    cầu phát triển kinh tế – xã hội trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Với sứ mệnh
    vẻ vang xã hội giao phó, đòi hỏi trường THCS phải có chiến lược phát triển đúng
    hướng, hợp quy luật, xu thế phát triển của địa phương, đất nước và xứng tầm yêu cầu
    mới của thời đại.
    Xu thế toàn cầu hóa đang lôi cuốn nhiều nước tham gia, vừa tạo ra những cơ hội và
    điều kiện phát triển, vừa đặt ra trước các quốc gia những thách thức lớn. Việc gia nhập
    AFTA và WTO với nhiều thể chế chặt chẽ buộc phải đào tạo nguồn nhân lực có chất
    lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng khắc khe của thị trường lao động. Để thực hiện
    tốt trọng trách của mình, mỗi đơn vị trường học, từng giáo viên cần phải tham gia quy
    trình tự đánh giá (KĐCLGD), qua đó đánh giá được một cách đầy đủ về năng lực giáo
    dục của đơn vị và là cơ sở để xây dựng chiến lược phát triển ở những giai đoạn tiếp
    theo.
    I.2. Cơ sở thực tiễn:
    Kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục phổ thông nhằm xác định mức độ đáp ứng
    mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn của cơ sở giáo dục phổ thông nhằm nâng cao
    chất lượng giáo dục; thông báo công khai với các cơ quan quản lý nhà nước và xã hội
    về thực trạng chất lượng giáo dục; để cơ quan chức năng đánh giá và công nhận cơ sở
    giáo dục phổ thông đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục.
    Được Đảng và Nhà nước quan tâm, ngành Giáo dục và Đào tạo nước ta trong
    nhiều năm trở lại đây đã không ngừng phát triển lớn mạnh cả về quy mô, số lượng và
    chất lượng. Giáo dục và Đào tạo đã góp một phần không nhỏ trong chiến lược con
    người, từng bước đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao công cuộc xây dựng và phát
    triển đất nước. Nằm trong hệ thống giáo dục phổ thông trường THCS Trực Thái trong
    những năm qua từng bước nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là từ khi Sở Giáo dục và
    Đào tạo Nam Định triển khai công tác tự đánh giá (KĐCLGD) đến nay. Để đáp ứng
    được yêu cầu của đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục là cần phải triển khai công
    tác thu thập thông tin về chất lượng dạy- học của nhà trường, trên cơ sở đó có các biện
    pháp cải tiến và nâng cao chất lượng giáo dục.Vì vậy, tự đánh giá (KĐCLGD) của nhà
    trường hiện nay là công việc hết sức quan trọng mà trong đó vai trò chỉ đạo của Hiệu
    trưởng để thực hiện tốt việc tự đánh giá (KĐCLGD). Chính vì thế, bản thân chọn đề
    tài sáng kiến kinh nghiệm “Hiệu trưởng chỉ đạo công tác tự đánh giá (KĐCLGD) để
    nâng cao chất lượng giáo dục tại đơn vị Trường THCS Trực Thái”.
    II. Mô tả giải pháp kĩ thuật
    II.1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến
    Nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường là một yêu cầu bức bách của xã
    hội trong giai đoạn hiện nay ở nước ta. Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định các đơn
    vị trường học từ Phổ thông đến Đại học phải thực hiện tự đánh giá (KĐCLGD) càng
    cho thấy tính cấp thiết của vấn đề chất lượng giáo dục. Sự khẳng định quyết tâm của
    Nhà nước ta trong việc không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục và đào
    tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho đất nước, phục vụ cho phát triển bền
    vững và hội nhập quốc tế.
    Để thực hiện được sứ mệnh của mình trong việc đổi mới phương thức tổ chức và
    phát triển quy mô, chất lượng giáo dục hiện nay, trường THCS vừa phải thực hiện
    nhiệm vụ giáo dục học sinh có chất lượng vừa phải định hướng nghề nghiệp để các em
    học tiếp THPT hay bước vào các trường dạy nghề… Do đó, chúng ta cần huy động tối
    đa nguồn lực sẵn có của đơn vị, đó là: tất cả những yếu tố và phương tiện mà hệ thống
    có quyền chi phối, điều khiển, sử dụng để thực hiện mục tiêu. Đối với hệ thống kinh tế
    – xã hội, có thể chia nguồn lực ra các bộ phận khác nhau như: nguồn nhân lực(con
    người), nguồn tài lực(nguồn tài chính) và nguồn vật lực (nguồn cơ sở vật chất) và
    thông tin”. Nguồn lực của trường THCS là tập hợp các yếu tố mà nhà trường sử dụng
    để thực hiện mục tiêu của mình bao gồm nguồn nhân lực, nguồn tài chính, nguồn lực
    vật chất và nguồn lực thông tin. Trong đó, nhân lực là nhân tố chủ đạo có vai trò quyết
    định việc nâng cao chất lượng giáo dục, các thành tố khác là những điều kiện hỗ trợ
    không thể thiếu được, tạo cho quá trình giáo dục đạt chất lượng và hiệu quả.
    Huy động nguồn lực cần đảm bảo các nguyên tắc sau: Tuân thủ pháp luật và thông
    lệ xã hội (văn bản pháp luật hiện hành); phát huy tập trung dân chủ; kết hợp hài hòa
    các lợi ích (tập thể, cá nhân, hiện tại, tương lai); hiệu lực thi hành phải đi đôi với hiệu
    quả và tiết kiệm; Có tổng kết đánh giá và không ngừng hoàn thiện chính mình.
    Biện pháp nâng cao chất lượng dạy học là những cách làm, cách giải quyết từng
    vấn đề cụ thể một cách biện chứng trong công tác chỉ đạo, phù hợp với tình hình điều
    kiện thực tế của nhà trường và được tập thể giáo viên, các đoàn thể, tổ chức xã hội
    hưởng ứng tích cực; với mục đích nâng cao chất lượng giáo dục. Nâng cao chất lượng
    dạy và học là nhiệm vụ tiên quyết của những người làm công tác giáo dục học trong
    các nhà trường. Tương lai của đất nước ta đang trông chờ vào những chủ nhân mới
    đầy năng động, sáng tạo và lòng nhiệt quyết mà hàng ngày các thầy cô giáo đang dày
    công chăm chút vun đắp. Để thực hiện tốt điều đó nhà trường phải có đủ nội lực, đoàn
    kết, quyết tâm và tham gia thực hiện công tác tự đánh giá (KĐCLGD) đúng quy trình.
    Để thực hiện có hiệu quả đề tài “Hiệu trưởng chỉ đạo công tác tự đánh giá
    (KĐCLGD) để nâng cao chất lượng giáo dục tại đơn vị Trường THCS Trực Thái” nhất
    thiết phải căn cứ vào các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các hướng dẫn về thực
    hiện công tác tự đánh giá (KĐCLGD) của Sở Giáo dục và Đào tạo Nam Định và các
    văn bản có liên quan, cụ thể là:
    Căn cứ Thông tư 18/2018/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 8 năm 2018 của Bộ
    trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về kiểm định chất lượng giáo dục
    và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường trung học;
    Căn cứ các văn bản hướng dẫn chi tiết, rõ ràng của Sở GD&ĐT Nam Định, của
    Phòng GD&ĐT Trực Ninh làm cho việc thực hiên công tác tự đánh giá (KĐCLGD)
    được thuận tiện, nhanh chóng và độ tin cậy chính xác cao.
    II.2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    1. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    2. Phƣơng pháp nghiên cứu:
    2.1. Cở sở lý luận và thực tiễn có tính định hƣớng cho việc nghiên cứu, tìm
    giải pháp của đề tài :
    Trước tình hình thực tế của nhà trường, trước các đòi hỏi bức bách phải nâng cao
