• SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy và học bài thể dục phát triển chung lớp 5

    SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy và học bài thể dục phát triển chung lớp 5

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Môn Thể dục ở cấp Tiểu học là một trong những phương tiện, cách thức
    để giáo dục thể chất trong nhà trường nhằm giúp học sinh: Biết được một số
    kiến thức kỹ năng để luyện tập giữ gìn sức khỏe, nâng cao thể lực, giúp các em
    có sự tăng tiến về sức khoẻ, thể lực, đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa
    tuổi, giới tính; rèn luyện tác phong nhanh nhẹn, kỉ luật, nếp sống lành mạnh, thói
    quen tự giác tập luyện thể dục thể thao và giữ gìn vệ sinh; biết vận dụng ở mức
    độ nhất định những điều đã học vào nếp sinh hoạt trong và ngoài nhà trường;
    góp phần hình thành và rèn luyện phẩm chất, đạo đức của người lao động đáp
    ứng yêu cầu nguồn nhân lực cao trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa
    đất nước, hội nhập khu vực quốc tế và xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
    Chương trình môn Thể dục Tiểu học là một trong 11 môn học chính khóa
    đang được giảng dạy trong kế hoạch giáo dục ở cấp Tiểu học được thực
    hiện dạy học từ lớp 1 đến lớp 5 với thời lượng gồm 350 tiết chiếm 7,96% so với
    tổng thời lượng các môn học. Nội dung cốt yếu của môn học nhằm rèn luyện sức
    khỏe, thể lực, tư thế kỹ năng vận động cơ bản đúng cho học sinh, góp phần thực
    hiện mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh theo hướng phát triển phẩm chất, năng
    lực người học.
    Học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng là lứa tuổi đang
    phát triển và hoàn thiện thể chất, hệ cơ, hệ xương của các em đang phát triển
    mạnh mẽ, đặc biệt là mặt tâm sinh lý của các em có nhiều thay đổi lớn, các em
    rất hiếu động, thích tìm tòi, sáng tạo.Vì vậy, trong quá trình dạy học môn Thể
    dục, giáo viên phải tạo cho giờ học sôi nổi, hấp dẫn, kích thích, tác động toàn
    diện cả về mặt tâm sinh lý ở các em, tạo nên sự thu hút và hứng thú của học
    sinh, giúp các em yêu thích, tập luyện tự giác, tích cực hơn góp phần nâng cao
    chất lượng giáo dục cũng như phát triển tầm vóc, thể lực và trí tuệ cho các em.
    Bài thể dục phát triển chung được coi là nội dung trọng tâm của môn Thể
    dục ở tiểu học. Xuyên suốt cấp học, ở mỗi khối lớp có một bài thể dục phát triển
    chung khác nhau được xây dụng theo mức độ khó tăng dần phù hợp với từng lứa
    tuổi nhằm hoàn thiện thể chất, hệ cơ, hệ xương đang phát triển mạnh mẽ ở các
    em. Trong chương trình môn Thể dục lớp 5, bài Thể dục phát triển chung thời
    gian học là 9 tuần/35 tuần chiếm 25,7% tổng thời lượng môn học.
    Mục tiêu của các bài Thể dục phát triển chung là: Học sinh biết và thực
    hiện từng động tác chính xác, đúng nhịp, đúng phương hướng và biên độ; biết
    vận dụng tự tập luyện hàng ngày để rèn luyện sức khỏe. Học sinh tập đúng các
    động tác của bài thể dục phát triển chung không những giúp các em có sức khỏe
    tốt cho bản thân mà còn giúp các em bộc lộ nhiều phẩm chất năng lực, thói quen
    4
    như hợp tác, sáng tạo và một số tư duy khác nhằm hình thành năng khiếu cho
    những học sinh có tố chất. Song thực tế việc học tập của học sinh trong các giờ
    học bài Thể dục chung chưa hào hứng, tâm lí học sinh ở lứa tuổi này thường
    thích vận động, chạy nhảy, trong khi đó bài thể dục phát triển chung lại thiên về
    động tác và có phần gò bó, cứng nhắc nên nhiều học sinh chưa tập trung học,
    nhanh chán, tập đối phó, tư tưởng uể oải, khó nhớ động tác, thực hiện các động
    tác chưa đúng kĩ thuật, chất lượng giờ học chưa đáp ứng yêu cầu mục tiêu bộ
    môn.
    Để nâng cao chất lượng môn Thể dục nói chung và bài thể dục phát triển
    chung lớp 5 nói riêng, là người giáo viên được phân công dạy môn Thể dục lớp
    5, tôi không khỏi băn khoăn trăn trở làm thế nào để nâng cao chất lượng bài thể
    dục phát triển chung ở lớp 5 góp phần đạt yêu cầu mục tiêu của bộ môn Thể
    dục; đồng thời giúp học sinh tiếp cận chương trình đổi mới giáo dục phổ thông
    theo lộ trình khi lên lớp 6 bậc học THCS năm học 2021-2022.
    Chính vì vị trí, tầm quan trọng của bài thể dục phát triển chung ở lớp 5
    đối với công tác giáo dục toàn diện học sinh nên tôi đã tiến hành nghiên cứu đưa
    ra: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học bài thể dục phát triển
    chung lớp 5” với mong muốn nâng cao chất lượng giảng dạy bài thể dục phát
    triển chung nói riêng và môn học Thể dục nói chung.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    1.1. Thuận lợi
    Trường Tiểu học Liêm Hải luôn nhận được sự chỉ đạo kịp thời của Phòng
    Giáo dục – Đào tạo Trực Ninh, nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các cấp uỷ
    Đảng, chính quyền địa phương. Trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2, kiểm
    định chất lượng mức độ 3, Xanh – Sạch – Đẹp – An toàn.
    Trường học có sân tập Thể dục riêng biệt, cơ sở vật chất, trang thiết bị
    dạy học môn Thể dục tương đối đầy đủ.
    Lớp học được nhà trường và phụ huynh quan tâm lắp đặt máy tính kết
    nối mạng, màn hình tivi lớn, máy chiếu, hệ thống âm thanh di động tạo điều kiện
    thuận lợi cho việc dạy và học đạt kết quả cao. Bên cạnh đó, nhiều phụ huynh
    quan tâm, phối kết hợp cùng giáo viên và tạo điều kiện cho con em mình được
    trải nghiệm bộ môn Thể dục tại gia đình.
    Giáo viên Thể dục có trình độ chuyên môn vững vàng, có nhiều kinh
    nghiệm trong giảng dạy, nhiệt huyết với công việc.
    5
    Học sinh chăm ngoan, có tinh thần tự giác tích cực trong học tập, rèn
    luyện. Học sinh khối 5 phát triển đồng đều về trí tuệ và thể lực.
    Chương trình bài thể dục phát triển chung lớp 5 được giảng dạy từ tuần 8
    đến hết tuần 16 và được ôn lại vào hoạt động khởi động trong tất cả các tiết dạy
    Thể dục xuyên suốt năm học. Nội dung học này được trang bị đầy đủ tranh ảnh
    minh họa chi tiết cho từng động tác của mỗi bài.
    1.2. Khó khăn
    – Về phía cha mẹ học sinh:
    Một số phụ huynh chưa hiểu hết tầm quan trọng của bộ môn Thể dục,
    chưa nhận thức được ý nghĩa, tác dụng của việc tập luyện thể dục thể thao đối
    với sự phát triển tầm vóc và tăng cường sức khoẻ đối với con em mình. Chính vì
    thế, họ chưa quan tâm, nhắc nhở, động viên các em tích cực trong quá trình học
    tập ở trường cũng như việc luyện tập, ứng dụng ở nhà.
    – Về cơ sở vật chất:
    Diện tích sân tập thể dục còn hẹp, không bằng phẳng, mùa mưa hay bị
    đọng nước, mùa nắng ít bóng râm chưa đáp ứng yêu cầu môn học. Sân tập được
    bố trí gần với các lớp học nên khi dạy và học Thể dục cô trò luôn phải chú ý
    không làm ồn làm ảnh hưởng đến hoạt động dạy và học của các lớp. Điều đó
    làm cho việc giảng dạy của giáo viên cũng như việc tập luyện của học sinh còn
    gặp nhiều khó khăn.
    Đồ dùng, thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy và học tập môn Thể dục của
    học sinh còn hạn chế; một số đồ dùng được cấp phát lâu năm đã xuống cấp,
    chưa đáp ứng hết được yêu cầu dạy và học.
    – Về năng lực chuyên môn:
    Trong quá trình giảng dạy môn Thể dục giáo viên đôi khi còn cứng nhắc,
    chưa linh hoạt trong việc sử dụng phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học
    cũng như ứng dụng công nghệ thông tin để tạo hứng thú cho học sinh nên hiệu
    quả của tiết dạy còn hạn chế.
    – Về phía học sinh:
    Một số học sinh chưa ý thức được tác dụng của việc tập luyện thể dục thể
    thao đối với sức khỏe. Tâm lí học sinh ở lứa tuổi này thường thích vận động,
    chạy nhảy, trong khi đó bài thể dục phát triển chung lại thiên về động tác và có
    phần gò bó, cứng nhắc nên nhiều học sinh chưa yêu thích nội dung học bài thể
    dục phát triển chung như các nội dung học khác của môn học, không chú ý,
    chưa tự giác tích cực tập luyện, tập luyện với tư tưởng đối phó.
    6
    1.3. Khảo sát chất lượng bài thể dục phát triển chung đối với học sinh
    lớp 5 đầu năm học 2020 – 2021.
    Đầu năm học 2020 – 2021, tôi tiến hành khảo sát học sinh hai lớp 5 do tôi
    trực tiếp giảng dạy với 2 nội dung:
    Nội dung 1: Tìm hiểu sự yêu thích và hứng thú học bài thể dục phát triển
    chung.
    Nội dung 2: Khảo sát chất lượng học tập bài thể dục phát triển chung
    – Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 5D và 5E
    – Thời gian khảo sát: Tháng 9/2020
    – Mục đích khảo sát: Tìm hiểu thực trạng về sự yêu thích học tập bài thể
    dục phát triển chung lớp 5 và chất lượng học tập bài thể dục phát triển chung của
    học sinh và rút ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó. Từ đó, tìm ra biện pháp
    nâng cao chất lượng dạy và học
    bài thể dục phát triển chung lớp 5 nói riêng và môn Thể dục lớp 5 nói
    chung.
    + Nội dung 1: Tìm hiểu sự yêu thích học bài thể dục phát triển chung của học
    sinh.
     Tiêu chí đánh giá:
    Học sinh thích học bài thể dục phát triển chung.
    Học sinh không thích học bài thể dục phát triển chung.
    Học sinh còn phân vân chưa thể hiện rõ quan điểm.
     Hình thức khảo sát: Thông qua phiếu khảo sát tìm hiểu sự yêu thích
    của học sinh khi học bài thể dục phát triển chung bằng cách đánh dấu x vào ô
    trống tương ứng.
     Kết quả khảo sát:

    LớpTổng số HSHọc sinh thích học bài
    TD phát triển chung
    Học sinh không
    thích học bài TD
    phát triển chung
    Học sinh còn phân vân
    (Chưa thể hiện rõ
    quan điểm)
    Số lượngTỉ lệ %Số lượngTỉ lệ %Số lượngTỉ lệ %
    5D351131,4%2160%38,6%
    5E351234,3%1954,3%411,4%

    7
    + Nội dung 2: Khảo sát chất lượng học tập bài thể dục phát triển chung.
     Tiêu chí đánh giá:
    Thực hiện đúng kĩ thuật động tác, đếm nhịp to, rõ ràng, đúng tốc độ, đúng
    thứ tự và đủ các động tác trong bài: Hoàn thành tốt
    Thực hiện cơ bản đúng từ 5-8 động tác trong bài: Hoàn thành
    Thực hiện cơ bản đúng dưới 5 động tác: Chưa hoàn thành
     Hình thức khảo sát: Học sinh thực hiện bài thể dục phát triển chung
     Kết quả khảo sát:
    Nhận xét: Qua 2 bảng khảo sát trên ta thấy:
    – Với cùng giáo viên dạy với đối tượng học sinh hai lớp có trình độ tương
    đương, môi trường học tập, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và đồ dùng
    dạy học như nhau. Kết quả khảo sát của 2 lớp tương đối đồng đều.
    – Nhiều học sinh chưa hứng thú, không yêu thích học bài thể dục phát
    triển chung.
    – Nhiều học sinh thuộc bài thể dục phát triển chung đạt mức hoàn thành,
    nhưng các em lại mắc nhiều lỗi kĩ thuật như:
    + Học sinh chưa thực hiện đúng phương hướng, biên độ động tác, khi tập
    luyện các em thiếu sự căng cơ cần thiết của các bộ phận cơ thể.
    + Còn nhiều học sinh chưa tập đúng tốc độ động tác, đặc biệt ở những
    động tác khó. Khi đếm nhịp, nhiều em còn rụt rè đếm nhịp bé hoặc không đúng
    tốc độ.
    – Tỉ lệ học sinh hoàn thành tốt nội dung học tập bài thể dục phát triển
    chung còn thấp.

    LớpTổng số HSHoàn thành tốt
    (Tập đúng kĩ thuật 8 động
    tác, đếm nhịp to, rõ ràng)
    Hoàn thành
    ( Tập cơ bản đúng từ
    5-8 động tác)
    Chưa hoàn thành
    (Tập cơ bản đúng dưới
    5 động tác)
    Số lượngTỉ lệ %Số lượngTỉ lệ %Số lượngTỉ lệ %
    5D351028,6%2365,7%25,7%
    5E351131,4%2262,9%25,7%

    8
    Trước thực tế trên, làm thế nào để nâng cao chất lượng cho học sinh học
    tập và yêu thích nội dung học tập bài Thể dục phát triển chung ở lớp 5, tôi đã đi
    sâu tìm hiểu cụ thể nguyên nhân của từng nội dung thực trạng trên.
    * Nguyên nhân
    Một số cha mẹ học sinh nhận thức chưa đầy đủ và có tư tưởng xem trọng
    các môn văn hóa như môn tiếng Việt, môn Toán; chưa hiểu hết tầm quan trọng
    của bộ môn Thể dục; chưa nhận thức được ý nghĩa, tác dụng của việc tập luyện
    thể dục thể thao đối với sự phát triển tầm vóc và tăng cường sức khoẻ đối với
    con em mình. Chính vì thế, họ chưa quan tâm, nhắc nhở, động viên các em tích
    cực trong quá trình học tập ở trường cũng như việc luyện tập ứng dụng bài học ở
    nhà.
    Giáo viên khi tổ chức các hoạt động học tập chưa áp dụng linh hoạt các
    biện pháp dạy học tích cực để tạo cho học sinh sự say mê, yêu thích môn học.
    Bài thể dục phát triển chung các động tác, khẩu lệnh mang tính chất
    mệnh lệnh, khô khan gò bó, không tạo sự hấp dẫn thu hút học sinh tập trung học
    tập.
    Học sinh chưa hứng thú với nội dung bài thể dục phát triển chung. Không
    khí tiết học chưa sinh động, học sinh học tập thụ động, chưa tích cực, chưa chủ
    động khám phá kiến thức và tập luyện.
    Môn học không có sách giáo khoa nên còn khó khăn đối với một số học
    sinh trong việc tìm hiểu bài và ôn lại các động tác khi cần thiết.
    Vậy việc nâng cao chất lượng môn Thể dục nói chung và bài thể dục phát
    triển chung lớp 5 nói riêng là điều mà mỗi giáo viên thể dục cần suy ngẫm, làm
    thế nào để bộ môn này phát triển ngày một rộng rãi hơn, được học sinh yêu thích
    nhiều hơn và đạt kết quả cao hơn.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    Từ những thực trạng nêu trên, ngay từ đầu năm học 2020-2021 tôi đã suy
    nghĩ và tìm ra một số biện pháp bước đầu áp dụng thành công trong việc dạy
    học bài thể dục phát triển chung lớp 5.
    Tôi chọn lớp 5D làm lớp thực nghiệm. Trong quá trình giảng dạy bài thể
    dục phát triển chung, tôi áp dụng “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và
    học bài thể dục phát triển chung lớp 5” thiết kế bài theo hướng phát huy phẩm
    chất năng lực học sinh, sử dụng các phương pháp, hình thức và kĩ thuật dạy học
    để tạo hứng thú cho học sinh để thực nghiệm.
    9
    Chọn lớp 5E làm lớp đối chứng. Lớp này tôi không áp dụng “Biện pháp
    nâng cao chất lượng dạy và học bài thể dục phát triển chung lớp 5” chỉ dạy theo
    các phương pháp và hình thức giảng dạy thông thường như hướng dẫn trong
    sách giáo viên xuất bản năm 2012.
    Để nâng cao chất lượng bài thể dục phát triển chung, đòi hỏi người giáo
    viên phải linh hoạt trong việc phối kết hợp các phương pháp và hình thức kĩ
    thuật dạy học tích cực. Để giải quyết những khó khăn, thực trạng nêu trên, tôi đã
    áp dụng các biện pháp đối với lớp thực nghiệm như sau:
    2.1. Rèn kĩ năng thực hiện đúng phương hướng biên độ động tác
    Để giúp học sinh hình thành thói quen thực hiện đúng phương hướng biên
    độ các động tác, trước tiên giáo viên phải hình thành cho các em kiến thức đúng
    ngay từ ban đầu đối với các động tác cơ bản của tay và của chân bằng cách cho
    các em luyện tập các bài tập bổ trợ sau:
    Bài 1: Tư thế vận động của tay gồm các động tác:
    + Động tác hai tay thẳng phía trước
    + Động tác hai tay dang ngang
    + Động tác hai tay thẳng trên cao
    + Động tác hai tay chếch chữ V trên cao
    Giáo viên hướng dẫn học sinh tập riêng lẻ từng động tác và hướng dẫn tỉ
    mỉ về tư thế, biên độ của tay: tay thực hiện phải có sự căng cơ cần thiết, đủ lực,
    khuỷu tay, cổ tay luôn thẳng, các ngón tay phải khép vào nhau và phối hợp nhịp
    nhàng giữa hướng nhìn, tư thế của đầu và vận động của tay.
    Bài 2: Tư thế vận động của chân
    + Bài 1: Chân đưa ra trước
    + Bài 2: Chân đưa sang ngang
    + Bài 3: Chân đưa ra sau
    Khi thực hiện từng động tác, phải duỗi thẳng chân, cổ chân, không thực
    hiện quá nhanh nếu không sẽ bị mất thăng bằng do chuyển trọng tâm cơ thể không
    hợp lí.
    2.2. Rèn kĩ năng đếm nhịp (hô nhịp)
    Để thực hiện bài thể dục đúng đẹp thì cần đếm nhịp đúng tốc độ, đếm
    nhịp to, rõ ràng dứt khoát. Vì vậy khi bắt đầu học một động tác mới, giáo viên
    10
    cần hướng dẫn cho học sinh biết với động tác này thì cầm đếm nhịp với tốc độ
    nào, chậm, trung bình hay nhanh, giọng đếm nhịp phải thể hiện ra sao như:
    + Động tác: Vươn thở, Điều hoà nhịp hô phải chậm.
    + Động tác: Chân, lưng bụng, toàn thân nhịp hô phải trung bình.
    + Động tác: Tay, nhảy nhịp hô hơi nhanh
    Sau đó, giáo viên làm mẫu cách đếm nhịp cho học sinh nghe và cho các
    em đếm nhịp theo giáo viên, khi các em đã nắm được cách đếm nhịp, giáo viên
    tổ chức cho các em luyện đếm nhịp theo cặp đôi, theo nhóm để các em có thể
    học hỏi và giúp đỡ lẫn nhau.
    Trong quá trình thực hiện các động tác, yêu cầu học sinh hô nhịp cùng
    giáo viên hoặc cán sự lớp nhằm bồi dưỡng thường xuyên kĩ năng đếm nhịp của
    học sinh.
    2.3. Rèn kĩ năng thực hiện đúng tốc độ động tác
    – Để các em thực hiện động tác đúng tốc độ, tôi yêu cầu các em phải thực
    hiện động tác đúng với nhịp đếm, không thực hiện nhanh hơn hay chậm hơn
    nhịp đếm, cụ thể:
    + Cho các em thực hiện từng nhịp riêng lẻ theo nhịp đếm của giáo viên,
    trước tiên giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện động tác theo nhịp đếm một nhịp
    một với các tốc độ khác nhau sau đó giữ nguyên động tác ở nhịp đó, rồi thực
    hiện động tác với 2-3 nhịp đếm, thực hiện bài tập lặp lại nhiều lần như vậy với
    tất cả các tư thế cơ bản nhằm rèn cho các em thói quen tập đúng nhịp đếm dù
    nhịp đếm là nhanh hay chậm.
    2.4. Biện pháp “Phân tích làm mẫu của giáo viên và bồi dưỡng đội
    ngũ cán sự lớp”
    * Bồi dưỡng đội ngũ cán sự lớp
    Dạy học phát huy phẩm chất và năng lực cho học sinh đang là cái đích mà
    chương trình giáo dục phổ thông mới đang hướng tới. Thực tế đã cho thấy nếu trong
    lớp có được đội ngũ cán sự thể dục làm tốt vai trò của mình thì nề nếp cũng như việc
    thực hiện các hoạt động trong giờ học của lớp đó tốt hơn hẳn. Đối với bài thể dục
    phát triển chung các con cũng nhanh chóng thuộc bài và tập đều đẹp hơn.
    Vì vậy phát huy vai trò của đội ngũ cán sự thể dục vừa là cánh tay nối dài
    của giáo viên, vừa tạo điều kiện cho các em có cơ hội để thể hiện bản thân, để tự
    tin, mạnh dạn và sáng tạo.
    11
    – Mục tiêu: Phát huy tính tích cực của người học, giúp cho học sinh tiếp
    thu kiến thức tốt nhất, hình thành tích tích cực tự giác tập luyện, biết hợp tác,
    chia sẻ và giúp đỡ bạn bè trong tập luyện, đặc biệt trong hoạt động học tập theo
    nhóm.
    – Cách thực hiện: Ngay từ đầu năm học giáo viên tiến hành lựa chọn
    những em có trình độ thể lực tốt, tiếp thu động tác nhanh, chính xác, có khả
    năng bao quát và quan sát tốt, tích cực gương mẫu trong học tập, có uy tín trong tổ
    làm cán sự nhóm.
    – Ban cán sự gồm: 1 lớp trưởng, mỗi tổ chọn một tổ trưởng và một tổ phó.
    – Nhiệm vụ ban cán sự:
    + Lớp trưởng hỗ trợ điều khiển hoạt động học cả lớp, có trách nhiệm đôn
    đốc, giúp đỡ các bạn trong lớp tập luyện.
    + Tổ trưởng, tổ phó điều khiển hoạt động của nhóm, có trách nhiệm đôn
    đốc, giúp đỡ các bạn trong nhóm tập luyện.
    – Cách thức đào tạo ban cán sự: Giáo viên hướng dẫn các em cán sự
    cách tổ chức quản lý khi tập luyện nhóm, các bước học tập khi hoạt động
    nhóm, biết phát hiện những lỗi sai của từng động tác và biết giúp đỡ bạn sửa
    sai hoặc báo cáo với giáo viên để sửa sai kịp thời.
    * “Giáo viên phân tích và làm mẫu động tác”
    12
    Như chúng ta đã biết, trẻ nhỏ là bậc thầy trong việc bắt chước, cách
    thu hút tốt nhất với học sinh là tạo cho các con sự ngạc nhiên, thích thú và
    mong muốn đạt được điều các con đang tận mắt thấy. Vì vậy ngoài việc
    khai thác triệt để bộ tranh, các video về bài thể dục phát triển chung, giáo
    viên chính là tấm gương, là bức tranh chân thật nhất, sống động nhất giúp
    các con hình dung chính xác nhất về động tác.
    Phương pháp này ưu tiên sử dụng cho những bài học có động tác
    mới, đặc biệt là những động tác khó như động tác chân ở bài 17, động tác
    toàn thân ở bài 21, động tác thăng bằng ở bài 25.
    – Yêu cầu khi làm mẫu: Giáo viên làm mẫu động tác phải đạt yêu cầu
    chính xác, đẹp, đúng kỹ thuật, vì những động tác ban đầu dễ gây ấn tượng sâu
    trong trí nhớ các em.
    – Yêu cầu khi phân tích: Giáo viên phải phân tích tỉ mỉ từng nhịp, cần nói
    ngắn gọn sao cho học sinh dễ hiểu, dễ tiếp thu, nắm được kỹ thuật từng nhịp của
    động tác, tạo điều kiện cho học sinh tiếp nhận bài tập chính xác về mặt kỹ thuật,
    đồng thời giúp học sinh nhớ và khắc sâu để từ đó hình thành biểu tượng chung
    về động tác.
    Giáo viên tập mẫu động tác “Thăng bằng” của bài thể dục phát triển chung
    2.5. Biện pháp “Tạo hứng thú học tập cho học sinh”
    Để học sinh có thể chủ động lĩnh hội, khám phá và chiếm lĩnh kiến thức,
    giáo viên phải thường xuyên có những biện pháp kích thích học sinh, tạo hứng
    13
    thú học tập cho học sinh. Đây là biện pháp có vai trò rất quan trọng trong quá
    trình dạy học các môn học trong nhà trường nói chung, trong giảng dạy môn Thể
    dục nói riêng.
    Bởi vì, học tập hay làm bất kỳ một công việc gì mà không có sự yêu thích
    không có hứng thú thì không thể đem lại kết quả cao được. Khi học sinh đã có
    sự say mê, yêu thích môn học thì các con sẽ hình thành được tính tự giác, tích
    cực trong học tập cũng như luôn có sự hào hứng, sôi nổi và chờ đợi mỗi khi có
    tiết học thể dục. Để tạo được hứng thú học tập cho học sinh, tôi áp dụng những
    việc làm sau:
    – Tạo không khí vui vẻ, thoải mái, không áp lực cho học sinh ngay từ đầu
    giờ học thông qua trò chơi, kể chuyện, vận động theo nhạc
    + Bước vào lớp, giáo viên phải thể hiện được nét mặt niềm nở, tươi cười, tạo
    cho học sinh tâm lí thoải mái, không căng thẳng, sợ sệt tạo tiền đề tốt nhất cho học
    sinh bước vào các hoạt động học tập và rèn luyện.
    + Hoạt động mở đầu là hoạt động đầu tiên có giá trị tiên quyết, quyết định
    hiệu quả của giờ dạy. Vì vậy tôi thường tổ chức cho học sinh hát múa hoặc nhảy các
    bài dân vũ trên nền nhạc mà các em yêu thích, kể một mẩu chuyện hài hước, kể
    chuyện về các vận động viên tài năng hoặc thế hệ học sinh đã đạt được được thành
    tích cao của nhà trường những năm học trước với học sinh để thu hút sự chú ý và tạo
    tâm thế phấn khởi trước khi bước vào phần cơ bản.
    + Trò chơi cũng được tôi ưu tiên sử dụng. Các trò chơi trong phần này
    chủ yếu là những trò chơi tập thể nhẹ nhàng, dễ làm, dễ nhớ không mang tính thi
    đua quá cao để tránh mất thời gian như: Trò chơi “Hộp quà bí mật”, “Kết bạn”,
    “Xì điện”, “Tìm người chỉ huy”, “Rồng rắn lên mây” và rất nhiều các trò chơi
    khác.
    Tùy từng nội dung bài học tôi lựa chọn phương pháp tạo hứng thú cho
    học sinh đầu giờ học một cách khác nhau, song cần tránh dập khuôn máy móc
    hay lặp lại tạo sự nhàm chán.
    Bài 16: Hoạt động mở đầu tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “ Hộp quà
    bí mật”; Bài 18: Hoạt động mở đầu cho học sinh vận động trên nền nhạc bài
    “Hân hoan em đến trường”; Bài 19: Hoạt động mở đầu, giáo viên cùng học sinh
    vận động trên nền nhạc bài Doraemon, Bài 27: Hoạt động mở đầu tổ chức cho
    học sinh chơi trò “Kết bạn”.
    14
    – Sử dụng âm nhạc, công cụ hỗ trợ trong tập luyện
    Âm nhạc luôn là nguồn cảm hứng bất tận đối với con người, âm nhạc
    mang đến cho chúng ta không khí vui tươi và thư thái. Nắm bắt được điều này,
    tôi đã ưu tiên đưa âm nhạc vào trong các giờ học để mang lại cảm giác tươi mới
    cũng như tinh thần hưng phấn học tập cho học sinh, cụ thể như:
    + Ở hoạt động khởi động, tôi thường bắt đầu bằng việc cùng học sinh vận
    động và khởi động trên nền những bài hát vui tươi phù hợp lứa tuổi học sinh như
    bài hát: Khỏe vì nước, Bài ca đi học, Tiếng chuông và ngọn cờ, Con cào cào,
    Thật đáng yêu, Khăn quàng thắp sáng bình minh, Đội kèn tí hon,.. Hoặc những
    nền nhạc đang thịnh hành thu hút giới trẻ như Pokemon go, Baby shark, hay các
    bài nhạc trong chương trình tuổi trẻ học đường phòng tránh covid…
    15
    + Những tiết có nội dung ôn luyện bài thể dục phát triển chung, tôi sử
    dụng âm nhạc để tạo nền cho quá trình ôn luyện bài thể dục phát triển chung làm
    cho các giờ học thể dục không còn khô cứng mà trở nên nhẹ nhàng, giúp các em
    tập luyện sôi nổi hơn.
    Bước đầu khi các con chưa quen, tôi kết hợp với nhịp hô, hiệu lệnh còi,
    kết hợp từ ít đến nhiều động tác trong một bài nhạc. Tôi lựa chọn những bài hát
    gần gũi, phù hợp lứa tuổi học sinh như: Trái đất này là của chúng mình, Đi ta đi
    lên, Con cào cào, Em yêu trường em.
    Ngoài việc sử dụng âm nhạc trong phần đầu tạo hứng thú, hay làm nhạc
    nền cho bài thể dục, tôi còn sử dụng âm nhạc để thả lỏng khi kết thúc bài học để
    tạo trạng thái tâm lý thoải mái nhất, tốt nhất để các con không cảm thấy mệt mỏi
    căng thẳng, tiếp tục mong chờ các giờ học tiếp theo. Các bài nhạc được ưu tiên
    lựa chọn là các bài nhạc không lời kinh điển, nhạc thiền, nhạc yoga có giai điệu
    du dương đi vào lòng người.
    Giáo viên cùng học sinh thả lỏng dưới nền nhạc bài Titanic
    + Bên cạnh đó, tôi còn phát động và hướng dẫn học sinh làm hoa cài tay,
    cờ cầm tay, sử dụng để thực hiện các động tác thể dục sẽ tạo được hiệu ứng
    đồng đều, đẹp mắt hơn, kích thích các em tích cực tự giác tập luyện hơn.
    Bài 23: Động tác vươn thở, tay, chân, vặn mình, toàn thân – Trò chơi “Ai
    nhanh và khéo hơn”, Bài 28: Ôn bài thể dục phát triển chung – Trò chơi “Thăng
    bằng”; giáo viên sử dụng nền nhạc bài hát “Đi ta đi lên” cho học sinh tập luyện
    ôn lại các động tác của bài thể dục phát triển chung.
    16
    Học sinh tập bài thể dục kết hợp với hoa, cờ cài tay
    – Phối hợp linh hoạt nhiều phương pháp và hình thức luyện tập
    Trong giờ học để tránh tình trạng nhàm chán, tôi tổ chức cho học sinh tập
    luyện với nhiều hình thức khác nhau: Tập cá nhân, tập theo cặp đôi, tập theo
    nhóm, tập theo cả lớp. Thay đổi cách chia nhóm theo nhiều hình thức khác nhau
    để tạo hứng thú cho học sinh tích cực trong hoạt động nhóm.
    Trong quá trình luyện tập tập thể, không nhất thiết lúc nào cũng cho học
    sinh tập luyện theo đội hình 3-4 hàng ngang mà phải thường xuyên thay đổi theo
    các đội hình khác nhau để tạo hứng thú cho học sinh: Đội hình vòng tròn, hình
    vuông, đội hình đồng diễn,…
    Học sinh tập luyện theo đội hình đồng diễn và đội hình vòng tròn
    17
    Học sinh tập luyện theo đội hình hàng ngang
    – Sử dụng trò chơi học tập vào các bài ôn tập
    Nghiên cứu cho thấy, trò chơi học tập có khả năng kích thích hứng thú và
    trí tưởng tượng của trẻ em, kích thích sự phát triển trí tuệ của các em.
    Như vậy nếu giáo viên biết chọn và tổ chức các trò chơi hợp lý với nội
    dung bài học sẽ giúp bổ trợ các kiến thức tốt hơn. Ở những bài ôn tập, ngoài hình
    thức tập luyện thông thường, để ôn lại động tác bài thể dục phát triển chung tôi còn
    cho các em ôn lại kiến thức bằng cách áp dụng trò chơi học tập để giúp các em dễ
    ghi nhớ kiến thức bài học hơn. Đồng thời tạo được không khí vui tươi trong giờ
    học, giờ học không còn nặng nề, gượng ép, từ đó sẽ truyền cảm hứng và nảy
    sinh sự yêu thích môn học ở các em.
    18
    Một số trò chơi học tập tôi thường áp dụng như: “Đuổi hình bắt chữ”,
    “Tìm đúng số”, “Nghe miêu tả đọc đúng tên”, “Hái hoa dân chủ”, “Nặn tượng”
    và nhiều trò chơi học tập khác với mục đích giúp các em củng cố và ghi nhớ các
    động tác tốt nhất mà không bị gượng ép, căng thẳng.
    Học sinh thảo luận nhóm trả lời câu hỏi khi chơi trò “Tìm đúng số”
    – Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy
    Công nghệ thông tin ngày càng được ưu tiên sử dụng trong dạy học, cả
    môn Thể dục cũng không ngoại lệ. Mặt khác, học sinh tiểu học rất thích xem
    tranh, ảnh, tivi, nên ngoài khoảng thời gian tập luyện trên sân thì tôi còn tổ chức
    cho các em được xem các đoạn video về động tác mẫu, đặc biệt là những động
    tác khó, tôi tiến hành tua chậm kết hợp với phân tích để các em ghi nhớ và nắm
    bắt được kĩ thuật động tác tốt nhất. Hoặc cho các em xem những động tác do
    chính các em thực hiện trong giờ học mà tôi ghi lại sẽ được trình chiếu trước lớp
    để các em nhìn nhận rút kinh nghiệm cho bản thân.
    Điều này làm cho các em rất thích thú, các em đều muốn được cô giáo ghi
    hình và phát lại video trước lớp nên trong các buổi học các em tập luyện tích cực
    hơn, động tác chuẩn chỉ hơn.
    Đặc biệt trong thời gian dịch bệnh covid hoành hành, việc tập luyện thể
    dục thể thao để nâng cao sức khỏe là rất cần thiết, tôi đã thực hiện, lập nhóm
    zalo, quay video, tổ chức thi đua, khuấy động phong trào để cùng các em tập
    luyện tại nhà, nâng cao sức khỏe, phòng chống bệnh tật tốt hơn.
    19

    Học sinh học Thể dục ngoại khóa trên
    ứng dụng Room
    Học sinh quay lại hoạt động tập luyện
    ở nhà gửi qua nhóm Zalo

    – Tăng cường kiểm tra, đánh giá; tổ chức cho học sinh thi đua, động
    viên, khuyến khích học sinh kịp thời.
    Ngoài việc kiểm tra, đánh giá học sinh theo Thông tư 22/TT-BGDĐT
    ngày 22 tháng 9 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, giáo viên còn
    đánh giá học sinh bằng hình thức: quay video các động tác học sinh tập luyện
    trong giờ học và tiến hành trình chiếu cho cả lớp cùng xem, cùng đánh giá nhận
    xét bản thân và đánh giá bạn. Từ đó các em rất hào hứng, tích cực và nghiêm túc
    trong quá trình tập luyện.
    Một phần không thể thiếu trong mỗi tiết học thể dục đó chính là tổ chức
    cho học sinh thi đua giữa các tổ, nhóm trong lớp, tổ chức cho các em thi đua
    dưới nhiều hình thức khác nhau: khi thì từng tổ lên tập cả bài thể dục, khi thì các
    tổ tập nối tiếp nhau, khi thì các tổ tập dưới hình thức thách đố, đồng diễn. Từ đó
    tạo ra sự quyết tâm, tích cực tập luyện của mỗi cá nhân học sinh.
    Bên cạnh đó, giáo viên còn phối kết hợp với phụ huynh học sinh cùng
    tham gia đánh giá, khuyến khích các em tập luyện ở nhà thông qua nhóm zalo
    với sự tham gia của các phụ huynh trong lớp. Từ đó, lan tỏa tới các bậc phụ
    huynh tinh thần rèn luyện thể dục thể thao cùng con em tại gia đình.
    Vào cuối tuần, sau khi học xong các Bài 18, bài 20, bài 22, bài 26, bài 28,
    bài 30, giáo viên khuyến khích các con tập cùng người thân của mình ở nhà.
    Trong khi tập luyện, mỗi học sinh sẽ quay lại video tập luyện theo yêu cầu của
    20
    giáo viên và gửi vào Zalo nhóm. Học sinh cùng giáo viên đ

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Biện pháp tạo hứng thú cho HS trong hoạt động Giáo dục thể chất bằng trò chơi và âm nhạc

    SKKN Biện pháp tạo hứng thú cho HS trong hoạt động Giáo dục thể chất bằng trò chơi và âm nhạc

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    * Cơ sở lí luận:
    Nghiên cứu khoa học đã chứng minh rèn luyện thể chất không những có
    vai trò quan trọng trong sự phát triển của cơ thể mà còn có những tác động tới
    con người về các mặt trí lực. Thực tiễn cũng đã chứng minh, chăm sóc và nâng
    cao sức khỏe thông qua việc rèn luyện thể chất, là biện pháp chủ động, tích cực
    nhất, ít tốn kém nhất, có khả năng thực thi cao nhất và phù hợp với quy luật phát
    triển tâm, sinh lý của cơ thể và lứa tuổi, đóng vai trò quan trọng phòng ngừa
    bệnh tật, nâng cao sức khỏe, làm đẹp hình thái và phát triển toàn diện các tố chất
    vận động một cách hoàn thiện nhất. Rèn luyện thân thể bằng việc tập luyện các
    môn thể dục thể thao khác nhau với những đòi hỏi sự nỗ lực cao của bản thân về
    thể chất và ý chí tinh thần, có thể giúp hình thành và giáo dục được những phẩm
    chất đạo đức nhân cách của con người một cách tự nhiên như: Ý chí, lòng dũng
    cảm, sự quyết tâm, sự tự tin, tính kiên trì và nhẫn nại; ý thức tổ chức kỷ luật,
    tinh thần tập thể, ý thức đồng đội… Văn hóa thể chất giúp xây dựng đời sống
    văn hóa tinh thần lành mạnh, góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội, xây dựng niềm
    tin và tinh thần lạc quan cho thế hệ trẻ.
    Rèn luyện thể chất cũng giúp trí não thư thái, giảm bớt những căng thẳng
    lo âu. Các nghiên cứu cho thấy tập luyện thường xuyên ảnh hưởng đến nhiều
    chức năng của hệ thần kinh, làm phát triển khả năng hoạt động của não bộ, làm
    tăng sự sảng khoái, giảm stress, cải thiện giấc ngủ, cải thiện sự tự tin, tăng khả
    năng nhận thức.
    Điều 2 Nghị định 11/2015/NĐ-CP quy định về vị trí, mục tiêu giáo dục
    thể chất và hoạt động thể thao trong nhà trường: “Giáo dục thể chất trong nhà
    trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của
    các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho trẻ em, học sinh, sinh viên
    các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục,
    3
    thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện
    mục tiêu giáo dục toàn diện”
    Giáo dục rèn luyện thể chất trong nhà trường có ý nghĩa to lớn trong việc
    phát huy và bồi dưỡng nhân tố con người. Đồng thời góp phần nâng cao thể lực,
    hoàn thiện các năng lực thể chất, phát triển trí lực, giáo dục nhân cách, đạo đức,
    lối sống lành mạnh, văn minh.
    Nội dung đặc trưng của giáo dục thể chất được gắn liền với giáo dục trí
    dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động. Mục đích của GDTC là góp phần
    phát triển toàn diện thế hệ trẻ Việt Nam, thế hệ trẻ đó phải được phát triển thể
    chất có chủ định để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện.
    Học sinh là lứa tuổi đang phát triển và hoàn thiện thể chất, hình thành
    nhân cách. Việc rèn luyện thể chất không chỉ giúp thể chất khỏe mạnh mà còn
    hoàn thiện nhân cách, phát triển các năng lực trí tuệ, nhằm hướng tới sự phát
    triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần, đáp ứng được các đòi hỏi của cuộc
    sống cũng như thích nghi được với các điều kiện môi trường tự nhiên, xã hội
    trong suốt thời gian học tập cho tới quá trình lao động nghề nghiệp.
    Bậc tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân vì vậy
    giáo dục thể chất ở trường tiểu học có ý nghĩa vô cùng quan trọng với học sinh.
    Rèn luyện thể chất – thể lực là cơ sở, nền tảng trau dồi và phát triển trí lực, hoàn
    thiện nhân cách.
    Mục tiêu của hoạt động Giáo dục thể chất cấp tiểu học – giai đoạn giáo
    dục cơ bản là: “Giúp học sinh biết cách chăm sóc sức khoẻ và vệ sinh thân thể;
    hình thành thói quen tập luyện nâng cao sức khoẻ; thông qua các trò chơi vận
    động và tập luyện thể dục, thể thao hình thành các kĩ năng vận động cơ bản, phát
    triển các tố chất thể lực, làm cơ sở để phát triển toàn diện…”
    Như vậy, ngay từ cấp tiểu học, học sinh cần được giáo dục dần hình thành
    thói quen rèn luyện sức khỏe qua các hoạt động giáo dục thể chất. Để đạt mục
    4
    tiêu trên, chúng ta cần phải tạo cho học sinh sự yêu thích môn học và hào hứng,
    nhiệt tình khi tham gia luyện tập.
    Như chúng ta đã biết nét đặc trưng không thể thiếu trong tâm lý học sinh
    tiểu học là tính vui tươi, hồn nhiên, hiếu động . Vì vậy, phương thức “Học mà
    chơi – chơi mà học” luôn tạo nên môi trường sư phạm thân thiện, hiệu quả.
    Trong hoạt động giáo dục thể chất (GDTC) thì phương thức này càng hữu hiệu.
    Các hoạt động GDTC không nên theo khuynh hướng thể dục đơn thuần, máy
    móc, gây cho các em sự mệt mỏi, căng thẳng, nhàm chán mà phải kích thích, tác
    động toàn diện cả về mặt tâm sinh lý ở các em, tạo nên sự hứng thú, giúp các em
    ham thích, tập luyện tốt hơn đồng thời giáo dục đạo đức và ý chí tập luyện cho
    học sinh.
    Để một giờ hoạt động thể chất đạt hiệu quả tốt, giáo viên cần nắm vững và
    vận dụng linh hoạt các phương pháp đặc trưng trong dạy- học GDTC, trong đó
    có chú trọng phương pháp trò chơi, thi đấu, trình diễn. Ngoài việc dùng hình ảnh
    minh họa, thị phạm trực tiếp bằng động tác mẫu thì âm nhạc và trò chơi là
    những yếu tố vừa có tính thẩm mỹ vừa có tính hiện đại, khoa học và tạo hứng
    thú học tập cho học sinh. Sử dụng âm nhạc trong dạy thể dục được coi như một
    phương tiện truyền thụ kiến thức rất hiệu quả cho học sinh. Bởi vậy, đưa âm
    nhạc vào tiết Thể dục làm nhạc nền, sử dụng âm nhạc vào các giai đoạn của các
    bước lên lớp chính là góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy.
    p dụng âm nhạc trong môn thể dục giúp cho quá trình truyền đạt nội
    dung bài học được diễn ra rất nhanh gọn và khoa học. Qua các bài khởi động
    liên hoàn, các bài tập, các trò chơi hỗ trợ dưới tiếng nhạc nền, phù hợp với nội
    dung bài học sẽ giúp tiết học nhịp nhàng sinh động hơn, tăng khả năng tiếp thu
    của học sinh lên nhiều lần. Âm nhạc đưa vào phần chuyển tiếp nội dung cũng
    giúp học sinh thư giãn hơn, tránh được khoảng thời gian lặng đôi khi vẫn xảy ra
    trong giờ học.
    5
    Trò chơi là loại hình hoạt động rất quen thuộc gần gũi với chúng ta. Trò
    chơi vừa mang tính chất vui chơi, giải trí song đồng thời lại có ý nghĩa giáo
    dưỡng và giáo dục lớn lao đối với con người. Với lứa tuổi trẻ em ,trò chơi càng
    có ý nghĩa đặc biệt hơn. Trò chơi tạo tất cả những điều kiện để trẻ em được thể
    hiện những nhu cầu tự nhiên về hoạt động, tạo ra những rung động thực tế và
    quan trọng cho cuộc sống. Trong hoạt động GDTC, trò chơi giúp học sinh luôn
    húng thú và tích cực vận động, góp phần tạo nên thành công cuả hoạt động
    GDTC.
    * Cơ sở thực tiễn:
    Hoạt động dạy học đạt hiệu quả cao khi học sinh tiến hành các hoạt động
    học tập một cách tự nguyện, tích cực, chủ động, tự giác với một động cơ sâu
    sắc. Thực tế hiện nay, giờ học giáo dục thể chất trong nhà trường học sinh tiểu
    học còn xem nhẹ, cho đây là một môn phụ, chưa thực sự hứng thú nên khi vận
    động nhanh bị nản và mệt mỏi.
    Mặt khác, đối với học sinh tiểu học, các em còn nhỏ, hệ xương chưa phát
    triển đầy đủ, tổ chức sụn chiếm tỷ lệ cao, cột sống yếu. Hệ hô hấp ở độ tuổi này
    có đường hô hấp còn hẹp, hệ tuần hoàn hoạt động chưa tốt (do tim còn nhỏ). Sự
    tập trung chú ý chưa bền vững, dễ phân tán, tính hưng phấn cao, trí tưởng tượng
    phát triển hơn song còn tản mạn, ít có tổ chức, tư duy logic chưa cao. Do đó làm
    thế nào để giờ dạy giáo dục thể chất thực sự thu hút được học sinh tập trung chú
    ý, tích cực tập luyện và tập luyện có hiệu quả là một vấn đề đòi hỏi người giáo
    viên cần phải có sự đầu tư, nghiên cứu.
    Hơn nữa, phần lớn các trường tiểu học vùng nông thôn chưa có nhà hoạt
    động thể chất, tiết học chủ yếu diễn ra ngoài trời nên thường bị các yếu tố bên
    ngoài tác động làm ảnh hưởng đến các hoạt động và sự tập trung của học sinh.
    Do vậy giáo viên cần có những biện pháp tích cực để giúp học sinh tập trung và
    có được hứng thú trong học tập.
    Một yếu tố quan trọng mà giáo viên phải lưu tâm tới là nội dung bài học
    theo phân phôi chương trình của khối lớp 4,5 có rất nhiều bài ôn tập dễ gây ra
    6
    sự nhàm chán cho HS vì vậy việc tạo ra sự nét mới cho các hoạt động trong giờ
    học để thu hút sự hào hứng học tập của học sinh là vô cùng cần thiết.
    Bảng thống kê nội dung chương trình Phần vận động cơ bản lớp 5:

