ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN Tiếng việt là môn học có tầm quan trọng đặc biệt trong Chương trình giáo dục phổ thông nói chung, bậc tiểu học nói riêng. Giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu với các biểu hiện cụ thể: yêu thiên nhiên, gia đình, quê hương; có ý thức đối với cội nguồn; yêu thích cái đẹp, cái thiện và có cảm xúc lành mạnh; có hứng thú học tập, ham thích lao động; thật thà, ngay thẳng trong học tập và đời sống; có ý thức thực hiện trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội và môi trường xung quanh. Giúp học sinh bước đầu hình thành các năng lực chung, phát triển năng lực ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe với mức độ căn bản: đọc đúng, trôi chảy văn bản; hiểu được nội dung, thông tin chính của văn bản. Đây là môn học công cụ với nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về tiếng mẹ đẻ, rèn cho các em kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong nghe, nói, đọc, viết. Trong đó, phân môn Tập đọc là một phân môn quan trọng góp phần hình thành kĩ năng đọc cho học sinh-một trong bốn kĩ năng cơ bản mà học sinh tiểu học cần đạt tới. Khi học sinh đọc tốt thì các em mới có thể chiếm lĩnh được kiến thức môn Tiếng việt nói riêng, các môn học cấp tiểu học nói chung một cách chắc chắn, làm cơ sở để các em học cấp học kế tiếp. Bên cạnh đó, phân môn Tập đọc còn giúp cho học sinh không chỉ đọc đúng mà còn hiểu đúng nội dung từng bài đọc, thích đọc. Từ đó học sinh trau dồi được vốn ngôn ngữ trong giao tiếp và học tập. Học sinh đọc tốt sẽ giúp các em hiểu biết rộng hơn, sâu hơn, suy nghĩ một cách lôgic hơn, các em dễ dàng tiếp thu được cái hay, cái đẹp của tiếng Việt, hướng tới các em lòng yêu cái thiện, giúp cho các em có đầy đủ các phẩm chất và năng lực, góp phần hình thành nhân cách học sinh. Như vậy, trọng tâm của phân môn Tập đọc lớp 3 giúp học sinh: – Kĩ thuật đọc: Đọc đúng và bước đầu biết đọc diễn cảm các đoạn văn miêu tả, câu chuyện , bài thơ; tốc độ đọc khoảng 70 – 80 tiếng trong 1 phút. Biết nghỉ hơi ở chỗ có dấu câu hay chỗ ngắt nhịp thơ. Đọc theo ngữ điệu phù hợp với vai được phân trong một đoạn đối thoại có hai hoặc ba nhân vật. Đọc hiểu được các dạng văn bản. – Đọc hiểu các dạng văn bản (văn bản văn học và văn bản thông tin): + Văn bản văn học: Nhận biết được chi tiết và nội dung chính. Hiểu được nội dung hàm ẩn của văn bản với những suy luận đơn giản. Tìm được ý chính của từng đoạn văn dựa trên các câu hỏi gợi ý. Hiểu được điều tác giả muốn nói qua văn bản dựa vào gợi ý. Nhận biết được điệu bộ, hành động của nhân vật qua một số từ 4 ngữ trong văn bản. Nhận biết được thời gian, địa điểm và trình tự các sự việc trong câu chuyện. Lựa chọn một nhân vật trong tác phẩm đã học hoặc đã đọc, nêu tình cảm và suy nghĩ về nhân vật đó. Trong 1 năm học, đọc tối thiểu 35 văn bản văn học (bao gồm văn bản được hướng dẫn đọc trên mạng Internet) có thể loại và độ dài tương đương với các văn bản đã học. Thuộc lòng được ít nhất 8 đoạn thơ, bài thơ hoặc đoạn văn đã học; mỗi đoạn thơ, bài thơ, đoạn văn có độ dài khoảng 60 chữ. + Văn bản thông tin: Đọc và trả lời được: Văn bản viết về cái gì và có những thông tin nào đáng chú ý? Tìm được ý chính của từng đoạn trong văn bản. Nhận biết được một số loại văn bản thông tin thông dụng, đơn giản qua đặc điểm của văn bản: văn bản thuật lại một hiện tượng gồm 2 – 3 sự việc, văn bản giới thiệu một đồ vật, thông báo ngắn, tờ khai đơn giản. Nhận biết được cách sắp xếp thông tin trong văn bản theo trật tự thời gian. Nhận biết được thông tin qua hình ảnh, số liệu trong văn bản. Trong 1 năm học, đọc tối thiểu 18 văn bản thông tin (bao gồm văn bản được hướng dẫn đọc trên mạng Internet) có kiểu văn bản và độ dài tương đương các văn bản đã học. Việc rèn đọc cho học sinh có vị trí vô cùng quan trọng, là vấn đề cấp thiết đòi hỏi mỗi giáo viên cần xác định rõ yêu cầu, nhiệm vụ và vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo việc rèn đọc trong quy trình một tiết tập đọc nhằm mang lại hiệu quả cao. Qua thực tế dạy lớp 3, tôi nhận thấy kỹ năng đọc của học sinh chưa đồng đều. Một số học sinh đọc chưa đúng kĩ thuật đọc, phát âm chưa đúng do lỗi phát âm theo địa phương, đọc chưa đúng tốc độ. Một số giáo viên chưa chú trọng đến dạy cho học sinh kĩ thuật đọc đúng, chưa tìm ra biện pháp