    hơn nữa chất lượng giáo dục nhằm đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao trong
    quá trình đổi mới và nâng cao chất lượng cuộc sống. Đề tài vận dụng các văn bản về
    công tác tự đánh giá (KĐCLGD) kết hợp với thực tiễn giáo dục ở địa phương làm thay
    đổi nhận thức về giáo dục; đó là: công tác giáo dục là của mọi người, mọi nhà và toàn
    xã hội, chứ không của riêng thầy, cô giáo, của nhà trường. Chất lượng giáo dục của
    nhà trường luôn được công khai và giám sát của phụ huynh, của toàn xã hội.
    Đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp thực hiện có hiệu quả trong công tác
    chỉ đạo của Hiệu trưởng trong vai trò Chủ tịch Hội đồng tự đánh giá (KĐCLGD) của
    đơn vị trường THCS Trực Thái, giúp cho toàn thể hội đồng sư phạm nhà trường, các
    đoàn thể, phụ huynh và học sinh có cái nhìn đầy đủ, đúng đắn về công tác tự đánh giá
    (KĐCLGD) và tùy theo điều kiện, nhiệm vụ của từng đối tượng tham gia công tác tự
    đánh giá (KĐCLGD), góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của đơn vị.
    2.2. Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp:
    Các biện pháp tiến hành thực hiện đề tài:
    – Đánh giá hiện trạng về chất lượng giáo dục, qua đó thấy được những điểm mạnh
    để phát huy và những điểm yếu để khắc phục.
    – Trên cơ sở điểm mạnh và điểm yếu phát hiện được so với các tiêu chuẩn đề ra, từ
    đó định ra kế hoạch thực hiện công tác tự đánh giá (KĐCLGD).
    – Tăng cường nhận thức của đội ngũ nhà giáo, phụ huynh, học sinh và toàn xã hội,
    sự cần thiết của giáo dục và chất lượng giáo dục.
    – Thực hiện công tác tự đánh giá (KĐCLGD) theo đúng quy trình, qua đó nâng cao
    chất lượng và quy mô giáo dục từ năm học 2019 -2020 cũng như cho các năm học tiếp
    theo.
    Đề tài nhằm huy động các nguồn lực phục vụ công tác cải tiến, nâng cao chất
    lượng giáo dục nhà trường. Xác định các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực cần huy
    động.
    Chỉ rõ từng hoạt động đánh giá chất lượng giáo dục của trường và thời gian cần
    được cung cấp và khoảng thời gian cần thiết để triển khai công tác tự đánh giá
    (KĐCLGD). Qua đó công khai chất lượng giáo dục của đơn vị và để giải trình với cơ
    quan chức năng, xã hội về thực trạng chất lượng giáo dục của nhà trường. Qua đó để
    cơ quan chức năng, xã hội đánh giá và công nhận trường đạt tiêu chuẩn chất lượng
    giáo dục. Từng bước xây dựng “thương hiệu” về chất lượng cho nhà trường.
    3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
    – Phạm vi tự đánh giá theo bộ tiêu chuẩn Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng
    giáo dục và quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục phổ thông,
    cơ sở giáo dục thường xuyên (Ban hành kèm theo Thông tư 18/2018/TT-BGDĐT ngày
    22 tháng 8 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về
    kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường trung
    học)
    – Đối tượng của đề tài : Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh và chất lượng
    giáo dục từ năm học 2010-2011 cho đến hết năm học 2019-2020 của trường THCS
    Trực Thái, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
    4. Nội dung nghiên cứu:
    4.1. Thực trạng về công tác tự đánh giá (KĐCLGD) ở đơn vị Trường THCS
    Trực Thái:
    4.1.1. Thực trạng chung:
    Công tác tự đánh giá (KĐCLGD) được đội ngũ nhà giáo và đặc biệt là Ban giám
    hiệu nhà trường tích cực chỉ đạo thực hiện, nguồn lực con người phục vụ cho nhu cầu
    phát triển giáo dục dần được đáp úng. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và công
    tác xã hội hóa giáo dục ngày càng được quan tâm, phát triển sâu rộng. Đồng thời, sự
    phát triển của khoa học, công nghệ thông tin có những tác động tích cực, tạo sự
    chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của đội ngũ nhà giáo, các đoàn
    thể, phụ huynh và tất cả học sinh.
    4.1.2. Những thuận lợi và khó khăn thách thức:
    Khi nghiên cứu thực trạng của đơn vị để xây dựng, triển khai thực hiện đề tài
    “Hiệu trưởng chỉ đạo công tác tự đánh giá (KĐCLGD) để nâng cao chất lượng giáo
    dục tại đơn vị Trường THCS Trực Thái”, bản thân tôi cũng như các đồng nghiệp
    nhận thấy trong quá trình thực hiện công tác giáo dục ở đơn vị trường THCS Trực
    Thái có những thuận lợi và khó khăn thách thức chủ yếu là:
    Thuận lợi:
    – Trong quá trình nhà trường tự đánh giá, nhà trường luôn được Phòng Giáo dục-
    Đào tạo Trực Ninh thường xuyên kiểm tra và tiến hành rút kinh nghiệm trong quá trình
    thực hiện. Trường THCS Trực Thái đã hoàn thành KĐCLGD và được UBND tỉnh, Sở
    GD&ĐT Nam Định đánh giá đạt cấp độ 3 năm 2011 và tháng 5 năm 2019.
    – Được sự đồng thuận cao của Hội đồng giáo viên, Ban đại diện cha mẹ học sinh
    trường và chính quyền địa phương về công tác này.
    – Các thành viên trong Hội đồng tự đánh giá kiểm định chất lượng làm việc với tinh
    thần trách nhiệm cao và tranh thủ làm việc đúng thời gian biểu đã ban hành.
    – Hồ sơ quản lý, lưu trữ trong trường từng năm có kiểm tra và sắp xếp khá ngăn nắp
    nên rất dễ tìm và thu thập để làm minh chứng.
    – Cán bộ quản lí nhà trường có soạn thảo và ban hành tương đối đầy đủ các loại
    văn bản để chỉ đạo, điều hành hoạt động công tác KĐCL trong nhà trường.
    – Chất lượng giáo dục từng bước được ổn định củng cố và không ngừng được nâng
    cao về mọi mặt trong những năm gần đây; Cơ sở vật chất nhà trường, trang thiết bị dạy
    học được đầu tư , đáp ứng tốt hơn yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục ở nhà trường,
    phù hợp với yêu cầu giảng dạy và học tập.
    – Ban giám hiệu nhà trường có tầm nhìn chiến lược; đủ năng lực tập hợp các nguồn
    lực xã hội trong điều kiện có thể để nâng cao chất lượng giáo dục. Đặc biệt Hiệu
    trưởng đã có kinh nghiệm thực tế trong việc chỉ đạo về công tác tự đánh giá
    (KĐCLGD) – Hội đồng sư phạm và các đoàn thể nhà trường đoàn kết một lòng, đang
    nổ lực thi đua thực hiện phong trào “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”, với
    những hiệu quả thiết thực, nhằm hướng tới sự phát triển toàn diện của mỗi người học
    đức – trí – thể – mỹ.
    – Công tác xã hội hóa giáo dục ở địa phương đã được chú trọng, bước đầu huy
    động được nguồn lực của nhân dân, tạo được sự đồng thuận cao đối với sự nghiệp giáo
    dục và công tác xã hội hóa giáo dục.
    Nhìn nhận, đánh giá của xã hội đối với đội ngũ nhà giáo được nâng lên, đời sống
    của giáo viên ngày càng được cải thiện, tạo được môi trường thuận lợi để duy trì và
    phát triển đội ngũ.
    Những khó khăn thách thức:
    – Nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và hoa màu nhưng năng suất thấp,
    tiềm lực kinh tế của địa phương còn hạn chế.
    – Trình độ dân trí không đồng đều, nhận thức về việc học tập của một bộ phận
    người dân chưa cao.
    – Nhiều phụ huynh học sinh chưa nắm rõ quan điểm giáo dục hiện nay, thái độ hợp