    Nội dungHọc mớiÔn tập
    1. ĐHĐNÔn tập các nội dung đã học ở các
    lớp 1,2,3,4
    2. Bài TDPTC– Học 8 động tác bài
    TDPTC
    Ôn tập cả bài TD (6 tiết ) tuần
    14-15-16
    3. Bài tập RLTT
    và KNVĐCB
    – Bật cao
    – Bật phối hợp chạy
    & bật nhảy
    – Ôn Tung và bắt bóng( lớp 2-3)
    – Ôn Bật xa (lớp 4)
    – Ôn Nhảy dây (lớp 3- 4)
    – Phối hợp chạy, mang vác (lớp4)
    – Ôn Phối hợp chạy, nhảy, mang
    vác (lớp 4)
    4. Trò chơi– Học mới 8 trò chơi– Chơi 19 trò chơi đã học từ lớp
    1,2,3,4
    5. TTTC– Học tâng cầu bằng
    mu bàn chân
    – Phát cầu bằng mu
    bàn chân.
    – Ôn tâng cầu bằng đùi (lớp 4)
    – Ôn chuyền cầu bằng mu bàn
    chân (Lớp 4)
    – Chuyền cầu theo nhóm hai
    người (Lớp 4)

    Đặc biệt, bản thân tôi từng tham gia những chuyến dã ngoại cùng với các
    em HS. Tôi đã thực sự ấn tượng về cảm xúc và hành vi của các em HS trong
    màn khởi động tập thể. Những người tổ chức đã biết phối hợp các động tác khởi
    động quen thuộc, đơn giản cùng nhạc nền sôi động được cập nhật theo thị hiếu
    của các em thành những hiệu lệnh và tổ chức thành một trò chơi tập thể rất sôi
    nổi và lôi cuốn trẻ em …Và chính qua chuyến trải nghiệm đã giúp tôi cảm nhận
    sâu sắc rằng: trẻ em có sở thích, phong cách và xu hướng riêng – chúng luôn
    7
    bùng cháy hết mình trong âm nhạc và trò chơi. Điều này đã khơi gợi trong tôi ý
    tưởng nắm bắt lấy xu hướng đó và phát huy một cách có chủ định nhằm tạo
    không khí sôi nổi thu hút sự tập trung của các em học sinh và màu sắc mới mẻ
    trong việc tổ chức các HĐGDTC.
    Với mục đích tạo những hoạt động hiệu quả với tinh thần: “Học mà chơi –
    chơi mà học” cho các em học sinh thì lồng ghép âm nhạc vào các nhiệm vụ vận
    động và tổ chức một số bài tập dưới hình thức trò chơi là biện pháp tôi đã chọn
    để tạo hứng thú tập luện cho học sinh trong hoạt động GDTC.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến :
    1.1. Ưu điểm:
    * Ban giám hiệu nhà trường:
    Xác định đúng vai trò và tầm quan trọng của hoạt động giáo dục thể chất nên đã
    có sự quan tâm chỉ đạo sát sao, thể hiện qua việc: Tạo điều kiện cho đội ngũ giáo
    viên dạy giáo dục thể chất học tập nâng cao trình độ đào tạo, tham gia các buổi
    hội thảo và giao lưu với các trường bạn để bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và
    học hỏi kinh nghiệm.
    Đầu tư mua sắm trang thiết bị cần thiết cho việc dạy học môn Giáo dục thể
    chất và những trang thiết bị phục vụ cho hoạt động TDTT.
    Chỉ đạo đội ngũ giáo viên GDTC thực hiện nghiêm túc nội dung chương
    trình, thường xuyên kiểm tra dự giờ để nắm bắt thực trạng dạy học bộ môn
    đồng thời giúp đỡ để giáo viên thể chất chủ động tích cực đổi mới phương pháp
    dạy học, nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn.
    Đảm bảo chế độ chính sách cho đội ngũ GV, kịp thời động viên khích lệ
    thành tíchmôn học và thành tích hoạt động TDTT.
    * Giáo viên bộ môn giáo dục thể chất:
    Có năng lực sư phạm vững vàng, không ngừng học tập bồi dưỡng để trau
    dồi chuyên môn nghiệp vụ
    8
    Thực hiện nghiêm túc chương trình nội khóa và các hoạt động giáo dục thể
    chất ngoại khóa; đánh giá học sinh theo đúng quy định.
    Tích cực làm đồ dùng dạy học để phục vụ môn học, khắc phục tình trạng
    khó khăn, hạn chế về kinh phí mua sắm trang thiết bị dạy học.
    Tích cực đổi mới phương pháp: phối hợp các phương pháp dạy học truyền
    thống đặc thù của môn học và các PPDH tích cực dạy học để tạo hứng thú học
    tập cho học sinh, nâng cao chất lượng bộ môn.
    * Học sinh:
    Phần lớn học sinh được gia đình quan tâm chăm sóc đầy đủ chế độ dinh
    dưỡng nên thể lực khỏe, vận động tốt
    Học sinh ngoan, tích cực tham gia các hoạt động học tập, nhiều em khá
    mạnh dạn, tự tin trong học tập.
    1.2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế:
    * Khó khăn về cơ sở vật chất: Nhà trường chưa có nhà đa năng, học sinh
    tập luyện trên sân tập ngoài trời nên phụ thuộc nhiều vào thời tiết và bị chi phối
    bởi nhiều yếu tố ngoại cảnh . Mặc dù nhà trường đã quan tâm đầu tư trang thiết
    bị dạy học song vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ theo yêu cầu phục vụ tập luyện.
    * Nhận thức của học sinh về vai trò môn học:
    Lứa tuổi nhỏ nên các em học sinh rất hiếu động, sự tập trung chú ý chưa
    cao. Bản thân các em học sinh chưa hiểu đầy đủ được tầm quan trọng của môn
    học cũng như tác động tích cực của từng nội dung học tập đối với sự phát triển
    của cơ thể, với sự hình thành năng lực phẩm chất nên chưa có động cơ học tập
    đúng đắn.
    Học sinh học tập một cách thụ động, giáo viên hướng dẫn thao tác, kĩ thuật
    động tác nào các em tiếp thu một cách đơn điệu, đôi lúc còn tỏ ra uể oải vì cho
    rằng khối lượng vận động quá nhiều, không phù hợp với các em.
    * Sự quan tâm của phụ huynh: chưa thực sự chú trọng đến giáo dục Thể
    chất của con em trong trường học, coi đó là môn phụ nên chưa thấy được tầm
    trọng và cũng chưa có sự quan tâm tạo điều kiện thích đáng cho con em học tập.
    9
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
    2.1 Tính mới và sự khác biệt:
    Xuất phát từ cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn và đặc biệt từ thực trạng về công
    tác dạy học môn Giáo dục thể chất của đơn vị công tác, tôi thấy cần thiết phải có
    những biện pháp tích cực để phát huy ưu điểm đồng thời khắc phục khó khăn
    hạn chế trong dạy học bộ môn.
    Qua tìm hiểu và thực nghiệm tôi đã quyết định lựa chọn đưa âm nhạc và trò
    chơi tích hợp vào môn học để góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng giảng
    dạy, biện pháp có được những điểm mới sau:
    – Trò chơi và âm nhạc thực sự là một trong các phương tiện và phương thức
    giúp tạo húng thú học tập vận động hữu hiệu trong môn GDTC.
    – Không những giúp HS luyện tai nghe nhạc, củng cố ca hát, tạo cảm giác
    nhịp điệu, cảm thụ âm nhạc…. mà chính các yếu tố đó góp phần làm cho HS yêu
    thích đồng thời phát triển khả năng vận động nhịp nhàng linh hoạt.
    – Mỗi trò chơi được kết hợp, sử dụng trong giờ học đều có ý nghĩa
    giúp HS phát triển trí tuệ, bổ trợ,tạo cho trẻ có những phản xạ nhanh, nhạy,
    có tác dụng trong việc tạo hứng thú học tập.
    – Biện pháp kết hợp được cả âm nhạc vào trong trò chơi và âm nhạc vào
    các bài tập vận động.
    – Việc lựa chọn các bài nhạc có nhịp điệu tiết tấu phù hợp giúp vận động
    nhịp nhàng hơn. Tích hợp các bài hát theo chủ điểm của tháng còn góp phần
    giáo dục truyền thống cho học sinh.
    – Trong giờ học sử dụng đa dạng các trò chơi từ kho tàng trò chơi dân gian
    và trò chơi sáng tạo, trò chơi vận động kết hợp phát triển trí tuệ giúp học sinh
    hào hứng tự nguyện tập luyện, tránh được sự nhàm chán tẻ nhạt.
    – Học sinh dễ dàng vận dụng tập luyện được các bài tập qua trò chơi và âm nhạc.
    Lựa chọn và sử dụng hợp lý các trò chơi, các bài hát,nhạc tích hợp vào
    giờ học giúp cho:
    – Quá trình truyền đạt nội dung bài học nhanh hơn, kiến thức được khắc
    sâu hơn.
    10
    – Cải thiện khả năng phối hợp vận động của học sinh.
    – Tránh được sự hình thức, lan man, hoặc làm mờ nhạt nội dung bài học.
    Đảm bảo đạt được mục tiêu, yêu cầu giờ học theo phương thức “Học mà chơi –
    chơi mà học” phù hợp tâm lí lứa tuổi của HS tiểu học.
    – Và nhất là phù hợp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo
    hướng phất triển toàn diện phẩm chất và năng lực cho học sinh, góp phần thực
    hiện nhiệm vụ của hoạt động Giáo dục thể chất trong chương trình GDPT mới .
    – Việc đưa âm nhạc vào giờ thể dục là một trong nhưng biện pháp đổi mới
    phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học
    sinh trong giờ học. Đối với học sinh tiểu học, là thời kỳ đầu tiên để phát triển thể
    chất thì việc áp dụng âm nhạc vào môn thể dục sẽ góp phần rèn luyện cho học
    sinh có nếp sống lành mạnh, tập luyện và vui chơi có ý thức kỷ luật, từ đó hình
    thành phẩm chất đạo đức tốt, tạo tiền đề cho các em phát triển trí tuệ và thể chất
    một cách toàn diện. Ví dụ, để di chuyển từ đội hình hàng ngang thành vòng tròn,
    để khởi động chơi trò chơi, trước đây các em di chuyển theo khẩu lệnh thì nay
    được áp dụng bằng âm nhạc. Các em sẽ vừa hát theo nhạc, vừa vỗ tay, vừa di
    chuyển về vị trí đã được quy định trên sân. Nên chọn những bài hát vui tươi,
    trong sáng phù hợp với lứa tuổi, những bản nhạc học sinh dễ cảm nhận, dễ
    thuộc, phù hợp với các bài tập để tạo cảm giác hứng thú cho các học sinh…
    Đối với học sinh tiểu học, các em thích có những động tác, bài tập ngộ nghĩnh
    đáng yêu và cũng rất thích hát. Vì vậy, việc biên soạn một số bài tập thả lỏng,
    thư giãn theo tiếng nhạc, sẽ mang lại hiệu quả giáo dục cao.
    – Ngoài các trò chơi vận động trong chương trình theo quy định thì GV cũng rất
    cần tìm tòi và sáng tạo các trò chơi khác để ứng dụng vào quá trình dạy học, góp phần
    tạo không khí vui tươi, sự hứng thú cho HS, đem lại hiệu quả cao cho giờ học bộ môn.
    2.2 Nội dung biện pháp và cách thực hiện:
    * Biện pháp 1: Tổ chức một số các bài tập vận động dƣới hình thức trò chơi.
    – Tổ chức cho học sinh khởi động, thả lỏng bằng đa dạng các trň chơi trong
    kho tàng trò chơi dân gian, trò chơi sáng tạo do giáo viên lựa chọn, phù hợp với
    nội dung vận động của bài học:
    11
    VD: Trò chơi: Kết bạn, mèo đuổi chuột, kéo cưa lừa xẻ, làm theo lệnh tôi,
    chim bay cò bay, đứng ngồi theo lệnh, tôi bảo, gió thổi….
    – Tổ chức trò chơi dưới hình thức trò chơi : Ở các bài ôn tập các nội dung,
    các tư thế : Nghiêm! Nghỉ; quay phải- quay trái, tập hợp hàng dọc- hàng ngang
    – điểm số…giáo viên có thể cho học sinh tập luyện các bài tập dưới hình thức tổ
    chức trò chơi như :„„Làm theo hiệu lệnh”, „Thi xếp hàng nhanh‟‟, „„Thi điểm số
    đúng‟‟…để tạo ra tính mới mẻ, hấp dẫn cho các nội dung tập luyện , thu hút học sinh hơn.
    – Với nội dung bài dạy động tác mới của bài TDPTC: Sau khi phân tích kĩ
    thuật, hình thành kiến thức động Gv có thể tổ chức cho học sinh tập luyện kết
    hợp các bài tập bổ trợ động tác. Khi học sinh đã hình thành được động tác có thể
    tập luyện dưới hình thức trò chơi : “Ai nhanh ai đúng” các nhịp của động tác.
    Với trò chơi này, giáo viên có thể nêu nhịp theo thứ thự, sau đó tăng dần độ khó
    là đảo nhịp- trò chơi này giúp các em kết hợp phản xạ nhanh trong ghi nhớ giúp
    quá trình ghi nhớ nhịp trong động tác được nhanh, chính xác và lâu hơn.
    Sau khi đã hình thành các động tác bài thể dục, để các em có thể ghi nhớ chủ
    động và khắc sâu hơn, nhanh và chính xác tên các động tác, thứ tự các động tác Gv
    có thể tổ chức cho các em chơi trò chơi “ Truyền điện” tên các động tác , có thể
    tăng dần độ khó của trò chơi theo nhận thức của học sinh theo 3 mức độ sau :
    + Mức độ 1: Chỉ cần nhớ tên các động tác.
    + Mức độ 2: Nhớ tên động tác theo thứ tự theo thứ tự đúng.
    + Mức độ 3: Nói được tên động tác theo chỉ định
    * Biện pháp 2: Sử dụng các giai điệu, bài hát phù hợp lồng ghép vào một số
    các bài tập vận động tại những thời điểm nhất định trong giờ học.
    Cụ thể dựa trên tiến trình hoạt động của giờ học và phân phối nội dung
    phần vận động cơ bản các khối lớp, tôi đã thực hiện như sau:
    – Phần khởi động, thả lỏng hồi tĩnh:
    Thay cho cách hô nhịp truyền thống , giáo viên tổ chức cho học sinh kết
    hợp khởi động hoặc thả lỏng trên nền các giai điệu, bài hát vui tươi, phù hợp
    lứa tuổi học sinh để tạo không khí tích cực cho giờ học.
    12
    Cũng có thể sử dụng chính các bài dân vũ, múa hát giữa giờ để đưa vào
    phần hoạt động này.
    VD: Các bài dân vũ: (vũ điệu rửa tay, Trống cơm, Chicken Dance…),
    một số bài hát có nhịp điệu phù hợp học sinh đã được học trong giờ Âm nhạc
    :„„Hát lên chào ngày mới‟‟, „„ Ước mơ‟‟, „„ Reo vang bình minh‟‟, „„Khăn
    quàng thắp sáng bình minh‟‟, „„Lớp chúng mình đoàn kết‟‟…, các bản nhạc
    nền cho thể dục nhịp điệu
    Vào từng tháng trong năm học, Giáo viên có thể sử dụng một số các bài
    hát theo chủ điểm đưa vào hoạt động khởi động hay thả lỏng sẽ gián tiếp giáo
    dục truyền thống cho học sinh ngay trong các hoạt động Thể chất. Chủ điểm
    các tháng trong năm học là:
    Tháng 8 + 9: Chào mừng năm học học mới.
    Tháng 10: Chăm ngoan, học tốt.
    Tháng 11: Kính yêu thầy cô giáo.
    Tháng 12: Uống nước nhớ nguồn.
    Tháng 1 + 2: Mừng Đảng, mừng xuân.
    Tháng 3: Yêu quý mẹ và cô giáo.
    Tháng 4: Mừng đất nước nở hoa.
    Tháng 5: Kính yêu Bác Hồ.
    – Phần vận động cơ bản:
    + Nội dung ĐHĐN:
    Khi học sinh thực hiện các bài ôn tập như: Đi đều, đi đều vòng trái, đi đều
    vòng phải, giáo viên có thể tổ chức cho các em tập luyện trên nền các bài hát truyền
    thống Đội có nhịp điệu tiết tấu phù hợp với nhịp hành tiến như : Hành khúc đội
    TNTPHCM, Đi ta đi lên, như có Bác Hồ, Nhanh bước nhanh nhi đồng….
    + Nội dung bài Thể dục phát triển chung ( TDPTC ):
    Trong các tiết ôn tập 8 động tác bài TD, khi học sinh đã thực hiện tương
    đối chính xác động tác, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh ôn luyện bài Thể
    dục trên nền các giai điệu bài hát vui tươi có nhịp điệu tiết tấu phù hợp với bài
    13
    tập do giáo viên lựa chọn, hoặc tập trên nền các ca khúc theo chủ điểm tháng
    cùng thời điểm.
    VD: phần ôn tập bài TDPTC khối 5 vào tháng 12, ta có thể hướng dẫn cho
    các em tập trên nền các bài hát theo chủ điểm tháng là: „„Uống nước nhớ
    nguồn‟‟ có nhịp điệu tiết tấu phù hợp như: „„Cháu hát về đảo xa‟‟, „„Màu áo chú
    bộ đội‟‟…
    Một số hình ảnh tập luyện bài TDPTC của học sinh lớp 5
    14
    + Nội dung Bài tập RLTTVĐCB:
    Trong giờ học, giáo viên linh hoạt kết hợp sử dụng nhạc nền khi tổ chức
    cho học sinh các nhóm, tổ thi trình diễn sẽ tạo được không khí sôi nổi, sự mới
    mẻ cho các bài tập, một sân khấu trình diễn ngay giữa không gian lớp học, qua
    đó thu hút được sự tập trung của học sinh cả lớp và cảm hứng biểu diễn hơn nơi
    học sinh lên tham gia diễn tập.
    VD: Khi học sinh trình diễn các tư thế cơ bản, các bài tập đi theo vạch kẻ
    thẳng, hay đi chuyển hướng phải – trái…. Có thể lựa chọn các bản nhạc EDM có
    tiết tấu phù hợp bài tập, các bản nhạc có lời hoặc không lời có tiết tấu nhẹ nhàng
    vui tươi làm nền nhạc biểu diễn..phù hợp theo tâm lý của các em.
    VD: Có thể cho học sinh thực hiện bài tập nhảy dây theo tiết tấu nhạc nhanh hay
    chậm của nền nhạc do giáo viên chuẩn bị:
    15
    Trò chơi : Nhảy dây tập thể
    + Nội dung Trò chơi VĐ vàTTTC
    Với nội dung Trò chơi vận động và TTTC: Khi học sinh đã nắm được cơ
    bản chính xác các động tác, cách chơi trò chơi,Giáo viên có thể tổ chức cho học
    sinh tập luyện và chơi các trò chơi dưới hình thức thi giữa các nhóm, tổ – và có
    thể sử dụng âm nhạc làm nền để tạo thêm tiết tấu cho các động tác. Bên cạnh
    việc giúp cho học sinh cảm nhận nhịp điệu bài tập tốt hơn âm nhạc còn giúp tạo
    cho không khí giờ học trở nên sôi động cuốn hút hơn.
    Trò chơi Bịt mắt bắt dê
    16
    Với các trò chơi như: Nhảy lò cò tiếp sức, nhảy đúng nhảy nhanh, dẫn bóng,
    tung và bắt bóng, trò chơi thăng bằng hay trò chơi bóng chuyền sáu,…có thể tổ
    chức cho hs thực hiện trên nền nhạc do GV chọn, có tiết tấu nhanh hay chậm tùy
    theo tiết tấu của bài tập, hoặc theo chủ định của giáo viên.
    Trò chơi: Nhảy bao bố
    Tùy theo đặc điểm và cách chơi từng trò chơi, giáo viên có thể kết hợp sử
    dụng đồng dao, hay lời bài hát ngắn gọn, gần gũi để làm hiệu lệnh của trò chơi
    thay cho nhịp hô thông thường:
    VD: Trong trò chơi ‘‘Thăng bằng’’
    17
    Giáo viên có thể sáng tạo kết hợp lời bài hát để làm hiệu lệnh để trò chơi
    sôi động hơn, đồng thời qua lời bài hát cũng gián tiếp giáo dục tình đoàn kết bạn
    bè như sau:
    “Nào mình cùng…Vỗ cái tay lên đi- xem ai có ngại ngần gì
    Cầm cái tay nhau đi (các cặp học sinh chơi làm động tác cầm tay nhau)
    Xem ai có ngại ngần chi
    Mình là anh em, có chi đâu mà ngại ngần
    Cầm cái chân lên đi (học sinh làm động tác co và giữ chân)
    Nào mình cùng chơi!”
    2.3. Những yêu cầu đối với giáo viên khi áp dụng biện pháp:
    Để có thể dụng biện pháp hiệu quả trong giảng dạy, người giáo viên cần có
    sự chuẩn bị kĩ lưỡng về tất cả các điều kiện cả chủ quan và khách quan:
    * Điều kiện chủ quan:
    – Bên cạnh vốn kiến thức chuyên môn giáo viên cần có tâm thế sẵn sàng,
    luôn có thức trau dồi học hỏi để có vốn kiến thức nhất định về âm nhạc, thao tác
    kĩ thuật cắt ghép nhạc, nắm được tâm lý thị hiếu âm nhạc của học sinh để có thể
    lựa chọn và cắt ghép được các giai điệu, các bài hát có nội dung nhịp điệu tiết tấu
    phù hợp với tâm lý lứa tuổi học sinh,với nhịp điệu của bài tập,và phù hợp với nội
    dung,mục tiêu yêu cầu của bài học để lồng ghép vào bài tập.
    – Trò chơi vận động được sử dụng trong các giờ học thể chất như là một
    công cụ, một phương tiện hữu hiệu nhằm củng cố các bài tập đã học một cách
    hiệu quả. Tuy nhiên để phát huy tác dụng của trò chơi vận động như đã nêu
    người giáo viên cần có trình độ nghiệp vụ chuyên môn vững vàng, có kĩ năng tổ
    chức và kĩ năng quản trò để tổ chức và triển khai các hoạt động trò chơi phù hợp
    bài học và đối tượng học sinh , điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường. Nếu
    không đảm bảo được các điều kiện trên thì việc tổ chức trò chơi ngược lại sẽ
    thành cái „„bẫy‟‟ mà tác hại là đi ngược với mục tiêu giáo dục ban đầu. Cụ thể
    như khi giáo viên tổ chức trò chơi nhưng không đưa ra được luật chơi chặt chẽ,
    phương tiện đầy đủ- an toàn hay trọng tài thiếu công bằng…sẽ dẫn đến các tình
    huống không mong muốn như ganh tị, tranh cãi , va chạm, không an toàn tập
    18
    luyện…Do đó khi sử dụng phương pháp này, GV cần chú ý lựa chọn các trò chơi
    hoặc tự thiết kế sáng tạo trò chơi đảm bảo những yêu cầu:
    + Mục đích của trò chơi phải thể hiện mục tiêu của bài học hoặc bổ trợ cho
    nội dung bài tập vận động cơ bản.
    + Hình thức chơi đa dạng giúp HS được thay đổi các hoạt động học tập
    trên lớp, giúp HS phối hợp các hoạt động trí tuệ với các hoạt động vận động.
    + Luật chơi đơn giản rõ ràng để HS dễ nhớ, dễ thực hiện. Cần đưa ra các
    cách chơi có nhiều HS tham gia để tăng cường kỹ năng học tập hợp tác.
    + Các dụng cụ chơi cần đơn giản, dễ làm, an toàn.
    + Chọn quản trò chơi có năng lực phù hợp với yêu cầu của trò chơi.
    + Tổ chức chơi vào thời gian thích hợp của bài học để vừa làm cho học
    sinh hứng thú học tập vừa hướng cho học sinh tiếp tục tập trung các nội dung
    khác của bài học một cách có hiệu quả.
    * Điều kiện Khách quan:
    – Khi tổ chức tập luyện có kết hợp âm nhạc và trò chơi, giáo viên cần chủ
    động chuẩn bị đầy đủ, hợp lý trước các phương tiện đi kèm như loa đài…, dụng
    cụ phục vụ trò chơi nếu có…
    – Bên cạnh đó cần đặc biệt chú ý tới yếu tố ngoại cảnh là sân tập và không
    gian tập luyện. Vì không phải trường nào cũng có nhà đa năng hoặc điều kiện
    sân tập tách biệt nên khi sử dụng biện pháp này giáo viên cần chú ý đến vấn đề
    âm thanh, tiếng ồn… mình học nhưng cũng không làm ảnh hưởng tới hoạt động
    học tập của các lớp học xung quanh.
    2.4 Kế hoạch bài dạy minh họa giáo viên có sử dụng biện pháp tạo hứng
    thú học tập cho học sinh bằng âm nhạc và trò chơi:
    HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT LỚP 4
    Chủ đề : BÀI TẬP RLTTCB – TRÒ CHƠI
    Bài 39: Đi chuyển hƣớng phải trái – trò chơi: ‘‘Thăng bằng’’
    I. Mục tiêu bài học
    1. Về phẩm chất:
    19
    Bài học góp phần bồi dưỡng cho học sinh các phẩm chất cụ thể:
    – Chăm chỉ, đoàn kết trong tập luyện và hoạt động tập thể.
    – Tích cực tham gia các trò chơi vận động , trung thực và có trách nhiệm
    trong khi chơi trò chơi.
    2. Về năng lực:
    2.1. Năng lực chung:
    – Tự chủ và tự học: HS biết chuẩn bị và luyện tập trước nội dung cho bài
    học: Tự ôn lại kĩ thuật đi chuyển hướng và cách chơi trò chơi „„ Thăng bằng‟‟
    – Giao tiếp và hợp tác: Biết phân công, hợp tác trong nhóm để thực hiện
    các nhiệm tập luyện
    – Vận dụng và sáng tạo: Biết vận dụng bài học vào trong cuộc sống và vui
    chơi cùng bạn bè, người thân
    2.2. Năng lực đặc thù:
    – Năng lực chăm sóc sức khỏe: Biết thực hiện vệ sinh sân tập, thực hiện vệ
    sinh cá nhân để đảm bảo an toàn trong tập luyện.
    – Năng lực vận động cơ bản: Biết quan sát,lắng nghe và thực hiện nhiệm vụ
    được phân công:
    + Trò chơi: Biết cách chơi và tham gia chơi được trò chơi: „„ Thăng bằng‟‟.
    + Đi chuyển hướng phải trái: Thực hiện được động tác tương đối chính xác.
    II. Địa điểm – phƣơng tiện
    – Địa điểm: Sân thể dục hoặc nhà hoạt động đa năng.
    – Phương tiện:
    + Giáo viên chuẩn bị: Kế hoạch bài dạy,còi, trang phục thể thao, kẻ sân,
    cờ, phương tiện âm thanh để phục vụ bài học và trò chơi.
    + Học sinh chuẩn bị: Trang phục phù hợp.
    III. Phƣơng pháp và hình thức tổ chức dạy họ

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Nâng cao hiệu quả phần Khởi động trong môn Thể dục cho học sinh tiểu học

    SKKN Nâng cao hiệu quả phần Khởi động trong môn Thể dục cho học sinh tiểu học

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN.
    Môn Thể dục cùng với các môn học khác trong nhà trường có nhiệm vụ
    quan trọng trong việc hình thành cho người học những nhân cách sống của con
    người lao động mới, trong thời đại mới, theo mục tiêu giáo dục của Đảng ta là:
    Đào tạo con người: Tự chủ – năng động – sáng tạo, có năng lực giải quyết các
    vấn đề thực tiễn đặt ra. Không những thế, giáo dục thể chất cho thế hệ thanh
    thiếu niên là một mặt của nền giáo dục tiến bộ, là nhu cầu tất yếu khách quan
    của sự tồn tại và phát triển trong xã hội văn minh nói chung và công cuộc xây
    dựng CNXH, bảo vệ Tổ quốc nói riêng. Môn Thể dục còn mang lại cho thế hệ
    trẻ cuộc sống vui tươi, lành mạnh, nhằm góp phần đào tạo thế hệ thanh niên Việt
    Nam thành những người: “Phát triển cao vềtrí tuệ, cường tráng về thể chất, phong
    phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”.
    Chương trình GDPT 2018, môn Thể dục được gọi là môn Giáo dục thể
    chất giúp học sinh hình thành, phát triển kĩ năng chăm sóc sức khoẻ, kĩ năng
    vận động, thói quen tập luyện thể dục thể thao và rèn luyện những phẩm chất,
    năng lực để trở thành người công dân phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần,
    đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế;
    góp phần phát triển tầm vóc, thể lực người Việt Nam; đồng thời phát hiện và
    bồi dưỡng tài năng thể thao.
    Ở bậc Tiểu học, môn Thể dục giúp học sinh biết cách chăm sóc sức khoẻ
    và vệ sinh thân thể, bước đầu hình thành các kĩ năng vận động cơ bản, thói
    quen tập luyện thể dục thể thao, tham gia tích cực các hoạt động thể dục thể
    thao nhằm phát triển các tố chất thể lực. Biết vận dụng ở mức nhất định những
    điều đã học khi sinh hoạt ở trường và tự chơi, tự học hàng ngày.
    2
    Khởi động là hoạt động đầu tiên của tiết học, nhằm giúp học sinh chuyển
    cơ thể từ trạng thái tĩnh sang trạng thái hoạt động, giúp các cơ được linh hoạt,
    các khớp được bôi trơn và hạn chế được chấn thương trong luyện tập. Là người
    giáo viên, tôi luôn có trách nhiệm, tâm huyết, yêu nghề, mến trẻ. Tôi luôn mong
    muốn mang đến cho các em học sinh của mình những trải nghiệm tốt nhất trong
    quá trình tổ chức các hoạt động môn Thể dục, tôi luôn bám sát nội dung chương
    trình, thường xuyên quan sát và tìm ra những thiếu sót, hạn chế của học sinh để
    có biện pháp hỗ trợ kịp thời.
    Trong quá trình giảng dạy, tôi đã suy nghĩ, nghiên cứu, đi vào thực
    nghiệm sáng kiến“Nâng cao hiệu quả phần Khởi độngtrong môn Thể dục
    cho học sinh Tiểu học”.
    II. MÔ TẢ VỀ GIẢI PHÁP
    1. Giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến.
    1.1. Thực trạng công tác dạy và học môn Thể dục trong trường Tiểu
    học trước khi tạo ra sáng kiến.
    Bộ môn Thể dục ở Tiểu học được Bộ GD&ĐT nghiên cứu chọn lọc để
    từng tiết dạy phù hợp với trình độ học sinh từng khối lớp “Tài liệu hướng dẫn
    thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Thể dục ở Tiểu học”. Qua tài liệu chuẩn
    kiến thức giúp cho giáo viên nắm được mục tiêu tối thiểu mà tất cả học sinh cần
    phải đạt được sau tiết học.
    Được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường trong việc chỉ đạo thực
    hiện đổi mới phương pháp dạy và học, trường có sân rộng, thoáng mát, các điều
    kiện về cơ sở vật chất cũng như trang thiết bị dạy học cho hoạt động thể dục thể
    thao tương đối thuận lợi.
    Giáo viên đã có nhiều năm giảng dạy tại trường Tiểu học, được đào tạo
    chính quy.
    3
    Nhà trường thường xuyên tổ chức các hoạt động thể dục thể thao nhân dịp
    các sự kiện hoặc chào mừng các ngày lễ lớn trong năm như dịp 20/11, 22/12,
    26/03, khai giảng năm học mới, tết Trung thu…
    Phần lớn các em học sinh đều yêu thích môn học. Nhiều học sinh tiếp thu
    nhanh, luyện tập cá nhân, tổ nhóm, đồng loạt tốt. Một số em có năng khiếu thể
    dục thể thao tích cực tham gia các hội thi, giao lưu các cấp đạt kết quả cao.
    Sau nhiều năm trực tiếp giảng dạy môn Thể dục tại nhà trường tôi nhận
    thấy có một số hạn chế chủ yếu sau:
    – Một số giáo viên còn coi nhẹ vai trò, tầm quan trọng của hoạt động khởi
    động, các bài tập còn đơn điệu, đôi lúc nội dung khởi động không tương thích
    với nội dung tiết dạy. Giáo viên ngại thay đổi,còn phụ thuộc nhiều vào tài liệu
    hướng dẫn.
    – Mặt khác, đội ngũ cán sự lớp đôi lúc còn chưa mạnh dạn, tự tin, chưa chủ
    động trong việc tổ chức, điều hành các hoạt động tập luyện.Nhiều em còn rụt rè,
    nhút nhát, không dám mạnh dạn tham gia vào các hoạt động khởi động đặc biệt
    là đối với những em không có năng khiếu về Thể dục.
    – Ở tuổi Tiểu học, sự tập trung chú ý có chủ định của học sinh còn yếu, các
    em chưa thực sự hứng thú với phần khởi động, chưa hiểu rõ tác dụng của các bài
    tập khởi động, mà phần lớn các em đều khởi động qua loa, hời hợt, không chú
    tâm vào phần khởi động, dẫn đến có nhiều trường hợp do không khởi động kỹ
    trước khi tập dẫn đến chấn thương với đủ các mức độ. Đặc biệt, với lứa tuổi học
    sinh Tiểu học các em còn nhỏ, hệ xương khớp chưa phát triển đầy đủ, đường hô
    hấp còn hẹp, hệ tuần hoàn hoạt động chưa được tốt, nếu không khởi động kỹ
    trước khi tập luyện sẽ gây ra những chấn thương như bong gân, trật khớp, gãy
    tay, gãy chân,…
    4