dạy môn tập đọc để nâng cao hiệu quả giờ dạy. Xuất phát từ những lí do trên, tôi nghiên cứu đưa ra “Một số biện pháp rèn phát âm chuẩn cho học sinh góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Tập đọc lớp 3” để giúp giáo viên dạy phân môn Tập đọc lớp 3 đạt hiệu quả cao hơn. Vì điều kiện thời gian, trong báo cáo này tôi chỉ đề cập đến một số giải pháp nâng cao chất lượng nội dung hướng dẫn học sinh về kĩ thuật đọc đúng còn nội dung đọc hiểu tôi chưa đề cập tới. II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KĨ THUẬT 1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến 1.1. Những thuận lợi – Trường Tiểu học Liêm Hải luôn nhận được sự chỉ đạo kịp thời của Phòng GD-ĐT Trực Ninh, sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương. Trường chúng tôi nhiều năm liền đạt danh hiệu trường tiên tiến và tiên tiến xuất sắc của huyện. Năm học 2019-2020 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2, Kiểm định chất lượng cấp độ 3, chuẩn xanh- sạch- đẹp- an toàn và Thư viện tiên tiến. 5 – Chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường luôn ổn định và đứng tốp đầu của huyện. – Đội ngũ giáo viên nhà trường có trình độ chuyên môn vững vàng, đều đạt chuẩn và trên chuẩn, được dự học tập, bồi dưỡng chuyên môn phục vụ cho việc giảng dạy. – Học sinh hiếu học, chăm ngoan, lễ phép, luôn ý thức vươn lên đạt thành tích cao trong học tập và rèn luyện. Học sinh lớp 3 học phân môn Tập đọc trên cơ sở kế thừa phân môn Tập đọc lớp 2 nên học sinh quen cách học. – Lớp 3D do tôi chủ nhiệm luôn nhận được sự quan tâm ủng hộ, hỗ trợ về cơ sở vật chất của nhà trường, đặc biệt là cha mẹ học sinh đã trang bị đầy đủ các thiết bị như: máy tính, ti vi màn hình lớn có kết nối internet và các đồ dùng khác phục vụ cho hoạt động dạy và học đạt kết quả tốt. 1.2. Những khó khăn 1.2.1. Về nhận thức – Bên cạnh những kết quả trên vẫn còn một số giáo viên, trong đó có một số giáo viên dạy các môn chuyên nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của phân môn tập đọc nên còn coi nhẹ việc rèn đọc cho học sinh trong môn Tiếng Việt và trong tất cả các môn học khác hay trong các hoạt động giáo dục trong nhà trường. – Nhận thức của cha mẹ học sinh chưa chú trọng đến việc rèn đọc cho con em mình mà chỉ quan tâm đến việc giúp các em giải các bài toán hoặc viết văn hay,.. – Một số học sinh chưa thực sự yêu thích môn Tiếng Việt, lười đọc sách, kĩ năng đọc chưa tốt. 1.2.2. Về năng lực chuyên môn: Một số giáo viên thực hiện quy trình tiết tập đọc còn nhiều cứng nhắc, chưa linh hoạt trong việc sử dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học hiệu quả các tiết học còn hạn chế. 1.2.3. Học sinh – Trình độ của học sinh không đồng đều nên việc tiếp thu kiến thức rất khó khăn. + Lỗi phát âm theo phương ngữ địa phương: Tiếng có phụ âm đầu l/n: Học sinh rất hay phát âm sai phụ âm đầu l/ n. Ví dụ: “long lanh” thì đọc là “nong nanh” Các lỗi về vần: Các tiếng có vần uyên, uyêt học sinh thường đọc sai. Ví dụ: quyết đọc là quết; khuyên đọc là khuên hoặc quên đọc là quyên,.. 6 – Đọc chậm học sinh ngắt, nghỉ hơi khi đọc câu chưa hợp lí: Một số học sinh chưa ngắt hơi sau những tiếng có dấu phẩy hay chưa biết cách ngắt hơi khi đọc những câu văn dài. – Học sinh đọc đúng văn bản song đọc chưa hay,chưa diễn cảm: Một số em chưa biết nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả, gợi cảm. Ngoài ra học sinh còn chưa xác định đúng giọng đọc trong bài. – Còn nhiều học sinh đọc bài với tốc độ chưa phù hợp, có em đọc quá nhanh nhưng có em lại đọc quá chậm. 1. 3. Khảo sát chất lượng phân môn tập đọc lớp 3D ( tháng 9/20120) Tôi đã kiểm tra học sinh đọc thành tiếng một số bài tập đọc trong sách hướng dẫn Tiếng Việt lớp 3 và kết quả đạt được như sau:
Đọc sai tiếng có phụ âm đầu 1/n, tiếng chứa vần uyên/uyêt
Chưa yêu thích phân môn TĐ
Số học sinh
5/35=14,3%
15/35=42,9
15/35=42,9
15/35=42,9
15/35=42,9