    tác với nhà trường, với con em chưa rõ ràng, chưa thống nhất với quan điểm giáo dục
    chung; cho rằng chất lượng giáo dục là nhiệm vụ của thầy cô giáo, của nhà trường.
    – Văn bản chỉ đạo, chi phí cho công tác tự đánh giá kiểm định chất lượng giáo dục
    chưa được ban hành song song với văn bản chỉ đạo thực hiện công tác tự đánh giá
    kiểm định chất lượng nên không đáp ứng được chi phí hoạt động cho Hội đồng tự
    đánh giá kiểm định chất lượng giáo dục của nhà trường.
    4.2. Quy trình thực hiện công tác Tự đánh giá (KĐCLGD).
    Trường THCS Trực Thái thực hiện công tác Tự đánh giá (KĐCLGD) theo đúng
    trình tự quy định, đó là:
    1- Thành lập Hội đồng tự đánh giá.
    2- Xác định mục đích phạm vi tự đánh giá.
    3- Xây dựng kế hoạch tự đánh giá.
    4- Thu thập, xử lí và phân tích các thông tin, minh chứng.
    5- Đánh giá mức độ đạt được theo từng tiêu chí.
    6- Viết báo cáo tự đánh giá.
    7- Công bố báo cáo tự đánh giá (KĐCLGD) để phụ huynh học sinh và toàn xã
    hội giám sát.
    Song việc giải quyết bài toán về huy động học sinh đến trường, duy trì sĩ số học
    sinh và nâng cao chất lượng giáo dục không đơn thuần chỉ là sự cố gắng, mà phải tìm
    ra những nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan, những thuận lợi cũng như những
    thách thức nội tại và các tác nhân ảnh hưởng đến giáo dục.
    4.3. Các biện pháp, giải pháp đơn vị đã tiến hành thực hiện công tác tự đánh giá
    (KĐCLGD), nâng cao chất lượng giáo dục.
    Để thực hiện công tác Tự đánh giá (KĐCLGD) đạt hiệu quả, cần bám sát 05 tiêu
    chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường THCS, đó là:
    – Tổ chức và quản lý nhà trường.
    – Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh.
    – Tài chính và cơ sở vật chất.
    – Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội.
    – Hoạt động giáo dục và kết quả giáo dục.
    Thông qua đó chúng ta đánh giá những điểm mạnh, những điểm yếu để làm công
    tác tham mưu cho chủ tịch hội đồng tự đánh giá (KĐCLGD) tiến hành các bước theo
    đúng quy trình để thực hiện công tác tự đánh giá (KĐCLGD).
    4.3.1. Xây dựng đội ngũ vững mạnh.
    Trong quá trình xây dựng đội ngũ, Hội đồng tự đánh giá (KĐCLGD) phải tuân thủ
    đúng theo các văn bản chỉ đạo, các chế độ chính sách của ngành Giáo dục – Đào tạo,
    của Đảng và Nhà nước; đồng thời phải huy động được sức mạnh tổng hòa về nội và
    ngoại lực để phát triển.
    Hiệu trưởng – Chủ tịch Hội đồng công tác tự đánh giá (KĐCLGD) phải tự học tập,
    rèn luyện để có đủ trình độ, năng lực, nắm được định hướng phát triển chung của
    ngành và đặc thù riêng của đơn vị, địa phương.
    Các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục phải có căn cứ, tính khoa học, bảo
    đảm tính khả thi khi thực hiện, tránh tuỳ tiện, áp đặt.
    Cần lắng nghe ý kiến của tập thể hội đồng sư phạm và các nguồn dư luận xã hội để
    giải quyết kịp thời những thắc mắc, mâu thuẫn, tạo nên sự hoà hợp thống nhất trong
    việc phát triển đồng bộ nguồn lực và chất lượng giáo dục.
    Tăng cường công tác bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ lý luận chính trị, năng
    lực chuyên môn, năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ nhà giáo.
    Tổng kết, đánh giá và khen thưởng kịp thời những tập thể và cá nhân có thành tích
    trong quá trình thực hiện công tác tự đánh giá (KĐCLGD).
    4.3.2. Bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức, nhận thức và chất lượng chuyên
    môn:
    Thường xuyên bồi dưỡng về đạo đức, nâng cao nhận thức tư tưởng chính trị cho
    đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên trong đơn vị luôn được lên hàng đầu và
    không thể thiếu được trong một đơn vị trường học. Sự nghiệp giáo dục và đào tạo
    đang đứng trước những đòi hỏi bức bách của sự phát triển xã hội; đội ngũ những người
    làm công tác giáo dục phải có đầy đủ các năng lực định hướng những đòi hỏi chính
    đáng đó.
    Luôn tìm tòi đổi mới các hình thức tổ chức mới và hiệu quả trong quá trình hoạt
    động sư phạm, nhằm tăng hưng phấn cho đội ngũ, tránh sự nhàm chán.
    Giáo viên cần vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học để kết quả học tập của
    học sinh được nâng cao. Chú trọng dạy học theo nhóm đối tượng, quan tâm đồng đều
    các đối tượng học sinh.
    Tăng cường hoạt động dự giờ thăm lớp, trao đổi chuyên môn, công tác chủ nhiệm
    và các hoạt động giáo dục trong nhà trường. Tích cực sáng tạo trong việc làm và sử
    dụng đồ dùng dạy học, sưu tầm tài liệu bộ môn. Động viên khuyến khích, đặt ra yêu
    cầu mới và sáng tạo không ngừng.
    4.3.3. Xây dựng môi trường học tập tích cực cho học sinh:
    Để tiếp tục học tập lên bậc học cao hơn và hòa nhập với xã hội hiện đại, trường
    THCS Trực Thái luôn chú trọng đến giáo dục toàn diện cho học sinh, giúp cho các em
    có đủ năng lực trí tuệ nội sinh để thức thích ứng với môi trường học tập và lao động
    sau này. Muốn vậy, chúng ta phải xây dựng cho các em học sinh nhận thức đúng đắn
    đó là: Mỗi học sinh phải lấy sự học hỏi làm lẽ sống của mình; từ những nhân tố tức
    cực đó chúng ta dần dần hình thành ý thức học tập, nâng cao chất lượng. Để đạt được
    điều đó mỗi thầy cô giáo cần có lòng nhiệt huyết và là tấm gương học tập, sáng tạo;
    qua đó truyền niềm say mê học tập, học tập có chất lượng và học tập suốt đời.
    Nâng cao chất lượng giáo dục là qui luật của sự phát triển, là vấn đề chung của thời
    đại, do đó chúng ta những người làm công tác giáo dục phải có nhiệm vụ trang bị cho
    các em có đủ kiến thức, kỹ năng cần thiết để tham gia và tự khẳng định mình.
    4.3.4. Thực hiện công tác tự đánh giá (KĐCLGD) đã đem lại cho đơn vị, cho mỗi
    cán bộ, giáo viên, công nhân viên nhiều cơ hội phát triển và được tham gia đầy đủ
    các quy trình nâng cao chất lượng dạy và học, đó là:
    Quyền tự chủ: tham gia vào quá trình giáo dục, sử dụng tài chính giành cho giáo
    dục và đóng góp cho giáo dục;
    Nâng cao tỷ trọng (số người theo học): Phát triển phù hợp với yêu cầu của địa
    phương;
    Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được trang bị ngày một hoàn thiện và có chất
    lượng hơn;
    Nhà trường tham gia vào quá trình giáo dục một cách năng động và tự chịu trách
    nhiệm về chất lượng;
    Tăng cường năng lực cạnh tranh, tạo “thương hiệu chất lượng” cho nhà trường (xây
    dựng văn hoá chất lượng, không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập, quản
    lý và sử dụng tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, các nguồn lực hỗ trợ
    giáo dục).
    Kiểm định chất lượng: Nâng cao trách nhiệm của nhà trường do có quá trình tự
    nhìn nhận lại công việc của mình so với tiêu chuẩn chất lượng ban hành. Quá trình tự
    đánh giá theo tiêu chuẩn kiểm định làm cho nhà trường xem xét lại một cách toàn diện
