• SKKN Một số biện pháp quản lý, chỉ đạo nâng cao chất luợng công tác đảm bảo an toàn, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non

    SKKN Một số biện pháp quản lý, chỉ đạo nâng cao chất luợng công tác đảm bảo an toàn, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
    Giáo dục Mầm non là cấp học mở đầu trong hệ thống giáo dục quốc dân,
    chiếm vị trí quan trọng để đào tạo nên những con người phát triển toàn diện.
    Trong giáo dục mầm non có nhiệm vụ xây dựng cơ sở ban đầu, đặt nền móng
    cho việc hình thành nhân cách con người. Trách nhiệm nặng nề và cao cả ấy
    phụ thuộc vào sự chỉ đạo sát sao của cán bộ quản lý và giáo viên mầm non tạo
    nên nền tảng vững chắc, là chặng đường khôn lớn của trẻ, giúp trẻ có một cơ thể
    hoàn mỹ, giàu về tâm hồn, đẹp về ý tưởng.
    hoa học và thực ti n đ chứng minh, trẻ em lứa tu i từ 0 – 6 tu i là giai
    đoạn phát triển nhanh, mạnh m về thể lực và trí lực c ng như toàn bộ cơ thể.
    Đó là giai đoạn khám phá, trải nghiệm, hình thành những k năng cần thiết cho
    cả cuộc đời, vì v y trẻ rất hiếu động và luôn có sự mày m tìm hiểu trong cuộc
    sống hàng ngày, chính khả năng hiếu động, tính tự tin và t m trong khi trẻ
    hoàn toàn chưa có kinh nghiệm trong việc tự ph ng tránh tai nạn và đảm bảo an
    toàn cho chính mình s d n tới việc trẻ bị tai nạn bất cứ lúc nào. ên cạnh đó,
    cách chăm sóc, giáo dục trẻ không đúng hoặc không có phương pháp c ng d n
    tới các sang chấn về tâm lý – gây ra các tai nạn về tinh thần đối với trẻ. Vì v y,
    việc quản lý bảo vệ an toàn, ph ng chống tai nạn cho trẻ là vô c ng quan trọng
    đối với sự phát triển của trẻ trong trường mầm non.
    Trong những năm gần đây, tai nạn thương tích xảy ra đối với trẻ em rất
    nhiều, tại l công bố kết quả khảo sát quốc gia tai nạn thương tích tại Việt Nam
    được t chức tại Hà Nội đ nêu rõ: “Tai nạn thương tích là một vấn đề sức khỏe
    cộng đồng tại Việt Nam với tỉ lệ tử vong và thương tích cao so với các bệnh lây
    nhi m và không lây, trong đó, tai nạn giao thông đường bộ và đuối nước là
    những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho cộng đồng Việt Nam”. Trong đó,
    “5 nguyên nhân tai nạn thương tích gây tử vong hàng đầu ở nhóm trẻ em/vị
    thành niên từ 0-19 tu i là: tai nạn giao thông, ng , động v t tấn công, v t sắc và
    bỏng”. Chính vì v y, việc ph ng, chống tai nạn thương tích là một việc hết sức
    cấp bách hiện nay, đ i hỏi toàn x hội phải có những hành động thiết thực để
    ngăn chặn những nguy cơ tai nạn thương tích đe dọa đến tính mạng và sức khỏe
    của trẻ em nước ta, đặc biệt là trẻ lứa tu i mầm non, những chủ nhân tương lai
    của đất nước.
    Tình hình tai nạn thương tích ở trẻ em trong các cơ sở giáo dục trẻ ở nước
    ta đặc biệt là trong các trường mầm non hiện nay c ng thường xảy ra. Do cơ sở
    4
    v t chất không đảm bảo yêu cầu, số lượng trẻ quá đông, trong khi đó, trẻ em lại
    rất hiếu động, t m , chưa có kinh nghiệm nên rất d xảy ra các tai nạn như:
    ng , chấn thương chảy máu, hóc sặc, bỏng… Mặt khác, một số giáo viên mầm
    non chưa được t p huấn để xử lí những tình huống cấp bách, chưa có kinh
    nghiệm, k năng xử lí cấp cứu trẻ c n yếu d n đến việc chưa đảm bảo an toàn
    tuyệt đối cho trẻ. ên cạnh đó, công tác quản lý hoạt động ph ng, chống tai nạn
    thương tích trong trường đ thực hiện nhưng chưa thực sự sát sao và chú trọng,
    chưa xác định rõ nội dung của công tác ph ng, chống tai nạn thương tích cho trẻ
    gồmg những hoạt động gì,…
    Để ngăn chặn và ph ng chống tai nạn thương tích – đảm bảo an toàn cho
    trẻ, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị về tăng cường công tác bảo vệ chăm sóc trẻ
    em, chỉ thị đ nêu rõ: “ ộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo xây dựng môi trường sư
    phạm lành mạnh, không có bạo lực”; tiếp tục triển khai sâu rộng và thực hiện có
    hiệu quả phong trào thi đua “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”,
    chú trọng việc rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng giao tiếp,
    ứng xử cho học sinh trong nhà trường
    Nắm vững tinh thần đó, ộ GD&ĐT ban hành Thông tư Qui định về xây
    dựng trường học an toàn, ph ng, chống, tai nạn thương tích trong cơ sở giáo dục
    mầm non, nêu rõ “Mục đích xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai nạn
    thương tích” là “để đảm bảo an toàn cho trẻ, khi trẻ được chăm sóc, nuôi, dạy
    tại cơ sở giáo dục mầm non.
    Thấy được tầm quan trọng của vấn đề này, t p thể C , GV, NV Trường
    MN thị trấn Xuân Trường chúng tôi luôn đặt công tác ph ng, chống tai nạn
    thương tích cho trẻ lên hàng đầu, là một trong những yếu tố cấp bách và cực kỳ
    quan trọng, góp phần chăm sóc sức khỏe cho trẻ một cách toàn diện, là một
    trong những nhiệm vụ trọng tâm quyết định đến chất lượng, uy tín của nhà
    trường.
    Tuy nhiên do địa bàn thị trấn Xuân Trường trải dài theo đường quốc Lộ
    489 trường được xây dựng ở 3 điểm trường và một số hạng mục công trình xây
    dựng đ lâu nên bắt đầu có dấu hiệu xuống cấp, một số hạng mục của công
    trình hiện nay không đảm bảo như hệ thống điện nước, gạch nền nhà bị phồng,
    gãy,… Bên cạnh đó, giáo viên trẻ nhiều, kinh nghiệm chăm sóc và có kỹ năng sơ
    cấp cứu ban đầu cho trẻ c n hạn chế, do đó không thể loại bỏ được các sự cố có
    thể xảy ra ngoài ý muốn đối với trẻ trong thời gian trẻ ở trường bất kỳ lúc
    nào.V y chúng ta phải làm thế nào để bảo vệ an toàn cho trẻ trong thời gian cả
    5
    một ngày, một tháng, một năm học. Đây là vấn đề mà tôi luôn phải suy ngh và
    với trách nhiệm của một Hiệu trưởng nhà trường mầm non tôi đ nh n thức
    được việc phải xây dựng môi trường an toàn và ph ng tránh tai nạn thương tích
    cho trẻ là vấn đề rất quan trọng và là nhiệm vụ cấp bách với mong muốn 100%
    trẻ của trường mầm non thị trấn Xuân Trường được đảm bảo an toàn tuyệt đối,
    ph ng, chống tai nạn thương tích cho trẻ, giúp trẻ phát triển cân đối, hài h a về
    Đức, Trí, Thể, Mỹ và Lao động ằng tấm l ng yêu nghề, mến trẻ, căn cứ vào
    tình hình thực tế, qua thời gian học t p, nghiên cứu, đảm nhiệm vai tr là người
    đứng đầu nhà trường, tôi đ mạnh dạn chọn đề tài: “ t s n p p quản lý,
    o nâng ao ất lượng ng t ảm ảo an to n, p ng, ng ta n n
    t ư ng t o tr trong trường mầm non”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP:
    1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến:
    a. Tình hình đội ngũ cán bộ, giáo viên và học sinh trong trƣờng:
    Trường mầm non thị trấn Xuân Trường gồm có 3 điểm trường, 1 điểm
    trường trung tâm và 2 điểm trường lẻ. Hai điểm trường lẻ cách khu trung tâm
    từ 1,5-2 km nên khó khăn cho việc quản lý, kiểm tra, theo dõi các hoạt động
    trong ngày của cô và trẻ.
    Toàn trường có 20 nhóm lớp: trong đó có 15 lớp m u giáo và 5 nhóm
    trẻ. Tỷ lệ huy động trẻ m u giáo ra lớp 410/435 đạt 94,3 % tỷ lệ độ tu i; trẻ
    nhà trẻ ra nhóm lớp 127/373 đạt 34% tỷ lệ độ tu i. T ng số trẻ ăn bán trú là
    537/537 đạt 100%; Trong đó trẻ m u giáo 410/410 đạt 100%; nhóm trẻ 127/127
    đạt 100%.
    * Về đội ng cán bộ, giáo viên, nhân viên: T ng số 49 người
    – Cán bộ quản lý: 03 người
    – Giáo viên: 38 người; Nhân viên: 08 người
    * Trình độ đào tạo đội ng giáo viên:
    – Đại học: 19/41 = 46,34%
    – Cao đẳng: 19/41 = 46,34%
    – Trung cấp: 3/41 = 7,32% (Trong đó 3 cô đang học Đại học và Cao
    đẳng)
    * Thuận lợi:
    Trường luôn nh n được sự quan tâm động viên và tạo điều kiện giúp đỡ
    của U ND huyện Xuân Trường, Ph ng GD&ĐT huyện, U ND thị trấn Xuân
    Trường về cơ sở v t chất và chuyên môn nghiệp vụ. Vì v y trong năm học nhà
    6
    trường và địa phương đ được U ND tỉnh Nam Định công nh n Trường chuẩn
    quốc gia mức độ 1 Quyết định số 377/QĐ-UBND ngày 22/02/2021 – Sở Giáo
    dục và Đào tạo công nh n kết quả đánh giá ngoài và cấp giấy chứng nh n
    trường đạt kiểm định chất lượng giáo dục; trường đạt chuẩn xanh, sạch, đẹp và
    an toàn Quyết định số 118/QĐ-SGDĐT ngày 25/02/2021.
    Trường có hệ thống ph ng lớp, có sân chơi, đồ chơi ngoài trời cho trẻ hoạt
    động, các ph ng, lớp đều được trang bị trang thiết bị, đồ d ng, đồ chơi phục vụ
    cho công tác giảng dạy chăm sóc giáo dục trẻ.
    Trường có ph ng y tế và tủ thuốc được trang bị đầy đủ cho công tác sơ cấp
    cứu ban đầu: bông, băng, gạt, dầu gió, thuốc sát tr ng, các nẹp bằng tre,….
    Đội ng cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn trên chuẩn, nhiệt tình năng
    động, luôn nỗ lực học t p, tìm t i nghiên cứu phấn đấu xây dựng trường ngày
    một phát triển, luôn làm tốt công tác x hội hóa trong công tác phối hợp xây
    dựng trường lớp, đầu tư cơ sở v t chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng
    dạy, chăm sóc giáo dục trẻ.
    Đội ng đoàn kết, nhiệt tình, tâm huyết, yêu thương trẻ, có trình độ chuyên
    môn đạt chuẩn và trên chuẩn.
    Phụ huynh quan tâm, tin tưởng vào chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ của
    nhà trường.
    Trẻ ngoan, có nề nếp, có kiến thức và kỹ năng hoạt động, tích cực tham
    gia vào các hoạt động do trường, lớp t chức.
    * Kh kh n:
    ên cạnh đó trường c n 2 điểm lẻ nên khó khăn cho việc đầu tư cơ sở v t
    chất c ng như công tác quản lý.
    Một số ph ng học c n tr t hẹp, lớp học sử dụng chung cho cả hoạt động
    học, ăn, ngủ; 1 điểm trường chưa có ph ng y tế và nhân viên y tế kiêm cả 3
    trường trong c ng địa phương, chủ yếu hoạt động ở trường tiểu học.
    Nguồn kinh phí tự chủ chi cho đầu tư xây dựng cơ bản, tu sửa trường lớp
    hạn hẹp nên ảnh hưởng phần nào đến sửa chữa c ng như trang bị cơ sở v t chất
    khi cần.
    Một số giáo viên c n chưa th t sự chủ động tích cực, linh hoạt trong công
    tác chăm sóc giáo dục trẻ, kỹ năng sơ cấp cứu, kinh nghiệm ph ng, chống tai
    nạn thương tích cho trẻ c n hạn chế.
    Công tác quản lý chỉ đạo đôi khi c n chưa được sát sao, chưa kịp thời.
    7
    Một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến tình hình sức khỏe c ng như
    khả năng của trẻ nên công tác phối hợp chăm sóc trẻ c n gặp một số khó khăn
    nhất định.
    b. Thực trạng việc xây dựng trƣờng học an toàn, phòng tránh tai
    nạn thƣơng tích trong trƣờng mầm non.
    Theo thông tư số 13/2010/TT- GD&ĐT trường học an toàn, ph ng,
    chống TNTT là trường học mà các yếu tố nguy cơ gây TNTT cho trẻ được
    ph ng, chống và giảm tối đa hoặc loại bỏ. Toàn bộ trẻ em trong trường được
    chăm sóc, nuôi dạy trong một môi trường an toàn. Quá trình xây dựng trường
    học an toàn phải có sự tham gia của trẻ em độ tu i mầm non, các cán bộ quản
    lý, giáo viên của nhà trường, các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban ngành,
    đoàn thể của địa phương và các b c phụ huynh.
    Tai nạn thương tích là những sự kiện xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn do các
    tác nhân bên ngoài gây nên thương tích cho cơ thể. Thương tích là những t n
    thương thực tế của cơ thể do phải chịu tác động đột ngột ngoài khả năng chịu
    đựng của cơ thể hoặc rối loạn chức năng do thiếu yếu tố cần thiết cho sự sống.
    Tai nạn thương tích đang là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại các bệnh
    viện. Mà nguyên nhân phần lớn là do sự bất cẩn và kém hiểu biết của người lớn
    d n đến trẻ bị: Ng , hóc, sặc, bị v t sắc nhọn đâm, cắt, đánh nhau, đuối nước,
    bỏng, điện gi t, ngộ độc, tai nạn giao thông.. Ý thức được sự nguy hiểm có thể
    sẩy đến với trẻ hằng ngày. Trường mầm non thị trấn Xuân Trường luôn đặt vấn
    đề an toàn cho trẻ là mối quan tâm hàng đầu và quyết tâm xây dựng trường học
    an toàn, ph ng chống TNTT cho trẻ.
    Trong quá trình chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ nhà trường và điều tra thực
    trạng tại trường mầm non tôi nh n thấy:
    * Giáo viên:
    ỹ năng ph ng tránh và xử lý các tai nạn thương tích cho trẻ của giáo viên
    c n chưa thuần thục.
    iến thức về xử trí khi có tai nạn của giáo viên chưa sâu, đôi khi c n lúng
    túng.
    Việc lồng ghép giáo dục k năng ph ng tránh tai nạn thương tích vào các
    hoạt động đôi khi c n chưa ph hợp, c n ngượng ép.
    Các bài hát, bài thơ, câu truyện có nội dung giáo dục ph ng tránh tai nạn
    thương tích c n hạn chế.
    8
    Phối hợp với phụ huynh chưa thường xuyên, trực tiếp do cha mẹ trẻ đi
    làm, trẻ do ông bà, anh chị đưa đón.
    * Về phía trẻ:
    Trẻ c n nhỏ được phụ huynh quan tâm, chăm sóc nên đa số trẻ chưa có kỹ
    năng nh n biết các nguy cơ không an toàn và ph ng tránh tai nạn thương tích.
    Trẻ hiếu động, t m , khám phá xung quanh, thích trải nghiệm nên đôi khi
    hay xảy ra những tai nạn đáng tiếc.
    * Về phía phụ huynh:
    Đa số phụ huynh làm nông nghiệp nên nh n thức về các nguy cơ gây tai
    nạn thương tích c n hạn chế như:
    – Một số phụ huynh chưa đội m bảo hiểm cho con khi đi trên đường.
    – Đôi khi không tắt máy khi dừng xe nên khi trẻ cầm vào tay ga rất d việc
    xe s lao lên.
    – Cho con đ a nghịch, không bao quát, trông nom vào những lúc đông
    người: đón trẻ, trả trẻ và đi chơi.
    Trước thực trạng trên c ng thu n lợi, khó khăn trên của nhà trường tôi
    luôn trăn trở, suy ngh làm thế nào để ph ng chống tốt những tai nạn thương
    tích đó. Tôi luôn băn khoăn, trăn trở, tìm hiểu để đưa ra các biện pháp tốt nhất
    để ph ng chống những tai nạn thương tích trong trường mầm non.
    2. Mô tả giải pháp sau khi c sáng kiến:
    2.1. Khảo sát thực trạng và tìm hiểu nguyên nhân trẻ thƣờng bị tai nạn
    thƣơng tích
    Để tìm ra những biện pháp hay và có hiệu quả trong công tác ph ng,
    chống tai nạn thương tích cho trẻ, tôi đ tiến hành khảo sát tình hình tai nạn
    thương tích của học sinh trong trường, tôi thấy trẻ bị thương tích chủ yếu là do
    ng là cao nhất. hi đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu, tôi đ tìm ra những nguyên
    nhân chủ yếu sau khiến trẻ bị tai nạn thương tích:
    Từ phía học sinh: Trẻ hiếu động, hay chạy nhảy, chưa t p trung chú ý
    lắng nghe lời hướng d n của cô giáo.
    Từ phía giáo viên: Chưa quan tâm sâu sát tới trẻ, nhất là trong giờ hoạt
    động ngoài trời, chơi tự do, chưa chú ý nhắc nhở trẻ ph ng, chống các tai nạn
    thương tích thường gặp như: vấp ngã, leo trèo…, chưa nắm chắc đặc điểm tâm
    sinh lý của từng trẻ để có biện pháp t chức hoạt động giáo dục ph hợp,….
    Từ cơ sở v t chất: do nền gạch trơn trượt, chạy d bị ng , sân trường
    được đ bê tông nên khi trẻ ng d bị đau và xây sát, nền gạch của một số lớp bị
    9
    phồng, bị g y vỡ, hành lang của 1 số lớp bị nứt, bị giột, khu vườn trải nghiệm
    có ống hoặc van bơm tưới nước, khu vườn c tích có các mô hình các con v t,
    khu vực đồ chơi ngoài trời có đồ chơi han rỉ, nhựa bị vỡ…
    Từ phía nhà quản lý: chưa th t sự sát sao, chưa có sự chỉ đạo, quan tâm
    kịp thời và triệt để, chưa kịp thời phát hiện bồi dưỡng cho giáo viên của mình
    những kiến thức kỹ năng c n thiếu hụt, chưa kịp thời trang bị tu sửa cơ sở v t
    chất bị hư hỏng, thiếu an toàn cho trẻ, những trang thiết bị không đúng quy cách
    để gây nên những sự cố đáng tiếc….
    hi tìm hiểu được các nguyên nhân d n đến trẻ bị tai nạn thương tích như
    v y đ giúp tôi đưa ra các biện pháp ph hợp để làm giảm hoặc loại trừ các
    nguyên nhân đ được xác định.
    2.2. Xây dựng kế hoạch hoạt động phòng, chống tai nạn thƣơng tích
    cho trẻ.
    ế hoạch là toàn bộ nội dung, những điều vạch ra có hệ thống về
    những công việc dự định làm trong một thời gian nhất định, với mục tiêu, cách
    thức, trình tự, thời gian tiến hành.
    L p kế hoạch hay xây dựng kế hoạch là việc lựa chọn một trong những
    phương án hành động cho toàn bộ và từng bộ ph n của một t chức. Nó bao
    gồm sự lựa chọn các mục tiêu của t chức, của từng bộ ph n và xác định các
    phương thức để đạt mục tiêu.
    Hay cụ thể hơn, xây dựng kế hoạch chính là việc quyết định trước bằng
    việc trả lời các câu hỏi: 1) Làm cái gì ; 2) Làm như thế nào ; 3) Ai s làm?; và
    4) hi nào bắt đầu và khi nào kết thúc
    Việc xây dựng kế hoạch có bốn mục đích quan trọng: 1) ứng phó với sự
    bất định và sự thay đ i; 2) T p trung sự chú ý vào các mục tiêu; 3)Tạo khả năng
    đạt các mục tiêu một cách kinh tế, và 4) Giúp cho các nhà quản lý có khả năng
    kiểm soát quá trình tiến hành nhiệm vụ.
    Vì v y, l p kế hoạch (xây dựng kế hoạch) có ý ngh a đặc biệt quan trọng,,
    là một trong những nhiệm vụ cơ bản của công tác quản lý nói chung và quản lý
    bảo vệ an toàn, ph ng, chống tai nạn thương tích cho trẻ nói riêng. V.I.Lê nin đ
    từng ví: “Mọi kế hoạch đều là thước đo, tiêu chuẩn, đèn pha và là cái mốc”.
    Trước đây, các bản kế hoạch ph ng, chống tai nạn thương tích cho trẻ chỉ
    là mang tính hình thức đối phó, xây dựng ra cho đủ văn bản giấy tờ. Các bản kế
    hoạch thường chưa xác định rõ nội dung của công tác bảo đảm an toàn, ph ng
    chống tai nạn thương tích gồm các hoạt động gì, thông tin thường thiếu cụ thể,
    10
    chưa xác định rõ được nhiệm vụ trọng tâm . Chưa biết cách xây dựng (l p kế
    hoạch) công tác bảo đảm an toàn, ph ng, chống tai nạn thương tích cho trẻ,…,
    nhiều bản kế hoạch được xây dựng nội dung chỉ là thống kê các công việc của
    nhân viên y tế,… Do v y, khi bản kế hoạch được t chức thực hiện , không có
    người thực hiện, không có người giám sát,…d n đến hiệu quả của bản kế hoạch
    chưa cao.
    Chính vì v y, khi thực hiện đề tài, tôi đ nghiên cứu cách thức l p kế
    hoạch sao cho hiệu quả dựa vào các tài liệu hướng d n và qua thực tế đúc rút
    kinh nghiệm. Căn cứ vào kế hoạch xây dựng trường học an toàn, ph ng, chống
    tai nạn thương tích của Ph ng GD&ĐT hướng d n, căn cứ vào tình hình thực tế
    của trường, tôi đ xây dựng kế hoạch ph ng, chống tai nạn thương tích t ng thể
    của trường bám sát mục tiêu, nhiệm vụ năm học của trường đề ra, kiện toàn ban
    chỉ đạo ph ng chống tai nạn thương tích bao gồm an giám hiệu, Y tế, T
    trưởng, trưởng khu, phân công rõ trách nhiệm cho từng thành viên. Sau đó, từ
    kế hoạch t ng thể, tôi đi sâu xây dựng kế hoạch hành động cụ thể. Trong bản kế
    hoạch s có nội dung công việc hay tên hành động, có thời gian bắt đầu và kết
    thúc, địa điểm, có người thực hiện, người phối hợp, người giám sát, dự kiến kết
    quả.
    M u của bản kế hoạch như sau:

    STTTên hoạt độngThời gianNgười
    thực
    hiện/phối
    hợp
    Người
    giám
    sát
    Kết
    quả
    Hướng
    khắc
    phục

    Với bản kế hoạch chi tiết, cụ thể như v y, giúp tôi luôn hình dung rõ mọi
    công việc và chủ động khi điều hành công việc, đưa các hoạt động vào nề nếp.
    ản kế hoạch thể hiện rõ trách nhiệm của từng thành viên phải thực hiện.
    hông những v y, dựa vào bản kế hoạch tôi có thể kiểm tra, đánh giá các hoạt
    động và kết quả đạt được, giúp tôi quản lý công tác bảo đảm an toàn, ph ng
    chống tai nạn thương tích cho trẻ d dàng và hiệu quả hơn.
    2.3. Bôì dƣỡng nâng cao kiến thức, kỹ n ng cho giáo viên, nhân viên
    về công tác đảm bảo an toàn, phòng, chống tai nạn thƣơng tích cho trẻ
    ác Hồ đ từng nói:
    “H n to, n nặng
    t ngườ n ấ , n ấ k ng ặng
    11
    H n to, n nặng
    N ều ngườ n ấ , n ấ lên ặng”
    Câu nói đó đ thể hiện rất rõ, muốn thực hiện thành công một nhiệm vụ,
    một mục tiêu nào đó thì phải bắt nguồn từ sức mạnh đoàn kết đó là t p thể cán
    bộ, giáo viên, nhân viên và mục tiêu đảm bảo an toàn, ph ng, chống tai nạn
    thương tích không nằm ngoài sức mạnh đoàn kết đó.
    ắt nguồn từ nguyên nhân giáo viên, nhân viên thiếu kiến thức, kỹ năng,
    tôi đ lựa chọn biện pháp bồi dưỡng nh n thức cho giáo viên, nhân viên. Để trẻ
    luôn được đảm bảo an toàn tuyệt đối trong trường thì những người quản lý nói
    chung và t p thể giáo viên, nhân viên nói riêng phải có những hiểu biết nhất định
    về công tác ph ng, chống tai nạn thương tích cho trẻ, về nội dung, về các biện
    pháp đảm bảo an toàn cho trẻ. Chính vì v y, tôi đ phối kết hợp với các đồng chí
    trong an giám hiệu nhà trường t chức các hình thức tuyên truyền giáo dục bằng
    nhiều hình thức như phát tờ rơi, trang bị tài liệu sách vở có liên quan đến việc
    đảm bảo an toàn cho trẻ cho các lớp. ên cạnh đó, trong các bu i họp hội đồng
    nhà trường, các bu i dự sinh hoạt chuyên môn, tôi thường triển khai các văn bản
    theo quy định có nội dung liên quan tới công tác ph ng, chống tai nạn thương
    tích, xây dựng trường học an toàn, chú trọng và đi sâu quán triệt các nội dung
    trong Thông tư của ộ trưởng ộ Giáo dục và Đào tạo quy định xây dựng trường
    học an toàn, ph ng, chống tai nạn thương tích cơ sở giáo dục mầm non.
    hông những v y, tôi đ trao đ i với giáo viên, nhân viên về các nội
    dung như sau:
    Cách tiếp c n và ph ng ngừa tai nạn thương tích;
    Các nguyên nhân do tai nạn thương tích và các biện pháp ph ng tránh
    đối với trẻ: Tai nạn giao thông, đuối nước, ng , bỏng, ngộ độc, động v t cắn,
    ngạt thở; tai nạn do v t sắc nhọn, do chơi các tr chơi nguy hiểm;…
    Cách ph ng tránh các tai nạn thương tích thường gặp;
    Hướng d n một số kỹ thu t sơ cấp cứu thông thường;
    Xây dựng trường học an toàn, ph ng, chống tai nạn thương tích cho trẻ.
    Đồng thời tôi c ng yêu cầu đồng chí nhân viên y tế đi c ng cán bộ quản
    lý và một số đồng chí giáo viên tham gia các bu i t p huấn về t p huấn sơ cấp
    cứu ban đầu cho trẻ do cấp trên t chức s về t p huấn lại cho giáo viên, nhân
    viên tại trường. Mặt khác, tôi c ng mua các đ a, sách hướng d n sơ cấp cứu tai
    nạn thương tích thường gặp ở trẻ em phát cho các lớp để giáo viên tự học được
    ở mọi lúc mọi nơi.
    12
    Để những kiến thức và kỹ năng về công tác đảm bảo an toàn, phòng
    chống, tai nạn thương tích cho trẻ đi sâu hơn vào với giáo viên, nhân viên tôi đ
    đưa các câu hỏi có nội dung liên quan tới nội dung, các biện pháp đảm bảo an
    toàn cho trẻ, các kỹ năng chăm sóc, xử trí các tai nạn thường gặp vào các đề thi
    lý thuyết các hội thi: Hội thi “Quy chế chăm sóc nuôi dưỡng trẻ”, Hội thi
    “Giáo viên dạy giỏi, nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp trường”,…
    ằng việc bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về công tác bảo đảm an toàn,
    ph ng, chống tai nạn thương tích cho giáo viên, nhân viên như v y, đ góp phần
    nâng cao nh n thức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên trường tôi về tầm quan
    trọng của việc đảm bảo an toàn cho trẻ. Cán bộ, giáo viên, nhân viên đ có
    những hiểu biết về nội dung, các biện pháp và sự cần thiết của việc đảm bảo an
    toàn, ph ng, chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non. hông
    những v y, qua các bu i t p huấn, cán bộ, giáo viên, nhân viên trường tôi đ
    nắm được các kỹ năng xử trí các tai nạn thường gặp, không chỉ để chăm sóc trẻ
    ở trường, mà c n chăm sóc được con em mình tại gia đình.
    2.4. Chỉ đạo giáo viên lồng ghép các nội dung giáo dục phòng, chống
    tai nạn thƣơng tích cho trẻ vào chƣơng trình ch m s c giáo dục trẻ.
    Tôi hiểu rằng, các cô có cẩn th n bảo vệ trẻ đến đâu c ng không thể tránh
    được những thiếu sót d n đến trẻ bị tai nạn thương tích vì đặc điểm tâm sinh lý
    của trẻ rất hiếu động, hay nghịch ngợm, thích tìm t i, khám phá mọi v t xung
    quanh. Vì v y, bên cạnh việc bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho giáo viên, tôi đ
    13
    chỉ đạo triển khai, lồng ghép các nội dung ph ng, chống tai nạn thương tích cho
    trẻ vào chương trình giáo dục theo chủ đề để trẻ có thể tự bảo vệ, ph ng tránh
    được các tai nạn thương tích có thể xảy ra với mình .
    T y theo độ tu i, khả năng của trẻ, t y theo từng chủ đề và căn cứ vào kết
    quả mong đợi của trẻ theo l nh vực phát triển, để giúp trẻ nh n biết và tránh một
    số nguy cơ không an toàn, tôi đ c ng giáo viên lựa chọn và đưa các nội dung
    giáo dục ph ng, chống tai nạn thương tích theo từng chủ đề vào hoạt động học
    hoặc hoạt động khác sao cho tự nhiên, khéo léo, lồng ghép một cách nhẹ nhàng,
    không g ép nhiều nội dung vào c ng một hoạt động, đồng thời phải lựa chọn
    các hình thức t chức các hoạt động giáo dục ph hợp để trẻ tiếp nh n các thông
    tin một cách hào hứng, không bị g bó và gượng ép.
    Các nội dung giáo dục ph ng, chống tai nạn thương tích cho trẻ được
    lồng ghép vào các chủ đề, theo từng lứa tu i như sau:
    * Lứa tuổ n tr

    STTChủ đề sự kiệnNội dung giáo dục phòng , chống tai nạn
    thƣơng tích
    1é đến trường mầm
    non
    – Nh n biết một số v t dụng nguy hiểm ( dao,
    kéo, điện,…), nơi nguy hiểm tại trường (cầu
    thang, ao, nhà vệ sinh,…)
    2é và gia đình– Nh n biết một số v t dụng nguy hiểm ( dao,
    kéo, bếp ga, phích nước nóng,…), nơi nguy
    hiểm tại nhà ( nhà vệ sinh, cầu thang,…)
    – Nh n biết nguy cơ không an toàn và ph ng
    tránh khi sử dụng dao, kéo,…, ăn các quả có
    hạt, không vào buồng tắm, nơi chưa nước khi
    không có người lớn,….
    3Giao thông– Nh n biết nguy cơ không an toàn và ph ng
    tránh: Khi tham gia giao thông, không đi qua
    đường khi không có người lớn dắt, không th
    đầu th tay ra ngoài xe, không theo người lạ,…
    4Con v t đáng yêu– Nh n biết nguy cơ không an toàn khi tiếp xúc
    với các con thú dữ
    5Cây rau- Hoa quả– Nh n biết nguy cơ không an toàn khi sử dụng
    dao, kéo,… ăn các quả có hạt

    14
    * Lứa tuổ ẫu g o

    STTChủ đề sự kiệnNội dung giáo dục phòng , chống tai nạn
    thƣơng tích
    1Trường mầm non– Nh n biết những v t dụng, nơi an toàn và
    không an toàn tại trường.
    – Mối nguy hiểm khi theo người lạ, ra khỏi khu
    vực lớp, trường khi chưa được phép của cô
    giáo, giữ an toàn cho bản thân và cho bạn khi
    chơi.
    2ản thân– Ph ng tránh nguy hiểm: T p nói với người
    lớn khi bị lạc: địa chỉ, số nhà, tên bố mẹ hoặc
    anh chị
    3Gia đình– An toàn khi sử dụng đồ d ng trog gia đình,
    tránh những v t dụng, nơi nguy hiểm.
    4Nghề nghiệp– An toàn: tránh nơi nguy hiểm ở các khu vực
    sản xuất.
    – An toàn tránh một số dụng cụ của nghề: mối
    nguy hiểm khi nghịch và nhặt bơm kim tiêm (
    vì d bị lây nhi m bệnh),…..
    5Giao thông– An toàn khi tham gia giao thông
    6Nước và các hiện
    tượng thời tiết (MGL)
    Nước- Mùa hè – Bác
    Hồ
    ( MGB + MGN)
    – Nh n biết và tránh những nơ nguy hiểm: ao,
    hồ, bể chứa nước,…
    7Thế giới thực v t– Mối nguy hiểm khi trèo cây, trú mưa dưới gốc
    cây to
    8Thế giới động v t– Mối nguy hiểm khi đến gần chó, mèo lạ, cẩn
    th n khi tiếp xúc với một số con v t
    9Quê hương – đất nước– An toàn khi tham gia l hội tại quê hương
    10Trường tiểu học– An toàn: Mối nguy hiểm khi chọc bút, ném
    thước kẻ vào bạn,..

    Với các nội dung giáo dục như trên, tôi hướng d n giáo viên tích hợp một
    cách nhẹ nhàng vào các tiết học thông qua hình thức giáo dục trẻ hoặc t chức
    thành một tiết học hoặc thông qua các giờ hoạt động vui chơi, hoạt động
    15
    chiều,…giúp trẻ nh n ra các mối nguy hiểm đó và ảnh hưởng của nó tới bản thân
    mình.
    Ví dụ 1: Chủ đề “Bé và gia đình”
    + Nh n biết t p nói: Một số đồ v t nguy hiểm
    Qua hoạt động này, giúp trẻ nh n biết và tránh một số đồ v t nguy hiểm
    như: phích nước nóng, điện, dao, kéo, bếp gas đang b t,….
    Ví dụ 2: Khám phá xe máy
    Ở hoạt động này, giáo viên giúp trẻ hiểu bô xe máy thường rất nóng khi
    vừa đi về, trẻ có thể bị bỏng khi đ a nghịch, sờ, chạm vào bô xe máy. Ngoài ra
    giáo viên c n sử dụng hình ảnh làm tr chơi nhằm hình thành kỹ năng chấp
    hành lu t lệ an toàn giao thông khi ngồi trên xe máy để ph ng tránh tai nạn
    thương tích cho trẻ. Đó là tr chơi: Ai giỏi nhất.
    Giáo viên chuẩn bị hình ảnh: bé ngồi sau xe máy đội m bảo hiểm, bé
    ngồi sau xe máy không đội m bảo hiểm, bé ngồi sau xe v ng tay ôm người
    phía trước, bé ngồi sau xe hai tay giơ ra để đ a nghịch,… Giáo viên yêu cầu trẻ
    chọn hành động đúng mà trẻ nên làm và hỏi trẻ vì sao nên làm như v y Nếu trẻ
    không làm như v y chuyện gì s xảy ra
    Trên cơ sở đó giáo viên giáo dục trẻ: hi đi xe máy c ng bố mẹ, các con
    nên đội m bảo hiểm để bảo vệ phần đầu đỡ bị đau nếu chẳng may con bị ng
    xe. Các con c ng nên ngồi ngay ngắn trên xe, v ng tay ôm chặt người phía
    trước, có như v y các con mới giữ an toàn cho bản thân mình.
    Ví dụ 3: Ở hoạt động vui chơi
    Ở góc Gia đình: Giáo viên giúp trẻ hình thành thói quen pha sữa cho em
    bé xong phải cất gọn phích nước để tránh bị bỏng, phải trẻ phải d ng lót tay khi
    bắc nồi từ trên bếp xuống
    Ở hoạt động ngoài trời, qua việc quan sát, tr chuyện về cái đu quay, giáo
    viên giúp trẻ nh n biết một số nguyên nhân gây ng và biết cách ph ng, tránh
    nguy cơ gây ng :
    Vì sao mà bé ng khi ngồi trên đu quay ( hông bám chắc, đ a nghịch,
    xô đẩy bạn,..)
    hi ngồi trên đu quay chẳng may bị ng bé cần làm gì ( nằm yên, chờ đu
    quay dừng hẳn mới ngồi d y để tránh đu quay đ p vào đầu,…)
    é làm gì để ph ng tránh ng ( hi xô đẩy bạn, nắm chắc tay cầm,..)
    Thông qua việc lồng ghép các nội dung giáo dục ph ng, chống tai nạn
    thương tích cho trẻ như v y, giúp trẻ có những hiểu biết về cách nh n biết và kỹ
    16
    năng ph ng, chống một số tai nạn thương tích xung quanh cuộc sống của trẻ.
    Nhờ v y, trẻ s tự tin, mạnh dạn hơn khi tham gia các hoạt động.
    2.5. Xây dựng cơ sở vật chất đảm bảo môi trƣờng an toàn cho trẻ
    trong hoạt động ở trƣờng mầm non
    Cơ sở v t chất của trường mầm non là yếu tố tác động trực tiếp đến quá
    trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. hông thể chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
    dục trẻ theo mục tiêu của ngành học nếu không có những cơ sở v t chất tương
    ứng. Trong Điều lệ trường mầm non, điều 40,41 đ quy định yêu cầu về cơ sở
    v t chất của trường mầm non, phải đảm yêu cầu của việc chăm sóc, nuôi dưỡng,
    giáo dục trẻ. Cơ sở v t chất, trang thiết bị, đồ d ng đồ chơi có đảm yêu cầu thì
    mới tạo được môi trường an toàn cho trẻ hoạt động. Chính vì v y an giám hiệu
    nhà trường trong nhiều năm qua đ luôn chú trọng đến việc xây dựng cơ sở v t
    chất đầy đủ, ph hợp để tạo điều kiện an toàn

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số biện pháp xây dựng môi trường hoạt động trong lớp học nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của trẻ  5-6 tuổi

    SKKN Một số biện pháp xây dựng môi trường hoạt động trong lớp học nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của trẻ  5-6 tuổi

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Lúc sinh thời Bác Hồ đã nói
    “ Trẻ em như búp trên cành
    Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan…”
    ( Hồ Chí Minh )
    Trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của mỗi dân tộc, là
    những người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Chính vì vậy công tác
    chăm sóc giáo dục trẻ đang ngày càng được quan tâm và tầm quan trọng của bậc học
    mầm non đã được Đảng và nhà nước đưa lên hàng đầu của nền giáo dục Quốc dân.
    Nếu nói bậc học tiểu học là nền tảng của quá trình học tập, nhận thức thì bậc học
    mầm non được coi là tiền đề cho quá trình đó. Như chúng ta đã biết, mục tiêu của
    giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm
    mỹ. Giúp trẻ mạnh dạn , tự tin, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, khơi dậy và
    phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn của trẻ. Việc học ấy, quá trình tích lũy kiến
    thức ấy không phải bằng con đường nào đó cao siêu mà chính là từ quá trình trẻ chơi.
    Vậy làm thế nào để trẻ khám phá và tích lũy được nhiều kiến thức mà không cảm
    thấy mệt mỏi từ quá trình học tập đó đã trở thành một câu hỏi lớn, nung nấu trong
    đầu một giáo viên mầm non như tôi. Bản thân tôi nhận thấy điều làm trẻ cảm thấy
    hứng thú và mang lại hiệu quả cao trong buổi chơi cho trẻ đầu tiên chính là ở môi
    trường lớp học mà trẻ được trải nghiệm cùng các bạn chơi. Một con người trưởng
    thành người tốt hay không tốt điều đó phụ thuộc nhiều vào yếu tố môi trường sống.
    Cũng như một đứa trẻ, môi trường lớp học ảnh hưởng rất nhiều do phần lớn thời gian
    trong ngày đứa trẻ được sống, học tập và tiếp xúc với cô giáo bạn bè….. Tuy nhiên
    quá trình trưởng thành ấy không phải giới hạn trong một giờ học, một môn học, một
    buổi hay một ngày mà là cả một quá trình tích lũy lâu dài.
    Trước đây việc thiết kế môi trường lớp học chủ yếu dựa trên những ý tưởng
    mang tính áp đặt của giáo viên, đôi khi mang nặng tính trang trí chứ chưa thực sự là
    môi trường để trẻ hoạt động và trải nghiệm. Năm học 2020 – 2021 là năm học tiếp tục
    4
    thực hiện nâng cao chuyên đề: “ Xây dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm” nên
    việc xây dựng môi trường giáo dục phù hợp giúp trẻ tích lũy kiến thức từng ngày,
    từng ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đó là môi trường mà trẻ được tham
    gia xây dựng cùng giáo viên và là môi trường giáo dục dựa vào nhu cầu hứng thú và
    khả năng của trẻ thông qua việc sắp xếp thuận lợi khi chơi, sự phong phú của các
    góc, học liệu đa dạng hấp dẫn trẻ khi hoạt động, khả năng tận dụng các nguyên vật
    liệu tái chế….và đặc biệt đó phải là môi trường mở, phong phú về đồ dùng đồ chơi,
    giáo viên phải biết cách trang trí các góc mở cho mọi hoạt động một cách tích cực và
    chủ động. Vậy làm thế nào để có một môi trường lớp học thực sự là nơi để bé thỏa
    sức trải nghiệm và tích lũy kiến thức một cách tự nhiên nhất đã trở thành một câu hỏi
    lớn, luôn nung nấu trong đầu một giáo viên mầm non như tôi. Vì vậy trong suốt một
    năm học vừa qua tôi đã không ngừng tìm tòi, học hỏi và thiết kế môi trường học tập
    và vui chơi của lớp mình sao cho phát huy khả năng hứng thú của trẻ ở mức cao nhất.
    Từ đó tôi xin mạnh dạn đề xuất: “Một số giải pháp xây dựng môi trường hoạt
    động trong lớp học nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp kỹ thuật trƣớc khi tạo ra sáng kiến
    Qua nhiều năm được phân công dạy lớp mẫu giáo lớn, tôi đã đúc rút được một
    số kinh nghiệm từ việc thiết kế môi trường lớp học sao cho vừa phát huy khả năng tư
    duy sáng tạo của trẻ, đảm bảo an toàn và phù hợp với tình hình thực tế của nhà
    trường cũng như của lớp nhằm phát huy tối đa những lợi thế mà nhà trường cũng như
    bản thân tôi có được:
    – Trường nằm ở trung tâm thành phố, khu vực dân cư có điều kiện sống khá
    tốt, thuận lợi cho việc kết hợp cùng giáo viên nâng cao kiến thức chăm sóc giáo dục
    trẻ
    – Lớp được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường trong việc đầu tư trang
    thiết bị, đồ dùng đồ chơi…cũng như sự quan tâm của phòng giáo dục đào tạo thành
    phố nên có cơ sở vật chất tương đối đầy đủ để phục vụ cho việc dạy và học. Cảnh
    quan nhà trường thoáng mát, có cây che bóng mát, cây cảnh góp phần rất lớn cho trẻ
    5
    quan sát, từ đó cung cấp cho trẻ những biểu tượng thể hiện sự hiểu biết của mình về
    thế giới xung quanh.
    – 100% giáo viên trong lớp có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn và là giáo viên
    giỏi thành phố, luôn giúp đỡ lẫn nhau tạo điều kiện cho việc học hỏi kinh nghiệm.
    Bên cạnh những mặt thuận lợi, bản thân tôi cũng gặp phải những khó khăn
    nhất định trong quá trình thực hiện:
    – Đội ngũ giáo viên trong nhà trường phần lớn là giáo viên trẻ, chưa có nhiều
    kinh nghiệm trong việc xây dựng môi trường mở. Đồng thời với việc phát triển công
    nghệ sản xuất đồ chơi công nghiệp cũng làm ít nhiều ảnh hưởng đến tư duy mua đồ
    chơi bán trên thị trường cho nhanh mà chưa đặt câu hỏi: “ Trang trí như vậy để làm
    gì? Đồ chơi này hướng đến ai? Trẻ sẽ hoạt động với đồ chơi đó như thế nào? Khi
    chơi đồ chơi này trẻ học được gì?… ”. Từ thực tế trên tôi đã tiến hành khảo sát trẻ tại
    lớp và các đồng nghiệp trong nhà trường để nắm bắt được quan điểm của đội ngũ
    giáo viên và của trẻ trong việc xây dựng môi trường lớp học:
    * Bảng 1: Khảo sát giáo viên

    Số
    giáo
    viên
    khảo
    sát
    Nội dungMức độ
    Rất cần
    thiết
    Tỉ
    lệ
    %
    Cần
    thiết
    Tỉ
    lệ
    %
    Không
    cần
    thiết
    Tỉ
    lệ
    %
    40Xây dựng môi trường hoạt
    động mở tại nhóm lớp để
    phát huy tính tích cực chủ
    động của trẻ
    22551127,5717,5
    40Sự cần thiết phải xây dựng
    môi trường hoạt động mở
    2152,51127,5820
    40Công tác chuẩn bị nguyên
    liệu để tạo môi trường hoạt
    2947,51332,5820

    6

    động mở

    Qua khảo sát ban đầu như trên, tôi thấy quan điểm của giáo viên trong việc xây
    dựng môi trường lớp học còn nhiều hạn chế, việc còn nhiều giáo viên chưa thực sự
    hiểu hết được tầm quan trọng của môi trường lớp học với sự phát triển của trẻ là điều
    tôi cần phải suy nghĩ làm thế nào để thay đổi quan điểm của mọi người.
    – Bên cạnh đó việc số lượng trẻ ra lớp ngày một đông nên đòi hỏi một số lượng
    đồ dùng đồ chơi ngày càng nhiều. Do đó giáo viên phải dành nhiều thời gian cho việc
    trang trí nhóm lớp cũng như làm đồ dùng phục vụ cho hoạt động học tập, vui chơi
    của trẻ
    – Việc bùng nổ của công nghệ thông tin và những trò chơi mới lạ dễ làm cho
    trẻ cảm thấy bị cuốn hút và ngày càng thụ động
    – Môi trường ngoài lớp thường chủ yếu thường chỉ là các loại cây xanh, cây
    cảnh được trồng sẵn trong chậu cảnh mà trẻ không có nhiều cơ hội để khám phá sự
    phát triển hằng ngày của chúng.
    – Với môi trường trong lớp giáo viên hay thiên về sự đa dạng màu sắc, cách bố
    trí, sắp xếp dựa trên ý tưởng của cô chứ chưa đề cao ý tưởng của trẻ.
    * Bảng 2: Khảo sát trẻ tại lớp

    Số trẻ
    khảo
    sát
    Nội dungMức độ
    Trẻ
    rất
    thích
    Tỉ
    lệ
    %
    Trẻ
    thích
    Tỉ
    lệ
    %
    Trẻ
    không
    thích
    Tỉ
    lệ
    %
    42Trẻ quan tâm môi trường lớp học2866,61023,849,6
    42Trẻ khám phá cái mới2559,51228,5512