Qua bài khảo sát đầu năm tôi thấy chất lượng phân môn tập đọc các em còn thấp. Nhiều học sinh phát âm còn lẫn lộn, học sinh còn đọc yếu, chưa đúng tốc độ, sai phụ âm và đọc không rành mạch. Tôi đã đã vận dụng và đổi mới các phương pháp dạy học song phân môn tập đọc kết quả chưa cao như mong muốn. Chính vì vậy bản thân tôi rất băn khoăn và trăn trở, tôi đã đưa ra biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Tập đọc. 2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến Trong năm học 2020-2021, tôi tiếp tục bổ sung, điều chỉnh tính thực thi của sáng kiến, bổ sung các biện pháp, giải pháp một cách cụ thể hơn, chi tiết hơn để nâng cao chất lượng phân môn Tập đọc. – Rèn đọc cho học sinh giáo viên không thể nóng vội mà phải hết sức bình tĩnh, nhẹ nhàng, tỉ mỉ, nhưng cũng rất cương quyết để hình thành cho các em có thói quen và niềm say mê đọc sách. Rèn cho các em đức tính chịu khó, cẩn thận trong khi luyện đọc. Làm tốt việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 3 sẽ góp phần vô cùng quan trọng để phát triển trí tuệ cho các em một cách tổng hợp. Từ đó các em sẽ có một nền tảng vững chắc để học các môn học khác và tiếp tục học lên các lớp trên. 7 – Khi dạy phân môn Tập đọc người giáo viên cần chú ý coi trọng quan điểm dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm. – Giáo viên cần xây dựng nền nếp học tập cho học sinh ngay từ đầu năm học. – Giáo viên cần chú ý đến công tác chuẩn bị tốt cho các tiết học. Một số biện pháp 2.1. Rèn kĩ năng đọc đúng cho học sinh * Đối với giáo viên – Để rèn luyện cho học sinh phát âm chuẩn giáo viên phải phát âm thật chuẩn mực ở mọi nơi, mọi lúc. Trong các tiết tập đọc giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát hiện lỗi và sửa lỗi cho học sinh một cách triệt để. Giáo viên cần nắm được cụ thể học sinh nào hay phát âm sai và sai ở chỗ nào để kịp thời sửa chữa. * Đối với học sinh – Rèn cho học sinh có ý thức nói và đọc thật đúng, chuẩn. Tôi luôn luôn nhắc nhở các em rèn đọc đúng không chỉ trong các tiết rèn đọc mà cả trong các giao tiếp hàng ngày. 2.1.1 Rèn phát âm đúng từ chứa tiếng khó – Hướng dẫn học sinh phát hiện lỗi và sửa lỗi cho học sinh. Giáo viên cần nắm được cụ thể học sinh nào hay phát âm sai và sai ở chỗ nào để kịp thời sửa chữa. – Rèn cho học sinh có ý thức nói và đọc thật đúng, chuẩn. Luôn luôn nhắc nhở các em rèn đọc đúng không chỉ trong các tiết rèn đọc mà cả trong các giao tiếp hàng ngày. – Trong các giờ Tập đọc giáo viên gọi học sinh đọc khá, tốt đọc bài và yêu cầu các em đọc thầm theo, tìm những tiếng khó đọc, các phụ âm hay đọc sai. Gọi học sinh phát hiện, đánh giá lẫn nhau và các em sửa lỗi cho nhau, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Từ đó các em có ý thức thi đua đọc đúng, phát âm chuẩn. Ngoài ra giáo viên kết luận và sửa lại cách phát âm cho các em khi thật cần thiết. Chẳng hạn, để sửa được lỗi phát âm các tiếng có vần “ uyên”, uyêt” cho các em trước tiên tôi phải phân tích tiếng, vần cho các em sự khác biệt về cấu tạo giữa hai vần “ uyên” và “uên”, “ uyêt” và “ uêt ”; tập cho học sinh quan sát cách phát âm (khẩu hình), lời nói của giáo viên, của bản thân mình để từ đó các em đọc, nói cho đúng.. – Thông qua buổi sinh hoạt chuyên môn tôi cũng đưa ra ý kiến để kết hợp với các thầy cô giáo bộ môn rèn cho các em phát âm đúng. – Thông qua buổi họp phụ huynh đầu năm giáo viên đưa ra tầm quan trọng cả phân môn tập đọc để từ đó kết hợp với phụ huynh rèn các em phát âm đúng ngay cả khi ở nhà. Ví dụ: 8 Trong lớp có nhiều em khi đọc luôn phát âm sai âm “n” thành “l”. quyết đọc là quết; khuyên đọc là khuên hoặc quên đọc là quyên tôi đã tổ chức cho các em thi hái hoa dân chủ tìm những tiếng có phụ âm “l” hoặc là “n” hoặc tìm từ chứa tiếng khuyên, quyết, quên, quyên để các nói cho quen. 2.1.2. Rèn đọc đúng câu, đoạn văn Để đọc đúng, đọc hay các câu văn dài, giáo viên phải nói đến tốc độ và tư thế khi đọc, tức là rèn đọc to, đọc rõ ràng. Trong các giờ tập đọc giáo viên chú ý nhận xét sửa sai cho học sinh về cách đọc thật cụ thể để làm cơ sở cho việc đọc bài mới được tốt hơn. Khi đọc nối tiếp câu phát hiện ra học sinh nào chưa đúng cần sửa ngay. Khi đọc nối tiếp đoạn tôi nên cho các em một số câu hỏi gợi mở để các em thảo luận tìm ra cách đọc cho mỗi đoạn (hoặc giọng đọc của các nhân vật) sau đó giáo viên sẽ là người chốt lại cách đọc. Khi đọc đoạn gọi một học sinh đọc, gọi học sinh nhận xét bạn và đọc lại, chú ý đọc ngắt, nghỉ và nhấn giọng ở các từ ngữ gợi tả, gợi cảm cho phù hợp. Ví dụ: Bài “Cậu bé thông minh”- Tiếng Việt 3. Sau đây là cách đọc một số câu: Ngày xưa,/ có một ông vua muốn tìm người tài ra giúp nước.// Vua hạ lệnh cho mỗi làng trong vùng nọ/ nộp một con gà trống biết đẻ trứng,/ nếu không có thì cả làng phải chịu tội.