    hiện trạng các hoạt động của trường mình (hoặc lớp, môn mình đang tiến hành đào
    tạo), phân tích các điểm mạnh và điểm yếu trong mọi hoạt động của mình dựa trên các
    tiêu chuẩn kiểm định chất lượng đề ra và cũng là mục tiêu về chất lượng mà nhà
    trường mong đạt được. Khi đó, kiểm định chất lượng là “sự thể chế hoá được phát
    triển đầy đủ nhất về tính chịu trách nhiệm” đối với công luận.
    Từ đó, giá trị của chất lượng được khẳng định, thương hiệu của nhà trường được
    nâng lên, kéo theo sự quan tâm của phụ huynh, học sinh và toàn xã hội; làm cho các
    giá trị đầu tư cho giáo dục được đền đáp và công tác xã hội hóa giáo dục được nâng
    lên một bước mới.
    4.3.5. Kết quả tự đánh giá (KĐCLGD) góp phần định hướng các hoạt động của
    xã hội , đó là:
    – Định hướng lựa chọn đầu tư của người học – của phụ huynh đối với cơ sở giáo
    dục có chất lượng, phù hợp với khả năng của mình;
    – Định hướng lựa chọn đầu tư của nhà nước để đào tạo nguồn nhân lực theo những
    ngành nghề cần thiết cho sự phát triển trong tương lai;
    – Với sự công khai hóa các tiêu chuẩn kiểm định cũng có nghĩa là công khai hóa
    tiêu chuẩn chất lượng của đào tạo, nhà trường sẽ thấy rõ được mục tiêu mà mình cần
    phải đạt tới và nhu cầu của xã hội;
    – Bằng việc tự đánh giá mức độ thực hiện của nhà trường so với các tiêu chuẩn
    kiểm định nhà trường sẽ thấy được một cách tương đối toàn diện thực trạng chất lượng
    đào tạo của mình để có thể chủ động đưa ra những biện pháp hữu ích cho việc cải
    thiện chất lượng của trường một cách nhanh và bền vững;
    – Khi thực hiện công tác tự đánh giá (KĐCLGD) nhà trường cần được tham gia
    một khâu hết sức quan trọng trong quy trình đó là đánh giá ngoài. Mục đích của khâu
    này là các chuyên gia đại diện cho cơ quan kiểm định xem xét trực tiếp, so sánh với
    các tiêu chuẩn của cơ quan kiểm định. Từ đó đưa ra những kết luận xác nhận, và góp ý
    cho nhà trường những thiếu sót cần khắc phục;
    – Kiểm định chất lượng sẽ giúp nhà trường, người quản lý và người dạy không
    ngừng nâng cao và hoàn thiện năng lực của mình .
    4.3.6. Tự đánh giá (KĐCLGD) góp phần nâng cao trách nhiệm xã hội của nhà
    trường:
    Khâu cuối cùng của qui trình tự đánh giá (KĐCLGD) là ghi nhận và công bố công
    khai kết quả kiểm định đó. Việc làm này có ý nghĩa trên nhiều mặt:
    * Về phía xã hội:
    – Đó là sự đảm bảo trước xã hội về chất lượng “sản phẩm” của từng giáo viên và
    của nhà trường tạo ra.
    – Xác nhận chất lượng và hiệu quả đào tạo của nhà trường.
    – Là cơ sở cho việc chuyển tiếp cho người học tham gia các bậc học cao hơn ở các
    trường THPT hoặc các trường dạy nghề…
    – Thông qua quá trình kiểm định, các trường luôn chủ động và có ý thức trong việc
    không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo của mình, nâng cao hiệu quả của đầu tư cho
    giáo dục.
    * Đối với người học:
    – Yên tâm vì nhu cầu học tập đã được đáp ứng một cách tốt nhất.
    – Giúp cho người học có đủ tri thức, các kỹ năng cần thiết, sự tự tin để học lên các
    bậc học cao hơn.
    – Là tiền đề giúp cho người học bước vào đời sống lao động sau này..
    * Đối với nhà trường:
    – Giúp nhà trường định hướng trong việc cải thiện chất lượng đào tạo của mình
    thông qua chiến lược phát triển trung, dài hạn và kế hoạch cụ thể từng năm học.
    – Nhà trường có điều kiện đánh giá lại mình một cách toàn diện và đầy đủ thông
    qua việc xây dựng báo cáo tự đánh giá (KĐCLGD).
    – Giúp nhà trường có những chuẩn để củng cố, tránh những đánh giá thiếu độ chính
    xác về chất lượng của nhà trường .
    – Khẳng định uy tín của nhà trường trước xã hội và công luận.
    Với ý nghĩa, tầm quan trọng như vậy hoạt động tự đánh giá (KĐCLGD) thường
    mang tính nghề nghiệp và tính xã hội rất cao.
    4.3.7. Các bước tiến hành Tự đánh giá (KĐCLGD):
    Để đánh giá công tác kiểm định chất lượng của nhà trường nhất thiết phải theo các
    bước cơ bản sau:
    – Tự đánh giá theo bộ tiêu chuẩn thống nhất.
    – Đánh giá ngoài đối với tự đánh giá của nhà trường.
    – Công nhận và công khai kết quả kiểm định của công tác tự đánh giá và đánh giá
    ngoài.
    Sản phẩm cuối cùng một bản báo cáo đầy đủ, đúng thực chất về những mặt nhà
    trường đã làm tốt, những việc còn hạn chế cần khắc phục và kế hoạch phát huy điểm
    mạnh, khắc phục các điểm còn tồn tại giúp cho nhà trường liên tục cải tiến chất lượng
    trong thời gian tới.
    Những cái đạt được lớn hơn là đào tạo được lớp lớp thế hệ trẻ có đạo đức, có tri
    thức và tinh thần tự tôn dân tộc, sẵn sàng phục vụ quê hương, tổ quốc. Qua đó vai trò
    của giáo dục- giáo dục có chất lượng, tiếp tục được khẳng định và được đón nhận, tôn
    vinh.
    III. Hiệu quả do sáng kiến đem lại:
    Trong quá trình triển khai tự đánh giá, đối chiếu tiêu chuẩn do Bộ GD&ĐT ban
    hành, Nhà trường rút ra những ưu điểm sau: Trường có nền nếp, kỷ cương tốt, luôn là
    một trong những điểm sáng của phong trào giáo dục xã Trực Thái và huyện Trực
    Ninh. Công tác chỉ đạo, quản lý làm việc khoa học, có hiệu quả. Hoạt động tập thể có
    nền nếp. Phong trào thi đua trong giáo viên, học sinh diễn ra sôi nổi. Công tác mũi
    nhọn bồi dưỡng học sinh giỏi đạt được nhiều thành tích cao. Chất lượng học sinh đại
    trà đã có nhiều cố gắng. Nhà trường đã có nhiều giáo viên dạy giỏi cấp huyện, tỉnh. Số
    lượng giáo viên đạt trên chuẩn đạt tỷ lệ khá, chất lượng đồng đều, đảm bảo được yêu
    cầu của giáo dục trong thời kỳ mới. Hệ thống hồ sơ, sổ sách, tài liệu của nhà trường
    được lưu trữ tương đối đầy đủ. Hàng năm đều hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học, thực
    hiện tốt các cuộc vận động và các phong trào thi đua, hoàn thành các chỉ tiêu đề ra với
    chất lượng cao. Nhà trường có nhiều năm đạt danh hiệu : Tập thể lao động tiên tiến
    xuất sắc. Song trường cũng phải cố gắng nhiều hơn nữa trong việc đổi mới phương
    pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học để kết quả ngày càng tốt hơn.
    Trên cơ sở đó, nhà trường đề ra các biện pháp cụ thể để khắc phục hạn chế, đổi
    mới phương pháp giảng dạy, phấn đấu tiếp tục giữ vững danh hiệu trường : Tập thể
    Lao động tiên tiến xuất sắc để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giáo dục, công cuộc
    công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
    Như vậy, công tác tự đánh giá (KĐCLGD) là một quá trình lâu dài, có tính hệ
    thống nên việc thực hiện tránh việc nóng vội, áp đặt. Trước hết chúng ta cần phân tích
    các số liệu thống kê về giáo dục của đơn vị trong thời gian qua; các tác nhân tác động,
    chi phối kết quả đó. Trên cơ sở đạt được, ghi nhận sự cố gắng, những kết quả đã đạt
    được, đồng thời đánh giá những khó khăn, thách thức phải giải quyết. Và từ đó chúng
    ta định hướng mang tầm chiến lược cho sự phát triển của đơn vị trong thời gian tiếp
    theo.