    – Đồ chơi của trẻ trong các hoạt động thường được làm bằng nhựa, tính mở
    chưa cao nên không tạo nhiều cơ hội cho trẻ được khám phá. Trẻ chỉ chơi với đồ chơi
    7
    một cách thụ động mà không có cơ hội nhiều để trải nghiệm về món đồ chơi mà mình
    đang có (về chất liệu, công dụng, cách làm để tạo ra nó…)
    – Trẻ thường nhút nhát và chưa hứng thú tham gia hoạt động. Tôi đã tiến hành
    khảo sát thực trạng của trẻ đối với môi trường lớp học ngay từ đầu năm học để từ đó
    có biện pháp phù hợp:
    Cùng với sự đầu tư mạnh mẽ về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi
    của cấp trên cho việc trang trí nhóm lớp và học tập của trẻ tuy nhiên vẫn cần khẳng
    định tầm quan trọng của đồ chơi tự tạo nhằm phát huy được tối đa trí tưởng tượng
    phong phú của trẻ.
    Trên thực tế cho thấy: “Việc phát huy tính chủ động sáng tạo của trẻ trong
    việc xây dựng môi trường lớp học ” không còn là điều quá mới. Sở dĩ có điều đó là
    do mấy năm gần đây với sự chỉ đạo không ngừng của Bộ Giáo dục – Đào tạo về việc
    đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức trong việc dạy học cho trẻ mầm non,việc
    lấy trẻ làm trung tâm, phát huy tính chủ động, sáng tạo của trẻ nhằm hướng trẻ đến
    Chân – thiện – mĩ. Vì thế, “việc phát huy tính sáng tạo của trẻ trong việc xây dựng
    môi trường lớp học mang tính mở” sẽ giúp trẻ lĩnh hội kiến thức một cách chủ động,
    tự nhiên và sâu sắc hơn.
    Tuy nhiên, việc phát huy tính chủ động ,sáng tạo của trẻ qua hoạt động học tập
    vui chơi không chỉ giới hạn trong phạm vi lớp học mà bản thân tôi còn mong muốn
    hướng trẻ đến một tư duy mang tính mở về thế giới xung quanh, tôi xin mạnh dạn đề
    xuất một số giải pháp tiến hành sau đây:
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1. Giải pháp1: Xây dựng kế hoạch cho việc tạo môi trường tại nhóm lớp
    Để xây dựng môi trường lớp học của lớp mình theo hướng mở, ngay từ đầu năm
    học tôi đã bắt tay vào việc lên kế hoạch cụ thể. Việc lập kế hoạch nhằm xây dựng môi
    trường giáo dục phù hợp của lớp cần xuất phát từ nhu cầu thực tế của trẻ lớp mình,
    khả năng nhận thức cũng như sự hứng thú của trẻ. Bên cạnh đó cần bám sát nội dung
    hướng dẫn về việc xây dựng môi trường giáo dục qua các buổi tập huấn, bồi dưỡng
    chuyên môn của ban giám hiệu.
    8
    Với nhiệm vụ trọng tâm của năm học là “ Xây dựng môi trường lấy trẻ làm
    trung tâm” nên ngay từ đầu năm học tôi đã được ban giám hiệu triển khai các nội
    dung về việc hướng dẫn xây dựng môi trường giáo dục tại lớp cho trẻ 5 tuổi. Điều đó
    không chỉ giúp tôi có định hướng rõ nhiệm vụ trọng tâm năm học đồng thời bám sát
    chỉ đạo của cấp trên. Song song với việc bám sát việc dạy và học theo đúng chương
    trình do Bộ GD&ĐT quy định, nhà trường đi đầu trong việc triển khai áp dụng những
    phương pháp mới trong giảng dạy như Stem, Montessori…nên sự cần thiết phải xây
    dựng một môi trường giáo dục phát huy tính chủ động, sáng tạo của trẻ là rất cần
    thiết. Do đó đội ngũ giáo viên trong nhà trường đã được tạo điều kiện đi thăm quan
    học hỏi công tác xây dựng môi trường giáo dục từ các trường bạn trên địa bàn tỉnh
    nhà và các trường mầm non lớn tại các tỉnh lân cận. Những kiến thức đó đã giúp tôi
    chắt lọc được những điều mới lạ, bổ ích để áp dụng vào việc xây dựng môi trường
    giáo dục lớp mình.
    Đồng chí phó hiệu trưởng triển khai chuyên môn cho khối 5 tuổi
    9
    Tập huấn chuyên môn toàn trường
    Việc lên kế hoạch cụ thể sẽ không chỉ giúp tôi chủ động trong việc xây dựng
    môi trường lớp học phù hợp với từng chủ đề mà còn giúp cho việc tiết kiệm tối đa
    kinh phí và thời gian để sưu tầm và tạo ra nguồn nguyên vật liệu phù hợp để trẻ hoạt
    động.
    Để cho việc xây dựng kế hoạch được đảm bảo tính chính xác và hài hòa tôi đã
    căn cứ vào tình hình đặc điểm của trẻ lớp mình đó là: Trẻ 5 tuổi, khá hiếu động, trẻ
    sống ở thành phố, bố mẹ thường có tâm lý bao bọc nên có hạn chế về kiến thức thực
    tế….Từ đó tôi xác định việc xây dựng môi trường lớp học phù hợp cho kế hoạch
    năm, kế hoạch tháng, kế hoạch tuần và kế hoạch ngày.
    Ví dụ: Trong kế hoạch xây dựng môi trường lớp học năm nay, tôi xác định các
    mốc thời gian đánh dấu các sự kiện nổi bật như: Ngày tết trung thu, ngày Quốc
    khánh, ngày hội đến trường của bé….từ đó định hướng cho trẻ trong các hoạt động
    của lớp sao cho phù hợp với đặc điểm của trẻ cũng như điều kiện của lớp.
    Trong kế hoạch tháng tôi chủ yếu đi vào tìm hiểu xem nhu cầu hứng thú của trẻ
    trong thời điểm đó cái gì là nổi bật để ưu tiên giúp trẻ thể hiện. Như chủ đề “ Trường
    mầm non” thì ngày Tết trung thu và Ngày hội đến trường của bé là những mốc thời
    10
    điểm trẻ thường hào hứng hơn cả nên tôi sẽ cùng trẻ đi sâu thể hiện hai nội dung
    trọng tâm này trong môi trường lớp học của mình.
    Trong kế hoạch tuần tôi cụ thể hóa các kế hoạch trong tháng bằng việc lên thời
    gian biểu cho những hoạt động học tập, trải nghiệm, vui chơi sao cho phù hợp với
    nhu cầu và sức khỏe của trẻ, đồng thời lên kế hoạch rõ ràng cho việc chuẩn bị các
    nguyên vật liệu trẻ cần có để trải nghiệm.
    Ví dụ: Kế hoạch tạo môi trƣờng hoạt động mở tại lớp Hƣơu Sao 3

    Thời
    gian
    Môi trƣờng
    dự kiến
    Thời gian
    dự kiến
    Đối tƣợng
    tham gia
    Dự kiến nội dung hoạt
    động
    Tháng
    9/2020
    Ngày hội đến
    trường của bé
    Tết trung thu
    Chủ điểm
    trường
    mầm non
    Cô và trẻCô cùng trẻ làm cờ,
    hoa, bóng chào mừng
    ngày hội đến trường,
    làm cầu trượt, bập bênh,
    xích đu bổ sung đồ chơi
    cho góc xây dựng, làm
    sách về trường mầm
    non, sưu tầm tranh ảnh
    về trường mầm non, về
    các bạn, cô giáo, các
    hoạt động của bé ở
    trường…
    Làm đầu sư tử, đèn ông
    sao, gấp đèn lồng, sưu
    tầm tranh ảnh, cắt, xé
    dán , sưu tầm các loại
    hoa quả trong tết trung
    thu, các hoạt động trong
    tết trung thu, làm bánh

    11

    Thời
    gian
    Môi trƣờng
    dự kiến
    Thời gian
    dự kiến
    Đối tƣợng
    tham gia
    Dự kiến nội dung hoạt
    động
    trung thu…trang trí lớp
    học ngày Tết trung thu
    Tháng
    10/2020
    Ngày phụ nữ
    Việt Nam 20-
    10
    Chủ điểm
    gia đình
    Cô và trẻLàm các món ăn gia
    đình, đồ dùng của gia
    đình, làm thiệp, hoa
    tặng bà tặng mẹ, vẽ
    tranh, làm sách… về các
    thành viên trong gia
    đình,, làm búp bê từ các
    nguyên liệu phế thải,
    sưu tầm tranh ảnh về gia
    đình…
    Tháng
    11/2020
    Một số ngành
    nghề quen
    thuộc
    Chủ điểm
    ngành nghề
    Cô và trẻLàm công cụ lao động
    của các ngành nghề
    trong xã hội, vẽ tranh,
    làm sách về ngành
    nghề, trang phục, sản
    phẩm của các nghề…
    làm thiệp, hoa…tặng cô
    nhân ngày Nhà giáo
    Việt Nam
    Tháng
    12/2020
    Thế giới động
    vật xung quanh
    Chủ điểm
    Thế giới
    động vật
    Cô và trẻSưu tầm mô hình,
    tranh ảnh, sách báo…về
    thế giới động vật, thức
    ăn, môi trường sống

    12

    Thời
    gian
    Môi trƣờng
    dự kiến
    Thời gian
    dự kiến
    Đối tƣợng
    tham gia
    Dự kiến nội dung hoạt
    động
    làm sách, truyện về các
    loài động vật, làm mô
    hình các con vật từ
    nguyên liệu đơn giản
    Tháng
    01/2021
    Tết và mùa
    xuân
    Chủ điểm
    Thế giới
    thực vật
    Cô và trẻLàm mô hình cây
    xanh, các loại hoa, làm
    sách về quá trình sinh
    trưởng của cây. Sưu tầm
    tranh ảnh, sách báo về
    thế giới thực vật…
    Tháng
    02/2021
    Một số phương
    tiện và luật
    giao thông gần
    gũi với bé
    Chủ điểm
    giao thông
    Cô và trẻSưu tầm mô hình các
    loại phương tiện giao
    thông, làm các phương
    tiện giao thông từ các
    nguyên vật liệu đơn
    giản, dễ kiếm, vẽ tranh
    tuyên truyền các biển
    báo giao thông và hành
    vi tham gia giao thông
    an toàn, văn minh…làm
    sách về các phương tiện
    giao thông
    Tháng
    03/2021
    Một số hiện
    tượng thời tiết
    và mùa
    Chủ điểm
    Một số
    hiện tượng
    thời tiết và
    Cô và trẻLàm sách về các hiện
    tượng tự nhiên, ảnh
    hưởng của các hiện
    tượng tự nhiên đến đời

    13

    Thời
    gian
    Môi trƣờng
    dự kiến
    Thời gian
    dự kiến
    Đối tƣợng
    tham gia
    Dự kiến nội dung hoạt
    động
    mùasống con người, giáo
    dục tầm quan trọng của
    việc giữ gìn và bảo vệ
    môi trường sống. Sưu
    tầm tranh ảnh, sách báo,
    tạp chí về môi trường,
    về việc cần thiết của
    nước…
    Tháng
    04/2021
    Vẻ đẹp quê
    hương, Đất
    nước và Bác
    Hồ kính yêu
    Chủ điểm
    Quê hương,
    Đất nước,
    Bác Hồ
    Cô và trẻVẽ tranh, sưu tầm
    tranh ảnh, sách báo về
    Bác Hồ kính yêu, hình
    ảnh bác với các cháu
    thiếu nhi, cuộc đời hoạt
    động của Bác… về vẻ
    đẹp quê hương quê
    hương, Đất nước, các
    ngày lễ lớn của dân tộc.
    Làm các sản phẩm đặc
    sản của quê hương từ
    nguyên liệu đơn giản,
    làm cờ Tổ quốc…trang
    trí ảnh Bác, vẽ tranh về
    Bác…
    Tháng
    05/2021
    Bé sắp và lớp 1
    rồi
    Chủ điểm
    Trường tiểu
    học
    Cô và trẻSưu tầm tranh ảnh, vẽ
    tranh về trường tiểu
    học, làm các đồ dùng

    14

    Thời
    gian
    Môi trƣờng
    dự kiến
    Thời gian
    dự kiến
    Đối tƣợng
    tham gia
    Dự kiến nội dung hoạt
    động
    học tập của học sinh lớp
    1..

    Nhờ có định hướng về việc tạo môi trường hoạt động mở tại nhóm lớp mình nên
    tôi luôn chủ động xây dựng được từng kế hoạch cho từng hoạt động cụ thể, dự kiến
    được những khó khăn và chuẩn bị tốt mọi điều kiện về công tác tổ chức và thực hiện.
    Sau khi xây dựng kế hoạch về việc tạo môi trường hoạt động mở tại nhóm lớp
    tôi đã bắt tay cùng giáo viên trong lớp chuẩn bị các điều kiện, huy động các nguồn
    lực để thực hiện. Cụ thể trước tiên tôi căn cứ vào nội dung các hoạt động dự kiến
    trong năm học để đưa ra các nguyên vật liệu cần thiết và kiểm tra xem nguyên liệu
    nào có thể tận dụng từ đồ phế thải, nguyên liệu nào phải mua và cần huy động đến sự
    ủng hộ của cha mẹ học sinh. Với tiêu chí tận dụng tối đa các nguyên vật liệu phế thải
    để sử dụng phù hợp tôi chuẩn bị sẵn cho trẻ tại lớp mình một chỗ để hợp lý các đồ
    phế thải có thể tận dụng như: Vỏ sữa, chai nhựa, lon nước ngọt, bìa cứng, que kem,
    ống hút…điều đó không chỉ giáo dục trẻ ý thức tiết kiệm trong sinh hoạt, bảo vệ môi
    trường còn tạo hứng thú cho trẻ rất nhiều khi được làm các đồ chơi từ nguyên liệu
    của chính mình, điều đó sẽ làm tăng hiệu quả trong quá trình trẻ hoạt động. Với
    những nguyên liệu khác tôi lên kế hoạch để huy động sự ủng hộ từ cha mẹ học sinh
    sao cho phù hợp với công việc và điều kiện hoàn cảnh của từng gia đình. Việc có kế
    hoạch và mục tiêu rõ ràng trong tìm kiếm nguồn nguyên liệu như trên đã giúp đỡ cho
    giáo viên trong lớp không gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu thực
    hiện, chủ động sáng tạo hơn khi thực hiện nhiệm vụ.
    Kế hoạch ngày là công cụ giúp tôi nắm rõ nhất nhu cầu và khả năng của trẻ do
    đó tôi thường có sự linh hoạt khi đưa vào áp dụng để đảm bảo hài hòa giữa các yếu
    tố như: Kiến thức, khả năng, sức khỏe, độ hào hứng của trẻ.
    15
    Việc lên kế hoạch cụ thể như trên đã giúp tôi rất nhiều trong việc cùng trẻ tạo dựng
    một môi trường lớp học phù hợp. Trẻ luôn hào hứng và tự tin khi cùng cô trải nghiệm
    các hoạt động của trường, của lớp, bên cạnh đó giáo viên luôn chủ động và đáp ứng
    mọi nhu cầu khám phá hợp lý của trẻ.
    Mỗi đứa trẻ là một cá thể riêng biệt, chúng khác nhau về thể chất, tình cảm, xã
    hội, trí tuệ, hoàn cảnh gia đình, văn hóa và tâm lý. Do đó, mỗi trẻ em có hứng thú,
    cách học và tốc độ học tập khác nhau và chúng cần môi trường học tập thực sự tốt
    làm bước đệm bền vững để phát triển. Trẻ học bằng chơi tốt nhất khi có người lớn hỗ
    trợ và mở rộng những gì chúng đang hứng thú và đang thực hiện.
    Bé làm hoa mừng ngày hội đến trường
    16
    Bé làm đầu sư tử bằng hộp bìa catton
    Bé vui Tết trung thu với sản phẩm của mình
    II.2.2.Giải pháp 2:Tìm hiểu đặc điểm, sở thích của từng trẻ trong lớp thông qua
    quá trình trẻ hoạt động
    17
    Trong quá trình trẻ hoạt động là lúc thích hợp nhất để trẻ bộc lộ những sở thích
    cá nhân, đặc điểm tâm lý. Nắm bắt được điều đó vào thời điểm đầu năm học tôi
    thường tham gia vào quá trình chơi và nhập vai chơi cùng với trẻ và nhẹ nhàng đặt
    các câu hỏi để tìm hiểu xem trẻ thích chơi ở đâu? Đồ chơi nào mà trẻ thích nhất? Góc
    nào trong lớp mình mà trẻ thích? Lớp học mới có gì khác so với lớp học cũ của bé…
    Sau một quá trình không lâu làm bạn chơi cùng trẻ tôi nhận thấy số đông trẻ trong lớp
    thường thích chơi ở những góc chơi được trang trí cũng như những đồ chơi được thiết
    kế mang tính mở.
    Ví dụ: Cùng là hai cây xanh dùng để chơi ở góc xây dựng nhưng tôi đặt một cây
    được làm sẵn có gắn chết lá và quả với thân cành, còn một cây tôi chỉ thiết kế cành,
    quả và lá được thiết kế nhiều dạng khác để rời trong rổ đặt bên cạnh. Ở một vài buổi
    đầu trẻ thường thích dùng nguyên cây ăn quả được thiết kế sẵn để đặt vào góc xây
    dựng nhưng đến những buổi sau trẻ bắt đầu có biểu hiện thích khám phá và tìm tòi
    những cái mới lạ để thỏa mãn trí tò mò. Khi đó trẻ sẽ lấy cây chưa có cành lá và tìm
    lá để ghép vào cho hoàn thiện. Cứ như vậy những buổi sau trẻ có thể thay đổi nhiều
    loại lá, quả trên cùng một thân cây để công trình phong phú hơn.
    Trong quá trình chơi là lúc thích hợp nhất để trẻ bộc lộ những sở thích cá nhân,
    đặc điểm tâm lý. Với mục đích xây dựng môi trường lớp học phục vụ cho trẻ nên
    ngay từ khi bố trí các góc chơi tôi đã lưu ý làm sao để trẻ có thể hoạt động được với
    tất cả những gì có trong góc đó để thỏa mãn nhu cầu khám phá của trẻ.
    Ví dụ: Ở góc phân vai thay vì dán tên các mặt hàng trực tiếp trên loại hàng đó
    tôi thiết kế một bảng danh mục với những hình ảnh các mặt hàng và bảng giá rời.
    Như vậy khi chơi trẻ có thể tự kiểm kê những mặt hàng nào cửa hàng có thì xếp lên,
    những mặt hàng hôm nay đã bán hết thì cất tên và bảng giá đi để dùng cho lần khác.
    Như vậy sẽ thuận tiện cho việc chơi cũng như trẻ kiểm soát được đồ dùng, đồ chơi
    của lớp mình, tránh những lãng phí có thể xảy ra.
    18
    Bé vui chơi ở các góc
    Các góc mở cần một số lượng đồ chơi tương đối nhiều do đặc tính có thể dễ
    thay đổi theo chủ đề, theo nội dung chơi,…nên nguyên vật liệu để tạo góc mở cần
    phải đảm bảo các yếu tố như: Dễ kiếm, dễ làm, bảo quản được lâu, dễ vệ sinh… và
    đặc biệt phải tuyệt đối an toàn với trẻ. Từ những yêu cầu trên tôi đã chủ động tìm tòi
    và sử dụng các nguyên liệu như thảm cũ, vải dạ vụn, vỏ lọ sữa , các loại cúc, khóa…
    Trẻ làm đồ chơi trong góc tạo hình
    19
    Sản phẩm của bé
    Bé làm đồ chơi các phương tiện giao thông
    20
    Bé chơi trong góc học tập
    2.3 Giải pháp 3: Lựa chọn các góc để tạo góc mở phù hợp
    Với trẻ mầm non việc tạo ấn tượng tốt với môi trường lớp học của mình ngay
    từ đầu là vô cùng quan trọng. Khi trẻ có ấn tượng tốt về môi trường lớp học của mình
    sẽ làm trẻ cảm thấy thêm hưng phấn và thích thú khám phá. Điều đó sẽ giúp trẻ tích
    lũy được nhiều kiến thức và phát huy khả năng sáng tạo của mình một cách tối đa. Do
    đó tôi chủ động các góc có diện tích rộng, thoáng, dễ quan sát và có số lượng trẻ chơi
    đông để tạo góc mở như: Góc nghệ thuật, góc học tập, góc phân vai, góc xây dựng…
    Trong hoạt động vui chơi, hoạt động góc là một trong những hoạt động quan
    trọng, ở hoạt động này trẻ được đóng vai trò là một thành viên trong xã hội là một thế
    giới thu nhỏ, nơi trẻ được thỏa sức sáng tạo và trải nghiệm. Thông qua hoạt động góc
    trẻ được rèn luyện trí nhớ, tính quan sát, kỹ năng phân biệt so sánh, khả năng bắt
    trước, cũng qua hoạt động này trẻ được tự do thể hiện mình điều đó giúp phát triển ở
    trẻ khả năng mạnh dạn, tự tin, chủ động, từ đó hình thành nhân cách của trẻ đối với
    các lĩnh vực: Thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, thẩm mỹ và kỹ năng xã hội.
    Để làm được điều đó tôi luôn tích hợp trong mọi hoạt động, trong mọi tiết học đều
    21
    gắn với môi trường., sắp xếp góc chơi, cùng bàn bạc với trẻ để xây dựng trò chơi
    mới, đồ chơi mới và dùng chính sản phẩm của trẻ giúp trẻ thấy hấp dẫn, mới lạ.
    Trẻ sử dụng đồ chơi tự tạo trong góc xây dựng
    Bé chơi trong góc học tập
    22
    Một trong những góc chơi phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo của trẻ chính
    là góc Thực hành kỹ năng sống, bởi ở đó trẻ được trải nghiệm bản thân, chia sẻ kinh
    nghiệm và thực hành những hoạt động thực tế nhất.
    Bé chơi trong góc thực hành kỹ năng sống
    Hay như khi sắp xếp đồ dùng đồ chơi ở góc nghệ thuật tôi không chỉ đặt trên
    tủ như thông thường mà có thể bố trí thành giá treo đồ dùng lên tường vừa tiết kiệm
    diện tích lớp học vừa tạo vẻ sinh động, mới lạ cho góc chơ

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên giúp trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi biết yêu thương, chia sẻ

    SKKN Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên giúp trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi biết yêu thương, chia sẻ

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Mỗi đứa trẻ được sinh ra mang theo bao yêu thương, hy vọng và ước mơ
    của cha mẹ. Một trong những hy vọng, ước mơ lớn nhất mà bất kỳ ông bố, bà
    mẹ nào cũng mong chờ ở đứa con của mình trong tương lai đó là bé sẽ trở thành
    một người tốt, có đạo đức và trước hết là có tấm lòng hiếu thảo với cha mẹ, biết
    yêu thương, chia sẻ với mọi người.
    Cũng như ước mơ của các bậc cha mẹ, giáo viên mầm non cũng luôn
    mong muốn những học trò thân yêu của mình lớn lên sẽ trở thành một người tốt,
    có ích cho gia đình và xã hội. Chính vì vậy mà mục tiêu của giáo dục mầm non
    là giáo dục nhằm phát triển trẻ em một cách toàn diện về trí tuệ, thể chất, ngôn
    ngữ, tình cảm – kỹ năng xã hội và thẩm mỹ để hình thành những yếu tố đầu tiên
    của nhân cách, chuẩn bị nền tảng vững chắc cho trẻ bước vào trường phổ thông.
    Trong những yếu tố đó, yếu tố quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách
    trẻ đó là giáo dục tình yêu thương. Tình yêu thương không phải bỗng dưng có
    được, mà phải được nuôi nấng, được dạy dỗ từ khi còn bé thơ.
    Để hiểu yêu thương là gì cũng cần một chặng đường dài học hỏi, trải
    nghiệm mới thấy được giá trị của nó. Khi trẻ không cảm nhận được sự yêu
    thương và không biết cách bày tỏ tình yêu, trẻ sẽ bị hạn chế trong khả năng lựa
    chọn thích hợp và phản ứng khôn ngoan với thử thách, bởi biết yêu thương, chia
    sẻ, quan tâm tới người khác là biểu hiện cảm xúc mà ai cũng cần để có thể hòa
    nhập cộng đồng. Trẻ biết yêu thương sẽ biết kiểm soát cảm xúc tiêu cực và phát
    triển trí thông minh tốt hơn. Tính cách của trẻ ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố,
    ngoài yếu tố bẩm sinh, còn lại là do cha mẹ, thầy cô định hướng, rèn luyện.
    Một đứa trẻ thiếu cảm xúc, không biết thể hiện tình yêu thương không chỉ
    khó hòa nhập cộng đồng mà còn ảnh hưởng đến quá trình học tập và làm việc
    sau này. Vì vậy ngay từ khi còn nhỏ, việc dạy cho trẻ biết yêu thương, quan tâm,
    chia sẻ là vô cùng cần thiết mà cha mẹ, thầy cô cần làm ngay, bởi nó sẽ là cơ sở,
    là nền tảng giúp trẻ trở thành người có tấm lòng nhân hậu, có đạo đức, có nhân
    cách tốt trong tương lai sau này.
    3
    Ở trường mầm non việc giáo dục cho trẻ biết yêu thương được tiến hành
    dưới nhiều hình thức khác nhau và được lồng ghép trong các hoạt động hàng
    ngày nhằm tác động vào tâm lý của trẻ. Song giáo viên chưa thực sự quan tâm
    tới việc làm thế nào để giáo dục trẻ biết yêu thương một cách hiệu quả. Bên
    cạnh đó, bố mẹ trẻ không có nhiều thời gian dành cho con hoặc chưa quan tâm
    đến việc giáo dục con biết yêu thương, chia sẻ. Khả năng thể hiện tình cảm của
    trẻ còn lúng túng, trẻ chưa tự tin thể hiện, chia sẻ cảm xúc của mình cho người
    khác. Vậy làm thế nào để giáo dục trẻ biết yêu thương, trang bị cho trẻ những
    yếu tố cảm xúc phù hợp với lứa tuổi nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện? Đây là
    vấn đề mà bản thân tôi luôn băn khoăn và trăn trở. Vì thế tôi đã lựa chọn đề tài
    “Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên giúp trẻ mẫu giáo lớn 5-6 tuổi biết yêu
    thương, chia sẻ”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT
    II.1. Mô tả giải pháp kỹ thuật trƣớc khi tạo ra sáng kiến
    Trong những năm qua nhà trường luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo,
    tạo điều kiện của các cấp lãnh đạo Sở GD&ĐT, phòng GD&ĐT và lãnh đạo
    UBND phường Hạ Long.
    Trường có đội ngũ cán bộ, giáo viên trẻ nhiệt tình, năng động, luôn yêu
    nghề mến trẻ, tham gia nhiệt tình các phong trào thi đua và luôn hoàn thành tốt
    mọi nhiệm vụ được giao.
    Nhiều năm liền trường đạt danh hiệu lao động tiên tiến, đạt cơ quan văn
    hóa, nhiều cá nhân đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua, lao động tiên tiến, được giám
    đốc Sở GD&ĐT tặng giấy khen.
    Trong nhà trường, đa số trẻ theo học từ lớp nhà trẻ nên các cháu có nề
    nếp, nhanh nhẹn, tự tin, có kỹ năng tốt. Các cháu được chia tách triệt để về độ
    tuổi vào các nhóm lớp và được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục theo đúng
    chương trình giáo dục mầm non do Bộ GD&ĐT quy định.
    Các bậc cha mẹ học sinh luôn đặt niềm tin vào trường Mầm non Hoa Sen
    và ủng hộ nhiệt tình trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ.
    4
    Bản thân tôi là Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn có sức trẻ và sự
    tâm huyết với nghề nên luôn ý thức phải nâng cao trách nhiệm của mình trong
    việc quản lý chỉ đạo về chuyên môn trong nhà trường. Luôn có tinh thần học hỏi
    từ bạn bè, đồng nghiệp, dành thời gian tự học để nâng cao hơn nữa trình độ
    chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, nghiệp vụ quản lý.
    Bên cạnh những thuận lợi ở trên thì vẫn còn một số những khó khăn nhất
    định như: Trường nằm trên địa bàn đông dân cư, số lượng trẻ đến trường rất
    đông, các lớp học luôn trong tình trạng quá tải, cơ sở vật chất của trường chưa
    đáp ứng được với số trẻ hiện có. Nhận thức của trẻ không đồng đều, kỹ năng bày
    tỏ tình cảm yêu thương còn hạn chế. Nghiệp vụ sư phạm và sự linh hoạt của
    giáo viên trong tổ chức các hoạt động giúp trẻ biết yêu thương chia sẻ chưa cao.
    Từ thực trạng trên, tôi đã khảo sát giáo viên, trẻ và phụ huynh ở trường tôi
    ngay từ đầu năm học, kết quả như sau:
    – Về phía giáo viên:
    + Một số giáo viên có quan tâm giáo dục trẻ biết yêu thương, chia sẻ
    nhưng còn hạn chế, đôi khi giải quyết vấn đề qua loa, không triệt để và đặc biệt
    chưa quan tâm giáo dục cảm xúc tích cực cho trẻ.
    + Một số giáo viên chưa quan tâm thường xuyên tới việc thiết kế các hoạt
    động giáo dục cho trẻ biết yêu thương, chia sẻ mà đa số là tích hợp, lồng ghép
    trong các hoạt động.
    + Việc tạo môi trường nhằm giáo dục cho trẻ biết yêu thương, chia sẻ còn
    hạn chế.
    Bảng 1. Khảo sát giáo viên trong việc giáo dục trẻ biết yêu thương, chia sẻ:

    Nội dung khảo sátThời
    gian
    Tổng
    số
    giáo
    viên
    Kết quả
    Thƣờng
    xuyên
    Có nhƣng
    chƣa
    thƣờng
    xuyên
    Hiếm khi
    SL%SL%SL%
    Quan tâm giáo dục trẻ
    biết yêu thương, chia sẻ
    Tháng
    9/2020
    190315,81263,20421,0

    5

    Quan tâm tới việc thiết
    kế các hoạt động giáo
    dục cho trẻ biết yêu
    thương, chia sẻ
    190421,01052,70526,3
    Quan tâm tới việc tạo
    môi trường nhằm giáo
    dục cho trẻ biết yêu
    thương, chia sẻ
    190631,60947,40421,0

    – Về phía trẻ:
    + Khả năng nhận thức của trẻ không đồng đều
    + Nhiều trẻ không tự tin bày tỏ tình cảm.
    + Hành vi thể hiện chưa phù hợp với cảm xúc thực của trẻ.
    + Kĩ năng thể hiện cảm xúc, nói lời yêu thương còn lúng túng.
    + Chưa có nhiều cơ hội để tham gia các hoạt động trải nghiệm cùng với
    mọi người, cây cối, vật nuôi…
    Bảng 2: Khảo sát mức độ biểu hiện khả năng nhận biết, đánh giá và thể
    hiện sự yêu thương, chia sẻ:

    Nội dung khảo sátThời
    gian
    Tổng
    số trẻ
    Mức độ
    Thƣờng
    xuyên
    Đôi khiKhông có
    SL%SL%SL%
    Nhận biết được một số
    trạng thái cảm xúc: vui,
    buồn, yêu, ghét…qua
    tranh, qua nét mặt, cử chỉ,
    giọng nói của người khác.
    Tháng
    9/2020
    1344634,46145,52720,1
    Biết biểu lộ cảm xúc: vui,
    buồn, yêu thương
    1342115,75339,66044,7
    Biết nói lời yêu thương,
    sử dụng một số từ và
    1341410,47858,24231,4

    6

    hành động phù hợp an ủi
    và chia vui với người
    thân, bạn bè, con vật….
    Biết quan tâm tới người
    khác và biết chăm sóc con
    vật, cây cối; biết quan tâm
    đến môi trường, bảo vệ
    môi trường.
    13496,75641,86951,5

    – Về phía cha mẹ trẻ:
    + Yêu chiều con thái quá
    + Chưa giáo dục trẻ biết yêu thương, chia sẻ.
    + Chưa dành nhiều thời gian quan tâm đến cảm xúc của con, chưa quan
    tâm đến việc trẻ biết quan tâm, chia sẻ, yêu thương mọi người, mọi vật xung
    quanh.
    + Một số cha mẹ trẻ nghĩ dạy trẻ là nhiệm vụ của giáo viên.
    Bảng 3. Khảo sát cha mẹ trẻ trong việc giáo dục con biết yêu thương chia sẻ:

    Thời gianSố cha mẹ
    trẻ tham
    gia khảo
    sát
    Kết quả
    Thƣờng xuyên
    dạy trẻ biết
    yêu thƣơng,
    chia sẻ
    Chƣa thƣờng
    xuyên dạy trẻ
    biết yêu
    thƣơng, chia sẻ
    Không quan
    tâm dạy trẻ
    biết yêu
    thƣơng, chia sẻ
    SL%SL%SL%
    Tháng
    9/2020
    1342619,44332,16548,5

    – Về cơ sở vật chất – Môi trường hoạt động:
    + Đồ dùng đồ chơi, tài liệu phục vụ cho lĩnh vực phát triển tình cảm và kĩ
    năng xã hội còn hạn chế.
    + Việc tạo môi trường giúp trẻ biết yêu thương, quan tâm, chia sẻ còn đơn
    điệu, chưa rõ nét.
    7
    II.2. Mô tả giải pháp kỹ thuật sau khi có sáng kiến
    Trong thực tế hiện nay ta thấy những đứa trẻ thiếu tình thương thường rụt
    rè, nhút nhát, ngại giao tiếp, khó học hỏi. Còn những đứa trẻ được sống trong
    môi trường được quan tâm, chăm sóc chu đáo thường mạnh dạn, tự tin, thích
    học hỏi, thích chia sẻ. Thực ra, người lớn đều hiểu được vai trò của tình yêu
    thương đối với một lối sống lành mạnh và hạnh phúc. Tuy vậy, vẫn có ít trẻ có
    được môi trường gia đình và trường học đầy yêu thương như vậy.
    Ở trường mầm non, qua thực hiện chương trình, lĩnh vực giáo dục tình
    cảm – kĩ năng xã hội là lĩnh vực chưa được quan tâm nhiều trong việc khai thác
    nội dung để thiết kế hoạt động, đặc biệt là giáo dục cho trẻ biết yêu thương, chia
    sẻ. Trẻ chưa mạnh dạn, chưa tự tin bày tỏ, chưa biết cách thể hiện tình yêu
    thương với mọi người….. Vì thế tôi mạnh dạn đề ra một số biện pháp sau:
    Biện pháp 1: Chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch giáo dục có nội
    dung giáo dục trẻ biết yêu thương, chia sẻ:
    Để thực hiện bất cứ một công việc nào thành công cũng cần phải có kế
    hoạch cụ thể, chi tiết về nội dung công việc cần làm, phương pháp, thời gian,
    nguồn nhân lực thực hiện…Chính vì vậy, để làm tốt công tác chỉ đạo giáo viên
    xây dựng kế hoạch giáo dục có nội dung giáo dục trẻ biết yêu thương, chia sẻ
    ngay từ đầu năm học tôi đã xây dựng kế hoạch chỉ đạo chuyên môn, kế hoạch
    thực hiện chuyên đề “giáo dục phát triển tình cảm – kỹ năng xã hội”, kế hoạch
    thực hiện các hoạt động ngoại khóa… với kế hoạch năm, tháng, tuần. Từ đó tôi
    đã hướng dẫn, chỉ đạo tổ trưởng chuyên môn bám sát kế hoạch chuyên môn của
    nhà trường để xây dựng kế hoạch chuyên môn của tổ, phù hợp với trẻ, phù hợp
    tình hình, đặc điểm văn hóa – xã hội của địa phương, phù hợp khả năng của giáo
    viên và có nội dung công việc rõ ràng, có nhiệm vụ trọng tâm, mục tiêu phấn
    đấu, biện pháp thực hiện …..
    Tôi đã cùng đội ngũ cốt cán lựa chọn và đưa vào trong mục tiêu giáo dục
    trẻ nội dung “Trẻ biết yêu thương, chia sẻ”. Vậy dạy trẻ biết yêu thương, chia sẻ
    thì cần dạy những gì? Cụ thể hóa trong kế hoạch như nào? Đó là câu hỏi mà tôi
    đã suy nghĩ trong nhiều ngày và đã đúc kết lại các nội dung sau:
    8
    – Dạy trẻ biết yêu quý bản thân.
    – Dạy trẻ biết yêu thương những người thân, bạn bè xung quanh.
    – Dạy trẻ biết kính yêu Bác Hồ, yêu thích danh lam thắng cảnh, di tích
    lịch sử…
    – Dạy trẻ biết yêu quý động vật.
    – Dạy trẻ biết biết yêu môi trường, yêu thiên nhiên, yêu cây cối, yêu trái
    đất, nguồn nước…
    – Dạy trẻ yêu quý sách, đồ dùng, đồ chơi …
    Khi đã xác định được nội dung cần dạy trẻ tôi đã hướng dẫn giáo viên cụ
    thể hóa các nội dung đó vào kế hoạch qua các hoạt động và phân chia vào các
    chủ đề xuyên suốt trong năm học.
    Sau khi xây dựng kế hoạch, tôi tổ chức thực hiện, chỉ đạo hoạt động và
    tăng cường kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch trong nhà trường. Từ đó
    điều chỉnh, bổ sung kế hoạch để luôn phù hợp và đem lại hiệu quả cao.
    Biện pháp 2: Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn và nâng cao năng
    lực tự học, tự bồi dưỡng cho cán bộ, giáo viên trong nhà trường về nội
    dung giáo dục trẻ biết yêu thương, chia sẻ:
    Tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn là việc làm thường xuyên của mỗi cán
    bộ, giáo viên trong nhà trường. Ngoài tự học, tự bồi dưỡng giáo viên còn trực
    tiếp tham gia các lớp bồi dưỡng do trường triển khai định kỳ theo tổ, khối (ít
    nhất 2 lần/tháng); bồi dưỡng chuyên môn qua các chuyên đề đầu năm học do
    nhà trường và ngành tổ chức; bồi dưỡng thường xuyên theo quy định của Bộ
    GD&ĐT (các mô đun) trong năm học. Để làm được điều này bản thân tôi không
    ngừng học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn cho bản thân, từ đó bồi dưỡng
    chuyên môn cho toàn thể giáo viên trong nhà trường để từng bước đáp ứng mục
    tiêu nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ.
    Căn cứ trên tình hình thực tế và đề nghị của giáo viên tôi đã xây dựng nội
    dung sinh hoạt chuyên môn về nội dung giáo dục trẻ biết yêu thương, chia sẻ
    trong kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn như sau:
    – Bồi dưỡng kĩ năng dạy qua hoạt động học.
    9
    – Bồi dưỡng kĩ năng dạy qua hoạt động vui chơi tại các góc.
    – Bồi dưỡng kĩ năng dạy qua hoạt động ngoài trời.
    – Bồi dưỡng kĩ năng dạy qua hoạt động chiều.
    – Bồi dưỡng kĩ năng dạy qua hoạt động lễ hội.
    – Bồi dưỡng kĩ năng dạy qua tận dụng các tình huống cụ thể.
    – Bồi dưỡng kĩ năng dạy qua các hoạt động thiện nguyện, giúp đỡ những
    người có hoàn cảnh khó khăn.
    Các nội dung này được tôi tiến hành tổ chức sinh hoạt với các hình thức khác
    nhau như:
    – Sinh hoạt chuyên đề trao đổi, thảo luận trực tiếp về vấn đề đa số giáo viên
    còn vướng mắc.
    – Dự giờ thực hành, rút kinh nghiệm sau dự giờ.
    * Dạy qua hoạt động học:
    Hoạt động âm nhạc tôi chỉ đạo giáo viên lựa chọn các bài hát dạy trẻ biết
    yêu thương mọi người, bạn bè thân quen như “Người tôi yêu tôi thương”, “Em
    yêu trường em” (chủ đề trường mầm non); dạy trẻ biết yêu quý bản thân, tránh
    bị lạm dụng qua bài “5 ngón tay xinh” (chủ đề bản thân); dạy trẻ biết yêu quý
    ngôi nhà và người thân trong gia đình “Em yêu ai”, “Nhà mình rất vui”, “Ai
    thương con nhiều hơn”…., dạy trẻ biết yêu quý đồ dùng đồ chơi qua bài “Đồ
    dùng bé yêu” (chủ đề gia đình); dạy trẻ biết yêu thiên nhiên qua bài “Em yêu
    cây xanh” (chủ đề Thực vật), “Em yêu mùa hè quê em”, “Bé yêu biển lắm” (chủ
    đề nước và HTTN); dạy trẻ biết yêu động vật “Chú ếch con”, “Chị ong nâu và
    em bé” (chủ đề động vật); dạy trẻ biết yêu quê hương đất nước “Quê hương em
    biết bao tươi đẹp”, “Yêu Hà Nội”, “Trái đất này là của chúng mình” (chủ đề Quê
    hương đất nước)….đặc biệt trong giai đoạn cả nước chống dịch Covid – 19, tôi
    hướng dẫn giáo viên đưa vào dạy trẻ bài hát “Việt Nam ơi! Đánh bay covid”,
    “Khúc hát đôi bàn tay”, “Ghen cô vy”… để chung tay tuyên truyền, đẩy lùi dịch bệnh.
    Hoạt động tạo hình lựa chọn các hoạt động: Làm đồ chơi tặng bạn (chủ đề
    trường mầm non), làm bưu thiếp tặng bà, tặng mẹ (chủ đề gia đình), vẽ hoa tặng
    cô giáo, chú bộ đội (chủ đề nghề nghiệp), trang trí khung ảnh Bác Hồ (chủ đề
    10
    QHĐN – Bác Hồ)…giúp trẻ biết quan tâm, chia sẻ để luôn trao yêu thương và
    nhận được yêu thương.
    Hình ảnh Bé làm bưu thiếp tặng Bà, tặng Mẹ, tặng Cô giáo
    Sản phẩm của trẻ luôn được cô giáo nhận xét với tinh thần động viên và
    luôn tận dụng sản phẩm của trẻ như một sản phẩm có giá trị để trang trí, làm đẹp
    thêm cho lớp học…trẻ sẽ thấy tự hào và tự tin hơn rất nhiều.
    Hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học: Qua truyện “Đôi bạn
    tốt”, thơ “Tình bạn” (chủ đề trường mầm non) giúp trẻ biết yêu thương, giúp đỡ
    bạn; qua truyện “Hai anh em”, “Ba cô gái” (chủ đề gia đình) giúp trẻ biết yêu
    thương người thân trong gia đình; qua truyện “Chú ếch điếc” (chủ đề động vật)
    giúp trẻ hiểu sức mạnh của lời nói, giá trị của lời động viên…. Trong hoạt động
    làm quen với tác phẩm văn học ngoài phân tích nội dung giúp trẻ hiểu tác phẩm,
    hiểu giá trị của yêu thương truyền tải từ tác phẩm văn học, tôi còn chỉ đạo giáo
    viên lựa chọn các hoạt động kể chuyện sáng tạo giúp trẻ phát triển tác phẩm theo
    chiều hướng tích cực, phát huy trí tưởng tượng, óc sáng tạo ở trẻ và giúp trẻ hoạt
    ngôn, mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp.
    Hoạt động khám phá khoa học: Tạo cơ hội cho trẻ được tìm hiểu về thế
    giới động vật, thực vật, tìm hiểu về đất, nước, cát , sỏi, đá, không khí….từ đó
    giáo dục cho trẻ tình yêu động vật, cỏ cây hoa lá. Biết biến tình yêu từ suy nghĩ
    11
    sang hành động như chăm sóc vật nuôi, chăm sóc cây cối, thích gieo hạt, trồng
    cây… Biết sử dụng điện, nước tiết kiệm, tránh lãng phí, không vứt rác bừa bãi,
    bỏ rác đúng nơi quy định cũng là yêu môi trường, biết hành động để bảo vệ môi
    trường.
    Hoạt động khám phá xã hội: Trẻ tìm hiểu về danh lam thắng cảnh, di tích
    lịch sử, tìm hiểu về Bác Hồ kính yêu…từ đó dạy trẻ yêu quý Bác Hồ, yêu đất
    nước Việt Nam hình chữ S, biết thể hiện tình yêu của mình qua các hoạt động
    trang trí ảnh Bác, vẽ quà tặng Bác nhân ngày sinh nhật Bác 19/5, vẽ lăng Bác, vẽ
    Tháp rùa….
    * Dạy qua hoạt động vui chơi tại các góc:
    Trẻ mầm non “Học bằng chơi, chơi mà học” và đặc biệt, vui chơi là hoạt
    động chủ đạo của trẻ mẫu giáo, trẻ được tham gia các vai chơi phản ánh một xã
    hội người lớn thu nhỏ, trẻ vui chơi để thỏa mãn nhu cầu, thỏa mãn đam mê, tính
    tò mò, hiếu kỳ.
    Tại giờ hoạt động vui chơi tôi thường hướng dẫn giáo viên tổ chức chủ đề
    chơi chung hướng tới giáo dục cho trẻ biết yêu thương, chia sẻ mà không làm
    giảm hứng thú chơi của trẻ như:
    Chủ đề “Miền Trung thân yêu”: Giáo viên gợi mở hoạt động cho trẻ tại
    Góc gia đình như trẻ gấp quần áo tặng bà con Miền Trung, góc nhà hàng trẻ gói
    bánh chưng tặng bà con Miền Trung, góc Stem trẻ làm xe ô tô, tàu thủy từ vỏ
    hộp sữa để vận chuyển hàng hóa vào Miền Trung, góc nghệ thuật làm bưu thiếp
    tặng các bạn nhỏ ở Miền Trung…giúp trẻ biết chia sẻ, biết yêu thương những
    người có hoàn cảnh khó khăn do thiên tai, lũ lụt….
    Chủ đề “Nghề nghiệp”: Tôi chỉ đạo giáo viên hướng trẻ đến chủ đề chơi
    chung “Bệnh viện dã chiến”, tại đây giáo viên gợi mở cho trẻ xây dựng bệnh
    viện với các khu cách ly, ở góc gia đình trẻ nấu các món ăn tiếp sức cho các bác
    sỹ, góc Stem cho trẻ làm mũ chắn giọt bắn, góc nghệ thuật trẻ làm khẩu trang
    tặng bác sỹ, tặng chú bộ đội, chú công an và các bạn nhỏ trong vùng dịch…để trẻ
    biết sự nguy hiểm của dịch bệnh, biết tự phòng tránh và chia sẻ, giúp đỡ, biết ơn
    những người đã không quản vất vả ngày đêm bảo vệ sự bình an cho mọi người.
    12
    Giờ chơi góc giáo viên luôn chú ý góc “Thư viện thân thiện”, tại góc này
    cần giáo dục trẻ về tình yêu với sách, giá trị của sách, từ đó trẻ biết giữ gìn, bảo
    vệ sách, biết nhắc nhở bạn cùng giữ gìn sách. Giáo viên còn gợi ý để trẻ đọc
    sách cùng nhau, kể chuyện sáng tạo qua quan sát tranh vẽ…Trẻ không những
    yêu thích sách mà còn thêm yêu quý bạn vì đã cùng nhau chia sẻ những câu
    chuyện thú vị “một cách sáng tạo, một cách rất riêng”.
    Trong giờ chơi tôi cũng không quên hướng dẫn giáo viên nhắc nhở trẻ giữ
    gìn và bảo quản đồ dùng, đồ chơi, lấy cất đồ chơi đúng nơi quy định, sắp xếp đồ
    chơi đẹp mắt. Giáo viên cho trẻ quan sát lớp học khi chưa dọn dẹp và sau khi
    dọn gọn gàng để trẻ có ý thức hơn với môi trường sống xung quanh.
    Tham gia hoạt động vui chơi thúc đẩy trẻ hoạt động nhóm, tại đây trẻ
    được làm cùng nhau, biết cách hòa mình vào buổi chơi chung, biết liên kết vai
    chơi, góc chơi, biết yêu thương, chia sẻ, giúp đỡ, động viên nhau cùng hoàn
    thành nhiệm vụ.
    * Dạy qua hoạt động ngoài trời
    – Đây là môi trường ngoài lớp học, luôn thu hút và kích thích trẻ tham gia
    hoạt động một cách hào hứng. Để hoạt động ngoài trời thu được hiệu quả cao thì
    ngoài việc chỉ đạo giáo viên bố trí, sắp xếp không gian, đồ dùng, đồ chơi tôi còn
    hướng dẫn giáo viên linh hoạt trong việc kết hợp với giáo viên lớp khác, khối
    khác tích cực tổ chức các hoạt động tập thể nhằm tăng cường tình cảm của trẻ
    với các bạn cùng trường, cùng lớp.
    Gợi ý một số hoạt động:
    Hoạt động 1: Thi tìm bài hát có chứa tên con vật, tên người thân như ông
    bà bố mẹ, tên các loài hoa….
    Hoạt động 2: Thi giải câu đố theo chủ đề
    Hoạt động 3: Nghe nhạc đoán tên bài hát, nghe tiếng kêu của nhạc cụ
    đoán tên nhạc cụ.
    Hoạt động 4: Giao lưu qua chơi trò chơi dân gian như:
    “Kéo co”, “Mèo đuổi chuột”, “Nhảy bao bố”, “Đi dép đồng đội”, “Đập nổ
    bóng”, “Chạy tiếp sức”, “Nhảy tránh bóng”, “Gà đuổi cóc”….
    13
    Hình ảnh Bé chơi trò chơi dân gian
    – Chơi ngoài trời còn là một trong những cơ hội giúp trẻ tiếp cận thiên
    nhiên, giáo dục trẻ ý thức chăm sóc cây cối, bảo vệ môi trường hiệu quả, góp
    phần giáo dục ở trẻ tình yêu với thiên nhiên, cỏ cây hoa lá, giáo dục trẻ biết hành
    động vì môi trường…chính vì thế tôi đã hướng dẫn giáo viên tăng cường lựa
    chọn và tổ chức các hoạt động như:
    Hoạt động 1: Bé gom rác làm sạch sân trường.
    Trò chuyện trong sân có những loại rác nào? Những rác này do đâu mà
    có? Làm thế nào để làm sạch sân trường? Cô tổ chức cho trẻ nhặt rác trong sân,
    14
    cùng nhau phân loại rác hữu cơ, vô cơ. Giáo dục trẻ sử dụng hạn chế túi nilon,
    đồ dùng bằng nhựa….vì khó phân hủy, lâu dần sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến môi
    trường sống.
    Hoạt động 2: Bác làm vườn chăm chỉ chăm sóc cây, tưới nước, gieo hạt,
    trồng cây…
    Hình ảnh Bé chăm sóc cây
    Hoạt động 3: Nhận biết đồ phế thải có thể tái sử dụng và làm đồ chơi tự tạo:
    Cho trẻ xem một số đồ dùng, đồ chơi được tận dụng từ nguyên vật liệu
    phế thải xung quanh sân trường như vỏ chai nước ngọt, vỏ can nước giặt, cốc
    nhựa đựng mỳ tôm… dùng để trồng hoa, vỏ hộp bánh sắt dùng làm ghế ngồi, lốp
    xe ô tô dùng để trồng hoa, làm bàn, làm ghế, vỏ lon sữa bột dùng để làm đồ chơi
    đi cà kheo…
    Trò chuyện với trẻ về các đồ phế thải khác, gợi mở để trẻ phát triển ý
    tưởng làm đồ chơi từ nguyên vật liệu sẵn có này, trẻ nhận thấy ngoài việc không
    tốn kinh phí lại còn giúp bảo vệ môi trường….Từ đó tận dụng sản phẩm tự tạo
    đưa vào trong các hoạt động dạy học
    15
    Hình ảnh tận dụng chai nhựa trồng hoa và nắp chai làm đồ chơi
    Hoạt động 4: Bé chơi với nguyên liệu sẵn có như sỏi, cát, bèo, lá
    cây….giúp trẻ thêm yêu thiên nhiên.
    Hình ảnh Bé xếp sỏi thành con vật yêu thích
    16
    Hình ảnh Bé làm con vật từ bèo tây
    * Dạy qua hoạt động chiều
    Các hoạt động mang tính tập thể, các hoạt động nhóm được đánh giá là rất
    hiệu quả trong việc giáo dục trẻ biết lắng nghe, biết quan tâm lẫn nhau, vì thế tôi
    thường xuyên hướng dẫn giáo viên tổ chức các hoạt động như thế vào các buổi
    chiều. Và để trẻ mạnh dạn, tự tin bày tỏ tình cảm, nhận biết các biểu hiện của
    cảm xúc….giáo viên tổ chức các hoạt động như:
    Hoạt động 1: Trò chơi Chiếc gương thần kỳ
    Cách chơi: Cho trẻ hát 1 bài hát, khi có hiệu lệnh “Tìm bạn, tìm bạn” trẻ
    sẽ tìm và nắm tay 1 bạn, sau đó tìm chỗ ngồi 2 bạn quay mặt vào nhau. 1 bạn sẽ
    làm gương, bạn còn lại sẽ là người soi gương và ngược lại. Bạn soi gương cười
    bạn làm gương cũng cười, bạn soi gương thả tim bạn làm gương cũng thả tim, bạn
    soi gương nói “Mình rất quý bạn” bạn làm gương cũng nói “Mình rất quý bạn”…..
    Hoạt động 2: Làm album những người bạn yêu thương
    Đầu tiên trò chuyện với trẻ “Làm thế nào để con biết được ai đó yêu con”
    Trẻ trả lời: Vì hay nhìn con cười, hay động viên con khi con buồn, hay
    chơi với con, hay vẽ tranh tặng con, hay tặng con món quà, hay khen con, hay
    bênh con, hay giúp con……
    17
    Vậy chúng ta sẽ cùng nhau làm “Album về những người bạn yêu thương”,
    con có ý tưởng gì để cuốn album của chúng ta thật đẹp và có ý nghĩa nào
    Cô gợi ý để trẻ đưa ra ý tưởng: Mỗi bạn mang đến 1 bức ảnh của mình mà
    trong bức ảnh đó có thể hiện 1 hành động yêu thương bằng chính ngôn ngữ cơ
    thể như đưa ngón tay tạo hình trái tim, 2 bàn tay tạo hình trái tim, dùng 2 cánh
    tay tạo hình trái tim…..
    Hoạt động 3: Làm cây tình yêu
    Cô chuẩn bị cho trẻ giấy màu, kéo, hồ dán. Cô vẽ 1 thân cây trên giấy A3
    (cây chưa có lá). Cho trẻ quan sát bức tranh và phát hiện điều đặc biệt là không
    có lá. Hỏi trẻ “Cô muốn cây này là cây tình yêu” thì chúng mình gợi ý cho cô
    xem giờ nên làm như thế nào? Trẻ nêu ý tưởng: Vẽ lá trái tim, in vân tay tạo
    hình trái tim, in bàn tay, cắt lá hình trái tim….Cô cho trẻ về các nhóm và tạo hình
    bức tranh.
    Hoạt động 4: Dạy trẻ quy tắc 5 ngón tay/ quy tắc 4 vòng tròn giúp trẻ biết
    yêu quý bản thân, phòng tránh lạm dụng
    Cô cho trẻ nghe hát “5 ngón tay xinh” và dạy trẻ về người thân quanh bé.
    Trò chuyện để trẻ biết cơ thể của mình phải luôn được yêu thương, bảo vệ,
    không phải ai cũng có quyền động chạm đến cơ thể mình.
    Hoạt động 5: Cô và trẻ cùng làm tranh Giờ trái đất, Bé với an toàn giao
    thông, Bé yêu cây xanh, Bé bảo vệ môi trường, Bé bảo vệ và tiết kiệm nước,
    Đeo khẩu trang phòng covid 19, Bé với vệ sinh an toàn thực phẩm…..
    18
    Hình ảnh tranh cô và trẻ cùng làm
    Hoạt động 6: Trò chơi khuôn mặt biết nói
    Cô cho trẻ xem các khuôn mặt thể hiện cảm xúc khác nhau. Trẻ sẽ chọn 1
    khuôn mặt mình thích và nêu cảm xúc tương ứng với khuôn mặt đó. Ví dụ: Trẻ
    chọn 1 khuôn mặt cười và nói “Hôm nay tôi rất vui vì được cô giáo khen”, trẻ
    chọn khuôn mặt mếu và nói “Hôm nay t