// ( giọng đọc chậm rãi). Cậu bé kia,/ sao dám đến đây làm ầm ĩ ? // (đọc với giọng oai nghiêm). Thằng bé này láo, / dám đùa với trẫm! / Bố ngươi là đàn ông thì đẻ sao được?// (giọng bực tức, lên giọng ở cuối câu). Muôn tâu, / vậy sao Đức vua lại hạ lệnh cho làng con/ phải nộp gà trống biết đẻ trứng ạ? // (Đọc với giọng thể hiện sự lễ phép, bình tĩnh, tự tin). – Giáo viên cho học sinh đọc nối tiếp đoạn, yêu cầu cả lớp lắng nghe và tìm câu dài, khó đọc. Giáo viên tổ chức cho học sinh nhận xét thông qua hệ thống câu hỏi gợi ý: Em nào có ý kiến khác? Bạn đọc như thế nào? … Mời một vài em đọc lại. Học sinh đọc và ngắt hoặc nghỉ hơi để các bạn khác nhận xét bổ sung và giáo viên thống nhất cách đọc. Nhằm luyện kĩ năng đọc thầm và tập trung theo dõi người khác đọc để phối hợp nhịp nhàng khi đọc lời nhân vật tôi cho học sinh thi đọc phân vai. Với bài tập đọc có lời nhân vật tôi thường dành 2 – 3 phút cho các em thi đọc. 9 – Giáo viên chia lớp thành các nhóm. Yêu cầu các em đọc theo hình thức phân vai. Giáo viên mời 1 nhóm đọc trước lớp, cả lớp lắng nghe và nhận xét cách đọc của từng nhân vật sau đó 2 đến 3 nhóm thi đọc để chọn ra nhóm, cá nhân đọc hay nhất. Trong giờ dạy giáo viên cũng đừng quên nhận xét, tuyên dương, khen ngợi những em đọc tốt để khuyến khích các em đọc tốt hơn nữa ở những tiết học sau. 2.1.3 Rèn đọc lưu loát, trôi chảy toàn bài Với những em đọc kém giáo viên cũng nên cho những em học sinh này luyện đọc cá nhân nhiều lần, đọc cả yêu cầu bài tập hoặc nội dung ở những môn học khác như Toán, Tập làm văn, Luyện từ và câu,… Qua mỗi lần tiến bộ của các em giáo viên nên khen ngợi bởi dành những lời khen, động viên khích lệ các em dù đó chỉ là kết quả nhỏ, vì đó là những thành công ban đầu của các em mà mỗi giáo viên cần trân trọng. Hướng dẫn các em đọc bài, cách ngắt nghỉ 2.2. Rèn học sinh đọc kết hợp với giải nghĩa của từ Có rất nhiều cách để giáo viên giải nghĩa từ cho học sinh vừa dễ nhớ, vừa dễ hiểu và luyện đọc đúng sau khi đã hiểu nghĩa của từ. Giáo viên có thể chọn nhiều cách để giải nghĩa: giải nghĩa bằng từ đồng nghĩa, bằng từ trái nghĩa, bằng tranh minh họa, bằng cách mô tả hoặc bằng cách đặt câu với từ cần giải nghĩa. Ví dụ 1 10 Hoặc khi giải nghĩa từ “quả cầu giấy” trong bài “Cùng vui chơi” Tiếng Việt 3 tôi cho học sinh quan sát quả cầu giấy để giải thích: Là đồ chơi gồm một đế nhỏ hình tròn, trên mặt cắm lông chim hoặc một túm giấy mỏng, dùng để đá chuyền qua chuyền lại cho nhau hay chính là để chúng ta chơi đá cầu lông. Ví dụ 2 – Hoặc tôi muốn giải nghĩa từ “già làng” – bài “Nhà Rông ở Tây Nguyên” tôi cho học sinh xem ảnh người già vùng dân tộc để học sinh hiểu già làng là người cao tuổi, có uy tín được dân làng cử ra điều khiển công việc chung ở các vùng dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Ví dụ 3 – Khi tôi muốn học sinh hiểu từ “Quốc gia” Bài “Cuốn sổ tay”, tôi cho các em đọc phần chú giải trong sách giáo khoa sau đó yêu cầu các em đặt câu với từ đó. Giải nghĩa từ bằng cách xem tranh, ảnh 2.3. Rèn đọc đúng tiến tới bước đầu rèn đọc hay (diễn cảm) Sau khi học sinh hiểu nội dung bài đọc thì các em sẽ biết cách diễn đạt thích hợp dưới sự hướng dẫn của giáo viên để hình thành kỹ năng đọc theo các bước: – Tập lấy hơi và tập thở: Biết thở sâu ở chỗ ngưng nghỉ để lấy hơi khi đọc. – Rèn cường độ giọng đọc – Luyện đọc to (bắt đầu từ lớp 1). – Luyện đọc chính âm (đã trình bày ở phần đọc đúng). – Luyện đọc diễn cảm: 11 + Giáo viên hướng dẫn học sinh trao đổi, thảo luận vì sao đọc như vậy. Có thể đọc phân vai để làm sống lại nhân vật của bài đọc. – Luyện đọc cá nhân. Trong chương trình tập đọc lớp 3, phần lớn các bài tập đọc là các bài văn xuôi hay các câu chuyện. Để giúp học sinh đọc hay được những văn bản này trước hết giáo viên cần tìm hiểu kĩ bài để xác định giọng đọc cho phù hợp. * Đối với các bài văn xuôi – Giáo viên cần xác định để đọc hay được bài đọc đó thì cần chú ý đến những yếu tố cơ bản như nhấn giọng những từ ngữ nào hay đọc với giọng ra sao thì phù hợp với cảm xúc trong bài. – Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc hay thông qua việc dẫn dắt gợi mở để học sinh thể hiện tình cảm, thái độ qua giọng đọc phù hợp với hình ảnh cảm xúc trong bài. Ví dụ: Câu trong bài “Ông ngoại” cần nhấn giọng các từ ngữ được gạch chân nhằm nêu bật được vẻ đẹp của bầu trời sắp vào thu: “Trời xanh ngắt trên cao, xanh như dòng sông trong trôi lặng lẽ giữa những ngọn cây hè phố.” Hay trong câu: “Trước ngưỡng cửa của trường tiểu học tôi đã may mắn có ông ngoại – Thầy giáo đầu tiên của tôi.” Cần nhấn giọng ở các từ ngữ được gạch chân để thể hiện tình cảm biết ơn của bạn nhỏ đối với ông ngoại – người thầy giáo đầu tiên của bạn. * Đối với câu chuyện xuất hiện những nhân vật: Những câu chuyện xuất hiện những nhân vật thì cần đọc sao cho giọng đọc phù hợp với tính cách nhân vật trong câu chuyện là không thể thiếu. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cụ thể trong từng câu chuyện. Cần xác định được truyện có những nhân vật nào. Trước tiên cần biết đọc phân biệt lời dẫn chuyện với lời của các nhân vật trong truyện.Sau đó tìm hiểu tính cách của từng nhân vật ra sao để có giọng đọc thích hợp và thay đổi giọng đọc như thế nào trong từng văn cảnh cho phù hợp với diễn biến của câu chuyện. Bước đầu biết làm chủ được giọng đọc đối với ngữ điệu, tốc độ, đọc cao giọng hay thấp giọng, âm sắc nhằm diễn tả đúng nội dung bài. Ví dụ: Trong câu chuyện “Cậu bé thông minh”, giáo viên cần cho học sinh nêu được và đọc được các giọng đọc khác nhau của hai nhân vật và người dẫn chuyện. Đó là: 12 – Giọng người dẫn chuyện: Chậm rãi ở đoạn giới thiệu đầu truyện; lo lắng khi cả làng cậu bé nhận được lệnh của nhà vua; vui vẻ thoải mái, khâm phục khi cậu bé lần lượt qua được những lần thử tài của nhà vua. – Giọng cậu bé: Bình tĩnh, tự tin. – Giọng nhà vua: Nghiêm khắc. * Đối với các câu cảm, câu hỏi Đối với các câu cảm, câu hỏi trong bài giáo viên cần hướng dẫn các em đọc đúng thì mới bộc lộ được cảm xúc của từng nhân vật và của tác giả. – Giáo viên hướng dẫn học sinh cần đọc đúng ngữ điệu khi đọc câu hỏi như nhấn giọng từ để hỏi, cao giọng ở cuối câu. Ví dụ: Câu trong bài “Các em nhỏ và cụ già”: “Thưa cụ, chúng cháu có thể giúp gì cụ không ạ?” cần đọc nhấn giọng từ ngữ giúp gì cụ và đọc cao giọng ở cuối câu. – Đối với câu cảm, giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc giọng phù hợp để biểu lộ sắc thái tình cảm trong câu đó. Ví dụ: Câu trong bài “Cuộc chạy đua trong rừng” có lời của nhân vật Ngựa Con: “Cha yên tâm đi. Móng của con chắc chắn lắm. Con nhất định sẽ thắng mà!”. Cần nhấn giọng khi đọc các từ ngữ: yên tâm đi, chắc chắn lắm, nhất định và thể hiện giọng tự tin. Nếu học sinh đọc chưa hay giáo viên có thể đọc mẫu cho học sinh để học sinh nghe giọng đọc tự điều chỉnh. * Đối với văn bản khác Một số văn bản khác trong chương trình như: “Báo cáo kết quả tháng thi đua noi gương chú bộ đội”, “Đơn xin vào Đội”, “Chương trình xiếc đặc sắc”,…Các văn bản này thường là cung cấp thông tin, mẫu, nội dung báo cáo hay quảng cáo. Đối với thể loại văn bản nà
Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY
Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education
ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN 1. Đặt vấn đề Môn Tiếng Việt có vai trò quan trọng trong các môn học ở Tiểu học. Bởi vì Tiếng Việt không những dạy cho các em biết các kiến thức về ngữ pháp, về ngôn ngữ trong giao tiếp mà còn giúp các em giữ gìn tiếng mẹ đẻ. Tiếng Việt có nhiệm vụ làm giàu vốn từ cho học sinh và hướng dẫn học sinh sử dụng từ – câu một cách chính xác trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Qua thực tế giảng dạy lớp 5 nói chung và ở môn Tiếng Việt lớp 5 nói riêng, tôi nhận thấy rằng: “Sách Hướng dẫn học Tiếng Việt 5” giúp học sinh hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện trong bốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (đọc – viết – nghe – nói), kĩ năng thực hành giao tiếp cụ thể. Nội dung sách hướng dẫn học tinh giản, tích hợp các kiến thức thiết thực mang tính cập nhật, phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi học sinh tiểu học trong thời đại mới hiện nay. Trong đó, Tập đọc là phân môn giữ vị trí hết sức quan trọng trong quá trình học tập của học sinh. Trước hết, Tập đọc giúp học sinh trau dồi kiến thức tiếng Việt, kiến thức đời sống, gia đình, con người, giáo dục tư tưởng đạo đức, tình cảm thẩm mĩ. Nó là chìa khoá, là phương tiện để giúp học sinh Tiểu học tiếp xúc với kho tàng kiến thức vô tận của nhân loại. Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hóa, khoa học, tư tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả người đương thời phần lớn đã được ghi lại bằng chữ viết. Giáo dục tiểu học là nền tảng cơ bản trong hệ thống giáo dục quốc dân nên giáo dục tiểu học cũng cần chuẩn bị cho học sinh những năng lực cần thiết và phù hợp với tâm sinh lí của các em. Tập đọc với tư cách là một phân môn của môn Tiếng Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu này – hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh. Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với các hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm) ( 2 theo M.R. Lơvôp – Cẩm nang dạy học tiếng Nga (tiếng Nga). Kĩ năng đọc là một kĩ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện tập lâu dài. Việc đọc không thể tách rời khỏi việc chiếm lĩnh một công cụ ngôn ngữ (ở đây là tiếng Việt). Mục đích này chỉ có thể đạt được thông qua con đường luyện giao tiếp có ý thức. Phương tiện luyện tập quan trọng cũng đồng thời là mục tiêu phải đạt tới trong sự chiếm lĩnh ngôn ngữ chính là việc đọc. Đọc chính là học, học nữa, học mãi, đọc để tự học, học cả đời. Đọc giúp con người hiểu biết, tiếp thu được nền văn minh của loài người. Đọc giúp con người bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, giúp con người có thể tự học cả đời. Vì vậy, dạy đọc ở Tiểu học rất cần thiết. Đọc giúp cho học sinh có công cụ học tập và giao tiếp. Đọc giúp học sinh phát triển tư duy, giáo dục học sinh những tình cảm tốt đẹp. Trên thực tế, phân môn tập đọc của môn Tiếng Việt lớp 5 có đến một phần ba văn bản đọc là các truyện kể. Nhưng kĩ năng đọc loại văn bản truyện kể của học sinh còn có một số tồn tại, hạn chế như sau: Thứ nhất, còn nhiều học sinh đọc bài với tốc độ chưa phù hợp, có em đọc quá nhanh nhưng có em lại đọc quá chậm; học sinh chưa biết chuyển giọng đọc phù hợp với thái độ, tình cảm, tâm trạng của nhân vật truyện. Hai là, khi đọc một số văn bản truyện; các em ngắt, nghỉ hơi không đúng chỗ trong các câu văn dài nên các em không hiểu hết nội dung và ý nghĩa của tình tiết truyện. Đặc biệt là việc rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh còn hạn chế, và sau một giờ, một bài học sinh ít có khả năng đọc hay, diễn cảm và hiểu nội dung bài một cách đầy đủ. Do đó, các em rất yếu về năng lực đọc. Ba là, một số em chưa biết nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả hình dáng, tính nết, …của nhân vật. Học sinh ít đọc sách, chưa có thói quen say mê đọc sách. Nếu có đọc thì học sinh cũng chưa biết cách đọc, chỉ đọc qua loa, đại khái, đọc cho có cho xong mà không chịu tìm hiểu. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do: Trong quá tình tổ chức các hoạt động, còn hạn chế trong việc học sinh huy động vốn kiến thức các em đã được học ở các lớp dưới như: cách đọc câu hỏi, câu kể, câu cảm, câu khiến,.. hay những trải nghiệm trong thực tế cuộc sống của học sinh như nghe, xem các câu chuyện, các bộ phim trên ti vi, đài,.. để tìm ra giọng đọc phù hợp của các 3 nhân vật truyện giúp học sinh luyện đọc tốt hơn. Nguyên nhân thứ hai là do còn hạn chế trong việc sử dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật dạy học để tạo hứng thú đọc truyện cho học sinh nên các em chưa tích cực hợp tác với các bạn để cùng nhau tìm ra cách đọc đúng, đọc hay và phù hợp cho bài đọc. Xuất phát từ những lí do trên, cùng với kinh nghiệm đứng lớp, tôi đã chọn và nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm: “Rèn kĩ năng đọc văn bản truyện trong phân môn Tập đọc lớp 5 để phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh” nhằm giúp học sinh biết đọc đúng, đọc hay, có khả năng kể chuyện, giao tiếp tốt và có thêm hứng thú đọc sách. 2. Đối tƣợng nghiên cứu Chương trình Tiếng Việt lớp 5 mới được chia thành các phân môn: Tập đọc (đọc – hiểu), Luyện từ và câu, Tập làm văn, Chính tả, Kể chuyện. Mỗi phân môn đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành kiến thức, kỹ năng và nhân cách cho học sinh. Đối với sáng kiến kinh nghiệm này, tôi sẽ chỉ tập trung nghiên cứu rèn kĩ năng đọc văn bản truyện cho học sinh lớp 5 qua phân môn Tập đọc . 3. Phạm vi nghiên cứu Trong khuôn khổ sáng kiến kinh nghiệm này tôi tập trung nghiên cứu “Rèn kĩ năng đọc văn bản truyện trong phân môn Tập đọc lớp 5 để phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh” tại Trường Tiểu học Thị trấn Rạng Đông, Tiểu học (TH) xã Nam Điền, TH xã Nghĩa Lợi, TH xã Phúc Thắng, TH xã Nghĩa Hải, TH xã Nghĩa Hùng (huyện Nghĩa Hưng); TH Thị trấn Thịnh Long, TH Hải Cường, TH Hải Xuân, TH Hải Triều, TH Hải Châu, TH Hải Lý (huyện Hải Hậu). 