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • Tài khoản Canva Pro miễn phí!

    Tài khoản Canva Pro miễn phí!

    O2 Education xin gửi tặng bạn đọc 500 tài khoản Canva Pro giành cho giáo dục, tính năng gần tương tự như Canva Pro. Tuy nhiên, tài khoản chỉ phục vụ mục đích học tập, nghiên cứu và phi thương mại. Nếu bạn muốn sử dụng Canva để làm việc kiếm tiền thì chúng tôi nghĩ bạn nên mua tài khoản Pro chính chủ.

    Cách nhận Tài khoản Canva Pro miễn phí

    Bạn bấm vào link sau và chọn tham gia để nhận Tài khoản Canva Pro miễn phí: https://canva.com/join=edu&referrer

    Canva là gì?

    Canva được biết đến là công cụ thiết kế đồ họa trực tuyến miễn phí dễ sử dụng trên điện thoại và máy tính, với nguồn tài nguyên phong phú dành cho cả dân chuyên nghiệp lẫn những người mới bắt đầu.

    Tài khoản Canva Pro miễn phí!

    Xem thêm Hướng dẫn sử dụng CanvaFont chữ tiếng việt trên Canva.

  • Tổng hợp các công cụ AI hữu ích nhất hiện nay!

    Tổng hợp các công cụ AI hữu ích nhất hiện nay!

    🔸Chat, tổng hợp kiến thức, trả lời câu hỏi: https://chat.openai.com/. Mời bạn tìm hiểu thêm ChatGPT là gì? Chat GPT làm được gì? và tham khảo Cách đăng ký ChatGPT OpenAI hoặc Không đăng ký được ChatGPT, hãy thử VoiceGPT!

    Cách đăng ký ChatGPT OpenAI?

    🔸Tạo Slide tự động: https://chatba.com/ (trước đây là https://chatbcg.com)

    Tổng hợp các công cụ AI hữu ích nhất hiện nay!

    🔸Công cụ tìm kiếm (Search Engine): https://you.com/

    Tổng hợp các công cụ AI hữu ích nhất hiện nay!

    🔸Tạo Nhạc: https://soundraw.io/

    🔸Tạo Content: https://www.copy.ai/

    🔸Tạo Logo: https://looka.com/

    🔸Đánh Giá CV: https://www.resumeworded.com/

    🔸Xóa vật thể trong ảnh: https://cleanup.pictures/

    🔸Chỉnh Ảnh: https://www.evoto.ai/

    🔸Design Ảnh: https://midjourney.com/

  • SKKN Áp dụng mô hình Kim tự tháp đảo ngược trong hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường THPT

    SKKN Áp dụng mô hình Kim tự tháp đảo ngược trong hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường THPT

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    1. Điều kiện, hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
    Chương trình giáo dục phổ thông mới chú trọng đến phát triển năng lực toàn
    diện cho học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
    Trong các phương pháp dạy học thì học qua trải nghiệm là phương pháp
    đem lại nhiều kết quả tối ưu và để lại lợi ích dài lâu nhất với đối tượng học.
    Tuy nhiên, với mô hình trường học truyền thống chủ yếu tập trung vào đào
    tạo lí thuyết trên lớp và thông qua thi cử trên giấy thì nội dung của chương trình
    giáo dục phổ thông mới đặt ra những bài toán không nhỏ với người quản lí về nhân
    lực, cơ sở vật chất, chương trình học…
    Đứng trước thách thức chương trình cũ không còn phù hợp yêu cầu thực tế
    nhưng chưa thể xoá bỏ ngay, chương trình mới sắp triển khai đáp ứng được nhiều
    yêu cầu của xã hội thì lại chưa có đường đi cụ thể và kinh phí lớn. Làm thế nào để
    vừa duy trì kết quả học tập như cũ mà vẫn triển khai được các hoạt động trải
    nghiệm sáng tạo với nguồn lực rất hạn chế? Đây chính là động cơ để chúng tôi tìm
    tòi một mô hình khả thi đảm bảo các yêu cầu đặt ra ở trên trong thời điểm giao thời
    chuyển giao chương trình học.
    2. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Thực tế hoạt động trải nghiệm sáng tạo đã được áp dụng thực hiện ở cấp
    THPT trong thời gian gần đây chủ yếu là thông qua các môn học và những hoạt
    động tập thể ngoài giờ học chính khóa.
    Trong chương trình môn học nhiều khi chưa phân công rõ ràng là ai sẽ là
    người chịu trách nhiệm chính về các dự án học tập, HĐTN mà thường do các thầy
    cô và tổ chuyên môn tích cực đổi mới sẽ đưa vào bài giảng hoặc cho HS đi trải
    nghiệm theo bộ môn nhưng rất ít.
    Trong những hoạt động tập thể thì ý tưởng tổ chức chủ yếu đưa từ trên
    xuống. Điều đó tạo ra nhiều bất cập: như ý tưởng của ban giám hiệu hoặc giáo viên
    nghèo nàn hoặc cạn dần theo thời gian, giáo viên phải kiêm nhiệm thêm những
    chức năng không thuộc trong phạm vi chuyên môn thế mạnh của mình. Các ý
    tưởng trên mạng internet rất nhiều tuy nhiên khó phù hợp với đặc thù của từng địa
    phương. Các trường tư, trường quốc tế có nhiều hoạt động trải nghiệm phong phú
    nhưng dựa trên thế mạnh cơ sở vật chất và nhân lực lớn. Do đó, khó có thể học hỏi
    để áp dụng đại trà ở trường phổ thông trên cả nước. Quan sát cụ thể những hoạt
    động các trường đang làm như: sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp thì chủ yếu là thầy
    cô dành thời gian để giáo dục, nhắc nhở HS vi phạm hoặc biểu diễn văn nghệ hay
    chơi đố vui có thưởng cùng một vài hoạt động nhưng chỉ những người được phân
    công thực hiện còn đa số như người ngoài cuộc…Các hoạt động lớn như tổ chức
    thể thao, đi tham quan, dã ngoại thì đa phần các trường ít tổ chức vì nó liên quan
    đến kinh phí và quản lý học sinh, một số GV quan điểm đó là vui chơi, không giúp
    HS phát triển kĩ năng, lo mất thời gian học của HS sẽ không đảm bảo được yêu cầu
    của các kì thi… Người hướng dẫn chủ yếu là các thầy cô: Ban Giám hiệu chỉ đạo
    Bí thư Đoàn trường, một số giáo viên chủ nhiệm (GVCN) lớp và giáo viên bộ môn
    (GVBM) phối hợp thực hiện. Đi tham quan thì CMHS và GV lo cho HS hết, HS
    chỉ đi chơi và chụp ảnh là chủ yếu, bài viết thu hoạch không đàu tư thời gian và
    suy nghĩ nên ít chất lượng, thường copy trên mạng và copy của nhau …
    Và điều quan trọng nhất là hoạt động đưa ra mất nhiều công sức thời gian,
    tiền bạc, cơ sở vật chất phục vụ trải nghiệm nhưng lại hiệu quả không cao do
    không đáp ứng đúng nhu cầu đa dạng của từng học sinh. Chương trình giáo dục
    phổ thông mới hướng tới phát triển phẩm chất năng lực của từng học sinh. Vậy làm
    thế nào để một hoạt động trải nghiệm có thể đáp ứng nhu cầu của mọi học sinh, và
    thông qua đó học sinh có thể tìm thấy năng lực lõi của mình? Làm sao để tiết kiệm
    nhất và có hiệu quả giáo dục cao nhất trong phạm vi nguồn lực của địa phương mà
    tối đa hoá lợi ích cho người học? Với thách thức này, tất cả các giải pháp cũ đang
    áp dụng trên cả nước không thể thoả mãn nên chúng tôi buộc phải tìm tòi một giải
    pháp phù hợp với điều kiện tỉnh thuần nông mà vẫn hoàn thành mục tiêu giáo dục
    tiên tiến như các nước phát triển đang hướng tới.
    3. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến

    Giải pháp áp dụng Mô hình “Kim tự tháp đảo ngược” vào tổ chức hoạt động
    trải nghiệm sáng tạo là giải pháp hoàn toàn mới trong giáo dục trên phạm vi
    cả nước trong bối cảnh chuyển giao chương trình giáo dục sẽ giúp ích nhiều
    trường tiết kiệm nguồn lực mà vẫn đảm bảo mục tiêu giáo dục.