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số biện pháp giáo dục giới tính cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuôi thông qua các hoạt động của trẻ trong trường mầm non

    SKKN Một số biện pháp giáo dục giới tính cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuôi thông qua các hoạt động của trẻ trong trường mầm non

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ỀU K ỆN, O N ẢN T O R S N K ẾN
    Bậc ọc mầm non là bậc t an đầu tiên đưa trẻ tiến tới sự p át triển toàn
    diện về t ể c ất, tìn cảm, trí tuệ, t ẩm mỹ, ìn t àn n ữn yếu tố đầu tiên
    của n ân các con n ười. Bởi t ế việc iáo dục trẻ đún các và toàn diện n ay
    k i trẻ bước vào bậc ọc mầm non là việc làm vô cùn quan trọn và cần được
    quan tâm. N ữn tác độn iáo dục đún đắn tron t ời kì này sẽ là n ữn
    mản màu đẹp tạo nên một bức tran n ân các toàn diện c o trẻ. Để làm được
    điều đó ta k ôn t ể k ôn quan tâm đến việc “ iáo dục iới tín ” c o trẻ. Khi
    trẻ ra đời t ôn tin đầu tiên mà n ười ta muốn biết t ườn là t ôn tin về iới
    tín : “trai” ay “ ái”.
    Đặc biệt, tron k oản t ời ian ần đây, c ún ta đã c ứn kiến biết bao
    trườn ợp t ươn tâm do trẻ bị lệc lạc iới tín , t ậm c í bị xâm p ạm tìn
    dục. Rất n iều trườn ợp xảy ra do trẻ k ôn có một kiến t ức iới tín n ất
    địn ay k ôn biết các bảo vệ bản t ân trước n ữn n uy iểm ây ản
    ưởn n iêm trọn đến tâm sin lý của trẻ. Giáo dục iới tín cũn là một đề
    tài được rất n iều n ữn n à k oa ọc lựa c ọn và n iên cứu với trẻ mầm non
    5 – 6 tuổi là độ tuổi trẻ đủ lớn để lĩn ội n ữn kiến t ức và n ữn kĩ năn iáo
    dục iới tín một các đầy đủ n ất vì đây là độ tuổi “trưởn t àn ” n ất của bậc
    ọc mầm non.
    N ữn iểu biết của trẻ về vấn đề iới tín c ỉ là n ữn kiến t ức cơ bản
    n ư: Xác địn iới tín của n ười k ác, n ận biết được iới tín của mìn , biết
    lựa c ọn n ữn tran p ục p ù ợp với iới tín và có n ữn sở t íc p ù ợp
    với iới tín của mìn . Trẻ vẫn rất mơ ồ tron việc lựa c ọn n ữn trò c ơi
    p ù ợp với iới tín , có n ữn ứn xử p ù ợp với bạn k ác iới. Bên cạn đó
    bản t ân tôi c ưa có n iều kin n iệm tron việc đổi mới ìn t ức iản dạy
    iáo dục iới tín n ằm lôi cuốn, t u út, k uyến k íc sự c uyên cần tíc cực,
    c ủ độn sán tạo và ý t ức vươn lên, rèn luyện k ả năn tự ọc của ọc sin
    còn ặp rất n iều k ó k ăn.
    4
    Hiểu được vấn đề này, tôi k ôn k ỏi băn k oăn suy n ĩ làm t ế nào để
    c ồi non tươn lai của đất nước p át triển một các toàn diện, và tôi t ấy việc
    iáo dục iới tín c o trẻ là một tron n ữn vấn đề rất cần t iết c o trẻ mầm
    non. C ín vì vậy tôi lựa c ọn đề tài “Một số biện pháp giáo dục giới tính cho
    trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua các hoạt động của trẻ trong trường mầm
    non” làm sán kiến kin n iệm c o mìn với i vọn sẽ có t êm n ữn iểu
    biết về một vấn đề đan rất được quan tâm – iáo dục iới tín c o trẻ mẫu iáo
    5 – 6 tuổi.
    MÔ TẢ Ả P P.
    1.Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến
    – Năm ọc 2020-2021, tôi tiếp tục được p ụ trác lớp 5 tuổi và tôi đã luôn
    n ận được sự quan tâm của n à trườn về trang t iết bị đồ dùn , đồ c ơi tạo
    môi trườn ọc tập tốt c o trẻ trai và trẻ ái tại lớp tôi.
    – N à trườn tổ c ức c o các lớp cài p ần mềm kĩ năn sốn để cun cấp
    kiến t ức c o trẻ các bài ọc về iới tín .
    – Tron các năm ọc ần đây n à trườn đã ứn dụn các p ươn p áp iáo
    dục mới n ư: STEAM, MONTESSORI vào quá trìn c ăm sóc iáo dục trẻ
    hàng ngày.
    – Trẻ tiếp xúc với các p ươn p áp trên rất ào ứn
    – N à trườn t ườn xuyên tổ c ức các oạt độn trải n iệm và sán tạo
    c o trẻ t ể iện đún iới tín của mìn tron các n ày lễ, ở đó trẻ được tự tay
    làm ra các sản p ẩm tạo ìn n ư “các bạn trai làm nơ cài đầu c o bạn ái ay
    các bạn ái may quần áo c o các bạn trai…” Tuy rằn sản p ẩm của các con còn
    đơn iản, n ô n ê n ưn trẻ đã rất ào ứn k i tạo ra nó.
    Tuy nhiên t ực tế c o t ấy việc iáo dục iới tín c o trẻ còn ạn c ế, một
    số iáo viên c ưa iểu sâu sắc về vấn đề iới tín liên quan đến trẻ em iện nay
    đan là một đề tài nón bỏn được xã ội rất quan tâm, là một vấn đề nan iải
    đối với các bậc p ụ uyn và tạo ra tâm lý k ôn ổn địn c o ọc sin .
    – Giáo viên c ưa tận dụn được các oạt độn tron n à trườn để iáo dục
    iới tín c o trẻ.
    5
    – Giáo dục iới tín c o trẻ đòi ỏi p ải có n iều t ời ian để trẻ tiếp t u
    kiến t ức.
    – Sự p ối ợp với iáo viên tron lớp iáo dục iới tín c o trẻ c ưa cao.
    – Hầu ết iáo viên c ưa xây dựn kế oạc cụ t ể các oạt độn iáo dục
    iới tín c o trẻ và tổ c ức c o trẻ k ám p á
    – Việc lồn ép iáo dục iới tín c o trẻ tron tất cả các oạt độn của trẻ
    còn ạn c ế.
    – Sự p ối ợp với p ụ uyn c ưa c ặt c ẽ tron việc iáo dục iới tín c o
    trẻ mẫu iáo 5 – 6 tuổi.
    – Một số trẻ c ưa có sở t íc , ước mơ p ù ợp với iới tín
    – Một số trẻ c ưa có p ản ứn p ù ợp với các bạn k ác iới và c ưa biết
    c ăm sóc và bảo vệ cơ t ể.
    Mặt k ác, căn cứ vào đặc điểm iới tín của trẻ 5-6 tuổi, lúc này trẻ đã biết
    n ại k i t ay đồ trước mặt n ười lạ đồn t ời trẻ bắt đầu tò mò về cơ t ể mìn
    và cơ t ể bạn k ác p ái.Trẻ ay ỏi bố mẹ n ữn câu ỏi n ạy cảm n ư: Em bé
    được sin ra từ đâu?
    Thông qua việc iáo dục iới tín trẻ sẽ iểu về cơ t ể mìn và bạn k ác
    iới, trán sự tò mò tự tìm iểu ay oan man về các dấu iệu của cơ t ể
    mình. Từ đó tạo c o trẻ bản lĩn , mạn mẽ, tự tin, tự mìn biết tránh xa các tệ
    nạn xã ội.
    Ngay từ đầu năm ọc tôi đã tiến àn k ảo sát 50 trẻ của lớp tôi với kết quả n ư
    sau:
    Bảng khảo sát 1: Mức độ hiểu biết của trẻ về giới tính

    STTTiêu chíSố trẻ biết, chƣa biết
    ạtTỷ lệhƣa
    đạt
    Tỷ lệ
    1Trẻ nhận biết được giới tính của mình
    và của n ười khác
    45/5090%5/5010%

    6

    2Trẻ có những sở t íc , ước mơ p ù ợp
    với giới tính của mình
    35/5070%15/5030%
    3Trẻ biết lựa chọn trang phục phù hợp
    với giới tính của mình
    45/5090%5/5010%
    4Trẻ biết phân biệt nơi sin oạt đún
    với giới tính của mình.
    34/5068%16/5032%
    5Trẻ biết được sự khác biệt giữa mình
    và nhữn n ười bạn khác giới ( Ngoại
    hình, trang phục, tính cách )
    32/5064%18/5036%
    6Trẻ có những ứng xử phù hợp với
    nhữn n ười bạn khác giới
    37/5074%13/5026%
    7Trẻ lựa chọn nhữn trò c ơi, đồ c ơi
    phù hợp với giới tính của mình
    34/5068%16/5032%
    8Trẻ biết vệ sin , c ăm sóc bảo vệ
    những bộ phận của cơ t ể.
    30/5060%20/5040%

    Qua bản k ảo sát c o t ấy mức độ iểu biết của trẻ về iới tín còn t ấp :
    10% (5/50) trẻ vẫn c ưa n ận biết về iới tín , 30% (15/50) trẻ c ưa có sở t íc
    ước mơ p ù ợp với iới tín ,10% (5/50) trẻ c ưa biết lựa c ọn tran p ục p ù
    ợp với iới tín , 32% (16/50) trẻ c ưa p ân biệt được nơi sin oạt đún với
    iới tín của mìn ,36% (18/50) trẻ c ưa biết được sự k ác biệt iữa mìn với
    bạn k ác iới,26% (13/50) trẻ có ứn xử c ưa p ù ợp với bạn k ác iới, 32%
    (16/50) trẻ c ưa lựa c ọn n ữn trò c ơi và đồ c ơi ợp với iới tín , 40%
    (20/50) trẻ c ưa biết c ăm sóc bảo về cơ t ể của mìn .
    2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến
    Từ sự quan tâm và iểu biết về iới tín của trẻ cũn n ư đa số p ụ uyn
    đều t ấy việc iáo dục iới tín là rất cần t iết. Một số trẻ ở lớp vẫn c ưa p ân
    biệt iới tín của mìn , iáo viên tron lớp còn ạn c ế về iáo dục iới tín …
    Xuất p át từ n ữn t ực tế trên, tôi đã đề ra một số iải p áp sau:
    7
    2.1 Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục giới tính
    cho trẻ và tổ chức cho trẻ khám phá
    Tôi đã t u t ập n ữn t ôn tin đầy đủ về vốn kin n iệm iểu biết của
    trẻ, ứn t ú của trẻ đối với vấn đề iới tín , cơ sở vật c ất của lớp, của trườn .
    C uẩn bị về vốn kiến t ức, kĩ năn cần man đến c o trẻ: n ữn đặc điểm của
    bạn trai, n ữn đặc điểm của bạn ái, n ữn sở t íc của bạn trai, bạn ái,
    n ữn trò c ơi dàn c o bạn trai, bạn ái, sự k ác biệt iữa bạn trai và bạn ái,
    ứn xử n ư t ế nào với bạn k ác iới…các kĩ năn n ận biết, p ân biệt, so sán ,
    quan sát, tư duy….
    i
    N ay từ đầu năm ọc tôi đã lên kế oạc cụ t ể c o từn t án n ằm đề ra
    kế oạc để iáo viên iáo dục iới tín c o trẻ được t uận tiện c o việc đán
    iá từn iai đoạn.
    Tôi đã xây dựn riên một kế oạc t án và c ia n ỏ t eo từn tuần cụ
    t ể về iáo dục iới tín ở c ủ đề “Bản t ân”c o trẻ lớp tôi n ư sau:
    Tuần 1: Bạn gái
    8

    Nội dungThứ 2Thứ 3Thứ 4Thứ 5Thứ 6
    ón trẻ –
    trò chuyện
    sáng
    – Trò chuyện với trẻ về tên gọi và một số đặc điểm của bạn gái
    – Cho trẻ xem hình ảnh về bạn gái
    – C ơi xé dán váy c o bạn gái
    – Nói được đặc điểm giống và khác nhau bên ngoài và giới tính (MT
    45,79)
    Thể dục
    sáng
    – Tập BTPTC với bài hát: Head and shoulder
    – Tập dân vũ bài: N à mìn rất vui
    Hoạt động
    học
    LQVT
    Đếm đến 7,
    nhận biết
    nhóm có số
    lượng là 7
    Tạo hình
    Trang trí
    váy cho bạn
    gái
    Khám phá
    Tìm hiểu về
    nhữn đặc
    điểm của
    bạn gái
    PTVĐ
    Ném xa bằng
    1 tay
    TCVĐ: Kéo
    co
    Âm nhạc
    Dạy hát:
    Vui là bạn
    gái
    Hoạt động
    ngoài trời
    – Quan sát
    góc vui
    c ơi dàn
    cho bạn gái
    – Trò c ơi:
    ép đôi
    – C ơi tự do
    – Quan sát:
    những trang
    phục cho
    bạn gái
    – C ơi tự do
    – Cho trẻ kể
    tên một số
    trò c ơi của
    các bạn gái
    – Trò c ơi:
    Bánh xe
    quay
    – C ơi tự do
    – Quan sát:
    một vài sở
    thích của các
    bạn gái
    – Trò c ơi:
    Tìm đún
    bạn
    – C ơi tự do
    – Trò c ơi:
    G ép đôi
    – C ơi theo
    ý thích
    Hoạt động
    góc
    * Góc phân vai:
    – Gia đìn : C ơi bố, mẹ
    – Bán hàng: Bán một số trang phục cho bạn ái ( mũ, váy, áo oa)
    * Góc xây dựng: Siêu thị bán hàng cho các bạn gái ( Các trang phục,
    cặp tóc, iày dép, ba lô…)
    * Góc nghệ thuật:
    – Vẽ mái tóc của bạn gái; Vẽ bạn gái; Xé dán váy, trang trí váy cho
    bạn gái; Vẽ mũ c o bạn gái
    * Góc học tập – sách truyện
    – Làm album ảnh về các bạn gái trong lớp. Xem tranh truyện: Kể

    9

    chuyện theo tranh, kể chuyện sáng tạo, kể chuyện cổ tích dành cho
    bé gái.
    *Góc khoa học:Làm các bộ trang phục của các bạn gái
    Ăn ngủ
    vệ sinh
    – Trẻ biết tên một số món ăn àn n ày. Trẻ biết vệ sinh sạch sẽ,
    đún nơi quy định dành cho bạn trai và bạn gái
    Hoạt động
    chiều
    – Đọc bài
    t ơ: iữ gìn
    vệ sinh
    – C ơi: xé
    dán váy cho
    bạn gái
    – Nghe
    chuyện:
    Bạn cùng
    lớp
    – Hát: Tia
    nắng hạt
    mưa
    – C ơi k u
    vận động
    – C ơi vận
    động: thi
    xem ai
    nhanh
    – Liên hoan
    văn n ệ
    các bài hát
    trong chủ
    đề

    Kế hoạch tuần 2: Bạn trai

    Nội dungThứ 2Thứ 3Thứ 4Thứ 5Thứ 6
    ón trẻ– Trò chuyện với trẻ về tên gọi và một số đặc điểm của bạn trai.
    – Cho trẻ xem hình ảnh về bạn trai.C ơi xé tran p ục thể thao cho
    các bạn trai.Cho trẻ c ơi t eo n óm c ơi(N óm bạn trai và bạn gái
    Thể dục
    sáng
    – Tập BTPTC với bài hát: Head and shoulder
    – Tập dân vũ bài: N à mìn rất vui
    Hoạt động
    học
    LQVT
    Dạy trẻ so
    sánh, thêm
    bớt trong
    phạm vi 7
    Tạo hình
    Xé dán
    những bộ
    quần áo thể
    thao cho
    các bạn trai
    Khám phá
    Tìm hiểu về
    nhữn đặc
    điểm của
    bạn trai
    LQCC
    a, ă, â
    Văn học
    Truyện:
    Giấc mơ kỳ
    lạ
    Hoạt động
    ngoài trời
    – Quan sát
    những góc
    vui c ơi
    dành cho
    bạn trai
    – Trò c ơi:
    – Quan sát:
    những trang
    phục cho
    bạn trai
    – Trò c ơi
    vận động:
    – Cho trẻ kể
    tên một số
    trò c ơi của
    các bạn trai
    – Trò c ơi:
    Bánh xe
    – Quan sát:
    một vài sở
    thích của
    các bạn trai
    – Trò c ơi:
    Tìm đún
    – Trò c ơi:
    ép đôi
    – C ơi t eo
    ý thích

    10

    ép đôi
    – C ơi tự do
    chuyền
    bóng
    – C ơi tự do
    quay
    – C ơi tự do
    bạn
    – C ơi tự do
    Hoạt động
    góc
    * Góc phân vai:
    – Gia đìn : c ơi bố, mẹ
    – Bán hàng: bán một số trang phục cho bạn trai ( quần, áo kẻ, giày
    dép, mũ….)
    * Góc xây dựng: Siêu thị bán hàng cho các bạn trai ( Chuẩn bị trang
    phục, ba lô, mũ…..)
    * Góc nghệ thuật: Vẽ mái tóc của bạn trai; Vẽ bạn trai; Xé dán
    những bộ quần áo thể thao cho các bạn trai
    * Góc học tập – sách truyện
    – Làm album ảnh về các bạn trai trong lớp
    – Xem tranh truyện: kể chuyện theo tranh, kể chuyện sáng tạo, kể
    chuyện cổ tích dành cho bé trai.
    * Góc khoa học: Làm các bộ trang phục của các bạn trai
    Ăn ngủ
    vệ sinh
    – Trẻ biết tên một số món ăn àn n ày (súp bò, can mùn tơi nấu
    cua….)
    – Trẻ biết vệ sinh sạch sẽ, đún nơi quy định
    – Nghe nhạc dân ca: Lý con sáo, Lý cây bông, Inh lả ơi
    Hoạt động
    chiều
    – C ơi: xé
    dán những
    bộ quần áo
    thể thao cho
    các bạn trai
    – N e t ơ:
    Bạn cùng
    lớp
    – Hát: Tia
    nắng hạt
    mưa
    – C ơi k u
    vận động
    – C ơi vận
    động: Thi
    xem ai
    nhanh
    – Liên hoan
    văn n ệ
    các bài hát
    trong chủ
    đề

    Tôi lựa c ọn các mục tiêu sao c o k ôn quá dài để t ực iện từ 3 – 4 tuần.
    Xây dựn kế oạc từn t án các oạt độn c o trẻ mẫu iáo 5 – 6 tuổi tức là
    sắp xếp ợp lí các oạt độn iáo dục iới tín t ườn xuyên suốt cả n ày, cả
    tuần.
    11
    Trong quá trình xây dựng kế hoạch cụ thể trong từng tháng, tôi đã đán
    iá được quá trình giáo dục giới tính cho trẻ t ường xuyên liên tục qua quan sát,
    trò chuyện với trẻ, qua sản phẩm của trẻ và có sự ghi chép lại. Tôi đã xác định
    được những mục tiêu giáo dục giới tính cụ thể cho trẻ, phù hợp với trẻ. Các hoạt
    động giáo dục giới tính giúp trẻ đạt được những mục tiêu đã đặt ra: Trẻ hứng thú
    tham gia tích cực các hoạt động giáo dục giới tính mà tôi đã tổ chức.
    2.2. Biện pháp 2: Phối hợp với giáo viên trong lớp giáo dục giới tính cho
    trẻ
    Để iáo dục iới tín c o trẻ trước tiên tôi luôn ọc ỏi về các kiến t ức về
    iới tín : Các đặc điểm tâm sin lý của trẻ mầm non, t ế nào là iới tín , t ế
    nào là iáo dục iới tín , đặc điểm về iới tín của bé trai, đặc điểm iới tín
    của bé ái, sự k ác biệt iữa bé trai và bé ái, n ữn ứn xử p ù ợp với các
    bạn k ác iới, các biện p áp bảo vệ iới tín c o trẻ.
    Để có t ể tự bồi dưỡn n ữn kiến t ức kĩ năn về iáo dục iới tính cho
    trẻ, bản t ân tôi cần t ực iện các việc sau:
    Tìm mua các tài liệu về iáo dục iới tín c o trẻ mầm non, sắp xếp t ời
    ian đọc và n iên cứu để có t êm n ữn kiến t ức kin n iệm.
    12
    T am ia vào các lớp kĩ năn sốn oặc các lớp bồi dưỡn các kiến t ức
    về iáo dục iới tín c o trẻ.
    T ườn xuyên có sự trao đổi với các đồn n iệp về các kiến t ức cũn
    n ư các p ươn p áp về iáo dục iới tín c o trẻ.
    Tôi luôn học ỏi kin n iệm về côn tác tổ c ức các oạt độn iáo dục
    iới tín ở các trườn mầm non tron t àn p ố.
    Tíc cực t ử n iệm các p ươn p áp iáo dục iới tín mới cho trẻ tại lớp
    của mìn một cách nghiêm túc và iệu quả, luôn có sự đán iá rút kin n iệm
    và tiếp tục tiến àn .
    Tôi luôn có quyển sổ i c ép kin n iệm về iáo dục iới tín sau mỗi
    oạt độn để có n ữn kế oạc c o n ữn oạt độn iáo dục iới tín tiếp
    t eo c o trẻ
    => Sau k i t ực iện biện p áp trên n ữn kiến t ức và p ươn p áp của
    tôi về iáo dục iới tín c o trẻ được nân cao rõ rệt, bản t ân tôi tự n ận t ức
    được iáo dục iới tín c o trẻ k ôn c ỉ là trác n iệm của một cá n ân ay
    tập t ể nào đó mà là trác n iệm c un của ia đìn , n à trườn và của toàn xã
    ội k i mà vấn đề iới tín liên quan đến trẻ em iện nay đan là một đề tài
    nón bỏn được xã ội rất quan tâm và là một vấn đề nan iải đối với các bậc
    p ụ uyn và tạo ra tâm lý k ôn ổn địn c o ọc sin . Từ đó tôi có n ữn địn
    13
    ướn n ất địn luôn tâm uyết với côn việc để làm sao trẻ được ọc tập tron
    một môi trườn an toàn n ất và p át triển toàn diện các mặt cả về t ể c ất lẫn
    tin t ần c o trẻ.
    2.3. Biện pháp 3: Lồng ghép việc giáo dục giới tính cho trẻ trong tất cả
    các hoạt động của trẻ
    Lồn ép việc iáo dục iới tín tron tất cả các oạt độn của bản t ân
    trẻ là việc iáo dục kết ợp n ữn nội dun kiến t ức, kĩ năn của oạt độn đó
    với n ữn nội dun kiến t ức, kĩ năn về iáo dục iới tín c o trẻ mà vẫn đảm
    bảo k ôn làm mất đi trọn tâm của đề tài.
    Để t ực iện được việc lồn ép iáo dục iới tín tron tất cả các oạt
    độn , việc tôi đã làm là:
    + Lựa c ọn nội dun tron các oạt độn khác nhau để lồn ép việc iáo
    dục iới tín c o trẻ. Các oạt độn của trẻ được tiến àn t ôn qua các iờ
    oạt độn ọc, các môn ọc, oạt độn n oài trời, oạt độn óc, oạt độn ăn,
    n ủ, vệ sin , oạt độn c iều… Ở mỗi oạt độn ay tron mỗi iờ ọc, tôi đã
    lồn ép việc iáo dục iới tín ở n ữn nội dun k ác n au. Đối với trẻ mầm
    non, một iờ ọc của trẻ t ườn có 4 p ần: Ổn địn tổ c ức, ây ứn t ú; nội
    dung, kiến t ức của iờ ọc; trò c ơi; kết t úc.
    * Trong giờ hoạt động học:
    Tron iờ oạt độn ọc, tôi lựa c ọn nội dun iáo dục iới tín để lồn
    ghép sao c o nội dun này p ải ợp lý và iệu quả. K i lựa c ọn nội dun iáo
    dục iới tín để lồn ép tôi cần c ú ý đến sự liên quan iữa nội dun ấy với
    sự kiện, trán sự kết ợp tác bạc , k ôn liên quan.
    Ví dụ: Khi tổ c ức oạt độn ọc k ám p á “ Bạn trai – bạn ái” tron
    tháng 10 ở lớp tôi, tôi sẽ t ực iện n ư sau: Tôi c ia trẻ t àn 2 n óm để dạy
    trẻ, 1 n óm bạn trai và 1 n óm bạn ái, tôi sẽ đưa ra n ữn câu ỏi p ù ợp với
    từn n óm:
    Đối với n óm bạn ái:
    + Con tên là ì? Con là bạn trai ay bạn ái?
    + Các bạn ái có n ữn đặc điểm ì?
    14
    + Các bạn ái t ườn t íc c ơi trò c ơi ì?
    + Tran p ục của các bạn ái ra sao?
    + Ước mơ, sở t íc của các bạn ái?
    + Các bạn ái k ác với các bạn trai ở n ữn điểm nào?
    Tôi mời nhiều trẻ trả lời về các câu ỏi tôi đưa ra
    + Các con t ườn ay c ơi đùa với ai k i ở lớp, ở n à?
    + Về n à ai t ườn c ăm sóc, vệ sin , tắm iặt c o các con
    + Các con có t ể kể tên n ữn bộ p ận trên cơ t ể của các con?
    + Các con có biết n ữn vùn nào trên cơ t ể của các con ọi là vùn n ạy
    cảm?
    + Ai được p ép và k ôn được p ép sờ ay đụn c ạm vào n ữn vùn
    n ạy cảm đó?
    + Các con làm ì để tự bảo vệ mìn trước n ữn n uy iểm có t ể xảy ra
    với các con?
    => Sau k i ỏi trẻ tôi k ái quát lại: Vì chúng mìn là con ái mặc dù còn
    n ỏ n ưn các con cần biết n ữn vùn n ạy cảm trên cơ t ể của các con c ỉ có
    bản t ân các con oặc mẹ (bà) của các con mới được c ạm vào k i c ăm sóc,
    tắm iặt c o các con. N oài ra k ôn ai được p ép đụn c ạm vào n ữn vùn
    n ạy cảm đó. Bên cạn đó có các bác, cô, dì, c ú, t ím, n ữn n ười ọ àn
    của các con cũn c ỉ được ôm, t ơm vào má các con, nói c uyện với các con
    t ôi. Còn n ữn n ười k ôn quen biết, các con c ưa được ặp bao iờ mà n ất
    là lại là con trai t ì tuyệt đối các con k ôn được bắt c uyện, ỏi an n ữn
    n ười đó k i c ưa được sự đồn ý của bố mẹ ay n ười t ân của các con. Ở trên
    lớp, đối với các bạn trai các con cũn c ỉ được p ép nói c uyện oặc c ơi với
    các bạn t ôi c ứ tuyệt đối k ôn c ạm vào n ữn vùn n ạy cảm trên cơ t ể
    của các con. Vì vậy, k i ở n à ay ở trườn , các con nên đón cửa p òn k i
    t ay quần áo, con nên đón cửa toilet k i đi vệ sin và đi vệ sin đún nơi quy
    địn dàn c o con ái, trai; n ủ trưa ở trườn con cần n ủ ở k u vực bạn cùn
    iới với mìn , con mặc váy t ì k i n ồi ay k i nằm cần p ải để ý
    15
    đặ â ỏ ó
    – Đối với n óm bạn trai:
    + Con tên là ì? Con là bạn trai ay bạn ái?
    + Các bạn trai có n ữn đặc điểm ì?
    + Các bạn trai t ườn t íc c ơi trò c ơi ì?
    + Các bạn trai k ác với các bạn ái ở n ữn điểm nào?
    Cô mời n iều trẻ trả lời về các câu ỏi cô đưa ra
    + Về n à ai t ườn c ăm sóc, vệ sin , tắm iặt c o các con
    + Các con làm ì để tự bảo vệ mìn trước n ữn n uy iểm có t ể xảy ra
    với các con?
    => Sau k i ỏi trẻ tôi k ái quát lại: Các con là con trai, là n ữn n ười
    mạn mẽ và là n ữn n ười đàn ôn tron tươn lai, vì vậy các con p ải biết
    bảo vệ các bạn ái, n ườn n ịn bạn ái, k ôn trêu bạn, đán bạn, k ôn tò mò
    về n ữn bộ p ận trên cơ t ể bạn ái, k i ở n à ay ở trườn , các con nên đón
    cửa p òn k i t ay quần áo, con nên đón cửa toilet k i đi vệ sin , n ủ trưa ở
    trườn , con cần n ủ ở k u vực bạn cùn iới với mìn .
    16
    đặ â ỏ ó
    r ch i: “ ết bạn”
    – Tôi iới t iệu tên trò c ơi, các c ơi, luật c ơi
    – Cho trẻ c ơi kết n óm bạn có cùn đặc điểm, sở t íc .
    + Kết t àn n óm có 2,3 bạn. Kết n óm bạn trai – bạn ái. Kết n óm bạn
    mặc váy – mặc quần. Kết n óm bạn tóc n ắn – tóc dài.
    – Tôi bao quát và n ận xét kết quả c ơi của trẻ
    17
    “Kế ”
    * Trong giờ hoạt động ngoài trời:
    Hoạt độn vui c ơi là p ươn tiện mở rộn , củn cố, c ín xác oá n ữn
    biểu tượn của trẻ về iới tín . Tron k i t ực iện các àn độn c ơi, t ao tác
    c ơi, trẻ n ận ra được một vài đặc tín quen t uộc, một vài kiến t ức về iới
    tín , cũn là cơ ội để trẻ luyện tập n ữn kiến t ức về iới tín mà trẻ đã biết.
    Ví dụ: Tổ chức hoạt động có mục đích “Quan sát trang phục bạn trai,
    bạn gái”
    + Quan sát tran p ục bạn trai:
    Ai có n ận xét ì về tran p ục của bạn trai?
    – Màu sắc, ìn dán tran p ục n ư t ế nào?
    – Tran p ục có n ữn bộ p ận nào? Làm bằn c ất liệu ì?
    – Áo (quần) này mặc vào mùa nào?
    – Cô c o trẻ n ận xét áo quần của mìn , của bạn t eo n ận xét trên.
    – Các bạn ãy kể tên n ữn tran p ục quần áo của bạn trai?
    + Đối với tran p ục bạn ái cô làm tươn tự
    So sán tran p ục bạn trai, bạn ái
    * Khác nhau: Về kiểu dán , màu sắc, c ất liệu.
    * ố : Đều là tran p ục, p ục vụ c o sin oạt của bé
    18
    Cô k ái quát và iáo dục trẻ: Các bạn p ải luôn iữ vệ sin cá n ân, quần
    áo đầu tóc ọn àn , mặc tran p ục p ù ợp với iới tín của mìn .
    – r ch i vận động “kéo co”
    – Cô p ổ biến các c ơi, luật c ơi.
    + C ia lớp t àn 2 đội, đội nam kéo một bên và đội nữ kéo
    một bên
    + L Đội nào kéo qua vạc t ì đội đó c iến
    – Tôi tổ c ức c o trẻ c ơi, n ận xét sau k i c ơi.
    * Trong giờ hoạt động góc:
    K i tổ c ức trò c ơi đón vai t eo c ủ đề, tôi c o trẻ n ập vào các vai
    c ơi: Ôn bà, bố mẹ, dì c ú, c ú t ím, an trai, c ị ái,…c o trẻ trải n iệm
    n ữn vai c ơi. K i trải n iệm các vai c ơi trẻ n ận biết được iới tín của vai
    c ơi mìn đan đảm n ận để từ đó trẻ có àn độn c ơi p ù ợp với iới tín
    của vai c ơi. Điều đó ìn t àn ở trẻ n ữn biểu tượn rõ ràn về iới tín
    – M đ C o trẻ ôn luyện lại n ữn kiến t ức về iới tín mà trẻ đã được
    thông qua các hàn độn c ơi p ù ợp với iới tín của mìn .
    – N ủ Trẻ sẽ đón vai bố, mẹ, em gái, em trai, an trai, c ị
    19
    gái….k i đảm n ận vai đó trẻ p ải t ực iện n ữn àn độn c ơi p ù ợp với
    iới tín của mìn .
    – ế
    + T oả t uận c ơi:Tôi tổ c ức c o trẻ t oả t uận dưới ìn t ức cả lớp về
    c ủ đề c ơi ôm nay là bé và ia đìn . Tôi ướn trẻ c ú ý tới việc t ể iện các
    vai c ơi p ù ợp với iới tín n ư: Mẹ t ì nấu cơm, bế con, mẹ là con ái, mặc
    váy, tóc dài…,bố iúp đỡ mẹ nấu cơm, bố là con trai, bố làm xây dựn …Sau đó
    cô c o trẻ tìm bạn c ơi và về óc c ơi t ực iện ý đồ c ơi của mìn .
    + N ận xét sau k i c ơi: Tổ c ức c o trẻ n ận xét sau k i c ơi dưới ìn t ức
    tập t ể về việc t ực iện vai c ơi mà trẻ n ận, về mối quan ệ sự p ối ợp iữa
    các vai c ơi, về tiêu c uẩn đạo đức mà trẻ đảm n ận.
    Ví dụ: K i trẻ t am ia c ơi trò c ơi “xây dựn ” trẻ p ải biết tron trò
    c ơi cần có n ữn vai c ơi nào, bạn trai ay bạn ái p ù ợp với n ữn vai c ơi
    đó? Côn việc của vai c ơi đó là ì? K i trẻ xây n ôi n à của bé trẻ p ải biết ai
    bạn trai p ù ợp côn trìn xây dựn , kiến trúc sư.
    xâ ự
    Hay k i c ơi phân vai, các bạn ái sẽ p ù ợp với côn việc là n ười bán
    àn , n ười nội trợ đảm đan .
    20
    ă
    *Trong giờ ăn, ngủ, vệ sinh:
    Tron quá trìn trẻ đi vệ sin trên lớp, n à vệ sin tôi dán ký iệu bạn trai,
    ký iệu bạn ái để c o trẻ p ân biệt được bên nào dàn c o bạn trai và bên nào
    dàn c o bạn ái, ngoài ra tôi còn iáo dục trẻ k i đi vệ sin các con c ú ý
    đón cửa lại và tuyệt đối k ôn được tò mò n òm n ó san n à vệ sin bên
    cạn bạn k ác iới của mìn để n ìn trộm bạn là một àn độn rất xấu.
    K ủ
    21
    Đối với iờ n ủ tôi c o trẻ trai nằm riên một dãy iườn , trẻ ái nằm
    riên một dãy mở c o trẻ n e n ữn bài át dân ca man iai điệu du dươn ,
    n ẹ n àn để trẻ dễ dàn đi vào iấc n ủ một các n ẹ n àn và bìn yên n ất.

    * Trong tổ chức hoạt động chiều:
    Tôi đọc sác c o trẻ n e về quy tắc 5 n ón tay sau đó đưa ra n ữn câu
    ỏi để trẻ trả lời:
    – Ai có n ận xét ì về quyển sác này?
    – Nội dun của quyển sác nói về điều ì?( Tôi c o trẻ xem ìn bàn tay)
    Tôi c ốt lại: Bàn tay rất ần ũi với các con, các con sử dụn các n ón tay từ lúc
    lọt lòn để k ám p á t ế iới xun quan …và năm n ón tay tươn ứn với 5
    vòn tròn iao tiếp của các con iúp các con nân cao kĩ năn tự bảo vệ đấy.
    – N ón tay cái tươn ứn với n ữn ai? (N ữn n ười ruột t ịt, ồm: ôn ,
    bà, bố, mẹ, an , c ị, em ruột của trẻ)
    – N ữn n ười ruột t ịt có t ể làm ì với con? (Ôm, ôn, bế, cõn ,
    tắm..c o trẻ)
    – N ón tay trỏ tươn ứn với n ữn ai? (N ữn n ười t ân, ồm: ọ
    àn , t ầy cô, bạn bè của trẻ)
    22
    – N ữn n ười t ân có t ể làm ì với con? (Nắm tay, vuốt tóc, xoa đầu,
    vỗ vai.. trẻ)
    – N ón tay iữa tươn ứn với n ữn ai? (N ữn n ười quen, ồm: àn
    xóm t ân t iết, bạn của bố mẹ mà ia đìn đều biết)
    – N ữn n ười quen có t ể làm ì với con? (Bắt tay, trò truyện với trẻ)
    – N ón tay áp út tươn ứn với n ữn ai? (N ữn n ười lạ với trẻ)
    – N ữn n ười lạ c ỉ có t ể làm ì với con? (C ỉ vẫy tay c ào)
    – N ón tay út tươn ứn với ai? (N ữn n ười đán n ại với trẻ)
    – N ữn n ười đán n ại có t ể là n ữn ai?
    – N ữn n ười này ây c o trẻ điều ì? (Bất an, k ôn t oải mái)
    – Với n ữn n ười đán n ại con có quyền làm ì? (P ản k án , tỏ t ái
    độ: Xua tay, ét to, bỏ c ạy…)
    => Tôi iáo dục trẻ: Các con cần biết bảo vệ bản t ân trước n ữn n ười lạ,
    n ất là n ữn bạn ái dễ bị dỗ dàn và n uy iểm có t ể luôn rìn rập các con ở
    mọi lúc, mọi nơi. Vì vậy các con p ải luôn cản iác với n ữn n ười lạ, n ữn
    n ười k ôn quen biết mà các con c ưa từn ặp bao iờ, n ữn n ười lớn tuổi, là
    nam iới t ì các con càn p ải trán xa, iữ k oản các và k ôn được lại ần ọ.
    N oài việc iản iải c o các con biết ý n ĩa các n ón tay tôi còn vận dụn
    qui tắc đồ lót để iúp trẻ iểu về tầm quan trọn của việc mặc đồ lót và tôi đã
    k uyên các bậc c a mẹ nên c o con mặc đồ lót từ sớm, tốt n ất từ k oản 3
    tuổi, rồi dặn con k u vực bên tron đồ lót là bất k ả xâm p ạm. Bất kể ai độn
    vào k u vực đó mà c ưa có sự đồn ý của con t ì đều là n ười xấu, dù có là
    n ười t ân t iết. Trẻ biết được quy tắc đồ lót có t ể iữ ìn bản t ân trán k ỏi
    p ần lớn các n uy cơ bị xâm ại.Tôi đã nói trẻ rằn

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Cùng trẻ thực hiện các thí nghiệm khoa học và giúp trẻ sáng tạo các sản phẩm từ các thí nghiệm khoa học đó

    SKKN Cùng trẻ thực hiện các thí nghiệm khoa học và giúp trẻ sáng tạo các sản phẩm từ các thí nghiệm khoa học đó