4. Phƣơng pháp nghiên cứu – Phương pháp nghiên cứu lý thuyết. – Phương pháp tìm hiểu thực tế. – Phương pháp phân tích –tổng hợp. – Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê. – Phương pháp thực nghiệm. 4 5. Điểm mới của sáng kiến Chỉ ra được những phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để rèn kĩ năng đọc văn bản truyện nhằm hình thành, phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh. PHẦN II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến 1.1.Cơ sở lý luận Xuất phát từ thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước cần có những con người lao động năng động sáng tạo, phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của cá nhân. Vì vậy cùng với việc đổi mới nội dung chương trình thì đổi mới phương pháp dạy học trong mỗi tiết học có một vị trí hết sức quan trọng. Đây là việc làm cần thiết góp phần nâng cao chất lượng dạy học cũng như thực hiện được mục tiêu giáo dục mà Đảng và nhà nước, ngành giáo dục và đào tạo đề ra. Trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn hoạt động của học sinh, mọi học sinh đều hoạt động học tập để phát triển năng lực cá nhân. Giáo viên tổ chức hướng dẫn học sinh huy động vốn hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân để học sinh chiếm lĩnh tri thức rồi vận dụng các tri thức đó vào thực hành. Tạo cho học sinh thói quen tự giác, chủ động, không dập khuôn máy móc, biết tự đánh giá và đánh giá kết quả của bạn. Đồng thời tạo điều kiện để học sinh phát huy năng lực, sở trường của mình, biết áp dụng kiến thức mới trong bài học vào thực tế đời sống xã hội. Môn Tiếng Việt theo chương trình mới có một vị trí quan trọng trong giáo dục ở Tiểu học. Rèn kĩ năng đọc nhằm tạo ra sự hứng thú học tập cho học sinh, phát huy tính sáng tạo, độc lập suy nghĩ và tính tự chủ của học sinh. Qua đó, góp phần hoàn thành mục tiêu bài học Tiếng Việt. Mà cụ thể mục tiêu của môn Tiếng Việt ở tiểu học trong Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn là: + Giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu với các biểu hiện cụ thể: yêu thiên nhiên, gia đình, quê hương; có ý thức đối với cội nguồn; yêu thích cái đẹp, cái thiện và có cảm xúc lành mạnh; có hứng thú học 5 tập, ham thích lao động; thật thà, ngay thẳng trong học tập và đời sống; có ý thức thực hiện trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội và môi trường xung quanh. + Giúp học sinh bước đầu hình thành các năng lực chung, phát triển năng lực ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe với mức độ căn bản: đọc đúng, trôi chảy văn bản; hiểu được nội dung, thông tin chính của văn bản; liên hệ, so sánh ngoài văn bản; viết đúng chính tả, ngữ pháp; viết được một số câu, đoạn, bài văn ngắn (chủ yếu là bài văn kể và tả); phát biểu rõ ràng; nghe hiểu ý kiến người nói. Phát triển năng lực văn học với yêu cầu phân biệt được thơ và truyện, biết cách đọc thơ và truyện; nhận biết được vẻ đẹp của ngôn từ nghệ thuật; có trí tưởng tượng, hiểu và biết xúc động trước cái đẹp, cái thiện của con người và thế giới xung quanh được thể hiện trong các văn bản văn học. Môn Tiếng Việt góp phần hình thành, phát triển ở học sinh những phẩm chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học. * Năng lực ngôn ngữ: – Đọc đúng, trôi chảy và diễn cảm văn bản; hiểu được nội dung chính của văn bản, chủ yếu là nội dung tường minh; bước đầu hiểu được nội dung hàm ẩn như chủ đề, bài học rút ra từ văn bản đã đọc. – Ở cấp tiểu học, yêu cầu về đọc gồm yêu cầu về kĩ thuật đọc và kĩ năng đọc hiểu. Đối với học sinh lớp 3, lớp 4 và lớp 5, chú trọng nhiều hơn đến yêu cầu đọc hiểu nội dung cụ thể, hiểu chủ đề, hiểu bài học rút ra được từ văn bản. * Năng lực văn học: – Phân biệt văn bản truyện và thơ (đoạn, bài văn xuôi và đoạn, bài văn vần); nhận biết được nội dung văn bản và thái độ, tình cảm của người viết; bước đầu hiểu được tác dụng của một số yếu tố hình thức của văn bản văn học (ngôn từ, nhân vật, cốt truyện, vần thơ, so sánh, nhân hoá). – Đối với học sinh lớp 3, lớp 4 và lớp 5: biết cách đọc diễn cảm văn bản văn học; kể lại, tóm tắt được nội dung chính của câu