    3.1. Mô hình kim tự tháp đảo ngược là mô hình mới được áp dụng trong
    kinh doanh
    Mô hình kim tự tháp đảo ngược là mô hình rất mới ngay cả trong lĩnh vực
    nó được áp dụng đầu tiên là lĩnh vực kinh doanh. Theo đó, nhân viên của doanh
    nghiệp sẽ được đặt lên vị trí số 2, trên cả cổ đông – những ông chủ doanh nghiệp,
    và chỉ sau khách hàng. Vậy mô hình này cụ thể là gì? Nó ưu việt ra sao và có phù
    hợp với áp dụng vào giáo dục hay không? Câu trả lời là hoàn toàn được – minh
    chứng bằng hiệu quả 3 năm thực tiễn áp dụng của tôi trong công tác quản lý đã
    đem lại kết quả bất ngờ và là một giải pháp đột phá tôi muốn chia sẻ để lan toả
    trong cả nước.
    Trước khi tìm hiểu về mô hình kim tự tháp ngược, cùng xem lại mô hình
    kim tự tháp (kiểu truyền thống).
    Sự khác nhau căn bản giữa hai mô hình này là vai trò của quản lý – nhân
    viên, ai là người hỗ trợ.
    Mô hình quản lý truyền thống (theo hình kim tự tháp) được phân cấp theo
    thứ tự từ cao xuống thấp. Quyền lực cao nhất và quyền ra quyết định tập trung trên
    đỉnh kim tự tháp – vị trí dành cho lãnh đạo cao nhất. Các cấp bên dưới thừa hành
    và chịu trách nhiệm thực thi những mệnh lệnh từ cấp trên.
    Mô hình kim tự tháp ngược theo đó là một phép ẩn dụ, đảo ngược cách quản
    lý truyền thống. Cụ thể, phần lớn nhất của kim tự tháp – các nhân viên, những
    người gần gũi với khách hàng và quá trình sản xuất kinh doanh nhất, sẽ được đặt ở
    khu vực cao nhất. Các quản lý cấp cao hơn xếp ở vị trí thấp hơn trên kim tự tháp
    ngược này.
    Trong mô hình này, nhân viên sẽ được trao quyền, được quyết định và tự do
    hành động. Nhà quản lý sẽ hỗ trợ toàn nhóm, với vai trò cố vấn hay huấn luyện
    viên. Về lý thuyết, mô hình này giúp cho tổ chức vận động nhanh hơn, linh hoạt và
    hiệu quả hơn.
    Khách hàng là trên hết, nhân viên là quan trọng nhất
    Ông Kip Tindell, CEO Container Store, người rất thành công trong áp dụng
    mô hình kim tự tháp ngược từng đúc rút: “Nếu nhân viên không hài lòng, khách
    hàng không hài lòng thì sau đó cổ đông cũng sẽ không được hạnh phúc.”
    Trong mô hình kim tự tháp ngược, nhân sự quan trọng nhất là nhân viên –
    những chiến binh nơi tiền tiêu của thương trường. Họ là những người trực tiếp giao
    dịch, chuyển tải các sản phẩm – dịch vụ, nâng cao hình ảnh thương hiệu doanh
    nghiệp… với khách hàng. Họ là mấu chốt quyết định sự hài lòng và tạo dựng quan
    hệ bền vững giữa khách hàng với doanh nghiệp. Tuy nhiên, đội ngũ nhân sự này
    thường đông và có sự biến động rất lớn, dễ nghỉ việc, nhảy việc.
    Thế Giới Di Động là một trong các doanh nghiệp rất thành công khi áp dụng
    mô hình này, ông Tài chia sẻ nhân viên TGDĐ được đặt ở vị trí thứ hai, chỉ sau
    khách hàng và cao hơn cả cổ đông – những ông chủ thực sự của doanh nghiệp, hay
    đối tác, bạn hàng. Theo đó, nếu có mâu thuẫn lợi ích giữa nhân viên và các cổ
    đông, hay đối tác, nhà cung cấp, Thế Giới Di Động sẽ ưu tiên bảo vệ quyền lợi cho
    nhân viên, như cách họ giữ chính sách ESOP cao dù từng gây tranh cãi với cổ
    đông.
    Với số lượng lên đến hàng trăm cửa hàng, cùng tốc độ mở rộng chóng mặt
    của TGDĐ trong những năm qua, nếu áp dụng quy trình ra lệnh – thừa hành theo
    kiểu cũ lên toàn hệ thống sẽ rất mất thời gian và kém hiệu quả.
    Mô hình kim tự tháp ngược sẽ cho phép hàng trăm cửa hàng trưởng ở
    TGDĐ chủ động tự xử lý các vấn đề nảy sinh và đưa ra quyết định nhanh chóng để
    việc bán hàng đạt hiệu suất cao nhất, thay vì chờ đợi quyết định từ một vài lãnh
    đạo cấp cao. Quản lý cấp cao sẽ đóng vai trò hỗ trợ tối ưu cho toàn hệ thống vận
    hành một cách hiệu quả nhất.
    Không riêng gì TGDĐ, các doanh nghiệp bán lẻ, tiêu dùng hay các ngân
    hàng thương mại ngày nay đều có tôn chỉ hoạt động “khách hàng là trên hết”. Do
    đó, họ luôn tập trung xây dựng cơ cấu nhân sự theo hình kim tự tháp ngược, nghĩa
    là, từ vị trí quản trị cấp cao cho đến đội ngũ chuyên viên đều thúc đẩy bán hàng sao
    cho đạt hiệu suất cao nhất.
    Chìa khóa thành công
    Yếu tố quyết định thành công cho mô hình này là người lao động đòi hỏi
    phải phát triển các kỹ năng mới, thay vì chỉ đơn giản là được hướng dẫn. Họ cần
    thời gian trau dồi và được đào tạo để làm chủ các kỹ năng làm việc theo nhóm.
    Ban đầu, một số nhân viên có thể miễn cưỡng hay hoài nghi. Các nhân viên trong
    mô hình này cũng cần nắm được thông tin và được truyền thông đầy đủ, họ cần
    hiểu rõ mục tiêu của tổ chức và vai trò của họ trong việc đạt được mục tiêu đó.
    Một câu hỏi điển hình dành cho một nhân viên tuyến đầu trong mô hình Kim
    tự tháp ngược là”Bạn cần gì ở tôi để có thể làm việc hiệu quả nhất ở vị trí đó”.
    Khi đã nắm được mong muốn của nhân viên, nhà quản lý cần đảm bảo các nguồn
    lực và học cách tin tưởng cấp dưới để họ có thể tự lực hoàn thành mục tiêu công
    việc.
    Ngoài ra, các nhà quản lý cần đảm bảo thống nhất việc trao quyền cho nhân
    viên, cung cấp các nguồn lực cần thiết để họ phát triển kỹ năng, đặt niềm tin vào
    họ và chỉ nên đảm nhận vai trò cố vấn hay huấn luyện viên.

    Tiểu kết:
    Dựa trên lí thuyết và bài học kinh doanh trên chúng tôi áp dụng cho mô hình
    trường học, trong đó vai trò tương đương trong các bậc tháp là: Nhóm quản
    lí cấp cao = Ban giám hiệu
    Nhóm lãnh đạo và quản lí=Tổ bộ môn (tổ trưởng + giáo viên )
    Nhóm nhân viên trực tiếp = Các leader học sinh
    Nhóm khách hàng và đối tác khác = Các học sinh khác/phụ huynh/chuyên
    gia/doanh nghiệp/người địa phương.
    Leader học sinh là người sáng lập các dự án/hoạt động trải nghiệm sáng tạo dựa
    trên nhu cầu trực tiếp từ học sinh trong trường, từ các doanh nghiệp, người địa
    phương. Họ tạo ra dự án và họ kết nối để thực hiện dự án. Học sinh leader được
    TRAO QUYỀN, TRAO TIỀN* VÀ TRAO CƠ CHẾ
    * Tiền được hiểu là các nguồn lực trong phạm vi có thể của trường.