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
    Theo kết quả nghiên cứu của ngành giáo dục thì mầm non là bậc học quan
    trọng nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân và giữ một vai trò vô cùng quan
    trọng trong việc hình thành nên tính cách, đặc biệt là sự phát triển về mọi mặt
    của trẻ sau này. Ớ trường mầm non, trẻ không chỉ được chăm sóc, nuôi dưỡng,
    dạy dỗ mà trẻ còn được làm quen nhiều hoạt động khác nhau. Đặc biệt, Giáo
    dục mầm non trong xu thế đổi mới hiện nay có thể giúp trẻ tự khám phá và
    tìm hiểu bằng chính sự sáng tạo của mình một cách tự nhiên nhất có thể. Đây
    chính là xu hướng mới trong giáo dục mầm non ở nước ta hiện nay: “Giáo dục
    mầm non hiện đại hướng đến việc để trẻ học bằng chơi, chơi mà học”.
    Khi đến trường, trẻ được học bằng chơi, chơi mà học
    Hiện nay, một ngôi trường mầm non không chỉ đơn thuần là nơi có đầy đủ
    cơ sở vật chất, thoáng mát, rộng rãi … mà còn phải đảm bảo được chương trình
    giáo dục tiên tiến, giáo trình phát triển đa dạng, để trẻ học bằng chơi, chơi mà
    4
    học, giúp trẻ thoái mái vui chơi theo cách riêng của mình. Từ đó, phát triển khả
    năng tư duy và sáng tạo của trẻ. Ngoài ra, trường học còn là nơi giúp cho trẻ trải
    nghiệm được những kỹ năng sống, phát triển cả thể chất và tinh thần. Trẻ em
    cần được học mà chơi để phát triển cả thể chất và trí tuệ.
    Từ trước đến nay trong trường mầm non vẫn dạy trẻ làm quen, tìm hiểu
    môi trường xung quanh hay bây giờ là trẻ được khám phá khoa học, khám phá
    xã hội. Trong thực tế nhiều giáo viên thường chú trọng cho trẻ tìm hiểu bề ngoài
    của các đối tượng, đa số trẻ chỉ được hỏi và trả lời, ít khi cho trẻ tìm hiểu bản
    chất bên trong của các đối tượng mà trẻ được tìm hiểu, khám phá. Giáo viên ít
    đưa ra câu hỏi mở kích thích sự tìm tòi khám phá của trẻ, chính vì vậy trẻ có ít
    trải nghiệm và điều kiện để giải quyết vấn đề mà trẻ dự đoán. Hiện nay, nhiều
    trường cũng như trường mầm non Sao Vàng chúng tôi, khi dạy trẻ khám phá
    khoa học sẽ lồng ghép thêm những thí nghiệm khoa học nhỏ, đơn giản, gần gũi
    để cùng trẻ thực hiện, khám phá những bí ẩn đằng sau những thí nghiệm ấy. Lứa
    tuổi mần non luôn là lứa tuổi hồn nhiên, vô tư, trong sáng nhất. Ở lứa tuổi này,
    trẻ em có nhu cầu rất lớn trong việc tiếp xúc và nhận thức thế giới xung quanh,
    trẻ tò mò, hiếu kì, thích khám phá mọi sự việc, sự vật xung quanh. Trẻ nhỏ nào
    cũng rất say mê với những trò đuổi bướm bắt ve hái hoa. Trẻ thích ngắm nhìn
    trời đất nhìn mây bay nhìn những giọt mưa rơi tí tách . Những lúc ấy trong đầu
    trẻ có bao nhiêu điều thắc mắc: Tại sao lại có ban ngày – ban đêm, tại sao lại có
    mưa, tại sao lại có mưa, mưa từ đâu rơi xuống, cây xanh có từ đâu, vì sao nó
    sống được, mây từ đâu bay đến và sẽ bay về đâu, tối nó có đi ngủ như mình
    không, tại sao cầu vồng lại có nhiều màu, màu sắc ở đâu ra?… hay làm thế nào
    để quả trứng nổi được trên mặt nước, làm sao để chọc que vào quả bóng mà
    không nổ ?…Những câu hỏi vì sao, tại sao, như thế nào, có được không… luôn
    xuất hiện trong đầu của trẻ hàng ngày, hàng giờ.
    Hoạt động khám phá khoa học là một trong những nội dung cơ bản của
    chương trình mầm non mới, nó chiếm vị trí quan trọng trong việc tổ chức cho trẻ
    5
    tính tích cực khám phá hình thành củng cố và phát triển những tri thức cơ bản về
    tính chất nguyên liệu của đối tượng mà mình muốn tìm hiểu, nhằm thoả mãn
    nhu cầu nhận thức và mở rộng cho trẻ về cảm giác tri giác tư duy tưởng tượng.
    Các năng lực hoạt động trí tuệ như quan sát phân tích tổng hợp so sánh khái quát
    hoá suy luận.
    Trẻ luôn hào hứng đặt các câu hỏi
    nhằm giải đáp những thắc mắc của mình trong mọi giờ hoạt động
    Phụ huynh và xã hội ngày càng mong muốn con em mình được phát triển
    bắt kịp với trẻ em thế giới. Điều đó đòi hỏi các trường mầm non phải xây dựng
    được môi trường giáo dục với chương trình học tập hiện đại tiên tiến, đội ngũ
    giáo viên chuyên nghiệp. Giáo viên mầm non cần trau dồi kiến thức, củng cố xu
    hướng chuyên nghiệp hóa trong giáo dục mầm non, được đào tạo thường xuyên,
    đảm bảo giáo viên luôn được lĩnh hội, cập nhập những đối mới trong giảng dạy
    để trở thành một người nghệ sĩ thực thụ, một người bạn của trẻ và để tạo ra một
    môi trường học tập và vui chơi tốt nhất cho trẻ. Bên cạnh đó, các thiết bị, dụng
    cụ trợ giảng cần phải được đầu tư, chuẩn bị để hỗ trợ trẻ học tập một cách tốt
    nhất và bắt kịp với xu thế 4.0 hiện nay.
    6
    Một trong những xu hướng lớn trong việc giáo dục mầm non chính là xu
    hướng áp dụng những chương trình giáo dục trải nghiệm, các quốc gia đi đầu
    trong xu hướng này đang chuyển hướng từ phương thức giáo dục truyền thống
    với cách giảng dạy theo giáo trình cứng nhắc và theo quy tắc sang mô hình giáo
    dục linh hoạt hơn. Trong đó, giáo viên sẽ giảng dạy, hỗ trợ trẻ thực hiện các bài
    học có giáo cụ thực hành đi kèm, việc của trẻ là tự tay thực hành nguyên tắc bài
    học cơ bản và sáng tạo thêm bài học đó theo suy nghĩ của mình. Với chương
    trình giáo dục tiên tiến như vậy, trẻ em không chỉ được trau dồi kiến thức
    chuyên môn mà còn có nhiều cơ hội phát triển bản thân, kích thích tính tự chủ,
    chủ động, sáng tạo của trẻ mầm non. Các chương trình giáo dục trải nghiệm
    Dongsim Gabe, Khoa học diệu kỳ, Tôi là Bảng màu, chương trình giáo dục
    STEM … luôn được các em nhỏ yêu thích.
    Trong những năm trở lại đây, nhiều trường mầm non cũng bắt đầu quan
    tâm tới việc đưa các chương trình giáo dục mầm non hiện đại vào giảng dạy.
    Những chương trình học bản quyền nước ngoài mới mẻ và cải tiến chất lượng
    được đưa vào các trường mầm non đã mang lại hiệu quả thực sự. Điển hình như
    Trường mầm non Sao Vàng của chúng tôi, trong năm học vừa qua, nhà trường
    đã mạnh dạn đưa giáo dục STEM tích hợp vào chương trình giáo dục mầm non
    nhằm khuyến khích phát triển sự sáng tạo của trẻ. Các chương trình học này
    không chỉ giúp trẻ phát triển tư duy sáng tạo mà còn kích thích tính tự chủ, chủ
    động của trẻ em lứa tuổi mầm non. Theo môi trường giáo dục tiên tiến, trẻ em
    không chỉ được trau dồi kiến thức chuyên môn mà còn có nhiều cơ hội phát triển
    bản thân, bắt kịp tư duy với trẻ em quốc tế.
    Vậy STEM là gì? STEM là: Science (Khoa học), Technology (Công
    nghệ), Engineering (Kỹ thuật), Math (Toán học)
    7
    Chương trình giáo dục STEAM bao gồm nhiều bộ môn.
    Mô hình giáo dục STEM là quá trình tích hợp kiến thức giữa các môn
    khoa học, kỹ thuật, toán học, công nghệ, qua đó xây dựng cho học sinh các kỹ
    năng được kết hợp hài hòa từ kiến thức của các bộ môn nói trên để sử dụng khi
    làm việc trong thế giới công nghệ ngày nay. Đồng thời STEM trang bị cho
    người học những kỹ năng về tư duy phản biện và giải quyết vấn đề; kỹ năng làm
    việc theo nhóm; khả năng tư duy chiến lược và định hướng mục tiêu; kỹ năng
    quản lý thời gian, nhằm chuẩn bị cho học sinh những tri thức thiết yếu nhất của
    thế kỉ 21, những kỹ năng có thể giúp tăng đáng kể ưu thế cạnh tranh của lao
    động ở mỗi quốc gia.
    Con đường tới STEM của trẻ mầm non vô cùng thú vị. Quan sát một đứa
    trẻ khi được trải nghiệm thực làm cùng STEM sẽ thấy chúng tập trung, say sưa,
    trí tưởng tượng được sáng tỏ, trí tò mò được thỏa mãn và hơn hết tình yêu, niềm
    đam mê với khoa học và công nghệ được nảy sinh. Tuy nhiên cũng có thể khó
    khăn nếu các nhà giáo dục bao gồm cả cha mẹ không thực sự hiểu rõ về STEM
    và quan trọng hơn là hiểu về cách học của chính những đứa trẻ ở độ tuổi mầm
    non để có cách hỗ trợ trẻ tốt nhất. Cha mẹ có thể tìm thấy rất nhiều các hoạt
    8
    động STEM trên mạng Internet, qua sách báo… nhưng tổ chức các hoạt động
    này như thế nào cho hiệu quả với trẻ mầm non thì có lẽ còn cần nhiều lời giải
    đáp.
    Thật may mắn cho chúng tôi đã được nhà trường quan tâm sát sao tổ chức
    lớp học bồi dưỡng chuyên môn làm quen, áp dụng chương trình giáo dục STEM
    một cách bài bản, được cấp bằng chứng nhận đã hoàn thành khóa học chương
    trình giáo dục STEM. Giúp chúng tôi nhận thấy Phƣơng pháp Stem cho trẻ
    mầm non được xem như bước khởi đầu để trẻ có thể học tập và trải
    nghiệm cuộc sống theo cách riêng.
    Nhà trường tổ chức cho cán bộ giáo viên tham gia lớp học
    Chương trình giáo dục theo phương pháp STEAM và đi tham quan thực tế.
    Giáo dục theo phƣơng pháp STEM là một chương trình giáo dục
    chuyên sâu, rộng lớn. Chính vì vậy, sau khi học xong và tìm hiểu kĩ hơn về
    chương trình giáo dục này, tôi cũng như các đồng nghiệp là giáo viên trong nhà
    9
    trường được sự phân công của Ban giám hiệu Nhà trường triển khai đưa STEM
    tích hợp vào chương trình học cho trẻ trong năm học này. Trong quá trình cho
    trẻ tiếp xúc với chương trình giáo dục theo phương pháp STEM, tôi nhận thấy
    trẻ vô cùng hào hứng, thích thú, đặc biệt là khi trẻ đươc tham gia làm các thí
    nghiệm khoa học nhỏ. Trẻ trầm trồ, kinh ngạc, thích thú và tự hào với kết quả,
    thành quả của mỗi thí nghiệm khoa học. Đặc biệt, tôi vô cùng kinh ngạc khi thấy
    nhiều trẻ vô cùng sáng tạo, tự tin đặt câu hỏi cho cô giáo hay đưa ra những ý
    tưởng mới lạ từ những sản phẩm được tạo ra trong từng thí nghiệm.
    Tiết thí nghiệm khoa học nhỏ:“Trứng chìm, trứng nổi”
    Ví dụ: Trong tiết thí nghiệm khoa học nhỏ mang tên “Trứng chìm, trứng
    nổi”, sau khi kết thúc thí nghiệm, trẻ đã nhận biết được vì sao trứng lại chìm, vì
    sao trứng lại nổi và đưa ra kết luận của mình về bài học ngày hôm đó. Bé Ngọc
    Anh lớp tôi đã hỏi cô: “Cô ơi, bây giờ mình sẽ làm gì với những quả trứng
    này?”, tôi ngạc nhiên nhưng rất thích thú quay ra hỏi bé: “ Thế theo con, cô cháu
    mình nên xử lí chỗ trứng này như nào?, bé hồn nhiên trả lời tôi: “ Con định để
    những quả trứng chín lại dùng để ăn, còn những quả trứng sống con muốn vẽ
    10
    hình lên đó cho đẹp ạ!”. Đúng là một ý tưởng tuyệt vời! Dựa vào đó, tôi đã khơi
    gợi trong trẻ: “Trứng sống sẽ dễ vỡ, vậy cô cháu mình phải làm sao để vẽ được
    hình lên trứng mà làm trứng không bị vỡ?, số vỏ trứng chín bóc rồi có còn làm
    được gì nữa không?…”. Thật bất ngờ, trẻ hào hứng sôi nổi đưa ra ý kiến, ý tưởng
    trả lời cho những câu hỏi của tôi. Sau khi bàn bạc thống nhất cùng nhau, cô trò
    chúng tôi quyết định bóc những quả trứng chín, rồi lấy vỏ làm tranh, hoặc làm
    phân bón cho cây, còn những quả trứng sống, các cô sẽ giúp châm một lỗ nhỏ
    trên đầu quả trứng để lấy hết lòng trứng bên trong ra, rồi rửa sạch phơi khô. Vậy
    là cô trò chúng tôi đã có nguyên liệu để hoạt động vào các tiết học khác rồi. Bật
    mí với các bạn, các con yêu quý của tôi đã tạo ra rất nhiều sản phẩm đẹp từ quả
    trứng đấy!
    Cô và trẻ cùng làm các sản phẩm từ quả trứng
    trong thí nghiệm “Trứng chìm, trứng nổi”
    Sau tiết học ngày hôm đấy, một ý tưởng đã xuất hiện trong đầu tôi: “Tại
    sao mình không tận dụng các thành quả của mỗi thí nghiệm khoa học đó để kích
    thích óc sáng tạo của trẻ, giúp trẻ tự tạo ra các sản phẩm đa dạng hơn, làm cho
    trẻ nhanh nhẹn, tự tin, làm cho đôi bàn tay trẻ thêm khéo léo, thuần thục hơn,
    giúp trẻ có thêm nhiều kinh nghiệm sống, phát triển toàn diện hơn về mọi mặt,
    11
    đáp ứng nhu cầu phát triển tiên tiến của xã hội của thế giới”. Chính với suy nghĩ
    ấy đã cho tôi lí do chọn đề tài “Cùng trẻ thực hiện các thí nghiệm khoa học
    và sáng tạo các sản phẩm từ thí nghiệm khoa học đó”.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KĨ THUẬT:
    II.1. Mô tả giải pháp kĩ thuật trƣớc khi tạo ra sáng kiến:
    Vì đây là năm đầu tiên trường mầm non Sao Vàng của chúng tôi bắt đầu
    triển khai tích hợp dạy trẻ theo chương trình giáo dục STEM một cách bài bản,
    lồng ghép vào những giờ ngoại khóa trong chương trình giáo dục mầm non mà
    nhà trường đã lên kế hoạch từ đầu năm học, nên bản thân tôi và các đồng nghiệp
    còn chưa có nhiều kinh nghiệm. Chúng tôi vừa triển khai vừa tìm tòi, học hỏi để
    nắm rõ phương pháp Stem, nâng cao trình độ chuyên môn của mình để có thể
    lựa chọn những bài học phù hợp với lứa tuổi mầm non.
    Phương pháp Stem cho trẻ mầm non được xem như bước khởi đầu để
    trẻ có thể học tập và trải nghiệm cuộc sống theo cách riêng của mình.
    * Ưu điểm của phương pháp STEM mầm non mang lại được tổng hợp
    qua các khía cạnh như sau:
    – Tiếp cận liên môn: Thay vì học nhiều môn học khác nhau,
    phương pháp Stem mầm non kết hợp những môn học tách biệt thành một mô
    hình gắn kết, qua đó trẻ trẻ vừa học được những kiến thức khoa học vừa vận
    dụng nó vào những hoạt động trong thực tế cuộc sống.
    – Tạo cho trẻ năng lực giải quyết vấn đề: Stem cho trẻ mầm non
    nói riêng và phương pháp Stem nói chung đều đề cao việc hình thành và phát
    triển các năng lực để giải quyết các vấn đề cho học sinh. Trong mỗi giáo án
    steam cho trẻ mầm non học, trẻ được đặt trước một tình huống thực tiễn cần
    phải giải quyết đòi hỏi trẻ phải vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết vấn
    đề đó.
    – Rèn luyện khả năng tư duy sáng tạo cho trẻ: Với ưu điểm này
    trẻ được đạt vào vai trò một nhà phát minh trẻ hiểu được bản chất vấn đề, từ
    đó liên hệ và vậ dụng sao cho phù hợp với tình huống mà trẻ có thể gặp phải.
    12
    – Hình thành và phát huy các kỹ năng mềm: Stem khác biệt hẳn
    với những phương pháp giáo dục khác chính bởi ưu điểm này. Khi tham gia
    vào mô hình giáo dục đặc biệt này, với tính ưu việt của nó, trẻ dần dần hình
    thành và có môi trường thuận lợi để phát triển các kỹ năng mềm khác, ban
    đầu là những kỹ năng dưới mức độ thấp, cấp kỹ năng được tăng dần theo từng
    cấp học tùy thuộc vào khả năng tiếp nhận kiến thức của mỗi trẻ.
    Làm việc nhóm giúp trẻ tự tin hơn
    Trẻ mầm non có tư duy theo lối trực quan, trẻ sẽ nhớ sẽ hiểu khi được
    trải nghiệm nó thực tế. Trong quá trình cho trẻ tiếp cận các bài học theo
    phương pháp STEM, tôi nhận thấy trẻ sáng tạo hơn rất nhiều, Stem cho phép
    và khuyến khích trẻ suy nghĩ vượt ra khỏi những giới hạn quy định, qua đó
    thúc đẩy sự sáng tạo tối ưu của trẻ ngay từ nhỏ. Ngoài ra, Stem còn đem đến
    cho trẻ sự tự tin vượt bậc. Bởi bằng trải nghiệm thực tế trẻ bắt buộc phải chủ
    động tìm tòi, học hỏi, khám phá cùng với việc phải kết hợp với bạn học để có
    thể giải quyết vấn đề, trẻ sẽ tự tin hơn trong giao tiếp cũng như thuyết trình
    trước đám đông. Với Stem trẻ được tiếp cận với những kiến thức mới dưới
    13
    cái nhìn đa chiều từ nhiều lĩnh vực, điều này rèn luyện khả năng tư duy phân
    tích để tìm ra cách xử lý tình huống một cách sáng tạo với tháu độ tích cực.
    Làm việc nhóm, làm việc tập thể là bước đầu của sự hợp tác trong học tập, trẻ
    có thể tranh luận, có thể phản biện các bạn khác để bảo vệ ý kiến của mình,
    nhưng nhìn chung đó chính là sự hợp tác để qua đó học sinh hoàn thành
    nhiệm vụ mà giáo viên đề ra.
    Khám phá khoa học qua những thí nghiệm là một phần của phương pháp
    STEM, vậy Thí nghiệm khoa học là gì?
    + Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì Thí nghiệm, hay thực
    nghiệm, là một bước trong phương pháp khoa học dùng để phân minh giữa mô
    hình khoa học hay giả thuyết. Thí nghiệm cũng được sử dụng để kiểm tra tính
    chính xác của một lý thuyết hoặc một giả thuyết mới để ủng hộ chúng hay bác
    bỏ chúng. Thí nghiệm hoặc kiểm nghiệm có thể được thực hiện bằng phương
    pháp khoa học để trả lời một câu hỏi hoặc khảo sát vấn đề. Trước tiên đó là thực
    hiện quan sát. Sau đó đặt ra câu hỏi, hoặc nảy sinh vấn đề. Sau đó, giả
    thuyết được hình thành. Tiếp đến thí nghiệm được đưa ra để kiểm tra giả thuyết.
    Kết quả thí nghiệm được phân tích, rồi vạch ra kết luận, đôi khi một lý thuyết
    được hình thành từ kết quả thí nghiệm, và các kết quả được công bố trên các tạp
    chí nghiên cứu. Một thí nghiệm thường có mục đích chính là kiểm tra giả thuyết.
    Tuy nhiên, thí nghiệm cũng được dùng để kiểm chứng câu hỏi hoặc kiểm tra kết
    quả trước đó. Thí nghiệm không phải là phương pháp duy nhất mà các nhà khoa
    học sử dụng để kiểm tra giả thuyết. Thí nghiệm thường dựa vào quan sát mà các
    điều kiện có thể được kiểm soát và điều chỉnh bởi người làm thí nghiệm nhằm
    loại bỏ các yếu tố không liên quan, thường thực hiện trong phòng thí nghiệm
    khoa học. Thông tin về tự nhiên (bản chất) cũng được thu thập và kiểm tra giả
    thuyết trong các nghiên cứu quan sát ngoài thực tế, đó là những quan sát về các
    hiện tượng trong thiên nhiên, mà không bị kiểm soát bởi người làm thí nghiệm.
    + Hay đơn giản với lứa tuổi mầm non thì Thí nghiệm khoa học chính là
    những hoạt động thực nghiệm mà trẻ tự tay thực hiện dưới sự hướng dẫn, chỉ
    14
    bảo, lựa chọn của người lớn để trả lời cho những thắc mắc về thế giới xung
    quanh trẻ và để giải quyết tính cách ham mày mò, khám phá, tìm hiểu những sự
    việc sự vật xung quanh trẻ.
    Góc STEM của lớp
    Thí nghiệm khoa học dù chỉ là một phần của phương pháp STEM nhưng
    lại là phần mà trẻ mầm non yêu thích nhất, hào hứng nhất. Mỗi thí nghiệm
    khoa học trẻ đều được học tập vui chơi “hết công suất”, trẻ được đưa ra ý kiến,
    trình bày ý tưởng, nhận xét của mình. Đặc biệt, sau mỗi thí nghiệm trẻ lại có
    thêm một kiến thức mới, có thêm lời giải mới cho vô vàn những câu hỏi tò mò
    của mình. Từ khi nhà trường đưa chương trình giáo dục Steam vào tích hợp
    giảng dạy, trẻ lớp tôi cũng như trẻ toàn trường được thực hiện các thí nghiệm
    khoa học nhiều hơn và bài bản hơn. Trẻ thích thú hơn mỗi khi đến lớp, về nhà
    luôn kể với ông bà bố mẹ và mọi người trong nhà rằng: “Con thích đi học
    lắm!” hay “Đi học vui lắm!”, những câu nói đó làm cho người giáo viên như
    15
    chúng tôi vui vô cùng và càng thêm yêu nghề hơn, đồng thời khiến cho các bậc
    phụ huynh tin tưởng, yên tâm khi gửi gắm con em tại trường.
    Trẻ thích khám phá bằng các giác quan và hoạt động tay chân. Vì vậy mỗi
    tiết học thí nghiệm tại phòng học Steam của trường lại mang đến cho trẻ nhiều
    trải nghiệm mới lạ và thú vị. Không còn là những kiến thức khô khan qua tranh
    ảnh, đến với giờ thí nghiệm trẻ sẽ được tự tay thực hiện các hiện tượng khoa
    học. Trẻ có thể làm núi lửa phun trào từ giấm và bột nở, quan sát sự kỳ diệu của
    màu nước qua thí nghiệm bảy sắc cầu vồng hay sức hút của nam châm với các
    chất liệu khác nhau. Không chỉ làm rõ về bản chất của sự vật, trong quá trình
    thực hiện thí nghiệm trẻ được cung cấp những kỹ năng mềm như làm việc
    nhóm, kỹ năng giao tiếp, tư duy phải biện và giải quyết vấn đề,… Qua đó, trẻ
    thỏa mãn trí tò mò và tăng niềm yêu thích của mình với khoa học. Đặc biệt, các
    bé được thực hiện thí nghiệm theo chủ đề mỗi tuần. Các thí nghiệm phù hợp với
    từng lứa tuổi và yếu tố an toàn được đặt lên hàng đầu. Từ những thí nghiệm đã
    thực hiện, trẻ sẽ bắt đầu nói cho mọi người nghe về sự vật, hiện tượng mà mình
    quan sát được; đồng thời đưa ra dự đoán và câu hỏi về sự vật hiện tượng đó. Khi
    đặt câu hỏi cũng chính là lúc tư tuy của trẻ được mở rộng, kích thích não bộ suy
    nghĩ. Đặc biệt, óc sáng tạo của trẻ được phát triển hơn nữa, khi trẻ được tái sử
    dụng các đồ dùng sử dụng trong thí nghiệm trẻ vừa học để làm nên nhiều sản
    phẩm khác nhau, làm phong phú đồ dùng đồ chơi trong lớp, lại giúp cô trang
    trí lớp theo từng chủ đề, từng lễ hội.
    Bước đầu thực hiên đề tài, tôi vô cùng vui mừng trước những kết quả đạt
    được, chính vì thế, tôi đã bắt tay ngay vào việc thực hiện đề tài “Cùng trẻ thực
    hiện các thí nghiệm khoa học và sáng tạo các sản phẩm từ thí nghiệm khoa
    học đó”. Trong quá trình thực hiện đề tài tôi nhận thấy rằng trẻ say mê, hăng
    hái, thích thú, khám phá được nhiều điều xung quanh dưới sự giúp đỡ, hướng
    dẫn, động viên của cô giáo. Và tôi còn vô cùng bất ngờ trước khả năng sáng tạo,
    óc tưởng tượng vô cùng phong phú của trẻ. Từ đó trẻ được tạo cơ hội, được chia
    sẻ những kiến thức đã tìm hiểu, được khoe những sản phẩm mà mình vừa tạo ra
    16
    với những người xung quanh, đây là cách để trẻ “tự hào” về những “sáng tạo”
    của mình.
    Khi kết thúc một giờ hoạt động thí nghiệm khoa học cùng trẻ, tôi thường
    khơi gợi trẻ ngay về ý tưởng sáng tạo ra các sản phẩm thông qua kết quả của các
    thí nghiệm khoa học vừa thực hiện. Trẻ hào hứng, tự tin đưa ra các ý kiến của
    mình. Sau khi cô trò thống nhất ý kiến, tôi sẽ chuẩn bị các nguyên vật liệu có sự
    phối kết hợp cùng đồng nghiệp và phụ huynh để thực hiện ý tưởng đã đưa ra.
    Sau đó, tôi sẽ tổ chức cho các con sáng tạo ra các sản phẩm mà các con thích
    vào các giờ hoạt động ngoại khóa hoặc trẻ có thể hoàn thành sản phẩm của mình
    ở nhà với sự giúp đỡ, hướng dẫn của cho mẹ.
    Trẻ tỉ mỉ, khéo léo tạo ra các sản phẩm của mình
    Tuy thời gian hướng dẫn trẻ sáng tạo ra các sản phẩm thông qua việc thực
    hiện các thí nghiệm khoa học nhỏ chưa nhiều và mới ở năm đầu tiên thực hiện
    cộng với khả năng của trẻ chưa đồng đều nên việc khơi gợi sáng tạo, hướng dẫn
    của cô giáo gặp nhiều khó khăn, vất vả và mất nhiều công sức. Tuy nhiên, trong
    quá trình thực hiện đề tài tôi đã may mắn nhận được sự giúp đỡ và ủng hộ nhiệt
    tình của Ban Giám Hiệu nhà trường cũng như cha mẹ trẻ và đồng nghiệp.
    17
    Trong quá trình tổ chức thực hiện sáng kiến: “Cùng trẻ thực hiện các thí
    nghiệm khoa học và sáng tạo các sản phẩm từ thí nghiệm khoa học đó”, tôi
    đã không ngừng tìm kiếm, học hỏi, nghiên cứu, sáng tạo ra những phương pháp
    nhằm kích thích óc sáng tạo của trẻ với tinh thần hào hứng, thích thú và say mê.
    Bên cạnh đó trẻ được rèn luyện nâng cao tính tỉ mỉ, cẩn thận và khéo léo của bản
    thân giúp trẻ phát triển hoàn thiện hơn.
    II.2 .Các giải pháp kĩ thuật sau khi tạo ra sáng kiến:
    a. Khảo sát khả năng, kĩ năng của trẻ.
    Khi bắt tay vào thực hiện đề tài, kĩ năng của trẻ lớp tôi còn khá đơn giản
    và không đồng đều. Vì vậy, để trẻ sáng tạo được nhiều sản phẩm đa dạng, phong
    phú mang tính thẩm mĩ cao và đạt được kết quả đồng đều thì trước khi thực hiện
    đề tài, tôi đã kiểm tra nhanh kiến thức về sự hiểu biết của trẻ thế nào là thí
    nghiệm khoa học, các đồ dùng dụng cụ như: ống đo, thước đo, ống chia lượng,
    kéo, búa, dao gọt, dây thép… dùng để làm gì và cách sử dụng như thế nào, kiểm
    tra trẻ cả khả năng quan sát, phân biệt màu sắc, đối tượng, óc sáng tạo tư duy
    cũng như các kĩ năng như: xé dán, bôi dán hồ, sử dụng kéo, nặn, đóng… như thế
    nào, đạt được ở mức độ nào, để khi lên kế hoạch thực hiện đề tài, tôi còn xây
    dựng kế hoạch nâng cao kiến thức cũng như kĩ năng cho trẻ và lựa chọn các thí
    nghiệm khoa học cho phù hơp với khả năng nhận thức cũng như kĩ năng của trẻ.
    Ví dụ 1: Vào giờ trả trẻ buổi chiều, tôi kiểm tra kĩ năng nặn để nắm bắt từng
    kĩ năng của các con, từ đó có kế hoạch nâng cao kĩ năng của trẻ hơn.
    18
    Kiểm tra kĩ năng nặn của trẻ
    Ví dụ 2: Mỗi ngày vào giờ đón trả trẻ hay giờ hoạt động vui chơi tự do, tôi sẽ
    đưa cho một đồ dùng dụng cụ cho trẻ quan sát, sử dụng dưới sự hướng dẫn chỉ
    bảo của cô giáo. Để từ đó tôi vừa đánh giá được khả năng, kĩ năng của trẻ lại
    vừa rèn luyện nâng cao khả năng, kĩ năng cho trẻ.
    Bên cạnh đó, tôi còn khảo sát khả năng quan sát, phân biệt màu sắc, đối
    tượng, óc sáng tạo tư duy của trẻ thông qua các giờ hoạt động hàng ngày như:
    đón trả trẻ, hoạt động chiều… bằng cách trò chuyện, đặt câu hỏi cho trẻ, gợi ý
    kích thích tư duy của trẻ.
    Ví dụ 3: Trong giờ đón trẻ, tôi cho trẻ quan sát cái đồng hồ. Sau khi cho
    trẻ quan sát, tôi cho trẻ nhận xét cái đồng hồ như thế nào ( đặc điểm, hình dáng,
    màu sắc, công dụng) để đánh giá khả năng quan sát, tư duy của trẻ như thế nào,
    trẻ phát hiện ra âm thanh của đồng hồ khi kim đồng hồ chạy, hay đưa ra ý kiến
    nhìn thấy đồng hồ có nhiều kiểu dáng khác nhau, có trẻ nhận thấy sự khác nhau
    từ những chi tiết nhỏ như: số trên các kiểu đồng hồ có các kiểu khác nhau, có
    đồng hồ chỉ có 4 số còn các số khác có biểu tượng là vạch…Rồi tôi đưa ra
    những gợi ý như: nếu làm một cái đồng hồ mà con thích thì con sẽ làm như thế
    nào”, để trẻ nói lên ý tưởng của mình.
    Ví dụ 4: Cho trẻ sử dụng kéo để cắt ( cắt thẳng, cắt lượn, cắt tròn,…), sử
    dụng búa để đóng, sử dụng kéo để dán… rồi kĩ năng sử dụng sự khéo léo của
    đôi bàn tay: tết tóc, uốn thép, xâu hạt, ghép cánh hoa… Từ những việc đơn giản
    đó, tôi phân tích, đánh giá được khả năng của trẻ và có kế hoạch nâng cao khả
    19
    năng của bản thân từng trẻ qua mỗi giờ ngoại khóa cùng với sự giúp đỡ, kết hợp
    của đồng nghiệp và phụ huynh như: rèn kĩ năng sử dụng kéo, dao, búa… vào giờ
    đón, trả trẻ hay giờ hoạt động chiều, nhờ các bậc phụ huynh dậy con một số kĩ
    năng tại nhà giúp nâng cao khả năng bản thân mỗi trẻ để làm sao các sản phẩm
    trẻ sáng tạo ra đạt tính thẩm mĩ cao, dễ sử dụng và các sản phẩm đa dạng, phong
    phú hơn.
    Các nhóm trẻ cùng nhau quan sát bông hoa, cùng nhau trao đổi,
    đưa ra ý kiến, thống nhất và trình bày ý kiến của mình của nhóm.
    Hay tôi chia trẻ thành từng nhóm, rồi mỗi nhóm tự lựa chọn 1 đồ vật, đồ
    dùng, con vật hay bức tranh nào đó, yêu cầu cả nhóm trẻ cùng bàn bạc, thống
    nhất ý kiến rồi đại diện mỗi nhóm sẽ lên trình bày đặc điểm của đồ vật, đồ dùng,
    con vật hay bức tranh ấy để giúp trẻ biết trao đổi hoạt động nhóm, biết tự tin đưa
    ra đánh giá nhận xét của mình cũng như của nhóm.
    Mỗi ngày như vậy, tôi lại hỏi trẻ, gợi ý đồ vật sự việc để trẻ quan sát từ
    nhà đến ngoài đường và khi đến lớp sẽ kể cho cô cùng các bạn nghe hay lại cùng
    nhau kết nhóm cùng thảo luận, chia sẻ, thống nhất ý kiến. Từ đó, trẻ dần tăng
    20
    khả năng quan sát, óc tưởng tượng và sáng tạo hơn, biết hoạt động nhóm, cùng
    đưa ra ý kiến, thống nhất và biết trình bày ý kiến của mình của nhóm. Điều đó sẽ
    làm cho trẻ hình thành và phát triển những kĩ năng cần thiết để giúp trẻ hoàn
    thiện hơn trong nhân cách trí tuệ của mình.
    Mỗi lần đánh giá khả năng của trẻ tôi đều cẩn thận làm phiếu đánh giá
    tổng thể để đảm bảo trẻ đã đạt những kĩ năng cần thiết, giúp cho việc sáng tạo
    các sản phẩm được đẹp và đa dạng.
    Phiếu đánh giá kĩ năng của trẻ
    Sau khi khảo sát nhanh khả năng và kĩ năng của trẻ lớp mình, tôi bước
    đầu đã nắm bắt được khả năng chung của cả lớp cũng như khả năng từng cá
    nhân trẻ. Việc này giúp cho tôi xây dựng kế hoạch, rèn luyện nâng cao kĩ năng
    cho trẻ, sắp xếp hợp lý khi chia trẻ vào các nhóm và lựa chọn các hoạt động cho
    phù hợp, sao cho sau khi thực hiện đề tài xong, trẻ lớp tôi có thể tự tin khoe:
    “Hôm nay con được làm thí nghiệm khoa học về cái này về cái kia…”, và còn
    tuyệt vời hơn nữa trẻ còn khoe: “Con làm được cái cốc ( cái đèn, bông hoa, con
    cá, ngôi sao, tranh vẽ…) từ đồ sử dụng trong thí nghiệm khoa học nào đó cơ!”.
    21
    Rồi trẻ say mê kể cho mọi người cách làm, cách sử dụng những sản phẩm từ
    chính tay bé sáng tạo ra.
    b, Mô tả các giải pháp kĩ thuật sau khi tạo ra sáng kiến:
    Giải pháp 1: Tìm tòi học hỏi nâng cao trình độ bản thân từ đó xây dựng
    kế hoạch, lựa chọn các thí nghiệm khoa học phù hợp.
    Để có thể giúp trẻ sáng tạo nên các sản phẩm thông qua việc thực hiện các
    thí ngiệm khoa học nhỏ một cách đạt hiệu quả nhất. Ngoài việc được nhà trường
    tạo cơ hội tham gia lớp học về giáo dục Stem, được tham quan ngôi trường lớn
    có nhiều kinh nghiệm thực hiện phương pháp giáo dục Stem trên Hà Nội và
    được dự giờ một số cách tổ chức hoạt động Stem tại trường, bản thân tôi đã học
    hỏi được rất nhiều kiến thức bổ ích và yêu thích chương trình này. Mặc dù từ
    trước tới nay, tôi cũng như các giáo viên trong trường vẫn tổ chức cho trẻ tham
    gia các thí nghiệm khoa học nhỏ nhưng chỉ ở mức độ đơn giản chứ chưa hệ
    thống như giáo dục Stem. Tuy nhiên đây cũng là năm đầu tiên nhà trường áp
    dụng phương pháp giáo dục này nên để hiểu rõ và nắm thật chắc về Stem, tôi
    vẫn cần phải tìm tỏi học hỏi thêm rất nhiều.
    Sau khi nâng cao trình độ cho mình nhờ việc tìm tòi, học hỏi qua sách
    báo, internet và những người có kinh nghiệm, tôi đã tự tin hơn khi tổ chức cho
    trẻ tham gia các hoạt động thí nghiệm khoa học một cách bài bản và có hệ
    thống. Sau mỗi lần thực hiện thí nghiệm xong, tôi thấy những sản phẩm là thành
    quả thí nghiệm đó bị bỏ đi khá phí phạm, kết hợp với một số ý tưởng của trẻ, tôi
    đã nảy ra ý tưởng thực hiện đề tài này.
    Muốn thực hiện được đề tài này, ngoài việc tìm tòi học hỏi nâng cao trình
    độ bản thân, tôi cần xây dựng một kế hoạch cụ thể, chi tiết và chu đáo, để làm
    sao phát huy hết óc sáng tạo cũng như năng lực bản thân từng trẻ.
    Kế hoạch bao gồm các bước sau:
    – Phân tích, đánh giá khả năng của trẻ qua việc cho trẻ thực hiện sáng tạo
    một số sản phẩm qua thí nghiệm khoa học đơn giản và dễ làm.
    22
    – Sau khi đánh giá kĩ năng của từng cá nhân trẻ, tôi tổng hợp lại để đánh
    giá kĩ năng của cả lớp. Từ đó, có kế hoạch rèn cho trẻ những kĩ năng cần thiết,
    phát triển sự nhanh nhẹn, óc sáng tạo, tỉ mỉ cẩn thận và khéo léo ở trẻ.
    Bảng tổng hợp đánh giá một số kĩ năng, khả năng
    của trẻ đầu năm

    Kĩ năngKhông có
    kĩ năng
    Có kĩ
    năng
    Có kĩ
    năng tốt
    1. Kĩ năng cắt dán (Sử dụng kéo)2%76%32%
    2. Kĩ năng sử dụng dao83%17%0%
    3. Kĩ năng sử dụng búa74%26%0%
    4. Kĩ năng vẽ, tô màu3%69%28%
    5. Kĩ năng xé dán29%57%14%
    6. Kĩ năng nặn17%63%20%
    7. Kĩ năng buộc dây, thắt nút77%21%2%
    8. Kĩ năng gấp giấy41%48%11%
    9. Kĩ năng sử dụng màu nƣớc58%35%7%
    10. Khả năng trình bày ý tƣởng80%19%0%
    11. Khả năng hoạt động nhóm, trao
    đổi thống nhất ý kiến
    87%13%0%
    12. Khả năng đánh giá, nhận xét68%26%6%
    13. Khả năng quan sát33%58%9%
    14. Khả năng ghi nhớ14%74%12%
    15. Khả năng sáng tạo57%36%7%

    23
    Ví dụ: Khi cho trẻ thực hiện xong thí nghiệm “Nhuộm vải”, thành quả đạt
    được sau thí nghiệm là các miếng vải nhiều màu sắc, nhiều miếng vải có vân
    hình nhiều màu rất đẹp. Để tận dụng những miếng vải tạo thành những sản
    phẩm đa dạng như: tranh vải, kết cánh hoa, đèn vải, nơ cài tóc… Để những sản
    phẩm này đẹp và trẻ có thể làm nhiều mẫu sản phẩm thì tôi sẽ luyện cho trẻ cách
    cầm kéo, sử dụng kéo, đan dây, dán, thắt nơ… cho thuần thục.
    – Lựa chọn các thí nghiệm khoa học phù hợp với độ tuổi, khả năng của
    trẻ, phù hợp với chủ đề, chủ điểm trong chương trình giáo dục mầm non, các
    ngày lễ hội trong năm. Các thí nghiệm dễ sáng tạo được nhiều sản phẩm đa
    dạng.
    – Phân chia, sắp xếp các hoạt động thí nghiệm khoa học hợp lí theo từng
    chủ đề, chủ điểm trong chương trình giáo dục mầm non, các ngày lễ hội trong
    năm và thời gian cho phù hợp.
    – Chuẩn bị các đồ dùng đồ chơi nguyên vật liệu đầy đủ, phong phú để tổ
    chức các thí nghiệm khoa học và giúp trẻ sáng tạo được nhiều sản phẩm từ
    những thí nghiệm khoa học đó.
    – Bàn bạc, chia sẻ ý tưởng, đóng góp ý kiến, phối hợp cùng đồng nghiệp
    trọng việc thực hiện sáng kiến.
    – Tổ chức cho trẻ sáng tạo được nhiều sản phẩm từ những thí nghiệm khoa
    học nhỏ.
    + Tổ chức hoạt động thí nghiệm khoa học cho trẻ.
    + Cô kích thích óc sáng tạo của trẻ, tự tin mạnh dạn đưa ra các ý
    kiến của mình trong việc sáng tạo các sản phẩm dựa vào kết quả thí nghiệm vừa
    thưc hiện.
    + Chuẩn bị nguyên vật liệu đồ dùng đồ chơi và kĩ năng cần thiết
    cho trẻ trước khi cùng trẻ sáng tạo được nhiều sản phẩm từ những thí nghiệm
    khoa học đó.
    24
    + Thực hiện các ý tưởng đã thống nhất, tạo các sản phẩm
    + Nhận xét, tuyên dương, động viên, nhắc nhở, rút kinh nghiệm cho
    trẻ để nâng cao kĩ năng và hoàn thiện các sản phẩm tiếp theo.
    – Tuyên truyền, phối kết hợp với cha mẹ trẻ, cộng đồng trong việc giúp trẻ
    sáng tạo ra các sản phẩm thông qua việc thực hiện các thí nghiệm khoa học nhỏ.
    Sau khi xây dựng kế hoạch chi tiết và nắm được khả năng, kĩ năng của trẻ
    lớp mình, tôi bắt đầu lựa chọn các thí nghiệm khoa học vừa phù hợp với lứa
    tuổi, phù hợp với khả năng kĩ năng của trẻ và vừa dễ sáng tạo ra các sản phẩm
    thông qua việc thực hiện các thí nghiệm khoa học đó.
    CÁC THÍ NGHIỆM KHOA HỌC

    STTTên thí nghiệm khoa học
    1Trứng chìm, trứng nổi.
    2Thí nghiệm đổi màu khi pha trộn màu sắc
    3Nhuộm vải
    4Trộn dầu ăn với nước
    5Làm bóng nảy với trứng
    6Sự phân hủy của lá
    7Bông Hoa đổi màu
    8Sự phát triển của cây xanh
    9Thí nghiệm thoát hơi nước của lá
    10Mực vô hình
    11Vũ điệu của sữa
    12Sự thấm hút của nước (Hoa giấy)
    13Lực hút của nam châm (Thú cưng tinh nghịch)

    25

    14Lực ma sát
    15Lực đẩy của khí (Cùng phóng tên lửa)
    16Sự kì diệu của Nam Châm
    17Hiệu ứng thị giác
    18Mực nổi
    19Lực đẩy (Ống bắn pháo hoa)
    20Cát động lực

    Giải pháp 2: Phân chia, sắp xếp các hoạt động thí nghiệm khoa học
    hợp lí theo từng chủ đề trong chương trình giáo dục mầm non, các ngày lễ
    hội trong năm và thời gian cho phù hợp.
    Sau khi đã lên kế hoạch chi tiết và lựa chọn các thí nghiệm khoa học phù
    hợp, tôi đã sắp xếp các thí nghiệm khoa học đó từ dễ đến khó, từ quen thuộc gần
    gũi đến các thí nghiệm khoa học nâng cao dần độ khó và phức tạp dựa theo
    chương trình hoạt động giáo dục trong năm học của trẻ, sao cho đảm bảo có thời
    gian giúp trẻ hoạt động với những thí nghiệm khoa học đó. Rồi tôi tham khảo ý
    kiến đồng nghiệp, tìm hiểu và đưa ra những dự kiến sáng tạo đồ dùng đồ chơi từ
    việc thực hiện những thí nghiệm khoa học để từ đó lên kế hoạch, chuẩn bị các
    phương pháp, câu hỏi gợi ý, kích thích óc sáng tạo của trẻ để tạo ra các sản
    phẩm đa dạng phong phú.
    KẾ HOẠCH THỰC HIỆN THÍ NGHIỆM KHOA HỌC
    VÀ SÁNG TẠO CÁC SẢN PHẨM TỪ KẾT QUẢ
    CÁC THÍ NGHIỆM KHOA HỌC ĐÓ THEO CHỦ ĐỀ
    ( dựa theo ý thích, sáng tạo của trẻ)
    26

    Chủ đềThời gianLễ hộiThí nghiệm khoa học
    Trường
    Mầm non
    Thực hiện 3 tuần
    ( từ 7/9 đến
    25/9/2020)
    – Ngày khai giảng
    – Trung thu
    -Trộn dầu ăn với nước màu
    -Sự phát triển của cây xanh
    Bản thânThực hiện 4 tuần
    ( từ 28/9 đến
    23/10/2020)
    Ngày phụ nữ Việt
    Nam 20/10
    -Thí nghiệm đổi màu khi pha
    trộn màu sắc.
    – Hiệu ứng thị giác
    Gia đìnhThực hiện 4 tuần
    ( từ 26/10 đến
    20/11/2020)
    – Lễ hội Hallowen
    31/10
    – Ngày nhà giáo
    Việt Nam 20/11
    – Nhuộm vải
    – Trứng chìm, trứng nổi.
    Nghành
    nghề
    Thực hiện 4 tuần
    (Từ 23/11 đến
    18/12/ 2020)
    – Làm bóng nảy với trứng
    – Vũ điệu của sữa
    Thế giới
    Động vật
    Thực hiện 4 tuần
    (Từ 21/12/2019 đến
    15/1/2020 )
    – Ngày Noel
    – Tết dương lịch.
    – Lực hút của nam châm
    (Thú cưng tinh nghịch)
    – Mực nổi
    Thế giới
    Thực vật
    Thực hiện 4 tuần
    (Từ 18/01/2020 đến
    19/2/2021 )
    (dự kiến nghỉ tết
    Nguyên từ ngày 8/2
    đến 16/2/2021)
    – Ngày Noel
    – Tết Nguyên Đán
    – Sự phân hủy của lá
    – Sự thấm hút của nước ( Hoa
    giấy)
    Giao thôngThực hiện 4 tuần
    từ 22/2-19/3/2021
    Ngày Quốc tế
    Phụ Nữ 8/3
    – Lực đẩy của hơi (Cùng
    phóng tên lửa)
    – Bông Hoa đổi màu

    27

    Hiện tượng
    tự nhiên
    Thực hiện 4 tuần
    từ ngày 22/3 đến
    16/4/2021
    – Mực vô hình
    – Sự kì diệu của Nam Châm
    Quê Hương
    – Đất nước
    – Bác Hồ
    Thực hiện 4 tuần
    từ ngày 19/4 đến
    14/5/ 2021
    – Ngày 30/4
    – Ngày Quốc tế
    lao động 1/5
    – Thí nghiệm vê lực đẩy
    (Ống bắn pháo hoa)
    Thí nghiệm
    khoa học
    dự phòng
    – Lực ma sát
    – Thí nghiệm thoát hơi nước của lá
    – Cát động lực

    Trong quá trình thưc hiện sáng kiến của năm học này, dựa vào bảng kế
    hoạch trên mà tôi đã lập, tôi đã thực hiện những ý tưởng của mình mà không
    làm ảnh hưởng đến những hoạt động khác trong ngày của trẻ bằng cách tổ chức
    ngoài giờ, giờ sinh hoạt chiều, đón trả trẻ…Ngoài ra, tôi còn rèn thêm kĩ năng
    cho trẻ vào các hoạt động hàng ngày, vừa nâng cao kĩ năng cho trẻ vừa giúp các
    sản phẩm sáng tạo của trẻ đạt tính thẩm mĩ cao hơn.
    Ví dụ: Trong chủ đề “Trƣờng Mầm Non”, dựa vào kế hoạch, sau khi
    thực hiện thí nghiệm khoa học Trộn dầu ăn với nƣớc màu, tôi gợi ý cho trẻ với
    kết quả thí nghiệm vừa thực hiện, trẻ sẽ làm được những sản phẩm gì. Sau khi
    thống nhất ý tưởng cô trò chúng tôi sẽ làm: đèn màu và chuông gió. Tôi kết
    hợp với đồng nghiệp cùng lớp, với các bậc cha mẹ học sinh và giao nhiệm vụ
    cho trẻ chuẩn bị đồ dùng, nguyên vật liệu: dây dù nhiều màu ( dây thừng, dây
    màu…), Chai nhựa các kiểu. ( chai, lọ, cốc trong suốt), Bìa carton, hạt vòng các
    màu, xốp màu óng ánh nhiều màu… để buổi sau cùng làm các sản phẩm từ kết
    quả thí nghiệm khoa học Trộn dầu ăn với nƣớc màu. Buổi hoạt động ngày
    28
    hôm sau, dưới sự hướng dẫn của các cô giáo, trẻ đã tạo ra những chiếc đèn màu,
    chuông gió cực đẹp, nhiều mẫu mã đa dạng.
    Kết quả đạt được thay đổi theo từng ngày, trẻ vô cùng hào hứng, thích
    thú, say mê với những sản phẩm của mình, kĩ năng của trẻ ngày càng được nâng
    cao và hoàn thiện.
    Giúp trẻ sáng tạo ra các sản phẩm thông qua việc thực hiện
    Thí nghiệm khoa học Trộn dầu ăn với nƣớc màu
    Sản phẩm đèn chiếu sáng, chuông gió
    từ thí nghiệm khoa học Trộn dầu ăn với nước màu

    Tên thí
    nghiệm
    Trộn dầu ăn với nƣớc
    CHUẨN BỊVỏ chai nước, Nước, Màu thực phẩm, Dầu ăn,
    Nước rửa bát.
    Cho màu thực phẩm vào nước rồi cho thêm dầu ăn.

    29

    THÍ
    NGHIỆM
    Đóng nắp lại và lắc.
    Đặt trai đứng yên, bạn sẽ thấy dầu nổi lên phía trên mặt.
    HIỆN
    TƢỢNG
    Dầu ăn và nước không hòa tan vào nhau tạo thanh 2 lớp màu rất
    đẹp.
    GIẢI
    THÍCH
    Do các phân tử dầu đẩy nước rất mạnh (lực đẩy nước tầm xa) và
    vì thế chúng không thể phân tán vào trong nước.
    Điều đó cũng có nghĩa là bạn chỉ có thể tạo ra nhũ tương dầu –
    nước bằng cách lắc hỗn hợp của chúng lên và cho vào đó các
    chất ổn định.
    KẾT QUẢTrong chai tạo thành những tầng màu chất lỏng trông rất đẹp
    mắt.
    GỢI Ý
    Ý TƢỞNG
    – Làm đèn màu.
    – Làm chuông gió.
    KĨ NĂNG
    CẦN CÓ
    – Làm việc nhóm, Thắt nút buộc dây
    – Pha màu, sử dụng kéo
    CHUẨN BỊ– Kéo, dao rạch, dây dù nhiều màu ( dây thừng, dây màu…)
    – Chai nhựa các kiểu. ( chai, lọ, cốc trong suốt)
    – Keo nến, súng bắn keo.
    – Bìa carton, vòng thể dục nhỏ, 1 đèn tròn có dây cắm điện, hạt
    vòng các màu, xốp màu óng ánh nhiều màu…
    TIẾN
    HÀNH
    – Chia trẻ thành 5 nhóm ( mỗi nhóm từ 5-6 trẻ)
    – Cho trẻ nhắc lại thí nghiệm mới thực hiện và kết quả đạt được
    của thí nghiệm đó.
    – Cô nhắc lại ý tưởng đã thống nhất.
    – Cô cho các nhóm thảo luận xem các nhóm lựa chọn làm sản
    phẩm gì.
    – Các nhóm thảo luận, đưa ra ý kiến định làm sản phẩm của

    30

    minh như nào và phân công công việc tới các thành viên trong
    nhóm.
    – Nhóm trưởng mỗi nhóm lên trình bày ý tưởng tạo sản phẩm
    của nhóm mình.
    – Cô gợi ý cho trẻ nêu lại kĩ năng cần có khi tạo sản phẩm.
    – Trẻ thực hiện( Có sự hướng dẫn, giúp đỡ của cô giáo)
    + Làm đèn màu.
    . Cắt 5 -6 chai nhựa (có kích thước và hình dạng giống nhau)
    có chiều cao bằng nhau. Mỗi trẻ tự chọn màu mình thích thực
    hiện thí nghiệm trộn dầu ăn với nước. Dùng ni lông trắng đặt lên
    miệng chai rồi dùng dây màu buộc vào.
    . Xếp các chai màu xung quanh 1 miếng bìa hình tròn ( hoặc
    hình gì tùy trẻ lựa chọn). Cô giúp trẻ gắn các chai màu vào
    miếng bìa bằng súng keo, khoét 1 lỗ tròn dưới dấy bìa đủ để
    lồng bóng đèn qua, dính chắc bóng đèn vào đế bìa.
    + Làm chuông gió:
    . Trẻ chọn các chai nước nhỏ, có hình dáng khác nhau. Mỗi
    trẻ tự chọn màu mình thích thực hiện thí nghiệm trộn dầu ăn với
    nước. Trẻ dùng dây màu được trang trí thêm hạt vòng, ngôi sao,
    bông hoa bằng xốp màu buộc vào đầu chai.
    . Cô giúp trẻ buộc đều 5-6 chai nước quanh vòng thể dục (
    vòng thể dục có thể cuốn dây thừng xung quanh để trang trí cho
    đẹp). Làm dây treo chuông bên trên, ở giũa vòng tròn buộc quả
    chuông ở giữa ( không có cũng được).
    KẾT QUẢ-Trẻ có được những chiếc đèn màu rất đẹp ( khi cắm điện vào,
    ánh sáng sẽ tỏa chiếu qua các chai đèn rất lung linh).
    – Cô giúp trẻ treo chuông gió lên, các chai nước nhiều màu
    nhiều lớp xoay tròn trong nắng trông rất đẹp mắt.
    – Sản phẩm được trang trí chào đón năm học mới, trung thu.