    Hình 1: Bong gânHình 2: Chuột rút

    Phòng tập đa năng chưa có nên việc dạy học ngoài trời nhiều khi phụ
    thuộc vào thời tiết.Vào những hôm thời tiết bất lợi, các em học sinh ngại ra sân,
    hoặc ra sân một cách miễn cưỡng, uể oải, thực hiện những động tác khởi động
    một cách qua loa, chiếu lệ cho xong.
    Trang phục tập luyện thể dục riêng cho học sinh chưa có nên ảnh hưởng
    đến chất lượng hiệu quả giờ dạy.
    1.2. Các giải pháp đã áp dụng trước khi tạo ra sáng kiến
    Giáo viên đã tổ chức các hoạt động khởi động cho học sinh, tuy nhiên đa
    phần là giáo viên tự tổ chức mà chưa giúp học sinh hiểu rõ tác dụng của hoạt
    động khởi động.
    Giáo viên đã lựa chọn và bồi dưỡng đội ngũ cán sự lớp. Cán sự lớp sẽ thay
    nhau lên tổ chức, điều khiển các bạn khởi động.
    Đội hình khởi động là đội hình hàng ngang giãn cách.
    Giáo viên sử dụng các trò chơi sẵn có trong sách hướng dẫn để tổ chức cho
    học sinh chơi trong phần khởi động.
    Động tác khởi động sẽ theo trình tự: khớp cổ, khớp khửu tay, khớp vai,
    khớp hông và khớp gối sau đó chơi trò chơi khởi động.
    5
    Giáo viên sử dụng các đồ dùng dạy học được cấp phát và tích cực tự làm đồ
    dùng dạy học.
    Một bộ phận học sinh tham gia các hoạt động khởi động một cách thụ động,
    chưa chú tâm và thực hiện các động tác hời hợt.
     Ưu điểm của biện pháp
    Học sinh nắm được các bước khởi động.
    Đội ngũ cán sự lớp thường xuyên tổ chức cho các bạn khởi động nên các
    em khá tự tin và điều hành lớp tốt.
    Học sinh đã tham gia được các trò chơi có sẵn trong sách hướng dẫn.
    Giáo viên đã sử dụng có hiệu quả đồ dùng dạy học giúp phần khởi động
    thêm phong phú hấp dẫn.
     Hạn chế của biện pháp
    Học sinh chưa hiểu rõ tác dụng của các bài tập khởi động nên còn khởi
    động qua loa, dẫn đến hiệu quả chưa cao.
    Chỉ có đội ngũ cán sự lớp điều khiển được lớp khởi động mà chưa có sự
    tham gia của các học sinh khác trong lớp dẫn đến sự tự kiêu trong ban cán sự, và
    sự thụ động trong các bạn học sinh còn lại.
    Đội hình, các động tác khởi động chưa đa dạng, chưa linh hoạt sáng tạo
    nên gây sự nhàm chán cho học sinh.
    Các trò chơi khởi động lặp đi lặp lại nhiều lần cũng gây ra sự nhàm chán
    cho học sinh, mức độ khó của trò chơi chưa được tăng lên để phù hợp với học
    sinh lớp lớn.
    Giáo viên tự làm đồ dùng dạy học mà chưa có sự vào cuộc của học sinh
    và phụ huynh nên gây quá tải cho giáo viên mà học sinh lại không có cơ hội trải
    nghiệm và cảm nhận niềm vui khi tự tay mình làm ra những đồ dùng dạy học
    cũng như không có sự kết nối với phụ huynh.
    6
    Chính từ những hạn chế trên, tôi đã suy nghĩ tìm ra biện pháp để giúp học
    sinh hiểu được tác dụng của các bài tập khởi động, hứng thú và nâng cao hiệu
    quả tập luyện, tạo cho các em có thói quen tích cực trong môn học, góp phần
    bảo vệ, tăng cường sức khỏe, phát triển các tố chất thể lực, tiếp tục hình thành
    thói quen thường xuyên tập luyện thể dục thể thao cho học sinh. Ngoài ra, trang
    bị cho học sinh một số hiểu biết về những kĩ năng vận động cơ bản, củng cố và
    làm giàu thêm vốn kĩ năng cần thiết trong cuộc sống, phù hợp với khả năng,
    trình độ và đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, giới tính của các em; góp phần giáo
    dục đạo đức, lối sống lành mạnh, hình thành nhân cách con người mới. Đồng
    thời tăng cường sự đoàn kết giữa các em học sinh trong lớp, trong trường; hạn
    chế tối đa học sinh bị chấn thương trong quá trình tập luyện; giúp các em tránh
    xa các tệ nạn, các trò chơi điện tử; tăng cường thể lực, phát triển tư duy sáng tạo,
    khả năng tập trung, phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần, linh hoạt xử lí các
    tình huống trong cuộc sống.
    2. Giải pháp sau khi áp dụng sáng kiến
    Giải pháp 1: Xác định vị trí, vai trò và tác dụng của khởi động; lựa
    chọn, tổng hợp hệ thống các bài tập khởi động.
    Giáo viên nghiên cứu, hệ thống hóa kiến thức môn Thể dục trong chương
    trình Tiểu học để nắm được các nội dung kiến thức chính, nắm được các kiến
    thức kĩ năng học sinh cần đạt. Đối với từng bài học trong phân phối chương
    trình, giáo viên cần quan tâm đến mục tiêu mà tất cả học sinh phải đạt được sau
    khi học xong bài đó. Từ đó, giáo viên tổ chức các hoạt động khởi động theo từng
    bài cho học sinh.
    Giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh phân biệt được nội dung của hai
    phần của khởi động cụ thể:
    + Khởi động chung
    + Khởi động chuyên môn
    7
    – GV nêu tác dụng của khởi động cho học sinh nắm rõ. Từ đó, các em có
    ý thức hơn trong tập luyện phần khởi động cơ chế tác động của khởi động rất đa
    dạng nhưng có thể quy nạp các tác động đó vào những hiệu quả cơ bản sau:
    + Tác dụng với hệ thần kinh
    + Tác dụng với hệ tuần hoàn, hô hấp
    + Tác dụng với hệ vận động
    Giải pháp 2:Bồi dưỡng đội ngũ cán sự lớp
    + Lựa chọn, bồi dưỡng đội ngũ cán sự lớp
    + Luân phiên cho các em học sinh làm cán sự lớp
    Giải pháp 3: Linh hoạt,đa dạng trong việc tổ chức đội hình, động tác
    và các trò chơi khởi độngtạo hứng thú cho học sinh.
    – Linh hoạt sử dụng các đội hình khởi động
    – Đa dạng các động tác khởi động
    – Cải biến thay đổi các trò chơi khởi động, thi đua tìm hiểu các trò chơi
    mới
    – Động viên khen thưởng kịp thời
    Giải pháp 4: Tăng cường làm và sử dụng đồ dùng dạy học, đề xuất với
    nhà trường bổ sung cơ sở vật chất trang thiết bị.
    – Phối kết hợp với đồng nghiệp, phụ huynh, học sinh làm đồ dùng dạy học
    – Tham mưu với ban giám hiệu bổ sung, cải tạo cơ sở vật chất
    – Đề xuất với ban giám hiệu sử dụng các phòng chức năng có không gian
    rộng để cho học sinh tập luyện vào những hôm thời tiết bất lợi.
    2.1. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    Giải pháp 1: Xác định vị trí, vai trò và tác dụng của khởi động; lựa
    chọn, tổng hợp các bài tập khởi động.
    Giáo viên nghiên cứu, hệ thống hóa kiến thức môn Thể dục trong chương
    trình Tiểu học để nắm được các nội dung kiến thức chính, nắm được các kiến
    thức kĩ năng học sinh cần đạt. Đối với từng bài học trong phân phối chương
    trình, giáo viên cần quan tâm đến mục tiêu mà tất cả học sinh phải đạt được sau
    8
    khi học xong bài đó. Từ đó giáo viên tổ chức các hoạt động khởi động theo từng
    bài cho học sinh.
    Giáo viên giới thiệu cho học sinh biết và phân biệt được nội dung của hai
    phần của khởi động cụ thể:
    * Khởi động chung: Là loại khởi động sử dụng các động tác tay không,
    chạy nhẹ nhàng để làm tăng nhiệt độ của cơ thể, tăng hưng phấn thần kinh trung
    ương, tăng chức năng của hệ vận chuyển oxy, tăng cường chuyển hóa chất và
    tăng cường sự phối hợp giữa các trung khu thần kinh với nhau. Mục đích của
    khởi động chung là nâng cao trạng thái cơ năng của toàn bộ cơ thể lên tới trình
    độ năng lực hoạt động thích hợp nhất. Tất cả biến đổi của các cơ quan đều từ
    thấp tới cao để thích ứng với vận động. Các động tác bao gồm xoay các khớp:
    khớp cổ, khớp cổ tay cổ chân, khớp khuỷu tay, khớp vai, khớp hông và khớp
    gối, ép dọc, ép ngang…
    Hình 3: Khởi động xoay các khớp
    * Khởi động chuyên môn: Mục đích của khởi động chuyên môn hay hoạt
    động chuẩn bị từng phần cơ thể là để cải thiện giữa những trung tâm thần kinh
    có liên quan tới môn vận động chính, để bước vào tập luyện và thi đấu cho tốt-
    9
    tức là chuẩn bị cho cơ thể thực hiện một hoạt động chuyên môn cụ thể vì thế nó
    phải tương ứng về đặc điểm cơ cấu vận động với bài tập sắp tới. Trong phần
    khởi động này thường có các động tác phối hợp kĩ thuật phức tạp và động tác
    chuyên môn với các dụng cụ chuyên môn.
    Ví dụ:Thể dục 4- Bài54: “ Môn thể thao tự chọn – trò chơi dẫn bóng” tôi
    tổ chức các hoạt động khởi động như sau:
    + Khởi động chung bao gồm xoay các khớp, tập bài thể dục phát triển
    chung, ép dọc, ép ngang.
    + Khởi động chuyên môn bao gồmcác động tác: chạy bước nhỏ, chạy
    nâng cao đùi, chạy lăng sau tại chỗ.
    Giáo viên nêu tác dụng của khởi động cho học sinh nắm rõ. Từ đó, các em
    có ý thức hơn trong tập luyện phần khởi động Cơ chế tác động của khởi động rất
    đa dạng nhưng có thể quy nạp các tác động đó vào những hiệu quả cơ bản sau:
    – Tác dụng đối với hệ thần kinh.
    Khởi động sẽ làm tăng tính hưng phấn của các trung tâm thần kinh và tăng
    cường sự phối hợp giữa các trung khu thần kinh với nhau.
    Khởi động làm cho vỏ não chuyển cơ thể từ trạng tĩnh sang trạng thái hoạt động.
    Khởi động còn làm tăng hoạt động của các tuyến nội tiết vì vậy, tạo điều kiện
    thúc đẩy quá trình điều hòa chức năng trong hoạt động thể thao, củng cố các
    phản xạ vận động cần thiết.
    – Tác dụng đối với hệ tuần hoàn, hô hấp.
    Khởi động sẽ tăng cường hoạt động của toàn bộ hệ thống đảm bảo dinh
    dưỡng và vận chuyển oxy cho cơ thể, tăng thông khí phổi và tốc độ trao đổi khí
    giữa phế nang và máu, tăng thể tích tâm thu và tần số co bóp của tim, tăng huyết
    áp và dòng máu tĩnh mạch trở về tim, từng số lượng mao mạch tích cực để tăng
    cường dòng máu tới tim, phổi và cơ. Tất cả các tác dụng nêu trên đều nhằm
    cung cấp oxy nhiều hơn cho các tổ chức rút ngắn quá trình của cơ thể khi vận
    động.
    10
    Khởi động còn tăng cường dòng máu ở da và thúc đẩy quá trình bài tiết mồ hôi,
    vì vậy có tác dụng tốt đối với quá trình trao đổi nhiệt trong vận động.
    – Tác dụng đối với hệ vận động (cơ, khớp, dây chằng)
    Khởi động làm tăng nhiệt độ của cơ bắp, tăng khả năng co rút và tăng tốc
    độ của các phản ứng sinh hóa của cơ, tăng tốc độ co rút và thả lỏng của cơ.
    Khởi động làm tăng độ linh hoạt của khớp, tăng tiết dịch ở khớp và phòng
    ngừa được chấn thương.
    Khi các em khởi động tốt cơ thể được làm nóng, các khớp được bôi trơn,
    các cơ được linh hoạt thì khi học bài mới cơ thể đã trong trạng thái sẵn sàng
    giúp cho việc tiếp thu bài được tốt hơn và tránh được chấn thương góp phần
    nâng cao chất lượng môn học.
    Giải pháp 2:Bồi dưỡng đội ngũ cán sự lớp.
    Nhận thức rõ tầm quan trọng của đội ngũ cán sự lớp nên tôi đã xây dựng
    kế hoạch bồi dưỡng, lựa chọn cán sự lớp nhằm phát huy vai trò của đội ngũ tự
    quản. Các em trong Ban cán sự không nhất thiết phải là các em giỏi văn hóa mà
    người giáo viên cần lựa chọn những em nhanh nhẹn, có kĩ năng quan sát, phân
    tích, điều hành tập thể, có uy tín trước các bạn.Để đạt được điều này, giáo viên
    cần hướng dẫn các em các kĩ năng từ khâu tập trung, báo cáo, đến kĩ năng hô
    khẩu lệnh sao cho dõng dạc, dứt khoát, thường xuyên uốn nắn, sửa sai kịp thời.
    Trong mỗi tiết học, tôi thường giao nhiệm vụ thêm cho các thành viên
    khác trong Ban cán sự
    Ví dụ: – Lớp trưởng tập trung, báo cáo sĩ số
    – Tổ trưởng, nhóm trưởng cho các bạn khởi động
    Sau khi cán sự lớp đã tự tin điều khiển khởi động đó là lúc các em học
    sinh còn lại trong lớp cũng đã nắm được trình tự cũng như lĩnh hội được các
    động tác khởi động tôi sẽ lần lượt cho từng học sinh trong lớp luân phiên làm
    cán sự lớp cũng như các tổ trưởng, sẽ tự điều hành lớp tập luyện. Tôi sử dụng
    trò chơi: “Sao đổi ngôi” để các em thay nhau làm quản trò trong lớp, trong
    nhóm. Bằng một quả cầu nhỏ hoặc quả bóng tôi sẽ tung lên, em nào bắt được
    11
    bóng (cầu) sẽ là quản trò thực hiện việc tổ chức cho lớp (nhóm) khởi động. Sau
    mỗi lần được điều hành các bạn như vậy năng lực tự quản, năng lực lãnh đạo, ý
    thức tự giác, lòng tự tin, tự chủ của học sinh được rèn luyện và phát huy hình
    thành cho các em ý thức trách nhiệm trong công việc, sự gắn kết thân thiện giữa
    các em với nhau xóa đi sự tự ti của một số học sinh nhút nhát. Khiến các em hào
    hứng trước nội dung chính của mỗi tiết học. Tôi nhận thấy, khi được đóng vai
    cán sự lớp các em rất hào hứng và sau đó rất hợp tác với ban cán sự lớp vì các
    em đã được trải nghiệm từ đó nâng cao chất lượng phần khởi động.
    Giải pháp 3: Linh hoạt,đa dạng trong việc tổ chức đội hình, động tác và
    các trò chơi khởi động cho học sinh.
    Từ thực tế giảng dạy môn thể dục tại trường kết hợp với dự giờ thăm lớp
    của các đồng nghiệp trong tổ thể dục, tôi nhận thấy: Đa phần giáo viên sử dụng
    đội hình khởi động ở hàng ngang, việc lặp đi lặp lại một đội hình từ tiết này qua
    tiết khác sẽ dẫn đến sự nhàm chán, không hứng thú với việc khởi động dẫn đến
    hiệu quả khởi động không cao. Vì thế,trong mỗi tiết học,tôi đã linh hoạt thay đổi
    đội hình tạo nên sự mới mẻ, thu hút học sinh chú ý hơn trong việc khởi động.Cụ
    thể đội hình mà tôi sử dụng đó là đội hình chữ U, đội hình vòng tròn,
    đội hình đối xứng, …

    Hình 4: Đội hình chữ U

    12

    Hình 5: Đội hình vòng tròn
    Hình 6: Đội hình đối xứng

    Để chất lượng phần khởi động của các em được nâng lên tôi đã thường
    xuyên đổi mới, đa dạng các động tác khởi động. Một bài khởi động đơn thuần
    theo sách giáo viên hướng dẫn được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ gây sự nhàm chán
    cho học sinh, thường khi đã thuộc động tác thì các em hay tập nhanh, không hết
    13
    biên độ dẫn đến hiệu quả bài khởi động không cao. Vì thế, tôi đã thêm vào các
    động tác như ép dọc, ép ngang, chạy bước nhỏ, chạy nâng cao đùi, chạy lăng sau
    tại chỗ. Ngoài ra, thay vì tập các bài khởi động một cách đơn điệu theo nhịp hô,
    tôi đã sử dụng các bản nhạc không lời hoặc có lời sôi động để hướng dẫn các em
    thực hiện theo nhịp nhạc.Việc tập theo nhạc mang lại cho các em một tinh thần
    vui tươi, hứng khởi dẫn đến hiệu quả của bài khởi động được nâng lên.

    Hình 7: Khởi động với nhạc

    Khi tổ chức các trò chơi khởi động. Ngoài các trò chơi trong sách hướng
    dẫn, tôi luôn tìm tòi, tham khảo các trò chơi mới phù hợp với nội dung bài dạy,
    phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, đặc biệt là tôi chú trọng các trò
    chơi dân gian như nu na nu nống, rồng rắn lên mây…. Hoặc tôi đổi mới, cải biến
    trò chơi sẵn có trong sách hướng dẫn để trò chơi hấp dẫn hơn, thu hút học sinh
    hơn để từ đó tác dụng của các trò chơi khởi động được nâng lên.
    Ví dụ 1: Đối với trò chơi “Làm theo hiệu lệnh” thay vì người giáo viên
    chỉ hô khẩu lệnh đơn giản là “đứng”, “ngồi” và học sinh thực hiện. Tôi cải biến
    trò chơi như sau: Khi giáo viên hô “trời ta” cả lớp sẽ hô “ta đứng” và thực hiện
    động tác đứng còn khi người quản trò hô “đất ta” thì cả lớp sẽ hô “ta ngồi” và
    14
    thực hiện động tác ngồi. Việc cải biến trò chơi giúp cho trò chơi sôi nổi hơn, các
    em được rèn kĩ năng phối hợp giữa nghe, nói và thực hiện.
    Ví dụ 2: Trò chơi kết bạn ở sách Thể dục có hướng dẫn như sau: học sinh
    chạy nhẹ nhàng thành 1 vòng tròn và đọc “Kết bạn kết bạn, kết bạn là đoàn kết,
    kết bạn là sức mạnh, chúng ta cùng nhau kết bạn” học sinh đọc xong giáo viên
    hô Kết 2,3,4…. Thì học sinh nhanh chóng đứng theo nhóm.Tôi đã mạnh dạn cải
    biến như sau:
    Giáo viên hô “kết bạn kết bạn”
    Học sinh: hô “kết mấy kết mấy”
    Giáo viên: Kết 3 3 chân hoặc 5 chân, 6-3 chân, 15/3 chân…..
    Việc thay đổi cách chơi giúp học sinh sẽ phải vận dụng các kĩ năng tính
    toán, tư duy, linh hoạt để thực hiện được yêu cầu mà giáo viên đưa ra. Các em
    phải tính toán xem phải co bao nhiêu chân lên thì đúng, hoặc có thể phải cõng
    hoặc nâng 1 bạn lên khỏi mặt đất. Việc cải biến trò chơi giúp cho trò chơi hấp
    dẫn hơn.
    Đặc biệt, ở nội dung trò chơi tôi đã cho các em thay nhau làm quản trò,
    điều khiển các bạn chơi. Qua đó, học sinh được rèn luyện về năng lực tự tổ
    chức, điều hành các trò chơi trong tiết học cũng như khi hoạt động tập thể trong
    và ngoài nhà trường.

    Hình 8: Học sinh tự tổ chức trò chơi trong giờ ra chơi

    15
    Để học sinh hiểu rõ trò chơi, có thể chủ động và sáng tạo khi chơi, phát huy
    tối đa tác dụng của trò chơi khởi động tôi đã thực hiện:
    + Giáo viên giới thiệu và giải thích ngắn gọn tên, nội dung trò chơi, cách
    chơi và những yêu cầu về tổ chức kỷ luật trong khi chơi. Sau đó, giáo viên cho
    học sinh chơi thử trò chơi 1, 2 lần trước khi chơi chính thức. Trong quá trình
    chơi, giáo viên sử dụng phương pháp thi đấu, động viên khuyến khích học sinh
    tham gia chơi một cách tích cực. Giáo viên có thể tăng thêm yêu cầu, thay đổi
    nhịp điệu trò chơi, phạm vi hoạt động của trò chơi (về cự ly, khoảng cách, thời
    gian chơi…) một cách hợp lýđể không gây nhàm chán và nhằm giúp các em phát
    huy tính sáng tạo trong khi chơi. Đối với những trò chơi có lời hát, vần điệu,
    giáo viên cho các em học thuộc các vần điệu rồi mới kết hợp đưa lời hát, vần
    điệu vào trò chơi. Đặc biệt, là tôi đã sưu tầm những đoạn nhạc có tiết tấu hợp
    với vần điệu để cho trò chơi được sôi nổi hơn.
    Ví dụ: Khi tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “Mèo đuổi chuột” trước hết
    tôi cho học sinh học thuộc vần điệu; sau đó, cho các em khớp nhạc theo vần điệu
    đã học rồi mới tiến hành cho các em chơi trò chơi.

    Mèo đuổi chuột
    Mời bạn ra đây
    Tay nắm chặt tay
    Đứng thành vòng rộng
    Chuột luồn lỗ hổng
    Chạy vội chạy mau
    Mèo đuổi đằng sau
    Trốn đâu cho thoát.
    Thế là chú chuột
    Lại đóng vai mèo
    Co cẳng chạy mau
    Bắt mèo bắt chuột.

    Tiếp theo, tôi đã luân phiên cho các em học sinh được làm quản trò. Sau
    mỗi lần như thế các em sẽ được rèn luyện năng lực tự quản, sự tự tin khi đứng
    trước đám đông, các em sẽ chủ động nhớ luật chơi cách chơi và có khả năng tự
    tổ chức trò chơi cho các bạn trong giờ ra chơi hoặc khi sinh hoạt ở thôn xóm.
    Tôi nhận thấy khi được làm cán sự lớp các em rất hào hứng, vui vẻ và sau đó rất
    hợp tác với các bạn làm quản trò.Trong quá trình tổ chức trò chơi cho học sinh,
    giáo viên cần gần gũi động viên, vui vẻ cởi mở tạo không khí vui tươi hào hứng
    16
    bằng dáng vẻ hài hước, gây tiếng cười, làm cho học sinh cảm thấy thoải mái và
    sảng khoái trong khi chơi.
    + Thi đua tìm hiểu các trò chơi mới.
    Để bổ sung, làm giàu thêm kiến thức về các trò chơi trong phần khởi động,
    ngoài các trò chơi đã giới thiệu tôi còn khuyến khích các em tự tìm hiểu thêm
    các trò chơi khác bằng cách về hỏi ông bà, bố mẹ, tham khảo trên internet và
    qua sách báo. Sau đó, tôi tổ chức cho các em thi đua xem tổ nào biết nhiều trò
    chơi hơn qua hình thức tổ chức cho các em chơi trò chơi: “Tiếp sức”.
    Cách chơi như sau: Chia lớp thành 3 hàng dọc số lượng học sinh tương
    đương nhau. Khi có hiệu lệnh người đầu tiên sẽ chạy lên vạch đích viết tên trò
    chơi mình biết vào bảng sau đó chạy về chạm tay vào người thứ 2, người thứ 2
    tiếp tục chạy lên vạch đích viết tên trò chơi mình biết vào bảng, người thứ nhất
    sẽ về cuối hàng đứng. Trò chơi cứ tiếp tục đến khi không còn học sinh nào viết
    được tên trò chơi nữa thì kết thúc. Khi kết thúc trò chơi giáo viên cùng học sinh
    tổng kết lại xem tổ nào ghi được nhiều tên trò chơi nhất là chiến thắng. Giáo
    viên khen thưởng và nhắc các em tiếp tục sưu tầm thêm các trò chơi mới.
    Bên cạnh những việc làm trên thì v

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5 nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh

    SKKN Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5 nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐẶT VẤN ĐỀ
    Như chúng ta đã biết, năm học 2020 – 2021 là năm học đầu tiên triển khai
    dạy học theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
    với định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh. Cùng với đó, môn
    Giáo dục thể chất không chỉ góp phần phát triển phẩm chất và năng lực chung
    mà còn giúp học sinh hình thành, phát triển kĩ năng chăm sóc sức khoẻ, kĩ năng
    vận động và thói quen luyện tập thể dục thể thao. Qua đó, tạo điều kiện để cơ
    thể học sinh phát triển bình thường theo quy luật tâm lý lứa tuổi, giới tính và
    hình thành nhân cách cho các em.
    Chương trình giáo dục phổ thông 2018 là chương trình mang tính mở,
    cho phép giáo viên và học sinh được lựa chọn các hoạt động phù hợp với thể
    lực, nguyện vọng của bản thân và điều kiện của nhà trường; đồng thời là căn cứ
    để các trường xây dựng kế hoạch phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục, tình
    hình thực tế và đặc điểm cụ thể của học sinh. Vì vậy, học sinh không chỉ được
    chăm sóc sức khoẻ, được học tập mà quan trọng hơn cả các em được thoả mãn
    nhu cầu vui chơi, tinh thần sảng khoái để đến với các môn học khác, góp phần
    nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
    Trong chương trình môn Thể dục lớp 5 ban hành theo QĐ 16/2006/QĐ-
    BGDĐT, 28 trò chơi đã được lồng ghép rất cụ thể và chi tiết. Tuy nhiên, sự phân
    bố trò chơi chưa đồng đều, có tới 20/70 tiết học (chiếm 28,5% tổng số tiết học)
    các trò chơi lặp đi lặp lại cùng một hình thức “tiếp sức” như lò cò tiếp sức, chạy
    tiếp sức, nhảy ô tiếp sức, chạy tiếp sức theo vòng tròn, qua cầu tiếp sức, lò cò
    tiếp sức và đua ngựa, chuyền và bắt bóng tiếp sức, … . Trong khi đó, tỉ lệ số tiết
    có trò chơi dân gian lại rất thấp (chỉ có 3/70 tiết = 4,3%) với 2 trò chơi: “Mèo
    đuổi chuột” (1 tiết), “Trồng nụ trồng hoa” (2 tiết). Như vậy, so với tổng số trò
    chơi trong chương trình môn thể dục lớp 5, trò chơi dân gian là quá ít và chưa
    cân đối.
    Trong khi đó, trò chơi dân gian là một hình thức giải trí phản ánh phong
    tục tập quán của người Việt thuở xưa; không đơn thuần là trò chơi của trẻ con
    4
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    Tác giả: Trần Trung Kiên – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái
    mà còn chứa đựng cả một nền văn hoá dân tộc Việt Nam phong phú và giàu bản
    sắc. Các trò chơi dân gian thường dễ chơi, dụng cụ dễ kiếm dễ làm, chủ yếu lấy
    từ trong tự nhiên, có thể chơi mọi lúc mọi nơi, … và có ý nghĩa vô cùng to lớn
    trong việc hình thành phát triển nhân cách học sinh. Trò chơi dân gian giúp các
    em rèn luyện thể chất, sự khéo léo, trở nên nhanh nhẹn hoạt bát, tạo sự hoà
    đồng, thân thiện, đoàn kết… Những phút vui chơi thoải mái, lành mạnh sẽ giúp
    các em thêm hào hứng để học tập và sống hồn nhiên hơn.
    Bên cạnh đó, trong thời đại 4.0 hiện nay, trẻ em rất dễ bị lôi cuốn vào
    những trò chơi điện tử, những nhân vật ảo, những trò chơi mang tính bạo lực,
    cảm giác mạnh, … khiến cho tâm hồn trẻ thơ bị ám ảnh và nhân cách có thể bị
    phát triển lệch lạc.
    Vì vậy, hơn ai hết, chúng ta – những người thầy nói chung và đặc biệt là
    các thầy cô dạy môn Thể dục nói riêng cần phải tạo ra môi trường học tập, rèn
    luyện thông qua các hoạt động hấp dẫn, lôi cuốn, phù hợp với đặc điểm tâm sinh
    lý lứa tuổi để góp phần phòng tránh những hệ luỵ mà trò chơi điện tử gây ra.
    Nhận thức được ý nghĩa của trò chơi dân gian và những nguy cơ không
    an toàn nêu trên, tôi thiết nghĩ trò chơi dân gian nếu được đưa vào các tiết học
    thể dục sẽ tạo điều kiện cho học sinh được tham gia nhiều hoạt động vui chơi
    lành mạnh, gắn kết và yêu thương, lưu giữ mãi tuổi thơ cho đến khi trưởng
    thành. Sau những giờ học căng thẳng trên lớp, trò chơi dân gian trong các tiết
    dạy của tôi sẽ là những “món ăn” tinh thần giúp học sinh sảng khoái, tiếp nối
    việc “Học mà chơi – chơi mà học” và cảm nhận “Mỗi ngày đến trường là một
    ngày vui”.
    Trên cơ sở mục tiêu của môn Thể dục lớp 5 nói chung và mục đích, yêu
    cầu của phần trò chơi trong các tiết học thể dục nói riêng cùng với sự phong phú
    đa dạng, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc của kho tàng trò chơi dân gian, tôi
    đã nghiên cứu và áp dụng thành công biện pháp:
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    5
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    Tác giả: Trần Trung Kiên – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái
    Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
    I. Thực trạng công tác dạy và học môn thể dục lớp 5
    1. Ưu điểm
    Đáp ứng nhu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, theo
    quan điểm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện: ĐỨC- TRÍ- THỂ- MĨ của
    Đảng và Nhà nước, mục tiêu của giáo dục tiểu học hiện nay là “ nhằm hình
    thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
    mỹ, năng lực của học sinh; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên trung học cơ
    sở” (Điều 27- Luật Giáo dục sửa đổi năm 2020). Để thực hiện mục tiêu đó, điều
    quan trọng nhất là việc đổi mới mạnh mẽ đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo
    dục theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất năng lực của học sinh, đặc biệt là
    đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực chủ
    động sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học. Vì thế, những năm
    gần đây ngoài việc nâng cao chất lượng các môn văn hoá thì chất lượng giảng
    dạy các môn chuyên biệt trong đó có môn Thể dục cũng được coi trọng và nâng
    cao rõ rệt.
    Đội ngũ giáo viên Thể dục có trình độ đào tạo đạt chuẩn, tâm huyết và
    luôn nỗ lực không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Say
    mê, tìm tòi, lựa chọn, phối hợp nhiều phương pháp giảng dạy phù hợp với đặc
    điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh, điều kiện thực tế của nhà trường nhằm đem
    lại hiệu quả cao nhất trong từng giờ lên lớp như: nghiên cứu kĩ mục tiêu, yêu cầu
    cần đạt của bài, dành thời gian thích đáng cho phần thiết kế bài dạy, lên phương
    án chi tiết cho các hoạt động lên lớp… Ngoài ra, giáo viên có kinh nghiệm giảng
    dạy phong phú qua việc tích cực tìm hiểu các tài liệu tham khảo, chuẩn bị chu
    đáo từ đồ dùng học tập, sân bãi, nơi tập luyện, cho tới các động tác làm mẫu của
    giáo viên; tham gia tích cực, có chất lượng các lớp tập huấn chuyên môn, các bài
    dạy chuyên đề.
    6
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    Tác giả: Trần Trung Kiên – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái
    Lớp 5 là lớp học cuối cùng của bậc tiểu học. Qua việc học thể dục từ lớp
    1 đến lớp 4, học sinh đã biết được một số kiến thức, kĩ năng vận động để tập
    luyện giữ gìn sức khỏe nâng cao thể lực; có tác phong nhanh nhẹn, ý thức tổ
    chức kỉ luật, thói quen tự giác luyện tập thể dục thể thao; biết vận dụng những
    kiến thức đã học vào các hoạt động trong và ngoài nhà trường. Học sinh khối
    lớp 5 của trường đa số có thể lực tốt, có nề nếp học tập, vui chơi và sinh hoạt
    tập thể; biết đoàn kết, lắng nghe, chia sẻ và biết tự tổ chức chơi, điều hành chơi
    nhóm nhỏ. Một số em bộc lộ rõ năng khiếu bộ môn, tự tin, mạnh dạn giao tiếp
    và hợp tác.
    Đặc biệt, bên cạnh những ưu điểm đó, việc thực hiện nội dung chương
    trình môn Thể dục hiện nay còn có nhiều thuận lợi như:
    – Sức khoẻ và thể lực của học sinh luôn được cha mẹ coi trọng và đặt lên
    hàng đầu.
    – Các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp được quan tâm, tạo điều kiện
    thuận lợi cho hoạt động giáo dục thể chất.
    2. Hạn chế và nguyên nhân
    Chương trình hiện hành chưa có sách giáo khoa thể dục lớp 5. Phân phối
    chương trình khá nặng về các kỹ năng vận động chạy, nhảy; các trò chơi vận
    động bổ trợ cũng thiên về kỹ năng, vì vậy giờ thể dục thường bị khô cứng. Giáo
    viên mới chỉ thực hiện theo phân phối chương trình nên ít có cơ hội sáng tạo và
    đổi mới.
    Trong số 28 trò chơi của môn Thể dục lớp 5 có một số trò chơi lặp đi lặp
    lại cùng một hình thức, có trò chơi dễ gây nguy hiểm cho những học sinh còn
    hiếu động chưa thực sự chú ý đến vấn đề an toàn trong tập luyện.
    Bên cạnh đó môn Thể dục là môn học chủ yếu thực hiện ngoài không
    gian lớp học, vì vậy thời tiết mưa, nắng thất thường cũng ảnh hưởng đến việc
    dạy và học.
    7
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    Tác giả: Trần Trung Kiên – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái
    Học sinh lớp 5 là năm cuối của bậc tiểu học nên các em chịu áp lực rất
    lớn của việc học các môn văn hóa như toán, văn, tiếng anh, khoa học, công
    nghệ… Vì vậy môn thể dục đôi khi chưa được coi trọng.
    Các tài liệu hướng dẫn, tham khảo đưa trò chơi dân gian vào trong giờ
    thể dục chưa có nhiều.
    II. Biện pháp nâng cao chất lƣợng giảng dạy
    1. Tên biện pháp
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    2. Điều kiện, hoàn cảnh tạo ra biện pháp
    Với mong muốn giúp học sinh phát triển các kĩ năng vận động cơ bản
    một cách linh hoạt dẻo dai, nâng niu tâm hồn các em trong kho tàng văn hóa dân
    tộc qua những khúc hát đồng dao, làm cho giờ học trở nên hấp dẫn, sinh động;
    các em vượt qua được sự lôi cuốn của các thiệt bị điện tử nên tôi đã lồng ghép,
    cải tiến trò chơi dân gian một cách linh hoạt trong quá trình giảng dạy.
    Các trò chơi dân gian giúp các em có thể vừa học – vừa chơi, phù hợp
    với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi và được rèn luyện các kỹ năng nhanh nhẹn, sức
    bền, sự đoàn kết, dẻo dai.
    Biện pháp của tôi áp dụng thành công không những đáp ứng được mục
    tiêu phát triển phẩm chất, năng lực của những công dân toàn cầu trong tương lai
    mà còn phù hợp với điều kiện khuôn viên hạn hẹp của nhà trường và những khi
    điều kiện thời tiết không cho phép tổ chức những hoạt động ngoài không gian
    lớp học.
    3. Nội dung biện pháp
    Để nâng cao chất lượng giảng dạy môn Thể dục cho học sinh khối 5, tôi
    đã vận dụng đưa trò chơi dân gian vào giờ học bằng các giải pháp sau:
    3.1. Vận dụng linh hoạt các trò chơi dân gian trong tiết học thể dục
    Tiến trình một giờ học thể dục gồm 3 phần đó là: “khởi động”, “hoạt
    động cơ bản”, “thả lỏng – hồi tĩnh”. Mỗi phần đều có mục đích yêu cầu riêng
    8
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    Tác giả: Trần Trung Kiên – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái
    nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chuỗi hoạt động phù
    hợp với cơ chế vận động và rèn luyện thể chất.
    Qua nghiên cứu tôi đã áp dụng linh hoạt việc lồng ghép đưa trò chơi dân
    gian một cách phù hợp vào từng hoạt động trong tiết thể dục.
    3.1.1. Đưa trò chơi dân gian vào phần khởi động.
    Khởi động làm giảm nguy cơ bị chấn thương và giúp học sinh chuẩn bị
    tinh thần thật tốt. Trong khi khởi động, nhiệt độ bên trong các cơ tăng lên, cơ
    vừa được co bóp mạnh mẽ mà cũng vừa được thư giãn. Không chỉ các cơ bắp
    được “khởi động”, mà các khớp cũng được “bôi trơn”, cử động dễ dàng hơn
    trước khi vào bài học. Khởi động đầu tiết học thể dục làm tăng nhiệt độ toàn cơ
    thể; tăng nhiệt độ của máu, tăng lượng lớn oxy trong mạch máu giúp cho các cơ
    bắp làm việc hiệu quả hơn, nhất là vào mùa đông. Khởi động còn giúp các em
    chuẩn bị tâm lý, tinh thần thật tốt cho các vận động cơ bản, tăng sự tập trung cho
    giờ học.
    Hoạt động khởi động trong tiết thể dục thường chỉ chiếm vài phút đầu
    giờ nhưng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc kích hoạt sự tích cực của người
    học. Một tiết học thể dục sẽ tạo được sự yêu thích với học sinh nếu ngay từ
    những giây phút đầu tiên giáo viên biết khơi gợi ở các em hứng thú, niềm đam
    mê, gây dựng, bồi đắp tình yêu lâu bền đối với môn học.
    Để gây hứng thú và tăng cường khả năng vận động cho học sinh, với
    phần khởi động đầu giờ học, tôi đã vận dụng linh hoạt các trò chơi dân gian như
    sau: “Dung dăng dung dẻ”, “Kéo cưa lừa xẻ”, “Gieo hạt nảy mầm” , “Thổi kèn
    lá”
    9
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    Tác giả: Trần Trung Kiên – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái
    Trò chơi: “Dung dăng dung dẻ”
    Trò chơi: “Kéo cưa lừa xẻ”
    10
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    Tác giả: Trần Trung Kiên – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái
    Trò chơi: “Gieo hạt nảy mầm”
    Trò chơi: “Thổi kèn lá”
    Tùy vào thời điểm, thời tiết, tâm trạng học sinh và nội dung cơ bản trong
    bài dạy thể dục, tôi luôn chủ động chuẩn bị trò chơi, nội dung chơi, dụng cụ chơi
    để tạo tình huống và khí thế cho học sinh khi khởi động. Các trò chơi nêu trên
    cơ bản là những trò chơi vui vẻ, nhẹ nhàng, phấn khích với những hoạt động tại
    sân trường. Học sinh có thể tự chọn dụng cụ chơi theo ý thích.
    Ví dụ: Trò chơi “Thổi kèn lá”, tôi chuẩn bị rổ nhựa để các loại lá như lá
    chuối, lá dừa, lá mít, lá bàng, … . Học sinh tự cuộn lá thành kèn và thổi thành
    tiếng kêu, thổi theo nhịp rung của còi hoặc theo nhịp chân bước… Các em có
    thể đứng thổi theo nhóm hoặc vừa đi vòng tròn vừa thổi. Trò chơi này đơn giản,
    dễ làm và khá vui nhộn; hỗ trợ cho tập thở, tập cơ xương khớp.
    11
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    Tác giả: Trần Trung Kiên – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái
    Trò chơi: “Thổi kèn lá”
    3.1.2. Thay thế một số trò chơi dân gian vào phần cơ bản
    Khi nghiên cứu tổng thể nội dung chương trình, nghiên cứu lựa chọn trò
    chơi dân gian để thực hiện cho phù hợp với yêu cầu chương trình giáo dục thể
    chất lớp 5, tiếp cận tinh thần đổi mới chương trình giáo dục phổ thông năm
    2018, tôi lựa chọn 5 trò chơi dân gian để thay thế các trò chơi bị trùng lặp trong
    chương trình: “Rồng rắn lên mây”, “Nhảy lò cò”, “Nhảy bao bố”, “Cướp cờ”, “Bịt
    mắt bắt dê”.
    Như vậy, tổng số trò chơi dân gian được vận dụng vào nội dung tiết học:
    07 trò chơi (tăng 5 trò chơi), tổng số tiết học có trò chơi dân gian là 15 tiết/70 =
    21,5% (tăng 12 tiết)
    KẾ HOẠCH GIẢNG DẠY

    TuầnTiết
    số
    Tên bàiNội dung
    điều chỉnh
    HỌC KÌ I: 18 Tuần = 36 tiết
    101Tổ chức lớp – Đội hình đội ngũ – Trò chơi: “Kết bạn”
    02Đội hình đội ngũ – Chơi “Chạy đổi chỗ, vỗ tay nhau” và
    “Lò cò tiếp sức”.
    203Đội hình đội ngũ – Trò chơi: “Chạy tiếp sức”
    04Đội hình đội ngũ – Trò chơi: “Kết bạn”Rồng rắn lên
    mây
    305Đội hình đội ngũ – Trò chơi “Bỏ khăn”
    06Đội hình đội ngũ – Trò chơi “Đua ngựa”
    407Đội hình đội ngũ – Trò chơi: “Hoàng Anh-Hoàng Yến”
    08Đội hình đội ngũ – Trò chơi “Mèo đuổi chuột”
    509Đội hình đội ngũ – Trò chơi: “Nhảy ô tiếp sức”

    12
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    Tác giả: Trần Trung Kiên – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái

    10Đội hình đội ngũ – Trò chơi: “Nhảy đúng, nhảy nhanh”
    611Đội hình đội ngũ -Trò chơi: “Chuyển đồ vật”
    12Đội hình đội ngũ – Trò chơi: “Lăn bóng bằng tay”
    713Đội hình đôi ngũ – Trò chơi: “Trao tín gậy”
    14Đội hình đội ngũ – Trò chơi: “Trao tín gậy”
    815Đội hình đội ngũ – Trò chơi: “Trao tín gậy”
    16Động tác vươn thở và tay – Trò chơi “Dẫn bóng”Nhảy lò cò
    917Động tác chân – Trò chơi: “Dẫn bóng”.
    18Ôn 3 động tác: Vươn thở, Tay, Chân – Trò chơi: “Ai
    nhanh và khéo hơn”.
    1019Động tác Vặn mình – Trò chơi: “Ai nhanh và khéo hơn”.
    20Trò chơi: “Chạy nhanh theo số.”
    Động tác toàn thân – Trò chơi: “Chạy nhanh theo số”.
    1121
    22Động tác: Vươn thở, tay, Chân, Vặn mình, Toàn thân –
    Trò chơi: “Chạy nhanh theo số”.
    1223Ôn 5 động tác của bài thể dục – Trò chơi: “Ai nhanh và khéo hơn”.
    24Ôn 5 động tác của bài thể dục – Trò chơi: “Kết bạn”.
    1325Động tác thăng bằng – Trò chơi: “Ai nhanh và khéo hơn”.
    26Động tác nhảy. – Trò chơi: “Chạy nhanh theo số”
    1427Động tác Điều hòa. – Trò chơi: “Thăng bằng”.
    28Bài thể dục phát triển chung. – Trò chơi: “Thăng bằng”.
    1529Bài thể dục phát triển chung. – Trò chơi: “Thỏ nhảy”.
    30Bài thể dục phát triển chung. – Trò chơi: “Thỏ nhảy”.
    1631Bài thể dục phát triển chung – Trò chơi: “Lò cò tiếp sức”
    32Bài thể dục phát triển chung – Trò chơi: “Nhảy lướt sóng”
    1733Trò chơi: “Chạy tiếp sức theo vòng tròn”Nhảy bao bố
    34Đi đều “Chạy tiếp sức theo vòng tròn”vòng phải, vòng trái – Trò chơi:
    1835Đi đều vòng trái, đổi chân khi đi đều sai nhịp – Trò chơi:
    “Chạy tiếp sức theo vòng tròn”
    36Sơ kết học kì 1
    HỌC KÌ II: 17 Tuần = 34 tiết
    1937Trò chơi: “Lò cò tiếp sức và Đua ngựa”
    38Tung và bắt bóng – Trò chơi: “Bóng chuyền sáu”
    2039Tung bắt bóng – Trò chơi: “Bóng chuyền sáu”

    13
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    Tác giả: Trần Trung Kiên – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái

    40Tung bắt bóng – Nhảy dây
    2141Tung bắt bóng – Nhảy dây – Bật cao
    42Nhảy dây – Bật cao. Trò chơi : “Trồng nụ, trồng hoa”
    2243Nhảy dây – Phối hợp mang vác- Trò chơi: “Trồng nụ, trồng hoa”
    44Nhảy dây – Di chuyển tung bắt bóng
    2345Nhảy dây – Bật cao – Trò chơi “Qua cầu tiếp sức”Cướp cờ
    46Nhảy dây – Trò chơi “Qua cầu tiếp sức”
    2447Phối hợp chạy & bật nhảy – Trò chơi “Qua cầu tiếp sức”
    48Phối hợp chạy và bật nhảy – Trò chơi: “chuyền nhanh; nhảy nhanh”
    2549Phối hợp chạy và bật nhảy – Trò chơi: chuyền nhanh; nhảy nhanh”
    50Bật cao – Trò chơi: “chuyền nhanh; nhảy nhanh”
    2651Ném bóng – Trò chơi: “Chuyền và bắt bóng tiếp sức”Bịt mắt bắt dê
    52Ném bóng – Trò chơi: “Chuyền và bắt bóng tiếp sức”
    2753Ném bóng – Trò chơi: “chuyền và bắt bóng tiếp sức”
    54Ném bóng – Trò chơi: “chạy đổi chỗ, vỗ tay nhau”
    2855Ném bóng – Trò chơi: “Bỏ khăn”
    56Ném bóng – Trò chơi: “Hoàng Anh – Hoàng Yến”
    2957Ném bóng – Trò chơi: “Nhảy đúng, nhảy nhanh”
    58Ném bóng – Trò chơi: “Nhảy ô tiếp sức”Bịt mắt bắt dê
    3059Ném bóng – Trò chơi: “Lò cò tiếp sức”
    60Ném bóng – Trò chơi: “Trao tín gậy”
    3161Ném bóng – Trò chơi: “Nhảy ô tiếp sức”
    62Ném bóng – Trò chơi: “Chuyển đồ vật”
    3263Ném bóng – Trò chơi: “Lăn bóng bằng tay”
    64Ném bóng – Trò chơi: “Dẫn bóng”
    3365Ném bóng – Trò chơi: “Dẫn bóng”
    66Ném bóng – Trò chơi: “Dẫn bóng”
    3467Trò chơi: “Nhảy ô tiếp sức” và “Dẫn bóng”
    68Trò chơi: “Nhảy đúng nhảy nhanh” và “Ai kéo khỏe”
    3569Trò chơi “Lò cò tiếp sức” và “Lăn bóng bằng tay”
    70Tổng kết môn học

    14
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    Tác giả: Trần Trung Kiên – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái
    Trò chơi: “Rồng rắn lên mây”
    Trò chơi: “Nhảy lò cò”
    Trò chơi: “Bịt mắt bắt dê”
    – Sử dụng trò chơi dân gian tập thể thay thế các trò chơi bị trùng lặp để
    phối hợp rèn luyện các động tác cơ bản và vui chơi nhằm giúp các em củng cố
    các kỹ năng, luật chơi và khuyến khích sự thi đua trong quá trình chơi.
    15
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    Tác giả: Trần Trung Kiên – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái
    – Đây là những trò chơi dân gian thể hiện ở tư thế vận động dẻo dai, sức
    mạnh tập thể và có lời hát cùng nhịp nhún nhảy. Các trò chơi được thay thế đều
    bổ trợ rất tốt cho phần vận động cơ bản. Trò chơi cũng thể hiện tính đoàn kết,
    tính đồng đội, tính liên kết và tính kỷ luật…. Trò chơi còn giúp học sinh học
    cách quan sát và vận động theo hướng tăng cường sức khoẻ, thể chất, rèn tính
    nhanh nhẹn, khéo léo, xử lý các tình huống mau lẹ, phản xạ nhanh.
    – Trò chơi dân gian được thiết kế và đưa vào kế hoạch giảng dạy cả năm,
    có sự phân bổ hợp lý về mặt thời gian, giãn cách trong các tiết/tuần làm cho học
    sinh không bị áp lực, chồng chéo. Các trò chơi dân gian được đưa vào để thay
    thế không làm cho nội dung bài học bị nặng nề mà còn phát huy tác dụng rèn
    luyện sự nhanh nhẹn, khéo léo, phát huy tinh thần đoàn kết, tôn trọng kỷ luật và
    khả năng đối đáp. Các em học sinh lớp 5 rất yêu thích các trò chơi này và biết
    vận dụng sáng tạo khi tham gia các hoạt động khác như: vui chơi giữa giờ, lễ
    hội, chuyên mục đầu tuần, …
    3.1.3. Đưa trò chơi dân gian vào phần thả lỏng, hồi tĩnh
    Sau khi đã học các bài tập cơ bản, tôi lựa chọn một số trò chơi dân gian
    nhẹ nhàng để giúp trẻ thả lỏng, điều hòa cơ thể giúp trạng thái trở về cân bằng
    nhưng học sinh vẫn cảm thấy vui vẻ.
    Các trò chơi dân gian tôi chọn cho hoạt động hồi tĩnh là: “Tập tầm vông”,
    “Nu na nu nống”, “Xỉa cá mè”
    16
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    Tác giả: Trần Trung Kiên – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái
    Trò chơi: “Tập tầm vông”
    Trò chơi: “Nu na nu nống”
    Trò chơi: “Xỉa cá mè”
    Các trò chơi này được chơi theo nhóm nhỏ và có lời đồng dao rất hay, ấn
    tượng, diễn ra trong một khoảng thời gian, không gian nhất định, có luật chơi, có
    17
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    Tác giả: Trần Trung Kiên – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái
    nhịp điệu, tính biểu diễn, sáng tạo nhằm mang lại sự sảng khoái về tinh thần cho
    học sinh sau mỗi giờ học thể dục ngoài sân trường; giúp cho các em phát triển
    ngôn ngữ, đối đáp linh hoạt và đặc biệt các em thuộc lòng những lời ca cổ của
    các vùng miền Bắc, Trung, Nam và mang đậm bản sắc dân tộc vui vẻ, dí dỏm.
    3.1.4. Chuẩn bị một số trò chơi dân gian để sử dụng linh hoạt phù hợp
    với điều kiện thời tiết
    Đặc điểm khí hậu Miền bắc có 4 mùa rõ rệt, mưa nắng thất. Trường tôi
    chưa có nhà đa năng, diện tích sân trường hạn chế. Khi đó không thể tổ chức tiết
    học ngoài trời được.
    Với những đặc điểm khách quan trên đã đặt ra cho người giáo viên thể
    dục một thực trạng là nếu không điều chỉnh được kế hoạch giảng dạy (chuyển
    đổi tiết học thể dục với môn học khác) thì tiết thể dục sẽ thực hiện như thế nào?
    Nếu không có giải pháp phù hợp thì giờ thể dục học sinh không được hoạt động
    thậm chí có khi người giáo viên trở thành “ngƣời trông lớp” cho hết giờ.
    Để khắc phục điều kiện khách quan về thời tiết và đảm bảo sức khoẻ cho
    học sinh, tôi đã lựa chọn và chuẩn bị một số trò chơi dân gian để dự phòng và sử
    dụng linh hoạt trong giờ thể dục giúp học sinh có thể học, chơi trong lớp mỗi khi
    không thể tổ chức tiết học ngoài không gian lớp học. Các trò chơi đó là: “Ô ăn
    quan”, “Đánh chuyền”, “Oẳn tù tì”, “Chi chi chành chành”
    Trò chơi: “Ô ăn quan”
    18
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    Tác giả: Trần Trung Kiên – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái
    Trò chơi: “Đánh chuyền”
    Trò chơi: “Oẳn tù tì”
    Trò chơi: “Chi chi chành chành”
    Các trò chơi này giúp phát triển trí tuệ của trẻ em, dạy cho các em biết
    quan sát, tính toán, rèn kỹ năng tư duy cho học sinh; vừa tổ chức được trong lớp
    19
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    Tác giả: Trần Trung Kiên – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái
    học, không gian hẹp, vừa có lời ca giúp trẻ chơi không nhàm chán, cùng nhau
    trải nghiệm, cùng nhau chơi giúp các em nâng cao tinh thần đoàn kết, rèn luyện
    tính kiên trì, tính toán, sự khéo léo, dẻo dai, linh hoạt của bàn tay. Thông qua
    các trò chơi này góp phần lưu giữ các giá trị văn hóa dân gian của dân tộc Việt
    Nam.
    Trong phần chuẩn bị các trò chơi dân gian để bổ sung khi dạy trong các
    ngày có thời tiết không thuận lợi, tôi đã chủ động sưu tầm trò chơi, cách chơi,
    luật chơi, chuẩn bị dụng cụ, thiết bị … Ví dụ với trò chơi “Ô ăn quan”, tôi đã in
    mẫu bàn cờ, chuẩn bị quân chơi là cúc áo hoặc hạt nhãn, viên bi… Khi chơi
    trong lớp, các em có thể trải trên bàn học và ngồi hai bên để chơi.
    Trò chơi: “Ô ăn quan”
    3.2. Cải tiến một số trò chơi cho phù hợp
    Để trò chơi dân gian phù hợp hơn với đối tượng học sinh thành phố và
    giúp các hoạt động giáo dục thể chất thêm phần sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn học
    sinh tham gia, tôi đã cải tiến một số trò chơi như sau:
    – Tích hợp nhạc trong một số trò chơi có lời ca, lời đồng dao.
    Ví dụ: Trò chơi “Nhảy bao bố” được tổ chức vào dịp chào xuân mới, tôi
    chọn các bản nhạc về mùa xuân như “Ngày Tết quê em”, ghép bài “Điệp viên
    20
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    Tác giả: Trần Trung Kiên – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái
    báo hồng” với trò chơi “ Bịt mắt bắt dê”, còn trò chơi “Mèo đuổi chuột”, “Bịt
    mắt đánh trống” tôi lồng nhạc bài Tom và Jerry hay Doremon… để làm nền khi
    tổ chức cho học sinh chơi.
    Trò chơi: “Nhảy bao bố”
    – Chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ để các em có thể chơi trên sân trường có
    diện tích nhỏ: Với những trò chơi tập thể đông người, tôi chia nhóm để vừa có
    học sinh cổ vũ, vừa có học sinh chơi.
    Ví dụ: Trò chơi “Mèo đuổi chuột”, tôi chia lớp thành 4 nhóm, 2 nhóm chơi
    và 2 nhóm cổ vũ. Khi nhóm chơi đã hoàn thành thì được thay thế làm nhóm cổ
    vũ và nhóm cổ vũ vào chơi.
    21
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    Tác giả: Trần Trung Kiên – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái
    Trò chơi: “Mèo đuổi chuột”
    – Tôi đã thay thế thiết bị, dụng cụ của trò chơi với mong muốn đảm bảo
    an toàn cho học sinh, các em biết bảo vệ môi trường, yêu thiên nhiên, hạn chế sử
    dụng những sản phẩm công nghiệp, đồng thời tái sử dụng đồ dùng, đồ chơi và
    làm cho giờ học thể dục không nhàm chán.
    Trò chơi: “Cướp cờ”
    Ví dụ:
    + Trò chơi “cướp cờ” tôi đã thay thế “cờ” thành cành hoa hoặc một dải
    lụa… vừa đảm bảo an toàn cho học sinh mà không làm thay đổi bản chất của trò
    chơi
    22
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    Tác giả: Trần Trung Kiên – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái
    Trò chơi: “Trồng nụ, trồng hoa”
    + Trò chơi “Trồng nụ, trồng hoa” như cách chơi cũ rất nguy hiểm, có
    thể dẫn đến chấn thương, tôi đã thay dụng cụ chơi bằng các hộp bìa các tông có
    dán hình hoa, nụ để học sinh dễ chơi và an toàn hơn.
    – Chia nhỏ trò chơi dân gian thành các phần để có thể lồng ghép trong từng
    hoạt động sao cho phù hợp với phân bố thời gian của tiết dạy.
    Ví dụ: Trò chơi “Thổi kèn lá” tôi cho học sinh làm kèn bằng lá chuối, lá
    dứa… ở phần khởi động còn lúc chơi tôi chuyển xuống phần thả lỏng hồi tĩnh
    3.3. Kết hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường
    Các trò chơi dân gian có đặc trưng là vừa chơi, vừa hát, vừa hò reo. Vì
    vậy để chuẩn bị trò chơi, tôi đã phối hợp với giáo viên chủ nhiệm các lớp cho
    các em học thuộc một số bài thơ, ca dao, đồng dao… giúp học sinh hào hứng,
    vui vẻ… góp phần giúp các em yêu thích môn học và phát triển ngôn ngữ.
    23
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    Tác giả: Trần Trung Kiên – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái
    Giáo viên chủ nhiệm dạy học sinh các bài ca dao, đồng dao
    Giáo viên âm nhạc đã hỗ trợ tôi chọn lựa, lồng ghép nhạc vào trò chơi;
    giáo viên mĩ thuật, cùng với phụ huynh học sinh giúp tôi cùng thiết kế trang
    phục, đạo cụ cho trò chơi.
    24
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    Tác giả: Trần Trung Kiên – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái
    Cô giáo Đinh Thị Thu Hương – giáo viên Âm nhạc chọn và ghép nhạc
    Thầy giáo Trần Thanh Hà thiết kế đạo cụ chơi
    Tổng phụ trách Đội và các giáo viên bộ môn đã kết hợp cùng tôi thực
    hiện hiệu quả việc dạy tích hợp liên môn, giúp cho tiết học trở nên sinh động,
    không gây nhàm chán mà tạo động lực để các em sáng tạo, tự tư duy theo cách
    suy nghĩ của bản thân. Trong quá trình tổ chức cho học sinh chơi, chúng tôi đã
    chuẩn bị một số phần quà để tặng cho người chơi thắng cuộc càng làm cho các
    em háo hức và phấn chấn hơn. Món quà có khi là những đồ chơi mà các em yêu
    thích, lại có khi là dụng cụ của một trò chơi tiếp theo, gợi mở ra một trò chơi
    mới.
    Phụ huynh và học sinh nhận quà sau khi chơi trò chơi
    25
    “Lồng ghép trò chơi dân gian vào hoạt động giáo dục thể chất lớp 5
    nhằm góp phần phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh”
    Tác giả: Trần Trung Kiên – Trường Tiểu học Phạm Hồng Thái
    Nhờ đó, học sinh không chỉ thực hiện tốt các yêu cầu của môn học mà
    còn chủ động sáng tạo, tham gia các hoạt động giao lưu trong những ngày lễ lớn
    được tổ chức ở trường. Chính sự năng động, sáng tạo của học sinh đã cuốn hút
    phụ huynh nhiệt tình ủng hộ và hào hứng tham gia trò chơi cùng các con những
    trò chơi như “Kéo co”, “Bịt mắt đánh trống”, “Bịt mắt đập niêu”, “Nhảy bao
    bố”… làm cho không khí tích cực học tập được lan tỏa; thầy và trò đều cảm
    nhận được niềm vui, sự hồ hởi, phấn khích và hạnh phúc khi được tham gia các
    trò chơi dân gian. Từ các trò chơi dân gian được tổ chứ

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng Tiết đọc thư viện, góp phần xây dựng văn hóa đọc trong trường Tiểu học

    SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng Tiết đọc thư viện, góp phần xây dựng văn hóa đọc trong trường Tiểu học

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
    Sách luôn giữ một vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người, một
    cuốn sách hay không chỉ đem đến cho người đọc những thông tin cần thiết mà nó
    còn như chất xúc tác rèn luyện tính kiên nhẫn, rèn luyện khả năng ngôn ngữ, giao
    tiếp, khả năng tưởng tượng, sáng tạo… Đây là những yếu tố rất cần thiết cho sự
    phát triển của trẻ em trong lứa tuổi học sinh.
    Sách còn là người thầy, người bạn là đôi cánh để cho con người bay lên, sách
    cung cấp cho con người mọi sự hiểu biết trong cuộc sống. Việc phát triển văn hóa
    đọc là một trong những động lực thúc đẩy sự hình thành nên con người mới, những
    công dân có hiểu biết, có trí tuệ để có thể thích ứng với sự phát triển của xã hội
    hiện đại.
    Đọc sách làm phong phú thêm kiến thức về khoa học, văn học, nghệ thuật,
    cũng như đời sống. Sách còn có tác dụng giải trí, giúp các em học sinh giải tỏa
    căng thẳng, áp lực trong học tập, giúp các em có thêm vốn từ ngữ, những bài học
    về giá trị sống và rèn luyện nhân cách.
    Đọc sách có vai trò to lớn cho việc hình thành và phát triển trí tuệ, nhân cách
    con người. Việc đọc sách không chỉ dừng lại ở chỗ tiếp thu kiến thức mà còn tạo
    thói quen tự học, tự nghiên cứu của học sinh, bên cạnh đó còn rèn cho học sinh
    những kĩ năng, tình cảm thói quen tự học, tự nghiên cứu có lợi cho trí não và sức
    khỏe. Việc đọc sách mang lại cho trẻ nhiều điều bổ ích mà không gì thay thế được,
    ngày nay với nhiều phương tiện thông tin đại chúng giúp cho trẻ trau dồi kiến thức,
    vui chơi giải trí nhưng vẫn không thể hoàn toàn thay thế được việc đọc sách.
    Có thể nói, đọc sách là một thói quen rất có ý nghĩa, đặc biệt là đối với học
    sinh trong trường tiểu học. Để duy trì, phát triển văn hóa đọc giúp các em lĩnh hội
    các giá trị văn hóa xã hội, hình thành và phát triển kỹ năng giao tiếp thông tin, tiếp
    nhận tri thức, hình thành nên nhân cách cho các em. Trong thời đại bùng nổ công
    nghệ thông tin, trước những trang mạng xã hội tràn lan các thông tin lệch lạc,
    phiến diện thì việc đọc sách có chọn lọc sẽ rất bổ ích, giúp các em tiếp nhận thông
    tin một cách thiết thực, đa chiều.
    Mục tiêu Đề án “Phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng đến năm 2020, định
    hướng đến năm 2030” của Chính phủ đã nêu: “Xây dựng và phát triển thói quen,
    nhu cầu, kỹ năng và phong trào đọc trong mọi tầng lớp nhân dân, nhất là trong
    thanh niên, thiếu niên, học sinh, sinh viên và chú trọng tới người dân ở vùng nông
    thôn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; cải thiện môi trường đọc; góp
    phần nâng cao dân trí, phát triển tư duy, khả năng sáng tạo, bồi dưỡng nhân cách,
    3
    tâm hồn, tăng cường ý thức chấp hành pháp luật, hình thành lối sống lành mạnh
    trong con người, xã hội Việt Nam, đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập”.
    Đối với học sinh tiểu học, thời lượng học từ 35-40 phút/1 tiết được xem là khá
    hợp lý với đặc điểm của học sinh lứa tuổi này, nhưng vẫn không thể đủ để giáo viên
    có thể giải đáp hết thắc mắc của các em. Vì vậy mà việc chúng ta rèn được cho các
    em có thói quen đọc sách sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho các em. Cụ thể là:
    Đọc sách giúp phát triển khả năng đọc nhanh và tƣ duy nhanh: Lợi ích
    đầu tiên của việc đọc sách chính là giúp các em tiếp xúc với con chữ nhiều hơn.
    Cách sắp xếp câu chữ, hình ảnh của sách có thể giúp các em rèn luyện khả năng
    đọc nhanh, tư duy nhanh và có lối suy nghĩ nhanh hơn, nhạy bén hơn.
    Nâng cao kiến thức bên cạnh các sách học tại lớp: Có vô số những loại
    sách thuộc rất nhiều những lĩnh vực khác nhau như tự nhiên, xã hội, văn học, thế
    giới, du lịch… Đọc sách nhiều, các em có thể tiếp nhận những kiến thức bên ngoài
    khuôn khổ lớp học. Qua đó, các em vừa nâng cao trí tuệ, vừa thêm kiến thức cho
    bản thân, vừa tiếp thu bài học ở trường nhanh chóng và hiệu quả hơn.
    Đọc sách giúp các học sinh tránh đƣợc những nguy cơ về tâm lý tuổi học
    trò: Ngoài là một phương tiện cung cấp tri thức, sách còn là phương tiện giải trí
    hoàn hảo cho học sinh. Sách giúp các em có được phút giây thoải mái sau giờ học
    và tránh tình trạng tiếp xúc quá nhiều với các thiết bị công nghệ, phòng tránh
    những triệu chứng khủng hoảng tâm lý tuổi học trò như căng thẳng, trầm cảm, tự
    kỷ, rối loạn lo âu,…
    Đọc sách giúp học sinh có đƣợc cái nhìn khác biệt về thế giới xung
    quanh: Nhờ vào sách, nhiều học sinh có thể có được cảm nhận khác biệt hơn về
    cuộc sống, cách nhìn nhận về thế giới xung quanh mình, qua đó, sống một cách
    tích cực hơn, có ích hơn và hình thành các ước mơ của bản thân.
    Nghị quyết số 29 của BCH T.Ư Đảng Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
    GD&ĐT đã nêu rõ mục tiêu cụ thể đối với giáo dục phổ thông: “nâng cao chất
    lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối
    sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào
    thực tiễn”… Đáp ứng yêu cầu đổi mới đó, thư viện trường học có vai trò quan
    trọng, liên quan mật thiết với thói quen đọc sách và hình thành văn hóa đọc, thói
    quen tự học, chiếm lĩnh tri thức của mỗi học sinh.
    Mặc dù thư viện là một trong những tiêu chí để công nhân một trường tiểu
    học đạt tiêu chuẩn Trường chuẩn quốc gia, nhưng thực tế ở nhiều trường học thư
    viện đóng vai trò là một kho sách hơn là thư viện phục vụ học sinh. Hiện nay tại
    các trường Tiểu học thường tồn tại hai kiểu thư viện: Thứ nhất, thư viện không
    4
    được đầu tư cả cơ sở vật chất và sách phục vụ học sinh. Mặc dù được gọi là thư
    viện, nhưng thực sự là nhà kho của trường. Thứ hai, thư viện được đầu tư tốt về cơ
    sở vật chất, nhưng vẫn thiếu sách phục vụ học sinh. Sách trong thư viện này phần
    lớn là sách phục vụ giáo viên. Sách phục vụ học sinh thường là sách tham khảo,
    chú trọng về các đầu sách bổ sung, nâng cao kiến thức cho học sinh. Sách dành cho
    học sinh sắp xếp trên kệ hoặc trong tủ, học sinh tìm mượn sách qua danh mục sách.
    Điều này cản trở học sinh tiếp cận với sách và lựa chọn cho mình quyển sách phù
    hợp. Ngoài ra, một không gian thư viện phục vụ chung cả giáo viên và học sinh
    cũng khiến học sinh không cảm thấy thoải mái khi đến thư viện.
    Như vậy, có thể nói rằng mô hình thư viện hiện nay chưa đáp ứng được yêu
    cầu đọc sách và xây dựng thói quen đọc sách cho học sinh. Việc có một mô hình
    thư viện thân thiện là rất cần thiết để khuyến khích học sinh đến thư viện đọc sách,
    hình thành và phát triển kĩ năng đọc cho học sinh.
    Từ năm học 2019-2020, nhiều trường trong địa bàn tỉnh Nam Định trong đó có
    trường tiểu học Thị trấn Xuân Trường đã thực hiện mô hình “Thư viện thân thiện”
    theo dự án Room to Read. Mô hình này đã giúp các nhà trường, các nhà quản lý
    tháo gỡ nút thắt trong việc khai thác hoạt động của Thư viện như thế nào cho hiệu
    quả, góp phần xây dựng phong trào đọc sách cho học sinh trong toàn trường.
    Qua hai năm tập trung chỉ đạo thực hiện mô hình “Thư viện thân thiện” tại
    đơn vị trường tôi đã thu được một số kết quả nhất định, góp phần xây dựng văn
    hóa đọc trong giáo viên, học sinh. Xin được chia sẻ kinh nghiệm qua bài viết:
    “Một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động thư viện thân thiện, góp
    phần xây dựng văn hóa đọc trong trường tiểu học”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Thực trạng về hoạt động thƣ viện
    1.1 Thực trạng chung về hoạt động thƣ viện trong nhà trƣờng tiểu học
    hiện nay:
    1.1.1 Về công tác quản lý chỉ đạo
    Nhiều ban giám hiệu chỉ quan tâm đến làm sao cho thư viện đạt các điều kiện
    cơ bản về cơ sở vật chất để đạt chuẩn (hoặc tiên tiến), sau đó đóng cửa thư viện
    khiến thư viện trở thành nơi chứa sách. Hoạt đông thư viện còn hình thức, chưa
    thực sự mang lại hiệu quả thiết thực
    Ban giám hiệu các trường lúng túng trong việc chỉ đạo các hoạt động đọc sách
    thư viện, sắp xếp Tiết đọc thư viện vào thời khóa biểu các lớp. Việc chỉ đạo giáo
    5
    viên thực hiện tiết đọc thư viện còn chung chung, chưa có hiệu quả. Còn có quan
    điểm là học sinh vào thư viện đọc sách như thế nào là do nhân viên thư viện phụ
    trách và quản lý.
    1.1.2 Về phía giáo viên:
    Nhiều giáo viên cho rằng, học sinh học trong sách giáo khoa là đủ, thêm sách
    khác chỉ làm rối tung lên, mất thời gian cho cả cô và trò. Chính vì thế, trong năm
    học, giáo viên hầu như không tổ chức cho học sinh xuống thư viện để đọc sách.
    Một số giáo viên coi giờ đọc sách của học sinh trong thư viện như là giờ lấp
    chỗ trống, là giờ để dành cho ôn luyện các môn văn hóa khác như Toán, Tiếng Việt.
    Giáo viên cho học sinh vào thư viện tự tìm sách đọc, chưa hướng dẫn cho học sinh
    các kỹ thuật sử dụng sách, cách lựa chọn sách phù hợp với khả năng đọc của bản
    thân. Giáo viên lúng túng trong quá trình tổ chức một tiết học thư viện, nhiều giáo
    viên thực hiện như một tiết kể chuyện, nặng nề về tìm hiểu nội dung, ý nghĩa câu
    chuyện mà chưa coi trọng việc làm thế nào để cho học sinh thích đọc sách, muốn
    đến thư viện tìm sách để đọc.
    Mặt khác, một số giáo viên còn chưa có hứng thú và kĩ năng đọc khiến cho
    việc truyền cảm hứng say mê đọc sách đến các em còn nhiều bất cập.
    1.1.3 Cơ sở vật chất
    Cơ sở vật chất và các thiết bị trong phòng thư viện nhiều nơi còn nghèo nàn.
    Hệ thống các đầu sách chưa đáp ứng được nhu cầu bạn đọc. Nhiều nơi kho sách
    chỉ toàn sách cũ, nát; sách giáo khoa, sách tham khảo phục vụ dạy học theo quy
    định. Số lượng sách truyện có chất lượng, các tủ sách theo chủ đề vắng bóng.
    Hình thức trong thư viện còn trang trí đơn điệu, cứng, khuôn mẫu. Các khẩu
    hiệu, danh ngôn về sách, thói quen đọc sách chưa phù hợp với học sinh. Chưa có
    lịch đọc, mượn, trả sách cho học sinh cụ thể.
    Các góc trong thư viện chưa có điểm nhấn. Sách được trưng bày theo chủng
    loại, chưa phân trình độ đọc cho học sinh theo mã màu. Từ đó học sinh vào thư
    viện lúng túng, không biết chọn sách phù hợp với khả năng đọc của bản thân.
    Các sản phẩm viết, vẽ thể hiện sự yêu thích, trí tưởng tượng sáng tạo của học
    sinh trong thư viện hầu như không có, chưa thu hút được học sinh đến với thư viện
    hằng ngày.
    1.1.4 Nhân viên thƣ viện
    Nhiều trường chưa có nhân viên chuyên trách về công tác thư viện, trình độ
    cán bộ thư viện trường học còn chưa đạt. Công tác thư viện trường học do giáo
    6
    viên các bộ môn khác hoặc nhân viên văn thư của nhà trường kiêm nhiệm dẫn đến
    cán bộ thư viện không thể và không có khả năng tổ chức thiết lập thư viện, giới
    thiệu sách đến với bạn đọc.
    Một số nơi chỉ coi thư viện như là một trong những điều kiện để đạt trường
    chuẩn quốc gia. Sau khi đã được công nhận thì không còn quan tâm tới hoạt động
    của thư viện nữa, khiến cho tâm lý của cả người làm công tác thư viện và giáo viên
    đều không thiết tha, hào hứng trong việc triển khai các dự án thư viện hoặc cải tạo
    thư viện, làm giảm vai trò và giá trị giáo dục của thư viện trong nhà trường.
    1.2. Thực trạng hoạt động thƣ viện trƣờng tiểu học Thị trấn Xuân Trƣờng:
    1.2.1 Tình hình hoạt động thƣ viện trƣờng từ năm học 2019-2020
    * Cơ sở vật chất:
    Từ năm học 2019-2020, thực hiện mô hình “Thư viện thân thiện” theo dự án
    Room to Read, nhà trường đã đầu tư thiết lập thư viện theo các bước hướng dẫn.
    Thư viện nhà trường được cải tạo, không gian trang trí đẹp mắt, thân thiện, thu hút
    học sinh. Nền thư viện được trải thảm bắt mắt, học sinh có thể ngồi, đọc sách thoải
    mái trong thư viện. Trên các cửa sổ đều có hệ thống cây xanh, tạo sự thân thiện
    môi trường thiên nhiên. Các khẩu hiệu mang tính triết lý, hàn lâm với học sinh tiểu
    học được thay bằng những câu nói mang tính giáo dục nhẹ nhàng, dễ hiểu, gây ấn
    tượng tốt đối với các em.
    Các kệ sách được sơn sửa lại phù hợp với không gian của thư viện. Hệ thống
    thiết bị hiện đại cũng được trang bị đầy đủ để phục vụ hoạt động của thư viện: Ti
    vi, mạng internet, ….
    Nhà trường đã cho kiểm kê lại toàn bộ sách cũ, lựa chọn các đầu sách phù
    hợp phân theo mã màu. Sau đó, lên kế hoạch mua bổ sung thêm nhiều đầu sách
    phong phú, nội dung hấp dẫn với các khổ sách lớn, vừa, nhỏ, phù hợp với đối
    tượng học sinh các lớp đáp ứng nhu cầu đọc sách cho các em.
    Trong thư viện có các góc hoạt động cho học sinh phù hợp: Góc sáng tạo, góc
    Viết- Vẽ, góc Tra cứu, ….Nội quy thư viện xây dựng cả ở trong và ngoài thư viện.
    * Số lớp, số học sinh

    Năm họcTổng số
    toàn trường
    Số HS học
    Tiết đọc thư viện
    tại thư viện
    Số HS học
    Tiết đọc thư viện
    trên lớp
    Nhân viên
    thư viện
    Số lớpSố HSSố lớpSố HSSố lớpSố HSChuyên
    trách
    Kiêm
    nhiệm
    2019-20202987917556123231
    2020-202131928319281

    7
    * Đội ngũ giáo viên và nhân viên thƣ viện
    Nhân viên thư viện được đào tạo chính quy về công tác thư viện. Đảm bảo đủ
    năng lực để thực hiện nhiệm vụ. Tham gia đầy đủ các buổi tập huấn về mô hình
    “Thư viện thân thiện” về thiết lập thư viện, các hoạt động của “Thư viện thân
    thiện”. Cách phân loại sách theo mã màu, trang trí thư viện sao cho đệp, bắt mắt.
    Đội ngũ giáo viên đều có trình độ chuyên môn tốt, nhiệt tình, hăng hái trong
    thực hiện nhiệm vụ. 100% số giáo viên văn hóa tham gia tập huấn tiết đọc thư viện.
    * Học sinh: Học sinh ngoan, ham học hỏi, thích được trải nghiệm. Nhiều học
    sinh có ý thức tự học tốt. Phụ huynh quan tâm chăm lo cho việc học của con em,
    mong muốn con được phát triển toàn diện.
    1.2.2 Khó khăn:
    – Từ năm học 2019-2020, sáp nhập hai trường tiểu học A thị trấn và trường tiểu
    học B thị trấn thành trường tiểu học Thị trấn Xuân Trường có hai điểm trường. Số
    lượng nhân viên thư viện giảm, một nhân viên thư viện phải phụ trách cả hai điểm
    trường nên hạn chế trong việc tổ chức mượn, trả sách và hoạt động giới thiệu sách.
    – Kinh phí hạn hẹp nên năm học 2019-2020 mới triển khai thiết lập thư viện ở
    khu B. Khu còn lại phải thực hiện Tiết đọc thư viện tại lớp học. Bước sang năm
    học 2020-2021, nhà trường mới tiếp tục đầu tư xây dựng thư viện thân thiện tại
    điểm trường khu A.
    – Số lượng đầu sách chưa đáp ứng với nhu cầu đọc sách của học sinh. Số đầu
    sách khổ lớn phục vụ cho hình thức Cùng đọc còn ít, chưa phong phú.
    – Một số giáo viên chưa nhận thức về tầm quan trọng của Tiết đọc thư viện
    nên việc triển khai Tiết đọc thư viện chưa thường xuyên nên hiệu quả còn hạn chế.
    Một số giáo viên vẫn nặng về giáo dục ý nghĩa của mỗi câu chuyện trong và sau
    khi đọc mà chưa quan tâm đến việc giáo viên cần chấp nhận tất cả cảm nhận của
    học sinh miễn là các em thích đọc, muốn đến thư viện đọc sách mỗi ngày.
    Các tiết đọc thư viện thực hiện tại lớp ở khu A chưa hiệu quả.
    2. Giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1. Giải pháp thứ nhất: Bồi dưỡng nâng cao nhận thức về tầm quan trọng
    hoạt động thư viện trong việc xây dựng văn hóa đọc cho học sinh
    Ngay từ đầu năm học, Ban giám hiệu nhà trường luôn xác định hoạt động thư
    viện và tiết đọc thư viện là một hoạt động chuyên môn quan trọng cần phải thực
    hiện thường xuyên, có hiệu quả. Chúng tôi tuyên truyền trong cán bộ, giáo viên,
    nhân viên PHHS và cộng đồng về tầm quan trong của thư viện, mục tiêu, ý nghĩa
    của việc xây dựng văn hóa đọc thông qua hình thành thói quen đọc sách cho học
    8
    sinh tiểu học, thấy được vai trò to lớn của sách trong nhà trường. Thực hiện tốt các
    tiết đọc thư viện là cách giáo viên giúp học sinh tiếp cận với sách, biết cách lựa
    chọn sách phù hợp để đọc, từ đó lôi cuốn dần các em vào các hoạt động đọc sách
    trong thư viện, hình thành thói quen đọc sách cho học sinh.
    Tổ chức tập huấn cho cán bộ, giáo viên, nhân viên về: Thiết lập và quản lý
    thư viện, các hình thức tổ chức Tiết đọc thư viện. Giáo viên nắm chắc tiến trình,
    các bước lên lớp của 4 hoạt động tiết đọc thư viện. Từ đó, tổ chức triển khai cho
    các tổ chuyên môn trao đổi thảo luận, thống nhất trong tổ lập kế hoạch thực hiện
    trong suốt năm học.
    2.2 Giải pháp thứ hai: Làm tốt công tác thiết lập và quản lý thư viện theo
    mô hình “Thư viện thân thiện”
    Việc thiết lập thư viện rất quan trọng, là điều kiện quyết định hiệu quả hoạt
    động thư viện và tiết đọc thư viện. Sau khi được tập huấn về mô hình “Thư viện
    thân thiện”, Ban giám hiệu đã bàn bạc thống nhất lập kế hoạch thiết lập thư viện
    với trên cơ sở Thư viện của nhà trường một cách cụ thể.
    2.2.1 Tổ chức trang trí lại phòng thƣ viện: Gỡ bỏ hết các biểu bảng không
    phù hợp để thư viện thật sự thân thiện, thu hút bạn đọc ngay từ bên ngoài thư viện.
    Và thực tế mô hình Thư viện thân thiện đã thay đổi hoàn toàn về hình ảnh của thư
    viện truyền thống trong nhà trường. Từ những kho chứa sách ban đầu, thư viện đã
    thay đổi, thiết kế sáng tạo, đẹp mắt, tạo ra một không gian, môi trường đọc sách
    thân thiện với học sinh. Các loại đồ dùng thiết bị được trang bị đầy đủ, đáp ứng tốt
    nhất cho việc đọc của học sinh như: giá, kệ, giỏ đựng sách, bàn ghế phục vụ việc
    đọc, thảm xốp trải phòng, hệ thống bảng biểu… Việc bố trí hợp lý đã tạo nên không
    gian thân thiện, gần gũi. Ngoài ra, quy trình mượn sách cũng đơn giản hơn rất
    nhiều để khuyến khích các em chủ động mượn sách.
    2.2.2 Bổ sung sách đọc trong thƣ viện: Nhân viên thư viện thống kê toàn bộ
    số sách hiện có của nhà trường trong thư viện, phân loại theo mã màu và sắp xếp
    lên kệ. Trên cơ sở nhu cầu đọc sách của học sinh và danh mục sách theo mã màu
    của Room to Read, nhà trường đăng ký mua số lượng truyện, sách đọc cho học
    sinh ban đầu, sau đó bổ sung dần theo tháng.
    Khi thư viện điểm trường ở khu A, nhà trường đã mua thêm nhiều đầu sách,
    tổ chức luân chuyển sách giữa hai khu để đáp ứng nhu cầu đọc sách ngày càng cao
    của học sinh.
    2.2.3 Tổ chức quản lý thƣ viện theo mô hình “Thƣ viện thân thiện”
    Nhân viên thư viện lập các loại sổ: Sổ đăng kí cá biệt, Danh mục sách, Sổ
    mượn- trả học sinh, Sổ mượn -trả giáo viên, Nhật kí tiết đọc thư viện. Các loại sổ
    9
    sách thường xuyên cập nhật theo ngày. Làm thẻ mượn sách cho giáo viên, học sinh
    và quản lý mượng trả trên máy.
    Cuối mỗi tháng, nhân viên thư viện thống kê tình hình tiết đọc thư viện, số
    lượng bạn đọc trong tháng báo cáo về nhà trường.
    2.3. Giải pháp thứ ba: Xây dựng thời khóa biểu Tiết đọc thư viện đảm bảo 2
    tiết/tháng/lớp; Lập kế hoạch dạy học tiết đọc thư viện phù hợp với từng khối lớp
    Với mục tiêu và thời lượng Tiết đọc thư viện rất phù hợp cho việc sắp xếp
    vào dạy học buổi 2. Tuy nhiên, việc sắp xếp thế nào cho phù hợp với tâm lý học
    sinh, hỗ trợ tốt cho việc dạy và học chính khóa thì cần được Ban giám hiệu, các
    thầy cô giáo quan tâm.
    2.3.1 Xây dựng thời khóa biểu Tiết đọc thƣ viện và Lịch mƣợn trả sách
    Trên thời khóa biểu của mỗi khối lớp, hai tuần có một tiết đọc thư viện đảm
    bảo luân phiên giữa các lớp, không có sự chồng chéo trong khối, trong trường. Tiết
    đọc thư viện phân ra hai tuần chẵn lẻ và đi theo môn Mĩ thuật. Tiết đọc thư viện sẽ
    thực hiện vào tuần không có môn Mĩ thuật (môn Mĩ thuật được sắp xếp 2 tiết liền
    nhau để đảm bảo cho học sinh thực hành).
    Các tiết đọc được thực hiện vào buổi học thứ hai trong ngày, thời lượng của
    mỗi tiết đọc tương đương với những tiết học khác.
    THỜI KHOÁ BIỂU TIẾT ĐỌC THƯ VIỆN NĂM HỌC 2020-2021

    ThứTiếtKhu AKhu B
    Tuần lẻTuần chẵnTuần lẻTuần chẵn
    Ba13A31B21B1
    23A15B15B2
    34A15B34B1
    14A32A13B22B1
    21A21A12B32B2
    35A24B41B3
    Năm13A22B43B1
    22A21A33B33B4
    34A25A14B34B2

    Lịch mượn trả sách của giáo viên và học sinh cũng cần được sắp xếp khoa
    học, đảm bảo lịch trực của nhân viên thư viện ở cả hai điểm trường.
    10
    LỊCH MƯỢN TRẢ SÁCH NĂM HỌC 2020-2021

    Thời gianThứ HaiThứ BaThứ TƣThứ NămSáu
    SángMƣợnHS1A1, 1A2,
    1A3
    1B1, 1B2,
    1B3
    3A1, 3A2,
    3A3
    3B1, 3B2,
    3B3, 3B4
    5A1, 5A2
    GVKhối 1
    (Khu A)
    Khối 1
    (Khu B)
    Khối 3
    (Khu A)
    Khối 3
    (Khu B)
    Khối 5+GV
    chuyên(Khu A)
    TrảHS4A1, 4A2,
    4A3
    4B1, 4B2,
    4B3, 4B4
    1A1, 1A2,
    1A3
    1B1, 1B2,
    1B3
    3A1, 3A2, 3A3
    GVKhối 4
    (Khu A)
    Khối 4
    (Khu B)
    Khối 1
    (Khu A)
    Khối 1
    (Khu B)
    Khối 3 (Khu A)
    ChiềuMƣợnHS2A1, 2A22B1, 2B2,
    2B3, 2B4
    4A1, 4A2,
    4A3
    4B1, 4B2,
    4B3, 4B4
    5B1, 5B2, 5B3
    GVKhối 2
    (Khu A)
    Khối 2
    (Khu B)
    Khối 4
    (Khu A)
    Khối 4
    (Khu B)
    Khối 5+GV
    chuyên (Khu B)
    TrảHS5A1, 5A25B1, 5B2,
    5B3
    2A1, 2A22B1, 2B2,
    2B3, 2B4
    3B1, 3B2,
    3B3, 3B4
    GVKhối
    5+GV
    chuyên
    (Khu A)
    Khối
    5+GV
    chuyên
    (Khu B)
    Khối 2
    (Khu A)
    Khối 2
    (Khu B)
    Khối 3 (Khu
    B)

    2.3.2 Xây dựng kế hoạch dạy học các tiết đọc thƣ viện
    Trong tiết đọc thư viện có các hoạt động đọc chính giúp phát triển thói quen
    đọc sách của học sinh. Nhưng hoạt động đọc không tập trung vào dạy kỹ năng
    đọc mà mục đích chính của tiết đọc thư viện là hình thành và phát triển thói quen
    đọc sách.
    Tuy nhiên, khi trẻ có thói quen đọc sách thì kỹ năng đọc sách phát triển; kỹ
    năng đọc sách phát triển thì học sinh sẽ đọc tốt đồng thời sẽ phát triển về tư duy
    ngôn ngữ cũng như học tập được nhiều điều bổ ích.
    Đến với tiết đọc thư viện, các em sẽ có 2 tiết để làm quen với nội quy thư
    viện, bảng mã màu, cách chọn sách, mượn trả và bảo quản sách. Các em sẽ được
    hướng dẫn sử dụng quy tắc 5 ngón tay để chọn sách. Em tự chọn một cuốn sách bất
    kỳ và đọc 5 câu liên tục. Nếu không mắc lỗi hoặc chỉ 1 lỗi thì em nên chọn 1 cuốn
    sách ở mã màu cao hơn; nếu em mắc 2-4 lỗi trong 5 câu đó thì quyển sách em chọn
    11
    đã phù hợp với trình độ đọc của mình; còn nếu nhiều lỗi hơn, em cần chọn mã màu
    thấp hơn.
    Sau 2 tiết đầu tiên, các em sẽ được tiếp cận với các kiểu hoạt động: Đọc to
    nghe chung; Cùng đọc ; Đọc cặp đôi; Đọc cá nhân.
    Tùy thuộc vào trình độ đọc của từng khối lớp mà giáo viên lựa chọn tỷ lệ các
    kiểu hoạt động phù hợp. Gợi ý với các lớp như sau:

    Các hoạt động đọcLớp 1Lớp 2-3Lớp 4-5
    Tỉ lệSố tiếtTỉ lệSố tiếtTỉ lệSố tiết
    Tiết đọc thứ nhất111
    Tiết đọc thứ hai111
    Đọc to nghe chung40%630%520%3
    Cùng đọc30%520%310%2
    Đọc cặp đôi20%330%530%5
    Đọc cá nhân10%220%340%6
    Tổng số tiết181818

    Với các hình thức đọc: Đọc to nghe chung, Cùng đọc giáo viên phải lựa chọn
    câu chuyện cụ thể theo mã màu sách, khổ sách để phù hợp với đối tượng học sinh.
    Sách khổ lớn thường có mã màu dành cho học sinh lớp 1-2, nên với lớp 3-4-5, giáo
    viên có thể chụp ảnh, đưa lên màn hình để tổ chức cho học sinh thực hiện tiết Cùng
    đọc hoặc sử dụng sách khổ nhỏ có nhiều bản.
    2.4. Giải pháp thứ tƣ: Giáo viên thực hiện có hiệu quả các hoạt động tiết
    đọc thư viện
    Các hoạt động trong Tiết đọc thư viện được thiết kế để giúp học sinh có thời
    gian trải nghiệm tích cực với việc đọc, giúp các em thấy việc đọc là hay, là thích
    thú. Học sinh được nghe cô đọc, đọc cùng cô, được chọn bạn, chọn sách để đọc
    trong môi trường có sự hỗ trợ.
    Quy trình các bước của 4 hoạt động đọc đã được Room to Read thiết kế rõ
    ràng, giáo viên dễ dàng thực hiện. Chính vì thế, trong quá trình tập huấn cần làm rõ
    để giáo viên nắm chắc các bước cơ bản trong từng hoạt động đọc, vận dụng thực
    hiện tốt sẽ làm cho giờ học tự nhiên, cuốn hút học sinh.
    Tôi xin chia sẻ lại và làm rõ hơn bằng các ví dụ cụ thể ở mỗi hoạt động đọc
    trong tiết đọc thư viện.
    12
    2.4.1 Hoạt động đọc to nghe chung
    Với hoạt động Đọc to nghe chung (Reading aloud), học sinh ngồi lắng nghe
    giáo viên đọc với giọng đọc diễn cảm kết hợp ngôn ngữ cơ thể. Học sinh được
    quan sát tranh, phỏng đoán những diễn tiến tiếp theo của câu chuyện và trả lời
    những câu hỏi sau khi đọc để giúp phát triển khả năng hiểu và tư duy.
    A. Quy trình hoạt động – Đọc to nghe chung:
    – Thời gian: 35 phút dành cho hoạt động Đọc to nghe chung + Hoạt động mở rộng.
    – Vật liệu hỗ trợ: 1 quyển sách khổ nhỏ, sách có thể cao hơn trình độ đọc của
    học sinh.
    I. Mục đích của hoạt động Đọc to nghe chung:
    – Thu hút và khuyến khích học sinh tham gia vào việc đọc.
    – Giáo viên làm mẫu việc đọc tốt.
    – Giúp học sinh xây dựng thói quen đọc.
    II. Chuẩn bị:
    1. Chọn sách cho hoạt động Đọc to nghe chung.
    2. Xác định những tình huống trong truyện có thể đặt câu hỏi phỏng đoán.
    3. Xác định 1 -3 từ mới để giới thiệu với học sinh.
    III. Tiến trình thực hiện:
    1. Giới thiệu: 2 – 3 phút
    – Ổn định chỗ ngồi của học sinh trong thư viện và nhắc các em về nội quy thư viện.
    – Giới thiệu với học sinh về hoạt động mà các em sắp tham gia: Hôm nay, cô
    sẽ cùng cả lớp thực hiện tiết Đọc to nghe chung.
    2. Đọc to nghe chung:
    a. Trƣớc khi đọc: 4-5 phút
    – Cho học sinh xem trang bìa của quyển sách (GV có thể sử dụng một vài cách
    như che tên truyện, che tranh trang bìa và đặt câu hỏi cho học sinh để từ từ mở ra).
    – Đặt 3 – 4 câu hỏi về tranh trang bìa:
    + Em thấy những gì ở trong bức tranh này?
    + Trong bức tranh này có bao nhiêu…(nhân vật, con vật, đồ vật)?
    + Các nhân vật này đang làm gì?
    + Theo các em ai sẽ là nhân vật chính trong câu chuyện?
    13
    – Đặt 1 – 2 câu hỏi để liên hệ đến thực tế cuộc sống của học sinh:
    + Các em đã bao giờ thấy…chưa?
    + Ở nhà các em có …không?
    + Điều này đã từng xảy ra với các em chưa?
    – Đặt 2 câu hỏi phỏng đoán:
    + Theo các em điều gì sẽ xảy ra trong câu chuyện?
    + Theo các em nhân vật…sẽ làm gì?
    – Giới thiệu tên truyện, tên tác giả, họa sỹ, người vẽ tranh minh họa, nhà xuất bản)
    – Giới thiệu 1-3 từ mới.
    b. Trong khi đọc: 5 – 8 phút
    – Đọc chậm, rõ ràng, diễn cảm kết hợp với ngôn ngữ cơ thể.
    – Cho học sinh xem tranh ở một số đoạn chính trong truyện.
    – Dừng lại 2 – 3 lần để đặt câu hỏi phỏng đoán. (Theo em, điều gì sẽ xảy ra
    tiếp theo?)
    c. Sau khi đọc: 4 -7 phút
    – Đặt 3 – 5 câu hỏi để hỏi học sinh về những gì đã xảy ra trong câu chuyện:
    (Ai ? Cái gì ? ở đâu? Như thế nào?)
    – Đặt câu hỏi về những diễn biến chính trong câu chuyện: Điều gì xảy ra đầu
    tiên? Điều gì xảy ra tiếp theo? Điều gì xảy ra ở cuối câu chuyện?
    – Đặt 1-2 câu hỏi “tại sao”: Theo các em , vì sao…(nhân vật) lại…( một hành
    động nào đó) ?
    Ghi chú: Sau phần đặt câu hỏi, nếu truyện có nhiều câu, từ mô tả âm thanh
    hoặc hành động thú vị, GV có thể mời một số học sinh làm lại động tác hoặc âm
    thanh để giúp HS thích thú hơn với câu chuyện
    3. Hoạt động mở rộng: 15 phút
    – Trước hoạt động:
    + Chia nhóm học sinh.
    + Giải thích hoạt động: GV yêu cầu HS thảo luận về một cái kết khác cho
    câu chuyện.
    + Hướng dẫn học sinh tham gia vào hoạt động một cách có tổ chức.
    – Trong hoạt động:
    14
    + Di chuyển đến các nhóm để hỗ trợ học sinh, quan sát cách học sinh tham
    gia vào hoạt động trong nhóm.
    + Đặt câu hỏi, khen ngợi học sinh.
    – Sau hoạt động:
    + Hướng dẫn học sinh quay trở lại nhóm lớn một cách trật tự
    + Đặt câu hỏi để khuyến khích các nhóm chia sẻ kết quả trước lớp:
    – GV hướng dẫn HS chia sẻ với nhau về những cái kết khác của câu chuyện
    trước lớp.
    – Nếu là em, em sẽ nói với …như thế nào ?
    – Khen ngợi những nỗ lực của học sinh.
    – Kết thúc tiết học.
    B. Giáo án tiết đọc thƣ viện- Lớp 3A1
    Đọc to nghe chung: Ông lão đánh cá và con cá vàng.
    Hoạt động mở rộng: Vẽ
    I. Mục tiêu:
    1. Kiến thức – kĩ năng:
    – Bước đầu HS nhớ được diễn biến của câu chuyện.
    – Khuyến khích HS tham gia vào việc đọc sách.
    – GV làm mẫu việc đọc tốt để thu hút HS.
    2. Năng lực:
    – HS bước đầu biết cảm nhận nội dung của câu chuyện và vẽ được nhân vật
    mình yêu thích.
    – HS mạnh dạn chia sẻ bài vẽ của mình trước lớp.
    3. Phẩm chất:
    Giúp HS xây dựng thói quen đọc sách.
    II. Đồ dùng dạy học:
    – Một quyển sách khổ vừa
    – Giấy, màu vẽ
    III. Các hoạt động dạy – học :
    a. Trƣớc khi đọc:
    15
    – Sắp xếp chỗ ngồi cho HS tại vị trí nhóm lớn gần vị trí của GV: Cho HS bé
    lên trên gần GV, HS cao hơn ngồi phía dưới. Những HS hay nói chuyện cũng đưa
    lên trên ngồi bên trái hoặc bên phải của giáo viên
    – Làm quen với HS, giới thiệu bản thân với HS.
    – GV giúp HS nhớ lại nội quy thư viện:
    + Khi vào thư viện, em nhớ nhất nội quy nào? (2- 3 HS trả lời)
    + GV: Lớp mình đã nhớ và thực hiện nội quy thư viện rất tốt!
    – Các em có thường xuyên đến thư viện học không? Kể tên một quyển truyện
    em đã đọc ở thư viện? (2-3 HS kể). GV có thể nói thêm: cô cũng rất thích các câu
    chuyện mà các em đã đọc đấy.
    – GV: Hôm nay cô sẽ đọc cho các em nghe một câu chuyện rất thú vị đấy!
    + Trước tiên, các em hãy quan sát bức tranh trang bìa nhé!
    + Em thấy bức tranh có đẹp không? (cả lớp)
    + Bức tranh có những hình ảnh gì nào? (2-3 HS )
    + Ông lão trong tranh đang làm gì ? (2-3 HS)
    + GV: Các em đã nhìn thấy con cá chưa nhỉ? (1-2 HS). Con cá trong câu
    chuyện này là một con cá biết nói đấy.
    – GV: Theo các em, điều gì sẽ xảy ra trong câu chuyện này? (2 HS)
    – Đố các em đoán được tên câu chuyện là gì nào?
    – GV: Cô thấy những tên câu chuyện mà các em nghĩ đến rất hay, cô rất
    thích!….
    – Câu chuyện này có tên gọi : Ông lão đánh cá và con cá vàng của tác giả
    Hoàng Khắc Huyên, truyện do NXB Mỹ thuật phát hành.
    – Trước khi đến với nội dung câu chuyện cô muốn giải thích với các em 3 từ
    + Long Cung: Cung điện dưới biển
    + quý tộc: người có quyền lực và địa vị trong xã hội
    + đại thần: quan to trong triều đình.
    b. Trong khi đọc:
    – Các em đã muốn nghe cô đọc truyện chưa nào? Bây giờ các em chú ý nghe
    cô đọc truyện nhé!
    (GV đọc diễn cảm kết hợp ngôn ngữ cơ thể)
    – Dừng lại cho HS xem tranh 3 (chỉ cho xem tranh, không đặt câu hỏi phỏng
    đoán, không mời HS xem tranh hay giải thích tranh)
    16
    – HS xem tranh trang 5: Theo các em, điều gì sẽ xảy ra tiếp theo? (2 HS)
    – GV: Ý kiến của các em rất hay đấy, chúng ta hãy theo dõi tiếp xem điều gì
    sẽ xảy ra nhé! (GV đọc tiếp)
    – Dừng lại cho HS xem tranh 8-9 (chỉ cho xem tranh, không đặt câu hỏi phỏng
    đoán, không mời HS xem tranh hay giải thích tranh)
    – HS xem tranh trang 13: Theo em, điều gì sẽ xảy ra tiếp theo? (2HS)
    – GV: Chúng mình nghe cô đọc tiếp nhé!
    c. Sau khi đọc:
    GV: Câu chuyện cô đọc đến đây là hết rồi, các em thấy câu chuyện này có
    hay không? (cả lớp)
    – Trong câu chuyện cô vừa kể có những nhân vật nào nhỉ? (2- 3 HS)
    – Chuyện xảy ra ở đâu? (2 HS)
    – Điều gì đã xảy ra ở phần đầu của câu chuyện? (2 HS). HS xem tranh trang 1-3:
    – Điều gì đã xảy ra tiếp theo? HS xem tranh trang 4- 6:
    – HS xem tranh trang 7-12: Điều gì xảy ra ở phần này?
    – HS xem tranh trang 13: Điều gì đã xảy ra ở phần cuối câu chuyện? (2 HS)
    GV: Vì sao Cá Vàng lại không giúp bà lão trở thành Long Vương ? (2HS)
    GV: Cô thấy lớp mình nhớ nội dung câu chuyện rất tốt!
    Bây giờ, các em có muốn làm lại hành động, lời nói của một nhân vật trong
    câu chuyện vừa rồi không? (1-3 HS )
    + Bạn nào làm lại hành động kéo lưới của ông lão nào? (1-2 HS)
    + Bạn nào bắt chước tiếng của bà lão khi muốn trở thành bà quý tộc nào?
    (1-2 HS)
    d. Hoạt động mở rộng
    – GV: Cô thấy lớp mình ai cũng rất giỏi, các bạn nói cho cô biết các bạn thích
    nhất nhân vật nào trong truyện cô vừa đọc?
    Bây giờ các em có muốn thử làm họa sỹ tý hon để vẽ lại nhân vật mà em yêu
    thích trong truyện cô vừa đọc không nào? (cả lớp)
    – Ở hoạt động này cô chia lớp mình thành 4 nhóm, mỗi nhóm 5 bạn. Cứ 5 bạn
    đứng gần nhau nhau tạo thành 1 nhóm nào!
    – GV: Mỗi chiếc bàn nhỏ phía sau có ghi từ số 1 đến số 4, lần lượt các nhóm
    về vị trí nhóm mình một cách nhẹ nhàng nhé!
    17
    – GV hướng dẫn: – HS vẽ một nhân vật trong truyện mà em thích vào giấy A4
    đã kẻ khung hình sẵn. HS quan sát và lắng nghe.
    – Mỗi nhóm cử nhanh 1 bạn nhóm trưởng. Các bạn nhóm trưởng giơ tay nào?
    – Bây giờ cô mời các bạn nhóm trưởng lên lấy đồ dùng và về chia cho các bạn
    cho nhóm mình nào! Các nhóm thi xem nhóm nào nhanh nhất nhé!
    – HS vẽ. GV quan sát hỗ trợ HS
    – GV đứng ở vị trí trung tâm quan sát cả lớp đảm bảo tất cả HS có đồ dùng,
    nếu nhóm nào còn lộn xộn, GV đến hỗ trợ trước, sau đó lại dừng lại quan sát lớp
    xem tất cả học sinh đang tham gia vào hoạt động chưa. Rồi mới đi đến các nhóm
    đặt câu hỏi và hỗ trợ. GV nên bao quát xem nhóm nào cần hỗ trợ trước, ví dụ HS
    còn chưa biết vẽ nhân vật nào…
    – GV: Đã hết giờ rồi, tất cả dùng bút nhé! Ai chưa vẽ xong các em sẽ hoàn
    thành vào giờ ra chơi. Các bạn đã dừng bút hết chưa nhỉ?
    – Các em cầm bài của mình và để hết bút vào rổ.
    – Bạn nhóm trưởng cất rổ đồ dùng về vị trí ban đầu. Hãy thi xem nhóm nào
    nhanh nhất nhé!
    – GV tổ chức cho HS chia sẻ bài vẽ:
    + GV có thể nói: Bây giờ, cô mời các bạn cầm bài viết của mình trên tay và di
    chuyển về nhóm lớn ngồi gần với cô nào!
    + GV: Cô thấy bài vẽ nào cũng rất đẹp, ai cũng xứng đáng là họa sỹ tý hon
    đấy! Bây giờ chúng ta cùng chia sẻ bài của mình nhé!
    + GV: Gọi 3 HS lên chia sẻ bài của mình/ lớp cùng tham gia chia sẻ.
    (VD: HS1: + Em vẽ về nhân vật nào trong chuyện vậy?
    + Tại sao em vẽ nhân vật đó nhỉ?
    + HS2: Còn em, em đã vẽ nhân vật nào trong câu chuyện ?
    Em thích nhất hành động nào của nhân vật này?….)…
    + HS3: Cô rất thích bài vẽ của em đấy! Em vẽ nhân vật nào trong chuyện nhỉ?
    + Nếu là em, em sẽ nói với ông lão như thế nào?
    – GV: Cô thấy lớp mình ai cũng vẽ đẹp, mạnh dạn chia sẻ, nhiều bạn muốn
    chia sẻ nhưng thời gian của chúng ta đã hết, lớp mình hãy chia sẻ ở giờ sau nhé!
    – Giờ học của chúng mình kết thúc rồi. Cô cảm ơn các em đã cùng cô có tiết
    học thật vui vẻ
    18
    2.4.2 Hoạt động Cùng đọc
    Với hoạt động Cùng đọc (Shared reading) học sinh được lắng nghe giáo viên
    đọc và sau đó tham gia vào đọc cùng với cô. Giáo viên sẽ lựa chọn sách khổ lớn hoặc
    sách khổ nhỏ (nhiều bản) để giúp học sinh cùng tham gia đọc ở lượt đọc thứ hai.
    A. Xây dựng quy trình hoạt động: Cùng đọc
    – Thời gian 35 phút dành cho hoạt động cùng đọc + Hoạt động mở rộng.
    – Vật liệu hỗ trợ: Một quyển sách khổ to (thấp hơn hoặc cùng trình độ đọc của
    học sinh)
    I. Mục đích của hoạt động Cùng đọc
    – Khuyến khích và thu hút học sinh tham gia vào việc đọc cùng giáo viên.
    – Giúp học sinh phát triển trí tưởng tượng, óc phán đoán
    – Giúp học sinh thấy được việc đọc là hay, là thú vị.
    – Giúp học sinh phát triển kĩ năng đọc hiểu.
    – Giúp học sinh phát triển thói quen đọc.
    II. Chuẩn bị
    – Chọn sách (có thể chọn sách khổ to hoặc sách khổ nhỏ)
    – Xác định 2-3 từ mới để giới thiệu.
    – Xác định các tình huống để đặt câu hỏi phỏng đoán.
    III. Quy trình thực hiện.
    1. Giới thiệu: 2-3 phút
    – Ổn định chỗ ngồi; Học sinh nêu nội quy thư viện.
    – Giới thiệu hoạt động mà học sinh sắp tham gia.
    2. Hoạt động cùng đọc.
    a. Trƣớc khi đọc: 4-6 phút.
    – Học sinh xem trang bìa: GV đặt 3-4 câu hỏi về tranh trang bìa.
    H: Các em thấy gì ở bức tranh này?
    H: Trong bức tranh này các em thấy có bao nhiêu…( nhân vật, con vật, đồ vật)?
    H: Các nhân vật trong bức tranh này đang làm gì?
    H : Theo em ai sẽ là nhân vật chính trong câu chuyện?
    – Đặt 1-2 câu hỏi liên hệ thực tế cuộc sống của học sinh:
    H: Các em đã bao giờ thấy…chưa?
    19
    H: Ở nhà các em có …không?
    – Đặt hai câu hỏi phỏng đoán:
    H: Theo các em điều gì xảy ra trong câu chuyện?
    H: Theo các em nhân vật…sẽ làm gì?
    – Giới thiệu sách (tên truyện, tên tác giả, người vẽ tranh minh họa).
    – Giới thiệu 1-3 từ mới.
    b. Trong khi đọc lần 1: 5-8 phút
    – Đảm bảo tất cả học sinh đều nhìn thấy phần chữ và tranh trong sách.
    – Đọc chậm rõ ràng, diễn cảm kết hợp với ngôn ngữ cơ thể.
    – Dừng lại hai ba lần để dặt câu hỏi phỏng đoán.
    c. Sau khi đọc lần 1: 4-5 phút (cả lớp)
    – Đặt câu hỏi để hỏi học sinh về thông tin chung trong câu chuyện: Ai, cái gì,
    ở đâu, như thế nào?
    – Đặt câu hỏi sử dụng tranh trong sách để tóm tắt 3-4 phần chính: Điều gì xảy
    ra đầu tiên? Điều gì xảy ra tiếp theo? Điều gì xảy ra ở cuối câu chuyện?
    – Đặt 1-2 câu hỏi “tại sao”: Theo các em, vì sao…( nhân vật) lai….( một hành
    động nào đó)
    d. Trong khi đọc lần 2: 8-10 phút
    – Mời học sinh cùng đọc.
    – Đọc lần 2: Có thể dùng bút hoặc thước để dò theo phần chữ trong khi đọc,
    không yêu cầu học sinh lặp lại từng câu trong khi đọc.
    – Mời học sinh đọc lại những từ, câu thú vị cùng GV.
    – Mời học sinh thực hiện các hành động, tạo âm thanh thú vị với GV.
    3. Hoạt động mở rộng: 15 phút
    – Trước hoạt động: Chia nhóm học sinh.
    + Giải thích hoạt động.
    + Hướng dẫn tham gia hoạt động một cách có tổ chức.
    – Trong hoạt động:
    + Giáo viên di chuyển đến các nhóm hỗ trợ học sinh, quan sát các em tham
    gia vào hoạt động nhóm.
    + Khen ngợi học sinh.
    20
    – Sau hoạt động: Hướng dẫn học sinh trở lại nhóm một cách trật tự.
    + Đặt câu hỏi để cá nhân, nhóm chia sẻ.
    + Khen ngợi những nỗ lực của học sinh.
    B. Bài soạn tiết đọc thƣ viện- Lớp 4A2
    Hoạt động cùng đọc: Bữa tối của sói
    – Hoạt động mở rộng: Vẽ về nhân vật trong truyện mà em yêu thích.
    I. Mục tiêu:
    – Học sinh cảm nhận được nội dung câu chuyện và biết vẽ về nhân vật trong
    truyện mà em yêu thích.
    – Bước đầu học sinh nắm được diễn biến câu chuyện.
    – Khuyến khích học sinh tham gia vào việc đọc cùng GV.
    – Học sinh mạnh dạn chia sẻ nhân vật trong truyện mà mình yêu thích.
    – Giúp học sinh xây dựng thói quen đọc sách.
    II. Chuẩn bị:
    1. Chọn sách: Bữa tối của sói (sách khổ lớn)
    2. Xác định tình huống trong truyện để đặt câu hỏi phỏng đoán.
    3. Xác định 2-3 từ mới để giới thiệu với học sinh.
    III. Hoạt động dạy học.
    1. Trƣớc khi đọc lần 1:
    – Sắp xếp chỗ ngồi cho học sinh đảm bảo học sinh thấp hơn sẽ ngồi trên gần
    với GV.
    – Gọi một số học sinh nêu nội quy khi đến thư viện.
    – Giới thiệu với các em hoạt động mà các em sắp tham gia: Hôm nay cô sẽ lại
    cùng cả lớp thực hiện hoạt động cùng đọc tại thư viện.
    H: Các em nhìn thấy những hình ảnh của con vật gì trên trang bìa?
    H: Theo em ai sẽ là nhân vật chính của câu chuyện?
    H: Theo em điều gì sẽ xẩy ra với những nhân vật này?
    H: Các em sẽ ăn những gì trong bữa tối?
    – Câu chuyện này có tên: Bữa tối của sói của tác giả Trần Thiên Lộc và họa sĩ
    vẽ tranh minh họa là Nguyễn Thị Ngọc Bích. Sách do nhà xuất bản Room to Read
    phát hành và tài tr

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho học sinh trong dạy học môn Khoa học lớp 5

    SKKN Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho học sinh trong dạy học môn Khoa học lớp 5

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở cấp tiểu học được xây dựng với
    mục tiêu nhằm giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt
    nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng
    lực, định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và
    những thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt. Năm học 2020-
    2021 là năm học đầu tiên triển khai chương trình giáo dục phổ thông 2018 đối
    với lớp 1, tiếp đến triển khai ở lớp 2 và lớp 6 từ năm học 2021-2022. Vì vậy, với
    học sinh lớp 5 – lớp học cuối cấp tiểu học, chuẩn bị tiếp cận với chương trình
    giáo dục phổ thông 2018 đặt ra yêu cầu cần phải đổi mới về nội dung và phương
    pháp giáo dục nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh khi chuyển lên lớp học
    đầu cấp ở năm học tiếp theo. Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 đặc
    biệt chú trọng đến quan điểm tích cực hóa hoạt động của học sinh trong các môn
    học. Đặc biệt với môn Khoa học, chương trình xác định: “Chương trình môn
    Khoa học năm 2018 thiết kế nhằm tăng cường sự tham gia tích cực của học sinh
    vào quá trình học tập. Học sinh học khoa học tìm tòi, khám phá, qua quan sát,
    thí nghiệm, thực hành, làm việc theo nhóm. Qua đó hình thành và phát triển ở
    các em các phẩm chất và năng lực”.
    Bên cạnh đó, ở tiểu học, đặc biệt là lớp 5 – giai đoạn mà nhu cầu nhận thức
    và khám phá của các em rất phong phú trong tất cả các lĩnh vực thông qua học
    tập các môn nói chung và môn Khoa học nói riêng. Mục tiêu chương trình môn
    Khoa học năm 2018 nêu rõ “ Môn Khoa học góp phần hình thành và phát triển
    ở học sinh tình yêu con người, thiên nhiên; trì tò mò khoa học, hứng thú tìm hiểu
    về thế giới tự nhiên; ý thức bảo vệ sức khỏe thể chất và tinh thần của bản thân,
    gia đình, cộng đồng; ý thức tiết kiệm và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên; tinh thần
    trách nhiệm với môi trường sống. Cùng với các môn học khác, môn Khoa học
    cấp tiểu học bên cạnh việc góp phần giúp học sinh hình thành, phát triển các
    năng lực chung, môn học đồng thời cũng góp phần hình thành và phát triển ở
    học sinh năng lực Khoa học tự nhiên – là năng lực đặc thù của môn học. Năng
    2
    lực đăc thù của môn Khoa học gồm 3 thành phần năng lực: Nhận thức khoa học
    tự nhiên; Tìm hiểu môi trường tự nhiên xung quanh; Vận dụng kiến thức kĩ năng
    đã học.”
    Như vậy, có thể nói Khoa học là môn học quan trọng trong nhà trường, có
    ý nghĩa quan trọng đối với việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh.
    Vì vậy, để thực hiện mục tiêu đó đòi hỏi giáo viên phải không ngừng tìm ra
    những biện pháp nhằm đổi mới cách vận dụng các phương pháp dạy học sao cho
    phù hợp với thực tế, khả năng nhận thức, kích thích hứng thú học tập của học
    sinh.
    Tuy nhiên, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, hiện nay vẫn còn nhiều học sinh
    chưa thực sự hứng thú với môn Khoa học. Đa số các em học môn Khoa học
    thường tiếp thu một cách thụ động, chưa biết vận dụng kiến thức vào thực tế
    cũng như chưa liên hệ được kiến thức thực tế vào bài học. Do đó, các em còn
    ghi nhớ nội dung bài học một các máy móc.
    Xuất phát từ thực tế và những lí do được trình bày ở trên tôi đưa sáng kiến:
    “Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho học sinh
    trong dạy học môn Khoa học lớp 5.” Hi vọng sẽ chia sẻ với các bạn đồng
    nghiệp những cách thức, những kinh nghiệm đổi mới phương pháp dạy học ở
    tiểu học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh. Trên cơ sở đó góp phần
    nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ năm học,
    đồng thời đáp ứng yêu cầu đổi mới của chương trình giáo dục phổ thông 2018.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến.
    1.1. Về phía giáo viên
    Có thể thấy giáo viên Tiểu học đã ý thức được vai trò quan trọng của môn
    Khoa học. Việc quan tâm, bồi dưỡng thay đổi phương pháp dạy học, tích cực
    ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy – học cũng đã góp phần làm cho cách
    dạy của giáo viên và cách học của học sinh có phần khởi sắc hơn.
    Tuy nhiên, trong quá trình giảng dạy, việc đổi mới phương pháp của giáo
    viên chưa mang lại hiệu quả cao, các hình thức dạy học còn đơn điệu, sự đầu tư
    3
    vào bài giảng của giáo viên đôi lúc còn chưa thực sự tâm huyết, chưa tạo được
    hứng thú cho học sinh hay nói cách khác là chưa làm sao để các em học sinh
    thích thú khi học các tiết Khoa học. Hình thức tổ chức dạy học của giáo viên
    chưa phong phú, hấp dẫn. Chính những điều trên đã gây ảnh hưởng không nhỏ
    đối với chất lượng dạy và học, đồng thời hạn chế việc phát triển trí tuệ của học
    sinh khi học môn Khoa học.
    1.2. Về phía học sinh
    Lớp 5 là giai đoạn mà nhu cầu nhận thức và khám phá các kiến thức mới
    thông qua việc học tập các môn học nói chung và môn Khoa học nói riêng của
    học sinh phát triển vô cùng mạnh mẽ. Bên cạnh đó, trong quá trình giảng dạy
    khối 5, tôi nhận thấy các em học sinh đều được bố mẹ quan tâm và luôn tạo điều
    kiện trong quá trình học tập. Đa số các em có trí thông minh nhanh nhạy, có óc
    tưởng tượng phong phú đó là tiền đề cho việc đổi mới phương pháp dạy học ở
    tiểu học nói chung và bộ môn Khoa học nói riêng. Tuy nhiên, tư duy của một số
    học sinh còn hạn chế, thiếu linh hoạt. Trình độ nhận thức của học sinh không
    đồng đều, có em tiếp thu chậm, tiếp thu bài một cách máy móc, học bài một
    cách thụ động, chưa tích cực tìm tòi giải quyết các vấn đề mà giáo viên đưa ra,
    khi ngồi học trên lớp còn chưa tập trung, không hứng thú trong giờ Khoa học
    nên dẫn đến tình trạng các em học sinh đó không nắm được kiến thức.
    2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến
    2.1. Giải pháp 1: Chuẩn bị chu đáo đồ dùng dạy – học và tƣ liệu phục vụ
    bài học.
    Môn Khoa học là môn gắn liền với thực tiễn cuộc sống thì việc sử dụng vật
    thật, tranh ảnh, mô hình,… vừa có tác dụng trực quan hóa các nội dung kiến
    thức, vừa mang tính chất minh họa, vừa là nguồn cung cấp trí thức quan trọng
    cho học sinh và giúp học sinh tham gia tích cực hơn trong giờ học. Bên cạnh đó,
    với đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi Tiểu học là tư duy trực quan hành động,
    khả năng tư duy trừu tượng còn hạn chế nên đa số các em phải tư duy trên hình
    ảnh, đồ dùng trực quan cụ thể thì mới có thể phát triển được năng lực tư duy và
    trí tưởng tượng. Do đó, việc sử dụng đồ dùng dạy học là rất cần thiết.
    4
    2.1.1 Giáo viên chủ động tìm hiểu, chuẩn bị đồ dùng, tƣ liệu dạy học.
    Ngoài các đồ dùng được cấp phát, tôi luôn tích cực sưu tầm tư liệu và làm
    đồ dùng dạy học để phục vụ cho tiết dạy. Các đồ dùng, tư liệu giúp học sinh
    hứng thú, từ đó giúp các em có động cơ học tập tốt hơn.
    Trong quá trình giảng dạy, đặc biệt là Khoa học chúng ta cần luôn cập nhật
    thông tin có liên quan đến nội dung bài dạy mà những thông tin đó đôi khi
    không có trong sách giáo viên. Vì vậy, tôi đã tham khảo thông tin để tìm kiếm tư
    liệu giảng dạy liên quan đến bài học ở một số trang web sau:

    Địa chỉ/ Tên trang webNội dung
    Youtube.comTrang video trình diễn nhiều phim khoa học
    hay.
    www.thegioidongvat.netGồm tin tức, các thước phim về các loài động vật.
    MinuteEarthTrang video trình diễn hoạt cảnh nói về các vấn
    đề liên quan đến Trái Đất.
    BachKhoaTriThuc.vnTrang web tổng hợp kiến thức bách khoa.
    Khoahoc.tvTrang web tổng hợp những kiến thức về khoa
    học.
    HowStuffWorksTrang web giúp tìm hiểu các câu trả lời cho
    những hiện tượng xảy ra trong cuộc sống và thế
    giới tự nhiên.
    gos.gov.vnTrang web của Tổng cục thống kê, cung cấp
    các số liệu thống kê ở các lĩnh vực khác nhau.

    Một số ví dụ về các tư liệu, đồ dùng dạy học tôi đã chuẩn bị:
    Ví dụ 1: Bài Thực hành : Nói “Không!” đối với các chất gây nghiện,
    ngoài những thông tin trong sách giáo khoa, giáo viên có thể cung cấp thêm cho
    học sinh một số tư liệu, hình ảnh về tác hại của các chất gây nghiện:
    5

    – Theo nghiên cứu của tổ chức y tế thế
    giới (WHO), khói thuốc lá chứa hàng nghìn
    hóa chất, trong đó ít nhất là 60 chất gây ung
    thư hay độc hại. Những người hút thuốc lá
    có nguy cơ mắc ung thư cao gấp 10 lần
    người không hút. Mỗi năm, trên thế giới có
    khoảng 7 triệu người chết do hút thuốc lá và
    hơn 900.000 người chết do hít phải khói
    thuốc lá. Đáng chú ý, tại Việt Nam mỗi năm
    có khoảng 40.000 người tử vong vì các bệnh
    có liên quan đến thuốc lá.
    – Rượu, bia là nguyên nhân trực tiếp của
    ít nhất 30 bệnh, chấn thương và là nguyên
    nhân gián tiếp của ít nhất 200 loại bệnh tật. Sử
    dụng rượu bia gây tổn thương đến nhiều cơ
    quan của cơ thể như: Gây ung thư (gan,
    khoang miệng, họng, thận,….); gây rối loạn
    thần kinh (trầm cảm, rối loạn âu lo, giảm khả
    năng tư duy); bệnh tim mạch (nhồi máu cơ
    tim, đột quỵ); bệnh tiêu hóa (tổn thương gan,
    xơ gan,…); suy giảm hệ miễn dịch,…. Trên
    thế giới, mỗi năm rượu bia là nguyên nhân gây
    tử vong cho hơn 3 triệu người.
    – Ma túy là chất độc, chỉ cần dùng quá
    liều sẽ dẫn đến tử vong. Tại Việt Nam, hằng
    năm có hơn 1.600 người tử vong do sử dụng
    ma túy.

    6
    Ví dụ 2: Bài: Sự sinh sản và nuôi con của chim
    Trong sách giáo khoa chỉ với nội dung ngắn gọn và phần minh họa kiến
    thức là một số bức tranh về sự sinh sản và nuôi con của chim. Do đó, tôi đã chủ
    động tìm hiểu trên mạng internet ở các chương trình Thế giới động vật; học hỏi
    cách cắt, ghép video, từ đó tạo ra các video giúp học sinh tìm hiểu về nội dung
    bài học gồm các phần: Đời sống của chim; Đặc điểm sinh sản của chim; Quá
    trình phát triển từ trứng đến trưởng thành của loài chim; Sự nuôi dưỡng và chăm
    sóc con của chim; Thế giới của các loài chim.
    Qua từng đoạn phim ngắn, tôi thấy học sinh vô cùng thích thú tìm hiểu nội
    dung bài. Từ đó, học sinh có thể tự giải đáp các vấn đề mà các em thắc mắc:
    Con chim non trong trứng làm sao ra được khỏi vỏ trứng? Mục đích làm tổ của
    chim là gì? Những loài chim sử dụng nguyên liệu gì để làm tổ? Chim con mới
    nở có đặc điểm gì?,…
    Ví dụ 3: Bài Sự nuôi và dạy con của một số loài thú
    Trong bài học giới thiệu đến học sinh cách nuôi và dạy con của loài hổ và
    hươu, vì vậy, tôi chuẩn bị các video về tập tính sống của loài hổ và hươu từ đó
    giúp học sinh nắm được cách nuôi và dạy con của 2 loài vật này. Ngoài ra tôi
    7
    cũng tìm hiểu thêm các tư liệu, hình ảnh về cách nuôi và dạy con của một số loài
    thú khác để giới thiệu cho học sinh, chẳng hạn:

    – Sư tử là loài ăn thịt và sống theo
    bầy đàn. Sư tử đẻ mỗi lứa từ 2 đến 4
    con. Sư tử con mới sinh chưa mở mắt
    mắt chúng mở ra khoảng 7 ngày sau khi
    sinh. Khi sư tử con được khoảng 6 tháng
    tuổi, chúng sẽ được sư tử mẹ dạy cách
    săn mồi.
    – Voi thường sinh vào mùa xuân
    và đẻ mỗi lứa một con. Voi con mới
    sinh ra cân nặng khoảng 120kg. Sau khi
    voi con ra đời, chúng được những con
    voi khác ở bên để bảo vệ cho tới khi nó
    đủ cứng cáp để có thể đi được. Voi con
    bú sữa mẹ trong vòng 5 năm và voi đực
    rời đàn khi đủ 13 tuổi.

    Bên cạnh những nội dung trong chương trình hiện hành, bản thân tôi đã đọc
    và nghiên cứu nội dung chương trình môn Khoa học lớp 5 của chương trình giáo
    dục phổ thông 2018.
    Ví dụ : Bài Vi khuẩn
    Đây là nội dung mới được xây dựng của chương trình 2018, vì vậy, dựa
    vào yêu cầu cần đạt của bài học là: Kể/ Nói được tên bệnh ở người do vi khuẩn
    gây ra; nêu được nguyên nhân gây bệnh và cách phòng tránh, tôi chủ động tìm
    kiếm các tư liệu, hình ảnh liên quan đến bài học như:
    – Thông tin cơ bản về vi khuẩn: Vi khuẩn là sinh vật đông đảo nhất trong
    thể giới sinh vật. Vi khuẩn có kích thước vô cùng nhỏ bé, đa số chỉ có thể nhìn
    thấy dưới kính hiển vi quang học. Đơn vị đo kích thước của vi khuẩn là
    micromet (1µm=1/1000 mm). Vi khuẩn có mặt ở khắp mọi nơi: trong đất, nước,
    suối nước nóng, chất thải,….Vi khuẩn có cấu trúc đơn giản và hình thái khác
    8
    nhau: hình cầu, hình que, hình xoắn,… Vi khuẩn có 2 loại : vi khuẩn có lợi và vi
    khuẩn có hại.
    – Vi khuẩn có lợi và vi khuẩn có hại đối với con người:
    Trong cơ thể người, một số vi khuẩn có lợi cùng chung sống và giữ vai trò
    quan trọng. Ví dụ: vi khuẩn trong hệ tiêu hóa của người giúp hấp thu các chất
    dinh dưỡng. Chúng chuyển hóa thức ăn thành những dạng để cơ thể có thể sử
    dụng được. Trong ngành thực phẩm người ta sử dụng vi khuẩn để chế biến nhiều
    loại thực phẩm như: sữa chua, dưa muối; một số loại phô mai,…; vi khuẩn còn
    được nghiên cứu trong bào chế thuốc kháng sinh chữa bệnh cho con người.
    Có vi khuẩn gây hại cho con người do khả năng gây bệnh của chúng. Một
    số loại vi khuẩn gây bệnh nghiêm trong ở người như: bệnh tả, bạch hầu, kiết lỵ,
    dịch hạch, viêm phổi, lao, thương hàn,…
    9
    2.1.2 Khuyến khích học sinh cùng chuẩn bị đồ dùng học tập.
    Có thể khẳng định rằng, việc chuẩn bị đầy đủ đồ dùng học tập giúp giờ học
    đạt hiệu quả cao. Không chỉ thế, việc chuẩn bị đồ dùng chu đáo còn giúp phát
    huy tác dụng và hỗ trợ các phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học. Ngoài sự
    chuẩn bị đồ dùng dạy học từ phía giáo viên, tôi thường khuyến khích, động viên
    các em học sinh lớp mình sưu tầm các đồ dùng liên quan đến bài học và các em
    đã hưởng ứng rất tích cực. Để học sinh có thể chuẩn bị được các đồ dùng, tài
    liệu liên quan đến bài học sau, tôi cho học sinh ghi vở dặn dò các yêu cầu liên
    quan đến bài học từ tiết học trước. Dưới sự giúp đỡ của các bậc phụ huynh, đồ
    dùng học tập mà các em sưu tầm cũng rất đa dạng và phong phú. Đó có thể là
    những bức tranh, ảnh mà các em tìm được trên internet, là những vật mẫu, vật
    thật hoặc cũng có thể là những thông tin, tài liệu liên quan đến bài học,…
    Dựa trên nội dung kiến thức và yêu cầu cần đạt của từng bài học, tôi đã
    thống kê lại các đồ dùng học tập mà học sinh cần chuẩn bị ở các bài học và cho
    học sinh ghi dặn dò trước mỗi bài học như sau:

    BàiTên bàiNội dung dặn dò trƣớc bài học
    1Sự sinh sảnChuẩn bị các bức ảnh về gia đình của
    mình.
    9-10Thực hành: Nói
    “Không!” đối với các
    chất gây nghiện
    Tìm hiểu, sưu tầm các tư liệu, hình ảnh
    liên quan đến các chất gây nghiện (thuốc
    lá, rượu bia, ma túy).
    12Phòng bệnh sốt rétTìm hiểu, sưu tầm các tư liệu, hình ảnh về
    bệnh sốt rét.
    13Phòng bệnh sốt xuất
    huyết
    Tìm hiểu, sưu tầm các tư liệu, hình ảnh về
    bệnh sốt xuất huyết.
    14Phòng bệnh viêm nãoTìm hiểu, sưu tầm các tư liệu, hình ảnh về
    bệnh viêm não
    15Phòng bệnh viêm gan ATìm hiểu, sưu tầm các tư liệu, hình ảnh về
    bệnh viêm gan A

    10

    16Phòng tránh HIV/AIDSTìm hiểu, sưu tầm những tư liệu, hình ảnh
    liên quan đến HIV/AIDS.
    20-21Ôn tập: Con người và sức
    khỏe
    Hãy vẽ hoặc sưu tầm tranh ảnh vận động
    phòng tránh sử dụng các chất gây nghiện
    hoặc xâm hại trẻ em, hoặc HIV/AIDS,
    hoặc tai nạn giao thông
    22Tre, mây, songSưu tầm tranh ảnh, đồ vật làm từ tre, mây,
    song.
    23Sắt, gang, thépSưu tầm tranh ảnh, đồ vật làm từ sắt,
    gang, thép.
    24Đồng và hợp kim của
    đồng
    Chuẩn bị một đoạn dây đồng, sưu tầm
    tranh ảnh hoặc đồ vật làm từ đồng và hợp
    kim của đồng trong chính gia đình mình.
    25NhômSưu tầm tranh ảnh hoặc đồ vật làm từ
    nhôm trong chính gia đình mình.
    26Đá vôiChuẩn bị một hòn đá vôi và một hòn đá
    cuội
    29Thủy tinhSưu tầm tranh ảnh hoặc các đồ vật được
    làm từ thủy tinh
    30Cao suSưu tầm tranh ảnh hoặc các đồ vật được
    làm từ cao su
    31Chất dẻoSưu tầm một số đồ dùng bằng nhựa.
    36Hỗn hợpChuẩn bị theo nhóm các vật liệu gồm:
    muối tinh, mì chính(bột ngọt), hạt tiêu (đã
    xay nhỏ) để riêng và dụng cụ gồm: thìa
    nhỏ, chén chỏ
    37Dung dịchChuẩn bị theo nhóm các vật liệu gồm:
    muối tinh hoặc đường để riêng, một chai
    nước sôi để nguội và dụng cụ gồm: thìa

    11

    nhỏ, một cốc lớn và một vài cốc nhỏ.
    41Năng lượng mặt trờiTìm hiểu, sưu tầm các tài liệu hoặc hình
    ảnh về việc khai thác, sử dụng năng lượng
    mặt trời.
    42-43Sử dụng năng lượng chất
    đốt
    Tìm hiểu, sưu tầm các tài liệu, hình ảnh
    về một số loại chất đốt và việc khai thác,
    sử dụng năng lượng chất đốt trong đời
    sống hằng ngày.
    44Sử dụng năng lượng gió
    và năng lượng nước chảy
    Tìm hiểu, sưu tầm các tài liệu, hình ảnh
    về việc khai thác, sử dụng các dạng năng
    lượng gió và năng lượng nước chảy trong
    đời sống sản xuất.
    46-47Lắm mạch điện đơn giảnChuẩn bị theo nhóm các đồ dùng gồm: 1
    hoặc 2 cục pin, 2-4 đoạn dây đồng có vỏ
    bọc bằng nhựa bên ngoài, bóng đèn pin,
    một số vật bằng kim loại(đồng, nhôm,
    sắt,…) và một số vật bằng nhựa, cao su,
    sứ,…
    51Cơ quan sinh sản của
    thực vật có hoa
    Sưu tầm tranh ảnh về các loài hoa hoặc
    các chuẩn bị các bông hoa thật.
    52Sự sinh sản của thực vật
    có hoa
    Chuẩn bị các bông hoa thật.
    53Cây con mọc lên từ hạtƯơm hạt đậu xanh, lạc,… vào bông ẩm
    hoặc đất ẩm khoảng 3 – 4 ngày trước khi
    có bài học và đem đến lớp.
    54Cây con có thể mọc lên
    từ một số bộ phận của
    cây mẹ
    Sưu tầm tranh ảnh, vật thật về một số cây
    có thể mọc lên từ một số bộ phận của cây
    mẹ.
    55Sự sinh sản của động vậtTìm hiểu, sưu tầm các tài liệu, hình ảnh

    12

    về sự sinh sản của động vật.
    56Sự sinh sản của côn trùngTìm hiểu, sưu tầm các tài liệu, hình ảnh
    về sự sinh sản của côn trùng.
    57Sự sinh sản của ếchTìm hiểu, sưu tầm các tài liệu, hình ảnh
    về sự sinh sản của ếch.
    58Sự sinh sản và nuôi con
    của chim
    Tìm hiểu, sưu tầm các tài liệu, hình ảnh
    về sự sinh sản và nuôi con của chim.
    59Sự sinh sản của thúTìm hiểu, sưu tầm các tài liệu, hình ảnh
    về sự sinh sản của môt số loài thú.
    60Sự nuôi và dạy con của
    một số loài thú
    Tìm hiểu, sưu tầm các tài liệu, hình ảnh
    về sự nuôi và dạy con của một số loài thú.
    63Tài nguyên thiên nhiênTìm hiểu, sưu tầm các tài liệu về một số
    tài nguyên thiên nhiên có ở địa phương.
    65Tác động của con người
    đến môi trường rừng
    Tìm hiểu, sưu tầm các tài liệu, hình ảnh
    về tác động của con người đến môi
    trường rừng.
    66Tác động của con người
    đến môi trường đất
    Tìm hiểu, sưu tầm các tài liệu, hình ảnh
    về tác động của con người đến môi
    trường đất
    67Tác động của con người
    đến môi trường không
    khí và nước
    Tìm hiểu, sưu tầm các tài liệu, hình ảnh
    về tác động của con người đến môi
    trường không khí và nước.

    Khi dạy học môn Khoa học, qua việc hướng dẫn học sinh sưu tầm, chuẩn bị
    các đồ dùng học tập, tôi thấy học sinh có ý thức, trách nhiệm hơn với việc học
    tập của mình. Sau bài học, tất cả các tài liệu mà các em sưu tầm này được chính
    tay các em treo cẩn thận vào góc học tập của lớp. Học sinh nào cũng thích thú vì
    tư liệu mình sưu tầm được trưng bày tại lớp, được chia sẻ với các bạn trong lớp
    những thông tin mới lạ, bổ ích. Chính những góc học tập này tạo điều kiện để
    13
    các em chủ động tìm tòi tư liệu, thông tin, các em được trình bày, biểu diễn
    những kết quả học tập. Như vậy việc học tập không đơn giản là việc đọc chép
    hay thuyết trình, phỏng vấn đơn thuần mà có học, có nghiên cứu giải quyết vấn
    đề, có trình bày những kiến thức mà mình nghiên cứu được.
    2.2. Giải pháp 2: Tăng cƣờng tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho học
    sinh trong quá trình dạy học.
    Trong chương trình 2018 chú trọng tới tổ chức các hoạt động dạy học giúp
    học sinh phát hiện kiến thức mới và tiếp thu các tri thức thông qua tìm tòi, khám
    phá thế giới tự nhiên, qua quan sát, thí nghiệm, thực hành, qua tìm kiếm, thu
    thập và xử lí các nguồn thông tin, qua hợp tác và trao đổi với bạn,… Điểm mới
    về yêu cầu cần đạt của chương trình 2018 mà chương trình 2006 còn thiếu chính
    là yêu cầu về năng lực chưa có tính hệ thống, chủ đích; yêu cầu về các kĩ năng
    tiến trình nghiên cứu khoa học. Vì vậy, dạy học trải nghiệm là một trong những
    giải pháp có thể thực hiện được yêu cầu đổi mới đó.
    2.2.1. Tổ chức các hoạt động trải nghiệm với nhiều hình thức phong
    phú trong các tiết học.
    2.2.1.1. Tổ chức trò chơi.
    Để tiết học trở nên nhẹ nhàng, học sinh tiếp thu bài một cách tích cực, hứng
    thú và chủ động hơn, tôi thường tổ chức các hoạt động học dưới dạng trò chơi
    cho các em. Để tiến hành tổ chức trò chơi ta có thể thực hiện theo các bước sau:
    Chuẩn bị
    1. Lựa chọn trò chơi phù hợp với nội dung bài học và phù hợp với học sinh
    trong lớp.
    2. Đặt tên trò chơi phù hợp, tạo được hứng thú với học sinh. Đồng thời giáo
    viên cần tìm hiểu kĩ luật chơi và ước lượng khoảng thời gian tiến hành trò chơi.
    3. Chuẩn bị đồ dùng dụng cụ cần thiết cho trò chơi.
    Tiến hành
    Bước 1: Giáo viên giới thiệu tên, mục đích của trò chơi.
    Bước 2: Hướng dẫn chơi. Bước này gồm những việc làm sau:
    – Tổ chức người tham gia chơi: số người tham gia, số đội tham gia (mấy
    14
    đội), quản trò, trọng tài.
    – Nêu cách chơi: từng việc làm cụ thể của người chơi hoặc đội chơi, thời
    gian chơi, những điều người chơi không được làm.
    – Cách xác nhận kết quả và cách tính điểm chơi, các giải của cuộc chơi (nếu
    có).
    Bước 3: Thực hiện trò chơi
    – Học sinh tham gia trò trên tinh thần thoải mái, sẵn sàng tham gia.
    – Giáo viên là người quan sát, giúp đỡ những khó khăn cho học sinh trong
    quá trình học sinh tham gia vào trò chơi. Đồng thời giáo viên phải là người quản
    lý học sinh của mình trong quá trình chơi để trò chơi được diễn ra thuận lợi và
    đạt kết quả như mong muốn.
    Bước 4: Kết thúc
    Nhận xét sau trò chơi. Bước này gồm những việc làm sau:
    – Giáo viên hoặc học sinh đóng vai trò là trọng tài nhận xét về thái độ tham
    gia của từng đội.
    – Trọng tài công bố kết quả chơi của từng đội, cá nhân và trao phần thưởng
    cho đội đoạt giải (nếu có).
    – Khi kết thúc trò chơi, một số học sinh nêu kiến thức, kĩ năng trong bài học
    mà trò chơi đã thể hiện.
    Trong môn khoa học lớp 5 trò chơi thường đựơc sử dụng để khám phá,
    hình thành kiến thức mới và củng cố, hệ thống hóa lại kiến thức.
    Sau đây là một số trò chơi tôi đã thiết kế và tổ chức cho học sinh tham gia
    chơi trong quá trình dạy học:
    * Trò chơi 1: “Mảnh ghép Puzzle”
    Trò chơi này có thể sử dụng dùng để giúp HS khám phá, hình thành kiến
    thức mới hoặc cũng có thể để củng cố lại kiến thức đã học.
    * Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị những tấm bìa có ghi câu hỏi và những tấm
    bìa có ghi câu trả lời tương ứng.
    * Cách chơi: GV chia lớp thành các đội chơi, mỗi đội khoảng từ 4-6 người
    (tùy thuộc vào số lượng mảnh ghép). Các đội chơi nhận tấm bìa của nhóm mình,
    15
    sau đó nhanh chóng đọc các thông tin trên mỗi tấm bìa thảo luận và ghép chúng
    lại với nhau sao cho phù hợp. Đội nào ghép đúng nhất và nhanh nhất là đội
    chiến thắng.
    Ví dụ: Bài Phòng bệnh viêm não
    Tôi giới thiệu: Viêm não là một bệnh hết sức nguy hiểm. Nguyên nhân gây
    ra bệnh là gì? Lứa tuổi nào hay mắc bệnh? Bệnh nguy hiểm như thế nào? Các
    em hãy cùng nhau trả lời các câu hỏi này qua trò chơi “Mảnh ghép Puzzle”.
    Tôi chia lớp thành các đội chơi, mỗi đội gồm 4 thành viên, các đội sẽ cử
    đội trưởng cho đội mình. Tôi nêu luật chơi: “ Các em hãy cùng đọc các thông tin
    trong mỗi tấm thẻ đã được phát, cùng nhau bàn bạc trong đội để chọn câu trả lời
    tương ứng với từng câu hỏi. Sau khi cả đội thống nhất, đội trưởng sẽ gắn đáp án
    với câu hỏi vào bảng phụ. Sau 5 phút, đội nào có đáp án gắn lên bảng lớp nhanh
    nhất và đúng nhất là đội thắng cuộc, đội thắng cuộc sẽ nhận được một phần
    thưởng xứng đáng”.
    Sau khi học sinh hiểu được cách chơi, tôi tiến hành cho học sinh chơi.
    Khi đã tìm ra đội chiến thắng, tôi yêu cầu học sinh trả lời thêm một số
    câu hỏi:
    + Vì sao từ trẻ em 3-5 tuổi hay mắc bệnh viêm não?
    + Bệnh viêm não nguy hiểm như thế nào?
    + Em rút ra được những kiến thức gì qua trò chơi này?
    16
    Với cách tiến hành như trên, qua trò chơi này, các em sẽ chủ động tìm tòi
    và phát hiện kiến thức mới cho bài học, hình thành kiến thức cho bản thân.
    Không chỉ áp dụng ở bài học này, trò chơi “Mảnh ghép Puzzle” còn được dùng
    trong rất nhiều bài học khác như: bài Nam và nữ; Từ lúc mới sinh đến tuổi dậy
    thì; Dùng thuốc an toàn,……
    * Trò chơi 2: “Bức tranh bí ẩn”
    Trò chơi này có thể áp dụng để giúp học sinh khám phá kiến thức mới hoặc
    củng cố lại kiến thức trong bài học.
    *Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị một bức tranh liên quan đến nội dung bài
    học để làm chìa khóa được giấu kín dưới các miếng ghép tương ứng với số câu
    hỏi (tùy chọn số lượng miếng ghép).
    *Cách chơi: Với trò chơi này, tôi chia đội để chơi, các đội sẽ lần lượt lựa
    chọn miếng ghép và trả lời câu hỏi dưới mỗi miếng ghép. Trả lời đúng 1 miếng
    ghép sẽ được 10 điểm, tìm được bức tranh sẽ được 50 điểm. Nếu trả lời sai, các
    đội khác có quyền trả lời và nhận được số điểm tương ứng. Trả lời đúng mỗi
    miếng ghép, bức tranh sẽ được mở ra một phần tương ứng với vị trí của miếng
    ghép đó. Kết thúc phần chơi, đội nào có tổng điểm lớn hơn sẽ thắng.
    Ví dụ: Bài Năng lượng mặt trời
    Tôi chuẩn bị một bức tranh minh họa năng lượng mặt trời. Chia tranh thành
    6 miếng ghép. Các từ khóa để mở từng miếng ghép là: chiếu sáng; sưởi ấm;
    phơi khô; phát điện; quang hợp;thời tiết.
    Sau khi mở được các miếng ghép, tôi hỏi: “Bức tranh minh họa gì? Hãy
    nêu hiểu biết của em về bức tranh đó, liên hệ với các từ khóa đã mở tranh”. Như
    vậy, HS sẽ nêu được tác dụng của năng lượng mặt trời là để chiếu sáng, sưởi ấm,
    phơi khô, phát điện, giúp cây quang hợp và tạo ra các hiện tượng thời tiết như:
    nắng, mưa, gió, bão,…
    17
    Trò chơi này giáo viên có thể thiết kế thủ công trên giấy bìa mà không cần
    hỗ trợ của máy tính. Tuy nhiên, khi ứng dụng công nghệ thông tin để thiết kế trò
    chơi, tôi nhận thấy rõ sự tiện lợi bởi hình ảnh rõ ràng, màu sắc nổi bật, hiệu ứng
    đẹp, thu hút được học sinh, câu hỏi, đáp án được trình chiếu rõ ràng nên học
    sinh dễ quan sát hơn hẳn so với việc thiết kế trên bìa cứng.
    Tôi còn sử dụng trò chơi này ở một số bài học như: Sử dụng năng lượng
    gió và năng lượng nước chảy; Sử dụng năng lượng điện;…
    * Trò chơi 3: “ Ô chữ diệu kì ”
    Trò chơi Ô chữ diệu kì là một trong những trò chơi thú vị, vừa tạo hứng thú
    cho học sinh vừa giúp học sinh củng cố lại các kiến thức của bài học. Nhờ có sự
    giúp đỡ của các ứng dụng công nghệ thông tin cũng như việc đã thành thạo các
    công cụ thiết kế bài giảng, tôi đã tạo ra nhiều ô chữ được thiết kế sinh động trên
    máy tính.
    * Chuẩn bị: Giáo viên thiết kế ô chữ trên phần mềm PowerPoint cùng hệ
    thống câu hỏi tương ứng với ô chữ.
    * Cách chơi: Chia lớp thành các nhóm nhỏ (có thể mỗi nhóm từ 4-5 học
    sinh). Đội trưởng của các nhóm sẽ lần lượt lựa chọn ô chữ hàng ngang. Sau khi
    nghe lời gợi ý về các ô chữ hàng ngang, đội nào nghĩ ra câu trả lời thì rung
    18
    chuông xin trả lời trước. Mỗi ô chữ hàng ngang trả lời đúng đội ghi được 5
    điểm. Ô chữ hàng dọc trả lời đúng đội ghi được 20 điểm. Nếu giải sai đội đó
    không ghi được điểm. Các đội đều có quyền đặt bông hoa hi vọng ở mỗi lần
    trước khi giải ô chữ hàng ngang để nếu trả lời đúng thì được tăng gấp đôi số
    điểm của mình. Kết thúc trò chơi, đội nào giành được nhiều điểm hơn đội đó sẽ
    chiến thắng.
    Ví dụ: Bài Ôn tập Con người và sức khỏe
    Tôi chuẩn bị một ô chữ với các ô hàng dọc và hàng ngang
    Các câu hỏi tìm ra ô chữ như sau:
    1. Bệnh nào do một loại kí sinh trùng gây ra và bị lây truyền do muỗi
    a-nô-phen?
    2. Điền cụm từ thích hợp vào chỗ trống: “ Để phòng bệnh còi xương,
    chúng ta cần ăn phối hợp nhiều loại …… chứa nhiều can-xi và vi- ta-min D.
    3. Đây là biện pháp để tránh muỗi đốt.
    4. Con gái khi bước vào tuổi dậy thì, cơ quan sinh dục bắt đầu phát triển
    và xuất hiện điều gì?
    5. Khi mắc bệnh chúng ta thường đi khám ở đâu.
    6. Bệnh gì do một loại vi-rút có trong máu của gia súc, động vật hoang dã
    gây ra và bị lây truyền do muỗi đốt.
    7. Điền cụm từ thích hợp vào chỗ trống: “ Ai cũng có thể mắc bệnh viêm
    não nhưng nhiều nhất là ……….từ 3 đến 15 tuổi vì sức đề kháng yếu.”
    Hay ở bài Ôn tập: Môi trường và tài nguyên thiên nhiên, tôi thiết kế ô
    chữ và câu hỏi như sau:
    19
    1. Tính chất của đất đã bị xói mòn.
    2. Đây là tên của một loại tài nguyên thiên nhiên bao bọc xung quanh Trái Đất.
    3. Đồi cây đã bị đốn hoặc đốt trụi gọi là gì?
    4. Của cải có sẵn trong môi trường tự nhiên mà con người sử dụng là gì?
    5. Tên của một loài bọ chuyên ăn các loại rệp cây.
    6. Điền cụm từ thích hợp vào chỗ trống: “Nếu con người có ý thức bảo vệ
    và khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lí thì môi trường
    sẽ…………….tốt đến đời sống của con người.”
    7. Điền cụm từ thích hợp vào chỗ trống: “……………không thể tồn tại tách
    rời môi trường.”
    8. Điền cụm từ thích hợp vào chỗ trống: “Nếu không có ý thức sử dụng tiết
    kiệm thì nhiều tài nguyên thiên nhiên sẽ bị…………..”
    9. Đây là môi trường sống của nhiều loài động vật hoang dã, quý hiếm;
    nếu bị tàn phá sẽ làm khí hậu bị thay đổi, lũ lụt, hạn hán xảy ra thường xuyên.
    Qua trò chơi, học sinh vừa được thể hiện trí tuệ, kiến thức cũng như khả
    năng tư duy liên kết các ô chữ của các em.
    * Trò chơi 4: “ Rung chuông vàng”
    20
    Trò chơi này được mô phỏng theo chương trình Rung chuông vàng. Với trò
    chơi này, giáo viên có thể áp dụng vào các giờ học giúp học sinh ôn tập các kiến
    thức đã học hoặc củng cố lại kiến thức cuối bài.
    * Chuẩn bị: Giáo viên cần chuẩn bị 6 đến 10 câu hỏi (số lượng tùy ý) có thể
    theo các cấp độ khó dần. Mỗi học sinh chuẩn bị một bảng con, phấn, khăn lau.
    * Cách chơi: Tổ chức cho cả lớp chơi theo hình thức cá nhân. Giáo viên lần
    lượt chiếu các câu hỏi lên màn hình máy chiếu. Học sinh đọc câu hỏi, suy nghĩ
    và ghi đáp án của mình vào bảng. Sau khi có tín hiệu, học sinh sẽ giơ câu trả lời
    của mình lên. Nếu trả lời đúng, học sinh được quyền tham gia trả lời tiếp các câu
    hỏi sau, trả lời sai học sinh tạm dừng cuộc chơi. Trong trường hợp chưa đến câu
    trả lời cuối cùng mà tất cả học sinh đã bị loại, giáo viên có thể tổ chức cứu trợ
    cho học sinh bằng một số câu hỏi phụ hoặc chơi một trò chơi phụ để có thể giúp
    học sinh quay trở lại chơi tiếp. Người chiến thắng là người trả lời được đến câu
    hỏi cuối cùng và sẽ là người được rung chiếc chuông vàng.
    Ví dụ : Bài Sự sinh sản của động vật
    Để củng cố lại kiến thức của bài học, tôi tổ chức cho các em tham gia trò
    chơi Rung chuông vàng. Các câu hỏi tôi đã chuẩn bị và thiết kế trên phần mềm
    PowerPoint như sau:
    Câu 1: Đa số các loài vật chia thành mấy giống? (Hai giống)
    Câu 2: Tinh trùng hoặc trứng của động vật được tạo ra từ cơ quan nào? (Cơ
    quan sinh dục)
    Câu 3: Điền từ còn thiếu thích hợp vào chỗ trống:
    Hiện tượng tinh trùng kết hợp với trứng tạo thành………gọi là ………….
    (hợp tử – sự thụ tinh)
    Câu 4: Hợp tử phân chia nhiều lần và phát triển thành gì? (Cơ thể mới)
    Câu 5: Động vật có những hình thức sinh sản nào? (Đẻ trứng hoặc đẻ con)
    Câu 6: Con cá heo đẻ trứng hay đẻ con? (Đẻ con)
    21
    Trò chơi này được học sinh lớp tôi rất thích thú bởi các em như được trải
    nghiệm cảm giác thật như đang dự thi Rung chuông vàng. Tôi còn áp dụng trò
    chơi này ở rất nhiều bài học như: Cơ thể chúng ta được hình thành như thế
    nào?; Vệ sinh ở tuổi dậy thì; Sự sinh sản của thực vật có hoa; Sự sinh sản của
    côn trùng; Sự sinh sản của ếch;…
    * Trò chơi 5: “Tấm thẻ Plicker”.
    Với trò chơi này, GV viên có thể áp dụng để giúp học sinh củng cố lại kiến
    thức cuối mỗi bài học hoặc của cả một chương học.
    * Chuẩn bị: Giáo viên cần chuẩn bị 3 đến 5 câu hỏi (số lượng tùy ý) theo
    hình thức trắc nghiệm lựa chọn đáp án trên phần mềm Plicker. Mỗi học sinh
    được phát một tấm thẻ Plicker tương tứng với số thứ tự của học sinh đó trong
    danh sách đã được tạo sẵn trên phần mềm.
    22
    Tấm thẻ Pliker
    * Cách chơi: Tổ chức cho cả lớp chơi theo hình thức cá nhân. Giáo viên lần
    lượt chiếu các câu hỏi lên màn hình máy chiếu thông qua phần mềm Plicker.
    Học sinh lựa chọn đáp án bằng cách giơ tấm thẻ lên theo đúng chiều của đáp án
    đã lựa chọn. Sau đó giáo viên dùng điện thoại thông minh đã được kết nối sẵn
    với phần mềm Plicker để quét toàn bộ đáp án của học sinh. Mọi đáp án học sinh
    đã chọn sẽ được hiện thị ngay trên màn hình máy chiếu. Người thắng cuộc là
    người trả lời được đúng nhiều nhất các câu hỏi.
    Ưu điểm của trò chơi này là được thiết kế thông qua phần mềm Plicker nên
    chúng ta có thể nắm bắt được chính xác toàn bộ đáp án mà học sinh đã lựa chọn.
    Phần mền này có bảng thống kê theo từng học sinh xem câu nào trả lời đúng,
    câu nào sai và tính toán số % điểm đạt được của mỗi học sinh. Ngoài bảng tổng
    hợp theo thứ tự danh sách lớp còn có bảng kết quả xếp thứ tự từ cao đến thấp.
    Dựa vào bảng thứ tự này, giáo viên có thể xác định được ai là người thắng cuộc
    trong trò chơi.
    Ví dụ: Bài Ôn tập: Vật chất và năng lượng
    Để củng cố lại kiến thức của chương học: Vật chất và năng lượng, tôi tổ
    chức cho các em tham gia trò chơi Tấm thẻ Plicker. Các câu hỏi tôi đã chuẩn bị
    và thiết kế trên phần mềm Plicker như sau:
    Câu 1: Đồng có tính chất gì?
    A. Cứng, có tính đàn hồi
    A
    D 1
    1
    1
    1
    23
    B. Trong suốt, không gỉ, cứng nhưng dễ vỡ
    C. Màu trắng bạc, có ánh kim; có thể kéo thành sợi và dát mỏng; nhẹ, dẫn
    điện và dẫn nhiệt tốt; không bị gỉ, tuy nhiên có thể bị một số a-xít ăn mòn.
    D. Có màu đỏ nâu, có ánh kim; dễ dát mỏng và kéo thành sợi; dẫn điện và
    dẫn nhiệt tốt.
    Câu 2: Thủy tinh có tính chất gì?
    A. Cứng, có tính đàn hồi.
    B. Trong suốt, không gỉ, cứng nhưng dễ vỡ.
    C. Màu trắng bạc, có ánh kim; có thể kéo thành sợi và dát mỏng; nhẹ; dẫn
    điện và dẫn nhiệt tốt; không bị gỉ, tuy nhiên có thể bị một số a-xít ăn mòn.
    D. Có màu đỏ nâu, có ánh kim; dễ dát mỏng và kéo thành sợi; dẫn điện và
    dẫn nhiệt tốt.
    Câu 3: Nhôm có tính chất gì?
    A. Cứng, có tính đàn hồi.
    B. Trong suốt, không gỉ, cứng nhưng dễ vỡ.
    C. Màu trắng bạc, có ánh kim; có thể kéo thành sợ

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Sử dụng ứng dụng Quzizz để tạo hứng thú học tập, hỗ trợ ôn tập môn Toán cho học sinh lớp 4

    SKKN Sử dụng ứng dụng Quzizz để tạo hứng thú học tập, hỗ trợ ôn tập môn Toán cho học sinh lớp 4

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, xu thế phát triển của
    thời đại đã ảnh hưởng sâu sắc, toàn diện đến nền giáo dục Việt Nam. Nghị quyết hội
    nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và đào tạo đã
    xác định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
    dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu trang bị kiến thức sang
    phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học…”
    Thực hiện sự chỉ đạo của Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/01/2013 của Hội
    nghị BCH Trung ương lần thứ 8 khóa XI về “Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục
    và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế
    thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Trong đó chú trọng
    tới việc phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo và vận dụng kiến thức kĩ năng của
    người học; tăng cường việc sử dụng công nghệ thông tin và sử dụng các phần mềm
    vào dạy học. Vì vậy, việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát
    huy tính tích cực, chủ động sáng tạo cho học sinh là điều vô cùng cần thiết. Đây là
    một định hướng cơ bản thiết thực đối với mỗi giáo viên, cũng là yếu tố quyết định
    hiệu quả của một giờ dạy.
    Năm học 2019 – 2020 do ảnh hưởng của dịch Covid – 19, lần đầu tiên trong
    lịch sử Giáo dục Việt Nam học sinh phải tạm nghỉ đến trường dài ngày. Trong thời
    gian nghỉ do ảnh hưởng của dịch bệnh, ngành giáo dục đã có nhiều giải pháp để
    giúp học sinh “tạm dừng đến trường nhưng không dừng học”, trong đó điển hình
    nhất là giải pháp dạy học trực tuyến. Đây cũng chính là hình thức dạy học mà nhiều
    giáo viên sử dụng “lần đầu tiên” trong sự nghiệp giáo dục của mình. Chính vì thế
    việc bỡ ngỡ, gặp khó khăn, lúng túng là không thể tránh khỏi.
    Là một giáo viên tôi thấy việc dạy học của người thầy giờ đây cũng khác
    trước rất nhiều. Mọi kiến thức, hiểu biết của học sinh không chỉ được hình thành
    qua sách vở, qua thực tế mà qua cả mạng Internet. Công nghệ thông tin sẽ giúp học
    sinh tra cứu tài liệu, tìm kiếm thông tin, tranh ảnh, trao đổi bài qua diễn đàn trên các
    website, học trực tuyến, giúp học sinh biết tự học, tự rèn luyện một cách sáng tạo.
    2
    Cũng nằm trong các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục chính là ứng dụng
    công nghệ thông tin trong giảng dạy, kiểm tra đánh giá. Với học sinh lớp 4 việc áp
    dụng hình thức kiểm tra trắc nghiệm đã trở nên quen thuộc (số câu trắc nghiệm
    chiếm từ 60% – 70% trong các bài kiểm tra). Ngày nay, kinh tế phát triển việc phụ
    huynh có điện thoại thông minh, máy tính là rất nhiều. Vậy làm thế nào để hướng
    học sinh sử dụng các thiết bị này trong việc học tập ở nhà đạt hiệu quả, qua đó tạo
    hứng thú học tập cho học sinh đồng thời nâng cao chất lượng dạy và học là điều mà
    tôi nghĩ đến trong thời đại công nghệ 4.0.
    Chính bởi lý do trên, tôi đã tìm hiểu và viết sáng kiến: “Sử dụng ứng dụng
    Quizizz để tạo hứng thú học tập, hỗ trợ ôn tập môn Toán cho học sinh lớp 4.”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến:
    Với phương châm “tạm dừng đến trường nhưng không dừng học”, ngay từ khi
    bắt đầu học sinh nghỉ phòng chống dịch bệnh, nhằm mục đích giúp cho học sinh duy
    trì nề nếp học tập, ôn tập, củng cố kiến thức đã học và tiếp thu kiến thức mới đảm
    bảo nội dung chương trình năm học theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và
    các văn bản chỉ đạo của Sở GD&ĐT tỉnh Nam Định, ngành GD-ĐT huyện Hải
    Hậu. Trước tình hình đó trường Tiểu học Hải Anh đã lên kế hoạch dạy Online cho
    học sinh qua phần mềm Zoom cloud meetings, SHub Classroom. Các lớp học của
    nhà trường được “mang về nhà”, học sinh “nghỉ dịch chứ không nghỉ học”. Tuy
    nhiên trong quá trình thực hiện công việc, tôi nhận thấy:
    Về phía học sinh: Đa số học sinh của lớp 4 trường Tiểu học Hải Anh có nhận
    thức và ý thức tốt trong học tập. Các em đã được tiếp xúc với các sản phẩm của
    công nghệ thông tin trong cuộc sống như: điện thoại thông minh, ti vi, máy tính,
    trong gia đình và nhà trường.
    – Về phía phụ huynh: Cha mẹ học sinh có điện thoại thông minh và máy tính
    được nối mạng (kể cả sử dụng 3G) khoảng 90%.
    – Về phía giáo viên: Có kinh nghiệm trong công tác giảng dạy, có khả năng tự
    học, tự tìm tòi các thông tin, kiến thức, các tài liệu trên mạng Internet, biết và sử
    dụng được một số phần mềm dạy học.
    3
    – Khi ôn tập kiến thức các môn học ở lớp 4 nói chung và môn Toán lớp 4 nói
    riêng ở hình thức trắc nghiệm, luôn có các câu hỏi thuộc các mức độ khác nhau. Đối
    với các câu hỏi ở mức 1, mức 2 không đòi hỏi bắt buộc học sinh phải suy luận mà
    chỉ đơn giản là ghi nhớ thông tin, nhận biết, nhắc lại kiến thức, kĩ năng đã học để
    tìm ra đáp án. Đối với các câu hỏi ở mức 3, mức 4 đòi hỏi học sinh phải biết vận
    dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết những vấn đề quen thuộc, những vấn đề mới
    hoặc đưa ra những phản hồi hợp lí trong học tập, cuộc sống một cách linh hoạt.
    Ví dụ như các câu sau đây thuộc nhóm ở mức 1, mức 2 nằm trong mã đề 04
    Bài khảo sát số 2 – Lớp 4 của Sở GD & ĐT Nam Định (năm học 2018 -2019):
    Câu 1: Kết quả phép tính 6324 : 186 là:
    A. 35 dư 14 B. 214 C. 34 D. 314
    Câu 2: Kết quả phép tính 67458 – 8376 là:
    A. 59082 B. 69082 C. 69182 D. 59182
    Câu 3: Kết quả phép tính 804 x 23 là:
    A. 4010 B. 4020 C. 18492 D. 18482
    Câu 4: Kết quả phép tính 6789 + 15 402 là:
    A. 22181 B. 12191 C. 21191 D. 22191
    Câu 5: Trong các số sau: 6506; 46 405; 22490; 94590 số nào chia hết cho 5,
    không chia hết cho 2 ?
    A. 6506 B. 46405 C. 22490 D. 94590
    – Đối với bản thân, trước khi áp dụng phần mềm Quizizz, để ôn tập cho học
    sinh nhóm câu hỏi như trên, giáo viên thường photo trước tài liệu, yêu cầu học sinh
    tự chuẩn bị câu trả lời ở nhà, sau đó lên lớp các em trao đổi thảo luận với bạn, với
    nhóm, giáo viên chữa bài và kiểm tra đáp án. Nhìn chung biện pháp trên phát huy
    hiệu quả tốt với những đối tượng học sinh chăm chỉ, có khả năng tự học tốt. Tuy
    nhiên, việc đó cũng chưa tạo hứng thú cho học sinh ôn bài, tự học và làm bài kiểm
    tra ở nhà. Cá biệt có một số em lợi dụng điểm yếu của hình thức câu hỏi trắc
    4
    nghiệm đó là không phải trình bày bài làm nên học sinh không chịu chuẩn bị bài mà
    chỉ “chọn đáp án theo cảm tính”. Điều này làm cho kết quả học tập của học sinh
    chưa tốt. Do đó tôi đã tìm hiểu và thấy phần mềm Quizizz gây hứng thú học tập cho
    học sinh, tạo được động cơ học tập cho các em, giúp cho việc dạy và học trở nên
    thuận lợi và đạt hiệu quả cao hơn. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học
    môn Toán ở trường Tiểu học Hải Anh.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
    2.1. Vấn đề cần giải quyết:
    Thiết lập kênh liên lạc với học sinh, phụ huynh, thiết lập tài khoản Quizizz và
    cách thức sử dụng Quizizz để ôn tập một cách hiệu quả. Để làm được điều đó giáo
    viên cần:
    – Tìm hiểu cách sử dụng phần mềm Quizizz. Tạo kênh liên lạc với học sinh
    và phụ huynh. Điều kiện để thực hiện biện pháp trên là giáo viên cần có máy tính,
    các học sinh trong lớp phải có máy tính hoặc điện thoại kết nối mạng.
    – Xác định được mục đích chính của Ứng dụng Quizizz để hỗ trợ ôn tập
    kiến thức là tổ chức các bài kiểm tra trắc nghiệm trực tuyến trên máy tính hoặc các
    thiết bị di động thông minh. Thông qua hình thức hướng dẫn học sinh tự học, giáo
    viên có thể kiểm tra và đánh giá học sinh, củng cố kiến thức đã học bằng nhiều
    cách. Đây chính là phương tiện dạy học hiện đại đã góp phần tích cực vào việc đổi
    mới phương pháp dạy học.
    2.2. Tính mới của giải pháp:
    – Quizizz thiết kế như một Game tạo hứng thú học tập cho học sinh. Đặc biệt,
    Quizizz có giao diện trò chơi đẹp, âm thanh phù hợp, mới lạ, khác với các trò chơi
    khác. Khi học sinh trả lời câu hỏi (tham gia chơi trò chơi) thứ tự xếp hạng của học
    sinh luôn thay đổi có thể nhìn thấy thứ tự của mình ở từng câu. Sau khi kết thúc trò
    chơi có bảng xếp thứ hạng người chơi, có các thống kê chi tiết (học sinh biết được
    câu nào mình trả lời sai, có thể xem được đáp án đúng nếu giáo viên bật tính năng),
    cho cơ hội trả lời lại, làm lại nếu học sinh làm sai.
    – Khi học sinh đang tham gia làm bài bị thoát ra do mất điện, lỗi mạng hoặc
    không muốn làm nữa thì hệ thống vẫn lưu giữ. Lần sau vào làm lại học sinh chỉ phải
    5
    làm tiếp những câu chưa làm.
    – Với ứng dụng Quizizz có thể cho nhiều học sinh chơi cùng một thời điểm
    giống như một cuộc đua trực tiếp hoặc có thể cài đặt thành bài ôn tập, bài kiểm tra
    nhằm củng cố kiến thức cho học sinh về nhà để học sinh chủ động thời gian hoàn
    thành. Đặc biệt ứng dụng Quizizz có hệ thống đảo câu hỏi và đáp án nên học sinh
    không thể nhìn bài nhau. Giáo viên có thể áp dụng hình thức kiểm tra trực tiếp sau
    mỗi tiết dạy khi mà các em về nhà. Chính vì vừa củng cố được kiến thức vừa rèn
    luyện kĩ năng làm bài cho học sinh từ đó nâng cao được kết quả học tập của học
    sinh.
    – Học sinh tham gia không cần thiết phải dùng máy tính có thể mở trên điện
    thoại và cũng không cần phải cài đặt phần mềm. Khi tham gia chơi học sinh được
    chấm điểm, có quy định thời gian diễn ra không khác gì so với kiểm tra trắc nghiệm
    trên giấy.
    – Sử dụng ứng dụng Quizizz học sinh sẽ được làm quen với tác phong công
    nghiệp, không chỉ rèn luyện được kỹ năng làm bài nhanh cho hình thức trắc nghiệm,
    làm bài trực tuyến sẽ giúp các em làm quen và sử dụng thành thạo máy tính, làm
    quen và biết cách khai thác được thông tin trên các website, đây là kỹ năng thiết yếu
    cho sự phát triển ở thời kỳ 4.0.
    2.3. Một số giải pháp.
    2.3.1. Sử dụng phần mềm Quizizz trong các hoạt động dạy học như thế
    nào?
    Quizizz là phần mềm, ứng dụng trên nền tảng website, có ứng dụng trên
    Appstore và CH play. Hiện nay, Quizizz đã hỗ trợ việc học tập của hàng triệu sinh
    viên, học sinh của hơn 100 quốc gia trên thế giới.
    Quizizz là một trong những công cụ hỗ trợ kiểm tra, đánh giá trong dạy học
    khá nổi tiếng và được nhiều giáo viên sử dụng rất hiệu quả.
    Quizizz cho phép giáo viên:
    – Tạo ra các câu hỏi trắc nghiệm nhằm kiểm tra kiến thức ở các môn học cũng
    như kiến thức hiểu biết xã hội của học sinh.
    6
    – Tiếp cận ngân hàng câu hỏi đa dạng hoặc tự tạo lập bộ câu hỏi phù hợp với
    mục tiêu kiểm tra đánh giá.
    – Tổ chức cho học sinh trong cùng một lớp có thể tham gia trả lời câu hỏi trên
    Quizizz vào cùng một thời điểm do thầy cô quy định; hoặc hoàn tất bài kiểm tra vào
    một thời gian thuận lợi, trước thời hạn thầy cô quy định.
    – Dễ dàng thông báo ngay kết quả và thứ hạng của những người tham gia trả
    lời câu hỏi nhằm gia tăng hứng thú học tập cho học sinh.
    Với cấu trúc đa dạng và dễ sử dụng của phần mềm, giáo viên có thể sử dụng
    Quizizz trong hoạt động khởi động của bài học, phần ứng dụng của tiết học và có
    thể sử dụng Quizizz trong các tiết ôn tập, cụ thể như sau:
    – Tổ chức một trò chơi trực tiếp với các câu hỏi trắc nghiệm online trên các
    thiết bị máy tính cá nhân, máy tính bảng, điện thoại cho học sinh. Sau khi kết thúc
    trò chơi, giáo viên chúng ta sẽ có một bảng thống kê khá chi tiết về người chơi (học
    sinh) như bảng xếp hạng, số câu trả lời đúng, sai,… sử dụng để khởi động bài học.
    *Trong tiết Em ôn lại những gì đã học (chủ đề số tự nhiên)
    Sau khi học xong tiết học này ở trên lớp, giáo viên có thể cho học sinh chơi
    trò chơi Quizizz ở nhà thông qua các câu hỏi để giúp học sinh có kĩ năng ghi nhớ
    kiến thức, kĩ năng tự ôn tập và củng cố. Hình thành thái độ học tập đúng đắn: tạo sự
    hứng thú, say mê học toán. Bên cạnh đó, rèn luyện tinh thần tự giác trong lao động,
    học tập.
    *Ví dụ minh họa:
    Câu 1. Số “Một triệu không trăm linh hai nghìn chín trăm ba mươi sáu” viết là:

    A. 1002936B. 102936C. 12936D . 1200936

    Câu 2. Số gồm 4 triệu, 2 chục nghìn, 3 chục viết là:
    A. 4020030 B. 420030 C. 4200030 D. 42000030
    Câu 3. Chữ số 8 trong số 5876943 thuộc:
    A. Hàng triệu B. Hàng trăm nghìn
    C. Hàng chục nghìn D. Hàng nghìn
    Câu 4. Which of following numbers is smaller than 55606149 and larger than 55604896 ?
    7

    A. 55695346B. 55614186C. 55601982D. 55605286

    Câu 5. Chữ số 2 trong số 42 375 347 có giá trị là:

    A. 20 000B. 200 000C. 2 000 000D. 20 000 000

    Câu 6. Kết quả của phép tính: 7869 + 15463 là :
    A. 94153 B. 27681 C. 76215 D. 23332
    Câu 7. Kết quả của phép tính: 408 x 302 là:
    A. 123216 B. 13056 C. 1536 D. 153600
    Câu 8. Kết quả của phép tính: 13428 – 9876 là:
    A. 85332 B. 3552 C. 4528 D. 3798
    Câu 9. Với a= 45 biểu thức 4788: ( 83 – a ) có giá trị là :

    A. 38B. 216C. 162D. 106

    Câu 10. Trung bình mỗi tháng nhà em ăn hết 25 kg gạo. Hỏi một năm (dương lịch)
    nhà em dùng hết bao nhiêu kg gạo?
    A. 250kg B. 275kg C. 300kg D. 325kg
    Có thể tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi Quizizz trong hoạt động Luyện
    tập củng cố ở trên lớp (chủ đề về số dấu hiệu chia hết cho 2, 5, 3, 9), giáo viên cần
    chuẩn bị phương án để học sinh được học tiết Toán ở phòng Tin học hoặc Tiếng
    Anh.
    *Ví dụ minh họa:
    Câu 1. Số nào sau đây chia hết cho cả 2 và 5.

    A. 25B. 802C. 80D. 37

    Câu 2. Chữ số thích hợp viết vào ô trống để được số có 3 chữ số 35 chia hết
    cho 2 và 5 là:
    A. 5 B. 0 C. 2 D. 7
    Câu 3. Số thích hợp điền vào dấu * để số 4*209 chia hết cho 9 là:
    8
    A. 3 B. 2 C. 1 D. 0
    Câu 4. Chữ số thích hợp điền vào chỗ chấm để 74… chia hết cho cả 2 và 3 là:
    A. 2 B. 6 C. 4 D. 8
    Câu 5. Trong các số: 306 ; 810 ; 7259 ; 425 số chia hết cho cả 5 và 9 là:
    A. 425 B. 306 C. 7259 D. 810
    Câu 6. §Ó sè 196* chia hÕt cho c¶ 2 vµ 3 th× ch÷ sè cÇn ®iÒn vµo vÞ trÝ dÊu * lµ:
    A. 2 B. 4 C. 3 D. 6
    Câu 7. Số vừa chia hết cho 3 vừa chia hết cho 5 là:
    A. 69 B. 571 C. 940 D. 675
    Câu 8. Trong các số 429658; 963990; 100455; 368722 số nào chia hết cho cả 2 và
    5?
    Câu 9. Số chia hết cho cả 2; 3; 5 và 9 là:
    A. 1700 B. 4002 C. 1365 D. 8100
    Câu 10. Chữ số thích hợp viết vào chỗ chấm để 27….chia hết cho cả 2; 3; 5 và 9 là:
    A. 3 B. 5 C. 0 D. 9
    * Trong hoạt động vận dụng, phát triển
    Một trong những mục tiêu quan trọng của chương trình giáo dục phổ thông
    2018 là “giúp học sinh làm chủ kiến thức, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng
    đã học vào đời sống” và đều phải hướng tới “Phát triển năng lực người học”. Do
    đó, cần tạo điều kiện để học sinh vận dụng kiến thức đã học giải quyết vấn đề thực
    tiễn. Trong hoạt động này, giáo viên có thể đưa ra các bài toán thực tế liên quan đến
    kiến thức toán học vừa xây dựng để học sinh nhớ lâu, hiểu sâu kiến thức và nhận
    thấy được toán học thật gần gũi với cuộc sống hằng ngày. Giúp các em hứng thú
    hơn trong học tập, ghi nhớ kiến thức một cách có chủ đích.
    Giúp các em nắm vững kiến thức, hiểu kiến thức một cách sâu rộng. Bên
    cạnh đó, giúp các em ứng dụng được những kiến thức đã được học vào thực tiễn.
    Giá trị của việc học thể hiện ở việc học sinh sử dụng kiến thức đó như thế nào? Có
    ứng dụng được kiến thức đó hay không? Chẳng hạn, học sinh vận dụng kiến thức về
    các phép tính để tính những con số gặp hằng ngày trong cuộc sống, vận dụng kiến
    9
    thức về tiền tệ để giúp gia đình mua sắm, tính toán được thời gian diễn ra sự việc và
    hoạt động có hiệu quả… Từ đó, tạo sự hứng thú, say mê học toán. Bên cạnh đó, rèn
    luyện tinh thần tự giác trong lao động, học tập.
    Ví dụ minh họa:
    Câu 1. Bạn Lan mua 2 quyển vở và 1 cái bút hết hai mươi lăm nghìn. Hỏi bạn Lan
    mua 4 quyển vở và 2 cái bút thì phải trả người bán hàng bào nhiêu tiền ?
    Trả lời : Số tiền Lan phải trả người bán hàng là :
    A. Ba mươi lăm nghìn đồng B. Bốn mươi nghìn đồng
    C. Năm mươi nghìn đồng D. Một trăm nghìn đồng
    Câu 2. Lê Lợi lên ngôi vua năm 1428. Năm đó thuộc thế kỉ:
    A. XIV B. XV C. XVI D. XIII
    Câu 3. Bảng sau ghi tên vận động viên và thời gian chạy trên cùng một quãng
    đường của mỗi người:

    MinhAnHùngViệt
    13 phútgiờ700 giây12 phút 45 giây

    1 5
    Người chạy nhanh nhất là:
    A. Minh B. An C. Hùng D. Việt
    Câu 4. Mẹ đi chợ mua một số táo rồi xếp vào các đĩa. Nếu xếp mỗi đĩa 4 quả thì
    vừa hết số táo, nếu xếp mỗi đĩa 5 quả thì cũng vừa hết số táo đó. Hỏi mẹ mua bao
    nhiêu quả táo, biết số táo mẹ mua ít hơn 25 quả.
    Số quả táo mẹ mua là:
    A. 24 quả B. 25 quả C. 16 quả D. 20 quả
    Câu 5. Năm 968 Đinh Bộ Lĩnh dẹp “loạn 12 sứ quân”, thống nhất đất nước. Năm
    đó thuộc thế kỉ thứ mấy?
    A. IX B. X C. XI D. VIII
    Câu 6. Lớp học 4A có 18 học sinh nữ và 12 học sinh nam. Hỏi số học sinh nam
    chiếm bao nhiêu phần số học sinh cả lớp?
    A.
    2 5
    B.
    3 5
    C.
    3 2
    D.
    2 3
    10
    Câu 7. Hằng ngày Lan thường tập chạy. Ngày thứ nhất Lan chạy được 500m, ngày
    thứ hai chạy được 620m, ngày thứ ba chạy được 500m. Như vậy trong ba ngày,
    trung bình mỗi ngày Lan chạy được là:
    A. 500m B. 560m C. 520m D. 540m
    Câu 8. Để ủng hộ các bạn học sinh nghèo, các bạn học sinh lớp 5A đã quyên góp
    được 687 000 đồng. Các bạn cần quyên góp thêm bao nhiêu nữa để số tiền có được
    là 900 000 đồng. Số tiền các bạn cần quyên góp thêm là :
    A. 113 000 đồng C. 213 000 đồng
    B. 223 000 đồng D. 2 130 000 đồng
    Câu 9. Để lát nền 1 căn phòng có diện tích là 64m2 thì phải dùng hết bao nhiêu
    viên gạch hoa biết mỗi viên gạch hoa có cạnh là 40cm ? (Biết diện tích các mạch
    vữa là không đáng kể)
    Trả lời : Số viên gạch hoa dùng để lát đủ nền căn phòng là:
    A. 14 viên B. 140 viên C. 400 viên D. 16 viên.
    Câu 10. Trung bình mỗi tháng nhà em ăn hết 30 kg gạo. Hỏi một năm (dương
    lịch) nhà em dùng hết bao nhiêu kg gạo?

    A. 320 kg
    Câu 11.
    B. 90 kgC. 360kgD. 350kg

    ……..
    15m
    Ở một con đường, người ta trồng 25 cây, hai cây liền nhau cách nhau 11m.
    Hỏi khoảng cách từ cây đầu tiên đến cây cuối cùng là bao nhiêu mét?
    A. 350m B. 360m C. 370m D. 375m
    Câu 12. Nếu một quả táo cân nặng 50g thì cần có bao nhiêu quả táo như thế để cân
    được 4kg?
    11
    A. 80 B. 50 C. 40 D. 20
    Câu13. Người ta xếp 187 250 cái áo vào các hộp, mỗi hộp chứa được nhiều nhất là
    9 cái áo. Hỏi cần ít nhất bao nhiêu hộp để xếp hết số áo trên?

    A. 20805 hộpB. 20806 hộp
    C. 2085 hộpD. 2086 hộp

    Câu 14. Hùng có 8 viên bi gồm 4 viên bi màu xanh, 3 viên bi màu đỏ, 1 viên bi màu
    vàng. Phân số chỉ phần các viên bi màu đỏ trong số viên bi của Hùng là:
    A.
    4 8
    B.
    3 4
    C.
    1 8
    D.
    3 8
    Câu 15. Nhà trường lắp đèn cho 8 phòng học. Mỗi phòng 9 bóng, mỗi bóng giá 50
    000 đồng. Hỏi nhà trường phải trả bao nhiêu tiền?
    A. 4 000 000 đồng B. 450 000 đồng
    C. 3 600 000 đồng D. 400 000 đồng
    – Giáo viên có thể kết nối Quizizz với Google classroom để chia sẻ câu đố
    của mình và nhận ngay kết quả trong Google lớp học.
    – Giao bài tập về nhà cho học sinh với hệ thống câu hỏi trắc nghiệm để học
    sinh luyện tập.
    *Ví dụ minh họa: Bài ôn tập giữa học kỳ II (phần trắc nghiệm)
    Giúp học sinh có kĩ năng ghi nhớ kiến thức, kĩ năng phân tích, kĩ năng tư duy,
    đánh giá, tổng hợp, kĩ năng tự ôn tập và củng cố.
    Câu 1. Chia đều 4 quả cam cho 3 người. Số phần cam của mỗi người khi đó là?
    A.5 quả cam B.
    5 4
    quả cam C. 4 quả cam D.
    4 5
    quả cam
    Câu 2. Phân số nào dưới đây bé hơn phân số
    3 7
    ?
    A.
    4 7
    B.
    3 7
    C.
    5 7
    D.
    1 7
    Câu 3. Kết quả của phép tính 2876 + 6519 là:
    A. 9375 B. 8375 C. 8385 D. 9395
    12
    Câu 4. Kết quả phép tính 58475 : 25 là:
    A. 2337 B. 2339 C. 1337 D. 2237
    Câu 5. Kết quả phép tính 647358 – 284376 là:
    A. 362282 B. 462182 C. 362982 D. 362182
    Câu 6. Kết quả phép tính 284 x 314 là:
    A. 65326 B. 89176 C. 89336 D. 9656
    Câu 7. Số thích hợp điền vào chỗ chấm trong các phân số:
    32
    56
    =
    16
    … là:
    A. 24 B.22 C. 28 D. 26
    Câu 8. Mảnh đất hình bình hành có độ dài cạnh đáy là 25m, chiều cao bằng 3
    5
    cạnh
    đáy. Tính diện tích mảnh đất?
    A. 54cm B. 80cm2 C. 40cm2 D. 375cm2
    Câu 9. Trong phong trào làm kế hoạch nhỏ vừa qua, hai khối lớp bốn và lớp năm
    thu được 216 kg phế liệu. Tính số kg phế liệu thu được của khối lớp năm ? Biết rằng
    khối lớp bốn thu được nhiều hơn khối lớp năm 28 kg phế liệu.

    A. 122 kgB. 94 kgC. 108 kgD. 188kg

    Câu 10. Năm 2021 thuộc thế kỉ nào?
    A. Thế kỉ XVIII B. Thế kỉ XX C. Thế kỉ XXI D.Thế kỉ XIX
    Câu 11. Số học sinh lớp em là một số bé hơn 40. Trong tiết học Toán, hoạt động
    thứ nhất cô chia lớp thành các nhóm đôi, hoạt động thứ hai cô giáo chia thành
    nhóm 3, hoạt động thứ ba cô chia lớp thành nhóm 5. Hỏi lớp em có bao nhiêu học
    sinh? Biết khi chia thành các nhóm đôi, nhóm 3 hay nhóm 5 thì không thừa, không
    thiếu bạn nào.
    A. 40 học sinh B. 38 học sinh C. 35 học sinh D. 30 học sinh
    Câu 12. Phòng học lớp 4A là hình chữ nhật có chiều dài 9 m, chiều rộng là 70 dm.
    Diện tích phòng học hình chữ nhật đó là:

    A. 63 m2B. 630 m2C. 90 m2D. 70 m2

    13
    Giáo viên cũng có thể quản lí việc học tập, luyện tập của học sinh với bảng
    thống kê rất sinh động và đầy đủ trong trang quản trị Quizizz của mình.
    2.3.2. Những lưu ý khi sử dụng phần mềm Quizizz:
    – Giáo viên cần nghiên cứu trò chơi học tập (chính là hệ thống các câu hỏi để
    củng cố kiến thức, kĩ năng), các yêu cầu cũng như nội dung kiến thức cần chuyển
    tải. Để qua đó học sinh sử dụng ứng dụng Quizizz học sinh sẽ được làm quen với
    tác phong công nghiệp, không chỉ rèn luyện được kỹ năng làm bài nhanh cho hình
    thức trắc nghiệm, làm bài trực tuyến sẽ giúp các em làm quen và sử dụng thành thạo
    máy tính, làm quen và biết cách khai thác được thông tin trên các website, đây là kỹ
    năng thiết yếu cho sự phát triển ở thời kỳ 4.0.
    – Các bài tập gây được hứng thú cho học sinh: những bài tập được đưa ra phải
    phù hợp với vùng phát triển gần nhất của từng học sinh để tạo sự hứng thú, kích
    thích sự tò mò trong các em vừa giúp các em nắm chắc được kiến thức của môn
    học, bài học vừa biết vận dụng linh hoạt các kiến đó vào thực tế một cách hiệu quả
    nhất.
    – Giáo viên chuẩn bị các phiếu theo dõi quá trình học tập của học sinh làm cơ
    sở cho việc kiểm tra đánh giá được khách quan, tạo động cơ học tập tốt.
    – Căn cứ vào nội dung chương trình giảng dạy, giáo viên có thể sưu tầm và
    thiết kế các câu hỏi phù hợp cho từng dạng bài thuộc từng phần học, các bài tập gắn
    nội dung bài học với thực tiễn, bài tập phát triển năng lực, ôn tập theo tuần, theo chủ
    đề, ôn tập theo tích hợp liên môn và nghiên cứu sử dụng phối hợp giữa kỹ thuật sử
    dụng trò chơi dạy học và các kỹ thuật dạy học khác.
    2.3.3. Các bước sử dụng phần mềm Quizizz để tổ chức ôn tập kiến thức cho
    học sinh:
    Để sử dựng ứng dụng Quizizz tôi làm 5 bƣớc sau:
    a) Bƣớc 1: Tạo kênh liên lạc
    Thiết lập kênh liên lạc với phụ huynh: Mục đích của kênh này là để thông báo
    cho phụ huynh biết rõ thời gian làm bài của con, để phụ huynh có thể hỗ trợ và kiểm
    soát tốt việc sử dụng điện thoại/ máy tính của con qua nhóm zalo lớp. Việc này tôi
    làm ngay từ khi được phân công nhận lớp.
    14
    b) Bƣớc 2: Thiết lập tài khoản Quizizz cho giáo viên.
    – Vào trang web Quizizz.com và chọn “Sign Up”.
    15
    – Các thầy cô giáo đều có một gmail để sử dụng nên chúng ta sẽ chọn
    “Sign up with Google.”
    – Chọn gmail muốn dùng để đăng ký tài khoản Quizizz.
    16
    – Chọn ngành/lĩnh vực mà chúng ta sử dụng ứng dụng.
    Chọn “at a school”.
    – Chọn vai trò của chúng ta trong Quizizz.
    Giáo viên sẽ chọn “Teacher”, học sinh chọn “Student”, phụ huynh chọn
    “a parent”.
    17
    – Hoàn thiện thiết lập và chúng ta có giao diện của trang chủ.
    c) Bƣớc 3: Tạo bài kiểm tra trên Quizizz.
    – Trên giao diện của trang chủ, chọn nút Create  Quiz.
    18
    – Tại cửa số kế tiếp xuất hiện điền thông tin tên đề kiểm tra, môn.
    Giáo viên gõ tên đề, chọn môn sau đó chọn Next.
    Tạo tên bài tập
    19
    – Tại giao diện tiếp theo: Lựa chọn các hình thức câu hỏi.
    Chọn câu hỏi trắc nghiệm.
    + Multiple choice: Câu hỏi trắc nghiệm
    + Checkbox: Dạng trắc nghiệm có nhiều phương án trả lời.
    + Fill – in – the – Blank: Điền vào chỗ trống
    + Poll: Dạng survey thu thập thông tin, ý kiến học sinh.
    + Open- Ended: Dạng câu hỏi mở.
    Tùy thuộc vào kiểu câu hỏi cần kiểm tra mà các thầy cô có thể lựa chọn các
    hình thức khác nhau. Riêng với dạng bài ôn tập kiến thức, củng cố kĩ năng các môn
    học ở lớp 4, tôi thường chọn hình thức Multiple Choice (câu hỏi trắc nghiệm).
    20
    Ngoài ra, các thầy cô có thể thay đổi ảnh đại diện cho Quizizz, giới hạn thời
    gian cho từng câu hỏi, phân định mức độ cho câu hỏi với từng đối tượng học sinh
    của lớp mình.
    * Lựa chọn xong kiểu câu hỏi xuất hiện giao diện.
    21
    – Giáo viên gõ hoặc coppy nội dung câu hỏi từ nguồn có sẵn, chọn đáp án
    đúng -> nhấn nút Save.
    Tạo câu hỏi trong Quizizz.
    22
    – Muốn thêm câu hỏi các thầy cô vào “New question”.
    Có giao diện nhƣ sau:
    * Cứ nhƣ thế, gõ tiếp câu hỏi, đáp án và tích đáp án đúng cho các câu
    hỏi tiếp theo.
    23
    – Chọn “Publish” để lƣu lại Quiz vừa tạo.
    Ra đƣợc giao diện nhƣ sau:
    Thiết kế bài tập trong Quizizz: Bài ôn tập 1 toán 4C.
    24
    Thiết kế một số bài trong Quizizz.
    25
    *Lưu ý: Các thầy cô có thể tìm các Quiz có sẵn trên thư viện của ứng dụng
    bằng cách sau:
    Vào mục Search, gõ từ khóa cần tìm -> một danh sách các Quiz đã được tạo
    trước đó, thầy cô lựa chon Quiz phù hợp, chọn Edit -> để chỉnh sửa các câu hỏi
    sẵn có cho phù hợp với trình độ học sinh.
    d) Bƣớc 4: Giao bài cho học sinh
    – Nếu muốn cho học sinh chơi trực tiếp, thầy cô chọn “Start a live quizizz”.
    – Nếu muốn giao bài cho học sinh làm về nhà, chọn “Assign homework”->
    cài đặt ngày giờ nộp bài cho Quiz -> Continue -> Share link /Copy code gửi vào
    kênh liên lạc cho học sinh để học sinh làm bài.
    * Lưu ý: Có các thông số sau cần phải cài đặt:
    – Custom deadline: Hạn cuối để hoàn thành bài tập.
    – Participant attempts: Số lần học sinh có thể làm bài.
    – Show answers during activity: Cho xem đáp án ngay sau mỗi câu hỏi.
    – Show answers after activity: Cho xem đáp án sau khi làm xong tất cả đề
    kiểm tra.
    26
    Sau khi cài đặt để giao bài cho học sinh
    (Bài ôn tập 1 toán 4C)
    27
    e) Bƣớc 5: Mời học sinh tham gia:
    Có 2 cách để mời học sinh tham gia:
    – Cách 1: Yêu cầu học sinh truy cập trang web joinmyquiz.com và sau đó
    nhập mã code để vào game.
    – Cách 2: Thầy cô bấm chọn “Share link” để chia sẻ đường link với học
    sinh.
    Giáo viên chia sẻ đường Link trong nhóm lớp.
    28
    * Muốn thay đổi không khí học tập giáo viên cho học sinh làm bài trực tiếp
    để tạo không khí thi đua ai làm bài đúng và nhanh nhất. Khi làm trực tiếp giáo viên
    nhắn tin trên nhóm lớp ghi cụ thể giờ bắt đầu làm bài. Đúng đến giờ thì giáo viên
    Share Link để học sinh làm. Hết giờ làm giáo gửi kết quả cùng thứ tự xếp hạng của
    học sinh. Với hình thức này tôi thấy học sinh thích thú vô cùng. Tôi thường áp dụng
    hình thức làm bài trực tiếp đối với những bài học mà học sinh đã nắm vững được
    kiến thức nhưng hoạt động luyện tập củng cố trên lớp c

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số giải pháp góp phần phát triển năng lực tự học môn Toán cho học sinh lớp 5

    SKKN Một số giải pháp góp phần phát triển năng lực tự học môn Toán cho học sinh lớp 5

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Mục tiêu cơ bản của đổi mới giáo dục nước ta trong giai đoạn hiện nay
    là chuẩn bị cho người học khả năng áp dụng kiến thức một cách linh hoạt vào các
    bối cảnh và các vấn đề mới, hình thành thói quen tự học và học tập suốt đời. Để
    thực hiện được điều đó, trong dạy học nói chung và trong dạy học Tiểu học nói
    riêng, cần phát huy tối đa khả năng của người học. Trong đó, thay đổi phương
    pháp dạy học là một trong những yếu tố quan trọng trong thực hiện mục tiêu nói
    trên. Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI cũng nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ
    phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động,
    sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ
    áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến
    khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát
    triển năng lực”;“Phải đổi mới phương pháp giáo dục, đào tạo, khắc phục lối
    truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học, đảm
    bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu”. Định hướng trên được nêu trong
    Luật Giáo dục (2009). Tại điều 5, Luật Giáo dục quy định: “Phương pháp giáo dục
    phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, khả
    năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”. Tại điều 28, Luật Giáo
    dục quy định:“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự
    giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học;
    bồi dưỡng phương pháp tự học….”.
    Như vậy, tự học không chỉ là ý tưởng định hướng giáo dục mà còn là vấn
    đề được quy định trong Luật Giáo dục. Việc hình thành, phát triển năng lực tự học
    cho học sinh là nhiệm vụ hết sức quan trọng đáng quan tâm. Bởi, năng lực tự học
    giúp học sinh có khả năng học tập, tự học suốt đời để có thể tồn tại, phát triển
    trong xã hội tri thức và hội nhập quốc tế. Do đó, việc tìm ra các giải pháp hữu
    hiệu để trang bị cho người học năng lực tự học là nhu cầu bức thiết và mang ý
    nghĩa chiến lược đối với lợi ích trước mắt và lâu dài của ngành Giáo dục nói riêng
    và quốc gia nói chung.
    Tự học là cách học hiệu quả nhất trong cuộc đời của mỗi người. Chính
    vì thế, tự học cần được hình thành ngay từ khi khi đứa trẻ mới đến trường, đặc
    biệt là cấp Tiểu học – cấp học mà việc học tập trở thành hoạt động chủ yếu của
    2
    trẻ. Nhất là khi đại dịch Covid – 19 đang hoành hành khắp nơi trên thế giới, học
    sinh phải tạm dừng việc học ở trường thì việc tự học có ý nghĩa hơn bao giờ hết.
    Cùng với các môn học khác, môn Toán ở trường Tiểu học đóng vai trò
    quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đề ra. Việc dạy học Toán ở Tiểu
    học cần đổi mới phương pháp dạy học để phát triển ở học sinh các năng lực học
    tập, trong đó đặc biệt là năng lực tự học, đây là vấn đề cốt lõi góp phần nâng cao
    chất lượng dạy học nói chung và dạy học môn Toán nói riêng.
    Tuy nhiên, từ thực tiễn ở trường Tiểu học, có thể nhận thấy: Việc phát
    triển năng lực tự học ở học sinh, nhất là các lớp Tiểu học còn nhiều hạn chế. Xuất
    phát từ việc giáo viên chưa có quy trình tổ chức cho học sinh tự học một cách có
    hệ thống. Bên cạnh đó, một số giáo viên còn hạn chế sử dụng các phương pháp
    dạy học mới, dẫn đến tình trạng dạy học áp đạt một chiều gây thói quen ỷ lại của
    học sinh. Về phía học sinh: Còn nhiều học sinh chưa nhận thức đúng đắn về ý
    nghĩa, giá trị của kiến thức Toán học mà tự giác, hứng thú học Toán, chưa biết
    cách tự học. Thực trạng này không những hạn chế kết quả học tập của học sinh
    hiện tại mà càng khó đạt chuẩn đầu ra về các dạng năng lực chung cũng như các
    năng lực Toán học ở trường Tiểu học nói riêng theo mục tiêu mới của chương
    trình GDPT trong giai đoạn tới.
    Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã quyết định nghiên cứu: “Một số
    giải pháp góp phần phát triển năng lực tự học môn Toán cho học sinh lớp
    5”.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    a. Về phía học sinh
    Đánh giá về tầm quan trọng của tự học, 76% học sinh cho rằng tự học rất
    quan trọng, 24% học sinh cho rằng tự học quan trọng. Điều này cho thấy học sinh
    đã nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của tự học. Tuy nhiên, khi khảo sát về
    thời gian của học sinh dành cho tự học, tôi thấy 100% học sinh ngoài thời gian học
    sinh trên lớp dành thời gian tự học nhưng thời gian tự học ở nhà khá ít. Cụ thể, thời
    gian như sau: 34% học sinh dành 30 phút, 32% học sinh dành 15 phút, 16% học
    sinh dành 1 tiếng và 18% học sinh dành trên 1 tiếng.
    Vậy động cơ học sinh học Toán là gì? Kết quả điều tra cho thấy, đa số
    học sinh (33%) tự học Toán vì sợ thầy cô phê bình, sợ cha mẹ phiền lòng, 30%
    học sinh học Toán vì biết được những giá trị, tác dụng do có kiến thức học Toán,
    3
    23% học sinh học Toán vì yêu thích Toán, 14% học sinh cho rằng tự học toán vì
    muốn được khen. Nhìn kết quả này, tôi thấy băn khoăn vì có đến 47% học sinh
    học Toán xuất phát từ động cơ bên ngoài, học Toán không vì đam mê, vì yêu
    thích, vì mong bản thân học được nhiều kiến thức bổ ích mà các em học Toán vì
    sợ cha mẹ, thầy cô phiền lòng, học Toán để đạt điểm cao. Điều này có thể ảnh
    hưởng đến hiệu quả của tự học.
    Trong phần khảo sát, tôi có tìm hiểu về mức độ biểu hiện tự học môn
    Toán của học sinh. Kết quả thu được xếp theo thứ tự từ cao đến thấp như sau:

    Vị
    trí
    Biểu hiệnMức độ
    Thường
    xuyên
    Đôi khibao giờ Không
    1Học môn Toán tập trung, kiên trì
    tìm cách giải quyết khi gặp bài
    Toán khó
    52 %40%8%
    2Tự sửa chữa bài làm sai của mình52%39%9%
    3Tóm tắt kiến thức toán đã học32%64%4%
    4Tự ôn tập, làm thêm bài Toán để
    củng cố kiến thức Tóm tắt kiến
    thức toán đã học
    28%64%8%
    5Chủ động hỏi ý kiến thầy cô, bạn
    bè khi có chỗ không hiểu hay
    muốn hiểu sâu về bài học
    34%51%15%
    6Trình bày kiến thức Toán dưới
    dạng sơ đồ tư duy để thấy rõ mối
    liên hệ
    33%46%21%
    7Thích đọc thêm tài liệu tham
    khảo về Toán để khám phá, mở
    rộng kiến thức
    34%39%27%
    8Tự đánh giá việc học môn Toán
    của bản thân và tự điều chỉnh
    28%43%29%
    9Tự lập kế hoạch học Toán và
    thực hiện kế hoạch đó
    19%41%40%

    Từ bảng trên, ta nhận thấy tự học môn Toán của học sinh được biểu hiện
    rất đa dạng. Dễ dàng nhận thấy rằng: tỉ lệ học sinh trình bày kiến thức Toán dưới
    dạng sơ đồ tư duy để thấy rõ mối liên hệ; thích đọc thêm tài liệu tham khảo về
    Toán để khám phá, mở rộng kiến thức; tự đánh giá việc học môn Toán của bản
    thân và tự điều chỉnh là tương đối thấp; đặc biệt tự lập kế hoạch học Toán và thực
    hiện kế hoạch của học sinh là rất thấp. Điều này, cho thấy việc xây dựng các giải
    4
    pháp nhằm phát triển năng lực tự học cho các em thông qua các việc làm cụ thể
    là rất cần thiết.
    b. Về phía giáo viên
    100% giáo viên nhận thức được các năng lực và phẩm chất cần hình
    thành ngay từ cấp Tiểu học trong đó có năng lực tự học. Khi được trao đổi, các
    thầy cô đều cho rằng việc phát triển năng lực tự học cho học sinh là một nhiệm
    vụ quan trọng. Tuy nhiên, một số giáo viên đang quan tâm nhiều về mục tiêu, nội
    dung, phương tiện dạy học và cách đánh giá hơn là phương pháp dạy học nhằm
    hình thành và phát triển năng lực tự học cho học sinh.
    c. Đánh giá chung
    – Ưu điểm:
    Về phía học sinh: Học sinh nhận thức đúng đắn về ý nghĩa, tác dụng và
    vai trò của tự học, có ý thức tự học, luôn dành thời gian cho tự học. Bước đầu hình
    thành được một số kĩ năng tự học: tự sửa chữa bài, tự thống kê kiến thức học, chủ
    động hỏi thầy cô khi cần giải đáp, tự ôn tập, tự lập kế hoạch học, thích đọc sách
    mở rộng kiến thức tuy mức độ thực hiện chưa thường xuyên.
    Về phía giáo viên: Hầu hết giáo viên đã nhận thức đúng đắn về vai trò
    của tự học, có ý thức rèn luyện giúp học sinh phát triển năng lực tự học, đã quan
    tâm đến các biều hiện tự học của học sinh và bước đầu triển khai một số giải pháp
    giúp học sinh phát triển năng lực tự học như: tạo hứng thú – niềm tin – ý chí cho
    các em khi học Toán, hướng dẫn các em triển khai các hoạt động tự học (lập kế
    hoạch tự học, trải nghiệm thực tiễn tự học, sử dụng các phương tiện tự học), tổ
    chức cho học sinh tự kiểm tra, đánh giá lẫn nhau, giúp đỡ học sinh khi gặp khó
    khăn trong tự học Toán.
    – Hạn chế và nguyên nhân:
    Về phía học sinh: Một số học sinh chưa tích cực tự giác, chưa thường
    xuyên, thời gian cho tự học ít dù được hỗ trợ tự lập kế hoạch tự học, nhưng thực
    hiện chưa nghiêm túc, chưa hiệu quả. Học sinh muốn học chóng xong, cảm thấy
    mất thời gian khi tự học, nản chí, không hứng thú vì chưa xác định được kết quả.
    Có lẽ, do học sinh chưa hiểu được vai trò/ ý nghĩa của môn học. Các kĩ năng tự học
    của học sinh còn hạn chế. Học sinh chưa có kĩ năng lập kế hoạch tự học dẫn đến
    phân bố thời gian học chưa hợp lí.
    Về phía giáo viên: Giáo viên chưa có giải pháp tích cực để phát triển
    năng lực tự học cho học sinh một cách thường xuyên. Giáo viên chưa tận dụng
    5
    hết thời gian học buổi hai trong ngày giúp học sinh tự học. Năng lực dạy học phân
    hóa của giáo viên chưa đáp ứng đa dạng trình độ học sinh trong lớp.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1. Sự cần thiết đề xuất các giải pháp
    Việc phát triển năng lực tự học là yêu cầu quan trọng trong dạy học các
    môn học nói chung và môn Toán ở Tiểu học nói riêng bởi những lí do sau:
    Thứ nhất, kiến thức của nhân loại nói chung, kiến thức của môn Toán
    nói riêng vô cùng nhiều. Trong thời gian ở lớp, giáo viên không thể cung cấp được
    hết các kiến thức. Thay vào đó, giáo viên hình thành các cách tiếp cận tri thức/
    năng lực tự học để có em có phương pháp học, có kĩ năng và thái độ học tập đúng
    đắn, đây là giải pháp phát triển bản thân bền vững theo xu thế của xã hội hiện đại.
    Thứ hai, phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học Toán học
    góp phần tích cực vào đổi mới phương pháp dạy học, hướng tới tích cực hóa hoạt
    động của người học. Học sinh trở thành người chủ động, giáo viên định hướng và
    kiểm soát quá trình học tập.
    Thứ ba, phát triển năng lực tự học cho học sinh trong môn Toán là thực
    hiện mục tiêu đào tạo con người trong thời đại mới. Năng lực tự học rất cần thiết
    cho mỗi con người đặc biệt trong thời kì phát triển mới của đất nước. Đây được
    coi là nội lực thúc đẩy con người tự trau dồi, tự hoàn thiện để thích ứng với cuộc
    sống.
    2.2. Tính mới của giải pháp
    Từ thực tiễn giảng dạy và nhận thấy được sự cần thiết của vấn đề nêu
    trên, tôi đã mạnh dạn áp dụng những giải pháp góp phần phát triển năng lực tự
    học môn Toán cho học sinh lớp 5. Tính mới của giải pháp:
    – Lên kế hoạch và tổ chức thành công Diễn đàn “Em học Toán để làm
    gì”. Qua diễn đàn, tôi đã giúp học sinh hiểu về giá trị của môn Toán. Bản thân tôi
    tìm hiểu được những khó khăn của học sinh khi học Toán để tìm ra hướng giúp
    đỡ các em. Tôi nhận thấy rằng, việc giúp học sinh nhận ra ý nghĩa của Toán học,
    tạo hứng thú, sự tự tin cho học sinh khi học Toán là cách thôi thúc học sinh học
    Toán.
    – Thiết kế được mẫu phiếu Kế hoạch học Toán của em giúp học sinh lên
    được kế hoạch tự học môn Toán mỗi ngày.
    – Thiết kế được tài liệu Cùng em học Toán nhằm giúp học sinh vận dụng
    kiến thức đã được học để giải quyết một số tình huống nêu trong bài, tạo nên được
    6
    hệ thống các bài tập liên kết giữa phụ huynh và học sinh, thiết kế được các hoạt
    động giúp học sinh chuẩn bị bài mới.
    – Thiết kế được các mẫu phiếu phản hồi, tự đánh giá theo ngày, theo
    tuần giúp học sinh tự nhận xét, đánh giá bản thân. Bên cạnh đó, qua phiếu, giáo
    viên cũng biết được các em đã học được gì, còn gặp khó khăn ở nội dung nào để
    có phương hướng giúp đỡ các em.
    – Hướng dẫn học sinh sử dụng các loại tài liệu tham khảo (bao gồm cả
    tài liệu Song ngữ), cung cấp các đường link học tập đáp ứng nhu cầu học Toán
    của học sinh.
    Bên cạnh đó, sáng kiến cũng tạo ra được các hoạt động vận dụng giúp
    học sinh ứng dụng kiến thức Toán học vào thực tiễn, tạo ra các hoạt động tạo lập
    kiến thức mới giúp học sinh tự khám phá kiến thức mới.
    2.3. Một số giải pháp góp phần phát triển năng lực tự học môn Toán cho học
    sinh lớp 5.
    2.3.1. Giúp học sinh nhận thức được ý nghĩa, vai trò của Toán học trong cuộc
    sống thông qua các hoạt động học tập
    Hình thành động cơ học tập cho học sinh qua việc giúp học sinh nhận ra
    ý nghĩa của Toán học là cách thôi thúc học sinh học Toán.
    a. Tổ chức diễn đàn: “Bạn học Toán để làm gì?”
    Theo cá nhân tôi, ngày từ đầu năm học, cần tổ chức diễn đàn, tạo cho học
    sinh cơ hội tranh luận, lấy các ý kiến cá nhân rộng rãi, trao đổi về vấn đề tại sao
    cần học Toán. Thông qua đó, học sinh nhận thấy được ý nghĩa, vai trò của môn
    Toán đối với sinh hoạt hàng ngày, đối với các môn học trong nhà trường và đối
    với sự phát triển của khoa học trong đời sống hiện đại… Bên cạnh đó, qua việc
    tìm hiểu những khó khăn của học sinh khi học Toán trong buổi diễn đàn giúp giáo
    viên có những phương thế hữu hiệu để giúp các em học Toán.
    7
    Một số hoạt động và cách tiến hành:

    Hoạt động 1: Chia sẻ nhận thức về ứng dụng của Toán học
    Mục tiêu: Giúp học sinh nhận ra được các ứng dụng của Toán học và thấy được
    sự cần thiết phải học môn Toán.
    Cách tiến hành:
    – Giáo viên phát cho học sinh tấm thẻ với yêu cầu: “Ghi lại một lí do mà em cho
    là quan trọng nhất để thuyết phục một bạn nên chăm chỉ học môn Toán hơn”.
    – Giáo viên cho học sinh trao đổi trước lớp.
    – Sau khi học sinh chia sẻ xong, giáo viên cùng cả lớp cùng phân tích làm rõ
    một lí do mà đa số cho là quan trọng nhất. Chẳng hạn, đối với học sinh lớp 5,
    chia sẻ về các ứng dụng gần gũi dễ thấy của Toán học như sau: Yêu cầu học
    sinh giải quyết các nhiệm vụ:
    Tình huống: “Từ nhà cô đến trường có thể đi qua 2 con đường. Nhìn vào hình
    vẽ, các con có thể cho cô biết, nên đi đoạn đường nào gần hơn? Vì sao?”
    + Học sinh nêu cách để tìm câu trả lời và thống nhất kết quả.
    + Giáo viên rút ra kết luận: Để giải quyết nhiệm vụ nêu trên nếu tách rời kiến
    thức Toán học thì câu trả lời thiếu căn cứ và mò mẫm.
    – Giáo viên cho học sinh lấy ví dụ thêm về ứng dụng của Toán học trong thực
    tiễn.
    Hoạt động 2: Bàn tay tin cậy
    Mục tiêu: Học sinh chủ động chia sẻ những khó khăn khi học Toán và vẽ bàn
    tay tin cậy liệt kê những người có thể giúp đỡ khi gặp khó khăn trong học Toán.
    Cách tiến hành:
    – Giáo viên chia lớp thành các nhóm. Các nhóm thảo luận và ghi lại những khó
    khăn khi học Toán vào tờ A0. Đây là cơ hội để các em cùng nhau tháo gỡ những
    khó khăn mà các em chưa hoặc ít khi bày tỏ. Qua đó, giáo viên phân tích và tìm
    những giải pháp hữu hiệu giúp các em vượt qua để tự tin – chủ động học Toán.

    8

    – Sau đó, học sinh vẽ bàn tay tin cậy. Trên mỗi đầu ngón tay ghi tên một người
    mà đối với các em có thể giúp đỡ khi các em gặp khó khăn học Toán. Sau 5
    phút, các em chia sẻ trước lớp.

    9
    b. Tổ chức tốt các hoạt động vận dụng trong mỗi tiết học nhằm giúp học sinh
    “mang Toán học vào cuộc sống”
    Theo UNESCO nói với công dân toàn cầu: “Học để biết, học để làm, học
    để chung sống”, theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì dạy học các cấp
    đều hướng tới “Phát triển năng lực người học”. Tuy nhiên, đối với học sinh nhỏ
    tuổi, thì những câu nói đó chỉ như một khẩu hiệu trống rỗng. Vậy làm cách nào
    giúp học sinh nhận ra ý nghĩa và thấy cần thiết tự học các môn học nói chung và
    môn Toán nói riêng? Tôi cho rằng mỗi giáo viên trên cơ sở hiểu rõ đối tượng học
    sinh và thông qua các bối cảnh cụ thể giúp học sinh sử dụng kiến thức môn Toán
    đã học để giải quyết một số nhiệm vụ trong đời sống thực tiễn khi có thể qua mỗi
    tiết học.
    Các hoạt động vận dụng được tổ chức cần được xây dựng thu hút sự tò
    mò, hứng thú của học sinh đồng thời thể hiện được ý nghĩa thực tiễn của nội dung
    Toán được học. Đây vừa là cơ hội để học sinh thực hiện thành công, đạt kết quả
    mong muốn của bài học nhưng đồng thời cũng là thời điểm để học sinh phát triển
    10
    đa dạng các năng lực trí tuệ. Dưới đây, tôi có thiết kế một số hoạt động, giáo viên
    có thể tham khảo linh hoạt để tổ chức cho học sinh:

    Hỗn số
    Mục tiêu: Vận dụng kiến thức đã học về hỗn số để chia đồ vật theo số lượng
    yêu cầu.
    Nội dung: Chia kẹo.
    Cách tiến hành
    – Giáo viên chia lớp thành các nhóm. Với số lượng kẹo được phát, giáo viên yêu
    cầu học sinh lấy số kẹo biểu diễn hỗn số 2 1
    2
    .
    – Sau thời gian 5 phút, đại diện nhóm sẽ trình bày ý tưởng lấy và kết quả.
    – Nhóm nào đúng sẽ giành chiến thắng.
    Bảng đơn vị đo độ dài
    Mục tiêu: Vận dụng kiến thức về đo lường để biểu diễn con đường từ nhà đến
    trường.
    Nội dung: Đường em đến trường.
    Cách tiến hành:
    – Giáo viên phát cho mỗi tờ giấy A4. Nhiệm vụ của của từng học sinh vẽ tấm
    bản đồ biểu thị khoảng cách từ nhà các thành viên trong nhóm đến trường.
    – Hết thời gian, đại diện nhóm báo cáo kết quả. Giáo viên và các thành viên
    trong lớp nhận xét góp ý kiến.

    11

    Bảng đơn vị đo khối lượng
    Mục tiêu: Giúp học sinh biết cân đồ vật và nói được khối lượng của vật.
    Nội dung: Thực hành cân khối lượng đồ vật bằng các cân khác nhau.
    Cách tiến hành:
    – Giáo viên chia lớp thành nhóm 4.
    – Giáo viên chuẩn bị trước một số đồ vật để học sinh thực hành cân tương ứng
    với các loại cân: cân đĩa, cân đồng hồ, cân điện tử.
    – Học sinh thực hành cân theo cách giáo viên đã hướng dẫn nêu kết quả, nói
    kinh nghiệm làm thế nào cân nhanh và chính xác.
    Ôn tập và bổ sung về giải toán
    Mục tiêu: Vận dụng kiến thức về thống kê ghi được giá sản phẩm, qua đó giải
    quyết được mội số tình huống liên quan.
    Nội dung: Làm bảng giá các loại sách giáo khoa.
    Tên sách Giá tiềnCách tiến hành:
    – Giáo viên chia lớp thành nhóm 4.
    – Giáo viên phát cho mỗi nhóm phiếu hoạt động nhóm.
    – Nhiệm vụ của các nhóm thiết kế bảng giá giúp cửa hàng bán đồ sách vở, đồ
    dùng học tập.
    – Hết thời gian, nhóm nào liệt kê nhiều và đúng giá mặt hàng nhất, nhóm đó
    giành chiến thắng.
    – Giáo viên có thể hỏi thêm các câu hỏi liên quan để học sinh thực hành tính
    tiền.
    Chẳng hạn: Muốn mua 1 quyển sách giáo khoa Toán và 1 quyển sách Tiếng
    Việt hết bao nhiêu tiền?……

    12

    Số thập phân
    Mục tiêu: Vận dụng kiến thức đã học về đo lường, đọc – viết số để ghi lại số
    đo của đồ vật.
    Hoạt động: Học sinh sử dụng các dụng cụ đo để đo một số vật: chiều dài của
    bút, chiều rộng của bàn, chiều cao chân bàn, chiều dài, rộng của sách giáo
    khoa,..
    Cách tiến hành:
    – Giáo viên chia lớp thành các nhóm và yêu cầu các nhóm sử dụng các dụng
    cụ đo để đo một số đồ vật và điền vào bảng:
    Tên đồ vật Độ dài (m)BútChân bànChiều dài của bàn……………………- Học sinh trong các nhóm tiến hành đo. Hết thời gian, học sinh báo cáo kết
    quả.
    So sánh số thập phân
    Mục tiêu: Vận dụng so sánh số thập phân để phân tích chiều cao của mỗi thành
    viên trong lớp.
    Nội dung: Học sinh sử dụng các dụng cụ đo để đo chiều cao của các bạn và ghi
    lại theo đơn vị mét. Phân tích bảng và chỉ ra những bạn thấp hơn 1,5 m; những
    bạn cao hơn 1,5 m.
    Cách tiến hành:
    – Giáo viên chia lớp thành các nhóm.
    – Yêu cầu các nhóm sử dụng các dụng cụ đo để đo một số đồ vật và điền vào
    bảng:
    Thành viên Chiều cao(m)Nguyễn Hoàng Tân…………………..……………………- Học sinh trong các nhóm tiến hành đo và phân tích kết quả đo.
    – Hết thời gian, học sinh báo cáo kết quả.

    13

    Các phép tính với số thập phân
    Mục tiêu: Tính được chỉ số BMI và đưa ra được nhận xét về tình trạng cơ thể
    của một người.
    Nội dung: Nhớ và ghi lại chiều cao, cân nặng của các bạn trong nhóm. Sau đó
    thực hành tính chỉ số BMI = Cân nặng: (chiều cao x chiều cao). Thực hành
    phân tích chỉ số:
    Cách tiến hành:
    – Giáo viên chia lớp thành các nhóm.
    – Học sinh ghi lại chiều cao, cân nặng, sau đó tính và phân tích kết quả.
    – Hết thời gian, học sinh báo cáo kết quả.
    Nhóm 5
    BẢNG CHỈ SỐ BMI
    Thành viên Cân nặng ( kg ) Chiều cao ( m) Chỉ số BMINguyễn Duy Hiếu 31 1,35 17,0Đinh Lan Anh 26 1,26 16,4Nguyễn Đức Mạnh 42,5 1,41 21,7Phan Thị Thi 28 1,45 13,3Vũ Yến Nhi 29 1,34 16,2Nhận xét: Nhìn vào bảng ta thấy, bạn Duy Hiếu, Lan Anh, Yến
    Nhi cơ thể phát triển bình thường. Bạn Mạnh thừa cân, bạn Thi thiếu
    cân.

    14

    Tỉ số phần trăm
    Mục tiêu: Vận dụng cách tính tỉ số % để tính được lợi nhuận (lãi – lỗ).
    Nội dung: Nhà kinh doanh tài năng.
    Cách tiến hành:
    – Các nhóm tìm hiểu các mặt hàng dễ tiêu thụ.
    – Lên kế hoạch bán sản phẩm gì/ với số lượng, giá cả như thế nào? (bán sách vở
    đồ dùng cũ,….).
    Mẫu phiếu gợi ý:
    Tổ……
    Các sản phẩm của tổ………….
    Sản phẩm Giá bán Số lượng bán- Tiến hành bán hàng với các bạn trong lớp (tiền quy đổi bẳng thẻ tiền được
    chuẩn bị từ trước đó): thẻ 1000 đồng, thẻ 2000 đồng, thẻ 5000 đồng, thẻ 10000
    đồng.
    – Tính tiền lỗ, lãi sau khi bán.
    Gian hàng tổ 1

    15

    Hình tròn (tương tự như hình tam giác, hình thang)
    Mục tiêu: Tạo ra được sản phẩm có dạng hình tròn.
    Nội dung: Vẽ trang trí hình tròn.
    Cách tiến hành:
    – Giáo viên phát cho mỗi học sinh 1 tờ giấy A4.
    – Nhiệm vụ của học sinh vẽ một sự vật bất kì có hình tròn.
    – Sau khi vẽ xong, học sinh trưng bày, giới thiệu sản phẩm của mình tại góc
    sáng tạo.
    Một số sản phẩm:

    16

    Luyện tập về tính diện tích
    Mục tiêu: Khắc sâu công thức tính diện tích của một số hình phẳng.
    Nội dung: Sáng tác thơ.
    Cách tiến hành:
    – Giáo viên chia lớp thành các nhóm.
    – Các nhóm cùng sáng tác các bài thơ nói về cách tính diện tích các hình phẳng
    đã được học (các nhóm đã được giao nhiệm vụ chuẩn bị trước đó).
    – Hết thời gian, các nhóm cùng chia sẻ. Các tổ nhận xét về tính chính xác của
    các công thức + chấm tổ nào sáng tác hay.
    – Trong quá trình thảo luận nhóm, giáo viên có thể hỗ trợ nếu học sinh cần.
    Dưới đây là bài sáng tác của tổ 3:
    Diện tích các hình
    Muốn tính diện tích hình vuông
    Lấy cạnh nhân cạnh dễ dàng ra ngay.
    Hình chữ nhật dễ lắm thay
    Dài nhân vớ’i rộng ra ngay ấy mà.
    Diện tích tam giác dễ ra
    Chiều cao nhân cạnh chia hai ra liền.
    Hình thang hai đáy cộng liền
    Chiều cao nhân tổng chia hai ra rồi
    Hình tròn thế này bạn ơi
    Bán kính- bán kính bạn đem nhân nào
    Ba phẩy mười bốn nhân vào
    Tính toán cẩn thận thế nào cũng ra.

    17

    Luyện tập (Ôn tập: Hình học không gian)
    Mục tiêu: Vận dụng kiến thức đã được học để tính diện tích xung quanh, diện
    tích toàn phần của một vật dạng hình hộp chữ nhật, hình lập phương.
    Nội dung: Thực hành đo một số đồ vật và tính diện tích xung quanh, diện tích
    toàn phần của hình.
    Cách tiến hành:
    – Giáo viên yêu cầu học sinh đo các đồ vật và tính diện tích xung quanh, diện
    tích toàn phần hình có dạng hình lập phương, hình hộp chữ nhật.
    Biểu đồ hình quạt
    Mục tiêu: Vẽ và phân tích được biểu đồ hình quạt dựa trên số liệu trong đời sống.
    Nội dung: Vẽ biểu đồ hình quạt biểu diễn số học sinh thích chơi đá bóng, số học
    sinh thích chơi đá cầu, số học sinh thích chơi cầu lông.
    Cách tiến hành:
    – Chủ tịch hội đồng tự quản điều hành giúp cả lớp thống kê: Sở thích chơi các
    môn thể thao của học sinh trong lớp.
    – Các nhóm chủ động ghi số lượng vào giấy. Sau đó thực hành vẽ.
    – Hết thời gian, đại diện một số nhóm trình bày, cả lớp nhận xét.

    Môn Số
    lượng%Đá bóng 20 50Đá cầu 10 25Cầu lông 10 25

    18
    2.3.2. Giúp học sinh tự học ở nhà hiệu quả
    a. Hướng dẫn học sinh lập kế hoạch tự học
    Mọi việc sẽ dễ dàng hơn nếu người học xác định được mục tiêu, nội dung
    và phương pháp học. Muốn vậy, người học phải xây dựng kế hoạch học tập.
    Trong quá trình lập kế hoạch học phải chú ý:
    Thứ nhất: Tính vừa sức
    Thứ hai: Tính rõ ràng
    Thứ ba: Tính định hướng về mục tiêu và kết quả cần đạt
    Để học sinh có thể lên được kế hoạch học tập, bản thân giáo viên phải
    nắm vững được chương trình học: nội dung học, thời gian học để trao đổi với học
    sinh.
    Để giúp học sinh tự lập kế hoạch học, tôi gợi ý xây dựng Kế hoạch học
    Toán của em. Kế hoạch học toán của em (dành cho hằng ngày) gồm các mục
    sau:
    Mục 1: Kế hoạch ôn tập (Những nội dung đã học nhưng còn chưa chắc
    chắn, hình thức ôn tập):
    => Thông qua mục này, giúp học sinh hệ thống kiến thức đã học, định
    hướng về những vấn đề cần xem lại, tự ôn tập? Học vào lúc nào? Học như thế
    nào? Xác định nếu gặp khó khăn thì sẽ nhờ trợ giúp từ đâu?
    Mẫu kế hoạch:

    Em sẽ dành thời gian ôn tập nội dung kiến thức Toán nào? Em sẽ ôn nội dung đó
    bằng hình thức nào (đọc lại nội dung lý thuyết, làm bài tập, giải quyết một công
    việc liên quan…)? Em dành thời gian bao lâu để ôn tập?

    \
    Mục 2: Em chuẩn bị (chuẩn bị bài mới như thế nào?): Mục đích định
    hướng học sinh xác định mục tiêu đạt được trong tiết toán tiếp theo, tự lên kế
    hoạch chuẩn bị nội dung học để đạt được mục tiêu đề ra.
    => Thông qua mục này, giúp học sinh chủ động đọc trước bài mới, chuẩn
    bịbài cho bài học hôm sau.
    Mẫu kế hoạch:

    Trong tiết toán tiếp theo, em sẽ học bài nào? Em cần học được gì?
    Em sẽ ôn lại nội dung toán gì để tiếp thu tốt bài học tiếp theo?
    Em sẽ nhờ ai giúp nếu khó khăn hay tự mình chuẩn bị cho tiết Toán tiếp theo?

    19

    Tên: …………….
    Lớp: ……………
    Kế hoạch học Toán của em
    Thứ……ngày…..tháng…..năm….

    Kế hoạch ôn tập
    Em chuẩn bị
    Em sẽ dành thời gian ôn tập nội dung kiến
    thức Toán nào? Em sẽ ôn nội dung đó bằng
    hình thức nào (làm bài tập, đọc, …)?
    ……………………………………………
    ……………………………………………
    ……………………………………………
    ………….…………………………………
    Em dành thời gian bao lâu để ôn tập ?
    ……………………………………………
    …………………………………………….
    Trong tiết Toán tiếp theo, em sẽ học bài:
    ………………………………………
    Em muốn mình sẽ học được gì?
    ……………………………………………
    ……………………………………………
    …………………………………………..
    Em sẽ ôn lại nội dung gì để chuẩn bị cho
    tiết Toán tiếp theo?
    ……………………………………………
    ……………………………………………
    …………………………………………..
    Em gặp khó khăn thì sẽ nhờ trợ giúp từ ai
    hay tự mình chuẩn bị giải quyết?
    …………………………………………
    ……………………………………………
    ……………………………………………
    20
    b. Thiết kế các hoạt động hỗ trợ học sinh tự học ở nhà
    Việc tạo đam mê, hứng thú, yêu thích môn học là một trong những yếu
    tố giúp học sinh khắc phục được những khó khăn, sự mệt mỏi trong quá trình học
    tập. Vì vậy, trên cơ sở gợi ý theo mẫu phiếu Kế hoạch học Toán của em, tôi đã
    thiết kế tài liệu Cùng em học Toán. Các hoạt động trong tài liệu được thiết kế
    không chỉ giúp học sinh ôn tập được kiến thức đã học trên lớp dưới nhiều hình
    thức mà còn hướng dẫn các em chuẩn bị nội dung cho bài học mới phù hợp với
    đặc điểm của học sinh Tiểu học là tự học có hướng dẫn. Nội dung tài liệu tôi thiết
    kế gồm 3 phần:
    A. Thực hành
    Học sinh sẽ vận dụng kiến thức Toán được học trên lớp để thực hành.
    B. Học Toán cùng người thân
    Học sinh sẽ thực hiện nhiệm vụ học tập cùng với người thân trong gia
    đình. Phụ huynh có cơ hội được đồng hành cùng con học, tạo sự gắn kết gia đình,
    niềm vui cho mọi người.
    21
    C. Thử sức
    Phần này lồng ghép kiến thức của bài học hôm sau. Học sinh sẽ nghiên
    cứu, tìm tòi và đưa ra kết quả của bài tập.
    Dưới đây là một số ví dụ minh họa:

    Ôn tập phân số
    A. Thực hành
    Bài 1. Em hãy biểu diễn phân số: 2
    5,
    1 4
    ,
    2 3
    .
    Bài 2. Em hãy cắt một đoạn dây 20 cm, chia đoạn dây thành 5 phần, cắt lấy 2
    phần của đoạn dây đó.
    B. Học Toán cùng người thân
    Em hãy viết một phân số, rồi hỏi những người trong gia đình một phân số bằng
    phân số em vừa viết.
    C. Thử sức
    Đố em chuyển được phân số 2
    5
    thành phân số có mẫu số là 10, 100, 1000,…
    Những phân số mới vừa tìm được theo em còn có tên gọi là gì?
    Phân số thập phân
    A. Thực hành
    Bài 1. Ghi lại hiểu biết của em về phân số thập phân.
    Lấy 2 ví dụ minh họa.