    Bảng so sánh sau đây sẽ làm rõ hơn những điểm MỚI của mô hình dạy học
    đồng sáng tạo so với các mô hình được đề xuất trước đó:

    Tiêu chíDạy học truyềnDạy học lấy người
    thốnghọc làm trung tâmGiáo dục theo mô hình
    kim tự tháp đảo ngược
    Người
    quyết
    Giáo viênGiáo viênGiáo viên đề xuất – HS
    địnhnộilựa chọn RA QUYẾT
    ĐỊNH
    dung học
    Giáo viên chủ
    động
    Giáo viên tạo cácHS đề xuất kế hoạch
    Kếhoạchlàm theo giáo án
    để
    nhiệm vụ để HSchiếm lĩnh kiến thức kĩ
    học tậptruyền đạt kiếnthực hiện chiếm
    lĩnh
    năng
    thứckiến thức
    Giáo viên giảng,Giáo viên hướngHS quyết định hình thức
    Hình thứcHSghi chépdẫn, hỗ trợ, HS thựchọc tập và giảng dạy lại
    học tậphiện nhiệm vụ theokiến thức lĩnh hội
    giáo án
    Giáo viên là ngườiGiáo viên và HSHS chịu trách nhiệm cao
    duy nhấtcùng đánh giánhất, giáo viên, bạn cùng
    Đánh giáhọc, cộng đồng phản hồi
    cho sản phẩm của học
    sinh
    Chi phí đào tạoNhu cầu và trình độNgười học thể hiện vai
    trò
    thấp thấp nhưngcủa người học đượcchủ động học theo nhu
    Ảnh hưởngngười học thụ
    động
    quan tâm nhưngcầu và năng lực, giáo
    viên
    phụ thuộc nhiềugiáo viên vẫn làcó quá trình học ngược
    để

    3.2. Mô hình kim tự tháp đảo ngược có thể được áp dụng rộng rãi cho tất
    cả các loại hình trường học (trường công, trường tư thục, trường quốc tế trên
    phạm vi cả nước)
    Khó khăn lớn nhất khi lặp lại các hoạt động trải nghiệm sáng tạo giữa các
    trường trên cả nước là do sự chênh lệch về thu nhập/nguồn lực của từng trường,
    đặc thù địa lý của mỗi địa phương khác nhau, trình độ, năng lực của mỗi trường
    cũng chênh lệch. Một hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể rất thành công ở
    trường quốc tế nhưng chưa chắc đã thành công tại trường miền núi. Một hoạt động
    kinh phí thấp tạo ra hiệu quả giáo dục cao tại vùng nông thôn cũng chưa chắc có
    hiệu quả với trường tư thục thành phố. Nguyên nhân căn bản là HIỆU QUẢ đến từ
    MỨC ĐỘ PHÙ HỢP của hoạt động với đối tượng học sinh là NGƯỜI TRỰC
    TIẾP THỤ HƯỞNG.
    Vậy khi áp dụng mô hình kim tự tháp đảo ngược, học sinh chính là người
    tạo ra hoạt động và đồng thời kết nối nguồn lực của họ để giải quyết vấn đề nhu
    cầu cho chính họ. Họ được QUYỀN RA QUYẾT ĐỊNH nhiều hơn, được HỖ TRỢ
    nhiều hơn thì khả năng đạt hiệu quả của hoạt động chắc chắn sẽ cao hơn là việc
    nhà trường tự nghĩ ý tưởng, tự xin nguồn lực tạo hoạt động mà chưa chắc phù hợp
    với học sinh.
    Cách làm này kích hoạt sự linh động, tri thức bản địa của học sinh nên mọi
    trường với mọi hoàn cảnh thu nhập khác nhau đều có thể áp dụng để tối đa hoá
    nguồn lực sẵn có tại địa phương và trong trường học.
    Trong bối cảnh chuẩn bị thực hiện CTGDPT để tiếp cận và chỉ đạo đúng
    hướng, phân công đúng người đúng việc để tất cả cán bộ, GV phát huy được điểm
    mạnh của mình trong công việc, ngoài việc CBQL chỉ đạo từ trên xuống còn rất
    cần sự tham gia tích cực của CBGV từ việc xây dựng kế hoạch nhà trường đến việc
    tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá các hoạt động trong nhà trường; trong thời đại
    bùng nổ công nghệ thông tin và tri thức thì vai trò của người thầy không phải là
    người quyết định cung cấp cho HS loại kiến thức, TN nào mà nên là người hướng
    dẫn HS làm thế nào để chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng HS mong muốn có thì mô
    hình kim tự tháp đảo ngược theo thời gian chắc chắn sẽ có ưu thế để áp dụng rộng
    rãi trong nhà trường với điều kiện xây dựng kế hoạch, học tập dự án, TN.
    3.3. Mô hình Kim tự tháp đảo ngược đã đem lại hiệu quả cả về mặt giáo
    dục, kinh tế, xã hội
    3.3.1. Về giáo dục

    vào giáo viênngười có quyềnhiểu học viên hơn
    quyết định
    ĐỐI VỚI HỌC SINH: Mô hình Kim tự tháp đảo ngược đã làm sâu sắc hơn lí
    thuyết lấy người học, người trải nghiệm làm trung tâm bằng cách trao quyền chủ
    động đầy đủ hơn cho học sinh.

    – Về mục tiêu dạy học, trải nghiệm: Hướng vào việc chuẩn bị cho HS sớm
    thích ứng với đời sống xã hội, hòa nhập và phát triển cộng đồng, tôn trọng nhu cầu,
    lợi ích, tiềm năng của người học…
    – Về nội dung dạy học, trải nghiệm: Hệ thống kiến thức lí thuyết chưa đủ để
    đáp ứng mục tiêu chuẩn bị cho cuộc sống. Cần chú trọng các kĩ năng thực hành
    vận dụng các kiến thức lí thuyết, năng lực phát hiện và giải quyết những vấn đề
    thực tiễn.
    Dạy học, trải nghiệm không chỉ đơn giản là cung cấp tri thức mà còn phải
    hướng dẫn hành động. Khả năng hành động là một yêu cầu được đặt ra không phải
    đối từng cá nhân mà cả ở cấp độ cộng đồng địa phương và toàn xã hội. Chương
    trình giảng dạy, trải nghiệm phải giúp cho từng cá nhân người học biết hành động
    và tích cực tham gia vào các chương trình hành động của cộng đồng; “từ học làm
    đến biết làm, muốn làm và cuối cùng muốn tồn tại phát triển như nhân cách một
    con người lao động tự chủ, năng động và sáng tạo”.

    ĐÔI VƠI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC: Mô hình phát huy tính tích cực của
    học sinh, nâng cao khả năng hỗ trợ, truyền cảm hứng của giáo viên. Chuyển tự dạy
    học sang tự học

    Về phương pháp dạy học, trải nghiệm: Coi trọng việc tổ chức cho HS hoạt
    động thông qua đó HS vừa tự lực nắm các tri thức, kĩ năng mới, đồng thời được
    rèn luyện về phương pháp tự học, được tập dượt phương pháp nghiên cứu.
    – Về hình thức tổ chức dạy học, trải nghiệm: Linh hoạt, thường dùng bàn
    ghế cá nhân, có thể bố trí thay đổi linh hoạt cho phù hợp với hoạt động học tập
    trong tiết học, thậm chí theo yêu cầu sư phạm của từng phần trong tiết học. Nhiều
    bài học được tiến hành trong phòng thí nghiệm, ngoài trời, tại Viện bảo tàng hay
    cơ sở sản xuất…
    – Về đánh giá: Giúp HS hiểu và tự giác chịu trách nhiệm về kết quả học tập
    của mình, được tham gia tự đánh giá và tự đánh giá lẫn nhau về mức độ đạt các
    mục tiêu của từng phần trong chương trình học tập, trải nghiệm chú trọng bổ
    khuyết những mặt chưa đạt được so với mục tiêu

    ĐỐI VỚI CÁC MỐI QUAN HỆ TRONG TRƯỜNG HỌC: Lợi ích của quan
    hệ hợp tác học tập của mô hình kim tự tháp đảo ngược giúp các mối quan hệ
    trong trường học trở nên hạnh phúc hơn