    31
    Việc lựa chọn trước những thí nghiệm khoa học phù hợp đã giúp tôi xây
    dựng kế hoạch cụ thể, chuẩn bị sẵn nguyên vật liệu và xây dựng hệ thống câu
    hỏi hợp lí, giúp gợi mở óc sáng tạo của trẻ một cách nhanh chóng và đạt hiệu
    quả nhất trong việc tạo những sản phẩm đa dạng phong phú từ những thí nghiệm
    khoa học đó.
    Giải pháp 3: Phối kết hợp với các đồng nghiệp, cùng nhau bàn luận,
    chia sẻ kinh nghiệm, ý tưởng, đưa ra các ý kiến nhằm giúp trẻ sáng tạo ra các
    sản phẩm thông qua việc thực hiện các thí nghiệm khoa học nhỏ.
    Sau khi nghe tôi trình bày sáng kiến của mình, đồng nghiệp đang làm
    cùng lớp với tôi cũng như các đồng nghiệp trong tổ chuyên môn và Ban giám
    hiệu đều cảm thấy rất thích thú và hấp dẫn với đề tài này. Mọi người cùng bàn
    luận sôi nổi, đưa ra rất nhiều những ý kiến góp phần thực hiện sáng kiến ở mức
    tốt nhất. Từ những ý kiến của các đồng nghiệp tôi đã học hỏi và rút kinh nghiệm
    được nhiều bài học quý báu trong quá trình thực hiện sáng kiến.
    Đồng nghiệp đóng góp ý kiến cho sáng kiến cúa tôi
    32
    Khi đã hoàn toàn nhất trí, các đồng nghiệp của tôi đều nhiệt tình giúp đỡ,
    hỗ trợ, tham mưu cho tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài, cùng đưa ra ý
    kiến hợp lí trong việc lập kế hoạch, những cách thức tổ chức, khơi gợi ý tưởng,
    óc sáng tạo của trẻ để giúp trẻ sáng tạo ra các sản phẩm thông qua việc thực hiện
    các thí nghiệm khoa học nhỏ, để trẻ thích thú hơn với các thí nghiệm khoa học,
    phát triển hoàn thiện các kĩ năng, tăng tính cẩn thận, tỉ mỉ và khéo léo.
    Ví dụ: Khi lập kế hoạch thực hiện sáng kiến, đồng nghiệp cùng lớp tôi đã
    cùng bàn luận đóng góp ý kiến lựa chọn các thí nghiệm khoa học phù hợp với
    khả năng, kĩ năng của trẻ lớp tôi và giúp trẻ dễ sáng tạo ra các sản phẩm thông
    qua việc thực hiện các thí nghiệm khoa học đó. Đồng thời đóng góp ý kiến để tôi
    xây dựng hệ thống câu hỏi kích thích óc sáng tạo của trẻ. Hay khi tổ chức cho
    trẻ thực hiện các thí nghiệm khoa học và thực hiện làm các sản phẩm từ những
    thí nghiệm khoa học đó, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các đồng
    nghiệp cùng lớp và cùng tổ.
    Đồng nghiệp hỗ trợ và hướng dẫn trẻ cùng tôi
    33
    Tinh thần đoàn kết, giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong công việc đươc nâng cao,
    giúp việc thực hiện sáng kiến của tôi thêm nhiều ý tưởng hấp dẫn và đạt được
    nhiều kết quả khả quan hơn những gì tôi mong muốn.
    Giải pháp 4: Chuẩn bị các đồ dùng đồ chơi nguyên vật liệu đầy đủ,
    phong phú để giúp trẻ sáng tạo được nhiều sản phẩm từ những thí nghiệm
    khoa học.
    Để tổ chức hướng dẫn cho trẻ thực hiện các thí nghiệm khoa học và giúp
    trẻ sáng tạo được nhiều sản phẩm từ những thí nghiệm khoa học đó, ngay khi
    hoàn thành kế hoạch, lựa chọn những thí nghiệm khoa học và dự kiến các câu
    hỏi phát huy óc sáng tạo của trẻ, tôi đã chuẩn bị các đồ dùng dụng cụ nguyên vật
    liệu cần thiết để sẵn sàng sử dụng phục vụ những ý tưởng sáng tạo của trẻ.
    Đồ dùng dụng cụ nguyên vật liệu để tổ chức các thí nghiệm khoa học
    và giúp trẻ sáng tạo sản phẩm từ những thí nghiệm khoa học đó.
    34
    Dựa vào từng thí nghiệm đã lựa chọn, tôi đã lên danh sách các đồ dùng
    dụng cụ nguyên vật liệu cần thiết để phục vụ thí nghiệm đó, cũng như phục vụ
    nhu cầu sáng tạo được nhiều sản phẩm từ những thí nghiệm khoa học đó của trẻ.
    Sau đó, tôi chuẩn bị, tim kiếm thậm chí xin ủng hộ từ đồng nghiệp và các bậc
    cha me học sinh từ những nguyên vật liệu sẵn có, có thể tái sử dụng được đến
    những nguyên vật liệu cần có kinh phí như: giấy màu, xốp, dạ, keo nến, kéo, bao
    tải, hộp sữa, lon sắt, dây thừng, hộp nhựa…
    Đây chỉ là những đồ dùng dụng cụ, nguyên vật liệu chung được dùng hầu
    hết trong các thí nghiệm khoa học và các hoạt động sáng tạo sản phẩm từ những
    thí nghiệm khoa học đó. Mỗi thí nghiệm khoa học và mỗi hoạt động sáng tạo
    sản phẩm từ những thí nghiệm khoa học đó lại được chuẩn bị thêm một số
    nguyên vật liệu đặc thù của nó.
    Ví dụ:

    TÊN THÍ
    NGHIỆM
    KH
    CHUẨN BỊSẢN PHẨM
    GỢI Ý
    CHUẨN BỊ
    Trứng chìm,
    trứng nổi.
    – 2 quả
    trứng,
    – 2 ly nước
    – Một ít
    muối.
    – Tranh vỏ
    trứng.
    – Tạo hình
    quả trứng
    thành đồ
    trang trí.
    – Vỏ trứng đập vụn.
    – Vỏ trứng đã rửa sạch, phơi
    khô.
    – Bút vẽ, bút chì, bút dạ.
    – Màu vẽ.
    – Bìa giấy.
    – Keo, nước, Khăn lau.
    Thí nghiệm
    đổi màu khi
    pha trộn
    màu sắc
    – Cốc nước,
    – Phẩm màu.
    -Vẽ tranh.– Giấy vẽ.
    – Bút vẽ, bút chì, bút dạ.
    – Khăn lau

    35

    – Nước
    Nhuộm vải– Chậu nước
    màu (các
    màu sắc)
    – Vải trắng
    – Khăn lau
    tay
    – Giá phơi
    – Hoa vải.
    – Tranh vải.
    – Đồ trang
    trí.
    – Thép
    – kìm bấm, kéo, kim chỉ, dao
    rạch.
    – quả bóng tròn
    – Dây buộc nhiều màu hoặc dây
    kim sa.
    – Keo
    – Bìa cứng.
    Trộn dầu ăn
    với nƣớc
    – Vỏ chai
    nước,
    – Nước,
    – Màu thực
    phẩm,
    – Dầu ăn,
    – Nước rửa
    bát.
    – Đèn màu
    – Chuông gió.
    – Kéo, dao rạch, dây dù nhiều
    màu ( dây thừng, dây màu…)
    – Chai nhựa các kiểu. ( chai, lọ,
    cốc trong suốt)
    – Keo nến, súng bắn keo.
    – Bìa carton, vòng thể dục nhỏ,
    1 đèn tròn có dây cắm điện, hạt
    vòng các màu, xốp màu óng
    ánh nhiều màu…
    Làm bóng
    nảy với
    trứng
    – Trứng,
    – Giấm.
    – Bóng nảy
    – Đèn trứng.
    – Trứng đã ngâm giấm
    – Bút vẽ, bút chì, bút dạ.
    – Màu vẽ, Keo, nước
    – Khăn lau.
    Sự phân hủy
    của lá
    – Nước
    – Bột giặt
    – Thuốc tẩy
    – Tranh lá
    – In xƣơng lá
    màu
    – Bìa, giấy vẽ.
    – Kéo, keo sữa, keo nến, súng
    keo.

    36

    – Đèn xƣơng
    – Lọ thủy tinh, nến.

    Nhờ có sự ủng hộ nhiệt tình của các đồng nghiệp và các bậc cha mẹ học
    sinh, tôi đã chuẩn bị được rất nhiều nguyên vật liệu, giúp việc thực hiện sáng
    kiến nhanh chóng và đạt nhiều kết quả tốt nhất.
    Để trẻ có thể đạt kết quả tốt sau mỗi thí nghiệm và biết sáng tạo sản phẩm
    từ những thí nghiệm khoa học đó, tôi thường xuyên giới thiệu tên goi, đặc điểm,
    công dụng, cách dùng và những lưu ý khi sử dụng các đồ dùng dụng cụ, nguyên
    vật liệu đó cho trẻ. Khi trẻ đã nắm được, tôi cho trẻ tập sử dụng các đồ dùng
    dụng cụ, nguyên vật liệu đó vừa giúp trẻ hoàn thiện, nâng cao kĩ năng, giúp kĩ
    năng của trẻ đồng đều hơn và trẻ tự tin, mạnh dạn hoàn thành các thí nghiệm
    cùng cô, sáng tạo được nhiều các loại sản phẩm mang tính thẩm mĩ cao và đa
    dạng, phong phú về chủng loại.
    Hướng dẫn trẻ cách sử dụng kéo
    37
    và cách dùng kéo cắt giấy thành hình mong muốn.
    Qua mỗi lần được cô hướng dẫn, gợi ý trẻ càng ngày càng khéo tay, óc
    thẩm mỹ ngày càng phát triển hơn, nâng cao kĩ năng tạo hình. Cùng với sự hỗ
    trợ của các đồng nghiệp và các bậc phụ huynh trong việc giúp trẻ sáng tạo sản
    phẩm từ những thí nghiệm khoa học, trẻ đã tạo ra được rất nhiều sản phẩm đẹp,
    phong phú đa dạng mà lại phục vụ được nhu cầu vui chơi và học tập của trẻ.
    Giải pháp 5: Tổ chức cho trẻ sáng tạo được nhiều sản phẩm từ những
    thí nghiệm khoa học nhỏ.
    Để thực hiện được những thí nghiệm khoa học và làm được những sản
    phẩm từ kết quả của những thí nghiệm khoa học đó cần phải chuẩn bị rất nhiều,
    từ kĩ năng của trẻ đến đồ dùng dụng cụ nguyên vật liệu… Những hoạt động này
    được tôi lồng ghép vào chương trình giáo dục mầm non. Vì vậy, mỗi chủ đề tôi
    chỉ có thể cho trẻ thực hiện từ 1 – 2 hoạt động thí nghiệm khoa học và từ 1 – 2
    hoạt động làm sản phẩm từ kết quả của những thí nghiệm khoa học đó.
    Dựa vào kế hoạch đã xây dựng một cách đầy đủ và chi tiết cùng với sự
    chuẩn bị chu đáo về mọi mặt và sự đồng lòng giúp đỡ từ đồng nghiệp, phụ
    huynh, tôi đã tổ chức cho trẻ thực hiện các hoạt động thí nghiệm khoa học và
    sáng tạo sản phẩm từ kết quả của những thí nghiệm khoa học đó một cách hiệu
    quả. Trẻ hào hứng tham gia hoạt động, sau mỗi hoạt động, tôi lại rút kinh
    nghiệm cho những hoạt động sau, để kết quả đạt được ngày càng cao hơn. Trong
    khi đó, kĩ năng của trẻ càng ngày càng hoàn thiện và sản phẩm trẻ sáng tạo ra
    ngày càng đẹp và đa dạng phong phú.
    Ví dụ 1: Chủ đề Thế giới Thực Vật, tôi cho trẻ thực hiện thí nghiệm khoa
    học “Sự phân hủy của lá cây”, thí nghiệm này cần có thời gian thực hiện khá
    dài, thí nghiệm được thực hiện từ đầu chủ đề, mỗi tuần cô trò chúng tôi lại cùng
    kiểm tra sự thay đổi của lá, ghi nhận xét sự thay đổi đó, từ 12 đến 15 ngày, thí
    nghiệm mới có kêt quả: “Lá khô dần chỉ để lại xương lá rất là đẹp”, Tôi cho trẻ
    sử dụng xương lá cây để tạo ra rất nhiều sản phẩm: tranh lá, in xương lá màu,
    đèn lá…..
    38
    Cô cùng trẻ quan sát sự thay đổi của lá cây
    Bảng theo dõi sự phân hủy của lá
    39
    Các sản phẩm được trẻ sáng tạo thừ thí nghiệm “Sự phân hủy của lá”
    Ví dụ 2: Chủ đề Gia Đình, tôi cho trẻ thực hiện thí nghiệm khoa học “Thí
    nghiệm đổi màu khi pha trộn màu sắc”, thí nghiệm này giúp trẻ biết quy luật
    đổi màu khi trộn 2 màu khác vào nhau, giúp trẻ tự tạo ra được các màu sắc theo
    ý thích của mình. Dựa vào những màu sắc trẻ vừa pha trộn được, trẻ sẽ tự mình
    tạo nên các sản phẩm như: tranh vẽ, tranh in bàn tay, tranh in vân tay, tranh in
    bằng các dụng cụ đồ dùng quen thuộc, tranh phối màu in lá… để trẻ thấy được
    sự phong phú của màu sắc và những ứng dụng tuyệt vời của chúng. Những sản
    phẩm này trẻ có thể để ở lớp trang trí hoặc mang về nhà treo, hay đem làm qàu
    tặng cho những người thân yêu…
    40
    Cô cùng trẻ thực hiện thí nghiệm khoa học “Thí nghiệm đổi màu khi pha
    trộn màu sắc” và sản phẩm trẻ tạo ra từ thí nghiệm này.
    Ví dụ 3: Chủ đề Giao Thông, trong thời gian thực hiện chủ đề này có
    ngày lễ Quốc tế Phụ Nữ 8/3, tôi cho trẻ thực hiện thí nghiệm khoa học “Hoa
    đổi màu”, từ thí nghiệm đổi màu khi pha trộn màu sắc mà trẻ đã được thực
    hiện từ chủ đề trước, trẻ tự mình pha màu theo ý thích để đạt được những bông
    hoa như ý, nhận biết sự thay đổi mau sắc của hoa theo dòng chảy của nước từ
    thân hoa. Trẻ sử dụng làm quà tặng mẹ, tặng bà tặng cô nhân ngày 8/3.
    41
    Trẻ thực hiện thí nghiệm khoa học “Hoa đổi màu”
    và sản phẩm trẻ tạo ra từ thí nghiệm này.
    Trẻ vô cùng hào hứng, thích thú mỗi khi được thực hiện các thí nghiệm
    khoa học và càng tự hào hơn khi tự mình được làm ra các sản phẩm đẹp từ kết
    quả của những thí nghiệm đó: Giúp cô trang trí lớp, làm quà tặng bố mẹ ông bà,
    bạn bè và người thân,… Đó là những món quà kỉ niệm đầy ý nghĩa khi trẻ ở tuổi
    mầm non. Trẻ vui sướng khoe sản phẩm với ông bà bố mẹ khi đến lớp, tự hào
    khi nhận được những lời khen ngợi, lời cảm ơn hay thậm chí là những nụ hôn từ
    người thân của mình. Điều đó không những càng làm cho trẻ hăng hái hơn trong
    mọi hoạt động, phát triển hoàn thiện hơn về kĩ năng, nhận thức mà còn giúp trẻ
    biết quan tâm, yêu thương đến mọi người.
    42
    Trẻ khoe sản phẩm của mình với ông bà bố mẹ
    Sau mỗi buổi hoạt động, tôi lại cho trẻ cùng nhận xét sản phẩm của mình
    của bạn: vì sao dán hình bị ướt, vì sao đường cắt bị lẹm, sản phẩm của con đã
    đẹp chưa … Từ đó, trẻ rút kinh nghiệm cho lần làm sản phẩm sau, làm cẩn thận
    hơn, sản phẩm ngày càng đẹp hơn, tinh tế hơn, tăng kĩ năng tạo hình, mình ngày
    càng hoàn thiện phát triển óc thẩm mỹ, sáng tạo hơn.
    Giải pháp 6: Tuyên truyền, phối kết hợp với cha mẹ trẻ, cộng đồng
    trong việc giúp trẻ sáng tạo ra các sản phẩm thông qua việc thực hiện các thí
    nghiệm khoa học nhỏ.
    Sự đóng góp của các bậc cha mẹ học sinh là vô cùng to lớn, cần thiết và
    quan trọng. Để nhận được sự chia sẻ, đồng lòng, chung tay và chia sẻ với cô
    giáo tôi đã gửi đến phụ huynh gửi bài tuyên truyền kết hợp trao đổi với phụ
    huynh về lợi ích của các thí nghiệm khoa học cũng như việc sáng tạo các sản
    phẩm từ những thí nghiệm đó mang lại cho tr

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3-4 tuổi trong thời gian nghỉ học ở nhà phòng, chống dịch Covid-19

    SKKN Giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3-4 tuổi trong thời gian nghỉ học ở nhà phòng, chống dịch Covid-19

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN.
    Hiện nay trong trong điều kiện cuộc sống hiện đại, môi trường ô nhiễm vì
    khói bụi, hóa chất, con người phải đối mặt với nhiều bệnh tật, vi rút, vi khuẩn.
    Tình hình một số bệnh dịch diễn biến rất phức tạp, lây lan nhanh trong cả cộng
    đồng, trong các trường mầm non thường gặp các loại bệnh như: Tay chân
    miệng, thủy đậu, sởi, quai bị… Như chúng ta đã biết , hiện nay trên thế giới nói
    chung, nước ta nói riêng đang phải chống chọi với đại dịch bệnh Covid-19 rất
    nguy hiểm, nó lây lan rất nhanh trong xã hội, gây thiệt hại về tính mạng con
    người và tài sản rất lớn. Bệnh Covid-19 diễn biến rất phức tạp, những người có
    bệnh lý nền, người cao tuổi và trẻ em là nhóm có nguy cơ mắc bệnh cao nhất.
    Trước tình hình dịch bệnh, Bộ Y tế khuyến cáo mọi người dân đều hạn chế ra
    khỏi nhà và nghiêm túc chấp hành thông điệp 5K.
    Dịch Covid-19 bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ tháng 1/2020 với những
    diễn biến khó lường, phức tạp.Đại dịch đã ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế xã
    hội , đời sống của mỗi gia đình, trong đó có tác động không nhỏ đến trẻ em.
    Thay vì đến lớp, đến trường học tập cùng bạn bè thì các em phải ở nhà phòng
    dịch. Ngoài giờ học, thay bằng các cuộc vui chơi ngoài cộng đồng, tham gia các
    hoạt động xã hội thì các em phải tự chơi một mình ở nhà…Sự xáo trộn trong
    sinh hoạt hằng ngày cũng kéo theo nhiều mối đe dọa cho sự an toàn cũng như
    cuộc sống của trẻ, đặc biệt là trẻ mầm non.Mặc dù có nhiều ảnh hưởng đến đời
    sống, tuy nhiên, đây cũng là dịp thích hợp để giáo dục, bổ sung kỹ năng sống
    cho trẻ, là bước đệm để các em hoàn thiện nhân cách, lối sống hướng đến một
    con người hiện đại, toàn diện trong tương lai.
    Với trẻ mầm non tất cả những gì xung quanh đều mới lạ, hấp dẫn trẻ, kích
    thích sự tò mò, khám phá của trẻ. Song trẻ chưa ý thức được việc vệ sinh cá
    nhân, việc phòng chống dịch bệnh, bên cạnh đó cơ thể trẻ còn non nớt, sức đề
    kháng của trẻ còn yếu. Môi trường học tập, vui chơi của trẻ thường tập trung với
    nhiều trẻ khác. Tất cả những yếu tố trên rất dễ dẫn đến trẻ bị mắc bệnh.
    3
    Từ năm học 2019 – 2020 đến nay, tất cả các trường học đều phải đối mặt
    với những khó khăn trong việc thực hiện chương trình, ảnh hưởng lớn đến công
    tác dạy và học do thời gian thực hiện chương trình bị rút ngắn. Trong năm học
    vừa qua tuy trẻ chưa phải nghỉ học nhưng tỉ lệ chăm chuyên chưa đều, trẻ đi học
    thất thường dẫn đến việc chăm sóc nuôi dưỡng và các hoạt động hàng ngày bị
    gián đoạn ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của trẻ.
    Trẻ ở độ tuổi 3-4 tuổi là độ tuổi nhỏ nhất trong trong độ tuổi mẫu giáo.
    Trẻ đang ở độ tuổi khủng hoảng lứa tuổi, nhu cầu tò mò, khám phá của trẻ
    rất cao và ở độ tuổi này trẻ cực kì hiếu động, khả năng có ý thức bảo vệ
    cho bản thân lại càng hạn chế rất nhiều so với các lứa tuổi khác , đây là lứa
    tuổi có khả năng lây mắc nhiễm bệnh cao nhất. Nhất là khi dịch bệnh covid
    – 19 hiện nay đang là một đại dịch đã ảnh hưởng đến toàn diện, sâu rộng
    đến tất cả các quốc gia trên thế giới đang diễn biến ngày càng phức tạp và
    mước độ lây lan chóng mặt, có nguy cơ bùng phát mạnh dẫn đến trẻ phải
    nghỉ học ở nhà. Sự gián đoạn do dịch bệnh này ảnh hưởng không nhỏ đến
    sự phát triển tâm sinh lí của trẻ.
    Là một giáo viên, tôi nhận thấy việc thùc hiÖn tèt c¸c ho¹t ®éng ch¨m sãc
    gi¸o dôc trÎtrong thêi gian nghØ häc do dÞch bÖnh Covid 19 là một việc rất cần
    thiết, đồng thời đây cũng là dịp giúp trẻ phát triển các kĩ năng sống.Tùy theo lứa
    tuổi, các cháu sẽ được bắt đầu làm quen với các kỹ năng như giao tiếp, thích
    nghi, khám phá thế giới xung quanh, kỹ năng tự chăm sóc bản thân, kỹ năng tạo
    niềm vui, tự bảo mình, kỹ năng làm việc nhóm và kỹ năng tự quyết một số tình
    huống phù hợp với lứa tuổi.
    Trẻ mầm non hoạt động chủ đạo là vui chơi, trẻ nghỉ học ở nhà đồng nghĩa
    với việc trẻ không được học, được giao lưu, được vui chơi và tham gia các hoạt
    động cùng cô giáo và bạn bè, trong khi cha mẹ thì vẫn phải đi làm, công việc
    nhiều nên không có thời gian vui chơi cùng con gây ảnh hưởng đến tâm sinh lí
    và sự phát triển toàn diện của trẻ.
    Trước những thực trạng đó, tôi luôn trăn trở, suy nghĩ phải làm thế nào để
    khắc phục khó khăn và nâng cao được kỹ năng tự bảo vệ cho trẻ để trẻ tự tin, an
    4
    toàn, vững tin trong cuộc sống, làm chủ được những nguy hiểm đến gần. Bởi
    vậy tôi thấy cần thiết phải giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non.Từ đó, tôi đã
    nghiên cứu để đưa ra“ Giải pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 3-4 tuổi trong
    thời gian nghỉ học ở nhà phòng, chống dịch Covid-19”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KĨ THUẬT.
    1. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KĨ THUẬT TRƯỚC KHI CÓ SÁNG KIẾN.
    Hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố
    tích cực và tiêu cực, luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị,
    phải đương đầu với những khó khăn, thách thức, những áp lực tiêu cực. Nếu
    thiếu kỹ năng sống, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, và lối
    sống ích kĩ lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách. Trẻ mầm
    non, đặc biệt là trẻ 3-4 tuổi thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động…
    Đối với trẻ mầm non, nhất là trẻ ở giai đoạn 3-4 tuổi, cơ thể trẻ còn non
    nớt, sức đề kháng còn kém, trẻ chưa nhận thức và biết tự phòng chống các dịch
    bệnh cho bản thân. Khi trẻ đi học thời gian trẻ ở trường còn nhiều hơn thời gian
    trẻ ở nhà với người thân. Vì vậy giáo viên là người đóng vai trò quan trọng trong
    việc theo dõi và giúp trẻ phòng tránh các dịch bệnh kịp thời nhất.Trẻ em là giai
    đoạn học, tiếp thu, lĩnh hội những giá trị cuộc sống để phát triến nhân cách, do
    đó cần giáo dục kỹ năng sống cho trẻ để trẻ nhận thức đúng và có hành vi ứng
    xử phù hợp ngay từ khi còn nhỏ.
    Qua thời gian tìm tòi nghiên cứu tài liệu, cá nhân tôi nhận thấy các giải
    pháp mà các tác giả đã đưa ra đã phần nào đáp ứng được việc giúp trẻ có thể
    thích ứng được với cuộc sống hiện tại đặc biệt với dịch bệnhCovid 19, tuy nhiên
    mới chỉ dừng lại ở mức độ cung cấp kiến thức mà chưa đi sâu vào thực tế trải
    nghiệm các kỹ năng sống cho trẻ, đặc biệt trong tình hình diễn biến phức tạp của
    dịch bệnh hiện nay.
    Lâu nay, chúng ta thường quan niệm: Rèn dạy kỹ năng sống chủ yếu chỉ
    dành cho người lớn. Nhưng đối với trẻ ở lứa tuổi tập nói, dạy lễ giáo đạo đức
    ban đầu cho các cháu ở trường mầm non là rất quan trọng trong việc hình thành
    thói quen và nhân cách của bé sau này.
    5
    Thực tế việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thường được thực hiện bằng
    cách cho trẻ xem tranh truyện, tổ chức hội thi: “Bé khỏe, bé ngoan” có giáo
    viên, cha mẹ và trẻ cùng tham gia thi hoặc tổ chức các hoạt động giáo dục
    truyền thống để khơi dậy lòng nhân ái trong trẻ, giúp trẻ có được những kỹ năng
    sống, kỹ năng giao tiếp ứng xử. Tuy nhiên do tác động ngoại cảnh hay trẻ được
    nuông chiều và đáp ứng mọi thứ theo yêu cầu nên có những biểu hiện không
    đúng trong lễ giáo với mọi người trong gia đình và bạn bè, trẻ không có được kỹ
    năng tự phục vụ bản thân, kỹ năng lãnh đạo…
    – Ở một số nhóm lớp có số lượng trẻ quá đông, số giáo viên trong một lớp
    cũng chưa đủ theo qui định nên việc uốn nắn hành vi, cử chỉ cho từng trẻ cũng là
    vấn đề khó khăn. Điều kiện cơ sở vật chất để dạy trẻ thực hành hành vi lễ giáo,
    liên hệ thực tế cũng còn nhiều khuyết điểm nên việc giáo dục chỉ dừng lại ở
    cung cấp kiến thức.
    -Chưa đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong việc trao đổi cùng
    phụ huynh học sinh chăm sóc giáo dục trẻ tại nhà, đặc biệt trong thời điểm
    phòng chống dịch bệnh
    – Công việc của cha mẹ chiếm nhiều thời gian, không có thời gian gần gũi,
    vui chơi cùng trẻ.
    Việc triển khai xây dựng mô hình trường mầm non thực hiện đổi mới
    phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục trẻ theo quan điểm giáo dục “ lấy trẻ
    làm trung tâm” nhằm phấn đấu theo mô hình trường học tất cả đều hướng về
    thỏa mãn nhu cầu và nâng cao năng lực của từng đứa trẻ, hướng về nâng cao
    chất lượng giáo dục toàn diện, cải thiện và tăng cường khả năng sẵn sàng đi học
    của trẻ mầm non. Thực hiện yêu cầu của chương trình giáo dục mầm non mới
    hiện nay giúp trẻ phát triển những tố chất: năng động, linh hoạt, tự tin, sáng tạo
    rất cần thiết cho việc học sau này của trẻ ở các cấp học tiếp theo. Tuy nhiên
    trong bối cảnh đại dịch Covid- 19 hết sức phức tạp, khó lường, tôi luôn trăn trở
    với mong muốn giúp trẻ “dừng đến trường nhưng không dừng học”, là một giáo
    viên tôi nhận thấy rằng việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3-4 tuổi trong thời
    gian nghỉ học ở nhà phòng, chống dịch bệnh covid-19 hiện nay là rất quan trọng,
    6
    là việc làm cần thiết có vai trò to lớn trong việc giáo dục trẻ, không riêng bậc
    học mầm non mà còn nhiều bậc học khác. Đây là vấn đề lớn của toàn xã hội, vì
    vậy tôi đã đưa ra một số biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3-4 tuổi trong
    thời gian nghỉ học ở nhà phòng, chống dịch covid-19 đặc biệt là kỹ năng tự phục
    vụ của trẻ, để giúp trẻ lĩnh hội sâu sắc hơn những kiến thức và kỹ năng mà cô
    giáo đã dạy trẻ.
    Trong quá trình quá trình triển khai nghiên cứu để thực hiện đề tài này, tôi
    có gặp một số thuận lợi và khó khăn sau:
    * Thuận lợi:
    – Trường mầm non Phựơng Hồng là trường đạt chuẩn quốc gia, cơ sở vật
    chất khang trang, diện tích rộng, khuôn viên sạch sẽ và thoáng mát, đồ dùng đồ
    chơi phong phú, an toàn.
    – Được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng
    Giáo dục và Đào tạo, ban giám hiệu nhà trường nên lớp học được trang bị đầy
    đủ thiết bị đồ dùng, đồ chơi tạo môi trường học tập tốt cho các con.
    – Nhà trường luôn chú trọng công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên
    môn, bổsung thêm tài liệu về kỹ năng sống cho giáo viên giúp tôi có nhiều điều
    kiện thuận lợi hơn để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
    -Tôi được tham gia các lớp bồi dưỡng về một số kỹ năng sống, giúp trẻ làm
    quen với một số kỹ năng trong cuộc sống mà trẻ hay gặp phải.
    – Dự giờ kiến tập giáo dục kỹ năng sống ở một số trường điểm tại thành
    phố Hà Nội, học hỏi kinh nghiệm của chị em đồng nghiệp.
    -Bản thân tôi có nhiều năm kinh nghiệm dạy lớp mẫu giáo 3-4 tuổi, luôn có
    tinh thần trách nhiệm, yêu nghề, mến trẻ, luôn quan sát, nắm bắt được đặc điểm
    tâm sinh lý, thói quen của trẻ trong lớp.
    -Được phụ huynh ủng hộ luôn quan tâm tới các con và thường xuyên trao
    đổi thông tin với các cô giáo.
    -Trẻ ở lứa tuổi mầm non có đặc điểm tâm, sinh lý khá đặc biệt, trẻ mới ở
    chặng khởi đầu của quá trình nhận thức thế giới nên hầu hết trẻ học rất nhanh,
    ghi nhớ rất nhanh; trẻ còn rất nhạy bén trong việc bắt trước người lớn.
    7
    Riêng với trẻ 3- 4 tuổi, cảm nhận về thế giới bên ngoài đã có một bước
    phát triển. Trẻ đã biết tự làm một số công việc mang tích chất tự phục vụ.
    – Bản thân trẻ cũng đã rất có ý thức phòng chống dịch covid 19
    -Đa số các cháu đều khoẻ mạnh, ngoan ngoãn, có nề nếp trong các hoạt
    động học tập và vui chơi.
    * Khó khăn:
    – Do việc dạy học trực tuyến, học qua mạng không phải là tiến hành thường
    xuyên như ở bậc học khác,vì thế khi bắt tay thực hiên tôi còn lúng túng về kĩ
    thuật thực hiện, việc sử dụng các phần mềm trực tuyến chưa thông thạo,..
    – Do đặc thù của giáo viên mầm non, thời gian làm việc trên lớp trong ngày
    và trong tuần nhiều, thời gian dành cho sưu tầm tài liệu, sáng tạo đồ dùng,… còn
    hạn chế.
    – Về phía gia đình học sinh,ngoài khó khăn về phương tiện phục vụ cho học
    sinh học trực tuyến thì nhiều phụ huynh không có khả năng ứng dụng CNTT để
    trợ giúp cho con em mình,vẫn phải đi làm hàng ngày,không có thời gian để tổ
    chức,quản lí việc học của con em ở nhà,..để tiếp nhận nội dung cô đưa ra.
    – Do trẻ mầm non còn hiếu động, sự tập trung chưa cao khó ngồi yên trong
    khoảng thời gian nhất định.
    – Do tình hình dịch bệnh, tỉ lệ chăm chuyên của trẻ mầm non chưa cao ảnh
    hưởng đến chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.
    Từ những thuận lợi và khó khăn trên tôi đã suy nghĩ làm thế nào để có
    những biện và phương hướng phù hợp giúp trẻ học tại nhà.
    2. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KĨ THUẬT SAU KHI TẠO RA SÁNG KIẾN.
    Tên giải pháp mà tôi đề xuất: Giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ 3-4
    tuổi trong thời gian nghỉ học ở nhà phòng, chống dịch covid-19
    – Mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ và tính cấp thiết của giải pháp:Giải pháp
    cụ thể hóa hơn là sử dụng các nội dung cung cấp kiến thức về các kỹ năng cho
    trẻ trên cơ sở vì một mục tiêu chung là để hình cho trẻ mẫu giáo3-4 tuổi những
    kỹ năng sống,những kinh nghiệm sốnggiúp trẻ có thể thích ứng được với cuộc
    sống hiện tại đặc biệt với dịch bệnh covid-19 đang diễn biến phức tạp hiện nay.
    8
    Đối với trẻ ở tuổi mầm non là lứa tuổi trẻ rất dễ mắc các dịch bệnh,
    trẻ ở độ tuổi càng nhỏ nhất là độ tuổi 3-4 tuổi thì khả năng lây nhiễm lại
    càng cao. Trẻ còn non nớt, sức đề kháng còn kém nhận thức để bảo vệ bản
    thân còn hạn chế hơn rất nhiều so với các lứa tuổi khác đây là lứa tuổi khả
    năng dễ bị lây nhiễm bệnh rất cao. Vì vậy việc cô giáo đưa ra những biện
    pháp phòng tránh dịch bệnh kịp thời giúp cho trẻ giảm được nguy cơ mắc
    các bệnh lây nhiễm và đảm bảo an toàn sức khỏe của trẻ.
    Trẻ mầm non vì còn nhỏ nên kinh nghiệm sống và kỹ năng sống của trẻ
    chưa có. Trẻ chưa nhận thức được các mối nguy hiểm xảy ra xung quanh trẻ.
    Chính vì vậy dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non là rất cần thiết nhằm giúp cho
    trẻ có hành vi đúng đắn, tích cực với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, trẻ
    có kinh nghiệm trong cuộc sống biết được những điều nên làm và không nên
    làm, giáo dục kỹ năng sống còn giúp trẻ thích nghi, hòa nhập ứng phó với cuộc
    sống hằng ngày đồng thời giúp trẻ định hướng đúng đắn để phát triển nhân cách
    toàn diện là vấn đề phải được quan tâm hàng đầu. Nội dung giáo duc kĩ năng
    sống cho trẻ mầm non trong Chương trình giáo dục mầm non “Cung cấp kĩ năng
    sống phù hợp với lứa tuổi giúp trẻ em biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông,
    bà, bố, mẹ, thầy cô giáo, anh, chị, em, bạn bè, thật thà, mạnh dạn, tự tin; yêu
    thiên nhiên, thích cái đẹp, ham hiểu biết, thích đi học”.
    Chúng tôi muốn phụ huynh quan tâm tới việc dạy trẻ biết làm một số kỹ
    năng tự phục vụ trong thời gian trẻ nghỉ ở nhà. Trong chương trình giáo dục
    mầm non nội dung giáo dục kỹ năng tự phục vụ đề ra cho cả độ tuổi nhà trẻ và
    mẫu giáo. Với mục tiêu “Trẻ có khả năng làm được một số việc tự phục vụ trong
    ăn, ngủ và vệ sinh cá nhân”
    2.1. Giải pháp 1 : Giáo viên tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao khả năng
    ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thiết kế các bài giảng.
    Với phương châm “ Trẻ không đến trường nhưng không dừng học”
    Tôi luôn tìm tòi, học tập làm phong phú nội dung, phương pháp học tập. Để
    xây dựng được các bài giảng có thể truyền tải nội dung đến trẻ và các bậc phụ
    huynh tôi đã không ngừng nỗ lực học hỏi, tự tìm tòi các kĩ thuật ứng dụng công
    9
    nghệ thông tin : cắt ghép hình ảnh, âm thanh, thiết kế bài giảng điện tử, quay
    video clip,…để mang đến những nội dung thiết thực, gần gũi mà đơn giản giúp
    học sinh và cha mẹ tiếp nhận một cách dễ dàng có hiệu quả hơn.
    Với trẻ mầm non, cung cấp kiến thức cho trẻ bằng hình ảnh trực quan và
    câu từ ngắn gọn dễ hiểu là phương pháp tốt nhất để trẻ lĩnh hội và khắc sâu kiến
    thức. Phương pháp dạy học bằng tình huống là đưa ra các tình huống (có thật
    hoặc hư cấu) trong thời điểm dịch bệnh hiện nay, tôi sử dụng các video tình
    huống có sẵn trên nguồn mạng internet chứa đựng nội dung bài giảng để tạo cho
    trẻ có bối cảnh được trải nghiệm, có điều kiện đưa ra các ý kiến cá nhân, qua đó
    phát huy tính tích cực năng động, sáng tạo tư duy của trẻ trong việc tự phân tích
    tìm ra cách giải quyết vấn đề xảy ra bởi vì muốn xử lý, giải quyết tốt được các
    tình huống, sự việc do cô đặt ra, đòi hỏi trẻ phải suy nghĩ, sáng tạo và biết vận
    dụng những kiến thức đã có thì mới giải quyết được.
    Bản thân tôi cũng không ngừng học hỏi những kinh nghiệm thực tế, học hỏi
    các kinh nghiệm của các chị em trong trường, tôi còn tìm tòi những kinh nghiệm
    qua sách báo, qua Internet và không ngừng học hỏi những kinh nghiệm của các
    trường bạn để tự trau dồi kiến thức cho mình từ đó có những biện pháp giáo dục
    kỹ năng sống cho trẻ được tốt hơn, phù hợp với nhận thức và và khả năng của
    trẻ.
    Qua quá trình tự học, tự bồi dưỡng, nghiên cứu tài liệu qua sách báo, qua
    mạng internet, tôi đã sưu tầm được một số bài viết hay, những kĩ năng phù hợp
    có thể áp dụng với trẻ lớp tôi:
    – Tài liệu “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho trẻ mầm non” của tác
    giả PGS. TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Năm xuất bản 2012
    -“Đại dịch COVID-19 đang có những diễn biến khó lường, phức tạp. Thời
    điểm này, Bộ Y tế khuyến cáo mọi người dân đều hạn chế ra khỏi nhà và
    nghiêm túc chấp hành thông điệp 5K. Mặc dù có nhiều ảnh hưởng đến đời sống,
    tuy nhiên, đây cũng là dịp thích hợp để giáo dục, bổ sung kỹ năng sống cho trẻ,
    là bước đệm để các em hoàn thiện nhân cách, lối sống hướng đến một con người
    hiện đại, toàn diện trong tương lai.”- Của tác giả Hà Trang, báo Phú Thọ.
    10
    2.2. Giải pháp 2: Xác định nội dung giáo dục kỹ năng sống phù hợp với
    nhận thức và khả năng của trẻ 3-4 tuổi .
    Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đặc biệt là kỹ năng tự phục vụ không chỉ là
    nhiệm vụ của nhà trường mà còn là nhiệm vụ của các bậc cha, mẹ, người thân là
    những người gần gũi nhất với trẻ. Hãy để trẻ làm những việc vừa sức, dạy trẻ
    cách chăm sóc bản thân và giúp đỡ những người xung quanh. Khả năng tự phục
    vụ sẽ giúp trẻ trở thành người tự lập, tự chủ trong mọi tình huống khác nhau đó
    cũng là cái đích mà người lớn chúng ta hướng tới và định hướng cho trẻ. Trong
    thời gian trẻ nghỉ ở nhà cùng bố mẹ, ông bà, người thân giáo dục kỷ năng tự
    phục vụ đòi hòi sự phối hợp chặt chẽ giữa các thành viên trong gia đình, nhất
    quán, thường xuyên, liên tục. Qua đó, giúp trẻ làm quen với cuộc sống từ những
    công việc nhỏ nhất hằng ngày, từ những kỹ năng cần thiết đầu tiên, kỹ năng tự
    phục vụ. Thời gian này là thời gian bố mẹ ở bên các bé nhiều nhất nên cần quan
    tâm và cho trẻ thực hành trải nghiệm những việc làm vừa sức với trẻ để cùng các
    trường mầm non chuẩn bị hành trang cho trẻ bước vào cuộc sống tự lập, tự tin.
    Việc dạy trẻ những kỹ năng tự phục vụ tưởng chừng như đơn giản nhưng
    nếu người lớn chúng ta không chú ý thì làm cho trẻ có thể hiểu làm việc đó vì
    người lớn chứ không ý thức được là cho bản thân. Nếu bố mẹ chúng ta hướng
    dẫn trẻ không đúng quy trình, nôn nóng thì trẻ thực hiện các kỹ năng không
    đúng bởi vì vậy trong sinh hoạt hằng ngày phụ huynh cần chú ý hướng dẫn trẻ
    các kỹ năng từ đơn giản đến phức tạp. Chọn thời điểm thích hợp để cho trẻ thực
    hiện các công việc tự phục vụ có hiệu quả; Tạo cơ hội cho trẻ thực hành các kỹ
    năng; Khen ngợi khích lệ trẻ trong quá trình thực hành các kỹ năng. Tránh phản
    hồi tiêu cực khi trẻ chưa làm đúng mà chỉ sử dụng từ ngữ để giải thích cho bé
    khi bé làm chưa đúng, phụ huynh không đòi hỏi ở trẻ quá nhiều.
    Trên thực tế, đối với trẻ mầm non, giáo dục kỹ năng tự phục vụ không phải
    là công việc quá to tát mà chỉ là những thao tác đơn giản như: Tự chơi, tự ăn
    uống, dọn phòng của mình, tự thay đồ, biết tự vệ sinh cá nhân. Ngoài ra trẻ còn
    phải biết xếp đồ dùng cá nhân ngay ngắn, chơi xong biết thu dọn đồ chơi và cất
    vào đúng nơi quy định.
    11
    Qua quá trình giảng dạy, chăm sóc trẻ hàng ngày tôi đã nghiên cứu xây
    dựng được nội dung giáo dục kĩ năng sống cho trẻ đảm bảo các nguyên tắc:chọn
    lựa, hướng dẫn các kĩ năng gần gũi thiết thực hàng ngày với trẻ, các kĩ năng đi
    từ dễ đến khó, phù hợp lứa tuổi và khả năng nhận thức của trẻ.
    Nhóm 1: Kỹ năng phòng chống dịch bệnh
    Trong thời điểm hiện nay, việc dạy trẻ phòng, tránh dịch bệnh là điều vô
    cùng cần thiết, giúp trẻ ý thức được trách nhiệm bảo vệ sức khỏe của bản thân
    và cộng đồng không những trong mùa dịch, mà còn trong cuộc sống sau này của
    trẻ.
    Ví dụ: Lựa chọn thực hiện 6 bước rửa tay và đeo khẩu trang đúng cách tôi
    mong muốn thông qua video của mình, các con và phụ huynh thực hiện thuần
    thục các bước bảo vệ sức khỏe trong thời gian nghỉ phòng chống dịch. Video tôi
    sử dụng có độ dài từ 5-10 phút nhằm cung cấp cho học sinh các kiến thức cơ
    bản và các kỹ năng cần thiết cho bản thân, phù hợp với lứa tuổi, chuyển tải đến
    học sinh, giúp các con có thể tự học, tự chơi tại nhà một cách an toàn.
    Nhóm 2: Kỹ năng cơ bản về ăn uống và chuẩn bị đồ ăn
    Trẻ biết một số hành vi tốt trong ăn uống: rửa sách tay trước khi ăn, ăn
    uống gọn gàng không rơi vãi, không nói chuyện khi miệng còn thức ăn…
    Trẻ có kĩ năng sử dụng đồ dùng phục vụ ăn uống.
    Biết các loại thực phẩm có ích, có hại cho sức khỏe; biết chọn ăn các loại
    thức ăn có lợi cho sức khỏe của mình như thịt, cá, trứng, sữa, hoa quả…; không
    ăn, uống những thứ có hại cho sức khỏe như thức ăn/hoa quả có mùi ôi thiu,
    nước lã, rau quả khi chưa rửa sạch, không tự ý uống thuốc…;
    Nhóm 3: Kỹ năng vệ sinh cơ bản
    Tạo cho trẻ có thói quen vệ sinh, tự phục vụ: Rửa tay, lau mặt trước khi ăn.
    Lau miệng, uống nước, súc miệng nước muối sau khi ăn.
    Nhóm 4: Kỹ năng mặc, cởi quần áo
    Mục đích: Trẻ biết tự mặc quần áo (mặc áo chui, áo kéo khóa, biết
    cách mặc quần) và biết phân biệt quần áo theo mùa (mùa đông) phân biệt
    theo giới tính (bé trai, bé gái) không mặc quần áo ướt bẩn.
    12
    Nhóm 5: Kỹ năng đảm bảo an toàn cho trẻ khi ở nhà
    Biết thực hiện quy tắc an toàn thông thường: không chơi những đồ vật có
    thể gây nguy hiểm (dao, kéo, bật lửa, bao diêm, đinh…); không chơi ở những nơi
    bẩn, nguy hiểm (ao, hồ, lòng đường…); không làm những việc gây nguy hiểm
    (đứng trên ghế cao, trèo lên cửa sổ, lên bàn…);
    Biết tự bảo vệ trước các tình huống nguy hiểm: Khi bị lạc biết đứng tại
    chỗ, không đi theo người lạ, biết tìm người giúp đỡ (công an, bảo vệ, người
    quen); khi ở nhà một mình, nếu thấy có người lạ bấm chuông, rình rập biết
    không mở cửa, bật ti vi thật lớn, gọi điện cho bố mẹ; không nói chuyện, không
    đi theo, không để người lạ ôm, hôn, sờ vào người, không nhận bất cứ thứ gì từ
    người lạ, biết kháng cự khi có kẻ nào đó lôi đi (níu xuống, đu chặt chân kẻ đó,
    nằm xoài xuống, kêu to). Với trường hợp khẩn cấp như cháy, có người ngã, chảy
    máu…, trẻ biết gọi người lớn.
    Những hành động đơn giản tự phục vụ khi còn nhỏ giúp trẻ chủ động, độc
    lập trong mọi công việc sau này.
    Bên cạnh đó tôi có những gợi ý giúp phụ huynh dạy trẻ khi ở nhà:
    – Chỉ dẫn: Dạy trẻ bằng lời nói bố, mẹ cần giải thích cho trẻ hiểu những gì
    cần làm, làm như thế nào? Lời giải thích, chỉ dẫn này có thể sử dụng ở mọi lúc,
    mọi nơi trong sinh hoạt hằng ngày của trẻ. Khi chỉ dẫn phụ huynh cần khuyến
    khích trẻ nhìn khi bố, mẹ chỉ dẫn, dùng lời nói ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, điềm
    tĩnh; Sử dụng cử chỉ để nhấn mạnh những điều trẻ muốn chú ý.
    – Làm mẫu: Dạy trẻ kỹ năng bằng hành động. Khi quan sát người lớn làm,
    trẻ sẽ biết làm gì, làm như thế nào: Ví dụ dạy trẻ cất dọn đồ chơi, chuẩn bị bàn
    ăn, mặc quần áo; Phụ huynh làm mẫu cho trẻ quan sát trước sau đó lần lượt thực
    hiện các kỹ năng. Để trẻ có được các kỷ năng hằng ngày phụ huynh phải tạo cơ
    hội cho trẻ được tập luyện.
    – Dạy trẻ từng bước một: Đối với trẻ mầm non chúng ta phải kiên trì, dạy
    kỹ năng cho trẻ bằng cách chia nhỏ các nhiệm vụ. Ý tưởng của việc dạy từng
    bước là thực hiện các bước liên tiếp nhau để hình thành một kỹ năng. Khi trẻ đã
    học được bước đầu tiên rồi dạy trẻ bước tiếp theo. Chỉ chuyển sang bước tiếp
    13
    theo khi trẻ có thể thức hiện bước trước một cách thuần thục không cần sự trợ
    giúp.Tiếp tục cho đến khi trẻ hoàn thành toàn bộ nhiệm vụ. Khi trẻ học một kỹ
    năng tự phục vụ mới phụ huynh có thế cầm tay và hướng dẫn cho trẻ các động
    tác. Không giúp đỡ nữa khi trẻ bắt đầu phải hình dung ra mình phải làm như thế
    nào nhưng hãy tiếp tục chỉ dẫn trẻ bằng lời, sau đó chỉ cần ra hiệu khi trẻ làm
    chủ được kỹ năng.
    Để hình thành các kỹ năng sống cho trẻ mầm non không phải việc một
    sớm, một chiều mà phải là một quá trình, đồng thời phải chọn đúng cách, đúng
    thời điểm thích hợp với độ tuổi của trẻ mới có kết quả tốt nhất. Chúng ta không
    ép trẻ phải làm những cái mà người lớn muốn mà dạy, trẻ ý thức được những gì
    cần làm và thực hiện đúng cách. Chỉ như vậy những kỹ năng của trẻ được hình
    thành và theo trẻ đến suốt cuộc đời. Bởi vậy trong thời gian ở bên trẻ, phụ huynh
    cần trò chuyện cho trẻ hiểu để làm sao các hành động của trẻ trở thành ý thức.
    Ví dụ khi trẻ thấy tay bẩn trẻ tự đi rửa, trẻ chơi xong không cần người lớn nhắc
    trẻ vẫn biết cất dọn đồ chơi vào chỗ cũ; Rửa mặt, đánh răng sau khi ăn xong là
    để cho sạch chứ không phải làm vì người lớn yêu cầu.
    2.3. Giải pháp 3: Xây dựng, thiết kế các hoạt động cụ thể giáo dục kĩ
    năng sống cho trẻ 3-4 tuổi.
    Nắm bắt được tâm sinh lý độ tuổi trẻ 3-4 tuổi, dựa vào nội dung chương
    trình giáo dục mầm non, nghiên cứu các tài liệu về giáo dục kĩ năng sống cho trẻ
    tôi đã chọn lọc những nội dung, kỹ năng cần thiết, phù hợp khi dạy trẻ tại nhà
    trong thời gian nghỉ do dịch bệnh covid-19, cụ thể:
    Nhóm kĩ năng 1: Kĩ năng phòng chống dịch bệnh covid-19
    Trong thời điểm hiện nay, việc dạy trẻ phòng, tránh dịch bệnh là điều vô
    cùng cần thiết. Dù các thông tin về dịch bệnh tràn ngập trên các phương tiện
    thông tin đại chúng, đặc biệt là mạng xã hội, nhưng trẻ em vẫn cần nhận thức
    được đầy đủ sự nguy hiểm của dịch bệnh và biết cách bảo vệ mình. Đó là những
    kỹ năng cơ bản rất hữu ích cho trẻ, giúp trẻ hình thành ý thức về việc bảo vệ sức
    khỏe, cũng như về trách nhiệm đối với những việc ý nghĩa khác trong xã hội.
    14
    Với đặc điểm của trẻ 3 tuổi là dễ nhớ mau quên, trẻ học thông qua các trò
    chơi. Chính vì vậy, tôi đã sáng tạo ra nhiều hoạt động lồng ghép thông qua các
    trò chơi, hay cho trẻ tiếp thu các kĩ năng thông qua tình huống, mẩu chuyện vui
    với thời gian ngắn từ 3-5 phút… mang lại hiệu quả hơn cho trẻ.
    Sau đây, là một số kĩ năng tôi đã lựa chọn phù hợp với khả năng và nhận
    thức của trẻ để truyền tải dến các con, giúp các con có thể tự học, tự chơi tại nhà
    một cách an toàn và bảo vệ bản thân trong việc phòng chống dịch.
    -Hướng dẫn trẻ cách đeo khẩu trang đúng cách, ghi nhớ việc đeo khẩu
    trang khi đi ra ngoài và đến nơi công cộng
    -Hướng dẫn trẻ cách rửa tay đúng cách và các thời điểm cần phải rửa tay;
    không đưa tay lên mắt, mũi, miệng, che miệng khi ho hoặc hắt hơi; không dung
    chung các vật dụng cá nhân; không khạc nhổ bừa bãi; bỏ rác đúng nơi quy
    định.v.v…
    -Tránh tiếp xúc gần
    -Vệ sinh khử trùng
    -Cân nhắc, thay đổi các kế hoạch đi lại
    Ví dụ 1: Dịch bệnh Covid 19 đang bùng phát trở lại vì vậy việc đeo khẩu
    trang là rất quan trọng và cần thiết để phong chống dịch bệnh. Hôm nay cô sẽ
    hướng dẫn các con cách đeo và tháo khẩu trang sao ch đúng cách và an toàn
    nhé!
    Cách đeo khẩu trang
    – Bước 1: Rửa tay đúng cách với xà phòng hoặc dung dịch rửa tay sát
    khuẩn có chứa ít nhất 60% cồn trước khi đeo khẩu trang.
    – Bước 2: Xác định phần trên, dưới của khẩu trang.
    – Bước 3: Xác định mặt trong, ngoài theo đường may hoặc mặt đậm hơn ở
    bên ngoài.
    – Bước 4: Đeo và điều chỉnh để khẩu trang che kín mũi, miệng đảm bảo
    không có khe hở giữa mặt và khẩu trang.
    15
    Lưu ý, không chạm tay vào mặt ngoài khẩu trang trong suốt quá trình sử
    dụng. Nếu chạm vào phải rửa tay đúng cách với xà phòng hoặc dung dịch rửa
    tay sát khuẩn có chứa ít nhất 60% cồn.
    Ví dụ 2 : Rửa mặt rửa tay là hoạt động diễn ra hàng ngày của các con ở
    trường mầm non, vì thế trong video này cô Huyền sẽ hướng dẫn các con cách
    rửa tay bằng nước rửa tay khô,dung dịch rửa tay sát khuẩn có thể giúp phòng
    ngừa, hạn chế sự lây lan của virus Corona. Nhưng không phải ai cũng sử dụng
    đúng là có hiệu quả để loại bỏ được hết vi khuẩn, virus trên tay. Thời gian rửa
    tay bằng nước và xà phòng thông thường mất 30 giây, và khi sử dụng nước rửa
    tay khô, thời gian cũng tương tự, cần 30 giây để đủ thời gian sát khuẩn. Sau đây
    làcác bước làm sạch tay bằng nước rửa tay khô đúng cách:
    – Bước 1: Đổ 2ml dung dịch rửa tay vào lòng bàn tay
    – Bước 2: Chà sát 2 lòng bàn tay
    – Bước 3: Lần lượt chà mặt lưng 2 lòng bàn tay
    – Bước 4: Làm sạch các ngón tay
    16
    – Bước 5: Làm sạch lần lượt các đầu ngón tay sau đó để khô tự nhiên.
    Các con chú ý nhé: Nên rửa tay trước khi ra ngoài đường và trước khi về
    nhà, rửa tay sau khi đi vệ sinh hoặc khi tiếp xúc với các chất dịch hay nguồn
    nghi ngờ lây bệnh truyền nhiễm. Sau khi làm sạch tay bằng nước rửa tay, nên để
    tay khô tự nhiên.
    Sau đây mời các con xem video cô hướng dẫn chúng mình cách rửa tay
    bằng nước sát khuẩn nhé!
    Nhóm kỹ năng 2:Kỹ năng cơ bản về ăn uống và chuẩn bị đồ ăn;
    -Dạy trẻ biết cách ăn của các loại thực phẩm khác nhau
    Ví dụ: cách ăn quả cam : bỏ vỏ, bỏ hạt.
    Cách ăn cá : gỡ bỏ xương
    – Dạy trẻ biết các bữa ăn trong ngày:
    Ví dụ: hằng ngày trẻ ăn 3 – 5 bữa, ở trường trẻ ăn một bữa chính và một
    bữa phụ, bữa chính ăn 2 bát, bữa phụ trẻ ăn 1 bát, thức ăn trong mỗi bữa chính
    và bữa phụ là thức ăn gì.
    17
    – Dạy trẻ biết mỗi bữa cần ăn đủ các loại thức ăn khác nhau, cần ăn hết suất
    trong các bữa ăn hằng ngày.
    -Dạy trẻ biết ăn uống sạch sẽ: ăn thức ăn đã nấu chín, uống nước đã được
    đun sôi, ăn chậm, nhai kỹ, không rơi vãi.
    – Hướng dẫn trẻ thử các thức ăn mới và ăn các loại thức ăn khác nhau, hình
    thành thái độ vui lòng chấp nhận và có hứng thú trong ăn uống, không kén chọn
    thức ăn.
    -Dạy trẻ cách sử dụng một số đồ dùng trong ăn uống, hình thành ở trẻ kỹ
    năng dử dụng đồng dùng ăn uống đúng cách:ca ,cốc, thìa…
    Ví dụ : Cô mở cuộc thi “ Bé lịch sự trong khi ăn”
    + Trẻ nhận biết các nhóm thực phẩm cần thiết cho cơ thể.
    +Biết một số hành động nguy hiểm và phòng tránh khi được nhắc nhở :
    Không cười đùa trong khi ăn uống, tránh hóc sặc.
    +Biết ăn đúng cách : Khi ăn xúc miếng vừa phải ,nhai kỹ,ngồi ngay ngắn
    khi ăn.
    Chuẩn bị:
    +Trang phục : Tạp dề, mũ nấu ăn.
    + Nhạc bài hát : Mời bạn ăn.
    +Video các hành vi trong ăn uống : Ăn vội vàng, ăn miếng to nhai nhồm
    nhoàm, vừa ăn vừa đùa nghịch, ăn đúng cách.
    Tiến hành :
    -Cô mở nhạc bài “mời bạn ăn”
    – Để giúp cho các con có kiến thức về an toàn trong ăn uống hôm nay cô
    Huyền sẽ là tuyên truyền viên về an toàn trong ăn uống.
    – Cô đưa đoạn video quay trẻ ăn uống vội vàng.
    -Cô đưa video quay trẻ ăn miếng to nhai nhồm nhoàm
    =>Nếu ăn vội vàng, ăn miếng quá to nhai nhồm nhoàm như vậy sẽ không
    tốt cho sức khỏe vì không hấp thụ được thức ăn mà khi mọi người nhìn vào thì
    thấy rằng ăn như vậy là không văn minh, không lịch sự.
    18
    – Cô đưa video trẻ vừa ăn vừa đùa nghịch
    => Văn minh lịch sự trong ăn uống: Trước khi ăn các con phải nhớ rửa
    tay,lau mặt. Khi ăn ngồi ngay ngắn, không nói chuyện trong khi ăn,xúc miếng
    vừa phải,nhai chậm. Ăn xong xúc miệng nước muối,lau miệng sau khi ăn nữa.
    Hình ảnh cha mẹ gửi con tập xúc cơm
    Song song với việc hướng dẫn các con qua các video giúp con có thêm
    nhiều kĩ năng hữu ích cho bản thân, tôi còn sưu tầm các bài tuyên truyền gửi
    cho phụ huynh về dinh dưỡng cho trẻ. Tôi rất mong phụ huynh có thể tạo cho trẻ
    các hoạt động vui chơi, trải nghiệm và chăm sóc, ăn ngủ cho trẻ ngay tại mỗi gia
    đình. Vì trẻ em trong độ tuổi mầm non rất cần được chăm sóc bởi một chế
    độ dinh dưỡng đặc biệt, giúp cơ thể trẻ phát triển hài hòa.
    -Bữa ăn đủ chất cho trẻ mầm non
    -Bí quyết dinh dưỡng dự phòng lây nhiễm covid-19 (TS. BS. Nguyễn
    Thanh Hà(Khoa Dinh dưỡng Tiết chế – Bệnh viện Phổi Trung ương)
    Tuy rằng khi xây dựng chế độ dinh dưỡng cho trẻ mầm non cần cân bằng
    và lựa chọn đầy đủ chất nhưng không có nghĩa là bạn quá khắt khe, quản lý
    nghiêm ngặt chuyện ăn uống của con. Đừng ép con ăn những món không thích!
    Hãy từ từ tạo hứng thú trong mỗi bữa ăn để đạt hiệu quả lâu dài.
    19
    Nhóm kĩ năng 3: Kỹ năng cơ bản về vệ sinh(Làm quen với đánh răng,
    lau mặt; rửa tay bằng xà phòng)
    Dạy trẻ vệ sinh cá nhân đúng cách không chỉ giúp giữ cho bản thân sạch sẽ
    mà còn ngăn ngừa sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm. Do đó, tôi đã làm các
    video hướng dẫn và gửi cho cha mẹ để có thể giúp trẻ thực hành đơn giản tại
    nhà.
    Ví dụ : Trẻ biết chải răng đúng cách, có thói quen giữ vệ sinh răng miệng
    và biết sử dụng bàn trải riêng để đánh răng.
    Rèn trẻ kỹ năng cầm bàn trải đánh răng đúng cách, chải răng theo trình
    tự, có thói quen vệ sinh răng miệng thường xuyên
    Chuẩn bị:
    – Mô hình hàm răng cho cô và trẻ, bàn chải đánh răng cho cô và trẻ, kem
    đánh răng, cốc, nhạc bài hát “Anh Tý sún” , bài thơ bé đánh răng
    – Cô hát bài “Anh tý sún”
    – Vì anh lười đánh răng lại ăn kẹo suốt ngày nên hàm răng của anh nham
    nhở đó
    Để có hàm răng khỏe và đẹp, có hơi thở thơm tho thì hàng ngày các con
    phải biết vệ sinh răng miệng sạch sẽ, đánh răng sau khi ăn, trước khi đi ngủ và
    sau khi ngủ dậy, phải sử dụng đúng bàn trải và kem đánh răng của mình, bây giờ
    cô dạy các con kỹ năng vệ sinh đánh răng để có hàm răng trắng khỏe nhé.
    – Thực hiện trực tiếp trên mô hình
    – Giới thiệu cho trẻ biết mặt ngoài, mặt trong và mặt nhai của răng qua mô
    hình… sau đó vừa làm vừa giải thích cách chải răng
    * Cách chải răng:
    + Bước 1: Rửa bàn chải lấy 1 lượng kem vừa phải lên lòng bàn chải sau đó
    súc miệng
    + Bước 2: Chải mặt ngoài của răng
    – Chải tất cả mặt ngoài răng hàm trên và hàm dưới bằng cách đặt lòng bàn
    chải sát với viền lợi so với trục răng chải hàm trên hất xuống hàm dưới hất lên
    hoặc rung nhẹ bàn chải lên xuống hoặc xoay trong mỗi vùng răng chải 10 lần
    20
    + Bước 3: chải mặt trong của tất cả hàm răng trên và dưới bằng động tác
    hàm trên hất xuống hàm dưới hất lên hoặc xoay tròn
    + Bước 4: Chải mặt nhai của răng đặt lòng bàn chải song song với mặt nhai
    kéo đi kéo lại 10 lần.
    + Bước 5: Đặt bàn chải trong lưỡi nhẹ nhàng kéo từ trong ra ngoài 10 lần
    + Bước 6: Súc sạch miệng bằng nước, rửa sạch bàn chải, vẩy khô, cắm vào
    cốc, để cán ở phía dưới lòng bàn chải ở phía trên
    – Các con hãy nhớ kỹ năng đánh răng và đánh răng thường xuyên để có
    hàm răng chắc khỏe và miệng luân thơm tho hãy nhớ chỉ đánh bàn chải đánh
    răng của mình
    Cha mẹ lưu ý :khi tập cho trẻ đánh răng , rửa mặt có thể tạo không khí bằng
    cách cùng trẻ đọc bài thơ “bé tập rửa mặt” rất dễ nhớ và cũng là cách để bé yêu
    thơ ,yêu vần điệu. cách này sẽ giúp bé hào hứng hơn và tự giác trong việc tự vệ
    sinh cá nhân.
    21
    Hình ảnh bé tập đánh răng cha mẹ gửi cho cô giáo
    Nhóm kỹ nằng 4: Kỹ năng mặc, cởi quần áo, gấp quần áo gọn gàng.
    Học cách mặc quần áo phù hợp, sẽ dạy con nhận thức được nhiệt độ, biết
    phân biệt quần áo theo mùa, phân biệt theo giới tính (bé trai – bé gái), không
    mặc quần áo ướt, bẩn, trẻ nhận biết được mặt trái mặt phải, phía trước, phía sau
    của quần áo.Trẻ biết giữ gìn vệ sinh quần áo sạch sẽ.
    Với kĩ năng này, tôi sẽ giới thiệu tới cha mẹ và các bé video hướng dẫn bé
    tự mặc quần áo. Các bước hướng dẫn kèm hình ảnh rất cụ thể và dễ hiểu cho cả
    cha mẹ lẫn bé. Mỗi một kĩ năng được hình thành đối với bé là một sự kiện đánh
    dấu sự khôn lớn của bé. Cha mẹ hãy đồng hành cùng bé yêu của mình nhé !
    Trước khi hướng dẫn bé, cô chuẩn bị những vật sau đây:
    -Một vài bộ quần áo có nút hay lỗ cài to.
    -Quần lót, áo cộc tay, áo len rộng rãi với những họa tiết ở mặt trước nhằm
    giúp bé dễ phân biệt 2 mặt trước sau.
    -Một đến 2 chiếc quần chun.
    Chúng mình thực hành cùng cô nhé :
    22
    – Cô tạo tình huống không mặc được áo khoác và dẫn dắt vào bài học “
    Cách mặc áo và cởi áo”
    + Mùa đông đến rồi, để cơ thể của mình không bị lạnh các con cần phải
    làm gì?
    – Để các con có thể tự mặc áo thì hôm nay cô sẽ hướng dẫn các con bài học
    kĩ năng mới “ Cách mặc áo và cởi áo khoác”
    *Cách mặc áo
    – Bước 1: Lấy áo ra đặt xuống thảm, mở áo ra và kéo khóa
    Tay trái giữ cổ áo, tay trái cầm khóa kéo xuống đến giữa áo thì di chuyển
    tay xuống và tiếp tục kéo đến hết
    – Bước 2: Mặc áo
    Tay trái giữ cổ áo, tay phải luồn vào ống tay áo tay trái kéo cổ áo lên vòng,
    tay ra sau giữ vạt áo rồi đưa tiếp trái luồn vào ống tay áo còn lại – > so cho 2 vạt
    áo
    * Cách gấp áo
    Hôm trước cô con mình đã cùng nhau tập cách mặc áo rồi, và hôm nay cô
    sẽ dạy chúng mình cách gấp áo nhé:
    23
    – Bước 1: Trải áo ra mặt bàn phẳng và dùng tay miết cho thẳng 2 ống thay
    áo và thân áo
    – Bước 2: Gấp 2 ống tay lại và dùng tay miết cho thẳng, đẹp
    – Bước 3: Gấp đôi áo lại và gấp thêm 1 lần nữa, đồng thời miết cho thật
    phẳng.
    Cô tin rằng sau giờ học ngày hôm nay các con sẽ biết chủ động mặc quần
    áo cho mình, và biết gấp quần áo gọn gàng để đúng nơi quy định.
    Hình ảnh : Bé tập gấp áo tại nhà
    Những điều mẹ cần chú ý khi hƣớng dẫn con tự mặc quần áo
    Kiên nhẫn chính là điều mẹ cần nhất khi bắt đầu dạy bé 3 tuổi. Ban đầu con
    có loay hoay và làm rất chậm, vì vậy mẹ không nên nóng ruột mà phải cho bé. 3
    tuổi bé bắt đầu đi học mầm non, để không bị muộn giờ mẹ có thể chuẩn bị quần
    áo đồ đặc cho bé từ tối hôm trước.
    Mẹ có thể tiến hành dạy bé từng bước một và theo một tuần tự nhất định
    như: mặc đồ lót trước, thứ hai là áo cộc, quần chun, rồi đến giày, áo có cúc,…
    Khi mặc đồ nên để bé ngồi thì sẽ dễ dàng hơn.
    Hai mẹ con nên thực hành mặc quần áo thường xuyên khi rảnh rỗi để bé
    nhanh chóng nắm được các kĩ năng cơ bản khi hướng dẫn con tự mặc quần áo.
    24
    Ngoài ra, mẹ cũng nên khen bé mỗi khi bé mặc được áo hay quần. Thậm
    chí khi bé mặc ngược thì cũng nên động viên con và hướng dẫn bé mặc lại cho
    đúng. Thái độ lạc quan của mẹ sẽ khiến bé hợp tác và yêu thích việc mặc quần
    áo này hơn.
    Nhóm kĩ năng 5: Kĩ năng đảm bảo an toàn cho trẻ khi ở nhà
    Trẻ em đặc biệt là trẻ em 3 tuổi vốn rất tò mò, ham hiểu biết, trẻ thường muốn
    khám phá những cái mới lạ mà không hề để ý xem đồ vật đó có thể gây nguy hiểm
    hay tai nạn cho mình hay không. Do vậy khi trẻ ở nhà nếu không dạy trẻ nhận biết
    được những nơi, những vật dụng, những con vật có thể gây nguy hiểm cần tránh
    xa, thì rất nguy hiểm cho trẻ. Bằng việc lồng ghép tích hợp các nội nội dung theo
    các chủ đề sẽ giúp trẻ dễ hiểu hơn.
    Ví dụ :

    Chủ đề : Bản thân
    “Sáng ngủ dậy bạn Kiên nhất định
    không chịu đánh răng rửa mặt trước
    khi đến lớp, như vậy có đúng không?
    Sáng ngủ dậy con phải làm gì? Vì
    sao?”
    Giáo dục trẻ :
    – Một ngày các con nên đánh răng 2
    lần, buổi sáng ngủ dậy phải đánh răng
    rửa mặt sạch sẽ trước khi đến lớp và
    trước khi đi ngủ để giữ vệ sinh răng
    miện. Nếu các con lười đánh răng sẽ bị
    sâu răng.
    Chủ đề : Nước và các hiện tượng tự
    nhiên
    “ Truyện : chú bé giọt nước”
    – Giáo dục trẻ không chơi gần ao, hồ,
    sông, suối, biển khi không có người
    lớn đi cùng. Khi bơi phải sử dụng áo
    phao hoặc phao bơi.
    Chủ đề : Thực vật
    “Khi con muốn ăn quả xoài con phải
    làm gì?”
    – Trước khi ăn phải rửa quả xoài bằng
    nước sạch, sau đó phải dùng dao gọt
    vỏ, nhưng các con bé chưa dùng được
    dao vì vậy các con hãy nhờ người lớn
    gọt vỏ xoài. Nếu các con tự dùng dao
    rất nguy hiểm các con sẽ bị đứt tay
    chảy máu.
    – Truyện : Chiếc ổ khóa– Giáo dục trẻ không được vào phòng
    vệ sinh một mình và chốt cửa. Không
    được nghịch cửa dễ bị kẹp tay.

    25
    Tôi đã làm video trò chuyện với trẻ về các đồ dùng gia đình để trẻ nhận biết
    được đặc điểm công dụng, cách sử dụng, ích lợi cũng sự nguy hiểm có thể xảy ra
    khi trẻ ở nhà. Tôi cho trẻ thực hành sử dụng các đồ dùng gia đình thông qua hoạt
    động cùng các bậc phụ huynh, các ba mẹ sẽ giúp bé, hướng dẫn bé thực hànhthay
    cô giáo tại nhà như: bé tập làm nội trợ, như cho trẻ tập rót nước, đong nước, bày
    bàn ăn
    Ngoài việc giáo dục trẻ nhận biết và tránh những đồ dùng nguy hiểm như
    bàn là, phích nước, bếp đang đun thì đảm bảo vệ sinh những đồ dùng đó để
    tránh những nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, tôi đưa ra tình huống trẻ biết
    tránh những mối nguy hiểm khác như: “Nếu đang ở nhà một mình, có người
    đến gọi mở cửa con sẽ làm gì?. Tôi gợi mở: cũng có trường hợp kẻ xấu có thể
    gây hại cho bé hoặc lấy chộm đồ trong gia đình cũng chính là người thu tiền
    điện, nước hoặc chính là người quen biết của bố mẹ, để giúp trẻ suy đoán giải
    quyết. Sau đó cô giúp trẻ rút ra phương án tối ưu nhất trong trường hợp này:
    tuyệt đối không mở cửa, kể cả đó có thể người quen của bố mẹ, người thu tiền
    điện, nước. Nếu có người lớn ở trên gác chưa biết thì gọi xuống, còn nếu không
    có ai ở nhà thì con tuyệt đối không được mở cửa, và đặc biệt nếu bố, mẹ có mở
    cửa tiếp xúc với người lạ con nên nhắc bố, mẹ đeo khẩu trang nếu như bố, mẹ có
    quên nhé.
    Ví dụ :

    Tình huốngCách giải quyết của cô
    – Nếu có người không quen biết cho bé
    quà, bé nên làm như thế nào?
    – Giáo dục trẻ tuyệt đối không được
    nhận quà của người lạ. Giáo dục trẻ chỉ
    nên nhận quà của người thân hoặc phải
    có sự đồng ý của bố mẹ mới được nhận
    quà.
    – Nếu bé thấy khói hoặc cháy ở đâu đó
    bé sẽ làm thế nào?
    – Giáo dục trẻ khi thấy có khói hoặc
    cháy ở đâu, trước hết bé phải chạy xa
    chỗ cháy. Hãy hét to để báo với người

    26

    nhà và những người xung quang có thể
    nghe thấy. Nếu không có người ở nhà
    thì chạy báo cho hàng xóm.
    -Khi bố mẹ không có nhà con ở nhà
    một mình, hoặc con ở nhà với ông bà,
    có người lạ gõ cửa nói là bạn của bố
    mẹ, bảo con mở cửa để vào nhà đợi bố
    mẹ con về. Con có mở cửa không?
    Con sẽ làm gì?
    – Giáo dục trẻ tuyệt đối không mở cửa
    cho người lạ vào nhà, kể cả người quen
    của bố mẹ, hàng xóm, thợ sửa ống
    nước, đồ điện hoặc là nhân viên thu
    tiền điện thoại….mà hãy hỏi họ có
    chuyện gì nhắn lại hoặc hẹn chiều tối
    đến gặp ba mẹ. Nếu thấy họ có dấu
    hiệu khả nghi hay rình rập, hãy gọi
    điện cho bố mẹ, hàng xóm, người thân.
    – Nếu con nghịch bếp ga chẳng may bị
    bỏng bé phải làm gì?
    – Giáo dục trẻ tuyệt đối không nghịch
    bếp, không chơi xung quanh những đồ
    dùng có nguy cơ gây bỏng như bếp,
    nồi nóng, ấm nước, bàn là…Nếu chẳng
    may bị bỏng lập tức tránh xa nguy cơ
    gây bỏng và ngâm chỗ bỏng vào nước
    mát đồng thời gọi người lớn đến.

    2.4: Giải pháp 4:Thực hiện tốt công tác tuyên truyền đến các bậc phụ
    huynh để dạy kỹ năng sống cho trẻ tại nhà.
    “Hơn ai hết, trong những ngày học sinh nghỉ tránh dịch, mỗi phụ huynh
    ngoài vai trò là cha mẹ sinh thành, dưỡng dục, cần thêm vai trò quan trọng là
    thầy cô giáo của con em mình”
    Tôi chú trọng đến việc thường xuyên tuyên truyền các thông tin, các văn
    bản chỉ đạo của cấp trên đến các bậc phụ huynh học sinh. Đồng thời chủ động
    tuyên truyền tới toàn thể phụ huynh khi ở nhà cần đảm bảo vệ sinh sạch sẽ và bổ
    sung các chất dinh dưỡng cần thiết để tăng sức đề kháng cho các con. Đặc biệt,
    tại nhà trường 100% các giáo viên đã cài đặt ứng dụng bluezone nhằm góp phần
    27
    tích cực trong công tác phòng chống dịch bệnh covid 19. Thường xuyên trao đổi
    với phụ huynh để cùng phối hợp dạy kỹ năng sống cho trẻ. Tuyên truyền cho
    phụ huynh hiểu không nên làm hộ con, phải dạy cho trẻ tính tự lập từ bé. Trẻ
    càng được hướng dẫn sớm về cách tự vệ, nhận biết những mối nguy hiểm xung
    quanh, những việc nên làm và không nên làm…
    Ví dụ: Khi tôi gửi một video về cách dạy trẻ đeo khẩu trang. Tôi sẽ thông
    báo mức độ của trẻ đạt được những mục tiêu đưa ra khi ở lớp với phụ huynh,
    đồng thời phụ huynh phản hồi lại những

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số biện pháp giáo dục lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ 4-5 tuổi

    SKKN Một số biện pháp giáo dục lấy trẻ làm trung tâm cho trẻ 4-5 tuổi

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
    Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là
    bậc học quan trọng giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, ngôn ngữ, tình cảm
    kĩ năng xã hội, nhận thức góp phần hình thành nhân cách cho trẻ. Để đạt được
    mục tiêu giáo dục mầm non thì việc đổi mới các hoạt động giáo dục là rất cần
    thiết.
    Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung tâm hiện nay
    không chỉ là tiêu chí đề ra mà còn là một nhiệm vụ bắt buộc với giáo viên mầm
    non. Khi tổ chức các hoạt động trên lớp hay các hội thi giáo viên giỏi, tất cả giáo
    viên đều nỗ lực trong việc đổi mới phương pháp dạy học, tuy nhiên không phải
    giáo viên nào cũng thành công như mong muốn. Trên thực tế khi tổ chức các
    hoạt động học tập, vui chơi vẫn rơi vào tình trạng giáo viên làm trung tâm, trẻ
    thụ động và chưa phát huy được tính tích cực. Cô hướng dẫn nhiều, nói nhiều,
    trẻ ít có cơ hội được thực hành, trao đổi thí nghiệm, trải nghiệm.
    Là một giáo viên mầm non – tổ phó chuyên môn khối 4 tuổi tôi luôn suy
    nghĩ tìm tòi các biện pháp để nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ. Việc
    tổ chức các hoạt động cho trẻ theo hướng lấy trẻ làm trung tâm là nhiệm vụ hết
    sức quan trọng, đảm bảo sự phát triển toàn diện với từng cá nhân trẻ góp phần
    nâng cao chất lượng tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ. Tổ chức hoạt động theo
    định hướng lấy trẻ làm trung tâm tạo không gian hoạt động mở cho trẻ, tạo cơ
    hội cho trẻ được tham gia khám phá trải nghiệm, hoạt động cá nhân, hoạt động
    theo nhóm qua đó phát triển tư duy sáng tạo của trẻ. Hàng ngày trực tiếp chăm
    sóc giáo dục trẻ nên tôi ý thức được rằng giáo dục lấy trẻ làm trung tâm là rất
    cần thiết, tôi luôn muốn trẻ của tôi được trải nghiệm, tư duy, được tìm tòi những
    gì mà trẻ còn chưa biết trong cuộc sống một cách thoải mái, không gò bó. Vậy
    làm thế nào để có thể thực hiện điều đó? Tôi đã tham khảo một số tài liệu và
    cũng tìm hiểu về phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung tâm, làm thế nào để trẻ
    của tôi cảm thấy thoải mái trong các hoạt động mà vẫn đạt được kết quả như
    2
    mục tiêu đề ra. Vì vậy tôi đã chọn đề tài : “ Một số biện pháp giáo dục lấy trẻ
    làm trung tâm cho trẻ 4-5 tuổi” làm đề tài nghiên cứu của mình.
    II. Mô tả giải pháp kĩ thuật.
    II.1. Mô tả giải pháp kỹ thuật trước khi tạo ra sáng kiến.
    Trước đây phương pháp dạy học lấy người dạy làm trung tâm thì trẻ chỉ
    ngồi nghe cô dạy và trả lời câu hỏi theo sự hướng dẫn của cô nên không phát
    huy được hết tính chủ động , vai trò trung tâm của trẻ. Những kiến thức trẻ nhận
    được là trên lý thuyết, trẻ hoạt động theo sự hướng dẫn của cô, phụ thuộc vào cô
    giáo rất nhiều.
    – Về phía trẻ: Trẻ chưa được tự khám phá, trải nghiệm, chia sẻ, bày tỏ ý
    kiến quan điểm của mình một cách chủ động. Trẻ chủ yếu là quan sát, xem xét,
    tìm hiểu, phỏng đoán, trẻ được hoạt động ít, thụ động theo sự hướng dẫn của cô.
    Những kiến thức trẻ học được còn cứng nhắc trên lý thuyết là chính, khi trẻ
    tham gia vào các hoạt động còn gò bó, hạn chế.
    – Về phía giáo viên: Các bài dạy với kiến thức còn cứng nhắc theo sách
    gợi ý, giáo viên phải giải thích nhiều, đóng vai trò chủ đạo, chưa chủ động, linh
    hoạt tạo cơ hội cho trẻ thực hành. Giáo viên thực hành nhiều hơn trẻ. Giáo viên
    phụ thuộc vào những đồ dùng, đồ chơi sẵn có trong trường mầm non, chưa có
    nhiều đồ chơi mở phát huy tính tích cực của trẻ. Giáo viên chưa có nhiều kinh
    nghiệm trong việc đổi mới phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung tâm, khả năng
    xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động lấy trẻ làm trung tâm còn hạn chế.
    II. 1.1. Khảo sát trẻ.
    Đầu năm học 2020 – 2021 tôi tiến hành khảo sát thực trạng tình hình thực
    tế của lớp trên 25 trẻ với kết quả như sau:
    * Bảng 1: Khảo sát khả năng giao tiếp của trẻ:

    Khả năng giao tiếp của trẻMức độ thực hiện
    Số trẻTỷ lệ ( %)
    Trẻ rất tự tin520 %
    Trẻ tự tin728 %
    Trẻ không tự tin1352 %

    3
    => Nhìn vào bảng trên ta thấy khả năng giao tiếp của trẻ còn nhiều hạn chế,
    chính vì vậy giáo viên không chỉ truyền đạt kiến thức cho trẻ một cách thụ động
    mà cần tạo ra các điều kiện, cơ hội để trẻ được chủ động sáng tạo tích cực hoạt
    động tăng khả năng giao tiếp.
    * Bảng 2: Khảo sát mức độ tích cực của trẻ trong các hoạt động :

    Mức độ tích cực của trẻ
    trong các hoạt động
    Khảo sát trẻ
    Số trẻTỷ lệ ( %)
    Mức độ tốt416 %
    Mức độ khá832 %
    Mức độ trung bình728 %
    Mức độ yếu624 %

    => Nhìn vào bảng trên ta thấy mức độ tích cực của trẻ trong các hoạt động
    còn thấp nguyên nhân là do giáo viên chưa xây dựng các hoạt động giáo dục
    khơi gợi được sự tích cực của trẻ.
    II.2. Mô tả giải pháp kỹ thuật sau khi có sáng kiến:
    II.2.1. Giải pháp 1: Xây dựng kế hoạch lấy trẻ làm trung tâm
    – Để xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động lấy trẻ làm trung tâm, trong
    thời gian đảm nhiệm lớp mẫu giáo Nhỡ tôi đã tìm tòi các tài liệu về giáo dục lấy
    trẻ làm trung tâm phù hợp với trẻ 4 tuổi. Dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của trẻ
    mầm non là tư duy trực quan hình tượng, những kiến thức giáo dục cho trẻ phải
    cụ thể, gần gũi, dễ hiểu đối với trẻ cùng kết quả khảo sát đầu năm. Tôi đã tìm
    hiểu 1 số tài liệu:
    + Phương pháp tổ chức hoạt động lấy trẻ làm trung tâm – Nhà xuất bản
    giáo dục mầm non
    + Tạp chí giáo dục mầm non
    + Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên – Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
    + Tham khảo trên mạng internet những vấn đề về phương pháp giáo dục
    lấy trẻ làm trung tâm.
    + Kế hoạch giáo dục và tổ chức hoạt động giáo dục 4 – 5 tuổi
    4
    + Chương trình giáo dục Mầm non – Nhà xuất bản giáo dục mầm non
    + Sách hướng dẫn các hoạt động phát triển ngôn ngữ và giao tiếp cho trẻ
    mầm non theo bộ chuẩn phát triển trẻ 4 tuổi.
    – Khi xây dựng kế hoạch giáo dục cho trẻ ngoài việc chú trọng đưa nội
    dung giáo dục lấy trẻ làm trung tâm vào các môn học hàng ngày nhằm hình
    thành cho trẻ sự tự tin mạnh dạn, thói quen và hành vi có văn hóa, tôi còn dạy kỹ
    năng sống cho trẻ thông qua các tình huống cụ thể của từng chủ đề với tiêu chí “
    lấy trẻ làm trung tâm”.
    * Ví dụ: Với môn học làm quen với toán khi đưa ra nội dung bài học tôi
    cho trẻ thời gian để suy nghĩ, để chơi và giải quyết vấn đề, quan sát đưa ra ý
    kiến của mình
    + Tôi không thúc giục trẻ, không làm hộ, làm thay trẻ
    + Tôi không đưa ra câu trả lời ngay mà để trẻ có thời gian suy nghĩ, tôi
    khuyến khích trẻ chia sẻ và nói lên những điều trẻ phát hiện ra và diễn đạt bằng
    ý hiểu của mình.
    – Khi xây dựng kế hoạch, tôi chú trọng việc xây dựng mục tiêu, nội dung
    giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.
    + Căn cứ vào khả năng, nhu cầu học tập, sở thích của trẻ tôi xây dựng mục
    tiêu kế hoạch giáo dục luôn hướng đến trẻ, để hiểu được trẻ làm được những gì,
    và làm như thế nào.
    * Ví dụ: Ở chủ đề: “ Trường mầm non” Tôi đưa mục tiêu 45 (trẻ biết tên
    trường, nhớ tên lớp, tên cô giáo cũng như biết một số hoạt động ở trường) Qua
    mục tiêu này trẻ mạnh dạn tự tin nói tên lớp, tên trường và tên cô giáo, tên các
    bạn, tên đồ dùng, đồ chơi cách sử dụng đồ dùng, đồ chơi và các hoạt động của
    trẻ trong trường mầm non .
    + Lựa chọn nội dung: Khi tổ chức các hoạt động lấy trẻ làm trung tâm giáo
    viên phải luôn gợi mở hỗ trợ và tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm, được chia
    sẻ, trao đổi ý kiến của mình, giáo viên cũng cần quan sát để đáp ứng nhu cầu
    ham hiểu biết, tìm tòi khám phá qua các câu hỏi, thắc mắc của trẻ.
    5
    * Ví dụ: Ở chủ đề “ Thực vật” với nội dung nhận biết các món ăn, nhóm
    thực phẩm và lợi ích của chúng đối với sức khỏe
    + Xác định cụ thể các món ăn, các loại thực phẩm nào thuộc 4 nhóm thực
    phẩm quen thuộc với trẻ.
    + Lựa chọn món ăn, đồ uống có dạng chế biến đơn giản dễ làm để trẻ
    được thực hành, trải nghiệm.
    + Tổ chức cho trẻ thông qua hoạt động trong giờ học khám phá hoặc hoạt
    động góc, hoạt động chiều tại lớp học. Cũng có thể tổ chức trong những ngày lễ
    hội như sinh nhật, tết thiếu nhi, trung thu, Noel….
    + Thức ăn tôi thích: trẻ có thể cắt, dán, tô màu tranh vẽ những món ăn mà
    trẻ đã biết, trang trí cho đẹp hơn theo sở thích của trẻ.
    + Khám phá món ăn mới: Giúp trẻ khám phá những thức ăn mới mà trẻ
    chưa biết đến như các loại quả, các loại rau, các món ăn khác nhau
    Qua đó trẻ biết ích lợi của các món ăn và các nhóm thực phẩm đối với
    sức khỏe. Khi ăn uống đầy đủ, ăn nhiều loại món ăn khác nhau giúp cơ thể khỏe
    mạnh mau lớn, ít ốm đau, da dẻ hồng hào, nhanh nhẹn để học tập và làm việc.
    – Khi xây dựng kế hoạch tôi dựa trên nhu cầu và nhận thức của trẻ lớp tôi
    để đưa ra mục tiêu phù hợp với khả năng của trẻ. Tôi căn cứ vào đặc điểm của
    trẻ như: Khả năng, nhu cầu học tập, sở thích của trẻ mà tôi đã quan sát được
    trong thời gian hai tuần đầu trẻ đến trường để xác định mục tiêu cho phù
    hợp. Tôi căn cứ vào nội dung giáo dục theo từng độ tuổi (trong chương
    trình giáo dục mầm non) để xác định mục tiêu.
    – Chương trình giáo dục lấy trẻ làm trung tâm không chỉ giúp trẻ học để
    hiểu sự vật hiện tượng trong thế giới xung quanh mà trẻ còn được học để tự làm
    những việc gần gũi và phù hợp với trẻ. Ở đây trẻ học cách làm như thế nào?(
    học cách tìm hiểu và khám phá, phát hiện ra sự thay đổi của sự vật hiện tượng;
    học cách biểu đạt những suy nghĩ, hiểu biết và cảm nhận của mình; học cách
    làm đồ dùng đồ chơi). Vì vậy tôi căn cứ vào nhu cầu học tập của trẻ, những điều
    6
    kiện sẵn có ở lớp để tôi lựa chọn nội dung xây dựng tổ chức các hoạt động lấy
    trẻ làm trung tâm cho phù hợp đối với thực tế.
    II. 2.2. Tổ chức các hoạt động lấy trẻ làm trung tâm.
    II.2.2.1. Thông qua hoạt động học:
    a, Thông qua hoạt động làm quen âm nhạc:
    – Khi tổ chức các hoạt động cho trẻ làm quen âm nhạc tôi dạy trẻ hát, nghe
    nhạc, nghe hát, vận động theo nhạc hoặc là biểu diễn âm nhạc tôi giúp trẻ cảm
    thụ giai điệu bài hát, thể hiện qua giọng hát, nét mặt, điệu bộ cử chỉ minh họa
    bài hát. Khi trẻ được vận động theo nhạc sẽ giúp trẻ cảm nhận và thể hiện nhịp
    điệu âm nhạc bằng các vận động của cơ thể phù hợp với nhịp điệu của các bài
    hát, bản nhạc qua đó tôi sẽ kích thích trẻ bộc lộ những suy nghĩ, tình cảm của
    mình, khả năng sáng tạo, tưởng tượng và kỹ năng biểu diễn….Khi tổ chức hoạt
    động, tôi thường cho trẻ lựa chọn hình thức biểu diễn, nhạc cụ biểu diễn để phát
    huy tính tích cực của trẻ.
    * Ví dụ: Trong tiết dạy vận động theo nhạc ở chủ đề Bản thân, trẻ vận
    động theo nhạc bài “Cái Mũi”
    + Tôi giới thiệu bài hát, vừa hát và vận động theo nhạc bài hát. Sau đó tôi
    cho cả lớp hát để trẻ nhớ giai điệu bài hát. Tôi hát và vận động kết hợp phân tích
    động tác để trẻ dễ nhớ và dễ hiểu.
    + Khi trẻ lên vận động tôi cho trẻ tự chọn hình thức biểu diễn và tự chọn
    bạn hay nhóm các bạn của mình để trẻ chủ động tự tin, mạnh dạn và phát triển
    khả năng sáng tạo giúp trẻ hứng thú hơn khi tham gia hoạt động. Tôi chuẩn bị
    các dụng cụ âm nhạc cho trẻ chọn hình thức, dụng cụ để biểu diễn cùng. Trẻ có
    thể vận động theo nhạc bài “ Cái Mũi” hoặc các dụng cụ kết hợp để biểu diễn.
    + Khi tổ chức dạy vận động theo nhạc cho trẻ để trẻ luôn hứng thú tôi đã
    linh hoạt thời gian không gò bó trẻ mà tùy thuộc vào sự hứng thú của trẻ để kéo
    dài hơn hoặc khi thấy trẻ có thái độ không hào hứng thì tôi sẽ khéo léo chuyển
    hoạt động để trẻ có nhiều sự lựa chọn cho mình hơn.
    7
    Trẻ vận động theo nhóm
    * Ví dụ: Trong tiết biểu diễn văn nghệ cuối chủ đề ngành nghề.
    + Tôi cho trẻ tự mặc quần áo biểu diễn, tự chuẩn bị đồ dùng như các nhạc
    cụ, mic…Trẻ cùng cô trang trí sân khấu.
    + Sau khi đã chuẩn bị xong các đồ dùng cần thiết. Tôi cho trẻ tự chọn bài
    hát và các hình thức biểu diễn bài hát đó. Trẻ đã chia 3 nhóm và tự chọn bài hát
    “ Chú bộ đội” biểu diễn với hình thức hát và vận động theo nhạc; bài hát “ Cháu
    hát về đảo xa” biểu diễn với hình thức múa minh họa.
    + Trẻ sẽ cùng nhau thảo luận để tự lựa chọn các bài hát, hình thức vân động
    phù hợp. Qua đó rèn trẻ kỹ năng phối hợp cùng các bạn, trẻ mạnh dạn, tự tin khi
    biểu diễn.
    Trẻ biểu diễn văn nghệ cuối chủ đề ngành nghề
    8
    b. Thông qua hoạt động làm quen văn học:
    – Cho trẻ làm quen với văn học sẽ giúp trẻ có khả năng phát triển
    ngôn ngữ, tư duy, ghi nhớ được hoàn thiện thông qua các bài thơ, câu
    chuyện giúp trẻ mở mang và hiểu biết kiến thức về xã hội, thiên nhiên,
    yêu quê hương đất nước, hình thành nhân cách con người của trẻ và phát
    triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ.Ở hoạt động này tôi luôn đặt trẻ vào trung
    tâm, tạo cơ hội để trẻ được thể hiện phát triển những xúc cảm tích cực cho
    trẻ.
    – Như thể loại kể chuyện, trọng tâm là dạy kể truyện sáng tạo thì tôi
    luôn tận dụng không gian lớp học để trưng bày các dụng cụ kể chuyện
    như , sắp đặt tranh và các con rối sao cho dễ sử dụng, kích thích trẻ tính
    cực hơn. Tôi còn dùng máy tính, slide hình ảnh câu chuyện khi kể với
    những hình ảnh nhân vật phong phú để trẻ hứng thú hơn. Bản thân tôi
    trước khi tổ chức hoạt động cũng phải luyện đọc, giọng kể, cách sử dụng
    hình ảnh trên máy, tranh, sách tranh, con rối, mô hình để giúp trẻ cảm thụ
    được tác phẩm văn học đó một cách tốt nhất.
    *Ví dụ : Cô kể câu chuyện: Gấu con bị sâu răng
    Tôi dùng tivi, máy tính có slide hình ảnh những nhân vật trong câu
    chuyện:
    + Có bạn Gấu con thích ăn kẹo nhưng lại lười đánh răng (tôi đưa
    hình ảnh nhân vật ra)
    +Vì ăn nhiều kẹo lại không chịu đánh răng nên Gấu con đã bị sâu
    răng tấn công (hình ảnh Gấu gào khóc vì bị đau răng)
    + Gấu mẹ đã đưa Gấu con đến gặp bác sĩ để khám răng? (bác sĩ khám
    răng cho Gấu)
    + Gấu đánh răng hàng ngày và ăn đầy đủ các loại thức ăn ( răng Gấu
    trắng bóng không bị sâu nữa)
    9
    Cô kể truyện : Gấu con bị sâu răng
    – Hướng dẫn trẻ kể lại chuyện thì trẻ sẽ được đóng vai vào những
    nhân vật trong câu chuyện. Khi đóng vai theo chủ đề, trẻ tham gia vào
    cuộc nói chuyện với bạn để phân vai trao đổi với nhau, trong khi chơi, trẻ
    bắt chước các nhân vật mà trẻ đóng vai, làm cho ngôn ngữ đối thoại của
    trẻ thêm phong phú và đa dạng. Trẻ tự tin hơn khi nhận vai chơi và đứng
    đối thoại trước cô giáo và các bạn…
    * Ví Dụ: Truyện “Bác Gấu đen và hai chú Thỏ”:
    Trong hoạt động làm quen văn học thì hoạt động trẻ được đóng kịch
    và kể lại truyện là trẻ hứng thú và thích nhất vì thông qua đóng vai trẻ
    được hòa mình được nhập vào vai những nhân vật mà trẻ yêu thích và
    cũng là hoạt động phát huy tính tích cực của trẻ nhiều nhất.
    Tôi cho trẻ tự nhận vai của từng nhân vật theo nội dung câu chuyện:
    Bác Gấu đen, Thỏ trắng, Thỏ nâu. Tôi cho trẻ cùng bàn bạc với cô giáo,
    nêu ý tưởng về trang phục, sân khấu cho phù hợp với câu chuyện (tôi có
    thể gợi ý hoặc cho trẻ tự do thảo luận).
    10
    Trẻ đóng vai nhân vật trong câu truyện
    c. Thông qua hoạt động khám phá:
    Khả năng nhận thức của trẻ được phát triển qua việc tiếp xúc, tìm hiểu
    các đồ dùng, đồ chơi và các nguyên vật liệu, qua các hoạt động tìm hiểu cây cối,
    con vật, các hiện tượng tự nhiên….Trẻ ở lứa tuổi này cần có cơ hội nhìn, nghe,
    tiếp xúc, nếm, ngửi,….để trẻ phán đoán và đưa ra ý kiến của mình. Tôi không
    giải thích một cách máy móc mà chỉ đưa ra những câu hỏi gợi mở, chủ động,
    linh hoạt và tạo cơ hội cho trẻ thực hành giúp trẻ nói lên suy nghĩ của mình để
    trẻ tự tìm hiểu những gì trẻ nhìn thấy và đang làm, kích thích trẻ quan sát, xem
    xét, phỏng đoán, thảo luận, chia sẻ những điều trẻ nhìn thấy
    * Ví dụ: Chủ đề : Nước và hiện tượng tự nhiên. Đề tài : Tìm hiểu về trời
    nắng
    + Tôi cho trẻ xem hình ảnh trời nắng cho trẻ nhận biết và phân biệt nắng
    buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều
    + Để trẻ hứng thú hơn tôi cho trẻ chơi trò chơi “ Tạo hình các con vật
    bằng bàn tay dưới nắng”
    + Tôi tận dụng ánh nắng buổi sáng để tổ chức hoạt động thực hành dưới
    nắng cho trẻ tự do thể hiện sự sáng tạo của mình.
    + Với đôi bàn tay khéo léo cùng với sự sáng tạo, trẻ có thể tạo bóng hình
    bàn tay thành hình ảnh những con vật ngộ nghĩnh, đáng yêu một cách dễ dàng.
    Từ đó trẻ hứng thú với hoạt động khám phá hơn.
    11
    Trẻ thực hành dưới nắng
    Qua hoạt động này trẻ của tôi có thêm nhiều cơ hội để học hỏi kinh nghiệm
    qua hình thức quan sát và bắt chước cách làm của cô giáo, của các bạn và của
    người khác.
    d. Thông qua hoạt động tạo hình:
    – Hoạt động tạo hình là dạng hoạt động nghệ thuật mà trẻ ưa thích là
    phương tiện giáo dục phát triển thẩm mĩ hiệu quả nhất. Tôi thường cho trẻ quan
    sát, đàm thoại, xem tranh hoặc đồ vật thật, đồ dùng, đồ chơi để trẻ nhận ra vẻ
    đẹp riêng biệt của màu sắc, hình dáng, đường nét, cấu trúc, bố cục của đồ vật,
    con vật… Tôi thường sưu tầm những đồ dùng, phế liệu, lá cây khô, lõi giấy vệ
    sinh….để trẻ tự tạo nên những sản phẩm có ý nghĩa như tạo hình các con vật,
    tạo hình bạn trai, bạn gái, tô màu ngôi nhà….Qua đó trẻ cùng cô trao đổi cách
    thực hiện và tự lựa chọn nguyên liệu cách làm để làm tranh hoặc nặn. Trẻ có thể
    làm tranh, vẽ trên giấy, trên đất, cát, nền gạch. Trẻ cũng có thể nặn các đồ dùng,
    đồ chơi hoặc các loại quả, con vật mà trẻ thích. Trẻ tự dùng keo, kéo để xé, dán
    những đồ dùng, đồ chơi..
    * Ví dụ: Chủ đề Bản thân trẻ vẽ tô màu, cắt dán trang phục của bạn trai bạn
    gái và dán lên
    + Tôi chuẩn bị giấy màu, keo, kéo, tạp chí cũ, báo, lịch cũ,… để trẻ thỏa sức
    tưởng tượng và sáng tạo theo cách riêng của mình.
    12
    Trẻ vẽ tô màu cắt dán trang phục bạn trai, bạn gái
    * Ví dụ: Chủ đề Thế giới động vật trẻ cắt dán tạo thành các con vật mà trẻ
    yêu thích.
    + Tôi chuẩn bị giấy màu, keo, kéo bút màu để trẻ tự do sáng tạo làm thành
    tác phẩm của mình.
    Trẻ cắt dán hình con vật ngộ nghĩnh
    II.2.2.2. Qua hoạt động vui chơi.
    a. Thông qua hoạt động chơi ngoài trời.
    – Khi tổ chức các hoạt động chơi ngoài trời, tôi thường tận dụng các
    nguyên vật liệu sẵn có ngoài trời để trẻ tự khám phá tìm tòi. Trẻ được làm từ
    thực tế, từ đó trẻ chủ động chia sẻ nói ra những điều mà trẻ cảm nhận được đưa
    ra những nhận xét cá nhân.
    13
    Ví dụ: Tôi cho trẻ nhặt lá cây và đặt câu hỏi với trẻ:
    + Con có nhận xét gì chiếc lá này?
    + Đó là lá cây gì?
    + Ý tưởng của con như thế nào?
    Trẻ của tôi sẽ tự suy nghĩ và đưa ra ý kiến của mình và trẻ sẽ tự mình thực
    hiện như làm các con vật ngộ nghĩnh…. Tôi khuyến khích trẻ nói ra càng nhiều
    càng tốt, có thể đầy đủ hay chưa đầy đủ. Nhờ đó mà trẻ của tôi rất tự tin nói lên
    những hiểu biết, những cảm nhận của mình về thế giới xung quanh. Qua hoạt
    động này tôi muốn trẻ được tự điều chỉnh hiểu biết của mình qua câu trả lời của
    bạn và qua việc trực tiếp được làm và được nhìn.Trẻ được tự suy ngẫm và đánh
    giá hiểu biết kỹ năng của mình.
    Trẻ dùng lá cây làm những con vật để chơi
    * Ví Dụ: Tôi cho trẻ được làm thí nghiệm “ Vật chìm vật nổi”, tôi phát cho
    trẻ các viên sỏi, miếng xốp, thìa inox .
    + Cho trẻ đoán xem khi thả các vật xuống nước vật nào sẽ nổi, vật nào sẽ
    chìm?
    + Khi thả miếng xốp xuống con thấy nó như thế nào?
    + Thả viên sỏi thì sao?
    + Tôi cho trẻ thảo luận xem tại sao miếng xốp lại nổi?
    + Vì sao viên sỏi lại chìm?
    14
    Trẻ làm thí nghiệm vật nổi – vật chìm
    *Ví Dụ: Tìm hiểu về nước và hiện tượng tự nhiên. Tôi đưa ra đề tài mở
    để trẻ trò chuyện:
    + Điều gì sẽ xảy ra nếu không có nắng?
    + Điều gì xảy ra nếu cây không có nước?…
    + Tôi chia nhóm cho trẻ thảo luận sau đó cho trẻ nói lên phán đoán hoặc
    suy nghĩ của mình. Từ đó trẻ của tôi được thu hút vào việc suy nghĩ tìm nguyên
    nhân
    – Qua hoạt động chơi ngoài trời khi để trẻ làm trung tâm trong mọi trò chơi
    trẻ sẽ chủ động linh hoạt tham gia vào các trò chơi.
    * Ví dụ: Cô tổ chức các trò chơi dân gian như: “ Kéo mo cau, ô ăn quan,
    Mèo đuổi chuột….” Các trò chơi sáng tạo như bắn pháo hoa,….. Mỗi đội luôn
    tự tin mình sẽ chiến thắng, động viên khích lệ nhau đoàn kết để giành chiến
    thắng.
    15
    16
    Trẻ chơi trò chơi ngoài trời
    17
    b. Thông qua hoạt động góc
    – Trẻ lứa tuổi mẫu giáo thì hoạt động chơi là hoạt động chủ đạo, thông qua
    hoạt động chơi đóng vai trẻ có thể tự tin mạnh dạn trao đổi với các bạn, trẻ làm
    chủ trong mọi tình huống. Diện tích lớp nhỏ, hẹp nên tôi phải tận dụng, bố trí
    không gian lớp học sao cho hợp lí, đồ dùng đồ chơi được sắp xếp gọn gàng,
    ngăn nắp, từng góc riêng biệt thuận lợi cho trẻ hoạt động góc ồn ào xa góc yên
    tĩnh để không làm phân tán sự chú ý của trẻ,…Tôi trang trí góc theo từng chủ đề
    để trẻ nắm bắt được kiến thức mới tránh sự nhàm chán, tạo sự hấp dẫn tính tò
    mò khám phá ham hiểu biết của trẻ. Hoạt động góc là hoạt động chơi mà trẻ yêu
    thích nhất và cũng là hoạt động phát huy tính tích cực chủ động của trẻ nhiều
    nhất. Để trẻ chơi tốt ở các góc chơi, tôi lưu ý đến cách bố trí các góc chơi hợp
    lý. Đóng mở các góc chơi và sắp xếp đồ chơi phù hợp với chủ đề đang thực hiện
    (cất đồ chơi chủ đề cũ đi) tạo cho trẻ cảm giác mới mẻ tại các góc chơi.
    *Ví dụ: Ở góc phân vai cho trẻ tập làm đầu bếp
    + Con đang làm gì?
    + Con đang nấu món gì đấy?
    + Con nấu như thế nào?
    + Khi ăn những món này có tác dụng gì?
    18
    Trẻ làm đầu bếp nấu các món ăn
    – Qua góc phân vai trẻ được làm chủ mọi tình huống khi chơi, thể hiện
    được vai trò khi chơi của mình. Trẻ được đóng vai trò là trung tâm của cuộc
    chơi từ đó phát triển tư duy, nhận thức, khả năng quan sát của trẻ.
    * Ví dụ: Ở góc xây dựng với chủ đề thực vật
    – Tôi cho trẻ làm vườn rau của bé. Trẻ tự chọn vai chơi, phân công công
    việc để các thành viên cùng hoàn thành.
    + Con đang làm gì đấy?
    + Con định trồng những cây gì?
    + Đây là rau gì?
    + Con có ý tưởng như thế nào khi làm vườn rau của bé?
    Trẻ trồng cây, rau làm vườn rau của bé
    19
    – Khi tổ chức cho trẻ chơi ở các góc như vậy, tôi luôn hướng tới hoạt động
    lấy trẻ làm trung tâm. Tôi chỉ là người tạo cơ hội, hướng dẫn, gợi mở giúp trẻ
    lĩnh hội được kiến thức một cách nhẹ nhàng không gò bó cứng nhắc.
    c. Thông qua hoạt động chiều:
    – Khi tổ chức hoạt động chiều tôi hướng trẻ làm trung tâm, tôi luôn tôn
    trọng đảm bảo sự tự nguyện của trẻ. Vì thế tôi đưa ra những nội dung phù hợp
    khả năng của trẻ, tôi lên kế hoạch dạy trẻ cách gấp quần áo, gấp chiếu, chải
    đầu…. Qua đó trẻ của tôi biết làm những việc để tự phục vụ bản thân, tự tin thể
    hiện.
    Trẻ cài khuy áo, gấp quần áo
    d. Thông qua hoạt động thí nghiệm, trải nghiệm:
    Ngay từ đầu năm học tôi đã xây dựng kế hoạch trải nghiệm phù hợp với
    các hoạt động giáo dục của lớp và của nhà trường.
    Hoạt động trải nghiệm là cách học thông qua thực hành thí nghiệm, là
    những tri thức trẻ nhận được qua một số trải nghiệm thực tế. Qua hoạt động trải
    nghiệm trẻ được cung cấp kiến thức, kĩ năng từ đó hình thành phẩm chất, năng
    lực và kinh nghiệm cho bản thân. Do đó tôi thường tổ chức các hoạt động trải
    nghiệm để phát huy tính tích cực để trẻ làm trung tâm của các hoạt động.
    20
    * Ví dụ: Tổ chức trải nghiệm làm bánh dẻo nhân dịp Tết Trung thu.
    Ngày tết Trung Thu nhà trường đã tổ chức cho các lớp làm bánh dẻo. Tôi
    tổ chức cho trẻ lớp tôi làm bánh dẻo tại lớp. Tôi đã cho trẻ nặn bánh dẻo. Trước
    khi nặn tôi đã khơi gợi trí tò mò của trẻ bằng cách làm cho trẻ đoán xem làm
    cách nào để bột bánh dẻo không dính tay. Tôi hỏi trẻ làm thế nào cho nhân được
    vào bánh và làm sao để bánh có các hình dạng hình tròn, hình vuông. …Khi đó
    trẻ sẽ tò mò và đoán. Sau đó tôi cho trẻ tự làm bánh và cho trẻ thưởng thức luôn
    những chiếc bánh do mình làm ra. Được thưởng thức món bánh dẻo