    22

    Bài 2. Chuyển các phân số sau về phân số thập phân có mẫu số bằng 100: 2
    5,
    7
    25,
    8
    10
    ,
    9 2
    ,
    17
    4
    .
    B. Học Toán cùng người thân
    Cùng những người trong gia đình viết 10 phân số bất kì.
    Khoanh vào phân số có thể chuyển thành phân số thập phân. Tổ chức cuộc thi,
    ai khoanh đúng nhiều hơn sẽ giành chiến thắng.
    C. Thử sức
    Số thành viên trong gia đình em là…….
    Lấy số đó cộng với 2
    5
    được kết quả……..
    Lấy số đó trừ đi 2
    5
    được kết quả…………
    Lấy số đó nhân với 2
    5
    được kết quả………
    Lấy số đó chia cho 2
    5
    được kết quả………..
    Các phép tính với phân số
    A. Thực hành
    Bài 1. Tỉ số giữa thành viên nam và nữ trong gia đình em là………
    Lấy số đó cộng, trừ, nhân, chia với số thành viên trong gia đình lần lượt được
    kết quả là………………., ………………, …………………….
    Bài 2. Có 1 số quả bóng (như hình vẽ) gồm 3 loại bóng màu xanh, đỏ, vàng.
    Tô màu đỏ vào 1
    3
    số bóng, tô màu xanh vào 1
    2
    số bóng.
    Phân số chỉ số quả bóng màu vàng là………Tô màu vàng vào số bóng đó.
    B. Học Toán cùng người thân
    Em nhờ bố mẹ lấy 2 phân số bất kì. Lập các phép tính có thể có và cho đáp số.
    C. Thử sức
    a. Mẹ cho Minh 2 chiếc bánh. Vẽ hình biểu diễn số bánh mẹ cho Minh.
    b. Mẹ cho Minh thêm 1
    4
    chiếc bánh. Vẽ hình biểu diễn số bánh mẹ cho Minh
    thêm.
    c. Vẽ hình biểu diễn số bánh mẹ cho Minh tất cả.

    23

    Hỗn số
    A. Thực hành
    Bài 1. Vẽ hình biểu diễn hỗn số 2 2
    3
    , 1 1
    4
    Bài 2. Ba bạn Phương, Hà, Thương cùng đi hái dâu tây. Phương hái được 1 hộp
    và 1
    2
    hộp, Hòa hái được 1 hộp và 3
    4
    hôp, Dương hái được số dâu tây bằng tổng
    số dâu tây của hai bạn.
    Viết hỗn số biểu diễn số hộp dâu tây mà mỗi bạn hái được.
    B. Học Toán cùng người thân
    Nhờ bố mẹ viết giúp 2 hỗn số. Hãy lập các phép tính và tính kết quả của phép
    tính. Hãy nhờ bố mẹ kiểm tra khi làm xong nhé!
    C. Thử sức
    Tìm hiểu một số giá tiền của các loại sách giáo khoa và tự lập bảng (gợi ý: tên
    sách, giá tiền/1 quyển). Tự đặt 1 bài toán dạng rút về đơn vị em đã được học từ
    lớp dưới.
    Giải toán có lời văn
    A. Thực hành
    Bài 1. Tìm hiểu trên thị trường giá của 1 thùng sữa Milo. Sau đó, hoàn thành
    bảng sau:
    Số thùng sữa 1 thùng 2 thùng 3 thùngSố tiền( đồng)Khi số thùng sữa tăng lên bao nhiêu lần thì số tiền……………………………………..
    Bài 2. Hoàn thành bảng sau:
    Số bánh ở mỗi hộp 2 4 6Số hộp đựng bánh 60Khi số bánh ở mỗi hộp tăng lên thì số hộp đựng bánh…………………………
    B. Học Toán cùng người thân
    Cùng mọi người trong gia đình lên thực đơn cho bữa trưa ngày mai.
    C. Thử sức
    Đơn vị tính của tiền mà em biết là: ………………………………………….
    Theo em, đơn vị đo độ dài là: ……………………………………………….

    24

    Bảng đơn vị đo độ dài
    A. Thực hành
    Bài 1. Vẽ sơ đồ biểu thị mối quan hệ giữa các đơn vị đo độ dài.
    Bài 2. Điền đơn vị đo thích hợp
    a. Chiều dài của lớp học là 8 …
    b. Chiều dài của quyển vở là 20………….
    c. Quãng đường từ thành phố Nam Định đến thủ đô Hà Nội khoảng 86…….
    d. Quãng đường từ nhà em đến trường khoảng 1700…
    B. Học Toán cùng người thân
    Thực hành đo chiều cao của từng thành viê

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Phát triển năng lực học sinh lớp 5 thông qua các bài toán tìm vận tốc trong các tình huống thực tế

    SKKN Phát triển năng lực học sinh lớp 5 thông qua các bài toán tìm vận tốc trong các tình huống thực tế

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Năm học 2020 – 2021 là năm học đầu tiên thực hiện chương trình GDPT 2018.
    Một trong những điểm mới nhất là đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá
    theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Trong đó môn Toán có vai trò quan trọng,
    hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất, năng lực chung và các năng lực
    toán học với các thành tố cốt lõi là: năng lực tư duy và lập luận toán học, năng lực mô
    hình học toán học, năng lực giải quyết vấn đề toán học, năng lực sử dụng các công cụ và
    phương tiện học toán; phát triển các kiến thức, kĩ năng then chốt và tạo cơ hội để học
    sinh trải nghiệm, áp dụng toán học vào đời sống thực tiễn. Đồng thời môn Toán giúp
    học sinh bước đầu xác định được năng lực, sở trường của bản thân nhằm định hướng và
    lựa chọn nghề nghiệp, rèn luyện nhân cách để trở thành người lao động và người công
    dân có trách nhiệm.
    Trong chương trình toán lớp 5, một trong những nội dung mà các em được học là
    toán chuyển động đều. Đây là một mảng kiến thức quan trọng nhưng lại chiếm một thời
    lượng nhỏ và tương đối trừu tượng đối với học sinh nên việc nắm bắt kiến thức về dạng
    toán này của các em còn chưa sâu. Học sinh còn vận dụng máy móc công thức để tính,
    chưa hiểu bản chất của vấn đề. Việc vận dụng các kiến thức chuyển động vào thực tiễn
    cuộc sống của các em còn nhiều hạn chế.
    Các bài toán chuyển động có nhiều ứng dụng trong thực tế cuộc sống, chúng cung
    cấp lượng vốn sống hết sức cần thiết cho học sinh. Trong đó thì các bài tập về tính vận
    tốc là một nội dung rất hay và thú vị, gắn nhiều với thực tiễn cuộc sống. Chúng cung cấp
    cho học sinh những kiến thức cơ bản về toán chuyển động và có nhiều ứng dụng trong
    thực tế cuộc sống. Mặt khác các bài toán vận tốc còn có tính tích hợp rất cao, nó tích
    hợp các kiến thức nội môn, liên môn, tăng vốn hiểu biết về an toàn giao thông. Các kiến
    thức trong toán chuyển động là những điều mà các em thường gặp và vận dụng thông
    qua việc tham gia giao thông hàng ngày. Đặc biệt là kiến thức về vận tốc của một vật
    hoặc một phương tiện giao thông. Nhờ hiểu được thế nào là vận tốc sẽ giúp các em có kĩ
    năng tính vận tốc của vật, của người, của phương tiện, từ đó giáo dục học sinh ý thức
    tham gia giao thông, ý thức về giờ giấc. Các em có thể lên kế hoạch cho những buổi đi
    2
    học, đi chơi, tham quan, du lịch,…qua đây học sinh có thể đưa ra thời gian biểu cho
    những công việc cụ thể trong ngày. Các em bước đầu biết lập kế hoạch, phân chia thời
    gian để thực hiện kế hoạch,… Xuất phát từ việc tìm hiểu nguyên nhận của những vướng
    mắc, tồn tại, hạn chế của giáo viên và học sinh khi dạy và học về toán chuyển động đều
    nói chung và vận tốc nói riêng. Tôi đưa ra sáng kiến: “Phát triển năng lực học sinh lớp
    5 thông qua các bài toán tìm vận tốc trong các tình huống thực tế”. Trong quá trình
    giảng dạy tôi và đồng nghiệp của mình đã thực hiện biện pháp này và đã đạt được những
    hiệu quả tốt .
    PHẦN II: MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Thực trạng việc dạy và học nội dung toán chuyển động đều trong chương
    trình toán 5.
    a) Ưu điểm:
    – Xác định đúng dạng toán: tìm vận tốc, tìm quãng đường, tìm thời gian.
    – Biết áp dụng công thức để tìm vận tốc trong các bài toán có các yếu tố tường
    minh và đa số học sinh biết áp dụng công thức để tính vận tốc trong các bài toán có các
    yếu tố chưa tường minh (mức độ 2)
    – Biết thực hiện giải và trình bày bài lời giải bài toán, hiểu và viết đúng đơn vị của
    đại lượng đo vận tốc.
    – Giáo viên thực hiện tốt phân phối chương trình, nội dung môn học, nhiều giáo
    viên đã tích cực trong việc đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học
    – Bước đầu đã gắn kết các bài học với thực tế để phát triển năng lực, phẩm chất
    học sinh.
    b) Hạn chế và nguyên nhân hạn chế:
    * Hạn chế:
    – Tính sai, viết sai đơn vị đo vận tốc; chuyển đổi, tính toán đơn vị đo thời gian sai
    – Nhầm lẫn giữa: khoảng thời gian đi, thời gian nghỉ, thời điểm đến và thời điểm
    xuất phát
    – Khó khăn trong việc tìm vận tốc trung bình của một chuyển động có vận tốc
    thay đổi trên một đoạn đường
    3
    – Chưa phát hiện được vấn đề khi gặp các bài toán chuyển động gắn với các tình
    huống thực tế
    *Nguyên nhân hạn chế:
    – Học sinh chưa hiểu bản chất của các đại lượng trong một chuyển động. Đặc biệt
    là chưa hiểu về vận tốc nên việc sai tên đơn vị, máy móc áp dụng công thức tính.
    – Kỹ năng chuyển đổi đơn vị đo thời gian, kỹ năng tính toán với các số đo thời gian
    còn chưa thành thạo.
    – Một số giáo viên chưa thật sự coi trọng việc đổi mới phương pháp, chưa khai thác
    triệt để vốn hiểu biết, vốn sống của học sinh, các phương tiện, đồ dùng dạy học; chưa
    chú trọng dạy học phát triển năng lực, chưa gắn kết các bài tập với thực tiễn cuộc sống
    nên học sinh không có cơ hội trải nghiệm thực tế nhiều về các chuyển động.
    2. Nội dung các biện pháp:
    2.1. Củng cố cho học sinh các kiến thức liên quan trước khi các em tìm hiểu về vận
    tốc
    a) Rèn kĩ năng đổi đơn vị đo thời gian:Trong quá trình giải các bài toán về tính
    vận tốc, quãng đường, thời gian học sinh thường phải đổi đơn vị đo thời gian, phổ biến
    là 2 trường hợp sau:
    – Chuyển các số đo thời gian có tên 2 đơn vị đo sang tên 1 đơn vị: Tôi lưu ý học
    sinh với những trường hợp có tên 2 đơn vị đo mà đơn vị đo bé chia hết cho 3 thì có thể
    đổi được về cả dạng phân số và số thập phân; trường hợp đơn vị đo bé không chia hết
    cho 3 thì chỉ có thể đổi được về dạng phân số để học sinh không lúng túng khi đổi.

    Ví dụ 1: 2 giờ 30 phút = …..giờ?
    a) Tôi hướng dẫn học sinh 2 cách đổi như sau:
    b) 2 giờ 20 phút = …giờ?

    Cách 1: 2 giờ 30 phút = 2 giờ + 0,5 giờ = 2,5 giờ
    Cách 2: 2 giờ 30 phút = 2 giờ = giờ = 2,5 giờ
    b) 2 giờ 20 phút = …giờ?
    Tôi hướng dẫn học sinh đổi như sau: 2 giờ 20 phút = 2 giờ = giờ
    + Chuyển các số đo thời gian từ tên 1 đơn vị sang tên 2 đơn vị:
    4
    Trường hợp này được sử dụng để tìm thời điểm xuất phát hoặc thời điểm đến trong
    các chuyển động (ví dụ ta nói ô tô đến nơi lúc 2giờ 20 phút chứ không nói ô tô đến nơi
    lúc giờ). Tôi hướng dẫn học sinh như sau:
    Ví dụ: a) 2,5giờ =……giờ……phút? b) giờ =……giờ……phút?
    Tôi hướng dẫn học sinh tách rồi đổi như sau:
    +Tách 2,5giờ = 2giờ + 0,5giờ = 2 giờ + 0,5 x 60 (phút) = 2 giờ 30 phút (vì 1giờ
    =60phút)
    + Chuyển giờ = 2 giờ = 2 giờ + giờ = 2 giờ 20 phút
    b) Thực hiện thành thạo các phép tính với số đo thời gian: Tôi đặc biệt lưu ý 2
    phép tính cộng và trừ số đo thời gian, vì 2 phép tính này liên quan rất nhiều tới các bài
    toán chuyển động về tính vận tốc.
    + Với phép cộng số đo thời gian: Tôi lưu ý học sinh bước đổi sau khi tính với những
    phép tính có kết quả đơn vị bé lớn hơn 1 đơn vị lớn. Ví dụ như:
    1 giờ 30 phút + 2 giờ 45 phút = 3 giờ 75 phút
    Vì 1 giờ = 60 phút mà 75 phút > 60 phút nên bằng cách lấy 75 : 60 = 1 (dư 15) sẽ đổi
    được 75 phút = 1 giờ 15 phút
    Vậy 1 giờ 30 phút + 2 giờ 45 phút = 4 giờ 15 phút
    + Với phép trừ số đo thời gian: Tôi lưu ý học sinh bước đổi trước khi tính với trường
    hợp số đơn vị bé của số bị trừ bé hơn số đơn vị bé của số trừ. Ví dụ như:
    7 giờ 5 phút – 6 giờ 55 phút = ?
    Vì 5 phút < 55 phút nên chưa thể trừ ngay được, nên sẽ đổi số bị trừ bằng cách tách 1
    giờ từ 7giờ và đổi 1 giờ = 60 phút, sau đó cộng 60 phút với 5 phút bằng 65 phút nên: 7
    giờ 5phút = 6 giờ 65 phút. Lấy 6 giờ 65 phút – 6 giờ 55 phút = 10 phút
    Vậy 7 giờ 5 phút – 6 giờ 55 phút = 10 phút
    – Ngoài ra, trong phép trừ số đo thời gian tôi lưu ý học sinh trường hợp bài toán cho thời
    điểm đến hoặc xuất phát là giờ kém, nhiều học sinh chưa biết chuyển đổi sang giờ hơn
    mà đi tính luôn nên bị sai.
    5
    Ví dụ: Một người đi xe máy từ nhà lúc 7 giờ 45 phút và đến thành phố lúc 10 giờ
    kém 10 phút. Thời gian người đó đi từ nhà đến thành phố là bao lâu?
    Với bài toán trên học sinh không thể thực hiện ngay phép tính trừ số đo thời gian
    mà phải đổi từ 10 giờ kém 10 phút sang giờ hơn. Tôi hướng dẫn học sinh, vì 1 giờ = 60
    phút, nên 10 giờ kém 10 phút chính bằng 9 giờ 50 phút. Sau đó mới lấy 9 giờ 50 phút –
    7 giờ 45 phút = 2 giờ 5phút.
    c) Giúp học sinh hiểu và xác định rõ : “thời gian đi” “thời gian nghỉ” với “thời
    điểm xuất phát” và “thời điểm đến”: Để tính được vận tốc học sinh lấy quãng đường
    chia cho thời gian đi mà thực tế bài toán lại cho thời gian là thời điểm xuất phát hoặc
    thời điểm đến nên học sinh rất dễ nhầm lẫn. Tôi lưu ý học sinh các trường hợp sau đây:
    – TH1: Thời điểm xuất phát và thời điểm đến trong cùng một ngày:
    Từ việc học sinh đã được làm quen với xem đồng hồ ở các lớp dưới, tôi đưa ra
    một chuyển động đơn giản như sau :
    Từ mô hình đơn giản trên, học sinh hiểu được mốc thời gian xe xuất phát từ A lúc 8 giờ
    (kim đồng hồ chỉ 8 giờ) thì đó chính là thời điểm xuất phát, mốc thời gian xe đến B lúc
    10 giờ đó chính là thời điểm đến, còn khoảng thời gian chỉ quá trình xe đi từ A đến B từ
    8 giờ đến 10 giờ (lấy 10 giờ – 8 giờ = 2 giờ) là thời gian đi.
    Tôi lưu ý học sinh 2 trường hợp sau:

    Nếu xe đi từ A đến B không nghỉ dọc đường thì:
    Thời gian đi = Thời điểm đến – Thời điểm xuất phát

    – Nếu xe đi từ A đến B mà xe có nghỉ dọc đường thì:
    Thời điểm xuất phát
    8 giờ
    88
    Thời điểm đến
    10 giờ
    Thời gian đi
    2 giờ
    A 8 8
    B 8 8
    6
    Thời gian đi = Thời điểm đến – Thời điểm xuất phát – Thời gian
    nghỉ.
    Ví dụ 1 : Bạn Lan đi học từ nhà lúc 6 giờ 55 phút và đến trường lúc 7 giờ 5 phút.
    Tính
    thời gian Lan đi từ nhà đến trường?
    Ta minh họa bằng sơ đồ sau:
    Việc vẽ sơ đồ đoạn thẳng giúp HS xác định đúng thời điểm xuất phát, thời điểm đến từ đó sẽ
    tính thời gian Lan đi từ nhà đến trường
    Từ sơ đồ, HS dễ dàng tính được thời gian bạn Lan đi học từ nhà đến trường là:
    7 giờ 5 phút – 6 giờ 55 phút = 10 phút
    Ví dụ 2 : Một ô tô đi từ Hà Nội lúc 6 giờ 20 phút và đến Hải Phòng lúc 9 giờ 5 phút.
    Dọc đường xe có dừng lại nghỉ 15 phút để đổ xăng. Tính thời gian xe đi liên tục từ
    Hà Nội đến Hải phòng?
    Học sinh sẽ dễ dàng tính được:
    Thời gian ô tô đi từ Hà Nội đến Hải Phòng không kể thời gian nghỉ là:
    9 giờ 5 phút – 6 giờ 20 phút – 15 phút = 2 giờ 30phút
    Từ các ví dụ trên học sinh cũng sẽ đễ dàng tự rút ra được cách tính thời điểm xuất phát
    hoặc thời điểm đến khi biết các yếu tố thời gian còn lại:
    Thời điểm đến = Thời điểm xuất phát + Thời gian đi + Thời gian nghỉ ( nếu có)
    Hoặc Thời điểm xuất phát = Thời điểm đến – Thời gian đi – Thời gian nghỉ ( nếu có)
    – TH2: Thời điểm xuất phát và thời điểm đến không trong cùng một ngày:
    Thời điểm xuất phát
    6 giờ 55 phút
    Thời điểm đến
    7 giờ 5 phút
    Nhà Trường
    Thời gian đi?
    Thời điểm xuất phát
    6 giờ 20 phút
    Thời điểm đến
    9 giờ 5 phút
    Hà Nội Hải Phòng
    Nghỉ 15 phút
    7
    Ví dụ: Tàu xuất phát từ Hà Nội lúc 22 giờ và đến Lào Cai lúc 6 giờ sáng hôm sau.
    Tính thời gian tàu đi từ Hà Nội đến Lào Cai?
    Ở bài toán trên thời điểm xuất phát và thời điểm đến không cùng một ngày, tôi hướng
    dẫn học sinh xác định thời gian đi của tàu theo 2 cách sau đây:
    – Cách 1: Liệt kê sau đó đếm số giờ:
    22giờ 23giờ 24giờ 1giờ 2giờ 3giờ 4giờ 5giờ 6giờ
    Như vậy thời gian tàu đi từ Hà Nội đến Lào Cai là 8 giờ.
    – Cách 2: Tính riêng thời gian đi trong từng ngày sau đó tính tổng thời gian đã đi trong 2
    ngày:
    + Thời gian tàu đi ngày hôm trước: 24giờ – 22giờ = 2 giờ
    + Thời gian tàu đi ngày hôm sau: 6giờ – 0giờ = 6 giờ
    Như vậy thời gian tàu đi từ Hà Nội đến Lào Cai là: 2 + 6 = 8 (giờ).
    2.2. Tổ chức cho học sinh trải nghiệm tìm hiểu về vận tốc.
    a) Vận dụng vốn hiểu biết của học sinh để hình thành biểu tượng vận tốc:
    Tôi tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động quan sát các chuyển động (ảnh hoặc
    video) và sắp xếp theo thứ tứ nhanh dần hoặc chậm dần của các chuyển động để khai
    thác vốn hiểu biết của các em.
    Ví dụ 1: Tôi đưa ra 6 bức ảnh: người đi bộ, người chạy, xe đạp, xe máy, ô tô, máy bay
    8
    Bằng kiến thức thực tế học sinh sẽ xếp thứ tự từ nhanh dần là: đi bộ – chạy – đi xe đạp –
    xe máy – ô tô – máy bay
    Ví dụ 2 : Tôi đưa ra các bức tranh 3 con vật như :
    Học sinh cũng sẽ dễ dàng biết được thứ tự chạy từ chậm đến nhanh là: Rùa – Thỏ –
    Chuột túi
    Qua hoạt động này học sinh bước đầu hiểu về tốc độ của một con vật hoặc một
    phương tiện gần gũi xung quanh mà thường ngày các em gặp và quan sát được.
    b) Tổ chức học sinh tìm tòi khám phá cách tính vận tốc của một chuyển động:
    + Tôi tổ chức cho học sinh chơi theo nhóm tìm hiểu vận tốc thông qua trò chơi “
    Tìm quãng đường đi được trong 1 giờ, 1 phút, 1 giây”. Mỗi nhóm sẽ được phát 1 phiếu
    bài tập, các nhóm thảo luận điền kết quả, nhóm nào nhanh nhất sẽ là nhóm thắng cuộc.
    PHIẾU HỌC TẬP
    Nhóm:……………………………….
    Viết tiếp vào chỗ chấm cho thích hợp:

    1-Một người đi xe máy đi được quãng đường 120km hết 3 giờ. Trung bình mỗi giờ
    người đó đi được …………km.
    2-Một người đi bộ đi được quãng đường 150m hết 3 phút. Trung bình mỗi phút người
    đó đi được …………m.
    3-Một người chạy quãng đường 12m hết 2 giây . Trung bình mỗi giây người đó đi được

    9

    …………m.

    + Học sinh báo cáo kết quả, GV giới thiệu đại lượng vân tốc.

    1- Trung bình mỗi giờ xe máy đi được 40km. Ta nói rằng: Vận tốc của xe máy là
    40km/giờ
    2- Trung bình mỗi phút người đi bộ được 50m. Ta nói rằng: Vận tốc của người đi bộ là
    50m/phút
    3- Trung bình mỗi giây người đi chạy được 6m. Ta nói rằng: Vận tốc của người chạy là
    6m/giây

    Cho học sinh tự phát hiện cách tính vận tốc:
    Muốn tính vận tốc ta lấy quãng đường chia cho thời gian (v = s : t)
    – Cách xác định đơn vị vận tốc:

    Stv
    kmgiờkm/giờ
    mphútm/phút
    mgiâym/giây

    * Cách đổi đơn vị vận tốc thông qua ví dụ:
    Vân tốc của máy bay là 810km/giờ.Tính:
    a) Vận tốc của máy bay ra đơn vị m/phút
    b) Vận tốc của máy bay ra đơn vị m/giây
    Tôi hướng dẫn học sinh đổi 810 km/giờ ra đơn vị m/phút như sau:
    810 km/giờ = 810000m/giờ mà 1 giờ = 60 phút nên 1 phút đi được 810 000 : 60 =
    13500m.
    Vậy 810km/giờ = 13500m/phút
    mà 1phút = 60 giây nên 1 giây đi được 13500 : 60 = 225 m/giây
    Vậy 810km/giờ = 225m/giây
    c) Giúp học sinh nhận biết được vận tốc thực tế của một số chuyển động
    thường gặp trong đời sống thông qua các bài tập đơn giản ( Bài tập áp dụng công
    thức tính vận tốc – M1)
    10
    Trong quá trình học sinh luyện tập, thực hành tôi giới thiệu cho học sinh một số bài
    tập trong các tình huống thực tế gần gũi để học sinh nhận biết một số chuyển động
    thường gặp trong cuộc sống. Một mặt giúp các em củng cố cách tính vận tốc mặt khác
    giúp học sinh nắm được các kiến thức thực tế về chuyển động của vật trong đời sống, từ
    đó sẽ biết tự đánh giá và tham gia đánh giá kết quả bài làm của bạn khi giải các bài toán
    về vận tốc bằng nhiều cách khác nhau thông qua tính toán hay phán đoán,…Từ đó tích
    lũy cho mình vốn hiểu biết về thực tế, các em biết vận tốc của các phương tiện giao
    thông trong thực tế như:
    – Vận tốc các phương tiện như xe đạp, xe máy, ô tô, máy bay khoảng:

    + vận tốc xe đạp khoảng 15km/giờ
    + vận tốc ô tô khoảng 60 km/giờ
    km/giờ
    – Vận tốc của người đi bộ, chạy,… khoảng:
    + vận tốc đi bộ: 3m/giây (10km/giờ)
    + vận tốc xe máy khoảng 40 km/giờ
    + vận tốc máy bay khoảng 900
    + vận tốc chạy khoảng 60m/giây

    – Tôi giới thiệu học sinh:
    + Trong hàng hải người ta thường dùng “nút” làm đơn vị đo vận tốc, 1 nút = 1 hải
    lí = 1,852km
    + Vận tốc ánh sáng là 300000km/giây.
    Các bài tập vận dụng:
    Ví dụ1: Một người đi xe máy đi được quãng đường 160km hết 4 giờ. Tính vận tốc của
    người đi xe máy?
    Ví dụ 2: Máy bay Bô-ing bay được quãng đường 2850km trong 3 giờ. Hãy tính vận tốc
    của máy bay?
    Ví dụ 3: Một người chạy 350m trong 1 phút 10 giây.Tính vận tốc chạy của người đó với
    đơn vị m/giây?
    Ví dụ 4: Một xe taxi đi được quãng đường 120km trong 2 giờ. Hãy tính vận tốc của
    taxi?
    Ví dụ 5: Một người đi xe đạp đi được 7 km trong 30 phút. Tính vận tốc của người đi xe
    đạp với đơn vị km/giờ?
    11
    2.3. Phát triển tư duy, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh qua một
    số dạng toán về vận tốc:
    Các bài toán về tính vận tốc rất phong phú về nội dung, khi học sinh đã nắm vững
    các kiến thức cơ bản về tính vận tốc, tùy theo trình độ học sinh trong lớp, tôi phát triển
    mở rộng một số dạng toán về tìm vận tốc nhằm phát triển ở các em năng lực giải quyết
    vấn đề và sáng tạo trước các tình huống mới, phát huy tối ưu năng lực mỗi bản thân học
    sinh. Tôi đã đưa ra một số dạng toán về vận tốc với các tình huống mới sau đây:
    a) Tính vận tốc trung bình của một chuyển động có vận tốc thay đổi trên đường:
    Trong thực tế thì ít có một phương tiện nào có thể duy trì vận tốc giống nhau trên
    suốt quá trình chuyển động dài, vậy muốn tính vận tốc trung bình của phương tiện đó,
    chúng ta hướng dẫn HS thế nào. Tôi đưa ra một số tình huống như sau:
    Bài toán 1: Một ô tô đi từ Nam Định lên Hà Nội, nửa thời gian đầu ô tô đi với vận tốc
    40km/giờ, nửa thời gian sau ô tô đi với vận tốc 50km/giờ. Tính vận tốc trung bình của
    ô tô trên cả quãng đường từ Nam Định đến Hà Nội?
    – Với bài toán này vì 2 nửa thời gian bằng nhau nên cứ 1 giờ ô tô đi với vận tốc
    40km/giờ thì lại có 1 giờ ô tô đi với vận tốc 50km/giờ, vì vậy học sinh chỉ dựa vào kiến
    thức tìm số trung bình cộng ở lớp dưới đã được học và làm như sau:
    Giải: Vận tốc trung bình của ô tô trên cả quãng đường là:
    ( 40 + 50 ) : 2 = 45 (km/giờ)
    Qua bài toán này, tôi cho HS rút ra nhận xét: Thời gian đi như nhau thì vận tốc
    trung bình bằng trung bình cộng của các vận tốc.
    Bài toán 2: Một người đi xe máy từ nhà lên thành phố, trong 2 giờ đầu, mỗi giờ
    người đó đi được 36km. Trong 3 giờ sau, mỗi giờ người đó đi được 40km. Tính vận
    tốc trung bình của người đó trên cả đoạn đường từ nhà lên thành phố?
    – Với bài toán này học sinh rất dễ nhầm sang dạng toán trung bình cộng để tìm
    vận tốc trung bình như lấy: (36+40) : 2 = 38 (km/giờ). Chính vì vậy, việc giúp các em
    hiểu ở đây cả quãng đường và thời gian đi với 2 vận tốc là không bằng nhau nên tìm vận
    tốc trung bình như vậy là chưa đúng.
    Bài giải đúng: Quãng đường người đó đi trong 2 giờ đầu là:
    12
    36 x 2 = 72 (km)
    Quãng đường người đó đi trong 3 giờ sau là:
    40 x 3 = 120 (km)
    Vận tốc trung bình của người đó trên cả đoạn đường từ nhà lên thành phố
    là:
    ( 72+120) : (2 +3) = 38,4 (km/giờ)
    Bài toán 3: Quãng đường từ nhà về quê dài 56 km. Một người đi xe máy từ nhà hết 1
    giờ 30 phút thì về đến quê. Đến chiều người đó lại từ quê trở về nhà của mình, do tắc
    đường nên người đó đi mất 2 giờ mới về đến nhà. Tính vận tốc trung bình của người
    đó trên cả quãng đường cả đi lẫn về?
    – Với bài toán trên ta thấy độ dài quãng đường cả đi lẫn về đều bằng nhau nên
    tổng
    quãng đường cả đi lẫn về sẽ bằng: 56 x 2 = 112 (km) và tổng thời gian cả đi lẫn về là:
    1giờ 30phút + 2 giờ = 3 giờ 30 phút = 3,5 giờ. Như vậy vận tốc trung bình của ô tô trên
    cả quãng đường cả đi lẫn về là: 112 : 3,5 = 32 (km/giờ).
    Bài toán 4: Quãng đường từ nhà về quê dài 18km. Một người đi xe đạp từ nhà về quê
    với vận tốc 15km/giờ, sau đó lại ngược từ quê về nhà với vận tốc bằng vận tốc lúc
    đi. Hỏi vận tốc trung bình của người đó trên quãng đường cả đi lẫn về là bao nhiêu?
    – Với bài toán trên ta thấy độ dài quãng đường cả đi lẫn về cũng đều bằng nhau nên:
    Tổng quãng đường cả đi lẫn về sẽ bằng: 18 x 2 = 36 (km)
    Thời gian lúc đi là: 18 : 15 = 1,2 (giờ)
    Vận tốc lúc về là: 15 x = 12 (km/giờ)
    Thời gian lúc về là: 18 : 12 = 1,5 (giờ)
    Tổng thời gian cả đi lẫn về là: 1,5 + 1,2 = 2,7 (giờ)
    Như vậy vận tốc trung bình của người đó trên cả quãng đường cả đi lẫn về là:
    36 : 2,7 = (km/giờ).
    13
    Qua 3 bài toán này, tôi cho HS rút ra nhận xét: Thời gian đi khác nhau thì vận
    tốc trung bình bằng tổng quãng đường chia cho tổng thời gian đi.
    Bài toán 5: Một người đi từ A đến B với vận tốc 6km/giờ, sau đó lại từ B trở về A với
    vận tốc 4 km/giờ. Tính vận tốc trung bình của người đó trên quãng đường cả đi lẫn
    về?
    – Với bài toán trên, độ dài quãng đường cả đi lẫn về đều bằng nhau. Như vậy vận
    tốc trung bình của người đó trên cả đoạn đường cả đi và về cũng chính bằng vận tốc
    trung bình khi đi trên 1km lúc đi và 1km lúc về. Ta có cách giải như sau:
    Khi đi từ A đến B thì thời gian đi 1km là: 1 : 6 = (giờ)
    Khi đi từ B về A thì thời gian đi 1km là: 1 : 4 = (giờ)
    Vận tốc trung bình của người đó trên quãng đường cả đi và về là:
    (1+1) : ( + ) = 4,8 (km/giờ)
    Bài toán 6: Hai bạn An và Dũng xuất phát cùng một lúc từ nhà về quê. An đi nửa
    quãng đường đầu với vận tốc 15 km/giờ và nửa quãng đường còn lại với vận tốc
    12km/giờ. Dũng đi nửa thời gian đầu với vận tốc 15 km/giờ và nửa thời gian còn lại
    với vận tốc 12km/giờ. Hỏi trong hai bạn, ai là người về đến quê trước?
    – Bài toán trên giúp học sinh phân biệt được cách tính vận tốc trung bình khi đi
    quãng đường bằng nhau hay thời gian bằng nhau. Học sinh sẽ hiểu rõ hơn bản chất của
    từng dạng toán. Ta giải bài toán này như sau:
    Giải : Thời gian bạn An đi 1km khi đi nửa quãng đường đầu là:
    1 : 15 = (giờ)
    Thời gian bạn An đi 1km khi đi nửa quãng đường sau là:
    1 : 12 = (giờ)
    Vận tốc trung bình của An trên cả quãng đường từ nhà về quê là:
    ( 1+1) : ( ) = (km/giờ) = 13 (km/giờ)
    14
    Vận tốc trung bình của Dũng trên cả quãng đường từ nhà về quê là:
    (15+12) : (1+1) = 13 (km/giờ)
    Vì 13 (km/giờ) < 13 (km/giờ), vậy bạn Dũng về đến quê trước.
    Từ bài toán trên ta rút ra cách tính vận tốc trung bình như sau:
    Với bài toán quãng đường đi như nhau (quãng đường chưa biết) thì vận tốc trung
    bình trên cả quãng đường bằng vận tốc trung bình khi đi trên 1km với vận tốc này và
    1 km với vận tốc kia.
    b) Tính vận tốc 2 chuyển động ngược chiều xuất phát cùng lúc:
    – Xuất phát từ các bài toán cụ thể: Lúc 7 giờ 15 phút sáng, một ô tô khởi hành từ Nam Định
    đến Hà Nội, cùng lúc đó xe máy đi từ Hà Nội về Nam Định, đến 8 giờ 30 phút 2 xe gặp nhau.
    Tính vận tốc của mỗi xe biết quãng đường từ Nam Định đến Hà Nội dài 125km, biết vận tốc
    ô tô gấp rưỡi vận tốc xe máy.
    – Tôi tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm, minh họa bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng, sau đó tìm
    tổng vận tốc của 2 xe rồi vận dụng cách giải bài toán tổng – tỉ để tìm vận tốc mỗi xe:

    Ô tô (? km/giờ)
    km/giờ)
    Gặp nhauXe máy(?Nam Định

    Giải: Thời gian 2 xe cùng đi để gặp nhau là:
    8 giờ 30 phút – 7 giờ 15phút = 1 giờ 15 phút = 1,25 giờ
    Quãng đường mỗi giờ 2 xe đi được hay tổng vận tốc của 2 xe là:
    125 : 1,25 = 100 (km/giờ)
    Ta có sơ đồ:
    Vô tô :
    Vxe máy :
    Giá trị 1 phần là: 100 : (2+3) = 20(km/giờ)
    125 km
    Hà Nội
    7 giờ 15 phút 8 giờ 30 phút 7 giờ 15 phút
    100 km/giờ
    15
    Vận tốc xe máy là: 20 x 2 = 40 (km/giờ)
    Vận tốc ô tô là: 20 x 3 = 60 (km/giờ)
    – Tổ chức cho học sinh khái quát cách giải : Qua bài toán trên, với bài toán chuyển
    động ngược chiều, sau khi học sinh tìm hiểu cách tính thời gian để 2 phương tiện gặp
    nhau học sinh có thể tìm ra cách tính tổng vận tốc của hai phương tiện như sau:
    v1 + v2 = s : tgặp
    c) Tính vận tốc 2 chuyển động cùng chiều xuất phát cùng lúc: ( cách đặt vấn đề như
    dạng 2)
    Ví dụ 1: Lúc 6 giờ 30 phút sáng, Lan đi học đến trường bằng xe đạp với vận tốc
    16km/giờ. Trên con đường đó, lúc 6 giờ 45 phút mẹ Lan đi làm bằng xe máy và đi về
    phía trường và 2 mẹ con gặp nhau trên đường đi lúc 6 giờ 57 phút. Hỏi mẹ đã đi xe
    máy với vận tốc bao nhiêu km/giờ?
    Tôi tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm,minh họa bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng, sau đó
    tìm hiệu vận tốc của 2 xe dựa vào kiến thức mà các em vừa tìm
    ra.
    Giải:
    Thời gian để mẹ đuổi kịp để gặp Lan là:
    6 giờ 57 phút – 6 giờ 45 phút = 12 phút = 0,2giờ
    Thời gian Lan đi trước mẹ là: 6 giờ 45 phút – 6 giờ 30 phút = 15 phút = 0,25 giờ
    Quãng đường Lan đi trong 0,25 giờ là: 16 x 0,25 = 4 (km)
    Mỗi giờ mẹ đi nhanh hơn Lan số ki-lô-mét hay hiệu vận tốc mẹ và Lan là:
    4 : 0,2 = 20 (km/giờ)
    Vận tốc đi của mẹ là: 20 + 16 = 36 (km/giờ)
    Tương tự chuyển động ngược chiều, khi học sinh nắm được cách tính thời gian để
    2 xe đi cùng chiều cùng xuất phát gặp nhau, qua cách giải bài tập trên các em tự tìm hiểu
    cách tính hiệu vận tốc của hai xe như sau:
    v1 – v2= s : tđuổi kịp
    Nhà
    Mẹ Lan Trường
    Điểm gặp nhau
    6 giờ 45 phút 6 giờ 45 phút
    (? km/giờ) (16 km/giờ)
    6 giờ 57 phút
    16
    Ví dụ 2: Một người đi xe máy từ tỉnh A và một người đi xe đạp từ tỉnh B, hai tỉnh
    cách nhau 80km. Nếu họ đi ngược chiều nhau thì gặp nhau sau 2 giờ. Nếu họ đi cùng
    chiều thì người đi xe máy đuổi kịp người đi xe đạp sau 4 giờ. Tính vận tốc của mỗi người
    biết rằng họ khởi hành cùng một lúc.
    Với bài toán này tôi hướng dẫn học sinh sử dụng công tính tổng vận tốc và hiệu vận tốc
    của dạng bài toán có hai động tử chuyển động ngược chiều và cùng chiều là:
    ( v1 – v2) = s : tkịp
    ( v1 + v2) = s : tgặp
    Sau đó đưa về dạng toán điển hình “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó”để
    giải bài toán này. Häc sinh sÏ ®-îc h-íng dÉn lêi gi¶i nh- sau:
    Bài giải
    Tổng vận tốc hai xe là:
    80 : 2 = 40 (km/giờ)
    Hiệu vận tốc hai xe là:
    80 : 4 = 20 (km/giờ)
    Ta có sơ đồ:
    Vận tốc xe máy:
    Vận tốc xe đạp: 20km/giờ
    Vận tốc xe máy là:
    (40 + 20) : 2 = 30( km/giờ)
    Vận tốc xe đạp là:
    (40 – 20) : 2 = 10 km/giờ
    Đ/s:Vận tốc xe máy là: 30( km/giờ)
    Vận tốc xe đạp là: 10( km/giờ)
    d) Tìm hiểu vận tốc trong chuyển động xuôi dòng, ngược dòng trên dòng nước:
    Những bài toán này được sách HDH đưa vào phần ôn tập. Sách không đưa ra hệ
    thống
    công thức tính. Tôi tổ chức cho học sinh thảo luận dựa vào kiến thức thực tế để tìm cách
    tính vận tốc thuyền khi xuôi dòng và ngược dòng như sau:
    } 40 km/giờ
    17
    Khi thuyền đi xuôi dòng, thuyền được dòng nước đẩy đi nên chạy nhanh hơn, còn
    khi đi ngược dòng thuyền bị dòng nước cản nên chạy chậm hơn, có cách tính như sau:
    * Vận tốc xuôi dòng = Vận tốc thực + Vận tốc dòng nước.
    * Vận tốc ngược dòng = Vận tốc thực – Vận tốc dòng nước.
    ( Vận tốc thực : Vận tốc khi nước lặng; Vận tốc dòng nước (Vận tốc chảy của dòng
    nước))
    – Từ trên ta dễ dàng vẽ sơ đồ tổng – hiệu để tìm vận tốc thực và vận tốc dòng nước khi
    biết vận tốc xuôi dòng và vận tốc ngược dòng.
    -Tổ chức cho HS củng cố và vận dụng cách giải thông qua các bài toán:
    Bài toán 1: Một tàu thủy khi xuôi dòng có vận tốc 28,4 km/giờ, khi ngược dòng có
    vận tốc là 18,6 km/giờ. Tính vận tốc của tàu thủy khi nước lặng và vận tốc của dòng
    nước.
    Với bài toán trên, tôi hướng dẫn học sinh như sau:
    * Đọc kĩ đề bài (cá nhân)
    * Phân tích bài toán (chia sẻ nhóm)
    + Bài toán cho biết gì ? Hỏi gì ? (Vận tốc của tàu thủy khi nước lặng chính là vận tốc
    thực
    của tàu thuỷ)
    Thiết lập mối quan hệ giữa các yếu tố bằng sơ đồ đoạn thẳng bài toán tổng – hiệu như
    sau:
    Vận tốc thực của tàu :
    Vận tốc dòng nước :
    – Dựa vào sơ đồ đoạn thẳng đã phân tích ở trên học sinh dễ dàng giải được bài toán như
    sau:
    Giải: Vận tốc của tàu thủy khi nước lặng là:
    (28,4 + 18,6) : 2 = 23,5 (km/giờ)
    Vận tốc của dòng nước là:
    28,4 – 23,5 = 4,9 (km/giờ).
    Đáp số: vtàu thủy = 23,5 km/giờ; vdòng nước = 4,9 km/giờ
    24,8 km/giờ
    18,6 km/giờ
    18
    Sau khi giải các em rút ra được cách tính:
    + Vận tốc dòng nước = (Vận tốc xuôi dòng – Vận tốc ngược dò

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education