    – Đối với giáo viên: GV – HS – bạn cùng nhóm làm việc cùng nhau vì mỗi
    cá nhân và lợi ích chung; HS “dạy” cho HS là cách để hiểu hơn công việc của giáo
    viên; Giao tiếp với GV với vai trò đồng cấp đã giúp cải thiện môi trường học tập,
    TN theo nhiều cách; HS dễ dàng bộc lộ với GV điều mình mong muốn và cách
    giúp họ học tốt hơn; GV và HS giúp đỡ lẫn nhau; HS được trao quyền chủ động
    hoàn toàn giúp kích thích sự phấn khởi học tập, TN; Nâng cao hiệu quả quản lý lớp
    học của GV; GV biết cách tiếp cận và hợp tác với HS; GV hiểu rõ điểm mạnh và
    điểm yếu của cá nhân; GV không phải phỏng đoán những gì HS biết và hiểu. Đối
    với HS: HS ý thức về mục đích học tập, TN; Hiểu cách học, cách làm; Biết được
    tầm quan trọng của giao tiếp/đối thoại với GV Kết nối nhiều hơn với trường học;
    Hiểu các phương pháp sư phạm; Tự nhận thức về cách hành vi học tập, TN ảnh
    hưởng đến các HS khác trong lớp học
    – Đối với mối quan hệ giữa GV và HS: Phá vỡ rào cản giữa HS và GV; Xây
    dựng mối quan hệ và giao tiếp thuận lợi; Tăng sự tôn trọng của HS đối với GV có
    năng lực; HS đánh giá cao nỗ lực của GV về mục đích chuyên môn và kỹ năng
    mềm.
    3.3.2. Về kinh tế, xã hội
    Mô hình kim tự tháp đảo ngược giúp huy động xã hội hoá nguồn lực vào
    trong hoạt động trải nghiệm sáng tạo như nhà xưởng của doanh nghiệp địa phương,
    các trang trại, các cánh đồng, kiến thức chuyên gia của phụ huynh học sinh. Nhờ
    đó tiết kiệm một nguồn kinh phí rất lớn cho trường học trong khi lại các nguồn lực
    hỗ trợ đều rất sẵn có trong dân và doanh nghiệp địa phương.
    Về mặt xã hội, doanh nghiệp, người dân địa phương đồng thời là phụ huynh
    hoặc người thân của học sinh là những người hiểu rõ nhất con em mình, ủng hộ các
    em trải nghiệm sáng tạo cho thực nghiệp nên tạo mối liên kết tốt với trường học
    giữa người học – người sử dụng lao động – người đào tạo.
    Việc giải quyết bài toán CHI PHÍ THẤP – HIỆU QUẢ GIÁO DỤC CAO sẽ
    giúp quá trình thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới nhanh chóng được
    chuyển giao thành công mà không có đứt đoạn chất lượng.
    3.4. Sử dụng mô hình kim tự tháp đảo ngược trong dạy học, TN
    3.4.1. Với vai trò CBQL (PHT, HT): Chỉ đạo
    – Xây dựng kế hoạch HĐGD của trường trong năm học của nhà trường
    trong đó có kế hoạch cho HĐTN, HN (Căn cứ nguồn nhân lực: CSVC, đội ngũ
    GV, Căn cứ nội dung chương trình khung của Bộ GD&ĐT, Căn cứ ý kiến phản
    hồi, góp ý từ người học, CMHS) đảm bảo
    Mục tiêu giáo dục của nhà trường: Mục tiêu giáo dục đáp ứng hoàn toàn
    được yêu cầu SMART và thể hiện rõ đặc trưng riêng của nhà trường
    Nội dung chương trình giáo dục nhà trường: Nội dung chương trình giáo
    dục nhà trường phong phú, vận dụng sáng tạo tinh thần Chương trình giáo dục phổ
    thông 2018 và thể hiện rõ nét đặc trưng riêng của nhà trường.
    Kế hoạch tổng hợp của năm học: Thể hiện rõ ràng, đầy đủ tiến trình thực
    hiện các nội dung chương trình giáo dục nhà trường theo thời gian cụ thể trong
    năm học.
    Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục nhà trường: Phân công thực hiện và
    phân cấp trong quản lý thực hiện kế hoạch giáo dục nhà trường cụ thể, rõ ràng, phù
    hợp với bối cảnh nhà trường. Điểm khác biệt, tạo sự đột phá tạo động lực, trao
    quyền đầy đủ để Trường trở thànhTrung tâm điều hành mang tính giáo dục được
    vận hành tại tất cả các cán bộ, nhân viên (nhưng thực sự mới đang dừng ở mức độ
    TTCM, các GV tích cực)
    Tiến hành theo các bước
    Bước 1: Các thành viên Ban xây dựng KHGD (BGH, TTCM, CTCĐ,
    BTTN) làm việc cá nhân, nhóm. Phân tích bối cảnh và đưa ra định hướng xây dựng
    kế hoạch giáo dục nhà trường. Kế hoạch phân tích rõ điểm mạnh, điểm yếu, thời
    cơ, thách thức của nhà trường. Định hướng xây dựng kế hoạch phù hợp với bối
    cảnh. Chủ động trao đổi, thống nhất với các bộ môn có liên quan trong việc xây
    dựng các dự án học tập; trải nghiệm
    Bước 2: Làm việc tập thể Ban xây dựng KHGD và chuyên gia (Trao đổi,
    giải đáp và bàn giải pháp tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, Kết hợp làm việc cá
    nhân, làm việc nhóm, hoàn thiện sản phẩm gửi thẩm định)
    Bước 3: Thẩm định
    Bước 4: Nghiên cứu kết quả thẩm định và điều chỉnh Kế hoạch
    Bước 5: Làm việc toàn Ban biên soạn chốt các Kế hoạch
    Bước 6: Trình cấp trên phê duyệt
    BGH tạo điều kiện, cơ hội cho CB, GV; GV tạo điều kiện cho HS theo Quy
    trình áp dụng mô hình
    Bước 1: (BGH, GV)/(GV, HS) cùng thảo luận về những nội dung xây dựng
    kế hoạch, học tập, TN. VD: GV sẽ hỏi HS về CLB họ muốn thực hiện để hình
    thành một kĩ năng nào đó theo yêu cầu của bản thân (ví dụ kĩ năng thuyết trình, thủ
    thư trong CLB sách), cho HS một vài lựa chọn liên quan (ví dụ thông qua các vị trí
    trong CLB, hướng dẫn du lịch, thuyết trình hoặc tạo cẩm nang, vẽ. Cho phép HS
    chọn một CLB yêu thích, lựa chọn hình thức thể hiện sẽ phát cho lớp/CLB và
    quyết định không gian thực hiện bài tập trước lớp/CLB khi thực hiện.
    Bước 2: GV/HS lựa chọn hình thức xây dựng kế hoạch/học tập, TN. Với chủ
    đề/nội dung học tập, TN đã lựa chọn, GV/HS được quyền chọn một hình thức báo
    cáo/học tập, TN phù hợp với khả năng, mong muốn của mình.
    Bước 3: GV/HS lên kế hoạch thực hiện/học tập, TN: GV/HS được yêu cầu
    viết kế hoạch/ kế hoạch học tập, TN nội dung đã chọn để tạo ra kế hoạch/ sản
    phẩm học tập, TN tương ứng. Kế hoạch học tập này có sự tư vấn của BGH/giáo
    viên để đảm bảo hiệu quả và tiến độ công việc/học tập, TN. Tuy nhiên, GV/HS chỉ
    thực sự lên kế hoạch của mình khi sự tư vấn của BGH/GV là vừa đủ và vẫn đảm
    bảo được việc GV/HS biết họ đang làm/học, TN cái gì, bằng cách nào, cần phải
    làm gì, tại sao phải làm việc đó, làm ở đâu và khi nào cho công việc/nội dung học
    tập, TN mà họ lựa chọn. (what, how, how well, why, where, and when to learn).
    Điều này bao gồm GV/HS được thiết kế kế hoạch/chương trình giảng dạy, lập kế
    hoạch cho ngày học, đồng sáng tạo thiết kế không gian học tập mới, hoặc các hoạt
    động học tập xây dựng dựa trên kinh nghiệm, hiểu biết, ý tưởng và ý kiến của học
    sinh.
    Bước 4: GV/HS báo cáo/giảng dạy lại nội dung đã chuẩn bị cho xây dựng kế
    hoạch/học tập,TN
    GV/HS“báo cáo/dạy” lại cho BGH/GV và GV/HS khác nội dung mà mình
    lĩnh hội được. Để việc trao đổi/tiết học được hiệu quả, GV/HS được đề nghị chuẩn
    bị bài thuyết trình, tài liệu đã tích lũy được và phát trước tài liệu đọc cho người
    tham gia/lớp nhằm tăng tính phản biện của người nghe.
    Bước 5: BGH/GV – đồng nghiệp/bạn cùng học phản hồi đánh giá
    Trong mô hình kim tự tháp đảo ngược, BGH&GV/ GV& HS cùng là người
    đánh giá. Tuy nhiên, ngay cả tiêu chí đánh giá lẫn nhau như thế nào là một kết quả
    tốt cũng được trao quyền thiết lập tiêu chí cho GV/HS, bằng chính cách nhìn nhận
    của GV/HS. Quá trình giáo viên hướng dẫn GV/HS đánh giá lẫn nhau có thể thông
    qua hướng dẫn các nhiệm

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa