• SKKN Một số giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh dự thi Hùng biện tiếng Anh cấp Tiểu học

    SKKN Một số giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh dự thi Hùng biện tiếng Anh cấp Tiểu học

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Như chung ta đa biết, hiên nay tiếng Anh là ngôn ngữ được sử dung nhiều
    nhất trên thế giới. Ngoài nước Anh thi co đến trên 60 quốc gia chon tiếng Anh là
    ngôn ngữ chinh thưc, là ngôn ngữ thư hai của gân 100 quốc gia và ngôn ngữ chung
    của hơn 400 triêu ngươi trên thế giới. Trong thơi đại công nghiêp 4.0, hâu như cac
    ngành nghề thương mại, y tế, truyền thông, du lich,… đều sử dung tiếng Anh. Vi
    thế tiếng Anh là tấm vé thông hành, là môt canh cửa tiếp nối với thế giới hiên đại
    kết nối với nhiều ngươi, và cũng không thê thiếu cho bất ki ngươi nào mong muốn
    khăng đinh ban thân trong thơi đại toàn câu hoa như hiên nay và sau này. Với vai
    trò quan trong đo thì viêc đào tạo bồi dưỡng cho hoc sinh vốn kiến thưc và kỹ
    năng giao tiếp Tiếng Anh rất cân thiết, đặc biêt là đối tượng mới bắt đâu tiếp cân
    với ngoại ngữ – hoc sinh tiêu hoc.
    Đê thuc đẩy phong trào nói Tiếng Anh và hoc tiếng Anh trong nhà trương
    phổ thông, đồng thơi tạo cho cac em hoc sinh môt sân chơi bổ ich và lý thu giup
    cac em phat triên toàn diên; tạo cơ hôi cho hoc sinh phat triên và chưng tỏ kha
    năng noi tiếng Anh, trên cơ sở đo gop phân rèn luyên kỹ năng giao tiếp bằng ngoại
    ngữ, năng lực hùng biên, gop phân nâng cao chất lượng dạy và hoc bô môn tiếng
    Anh trong nhà trương; tuyên chon và tuyên dương – khen thưởng những hoc sinh
    co năng lực, kỹ năng giao tiếp tiếng Anh tốt; phat huy hết kha năng sang tạo, sự
    nhạy bén, thông minh của hoc sinh, Sở Giao duc và Đào tạo Nam Đinh đa tổ chưc
    Hôi thi “ Hùng biện tiếng Anh” từ năm hoc 2013- 2014 đến nay. Đây là môt sân
    chơi vô cùng bổ ích giup cac em mở rông vốn từ, ngữ phap, rèn luyên kĩ năng
    nghe – nói tạo đông lực giúp các em tự tin hơn khi giao tiếp bằng tiếng Anh. Cư
    bắt đâu mỗi năm hoc, ca cô và trò đều hao hưc tham gia cuôc thi này. Cac em
    trong môt lớp, môt trương thi đua lẫn nhau, sự thi đua này lan tỏa ca sang giao
    viên và phu huynh, tạo môt môi trương hoc tâp – giao tiếp lành mạnh.
    Là môt giao viên đa giang dạy nhiều năm, với nhiều tâm huyết và trăn trở
    là làm sao đê đào tạo những tài năng giỏi giao tiếp tiếng Anh cho trương và huyên,
    rut ngắn khoang cach giữa hoc sinh thành phố và hoc sinh nông thôn. Tôi đa mạnh
    dạn tham gia công tac bồi dưỡng đôi tuyên hoc sinh thi “Hùng biện tiếng Anh”
    của trương và của huyên.
    Bồi dưỡng hoc sinh giỏi là môt qua trinh và muốn co môt hoc sinh đủ tự tin
    đê thi tốt kĩ năng nghe – nói tiếng Anh lại càng kho khăn hơn. Bao nhiêu thử thach
    đặt ra cho chung tôi trước khi bước vào hành trinh bồi dưỡng mang mới này. Hoc
    như thế nào đê hùng biên tốt các chủ đề ? Dạy như thế nào đê hoc sinh có kĩ năng
    giao tiếp tốt bằng tiếng Anh? Thủ thuât nào đê hoc sinh tự tin trên sân khấu? Đo
    là điều băn khoăn trăn trở của mỗi giao viên dạy môn tiếng Anh. Bằng tất ca moi
    nỗ lực của minh trong suy nghĩ, tim tòi, trao đổi, thao luân với cac đồng nghiêp
    khác, cùng với viêc co xat thực tiễn trai nghiêm trong công tac bồi dưỡng hoc sinh
    thi Hùng biên tiếng Anh ở bâc Tiêu hoc trong 8 năm qua (2013 – 2021), tôi mạnh
    dạn chia sẻ môt số kinh nghiêm, suy nghĩ của minh qua đề tài: “Một số giải pháp
    nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh dư thi ” Hùng biện tiếng Anh”
    cấp Tiểu học”. Với mong muốn được chia sẻ, gop phân làm phong phu hơn về
    phương phap và tài liêu bồi dưỡng hoc sinh thi ” Hùng biên tiếng Anh” với cac
    bạn đồng nghiêp, đê phong trào ngày càng phat triên và phat huy tốt tac dung của
    nó.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. MÔ TẢ GIẢI PHÁP TRƯỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN
    Hôi thi Hùng biên tiếng Anh do Sở Giao duc và Đào tạo Nam Đinh tổ chưc
    trong những năm qua luôn thu hut được sự quan tâm của cac Phòng giao duc, cac
    nhà trương, của giao viên, hoc sinh và phu huynh trên đia bàn tinh. Hàng năm
    trương Tiêu hoc Hai Hà luôn co nhiều hoc sinh tham gia Hôi thi cấp huyên và đạt
    giai cao. Nhà trương được coi là môt trong những điêm sang về phong trào dạy
    và hoc tiếng Anh của huyên Hai Hâu. Những năm trước, mặc dù trương luôn co
    hoc sinh tham gia Hôi thi Hùng biên tiếng Anh cấp tinh nhưng thành tich cac em
    đạt được chưa cao, phan anh rõ khoang cach giữa hoc sinh nông thôn và hoc sinh
    thành phố là rất lớn. Vây nguyên nhân của vấn đề trên là gi?
    Thứ nhất, do giao viên chưa tim ra phương phap, kĩ thuât tối ưu đê hỗ trợ
    hoc sinh môt cach hiêu qua nhất và phai kiêm nhiêm nhiều đôi tuyên nên
    thơi gian bồi dưỡng hạn chế.
    Thứ hai, do hoc sinh thiếu hut vốn từ vựng hoặc kha năng tư duy, liên
    tưởng chưa tốt và kĩ năng nghe hiêu kém.
    Thứ ba, do cac em co tâm li “sợ”, “ngại”, thiếu tự tin khi trinh bày trước
    đam đông. Điều này anh hưởng lớn đến phân thuyết trinh chủ đề và tra lơi câu hỏi
    của ban giam khao.
    Thứ tư, do thiếu môi trương hoc tâp và giao tiếp với giao viên nước ngoài.
    Nếu cac em hoc sinh thành phố co điều kiên và cơ hôi được hoc tâp và giao lưu
    với giao viên nước ngoài từ rất sớm thi tại huyên Hai Hâu 3 năm trở lại đây mới
    co trung tâm tiếng Anh, nhưng số phu huynh co đủ điều kiên cho con hoc tại trung
    tâm không nhiều và số lượng cac nhà trương triên khai dạy tiếng Anh co yếu tố
    nước ngoài còn khiêm tốn.
    Những kho khăn, thử thach trên đa thôi thuc tôi nghiên cưu, tim tòi “Một số giải
    pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh dư thi ” Hùng biện tiếng
    Anh” cấp Tiểu học.
    2. MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI CÓ SÁNG KIẾN
    Qua nhiều năm trực tiếp bồi dưỡng đôi tuyên Hùng biên tiếng Anh của
    trương và của huyên tôi đa đuc rut ra 7 giai pháp hiêu qua, kèm theo đo là 25 đề
    kiêm tra từ vựng – nghe hiêu của vòng thi sơ khao và 30 chủ đề vòng thi chung
    kết. Tôi hi vong những giai pháp của đề tài sẽ góp phân nâng cao chất lượng Hôi
    thi Hùng biên tiếng Anh tinh Nam Đinh nói chung và huyên Hai Hâu nói riêng.
    2.1. Giải pháp 1: Công tác tham mưu với Ban giám hiệu nhà trường, tổ
    chuyên môn:
    Là giao viên dạy trực tiếp bồi dưỡng, tôi tich cực tham mưu với Ban giam
    hiêu nhà trương, tổ chuyên môn tạo moi điều kiên tốt nhất co thê đê tôi tham gia
    công tac bồi dưỡng đạt kết qua cao: Xây dựng kế hoạch và thơi khoa biêu hợp li,
    tranh bi chồng chéo giữa tiết dạy và tiết bồi dưỡng, giữa bồi dưỡng đôi tuyên lớp
    3, 4 và đôi tuyên lớp 5.
    Tham mưu với Ban giam hiêu xây dựng phòng nghe-nhìn. Cung cấp các trang
    thiết bi phuc vu cho công tác giang dạy các kĩ năng nghe – nói – đoc – viết có hiêu
    qua.
    2.2. Giải pháp 2: Tuyển chọn học sinh bồi dưỡng thi “Hùng biện tiếng
    Anh”
    * Muc đich: Tuyên chon đung và chinh xac nhất về vốn từ vựng, kha năng
    nghe, kha năng hùng biên của hoc sinh, đây chinh là công tac quan trong nhất đê
    đi đến thành công trong hôi thi “Hùng biên tiếng Anh”. Hôi thi Hùng biên cấp tinh
    dành cho đối tượng hoc sinh lớp 5 và khuyến khich hoc sinh lớp 3,4 co năng khiếu.
    Như vây hoc sinh hoàn toàn co thê thi vượt cấp và giao viên co thê lựa chon và
    xây dựng kế hoạch bồi dưỡng “dài hơi”, tưc là ngoài đối tượng hoc sinh lớp 5, co
    thê lựa chon bồi dưỡng hoc sinh lớp 3, 4 đê làm nguồn.
    * Tôi đa tiến hành cac bước tuyên chon như sau:
    Bước 1. Lựa chọn học sinh co kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hùng biện tiếng
    Anh ở lớp 3 và lớp 4
    Căn cư vào kết qua hoc tâp môn Tiếng Anh năm trước, nhất là những hoc
    sinh co vốn từ vựng, kĩ năng nghe, kĩ năng nói tốt ca lớp 3 và lớp 4. Nếu hoc sinh
    lớp 2 co năng khiếu nổi bât co thê lựa chon đê làm nguồn cho những năm tiếp
    theo.
    Tổ chưc làm bài thi khao sat với 3 nôi dung:
    – Từ vựng: khoang 100 từ trong chương trinh lớp 3 và lớp 4 (co thê
    sử dung dạng bài 4 pictures one word)
    – Nghe hiêu 50 câu: co thê tự thiết kế hoặc sử dung các bài nghe trong
    Starter.
    – Phỏng vấn: 15-20 câu về cac chủ đề đa hoc hoặc liên quan.
    Căn cư vào kết qua bài khao sat tuyên chon khoang 10 hoc sinh co kết qua
    tốt nhất đê bồi dưỡng.
    Bước 2. Tổ chức thi “Hùng biện tiếng Anh ” cấp trường:
    Sàng loc dân hoc sinh qua cac vòng kiêm tra từ vựng, nghe hiêu và hùng
    biên theo chủ đề. Chon 8 hoc sinh co kết qua cao nhất đê tiếp tuc bồi dưỡng thi
    cấp trương.
    Tổ chưc thi cấp trương: Theo sự chi đạo của Ban giam hiêu nhà trương tiến
    hành cho hoc sinh thi. Qua 2 vòng thi Sơ khao và Chung kết, chon 6 hoc sinh co
    kết qua cao nhất tiếp tuc bồi dưỡng tham gia thi cấp huyên.
    Bước 3. Lựa chọn học sinh tham gia thi ” Hùng biện tiếng Anh” cấp
    huyện.
    Tiếp tuc công tac bồi dưỡng và chon loc hoc sinh qua các chủ đề mà phòng
    GD-ĐT đa đưa ra và bài kiêm tra kĩ năng nghe- nói do tôi tự tim tòi và chắt loc,
    tổng hợp đanh gia hoc sinh chinh xac được lưu ở sổ “ Nhân xét kết qua hoc tâp
    của hoc sinh”.
    Chon 5 hoc sinh tham gia thi ” Hùng biên tiếng Anh” cấp huyên.
    2.3. Giải pháp 3: Xây dựng kế hoạch, nội dung bồi dưỡng
    2.3.1. Kế hoạch bồi dưỡng:
    Căn cư vào kế hoạch tổ chưc hôi thi Hùng biên tiếng Anh hàng năm của
    Phòng và của Sở đê xây dựng kế hoạch bồi dưỡng đôi tuyên. Thơi gian thi cấp
    tinh là đâu thang 1 và thi cấp huyên ở Hai Hâu là thang 11 nên ngay sau khi hoc
    sinh tựu trương vào thang 8, tôi đa làm cac công tac khao sat, tuyên chon hoc sinh,
    thành lâp đôi tuyên và tiến hành bồi dưỡng ngay từ đâu năm hoc.
    Lâp kế hoạch bồi dưỡng cu thê, chi tiết từng chủ đề từ vựng, các dạng bài
    luyên kĩ năng nghe và cac chủ đề hùng biên:

    WeeksLessonsContents
    11-2TOPIC 1: Your favourite subject at school.
    3-4Practice listening skill.
    5-6TOPIC 2: What should you do to make your school better?
    7-8Vocabularies for free-time activities.
    21-2TOPIC 3:. Describe an activity at your school that you like
    most. Why do you like it?
    3-4Practice listening skill.
    5-6TOPIC 4: Describe your favorite meal?
    7-8Vocabularies for subjects.
    31-2TOPIC 5: How do you learn English?
    3-4Practice listening skill.
    5-6TOPIC 6: Talk about your favourite book.
    7-8Vocabularies for entertainment.
    41-2TOPIC 7: Is Internet important for primary students? Why
    or why not?
    3-4Practice listening skill.
    5-6TOPIC 8: Some people say “Homework is not necessary for
    primary students”. What do you think about this?
    7-8Vocabularies for characters.
    51-2TOPIC 9: Describe your favourite pet. Why do you like it?
    3-4Listening Test 1.
    5-6TOPIC 10: Describe your favourite gift and explain why
    you like it.
    7-8Vocabularies for toys, souvenirs, clothes.
    61-2TOPIC 11: The person you like best in your family.
    3-4Practice listening skill.
    5-6TOPIC 12: Your dream house.
    7-8Vocabularies for parts of a house.
    71-2TOPIC 13: There are many festivals in our culture. Talk
    about the one you like best and how you celebrate it.
    3-4Practice listening skill.
    5-6TOPIC 14: What do you want to be when you grow up?
    Why?
    7-8Vocabularies for jobs.
    81-2TOPIC 15: Which foreign country do you want to visit?
    Why?
    3-4Practice listening skill.
    5-6TOPIC 16: Do you think having pets is good for your life?
    Why or why not?
    7-8Vocabularies for animals .
    91-2TOPIC 17: Your last summer vacation.
    3-4Practice listening skill.
    5-6TOPIC 18: Some people say “Mothers are the best
    teachers”. Do you agree or disagree? Why?
    7-8Vocabularies for countries,transports and road signs.
    101-2TOPIC 19: Your favourite season of the year.
    3-4Listening Test 2
    5-6TOPIC 20: Which place in Vietnam would you recommend
    to a foreign tourist? Explain your choice.
    7-8Vocabularies for weather, seasons .
    111-2TOPIC 21: Are friends important to primary students?
    3-4Practice listening skill.
    5-6TOPIC 22: Tell something about your Tet holiday.
    7-8Vocabularies for festivals .
    121-2TOPIC 23: Your daily routines.
    3-4Practice listening skill.
    5-6TOPIC 24: What kinds of leisure activities do you enjoy
    playing or watching? Why?
    7-8Vocabularies for daily activities .
    131-2TOPIC 25: What are the benefits of playing sport?
    3-4Practice listening skill.
    5-6TOPIC 26: How important do you think it is to use public
    transport?
    7-8Vocabularies for location, sports and games.
    141-2TOPIC 27: Do you like wearing school uniform? Why?
    Why not?
    3-4Practice listening skill.
    5-6TOPIC 28: Tell something about your hometown. How
    can young people spend their free time in your hometown?
    7-8Vocabularies for diseases
    151-2TOPIC 29: Is fast food good for your health? Why or why
    not?
    3-4Listening Test 3
    5-6TOPIC 30: Do you think Art and Music are important to
    primary students?
    7-8Vocabularies for foods and drinks
    161-2Review from Toppic 1- 15
    3-4Review vocabularies.
    5-6Review from Toppic 16- 30
    7-8Practice listening skill.

    Phân tich cho cac em biết nôi dung của từng topic, sau đo gợi ý và lâp dàn
    ý cho từng chủ đề, làm cơ sở đê hoc sinh co thê đi đung với nôi dung , không bi
    lêch lạc về ý tưởng .
    * Thơi lượng bồi dưỡng: Đam bao 3 tiết/tuân
    * Ngoài ra bồi dưỡng ngày thư 7, Chủ nhât, thơi gian buổi tối, hoặc những
    lúc ranh co thê rèn luyên thêm cho hoc sinh.
    2.3.2 Nội dung bồi dưỡng:
    a, Từ vựng theo chủ điểm:
    Thương xuyên huy đông vốn từ của hoc sinh theo chủ đề đê tranh tinh trạng
    từ vựng “chết”. Nếu hoc sinh không sử dung chắc chắn nhiều từ sẽ bi lang quên
    và lại trở
    thành từ mới. Vi thế hay cố gắng gợi lại kiến thưc về từ, cấu truc từ, đê hạn chế
    viêc này tôi đa sử dung sơ đồ tư duy đê đưa ra các chủ điêm từ vựng. Sau đây là
    sơ đồ tư duy mẫu:
    Cac từ vựng đều được thiết kế thành cac slides trên Power Point ở dạng 4
    pictures one word đê hoc sinh nhớ từ lâu, quen với hinh thưc thi. Đặc biêt, tôi
    lưu tâm nhiều đến những từ vựng mang nghĩa trừu tượng, hoc sinh thương lung
    túng, xem hinh anh mà kho đoan được từ. Vi du: kind, quiet, slowly, generous,
    friendly…
    Hướng dẫn hoc sinh đôi tuyên tự làm slide hinh anh và giao cho mỗi em
    làm 5 slide tương ưng với 5 từ vựng môt ngày (cac từ vựng của mỗi em là khac
    nhau), sau đo cac em chia sẻ kết qua với cac bạn trong đôi. Cach làm này không
    chi gây hưng thu, giup hoc sinh dễ nhớ từ, nhớ lâu mà còn nhanh chong sở hữu
    kho tài liêu từ vựng bằng hinh anh.
    Giao viên cân đam bao hoc sinh nắm chắc cac khai niêm về từ vựng như:
    Noun (danh từ), Adjective (tinh từ), Verb (đông từ), Adverb (trạng từ)…. và đoc
    kĩ Clue (gợi ý) về số lượng chữ cai và từ loại đê tranh những nhâm lẫn đang tiếc.
    Vídụ:

    Sports –
    Games
    Sports

    games
    s

    Hide-and- seek
    blind
    man
    bluff

    skipping

    drinks
    soda

    Transports
    Foods-Drinks
    festivals
    Japan
    Song festival
    School festival
    Weather
    countries
    animals

    foods
    water
    coke

    plane
    coach

    snowy

    Windy

    Malaysia
    China

    rice
    sandwich
    football tiger
    volleyball
    tennis
    badminton
    fox
    crow
    Vocabularies
    stormy

    Với những hình ảnh này nếu học sinh không đọc kĩ Clue và không nắm
    được khái niệm Noun (danh từ) thì sẽ dễ dàng nhầm lẫn câu trả lời là tính từ
    “different” (có 9 chữ cái), trong khi đáp án đúng là danh từ “difference” (có 10
    chữ cái).
    Điều cuối cùng đặc biêt quan trong là giao viên phai bao quat và trang bi
    cho hoc sinh vốn từ vựng mang tinh hê thống và phủ kin chương trinh lớp 3, 4, 5
    của Bô Giao duc và Đào tạo. Ở mang này tôi tham khao sach giao khoa Tiếng
    Anh 3, 4 , 5 của Bô và cac cuốn Vở luyện từ và mẫu câu 3, 4,5 của Nhà xuất ban
    Giao duc Viêt Nam. Từ vựng được tổng hợp theo từng Unit, bao gồm cac từ vựng
    của ca Lesson 1, 2, 3 tương đối đây đủ.
    Ví dụ: Phần từ vựng của Unit 13. Would you like some milk chương trình tiếng
    Anh lớp 4 được tổng hợp như sau:
    Ngoài ra tôi tham khao thêm phân từ vựng trong cac cuốn Starter Word
    List, Mover Word List và Flyer Word List ban Picture book của Cambridge
    English. Từ vựng trong cac cuốn sach này được giới thiêu theo cac chủ đề rất sat
    với chương trinh của Bô Giao duc, khối lượng từ phong phu, hinh anh đẹp nên
    hoc sinh rất thich thu.
    Ví dụ: Khi dạy từ vựng về chủ đề Food and drinks, tôi tham khảo thêm bài
    My favourite food trong Starter Word List để bổ sung thêm từ vựng.
    Với những phương thưc trên sẽ giup hoc sinh chiếm lĩnh vốn từ và chinh
    phuc bài thi từ vựng hiêu qua, đồng thơi khi co vốn từ tốt sẽ giup cac em tự tin
    thực hiên bài thi nghe và noi.
    b, Các file nghe và video:
    Căn cư theo cấu truc của bài thi nghe gồm 30 câu được thiết kế trong 4
    video, thông thương là 1 video bài hat, 1 video truyên và 2 live show, tôi xây dựng
    cac bài ôn luyên và kiêm tra theo cac dạng trên (25 bài thi từ vựng và nghe hiểu
    được đính kèm trong phần phụ lục)
    Luyên cho hoc sinh ca 2 hinh thưc: nghe co phu đề và không co phu đề, kết
    hợp
    tốt giữa nghe và xem video.
    Hướng dẫn hoc sinh cách rút ra từ chìa khóa – đo chính là mấu chốt đê rèn
    luyên tốt kĩ năng nghe của HS.
    Sau đây là những kĩ thuât cu thê đối với từng dạng bài nghe.
    b1. Video bài hát
    Nghe là môt kĩ năng kho và nghe bài hat lại càng kho hơn vi ca từ được âm
    thanh luyến lay, “nuốt âm” nên ngoài vốn từ cân trang bi cho hoc sinh những
    chiến lược nghe hiêu qua, phù hợp với hinh thưc của video. Tôi sẽ phân tich cu
    thê qua vi du sau:
    Ví dụ: Xem bai hat “BIRTHDAY” cua KATY PERRY va điên vao môi chô trông môt tư thich
    hơp.
    ( Trich đê thi tỉnh năm 2018-2019)

    I heard you’re feeling nothing’s going right
    Why don’t you let me stop by?
    The clock is ticking, running out of time
    So we should (1) ______________ all night
    So cover your eyes,
    I have a (2) ______________
    I hope you got a healthy appetite
    If you wanna dance,
    If you want it all
    You know that I’m the girl that you should call
    Pre-chorus:
    Boy, when you’re with me
    I’ll give you a (3) ______________
    Make it like your birthday every day
    I know you like it sweet
    So you can have your cake
    Give you something good to (4) ______________
    Chorus:
    So make a wish
    I’ll make it like your birthday everyday
    I’ll be your gift
    Give you something good to celebrate
    Pop your confetti
    Pop your Pérignon
    So hot and (5) ______________
    ‘Til dawn
    I got you spinning
    Like a disco ball
    All night they’re playing
    Your song
    We’re living the life
    We’re doing it right
    You’re never gonna be unsatisfied
    If you wanna (6) ______________
    If you want it all
    You know that I’m the girl that you should call
    (Back to pre-chorus, chorus)
    Happy birthday
    So let me get you in your birthday suit
    It’s time to bring out the big (7) ______________
    So let me get you in your birthday suit
    It’s time to bring out the big, big, big, big, big, big
    balloons
    (Back to pre-chorus x2)
    (Back to chorus)

    Với video trên, hoc sinh chi co 40 giây đê đoc đề bài sau đo là nghe và làm
    bài nên nếu đoc từng câu, từng chữ sẽ không đủ thơi gian. Vây giao viên phai
    luyên cho hoc sinh kĩ năng đoc lướt, tưc là tâp trung vào những câu cân phai điền
    từ và nhanh chong xac đinh loại từ vựng cân điền là gi. Trong vi du trên từ số (1)
    và (4) phai là đông từ vi sau “ should, to”, từ số (2) và (3) phai là danh từ vi sau
    “a”, số (5) phai là tinh từ vi trước đo là “hot and” …
    Nếu video trên co phu đề thi dự đoan chữ sẽ hiên ra và biến mất rất nhanh,
    từ cân điền nhiều kha năng là những từ kho và dài nên hoc sinh phai nhin nhanh
    và viết nhanh. Trương hợp nghe lân môt mà viết được nửa từ thi không nên lo sợ
    và gạch đi, hay đê nghe lân 2 rồi hoàn thiên.
    Nếu video trên không co phu đề thi co thê những từ cân điền sẽ quen thuôc
    hơn, hoc sinh nên vừa nghe vừa tâp trung nhiều hơn vào đề bài, bắt kip lơi bài hat.
    Co kĩ năng quan sat tốt. Đây là môt lợi thế giup hoc sinh phat hiên từ đang
    cân điền co thê được nhắc lại trong điêp khuc hoặc môt đoạn nào đo của bài hat.
    Vi vây dù chưa nghe cac em vẫn co thê dự đoan được đap an. Trong bài trên, từ
    số (4) nằm trong câu giống với câu cuối của phân Chorus nên từ cân điền co thê
    là từ “celebrate”; từ số (6) xuất hiên trong câu “If you wanna ……” giống với
    câu “If you wanna dance” ở doạn hai nên từ số (6) co thê là từ “dance”.
    Ngoài những kĩ năng trên, giao viên cân tim kiếm nhiều bài hat trên cac
    website cho hoc sinh luyên nghe như: British Council, English songs for kids,
    Disney songs, Youtube…
    b2. Video truyện
    Thông thương đây là video co phu đề và được thiết kế dạng bài True / False.
    Ở dạng bài này đòi hỏi hoc sinh nắm được nôi dung cốt lõi của câu truyên.
    Ví dụ: Xem clip “An elephant and the tailor” va viêt câu tra lơi cho cac câu hoi 1-8. Nêu câu
    đung vơi nôi dung clip viêt (T), nêu sai viêt (F). Xem vi du câu 0.

    StatementsT/F
    0. There was a small temple in a big town.F
    1. The elephant lived inside the temple.
    2. Mahout used to take the elephant around the town for a walk.
    3. The tailor did not want to give money to the elephant.
    4. The tailor placed the coins in the elephant’s trunk.
    5. The tailor hurt the elephant.
    6. The elephant taught the tailor a lesson.
    7. The elephant did not want to have breakfast.
    8. Mahout sprayed the mud on the tailor.

    Trong 40 giây đoc đề bài, hoc sinh cân tranh thủ đoc nhanh cac Statements,
    tim ra từ chia khoa, tên cac nhân vât trong truyên và hiêu nôi dung đại ý của cac
    Statements.
    Khi xem video, hoc sinh cân chu ý vừa đoc phu đề vừa xem hinh anh đê
    nắm được nôi dung câu truyên, từ đo đối chiếu với nôi dung của Statements đê lự
    chon T/F.
    Khac với video bài hat (hoc sinh vừa nghe vừa điền từ, nếu hết video rất
    kho co thê hoàn thành những từ chưa điền được), ở video này chi cân hoc sinh
    nhớ nôi dung câu truyên đa xem hoàn toàn co thê hoàn thành bài làm sau khi video
    kết thuc. Tuy nhiên cân lưu ý thơi gian vi khoang cach giữa cac video chi co 40
    giây, hoc sinh co thê không kip đoc câu hỏi của video tiếp theo.
    Các website có thê cho hoc sinh nghe luyên là English bedtime stories,
    Grandma stories for kids, English moral stories for kids, hoặc có thê truy
    câp British Council theo đương link
    https://learnenglishkids.britishcouncil.org/short-stories.
    b3. Các video liveshow thực tế.
    Thông thương yêu câu đối với cac video này là tra lơi câu hỏi bằng môt từ
    nên trước khi nghe, hoc sinh phai xac đinh dạng câu hỏi là tra lơi thông tin, lựa
    chon hay Yes/No. Từ đo xac đinh cân nghe gi là chinh vi đây là những video kho
    nên hoc sinh không thê nghe và hiêu hết từng câu, từng lơi của cac nhân vât.
    Ví dụ: Xem clip “Kedar talks computer code” va tra lơi câu hoi băng cach điên MỘT tư
    vao chô trông:
    0. How old is Kedar? He’s seven years old
    1. What did he invent? He invented a ________________
    2. What’s coding? It’s how you talk to the ________________
    3. How old was Kedar when he loved to play video games? When he was _________________
    4. How did he know what coding was? He used Youtube __________________
    5. What’s the name of the story Kedar mentioned? The story of Goldilocks and the three
    ______________.
    6. Is he planning to make a lot of money? _____________
    7. How much would Kedar give the man back if he invested in him $10,000? He would give
    $____________.
    Trong vi du này, sau khi đoc câu hỏi hoc sinh phai co dự đoan ban đâu về
    câu tra lơi, chăng hạn câu 3 và câu 7 sẽ là số, câu 6 là Yes hoặc No.
    Khi nghe hoc sinh lưu ý bắt kip những từ mở đâu co trong câu tra lơi vi khi
    đo kha năng nghe được từ cân điền tiếp là cao nhất.
    Giao viên co thê tim và hướng dẫn hoc sinh nghe cac bài video này trên
    Youtube, Talkshow, Little Big Shot, Ted Talk …
    c, Phát hiện yếu tố ngữ pháp trong bài nghe
    Mặc dù trong tâm của bài thi nghe vòng sơ khao là hoc sinh hiêu video và
    viết được từ cân điền, yếu tố ngữ phap không được chu trong nhiều. Tuy nhiên,
    nắm chắc ngữ phap sẽ giup hoc sinh co những phan đoan ban đâu về đap an và
    sau khi nghe sẽ viết được câu tra lơi chinh xac nhất. Lợi ich của viêc phat hiên
    yếu tố ngữ phap được phân tich cu thê qua vi du sau:
    Ví dụ: Xem bài hát “Going to the zoo” và điên vào môi chô trống MỘT từ thích
    hợp.

    We’re going to the zoo
    To see a Kangaroo
    We’re going to the zoo
    To see a Kangaroo
    And a lion too
    We’re going to the zoo
    The (1) _________ swing and climb
    They know it’s feeding (2)
    _______________
    The polar (3) ___________ and seals
    Enjoy their fishy (4) __________
    We’re going to the zoo
    To see a Kangaroo
    We’re going to the zoo
    To see a Kangaroo
    And a lion too
    We’re going to the zoo
    The snakes all slide along
    The skunk just (5) __________ a pong
    The tiger (6) __________ a roar
    He wants to eat some (7) __________

    Quan sat câu phai điền từ số (1) thấy hai đông từ “swing” và “climb” không
    chia đông từ nên khoang trống số (1) phai là danh từ số nhiều. Nếu không chu ý
    ngữ phap và âm cuối của từ khi nghe thi hoc sinh rất dễ viết đap an là danh từ số
    ít.
    Hoặc ở câu điền từ số (6), danh từ “tiger” viết ở dạng số it, cuối câu là danh
    từ “a roar” nên từ số (6) sẽ là môt đông từ và phai chia theo ngôi số it.
    Tương tự từ số (7) đưng sau đại từ “some” nên sẽ là môt danh từ. Nếu đo
    là danh từ đếm được thi phai viết ở dạng số nhiều.
    * Như vây nếu giao viên rèn được cho hoc sinh cac thủ thuât “đoc trong
    tâm”, quan sat nhanh, phân tich yếu tố ngữ phap tốt thi cac em sẽ dễ dàng hơn khi
    chinh phuc bài thi nghe – môt kĩ năng được cho là kho nhất khi hoc ngoại ngữ.
    d, Hùng biện theo chủ đề
    Bước 1: Giao viên hướng dẫn hoc sinh cấu truc của môt bài thuyết trinh.
    Đây là bước rất quan trong vi hoc sinh sẽ ap dung đê hùng biên bất cư chủ đề nào.
    Hoc sinh phai nắm được cac cấu truc câu mở đâu, chuyên đoạn, chuyên ý, kết
    luân đê bài noi hoàn chinh.
    Cấu trúc bài thuyết trình:
    * Introduce yourself – giới thiệu bản thân
    – Good morning, ladies and gentlemens.
    – Good afternoon, everybody
    – I’m … , from [Class]/[Group].
    – Let me introduce myself; my name is …,
    * Introduce the topic – giới thiệu chủ đề
    – Today I am here to present to you about [topic]….
    – I would like to present to you [topic]….
    – As you all know, today I am going to talk to you about [topic]….
    – I am delighted to be here today to tell you about…
    * Introduce the structure – giới thiệu cấu trúc bài thuyết trình
    – My presentation is divided into ……. parts.
    – I’ll start with / Firstly I will talk about… / I’ll begin with……
    – Then I will look at …
    – Next,…
    – And finally…
    * Beginning the presentation – bắt đầu bài thuyết trình
    – I’ll start with some general information about …
    – I’d just like to give you some background information about…
    – As you are all aware / As you all know…
    * Ordering – sắp xếp các phần
    – Firstly…secondly…thirdly…lastly…
    – First of all…then…next…after that…finally…
    – To start with…later…to finish up…
    * Finishing one part – kết thúc một phần
    – Well, I’ve told you about…
    – That’s all I have to say about…
    – We’ve looked at…
    * Starting another part – bắt đầu một phần khác
    – Now we’ll move on to…
    – Let me turn now to…
    – Next…
    – Let’s look now at…
    – However….. Whereas ……. Beside ….. On the other hand…..
    * Ending – kết thúc
    – I’d like to conclude by…
    – Inconclusion ……., To sum up………, Inshort ……..
    – That brings us to the end of my presentation.
    * Thanking the audience – cảm ơn khán giả
    – Thank you for listening / for your attention.
    – Thank you all for listening, it was a pleasure being here today
    – Well that’s it from me. Thanks very much..
    – Many thanks for your attention.
    – May I thank you all for being such an attentive audience.
    Bước 2: Lựa chon cac chủ đề gân gũi, liên quan đến cac bài hoc trong
    chương
    trinh lớp 3, 4, 5. Co thê tham khao chủ đề của huyên, tinh theo cac năm.
    Bước 3: Hướng dẫn hoc sinh làm main idea dựa trên cac câu hỏi của giao
    viên. Viêc xây dựng hê thống câu hỏi cho mỗi chủ đề là rất quan trong giup hoc
    sinh xây dựng ý tưởng cho bài noi đồng thơi luyên phân giao lưu với giam khao.
    Ví dụ topic : Talk about your favourite subject at school.
    Chủ đề trên yêu câu hoc sinh “ Noi về một môn học mà em yêu thích ở
    trường”. Đây là môt chủ đề hoc sinh cân thê hiên ý kiến ca nhân nhiều hơn, khac
    với những chủ đề mang tinh chất chung như “ The benefit of playing sports” (Lợi
    ich của viêc chơi thê thao) hay “The advantages of using pulic transportation”
    (Lợi ich của viêc sử dung giao thông công công). Vi vây đê khơi dây sự sang tạo
    và đôc lâp của hoc sinh khi thê hiên quan điêm của minh, tôi yêu câu hoc sinh tra
    lơi các câu hỏi sau đê lâp dàn ý trước khi nói.
    – What’s your favourite subject?
    – When do you have it?
    – How often do you have it?
    – What do you learn during this lesson?
    – What should you do to learn it better?
    – Who teaches you the subject?
    – Why do you like it?
    – What other subject do you like?
    Hoc sinh liên kết cac câu tra lơi là xây dựng được cac ý chinh của bài noi
    cho riêng minh, tranh tinh trạng hoc thuôc lòng môt bài mẫu giống nhau và “chết”
    sân khấu khi quên môt từ nào đo trong bài.
    Với chủ đề trên hoc sinh của tôi đa viết được bài noi như sau:
    Good afternoon / morning everyone,
    Nice to meet you today
    My full name is ……………. I was born and grew up in Hai Ha Commune.
    Today I’m very delighted to tell you about the topic “my favourite subject at
    school”
    You know, I have many useful lessons at school like Maths, Vietnamese,
    Science, History, Art or Music.Of all, English is my favourite subject.
    I have English 4 lessons a week. During the lesson, I learn to practice 4
    skills: reading, listening, speaking, and writing. My teacher usually teaches us
    many diferent activities. They are very exciting and helpful. We both learn and
    play many interesting games. There are a number of games such as: Bingo, do
    the crossword puzzle, lucky number, …so on.
    Beside that, I learn to listen tapes in my book. This skill is difficult for me.
    So I need to practice this skill more. Personally, I think I will try to listen English
    songs, watch cartoon by English and other ways .
    Therefore, I’m practiced speaking skill by work in pairs, work in groups
    with my friends. Especially I take part in the English Speaking Club at my school.
    I can communicate English with my friends, my teachers and foriegn teachers. It
    makes me to be more confident.
    I’m very funny and I will try my best to study English better.
    Thanks for your listening!
    Have a good time!
    2.4. Giải pháp 4: : Hình thành kĩ năng phát âm, kĩ năng nghe, kĩ năng
    giao tiếp, kĩ năng hùng biện.
    * Kĩ năng phat âm:
    + Dạy từ vựng kết hợp với dạy cach phat âm chuẩn xac: Trong các tiết dạy
    ở lớp khi giới thiêu môt từ mới ngoài cach giới thiêu nghĩa, nhất thiết phai hướng
    dẫn hoc sinh cach phat âm đung.
    + Chu trong dạy trong âm từ, trong âm câu và ngữ điêu của câu: Trong giao
    tiếp, trong âm, ngữ điêu rất quan trong trong viêc biêu đạt cam xuc, ý đồ của ngươi
    noi. Cùng môt câu nhưng với ngữ điêu lên, hoặc trong âm đặt vào từ khac sẽ hàm
    ý khac với câu co ngữ điêu xuống hoặc tâp trung trong âm vào từ khac.
    * Kĩ năng nghe:
    Phân lớn hoc sinh nắm môt khối lượng từ vựng và môt số quy tắc ngữ phap
    tiếng Anh, nhưng khi giao tiếp với giao viên hoặc ngươi khac, đặc biêt hoc sinh
    rất kho khăn khi nghe cac đoạn hôi thoại của ngươi ban ngữ, hâu hết hoc sinh
    không nghe rõ, không nắm nôi dung đoạn hôi thoại. Tại sao vây? Vi đê co thê
    giao tiếp tiếng Anh thât tốt hoc sinh không chi hoc qua lý thuyết mà cân phai hoc
    qua trai nghiêm. Viêc cho hoc sinh nghe hôi thoại ngôn ngữ của ngươi ban ngữ
    sẽ giup hoc sinh co cơ hôi đê hoc ngữ âm. Ngữ âm rất quan trong trong giao tiếp.
    Môt ngươi hoc tiếng Anh nào đo co thê biết rất nhiều từ, nhiều cấu truc ngữ phap
    nhưng nếu phat âm sai ngươi nghe kho, hiêu sai hoặc thâm chi không hiêu. Chăng
    hạn, nếu phat âm đung câu sai ngữ phap ngươi nghe vẫn co thê hiêu nôi dung cân
    truyền đạt, nhưng nếu phat âm sai thi ngươi nghe sẽ hiêu sai nôi dung. Vi vây,
    hoc sinh nên bắt chước cach phat âm, trong âm, ngữ điêu và cach nối âm của
    ngươi ban ngữ. Viêc hoc đung âm, trong âm, ngữ điêu tiếng Anh ngay từ đâu là
    vô cùng quan trong bởi khi đa bi sai từ đâu, ngươi hoc sẽ rất kho khăn đê điều
    chinh lại sau này.
    Hinh thành cho hoc sinh thoi quen rèn luyên kĩ năng nghe, noi tiếng Anh
    thương xuyên.
    Giao viên cân tạo cho hoc sinh tân dung moi cơ hôi đê rèn luyên được kĩ
    năng Nghe – Noi, tâp nghe đê hiêu những gi nghe thấy, tâp noi những gi đang
    nghĩ. Tuy nhiên, trong qua trinh hoc, viêc mắc lỗi là điều không tranh khỏi. Giao
    viên phai là ngươi làm cho hoc sinh đừng bao giơ sợ lỗi ngữ âm, ngữ phap hay
    cac lỗi khac khi noi. Trong giao tiếp, ngươi nghe không tâp trung vào lỗi ngươi
    noi mà chi muốn hiêu ngươi noi muốn noi điều gi. Khi cân, giao viên sẽ sửa lỗi
    cho hoc sinh, cư như thế, mỗi ngày qua đi, hoc sinh sẽ tâp cho minh thoi quen noi
    chuyên bằng tiếng Anh đung cach, noi tiếng Anh như ngươi ban ngữ.
    * Kĩ năng giao tiếp:
    Nghê thuât giao tiếp – hiêu ngươi và làm cho ngươi khac hiêu minh là môt
    trong những kỹ năng quan trong cân phai rèn luyên đê thực sự thành công. Đo
    chính là nghê thuât truyền tai thông điêp nhẹ nhàng, cô đong đê hâu hết số đông
    đều hiêu và nắm bắt được thông tin nhanh chong. Nắm được tâm quan trong của
    giao tiếp, tôi đa tiến hành môt số công viêc như sau:
    – Tạo môi trương giao tiếp ngay trên lớp hoc vào các tiết dạy chú ý đến cử
    chi điêu bô (body languages) phai thât thoai mái và thân thiên khi giao tiếp nhằm
    luyên tâp, sửa lỗi từng bước cho các em hoàn thiên hơn. Cân tạo cho hoc sinh co
    được không khi của tiết hoc ngoại ngữ. Thương xuyên sử dung tiếng Anh trong
    giơ dạy, đặc biêt là khi đưa yêu câu, nhân xét bài hoặc khen ngợi hoc sinh. Tất
    nhiên viêc sử dung Tiếng Viêt đê giang giai là điều không thê loại trừ song cân
    cố gắng sử dung Anh ngữ càng nhiều càng tốt, nhưng ngôn ngữ sử dung phai co
    tac dung trong viêc hiêu bài và ưng dung thực tiễn của hoc sinh. Hay hinh thành
    cho hoc sinh thoi quen sử dung môt số ngôn ngữ trong lớp hoc (classroom
    language). Viêc yêu câu hoc sinh phai sử dung cac ngôn ngữ trong lớp hoc sẽ tạo
    cho cac em thoi quen và sự mạnh dạn khi noi tiếng Anh với cô giao, tạo môi
    trương noi tiếng Anh trong lớp hoc và là đông lực đê cac em giao tiếp tốt khi đi
    thi hoặc giao tiếp thực tế.
    – Vào các tiết dạy bồi dưỡng luôn tạo các tình huống giao tiếp đê hoc sinh
    có thê phan ưng nhanh, kích thích ở các em tính tò mò khá phá và hưng thú khi
    giao tiếp bắng tiếng Anh.
    – Khuyến khích hoc sinh sử dung body languages khi giao tiếp đê thu hút
    ngươi đối diên và dễ dàng hiêu điều các em đang diễn đạt.
    * Kĩ năng hùng biên:
    Cho hoc sinh xem những video của môt số thí sinh thi hùng biên Tiếng Anh
    được đanh giá cao trên Youtube, đê các em có thê tham khao và đưa ra phong
    cách riêng cho ban thân mình.
    Đông viên hoc sinh tự tin đưa ra ý kiến cá nhân, mạnh dạn thao luân về chủ
    đề của mình.
    Hướng dẫn hoc sinh chú ý đến lơi hùng biên phai luôn trôi chay, tránh lặp
    từ. Trong lúc thuyết trình các em có thê quên môt vấn đề gì đo nhưng hãy bình
    tĩnh, tự tin nói phân tiếp theo. Phai luôn kiêm soát thơi gian hùng biên, chia
    khoang thơi gian phù hợp theo từng phân.
    Thương xuyên cho các em trình bày chủ đề trước lớp vào đâu tiết hoc và
    trước toàn trương vào sáng thư 2 hàng tuân đê tăng cương đô “dạn” và tự tin của
    hoc sinh trước đam đông, bày tỏ thái đô môt cách tự nhiên về vấn đề mình đang
    hùng biên.
    2.5. Giải pháp 5: Dự đoán nội dung thi phần nghe và phần phỏng vấn.
    – Các đợt thi năm trước:
    Chắt loc cac đề thi ở cac năm trước của huyên và của tinh cho hoc sinh
    luyên. Như vây hoc sinh vừa được rèn kĩ năng vừa làm quen với dạng bài thi.
    – Các tài liêu xuất ban:
    Luôn tim tòi cac tài liêu cũ cũng như mới xuất ban liên quan đến tài liêu ôn
    luyên cho hoc sinh. Sưu tâm và xây dựng bô tài liêu phù hợp, chất lượng, phong
    phu qua cac năm đê bồi dưỡng cho hoc sinh.
    – Dự đoan cac dạng mới :
    Từ cac cuôc thi từ cac năm trước tôi đinh hướng được cac dạng đề sẽ ra và
    tìm
    thêm cac bài tâp liên quan đê cho hoc sinh