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi tự hình thành ý thức phòng chống dịch bệnh

    SKKN Một số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi tự hình thành ý thức phòng chống dịch bệnh

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KI N
    Khi những mất mát đã xảy ra con người mới thức tỉnh rằng: Trong cuộc
    sống này, không có gì quan trọng với chúng ta ằng sức kh e.
    Hiện nay tình hình dịch ệnh COVID trên thế giới và Việt Nam vẫn đang
    diễn iến phức tạp, số quốc gia có dịch, số người nhiễm và số người tử vong cho
    thấy mức độ lây lan rộng và rất nhanh chóng của dịch bệnh. Năm vừa qua là
    khoảng thời gian đen tối của nước Mỹ khi đại dịch COVID1 đã cướp đi hơn
    400.000 sinh mạng. Tại sao một cường quốc khoa học hàng đầu thế giới lại trải
    qua thảm kịch này Các nhà nghiên cứu nói rằng hàng ngàn sinh mạng có th đã
    được cứu không chỉ riêng ở đại đô thị New York nếu các iện pháp chống dịch
    được áp dụng sớm hơn một tuần, hậu quả của sai lầm này là do ý thức phòng
    chống ệnh của chính mỗi cá nhân chưa có. Đây là hồi chuông áo cảnh tỉnh về
    ý thức phòng chống dịch ệnh COVID nói riêng và dịch ệnh nói chung ởi thế
    giới đã trải qua rất nhiều dịch ệnh, mỗi dịch ệnh đi qua đ lại những hậu quả
    nặng nề về con người. Theo các nhà chuyên môn khi người dân nâng cao ý thức,
    dịch ệnh lây lan chậm, được ki m soát tốt, các y ác sĩ sẽ có đủ thời gian đ
    chăm sóc cho ệnh nhân, đặc iệt là trường hợp nặng. Khi quá nhiều người mắc
    ệnh trong cùng một thời đi m, ệnh viện quá tải, đồng nghĩa ca ệnh nặng
    cũng tăng lên, việc chăm sóc và điều trị sẽ khó khăn hơn. nên ý thức phòng
    chống ệnh cũng là trách nhiệm của cộng đồng của mỗi cá nhân.
    Vậy ản chất của ý thức là gì Ý thức là hình ảnh của sự vật được thực
    hiện ở trong ộ óc con người. Nhưng đây là sự phản ánh có chọn lọc, phản ánh
    cái cơ ản nhất mà con người quan tâm, được cải iến, cũng như khắc phục các
    tính tiêu cực thiếu tính sáng tạo của con người. Bên cạnh đó thì tiềm thức lại ghi
    nhận tất cả những thông tin mà ý thức nhập vào một cách không chọn lọc, không
    iến đổi dù đó là trải nghiệm tích cực hay tiêu cực. nói một cách đơn giản tiềm
    thức chính là sự phiên dịch của ý thức. Bởi vậy, chúng ta hoàn toàn có th đưa
    3
    ra những quyết định có ý thức đ thay đổi nội dung tiềm thức của mình. luôn
    cung cấp cho tiềm thức những suy nghĩ, thái độ sống và trải nghiệm tích cực.
    Với trẻ mầm non tất cả những gì xung quanh đều mới lạ, hấp dẫn trẻ, kích
    thích sự tò mò, khám phá của trẻ, trẻ thích trao đổi giao lưu với các ạn, với
    người lớn. Song trẻ chưa ý thức được việc vệ sinh cá nhân, việc phòng chống
    dịch ệnh. Bên cạnh đó, cơ th trẻ còn non nớt, sức đề kháng còn yếu, mà môi
    trường học tập, vui chơi của trẻ thường tập trung nhiều trẻ khác. Tất cả những
    yếu tố trên rất dễ dẫn đến trẻ em mắc phải các dịch ệnh. Chính vì vậy, người
    lớn cần phải có hi u iết về tầm quan trọng của việc làm tốt công tác phòng
    chống dịch ệnh cho trẻ và hình thành ở trẻ những thói quen giữ gìn vệ sinh cá
    nhân, ý thức phòng chống dịch ệnh cho chính ản thân trẻ. iáo dục kỹ năng,
    những thói quen tốt cho trẻ từ lúc đầu đời là chìa khoá thành công cho tương lai
    của mỗi đứa trẻ. Nên khi các kỹ năng sớm được hình thành thì đó cũng chính là
    quá trình đang hình thành ý thức và đang cài đặt những nền tảng tích cực thuộc
    về tiềm thức – Trí nhớ dài hạn ở trẻ sẽ giúp nhân cách trẻ phát tri n toàn diện và
    ền vững.
    Từ những lý do trên, trong quá trình dạy và chăm sóc trẻ tôi nhận thức
    được việc giúp trẻ phòng chống các dịch ệnh là việc làm quan trọng, cần thiết
    và là vấn đề cấp ách trong thời đi m hiện nay nên tôi đã lựa chọn đề tài:”Một
    số biện pháp giúp trẻ mẫu giáo 4 -5 tuổi tự hình thành ý thức phòng chống
    dịch bệnh”, nhằm góp một phần nh é của mình trong công tác phòng chống
    dịch ệnh vào việc hình thành ý thức là vũ khí phòng, chống dịch tốt nhất cho
    trẻ.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT
    II.1. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT TRƯỚC KHI CÓ SÁNG KI N
    Trẻ phản ứng về những gì trẻ nhìn thấy một phần từ người lớn xung
    quanh. Khi một dịch bệnh nguy hi m xảy ra, người lớn lo lắng thì sự căng thẳng
    cũng xuất hiện ở trẻ. Trẻ chưa tự hi u được dịch bệnh sẽ làm trẻ sợ hãi ảnh
    hưởng đến tâm lý của trẻ. Và trẻ cũng chưa nhận thức được sự nguy hi m của
    dịch bệnh, không có ý thức bảo vệ sức kh e bản thân cho nên rất dễ bị mắc các
    bệnh truyền nhiễm.
    4
    iáo viên chưa hi u rõ bản chất, đặc đi m của từng loại dịch bệnh nên
    còn lúng túng, chưa linh hoạt trong việc chăm sóc sức kh e của trẻ khi có dịch
    bệnh và chưa có sự kết hợp thường xuyên với y tế phường trong việc theo dõi
    sức kh e của trẻ.
    Bên cạnh đó, một số phụ huynh còn chủ quan, chưa tích cực quan tâm
    chăm sóc trẻ được chu đáo, chưa dạy trẻ các kỹ năng vệ sinh cá nhân thường
    xuyên. Có nhiều phụ huynh còn nhận thức sai lệch về các dịch bệnh, chưa nhận
    thức được tầm quan trọng của công tác phòng chống dịch bệnh cho trẻ do đó vẫn
    có trường hợp vẫn đưa con đi học ình thường khi trẻ đã có dấu hiệu của bệnh
    lây nhiễm như đau mắt đ , chân tay miệng…chính vì vậy mà hoạt động “giúp
    trẻ tự hình thành ý thức phòng chống dịch bệnh” ở trường mầm non gặp phải
    rất nhiều khó khăn.
    Sau những thực trạng công tác phòng chống dịch bệnh của trẻ lớp mình,
    thông qua các tư liệu tham khảo cùng những kinh nghiệm của ản thân, tôi đã
    nghiên cứu và đưa ra một số biện pháp sau:
    II.2. MÔ TẢ GIẢI PHÁP Ĩ THUẬT SAU KHI CÓ SÁNG KI N.
    Biện pháp 1: Lập kế hoạch tổ chức hoạt động giúp trẻ mẫu giáo 4 -5 tuổi
    tự hình thành ý thức phòng chống dịch bệnh.
    * Nghiên cứu, tìm tòi, nâng cao kiến thức, kĩ năng cơ bản và cách
    phòng chống về các dịch bệnh của trẻ
    Với tình hình ô nhiễm không khí như hiện nay, việc thường xuyên tiếp
    xúc với khói ụi, hoá chất, con người còn phải đối mặt với nhiều dịch ệnh xảy
    ra khắp nơi, trên mọi quốc gia, và luôn là một thách thức lớn cho giới khoa học
    suốt hàng ngàn năm qua. Khi ệnh dịch này được khắc chế thì sau đó lại xuất
    hiện ệnh dịch khác. điều duy nhất chúng ta chưa iết đó là khi nào đại dịch xảy
    ra và mức độ nghiêm trọng của nó như thế nào nên cách duy nhất chúng ta ngăn
    chặn sự lây lan dịch ệnh là ý thức phòng chống dịch ệnh của mỗi cá nhân,
    trong khi đó trẻ ở lứa tuổi mầm non sức đề kháng cơ th còn yếu kém, ngay cả
    khi thời tiết thay đổi, trẻ cũng dễ mắc phải các dịch ệnh theo mùa nữa,
    tại trường mầm non nguy cơ truyền nhiễm là rất lớn. Bởi đây chính là nơi các
    cháu tham gia học tập, sinh hoạt và vui chơi cùng nhau. Đó là yếu tố thuận lợi
    làm lây lan dịch ệnh rất nhanh khi chỉ cần trong trường có một trẻ mắc ất cứ
    5
    dịch ệnh truyền nhiễm nào. Chính vì vậy người lớn phải chủ động có iện pháp
    giúp trẻ phòng ngừa dịch ệnh, ngăn chặn sự lây lan dịch ệnh cho trẻ.
    Là một giáo viên trực tiếp chăm sóc và dạy dỗ các con trên lớp, tôi cảm
    thấy rất khó khăn khi hướng dẫn cho trẻ cách phòng chống dịch ệnh ởi trẻ
    chưa th nào nhận thức được về dịch ệnh cũng như cách phòng ngừa, nhưng
    theo quan đi m của tôi thay việc giải thích cho trẻ cơ chế lây lan của virus chỉ
    khiến trẻ không hi u và có cảm giác sợ hãi thì hãy mang đến cho trẻ một môi
    trường học tập, vui chơi trải nghiệm hết sức thú vị, ổ ích về các vấn đề dịch
    ệnh đ từ đó trẻ sẽ tự hình thành ý thức phòng chống dịch ệnh và điều đó đã
    khiến tôi không còn căng thẳng và áp lực khi thực hiện hoạt động này, nhưng áp
    dụng một phương pháp dạy học có thành công hay không vẫn phụ thuộc vào khả
    năng tổ chức của từng giáo viên.
    Do đó tôi luôn trao đổi cùng đồng nghiệp, tích cực sưu tầm các loại sách
    hướng dẫn, tham khảo thông tin trên mạng các nội dung liên quan đến các dịch
    ệnh của trẻ như: Đối tượng dễ mắc, nguyên nhân, triệu chứng, đường lây, cách
    phòng chống…. đ xác định được sự nguy hại của dịch ệnh, nắm chắc được
    quy trình phòng chống dịch ệnh. Và theo kinh nghiệm là: “Phòng bệnh hơn
    chữa bệnh”, hàng ngày tôi theo dõi sức khoẻ của trẻ từ khi trẻ đến lớp đến khi
    trả trẻ sau đó ghi sổ nhật ký sức khoẻ, có diễn iến gì đặc iệt không, luôn cập
    nhật kịp thời các dịch ệnh khi chuy n mùa, khí hậu thay đổi đ xác định chính
    xác hơn 1 số dịch ệnh có nguy cơ cao thường xảy ra tại trường mầm non từ đó
    lên kế hoạch các nội dung cần lồng ghép phù hợp với lứa tuổi và khả năng nhận
    thức của trẻ. Tôi căn cứ vào nội dung của từng hoạt động học đ tích hợp một
    cách hài hoà, hiệu quả, phát tri n thêm sự hi u iết của trẻ về dịch ệnh, thông
    qua các hoạt động trẻ nắm được các cách phòng ệnh cơ ản mà giáo viên đã
    truyền thụ cũng từ đó trẻ tự hình thành được ý thức phòng chống dịch ệnh.
    * Đặt rõ mục tiêu giáo dục trong mọi hoạt động.
    Mọi phương pháp giáo dục được tiến hành trong giai đoạn trí tuệ con
    người phát tri n đều mang lại những ảnh hưởng sâu sắc nhất. Vì vậy trước khi
    thực hiện ất kỳ 1 hoạt động giáo dục nào đối với trẻ đ đạt hiệu quả, chúng ta
    cần phải hi u cách học của trẻ, cách ộ não của trẻ hoạt động. Đặc iệt chỉ trong
    giai đoạn này mới có sự thay đổi rất lớn trong quá trình phát tri n 2 bán cầu não,
    sẽ giúp tăng trí lực một cách tối đa, tạo tiền đề quan trọng cho sự phát tri n của
    trẻ trong học tập cũng như trong cuộc sống sau này.
    6
    Hi u được sự phát tri n não bộ của trẻ, trên cơ sở đó tôi tạo điều kiện cho
    trẻ phát tri n hết sức tự nhiên với phương pháp “Dạy trong linh hoạt, học trong
    hoạt động” người dạy có ý mà người học vô ý, trong lúc chơi có học và trong
    học hành có chơi. Bước đầu tôi đã thành công giúp trẻ mẫu giáo 4 -5 tuổi tự hình
    thành ý thức phòng chống dịch ệnh với những hoạt động thú vị và những trải
    nghiệm tuyệt vời ởi hoạt động được xây dựng tuân theo các nguyên tắc sau:
    Đảm bảo tính mục đích trẻ được phát triển toàn diện. Đảm bảo tính chất của
    hoạt động học, lĩnh hội được kiến thức cơ bản của một số dịch bệnh. Được
    hoạt động, trải nghiệm bằng cơ thể. Đảm bảo thông tin cung cấp hình thành ý
    thức cho trẻ có chọn lọc dễ lưu lại trong tiềm thức. Phù hợp với đặc điểm về
    thể chất – Tâm lí của trẻ. Tính hệ thống, dễ thực hiện.
    Biện pháp 2: Cung cấp cho trẻ sự hiểu biết về các dịch bệnh trong các
    hoạt động học
    Khi một dịch ệnh đang xảy ra và có nguy cơ lây lan trong cộng đồng, với
    những câu chuyện và tin tức về dịch ệnh tràn ngập các phương tiện thông tin
    đại chúng, đặc iệt là mạng xã hội hiện nay, nếu người lớn cảm thấy lo lắng thì
    con trẻ cũng vậy. Do đó người lớn cần phải giải thích vấn đề đó đ các con hi u
    được mình sẽ không tự nhiên ị nhiễm virus, và có những việc con có th làm đ
    ảo vệ sức kh e nhưng ở cấp độ hi u của trẻ, không quá đi sâu vào chi tiết nên
    nguồn thông tin cung cấp cần từ nhiều cách thức khác nhau và liên tục đ từ đó
    hình thành sự hi u iết và những kỹ năng cần thiết cho trẻ. Chính vì vậy ngay từ
    đầu năm học tôi đã lồng ghép, cung cấp thông tin thật chuẩn xác liên quan đến
    các dịch ệnh cho trẻ qua tất cả các hoạt động của trẻ ở trường mầm non.
     Qua hoạt động học :
     Với hoạt động tạo hình :
    Ví dụ : Nặn kính đeo mắt
    Hoạt động 1: Đàm thoại và quan sát mẫu. Hôm nay ạn úp ê có h n đến
    chơi với lớp mình nhưng ạn ị đau mắt nên không đến được, ạn phải đi khám
    ác sỹ rồi. Bác sỹ ảo do ạn ra đường không chịu đeo kính, trời nắng và ụi
    nên ị đau mắt đấy.
    7
    Đôi mắt rất quan trọng các con ạ, khi ị đau mắt sẽ nhìn không rõ và rất
    khó chịu nữa, hôm nay cô con mình hãy cùng nhau nặn chiếc kính mắt đ tặng
    búp bê nhé. Cô làm mẫu – Trẻ thực hiện – Nhận xét sản phẩm
    * Kết thúc: Cô nhận xét và giáo dục trẻ cách phòng chống dịch “ ệnh Đau
    mắt đỏ” Bệnh đau mắt đ rất dễ ị lây sẽ ị sốt nh , cộm mắt, đau, sưng, đ mắt
    tiết nhiều dịch và chảy nước mắt. Nên trẻ phải luôn vệ sinh sạch đôi tay, không
    dùng tay dụi mắt, đeo kính khi ra đường tránh ụi mắt, thường xuyên giặt khăn
    mặt ằng xà phòng và phơi dưới nắng..
    Khi có dịch đang xảy ra phải rửa mắt hàng ngày ằng nước muối sinh lý
    (nước muối 0, %), ngày ít nhất 3 lần vào các uổi sáng, trưa, tối
    Các bạn đang nặn kính để tránh bụi vào mắt
     Với hoạt động Âm nhạc

    Ví dụ: GDAN: Dạy hát “Mời bạn ăn”
    Nghe hát : Thật đáng chê
    TCAN: Ai đoán giỏi

    Hoạt động: Nghe hát “Thật đáng chê”.
    Dựa vào lời ài hát, dựa vào hệ thống câu h i: Chích chòe đến trường vào
    lúc nào? Chích chòe có đội mũ không? Chích chòe bị đau gì?…
    8
    * Từ đó cô lồng ghép giáo dục trẻ: Chích chòe ị đau đầu, chóng mặt là
    do ạn đi nắng mà không chịu đội mũ nên đã ị cảm cúm đấy các con ạ, Bệnh
    Cúm là ệnh sẽ làm cho chúng ta ị đau đầu, chóng mặt, ho, đau họng, ngh t
    mũi, hắt hơi nhiều và chảy nước mũi nên đ tránh ệnh chúng ta phải đội mũ
    hoặc che ô khi ra nắng, nếu đã ị cảm cúm thì phải xúc miệng họng ằng nước
    muối pha loãng đ làm sạch mũi họng hàng ngày. Tránh tiếp xúc với ụi, đeo
    khẩu trang khi đi ra đường, luôn giữ ấm cho cơ th , tránh dầm nước lạnh.
    Với những câu h i: Tại sao ạn Cò ị đau ụng Chú Cò đã ăn gì Đã
    uống gì
    * Cô giáo dục trẻ: Chú Cò ị đau ụng là do chú đã ăn uống không vệ sinh
    đấy các con ạ, lại còn ăn quá nhiều nên chú đã ị Bệnh tiêu chảy, khi ị ệnh
    tiêu chảy sẽ chúng ta sẽ ị đau ụng, sốt và đi ngoài nhiều lần trong một ngày,
    cơ th mất nước, nên đ phòng ệnh tiêu chảy chúng ta cần phải ăn chin, uống
    sôi, phải rửa tay ằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, khi tay ị ẩn,
    không vứt rác ừa ãi ra lớp, sân trường và quanh lớp học.
    ạn Chích Chòe bị Cảm Cúm rồi !
     Với hoạt động làm quen với Toán
    Ví dụ : Đề tài “ Đếm đến 5, nhận biết các nhóm có số lượng 5 ”
    Cô tổ chức chương trình “ Tặng quà sinh nhật ”
    9
    Hoạt động 1: Đếm đến 5, nhận biết các nhóm có số lượng 5. Cô cho trẻ
    tặng 5 chiếc khăn quàng cổ cho 5 bạn sinh nhật vào mùa đông (phát rổ đồ chơi
    cho trẻ xếp thứ tự)
    * Kết hợp hỏi trẻ: Tại sao phải quàng khăn khi thời tiết lạnh, giáo dục trẻ
    cách phòng chống dịch “ ệnh giao mùa”. Mùa đông các con thường hay mắc
    dịch cúm, sởi…nên cần giữ ấm cơ th khi thời tiết chuy n lạnh, khi ra ngoài trời
    mặc ấm, đi tất giữ ấm àn chân, àn tay, quàng khăn cổ, đeo khẩu trang.
    Hoạt động 2: Luyện tập. Cô mời trẻ lên đếm số lượng những chiếc ô làm
    quà tặng cho các bạn sinh nhật vào mùa hè (5 chiếc ô)
    * Kết hợp giáo dục trẻ Bệnh mùa hè thường gặp như: sốt virus, viêm phế
    quản, viêm phổi, thủy đậu…Khi cần ra ngoài trời cần đội mũ đầy đủ, không
    chạy nhảy chơi nắng ra nhiều mồ hôi không kịp lau sẽ bị ho, tắm gội hằng ngày
    đ tránh ngứa ngáy do bụi bẩn, không ngồi trước quạt mạnh vì sẽ sổ mũi.
    Đếm đến 5, nhận biết các nhóm có số lượng 5
     Với hoạt động khám phá khoa học
    Ví dụ : Đề tài “ Một số loại côn trùng ”
    10
    Trẻ khám phá về 1 số loại côn trùng. Cô cho trẻ cùng tìm hi u 1 số côn
    trùng có lợi và côn trùng có hại, biết được ích lợi của côn trùng có lợi và cách
    phòng chống côn trùng có hại
    * Tạo nhóm cho trẻ cùng nhau trao đổi về những côn trùng mà mình biết
    sau đó cô khái quát lại và giải thích về côn trùng có lợi và có hại cho con người
    như con muỗi, con ruồi là côn trùng có hại vì là trung gian truyền bệnh lây
    nhiễm, vì con ruồi hay đậu vào thức ăn rất dễ lây Bệnh dịch tả…Con muỗi hút
    máu người, đặc biệt muỗi vằn sẽ gây Bệnh sốt xuất huyết. Đồng thời giáo dục
    trẻ khi ngủ chúng ta cần mắc màn, cần bảo quản thức ăn cẩn thận, giữ nhà cửa,
    lớp học luôn sạch sẽ, loại b nơi sinh sản của muỗi, diệt lăng quăng, phun thuốc
    muỗi định kỳ.
    Cô và trẻ cùng tìm hiểu về loài ướm
     Với hoạt động Thể dục
    Ví dụ : Vận động cơ bản “ Ném xa bằng 2 tay ”
    ây hứng thú : Cô và trẻ cùng hát bài: Nắng sớm. Các con ạ, ánh nắng
    buổi sáng rất có lợi cho sức kh e, giúp chúng ta phát tri n cơ xương đấy. Ngoài
    việc ăn uống đủ chất và tắm nắng buổi sáng, chúng ta còn phải tập th dục đ có
    cơ th kh e mạnh đ tránh bệnh nào. Chúng ta cùng tập th dục nhé!
    11
    Đ cơ th kh e mạnh, hôm nay cô con mình hãy cùng nhau tập vận động
    “ Ném xa bằng 2 tay ”.
    * Sau khi kết thúc giờ hoạt động th dục cô cho trẻ đi rửa tay và giáo dục
    trẻ cơ thể khỏe mạnh sẽ tránh được nhiều bệnh. Muốn cao lớn, kh e mạnh thì
    trẻ phải chăm tập th dục giúp tăng cường hệ miễn dịch và sức đề kháng, biết
    bảo vệ môi trường đ được hít thở không khí trong lành.
    Hồi tĩnh và hít thở không khí trong lành
     Với hoạt động văn học
    Trẻ mầm non là lứa tuổi luôn luôn yêu thích được nghe những câu chuyện
    cô k , đối với trẻ nội dung và hình ảnh của câu chuyện như một thế giới mà trẻ
    luôn muốn khám phá, muốn hòa mình vào đó, muốn trở thành 1 em bé ngoan.
    Ví dụ: Câu chuyện “Chú mèo đánh răng”
    * Qua lời k của cô, qua tranh ảnh và qua hệ thống câu h i cô đưa ra, cô sẽ
    giúp trẻ biết được rằng việc chăm sóc và ảo vệ răng miệng là rất cần thiết vừa
    giúp chúng ta có 1 cơ th kh e mạnh vừa chúng chúng ta phòng và tránh những
    bệnh về răng miệng như sâu răng, chân tay miệng….Virus gây Bệnh tay chân
    miệng có khả năng lây lan rất nhanh, truyền trực tiếp từ người sang người nên
    dễ thành dịch. Bệnh có bi u hiện đặc trưng là sốt, đau họng, loét miệng, lợi,
    12
    lưỡi, xuất hiện ph ng nước ở lòng bàn tay, bàn chân, gối. Đ phòng bệnh trẻ
    phải rửa tay đúng cách và thường xuyên bằng xà phòng khi tay bẩn, nhất là
    trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh. Đánh răng với thuốc hàng ngày và phải luôn
    biết giữ gìn vệ sinh chung, giữ gìn đồ chơi sạch sẽ
    Chú mèo đến chơi với lớp mình này
     Hoạt động ngoài trời
    Hoạt động có chủ đích: uan sát nhà ếp
    Cô và trẻ cùng xếp hàng đi xuống ếp quan sát các ác cấp dưỡng đang sơ
    chế và nấu các món ăn.
     Cô giáo dục trẻ: Các con ạ, hàng ngày đ có những ữa ăn ngon cho các
    con, các ác cấp dưỡng đã phải nấu ăn rất vất vả nấu nhiều món đ đảm bảo 4
    nhóm thực phẩm: Tinh bột, chất đạm, chất béo, các loại rau và hoa quả giàu
    vitamin và khoáng chất thiết yếu cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể, vì
    thế chúng mình hãy luôn ăn chín uống sôi, cố gắng ăn hết suất, đ có được cơ
    th kh e mạnh chống lại các dịch bệnh nhé.
    Trò chơi: Virus dịch bệnh và Búp Bê.
    Cho trẻ nhắc lại cách chơi: Một bạn sẽ làm “Virus dịch bệnh” bay trong
    không khí, các bạn còn lại là cácthành viên “gia đình búp bê”, khi gia đình úp
    13
    ê đi chơi picnick (vừa đi vừa hát ) thì gặp virus dịch bệnh ay đến, Virus bắt
    úp ê nào mà chưa vào vùng an toàn cách ly (trẻ đứng ngoài vòng tròn )
    Luật chơi : Virus dịch bệnh chỉ được bắt những búp bê chậm chạp không
    vào vùng an toàn cách ly.
    Cô cho trẻ chơi 3-4 lần .Cô chú ý quan sát trẻ chơi.
    * Nhận xét cuối buổi và giáo dục trẻ phải tuân theo các quy định an toàn
    khi phong chống dịch.
    Chơi tự do: Giới thiệu các góc chơi, cho trẻ chơi theo ý thích.
    Virus dịch bệnh và Gia đình Búp Bê
     Hoạt động góc:
    Chơi là quá trình trẻ học làm người, trải nghiệm những xúc cảm, tình
    cảm, hành vi của con người qua các vai khác nhau. Với các chủ đề chơi về “Gia
    đình”, “Bản thân”, “Trường mầm non” … Khi trẻ tham gia vào trò chơi cũng
    chính là quá trình trẻ tiếp nhận tri thức, kỹ năng, hình thành xúc cảm, tình cảm
    một cách tự nhiên không ép buộc. Do đó tôi đã tổ chức các hoạt động vui chơi
    chứa đựng nội dung giáo dục phòng chống dịch bệnh cho trẻ hiệu quả thông qua
    hoạt động góc.
    óc phân vai: Bé chơi Bác sỹ, y tá.
    14
    Góc xây dựng: Xây bệnh viện, khu cách ly.
    Góc thiên nhiên: Trồng cây xanh đ bảo vệ môi trường không ô nhiễm.
    Góc học tập: xem lô tô về các dịch bệnh, tranh ảnh các họat động phòng
    tránh dịch bệnh.
    óc thư viện : Vẽ và sưu tầm tranh ảnh tuyên truyền các biện pháp chống
    dịch.
    Trồng cây xanh để bảo vệ môi trường không ô nhiễm
     Hoạt động ngoại khóa
    Tổ chức xem phim rạp: Tri n khai hoạt động truyền thông phòng chống
    dịch bệnh cho trẻ thông qua hoạt động chiếu phim rạp là một ước đột phá trong
    hoạt động giáo dục. Muốn có kết quả mới phải có cách làm mới, và đ có th có
    kết quả giáo dục tốt hơn, toàn diện hơn, chúng ta cần linh hoạt trong cả cách
    thức cũng như công cụ, phương thức giáo dục. Tôi thấy ý tưởng đưa phim rạp
    vào trường học là một ý tưởng rất thú vị và đúng đắn. Những bộ phim ngắn đã
    trở lên gần gũi hơn, thực tế hơn với những lợi thế về âm thanh, hình ảnh đ p,
    màu sắc sinh động, ăn sâu vào giác quan, nhận thức, dễ dàng đã trở thành
    phương tiện truyền thụ kiến thức rất hiệu quả đối với trẻ.
    15
    Và hình thức “xem mà học” này đã giúp trẻ lĩnh hội các thông điệp giáo
    dục một cách chủ động qua từng thước phim. Tôi bắt đầu lên kế hoạch trong các
    buổi ngoại khóa của nhà trường xin phép được đưa một số clip ngắn về “Kỹ
    năng phòng chống bệnh tật” sau các bộ phim. Sự khác lạ này đã tạo cho trẻ
    thích thú, hào hứng trả lời các câu h i hướng dẫn phòng chống dịch bệnh của cô,
    giúp trẻ biết tự bảo vệ chính mình khi có dịch bệnh xảy ra.
    Trẻ hào hứng trả lời các câu hỏi
    Biện pháp 3: Tạo Sân Chơi
     Cuộc thi vẽ tranh với chủ đề “Chung tay về một Thế Giới không
    còn bệnh truyền nhiễm”
    Trẻ em chính là những chủ nhân tương lai của đất nước, dù còn nh tuổi
    nhưng nếu được định hướng bằng những hoạt động rõ ràng, các em đều có th
    đóng góp cho đất nước bằng những cách rất riêng và đây cũng là nhiệm vụ đặt
    ra cho các nhà giáo dục. Cuộc thi vẽ tranh với chủ đề “Chung tay về một Thế
    Giới không còn bệnh truyền nhiễm” đã đáp ứng được một trong số đó khi đã
    tạo sân chơi ổ ích giúp các em có niềm vui cùng gia đình, được các em sáng
    tác với nhiều ý tưởng sáng tạo, có ý nghĩa giáo dục.
    16
    Với mục đích nhằm trang bị cho trẻ có ý thức phòng chống dịch bệnh
    cũng như tăng cường nhận thức về bảo vệ sức kh e bản thân, đa dạng hóa các
    hình thức tuyên truyền phòng chống dịch bệnh. Tôi đã tổ chức cuộc thi vẽ tranh
    tại nhà với thời gian thực hiện 1 tuần xoay quanh các chủ đề như: Cách chăm
    sóc sức kh e, giữ gìn vệ sinh, những việc làm cụ th của trẻ cùng gia đình, nhà
    trường phòng chống dịch bệnh. Trẻ được thực hiện dưới sự hỗ trợ của cả gia
    đình giúp các em tự tin hơn đ hoàn thành chủ đề mình đã lựa chọn. Nhưng điều
    thành công bất ngờ đến với chúng tôi đó là những tác phẩm tham gia cuộc thi
    không chỉ th hiện tinh thần bảo vệ sức kh e mà còn truyền được cảm hứng,
    hình thành được ý thức phòng chống dịch bệnh trong cả quá trình thực hiện.
    Bạn Thỏ đang phòng chống dịch
     Dự án “Phòng chống các dịch bệnh”
    “Khám phá dự án” trẻ được hoạt động theo nhóm, tạo cơ hội cho trẻ đưa
    ra những câu h i, dự đoán và tự mày mò tìm ra câu trả lời với cách thức cộng
    tác, kiến thức của trẻ được mở rộng, nâng cao kĩ năng thực hành, có sự củng cố,
    ki m chứng. Tất cả những điều đó đã góp phần làm giàu vốn kinh nghiệm của
    trẻ, và cho những kết quả rất ấn tượng khi trẻ có được chứng kiến riêng của bản
    17
    thân, ý thức tích cực được hình thành qua mỗi hoạt động. Đồng thời cũng hướng
    sự quan tâm của phụ huynh tới các hoạt động dành cho trẻ, gắn kết được mối
    quan hệ giữa Nhà trường – ia đình. Bố m sẽ là người bạn đồng hành tích cực
    của trẻ và trong quá trình giúp trẻ chủ động tìm tài liệu, cùng nhau thảo luận,
    vạch ra một số cách “nghiên cứu” khác nhau trẻ sẽ học tập được kinh nghiệm
    từ người đi trước. Đây chính là cái hay của phương pháp giáo dục này.
    Ví dụ : Khám phá Dự án “Dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do Virus
    Corona”
    Hiện nay dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do virus Corona gây ra đang
    là một vấn đề đang được cả xã hội quan tâm, với mong muốn được chung tay
    cùng với phụ huynh và các bạn nh đẩy lùi dịch bệnh nguy hi m này nên tôi đã
    tri n khai dự án: Dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do Virus Corona.
     Mở Dự Án :
    Trước khi mở dự án tôi gửi thư thông áo góc tuyên truyền và đăng lên
    zalo của nhóm, lớp thông báo về các vấn đề sẽ nghiên cứu tới phụ huynh
    Hình thức mở dự án sẽ tạo hứng thú, động lực cho trẻ chọn khám phá dự
    án một cách tích cực, đồng thời giúp cho tôi khảo sát được kiến thức của trẻ về
    đề tài đã lựa chọn đ chủ động định hướng hoạt động của trẻ.
    Khởi động cho “Dự án” là hình ảnh Virus Corona xuất hiện đầy nguy
    hi m và “tàng hình” í ẩn với lúc ẩn lúc hiện dưới ánh sáng hắt của máy chiếu.
    Cô giáo khống chế Virus bằng cách vẽ bắt theo bóng của Corona bắt nó phải
    hiện nguyên hình. Virus Corona hiện ra trong sự đầy hào hứng của trẻ. Thông
    qua các câu chuyện của cô, của Bố m , của thông tin mạng…Các con nhận biết
    được đó là Virus ệnh truyền nhiễm gây chết người Corona.
    Đã có rất nhiều câu h i được đưa ra như: Đây là cái gì?, Tại sao nó bay
    được?, Sao nó làm chết được người?… Sau khoảng thời gian ngắn thảo luận,
    các con cùng các cô đã quyết định cùng nhau xây dựng Dự án “Dịch bệnh viêm
    đường hô hấp cấp do Virus Corona”.
    18
    Corona xuất hiện đầy nguy hiểm và tàng hình
    * Với hoạt động của giáo viên :
    Hệ thống đặt câu h i ( đã iết, chưa iết) liên quan đến vấn đề cần điều tra
    và gần với sự hi u biết của trẻ đ trả lời câu h i với một số nội dung chính:
    Dịch bệnh là gì? Dịch bệnh có những cấp độ nào, và dịch bệnh viêm
    đường hô hấp cấp corona gây ra đang ở cấp độ nào ?
    Bé có biết hệ hô hấp của chúng ta gồm những bộ phận nào? Viêm đường
    hô hấp là gì ? Biểu hiện chung của viêm đường hô hấp là gì ?
    Những dấu hiệu nào để bé có thể nhận biết một người đã hoặc có thể
    nhiễm viêm đường hô hấp Corona gây ra. Chúng ta sẽ phải làm như thế nào để
    nhận biết dấu hiệu đó
    Bệnh viêm đường hô hấp cấp và virus Corona có nguy hiểm đến tính
    mạng hay không? Và chúng ta sẽ phải làm gì để phòng ngừa dịch bệnh đó?
    Bé có biết loại khẩu trang nào có thể hạn chế sự lây lan của virus Corona
    không? Và cách đeo khẩu trang như thế nào mới là đúng?
    Khuyến khích trẻ có th tìm hi u thêm những nội dung khác trong dự án
    mà trẻ quan tâm.
    19
    Tôi gợi ý đ trẻ tìm ra vấn đề trong các đề tài, ý tưởng ra sao? Lên các
    nhiệm vụ cho trẻ, cách thức tiến hành đ trẻ giải quyết được vấn đề.
    * Với hoạt động của trẻ :
    Trẻ được tái hiện lại những kiến thức mình đã iết về đề tài và liệt kê ra
    những điều mình muốn biết thêm về đề tài
    Trẻ tự lựa chọn 1 nội dung mà mình muốn nghiên cứu như: “Dịch bệnh là
    gì?”, “Hệ hô hấp là gì?”, “Dấu hiệu nhận biết người nhiễm Virus Crona?”,
    “Cách phòng bệnh?”, “Khẩu trang?”…Từ đó trẻ tự xác định được việc của
    mình phải làm trong quá trình khám phá dự án: Tìm câu trả lời cho những thắc
    mắc bằng cách nào? Ở đâu? Khi nào?
    Trẻ chủ động trong việc lập nhóm: Các bạn có cùng nội dung khám phá sẽ
    chung về một nhóm. Các nhóm sẽ phân nhóm trưởng và công việc cho các thành
    viên về nhà nghiên cứu đề tài có sự trợ giúp của người thân đ hoàn thành dự án
    trong 1 tuần.
     Triển Khai Dự Án :
    iai đoạn kết nối thông tin về dự án. Đây là quá trình tổ chức cho trẻ cuộc
    điều tra, thu thập, lưu giữ thông tin
    * Với hoạt động của giáo viên :
    Quá trình thực thi cô tiếp tục trao đổi với cá

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên tổ chức có hiệu quả hoạt động chơi ngoài trời cho trẻ mầm non

    SKKN Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên tổ chức có hiệu quả hoạt động chơi ngoài trời cho trẻ mầm non

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
    Đất nước ta đang trong tiến trình đổi mới, phát triển và hội nhập, không
    những cần đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội mà còn phải quan
    tâm đến đổi mới giáo dục- đào tạo, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững
    năm 2030 của Việt Nam là “Đảm bảo nền giáo dục có chất lượng, công bằng,
    toàn diện và thúc đẩy các cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người”. Chính
    vì thế, xuyên suốt nhiều kỳ Đại hội Đảng cũng như nhiều Hội nghị Trung
    ương, quan điểm “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” không thay
    đổi. Mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã từng khẳng định “Giáo dục mầm non
    tốt sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt”. Thật vậy, giáo dục mầm non chiếm
    một vị trí quan trọng- là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân với
    mục tiêu giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình
    thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một;
    hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và
    phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa
    tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho
    việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời.
    Để thực hiện được mục tiêu này trẻ được chăm sóc sức khỏe, được giáo
    dục thông qua các hoạt động học tập, vui chơi,…. Và hoạt động “Chơi ngoài
    trời” là một trong những hoạt động vui chơi không thể thiếu trong chế độ sinh
    hoạt hàng ngày của trẻ. Đây là hoạt động mà trẻ hứng thú nhất, mang lại cho
    trẻ nhiều kiến thức lí thú, bổ ích về các sự vật, hiện tượng xảy ra xung quanh
    và đặc biệt nó thỏa mãn nhu cầu vui chơi của trẻ. Khi tham gia hoạt động
    “Chơi ngoài trời” trẻ được phát triển óc quan sát, khả năng tư duy, kỹ năng
    phân biệt, so sánh, rèn luyện trí nhớ,… cung cấp vốn sống thực tiễn. Đồng thời,
    trẻ được tận hưởng những điều kiện tự nhiên như được tắm nắng, được hít thở
    không khí trong lành, được vận động tự do, thoải mái, đáp ứng nhu cầu vận
    4
    động của trẻ, nhờ đó cơ thể được rèn luyện, sức khỏe được tăng cường, tạo cho
    trẻ sự nhanh nhẹn và thích ứng với môi trường tự nhiên. Tuy nhiên, trẻ mầm
    non nhận thức về sự vật, hiện tượng chủ yếu bằng trực quan hình tượng, trẻ chỉ
    ghi nhớ những gì đem lại sự hấp dẫn đối với trẻ, trẻ dễ dàng tham gia vào bất
    cứ hoạt động nào đó nhưng cũng rất nhanh chán và sớm bỏ cuộc.
    Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động “Chơi ngoài trời” đối với
    sự phát triển của trẻ cũng như nắm bắt được đặc điểm tâm sinh lý của trẻ lứa
    tuổi mầm non. Là một người cán bộ quản lý tôi luôn trăn trở, suy nghĩ làm thế
    nào làm thế nào để giúp giáo viên có tổ chức được các hoạt động “Chơi ngoài
    trời” thực sự có hiệu quả, hấp dẫn, lôi cuốn và phát huy được tính tích cực,
    mạnh dạn, tự tin,….của trẻ, giúp trẻ phát triển toàn diện theo hướng “Lấy trẻ
    làm trung tâm”, lấy hoạt động làm phương tiện để thực hiện mục tiêu giáo dục
    trẻ. Vì thế, tôi đã chọn đề tài “Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên tổ chức
    hiệu quả hoạt động chơi ngoài trời cho trẻ mầm non” để nghiên cứu sâu hơn
    và chia sẻ những kinh nghiệm cũng như sự hiểu biết của mình tới bạn bè, đồng
    nghiệp.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT:
    1. Mô tả giải pháp kỹ thuật trƣớc khi tạo ra sáng kiến:
    Hoạt động “Chơi ngoài trời” có ý nghĩa đặc biệt đối với trẻ mầm non, là
    con đường tiếp xúc độc đáo của trẻ với kiến thức về sự vật hiện tượng tự nhiên,
    xã hội đồng thời giúp trẻ rèn luyện các tố chất vận động, tăng sường sức khỏe
    và là một trong những hoạt động quan trọng giúp trẻ bước vào giai đoạn đầu
    tiên của sự hình thành phát triển nhân cách. Quá trình tổ chức thực hiện hoạt
    động “Chơi ngoài trời” tại các nhóm/lớp của trường mầm non Sao Vàng gặp
    một số thuận lợi và khó khăn sau:
    a. Thuận lợi:
    – Nhà trường có bề dầy thành tích trong công tác chăm sóc – giáo dục trẻ,
    luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp lãnh đạo, sự chỉ đạo trực tiếp
    về chuyên môn của Sở GD- ĐT và Phòng GD- ĐT. Năm học 2020- 2021 nhà
    trường đã được đoàn đánh giá Sở Giáo dục và Đào tạo Tỉnh Nam Định đánh
    5
    giá và công nhận: Đạt kiểm định chất lượng giáo dục mức độ 3, trường chuẩn
    quốc gia mức độ 2, trường mầm non Xanh- Sạch- Đẹp và An toàn.
    – Cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho công tác
    chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ của nhà trường và các nhóm/lớp được trang
    bị đầy đủ, đồng thời luôn được mua sắm bổ sung đáp ứng yêu cầu của các hoạt
    động trong đó có hoạt động “Chơi ngoài trời”: Nhà trường xây dựng các khu
    vui chơi vận động theo độ tuổi nhà trẻ và mẫu giáo, khu vui chơi, trải nghiệm,
    khu chơi với cát nước, suối nước, đồi cỏ, vườn rau, vườn cây ăn quả, vườn hoa.
    – Nhà trường thường xuyên tổ chức bồi dưỡng cho cán bộ, giáo viên nhằm
    nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tăng khả năng đổi mới, sáng tạo các
    phương pháp, hình thức giáo dục trẻ.
    – Đội ngũ giáo viên các nhóm/lớp có trình độ chuyên môn, nhiệt tình, yêu
    nghề, mến trẻ. Có tinh thần tự học, tự bồi dưỡng, luôn cố gắng tìm tòi, sáng tạo
    trong các hoạt động giáo dục trẻ để tìm ra các biện pháp gây hứng thú cho trẻ
    trong các hoạt động, tích cực tham gia các phong trào, các chuyên đề, hội thi
    do nhà trường và các cấp tổ chức nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
    vụ. Giáo viên luôn yêu thương, tôn trọng trẻ, coi trẻ như chính con em của
    mình, chịu khó, kiên trì, linh hoạt trong các tình huống xảy ra trong quá trình
    chăm sóc- giáo dục trẻ.
    – Trẻ ngoan ngoãn, có nền nếp, tích cực, tự tin tham gia các hoạt động.
    – Phụ huynh nhiệt tình ủng hộ, phối kết hợp với nhà trường trong công tác
    chăm sóc, giáo dục trẻ.
    b. Khó khăn:
    Nhà trường đã thực hiện tốt các hoạt động theo Chương trình GDMN
    do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Tuy nhiên, khi thực hiện hoạt động
    “Chơi ngoài trời” còn gặp một số khó khăn sau:
    – Mặc dù nhà trường đã được các cấp lãnh đạo quan tâm cấp kinh phí tu
    sửa, cải tạo cơ sở vật chất. Nhưng do đã được xây hơn 40 năm nên cơ sở vật
    chất của nhà trường vẫn tiếp tục xuống cấp gây trở ngại cho việc thực hiện một
    số hoạt động của trẻ trong đó có hoạt động “Chơi ngoài trời”.
    6
    – Năng lực chuyên môn của đội ngũ chưa đồng đều, một số giáo viên chưa
    thực sự linh hoạt, sáng tạo trong tổ chức các hoạt động “Chơi ngoài trời”: chưa
    đổi mới, sáng tạo phương pháp, hình thức trong việc xây dựng kế hoạch, tổ
    chức thực hiện hoạt động; chưa thực sự tạo nhiều cơ hội để trẻ được trải
    nghiệm, khám phá thế giới xung quanh; chưa phát hiện, phát huy khả năng, sở
    trường của nên trẻ ít tập trung chú ý hoặc chưa hứng thú, mạnh dạn, tự tin tham
    gia hoạt động “Chơi ngoài trời”.
    – Khả năng chú ý có chủ định của trẻ còn hạn chế, trẻ dễ dàng bị lôi cuốn
    nhưng cũng nhanh chóng chán nản, tự rút ra khỏi hoạt động khi trẻ không còn
    hứng thú.
    – Một số phụ huynh chưa thực sự nhận thức đúng về vai trò của hoạt động
    “Chơi ngoài trời” đối với trẻ nên việc trò chuyện với trẻ về thế giới xung quanh
    còn hạn chế, đa phần là cô giáo cung cấp các kiến thức, kĩ năng cho trẻ.
    c. Thực trạng: Căn cứ vào tình hình thực tế trên, để phục vụ cho mục
    đích viết sáng kiến này, tôi đã tiến hành khảo sát đầu năm học 2020- 2021 và
    thu được kết quả như sau:
    – Đối với giáo viên: Tiến hành khảo sát 42 giáo viên:

    TTTiêu chí đánh giáMức độ đạt tiêu chíMức độ chƣa đạt
    tiêu chí
    Số lƣợng
    GV
    Tỷ lệ %Số lƣợng
    GV
    Tỷ lệ %
    1Giáo viên sáng tạo
    trong việc xây dựng kế
    hoạch tổ chức các hoạt
    động chơi ngoài trời.
    2866,7%1433,3%
    2Giáo viên linh hoạt,
    sáng tạo các phương
    pháp, hình thức mới
    trong việc tổ chức các
    hoạt chơi ngoài trời.
    2559,5%1740,5%
    3Giáo viên tích cực, sáng2866,7%1433,3%

    7

    tạo xây dựng môi
    trường cho trẻ hoạt
    động chơi ngoài trời.
    Trung bình2764,3%1535,7%

    * Đánh giá: Tỉ lệ đạt đối với các tiêu chí chiếm 64,3%. Tỉ lệ không đạt 35,7%
    =>việc sáng tạo, linh hoạt của giáo viên còn hạn chế.
    – Đối với trẻ: Tiến hành khảo sát các độ tuổi:

    TTTiêu chí đánh giáSố trẻ đạt tiêu chí /tỷ lệ%
    Trẻ
    24-36 tháng
    (25 trẻ)
    Trẻ 3-4 tuổi
    (25 trẻ)
    Trẻ 4-5 tuổi
    (30 trẻ)
    Trẻ 5-6 tuổi
    (35 trẻ)
    SL
    trẻ
    Tỉ lệ
    %
    SL
    trẻ
    Tỉ lệ
    %
    SL
    trẻ
    Tỉ lệ
    %
    SL
    trẻ
    Tỉ lệ
    %
    1Trẻ đạt được các yêu
    cầu kiến thức của hoạt
    động chơi ngoài trời
    1144%1248%1653%2263%
    2Trẻ có kỹ năng : quan
    sát, phân tích, tổng
    hợp,…về các đối
    tượng được khám phá
    trong hoạt động chơi
    ngoài trời.
    1040%1144%1550%2160%
    3Trẻ có các kỹ năng vận
    động và phát triển các
    tố chất vận động của
    trẻ: nhanh nhẹn, khéo
    léo, mạnh mẽ, bền bỉ.
    1248%1352%1756%2263%
    4Phát triển vốn từ cho
    trẻ, trẻ tự tin trong giao
    tiếp.
    1040%1144%1550%2160%
    5Trẻ hứng thú, mạnh1144%1248%1653%2367%

    8

    dạn, tự tin khi tham gia
    các hoạt động chơi
    ngoài trời.
    Trung bình10,843,2%11,847,2%15,852,4%21,862,6%

    * Đánh giá: Tỉ lệ đạt đối với các tiêu chí chỉ chiếm từ 43,2% đến 62,6%
    => Trẻ tỉ lệ trẻ chưa đạt các yêu cầu về kiến thức, các kỹ năng, ….còn ở mức
    độ trung bình.
    – Đối với phụ huynh: Tiến hành khảo sát 200 phụ huynh có con học tại
    các độ tuổi khác nhau:

    T TTiêu chí đánh
    giá
    Mức độ
    TốtKháTBKém
    SL
    Phụ
    huynh
    Tỉ lệ
    %
    SL
    Phụ
    huynh
    Tỉ lệ
    %
    SL
    Phụ
    huynh
    Tỉ lệ
    %
    SL
    Phụ
    huynh
    Tỉ lệ
    %
    1Phụ huynh nhận
    định được tầm
    quan trọng của
    việc chăm sóc
    giáo dục trẻ nói
    chung và hoạt
    động “Chơi ngoài
    trời” nói riêng.
    3015%6030%10050%105%
    2Phụ huynh quan
    tâm, chia sẻ, ủng
    hộ, tham gia các
    hoạt động chăm
    sóc- giáo dục trẻ
    nói chung và hoạt
    động “Chơi ngoài
    trời” nói riêng.
    2512,5%5728,5%9547,5%2311,5%
    Trung bình2713,5%58,529,3%97,548,8%16,58,3%

    9
    * Đánh giá: Tỉ lệ phụ huynh đạt mức độ tốt các tiêu chí: 13,5%, mức độ
    khá: 29,3%, mức độ trung bình: 48,8%, mức độ kém: 8,3% => Phụ huynh chưa
    thực sự nhận định được tầm quan trọng, quan tâm, chia sẻ, ủng hộ, tham gia
    các hoạt động chăm sóc- giáo dục trẻ nói chung và hoạt động “Chơi ngoài trời”
    nói riêng.
    Từ những thực trạng và kết quả khảo sát trên, tôi đã suy nghĩ và quyết tâm
    phải đưa ra một số biện pháp tổ chức thực hiện có hiệu quả các hoạt động
    “Chơi ngoài trời” nhằm: Giúp giáo viên thực hiện tốt các hoạt động “Chơi
    ngoài trời” tại nhóm/lớp của mình nhằm đáp ứng nhu cầu vui chơi hàng ngày
    của trẻ cũng như đáp ứng mục tiêu giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay;
    Giúp trẻ hứng thú, tự tin, bổ sung thêm các kiến thức về môi trường xung
    quanh, phát triển vốn từ, có các kỹ năng tham gia các hoạt động,…; Giúp phụ
    huynh nhận định được tầm quan trọng của việc chăm sóc- giáo dục trẻ nói
    chung và hoạt động “Chơi ngoài trời” nói riêng đồng thời quan tâm, chia sẻ,
    ủng hộ, tích cực tham gia vào các hoạt động của trẻ tại trường/lớp. Sau quá
    trình tìm hiểu và nghiên cứu kĩ lưỡng, tôi xin đưa ra “Một số biện pháp chỉ
    đạo giáo viên tổ chức hiệu quả hoạt động chơi ngoài trời cho trẻ mầm non”
    như sau:
    2. Mô tả giải pháp kỹ thuật sau khi có sáng kiến:
    Hoạt động vui chơi đối với trẻ mầm non thực sự đóng vai trò chủ đạo
    trong sự phát triển của trẻ. Trẻ lứa tuổi mầm non lĩnh hội, tiếp thu các kiến
    thức, kĩ năng,… hiệu quả nhất là thông qua hoạt động vui chơi. Và hoạt động
    “Chơi ngoài trời” là một trong những hoạt động vui chơi không thể thiếu trong
    chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ. Thông qua hoạt động này, trẻ được tiếp
    xúc, gần gũi với thiên nhiên, trẻ được khám phá, thoả mãn trí tò mò về thế giới
    xung quanh, đồng thời hình thành, phát triển các kĩ năng xã hội, phát triển tư
    duy, trí tuệ, trẻ được hít thở cảm nhận sự trong lành của không khí buổi sáng,
    giúp trẻ hấp thụ Vitamin D, phát triển thể lực, tăng cường sức khoẻ cho trẻ.
    10
    2.1. Giải pháp 1: Bồi dƣỡng về chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên,
    giúp giáo viên có khả năng sáng tạo, linh hoạt trong việc xây dựng kế
    hoạch và tổ chức tốt hoạt động “ Chơi ngoài trời”:
    Công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên là một trong
    những công tác có tầm quan trọng chiến lược, có tính chất quyết định chất
    lượng các hoạt động học tập, vui chơi của trẻ trong nhà trường.
    (Hình ảnh: Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên)
    Để nâng cao chất lượng hoạt động “Chơi ngoài trời” cho trẻ thì yếu tố
    nghiệp vụ sư phạm và phương pháp xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện hoạt
    động của người giáo viên là yếu tố hết sức quan trọng và cần thiết. Nhận thức
    được điều này nên vào đầu mỗi năm học và căn cứ vào tình hình thực tế tôi xây
    dựng kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên, trình
    hiệu trưởng phê duyệt trong đó có nội dung bồi dưỡng về xây dựng kế hoạch
    và tổ chức hoạt động “Chơi ngoài trời” cho trẻ. Kế hoạch được xây dựng cụ
    thể, rõ ràng, phù hợp với năng lực, nhận thức của giáo viên, phù hợp điều kiện
    thực tế của trường, xuyên suốt trong cả năm học và được triển khai thực hiện
    tới cán bộ, giáo viên toàn trường.
    11
    Tiếp đó, tôi triển khai thực hiện các nội dung bồi dưỡng nhằm nâng cao
    trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên toàn trường, đưa ra những biện
    pháp sát thực về thực hiện đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức các hoạt
    động chăm sóc- giáo dục trẻ nói chung và hoạt động “Chơi ngoài trời” nói
    riêng nhằm nâng cao chất lượng các hoạt động và đạt hiệu quả ở trẻ. Chỉ đạo
    giáo viên các nhóm/ lớp xây dựng kế hoạch tuần, hàng ngày của từng chủ đề
    chi tiết, cụ thể, rõ ràng thể hiện việc đổi mới phương pháp dạy học “Lấy trẻ
    làm trung tâm”: cô giáo hướng dẫn, gợi mở dựa trên khả năng, hứng thú, nhu
    cầu của trẻ mà đưa ra nội dung hoạt động giáo dục trẻ nói chung và hoạt động
    “Chơi ngoài trời” nói riêng phù hợp, phát huy khả năng tư duy, sáng tạo, phát
    triển các kĩ năng của trẻ,….Để làm được điều này, cần bồi dưỡng cho giáo viên
    những kiến thức sâu rộng về tự nhiên và xã hội, lựa chọn được các hình thức,
    phương pháp giáo dục phù hợp nhằm giúp trẻ được trải nghiệm, khám phá về
    sự vật, hiện tượng xung quanh.
    Muốn hoạt động bồi dưỡng chuyên môn đạt hiệu quả cao nhất tôi thường
    kết hợp với các tổ chuyên môn tổ chức các hoạt động dự giờ, ngay sau khi dự
    giờ tổ chức thảo luận, rút kinh nghiệm, phân tích chỉ ra những ưu điểm cần
    phát huy và chỉnh sửa kịp thời những tồn tại, hạn chế trong hoạt động. Từ đó,
    tạo cơ hội cho giáo viên trao đổi kinh nghiệm về việc thực hiện, đối chiếu với
    việc thực hiện của đồng nghiệp để học tập các ưu điểm và rút ra những tồn tại
    cần khắc phục. Sau mỗi hoạt động là những bài học không chỉ cho chính người
    giảng dạy mà cho tất cả thành viên trong hội đồng sư phạm, những lời góp ý
    chính xác, chân thành và đầy tinh thần xây dựng, luôn được tôn trọng, xem xét
    hưởng ứng.
    Tổ chức bồi dưỡng về tổ chức hoạt động “Chơi ngoài trời” trong các buổi
    sinh hoạt chuyên môn của nhà trường, tham dự các buổi sinh hoạt chuyên môn
    của các tổ chuyên môn. Đưa ra các tình huống sư phạm để giáo viên tham gia
    trao đổi về những vướng mắc trong quá trình tổ chức hoạt động “Chơi ngoài
    trời”, từ đó cùng nhau bàn bạc và tìm ra những phương án tốt nhất để giải
    quyết những vấn đề đó.
    12
    Nhằm thực hiện tốt hơn Chương trình GDMN nói chung, đầu năm học
    2020- 2021, nhà trường đã mời chuyên gia đến tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ,
    giáo viên toàn trường về cách ứng dụng phương pháp giáo dục STEAM vào
    các hoạt động phù hợp với từng lứa tuổi.
    (Hình ảnh: Tổ chức bồi dưỡng phương pháp giáo dục STEAM cho cán bộ, giáo viên)
    13
    Sau khi được bồi dưỡng về việc tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ theo
    phương pháp giáo dục STEAM, giáo viên đã biết cách lựa chọn, áp dụng, lồng
    ghép vào các hoạt động, giúp trẻ hình thành được những kĩ năng cần thiết về
    các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kĩ thuật, nghệ thuật, toán học và kết hợp
    chúng một cách hài hòa, sáng tạo trong vui chơi, học tập, trong đó có hoạt động
    “Chơi ngoài trời”.
    Bên cạnh đó, cung cấp cho giáo viên sách, báo, trang thông tin điện tử uy
    tín, các tài liệu liên quan đến chương trình giáo dục mầm non nói chung và
    hoạt động “Chơi ngoài trời” nói riêng để nắm chắc mục tiêu, nội dung giáo dục
    và kết quả mong đợi để tìm ra các phương pháp hướng dẫn trẻ hoạt động hiệu
    quả nhất. Thường xuyên đôn đốc, khuyến khích giáo viên tự học tập, bồi
    dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng sự phạm, tìm tòi các phương
    pháp giáo dục tiên tiến, các hình thức giảng dạy mới và phù hợp với tình hình
    thực tế tại trường/lớp để áp dụng trong công tác giảng dạy.
    Nhờ các biện pháp bồi dưỡng trên, giáo viên các nhóm/lớp đã xây dựng
    được kế hoạch và tổ chức có hiệu quả hoạt động “Chơi ngoài trời” xuyên suốt
    theo từng chủ đề trong năm học, phát triển từ dễ đến khó theo sự phát triển của
    trẻ, phù hợp trẻ từng độ tuổi.
    2.2. Giải pháp 2: Chỉ đạo, đôn đốc, hỗ trợ giáo viên xây dựng môi
    trƣờng phù hợp để tổ chức có hiệu quả hoạt động “Chơi ngoài trời”:
    Đặc điểm của trẻ lứa tuổi mầm non là sự tư duy và tập trung chú ý, ghi
    nhớ còn rất hạn chế, trẻ khó tiếp thu các kiến thức một cách bài bản, có hệ
    thống.Vì thế, trong hoạt động “Chơi ngoài trời” cần tạo cho trẻ môi trường
    cuốn hút để trẻ hoạt động, vui chơi, trải nghiệm, từ đó trẻ có thể tiếp thu kiến
    thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên và đạt hiệu quả cao hơn.
    Từ thực tế trên, ngay từ đầu năm học song song với việc xây dựng môi
    trường học tập trong lớp, nhà trường đã chỉ đạo, kết hợp, khuyến khích giáo
    viên, phụ huynh học sinh xây dựng môi trường ngoài lớp học phù hợp, an toàn,
    sạch đẹp, hấp dẫn tạo cơ hội cho trẻ hoạt động, đáp ứng nhu cầu vui chơi của
    trẻ.
    14
    Bố trí, sắp xếp các góc/khu vực để tổ chức hoạt động “Chơi ngoài trời”
    phù hợp với khuôn viên của nhà trường và tận dụng tối đa cơ hội cho trẻ được
    trải nghiệm với các thiết bị, đồ chơi. Mỗi góc/khu vực hoạt động có nhiều loại
    học liệu, đồ chơi và phương tiện phù hợp, đặc trưng cho từng góc/khu vực, tạo
    cơ hội cho trẻ tham gia hoạt động.
    ( Ảnh minh họa: Khu vui chơi ngoài trời dành riêng cho trẻ lứa tuổi Mẫu giáo và Nhà trẻ)
    15
    Khu vực đồ chơi ngoài trời riêng cho trẻ lứa tuổi nhà trẻ và mẫu giáo rèn
    luyện thể lực cho trẻ phù hợp độ tuổi với đa dạng các loại đồ chơi, phong phú,
    lôi cuốn trẻ: đu quay, cầu trượt, bập bênh, xích đu, thang leo,… Các đồ chơi
    đặt ở những vị trí hợp lý, đảm bảo an toàn cho trẻ và cô giáo bao quát được
    toàn bộ trẻ trong khi tổ chức chơi. Ngoài những cây bóng mát, nhà trường còn
    tạo khu vườn cây ăn quả: cây mít, cây khế, bưởi, chay, sấu, hồng xiêm, xoài…;
    vườn rau của bé trồng các loại rau theo mùa: rau muống, rau ngót, rau cải, củ
    dền, cà chua, đậu cove,….; Vườn hoa trồng một số loại hoa với nhiều màu sắc:
    hoa hồng, hoa đồng tiền, hoa xác pháo, sen cạn, dừa cạn,…. Các loại cây, rau,
    hoa, quả gần gũi với cuộc sống của trẻ, trẻ được cùng cô trải nghiệm trồng, tìm
    hiểu và chăm sóc một số loại cây, trẻ được tự tay xới đất gieo hạt, trồng rau,
    nhổ cỏ, chăm bón và tự tay thu hoạch chính những sản phẩm của mình làm
    ra.… giúp trẻ hiểu sâu hơn về vòng sinh trưởng và phát triển của cây, tạo cảm
    xúc tích cực với trẻ.
    ( Ảnh minh họa: Trẻ chăm sóc vườn rau)
    16
    ( Ảnh minh họa: Trẻ quan sát, trò chuyện tìm hiểu về cây ăn quả)
    Tiếp đó là khu trang trại mini để trẻ được trải nghiệm chăm sóc một số
    con vật quen thuộc: gà, thỏ, chó, mèo. Qua các trải nghiệm đó, giáo viên giáo
    dục ý thức lao động, ý thức bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường cho trẻ.
    ( Ảnh minh họa: Trẻ tìm hiểu, chăm sóc con vật gần gũi)
    17
    Không thể thiếu trong các hoạt động vui chơi, trải nghiệm của trẻ đó là
    các khu vui chơi đồi cỏ, suối nước, bể cát ,….là nơi đặc biệt thu hút sự tham
    gia của trẻ. Khu vực này không những giúp phát triển các tố chất vận động mà
    trẻ còn có những trải nghiệm với những thí nghiệm thú vị nhằm phát triển tư
    duy và các giác quan.
    (Ảnh minh họa: Trẻ chơi ở khu cát, nước và đồi cỏ)
    18
    Một số lưu ý khi xây dựng các góc/ khu vui chơi ngoài trời:
    Đồ chơi, học liệu, trang thiết bị cho các hoạt động “Chơi ngoài trời” đa
    dạng, phong phú, được nhà trường mua sắm bằng nguồn kinh phí đã có, giáo
    viên có thể tự làm, tự sáng tạo ra hoặc huy động sự đóng góp, giúp đỡ của các
    bậc phụ huynh, các tổ chức xã hội, tận dụng các nguồn nguyên vật liệu sẵn có
    ở địa phương để trẻ khám phá, đặc biệt là nguồn nguyên liệu tự nhiên và phế
    liệu.
    Đồ chơi, học liệu, trang thiết bị đảm bảo an toàn, đảm bảo vệ sinh: không
    có đồ sắc nhọn, không độc hại, được vệ sinh sạch sẽ, được bảo dưỡng định kì,
    sửa chữa kịp thời, tạo hình ảnh và ấn tượng riêng của trường/lớp.
    Tôi phối kết hợp với Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên chỉ đạo, kết
    hợp với giáo viên xây dựng môi trường cho hoạt động “Chơi ngoài chơi” theo
    quan điểm “Lấy trẻ làm trung tâm”, thông qua các hoạt động vui chơi ngoài
    việc giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và phát hiện những điều mới lạ, hấp dẫn, các
    kiến thức, kỹ năng của trẻ sẽ được củng cố và bổ sung, góp phần hình thành
    nâng cao mối quan hệ thân thiện, tự tin giữa giáo viên với trẻ, giữa trẻ với trẻ.
    Còn là phương tiện, điều kiện để trẻ phát triển toàn diện về thể chất, ngôn ngữ,
    trí tuệ, khả năng thẩm mỹ, tình cảm và kỹ năng xã hội, tạo tiền đề vững chắc
    cho trẻ mầm non vào học lớp 1; phù hợp với phương châm: “Học bằng chơi,
    chơi mà học”.
    2.3. Giải pháp 3: Hƣớng dẫn giáo viên chuẩn bị các điều kiện để tổ
    chức hoạt động “Chơi ngoài trời”:
    Trước khi tham gia hoạt động “Chơi ngoài trời” giáo viên cần chuẩn bị
    đầy đủ đồ dùng, đồ chơi đảm bảo các điều kiện an toàn trong khi trẻ chơi và
    chuẩn bị về tâm lý, sức khỏe cho trẻ. Để trẻ thoải mái, tự tin tham gia hoạt
    động, trò chuyện, trao đổi, thảo luận, nhận xét… về đối tượng được quan sát,
    hứng thú tham gia các trò chơi giáo viên cần tạo bầu không khí thoải mái, vui
    vẻ giúp trẻ tích cực, hào hứng hơn. Để tổ chức hoạt động ngoài trời đạt hiệu
    quả cao nhất, trước khi triển khai hoạt động giáo viên cần, cụ thể:
    19
    Lựa chọn nội dung sẽ cho trẻ thực hiện trong hoạt động, sáng tạo, thiết
    kế các trò chơi mới lạ phù hợp với độ tuổi, với chủ đề tạo hứng thú cho trẻ
    tham gia hoạt động.
    Xác định rõ đối tượng, số lượng, vị trí các đối tượng, khu vực tổ chức
    hoạt động của trẻ, dự kiến những ảnh hưởng của thời tiết đến các đối tượng trẻ
    sẽ quan sát khám phá.
    Chuẩn bị về tâm lý và tình trạng sức khoẻ của từng trẻ trước khi cho trẻ
    tham gia hoạt động.
    Chuẩn bị đồ dùng, đồ chơi, trang thiết bị sử dụng trong hoạt động: các đối
    tượng đã có trên sân, vườn, các đồ dùng, dụng cụ cho trẻ làm thí nghiệm chơi
    trò chơi, tham gia lao động,…. Đồng thời, ứng dụng phương pháp giáo dục
    STEAM khuyến khích trẻ vận dụng kiến thức, kỹ năng cùng cô giáo làm các
    đồ dùng, đồ chơi, tạo ra những sản phẩm có nghĩa phục vụ cho các hoạt động
    trong đó có hoạt động “Chơi ngoài trời”.
    20
    ( Ảnh minh họa: Trẻ tự làm đồ chơi cho hoạt động “Chơi ngoài trời” )
    21
    ( Ảnh minh họa: Trẻ giúp cô giáo chuẩn bị đồ dùng, đồ chơi phục vụ
    hoạt động “Chơi ngoài trời”)
    Bên cạnh đó, để cuốn hút trẻ trước khi ra ngoài trời giáo viên nên cho trẻ
    cùng cô chuẩn bị các đồ dùng, đồ chơi, sửa soạn lại trang phục: quần áo,
    mũ,…cho phù hợp thời tiết, đi giầy dép, xếp hàng; Lúc này giáo viên cần trò
    chuyện kích thích tính tò mò của trẻ, hướng trẻ đến nội dung hoạt động bằng
    cách gợi mở về điều thú vị mà trẻ sẽ được tìm hiểu, khám phá, trải nghiệm, về
    các trò chơi mà trẻ sẽ được chơi. Đồng thời cũng nhắc nhở trẻ về một số kỹ
    năng chơi, chơi theo nhóm: Phải xếp hàng trước và sau khi chơi xong, uống
    nước, đi vệ sinh trước khi đi dạo chơi, chơi vui vẻ, đoàn kết, không được xô
    đẩy nhau, chơi theo sự hướng dẫn của cô giáo,…
    2.4. Giải pháp 4: Chỉ đạo, hƣớng dẫn giáo viên thực đổi mới, linh
    hoạt, sáng tạo các hình thức tổ chức các hoạt động “Chơi ngoài trời”:
    Để thực hiện quan điểm giáo dục “Lấy trẻ làm trung tâm” thì giáo viên
    cần phải đổi mới các hình thức tổ chức các hoạt động theo hướng phát huy tính
    tích cực, chủ động, sáng tạo của trẻ trong đó có hoạt động “Chơi ngoài trời”.
    Muốn làm được điều này, tôi đã kết hợp với Ban giám hiệu nhà trường ngoài
    22
    việc tổ chức bồi dưỡng, tập huấn cho giáo viên còn phải chỉ đạo, đôn đốc,
    khuyến khích, động viên giáo viên nỗ lực tìm tòi, nghiên cứu, tổ chức các hoạt
    động hấp dẫn, lôi cuốn trẻ tham gia đồng thời đáp ứng các yêu cầu phát triển
    của trẻ.
    Như chúng ta đã biết hoạt động “Chơi ngoài trời” gồm có các nội dung
    chính là: Hoạt động có mục đích, trò chơi vận động và chơi tự do, nên cần chỉ
    đạo giáo viên đổi mới, linh hoạt, sáng tạo hình thức, phương pháp thực hiện
    các hoạt động này để hoạt động “Chơi ngoài trời” đạt hiệu quả cao nhất. Cụ
    thể:
    a. Đổi mới trong tổ chức hoạt động có mục đích:
    Hoạt động này là hoạt động giáo viên tổ chức cho trẻ quan sát, khám phá,
    tìm hiểu, trải nghiệm,…môi trường xung quanh,trẻ được làm quen với kiến thức
    về tự nhiên (thời tiết, mây, nắng, gió, cỏ, cây, hoa, lá…) một cách chân thật và
    đơn giản nhất. Khi trẻ được chơi ngoài trời, trẻ sẽ được tận mắt nhìn, sờ tay,
    ngửi, …. cây cỏ, hoa lá, các con vật và những công việc làm của con người.
    Trẻ được trực tiếp khám phá, cảm nhận về những điều lí thú, mới lạ trong tự
    nhiên kích thích trí tò mò, sự hứng thú của trẻ giúp trẻ phát triển các giác quan,
    khả năng quan sát, tư duy,… Chính vì thế, để giúp trẻ tìm hiểu và khám phá thế
    giới xung quanh đạt hiệu quả mong muốn, giáo viên nên dành thời gian cho trẻ
    quan sát, xem xét, phán đoán, so sánh bằng cách sử dụng câu hỏi gợi mở, câu
    hỏi kích thích trẻ tư duy nhằm dẫn dắt trẻ suy nghĩ và giúp trẻ nói lên được về
    những gì chúng đang nhìn thấy, giáo viên gợi ý cho trẻ chia sẻ, đưa ý kiến,
    nhận định của mình, cùng trao đổi để tìm hiểu, khám phá đối tượng.
    Ví dụ: Cho trẻ khám phá về hoa: cô cho trẻ sử dụng các giác quan để trẻ
    nhận biết rõ hơn về đặc điểm của hoa: thân, lá, nụ hoa, cánh hoa, màu sắc,
    mùi…, lợi ích của hoa, có thể cho trẻ quan sát vào các ngày khác nhau để trẻ
    nhận thấy rõ sự sinh trưởng và phát triển của cây hoa bằng cách theo dõi, so
    sánh giữa ngày hoa trước và ngày hôm sau,…
    23
    Hoặc khi khám phá về hiện tượng thiên nhiên: “gió” trẻ sẽ hiểu được gió
    có ích lợi gì ?, Tại sao con biết là đang có gió?, Gió thổi cơ thể con người cảm
    thấy như thế nào ?, Lắng nghe gió thổi qua lá cây ?…
    24
    (Ảnh minh họa: Trẻ đang quan sát, khám phá, trao đổi,…..về sự vật,
    hiện tượng xung quanh)
    25
    Trong hoạt động “Chơi ngoài trời”, BGH nhà trường chỉ đạo, khuyến
    khích giáo viên ứng dụng phương pháp giáo dục STEAM nhằm tạo cơ hội cho
    trẻ học tập trải nghiệm, khám phá, tìm tòi, phát huy năng lực tư duy sáng tạo,
    tư duy logic, bước đầu có các kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng tư duy chiến
    lược, giải quyết mục tiêu, khơi dạy niềm yêu thích của trẻ với khoa học, công
    nghệ, kỹ thuật, nghệ thuật, toán học theo tiêu chí “chơi thông minh và học vui
    vẻ”. Một trong những hoạt động khiến trẻ thích thú và bổ sung thêm kiến thức
    lí thú về khoa học đó là làm một số thí nghiệm trong các hoạt động “Chơi
    ngoài trời”. Giáo viên đã sưu tầm, lựa chọn một số thí nghiệm đơn giản phù
    hợp với từng lứa tuổi với các nguyên vật liệu dễ tìm có trong sinh hoạt hàng
    ngày để hướng dẫn trẻ làm thí nghiệm. Dưới đây là một số thí nghiệm đã được
    giáo viên hướng dẫn trẻ thực hiện:
     Thí nghiệm: Những hạt gạo nhảy múa.
    (Ảnh minh họa: Trẻ làm thí nghiệm “Những hạt gạo nhảy múa”.)
    – Chuẩn bị:
    + Đồ dùng của cô : 1 cốc thuỷ tinh, 1 chai nước nhỏ, bột baking soda,
    gạo cẩm, 1 chai dấm ăn nhỏ, 1 cái thìa 1 khăn lau, để trên khay.
    26
    + Đồ dùng của trẻ: Khoảng 5 nhóm (tuỳ thuộc vào số lượng trẻ trong lớp
    để chia nhóm, mỗi nhóm 5 trẻ). Mỗi nhóm có: 5 cốc thuỷ tinh hoặc nhựa trong,
    3 chai nước nhỏ, 1 bát bột baking soda,1 bát gạo cẩm, 5 thìa, 5 bình nhỏ dấm
    ăn có vòi, khăn lau để trên 1 khay.
    – Các bước hướng dẫn trẻ làm thí nghiệm:
    + Bước 1: Đổ nước vào cốc thủy tinh
    + Bước 2: Cho 2 thìa bột baking soda vào cốc nước, khuấy đều bột
    baking soda cho tan ra trong nước.
    + Bước 3: Cho 5 thìa gạo vào cốc.
    + Bước 4: Đổ dấm vào cốc.
    + Bước 5: Quan sát điều kì diệu xảy ra: Những hạt gạo nhảy múa
    – Giải thích: Do phản ứng giữa dấm và baking soda tạo thành những bọt khí,
    những bọt khí bám vào hạt gạo làm cho hạt gạo nổi lên, khi nổi lên trên mặt
    nước các bọt khí tan ra và hạt gạo lại chìm xuống.
     Thí nghiệm: Những quả nổi, quả chìm.
    – Chuẩn bị:
    + Đồ dùng của cô: 1 hộp nhựa trong có nước; một số loại quả: cam, quýt,
    táo, xoài;1 khăn lau.
    + Đồ dùng của trẻ: Khoảng 5 nhóm (tuỳ thuộc vào số lượng trẻ trong lớp
    để chia nhóm, mỗi nhóm 5-6 trẻ). Mỗi nhóm có: 1 hộp nhựa trong có nước;
    một số loại quả: cam, quýt, táo, xoài; 1 khăn lau.
    – Các bước hướng dẫn trẻ làm thí nghiệm:
    + Bước 1: Thả lần lượt các loại quả vào trong hộp nước.
    + Bước 2: Quan sát, phát hiện ra quả chìm xuống: táo, xoài và quả nổi
    lên trên mặt nước: cam quýt.
    + Bước 3: Bóc vả quả cam quýt và thả vào hộp nước.
    + Bước 4: Quan sát và phát hiện: cam, quýt chìm xuống nước khi bị bỏ
    đi lớp vỏ.
    27
    – Giải thích: Lớp vỏ của cam, quýt sần sùi chứa nhiều những hạt tinh dầu
    nó như cái phao bao quanh quả cam, quýt làm cho nó nổi trên mặt nước.
     Thí nghiệm: Làm thế nào để dầu ăn tan trong nước ?
    (Ảnh minh họa: Trẻ cùng làm thí nghiệm “Làm thế nào để dầu ăn tan trong nước?”)
    – Chuẩn bị:
    + Đồ dùng của cô: 1 cốc thuỷ tinh, 1 chai nước nhỏ, 1 chai dầu ăn nhỏ, 1
    chai nước rửa bát, 1 thìa nhỏ, 1 khăn lau, để trên khay.
    + Đồ dùng của trẻ: Khoảng 5 nhóm (tuỳ thuộc vào số lượng trẻ trong lớp
    để chia nhóm, mỗi nhóm 5 trẻ). Mỗi nhóm có: 5 cốc thuỷ tinh hoặc nhựa trong,
    5 thìa, 3 chai nước nhỏ, 3 bình nhỏ dầu ăn có vòi, 3 chai nước rửa bát nhỏ,
    khăn lau để trên 1 khay.
    – Các bước hướng dẫn trẻ làm thí nghiệm:
    + Bước 1: Đổ nước vào cốc thủy tinh.
    + Bước 2: Đổ dầu ăn vào, lấy thìa ngoáy lên (dầu ăn không hòa tan trong
    nước).
    + Bước 3: Đổ nước rửa bát vào, lấy thìa ngoáy lên.
    28
    + Bước 4: Quan sát điều xảy ra: Khi đổ nước rửa bát vào thì dầu ăn tan
    ra trong nước.
    – Giải thích: Do các phân tử dầu đẩy nước rất mạnh vì thế chúng không
    thể hòa tan vào trong nước. Để dầu hòa tan trong, ta cho vào đó chất ổn định –
    đó là nước rửa bát.
     Thí nghiệm: Bí mật của đường.
    – Chuẩn bị:
    + Đồ dùng của cô: 1 cốc thuỷ tinh nhỏ, 3 cốc nhựa trong để pha màu có
    kí hiệu 1,2,3 và đánh dấu mức nước cần có bằng nhau, 1 chai nước nhỏ, 1 đĩa
    nhỏ đường kính trắng, 1 thìa ăn cơm, 3 lọ màu thực phẩm (màu đỏ, xanh,
    vàng), ống nhỏ giọt, 1 khăn lau, để trên khay.
    + Đồ dùng của trẻ: Khoảng 5 nhóm (tuỳ thuộc vào số lượng trẻ trong lớp
    để chia nhóm, mỗi nhóm 5 trẻ). Thực hiện thí nghiệm theo nhóm, mỗi nhóm
    gồm: 1 cốc thuỷ tinh nhỏ, 3 cốc nhựa trong để pha màu có kí hiệu 1-2-3 và
    đánh dấu mức nước cần có bằng nhau, 1 chai nước nhỏ, 1 đĩa nhỏ đường kính
    trắng, 1 thìa ăn cơm, 3 lọ màu thực phẩm (màu đỏ, xanh, vàng), ống nhỏ giọt, 1
    khăn lau, để trên khay.
    – Các bước hướng dẫn trẻ làm thí nghiệm:
    + Bước 1: Bày 3 cốc có đánh số 1- 2- 3 ra trước mặt.
    + Bước 2: Cốc số 1- không cho đường; cốc số 2 cho 3 thìa đường; cốc số
    3 cho 5 thìa đường.
    + Bước 3: Đổ nước vào mỗi cốc đến vạch quy định, dùng thìa khuấy tan
    đường.
    + Bước 4: Đổ màu thực phẩm vào từng cốc: cốc 1 đổ màu đỏ; cốc 2 đổ
    màu vàng; cốc 3 đổ màu xanh. Hòa tan màu trong từng cốc nước.
    + Bước 5: Lấy ống nhỏ giọt hút nước nhỏ nhẹ nhàng vào cốc thủy tinh
    theo thứ tự: cốc 3, cốc 2, cốc 1.
    + Bước 6: Quan sát điều xảy ra: cốc nước có 3 mảng màu rõ ràng.
    29
    – Giải thích: Cốc 3 màu xanh cô cho nhiều đường nhất (5 thìa đường)
    làm cho trọng lượng riêng của nước nặng hơn nên chìm xuống dưới đáy; Cốc 2
    màu vàng chỉ cho 3 thìa đường nên trọng lượng riêng của nước nhẹ hơn và nổi
    lên trên nước màu xanh; Cốc 1 màu đỏ không cho đường nên trọng lượng riêng
    nhẹ nhất nổi lên trên cùng.
     Thí nghiệm: Pháo hoa nở trong nước.
    – Chuẩn bị:
    + Đồ dùng của cô: 1 cốc thuỷ tinh, 1 chai nước nhỏ, 3 lọ màu thực phẩm,
    1 lọ dầu ăn, 1 khăn lau để trên khay.
    + Đồ dùng của trẻ: Khoảng 5 nhóm (tuỳ thuộc vào số lượng trẻ trong lớp
    để chi nhóm, mỗi nhóm 5-6 trẻ); Mỗi nhóm có: 5-6 cốc thuỷ tinh hoặc nhựa
    trong, 3 chai nước nhỏ, 5 lọ màu thực phẩm (đỏ, xanh da trời, vàng, hồng, xanh
    lá cây), 3 bình nhỏ dầu ăn có vòi, 5-10 viên sủi, khăn lau để trên 1 khay.
    (Ảnh minh họa: Trẻ làm thí nghiệm “Pháo hoa nở trong nước”)
    – Các bước hướng dẫn trẻ làm thí nghiệm:
    + Bước 1: Cho 1 ít nước vào cốc thủy tinh.
    30
    + Bước 2: Đổ dầu ăn vào cốc sao cho lượng dầu ăn bằng hoặc nhiều hơn
    lượng nước.
    + Bước 3: Nhỏ màu vào cốc.
    + Bước 4: Cho viên sủi vào cốc, viên sủi tan ra.
    + Bước 5: Quan sát điều kì diệu xảy ra: Những giọi màu sẽ nhảy lên
    trong dầu giống như pháo hoa.
    – Giải thích: Dầu nhẹ hơn nước nên nổi lên trên mà dầu, mầu không tan
    trong dầu nên nó sẽ chìm dần xuống nước, khi cô cho viên sủi vào làm cho
    màu nổi lên xuống.
     Thí nghiệm: Trứng chìm- trứng nổi.
    – Chuẩn bị:
    + Đồ dùng của cô: 2 quả trứng gà; 2 cốc thuỷ tinh có đánh số 1,2 và có
    vạch mức nước; 1 chai nước; 1 đĩa muối nhỏ; 1 thìa; 1 khăn lau, để trên khay.
    + Đồ dùng của trẻ: Mỗi nhóm có 2-3 trẻ. Mỗi nhóm có: 2 quả trứng gà; 2
    cốc thuỷ tinh có đánh số 1, 2 và có vạch mức nước; 1 chai nước; 1 đĩa muối
    nhỏ; 1 thìa; 1 khăn lau, để trên khay.
    (Ảnh minh họa: Trẻ làm thí nghiệm “Trứng chìm- trứng nổi”)
    – Các bước hướng dẫn trẻ làm thí nghiệm:
    31
    + Bước 1: Đổ nước vào cả 2 cốc, đổ nước đến vạch quy định.
    + Bước 2: Cho 2 thìa muối vào cốc số 2, ngoáy cho muối tan trong nước.
    + Bước 3: Cho trứng gà vào cả 2 cốc nước.
    + Bước 4: Quan sát điều xảy ra: Trứng trong cốc số 1 chìm; trứng trong
    cốc số 2 (có muối) nổi.
    – Giải thích: Khi bỏ trứng vào ly nước trắng thì quả trứng sẽ chìm ở đáy ly
    vì quả trứng nặng hơn nước. Khi bỏ muối vào ly nước rồi khuấy cho tan thì quả
    trứng dần dần nổi lên trên mặt nước vì bây giờ là nước muối nặng hơn quả
    trứng nên quả trứng mới nổi được.
     Thí nghiệm: Thổi bóng bằng baking soda và dấm.
    – Chuẩn bị:
    + Đồ dùng của cô: 1 quả bóng bay, 1 bát nhỏ bột baking soda, 1 chai
    dấm, 1 chai nhựa, phễu, 1 thìa, khăn lau để trên khay.
    + Đồ dùng của trẻ: Mỗi nhóm có 2 trẻ. Mỗi nhóm có: 1 quả bóng bay, 1
    bát nhỏ bột baking soda, 1 chai dấm, 1 chai nhựa, phễu, 1 thìa, khăn lau để trên
    khay.
    – Các bước hướng dẫn trẻ làm thí nghiệm:
    + Bước 1: Sử dụng phếu để đổ dấm nửa chai dấm vào chai nhựa.
    + Bước 1: Cho phễu vào miệng quả bóng.
    + Bước 2: Cho 3-4 thìa bột baking soda vào quả bóng.
    + Bước 3: Lồng miệng quả bóng bay trùm lên chai dấm.
    + Bước 4: Dốc ngược quả bóng bay để cho bột baking soda rơi vào chai
    dấm.
    + Bước 5: Quan sát điều xảy ra: Quả bóng căng phồng lên như được
    thổi.
    – Giải thích: Quả bóng căng phồng lên do bột baking soda phản ứng hoá
    học với dấm tạo nên khí CO2.
     Thí nghiệm: Lốc xoáy mini.
    – Chuẩn bị:
    32
    + Đồ dùng của cô: 1 lọ thuỷ tinh bên trong chứa nước có nắp đậy, 1 lọ
    màu thực phẩm, 1 hộp kim tuyến, 1 chai nước rửa bát nhỏ có vòi, 1 khăn lau,
    để trên khay.
    + Đồ dùng của trẻ: Mỗi nhóm có 2 trẻ. Mỗi nhóm có: 1 lọ thuỷ tinh bên
    trong chứa nước có nắp đậy, 1 lọ màu thực phẩm, 1 hộp kim tuyến, 1 chai nước
    rửa bát nhỏ có vòi, 1 khăn lau, để trên khay.
    – Các bước hướng dẫn trẻ làm thí nghiệm:
    + Bước 1: Mở lọ nước ra, cho màu thực phẩm vào.
    + Bước 2: Cho kim tuyến vào lọ.
    + Bước 3: Cho nước rửa bát vào lọ nước (dầu rửa bát nặng hơn nước nên
    chìm xuống dưới và kéo những hạt kim tuyến chìm xuống theo tạo nên cơn
    mưa kim tuyến).
    + Bước 4: Đậy nắp lọ nước lại và xoay liên tục.
    + Bước 5: Quan sát điều xảy ra: Xuất hiện lốc xoáy trong lọ thuỷ tinh.
    – Giải thích: Khi xoay lọ thuỷ tinh phần chất lỏng bên ngoài xoay trước
    phần chất lỏng bên trong, khi dừng xoay thì phần chất lỏng bên ngoài dừng lại
    trong khi phần chất lỏng bên trong vẫn tiếp tục xoay, do đó tạo thành lốc xoáy
    mini.
     Thí nghiệm: Cơn mưa sắc màu.
    – Chuẩn bị:
    + Đồ dùng của cô: 2 cốc thuỷ tinh có gắn số 1, 2 và có dán mức; 1 chai
    nước nhỏ; 1 lọ dầu ăn có vòi; 5 lọ màu thực phẩm (màu đỏ, vàng, xanh lá cây,
    xanh da trời, tím); 1 que gỗ; 1 khăn lau để trên khay.
    + Đồ dùng của trẻ: Mỗi nhóm có 2-3 trẻ. Mỗi nhóm có: 2 cốc thuỷ tinh
    có gắn số 1,2 và có dán mức; 1 chai nước nhỏ; 1 lọ dầu ăn có vòi; 5 lọ màu
    thực phẩm (màu đỏ, vàng, xanh lá cây, xanh da trời, tím); 1 que gỗ; 1 khăn lau
    để trên khay.
    – Các bước hướng dẫn trẻ làm thí nghiệm:
    + Bước 1: Đổ nước vào cốc số 1, đổ dầu ăn vào cốc số 2.
    + Bước 2: Nhỏ lần lượt các màu thực phẩm vào cốc dầu ăn (cốc số 2).
    33
    + Bước 3: Lấy que gỗ ngoáy đều cốc dầu ăn lên (màu thực phẩm không
    tan trong dầu ăn)
    + Bước 4: Đổ hỗn hợp vừa ngoáy vào cốc nước lọc.
    + Bước 5: Quan sát điều xảy ra: Nhiều màu rơi xuống đáy cốc tạo thành
    cơn mưa màu sắc.
    – Giải thích: Lớp dầu có trọng lượng nhẹ hơn nên nó nổi lên trên mặt nước
    còn các giọt màu thực phẩm nặng hơn tự do di chuyển qua lớp dầu rơi xuống
    phần nước lọc tạo thành cơn mưa sắc màu.
    (Ảnh minh họa: Trẻ cùng cô làm thí nghiệm)
    b. Đổi mới trong tổ chức các trò chơi vận động:
    Trò chơi vận động là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt
    động “Chơi ngoài trời”. Trò chơi vận động tác động tích cực đến sự phát triển
    thể chất của trẻ giúp các trẻ có cơ hội tốt nhất để rèn luyện sức khỏe, sự tinh
    nhạy của các giác quan giúp bé nhìn nhận các sự vật hiện tượng xung quanh
    một các đầy đủ hơn, chính xác hơn, tinh tế hơn từ đó phát triển nhận khả năng
    nhận thức của trẻ một cách tốt nhất. Trò chơi vận động làm thỏa mãn những
    nhu cầu, những đòi hỏi, những nguyện vọng chính đáng về vui chơi của trẻ, tạo
    nhiều cơ hội để trẻ tiếp thu và lĩnh hội những kiến thức, kỹ năng cần thiết, hình
    34
    thành thái độ hành vi đúng đắn cho trẻ, góp phần tích cực vào việc hình thành
    và phát triển nhân cách phù hợp độ tuổi.
    Để tổ chức trò chơi vận động đạt hiệu quả cao giáo viên cần:
    – Lựa chọn, tổ chức các trò chơi vận động một cách khoa học, vừa sức, tác
    động tích cực đến trẻ, khuyến khích trẻ hoạt động hết mình, chơi hết mình qua
    đó trải nghiệm những kiến thức lĩnh hội được từ cuộc sống, biết rung cảm, xúc
    động trước vẻ đẹp kỳ diệu của sự vật, sự việc xung quanh giúp trẻ phát triển
    tình cảm thẩm mỹ trong sáng, lành mạnh.
    – Giành thời gian, công sức, tâm huyết để khai thác đầy đủ những nội
    dung giáo dục, những tác dụng đa chiều của trò chơi đối với sự phát triển thể
    chất, nhận thức, tình cảm – kĩ năng xã hội và thẩm mỹ của trẻ góp phần thiết
    thực trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách phù hợp lứa tuổi.
    Lợi thế của tổ chức các trò chơi vận động trong hoạt động “Chơi ngoài
    trời” là không gian rộng rãi, thoáng mát nhưng để không bị nhàm chán, tăng
    thêm hứng thú, kích thích trẻ hoạt động tích cực, mạnh dạn, tự tin, giáo viên
    phải chủ động lựa chọn, sưu tầm các trò chơi vận động, trò chơi dân gian, sáng
    tạo trò chơi mới, điều chỉnh hình thức, nâng cao yêu cầu của trò chơi,…Dưới
    đây là một số gợi ý về lựa chọn, sưu tầm, sáng tạo một số trò chơi phù hợp với
    trẻ mầm non đã được giáo viên nhà trường sử dụng đạt hiệu quả cao trong các
    hoạt động “Chơi ngoài trời”:
    * Sưu tầm, lựa chọn, sáng tạo các trò chơi vận động phù hợp với trẻ
    theo từng chủ đề:
    Có rất nhiều lý do mà bắt buộc giáo viên phải lựa chọn trò chơi sao cho
    vừa sức với trẻ, phù hợp với không gian, thời gian, đồ chơi của trò chơi phải đa
    dạng, phong phú, đẹp mắt. Đặc biệt giáo viên phải có nghệ thuật giới thiệu và
    tổ chức trò chơi một cách hấp dẫn, thu hút trẻ hứng thú tích cực tham gia. Vì
    thế, tôi đã hướng dẫn giáo viên các nhóm/lớp sưu tầm, lựa chọn, sáng tạo nhiều
    trò chơi mới hấp dẫn, phù hợp chủ đề để tổ chức cho trẻ chơi với nhiều hình
    thức chơi khác nhau sao cho không quá sức hoặc nhàm chán.
    35
    Chủ đề “Trƣờng mầm non”:
     Trò chơi: Đoán xem là ai đây?
    – Chuẩn bị: Khăn bịt mắt cho 1- 2 trẻ.
    – Cách chơi
    + Chọn 5 – 7 trẻ cho ra ngoài. Trẻ còn lại đứng thành vòng tròn. Chọn
    bạn đứng giữa vòng tròn và quan sát kĩ thứ tự của các bạn ở vòng tròn, sau đó
    bịt mắt lại.
    + Cô chỉ định 2 – 3 trẻ trong số những trẻ ra ngoài, đi nhẹ nhàng vào
    vòng tròn.
    + Khi cô hô: “Xong rồi”. Trẻ đứng trong vòng tròn sẽ mở mắt và nói tên
    bạn mới đứng vào.
    + Có thể cho hai trẻ cùng bịt mắt để thi xem ai quan sát nhanh hơn.
    – Luật chơi: Nếu trẻ nói đúng tên thì bạn đó sẽ bị bịt mắt để đoán trong
    lượt chơi tiếp theo.
    (Ảnh minh họa: Trẻ chơi trò chơi “Đoán xem là ai đây?”)
     Trò chơi: Chuyền bóng- gọi tên bạn.
    36
    – Chuẩn bị: Một quả bóng nhỏ.
    – Cách chơi: Trẻ ngồi hoặc đứng thành vòng tròn trên sân cỏ. Cô chuyền
    quả bóng cho một trẻ bất kì. Trẻ đó nhanh ch

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education