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Nâng cao hiệu quả dạy phát âm Tiếng Anh tiểu học thông qua các kĩ thuật và hoạt động

    SKKN Nâng cao hiệu quả dạy phát âm Tiếng Anh tiểu học thông qua các kĩ thuật và hoạt động

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Trong thời đại giao thương toàn cầu như ngày nay thì việc học tiếng Anh rất
    quan trọng bởi lí do nó góp phần đưa người Việt tiếp xúc với văn hóa thế giới. Giỏi
    tiếng Anh cũng giúp người học dễ có việc làm hơn và cơ hội trong cuộc sống cũng
    nhiều hơn. Hiện nay các tập đoàn kinh tế đa quốc gia sử dụng Tiếng Anh làm ngôn
    ngữ giao tiếp – ngôn ngữ thương mại. Và theo nghiên cứu của EF – một tổ chức giáo
    dục quốc tế hoạt động trong lĩnh vực đào tạo ngôn ngữ, du lịch kết hợp giáo dục,
    trao đổi văn hóa cũng như các chương trình học thuật khác, thì các nước sử dụng tốt
    Tiếng Anh thường có chất lượng cuộc sống tốt.
    Khi bắt đầu thời kì đổi mới (khoảng năm 1986), Tiếng Anh mới trở thành
    ngoại ngữ chính ở trường trong hệ thống giáo dục quốc dân và là một trong các môn
    học quan trọng được chọn làm môn thi ở các kì thi chuyển cấp.
    Tuy nhiên, theo báo cáo của EF năm 2020 thì mức độ thành thạo Tiếng
    Anh của người Việt được xếp hạng 65 trong số 100 quốc gia trên thế giới và xếp
    13/24 trong các nước Châu Á, thuộc mức độ thông thạo thấp (EF EPI 2020).
    Theo thông tin từ Đại học Đà Nẵng, năm 2012 khả năng sử dụng tiếng Anh của
    sinh viên còn yếu; chỉ khoảng 20 – 30% sinh viên có thể theo học Tiếng Anh ở
    trường đại học, phần còn lại phải học các lớp dự bị trước khi vào học lớp Tiếng
    Anh chính thức. Theo thông tin từ doanh nghiệp thì trình độ tiếng Anh của sinh
    viên ra trường chưa đáp ứng tốt nhu cầu trong công việc; chủ yếu đọc hiểu được
    tài liệu, nhưng kỹ năng giao tiếp, viết và thuyết trình còn yếu.
    Với thực trạng như trên câu hỏi được đặt ra là có phải người Việt có năng
    lực ngoại ngữ kém. Câu trả lời là không phải. Có thực trạng trên là do trên lớp
    ngay từ bậc Tiểu học học sinh đã không được chú trọng nhiều đến kĩ năng nghe,
    nói do còn chịu áp lực thi cử. Vậy để cải thiện được tình trạng này thì ngoài việc
    thay đổi hình thức thi cử thì người học cần được rèn luyện tốt kĩ năng nghe nói
    ngay từ bậc tiểu học. Phát âm chuẩn ngay từ khi bắt đầu học sẽ giúp học sinh tự
    tin hơn trong giao tiếp và làm nền cho những kĩ năng khác phát triển.
    2
    Vì tất cả lí do trên đây, tôi đã mạnh dạn viết ra sáng kiến “Nâng cao hiệu
    quả dạy phát âm tiếng Anh tiểu học thông qua các kĩ thuật và hoạt động”.
    Đây là những kĩ thuật cũng như hoạt động tôi đã mạnh dạn áp dụng vào trong các
    tiết phát âm của mình và đã đạt được những thành công nhất định. Bài nghiên cứu
    này cũng giúp người đọc có cái nhìn tổng quan về phát âm trong Tiếng Anh – những
    kiến thức cơ bản và phương pháp dạy sao cho hiệu quả. Đó là những khám phá về
    hệ thống âm trong Tiếng anh cũng như cách chúng hoạt động, hiểu đúng về các khía
    cạnh của phát âm và liên quan tới việc dạy chúng. Qua đó không chỉ giúp học sinh
    có được cách tiếp cận với Tiếng Anh một cách chuẩn nhất nhưng không kém phần
    sinh động mà còn giúp các em mạnh dạn tự tin hơn trong giao tiếp. Những biện
    pháp này không chỉ giúp ích cho học sinh bậc tiểu học và còn cung cấp cho học sinh
    bậc cao hơn những kiến thức về phát âm.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
    Trước khi thực hiện sáng kiến, tôi đã khảo sát học sinh lớp 2, 3, 4, 5 những
    lớp tôi dạy với những nội dung sau:
    – Em gặp phải vấn đề gì khi học Tiếng Anh? Hãy trả lời câu hỏi bằng cách
    đánh dấu (x) vào ô tương ứng. Kết quả thu được như sau:

    Vấn đề gặp phảiKhôngKhông
    quan tâm
    1. Không phân biệt được hoặc nhầm lẫn giữa âm
    và chữ cái.
    20/3610/366/36
    2. Trọng âm của từ và trọng âm của câu có quan
    trọng không?
    36/14750/14761/147
    3. Gặp khó khăn trong việc xác định trọng âm
    của từ.
    67/11920/11932/119
    4. Gặp khó khăn trong việc xác định trọng âm
    của câu.
    67/11920/11932/119
    5. Gặp khó khăn trong việc đọc đúng ngữ điệu80/14737/14730/147

    3

    của câu.
    6. Gặp khó khăn trong việc phát âm một số âm
    cuối như /t/, /s/, /f/, …
    80/14737/14730/147
    7. Giờ học ngữ âm có buồn chán với các em
    không?
    92/18570/18523/185
    8. Các em có muốn tham gia vào các hoạt động
    để cải thiện khả năng phát âm của mình không?
    150/18515/18520/185

    *Lưu ý: Câu hỏi 1, 7, 8 dành cho học sinh lớp 2
    Câu hỏi 2, 5, 6, 7, 8 dành cho học sinh lớp 3, 4, 5
    Câu hỏi 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 dành cho học sinh lớp 4, 5
    Qua quá trình nhiều năm dạy phát âm tiếng Anh bậc tiểu học, tôi nhận
    thấy rằng học sinh có xu hướng Việt hóa Tiếng Anh. Điều này thể hiện qua việc
    các em đọc từ không phân biệt trọng âm, không rõ âm cuối và đọc câu không
    đúng ngữ điệu. Mặc dù trước khi có sáng kiến này, ở mỗi tiết học ngữ âm, tôi đã
    cố gắng thị phạm cho các em thấy được cách phát âm của các âm, cũng như
    nhấn mạnh trọng âm của từ, trọng âm và ngữ điệu của câu. Tuy nhiên việc này
    chưa đem lại nhiều hiệu quả như mong muốn vì các em chưa được thực hành
    nhiều. Cách dạy của giáo viên còn nặng về tính trình bày, hướng dẫn và mang
    tính một chiều nên học sinh thụ động trong cách tiếp thu và không được thực
    hành một cách kĩ lưỡng. Đặc trưng của học sinh tiểu học là nhanh nhớ nhưng lại
    nhanh quên nên ngày hôm nay các em học được quy tắc nhưng nếu không được
    thực hành nhiều và nhất là giờ học không gây được ấn tượng cho học sinh thì
    các em sẽ không thể nhớ lâu được. Việc học diễn ra một cách tự nhiên sẽ giúp
    học sinh tiếp cận một cách tự nhiên và mặc định trong suy nghĩ cũng như cách
    phát âm của các em.
    Vậy để giải quyết vấn đề này trước tiên học sinh phải nắm được kiến thức
    và kiến thức đó phải được khắc sâu nhưng phải theo một cách tự nhiên nhất.
    Học sinh phải được tiếp nhận kiến thức mới một cách đầy hứng khởi, chủ động,
    ấn tượng và tích cực. Thêm vào đó việc thực hành nhiều cũng giúp các em thành
    4
    thạo hơn. Điều này đòi hỏi giáo viên phải nắm vững kiến thức ngữ âm bao gồm
    các cách đọc các âm riêng biệt, quy tắc trọng âm và ngữ điệu của câu. Giáo viên
    phải là người sử dụng và thành thạo những kiến thức này và thực hành hàng giờ
    trên lớp thì qua đó học sinh mới được tiếp cận một cách sâu sắc nhất. Mục đích
    của sáng kiến này là giúp người đọc có cái nhìn tổng quan về phát âm Tiếng
    Anh và có thêm những ý tưởng vào bài dạy của mình làm phong phú thêm và từ
    đó mang lại hiệu quả của việc dạy phát âm. Điều quan trọng nhất đó là mang lại
    cho học sinh kiến thức kĩ năng phát âm để từ đó hình thành khả năng giao tiếp
    tốt và trôi chảy, đúng ngữ điệu và có trọng âm.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
    a. Vấn đề cần giải quyết
    * Mục tiêu của các kĩ thuật và hoạt động:
    – Giúp học sinh có được kiến thức và kĩ năng đầy đủ để phát âm chuẩn các
    âm riêng biệt, phân biệt được trọng âm của một lượng từ nhất định và đọc câu có
    ngữ điệu.
    – Nâng cao khả năng giao tiếp, khả năng biểu đạt cho học sinh.
    – Giúp học sinh tiếp cận về kiến thức ngữ âm một cách tự nhiên nhất và hiệu
    quả nhất thông qua các kĩ thuật và hoạt động.
    – Giúp học sinh có thể viết được một số từ ngắn dựa vào cách đọc của giáo viên.
    – Giúp giáo viên có cơ sở để thực hành các hoạt động và kĩ thuật này trong
    giờ dạy của mình.
    b. Tính mới của giải pháp
    – Những kĩ thuật và hoạt động này dễ áp dụng nhưng lại mang hiệu quả cao
    và có thể áp dụng vào nhiều phần trong một Unit. Người dạy có thể áp dụng những
    kĩ thuật này vào phần dạy phát âm, từ mới, mẫu câu, luyện đoạn hội thoại,… vừa
    làm phong phú thêm tiết dạy vừa mang lại hiệu quả cao.
    – Cung cấp cho người dạy và người học một cái nhìn tổng quan về phát âm:
    các khía cạnh của phát âm và cách dạy chúng.
    – Cung cấp cho người dạy và người học các kĩ thuật và hoạt động tạo hứng
    thú cho người học và làm cho tiết học phát âm thêm phần hiệu quả thay vì là các
    5
    bước dạy như nhiều sáng kiến trước đây đã từng mang lại. Trước đây khi dạy phần
    1 Lesson 3 mỗi Unit, tôi thường chỉ dạy theo các bước dạy của phần này. Đó là nêu
    yêu cầu của hoạt động, cung cấp kiến thức, học sinh nghe băng, học sinh thực hành
    bằng cách đọc đồng thanh, theo nhóm, theo cá nhân và giáo viên sửa lỗi sai nếu có.
    Với những kỹ thuật và hoạt động có trong sáng kiến này giúp tôi làm phong phú và
    hiệu quả hơn tiết dạy của mình. Học sinh tiếp thu bài một cách chủ động, tích cực và
    tâm lí thoải mái nhưng lại nhớ bài lâu.
    – Những kĩ thuật và hoạt động này giúp người dạy có thể lồng ghép việc dạy
    phát âm vào nhiều phần khác nhau của bài chứ không riêng phần 1 Lesson 3 mỗi unit.
    c. Nội dung và cách thức thực hiện các kỹ thuật và hoạt động
    Trong khi viết sáng kiến này tôi đã đi nghiên cứu các tài liệu, sưu tầm tài
    liệu, sách, báo, tìm hiểu qua mạng Internet để hiểu rõ hơn nội dung, ý nghĩa, các
    kĩ thuật và hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả trong việc dạy phát âm Tiếng Anh
    Tiểu học. Bài sáng kiến này tôi sẽ phân làm bốn nội dung chính đó là các kĩ
    thuật và hoạt động trong dạy các âm riêng biệt, dạy trọng âm của từ và câu, ngữ
    điệu của câu và cuối cùng là những kiến thức về lời nói liên kết cũng như một số
    lưu ý khi dạy lời nói liên kết. Trước tiên chúng ta cần hiểu tổng quan về phát âm
    (pronunciation) trong Tiếng Anh bằng cách nhìn vào bảng sau:
    WORD STRESS
    (TRỌNG ÂM CỦA TỪ)
    CONNECTED SPEECH
    (LỜI NÓI LIÊN KẾT)
    9(

    SOUNDS
    (CÁC ÂM)

    INTONATION
    (NGỮ ĐIỆU)

    PRONUNCIATION
    (PHÁT ÂM)

    6
    PHẦN I: SOUNDS (các âm)
    1. Các âm trong Tiếng Anh
    – Âm là cái cốt lõi để tạo ra từ. Tiếng Anh có 44 âm, trong đó có 12
    nguyên âm đơn, 8 nguyên âm đôi và 24 phụ âm. Chúng ta có thể nhìn vào bảng
    dưới đây để biết về chúng.
    Bảng nguyên âm:

    Nguyên âm đơnNguyên âm đôi
    / ɪ // eɪ /
    / e // əʊ /
    / ɔ // eə /
    / ʊ // ʊə /
    / ʌ // aɪ /
    / ə // aʊ /
    / i: // ɪə /
    / æ // ɔɪ /
    / ɔ: /
    / u: /
    / a: /
    / ɜ: /

    Bảng phụ âm:

    Phụ âm hữu thanhPhụ âm vô thanhCác phụ âm còn lại
    /b//p//m/
    /g//f//η/
    /v//s//l/
    /z//ʃ//j/
    /d//k//n/

    7

    /dʒ//t//h/
    /ð//θ//r/
    /ʒ//tʃ//w/

    2. Các kĩ thuật và hoạt động dạy các âm riêng biệt
    a. Presentation
    – Mục đích: Giúp học sinh hiểu được cách tạo ra âm và phân biệt được âm
    và chữ cái.
    – Đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 2, 3, 4
    – Cách thực hành:
    + Giáo viên viết âm và chữ cái cạnh nhau trong đó chữ cái viết hoa còn
    âm viết thường. Giải thích cho học sinh hiểu âm là âm thanh phát ra của chữ cái
    (Ví dụ âm của con mèo phát ra là meo meo). Giáo viên thị phạm cho học sinh và
    yêu cầu học sinh quan sát và nhắc lại. Giáo viên có thể mở video hướng dẫn sẵn
    để học sinh quan sát (giáo viên có thể đi tới đường link này để xem và hiểu hơn
    về cách đọc của các âm https://www.youtube.com/watch?v=MEVt7GVlGXY).
    Ví dụ khi hướng dẫn học sinh phát âm /a/ giáo viên hướng dẫn học sinh bằng
    cách quay mặt xuống học sinh và phát âm. Sau đó giáo viên quay nghiêng để
    học sinh tiếp tục quan sát và hiểu cách đọc. Chúng ta có thể quan sát cách phát
    âm các âm riêng biệt thông qua các biểu đồ sau.
    Vowel chart
    8
    Dipthongs Chart
    Consonant Chart
    9
    + Hoạt động thực hành: Sau khi học sinh đã nắm được cách đọc âm
    (sound) thì giáo viên tiếp tục dạy đến chữ cái (letter). Hoạt động này áp dụng cho
    học sinh lớp 2 vì đối tượng này vừa mới tiếp xúc với cả âm và chữ cái nên dễ gây
    nhầm lẫn. Để giúp học sinh phân biệt được âm và chữ cái giáo viên có thể quy
    ước với học sinh khi cô giơ tay lên cao thì chúng ta đọc âm, khi cô giơ tay thấp là
    chúng ta đọc chữ cái. Hoặc khi cô vỗ tay một lần thì là âm, còn khi cô vỗ tay hai
    lần thì là chữ cái. Hoặc giáo viên có thể quy ước chữ cái thì viết hoa còn âm thì
    viết thường. Quy ước này sẽ xuyên suốt các bài và các tiết tiếp theo học sinh sẽ
    khắc sâu trong đầu và sau đó sẽ tạo thành phản xạ.
    b. Find Your Partner (Minimal Pair)
    – Mục đích: Giúp học sinh tìm và phân biệt cách đọc của những từ gần
    giống nhau.
    – Đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 3, 4
    – Cách thực hành:
    + Minimal pair là một cặp từ cái mà âm gần như giống nhau hoàn toàn chỉ
    khác một âm riêng lẻ. Vd ‘pray’ and ‘play’, ‘royal’ and ‘loyal’, ‘light’ and
    ‘right’, ‘that’ and ‘sat’, ‘fast’ and ‘vast’, ‘save’ and ‘safe’,… Đây là hoạt động
    thực hành diễn ra sau hoạt động Presentation. Lúc này học sinh đã biết đọc các
    âm riêng biệt và sau đó các em sẽ tìm những từ đơn giản có chứa những âm đó.
    Hoạt động này có thể áp dụng cho lớp 3, 4, 5 trong tất cả những tiết có học âm.
    Việc tìm những cặp có cách đọc gần giống nhau giúp ích rất nhiều cho học sinh
    trong việc thực hành không chỉ âm mà các em đang học mà còn có sự kết nối
    với những âm khác trong từ.
    Ví dụ khi học phần 1. Listen and repeat Lesson 3 Unit 5: Are they your
    friends?, Tiếng Anh 3 giáo viên có thể chia lớp thành các nhóm 4 học sinh và
    phát cho mỗi nhóm một từ giấy nhỏ. Giáo viên yêu cầu các nhóm tìm và ghi lại
    những từ là minimal pair của từ “that” (Ví dụ như hat, sat, cat,…). Nhóm nào
    hoàn thành trước và nhanh nhất thì sẽ là người chiến thắng. Sau khi có kết quả
    giáo viên yêu cầu các nhóm cử đại diện lên đọc những minimal pair này và sửa
    phát âm nếu cần thiết. (Để tham khảo thêm những minimal pair trong Tiếng Anh
    10
    chúng ta có thể đi tới đường link sau: https://englishpost.org/pronunciation-listminimal-pairs/)
    c. Bingo
    – Mục đích: Rèn luyện kĩ năng nghe phát hiện ra âm và giúp học sinh ôn
    luyện từ mới xuất hiện trong hai lesson trước đó.
    – Đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 3, 4
    – Cách thực hiện:
    + Bingo là trò chơi phổ biến, hiệu quả và dễ áp dụng trong các tiết học
    Tiếng Anh. Giáo viên và học sinh không cần mất nhiều thời gian để chuẩn bị
    nhưng vẫn mang lại hiệu quả giáo dục cao. Có nhiều cách áp dụng trò chơi Bingo
    trong các tiết dạy âm riêng biệt. Ví dụ tiết 1 Lesson 3 unit 16 Tiếng Anh 3 phần
    1 Listen and repeat giáo viên có thể yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm 4
    người, chuẩn bị một tờ giấy trong đó kẻ sẵn một bảng gồm 9 ô, còn mình thì viết
    các từ có liên quan đến âm /o/ lên bảng. Các từ này có thể là các cách đọc khác
    nhau của chữ cái O hoặc là cách chữ cái khác nhau nhưng đọc giống nhau là /o/
    và có thể là các từ xuất hiện trong cùng một unit. Sau khi học sinh chuẩn bị xong,
    giáo viên đọc 3 từ bất kì, học sinh nào có ba từ đó cùng ở trên cùng một đường
    thẳng hoặc một đường chéo thì hô to Bingo và sẽ trở thành người chiến thắng.
    Một bảng này có thể chơi nhiều lần với cặp ba từ khác nhau trong một tiết.

    Parrotdogbox
    Orangegoldfishfox
    tofrontflower

    d. Tongue Twisters
    – Mục đích: Giúp học sinh phân biệt các âm gần giống nhau trong các từ
    khác nhau và phản xạ nhanh với âm trong câu.
    – Đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 3, 4
    – Cách thực hiện:
    + Một cụm Tongue Twisters là một cụm từ hoặc một câu cái mà được thiết kế
    để khó phát âm đúng vì các từ đứng cạnh nhau đọc gần giống nhau nhưng lại dễ
    11
    nhầm lẫn khi đọc nhanh những từ đó. Ví dụ: “She sells sea-shells on the sea-shore.”.
    e. Same sounds and different sounds
    – Mục đích: Giúp học sinh phát hiện ra sự khác nhau giữa chữ cái và âm vì
    có những từ viết khác nhau nhưng đọc khác nhau nhưng có những từ viết khác
    nhau lại đọc giống nhau.
    – Đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 3, 4.
    – Cách thực hiện:
    + Trước tiên giáo viên giải thích để học sinh hiểu có những từ có cách đọc
    giống nhau nhưng viết có thể khác nhau và nghĩa khác nhau (same sound, VD:
    see and sea) và ngược lại có những từ viết giống nhau nhưng cách đọc khác nhau
    (different sound, vd cook and pool). Giáo viên có thể viết lên bảng hoặc chuẩn bị
    một mẩu giấy viết các từ same sounds và different sounds và yêu cầu học sinh
    làm việc theo cặp hoặc theo nhóm quyết định xem những từ đó thuộc loại nào.
    Học sinh có thể không đồng nhất quan điểm và có sự khác nhau nhưng đó là một
    cách để học sinh có thể ghi nhớ bài học. Sau khi học sinh thảo luận xong giáo
    viên viết hai cụm từ lên bảng (same sounds và different sounds) và yêu cầu học
    sinh say one or two khi được nhắc đến mỗi từ. Để giúp học sinh hiểu rõ những
    sai sót của chúng giáo viên có thể viết phiên âm của từ ra và giải thích sự khác
    nhau. Đây là hoạt động hữu ích giúp học sinh phân biệt được cách đọc của
    nguyên âm ngắn và nguyên âm dài. Thêm vào đó học sinh cũng hiểu được là có
    những chữ cái khác nhau nhưng có thể đọc giống nhau hoặc cùng một chữ cái có
    thể có cách đọc khác nhau. Sau đây là một ví dụ về same sounds và different
    sounds áp dụng cho bài Lesson 3, unit 5: Are they your friends?, Tiếng Anh 3
    phần 1 Listen and repeat. Giáo viên cho các từ sau và yêu cầu học sinh tìm các
    từ có âm giống nhau và các từ có âm khác nhau.

    CatSatThatMap
    BedYesPeterMeet
    FriendAreCarParrot
    AppleAlligatorBeeElephant

    12
    f. One, two or three
    – Mục đích: Trong một hoạt động học sinh có thể ôn tập lại cùng một lúc
    nhiều âm đã học và làm giàu thêm cách phát âm của mình.
    – Đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 2, 3, 4
    – Cách tiến hành:
    + Giáo viên viết lên bảng một số âm cần ôn luyện sau đó viết tiếp một số
    từ chứa âm đó và yêu cầu học sinh nói “one”, “two” or “three” mỗi khi có một từ
    được nhắc đến. Ví dụ trong bài Lesson 3 unit 9 Tiếng Anh 3 phần 1. Listen
    and repeat giáo viên cho học sinh các từ như sau:

    ItMeetPencil
    GreenWhiteThis
    SitOrangeBig
    IglooSeeRepeat

    Giáo viên yêu cầu học sinh nói “one” khi nghe thấy các từ có chứa âm /ɪ /,
    nói “two” khi nghe thấy các từ có chứa âm /i:/ và nói “three” khi nghe thấy các
    âm khác ngoài hai âm trên.
    g. Running dictation
    – Mục đích: Giúp học sinh ôn luyện âm ở trong câu, phân biệt được âm
    ngắn và âm dài.
    – Đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 3, 4
    – Cách thực hiện:
    + Giáo viên chuẩn bị một đoạn văn (có thể viết trên một tờ giấy A4) hoặc
    một số từ chứa âm đó và dán lên trên bảng sao cho học sinh ngồi dưới không thể
    nhìn được nội dung. Sau đó giáo viên phát tiếp những mẩu giấy nhỏ trong đó có
    ghi nội dung đoạn văn nhưng vẫn còn thiếu một số từ (các từ này sẽ được in đậm
    hoặc nghiêng trong tờ giấy trên bảng). Học sinh làm việc theo cặp, trong đó có
    một người chịu trách nhiệm chạy lên bảng xem từ còn thiếu là gì, người còn lại
    có trách nhiệm ghi. Cặp nào hoàn thành đoạn văn trước và đúng thì cặp ấy thắng.
    Muốn vậy người chạy phải chạy nhanh và đọc đúng từ cần điền nhưng không
    13
    được đánh vần, còn người viết phải nghe đúng và điền đúng từ cần điền. Hoạt
    động này không chỉ giúp học sinh luyện kĩ năng nghe, nói, đọc, viết mà còn gây
    sự hứng khởi và tính thi đua trong học sinh. Hoạt động này cũng giúp cho lớp
    học sôi động hơn bớt nhàm chán. Tuy nhiên giáo viên cần quản lí lớp tốt và thích
    hợp với những lớp rộng và học sinh vừa đủ tránh gây ồn ào.
    h. Odd one out
    – Mục đích: giúp học sinh lựa chọn ra được từ chứa âm không giống với
    những từ còn lại từ đó học sinh luyện tập cách phát âm.
    – Đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 3, 4
    – Cách thực hiện:
    + Giáo viên cho học sinh một nhóm từ (ba hoặc bốn từ được sắp xếp lần
    lượt a, b, c hoặc d) trong đó có ba trong bốn (hoặc hai trong ba) có chứa âm có
    cách đọc giống nhau còn từ còn lại có chứa âm có cách đọc khác. Các chữ cái có
    chứa âm này được gạch chân hoặc in đậm hoặc in nghiêng. Học sinh phải dựa
    vào cách phát âm đúng để lựa chọn ra được từ khác loại đó. Ví dụ sau khi học hết
    Unit 10 Tiếng Anh 4 giáo viên yêu cầu học sinh chọn từ có phần gạch chân phát
    âm khác với những từ còn lại như sau:

    1. a. singb. satc. booksd. sugar
    2. a. teacherb. firstc. Thursdayd. bird
    3. a. playedb. watchedc. wateredd. stayed
    4. a. seeb. meetc. engineerd. sea

    i. Slap the board
    – Mục đích: Giúp học sinh nhận biết âm một cách nhanh chóng, luyện kĩ
    năng nghe và phát âm.
    – Đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 2, 3, 4
    – Cách thực hiện:
    + Slap the board là trò chơi phổ biến và dễ áp dụng nhưng vẫn mang lại
    hiệu quả tốt trong khi dạy học ngoại ngữ.
    Ví dụ Unit 10: Where were you yesterday? Tiếng Anh 4, Lesson 3,
    phần 1. Listen and repeat. Giáo viên giải thích cho học sinh ba cách đọc của
    14
    đuôi “ed” khi chúng được thêm vào sau các động từ để làm thành các động từ
    trong quá khứ đó là /ɪd/, /t/ và /d/. Sau đó giáo viên viết ba phiên âm này lên trên
    bảng và yêu cầu học sinh chia làm 2 đội. Lần thứ nhất giáo viên đọc to một từ lên
    và yêu cầu một thành viên mỗi đội chạy nhanh lên bảng và đập tay vào phiên âm
    của đuôi “ed” trong từ giáo viên đọc. Mỗi lần đập tay đúng thì sẽ được một điểm.
    Cuối cùng đội nào được nhiều điểm hơn thì sẽ dành chiến thắng.
    Các từ giáo viên đưa ra như: painted, watched, played, listened, washed,
    watered, visited, decided, looked, repeated.
    Đối với lớp đông học sinh, giáo viên có thể chọn cử mỗi đội khoảng 10
    học sinh để đảm bảo thời gian của tiết học. Sau khi hoạt động kết thúc giáo viên
    có thể đưa ra các mẹo nhỏ giúp học sinh nhận biết được cách đọc đuôi “ed” trong
    những từ sau.
    Hoạt động này có thể áp dụng cho các từ có cách đọc gần giống nhau.
    Giáo viên viết các từ lên bảng sau đó chia học sinh làm 2 đội. Lần thứ nhất, giáo
    viên đọc mẫu và yêu cầu một thành viên của hai đội lên đập tay một cách nhanh
    nhất vào từ đó. Học sinh hoàn thành tốt có thể thay giáo viên đọc từ tiếp theo. Cứ
    như thế cho đến khi hết các từ. Đội thắng là đội ghi được nhiều điểm hơn.
    j. Whisper
    – Mục đích: Giúp học sinh rèn luyện khả năng nghe và phát âm.
    – Đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 3, 4
    – Cách thực hiện:
    + Giáo viên chia lớp thành hai đội đứng xếp hàng dọc theo chiều dài của
    lớp. Người đứng cuối hàng sẽ cầm một tờ giấy và một chiếc bút. Giáo viên thì
    thầm vào tai học sinh đứng đầu của mỗi đội một từ hoặc một âm sao cho học
    sinh đứng liền sau không nghe thấy. Sau đó các học sinh lần lượt chuyền tai nhau
    từ hoặc âm đó cho tới bạn đứng cuối hàng và bạn này có nhiệm vụ viết từ hoặc
    âm đó ra giấy. Giáo viên kiểm tra và cộng 1 điểm cho đội nào viết đúng và nhanh
    hơn. Sau lượt thứ nhất học sinh đứng đầu hàng sẽ chuyển xuống đứng cuối hàng
    và nhận nhiệm vụ nghe còn học sinh lúc trước đứng thứ hai sẽ đứng đầu hàng và
    nhận nhiệm vụ từ giáo viên. Sau khi hoàn thành trò chơi học sinh tổng hợp điểm
    15
    và công bố đội chiến thắng. Ví dụ Unit 8: What subjects do you have today?
    Lesson 3, Tiếng Anh 4 phần 1. Listen and repeat, giáo viên tổ chức cho học
    sinh chơi trò này. Các từ được truyền đi như: subject, subjects, lesson, lessons,
    Monday, Mondays, Thursday, Thursdays, watches,… Mục đích của bài tập này
    là giúp các em luyện tổ hợp âm ct, cts và thêm vào đó là luyện âm cuối s, es.
    3. Một số lưu ý về cách phòng tránh và sửa lỗi sai trong việc phát âm
    những âm riêng biệt.
    – Phòng hơn chữa
    + Trước khi dạy về các âm riêng biệt, giáo viên hãy nghĩ về những âm mà
    nhiều học sinh cảm thấy khó khăn khi học chúng. Sau đó giáo viên hãy chuẩn bị
    bài thật kĩ trước khi lên lớp bao gồm cách mà âm đó được phát ra như thế nào
    (thông qua video hướng dẫn, tranh ảnh hay thị phạm của giáo viên), đưa ra các từ
    chứa âm hay áp dụng những kĩ thuật và hoạt động bên trên đó để học sinh thực
    hành nhiều hơn.
    – Ghi lại từ mới
    + Với những từ khó đối với học sinh, giáo viên có thể ghi phiên âm lên
    bảng để học sinh có thể hình dung tốt nhất cách mà từ đó được đọc. Chúng ta chỉ
    áp dụng cách này với những từ thực sự khó đọc và học sinh đọc sai nhiều.
    – Tìm ra nguyên nhân và tạo điều kiện để tự học sinh sửa chúng
    + Khi học sinh nói sai từ nào đó, thay vì sửa sai cho học sinh ngay thì giáo
    viên hãy nhắc lại từ đó với giọng điệu lên để học sinh phát hiện vấn đề và tự sửa
    chữa. Tự mình sửa sai sẽ giúp học sinh nhớ lâu hơn.
    PHẦN II: WORD STRESS (trọng âm)
    1. Khái quát về trọng âm
    – Tiếng Anh là ngôn ngữ đa âm tiết. Trong một từ có hai âm tiết trở lên
    xuất hiện trọng âm. Trọng âm là âm tiết được phát âm cao hơn, mạnh hơn, dài
    hơn các âm tiết còn lại trong một từ. Tuy nhiên trọng âm không phải là sự lựa
    chọn ngẫu nhiên, bạn không thể nhấn trọng âm vào bất cứ chỗ nào bạn thích.
    Thêm vào đó không chỉ có từ mới mang trọng âm mà câu cũng có trọng âm.
    Những từ được nhấn trọng âm thì thường phát âm to hơn và chậm hơn những từ
    16
    còn lại. Trọng âm của câu rất quan trọng vì khi nói từ mà người nói nhấn trọng
    âm cũng như họ đánh trọng âm vào cùng một từ có thể làm thay đổi hoàn toàn
    nghĩa hàm chứa trong câu đó. Ngoài ra trọng âm của câu còn tạo ra giai điệu hay
    tiếng nhạc cho ngôn ngữ. Và chúng ta thường nhấn trọng âm vào những từ thuộc
    về mặt nội dung của câu.
    2. Quy tắc trọng âm của từ.
    a. Từ có hai âm tiết

    Từ loạiDanh từTính từĐộng từ
    Vị trí trọng âmÂm tiết 1Âm tiết 1Âm tiết 2
    Ví dụperson /ˈpɜːsn/
    table /ˈteɪbl /
    center/ˈsentər/
    object /ˈɑːbdʒɪkt/
    happy/ˈhæpi/
    present /ˈpreznt/
    clever /ˈklevər/
    sporty /ˈspɔːrti/
    relax /rɪˈlæks/,
    object /əbˈdʒekt/
    receive / rɪˈsiːv/
    accept /əkˈsept/

    Trường hợp ngoại lệ:
    – Danh từ: Nếu danh từ hai âm tiết có chứa nguyên âm dài, nguyên âm đôi
    ở âm tiết thứ 2 thì có trọng âm ở âm tiết 2.
    VD: belief /bɪˈliːf/, mistake /mɪˈsteɪk/
    – Tính từ: Tính từ bắt đầu bằng “a” thì có trọng âm là âm tiết 2.
    VD: alive /ə’laiv/, alone /ə’loun/
    – Động từ:
    + Nếu động từ hai âm tiết có nguyên âm ngắn ở âm tiết thứ hai và kết thúc
    bằng một (hoặc không) phụ âm, thì trọng âm rơi vào âm tiết 1.
    VD: enter /ˈentər/, travel /ˈtrævl/, open /ˈoʊpən/,
    + Các động từ tận cùng là “ow”, thì trọng âm rơi vào âm tiết 1.
    VD: borrow /ˈbɔːroʊ/, follow /ˈfɑːloʊ/
    b. Từ có ba hoặc bốn âm tiết
    – Danh từ:
    + Nếu âm tiết thứ 1 chứa nguyên âm yếu (/ə/ hoặc /i/) hay âm tiết thứ 2
    chứa nguyên âm dài hoặc nguyên âm đôi thì có trọng âm ở âm tiết 2.
    17
    VD: computer /kəmˈpjuːtə(r)/, potato /pəˈteɪtəʊ/, disaster /dɪˈzɑːstə(r)/,
    banana /bəˈnɑːnə/
    + Nếu âm tiết thứ 2 chứa nguyên âm yếu thì trọng âm rơi vào âm tiết 1.
    VD: holiday /ˈhɒlədeɪ/, exercise /ˈeksəsaɪz/, resident /ˈrezɪdənt/,
    attitude /ˈætɪtjuːd/
    – Tính từ:
    + Nếu tính từ có âm đầu tiên chứa nguyên âm yếu thì có trọng âm ở âm
    tiết 2.
    VD: familiar /fəˈmɪliər/, considerate /kənˈsɪdərət/
    – Động từ:
    + Âm tiết cuối là âm tiết yếu thì có trọng âm ở âm tiết 2.
    VD: consider /kənˈsɪdər/, inhabit /ɪnˈhæbɪt/, remember /rɪˈmembər/,
    examine /ɪɡˈzæmɪn/,…
    + Âm tiết cuối là nguyên âm đôi hoặc nguyên âm dài hoặc /e/ thì có 2
    trường hợp:
    *Trọng âm chính – phụ
    VD: introduce /ˌɪntrəˈdjuːs/, entertain /ˌentəˈteɪn/, recommend
    /ˌrekəˈmend/
    *Trọng âm rơi vào âm tiết 1
    VD: decorate /ˈdekəreɪt/, generate /ˈdʒenəreɪt/, advertise /ˈædvətaɪz/
    c. Từ ghép

    Từ loạiDanh từTính từĐộng từ
    Vị trí trọng âmÂm tiết 1Âm tiết 1 hoặc 2Âm tiết 2
    Ví dụgreenhouse
    /ˈɡriːnhaʊs/
    birthday /ˈbɜːθdeɪ/
    bookshop
    /ˈbʊkʃɒp/
    ˈhomesick
    ˈairsick
    ˈpraiseworthy
    ˈwaterproof
    bad-ˈtemper
    short-ˈsighted
    Understand
    /ˌʌndərˈstænd /
    overflow
    /ˌoʊvərˈfloʊ/

    18
    * Lưu ý:
    + Một số từ vừa thuộc nhóm danh từ vừa thuộc nhóm động từ thì sẽ có
    trọng âm khác nhau

    Danh từĐộng từ
    Desert /ˈdezət/Desert /dɪˈzɜːt/
    Process /ˈprəʊses/Process / ˈprɑːses /
    Record /ˈrekɔːd/Record /rɪˈkɔːd/
    Contrast /ˈkɒntrɑːst/Contrast /kənˈtrɑːst/
    Conduct /ˈkɒndʌkt/Conduct /kənˈdʌkt/
    Export /ˈekspɔːt/Export /ɪkˈspɔːt/
    Import /ˈɪmpɔːt/Import /ɪmˈpɔːt/
    Object /ˈɒbdʒɪkt/Object /əbˈdʒekt/
    Present /ˈpreznt/Present /prɪˈzent/

    + Một số từ vừa thuộc nhóm danh từ, vừa thuộc nhóm động từ sẽ có cùng
    vị trí trọng âm.
    VD: Answer, promise, travel, visit, reply, picture
    * Một số lưu ý:
    – Hầu hết các giới từ hai âm tiết thì trọng âm rơi vào âm tiết 2.
    VD: among, aside, between,…
    – Các đại từ tận cùng là how, where, what,… thì trọng âm rơi vào âm tiết 1.
    VD: anywhere, somehow, somewhere,…
    – Từ có hai âm tiết bắt đầu bằng “a” thường nhấn trọng âm vào âm tiết 2.
    VD: about, again, alone, achieve, alive, asleep, abuse, afraid,…
    – Đại từ phản thân luôn nhấn trọng âm ở cuối từ.
    VD: myself, himself, themselves, yourself….
    – Từ hai âm tiết có âm thứ hai là /y/ và được nhấn trọng âm ở âm thứ 2,
    âm /y/ sẽ được đọc thành /ai/.
    VD: reply, apply, imply, rely, ally, supply, comply, deny, defy,…
    19
    – Từ bắt đầu bằng every có trọng âm ở âm tiết 1.
    VD: everyday, everybody, everything, everywhere,…
    d. Trọng âm các từ có tiền tố và hậu tố.
    *.1. Tiền tố
    – Đối với từ có 2 âm tiết thì trọng âm không rơi vào tiền tố.
    VD: unwise /ˌʌnˈwaɪz/, dislike /dɪsˈlaɪk/, prepare /prɪˈper/, redo /ˌriːˈduː/
    – Tiền tố không làm thay đổi trọng âm chính của từ:

    UNimportant /ɪmˈpɔːtnt/unimportant /ˌʌnɪmˈpɔːtnt/
    IMperfect /ˈpɜːfɪkt/imperfect /ɪmˈpɜːfɪkt/
    INcomplete /kəmˈpliːt/incomˈplete /ˌɪnkəmˈpliːt/
    IRrespective /rɪˈspektɪv/irrespective /ɪrɪˈspektɪv/
    DISdanger /ˈdeɪndʒə(r)/dangerous /ˈdeɪndʒərəs/
    NONsmoker /ˈsməʊkə(r)/nonsmoker /ˌnɒn ˈsməʊkə(r)/
    EN/EXcourage /ˈkʌrɪdʒ/encourage/ɪnˈkʌrɪdʒ/
    REarrange /əˈreɪndʒ/rearrange /ˌriːəˈreɪndʒ/
    OVERpopulated /ˈpɒpjuleɪt/overpopulated /ˌəʊvəˈpɒpjuleɪtɪd/
    UNDERdeveloped /dɪˈveləpt/underdeveloped/ˌʌndədɪˈveləpt/

    Ngoại lệ: Understatement/ˈʌndəsteɪtmənt/, Underground/ˈʌndəɡraʊnd/(n)
    *.2. Hậu tố
    – Trọng âm rơi vào âm tiết chứa nó: -ee, -eer, -ese, -ique, -esque, -ain.
    VD: agree /əˈɡriː/ (Ngoại trừ: ˈcoffee, comˈmitee…), Japanese
    /ˌdʒæpəˈniːz/, mountaineer /ˌmaʊntnˈɪr/, entertain /ˌentərˈteɪn /, unique /juˈniːk/,
    retain /rɪˈteɪn/, picturesque /pɪktʃəˈres/
    – Trọng âm rơi vào âm tiết liền trước các hậu tố : -ic , -ish, -ical, -sion, –
    tion, -ian, -ial, -ity, -acy, -lous, -ious, -ior, -ive, -id, -ience, -iar
    VD: foolish /ˈfuːlɪʃ/, economic /ˌiːkəˈnɑːmɪk/, poetical /pəʊˈetɪk/,
    familiar /fəˈmɪliə(r)/, stupid /ˈstjuːpɪd/, suggestive /səˈdʒestɪv/, decision /dɪˈsɪʒn/,
    enormous /ɪˈnɔːməs/, experience /ɪkˈspɪəriəns/
    Ngoại lệ: ˈlunatic, ˈArabic, ˈpolitics, ˈrithmetic
    20
    – Trọng âm rơi vào âm tiết thứ 3 từ cuối lên: -cy ,-ty ,-phy,-gy,-ical,-ate
    VD: communicate /kəˈmjuːnɪkeɪt/, privacy /ˈpraɪvəsi / (ngoại trừ:
    ˈAccuracy), photography /fəˈtɑːɡrəfi /, practical /ˈpræktɪkl/, credibility
    /ˌkredəˈbɪləti/, geology /dʒiˈɑːlədʒi/
    – Hậu tố không làm thay đổi trọng âm:

    FULbeauty /ˈbjuːti/beautiful/ˈbjuːtɪfl/
    LESSthought /θɔːt/thoughtless/ˈθɔːtləs/
    ABLEenjoy /ɪnˈdʒɔɪ/enjoyable /ɪnˈdʒɔɪəbl/
    ALtradition /trəˈdɪʃn/traditional /trəˈdɪʃənl/
    OUSdanger /ˈdeɪndʒə(r)/dangerous/ˈdeɪndʒərəs/
    LYdirect /daɪˈrekt/directly /daɪˈrektli/
    ER/OR/ANTwork /wɜːk/worker /ˈwɜːkə(r)/
    NG/IVEbegin /bɪˈɡɪn/beginning /bɪˈɡɪnɪŋ/
    ISE/IZEmemory /ˈmeməri/memorize/ˈmeməraɪz/
    ENwide /waɪd/widen/ˈwaɪdn/
    MENTagree /əˈɡriː/agreement/əˈɡriːmənt/
    NESShappy /ˈhæpi/happiness/ˈhæpinəs/
    SHIPrelation /rɪˈleɪʃn/relationship /rɪˈleɪʃnʃɪp/
    HOODchild /tʃaɪld/childhood/ˈtʃaɪldhʊd/

    3. Quy tắc trọng âm của câu
    – Trong một câu, hầu hết các từ được chia làm hai loại: Từ thuộc về mặt
    nội dung và từ thuộc về mặt cấu trúc. Những từ thuộc về mặt nội dung thường
    mang trọng âm của câu, còn những từ thuộc mặt cấu trúc thì không. Nếu bỏ
    những từ thuộc mặt cấu trúc thì người nghe vẫn có thể hiểu được nghĩa của câu.
    Nhưng nếu bỏ từ thuộc mặt nội dung thì câu không còn ý nghĩa. Những từ thuộc
    về mặt nội dung thường là: động từ chính, danh từ, tính từ, trạng từ, từ để hỏi, đại
    từ chỉ định, trợ động từ (dạng phủ định). Ví dụ trong câu “How many lessons do
    you have today?” thì từ How (từ để hỏi), Lessons (danh từ), have (động từ
    chính), today (trạng từ) mang trọng âm của câu. Khi đọc chúng ta sẽ nhấn mạnh
    21
    vào những từ này bằng cách đọc to hơn, rõ hơn và dài hơn. Những từ còn lại sẽ
    được đọc lướt.
    – Ngoài ra trọng âm của câu còn phụ thuộc vào từ mà người đó muốn nhấn
    mạnh. Ví dụ trong câu “She is my girlfriend” người nói có thể nhấn mạnh vào
    “She” để phân biệt cô ấy chứ không phải là bất cứ người nào khác là bạn gái của
    tôi. Hoặc người nói có thể nhấn mạnh vào girl trong từ girlfriend để nhấn mạnh
    cô ấy là bạn gái mình nhưng sẽ thành bạn là con gái nếu người nói nhấn vào
    friend trong từ girlfriend.
    4. Các kĩ thuật và hoạt động dạy trọng âm
    a. Raise awareness & build confidence
    – Trước tiên giáo viên cần nâng cao ý thức của học sinh về việc sử dụng
    trọng âm khi phát âm các từ riêng biệt cũng như trong một câu. Giáo viên có thể
    hỏi học sinh một số câu hỏi sau:
    + Tại sao trọng âm lại quan trọng?
    + Trọng âm là gì?
    – Có rất nhiều cách để một đứa trẻ tiếp cận ngôn ngữ. Chúng có thể đơn
    giản chỉ cần ngữ pháp để giải các bài tập và phục vụ cho kĩ năng viết nhưng
    cũng có những đứa trẻ thích học Tiếng Anh để giao tiếp. Để dung hòa các cách
    tiếp cận này giáo viên cần khéo léo để các em hiểu và áp dụng các quy tắc trọng
    âm này để làm giàu thêm và hiệu quả thêm mục đích diễn đạt của câu.
    Ví dụ Unit 17: How much is the T-shirt? Tiếng Anh 4, Lesson 3, phần
    1: Listen and repeat, học sinh lần đầu tiên được làm quen với khái niệm trọng
    âm của từ. Trước khi giải thích cho học sinh thấy được sự cần thiết và mức độ
    quan trọng của trọng âm thì giáo viên có thể liên hệ với bài học trước đó của học
    sinh. Đó là Unit 16: Let’s go to the bookshop. Tiếng Anh 4, Lesson 3, phần
    1. Listen and repeat, học sinh đã làm quen với khái niệm âm tiết. Từ đó giáo
    viên nhấn mạnh Tiếng Anh là ngôn ngữ đa âm tiết. Trong một từ có hai âm tiết
    trở lên xuất hiện trọng âm. Trọng âm là âm tiết được phát âm cao hơn, mạnh hơn,
    dài hơn các âm tiết còn lại trong một từ. Tuy nhiên trọng âm không phải là sự lựa
    chọn ngẫu nhiên, bạn không thể nhấn trọng âm vào bất cứ chỗ nào bạn thích mà
    22
    chúng ta phải dựa trên những nguyên tắc cũng như dựa trên chính những nguyên
    âm chính trong các âm tiết đó hoạt động. Việc đọc đúng trọng âm của từ sẽ giúp
    việc diễn đạt trở lên trôi chảy hơn, tự nhiên hơn và giúp người nói truyền tải hết
    ý nghĩa của câu nói tới người nghe. Thêm vào đó, đọc đúng trọng âm giúp học
    sinh phát triển kĩ năng nghe – nói Tiếng Anh.
    Để nâng cao ý thức của học sinh về trọng âm thì giáo viên không chỉ dạy
    kiến thức này cho học sinh vào phần 1 của Lesson 3 mỗi unit mà ngay ở phần 2
    Lesson 1,2 khi giới thiệu từ mới giáo viên cần giúp học sinh có sự hiểu biết và
    thực hành về trọng âm của từ. Giáo viên có thể yêu cầu học sinh xác định trọng
    âm của từ mới hoặc giáo viên có thể giới thiệu về chúng. Thêm vào đó, giáo viên
    cần nói đúng trọng âm của từ bất cứ lúc nào vì bắt chước cũng là một cách mà
    học sinh tiểu học rất hay sử dụng để học một kiến thức mới.
    Đối với trọng âm của câu thì ngay từ khi học sinh làm quen với Tiếng Anh
    (có thể từ lớp 1 hoặc 2) thì khi đọc câu giáo viên không chỉ cần chú trọng đến
    phát âm các từ trong câu mà còn rèn cho học sinh trọng âm của câu. Có thể giáo
    viên chưa nói rõ là học sinh cần phải nhấn vào các từ thuộc mặt nội dung mà đơn
    giản chỉ là giáo viên đọc nhấn mạnh và yêu cầu học sinh nhắc lại theo. Đối với
    học sinh lớp 5 khi học đến Unit 6: How many lessons do you have today?,
    Lesson 3, phần 1. Listen and repeat thì giáo viên mới giải thích rõ cho học sinh
    về trọng âm của câu và những từ nào thì mang trọng âm của câu.
    b. Mark the stress
    – Sử dụng cách dễ nhìn thấy nhất để đánh dấu trọng âm. Giáo viên có thể
    sử dụng những vòng tròn to hoặc ô vuông to để biểu thị cho âm tiết mang trọng
    âm ngược lại sử dụng vòng tròn hoặc ô vuông nhỏ cho các âm tiết còn lại. Hoặc
    giáo viên có thể quy định khi viết từ mới trên bảng thì âm tiết mang trọng âm sẽ
    được viết bằng phần màu (vàng, đỏ, xanh,…) còn âm tiết không nhấn trọng âm
    sẽ viết bằng phấn trắng. Thêm vào đó giáo viên cần làm rõ để học sinh hiểu cách
    thức mà một cuốn từ điển biểu thị trọng âm của từ là thông qua dấu -ˈ- được đặt
    ngay bên trên và đằng trước âm tiết mang trọng âm. Còn đối với trọng âm của
    câu chúng ta có thể sử dụng phương pháp in đậm, in nghiêng hoặc viết hoa hoặc
    23
    gạch chân để biểu thị cho những từ mang trọng âm của câu. (Những từ này lại
    mang dấu trọng âm của mình.)
    Ví dụ 1: Unit 4: Did you go to the party? Lesson 3, phần 1. Listen and
    repeat, giáo viên viết các từ lên bảng và thị phạm trọng âm của từ thông qua các
    chấm tròn to như sau:
    – O o party
    – O o Sunday
    – o O enjoyed
    – o O invite
    Ví dụ 2: Unit 7: How do you learn English? Lesson 3, phần 1. Listen
    and repeat, sau khi yêu cầu học sinh nhắc lại quy tắc nhấn trọng âm của từ và
    của câu mà học sinh đã học ở bài trước, giáo viên phát phiếu bài tập và yêu cầu
    học sinh làm việc theo nhóm 4 học sinh hãy xác định trọng âm của câu và các từ
    trong câu bằng cách gạch chân từ mang trọng âm của câu và đánh dấu trọng âm
    của từ trong câu.
    Phiếu học tập như sau:

    1. How do you practise reading?I read English comic books.
    2. How do you practise listening?I watch English cartoons on TV.
    3. Why do you learn English?Because I want to sing English songs.
    4. Why do you learn English?Because I want to read English comic
    books.

    Sau khi học sinh hoàn thành bài, giáo viên yêu cầu các nhóm trình bày
    ý kiến của nhóm mình trước lớp. Giáo viên nghe và nhận xét rồi đưa ra đáp
    án đúng.
    24

    1. How do you ‘practise ‘reading?I read ‘English ‘comic books.
    2. How do you ‘practise ‘listening?I watch ‘English car’toons on ‘TV.
    3. Why do you learn ‘English?Be’cause I want to sing ‘English songs.
    4. Why do you learn ‘English?Be’cause I want to read ‘English ‘comic
    books.

    Học sinh nghe băng hai lần, nhắc lại đồng thanh, theo nhóm và theo cá
    nhân. Giáo viên sửa phát âm và trọng âm của câu nếu cần thiết. Sau khi hoàn
    thành các câu trong sách giáo khoa học sinh luyện đọc tiếp các câu trong phiếu
    bài tập.
    c. Cuisenaire rods
    – Đây là các khối hình có màu sắc và kích thước khác nhau để giúp cho
    học sinh dễ hình dung ra trọng âm của từ cũng như của câu. Học sinh sử dụng
    những khối này để tạo lên các từ và các câu để thấy được trong một từ cũng như
    trong một câu các âm tiết hay các từ là không bình đẳng với nhau mà chúng có
    sự khác biệt.
    Ví dụ trước khi học Unit 10: When will Sports Day be?, Lesson 3, phần
    1. Listen and repeat, giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị ở nhà những khối
    hình tròn cắt từ bìa cứng sau đó được tô các màu khác nhau. Sau khi học xong
    phần 1. Listen and repeat theo như các bước (Nêu mục tiêu hoạt động, học sinh
    nhắc lại kiến thức về trọng âm của từ và của câu, học nghe băng sau đó nhắc lại
    đồng thanh cả lớp rồi theo nhóm, theo cá nhân), giáo viên phát phiếu học tập
    trong đó có ghi từ, câu và các kí hiệu và yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm.
    Hoạt động 1: Học sinh sẽ dùng những khối màu chuẩn bị ở nhà để đặt bên dưới
    âm tiết mang trọng âm của từ và dưới từ mang trọng âm của câu. Quy định
    chung học sinh sẽ đặt các khối tròn to cùng màu dưới các từ mang trọng âm của
    câu, và âm tiết mang trọng âm của từ đó và đặt các khối nhỏ bên dưới âm tiết và
    từ không mang trọng âm của từ và của câu. Hoạt động 2: Học sinh lấy ví dụ là
    25
    các từ hoặc các câu có trọng âm như kí hiệu.
    Phiếu học tập:

    1.WhenwillSportsDaybe?
    2.Theyaregoingtoplayfootball.
    3.Ooo
    4.OooO ooOoOO?

    Kết qủa của một nhóm học sinh:

    1.WhenwillSportsDaybe?
    OoOOO
    2.Theyaregoingtoplayfootball.
    ooO ooOO o
    3.Ooo
    Saturday
    4.OooO ooOoOO?
    WhataretheygoingtodoonSportsDay?

    d. Intergrate word stress and sentence stress into your lesson
    – Trong cùng một lúc thì thất khó cho học sinh có thể ghi nhớ hết quy tắc
    trọng âm. Giáo viên có thể lặp lại điều này trong khi giới thiệu từ mới trong các
    tiết dạy của mình một cách thường xuyên để học sinh có thời gian ngấm kiến
    26
    thức ngôn ngữ. Việc giáo viên sử dụng và nhắc đi nhắc lại trọng âm sẽ làm cho
    học sinh nâng cao được ý thức sử dụng nó và có thể thành thục hơn.
    Ví dụ Unit 2: I always get up early. How about you? Lesson 1, phần 2.
    Point and say, khi viết các từ mới lên bảng giáo viên sẽ dùng phấn vàng để viết
    âm tiết mang trọng âm, còn âm tiết không mang trọng âm giáo viên sẽ dùng
    phấn trắng.
    * New words:
    – Always:
    – Usually:
    – Often:
    – Sometimes:
    e. Odd one out
    – Mục đích: Giúp học sinh lựa chọn ra được từ có trọng âm không giống
    với những từ còn lại.
    – Đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 4, 5
    – Cách thực hiện:
    + Giáo viên cho học sinh một nhóm từ (ba hoặc bốn từ được sắp xếp lần
    lượt a, b, c hoặc d) trong đó có ba trong bốn (hoặc hai trong ba) có chứa âm có
    cách đọc giống nhau còn từ còn lại có chứa âm có cách đọc khác. Các chữ cái có
    chứa âm này được gạch chân hoặc in đậm hoặc in nghiêng. Học sinh phải dựa
    vào cách phát âm đúng để lựa chọn ra được từ khác loại đó. Ví dụ sau khi học hết
    Unit 5: Where will you be this weekend., Tiếng Anh 5 giáo viên yêu cầu học
    sinh chọn từ có trọng âm khác với những từ còn lại như sau:

    1. A. cityB. villageC. mountainD. invite
    2. A. oftenB. completeC. usuallyD. party
    3. A. openB. alwaysC. enjoyD. travel
    4. A. visitB. cartoonC. motorbikeD. underground

    27
    f. Troubleshooting
    – Đầu tiên cả giáo viên và học sinh có thể thấy khó để nghe trọng âm của
    từ. Một cách rất hay đó là giáo viên sẽ lần lượt nhấn trọng âm vào các âm tiết
    các nhau của từ và đọc to chúng lên. Sau đó giáo viên hỏi học sinh trong những
    cách đọc đó thì cách đọc nào là tốt nhất là tự nhiên nhất. Bằng cách nghe những
    từ và câu với trọng âm sai sẽ giúp học sinh dễ dàng nhận biết và ghi nhớ lâu hơn
    cách đọc đúng.
    g. Role play
    – Hoạt động đóng vai là một hoạt động rất hữu ích giúp học sinh rèn luyện
    trọng âm của từ và của câu. Giáo viên có thể thiết kế những bài hội thoại nhỏ và yêu
    cầu học sinh đóng thành các nhân vật có trong bài hội thoại đó. Khi diễn học sinh
    phải làm sao bắt chước được cách diễn đạt sao cho tự nhiên nhất và đúng với trọng
    âm của câu để đạt được hiệu quả giao tiếp tốt nhất. Tuy nhiên trong một số trường
    hợp trọng âm của câu có thể bị thay đổi do mục đích nói của nhân vật.
    Ví dụ sau khi học Unit 8: What are you reading? Lesson 2, giáo viên yêu
    cầu học sinh theo cặp hãy chuẩn bị một bài hội thoại tương tự như phần 1 lesson 2
    sau đó đóng vai là Mai và Quan để nói về một câu chuyện khác. Vào tiết kế tiếp,
    sau khi học sinh thực hiện hết các bước của hoạt động 1 lesson 3 (Nêu mục tiêu
    hoạt động, học sinh nhắc lại kiến thức về trọng âm của từ và của câu, học nghe
    băng sau đó nhắc lại đồng thanh cả lớp rồi theo nhóm, theo cá nhân), giáo viên
    yêu cầu một số cặp lên trình bày phần mình chuẩn bị trước đó. Lượt đóng vai đầu
    tiên, giáo viên yêu cầu học sinh không nhấn vào trọng âm của từ và của câu. Lượt
    đóng vai thứ hai, giáo viên yêu cầu học đọc đúng trọng âm của từ và câu. Lượt
    đóng vai thứ ba, giáo viên yêu cầu học nói đúng trọng âm của từ và câu và thêm
    các điệu bộ của cơ thể để làm cuộc hội thoại tự nhiên nhất. Kết thúc hoạt động
    giáo viên yêu cầu học sinh nhận xét xem phần đóng vai nào là hay nhất. Giáo viên
    nhắc lại tầm quan trọng của trọng âm từ và câu trong giao tiếp.
    Một hội thoại do học sinh chuẩn bị:
    Mai: What are you reading, Quan?
    Quan: Snow White and the Seven Dwarfs.
    28
    Mai: Who’s the main character?
    Quan: A girl, Snow White.
    Mai: What’s she like?
    Quan: I think she’s kind.
    Mai: May I borrow the book?
    Quan: Yes. You can have it when I finish it.
    h. Telling a story
    – Kể một câu chuyện là một hình thức luyện tập trọng âm của từ và của
    câu. Khi kể chuyện giọng điệu của học trở lên mềm mại hơn có giai điệu hơn và
    từ đó trọng âm của từ và của câu được thiết lập và sử dụng. Hoạt động này cùng
    với hoạt động Role play có thể sử dụng trong các tiết học trên lớp hoặc trong các
    tiết câu lạc bộ hay hoạt động ngoài không gian lớp học. Hoạt động này không chỉ
    giúp tạo hứng thú cho học sinh trong các tiết học mà còn giúp cho kiến thức được
    tiếp nhận một cách tự nhiên, sinh động nhưng không kém phần hiệu quả.
    Ví dụ sau khi học xong Lesson 2, Unit 9: What did you see at the zoo?
    Tiếng Anh 5, giáo viên yêu cầu học sinh hãy kể một câu chuyện về chuyến viếng
    thăm của em tới sở thú và trình bày trước lớp vào tiết học tiếp theo. Giờ học tiếp
    theo, giáo viên gọi một số học sinh lên bảng kể lại câu chuyện của mình trước
    lớp. Giáo viên yêu cầu học sinh nhận xét phần kể chuyện của các bạn khác để
    thấy sự khác nhau giữa những câu có sử dụng trọng âm và không dùng trọng âm.
    Một ví dụ về câu chuyện của học sinh: “Last week, my parents took me to
    the zoo. I saw four monkeys, two elephants, two tigers, one crocodile, and some
    other animals. The monkeys were really noisy when I was there. They jumped up
    and down and swinged from one tree to another. The elephants sprayed water
    with their trunks. The tigers roared loudly. The animals at the zoo are intelligent
    and cute. My trip was really great. I want to come back here in the future.”
    5. Một số khó khăn gặp phải khi dạy trọng âm
    – Trong quá trình giảng dạy trên lớp, giáo viên có thể ghi lại những khó
    khăn mà học sinh của mình hay gặp phải để tìm cách tháo gỡ. Đối với học sinh ở
    khu vực nông thôn, các em thường cảm thấy ngại ngùng khi giao tiếp bằng tiếng
    29
    Anh vì tâm lí sợ sai. Các em thường nói nhỏ, phát âm không rõ ràng. Các em
    thường xác định trọng âm của câu rất tốt nhưng khi nói lại bỏ qua hoặc nói sai
    trọng âm của từ. Để giải quyết vấn đề này đầu tiên giáo viên cần tạo tâm thế tốt
    cho mình trước mỗi bài dạy để tạo không khí tốt nhất cho tiết học ngoại ngữ,
    không gây áp lực cho học sinh cũng như chính bản thân mình. Khi học sinh nói
    nhỏ, giáo viên có thể đưa tay lên tai làm điệu bộ không nghe thấy để học sinh
    nhắc lại. Học sinh đọc câu còn sai sót chỗ nào thì giáo viên có thể đọc lại làm
    mẫu để học sinh phát hiện ra chỗ sai sót và sửa lại cho đúng.
    PHẦN III: INTONATION (ngữ điệu)
    1. Khái niệm chung
    – Khi chúng ta nói, giọng điệu của chúng ta không ở cùng một độ cao và
    độ to của tiếng; nó lên hoặc xuống để diễn tả sự đa dạng của cảm xúc và chức
    năng. Khi bày tỏ cảm xúc thường thì ngữ điệu lên để diển tả cảm xúc tích cực và
    lịch sự. Trong khi đó, ngữ điệu xuống có thể ám chỉ cảm xúc tiêu cực và không
    lịch sự. Ngữ điệu làm cho câu nói khác với câu đọc vì nó chứa cảm xúc của
    người nói và thông qua những chỗ lên giọng hay xuống giọng đó người nghe
    hiểu chính xác điều mà người nói muốn truyền tải tới mình. Vì vậy một câu mà
    thiếu ngữ điệu thì sẽ thật khó khăn cho người nghe hiểu chính xác sự diễn tả và
    suy nghĩ của người nói cái mà ẩn chứa trong các từ.
    Vậy khi nào chúng ta lên giọng và khi nào thì chúng ta xuống giọng.
    Trong khuôn khổ môn học Tiếng Anh trong trường Tiểu học các câu chưa phức
    tạp về cách trình bày thì chúng ta sẽ lên giọng ở câu hỏi đoán và xuống giọng ở
    câu trần thuật và câu hỏi. Trong câu hỏi có 2 sự lựa chọn thì trước sự lựa chọn
    thứ nhất chúng ta sẽ xuống giọng sau đó lên giọng ở cuối sự lựa chọn thứ nhất và
    xuống giọng ở cuối câu. Còn trong câu có nhiều hơn 2 sự lựa chọn thì ta sẽ
    xuống giọng trước sự lựa chọn thứ nhất, lên giọng sau sự lựa chọn thử nhất, thứ
    hai… và xuống giọng ở cuối câu. Trong câu có liệt kê danh sách thì ta lên giọng
    ở những từ đầu và xuống giọng ở từ cuối cùng. Thêm vào đó, chúng ta lên giọng
    để ám chỉ chúng ta chưa nói xong và ngược lại xuống giọng để ám chỉ ta đã hoàn
    thành câu nói. Ngoài ra thì tùy thuộc vào mục đích nói của người nói mà người ta
    30
    sẽ lên giọng hay xuống giọng ở những chỗ khác nhau nhằm mục đích làm cho
    người nghe hiểu được điều mình muốn nói.
    VD: 1. What’s the matter with you? ↷
    2. Don’t play with the knife. ↷
    3. I surf the internet. ↷
    4. Which place would you like to visit, ↷ Tran Quoc Pagoda ⤻ or the
    Museum of History? ↷
    5. I’d like a banana,↷ a glass of milk, ↷and a sandwich, ↷ please. ⤻
    6. I have one dog, ⤻ two cats⤻ and three goldfish. ↷
    7. Would you like some milk? ⤻
    – Tại sao phải dạy ngữ điệu?
    + Ngữ điệu tồn tại ở mọi ngôn ngữ vì vậy khái niệm này không phải là
    mới. Tuy nhiên người học thì thường quá bận rộn để tìm ra ngữ điệu thích hợp
    cho câu nói của mình. Vì vậy một số kiến thức cũng như hoạt động sẽ giúp cho
    học sinh tập cho mình phản xạ dùng ngữ điệu khi nói. Đây là một điểm yếu của
    học sinh tiểu học sau trọng âm. Học sinh thường có xu hướng nói với ngữ điệu
    giống như đọc và thường không nhớ trọng âm của từ cũng như của câu. Để giải
    quyết vấn đề này chúng ta sẽ điểm qua một số phương pháp để tăng hiệu quả
    việc dạy ngữ điệu cho học sinh tiểu học.
    2. Một số phương pháp khi dạy ngữ điệu
    a. Awareness-raising
    – Đầu tiên giáo viên phải nhắc nhở

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số kinh nghiệm sử dụng Flashcard dạy tiếng Anh ở tiểu học

    SKKN Một số kinh nghiệm sử dụng Flashcard dạy tiếng Anh ở tiểu học

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, tiếng Anh được coi như là chìa khoá để
    mở cánh cửa vào thế giới khoa học, hiện đại hoá, công nghiệp hoá, thế giới của
    kỷ nguyên thiên nhiên hiện đại và phát. Khi nhắc tới tiếng Anh, người ta nghĩ
    ngay đó là ngôn ngữ toàn cầu: là ngôn ngữ chính thức của hơn 53 quốc gia và
    vùng lãnh thổ, là ngôn ngữ chính thức của EU và là ngôn ngữ thứ 3 được nhiều
    người sử dụng nhất chỉ sau tiếng Trung Quốc và Tây Ban Nha (các bạn cần chú
    ý là Trung quốc có số dân hơn 1 tỷ người). Các sự kiện quốc tế, các tổ chức toàn
    cầu,… cũng mặc định coi tiếng Anh là ngôn ngữ giao tiếp.
    Ngoài ra, tiếng Anh được hơn 400 triệu người trên toàn thế giới dùng làm
    tiếng mẹ đẻ, hơn 1 tỷ người dùng tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai (theo
    Wikipedia), những quốc gia phát triển có thu nhập đầu người cao nhất trên thế
    giới đều sử dụng thành thạo tiếng Anh, hoặc được sử dụng phổ biến, được dạy là
    môn học trong trường…
    Đối với Việt Nam, một nước đang đứng trước thời đại phát triển, mở rộng
    ra với cánh cửa toàn cầu hoá, bạn có thấy tầm quan trọng trong việc học tiếng
    Anh. Với các bạn học sinh, sinh viên, những thế hệ tương lai của đất nước, việc
    học tiếng Anh lại càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
    Hiểu được điều đó, nên hệ thống giáo dục của Việt Nam đã đưa tiếng Anh là
    môn học bắt buộc trên ghế nhà trường từ những năm tiểu học. Tuy nhiên việc
    học tiếng Anh đối với học sinh tiểu học ở Việt Nam còn rất nặng nề về thi cử.
    Các thầy cô giáo dạy tiếng Anh chỉ để cho học sinh vượt qua các kì thi, kiểm tra,
    đánh giá là chính, nên họ không đầu tư kỹ năng khác đặc biệt là nghe và nói.
    Thời gian học sinh học trên lớp chủ yếu là học kiến thức, kĩ năng làm bài kiểm
    tra. Vì vậy việc bắt các em ngồi học từ mới và các cấu trúc câu dường như không
    mấy hiệu quả. Học sinh dần dần cảm thấy nhàm chán với các tiết học tiếng Anh
    như thế. Chính vì vậy các phương pháp học tiếng Anh ở tiểu học luôn phải hấp
    dẫn, mới mẻ thì mới lôi cuốn được học sinh và giúp học sinh ghi nhớ lâu.
    Xuất phát từ vấn đề này, tôi cho rằng việc tạo hứng thú, động lực học tiếng
    Anh cho học sinh là hết sức quan trọng. Có hứng thú với môn học thì các em mới
    3
    chủ động lĩnh hội tri thức được. Do vậy trong quá trình dạy học tôi luôn tìm tòi
    các phương pháp dạy học tích cực, đơn giản, dễ hiểu thiết thực, lôi cuốn, sinh
    động đảm bảo tính khoa học, nhằm để khơi gợi niềm đam mê và yêu thích học
    tiếng Anh của học sinh.
    Từ thực tế nghiên cứu, tìm hiểu và áp dụng các phương pháp dạy học tích
    cực, tôi xin được đưa ra sáng kiến kinh nghiệm: “Một số kinh nghiệm sử dụng
    flashcard dạy tiếng Anh ở tiểu học.” nhằm giúp học sinh học môn tiếng Anh tốt
    hơn.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Trong những năm qua, tôi được nhà trường phân công giảng dạy môn Tiếng
    Anh các lớp 1, 4, 5 (chương trình mới của Bộ Giáo dục – Đào tạo). Trong quá
    trình giảng dạy, tôi nhận thấy những thuận lợi và khó khăn như sau:
    1.1. Thuận lợi
    Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, khuyến khích, tạo điều kiện cho
    việc dạy và học bộ môn Tiếng Anh, cung cấp trang thiết bị dạy học thiết yếu như
    đài, băng đĩa….
    Nhà trường nhiều năm có học sinh thi hùng biện cấp huyện, cấp tỉnh đạt giải
    cao và được UBND huyện Trực Ninh tặng giấy khen có thành tích xuất sắc trong
    Hội thi Hùng biện tiếng Anh cấp tỉnh, cấp huyện.
    Giáo viên có sự nhiệt tình, năng lực và có nhiều năm kinh nghiệm bồi dương
    đội tuyển thi hùng biện tiếng Anh cấp huyện, cấp tỉnh. Giáo viên được đào tạo
    theo chuẩn trình độ Đại học, đạt chuẩn B2 theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc
    dành cho Việt Nam. Bản thân giáo viên cũng được tạo điều kiện tham gia các lớp
    nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ do Sở GD-ĐT, Phòng GD-ĐT tổ chức.
    Giáo viên đã tham gia lớp bồi dương nâng cao phương pháp giảng dạy tiếng Anh
    “Teaching for success” năm 2019 và lớp giáo viên tiếng Anh cốt cán năm 2020
    của Hội đồng Anh (British Council). Nhờ vậy, giáo viên được trang bị thêm
    nhiều kiến thức, phương pháp, kĩ thuật dạy học nhằm nâng cao hiệu quả giảng
    dạy bộ môn.
    Học sinh đang dần có cái nhìn tích cực hơn với môn học này. Hầu hết các
    bậc phụ huynh đều quan tâm, tạo điều kiện cho việc học tập của con em mình,
    4
    trang bị sách vở, đồ dùng cho con em khi đến lớp và đôn đốc việc học tập, thực
    hành của con em khi ở nhà.
    Nhờ hiệu quả của việc áp dụng mô hình trường học mới Việt Nam nên phần
    lớn các em đều có kĩ năng tự học và làm việc cặp, nhóm. Hội đồng Tự quản của
    các lớp còn được trang bị kĩ năng tổ chức các hoạt động trên lớp như: tổ chức
    khởi động, chơi trò chơi, kiểm tra bài và trợ giúp các bạn chưa hoàn thành hoặc là
    cùng tham gia chuẩn bị các đồ dùng, tài liệu cho tiết học sau. Điều đó vừa góp
    phần hỗ trợ cho công việc của giáo viên, vừa giúp các em được trải nghiệm, hình
    thành và phát triển các năng lực và phẩm chất cần thiết. Các em cũng đã mạnh
    dạn hơn khi trao đổi, chia sẻ về nội dung và suy nghĩ của mình sau mỗi bài học
    hoặc mỗi hoạt động. Giáo viên có thể lắng nghe và cùng chia sẻ để giữa thầy và
    trò trở nên gần gũi hơn, và thông qua đó, giáo viên có thể điều chỉnh các hoạt
    động, các phương pháp sao cho hiệu quả hơn và phù hợp với học sinh của mình.
    1.2. Khó khăn
    Số lượng học sinh trong mỗi lớp tương đối đông (trên 35 em/lớp, có lớp lên
    đến hơn 40 học sinh) với trình độ và năng lực tiếp thu, vận dụng kiến thức không
    đồng đều nên giáo viên không có đủ thời gian quan tâm đến tất cả các đối tượng
    học sinh. Điều này cũng gây khó khăn cho giáo viên khi tổ chức các hoạt động
    đảm bảo sự hài hòa cho tất cả học sinh ở các trình độ khác nhau.
    Đa phần các em rất ngại học tiếng Anh vì mỗi tiết học có nhiều từ mới và
    cấu trúc câu. Một bộ phận học sinh còn khá thụ động, thiếu sự linh hoạt, nhút
    nhát, e dè; chưa tự tin, mạnh dạn tham gia vào các hoạt động học tập và thực
    hành trên lớp.
    Do khó khăn chung về cơ sở vật chất của nhà trường nên cô và trò chưa có
    phòng học tiếng Anh riêng với các phương tiện nghe nhìn hiện đại (như máy
    chiếu, màn hình, hệ thống âm thanh, kết nối Internet v.v..); chưa có nhiều tài liệu
    tham khảo, tranh ảnh, đồ dùng phục vụ cho việc dạy và học; mà chủ yếu là sử
    dụng các loại đồ dùng sưu tầm hoặc tự làm.
    Chương trình tiếng Anh rất nặng về kiến thức, lượng từ vựng và mẫu câu
    trong một bài còn tương đối dài mà thời gian một tiết học thì hạn chế, nên giáo
    viên không có thời gian để tổ chức nhiều hoạt động cho học sinh.
    5
    Hoạt động luyện kỹ năng thường được thực hiện theo cặp, nhóm nên lớp học
    dễ ồn ào, mất trật tự, một số em cá biệt lợi dụng cơ hội nói chuyện bằng Tiếng
    Việt hay làm việc riêng. Vì vậy, giáo viên khó bao quát lớp, khó phát hiện và sửa
    hết lỗi cho học sinh.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến.
    2.1 Điểm mới của sáng kiến.
    Sử dụng flashcard từ lâu được biết đến là phương pháp học ngoại ngữ tối ưu.
    Nhưng việc sử dụng flashcard vào trong dạy học tiếng Anh chưa thực sự hiệu quả
    và chủ yếu áp dụng cho dạy và ôn tập từ vựng. Trong sáng kiến kinh nghiệm này
    tôi đã khai thác triệt để các cách sử dụng flashcard vào mọi hoạt động trong bài
    dạy không chỉ dạy từ, mẫu câu mà có thể áp dụng vào dạy nghe, nói, bài hát, kể
    chuyện, phonics, trọng âm,… Ngoài ra tôi còn sử dụng màu sắc phân loại loại từ
    để học sinh dễ nhớ và áp dụng vào từng hoạt động trong bài dạy của mình.
    Sáng kiến kinh nghiệm này đã giúp tôi điều chỉnh hình thức tổ chức dạy học
    phù hợp với đối tượng học sinh, kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ để
    động viên khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể vượt qua của các em để
    hướng dẫn, giúp đơ, đưa ra những nhận định đúng những ưu điểm nổi bật và
    những hạn chế của mỗi học sinh để có giải pháp kịp thời nhằm nâng cao chất
    lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh. Giúp học sinh tự đánh
    giá, tự điều chỉnh cách học, giao tiếp, hợp tác, có hứng thú học tập và tiến bộ.
    2.2. Khái niệm flashcard.
    Một tấm thẻ flashcard sẽ bao gồm nhiều tờ giấy 2 mặt với những thông tin
    trên đấy. Một mặt là từ, cụm từ hay câu hỏi, một mặt là hình ảnh minh họa hay
    câu trả lời.
    Một ví dụ cụ thể để các bạn có thể hiểu rõ hơn về flashcard: Nếu mặt trước
    của flashcard cung cấp từ mới, phiên âm và loại từ vựng. Thì mặt sau sẽ chú thích
    nghĩa bằng hình ảnh minh họa hoặc Tiếng Việt kèm theo.
    6
    2.3. Vì sao chúng ta nên sử dụng flashcard học từ vựng tiếng Anh?
    Theo nghiên cứu, sử dụng hình ảnh sẽ giúp tăng khả năng ghi nhớ hơn nhiều
    so với việc học chữ thông thường. Thẻ flashcard có thể sáng tạo và nhiều màu sắc
    và tạo ra tác động thực sự đối với người học bằng hình ảnh. Lợi thế của flashcard
    so với các cách học thông thường là tính tiện dụng, cơ động và sáng tạo. Với thiết
    kế nhỏ gọn, đơn giản nhưng đẹp mắt, các tấm flashcard giúp học sinh cảm thấy
    hứng thú hơn trong suốt quá trình học. Những kiến thức đưa lên flashcard đều
    được tinh giản lại một cách ngắn gọn, súc tích cũng giúp học sinh dễ dàng tập
    trung hơn vào các ý chính.
    Flashcard là phương pháp thông dụng rất phổ biến trong giới sinh viên, học
    sinh nước ngoài. Người học có thể sử dụng flashcard trong nhiều ngành khác
    nhau như: ẩm thực, văn hóa, lịch sử, địa lý hay phổ biến nhất chính là học ngoại
    ngữ. Tuy có thể áp dụng cho nhiều ngành khác nhau, tuy nhiên hơn 70%
    flashcard trên thế giới được dùng để học từ vựng tiếng nước ngoài.
    2.4. Các bước để làm flashcard tiếng Anh.
    Cách tự làm flashcard tiếng Anh vô cùng đơn giản, chỉ với 3 bước đơn giản,
    giáo viên đã có thể làm cho mình một bộ flashcard để sử dụng dạy học sinh.
    Bước 1: Download các hình ảnh có sẵn trên mạng theo từng chủ đề mà giáo
    viên muốn dạy học sinh.
    Bước 2: In flashcard
    Với các hình ảnh đã tìm được, giáo viên điều chỉnh hình ảnh theo kích thước
    phù hợp để in trên giấy (nên in màu).
    Bước 3: Tìm từ vựng và cách phiên âm tương ứng với các từ.
    car
    /ka:(r)/
    robot
    /’rəʊbɒt/
    doll
    /dɒl/
    7
    Với từng hình ảnh đã chuẩn bị, giáo viên tìm các từ tiếng Anh và cách phiên
    âm các từ tương ứng.
    Điều chỉnh chữ to tương ứng với kích thước tấm flashcards đã chuẩn bị, có
    thể in chữ trên mặt còn lại của tấm hình.
    Nếu có thể, giáo viên có thể cán mỏng hoặc ép plastic các tấm flashcard để
    sử dụng lâu dài trong nhiều năm.
    Bạn cũng có thể tự phân loại màu sử dụng, việc đó giống như 1 gợi ý về đặc
    tính nào đó của kiến thức trên flashcard để học sinh dễ ghi nhớ.
    Ví dụ như: màu vàng là danh từ, xanh da trời là động từ, xanh lá là tính từ,
    trắng là từ đếm được, đen là từ không đếm được…
    Ở mặt trước của tấm flashcard điền đầy đủ các thông tin như: từ vựng cần
    học, cách phát âm tiếng Anh của từ, kèm theo đó là 1 câu ví dụ cụ thể về cách sử
    dụng cũng là 1 cách sử dụng flashcard hiệu quả.
    Mặt sau sẽ là không gian để bạn sáng tạo cách học từ vựng của mình. Mẫu
    thông tin ngắn gọn dưới dạng 1 câu hỏi – 1 câu trả lời, hay vẽ hình minh họa trên
    flashcard.
    2.5. Một số hoạt động dạy học sử dụng thẻ flashcard.
    Thẻ flashcard là một tài nguyên thực sự hữu ích cần có trong lớp học. Chúng
    là một cách tuyệt vời để trình bày, luyện tập và tái chế từ vựng.
    a. Giới thiệu ngữ cảnh đoạn hội thoại.
    Ví dụ: Trong bài Unit 4: Did you go to the party? Lesson 2, sách tiếng Anh
    lớp 5 tập 2. Giáo viên đặt 4 thẻ tranh lên bảng.
    a
    b
    8
    Teacher: Look at these pictures. Who can you see in these pictures? Where
    are they?
    Student: Peter and Quan are talking about Mai’s birthday party at school.
    Teacher: What are they talking about?
    Student 1: In Picture a, Quan asks Peter if he went to Mai’s birthday party
    and Peter say “Yes”.(point to Picture a)
    Student 2: In Picture b, Quan asks “What did you do there?” and Peter
    answers “I ate a lot of food.” (point to Picture b)
    Student 3: In Picture c, they continue to talk about the party and Peter says
    they sang and dance happily.(point to Picture c)
    Student 4: In Picture d, Quan aks Peter if he like the party, and Peter says
    “Yes”.(point to Picture d)
    b. Dạy từ mới.
    Giáo viên đặt các flashcard lên bảng và giới thiệu lần lượt các từ mới, sau đó
    cho học sinh sử dụng hành động để diễn tả từ đó.
    Ví dụ: Trong bài Unit 2: I’m from Japan? Lesson 2, sách tiếng Anh lớp 4
    tập 1. Giáo viên sẽ đặt các flashcard sau lên bảng.
    Teacher: Vietnamese, Vietnamese, Vietnamese(point to picture a)
    c d
    a b c d
    9
    Class: Vietnamese, Vietnamese, Vietnamese
    Group 1: Vietnamese
    Group 2: Vietnamese
    Group 3: Vietnamese
    Group 4: Vietnamese
    S1: Vietnamese
    S2: Vietnamese
    S3: Vietnamese
    Giáo viên làm tương tự các bước để dạy các từ còn lại.
    c. Giới thiệu cấu trúc câu.
    Ví dụ: Trong bài Unit 2: I always get up early. How about you? Lesson 2, ở
    activity 2. Point and say, sách tiếng Anh lớp 5 tập 1.
    Giáo viên đặt các flashcards lên bảng.
    a. b. c. d.
    Teacher: How often do you study with a partner?(point to picture a)
    Students: I study with a partner everyday.(with the teacher’s help)
    Group 1: How often do you study with a partner?(point to group 1)
    Group 2: I study with a partner everyday.(point to group 2)
    Student 1: How often do you study with a partner?
    Student 2: I study with a partner everyday.
    Giáo viên làm các bước tương tự với các tranh còn lại.
    d. Dạy nghe.
    Ví dụ 1: Trong bài Unit 2: I always get up early. How about you? Lesson 1,
    activity 4. Listen and tick, sách tiếng Anh lớp 5 tập 1.
    10
    Giáo viên đặt các tranh lên bảng, chia lớp thành 3 nhóm(hoặc mỗi nhóm 3
    học sinh). Các nhóm phải nhận diện các tranh.
    Teacher: Who can you see in each picture? What does he do?
    Group 1: He runs.(point to picture a)
    Group 2: He rides a bike.(point to picture b)
    Group 3: He does morning exercise.(point to picture c)
    Mời mỗi nhóm 1 học sinh lên bảng, giáo viên mở bài nghe, học sinh nghe và
    nahnh tay đoạt lấy tranh đúng. Nhóm nào nào lấy đúng tranh và nhanh nhất thì
    thắng cuộc.
    a. b. c.
    Giáo viên làm tương tự các bước với các tranh còn lại.
    Ví dụ 2: Trong bài Unit 3 What day is it today? Lesson 2, activity 4. Listen
    and number, sách tiếng Anh lớp 4 tập 1.
    Giáo viên đặt các flashcard lên bảng. Chia lớp thành 4 nhóm(hoặc các nhóm
    nhỏ gồm 4 học sinh). Đưa cho mỗi nhóm 1 thẻ tranh. Yêu cầu các nhóm nhận
    diện thẻ tranh của mình bằng cách viết từ dưới tranh.
    Teacher: Look at these pictures. Who can you see in each picture? and What
    is he/she doing?
    11
    G1: go to school G2: go swimming G3: play the guitar G4: go to the zoo
    Sau đó giáo viên mở bài nghe, yêu cầu 4 nhóm nghe và sau đó đặt thẻ tranh
    của nhóm mình theo đúng thứ tự trong bài nghe lên bảng. Nhóm nào đặt đúng
    tranh và nhanh nhất thì thắng cuộc.
    e. Dạy phonics.
    Ví dụ 1: Trong bài Unit 17: What toys do you like? Lesson 3, sách tiếng Anh
    lớp 3 tập 2.
    Giáo viên phát cho mỗi học sinh 1 thẻ từ có 1 trong 2 phonics “i-e” và “i”.
    Giáo viên lần lượt đọc to một số từ như: kite, car, hit, moon, hide, ship, like,
    skip,… học sinh nghe, nếu nghe thấy từ có âm đúng với thẻ từ của mình thì đứng
    lên, không đúng với thẻ từ của mình thì ngồi im.
    Ví dụ 2: Trong bài Unit 7: What do you like doing? Lesson 3, sách tiếng
    Anh lớp 4 tập 1.
    Giáo viên phát cho mỗi học sinh 1 thẻ từ có từ chứa 2 âm fl và pl trên.
    Học sinh sẽ có nhiệm vụ đặt từ vào đúng ô /fl/, /pl/.
    i-e/ai/ i/i/
    12

    /fl//pl/
    flat
    fly
    floor
    plane
    play
    plum

    f. Dạy trọng âm từ, trọng âm câu.
    Ví dụ 1: Trong bài Unit 1: What’s your address? Lesson 3, sách tiếng Anh
    lớp 5 tập 1.
    Giáo viên chia lớp thành các cặp, giáo viên phát cho mỗi cặp học sinh 2 âm
    tiết ghép thành 1 từ. Ví dụ: Học sinh A nhận thẻ có âm tiết thứ nhất “ci” với dấu
    trọng âm bị che bằng một mẩu giấy, học sinh B nhận thẻ có âm tiết thứ hai “ty”.
    Giáo viên đọc to từ đó. Âm tiết nào giáo viên đọc to hơn thì học sinh giữ âm tiết
    đấy đứng lên, giáo viên bỏ mẩu giấy che dấu trọng âm đi, âm tiết nào giáo viên
    đọc nhỏ hơn thì học sinh giữ thẻ có âm tiết đấy ngồi im.
    ‘ci ty
    ‘vi llage

    13
    Đối với từ có nhiều hơn 2 âm tiết thì giáo viên có thể chia nhóm 3 hoặc 4
    học sinh tùy thuộc số âm tiết của từ đó.
    Ví dụ 2: Trong bài Unit 9: What did you see at the zoo? Lesson 3, sách tiếng
    Anh lớp 5 tập 1.
    ‘When did you ‘go to the ‘zoo?
    Giáo viên chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm gồm 7 học sinh. Giáo viên
    phát cho mỗi học sinh một thẻ chứa 1 từ trong câu trên. Giáo viên đọc câu học
    sinh nào giữ thẻ từ có trọng âm thì phải đứng lên, học sinh khác ngồi im.
    Số lượng học sinh trong nhóm có thể thay đổi tùy theo số lượng từ trong
    câu.
    g. Dạy học sinh kể chuyện.
    Ví dụ: Trong bài Unit 14: What happened in the story? Lesson 3, sách tiếng
    Anh lớp 5 tập 2.
    Giáo viên đặt 1 loạt flashcard lên bảng.
    ‘moun tains
    ‘When did you ‘go to the ‘zoo?
    ‘tow er
    14
    Giáo viên lần lượt chỉ vào từng tranh để kể lại nội dung câu chuyện.
    Picture a: A long time ago, there was a fox and a crow. The crow stood on
    the roof of a house with a piece of meat in its beak. The hungry fox was standing
    on the ground.
    Picture b: The fox asked the crow, “Can you give me some meat?” The crow
    shook its head.
    Picture c: Then the fox asked, “Can you dance?” The crow shook its head.
    Picture d: Then the fox asked, “Can you sing?” “Yes,…” the crow opened
    his beak and said. He dropped the meat on the ground.
    Picture e: The fox picked up the meat and said, “Ha ha! Thanks for the
    meat.”
    Picture f: The fox ate the meat and ran away.
    Sau đó giáo viên chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm gồm 6 học sinh, mỗi
    học sinh trong nhóm sẽ kể nối tiếp nhau câu chuyện theo tranh.
    h. Dạy bài hát.
    Ví dụ: Trong bài Unit 2: What’s your name? Lesson 1, sách tiếng Anh lớp 3
    tập 1.
    Giáo viên phát cho mỗi học sinh 1 thẻ chữ cái, giáo viên mở bài hát bảng
    chữ cái tiếng Anh, học sinh nghe và giơ thẻ hoặc đứng lên khi đến chữ cái của
    mình.
    i. Luyện hội thoại.
    Ví dụ: Trong bài Unit 18: What are you doing? Lớp 3. Lesson 1, sách tiếng
    Anh lớp 3 tập 2.
    15
    S1: Are you reading?
    S2: No, I’m not.
    S1: Are you cooking?
    S2: No, I’m not.
    S1: Are you listening to music?
    S2: No, I’m not.
    S1: What are you doing?
    S2: I’m cleaning the floor.
    2.6. Một số trò chơi với flashcard.
    a. Memory Cards
    Giáo viên đặt một loạt các thẻ flashcard lên bảng.
    Học sinh có một phút để ghi nhớ các thẻ.
    Giáo viên cất các thẻ đi.
    Học sinh làm việc theo nhóm, viết lại các từ trong thời gian hai phút. Nhóm
    nào viết được nhiều từ đúng nhất là nhóm thắng cuộc.
    Ví dụ: Trong bài Unit 6: How many lessons do you have today? Lesson 1,
    sách tiếng Anh lớp 5 tập 1. Giáo viên đặt các flashcard lên bảng.

    AB
    What…?

    16
    b. What’s missing?
    Giáo viên đặt 1 loạt flashcard lên bảng, giáo viên yêu cầu học sinh nhắm
    mắt, giáo viên nhanh tay rút 1 thẻ trong khi học sinh không nhìn, học sinh mở
    mắt và đọc to lại thẻ vừa bị lấy xuống. Học sinh nào đọc đúng từ và nhanh nhất là
    thắng cuộc. Giáo viên làm lại các bước với lần lượt các thẻ khác.
    Ví dụ: Trong bài Unit 3: Where did you go on holiday? Leson 2, sách tiếng
    Anh lớp 5 tập 1. Giáo viên đặt các flashcard lên bảng.
    Giáo viên rút thẻ d xuống (khi học sinh không nhìn)
    Teacher: The whole class, close your eyes, please. (put the flashcard
    “underground” away)
    Teacher: Ok. The whole class, open your eyes, please. Look at the board.
    What’s missing?
    Students: It’s underground.
    Teacher: Very good!
    c. Matching
    17
    Giáo viên đặt 2 bộ flashcard lên bảng, một thẻ tranh, một thẻ từ hoặc một
    thẻ từ chứa câu hỏi, một thẻ từ chứa câu trả lời. Học sinh làm việc theo nhóm và
    nối tranh với đúng từ, hoặc nối câu hỏi với câu trả lời.
    Ví dụ: Trong bài Unit 10: When will Sports Day be? Lesson 1, sách tiếng
    Anh tập 1 lớp 5.
    d. Slow motion
    Giáo viên có thể che flashcard bằng một mảnh giấy khác và từ từ kéo
    flashcard ra khỏi tờ giấy. Học sinh ngồi theo nhóm phải đoán thẻ bị che, nhóm
    nào đoán đúng và nhanh nhất là nhóm thắng cuộc.
    Ví dụ: Trong bài Unit 3: Where did you go on holiday? Lesson 1, sách tiếng
    Anh lớp 5 tập 1.
    Children’s Day
    Teachers’ Day
    Sports Day
    Independence Day
    18
    e. Categorise
    Giáo viên phát cho mỗi nhóm một bộ flashcards và yêu cầu ccacs nhóm đặt
    chúng vào đúng chủ đề. Ví dụ, flashcard gia đình, ngôi nhà, thú cưng, đồ chơi, …

    FamilyHouseToysPets

    f. Guessing game
    19
    Một học sinh chọn một flashcard bất kì mà không cho các học sinh khác
    nhìn thấy, học sinh khác phải đoán bằng cách đặt câu hỏi Yes, No, nếu đoán đúng
    thì học sinh đó dành chiến thắng.
    Ví dụ: Trong bài Unit 4: Did you go to the party? Lesson, sách tiếng Anh
    lớp 5 tập 1.
    S1: Did you enjoy the party yesterday?
    S: No, I didn’t.
    S2: Did you watched TV yesterday?
    S: No, I didn’t.
    S3: Did you play hide-and-seek yesterday?
    S: No, I didn’t.
    S4: Did you chat with friends yesterday?
    S: Yes, I did.
    g. Slap the board
    Giáo viên đặt 1 loạt các flashcard lên bảng. Học sinh chia thành các nhóm
    đứng thành hàng trước bảng. Giáo viên đọc to 1 từ, học sinh nhanh tay đoạt lấy
    thẻ tương ứng và đọc to lại từ đấy. Nhóm nào lấy đúng thẻ, và nhanh nhất là
    nhóm thắng cuộc.
    Ví dụ: Trong bài Unit 8: This is my pen. Lesson 1, sách tiếng Anh lớp 3 tập
    1.
    20
    h. Noughts and crosses
    Chọn chín flashcard và đánh số từ một đến chín. Vẽ chín ô vuông trên bảng,
    mỗi ô vuông đánh số từ một đến chín. Chia học sinh thành hai đội. Nought (O) và
    Cross (X). Lần lượt, mỗi đội chọn số từ một đến chín. Ví dụ, nếu Nought chọn
    hình vuông năm, hãy cho họ xem hình trên flashcard năm và đoán từ vựng hoặc
    đặt câu với từ đó. Nếu họ có thể xác định chính xác, hãy vẽ (O) trong ô vuông.
    Mỗi đội nên cố gắng chọn các ô vuông chặn nhóm khác khi thực hiện ba lần kí
    hiệu của họ liên tiếp theo chiều dọc, chiều ngang hoặ

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số cách thức giúp học sinh tự học từ vựng tiếng anh hiệu quả

    SKKN Một số cách thức giúp học sinh tự học từ vựng tiếng anh hiệu quả

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Đặt vấn đề
    Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu ngày càng sâu rộng hiện nay, tiếng Anh là một
    ngôn ngữ quan trọng. Nó là chìa khóa để giúp chúng ta tiếp cận được những tinh hoa,
    tiến bộ về văn hóa, giáo dục, khoa học, kĩ thuật và rất nhiều lĩnh vực khác của nhân
    loại. Bởi vậy, nó là ngôn ngữ thứ hai, là môn học bắt buộc của nhiều quốc gia trên
    toàn thế giới. Ở Việt Nam, tiếng Anh cũng đã được đưa vào chương trình chính khóa
    ở mọi cấp học.
    Việc dạy học tiếng Anh trong nhà trường là rất quan trọng, là bước khởi đầu để
    các em làm quen với tiếng Anh, giúp các em hình thành các kĩ năng cơ bản trong giao
    tiếp và sử dụng tiếng Anh. Cũng giống như các môn học khác, đổi mới phương pháp
    dạy học luôn được các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lí và các giáo viên trực tiếp giảng
    dạy quan tâm. Trong giờ học, giáo viên chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn giúp các
    em chủ động, sáng tạo tìm ra các kiến thức cơ bản, chân lí đúng đắn, ở trường cũng
    như ở nhà học sinh luôn phát huy tối đa của mình trong các kĩ năng cơ bản: Nghe –
    nói – đọc – viết, qua đó rèn luyện thói quen lao động độc lập sáng tạo phù hợp với yêu
    cầu của xu thế phát triển.
    Tiếng Anh được đưa vào giảng dạy ngay từ bậc Tiểu học đã cho học sinh thấy nhu
    cầu cũng như yêu cầu giao lưu quốc tế là rất quan trọng. Với môn học tiếng Anh ở
    trường Tiểu học, học sinh cần đạt được các yêu cầu cụ thể sau:
    – Nắm được các kiến thức cơ bản.
    – Có kỹ năng sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp đơn giản dưới dạng nghe –
    nói – đọc – viết .
    – Hình thành các kĩ năng học tiếng Anh và phát triển tư duy.
    5
    Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy rằng học sinh tiểu học đặc biệt là học sinh ở
    nông thôn trong đó có học sinh của trường Tiểu học Nghĩa Thái rất ngại giao tiếp.
    Các em quá e dè, nhút nhát, đôi khi là quá tự ti với bản thân. Các em không có thói
    quen bày tỏ quan điểm của mình trước một vấn đề gì đó, nhiều em tâm lí còn thụ
    động, chờ đợi phụ thuộc vào người khác. Trong khi đó phương pháp giảng dạy mới
    đòi hỏi phải phát huy tối đa khả năng độc lập, sáng tạo của học sinh. Hơn nữa, môn
    học tiếng Anh đòi hỏi học sinh rèn luyện 4 kĩ năng nghe-nói-đọc-viết, đặc biệt là kĩ
    năng nghe nói. Và mục đích cuối cùng của việc dạy và học tiếng Anh là để giao tiếp,
    mà bản chất của giao tiếp là sự tương tác. Vậy để giúp học sinh tương tác bằng tiếng
    Anh có hiệu quả giáo viên không chỉ rèn các kĩ năng cho học sinh mà còn phải giúp
    các em hấp thụ được vốn từ vựng nhất định giúp các em tự tin, chủ động trong quá
    trình giao tiếp.
    Chính vì suy nghĩ này tôi đã tìm tòi, nghiên cứu tìm đưa ra một số giải pháp giúp
    các em học sinh mà chủ thể chính là học sinh khối lớp 4 của trường Tiểu học xã
    Nghĩa Thái- huyện Nghĩa Hưng- tỉnh Nam Định để các em nắm bắt được một số hình
    thức giúp các em tự trau dồi vốn từ vựng của bản thân. Vì vậy với kinh nghiệm của
    bản thân, tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm trong sáng kiến “Một số cách thức
    giúp học sinh tự học từ vựng tiếng Anh hiệu quả” mà tôi đã áp dụng và thu được
    hiệu quả.
    2. Đối tượng nghiên cứu
    “Một số cách thức giúp học sinh tự học từ vựng tiếng Anh hiệu quả”
    3. Phạm vi nghiên cứu
    Trong khuôn khổ sáng kiến kinh nghiệm này, tôi tập trung đưa ra “Một số cách
    thức giúp học sinh tự học từ vựng tiếng Anh hiệu quả” tại trường Tiểu học xã Nghĩa
    Thái-huyện Nghĩa Hưng-tỉnh Nam Định.
    4. Phương pháp nghiên cứu
    – Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
    – Phương pháp tìm hiểu thực tế.
    6
    – Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê.
    – Phương pháp thực nghiệm.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    1.1. Cơ sở lí luận
    Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng D.A. Wilkins đã từng nói rằng “Without grammar,
    very little can be conveyed; without vocabulary, nothing can be conveyed.” (Không
    có ngữ pháp, rất ít thông tin có thể được truyền đạt; Không có từ vựng, không thông
    tin nào có thể truyền đạt). Thật vậy, từ vựng được coi là sự bắt đầu của tất cả việc học
    ngoại ngữ và quyết định sự thành công của người học. Do vậy, để việc học tiếng Anh
    của mình thật sự hiệu quả và có tính ứng dụng cao, thì bản thân người học phải nắm
    rõ được tầm quan trọng của từ vựng.
    Từ vựng có thể được định nghĩa là từ “chúng ta phải biết để giao tiếp hiệu quả; từ
    ngữ nói (từ vựng biểu cảm) và từ ngữ nghe (từ vựng dễ tiếp thu)” (Neuman &
    Dwyer), 2009, trang 385. Hornby (1995) định nghĩa từ vựng là “tổng số từ trong một
    ngôn ngữ; một danh sách các từ có nghĩa của chúng”. Ngoài ra, Burns (1972) định
    nghĩa từ vựng là “kho từ được sử dụng bởi một người, vựng là trọng tâm của ngôn
    ngữ và có tầm quan trọng đối với việc học ngôn ngữ điển hình”. Hơn nữa, Diamond
    và Gutlohn (2006) trong www.readinggrockets.org/article nói rằng từ vựng là kiến
    thức về từ và nghĩa của từ. Từ các định nghĩa trên, có thể kết luận rằng từ vựng là
    tổng số từ cần thiết để truyền đạt ý tưởng và diễn đạt ý nghĩa của người nói. Đó là lý
    do tại sao việc học từ vựng rất quan trọng.
    Theo các nhà nghiên cứu, bộ não con người thường chỉ còn lưu giữ khoảng 20%
    thông tin đã tiếp nhận sau một tháng. Trong khi đó, để đáp ứng nhu cầu và mở rộng
    hiểu biết thì việc tiếp nhận thêm kiến thức chưa bao giờ dừng lại. Với tầm quan trọng
    của việc học từ vựng tiếng anh cũng vậy, xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập văn hóa
    hiện nay khi tiếng Anh trở thành ngôn ngữ toàn cầu thì việc đẩy mạnh học từ vựng
    7
    tiếng Anh là như cầu vô cùng thiết yếu. Vậy thì với cách nào chúng ta có thể khắc
    phục những vấn đề trên?
    1.2. Cơ sở thực tiễn
    Những năm gần đây do càng ngày càng nhận thức được vai trò quan trọng của
    tiếng Anh nên việc dậy và học tiếng Anh được các cấp, ngành và toàn xã hội quan
    tâm. Tuy nhiên qua việc trực tiếp giảng dạy các em học sinh khối lớp 4 trường Tiểu
    học xã Nghĩa Thái tôi nhận thấy vẫn còn một số thực trạng.
    *) Thuận lợi:
    + Thường xuyên được tham gia tập huấn của SGD&ĐT, PGD&ĐT
    + Được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường, sự quan tâm của cha mẹ học
    sinh, xã hội.
    + Chương trình sách giáo khoa được xây dựng xoay quanh các chủ điểm gần gũi
    với học sinh.
    + Giáo viên: tích cực tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn; tích
    cực đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao hiệu quả giờ dạy, phát huy tính tích
    cực chủ động của học sinh.
    + Đa số các em học sinh ngoan ngoãn, say sưa với việc học tiếng Anh.
    + Học sinh được làm quen với công nghệ thông tin, sớm tiếp xúc với máy tính, với
    mạng Internet và thu nhận được nhiều thông tin từ đây.
    *) Khó khăn:
    – Về giáo viên:
    + Việc hướng dẫn cho học sinh sử dụng tiếng Anh vào giao tiếp hàng ngày còn
    hạn chế.
    – Về học sinh:
    + Tiếng anh là một môn học mới, rất khó với học sinh tiểu học.
    + Số học sinh trong lớp đông nên khó khăn cho việc tổ chức và kiểm soát các hoạt
    động.
    8
    + Học sinh vùng nông thôn còn rụt rè, e ngại chưa chủ động lĩnh hội và thực hành
    tiếng Anh.
    + Học sinh thiếu môi trường để giao tiếp tiếng Anh.
    – Về phụ huynh:
    + Phần lớn gia đình các em đều làm nông nghiệp nên điều kiện kinh tế còn khó
    khăn.
    + Một số phụ huynh chưa thực sự vào cuộc, chưa quan tâm, hỗ trợ các em luyện
    tập, thực hành ở nhà.
    – Về thời gian:
    + Thời lượng dành cho việc học tiếng Anh còn ít.
    1.3. Khảo sát khả năng từ vựng tiếng Anh của học sinh
    Sau kì nghỉ hè, ngay từ đầu năm học tôi đã cho các em học sinh khối 4 làm một bài
    khảo sát về từ vựng với các chủ đề quen thuộc các em đã được học ở lớp 3 gồm 20 từ
    vựng và kết quả thu được như sau:

    Mức độ
    Lớp
    0-5 từTừ 6-10 từ10-15 từTrên 15 từ
    4A(30)101073
    4B(30)121062
    4C(30)10884
    4D(31)14962
    Khối 4(121)46372711

    Kết quả khảo sát cho thấy các em đã chưa ghi nhớ và sử dụng được vốn từ vựng đã
    học, thậm chí còn có nhiều em không còn nhớ gì.
    Với những thực trạng này, là giáo viên dạy tiếng Anh nhiều năm, tôi nhận thấy cần
    phải có biện pháp giúp các em hứng thú học từ vựng, tự giác trau dồi vốn từ vựng của
    mình.
    9
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1. Mục tiêu của giải pháp
    Giúp học sinh nắm bắt được các hình thức tự trau dồi vốn từ vựng và áp dụng
    từ vựng vào giao tiếp một cách hiệu quả, từ đó nâng cao được chất lượng dạy và
    học môn tiếng Anh.
    2.2. Cách thức thực hiện giải pháp
    Là giáo viên dạy tiếng Anh đã nhiều năm, tôi luôn xác định mình phải làm thế
    nào để học sinh có hứng thú học tập phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo
    giúp các em tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên. Từ đó nâng cao hiệu quả học cũng
    như khả năng giao tiếp của các em.
    Đặc thù của các em học sinh tiểu học là hiếu động, thích cái mới nhưng cũng
    nhanh chán, nhanh quên. Bằng các phương pháp mới đã được học, bằng sự sáng tạo
    của bản thân, tôi đã tìm tòi mọi cách thức để hướng dẫn học sinh học có hiệu quả hơn
    trong từng tiết học, từng bài học, tạo môi trường tiếng Anh để học sinh “ngấm” tiếng
    Anh từng giờ, từng ngày. Và cũng giúp các em có được hứng thú học tập để các em
    tích cực, sáng tạo, chủ động lĩnh hội kiến thức. Vậy nên tôi đã nghiên cứu, tìm tòi và
    đưa ra một số cách thức giúp các em tự trau dồi vốn từ vựng:
    – Học từ vựng tiếng Anh qua chuyện chêm
    – Học từ vựng tiếng Anh qua hình ảnh.
    – Học từ vựng qua game luyện từ vựng
    – Học từ vựng qua việc đọc truyện song ngữ
    – Học từ vựng qua các bài hát, phim hoạt hình.
    2.2.1. Học từ vựng tiếng Anh qua chuyện chêm
    Hiểu một cách đơn giản, học tiếng Anh qua chuyện chêm là việc chúng ta chêm
    các từ tiếng Anh vào một đoạn văn, câu chuyện bằng tiếng Việt. Từ đó ghi nhớ được
    từ cần học.
    2.2.1.1. Đọc các mẩu chuyện quen thuộc có chêm thêm các từ tiếng Anh:
    10
    Từ các câu chuyện quen thuộc, gần gũi, thông qua việc hiểu câu chuyện đó thì
    phương pháp học qua chuyện chêm sẽ giúp các em dễ ghi nhớ từ vựng, hơn nữa còn
    giúp các em biết sử dụng từ vựng vào hoàn cảnh cụ thể.
    Ví dụ câu chuyện: “The Lion and the Rabbit”
    “ Một con sư tử cruel sống trong rừng. Hằng ngày, nó giết và ăn rất lot loài vật.
    Muông thú afraid rằng Sư Tử sẽ giết và ăn thịt tất cả các loài trong rừng. Chúng nói
    với Sư tử rằng “ Chúng ta hãy thỏa thuận nếu ngài promise rằng mỗi ngày ngài chỉ ăn
    một con vật thì hằng ngày một trong số chúng tôi sẽ tới đây nộp mạng. Ngài sẽ không
    phải hunt và giết chúng tôi nữa”. Sư tử thấy thỏa thuận nghe rất well nên nó đã
    agree, nhưng nó cũng nói rằng: Nếu mỗi ngày không có một đứa tới nạp mạng, tao sẽ
    giết tất cả chúng mày vào ngày hôm sau.
    Cứ như vậy một con vật lại đến nộp mạng cho Sư Tử. Và như thế tất cả muông
    loài đều safe.
    Finally, đến lượt Thỏ tới nộp mạng cho Sư Tử. Thỏ hôm đó đến rất muộn nên Sư
    Tử rất angry. Sư Tử tức giận hỏi thỏ: “Sao mày đến muộn?”
    “Tôi đã hide một con Sư Tử khác trong rừng. Con Sư Tử đó là chúa sơn lâm nên
    tôi rất sợ hãi”
    “Tao là chúa sơn lâm duy nhất trong khu rừng này. Đưa tao đến gặp nó, tao sẽ giết
    nó”- Sư Tử nói với Thỏ.
    Thỏ replied “Tôi rất vui mừng được chỉ cho ngài nơi hắn sống”
    11
    Thỏ đưa Sư Tử tới một cái giếng ở middle khu rừng. Chiếc giếng sâu hun hút và
    có nước ở bottom. Thỏ nói với Sư Tử “Ngài hãy nhìn vào trong này. Hắn sống ở dưới
    đấy, kia kìa”. Khi Sư Tử nhìn xuống đáy giếng, nó thấy chính khuôn mặt mình in trên
    mặt nước. Nó nghĩ đó là con Sư Tử kia. Không đợi một moment nào, Sư Tử nhảy
    xuống giếng để attack con Sư Tử kia. Nó không bao giờ có thể thoát ra được nữa.
    Tất cả các loài động vật khác ở trong rừng đều rất please với clever trick của Thỏ.

    – cruel: hung dữ
    – lot: nhiều
    – afraid: sợ
    – promise: hứa
    – hunt: săn bắt
    – well: tốt
    – agree: đồng ý
    – safe: an toàn
    – finally: cuối cùng
    – angry: tức giận
    – hide: lẩn chốn
    – replied: trả lời
    – middle: giữa
    – bottom: đáy
    – moment: khoảnh khắc
    – attack: tấn công
    – please: hài lòng
    -clever: thông minh
    – Trick: mẹo

    Có rất nhiều các câu chuyện chêm như vậy như: The friendly ghost; The best
    prince; The starfish; The big race…
    2.2.1.2. Hướng dẫn học sinh tự viết các câu chuyện chêm theo các chủ đề từ
    vựng đã học:
    Ở lứa tuổi này các em học sinh rất hiếu động, thích khám phá và ham mê sáng tạo
    vậy nên giáo viên có thể khích lệ các em vận dụng các chủ đề từ đã học để viết nên
    những câu chuyện chêm về các chủ đề mà mình thích.
    Ví dụ: Các em có thể vận dụng các từ vựng về chủ đề đồ chơi để viết về đồ chơi
    yêu thích của mình:
    “My favourite toy”
    12
    Món đồ chơi yêu thích của tôi là doll Barbie. Đồ chơi special này là present trong
    birthday party của tôi. Nó rất quan trọng với me vì nó là món quà mà tôi mong đợi
    từ sister của tôi. Nó rất cute và pretty. Tóc của nó là yellow. Váy của nó cũng rất
    nice.

    doll: đồ chơi
    present: món quà
    birthday party: tiệc sinh nhật
    me: tôi
    sister: chị gái
    cute: đáng yêu
    pretty: xinh đẹp
    yellow: màu vàng
    nice: đẹp

    2.2.1.3. Chêm thêm các từ tiếng Anh quen thuộc trong các hội thoại hàng
    ngày:
    Theo cách nói chuyện hàng ngày của các em bây giờ, các em rất hay kết hợp, chèn
    thêm một số từ nóng vào trong hội thội hàng ngày của mình ví dụ như : bạn ấy đúng
    là một “hot boy ”… Từ đây, giáo viên có thể khuyến khích các em sử dụng nhiều hơn
    nữa các từ vựng tiếng Anh đã học trong các hội thoại hàng ngày của các em.
    Ví dụ:
    “ Cho mình mượn ruler của ban nhé? ”
    “ Con mèo này cute quá.”
    “ Cái này nhìn fake quá”
    “ Đi shopping đi”
    “Birthday của bạn là khi nào vậy? ”

    2.2.2. Học từ vựng tiếng Anh qua hình ảnh
    Não bộ của chúng ta có xu hướng nhớ hình ảnh và ý nghĩa của từ nhiều hơn.
    Việc nhớ từ xuất hiện một cách đơn thuần. Cách học từ vựng qua hình ảnh sẽ giúp
    việc học trở nên thú vị, không gây nhàm chán. Đồng thời giúp não bộ kích thích, do
    13
    đó giúp các em nhớ từ lâu hơn. Các em có thể dễ dàng hồi tưởng khi bắt gặp những
    hình ảnh thân quen đã được học trước đó.
    2.2.2.1. Ở trường học
    – Giáo viên sử dụng flashcasd, tranh ảnh để dạy từ vựng:
    Từ việc quan sát hình ảnh các em sẽ ghi nhớ được từ đó nhanh hơn, giáo viên cũng
    không phải giải thích nghĩa tiếng Việt cho các em. Việc này cũng giúp các em có
    được suy nghĩ trực tiếp từ hình ảnh sang tiếng Anh mà không cần thông qua tiếng
    Việt.
    14
    – Sử dụng flashcard giúp các em ôn tập hoặc kiểm tra từ vựng:
    Tổ chức các trò chơi sử dụng flashcard cho các em ôn tập từ vựng và thông qua đó
    giáo viên cũng có thể nắm bắt, đánh giá mức độ nhận biết, ghi nhớ, vận dụng từ vựng
    của học sinh.
    + “Slap the picture”
    Mục đích: ở trò chơi này, học sinh có cơ hội được luyện tập khả năng nghe từ và
    nhận biết hình ảnh tương ứng với từ nghe được.
    Điều kiện thực hiện: Giáo viên hệ thống nhóm từ cần ôn tập, kiểm tra; chuẩn bị các
    hình ảnh tương ứng.
    Cách thức thực hiện:
    – Giáo viên gắn tranh lên bảng
    – Chọn hai đội chơi (số lượng người chơi tùy vào lượng từ vựng cần ôn tập, kiểm tra)
    xếp thành hai hàng dọc
    – Giáo viên chọn một học sinh là người gọi từ
    – Khi có khẩu lệnh bắt đầu các bạn đứng đầu hàng của hai đội chơi sẵn sàng, chú ý
    lắng nghe xem từ được gọi, đồng thời quan sát, tìm xem hình ảnh tương ứng là gì rồi
    chạy nhanh đến đập tay vào tranh đó nếu đúng và nhanh hơn đội đó sẽ ghi được điểm;
    tiếp các từ khác và các bạn đứng tiếp theo cho đến hết.
    – Giáo viên có thể tổ chức vài lượt chơi để cả lớp có cơ hội tham gia .
    Ví dụ: Unit 13 – Lesson 2- Sách tiếng Anh 4 – Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
    Mục đích: tổ chức cho các em chơi trò chơi “Slap the picture” sau khi giới thiệu từ
    vựng để giúp các em ghi nhớ sâu hơn các từ vừa được học.
    Cách thức thực hiện:
    15
    – Giáo viên gắn 4 tranh chỉ đồ ăn lên bảng
    – Chọn hai đội chơi, mỗi đội 4 em
    – Giáo viên gọi to tên một loại đồ ăn, bạn đứng đầu hàng nghe và xác định là tranh
    nào thì chạy nên vỗ vào tranh đó, đội nào nhanh hơn và chính xác thì sẽ ghi được
    điểm
    + Matching the word with the picture”
    Mục đích: Trò chơi này giúp các em luyện tập khả năng nhận biết, ghi nhớ mặt chữ
    tương ứng với hình ảnh.
    Điều kiện thực hiện: giáo viên phải chuẩn bị tranh ảnh và thẻ từ tương ứng
    Cách thức thực hiện:
    – Giáo viên gắn một số tranh lên bảng cùng với số thẻ từ tương ứng hoặc nhiều hơn
    không theo trật tự
    – Chọn hai đội chơi xếp thành hai hàng
    – Giáo viên hoặc một học sinh làm nhiệm vụ gọi từ; hai đội chú ý lắng nghe, quan sát
    để tìm được đúng từ gắn vào đúng tranh tương ứng; đội nào chọn nhanh và chính xác
    sẽ ghi được điểm. trò chơi này giáo viên cũng có thể tổ chức nhiều lượt chơi cho
    nhiều học sinh được tham gia.
    Ví dụ: Unit 14 – Lesson 1- Sách tiếng Anh 4 – Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
    Mục đích: tổ chức cho các em chơi trò chơi “Matching the word with the picture”
    nhằm giúp các em nhận biết, phân biệt được các tính từ chỉ hình dáng, kích thước, đặc
    điểm vừa được học.
    Điều kiện thực hiện: giáo viên chuẩn bị hình ảnh chỉ hình dáng, kích thước, đặc điểm
    và các thẻ từ tương ứng
    Cách thức thực hiện:
    16
    – Giáo viên gắn tranh và thẻ từ lên bảng không theo trật tự nào
    – Chọn hai đội chơi, mỗi đội 5 em
    – Hai đội chú ý nghe giáo viên đọc từ, quan sát tìm từ tương ứng và gắn vào đúng
    tranh
    – Đội nào tìm đúng và nhanh hơn sẽ giành phần thắng
    – Sử dụng cac sản phẩm thủ công hay các sản phẩm của môn Mĩ thuật gắn thêm từ
    tiếng Anh để học
    2.2.2.2. Ở nhà
    Ngoài việc học ở trường, về nhà các em cũng có thể dễ dàng tìm được các chủ
    đề từ vựng bằng hình ảnh vô cùng đa dạng, sinh động thông qua mạng Internet, từ các
    phương tiện như tivi, điện thoại, sách báo để tự ôn tập, trau dồi thêm vốn từ vựng của
    mình.
    17
    Ví dụ:
    Các em dễ dàng tìm được các chủ đề từ vựng quen thuốc gần gũi, sinh động về:
    + Về hình khối
    + Về thời tiết:
    18
    + Về nghề nghiệp:
    – Các em cũng có thể sử dụng các bộ flashcash theo chủ đề
    19
    – Hoặc có thể tự vẽ một số hình ảnh đơn giản và ghi chú từ.
    2.2.3. Học từ vựng qua các “game luyện từ vựng”
    Phương pháp học kết hợp “game luyện từ vựng” tiếng Anh hiện nay đang được
    đánh giá là một cách giúp việc học tiếng Anh sẽ trở nên thú vị hơn, tiếp thu một cách
    tự nhiên cũng như ghi nhớ lâu hơn. Với việc phát triển công nghệ của thời đại 4.0 thì
    các phần mềm, ứng dụng game từ vựng trở nên đa dạng và phổ biến hơn bao giờ hết.
    tận dụng các game về từ vựng này các em sẽ có cho mình một công cụ tuyệt vời hỗ
    trợ mình để tiến xa hơn trong việc nắm vững kiến thức tiếng Anh.
    Có thể liệt kê ra đây một số “game luyện từ vựng” như:
    + Fast English
    “Fast English” là một game đơn giản dành cho người học từ vựng từ mức độ cơ
    bản. Để tham gia trò chơi, các em chỉ cần nghe các từ và bấm vào hình ảnh phù hợp
    với chúng. Tốc độ trò chơi sẽ đẩy nhanh hơn khi các em đi tới các quá trình khó hơn.
    Các em có thể chọn bộ từ vựng để luyện tập với khoảng 30 bộ nội dung bao gồm hầu
    hết các mục từ vựng cơ bản.
    20
    Với game từ vựng này các em có thể tải về máy tính để học và luyện tập hàng
    ngày.
    Trên lớp các thầy cô cũng có thể sử dụng ga

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số biện pháp giúp học sinh tiểu học thực hành và nâng cao năng lực giao tiếp Tiếng Anh thông qua các hoạt động ứng dụng

    SKKN Một số biện pháp giúp học sinh tiểu học thực hành và nâng cao năng lực giao tiếp Tiếng Anh thông qua các hoạt động ứng dụng

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH
    Học ngoại ngữ nói chung và môn tiếng Anh nói riêng ngày nay đang rất
    cần thiết và có sức hấp dẫn lớn với giới trẻ . Nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa
    tiếng Anh vào giảng dạy ơ các trường học cũng như trong việc giao tiếp hàng
    ngày. Xu hướng hội nhập quốc tế ơ nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực giáo dục
    đã đưa tiếng Anh lên một vị trí hết sức quan trọng. Tiếng Anh là công cụ giao
    tiếp chính và là chìa khoá dẫn đến kho tàng kiến thức nhân loại. Mặt khác việc
    ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin đã làm cho việc học tiếng Anh trơ thành
    cấp bách và không thể thiếu. Vì vậy việc học tiếng Anh của học sinh THCS
    được học sinh, phụ huynh học sinh, giáo viên ngành giáo dục và cả nước đặc
    biệt quan tâm. Chính vì thế mà việc tiếp cận và nâng cao hiểu biết tiếng Anh là
    điều rất cấp thiết trong công cuộc hội nhập quốc tế ngày nay.
    Ơ Việt Nam, Tiếng Anh là ngôn ngữ đã được giảng dạy khá phô biến ơ các
    vung miền trong cả nước đặc biệt là ơ các thành thị .Trong các hoaṭ đôṇ g daỵ
    học trên lớp, luyêṇ tâp̣ và kiểm tra từ vưṇ g là phần rất quan troṇ g trong môṭ bài
    dạy. Vâỵ phải làm như thế nào để kiểm tra từ vựng của học sinh một cách có
    hiêụ quả ? Làm thế nào để các em yêu thích bộ môn ? Làm thế nào để dạy học
    môn tiếng Anh có chất lươṇ g ? Chúng ta không thể không tiếp tục vận dụng
    linh hoaṭ, sáng tạo các phương pháp daỵ hoc̣ tích cưc̣ trong từ ng tiết hoc̣ , trong
    mỗi bài daỵ . Trong đó viêc̣ kiểm tra ngôn ngữ của hoc̣ sinh gắn vớ i tổ chứ c các
    trò chơi là một hình thức dạy học tích cực – Nhằm thưc̣ hiêṇ có hiêụ quả môṭ
    trong các chủ đề của năm hoc̣ 2020 – 2021. “Xây dưṇ g trườ ng hoc̣ thân thiêṇ ,
    hoc sinh tich cưc ”
    Qua thưc̣ tế giảng daỵ trong nhiều năm tại trường THCS Yên Bằng, tôi đã
    rất tâm đắc, trăn trơ, tìm tòi và sáng tạo, nhằm cố gắng giúp hoc̣ sinh ghi nhớ từ
    vưṇ g kỹ hơn qua các lần luyêṇ tâp̣ , kiểm tra, với các trò chơi và xác định được
    tầm quan troṇ g của viêc̣ chuyển tải ngữ vưṇ g mới trên lớp hằng ngày. Từ đó có
    thể so sánh với kết quả đạt được sau khi áp dụng phương pháp mới, cách dạy
    – 6 –
    mới .Tôi mong muốn được cung các bạn đồng nghiêp̣ tham khảo và đóng góp ý
    kiến để đề tài của tôi được áp dụng rộng rãi.
    II . GIẢI PHÁP
    1. Giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến.
    Nhìn chung, viêc̣ giảng daỵ tiếng Anh hiêṇ nay giáo viên cơ bản đã sử
    dụng tốt phương pháp mớ i có hiêụ quả trong các tiết daỵ , nhiều ngườ i trong số
    đó đã thấm nhuần phương pháp và có nhiều sáng taọ theo tiến trình của các bài
    dạy. Tuy nhiên để tiết dạy đạt được hiệu quả cao hay học sinh nắm được ngữ
    liêụ mớ i thì đòi hỏi giáo viên phải dùng các thủ thuâṭ thích hơp̣ vớ i từng đối
    tươṇ g học sinh. Trong thưc̣ tế cho thấy , không ít hoc̣ sinh thườ ng rất hay quên
    từ vưṇ g mà giáo viên giớ i thiêụ sau môṭ thờ i gian nế u không đươc̣ thưc̣ hành laị
    và khi tiếp cận các từ này trong một bài khác thì học sinh không hiểu để giải
    quyết các tình huống trong bài hoc̣ dâñ đến tiết daỵ đaṭ hiêụ quả k hông cao.

    Nhiều từ vưṇ g có cấu taọ từ hay cách phát âm khó, những từ tương tự đó có
    thể gây cho hoc̣ sinh sự nhầm lâñ
    phải.
    đáng tiếc mà lẽ ra học sinh không nên mắc

    2. Giải pháp trọng tâm sau khi có sáng kiến.
    Để đáp ứng được yêu cầu thực tế . Mỗi giáo viên chúng ta cần phải tìm cho
    mình một phương pháp dạy học tối ưu, phu hợp với từng đối tượng học sinh để
    không ngừng nâng cao chất lượng đó mới là vấn đề, là mục đích mà mỗi giáo
    viên đang đứng lớp phải trăn trơ, phải suy nghĩ. Vì vậy cải tiến phương pháp và
    nội dung dạy học luôn được nghành giáo dục quan tâm. Nghành luôn động viên
    khuyến khích những giáo viên tâm huyết có những cải tiến mới về phương pháp
    dạy học và có những đề tài sáng kiến kinh nghiệm hay áp dụng vào thưc tế.
    Có thể nói luyện tập, kiểm tra từ vưṇ g là yếu tố rất cần thiết trong thưc̣ hành
    và sử dụng ngữ liệu . Viêc̣ thưc̣ hành từ vưṇ g luôn đươc̣ kết hơp̣ vớ i viêc̣ thưc̣
    hành ngữ pháp và các bài dạy kỹ năng.
    Tuỳ vào đặc điểm của từng lớp, từ ng đối tươṇ g, nôị dung và dung lươṇ g
    kiến thứ c của từ ng bài, ta có thể luyêṇ tâp̣ từ vưṇ g ở những thờ i điểm khác
    – 7 –
    nhau, giai đoaṇ khác nhau của từ ng bài, trong giờ daỵ chính khóa hay ngoaị
    khoá, cách thức tô chức trong lớp chia đôị , nhóm … để giáo viên chọn ra hình
    thứ c dạy phu hợp và kiểm tra tốt nhất.
    A. Các hình thức luyên tập và kiêm tra ( Practice and test )
    A.1. Kết nối chƣ̃ cá i ( Letter connecting).
    – Giáo viên đưa ra một từ vựng bất kỳ.
    – Học sinh viết các từ khác sao cho chữ cái đầu tiên của từ sau phải bắt đầu
    bằng chữ cái cuối cùng của từ trướ c . Tương tự như thế cho đến khi hết th ời
    gian quy điṇ h.
    (Chú ý: Không tính những từ lăp̣ các từ trướ c).
    +VD: come end draw win now …….
    A.2. Tạo từ khác ( Make other words).
    – Giáo viên đưa ra một từ vựng bất kỳ.
    – Học sinh viết các từ khác sao cho chữ cái đầu tiên của các từ này phải bắt đầu
    bằng các chữ cái có trong từ đã cho.
    – 8 –
    + VD: home
    hot orange mango eraser
    A.3. Tìm từ bị ân ( Find hidden words ).
    – Giáo viên viết các câu tách rời hoặc một đoạn văn. Các từ ân đó là sự kết nối
    các chữ cái của các từ hoặc nằm trong một từ khác. Giáo viên quy định thời
    gian và số lượng từ cần tìm.
    – Học sinh khoanh tròn các từ mà các em tìm được.
    + VD: Tìm 8 chữ số trong phaṃ vi 1 – > 100 trong các câu dướ i đây.
    a. He met his son in Edinburgh many years ago.
    b. They last won the first price in the competition last week.
    c. He is an honest boy. He never cheats in the exam.
    d. He used Mr John‟s car instead of ours.
    e. People usually buy candles and matches for typhoons.
    f. He always gets good grades eventhough he is not hard – working.
    g. The bank is the same height as the post office.
    h. They feel even- handed now because their father was released.
    – 9 –

    * Key : a/ nine
    b/ two
    c/ one
    d/ four
    e/ forty
    f/ seven
    g/ eight
    h/ eleven

    A.4. Khoanh tròn ( Circle )
    – Giáo viên đưa ra bảng từ gồm các từ sắp xếp không theo thứ tự .
    – Học sinh của 2 đôị dùng phấn / bút 2 màu khác nhau khoanh theo tứ tự của
    quy luâṭ từ hoăc̣ theo quy tắc ngữ pháp. Chẳng haṇ hoc̣ sinh đôị A khoanh đươc̣
    chữ số 1 thì tìm và khoanh tiếp chữ số 2 trong khi hoc̣ sinh của đôị B cũng tìm
    và khoanh chữ số 2. Tương tự cho đến khi tìm đươc̣ số cuối cùng. Số từ khoanh
    đươc̣ là kết quả của mỗi đôị.
    +VD1: Khoanh theo thứ tự của số thứ tự trong phaṃ vi từ thứ 1 đến thứ 20
    * Key : first, second, third, fourth . . . .
    + VD 2: Khoanh tròn theo thứ tự của cấu trúc câu. ( present perfect tense …)
    * Key: He has written five books up to now.
    thirteenth

    nineteenth

    eighth
    tenth
    eleventh
    third
    sixteenth
    sixth

    seventeenth

    second
    Twentieth

    eighteenth

    fourteenth

    fifteenth

    ninth
    fourth
    fifth
    twelfth
    seventh
    first

    books
    to

    now
    has
    up
    He
    written
    five

    – 10 –
    A.5. Tạo từ có nghĩa (Make meaningful words)
    – Giáo viên chia các từ thành các mảnh ghép lên bảng.
    – Học sinh ghép các mảnh ghép để tạo các từ có nghĩa
    + VD: Giáo viên cho các mảng từ ghép về các năng lượng.
    * Key:
    saving, power, panel, resource, solar, energy
    A.6. Tìm vế thích hơp ( Find the suitable piece )
    – Giáo viên đưa ra khoảng 3 câu , tách rời mỗi câu ra làm 2 mảnh ghép ( dung
    thẻ). Chia 3 mảnh ghép đều cho các nhóm 1,2,3 đôị A . Rồi 3 mảnh ghép được
    đặt sao cho đúng các mảnh ghép của đội B.
    – Lần lươṭ môṭ hoc̣ sinh đaị diêṇ cho nhóm 1 của đội A dự đoán mảnh ghép củ a
    nhóm mình ơ đội B . Nếu choṇ đúng thì nhóm 2 của đội A tiếp tục còn nếu sai
    thì đến lượt nhóm 1 của đội B. Tương tự như vâỵ cho đến khi tất cả các mảnh
    ghép được hoàn thành.
    +VD: Ghép các mảnh câu về hoạt động của một người theo mua.
    sav
    ing
    el
    ener
    re
    er
    lar

    gy
    pow

    fu
    nel

    sourcespa

    so
    – 11 –
    Đội A Đội B
    Nhóm 1: Nhóm 1:
    Nhóm 2: Nhóm 2:
    Nhóm 3: It is cool… Nhóm 3:
    *Key: 1. He often goes fishing in the fall
    2. He never goes swimming in the winter
    3. He often plays soccer in the summer
    A.7. Xem điêụ bô ̣đoá n nghiã cá c bƣ́ c tranh ( Guess the pictures)
    – Giáo viên đưa cho 2 đaị diêṇ của 2 đôị 2 bô ̣tranh khác nhau.
    – Thành viên của đội A nhận bộ tranh và làm điệu bộ hoặc hành động về nghĩa
    của các bức tranh đó . Các thành viên trong đội nêu nghĩa Tiếng Anh của từng
    bứ c tranh trong môṭ thờ i gian quy điṇ h. Sau khi đôị A hoàn thành đến lươṭ đôị
    B. Đội nào nêu đúng và nhiều hơn thì chiến thắng.
    + VD:
    – Bô ̣tranh của đôị A gồm 10 hình ảnh (bóng chuyền, phở , máy bay, nhảy
    dây, bơi lôị , cái đầu, nghe nhac̣ , đoc̣ sách, xe máy, lạnh …. )
    – Bô ̣tranh của đôị B gồm 10 hình ảnh (bóng đá, cầu lông, thả diều, bánh
    mỳ, câu cá, nóng, xe đap̣ , đi bô ̣thể duc̣ , xem ti vi, cái mũi)
    * A sample of the pictures
    He often goes fishing …. …in the winter
    He never goes
    swimming …..
    .. in the summer
    He often plays soccer …. …in the fall
    – 12 –
    – Một học sinh làm động tác. – Các thành viên trong nhóm đoán từ.
    + Key: (Play) soccer or football
    A.8. Luyêṇ tâp̣ tƣ̀ ( Words practicing ).
    – Giáo viên cho một từ vựng có nhiều chữ cái.
    – Học sinh ghép bất cứ chữ cái nào trong từ đó để tạo những từ khác có nghĩa.
    +VD : restaurant => rest, aunt, tea, test, tear…
    A.9. Xếp tƣ̀ có cùng chủ điểm ( Choose the suitable topic).
    – Giáo viên đưa ra một bảng từ hỗn hợp.
    – Học sinh xếp từ theo chủ điểm thích hợp.
    + VD:
    Food & drink Weather Body sports
    – eggs – cold – head – badminton

    soccer
    noodles
    beef
    carrots
    chickencold milkheadeggsoranges
    tennis
    nose wet ricemouthswimmingwarm
    earsfish arms meatbananas handsapples
    coffee
    basketballsodahotpotatoesdry
    lemonadevolleyballlegscoolbreadtable-tennis

    – 13 –
    * Keys:
    – Food & drink : chicken, milk, eggs, noodles, oranges, rice, beef, fish ,
    meat, bananas, apples, carrots, soda , potatoes , bread, lemonade.
    – Weather: cold, wet, warm, hot, cool, dry.
    – Body: head, nose, ears, arms, hands, legs, mouth.
    – Sports: soccer, swimming, tennis, basketball, volleyball, tennis, table-tennis.
    A.10. Tìm từ khoá ( Find the key word).
    – Giáo viên đưa ra các từ gợi ý có liên quan đến từ khoá .
    – Học sinh suy nghĩ và tìm từ khoá đó.
    +VD:
    solar waste
    save
    nuclear power
    * Key: energy
    A.11. Lấ y ra môṭ tƣ̀ không cùng nhó m / tính chất ( Odd one out )
    – Giáo viên cho môṭ số từ vưṇ g trong đó có 1 từ không cùng nhóm nghiã / tính
    chất vớ i các từ còn laị.
    – Học sinh chỉ ra từ đó bằng cách khoanh tròn .
    + VD: 1- hungry / thirsty / happy / study.
    2 – metal / wood / silk / cup.
    * Key: 1 – study ( Động từ còn những từ còn lại là tính từ )
    2 – cup ( vì 3 từ còn lại là từ chỉ chất liệu )
    A.12. Thêm vào môṭ hoăc̣ nhiều tƣ̀ cùng nhó m / tính chất với các từ đa cho
    ( Add one or more ).
    – Giáo viên cho một số từ cùng nhóm / tính chất.
    – Học sinh thêm vào một hoặc nhiều từ cung nhóm/ tính chất với các từ đã cho.
    ?
    – 14 –
    + VD: generous / kind / shy / … ?
    * Key: outgoing, mean, humorous …
    A.13. Đăt từ vào cấu trúc câu ( Put in a form).
    – Giáo viên cho một từ vựng bất kỳ.
    – Học sinh thảo luận và đặt từ đó vào câu đúng.
    VD: – shy —–> He is shy
    – draw —–> She draws badly.
    – chicken ——> He doesn‟t eat chicken
    A.14. Viết tƣ̀ có số lƣơṇ g chƣ̃ cá i theo quy điṇ h ( Number of letters )
    – Giáo viên yêu cầu học sinh viết các từ vựng có 3, 4 hoăc̣ 5 chữ cái trong thờ i
    gian quy điṇ h. (Các từ sau không trung với các từ trước). Em nào viết nhiều từ
    hơn thì chiến thắng.
    – Học sinh viết theo cá nhân hoặc nhóm.
    +VD: Viết các từ vưṇ g có 4 chữ cái kết thúc bằng „r‟.
    – hear, dear, deer, bear, hear, gear,……….
    A.15. Viết cá c tƣ̀ có cùng chƣ̃ cá i đầu tiên hoăc̣ cuố i cùng.( The same letter)
    – Giáo viên yêu cầu học sinh viết các từ bắt đầu hoặc kết thúc cung một chữ cái.
    – Học sinh thi viết theo thời gian quy định.
    + VD: Viết các từ bắt đầu bằng chữ “ h ”
    – hat, home, hand, help, hang ……….
    Viết các từ kết thúc bằng chữ “ch”
    – wach, watch, church, bench
    Viết các từ kết thúc bằng chữ “r”
    – engineer, roar, gear, ear, hear ………
    A.16. Quay lƣng vớ i bảng ( Back to board )
    – Giáo viên gọi 1 học sinh xung phong lên bảng quay mặt xuống lớp. Giáo viên
    viết môṭ từ bất kỳ. (Cả lớp có thể gợi ý hoặc không, tuỳ thuộc vào khả năng
    diêñ tả của từ ).
    – 15 –
    – Học sinh được gọi lên lần lượt đoán từ đó tối đa 2 hoăc̣ 3 lần.
    + VD: Kiểm tra các từ về chủ đề thảm họa thiên nhiên
    – Giáo viên: tidal wave ( Giáo viên viết lên bảng. Học sinh đó được đoán 3 lần )
    – Học sinh đoán và đọc ……. tidal wave
    A.17. Thêm tƣ̀ nào và bớ t tƣ̀ nào ? ( What added ? and what out ?).
    – Giáo viên cho một bảng từ khoảng 5 – 8 từ vưṇ g.
    – Yêu cầu hoc̣ sinh nhớ các từ vưṇ g đó trong vòng 30 giây -> 1 phút (học sinh
    làm theo nhóm).
    – Giáo viên đưa một bảng từ khác ra (giáo viên bo đi một số từ của bảng trước
    và thêm một số từ khác)
    – Học sinh chỉ ra những từ bị lấy ra và những từ được thêm vào.
    + VD:
    * Bảng 1:
    *Bảng 2:
    * Keys: Added : easter, tradition.
    Out : christmas, celebrate
    A.18. Chƣ̃ cá i may mắ n ( Lucky letter ).
    – Giáo viên phát cho mỗi nhóm các mẫu giấy có hình ảnh hoặc các từ tiếng Anh.
    – Môṭ em trưở ng nhóm choṇ lần lươṭ từ ng từ và yêu cầu mỗi thành viên đươc̣
    phép đoán
    1 chữ cái bất kỳ. Ngườ i nào đoán đúng chữ cái có trong từ đó thì đươc̣ tính
    điểm.
    + VD: – Từ “ hot ”

    festival
    decorate
    hold
    celebrate
    competition
    nationwide
    christmas
    customs

    festival hold

    competition
    nationwide
    easter
    customs

    decorate tradition
    – 16 –
    – Học sinh đoán S1 : “ b”
    S2 : “ h “
    S3 : “ g”
    S4 : …
    * Key: S2
    A.19. Viết tƣ̀ theo âm tiết ( Syllables of letter )
    – Giáo viên yêu cầu học sinh viết các từ có số lượng âm tiết theo quy định. (1,2,
    3…)
    – Học sinh cùng thi viết.
    + VD: Viết các từ có ba âm tiết.
    * Key: – hospital, engineer, company….
    A.20. Câu đú ng sai ( T / F statements )
    – Giáo viên đặt từ vựng vào trong các câu. Có thể đúng hoặc sai.
    – Học sinh chỉ ra đúng sai của các câu đó.
    + VD: a. A worker works in a hospital.
    b. Lemnon is a kind of fruit.
    c. The weather is cold in winter.
    * Keys : a. F b. T c. T
    – 17 –
    A.21. Đoá n tƣ̀ theo ngƣ̃ cảnh ( Guess the meaning of the words ).
    – Giáo viên đặt từ cần kiểm tra vào trong môṭ câu hoặc một ngữ cảnh cụ thể.
    – Học sinh chỉ ra nghĩa của từ đó.
    + VD1: He often takes a bus to school
    S : “ xe buýt”
    + VD2: The boys are playing soccer in the school yard
    S : “ môn bóng đá ”
    A.22. Nghe và viết ( Listen and write )
    – Giáo viên chọn đội A và B mỗi đội 5 học sinh. Xếp thành 2 dãy dọc theo lớp
    từ bảng xuống lớ p ( Chú ý : Học sinh đứng gần bảng có khả năng nghe và viết
    tốt, học sinh đứng đầu dãy có khả năng phát âm tốt )
    – Giáo viên cho 2 học sinh đầu dãy của 2 đôị đồng thờ i quan sát từ vưṇ g. 2 học
    sinh đó nói thầm vớ i ngườ i tiếp theo từ vưṇ g đó. Ngườ i tiếp theo laị nói vớ i
    ngườ i kế tiếp. Tương tự cho đến khi người cuối cung (đứ ng gần bảng) lên bảng
    viết từ đó. Đội nào hoàn thành xong trước và đúng là chiến thắng.
    + VD: Mô hình
    – 18 –
    S1 S6
    S2 S7
    S3 S8
    S4 S9
    S5 S10
    VD : GV cho từ “ think” (Học sinh có thể phát âm và viết nhầm là “ thing”)
    “ lead “ (Học sinh có thể phát âm và viết nhầm là “ lit” )
    A.23. Cuôc̣ đua ( Race ).
    – Giáo viên xếp các từ của một câu hoặc các từ tách rời (nhưng cùng nhóm từ )
    lên bảng từ .
    – Học sinh thi nối các từ theo câu đúng hoặc theo quy định của giáo viên. Đội
    nào về đích trước thì chiến thắng.
    VD : Tiếng Anh 7 – Unit 5 ; VIETNAMESE FOOD AND DRINK
    Tình huống trong bài là một bài đối thoại (dialogue) tương đối dễ, trong
    đó xuất hiện một số từ mới, nhưng ta chỉ chọn dạy 1 từ “ noodles” vì đây là từ
    Board
    Team A Team B
    Giáo viên
    – 19 –
    thuộc chủ điểm chính của bài (Food and drink), và nếu không dạy từ này, học
    sinh sẽ không hiểu hết nghĩa của bài.
    Như đã nói, tình huống trong bài tương đối đơn giản, vì vậy sau khi giới
    thiệu các nhân vật trong bài, giáo viên bật băng cho học sinh nghe và yêu cầu
    học sinh tìm ra từ mới.
    * Các bước dạy như sau:
    – Giáo viên đọc to “noodles” từ 1 đến 2 lần cho học sinh nghe rồi ghi từ lên
    bảng.
    – Giáo viên cho học sinh biết trọng âm của từ (nằm ơ âm tiết thứ nhất) và lưu ý

    âm /u:/ vào phía trên:/u:/
    „noodles

    – Cung cấp từ loại: danh từ (n).
    – Cung cấp nghĩa: Đây là từ chủ động, thông dụng cao và là từ cụ thể nên giáo
    viên dung tranh để dạy nghĩa.
    Giáo viên đưa tranh, giới thiệu:
    “This is noodles.”, lặp lại “noodles”.
    Giáo viên cho ví dụ:
    I like noodles. I have noodles for breakfast.
    Hoi học sinh:
    Do you like noodles? – Học sinh trả lời
    Kiểm tra lại độ hiểu của học sinh:
    What do we say “noodles” in Vietnamese?

    Học sinh nói nghĩa tiếng Việt (mì sợi).
    Cho học sinh đọc từ, ví dụ và viết từ đó ra.
    Noodles
    Team A :Food( Wrong )
    Team B :Noodles( Right )

    A.24. So sá nh ( Comparison )
    – Giáo viên cho hai bức tranh minh hoạ.
    – Học sinh quan sát bức tranh A bên caṇ h và đoán nghiã của từ trong bứ c
    tranh B.
    – 20 –
    + VD:
    1. A B. ?
    2. A B. ?
    *Keys: 1B. small 2B. happy
    A.25. Sáng tác thơ / bài hát( Compose a poem / song )
    – Giáo viên sáng tác các từ vựng cung chủ điểm trong môṭ bài thơ hoăc̣ bài hát.
    – Học sinh luyện trong các giờ ngoại khoá hoặc ơ nhà.
    * Thơ về tính từ :
    – 21 –
    Tall cao short ngắn long dài
    Big to small nho thin gầy khoẻ strong
    Dày full yếu weak tròn round
    Beautiful đep̣ vui nào happy.
    * Thơ về bô ̣phâṇ cơ thể ngườ i.
    Cái mũi thì nose
    Cái đầu là head
    Từ neck cái cô
    Nhìn ro nhờ eyes
    Đôi tai là ears
    Từ hair mái tóc
    Dáng vóc body
    Ta đi bằng legs
    Ta xách bằng hands
    Khi ăn dùng teeth
    Full lips môi dày
    Từ face khuôn măṭ
    Gánh nặng shoulders
    *Thơ về đăc̣ điểm các mùa.
    One year có 4 seasons
    Summer mua hạ, mua đông winter
    Spring xuân đến nở hoa
    Mua thu mát mẻ đó là từ fall
    Summer hot lắm ai ơi
    Winter cảm giác lại cold vô cùng.
    Spring cảm giác thì warm
    Fall thì cảm giác nghe cool cưc̣ kỳ.
    – 22 –
    * Thơ về các hoaṭ đôṇ g vui chơi.
    Có nhiều hoạt động vui chơi
    Soccer bóng đá play chữ gì
    Xem phim thì watch TV
    Music nghe nhac̣ listen to đi cùng
    Câu cá thì go fishing
    Còn ai đi bộ go jogging cả ngày
    Volleyball gắn vớ i play
    Thì tôi biết được là chơi bóng chuyền
    Nhưng mà nhớ help your Mom
    Nghĩa là giúp me đừng nên chơi nhiều.
    * Bài hát ( Dưạ theo nhac̣ bài hát Ca nhà thương nhau )
    In the morning, I go to school
    In the afternoon, I play volleyball
    In the evening, I do my homework
    I go to bed at 10 . 30‟
    B. Giáo án thưc nghiêm. Grade 8
    Date of planning: 29/11/2020 Date of teaching: 02/12/2020
    Period 36 UNIT 5: FESTIVALS IN VIET NAM.
    Lesson 2: A closer look 1
    I/ Objectives:
    Knowledge:
    By the end of the lesson, students will be able to:
    – Use the lexical items related to the topic “Festivals in Viet Nam”: preserve,
    ritual, commemorate, incense, worship.
    – Stress correctly multi- syllable words with –ion and – ian endings.
    – 23 –
    Competences:
    Self-control and self-study, cooperating, pair work, group-work,
    problem solving, communication
    Quality:
    laborious, responsibility, honest
    II/ Teaching aids:
    – Lesson plan, visual pictures, aids, cassette and tape, phone
    – Pictures about festivals in Viet Nam
    III/ Procedures:

    Steps and
    time
    Learning activitiesLanguage
    focus
    Models
    A. Warm
    – up. ( 5‟)
    T& S: greetings
    T: In the last lesson, you learned about
    some festivals in Viet Nam. Do you like
    playing game? S: Yes
    The game: Name the festivals you see.
    T: gives the rule: Students have 40
    seconds to see and remember 6 pictures,
    then they have 2 minutes to write down.
    S: work in groups.
    T: calls students to say the names, write
    their answer on the board.
    S: gives their names
    T: shows the key on the screen and check
    Ss‟ answer on the board.
    Words related
    to Festivals:
    – Do Son
    buffalo –
    fighting festival
    – cow racing
    festival
    – Le Mat snake
    festival
    – whale festival
    – elephant race
    festival
    – Tet festival
    whole
    class
    group
    work
    whole
    class

    – 24 –

    B. Voca
    Bulary
    (25‟)
    S: listen and check.
    T&S: congratulation!
    T: Which festival do you like most?
    Why?
    S: It‟s ….
    T: Why? S: Because…
    T: All the festivals in Viet Nam are
    wonderful. In our lesson today, we
    continue this topic.
    T writes on the board: Period 36. Unit 5.
    Festivals in Viet Nam.
    Lesson 2. A closer look 1.
    S: copy the title
    *vocabulary:
    T: shows the first picture then read the
    new word: Preserve (v ) and asks S to
    repeat.
    S: repeat after T
    T: Can you guess the meaning of this
    word depend on the picture?
    S: bảo tồn
    T does the same for the other words:
    *vocabulary:
    – preserve (v):
    bảo tồn
    – ritual (n)
    nghi thức
    – commemorate
    (v): tương niệm
    – incense (n):
    hương, nhang
    Whole
    class

    – 25 –

    – preserve(v): bảo tồn
    – ritual(n) nghi thức
    – commemorate(v): tương niệm
    – incense(n): hương, nhang
    – worship(v): thờ cúng
    T: reads all the new words
    S: repeat after T.
    T: to practice these words, we come to
    Exercise 1.
    Exercise 1: Match the words to their
    meanings.
    T: shows the Exercise 1 on the screen
    S : look at the screen
    T: Asks S to match the first halves of
    sentences in column A with the second
    halves in column B.
    T gives an example: 1-c, key words are :
    keep, alive (on the screen)
    S: work in pair to do the exercise 1.
    T: calls some S to give the answers
    S: give the answers
    T: corrects Ss‟ answers and show the key
    – worship (v):
    thờ cúng
    Exercise 1:
    Match the
    words to their
    meanings
    1.c (keep, alive)
    2.e (show
    respect, love)
    3. a (show)
    4. b (act of
    Special
    Pair
    work
    Individu
    al
    Pair
    work

    – 26 –

    on the screen.
    S: listen, observe, check then copy.
    T : To practice vocabulary more, we go
    to Exercise 2
    Exercise 2: Complete the sentences
    using words in 1.
    T: shows Ex 2 on the screen.
    T: gives an example by showing a
    picture, sentence 1 and give the answer.
    1. The Giong festival is held every year
    to….Saint Giong our traditional hero.
    1. Commemorate.
    T: asks Sts to work in individual.
    Ss: Work individually
    T: asks some Ss to compare their
    answers.
    T: calls some students to give the
    answers then correct.
    meaning, do in
    the same way)
    5. d (remember,
    celebrate)
    Exercise 2:
    Complete the
    sentences using
    words in 1.
    1-commemorate
    2- worship
    3- preserve
    4- ritual
    5- performance
    group
    work
    Whole
    class

    – 27 –

    2- worship 3- preserve
    4- ritual 5- performance
    S: listen and copy.
    T: To practice more, we come to
    exercise 3
    Exercise 3: Match the nouns with each
    verb. A noun can go with more than one
    word
    T: shows the table of Exercise 3.
    1. WATCH2. HAVE3. WORSHIP4. PERFORMS: observe.
    T: asks S to match verbs with nouns in a
    piece of paper. Remember a noun can go
    with more than one word.
    T: gives an example:
    Watch : a ceremony,…
    Ss: to work in groups and write down the
    answers in pieces of paper.
    T: asks groups to stick theirs pieces of
    paper on the board.
    T: corrects, give comments and marks.
    S: copy the answers
    Ss: Give comments and marks.
    Exercise 3:
    Match the
    nouns with
    each verb.
    A noun can go
    with more than
    one word
    1. Watch:
    a ceremony,
    a show
    2. Have … (all)
    3. Worship :
    a god, a hero
    4. Perform :
    a ritual ,
    a ceremony,
    a show.
    Individu
    al
    Pair
    work
    In pair
    a ceremony
    an anniversary
    a hero good
    fortune
    god a
    reunion

    a show a
    celebration
    a ritual a

    – 28 –

    C.Pronu
    nciation.
    (12‟)
    Exercise 4 a-b: Look at the table below
    what can you notice about these words.
    T: In English 7, you learned about stress.
    Do you remember stress? Stress is a
    syllable which is pronounced stronger,
    longer and louder than other syllables in a
    word. In this lesson we learn about stress
    of words ending in-ion and-ian
    T: asks S to look at

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số biện pháp giúp học sinh tiểu học mạnh dạn, tự tin hơn khi học tiếng Anh

    SKKN Một số biện pháp giúp học sinh tiểu học mạnh dạn, tự tin hơn khi học tiếng Anh

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Tiếng Anh ngày càng trở nên quan trọng trong đời sống , xã hội hiện đại,
    có tầm ảnh hƣởng rất lớn đối với sự phát triển kinh tế của đất nƣớc trong thời kỳ
    hội nhập kinh tế quốc tế. Ngƣời sử dụng thành thạo Tiếng Anh đƣợc xem nhƣ
    nắm giữ chìa khóa thành công. Chính vì vậy mà việc dạy và học Tiếng Anh
    đƣợc chú trọng ở mọi cấp học. Ở bậc tiểu học, học sinh đƣợc hình thành và phát
    triển 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết Tiếng Anh, trong đó tập trung phát triển hai
    kỹ năng nghe và nói.
    Thực hiện tinh thần Nghị Quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung
    Ƣơng Đảng về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, Bộ Giáo dục và
    Đào tạo đã có định hƣớng chiến lƣợc cho việc tổ chức dạy học môn Tiếng Anh
    trong trƣờng tiểu học nhằm cung cấp kiến thức, hình thành và phát triển các kỹ
    năng cơ bản tạo tiền đề cho việc sử dụng thành thạo Tiếng Anh của học sinh.
    Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Tiếng Anh ở cấp tiểu học, ý
    thức đƣợc vai trò quan trọng của mình là ngƣời tạo nền tảng cho việc sử dụng
    một ngoại ngữ của học sinh, tôi luôn trăn trở, tìm tòi những phƣơng pháp hay
    giúp học sinh có thể học Tiếng Anh một cách hiệu quả nhất.
    Trong những năm gần đây, với định hƣớng mục tiêu dạy học lấy ngƣời
    học làm trung tâm, phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực ngƣời học, các
    phƣơng pháp mới , khoa học, tiến bộ đƣợc áp dụng vào giảng dạy . Các hoạt
    động ứng dụng, trải nghiệm sáng tạo đƣợc tổ chức ở các nhà trƣờng với tất cả
    các môn học, thực sự tạo ra một bƣớc đột phá lớn trong đổi mới phƣơng pháp
    dạy học.Với môn Tiếng Anh, các hoạt động ứng dụng, trải nghiệm sáng tạo đã
    giúp học sinh phát hiện, hình thành, củng cố kiến thức và kỹ năng giao tiếp một
    cách hiệu quả, giúp học sinh có môi trƣờng giao tiếp Tiếng Anh tích cực, mở
    rộng, thay đổi không gian giao tiếp khiến học sinh hứng thú với môn học, tích
    2
    cực tham gia các hoạt động, từ đó phát triển năng lực giao tiếp xã hội. Nhận
    thức đƣợc vai trò quan trọng của các hoạt động ứng dụng, trải nghiệm sáng tạo,
    tôi thƣờng xuyên nghiên cứu, tìm tòi và tổ chức các hoạt động này nhằm khích
    lệ, tạo hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em mạnh dạn, chủ động trong các
    hoạt động học tập, để từ đó các em có thể sử dụng Tiếng Anh trong giao tiếp
    hàng ngày. Tuy nhiên, tổ chức thành công các hoạt động ứng dụng, trải nghiệm
    sáng tạo và mang lại hiệu quả cao không hề đơn giản, nó đòi hỏi ngƣời dạy
    phải rất tâm huyết, kiên trì, phát huy tất cả những năng lực và sự sáng tạo của
    bản thân đồng thời cần có sự đồng hành, giúp đỡ của nhà trƣờng, đồng nghiệp,
    phụ huynh, học sinh và cả cộng đồng. Qua 3 năm kiên trì áp dụng các hoạt động
    ứng dụng, trải nghiệm sáng tạo vào giảng dạy, tôi nhận thấy học sinh đã có tiến
    bộ rõ rệt về kiến thức và kỹ năng giao tiếp Tiếng Anh. Điều này khiến tôi thêm
    tin tƣởng vào hƣớng đi đúng đắn của mình và tổng hợp, phát triển các giải pháp
    của mình thành báo cáo sáng kiến với mong muốn chia sẻ, nhân rộng các giải
    pháp của mình, góp phần nâng cao chất lƣợng dạy học môn Tiếng Anh. Trong
    báo cáo này tôi xin trình bày chi tiết “Một số biện pháp giúp học sinh tiểu học
    thực hành và nâng cao năng lực giao tiếp Tiếng Anh thông qua các hoạt
    động ứng dụng”.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến.
    Phân tích, đánh giá lại các hoạt động dạy học trên lớp mà tôi đã từng áp
    dụng trƣớc đây, tôi nhận thấy đƣợc những ƣu điểm và những hạn chế sau:
    1.1. Ưu điểm
    – Đảm bảo dạy đúng, đủ nội dung kiến thức trong giáo trình SGK.
    – Các phƣơng pháp mới đƣợc áp dụng, học sinh tiếp thu kiến thức tốt.
    – Học sinh đƣợc thực hành, rèn luyện các kỹ năng ngôn ngữ cơ bản.
    – Các hoạt động củng cố kiến thức và giao nhiệm vụ học tập về nhà đƣợc
    giáo viên thực hiện thƣờng xuyên sau mỗi tiết học.
    – Học sinh chăm chỉ học từ vựng và mẫu câu, tích cực làm các bài tập
    thực hành giáo viên giao sau mỗi bài học.
    3
    1.2. Hạn chế
    – Giáo viên chƣa chú trọng tới việc tổ chức đa dạng các hoạt động ứng
    dụng, các hoạt động chỉ dừng lại ở việc giao bài tập củng cố kiến thức cho học
    sinh làm việc cá nhân.
    – Hoạt động củng cố và thực hành vẫn còn theo lối tƣ duy truyền thống,
    Các hoạt động còn đơn điệu, chƣa phát huy đƣợc hiệu quả cao: Chƣa phát huy
    đƣợc tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh .
    + Các bài tập đƣợc giao cho học sinh về nhà làm giống nhau về nội dung
    và số lƣợng, chủ yếu là trong sách bài tập Tiếng Anh đi kèm bộ sách giáo khoa.
    + Các hoạt động ứng dụng tổ chức cho học sinh hầu hết là giao cho học
    sinh tự học thuộc từ vựng và mẫu câu theo cá nhân tại nhà, học sinh nhanh quên
    kiến thức.
    – Chƣa tạo đƣợc môi trƣờng giao tiếp Tiếng Anh tích cực. Kiến thức ngôn
    ngữ của học sinh chƣa đƣợc khắc sâu và các kỹ năng ngôn ngữ chƣa đƣợc ứng
    dụng nhiều trong giao tiếp xã hội.
    – Chƣa tạo cho học sinh cơ hội để học tập cùng đội, nhóm, học cùng cha
    mẹ, chƣa phát huy đƣợc tình đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ giữa các học
    sinh cũng nhƣ chƣa tạo đƣợc cộng đồng học tập.
    Dựa vào những phân tích trên, và đứng trƣớc thực trạng học sinh các khối
    lớp 3, 4,5 tại trƣờng Tiểu học Yên Tân có năng lực sử dụng Tiếng Anh còn thấp,
    học sinh vận dụng kiến thức đã học vào giao tiếp trong đời sống chƣa đạt hiệu
    quả cao, tôi đã áp dụng các giải pháp giúp học sinh thực hành và nâng cao năng
    lực Tiếng Anh.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    Bên cạnh việc phát huy những ƣu điểm của các hoạt động dạy học trƣớc
    đây, tôi đã tiến hành khắc phục những hạn chế bằng một số biện pháp sau:
    – Tìm hiểu, lựa chọn, xây dựng kế hoạch thực hiện các hoạt động ứng
    dụng phù hợp với học sinh tại đơn vị.
    4
    – Tổng hợp, phân loại các hoạt động ứng dụng sẽ áp dụng với học sinh tại
    các khối lớp theo nội dung kiến thức và theo năng lực học sinh.
    – Áp dụng linh hoạt các hình thức tổ chức hoạt động ứng dụng.
    – Tạo dựng xã hội học tập thông qua các hoạt động ứng dụng.
    2.1. Tìm hiểu, lựa chọn, xây dựng kế hoạch thực hiện các hoạt động
    ứng dụng phù hợp với học sinh tại đơn vị
    Hoạt động ứng dụng là hoạt động giáo dục trong đó dƣới sự hƣớng dẫn và
    tổ chức của giáo viên, từng cá nhân học sinh đƣợc trực tiếp sử dụng kiến thức đã
    học vào thực tiễn, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, phẩm chất, nhân cách,
    các năng lực và tích lũy kinh nghiệm riêng cũng nhƣ phát huy tiềm năng sáng
    tạo của cá nhân. Hoạt động ứng dụng trong môn tiếng Anh là sự vận dụng kiến
    thức ngôn ngữ đã học và áp dụng trong thực tế giao tiếp đời sống, giúp học sinh
    hình thành tƣ duy ngôn ngữ, củng cố kiến thức, kỹ năng một cách hiệu quả.
    Có rất nhiều hoạt động ứng dụng mà giáo viên có thể áp dụng. Tuy nhiên
    cần phải có sự tìm tòi, lựa chọn sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của
    đơn vị và phù hợp với đối tƣợng học sinh mình giảng dạy. Tôi hiểu rõ rằng để
    thực hiện tốt các hoạt động ứng dụng thì học sinh phải nắm chắc kiến thức . Vì
    thế tôi đã áp dụng các phƣơng pháp dạy học tích cực để trang bị tốt kiến thức và
    hình thành những kỹ năng ngôn ngữ cơ bản cho học sinh. Kế tiếp mới là các
    hoạt động ứng dụng. Đối với học sinh tiểu học, tôi vẫn phát huy ƣu điểm của các
    hoạt động mà trƣớc đây vẫn áp dụng nhƣ : Học sinh làm việc theo cặp, nhóm
    thực hành hỏi đáp các mẫu câu đã học, học sinh làm các bài tập ôn luyện, các trò
    chơi , bài hát, các hoạt động role-play, tell story,…Nhƣng tôi đã sáng tạo thêm
    một số hoạt động hấp dẫn khác tạo hứng thú hơn cho học sinh tham gia và thu
    đƣợc kết quả cao.
    Các hoạt động mới đƣợc tổ chức là: Khảo sát, điều tra ( survey), thuyết
    trình, phỏng vấn, làm video, dự án ( project), nhật ký,…Các hoạt động đƣợc lên
    kế hoạch chi tiết cho các tiết học, có hƣớng dẫn cụ thể, dễ hiểu để học sinh thực
    hiện đạt hiệu quả.
    5
    2.2. Tổng hợp, phân loại các hoạt động ứng dụng sẽ áp dụng với học
    sinh tại các khối lớp theo nội dung kiến thức và theo năng lực học sinh
    Ngay từ đầu năm học, tôi đã sử dụng một số kỹ thuật để nhận biết, phân
    loại học sinh thành các mức (level) để áp dụng các phƣơng pháp dạy học khác
    nhau , phù hợp với năng lực học sinh. Các hoạt động ứng dụng cũng đƣợc tôi
    phân loại và áp dụng ở các tiết học cho đa dạng, linh hoạt, khoa học. Tôi phân
    loại các hoạt động thành:
    – Các hoạt động ứng dụng theo nội dung bài học
    – Các hoạt động ứng dụng phát triển năng lực học sinh
    2.2.1. Các hoạt động ứng dụng theo nội dung bài học
    2.2.1.1. Các hoạt động ứng dụng theo chủ đề kiến thức trong SGK
    Khi tổng hợp, phân loại và lên kế hoạch tổ chức các hoạt động ứng dụng,
    tôi bám sát nội dung kiến thức trong chƣơng trình . Ngoài những hoạt động áp
    dụng ngay sau mỗi tiết học thì tôi chú trọng tổ chức các hoạt động trọng tâm
    theo chủ đề kiến thức của từng khối lớp.
    VD: – Khối lớp 3 học sinh đƣợc học các chủ đề: Me and my friends ( từ
    unit 1 tới unit 5), Me and my school ( từ unit 6 – unit 10), Me and my family ( từ
    unit 11-unit 15), Me and the world around ( từ unit 16- unit 20)
    Sau mỗi 5 unit thì có 1 hoạt động ứng dụng tổ chức dƣới dạng cuộc thi
    hùng biện, giúp học sinh tổng hợp kiến thức, thực hành kỹ năng viết, nói, thuyết
    trình. Trọng tâm của hoạt động này là hƣớng dẫn học sinh biết cách hệ thống
    kiến thức bằng sơ đồ tƣ duy ( mind map). Tất cả các bài thuyết trình của học
    sinh đều phải sử dụng mind map mình tự làm và diễn tả theo ý tƣởng mình thiết
    kế. Học sinh có thể lựa chọn trình bày kiến thức theo chủ đề hoặc có thể lựa
    chọn diễn đạt chi tiết một unit trong chủ đề. Điều này phát triển nhiều kỹ năng
    cho học sinh nhƣ quan sát, tổng hợp, viết, vẽ, tƣ duy logic, trình bày khoa học,
    đồng thời cũng khơi dậy khả năng sáng tạo của mỗi học sinh, tạo nên sự sinh
    động, hấp dẫn vào cuối cuộc thi khi các sản phẩm của học sinh đƣợc trƣng
    bày.Phƣơng pháp học theo mind map cũng giúp học sinh ghi nhớ nhanh và nhớ
    lâu hơn.
    6
    Một số mind map học sinh lớp 3 thực hiện hoạt động ứng dụng
    2.2.1.2. Các hoạt động ứng dụng theo chủ đề trải nghiệm
    Song song với các hoạt động ứng dụng, tôi thƣờng xuyên tạo cơ hội cho
    học sinh đƣợc tham gia các hoạt động trải nghiệm. Và theo kinh nghiệm của
    mình tôi nhận thấy ứng dụng và trải nghiệm có sự liên kết chặt chẽ, bổ trợ cho
    nhau cùng tạo ra sự tiến bộ cho học sinh. Các hoạt động trải nghiệm, hình thức
    tổ chức câu lạc bộ, cuộc thi rung chuông vàng phát huy tác dụng rất lớn trong
    việc thực hành, ứng dụng kiến thức và rèn kỹ năng giao tiếp cho học sinh. Tôi
    xây dựng kế hoạch khác nhau cho các hoạt động tổ chức tại trƣờng và các hoạt
    động trải nghiệm ngoài không gian lớp học, ngoài nhà trƣờng.
    Các hoạt động trải nghiệm đƣợc lên kế hoạch cụ thể, khoa học, bám sát
    chủ đề kiến thức theo chƣơng trình hoặc theo tháng, theo các ngày lễ nhƣ
    Christmas, New Year, Birthday Party, Teachers’ Day, Womens’ Day……Dựa
    theo chủ đề của các hoạt động trải nghiệm, giáo viên hƣớng dẫn học sinh ứng
    dụng các từ vựng và mẫu câu để làm thiệp chúc mừng, nói lời yêu thƣơng, bày
    tỏ tình cảm của mình tới thầy cô, bạn bè và ngƣời thân. Các hoạt động trải
    7
    nghiệm đƣợc yêu cầu sử dụng hoàn toàn Tiếng Anh. Vì thế, để các hoạt động
    thành công thì giáo viên phải cung cấp hệ thống kiến thức có liên quan tới chủ
    đề và có sự hình dung, dự đoán các tình huống sẽ xảy ra tại hoạt động để lên kế
    hoạch, xây dựng kịch bản chi tiết rồi giới thiệu trƣớc cho học sinh để tiến trình
    diễn ra nhịp nhàng, hiệu quả.
    Birthday party Women’s Day
    – Đối với các hoạt động trải nghiệm tổ chức ngoài không gian lớp học thì
    hoạt động ứng dụng phải gắn với mục tiêu đƣa kiến thức vào đời sống, để cho
    học sinh đƣợc hòa trong các tình huống giao tiếp thực tế. Đây là cơ hội tốt nhất
    để học sinh phát triển năng lực sử dụng Tiếng Anh. Hoạt động này đòi hỏi giáo
    viên phải thiết kế theo các bƣớc để tổ chức trải nghiệm cho học sinh, phải có sự
    phối kết hợp của Ban giám hiệu nhà trƣờng, các tổ chức Đoàn, Đội, đồng nghiệp
    và cả cha mẹ học sinh. Trong phạm vi báo cáo này tôi chỉ xin tập trung vào hoạt
    động ứng dụng khi học sinh đi trải nghiệm. Đối với môn Tiếng Anh, tôi xem
    chuyến đi trải nghiệm của học sinh giống nhƣ là cuộc đi “săn Tây”, yêu cầu tôi
    đặt ra cho học sinh là ngoài việc khám phá thiên nhiên, học hỏi điều mới lạ
    ngoài SGK, ngoài không gian lớp học thì các con phải tiếp cận, bắt chuyện với
    ngƣời nƣớc ngoài để thực hành Tiếng Anh. Chính vì thế các địa điểm trải
    nghiệm đều là các điểm tham quan, du lịch, bến xe, ga tàu, nơi có nhiều khách
    du lịch nƣớc ngoài. Và nội dung cần các con thực hành tôi cũng chuẩn bị rất chi
    tiết, hƣớng dẫn các con cụ thể trƣớc khi xuất phát. Nhiệm vụ đặt ra cũng cần phù
    hợp với đối tƣợng học sinh cụ thể để các con có thể hoàn thành.
    8
    VD: Năm học 2017-2018, tôi tổ chức cho học sinh sinh hoạt trong câu lạc
    bộ Tiếng Anh 5 của trƣờng đi trải nghiệm tại Ninh Bình, các địa điểm trải
    nghiệm là Tam Cốc- Bích Động và Ga Ninh Bình. Học sinh làm nhiệm vụ ”săn
    Tây” và hoàn thành phiếu học tập bằng cách giao tiếp, lấy thông tin, ghi chú
    nhanh vào phiếu và viết thu hoạch sau chuyến đi, báo cáo trƣớc lớp. Hoạt động
    này khiến học sinh phải huy động kiến thức đã học, thực hành kỹ năng giao tiếp,
    kỹ năng quan sát, lắng nghe, ghi chép, tổng hợp, viết báo cáo, thuyết trình,…Sau
    chuyến đi, học sinh rất thích thú, hào hứng học tập, kỹ năng giao tiếp tiến bộ rõ
    rệt.
    Dƣới đây là mẫu phiếu học tập trải nghiệm học sinh sử dụng trọng hoạt
    động ứng dụng. Trƣớc buổi trải nghiệm, giáo viên hƣớng dẫn kỹ các bƣớc thực
    hiện hoạt động và có dựng tình huống mẫu để học sinh luyện tập. Trong phiếu
    cũng in sẵn các mẫu câu hỏi gợi ý để học sinh tham khảo, sử dụng khi giao tiếp
    với ngƣời nƣớc ngoài:
    PHIẾU HỌC TẬP TRẢI NGHIỆM
    Student:…………………………………………………………………………………………………
    class:………………………………………………………………………………………………………

    NameAgeCountryhobbyabilityjob
    1
    2
    3
    4
    5

    Clue: Hello, excuse me, I’m a student. Could you talk to me some minutes?
    .What’s your name?, How old are you? Where are you from?, What’s your
    hobby? What can you do? What’s your job?/ What do you do?/ How long have
    you been Vietnam? Do you like Vietnam? Thanks so much. Goodbye
    9
    Trải nghiệm tại Ga Ninh Bình
    2.2.2.Các hoat động ứng dụng phát triển năng lực học sinh
    Mục tiêu cốt lõi của đổi mới giáo dục hiện nay là dạy học theo hƣớng phát
    triển năng lực ngƣời học. Trong các bài giảng của mình, tôi luôn bám sát vào
    việc thực hiện mục tiêu chiến lƣợc đó. Trƣớc khi thiết kế các hoạt động ứng
    dụng, tôi đã dành thời gian nghiên cứu để hiểu rõ thế nào là năng lực của học
    sinh và thế nào là dạy học phát triển năng lực học sinh.
    Theo bài viết trên trang web https://hoatieu.vn/nang-luc-va-nang-luc-tu-hoccua-hoc-sinh-la-gi-182723 : ” Từ điển tâm lý học đƣa ra khái niệm, năng lực là
    tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện
    bên trong tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định.
    Theo Cosmovici thì: “năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự
    khác biệt giữa ngƣời này với ngƣời khác ở khả năng đạt đƣợc những kiến thức
    và hành vi nhất định”. Còn A.N.Leonchiev cho rằng: “năng lực là đặc điểm cá
    nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định”.
    Nhà tâm lý học A.Rudich đƣa ra quan niệm về năng lực nhƣ sau: năng lực đó là
    tính chất tâm sinh lý của con ngƣời chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kỹ
    năng và kỹ xảo cũng nhƣ hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định. Năng lực
    của con ngƣời không chỉ là kết quả của sự phát triển và giáo dục mà còn là kết
    quả hoạt động của các đặc điểm bẩm sinh hay còn gọi là năng khiếu. Năng lực
    đó là năng khiếu đã đƣợc phát triển, có năng khiếu chƣa có nghĩa là nhất thiết sẽ
    biến thành năng lực. Muốn vậy phải có môi trƣờng xung quanh tƣơng ứng và
    phải có sự giáo dục có chủ đích.”
    10
    Nhƣ vậy, mỗi cá nhân học sinh có năng lực khác nhau và giáo viên cần
    phát hiện, hƣớng dẫn, giúp đỡ học sinh hình thành, phát triển năng lực của mình
    để có thể lĩnh hội và sử dụng kiến thức nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Ngay từ
    đầu năm học, tôi đã tiến hành phân loại, nhận diện học sinh, bƣớc đầu phát hiện
    khả năng vƣợt trội của một số em và những hạn chế về năng lực cần cải thiện
    cho các em. Những năng lực tôi đặc biệt quan tâm phát triển cho học sinh là khả
    năng tự học và năng lực hợp tác, làm việc theo đội, nhóm. Tôi đã tiến hành tổ
    chức rất nhiều hoạt động ứng dụng mới lạ, thu hút, lôi cuốn ngƣời học tham gia
    dƣới nhiều hình thức phong phú, cách thức tổ chức linh hoạt . Qua quá trìnhthực
    hiện, sau đó đánh giá, rút kinh nghiệm , tôi thấy tâm đắc với hai hoạt động ứng
    dụng nhất, đó là: Hoạt động ứng dụng liên hoàn và Diary ( Nhật ký).
    – Hoạt động ứng dụng liên hoàn mà tôi áp dụng là sự triển khai liền mạch
    các nhiệm vụ giao cho học sinh thực hiện sau khi học xong ngữ liệu mới. Hoạt
    động bao gồm các nhiệm vụ trên lớp, rồi về nhà, rồi lại tiếp tục tại lớp vào tiết
    học sau. Hoạt động này học sinh vừa làm việc cá nhân vừa phải làm việc với
    ngƣời khác, vừa phát huy năng lực tự học, vừa phải có sự hợp tác .
    VD: Một hoạt động ứng dụng tôi đã áp dụng với học sinh lớp 4
    Sau khi học sinh học xong mẫu câu nói về hình dáng của ngƣời trong bài
    Unit 14: What does he look like? – Tiếng Anh 4, tôi tổ chức hoạt động Guessing
    ( đoán) để học sinh đƣợc sử dụng từ vựng và mẫu câu đã học vào miêu tả các
    bạn trong lớp thông qua hình thức tự nhiên, hấp dẫn: Mỗi học sinh chọn một bạn
    trong lớp, suy nghĩ trong đầu về những đặc điểm của bạn đó và đố cả lớp tìm ra
    bạn đó. Các bạn khác đặt câu hỏi với các mẫu câu :
    Is he/she tall?, Is he/she shorter than me?,…
    Học sinh đƣa ra câu đố sẽ trả lời các câu hỏi để gợi ý cho các bạn mình đoán ra
    đáp án. Sau khi học sinh đã thực hành nhuần nhuyễn các mẫu câu đã học, tôi
    hƣớng dẫn học sinh thực hiện hoạt động ứng dụng ở nhà với yêu cầu: Miêu tả,
    so sánh hình dáng của những thành viên trong gia đình.Học sinh về nhà quan sát
    và đặt câu miêu tả, viết ra vở.
    VD: My father is tall and fat.
    11
    My grandfather is old.
    My father is taller than my mother.
    My brother is younger than my grandpa.

    Vào tiết học sau, tôi tổ chức hoạt động Survey( điều tra, khảo sát) tại phần
    warm-up ( khởi động) với nội dung sau: Học sinh đi vòng quanh lớp, sử dụng
    mẫu câu đã học để hỏi bạn mình về hình dáng của các thành viên trong gia đình
    bạn, ghi vào phiếu khảo sát.Phiếu khảo sát có thể thiết kế theo mẫu sau:

    Namegrandpagrandmafathermotherbrothersister
    Hoatall, oldfatter than
    mom
    young
    Phongfatshort
    Lanpretty

    Hết thời gian hỏi – đáp, tôi gọi 3 đến 5 học sinh báo cáo kết quả trƣớc lớp
    VD: Hoa’s father is tall.
    Hoa’s grandpa is old.
    Hoa’s grandma is older than her mother.

    – Hoạt động Diary ( nhật ký): Đây là hoạt động phát triển năng lực tự học,
    năng lực thẩm mỹ, sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề theo nhiều cách khác
    nhau một cách sáng tạo và triệt để. Hoạt động ứng dụng này đƣợc học sinh thực
    hiện xuyên suốt quá trình học tập, ở tất cả các tiết học. Giáo viên hƣớng dẫn học
    sinh ngay từ đầu năm học: Học sinh có 1 cuốn sổ riêng để làm sổ nhật ký, có thể
    mua mới hoặc tự làm, trang trí hình thức cho đẹp, sinh động, có thể theo phong
    cách ngộ nghĩnh, dễ thƣơng hoặc nghiêm nghị tùy theo sở thích và trí tƣởng
    tƣợng của học sinh. Trong mỗi trang nhật ký học sinh sẽ phải thể hiện những
    điều mình thu hoạch đƣợc sau mỗi tiết học, mỗi unit và mỗi chủ đề, chủ điểm,
    theo học kỳ, theo năm học. Nội dung bao gồm càng nhiều chi tiết các tốt, từ kiến
    12
    thức , từ vựng, mẫu câu, ngữ pháp, đến những đoạn văn, mẩu chuyện, những dự
    án, hoặc những ngôi sao phần thƣởng mà cô giáo trao tặng ( để khen ngợi học
    sinh tôi thƣờng thƣởng sao và yêu cầu học sinh ghi lại, thi đua với các bạn trong
    lớp, cuối năm học có trao quà cho những học sinh đạt nhiều sao nhất, nhì, ba của
    lớp). Hình thức trình bày trong mỗi trang nhật ký của học sinh cũng không bắt
    buộc theo một mô tuýp nào hết, để học sinh thỏa sức sáng tạo. Hoạt động này
    học sinh có thể làm vào thời gian rảnh ở lớp hoặc ở nhà nhƣng để đạt hiệu quả
    thì giáo viên phải thƣờng xuyên gần gũi hƣớng dẫn, định hƣớng cho học sinh
    đồng thời phải liên tục khích lệ, động viên, khen ngợi học sinh để các con hứng
    thú , nâng niu cuốn nhật ký của mình.
    VD: Một số trang nhật ký của học sinh
    Kinh nghiệm bản thân tôi rút ra khi tổ chức các hoạt động ứng dụng cho
    học sinh là giáo viên phải luôn sát sao, gần gũi, hỗ trợ học sinh kịp thời thì hoạt
    động mới thành công. Muốn học s

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số biện pháp giúp phát triển vốn từ vựng Tiếng Anh cho học sinh tiểu học

    SKKN Một số biện pháp giúp phát triển vốn từ vựng Tiếng Anh cho học sinh tiểu học

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Từ tháng 11 năm 2013 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị
    quyết số 29-NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp
    ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường
    định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Đổi mới phương pháp dạy
    học đang thực hiện bước chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ
    một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, tạo cơ sở để người học
    tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.
    Trong thời đại công nghiệp 4.0 hiện nay, để lĩnh hội được những tinh hoa
    văn hóa, khoa học kĩ thuật tiến bộ, hiện đại của các quốc gia phát triển thì ngoại
    ngữ, đặc biệt Tiếng Anh là một phương tiện hết sức cần thiết. Hiểu rõ được tầm
    quan trọng của giáo dục hiện đại là đào tạo ra những con người có thể bắt kịp
    với xu thế toàn cầu mà ngoại ngữ nói chung, Tiếng Anh nói riêng là công cụ đắc
    lực trong quá trình hội nhập, Bộ GD-ĐT đã, đang và không ngừng nâng cao chất
    lượng dạy và học ngoại ngữ thông qua việc đổi mới toàn diện ngay ở bậc tiểu
    học.
    Trong những năm qua, sở GD và ĐT Nam Định đã chỉ đạo các Phòng GD
    và ĐT, các trường tiểu học triển khai hiệu quả “Đề á n Dạy và học ngoại ngữ
    trong cá c cơ sở giá o dục phổ thông tỉnh Nam Đi ̣nh giai đoạn 2011-2020”, “Đề
    án Thí điểm tăng cường giảng dạy tiếng Anh với người nước ngoài trong các
    trường phổ thông tỉnh Nam Định giai đoạn 2015-2020”. Chất lượng dạy học
    tiếng Anh tại các nhà trường được nâng cao. Nhiều sân chơi Tiếng Anh cho học
    sinh tiểu học như: CLB tiếng Anh, Hội thi hùng biện tiếng Anh, Rung chuông
    vàng … đã tạo môi trường lành mạnh giúp học sinh phát triển khả năng giao
    tiếp, rèn luyện tính mạnh dạn, tự tin trong học tập, đồng thời giúp các em rèn
    luyện kĩ năng sống, phát triển toàn diện.
    Như vậy, mục tiêu chính của việc dạy và học ngoại ngữ chính là giúp
    người học có khả năng thiết lập và thành công trong giao tiếp. Và kiến thức
    từ vựng là cầu nối giữa các kĩ năng nghe, nói, đọc và viết. Khi trẻ em cải thiện
    4
    vốn từ vựng của mình, sự tự tin và năng lực trong học tập và xã hội của các em
    cũng được cải thiện. Đổi lại, nếu không có một vốn từ vựng cần thiết thì các em
    không thể sử dụng các cấu trúc câu và các chức năng ngôn ngữ trong giao tiếp.
    Với mong muốn khơi dậy được sự hứng thú, say mê học tập của học sinh;
    giúp học sinh ghi nhớ từ vựng một cách tự nhiên, tự tin hơn trong giao tiếp;
    đồng thời phát hiện, bồi dưỡng học sinh có năng lực để tham gia vào hội thi:
    “Hùng biện Tiếng Anh” cấp Thành phố và cấp Tỉnh, tôi đã nghiên cứu đề tài:
    “Một số biện pháp giúp phát triển vốn từ vựng Tiếng Anh
    cho học sinh tiểu học”
    5
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng
    tích cực đã phát huy tính chủ động, sáng tạo và tạo được hứng thú học tập cho
    học sinh. Tuy nhiên, do học sinh tiểu học đang hình thành và phát triển năng lực
    nhận thức trên cơ sở tư duy cụ thể nên việc dạy từ vựng cần bắt nguồn từ hệ
    thống chủ điểm, chủ đề thú vị, gần gũi với trải nghiệm của các em. Điều này đòi
    hỏi mỗi giáo viên phải vận dụng, linh hoạt, mềm dẻo các phương pháp và kỹ
    thuật dạy từ nhằm đáp ứng nhu cầu và điều kiện dạy học khác nhau ở các địa
    phương. Trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy còn một số vấn đề sau:
    1.1. Về phía giáo viên
    + Vì quỹ thời gian trên lớp có hạn, trình độ nhận thức của học sinh có nhiều
    mức độ khác nhau nên trong các giờ học chính khóa giáo viên Tiếng Anh
    thường chỉ đảm bảo được chương trình sách giáo khoa của BGD, các hoạt động
    học chưa được tổ chức linh hoạt, tạo được sự hấp dẫn với học sinh.
    + Đa số giáo viên đã biết vận dụng quy trình biên soạn để xây dựng hệ
    thống phiếu bài tập nhưng hiệu quả mang lại chưa cao.
    1.2. Về phía học sinh
    + Học sinh tiểu học rất hiếu động, các em rất thích tìm tòi, khám phá những
    điều mới lạ, nhất là những hình ảnh gây ấn tượng và cảm xúc mạnh nhưng các
    em lại dễ mất tập trung, mau quên, thích học nhưng nhanh chán.
    + Một số em còn nhút nhát, thiếu tự tin, ngại phát âm và thực hành giao
    tiếp. Thêm vào đó, cấu tạo âm tiết của ngoại ngữ có nhiều khác biệt, do đó khả
    năng ghi nhớ từ, cấu trúc câu … của các em còn hạn chế.
    1.3. Về chương trình và sách giáo khoa
    Chương trình và sách giáo khoa đang được thay đổi. Sách được trình bày
    khá đẹp và công phu. Nội dung phong phú. Tuy nhiên, việc đưa các bài tập dạng
    vận dụng vào chương trình còn hạn chế, chưa thật phù hợp với từng đối tượng
    học sinh.
    6
    Để khảo sát thực tế năng lực và mức độ hứng thú với môn Tiếng Anh của
    học sinh, tôi đã cho học sinh khối 5 do tôi giảng dạy hoàn thành “Phiếu khảo
    sát” sau:
    Lưu ý: Từ câu hỏi số 2, học sinh có thể chọn nhiều đáp án.
    7
     Phân tích kết quả khảo sát:
    Tổng số bài: 138
     Bảng 1. Ý kiến của học sinh về thích hay không thích học Tiếng Anh

    Em có thích học tiếng Anh không?Số lượngTỷ lệ %
    Thích7655
    Không thích2518
    Lúc thích lúc không3223,4
    Không ý kiến53,6

    Kết quả bảng 1 cho thấy 55% số học sinh thích học Tiếng Anh, 18% không
    thích học và 23,4% còn lưỡng lự. Lý do cụ thể được trình bày ở bảng 3 và bảng
    4 dưới đây.
     Bảng 2. Lý do học sinh thích học Tiếng Anh

    Vì sao em thích học Tiếng Anh?Số lượngTỷ lệ %
    Bổ ích, vui nhộn và thú vị10375
    Giáo viên giảng bài thu hút và có nhiều trò chơi hay9267
    Được hát, kể chuyện và vui chơi bằng Tiếng Anh7454
    Có thể giao tiếp những câu ngắn bằng Tiếng Anh6748,7

    Kết quả bảng 2 cho thấy những bài học vui nhộn, thú vị và dễ hiểu gắn liền
    với cuộc sống luôn cuốn hút học sinh. Tuy nhiên chỉ 48,7% học sinh tự tin
    khẳng định có thể giao tiếp những câu ngắn bằng tiếng Anh. Điều đó cho thấy
    kỹ năng nghe – nói của học sinh cần hạn chế, vì vậy giáo viên cần chú ý sử dụng
    các hình thức học tập vận động và vui chơi nhẹ nhàng để tạo môi trường giao
    tiếp hiệu quả cho học sinh.
     Bảng 3. Lý do học sinh không thích học Tiếng Anh

    Vì sao em không thích học Tiếng Anh?Số lượngTỷ lệ %
    Em không hiểu bài và bài khó học117,9
    Giáo viên không vui vẻ, chỉ cho em chép bài42,8
    Bài học dài và khó nghe12389,3

    8
    Kết quả bảng 3 cho thấy, đa số học sinh sợ học những bài học dài và khó
    nghe. Bởi vậy, các bài học cần được biên soạn phù hợp với khả năng của học
    sinh và người giáo viên cần chủ động biến hóa bài học thành các hoạt động gần
    gũi, dễ hiểu với học sinh.
     Bảng 4. Phương tiện dạy học mà học sinh hứng thú

    Em thích phương tiện dạy học nào mà giáo viên
    sử dụng?
    Số lượngTỷ lệ %
    Tranh ảnh4232
    Vật thật5842
    Giáo án điện tử, video9367.5
    Đồ dùng tự làm7051

    Kết quả của bảng 5 cho thấy, học sinh hứng thú với với những thiết bị
    hiện đại có những hiệu ứng ánh sáng, màu sắc và âm thanh …
     Bảng 5. Học sinh tự đánh giá các kỹ năng học Tiếng Anh của bản
    thân

    Em tự đánh giá về kỹ năng học Tiếng Anh của
    bản thân
    Số lượngTỷ lệ %
    Nghe được một số câu đơn giản8763,1
    Nói được một số câu đơn giản8461
    Viết được một số câu đơn giản9669,4
    Tự làm được bài tập về nhà9065
    Không khể nghe, nói hoặc viết bằng Tiếng Anh32,1

    Kết quả bảng 5 cho thấy tỉ lệ trên 50% học sinh có khả năng tự làm bài
    tập về nhà. Tuy nhiên tỷ lệ học sinh có thể nghe và nói những câu đơn giản còn
    thấp. Điều này cho thấy học sinh còn thiếu môi trường giao tiếp. Vì vậy, giáo
    viên cần tạo môi trường học tập tích cực để hứng thú với môn học.học sinh có
    thể giao tiếp tự nhiên và thêm hứng thú với môn học.
    9
    2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến
    Từ thực trạng trên, để giúp học sinh ghi nhớ từ vựng một cách tự nhiên, tự tin
    hơn trong giao tiếp bằng tiếng Anh, tôi đã thực hiện một số giải pháp sau:
    Giải pháp 1: Vận dụng đa dạng các kỹ thuật dạy từ vựng.
    Giải pháp 2: Xây dựng hệ thống bài tập phát triển từ vựng.
    Giải pháp 3: Kết hợp hiệu quả với giáo viên bản xứ trong các tiết học
    Tiếng Anh có yếu tố nước ngoài.
    Giải pháp 4: Phát huy hiệu quả hoạt động của Câu lạc bộ Tiếng Anh.
    Các giải pháp được thực hiện cụ thể như sau:
    2.1.Giải pháp 1: Vận dụng đa dạng các kỹ thuật dạy từ vựng.
    2.1.1. Xác định nguồn từ vựng học sinh được cung cấp trong lớp học.
    Lựa chọn nguồn từ vựng, chủ đề từ vựng căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng
    của môn học và khả năng nhận thức, tiếp thu của học sinh.
     Word lists (Mục từ vựng cần đạt theo từng giáo trình được khuyến nghị)
     Cousrebooks (Giáo trình học tập thông qua các bài khóa, các dạng bài
    tập phát triển từ vựng)
     Vocabulary books (Các sách từ vựng được biên soạn theo chủ đề)
     Teacher ( Từ giáo viên)
     Other students (Từ các bạn học trong lớp thông qua giao tiếp và trao đổi
    ngôn ngữ)
    2.1.2. Giới thiệu ngữ liệu mới.
    Giới thiệu ngữ liệu mới là làm rõ nghĩa, cách phát âm, cấu trúc hình thái,
    và cách dùng của một mục dạy nào đó trong một ngữ cảnh nhất định. Mục dạy
    có thể là các mẫu lời nói, từ vựng hay chủ điểm nào đó, thường được giới thiệu
    thông qua một bài hội, một bài khoá, hoặc những tình huống có sự hỗ trợ của
    giáo cụ trực quan.
    Với phương pháp dạy học mới, công việc giới thiệu ngữ liệu không còn
    thuần tuý chỉ là việc giải thích nghĩa của từ mới và giải thích các mẫu câu mà
    người giáo viên còn cần phải làm rõ cách sử dụng của các mẫu câu hoặc từ mới
    10
    đó trong ngữ cảnh. Chỉ khi được giới thiệu trong ngữ cảnh, nghĩa và cách sử
    dụng của các ngữ liệu cần dạy mới được làm sáng tỏ.
    Như vậy, nội dung cần giới thiệu ở bước giới thiệu ngữ liệu là:
     Hình thái (Form: pronunciation; spelling; grammar)
     Ngữ nghĩa (Meaning)
     Cách sử dụng (Use)
    Một đặc điểm nổi bật của phương pháp mới trong việc giới thiệu ngữ liệu là
    phương pháp mới rất chú trọng tới việc phải làm sao cho học sinh tiếp thụ bài học
    không chỉ qua nghe thụ động mà còn được vận động trí óc, chủ động tham gia vào
    quá trình của họat động này qua nhiều hoạt động ngôn ngữ khác nhau.
     Tóm tắt các bước giới thiệu ngữ liệu mới
    Các bước giới thiệu ngữ liệu mới có thể được tóm tắt theo một tiến trình
    như sau:
     Bước 1. Giới thiệu ngữ nghĩa và cách sử dụng của ngữ liệu: cấu trúc ngữ
    pháp/ từ mới/ mẫu câu chức năng qua tình huống, ngữ cảnh, mẫu hội
    thoại, tranh ảnh…
     Bước 2. Nêu bật cấu trúc/ từ/ mẫu câu chức năng mới bằng cách đọc to
    cho học sinh nghe nhắc lại hoặc bằng các thủ thuật khác nhằm hướng sự
    chú ý của học sinh vào những mục dạy đó.
     Bước 3. Viết các cấu trúc/ từ mới lên bảng, làm rõ hình thái cấu trúc, giải
    thích nếu cần.
     Bước 4. Làm rõ thêm nghĩa và cách sử dụng bằng cách tiếp tục đưa thêm
    các tình huống hoặc các ví dụ khác.
     Bước 5. Lặp lại tương tự bước 2 hoặc cho học sinh tái tạo theo gợi ý.
     Bước 6. Kiểm tra mức độ hiểu bài của học sinh sử dụng các thủ thuật
    kiểm tra hiểu như gợí ý ở mục 2.1.3.
    Khi giáo viên nhận thấy học sinh đã làm tốt được bước 6 thì có thể chuyển
    sang phần luyện tập sáng tạo hơn với các loại bài tập mang tính giao tiếp hơn.
    11
    Có nhiều cách giới thiệu ngữ liệu. Sau đây là một số thủ thuật giới thiệu
    ngữ liệu mà các giáo viên có thể tham khảo để ứng dụng cho bài dạy cụ thể của
    mình.
     Các thủ thuật tạo dựng tình huống.
     Sử dụng tranh, ảnh, giáo cụ trực quan.
     Sử dụng ngôn ngữ học sinh đã biết.
     Sử dụng các bài hội thoại ngắn.
     Sử dụng các bảng biểu, bản đồ, bảng tin, báo chí, video.
     Sử dụng những tình huống thật trong lớp.
     Dùng môi trường, đồ vật thật trong lớp, trong trường.
     Dùng các câu chuyện có thật, các hiện tượng thật trong thực tế.
     Sử dụng tiếng mẹ đẻ.
     Phối hợp hai hay nhiều cách trên.
     Các thủ thuật làm rõ nghĩa từ vựng.
    Ngoài những thủ thuật giới thiệu nghĩa trong ngữ cảnh đã đề cập ở phần
    giới thiệu ngữ liệu chung, có thể sử dụng một số thủ thuật đặc thù như:
     Dùng trực quan như: đồ vật thật trên lớp, tranh ảnh, hình vẽ phác hoạ,
    hình cắt dán từ tạp chí, cử chỉ điệu bộ…
    Ví dụ: Khi dạy các từ chỉ đồ dùng học tập, giáo viên có thể chỉ vào những
    đồ vật này. Để dạy từ “chicken” giáo viên treo bức tranh con gà lên bảng
    và đặt câu hỏi “what’s this? Hoặc khi dạy các tính từ chỉ cảm xúc như
    “vui, buồn, tức giận….” hay khi dạy về các từ chỉ hoạt động như “hát,
    nhảy máu, chạy….” thì dùng cử chỉ, nét mặt, điệu bộ.
     Dùng ngôn ngữ đã học để định nghĩa, miêu tả:
    Ví dụ: Dạy từ “fish”
    + Giáo viên: It has no legs. It has no ears. It lives in water. What’s is it?
    + Học sinh: Is it a snake?
    + Giáo viên: Yes!
     Dùng từ đồng nghĩa, trái nghĩa
    12
    a. Từ đồng nghĩa (synonyms)

    Ví dụ:thin – slim
    eraser – rubber
    finish – end
    film – movie
    big – large
    pretty – beautiful
    b. Từ trái nghĩa (antonyms)
    Ví dụ:young – old
    noisy – quiet
    new – old
    thick – thin
    tall – short;
    long – short
     Dựa vào các quy tắc hình thành từ, tạo từ: Học sinh có thể đoán được
    nghĩa của từ nhờ từ gốc. Với quy tắc này giáo viên không những giúp học
    sinh nắm kiến thức mà còn mở rộng vốn từ cho học sinh.
    Ví dụ 1:teach – teacher
    sea – seafood
    work – worker
    happy – unhappy
    write – writer
    like – dislike

    Ví dụ 2:
     Tạo tình huống: Giáo viên thiết lập tình huống thật đơn giản, dễ hiểu bằng
    Tiếng Anh, học sinh đoán nghĩa qua tình huống, có thể bắt chước và sử
    dụng từ vào ngữ cảnh giao tiếp và rèn kĩ năng nghe.
    Ví dụ: My brother often gets up late at 8 A.M. I say to him, “Get up early!
    Don’t get up late!”
     Đoán nghĩa của từ trong ngữ cảnh: Giáo viên đưa ra ví dụ có chứa từ cần
    dạy, yêu cầu học sinh dựa vào ngữ cảnh để tìm ra nghĩa và cách sử dụng.
    Ví dụ: This T.shirt is cheap. It is 100 000 VND.
    That T.shirt is expensive. It is 500 000 VND.
    13
     Dịch sang tiếng mẹ đẻ: Đây là giải pháp cuối cùng giáo viên cần dùng khi
    những biện pháp kia không mang lại hiệu quả.
     Bên cạnh đó, giáo viên cũng có thể sưu tầm các bộ phim hoạt hình ngắn,
    các bài hát Tiếng Anh đơn giản; sưu tầm và và tự biên soạn các bộ game
    học tập khác nhau thiết kế trên nền tảng powerpoint để phục vụ cho việc
    dạy và học.
     Một số ứng dụng game powerpoint dành cho học sinh tiểu học:
     Một số bài hát, phim hoạt hình có phụ đề bằng Tiếng Anh và đường link
    tham khảo:
    + https://www.thesingingwalrus.tv/
    + http://goo.gl/Hs3M6P
    + http://bit.ly/yUEnUA
    + http://www.youtube.com/Pinkfong
    + http://bit.ly/WizzLearn
    14
    2.1.3. Kiểm tra mức độ tiếp thu của học sinh.
    Sau khi giáo viên đã giới thiệu làm rõ nghĩa và cách sử dụng của ngữ liệu
    mới, cần thực hiện việc kiểm tra mức độ tiếp thu bài của học sinh để qua đó
    biết được học sinh đã thực sự hiểu bài chưa, mức độ hiểu đến đâu, để trên cơ sở
    đó có thể kịp thời bổ sung bài giảng nếu cần.
    Việc kiểm tra mức độ hiểu bài của học sinh ở phần giới thiệu ngữ liệu này
    có thể được thực hiện thông qua một số bài tập thực hành như:
     Học sinh ứng dụng mẫu câu vừa học vào các tình huống tương tự khác
    giáo viên đưa ra.
     Thực hiện một số bài tập lắp ghép.
     Xây dựng các bài hội thoại ngắn theo mẫu bằng cách lắp ghép những từ,
    đoạn câu gợi ý; thực hiện các bài tập hỏi /trả lời theo dạng câu hỏi đóng
    hoặc các câu hỏi trắc nghiệm đúng sai (comprehensive questions,
    True/False questions).
    2.1.4. Hướng dẫn học sinh tự thực hành luyện tập từ vựng tại nhà.
     Sau mỗi bài học, giáo viên yêu cầu học sinh về nhà ôn luyện từ mới. Số
    lượng từ và độ khó của từ có thể tăng dần. Qua hoạt động này học sinh
    tiểu học có thể rèn cả kỹ năng nói và viết. Giáo viên sẽ kiểm tra lại từ vào
    tiết học sau để đánh giá hiệu quả luyện tập ở nhà của học sinh.
     Học sinh nên học thường xuyên, mỗi ngày nên học một vài từ tùy theo
    khả năng ghi nhớ của mình. Mỗi học sinh nên trang bị cho mình một sổ
    tay nhỏ để có thể thường xuyên luyện viết từ kết hợp với đọc từ để có thể
    ghi nhớ từ lâu hơn.
     Học sinh cũng có thể tự học từ thông qua các bài hát, bài thơ ngắn.
     Giáo viên hướng dẫn học sinh tự làm các thẻ từ bằng giấy bìa, một mặt
    ghi từ mặt còn lại có thể ghi nghĩa hoặc tranh minh họa… để thường
    xuyên tự học và tự ôn luyện từ vựng khi ở nhà và cả những lúc vui chơi
    với bạn bè. Thực tế cho thấy, chỉ có trải nghiệm và thưc hành mới tạo nên ̣

    ̣ hoàn hảo, đúng như câu ngạn ngữ Anh “Practice makes perfect.”
    15
    Kết luận: Để tạo hứng thú học tập cho học sinh và mang lại hiệu quả
    cao nhất thì giáo viên cần chủ động tìm hiểu, lựa chọn, thiết kế các hoạt động
    dạy phù hợp với nội dung bài học và đối tượng học sinh. Sự thân thiện, cởi
    mở và tính hài hước của người giáo viên cũng là yếu tố quan trọng tạo không
    khí lớp học sôi nổi, sinh động, giúp học sinh tiếp thu, khắc sâu và vận dụng
    kiến thức ngôn ngữ tốt hơn. Hay nói cách khác, trong dạy học người giáo
    viên cần đảm bảo quy tắc 4L: Learn – Live – Love – Laugh (Học – Sống –
    Yêu – Cười).
    2.2. Giải pháp 2: Xây dựng các Bài tập phát triển từ vựng cho học sinh
    tiểu học.
    2.2.1. Các bài tập TÌNH HUỐNG.
    Các loại hình bài tập này dùng để phát triển kĩ năng NGHE – NÓI; có thể
    là một tình huống bằng tranh thuộc chủ đề của bài dạy; đưa những từ mục tiêu
    (là từ mới sẽ dạy trong bài) vào trong tình huống đó.
    Ví dụ 1: Như trong hình 1 là bối cảnh vườn thú có rất nhiều loại động
    vật như lion, zebra, giraffe, kangaroo … để dạy về chủ đề Zoo animals.
    HÌNH 1
     Mục đích:
     Giúp học sinh nhận diện và gọi tên được các đối tượng xuất hiện trong
    tranh. Bao gồm âm đúng (correct sound) và trọng âm đúng của từ
    (correct stress).
     Phát âm đúng được tên các đối tượng.
    16
     Quy trình chung
    Nêu nhiệm vụ: Học sinh nghe băng hoặc giáo viên đọc một từ. Nhiệm vụ của
    học sinh là lựa chọn và đưa ra được bức tranh đúng tương ứng trong sách.
    Sau khi thông báo, tiến hành các bước như sau:
     Identify (Nhận diện tranh)
    Học sinh có 1-2 phút quan sát tranh để cho từng cá nhân học sinh có thời
    gian nhận diện trong tranh có gì.
     Teach vocabulary (Dạy từ)
    Khi dạy một từ mới, giáo viên không nên nói Tiếng Anh rồi dịch sang Tiếng
    Việt hoặc ngược lại mà nên tiết hành theo 4 bước:

    IdentifyListenPointRepeat

    Quy trình dạy từ một cách đầy đủ không phải chỉ dạy học sinh nhận biết từ
    mà còn phải đảm bảo các tiêu chí sau:
     Đọc đúng các âm
     Hiểu nghĩa của từ trong văn cảnh (contextual meaning)
     Nắm được khả năng kết hợp của từ (collocations).
     Sử dụng được các từ trong các tình huống khác nhau.
    Khi dạy một từ mới, chuẩn bị cho bước giới thiệu ngữ liệu như bài minh họa ở
    hình 1, giáo viên cần tiến hành dạy như sau:
    + Giơ từng flashcard, giáo viên đọc to từ tương ứng (Ví dụ: giáo viên giơ
    thẻ lion đọc tương ứng /’lai ən/.)
    + Học sinh nhìn flashcard trong tay giáo viên, đọc theo, tìm và đánh dấu
    vào con vật tương ứng trong tranh.
    + Giáo viên đi quanh lớp quan sát, giúp đỡ học sinh chọn tranh đúng.
    + Làm tương tự với tất cả những con vật trong tranh và lặp lại mỗi từ ít
    nhất ba lần cho học sinh ghi nhớ.
    17
    + Để tạo hứng thú cho học sinh, giáo viên có thể gắn tên các con vật với các
    tiếng kêu hoặc hành động tương ứng. Ví dụ:
    – Giơ flashcard “cat” đọc to CAT, bắt chước tiếng mèo kêu meow! meow!
    – Giơ flashcard “cow” đọc to COW, bắt chước tiếng bò kêu moo! moo!
    – Giơ flashcard “duck” đọc to DUCK và bắt chước động tác dang hai tay
    vỗ vỗ và kêu quack! quack!
    Ví dụ 2: Giáo viên tự nghĩ ra một câu chuyện đơn giản bằng Tiếng Việt để
    tạo hứng thú cho học sinh. Câu chuyện cần ngắn gọn, cố gắng bao hàm toàn bộ
    các từ trong tranh; như vậy là đã gắn các từ vào tình huống.
    + Chuẩn bị: flashcard các loài động vật ở trang trại, mỗi học sinh chuẩn bị
    giấy trắng, bút chì để vẽ phác thảo.
     Kể chuyện lần 1:
    “Sáng thứ bảy, Mai cùng các bạn trong lớp được đi trải nghiệm ở một
    trang trại nằm ven thành phố. Mai nhìn thấy một con COW (giơ flashcard COW
    đọc 2,3, lần) đang ăn cỏ. Nó kêu “Moo…! moo…!”. Đằng sau nó là một khóm
    FLOWER (giơ flashcard FLOWER đọc 2,3 lần), phía sau là một chú GOAT
    (giơ flashcard GOAT đọc 2,3, lần). Mai tới gần, nó nhả đám cỏ đang ăn ra
    chào “Baa! Baa!… Mai xoa đầu nó nói “Hi! Goat”. Đúng lúc đó có một cô
    BUTTERFLY bay đến (giơ flashcard BUTTERFLY đọc 2,3, lần) đậu trên đầu
    (làm động tác vẫy cánh bay). Mai reo lên “BUTTERFLY ! Hi! Butterfly” …
     Kể chuyện lần 2:
    Yêu cầu học sinh đặt tờ giấy trắng lên bàn. Thông báo nhiệm vụ của học sinh
    là nghe giáo viên kể lại câu chuyện. Khi nghe thấy tên con vật nào, học sinh đọc
    to và vẽ vào tờ giấy (vẽ phác thảo). Hoạt động này giúp học sinh tạo được mối
    liên kết bền vững giữa âm thanh và hình ảnh.
    Ngoài ra, giáo viên có thể kể lại câu chuyện, đến chỗ xuất hiện con vật nào sẽ
    giơ flashcard chỉ con vật đó, dừng lại một khoảng thời gian ngắn đủ để học sinh
    gọi to được tên con vật đó.
    18
    Ví dụ 3: Luyện tập phát âm và củng cố từ vựng.
    + Chuẩn bị: flashcards
    + Tiến hành: Một học sinh lên bảng, quay mặt vào bảng và nhắm mắt lại.
    Giáo viên đặt thẻ từ vào một chỗ dễ tìm trong lớp học rồi đọc to: “Find me….!”
    Học sinh quay lại và chạy đi tìm thẻ từ. Cả lớp cùng đồng thanh nhắc lại từ
    nhiều lần đến khi bạn tìm được thẻ từ đó. Âm lượng to nhỏ phụ thuộc vào
    khoảng cách của bạn đi tìm với tấm thẻ từ. (Bạn đi tìm càng tiến đến gần thẻ từ,
    cả lớp càng đọc to và ngược lại.) Khi tìm được học sinh cần thực hiện hô to tên
    con vật/ đồ vật… đó đồng thời phải miêu tả bằng hành động, cử chỉ hoặc âm
    thanh tương ứng với con vật/ đồ vật… được giáo viên nhắc đến.
    Ví dụ 4:
    + Chuẩn bị: các phù hiệu bằng giấy (cắt vẽ hình con vật/ đồ vật… là các từ
    mới học trong bài). Phân vai cho học sinh, đóng vai nào thì sẽ đeo phù hiệu hoặc
    dán biểu tượng tương ứng lên ngực trái.
    + Tiến hành: Gọi một nhóm học sinh lên bảng, số lượng học sinh trong
    nhóm tương ứng với số từ được học. Học sinh đứng thành một hàng, giáo viên
    đọc tên con vật/ đồ vật… nào thì học sinh mang phù hiệu tương ứng sẽ nhảy ra
    khỏi hàng làm điệu bộ, tiếng kêu… của đồ vật/ con vật… đó (ưu tiên học sinh sử
    dụng body languages với các đồ vật/ con vật… không có âm thanh hiển thị). Ví
    dụ: với từ kite học sinh có thể dùng hai tay làm động tác đang thả diều…
    Như vậy, để mở rộng vốn từ vựng và phát triển kỹ năng NGHE – NÓI
    cho học sinh, giáo viên cần tổ chức cho học sinh tham gia vào các hoạt động
    phù hợp; sử dụng thường xuyên những câu nói tiếng Anh đơn giản kết hợp
    với điê ̣u bộ cử chỉ để làm cho không khí lớp học sôi nổi, hào hứng hơn; chú
    trọng viê ̣c rèn phá t âm học sinh. Ngoài ra, giáo viên có thể áp dụng phương
    phá p đọc tá ch ghép âm, giúp học sinh phá t âm từ được chính xá c và dễ dàng
    hơn, đặc biê ̣t là cá c âm cuố i.
    19
    2.2.2. Hệ thống PHIẾU BÀI TẬP theo từng chủ điểm.
    Hệ thống phiếu bài tập này nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển kĩ
    năng ĐỌC- VIẾT. Các phiếu bài tập được xây dựng theo hướng phát triển
    năng lực và phù hợp với khả năng nhận thức của từng đối tượng học sinh. Nội
    dung các bài tập đa dạng và phong phú. Các chủ điểm quen thuộc, gần gũi,
    gắn với thực tiễn cuộc sống.
     Với đối tượng học sinh trung bình và dưới trung bình: Ôn lại cho học
    sinh kiến thức kiến thức cơ bản, trọng tâm để các em nắm vững trước khi
    làm bài tập. Số lương từ v ̣ ưng ít hơn, mức đ ̣ ô ̣ thưc hành, vận dụng và kiểm ̣
    tra cũng giảm đô ̣ khó. Các từ vựng được sử dụng lặp lại nhiều lần và nâng
    dần mức độ của bài tập sau khi các em đã nhớ được các từ đó. Sơ đồ tư duy
    (mindmap) là công cụ hiệu quả giúp thực hành ôn tập và mở rộng từ vựng.
     Với đối tượng học sinh khá, giỏi: Ngoài việc củng cố kiến thức cơ bản,
    giáo viên cần mở rộng vốn từ vựng bám sát vào nội dung của từng đơn vị
    bài học. Có thể hướng dẫn, khuyến khích các em viết các đoạn văn ngắn
    theo các chủ điểm đơn giản, quen thuộc, gần gũi. Việc viết lúc đầu sẽ khiến
    học sinh gặp khó khăn đôi chút vì vốn từ không nhiều, nhưng càng về sau
    các bạn sẽ càng tiến bộ vì quá trình viết cũng là sự ghi nhớ từ mới.
    Để củng cố và mở rộng vốn từ vựng cho học sinh. Giáo viên có thể đưa
    thêm các phiếu học tập như sau:
    20
    Ví dụ 1: Phiếu bài tập Tiếng Anh 3
     Dành cho học sinh trung bình và dưới trung bình.

    WORKSHEET TOPIC: THE WEATHER
    I. Look and read aloud.
    II. Match the words to the pictures.

    21

    III. Look and write.
    1. oht => ……….hot………… 5. ofgyg => ………………….
    2. unsny => ………………….. 6. nsonyw => ………………..
    3. colduy => ………………… 7. nrayi => ………………….
    4. wniyd => ………………… 8. oldc => ………………….
    IV. Look and complete.
    1. It is …………………………… in Ha Noi today.
    2. It is …………………………… in Sa Pa today.
    3. It is …………………………… in Ho Chi Minh City today.
    4. It is ………………..and ………………. in Nam Dinh today.
    5. It is ………………..and ………………. in Da Nang today.
    THE END

    22
     Dành cho học sinh khá, giỏi.

    WORKSHEET TOPIC: THE WEATHER
    I. Match a word to a picture.

    23

    III. Look and write.
    1. ……….hot………… …………………….
    2. ……………………. …………………….
    3. ……………………. …………………….
    4. ……………………. …………………….
    5. ……………………. …………………….
    IV. Look and complete.
    1. It is ………………. and ……………….. in Ha Noi today.
    2. It is ……………….. and ……………….. in Sa Pa today.
    3. It is ………….. and ……………….. in Ho Chi Minh City today.
    4. It is ………………. and ……………… in Hue today.
    5. It is ………………. and ……………….. in Nam Dinh today.
    THE END

    24
    Ví dụ 2: Phiếu Bài tập Tiếng Anh 4
     Dành cho học sinh trung bình và dưới trung bình.

    WORKSHEET TOPIC: CLOTHES
    I. Look and read aloud.
    II. Look and match.

    25

    III. Do the crossword puzzle.
    IV. Read and complete.
    Nam wears different clothes for schooldays. On hot days, he often wears a blue
    ……………………., a red scarf, a white ……………………., a pair of blue
    ……………………. and a pair of …………………….. On cold days, he
    wears a cap, a scarf and a yellow …………………….. over a brown …………………..
    and a pair of black ……………….. Nam likes hot days because
    he can wear light clothes to……………….
    THE END

    26
     Dành cho học sinh khá, giỏi.

    WORKSHEET TOPIC: CLOTHES
    I. Look and read aloud.
    II. Circle then write.
    III. Read and complete.
    Nam wears different …………….. for schooldays. On hot days, he often
    wears a blue ……………………., a red ……………., a white ………………..,
    a pair of blue ……………………. and a pair of ……………………..

    27

    On cold days, he wears a cap, a scarf and a yellow …………………….. over a
    brown ………………….. and a pair of black ……………….. Nam likes
    hot days because he can wear light clothes to ……………….
    IV. What’s he/ she wearing?
    THE END

    28
    Ví dụ 3: Phiếu Bài tập Tiếng Anh 5
     Dành cho học sinh trung bình và dưới trung bình.

    WORKSHEET TOPIC: ZOO ANIMALS
    I. Look and read.
    II. Do the crossword puzzle.

    29

    III. Look at the pictures. Read and write one word for each gap.
    1. A _______________ danced beautifully.
    2. A ______________ ate a bamboo tree.
    3. Two ________________ roared loudly.
    4. I took photos of some __________ for my Science project.
    5. I like __________ very much.
    IV. Order the words.
    1. you / what / animal / want / to / do / see
    ___________________________________________?
    2. to / he / tigers / see / wants / bears / and
    ___________________________________________.
    3. like / fruit / eating / monkeys
    ___________________________________________.
    4. they / because / she / zebras / likes / beautiful / are
    ___________________________________________.
    5. animal / what’s / favourite / your
    ___________________________________________?
    THE END

    30
     Dành cho học sinh khá, giỏi.

    WORKSHEET TOPIC: ZOO ANIMALS
    I. Look and read.
    II. Read and write ONE word in each blank.
    A: I didn’t see you yesterday. Where did you (1) ………………………?
    B: I went to the (2) ……………………… .
    A: What did you see there?
    B: I saw some (3) ………………………. I enjoyed looking at the baby elephant.
    A: What was it (4) ………………………?
    B: It was very (5) ……………………… .
    A: What did it do when you were there?
    B: It moved (6) ………………………and quietly.
    III. Look at the pictures. Read and write one word for each gap.
    1. A _______________ danced beautifully.

    31

    2. A ______________ ate a bamboo tree.
    3. Two ________________ roared loudly.
    4. I took photos of some __________ for my Science project.
    5. I like __________ ve ry much.
    IV. Look and write the correct words.
    1. They have two long and two short legs. _________2. It lives in the Polar regions. _________3. It has a long trunk and two tusks. _________4. This bird have long and colourful tails. _________V. Write about a visit to the zoo. Use the questions.
    1.. When did you go to the zoo?/ Who did you go with?2. What animals did you see first,…, finally?3. What did they do when you were there?4. Did you enjoy the school visit to the zoo? Why? I went to the zoo with my classmates last Sunday. We …………………..
    ………………………………………………………………………………………………………
    ………………………………………………………………………………………………………
    ………………………………………………………………………………………………………
    THE END

    32
    Kết luận: Việc xây dựng các dạng bài tập phát triển từ vựng góp phần
    tích cực trong công tác đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển
    năng lực. Hệ thống bài tập chính xác, đa dạng, vừa sức và gần gũi cuộc sống
    sẽ mang lại hiệu quả tích cực, phát huy hết khả năng sáng tạo của từng cá
    nhân học sinh theo các mức độ khác nhau; Đồng thời giúp giáo viên nâng
    cao năng lực của bản thân, thúc đẩy việc nghiên cứu, tự học và tính sáng tạo.
    2.3. Giải pháp 3: Kết hợp hiệu quả với giáo viên bản ngữ trong các tiết
    học Tiếng Anh có yếu tố nước ngoài.
    Trong những năm gần đây, mô hình giảng dạy tiếng Anh kết hợp giáo
    viên nước ngoài với giáo viên trong nước của Trường tiểu học Hùng Vương nói
    riêng và toàn tỉnh Nam Định nói chung đã mang lại những kết quả thiết thực,
    vừa khuyến khích nhu cầu học tiếng Anh của họ

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số giải pháp giúp học sinh hoàn thiện tư thế tay trong bài thể dục phát triển chung môn giáo dục thể chất lớp 5

    SKKN Một số giải pháp giúp học sinh hoàn thiện tư thế tay trong bài thể dục phát triển chung môn giáo dục thể chất lớp 5

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Trong xã hội hiện nay sức khoẻ được ví như vàng, nhưng cũng có khi hơn
    vàng bởi sức khoẻ có thể làm ra vàng nhưng vàng lại không thể tạo ra một cơ
    thể khoẻ mạnh được. Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã nói “mỗi người dân khoẻ
    mạnh sẽ làm cho Đất nước khoẻ mạnh”. Trình độ dân trí và tiềm lực khoa học
    công nghệ đã và đang trở thành nhân tố quyết định sức mạnh và vị thế của mỗi
    quốc gia trên thế giới. Cũng như đất nước ta đang ở trong thời kỳ phát triển
    mạnh mẽ về mọi mặt như kinh tế chính trị văn hóa xã hội vì vậy xã hội đang đặt
    ra những yêu cầu hết sức cấp bách đối với ngành giáo dục hiện nay.
    Hiện nay, hoạt động Giáo dục thể chất trong nhà trường có vai trò hết sức
    quan trọng, giúp học sinh phát triển một cách toàn diện về đức, trí, thể, mỹ…
    Môn Giáo dục thể chất ở cấp tiểu học giúp học sinh hình thành và phát triển
    những phẩm chất chủ yếu với các biểu hiện cụ thể như: Tham gia chơi tích cực
    các trò chơi vận động, rèn luyện tư thế, tác phong, phản xạ và bổ trợ môn thể
    thao yêu thích; nghiêm túc, tích cực trong tập luyện và hoạt động tập thể; bước
    đầu hình thành thói quen tập thể dục; thể hiện sự yêu thích tập luyện thể dục thể
    thao; có trách nhiệm với tập thể và ý thức giúp đỡ bạn bè trong tập luyện.
    Chương trình Giáo dục thể chất cấp tiểu học và đặc biệt là khối lớp 5 năm
    hiện nay bao gồm rất nhiều nội dung gồm: Đội hình đội ngũ, bài thể dục phát
    triển chung, bài tập rèn luyện tư thế cơ bản, bài tập về kỹ năng vận động cơ bản
    và trò chơi vận động. Tất cả những nội dung trên đều có tác động nên cơ thể các
    em làm cho cơ thể các em chuyển biến về hình thái theo hướng tích cực là một
    trong những mặt giáo dục có ý nghĩa nêu cao tầm vóc sức khỏe cho học sinh
    phát triển tốt hơn.
    Bài Thể dục phát triển chung trong chương trình học của môn Giáo dục thể
    chất khối lớp 5 là một trong những nội dung chính của chương trình học. Bài
    Thể dục phát triển chung giúp học sinh rèn luyện sự nhanh nhẹn, khéo léo, tinh
    tế cả về thể chất và tinh thần, qua đó trang bị cho học sinh kĩ năng chăm sóc sức
    khoẻ, hình thành thói quen luyện tập Thể dục thể thao thường xuyên giúp các
    em có trách nhiệm hơn đối với sức khoẻ của bản thân, gia đình và cộng đồng.
    Mặt khác, qua bài Thể dục phát triển chung học sinh trực tiếp hình thành và phát
    triển các phẩm chất chủ yếu (yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách
    2
    nhiệm) và các năng lực chung gồm: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao
    tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
    – Nhằm phát triển thể lực, cơ thể, tạo sự hứng thú cho học sinh tập luyện,
    hình thành kĩ năng vận động, củng cố và nâng cao sức khoẻ, có sự tác động trực
    tiếp tích cực đến việc rèn luyện sức khoẻ và ý chí, phẩm chất đạo đức cho người
    học.
    – Tăng hiệu quả cho bài tập thể dục về nhiều mặt, kể cả đến tác dụng thực
    tế lao động và quốc phòng. Qua đó giúp người tập có cảm xúc tốt, tinh thần
    thoải mái và hào hứng trong các giờ học cũng như các hoạt động TDTT khác.
    – Bài Thể dục là một bài tập cơ bản, được thực hiện thường xuyên nhất cả
    khi ở trường cũng như ở nhà. Bài thể dục phát triển chung còn được sử dụng làm
    bài đồng diễn trong những dịp lễ nên việc rèn luyện tư thế chính xác đặc biệt là
    tư thế tay là rất quan trọng, tạo sự đồng nhất trong tập thể. Đặc biệt, thực hiện tư
    thế tay chính xác trong bài Thể dục phát triển chung tạo tiền đề giúp học sinh
    khi lên các cấp học trên có kĩ thuật chính xác trong tất cả các nội dung của môn
    Giáo dục thể chất, có ích trong việc rèn luyện sức khoẻ.
    – Đồng thời còn giáo dục cho các em học sinh hiểu rõ tầm quan trọng của
    bài Thể dục và việc cần thiết phải thực hiện tư thế chuẩn và đẹp nhất, nhất là đối
    với tư thế của tay. Giáo viên nêu rõ được những lợi ích khi thực hiện tư thế tay
    chuẩn và chính xác mang lại đó là nâng cao tính thẩm mỹ, tạo tư thế đẹp nhất
    khi thực hiện động tác và mang lại một thân hình đẹp, cân đối, sự tự tin khi tập
    luyện thể thao.
    Đối với học sinh Tiểu học, các em còn nhỏ, hệ xương chưa phát triển đầy
    đủ, hệ hô hấp ở độ tuổi này có đường hô hấp còn hẹp, hệ tuần hoàn hoạt động
    chưa được tốt, sự tập trung chú ý chưa bền vững, dễ bị phân tán, tính hưng phấn
    chưa cao, trí tưởng tượng đang phát triển song còn tương đối nghèo nàn. Từ
    thực tế giảng dạy, xuất phát từ những vấn đề nêu trên, với kiến thức và kinh
    nghiệm của bản thân trong những năm giảng dạy cùng với sự quan tâm giúp đỡ
    của đồng nghiệp cũng như mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả, độ chính
    xác khi thực hiện bài Thể dục phát triển chung của học sinh khối 5, tôi mạnh dạn
    đi sâu vào nghiên cứu và tìm ra : “Một số giải pháp nhằm giúp học sinh hoàn
    thiện tư thế tay trong bài Thể dục phát triển chung môn Giáo dục thể chất
    lớp 5”.
    3
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến.
    – Học sinh trong khối lớp 5 tôi dạy đều ngoan, nhận thức khá nhanh nhưng
    một số ít các em nhút nhát, e dè, hạn chế trong giao tiếp, thực hiện các động tác
    một cách thụ động, chủ yếu nghe và làm theo thầy cô giáo chứ các em ít tự tìm
    tòi, sáng tạo, tính tự giác chưa cao, các kiến thức thực tiễn, kĩ năng của các em
    còn hạn chế. Ngoài ra, cha mẹ học sinh có tâm lí bao bọc, chiều chuộng con
    khiến cho kĩ năng thực tế, kĩ năng phản xạ nhanh với các tình huống trong cuộc
    sống kém dẫn đến dần dần các em thụ động trong giờ tập luyện.
    – Học sinh thực hiện bài tập còn qua loa, nhất là tư thế của tay qua các động
    tác còn yếu kém, chưa chính xác, gặp bối rối, chưa linh hoạt khi chuyển qua các
    động tác khác nhau.
    – Tuy có sân bãi riêng để học Thể dục nhưng mặt sân không được bằng
    phẳng, vào mùa mưa sân bị đọng nước, mùa nắng lại thiếu cây che bóng mát
    khiến cho việc giảng dạy của giáo viên cũng như việc tập luyện của học sinh còn
    gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa, tranh ảnh, dụng cụ hỗ trợ cho việc giảng dạy chưa
    đầy đủ, giáo viên chưa chuẩn bị kĩ càng nên chất lượng buổi dạy chưa cao.
    Dưới đây là bảng số liệu tôi đã tổng hợp được trước khi áp dụng sáng kiến
    của học sinh khối lớp 5 như sau:

    LớpSĩ sốHoàn thành tốtHoàn thànhChưa hoàn thành
    SLTỉ lệ %SLTỉ lệ %SLTỉ lệ %
    5A322063%1031%26%
    5B312477%733%00%
    5C301963%1033%14%
    5D322063%1247%00%

    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
    Sáng kiến: “Một số giải pháp giúp học sinh hoàn thiện tư thế tay trong bài
    Thể dục phát triển chung môn Giáo dục thể chất lớp 5’’ là sáng kiến được áp
    dụng lần đầu tiên tại đơn vị, giúp học sinh thực hiện tư thế của tay trong bài Thể
    dục phát triển chung một cách chuẩn và chính xác nhất từ biên độ động tác đến
    4
    hướng bàn tay cũng như tư thế chuẩn của cánh tay, đồng thời tạo tâm lí tự tin
    cho học sinh khi thực hiện các nội dung khác của môn học. Sau khi áp dụng
    sáng kiến vào quá trình giảng dạy bản thân tôi nhận thấy chất lượng giảng dạy
    có sự chuyển biến rõ rệt.
    Sáng kiến đã tìm ra được những nguyên nhân dẫn đến chất lượng bài tập
    Thể dục chưa cao và từ đó đã tìm ra được biện pháp và cách khắc phục tình
    trạng của tư thế tay phù hợp nhất.
    a. Biện pháp cụ thể:
    Qua thời gian giảng dạy nội dung bài Thể dục phát triển chung, để giúp
    học sinh hình thành được tư thế tay chính xác và đẹp nhất nâng cao chất lượng
    bài tập, bản thân tôi đã mạnh dạn áp dụng những biện pháp cụ thể sau:
    Biện pháp 1: Giáo dục cho học sinh hiểu rõ tầm quan trọng của việc
    tập thể dục
    Trong chương trình phân môn Giáo dục thể chất khối lớp 5, nội dung bài
    Thể dục phát triển chung bao gồm 8 động tác cơ bản: Động tác vươn thở, động
    tác tay, động tác chân, động tác vặn mình, động tác toàn thân, động tác thăng
    bằng, động tác nhảy và động tác điều hoà. Trong tất cả các động tác đó thì tư thế
    của tay là vô cùng quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến độ chính xác và tính
    thẩm mĩ của từng động tác.
    Dựa vào tầm quan trọng đó mà giáo viên cùng trao đổi với học sinh nhằm
    giúp các em có thể tự tìm hiểu, rút ra kết luận cho bản thân; tạo ra bầu không khí
    thân thiện, cởi mở, các em có thể cùng lắng nghe và chia sẻ với nhau. Tập luyện
    chính xác tư thế giúp các em phát triển toàn diện hơn, cân đối hơn. Ngoài việc
    phát triển cân đối tập luyện thể dục còn giúp cho các em nhanh nhẹn hơn, linh
    hoạt hơn, đầu óc minh mẫn hơn, giảm căng thẳng sau những giờ học mệt mỏi ở
    trong lớp. Hơn nữa việc rèn luyện tư thế tay chính xác ngay từ đầu giúp các em
    tự tin hơn khi thực hiện tất cả các nội dung khác nhau liên quan đến vận động.
    Trong quá trình trao đổi giáo viên cũng kịp thời động viên những suy nghĩ sáng
    tạo và tích cực của học sinh.
    Ví dụ: Đối với động tác vươn thở ở đây là động tác đầu tiên trong chuỗi
    các động tác của bài Thể dục phát triển chung giúp học sinh điều hòa được hơi
    thở và chuẩn bị một tâm thế tốt nhất cho những động tác tiếp theo. Khi học sinh
    hít thở theo đúng nhịp và thực hiện được chính xác các tư thế của động tác sẽ
    5
    mang lại tính thẩm mỹ cao, thể hiện được sự linh hoạt khéo léo của từng học
    sinh.
    Biện pháp 2: Xây dựng hệ thống các bài tập bổ trợ.
    * Mục đích:
    Nhằm giúp học sinh hình thành những kĩ năng cơ bản ban đầu chính xác
    về các tư thế của tay, tiếp đó giúp học sinh tạo thành kỹ năng thuần thục cho tất
    cả các nội dung vận động khác nhau của môn Giáo dục thể chất cũng như các
    hoạt động ứng dụng ngoài giờ lên lớp.
    Tôi đã nghiên cứu và xây dựng hệ thống các bài tập bổ trợ mang tính đặc
    thù chuyên môn đi từ đơn giản đến phức tạp. Đối với các bài tập cũ học sinh chỉ
    quan sát và làm theo giáo viên thì ở biện pháp này tôi chủ động tách nhỏ các bài
    tập riêng cho tư thế tay để học sinh chủ động hơn khi học các động tác bài thể
    dục. Đây là biện pháp mang tính mới mà tôi đã đầu tư nghiên cứu và thử nghiệm
    đã mang lại hiệu quả rõ rệt.
    * Các bài tập bổ trợ:
    – Bài tập cho bàn tay: Các tư thế của bàn tay bao gồm:
    + Bàn tay khép thẳng: Các ngón tay khép thẳng.
    6
    + Bàn tay mở: Các ngón tay xoè rộng.
    + Bàn tay nắm: Ngón tay nắm tròn.
    7
    + Bàn tay hoa: Ngón tay xoè, ngón út và ngón cái khép gần nhau tạo
    hình bông hoa.
    – Bài tập cho hướng bàn tay: Bài tập cho các hướng bàn tay bao gồm:
    + Bàn tay úp: Lòng bàn tay hướng xuống đất, ngón tay khép.
    8
    + Lòng bàn tay hướng vào nhau.
    + Lòng bàn tay hướng ra ngoài.
    9
    – Bài tập cho cánh tay: Bài tập cho cánh tay bao gồm tư thế:
    + Tay chống hông.
    +Tay chếch dưới: Cánh tay tạo với thân người một góc 45 độ.
    10
    + Tay ngang: Cánh tay tạo với vai thành một đường thẳng.
    + Tay chếch cao: 2 cánh tay mở tạo thành hình chữ V.
    11
    + Tay cao: 2 cánh tay khép thẳng áp sát tai.
    + Tay trước: Cánh tay thẳng song song nhau và song song mặt đất.
    12
    + Tay gập trước ngực: Cánh tay thẳng vai và vuông góc thân người.
    + Tay trước tay cao.
    13
    +Tay cao tay ngang.
    Biện pháp 3: Bài tập phối hợp, nâng cao các tư thế của tay.
    Sau khi học sinh đã hình thành kĩ năng cơ bản cho tư thế tay tôi đã áp
    dụng các bài tập mới bằng cách phối kết hợp giữa tư thế cánh tay, bàn tay và
    hướng bàn tay từ đơn giản đến tăng dần mức độ khó. Những bài tập này nhằm
    giúp học sinh hình thành kĩ xảo thuần thục cho tư thế tay, từ biên độ động tác
    đến hướng tay và kết hợp cùng bàn tay.
    Đối với những động tác cơ bản của bài thể dục phát triển chung không thể
    thiếu được các tư thế tay, tuy nhiên học sinh chủa hình dung được ở tư thế tay
    nào sử dụng hướng tay ra sao. Vì vậy các em gặp bối rối khi thực hiện các động
    tác liên hoàn. Giáo viên dừng lại sửa sai cho từng em mất quá nhiều thời gian.
    Tôi đã cho học sinh thực hiện bài tập chuyên môn dành riêng cho tư thế tay có
    kết hợp với các hướng bàn tay khác nhau để các em linh hoạt không chỉ trong
    khi thực hiện bài thể dục mà còn ở tất cả các hoạt động thể dục thể thao khác.
    Các bài tập tôi áp dụng bao gồm:
    14
    – Tay cao kết hợp bàn lòng bàn tay hướng vào nhau, hướng ra ngoài,
    hướng ra trước ngón tay khép.
    15
    – Tay trước kết hợp bàn tay úp, bàn tay ngửa các ngón tay.
    16
    – Tay ngang kết hợp bàn tay úp, bàn tay ngửa và bàn tay nắm.
    17
    – Tay chống hông kết hợp bàn tay úp và tay nắm.
    18
    Biện pháp 4: Hình thành phản xạ có điều kiện của tư thế tay
    Đây là biện pháp mang tính sáng tạo mà tôi đã thực hiện nhằm giúp học
    sinh hình thành phản xạ cho tư thế tay chuẩn xác nhất khi không có tác động của
    ngoại cảnh. Trước đây học sinh thực hiện động tác theo kiểu bắt chước là chinh,
    thầy cô làm mẫu học sinh làm theo. Tuy nhiên, theo chương trình Giáo dục phổ
    thông mới 2018 hiện hành thì học sinh sẽ tự chủ các hành vi và kiến thức của
    bản thân và giao viên chỉ đóng vai trò người hướng dẫn để các em tự hình thanh
    động tác chinh xác cho bản thân. Tôi cho học sinh nhắm mắt sau đó thực hiện
    các tư thế tay khác nhau theo nhịp hô của giáo viên. Hình thức tập luyện này đòi
    hỏi học sinh phải tư duy và nhận thức một cách chủ động để khi giáo viên dứt
    hiệu lệnh học sinh thực hiên ngay động tác chính xác mà không cần nhìn và
    chỉnh sửa. Thực hiện tốt giải pháp này là học sinh đ

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số biện pháp phát tiển năng lực đặc thù nâng cao hiệu quả học môn GDTC cho HS ở trường Tiểu học

    SKKN Một số biện pháp phát tiển năng lực đặc thù nâng cao hiệu quả học môn GDTC cho HS ở trường Tiểu học

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN.
    1.Lý do chọn đề tài.
    Cũng như các môn học khác, môn GDTC là một trong những môn học bắt
    buộc ở trường tiểu học. Môn GDTC cùng với các môn khác trong nhà trường, có
    nhiệm vụ quan trọng trong hình thành ở người học những nhân cách sống của con
    người lao động mới, trong thời đại mới, mà mục tiêu giáo dục của Đảng ta là đào
    tạo con người: Tự chủ – năng động – sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề thực
    tiễn đặt ra, tự do được việc làm, lập nghiệp và thăng tiến trong cuộc sống. Qua đó
    góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Không
    những thế, Giáo dục thể chất cho thế hệ thanh niên là một mặt của nền giáo dục
    tiến bộ, là nhu cầu tất yếu khách quan của sự tồn tại và phát triển của một xã hội
    văn minh nói chung và của công cuộc xây dựng XHCN, bảo vệ Tổ quốc nói riêng.
    Môn GDTC còn mang lại cho thế hệ trẻ cuộc sống vui tươi, lành mạnh và tác động
    mạnh mẽ đến các mặt giáo dục như: Giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, lao động
    thẩm mĩ nhằm góp phần đào tạo thế hệ thanh niên Việt Nam thành những người
    “phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong
    sáng về đạo đức”.
    Đối với học sinh Tiểu học, các em còn nhỏ, hệ xương chưa phát triển đầy
    đủ, tổ chức sụn chiếm tỷ lệ cao, cột sống yếu. Hệ hô hấp ở độ tuổi này có đường hô
    hấp còn hẹp, hệ tuần hoàn hoạt động còn kém (do tim còn nhỏ). Sự tập trung chú ý
    chưa bền vững, dễ phân tán, tính hưng phấn cao, trí tưởng tượng phát triển hơn
    song còn nghèo nàn, tản mạn, ít có tổ chức, tư duy logic chưa cao. Do đó làm thế
    nào để dạy môn GDTC trong trường Tiểu học thực sự thu hút được học sinh tập
    trung chú ý, tích cực tập luyện và tập luyện có hiệu quả, phù hợp với các em là một
    vấn đề đòi hỏi cần phải có sự đầu tư, nghiên cứu.
    Môn GDTC là một trong những bộ phận của nền giáo dục, góp phần làm
    thay đổi mọi mặt của giáo dục toàn diện có ảnh hưởng rất lớn tới các mặt giáo dục
    khác, có vị thế hết sức quan trọng trong việc chuẩn bị cho học sinh có đầy đủ khả
    năng, sức khỏe để tham gia vào cuộc sống sản xuất và bảo vệ tổ quốc. Trong sự
    nghiệp giáo dục và đào tạo Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và coi trọng mục
    tiêu phát triển con người toàn diện, khẳng định tầm quan trọng “Phát triển giáo dục
    và đào tạo là một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp: công nghiệp hóa – hiện
    đại hóa đất nước, là điều kiện phát huy nguồn nhân lực”.
    Học sinh Tiểu học có tính vui tươi, hồn nhiên, hiếu động là không thể
    thiếu ở các em. Vì vậy môn GDTC không nên theo hướng thể dục đơn thuần, máy
    móc, gây cho các em sự mệt mỏi, căng thẳng, nhàm chán, dẫn đến phản tác dụng
    rèn luyện mà phải tác động một cách toàn diện, tạo nên sự hứng thú, giúp các em
    ham thích tập luyện. Mặt khác có em có sức khoẻ tốt, có em có sức khoẻ yếu, có
    em tật bẩm sinh. Vậy phải làm thế nào với những em không phải đứng nhìn các
    bạn tập luyện mà mình không cảm thấy buồn và thua thiệt các bạn? Với mục tiêu
    3
    của giáo dục, nền tảng giáo dục thể chất đặt ra, với những phương pháp được sử
    dụng hợp lý có tác dụng quan trọng đến đối tượng học sinh, kích thích hay động
    viên, nhiều phương pháp khác nhau để cho các em có thể tập luyện nâng cao sức
    khoẻ, phục vụ tốt cho công tác giảng dạy.
    Là giáo viên dạy môn GDTC qua nhiều năm, tôi thấy các em học môn
    GDTC còn miễn cưỡng, chưa chủ động trong việc tiếp thu kiến thức, học sinh chưa
    hứng thú với môn học nên hiệu quả học của học sinh còn ở mức độ. Đặc biệt năm
    học 2020-2021 là năm học bắt đầu thực hiện CTPT2018 với mục tiêu dạy học cho
    HS phát triển phẩm chất và năng lực. Vì đó tôi đi vào nghiên cứu chọn đề tài: “Một
    số biện pháp phát triển năng lực đặc thù nâng cao hiệu quả học môn GDTC cho HS
    ở trường tiểu học”.
    2.Phạm vi nghiên cứu.
    Học sinh tiểu học.
    3.Phương pháp nghiên cứu.
    -Phương pháp điều tra.
    -Phỏng vấn, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp.
    -Thực hiện giảng dạy thực tế với học sinh trong tiết GDTC.
    II.Mô tả giải pháp.
    1.Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến.
    1.1.Thực trạng của vấn đề dạy học môn GDTC.
    Qua thực tế giảng dạy ở trường cùng với việc dự giờ thăm lớp các đồng
    nghiệp khác ở cùng trường, ở trường bạn khi SHCM. Tôi nhận thấy có những ưu
    điểm, hạn chế sau:
    *Về phía học sinh:
    + Ưu điểm: Học sinh thường có quỹ thời gian học nhiều các môn Toán, Tiếng
    việt, đây là các môn học chiếm thời lượng số tiết nhiều và do cô giáo chủ nhiệm
    dạy rất nhiều môn, các cô có tâm lí chung “nhồi nhét” kiến thức Toán, Tiếng việt
    cho các em để thi các môn đạt kết quả cao. Vì thế khi đến học môn GDTC các em
    rất thích vì thoát ra khỏi 4 bức tường được ra sân rộng lớn chạy nhảy “như chim sổ
    lồng”.
    +Hạn chế:
    Nhiều em còn nhịn ăn sáng đi học nên có em bị lả đi trong quá trình tập
    luyện, có trạng thái mệt mỏi, uể oải khi học.
    4
    Có những em sự tập trung ở trong giờ học chưa được duy trì tốt từ đầu cho
    đến khi kết thúc.
    *Về phía giáo viên:
    +Ưu điểm:
    Tôi là một giáo viên được đào tạo qua trình độ Đại học chính quy nên nắm
    chắc về phương pháp giảng dạy. Ngoài ra tôi còn được học lớp “Tư vấn tâm lí” do
    Sở GD&ĐT Nam Định tổ chức ở năm học 2018-2019. Bản thân có nhiều năm kinh
    nghiệm trong dạy môn GDTC.
    +Hạn chế: Sự phối kết hợp với GVCN, CMHS còn ít.
    1.2.Đánh giá về hiệu quả học môn GDTC năm học 2018-2019 (năm học
    chưa áp dụng sáng kiến).
    Ví dụ: Khi học sinh học bài tập thể dục theo chương trình GDPT 2018 (bài
    thể dục phát triển chung theo chương trình 2006) . Năm học 2019-2020 (đó chính
    là năng lực vận động).

    LớpSĩ sốPhối hợp đúng các động
    tác của bài tập thể dục
    Phối hợp chưa đúng các
    động tác của bài tập thể
    dục
    SL%SL%
    5D321959,41340,6
    5E311754,81445,2

    1.3.Nguyên nhân của những hạn chế.
    1.3.1.Nguyên nhân từ phía học sinh:
    Do đặc điểm của học sinh ở vùng nông thôn, nhiều em bố mẹ đi xa thường ở
    với ông bà nên sự quan tâm chu đáo của bố mẹ về sức khoẻ chưa hết.
    Một số em có sức khoẻ yếu, tham gia giờ học uể oải, có trạng thái mệt mỏi.
    Có những em sự tập trung ở trong giờ học chưa được duy trì tốt từ lúc bắt đầu
    cho đến khi kết thúc giờ học.
    5
    Khi kết thúc giờ học, một số em chưa nắm chắc các nội dung, kĩ thuật động
    tác, các nội dung vận động, các trò chơi của tiết học trong quy định của chương
    trình.
    1.3.2.Nguyên nhân về phía giáo viên.
    Do tôi không phải là giáo viên địa phương nên việc quan tâm tìm hiểu được
    nhiều về hoàn cảnh gia đình, việc trao đổi với CMHS còn ở mức độ.
    1.3.3.Một số nguyên nhân khác.
    Trường chưa có nhà đa năng nên các tiết học chủ yếu ngoài trời. Không gian
    bị loãng nên các em dễ phân tán tư tưởng.
    Các giờ học GDTC được tiến hành giảng dạy học tập ở ngoài trời.
    Nhiều em bố mẹ đi làm xa, đại đa số các em ở với ông bà, người thân nên các
    em thường tự phục vụ bản thân (nhiều em còn nhịn ăn khi đi học).
    Nhiều em chưa mạnh dạn tự tin, sự hứng thú tích cực tham gia còn ở mức độ.
    2.Mô tả giải pháp khi có sáng kiến
    2.1.Những vấn đề lí luận chung.
    Môn Giáo dục thể chất (GDTC) góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục phát
    triển phẩm chất và năng lực của học sinh. Trọng tâm là: Trang bị cho học sinh kiến
    thức và kỹ năng chăm sóc sức khỏe; kiến thức và kĩ năng vận động hình thành thói
    quen tập luyện, khả năng lựa chọn môn thể thao phù hợp để luyện tập nâng cao sức
    khỏe, phát triển thể lực và tố chất vận động.Trên cơ sở đó giúp học sinh có ý thức,
    trách nhiệm đối với sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng, thích ứng với
    các điều kiện sống, sống vui vẻ, hòa đồng với mọi người.
    Môn Giáo dục thể chất giúp học sinh biết cách chăm sóc sức khỏe, vệ sinh
    thân thể, hình thành thói quen tập luyện nâng cao sức khỏe thông qua các trò chơi
    vận động và tập luyện thể dục, thể thao hình thành các kỹ năng vận động cơ bản,
    phát triển các tố chất thể lực làm cơ sở để phát triển toàn diện.
    Môn GDTC cũng như nhưng môn học khác với mục tiêu chung là hình thành,
    phát triển những năng lực, phẩm chất cho học sinh. Đồng thời hình thành, phát
    triển năng lực đặc thù của môn học đó là năng lực chăm sóc sức khoẻ, năng lực
    vận động cơ bản, năng lực hoạt động thể dục thể thao. Để học sinh đạt được các
    6
    yêu cầu của môn GDTC thì GV phải có những biện pháp để nâng cao hiệu quả học
    môn GDTC cho học sinh.
    Trong dạy học môn GDTC theo CTGDPT 2018, GV cần chú trọng phát triển
    các năng lực cho HS như sau:
    + Hình thành, phát triển năng lực chăm sóc sức khoẻ: Giáo viên tạo cơ hội
    cho học sinh huy động những hiểu biết, kinh nghiệm sẵn có để hình thành ý thức
    và kiến thức về chăm sóc sức khỏe, đồng thời tăng cường giao nhiệm vụ ở nhà,
    đồng thời phối hợp với cha mẹ học sinh giúp đỡ học sinh thực hiện nền nếp giữ gìn
    vệ sinh, chăm sóc sức khỏe bản thân.
    + Hình thành, phát triển năng lực vận động cơ bản: Giáo viên khai thác ưu thế
    của giáo dục thể chất là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học
    vận động (động tác) và sự phát triển có chủ định các tố chất vận động của con
    người. Các giai đoạn dạy học động tác nhằm hình thành ở học sinh kĩ năng vận
    động, khả năng vận dụng vào thực tế. Việc tổ chức các hoạt động vận động (bài tập
    và trò chơi vận động) giúp cho học sinh hình thành và phát triển được các tố chất
    thể lực cơ bản như: nhanh, mạnh, bền, khéo léo, mềm dẻo…. cũng như khả năng
    thích ứng của cơ thể và trí nhớ vận động.
    + Hình thành, phát triển năng lực hoạt động thể dục thể thao: Giáo viên vận
    dụng nguyên tắc giáo dục cá biệt, quan tâm phát hiện và hướng dẫn học sinh tập
    luyện các môn thể dục thể thao phù hợp với sở thích, sở trường; tạo cơ hội cho học
    sinh được quan sát và tham gia các trò chơi, các hoạt động cổ vũ và thi đấu thể
    thao, từ đó khơi dậy niềm đam mê hoạt động thể dục thể thao, khả năng hoạt động
    thể dục thể thao, phát triển khả năng trình diễn và thi đấu.
    Để học sinh đạt được những năng lực trên, người GV cần nắm bắt được thực
    trạng của từng học sinh, từng khối lớp và có những phương pháp riêng góp phần
    cho học sinh đạt được yêu cầu của môn học, phát triển những năng lực và phẩm
    chất cần thiết cho học sinh.
    2.2.Cơ sở thực tiễn.
    7
    Trong môn GDTC cần chú trọng phát triển thể chất, thể lực vận động tạo cho
    các em các kỹ năng vận động, xử lí tình huống trong cuộc sống đồng thời trang bị
    các kiến thức cơ bản để các em rèn luyện sức khoẻ, có một tinh thần tốt để học tập
    các môn học khác. Để phát triển các năng lực, phẩm chất cần thiết nhất cho học
    sinh, là một người giáo viên dạy môn GDTC cần quan tâm tới từng học sinh, nắm
    bắt tình hình sức khoẻ, đặc điểm tâm lí tạo động cơ, hứng thú học tập cho các em.
    Tất cả những yếu tố đó đòi hỏi người giáo viên phải có những phương pháp tối đa
    hoá các tiềm năng ở học sinh có như thế mới nâng cao chất lượng cho học sinh
    trong quá trình học môn GDTC.
    Từ những thực trạng trên, để nâng cao chất lượng môn GDTC cho học sinh
    tiểu học, ngoài việc giáo viên vận dụng tốt các phương pháp, hình thức dạy học
    theo đặc thù môn học, tôi đã đưa ra biện pháp: “Một số biện pháp phát triển năng
    lực đặc thù nâng cao hiệu quả học môn GDTC cho HS ở trường tiểu học” và có
    những biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng môn GDTC ở trường tiểu học.
    2.3.Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.
    2.3.1.Nội dung các biện pháp.
    Biện pháp thứ nhất: Giáo viên cần có bước lập kế hoạch bài dạy chu đáo, tỉ
    mỉ. Càng tỉ mỉ bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.
    Biện pháp thứ hai: Tìm hiểu sức khoẻ thông qua phiếu hỏi để tác động tâm lí
    tạo sự “tự tin” cho học sinh.
    Biện pháp thứ ba: Rèn kĩ năng làm cán sự lớp.
    Biện pháp thứ tư: Sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tạo cho học
    sinh sự hứng thú, ý thức, thái độ tích cực tập luyện trong mỗi tiết học ở từng chủ
    đề khác nhau.
    Biện pháp thứ năm: Tích hợp liên môn các môn học ở trường tiểu học.
    Biện pháp thứ sáu: Đánh giá, nhận xét, tuyên dương học sinh không bằng
    điểm số mà bằng những hình thức khác nhau.
    Biện pháp thứ bảy: Phối kết hợp với CMHS trong việc giáo dục chế độ dinh
    dưỡng nâng cao sức khoẻ cho học sinh.
    Biện pháp thứ tám: Tổ chức các hoạt động trải nghiệm, giao lưu với các
    trường bạn.
    2.3.2.Thực nghiệm sư phạm.
    Mô tả cách thực hiện:
    8
    Biện pháp thứ nhất: Giáo viên cần có bước lập kế hoạch bài dạy chu đáo, tỉ
    mỉ. Càng tỉ mỉ bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.
    2.3.2.1. Biện pháp thứ nhất: Lập kế hoạch bài dạy chu đáo.
    Vì sao phải lập kế hoạch bài dạy chu đáo? Vì đây là yêu cầu bắt buộc, cần
    thiết, quan trọng với tất cả giáo viên. Vì khi chúng ta lập kế hoạch bài dạy chu đáo
    là chúng ta đã làm nên một nửa thành công của tiết dạy. Căn cứ vào khả năng của
    bản thân, điều kiện CSVC của nhà trường, khả năng tiếp thu của học sinh, dự kiến
    tình huống xảy ra cùng với thực tế về điều kiện thời tiết, không gian, thời gian để
    kế hoạch bài dạy có tính khả thi đồng thời phát triển được năng lực cho học sinh
    theo CT GDPT 2018.
    Môn Giáo dục Thể chất (GDTC) vận dụng phương pháp giáo dục tích cực,
    lấy học sinh làm trung tâm, thực hiện chuyển quá trình giáo dục thành tự giáo dục,
    giáo viên là người thiết kế, tổ chức, cố vấn, trọng tài, hướng dẫn hoạt động tập
    luyện cho học sinh, tạo môi trường học tập thân thiện để khuyến khích học sinh
    tích cực tham gia các hoạt động tập luyện, tự mình trải nghiệm tự phát hiện bản
    thân và phát triển thể chất.
    Giáo viên vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học đặc trưng như: Trực
    quan, sử dụng lời nói, tập luyện, sửa sai, trò chơi, thi đua, trình diễn,…..;sử dụng
    nguyên tắc đối xử cá biệt, phù hợp sức khoẻ học sinh; kết hợp dụng cụ, thiết bị phù
    hợp, sử dụng hiệu quả các thành tựu của công nghệ thông tin để tạo ra các giờ học
    sinh động, hiệu quả.
    Đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học, cân đối giữa hoạt động tập thể
    lớp, hoạt động nhóm nhỏ và cá nhân, giữa dạy học bắt buộc và dạy học tự chọn, để
    đảm bảo và phát triển năng lực thể chất, và phát triển các phẩm chất chủ yếu và
    năng lực chung. Tích hợp kiến thức một số môn học khác, một số bài hát, bản
    nhạc,…..để tạo không khí vui tươi, hưng phấn trong tập luyện, làm cho học sinh
    yêu thích và đam mê tập luyện thể thao.
    Mỗi bài học gồm 4 phần tương ứng 4 hoạt động cơ bản:
    +Khởi động / Mở đầu / …….
    +Hình thành kiến thức / Khám phá / Cung cấp nội dung bài học/ ……
    +Luyện tập / Thực hành / ……
    9
    +Vận dụng / Ứng dụng – Sáng tạo / …….
    Kế hoạch bài dạy (giáo án) minh hoạ theo Phụ lục I
    2.3.2.2. Biện pháp thứ hai: Tìm hiểu sức khoẻ thông qua phiếu hỏi để tác
    động tâm lí tạo sự “tự tin” cho học sinh.
    Trước hết chúng ta phải đến với câu hỏi: Vì sao phải tác động tâm lí tạo hứng
    thú học tập cho học sinh? Đó chính là: “Hứng thú là chìa khoá của thành công”
    vì khi có hứng thú các em sẽ tích cực học tập một cách tự giác sẽ đạt được các yêu
    cầu của môn học và các năng lực, phẩm chất mới được hình thành bằng sự cởi mở
    nhẹ nhàng, thân thiện: “nói ít cười nhiều”, “khen nhiều chê ít”.
    Môn Giáo dục thể chất là môn học có biên độ vận động nhiều, đòi hỏi học
    sinh phải phát triển được các tố chất thể lực cơ bản như: nhanh, mạnh, khéo léo,
    mềm dẻo…. cũng như khả năng thích ứng của cơ thể và trí nhớ vận động cùng với
    đó cũng cần có tố chất năng khiếu ở các em. Do đó, theo tâm lý chung là học sinh
    thích, mong chờ đến giờ học thể chất để được “như chim sổ lồng” không phải ngồi
    gò bó căng đầu suy nghĩ như học Toán, Tiếng Việt……nhưng ngược lại khi vào
    trong giờ học các em thường chưa chú ý, chưa tập trung cao độ, nhiều em còn e
    ngại rụt rè thiếu sự tự tin trong luyện tập, rất sợ khi gọi lên biểu diễn và thi đấu.
    Để tạo sự “tự tin” ngay từ ban đầu cho các em, tôi đã tiến hành thiết kế các
    phiếu thăm dò học sinh ngay từ khi nhận lớp với nội dung rất nhẹ nhàng, tự nhiên
    với học sinh.
    Rà soát chương trình môn học ở trường tiểu học. Trong chương trình giáo dục
    thể chất gồm có các nội dung: đội hình đội ngũ, bài thể dục, tư thế và kỹ năng vận
    động cơ bản, môn thể thao tự chọn. Với mỗi nội dung tôi phát “phiếu thăm dò” học
    sinh để xóa đi nỗi “sợ” học môn Giáo dục thể chất cho các em.
    10
    11
    Sau khi học sinh được tự mình trải lòng với cô giáo, tôi đã thu thập được các
    thông tin, phân loại được các nhu cầu, sở thích theo nhóm học sinh để từ đó tác
    động tới tâm lý các em, xóa đi nỗi “sợ” ở các em.
    Vì trường chưa có nhà đa năng nên các giờ học chủ yếu diễn ra ở ngoài sân
    tập, nhiều em có sức khỏe yếu không chịu được sự khắc nghiệt của thời tiết nắng,
    nóng, các em thường có tâm lý uể oải, không tập trung cao độ. Có nhiều em bố mẹ
    đi làm ăn xa, nên nhiều khi các em nhịn đói đi học. Trong lớp, thể lực của học sinh
    không đồng đều thường có ba thể trạng như sau: Một nhóm em béo phì, vận động
    nặng nề; một nhóm em có thể trạng gầy còm, ốm yếu, thể lực kém; còn lại một
    nhóm có thể trạng tốt, cân đối.
    Căn cứ vào đặc điểm thể lực của học sinh để có yêu cầu mức độ phù hợp,
    không đòi hỏi nóng vội ở các em mức độ tập luyện quá cao ngay từ ban đầu sẽ tạo
    áp lực, sẽ khiến cho các em tâm lý “sợ”.
    Tôi đặc biệt chú ý đến những em có tính nhút nhát, học sinh khuyết tật học
    hoà nhập để có những điều chỉnh nội dung (mức độ tập luyện) yêu cầu cần đạt ở
    các em đó. Đối với các em có tính nhút nhát, chưa mạnh dạn tôi hướng dẫn các em
    vào từng giờ học, sau khi các em làm được tốt một yêu cầu dù nhỏ nhất cũng được
    các bạn đánh giá, nhận xét, cô giáo tuyên dương.
    Như vậy xuất phát điểm tạo tâm lí “tự tin” đồng thời hứng khởi cho học sinh
    là tiền đề để học sinh học tốt môn GDTC, chính là phát triển năng lực chung cho
    các em. Đây chính là tính khoa học của biện pháp.
    2.3.2.3. Biện pháp thứ ba: Rèn kĩ năng làm cán sự lớp.
    Trường tôi đang giảng dạy thực hiện chương trình VNEN, vì vậy HS có hội
    đồng tự quản hoạt động khá tốt , là điều kiện thuận lợi cho việc bồi dưỡng cán sự
    lớp.
    Khi nhận học sinh bất kì khối lớp nào tôi cũng yêu cầu các em phải tập trung
    lắng nghe khi cô nhận lớp phổ biến nội dung bài học. Đối với bài thể dục phát triển
    chung khi kiểm tra bài cũ tôi yêu cầu các em phải trả lời tên các động tác đã học và
    đồng thời kiểm tra động tác.
    Ở đây học sinh phải làm theo hiệu lệnh của cô, hiệu lệnh của bạn, hiệu lệnh
    của bản thân. Ở những tiết học đầu tiên tôi thường chăm chú để phát hiện những
    cán bộ lớp tốt bằng cách khi chia nhóm nhỏ để luyện tập, tôi yêu cầu tất cả học
    sinh trong tổ phải lên điều khiển lớp. Tôi muốn rèn cho các em có kĩ năng làm tổ
    trưởng để giúp các em mạnh dạn trước tập thể, có mạnh dạn thì các em mới tự tin
    12
    để luyện tập các động tác trong bài thể dục.Bởi trong giờ thể dục tiết nào cũng có
    phần trình diễn trước lớp, nếu em nào nhút nhát, thiếu tự tin thì em đó hay sai nhất.
    Ở phần này tôi hướng dẫn các em các kĩ năng: tập hợp lớp, tập hợp tổ đồng thời
    rèn cho các em kĩ năng hô khẩu lệnh phải dứt khoát, to, rõ ràng, có khả năng bao
    quát các bạn trong lớp, trong tổ. Khi dạy xong 5 tiết của đầu năm học đến bài: “ Ôn
    đi đều – trò chơi kết bạn” , tôi tổ chức cho các em thi làm tổ trưởng giỏi, phần
    thưởng của tôi là chiếc khăn quàng đỏ. Yêu cầu của tôi là cho các em thi các nội
    dung sau: Hô và tập hợp: “ Một hàng dọc tập hợp” ; “Giậm chân tại chỗ”; “Chạy
    đều”; “Một hàng ngang tập hợp”; “Chúc cô giáo khỏe”; “Giải tán” . Ở tiết này tôi
    chỉ cho các em thi đến mức độ này, bởi với các em phải luyện tập dần không thể
    vội vàng.Tôi khống chế thời gian 5 phút. Với thời gian như vậy: Tổ 1: 2 em lên
    điều khiển, tổ 2: 1 em lên điều khiển, tổ 3: 3 em lên điều khiển và tổ 3 thức hiện
    chuẩn nhất. Để giúp các em học tập nhau, tôi đã chuyển 1 em ở tổ ba về đúng vị trí
    ở tổ 2. Sau giờ học này, tôi thường xuyên cho các em thi như vậy,những em nào thi
    rồi thì thôi không thi nữa và tôi làm như vậy ở tất cả khối lớp mà mình dạy.
    Nhưng với đặc thù môn GDTC chủ yếu là học ngoài sân nên tôi phải chú ý rèn kĩ
    năng làm cán sự lớp để HS được phát huy quyền tự chủ, bồi dưỡng năng lực điều
    hành cho các bạn, như thế mọi HS đều có sự hứng thú, bình đẳng trong quá trình
    tập luyện.
    2.3.2.4. Biện pháp thứ tư: Sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tạo
    cho học sinh sự hứng thú, ý thức, thái độ tích cực tập luyện trong mỗi tiết học ở
    từng chủ đề khác nhau.
    * Phương pháp giảng dạy bài thể dục phát triển chung.
    Khi giảng dạy đến động tác nào cần nêu tên động tác đó,sau đó vừa giải thích
    vừa làm mẫu để học sinh tập theo kiểu bắt chước. Khi làm mẫu, giáo viên cần thực
    hiện chính xác xuôi chiều (lưng quay về phía học sinh) và có thể theo kiểu soi
    gương. Ví dụ: khi giáo viên nói cho học sinh bước chân trái sang ngang, thì giáo
    viên bước chân phải.
    – Đối với một số nhịp hoặc động tác khó, giáo viên có thể tập riêng ở nhịp khó
    hoặc tập đơn lẻ chậm từng động tác.
    – Trong quá trình giảng dạy: Tôi thường tách riêng từng động tác đối với các
    động tác khó:
    Ví dụ 1: Bài 21: Động tác bụng của bài thể dục phát triển chung.
    Bước 1: Treo tranh minh họa, giảng từng nhịp trên tranh. Ở bước này tôi lưu ý
    13
    nhịp 2 là nhịp rất khó thực hiện, chân chúng ta phải thẳng, hai tay vỗ vào nhau.Tôi
    nêu rõ tác dụng của động tác và giáo dục các em phải có tinh thần học tập động tác
    này có tác động đến toàn thân, sự phối hợp nhịp nhàng.
    Bước 2: Gọi 1 HS giỏi của lớp lên nói lại. Ở bước này tôi đã rèn cho các em
    thói quen phải thật tập trung ngay từ lúc thầy bắt đầu làm việc, tại sao tôi gọi học
    sinh giỏi vì để tránh mất thời gian.
    Bước 3: Tôi tập mẫu, tôi đứng cùng chiều với học sinh, khi tập tôi không
    giảng giải nữa mà tập luôn.
    Bước 4: Tôi gọi 3 học sinh đại diện cho các tổ lên tập lại, bước này ta có thể
    coi là tập mẫu cũng được, nhưng tôi lại coi đây là bước khảo sát sự nhận thức và
    thực hành của các em nên tôi thường gọi học sinh bất kì tránh tập trung vào một
    đối tượng học sinh.
    Bước 5: Tôi cho cả lớp tập 2 lần để nhìn ra những học sinh tập chưa đúng ở
    nhịp 2. Tôi gọi các em lên sửa luôn, đối với các em sửa đến hai lần không được tôi
    sẽ cho các em tập riêng từng nhịp sau đó mới khớp thành tám nhịp của một động
    tác.
    Bước 6: Tập phối hợp 5 động tác: Vươn thở, tay, chân, lườn, bụng. Để giúp
    phát huy trí nhớ của các em, tôi gọi đại diện mỗi tổ 2 em lên phối hợp. Thực hiện
    mục đích để các em phải chủ động học bài và luyện tập thường ngày các em mới
    nhớ, nếu em nào không nhớ sẽ bị phạt hát ( hoặc lò cò,…).
    Bước 7: Cho học sinh chia tổ thực hành, trong qúa trình các em luyện tập tôi
    chú ý đến việc quan sát các em và phát huy kĩ năng làm người điều hành. Chú ý:
    Các em phải hô đúng, quan sát để có thể sửa luôn cho bạn. Riêng với tôi, tôi sẽ
    quan sát khoảng 2 bạn lên điều khiển tôi mới sang tổ khác.
    Bước 8: Các tổ thực hành tập trước lớp (thi giữa các tổ) các tổ khác quan sát
    nhận xét. Đối với những học sinh tập sai ở nhịp nào tôi sửa luôn tránh để giờ sau
    các em lại tiếp tục sai.
    Bước 9: Tập hợp lớp luyện tập động tác, ở bước này tôi sẽ cho các em thay
    phiên nhau lên làm cán sự lớp điều khiển, tôi chủ động đi đến chỗ các em tập chưa
    chuẩn sửa luôn cho các em. Với các em tập sai nhiều, tôi không nặng lời với các
    em mà chỉ nói nhẹ nhàng để các em không tủi thân, khi em tập đúng tôi sẽ khen để
    em có động lực học tập tiếp. Sau khi sửa sai cho các em xong, tôi cho các em trình
    diễn bằng nhạc của bài “ Đi học về” của nhạc sĩ Hoàng Long – Hoàng Lân.
    Với các bước nêu trên, tôi thường xuyên sử dụng đối với các động tác của bài
    14
    Thể dục phát triển chung hiệu quả của giờ học đạt cao so với những năm trước tôi
    chưa sử dụng các bước cụ thể nêu trên, học sinh do tôi dạy rất hứng thú với phần
    học này.
    Ví dụ 2: Bài 22: Động tác toàn thân của bài thể dục phát triển chung.
    Bước 1: Treo tranh minh họa, giảng từng nhịp trên tranh. Tôi yêu cầu từng
    học sinh trong tổ phải lên trình bày đến lượt hai các em lên trình bày theo tổ( Vì
    mỗi tuần có 6 em phải lên nêu nội dung của tranh). Tôi nêu luôn tác dụng của động
    tác toàn thân giúp cơ thể chúng ta mềm dẻo các khớp hông, đùi gối.
    Bước 2: Khi các em trình bày xong tôi lưu ý ở nhịp 1 và 5 thân người phải
    vươn lên cao, trọng tâm phải dồn về phía trước, nhịp 2 và nhịp 6 thân người phải
    cúi sâu, hai chân thẳng.
    Bước 3: Tôi tập mẫu, tôi đứng cùng chiều với học sinh, khi tập tôi không
    giảng giải nữa mà tập luôn.Tôi hướng dẫn các em làm từng nhịp chậm, làm tốt
    từng nhịp mới phối hợp các nhịp của động tác.
    Bước 4: Tôi gọi 3 học sinh đại diện cho các tổ lên tập lại, bước này ta có thể
    coi là tập mẫu cũng được, nhưng tôi lại coi đây là bước khảo sát sự nhận thức và
    thực hành của các em nên tôi thường gọi học sinh bất kì tránh tập trung vào một
    đối tượng học sinh. Tôi yêu cầu cả lớp cùng quan sát và phát hiện ra những nhịp
    bạn chưa thực hiện được. Ở động tác này, các em đều thường tập chưa chuẩn ở
    nhịp 1 và nhịp 5 thân người không gập sâu.
    Bước 5: Tôi cho cả lớp tập 2 lần để nhìn ra những học sinh tập chưa đúng ở
    nhịp 2. Tôi gọi các em lên sửa luôn, đối với các em sửa đến hai lần không được tôi
    sẽ cho các em tập riêng từng nhịp sau đó mới khớp thành tám nhịp của một động
    tác.Chú ý trong quá trình hô khẩu lệnh cần chậm hơn một chút để các em định hình
    nhịp tập.
    Bước 6: Tập phối hợp 5 động tác: Vươn thở, tay, chân, lườn, bụng, toàn thân.
    Để giúp phát huy trí nhớ của các em, tôi gọi đại diện mỗi tổ 2 em lên phối hợp.
    Thực hiện mục đích để các em phải chủ động học bài và luyện tập thường ngày các
    em mới nhớ, nếu em nào không nhớ sẽ bị phạt hát (hoặc lò cò,…).
    Bước 7: Cho học sinh chia tổ thực hành, trong qúa trình các em luyện tập tôi
    chú ý đến việc quan sát các em và phát huy kĩ năng làm người điều hành. Chú ý:
    Các em phải hô đúng, quan sát để có thể sửa luôn cho bạn. Riêng với tôi, tôi sẽ
    quan sát khoảng 2 bạn lên điều khiển tôi mới sang tổ khác.
    Bước 8: Các tổ thực hành tập trước lớp (thi giữa các tổ) các tổ khác quan sát
    15
    nhận xét. Đối với những học sinh tập sai ở nhịp nào tôi sửa luôn tránh để giờ sau
    các em lại tiếp tục sai.
    Bước 9: Tập hợp lớp luyện tập động tác, ở bước này tôi sẽ cho các em thay
    phiên nhau lên làm cán sự lớp điều khiển, tôi chủ động đi đến chỗ các em tập chưa
    chuẩn sửa luôn cho các em. Với các em tập sai nhiều, tôi không nặng lời với các
    em mà chỉ nói nhẹ nhàng để các em không tủi thân, khi em tập đúng tôi sẽ khen để
    em có động lực học tập tiếp. Sau khi sửa sai cho các em xong, tôi cho các em trình
    diễn bằng nhạc của bài “Chim bay” của nhạc sĩ Vũ Thanh. Với các bước nêu trên,
    tôi thường xuyên sử dụng đối với các bài Thể dục phát triển chung hiệu quả của
    giờ học đạt cao so với những năm trước tôi chưa sử dụng các bước cụ thể nêu trên,
    học sinh khối 3 do tôi dạy rất hứng thú với phần học này.
    Với các bước nêu trên, tôi thường xuyên sử dụng đối với các bài Thể dục phát
    triển chung hiệu quả của giờ học đạt cao so với những năm trước tôi chưa sử dụng
    các bước cụ thể nêu trên, học sinh khối 3 do tôi dạy rất hứng thú với phần học này.
    Ở phần hoạt động 1 chủ yếu là ổn định tổ chức, khởi động, các trò chơi quen
    thuộc. Tôi thường luân phiên cho các em cùng với cô giáo lên điều khiển, hướng
    dẫn các bạn chơi trò chơi. Dần dần qua thời gian các em đã lấy được sự tự tin,
    mạnh dạn trong tập luyện. Các em đã có được một tâm lý tốt, đó là sự “tự tin”
    trong tập luyện. Nhiều em trở nên rât tích cực, hăng hái xung phong lên điều khiển
    các bạn chơi trò chơi.
    Ở nội dung của hoạt động 2 và hoạt động 3 chiếm thời lượng nhiều nhất của
    tiết học, là lượng kiến thức mới mà học sinh cần đạt được. Chính vì thế, giáo viên
    cần tạo được sự hưng phấn, sự bền bỉ duy trì trong suốt giờ học cho các em. Yêu
    cầu cần đặt ra là:
    *Về phía giáo viên:
    – Giáo viên nắm chắc được nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức điều
    khiển hoạt động cho học sinh ở từng nội dung như thế nào? Kết hợp lời nói phân
    tích, giảng giải, làm mẫu bắt mắt, “đẹp” thu hút được sự chú ý của học sinh.
    Ví dụ: Với chủ đề “Bài tập thể dục”: Kết hợp lời nói, phân tích, giảng giải
    ngắn gọn, dễ hiểu, làm mẫu bắt mắt, “đẹp” thu hút được sự chú ý của các em.
    Quay video ghi lại hình ảnh tập của các em để gửi về gia đình các em và để những
    ngày mưa không tập được ngoài sân tập thì cho các em xem lại hình ảnh tập của
    mình.
    – Chuẩn bị sân tập, các dụng cụ, phương tiện cho học sinh tham gia tập luyện,
    16
    chơi trò chơi được đầy đủ, chu đáo.
    – Tổ chức luân phiên các hình thức tập luyện cho học sinh như tập thep: cá
    nhân, cặp đôi, nhóm để học sinh đỡ nhàm chán.
    Ví dụ: Với chủ đề “Rèn luyện tư thế và kĩ năng vận động cơ bản và môn thể
    thao tự chọn”. Đây là hai nội dung khó trong chương trình vì vậy khi tập luyện tôi
    căn cứ vào tố chất, khả năng của từng học sinh để yêu cầu ở từng mức độ với từng
    em khác nhau. Đồng thời có kế hoạch bồi dưỡng phát triển tài năng cho các em,
    ứng dụng vào thực tế như: Xử lí tình huống bảo vệ bản thân, những người xung
    quanh khi ứng phó với thiên tai bất ngờ.
    *Về phía học sinh:
    – Các em thực hiện theo yêu cầu, mệnh lệnh của cán sự lớp.
    – Chú ý thực hiện cho đúng, đều và đẹp.
    – Chủ động, tích cực tập luyện không cần sự nhắc nhở của cô giáo và cán sự
    lớp.
    – Duy trì được trạng thái tâm lí vui, phấn khởi với quyết tâm cao.
    – Ý thức tham gia đánh giá nhận xét bạn nghiêm túc.
    *Theo cá nhân tôi để các em học tốt bài thể dục phát triển chung (bài tập thể
    dục) người giáo viên cần tuân thủ các phương pháp dạy thể dục truyền thống kết
    hợp với phương pháp dạy học hiện đại. Để học sinh hứng thú học bài thể dục phát
    triển chung, theo cá nhân tôi chúng ta cần thực hiện tốt các vấn đề sau:
    Trong quá trình tổ chức cho học sinh tập luyện động tác giáo viên phải hết
    sức chú ý về sân bãi, dụng cụ tập luyện, biến độ động tác cũng như phương pháp tổ
    chức. Nếu giáo viên không làm tốt vấn đề này thì khi tập luyện các em dễ bị chấn
    thương gây tâm lý không an tâm cho học sinh trong lúc tập luyện thì hiệu quả của
    động tác không cao cả về mặt thể lực cũng như sự phát triển về trí thức của các em.
    Giáo viên nêu tác dụng động tác để giáo dục học sinh chăm tập thể dục.
    Giáo viên cần khai thác triệt để bộ tranh do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
    các động tác mẫu của bài thể dục phát triển chung.
    Giáo viên cần xây dựng cho học sinh phương pháp chủ động khai thác kiến
    thức qua việc phân tích các nhịp của động tác trong bài thể dục phát triển chung.
    Giáo viên làm mẫu, phân tích kỹ thuật động tác, hướng dẫn động tác rõ ràng
    chính xác.
    17
    Học sinh lên tập thử , lớp quan sát nhận xét tuyên dương.
    GV điều khiển lớp tập, quan sát giúp đỡ học sinh sửa sai.
    Chia nhóm tập theo từng khu vực, giao viên cần qui định thời gian cụ thể.
    Tổ chức thi đua tổ ( nhóm) với nhau lớp nhận xét tuyên dương.
    Đại diện tổ ( nhóm ) thi đua với nhau GV cùng HS nhận xét tuyên dương.
    Trước khi lên lớp ở mỗi bài mỗi động tác phải đặt ra tình huống: Học sinh
    thường mắc phải lỗi sai như thế nào? Để có biện pháp sửa ngay. Đây là vấn đề rất
    quan trọng trong khi dạy các bài thể dục phát triển chung.
    Khi thực hiện phối hợp cácđộng tác của bài thể dục phát triển chung với các
    bài hát Thiếu nhi giúp cho giờ học của các em sôi động hơn, không bị gò bó. Việc
    phối hợp này vô cùng quan trọng khi học sinh hứng thú học tập tốt thì hiệu quả giờ
    học sẽ đạt được như mong muốn.
    Ngoài ra tôi còn chú ý đến việc tổ chức các trò chơi cho học sinh vào hoạt
    động 1 khởi động, hoạt động kết thúc tiết học. Đặc biệt, tôi chú trọng nhất vào hoạt
    động 1 khởi động để tạo sự lôi cuốn không khí vui vẻ thoải mái cho các em ngay từ
    đầu giờ học.
    Để tạo hứng thú cho học sinh, giáo viên nên chủ động thay đổi trò chơi một
    cách hợp lí để không gây nhàm chán. Trò chơi phải thay đổi tuỳ theo địa điểm
    chơi, không gian chơi, không lặp đi lặp lại nhiều lần và giáo viên phải có kĩ năng
    tổ chức trò chơi là hoà mình với trẻ con, cùng chơi với các con như người bạn lớn.
    Trong trò chơi người quản trò rất quan trọng, cuộc chơi có hào hứng hấp dẫn hay
    không là nhờ sự khéo léo, linh hoạt, nhạy bén của người quản trò. Trong quá trình
    tổ chức trò chơi cho học sinh tôi luôn gần gũi, động viên, vui vẻ cởi mở tạo không
    khí vui tươi hào hứng bằng dáng vẻ hài hước dí dỏm, hấp dẫn gây tiếng cười làm
    cho học sinh cảm thấy thoải mái và sảng khoái trong khi chơi. Qua đó học sinh
    mạnh dạn, tự tin hơn, sẵn sàng bày tỏ nguyện vọng của mình với giáo viên và tự
    khẳng định mình trong tập thể.
    Như chúng ta đã biết trò chơi dân gian Việt Nam rất phong phú, đa dạng
    nhưng không phải trò chơi nào cũng phù hợp với học sinh, vì thế giáo viên nên có
    sự cân nhắc lựa chọn cho phù hợp nếu không sẽ không đạt hiệu quả, phản tác dụng
    giáo dục. Ngoài vốn hiểu biết sẵn có tôi tìm hiểu thêm trên mạng, trong tài liệu trò
    chơi của Đội TN TPHCM. Sau khi sưu tầm các trò chơi, tôi phân loại và giới hạn
    một số trò chơi để hỗ trợ trong khi học từng chủ đề, từng tiết học ở các giai đoạn
    khác nhau. Cụ thể như sau:
    18

    Trò chơi luyện tinh mắt dẻo chânNhảy lò cò, nhảy dây, nu na nu nống
    Trò chơi luyện sự phán đoán, tính toán
    chính xác
    Ô ăn quan, cờ gánh
    Trò chơi phát hiện sự nhanh nhẹn, khéo
    léo hay tinh thần tập thể
    Kéo co, rồng rắn lên mây, cướp cờ….
    Trò chơi rèn luyện sự phán đoán, thính
    tai
    Bịt mắt bắt dê, bỏ khăn

    Các trò chơi này được luân phiên vận dụng trong phần hoạt động 1 khởi động
    cho học sinh, tạo sự hứng thú cho học sinh, lôi cuốn các em vào bài học.
    2.3.2.5. Biện pháp thứ năm: Tích hợp liên môn các môn học ở trường tiểu
    học.
    Với việc tích hợp liên môn các môn học nhằm tạo tâm lí cho học sinh cũng
    như cha mẹ học sinh, việc gắn kết các môn học như Toán, Tiếng Việt, Mỹ thuật,
    Âm nhạc,Tự nhiên xã hội…… với các mục đích lớn như sau:
    – Ứng dụng, sử dụng kiến thức của các môn học khác để học tốt môn GDTC.
    – Với năng lực đặc thù của từng môn học mà học sinh đạt được, các em sẽ hỗ
    trợ để học môn giáo dục thể chất. Xoá đi tâm lí nhàm chán, không coi trọng môn
    GDTC như môn học Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh…..bởi đó là tâm lí chung của
    một bộ phận không nhỏ ở học sinh và cha mẹ học sinh.
    + Với môn Toán: Học sinh được học về hai đường thẳng song song, vẽ vòng
    tròn, đo bao nhiêu mét, ước lượng khoảng cách di chuyển đội hình trên sân, các em
    sẽ hỗ trợ cô giáo trong việc kẻ các vạch trên sân để thực hiện tập luyện,tổ chức các
    trò chơi…..
    + Với môn Tiếng Việt: Khi học sinh chơi trò chơi, giáo viên có thể cho học
    sinh vừa chơi kết hợp đọc các bài thơ, các bài đồng dao….
    + Với môn Âm nhạc: Kết hợp với GV môn Âm nhạc để soạn thảo các bài hát
    ở phần: khởi động, trò chơi, thả lỏng, ứng dụng ….Kết hợp mở nhạc bài hát vui
    nhộn trong phần học bài thể dục phát triển chung, kể cả trong lúc học sinh chơi các
    trò chơi trong chương trình, tôi kết hợp với GV Âm nhạc lựa chọn các bài hát phù
    hợp với nội dung từng bài.
    19
    Ví dụ: Khi tập bài phát triển chung (bài tập thể dục). GV mở bài hát “Reo
    vang bình minh”
    theo cùng nhịp với từng động tác. Nó sẽ xua tan đi cảm giác căng thẳng, cứng nhắc
    của giờ học.
    Tôi đã lựa chon các bài nhạc thiếu nhi sau để sử dụng chung cho bài dạy của
    mình. Sau đây tôi xin trình bày việc lựa chọn đối với riêng bài thể dục phát triển
    chung.

    sttTên bài hátNhạc sĩÁp dụng cho bài thể
    dục
    1Bài thể dục buổi sángMinh TrangĐộng tác vươn thở
    2Đội kèn tí honPham Huỳnh ĐiểuĐộng tác vươn tay
    3Con chim nonLý TrọngĐộng tác vươn chân
    4Múa vuiLưu Hữu PhướcĐộng tác lườn
    5Đi học vềHoàngLong – Hoàng
    Lân
    Động tác bụng
    6Chim bayVũ ThanhĐộng tác toàn thân
    7Không giám đâuNguyễn Văn HiênĐộng tác nhảy
    8Cánh én tuổi thơPhạm TuyênĐộng tác điều hòa
    9Gặp nhau giữa trời
    thu Hà Nội
    Phạm TuyênPhối hợp các động tác.
    10Trái đất này là của
    chúng em
    Nhạc:Trương Quang
    Lục; Lời: Định Hải
    Phối hợp các động tác.

    Để cho bản thân mình có được tư liệu thực sự giảng dạy cho môn thể dục tôi đã
    sao chép nhạc của các bài hát trên và làm thành một đĩa ghi theo đúng thứ tự như
    trên để vận dụng vào giảng dạy lâu dài.
    Để học sinh hứng thú học tập các động tác của bài thể dục phát triển chung khi
    lựa chon bài hát tôi cũng chú ý đến giai điệu của bài hát với nhịp của bài thể dục.
    20
    *Ví dụ: Với động tác vươn thở và điều hòa:
    Chúng ta đều biết nhịp hô của hai động tác này chậm, nhẹ nhàng nên tôi sử
    dụng hai bài hát có giai điệu và tiết tấu nhẹ nhàng. Đưa nhạc vào lúc nào cho hợp
    lý? Tôi thường đưa vào lúc học sinh trình diễn động tác hoặc bài thể dục theo tôi
    thường dạy là bài 8. Còn lại các động tác theo nhịp rõ ràng tôi sử dụng như bảng
    trên.
    * Ví dụ: Bài 18: Ôn bài thể dục phát triển chung
    Đây là bài ôn tập nên tôi sẽ tận dụng tối đa âm nhạc để các em hứng thú trong
    giờ học. Ở bài này tôi dạy theo các bước sau (phần ôn tập bài thể dục phát triển
    chung):
    Bước 1: Yêu cầu học sinh nhắc các động tác của bài thể dục phát triển
    chung.
    Bước 2: Chủ tịch hội đồng tự quản điểu khiển lớp tập lại: Lần 1: Chủ tịch
    hội đồng tự quản hô, lần 2: tập theo nhạc của bài“Gặp nhau giữa trời thu Hà Nội”
    nhạc và lời Phạm Tuyên. Tôi quan sát và nhắc nhở các em tập còn chưa chuẩn.
    Bước 3: Chia tổ luyện tập. Các tổ thi nhau trình diễn 2 lần; lần 1: Cán sự
    điều khiển, lần 2 tập theo nhạc.
    Bước 4: Cả lớp trình diễn theo nhạc 2 lần.
    Khi tôi dạy như vậy các em học rất hăng say, khi trình diễn các em thực sự
    hòa mình vào bài tập qua giai điệu của bài hát. Tôi thấy giờ học thật hiệu quả: Học
    sinh tập ít sai hơn, khi tập trên khuôn mặt các em cảm thấy không gò bó như chưa
    có bài hát.
    Sau một năm giảng dạy tôi thấy ngoài việc sử dụng biện pháp nêu trên kết
    hợp với việc đã mạnh dạn sử dụng các bài nhạc thiếu nhi vào giờ học thì chất
    lượng môn học đạt hiệu quả rất cao.
    + Với môn Mĩ Thuật: Phối kết hợp với GV Mĩ Thuật vẽ mô phỏng các động
    tác theo hình que, các kĩ năng vận động, các trò chơi để tạo sự tư duy qua hình ảnh
    cho học sinh. Sau đó yêu cầu học sinh về nhà vẽ lại hình ảnh vui chơi của các bạn
    trong giờ học. Các em trưng bày sản phẩm rồi bình chọn và GV sẽ tuyên dương,
    khen thưởng cho các em bằng những đồ dùng học tập.
    21

    Bài vẽ của học sinh về bài tập thể dục
    Bài vẽ của học sinh về trò chơi Đua ngựa
    Bài vẽ của học sinh về tâng cầu bằng đùi

    22

    Bài vẽ của học sinh về đá cầu bằng mu bàn chân

    Nếu trong quá trình thực hiện, khi học sinh có thể chưa đạt được yêu cầu của
    môn Giáo dục thể chất nhưng các em lại làm tốt được các kiến thức các môn khác
    thì giáo viên không nên nóng vội nhận xét, phê bình ngay. Lúc đó, giáo viên lại
    khen các em đã nhớ và vận dụng các kiến thức đã học được vào tập luyện đồng
    thời giáo viên khéo léo, nhẹ nhàng nói rằng: Cô thấy, các em đã học tốt môn Toán,
    Tiếng Việt….. cô tin rằng không bao lâu nữa các em cũng sẽ học tốt môn Giáo dục
    thể chất này của cô, cácem có đồng ý không nào? Và như thế với lời động viên nhẹ
    nhàng, nhắc khéo của cô các em sẽ có cố gắng vươn lên để đạt được yêu cầu của
    môn học.
    Với cách làm này chính là tính sáng tạo của biện pháp mà tôi đã áp dụng
    thực hiện trong quá trình giảng dạy của mình.
    Song song với việc tích hợp liên môn thì việc đánh giá, nhận xét tuyên dương
    học sinh bằng những hình thức khác nhau cũng rất quan trọng.
    Thi đua là một biện pháp tối ưu hoá, tăng sự tích cực tập luyện, tôi đã nhận
    xét nhẹ nhàng từ yêu cầu nhỏ nhất. Đồng thời đưa ra các tiêu chí, ganh đua lành
    mạnh giữa các cá nhân, các nhóm đó là: Tổ chức thi đấu giữa các nhóm, tổ với
    nhau. Mỗi tiêu chí đạt được không cho bằng điểm mà bằng kí hiệu biểu tượng đám
    mây. Từ đám mây quy ra huy chương, từ huy chương quy ra giải thưởng.
    Như vậy khi đưa ra các tiêu chí thi đấu hs rất hào hứng, tích cực tập luyện.
    23
    2.3.2.6. Biện pháp thứ sáu: Đánh giá, nhận xét, tuyên dương học sinh
    không bằng điểm số mà bằng những hình thức khác nhau.
    *Thứ nhất: thực hiện nhận xét, đánh giá học sinh theo TT22/2016 của Bộ GD-
    ĐT và TT27/2020 của Bộ GD-ĐT áp dụng với CT GDPT 2018 từ lớp 1 năm học
    2020-2021 phát huy hiệu quả việc học sinh tự đánh giá và đánh giá bạn.
    Minh hoạ theo Phụ lục II
    Thực hiện việc nhận xét, đánh giá học sinh kịp thời từng hoạt động trong suốt
    quá trình diễn ra tiết học. Cụ thể tiến hành nhận xét theo thứ tự tăng dần như sau:
    THANG BẬC NHẬN XÉT HỌC SINH
    *Thứ hai: Tổ chức thi đấu giữa các nhóm, tổ với nhau với các tiêu chí thi đua
    rõ ràng được giáo viên cùng với học sinh xây dựng đưa ra bảng tiêu chí đánh giá
    thông qua lấy ý kiến biểu quyết của học sinh. Bảng tiêu chí đó không cố định mà
    phụ thuộc vào từng nội dung của bài học hôm đó.
    Ví dụ minh hoạ việc đánh giá giữa các nhóm khi học sinh học bài 59 – tuần
    30: Môn Thể thao tự chọn (môn GDTC lớp 5). Trò chơi “lò cò tiếp sức”.
    24
    Phiếu học tập này được áp dụng dạy tại lớp 5A2 trường tiểu học Chu Văn An,
    tp Nam Định khi tôi thực hiện dạy trong hội thi Giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh vào
    tháng 4/2021.
    Minh hoạ theo Phụ lục III
    Ví dụ: Ở nội dung tập đội hình đội ngũ, các tiêu chí đưa ra là:
    Mỗi tiêu chí đạt được không cho bằng điểm mà bằng ký hiệu biểu tượng.
    Ví dụ: Hai nhóm A và B thi đấu, tôi dùng bảng nhận xét, đánh giá là biểu
    tượng vẽ đám mây.
    Chú thích:
    Màu trắng Màu xanh Màu hồng
    Đội hình đội ngũ
    Tập hợp đội hình
    hàng dọc nhanh
    Tập hợp đội hình
    vòng tròn nhanh
    Tập hợp đội hình
    hàng ngang nhanh
    Dóng hàng điểm
    số nhanh
    Biết đi đều theo
    hai hàng dọc đúng
    Biết đi đều vòng
    trái vòng phải
    Biết đi đều đổi
    chân khi đi sai
    nhịp
    25
    – Màu trắng đạt được ở mức độ 1, còn từ 5 – 6 bạn chưa thực hiện được yêu
    cầu cần đạt.
    – Màu xanh đạt được ở mức độ 2 từ 3 – 4 bạn còn chưa thực hiện được yêu
    cầu cần đạt.
    -Màu hồng đạt được ở mức độ 3, chỉ còn từ 1 hoặc 2 bạn chưa thực hiện được
    yêu cầu cần đạt.
    Như vậy khi đưa ra các tiêu chí thi đấu, học sinh rất hào hứng tích cực thi đua
    giữa các nhóm.
    Khi từng cặp nhóm lên thi đấu, các nhóm còn lại cùng với ban cán sự lớp theo
    dõi, đánh giá xếp bảng (hạng) cho từng nhóm theo từng tuần, tháng. Nhóm nào có
    nhiều mây màu hồng là nhóm dành huy chương vàng, nhóm nào có nhiều mây màu
    xanh là nhóm dành huy chương bạc, nhóm còn lại là huy chương đồng. Giáo viên
    chuẩn bị các phần thưởng cho học sinh trên tinh thần hỏi sở thích của học sinh khi
    được nhận phần thưởng này là gì? Căn cứ vào nhu cầu chính đáng của học sinh để
    giáo viên thưởng có thể là dụng cụ học tập, xem video một câu chuyện cổ tích,
    thưởng bằng truyện tranh, sách thiếu nhi….
    Qua việc dùng biểu tượng đánh giá, nhận xét học sinh, có phần thưởng kịp
    thời học sinh rất vui thích. Các giờ học sau, các em đã hào hứng, chủ động tập
    luyện. Như vậy đã phát triển được năng lực chung là năng lực tự chủ, năng lực đặc
    thù thứ 3 là năng lực hoạt động TDTT cho các em.
    Với một tinh thần sẵn sàng đón nhận nhiệm vụ và tự giác tập luyện (hình
    thành phát triển phẩm chất chăm chỉ, ham học cho học sinh). Trên cơ sở học sinh
    chủ động tự tập luyện, vận dụng được các kiến thức, kĩ năng của các động tác, bài
    tập đã học, đã thực hiện để giải quyết vấn đề nảy sinh ở gia đình, cuộc sống.
    – Đây chính là hoạt động mà giáo viên cần chú trọng hình thành thói quen
    ngay từ ban đầu cho học sinh. Hoạt động này được thực hiện ở lớp, ở trường và ở
    nhà.
    – Với nội dung đội hình, đội ngũ: Thông qua xếp hàng ra vào lớp, chào cờ,
    ngoài giờ lên lớp như tập thể dục ca múa hát. Giáo viên còn kết hợp với giáo viên
    làm tổng phụ trách Đội trong tập dược nghi thức Đội. Ngoài ra, tôi sử dụng công
    nghệ thông tin đó là cho học sinh xem hình ảnh diễu binh, duyệt binh của các cô
    chú bộ đội, công an để khơi cho các em ước mơ, ý thức quyết tâm tập luyện.
    -Với nội dung bài tập thể dục được thực hiện chủ yếu như sau:
    26
    +Tập vào giờ ra chơi.
    +Tập vào sáng sớm lúc ngủ dậy.
    + Cùng với bố, mẹ , anh chị em tập ở nhà.
    Tôi quay video ghi lại hình ảnh tập của các em để gửi về gia đình và để những
    ngày mưa không tập được ngoài sân thì cho các em xem lại hình ảnh tập của mình.
    – Với nội dung bài tập tư thế và kĩ năng vận động cơ bản.
    Đây là hai nội dung khó trong chương trình vì vậy khi tập luyện căn cứ vào tố
    chất, khả năng của học sinh để có kế hoạch bồi dưỡng, phát triển tài năng cho các
    em…. Đồng thời gieo vào các em những ước mơ, mong muốn sau này có muốn
    làm vận động viên nào không? (như vận động viên điền kinh, vận động viên bóng
    đá, vận động viên bơi lội,……) nhiều em tỏ ra khá thích thú, say sưa tích cực tập
    luyện.
    Minh hoạ theo Phụ lục IV
    -Với nội dung môn thể thao tự chọn.
    Căn cứ vào cấu trúc nội dung chương trìn h được thiết kế từ dễ đến khó, từ
    đơn giản đến phức tạp, khi học sinh học song 3 nội dung trên các em sẽ sang 1 giai
    đoạn học nội dung khó hơn đó là nội dung môn thể thao tự chọn.
    Qua quá trình tập luyện, giáo viên quan sát, nhận xét phát hiện được năng lực
    của từng em để tiến hành dạy phân hoá. Từ đó giáo viên sẽ phân hóa đối tượng học
    27
    sinh để có những hình thức, yêu cầu tập luyện chuyên biệt với từng nhóm học sinh
    trong lớp ở các mức độ khác nhau.
    Đây là nội dung chú trọng phát triển học sinh năng khiếu. Thông qua nội dung
    này phát triển được năng lực đặc biệt của các em. Trên cơ sở đó giáo viên phối kết
    hợp với cha mẹ học sinh để có tiếp tục theo dõi bồi dưỡng sau này khi các em học
    lên THCS, THPT có sự định hướng nghề nghiệp cho các em.
    Như vậy tôi đã truyền cảm hứng cho các em, phát triển được phẩm chất
    chăm học, năng lực tự chủ trong học tập cho các em.
    2.3.2.7. Biện pháp thứ bảy: Phối kết hợp với CMHS trong việc giáo dục chế
    độ dinh dưỡng nâng cao sức khoẻ cho học sinh.
    Thành công trong giảng dạy của người giáo viên phụ thuộc vào nhiều yếu tố
    nhưng không thể không nói đến vai trò của CMHS. Sự kết hợp, đồng hành của
    CMHS là một “cú hích” vào ý thức, tư tưởng thái độ, niềm tin động cơ học tập cho
    các con. Thông qua việc cha mẹ đồng hành, cùng tập với con, đánh giá nhận xét
    con.
    Từ hoạt động vận dụng các bài tập ở nhà đã tác động tới tâm lí của CMHS để
    hiểu rằng môn học này cũng quan trọng, mỗi môn học có vị trí, tầm quan trọng
    khác nhau. Hiểu được lợi ích của tập thể dục thể thao là một nhu cầu không thể
    thiếu được qua việc tuyên truyền đó là tư tưởng lớn của Bác Hồ kính yêu: “ Một
    người dân yếu ớt làm cho cả nước yếu ớt, một người dân mạnh khỏe tức làm
    cho cả nước khỏe mạnh…” và vì thế “Luyện tập thể dục, bồi dưỡng sức khỏe là
    bổn phận của người dân yêu nước”.
    – Thông qua băng, đĩa hình, giáo viên gửi về cho CMHS, các em sẽ cùng tập
    với người thân trong gia đình.
    – Khi học bài chủ đề: “Bài tập rèn luyện tư thế và kĩ năng vận động cơ bản
    (bài tập chạy và bật nhảy). Giáo viên yêu cầu học sinh về nhà chủ động tự tập
    luyện ở nhà như sau:
    + Trước khi tắm, em hãy bật nhảy chụm hai chân. Tuỳ theo sức của mình. Sau
    đó đi lại hít thở sâu trong vòng 1 phút…để nâng cao sức khoẻ. Hoặc với bài tập rèn
    luyện kĩ năng lăn, lộn, yêu cầu khi ngủ dậy, các em hãy co chân lên ngực, hai tay
    ôm gối lăn người sang trái và lăn người sang phải 2 – 3 lần, sau đó ngồi khoanh
    chân trên giường hít vào thở ra 5 lần.
    + CMHS chú trọng cân bằng theo tháp dinh dưỡng để đảm bảo nâng cao sức
    khoẻ, phát triển thể lực là mục tiêu quan trọng xuyên suốt từ tiểu học đến THPT.
    28
    + Ngoài việc tham gia đồng hành cùng tập với con, CMHS còn đánh giá nhận
    xét con gửi về cho GV thông qua Zalo, tin nhắn điện tử…..
    Từ đó giáo dục học sinh, nâng cao nhận thức cho học sinh, biết tự chăm lo
    sức khỏe đảm bảo chế độ dinh dưỡng để bảo vệ sức khỏe, tăng cường sức khỏe.
    Đây chính là những nội dung mà học sinh cần đạt được ở năng lực đặc thù
    thứ nhất trong môn GDTC.
    Với việc nâng cao nhận thức của học sinh, sự tác động của CMHS sẽ làm cho
    học sinh có thêm một niềm tin vững chắc, là bước đà để thúc đẩy sự hứng khởi cho
    29
    học sinh trong việc tự chủ, tự giác tập luyệ

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education