chuyện, bài thơ; nhận xét được các nhân vật, sự việc và thái độ, tình cảm của người viết trong văn bản. 6 Hiểu được ý nghĩa hoặc bài học rút ra từ văn bản. Viết được đoạn, bài văn kể chuyện, miêu tả thể hiện cảm xúc và khả năng liên tưởng, tưởng tượng. Tóm lại: Ở bậc Tiểu học, môn Tiếng Việt có vị trí đặc biệt quan trọng, trong đó Tập đọc là một phân môn có ý nghĩa to lớn ở Tiểu học. Nó trở thành một đòi hỏi cơ bản, đầu tiên đối với mỗi người đi học. Đầu tiên trẻ phải học đọc sau đó đọc để học. Đọc giúp trẻ chiếm lĩnh được ngôn ngữ trong giao tiếp và học tập nó cũng là một công cụ để học các môn học khác chỉ khi nào học sinh hiểu được điều mình đang đọc mới được coi là biết đọc. Khi đọc mà hiểu được thì học sinh sẽ hứng thú hơn, ham học hơn. 1.2.Thực trạng Sáng kiến kinh nghiệm “Rèn kĩ năng đọc văn bản truyện trong phân môn Tập đọc lớp 5 để phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh” đã được áp dụng tại Trường Tiểu học Thị trấn Rạng Đông và áp dụng nhân rộng tại 5 trường trong huyện Nghĩa Hưng, 6 trường trong huyện Hải Hậu. 1.2.1.Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt ở Trƣờng Tiểu học Thị trấn Rạng Đông Trong những năm gần đây do càng ngày càng nhận thức được vai trò của phương pháp dạy học trong việc nâng cao chất lượng giáo dục nên ngành đã liên tục phát động phong trào đổi mới phương pháp dạy học. *Thuận lợi: + Được sự quan tâm của Phòng Giáo dục và Ban giám hiệu nhà trường, sự đồng thuận và vào cuộc của cha mẹ học sinh. + Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm chỉ đạo sát sao qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, dự giờ tiết dạy, xây dựng các bước dạy cũng như bài dạy, cách tổ chức lớp học một cách phù hợp. + Giáo viên cũng đã biết vận dụng các phương pháp dạy học cũng như hình thức đánh giá nhằm phát huy năng lực của từng học sinh. + Học sinh có cơ hội chia sẻ những trải nghiệm, được thực hành và vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã học vào đời sống hàng ngày. * Khó khăn: 7 – Đối với giáo viên: + Giáo viên chưa hiểu khái niệm “Đọc” một cách đầy đủ. Có những giáo viên cho rằng dạy Tập đọc là chủ yếu dạy cho các em đọc to, rõ ràng là được. Phương pháp dạy Tập đọc của giáo viên có dạy theo đoạn, có các kiểu câu hỏi khác nhau song hình thức luyện đọc chỉ đơn thuần là đọc. + Một số giáo viên còn lệ thuộc vào sách giáo khoa và tài liệu tham khảo mà chưa biết sáng tạo sao cho phù hợp với nội dung bài học, đối tượng học sinh, phương tiện dạy học,… của trường, của lớp mình.u tra – Đối với học sinh nói chung và đặc biệt là học sinh lớp 5: + Còn nhiều học sinh đọc bài với tốc độ chưa phù hợp, có em đọc quá nhanh nhưng có em lại đọc quá chậm. + Học sinh đọc bài chưa biết ngắt nghỉ dấu chấm, dấu phẩy trong một văn bản truyện kể. Đặc biệt là việc rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh còn hạn chế, và sau một giờ, một bài học sinh ít có khả năng đọc hay, diễn cảm và hiểu nội dung bài một cách đầy đủ. Do đó, các em rất yếu về năng lực đọc. + Một số học sinh chưa ngắt hơi sau dấu phẩy (,) chưa nghỉ hơi sau dấu chấm và đặc biệt chưa biết cách ngắt hơi khi đọc những câu văn dài. + Học sinh ít đọc sách, chưa có thói quen say mê đọc sách. Nếu có đọc thì học sinh cũng chưa biết cách đọc, chỉ đọc qua loa, đại khái, đọc cho có cho xong mà không chịu tìm hiểu. – Đối với phụ huynh: + Một số phụ huynh chưa thực sự vào cuộc, chưa quan tâm và đôn đốc, nhắc nhở các em học tập. Phụ huynh chưa quan tâm đến việc đọc của con. Phụ huynh nghĩ rằng việc dạy đọc cho con là việc của giáo viên. Phụ huynh chỉ quan tâm xem con có làm toán có tốt không, làm văn đã hay chưa? 1.2.2.Thực trạng tại các trƣờng áp dụng nhân rộng * Đội ngũ cán bộ quản lí: + Có trình độ chuyên môn cao, có uy tín, kinh nghiệm quản lý, được sự ủng hộ của giáo viên, nhân viên nhà trường. + Ban giám hiệu đoàn kết, phối hợp nhịp nhàng trong các hoạt động chỉ 8 đạo; phân công nhiệm vụ rõ ràng, tích cực, chủ động trong công việc; tổ chức các hoạt động nhà trường; Biết phát huy sức mạnh của đội ngũ giáo viên cốt cán, đội ngũ khối trưởng, giáo viên trẻ và những giáo viên có năng lực. + Tích cực đổi mới, sáng tạo, thích ứng trong lãnh đạo, quản trị nhà trường. + Quản trị tốt các nguồn lực trong nhà trường đáp ứng Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. + Quản trị hoạt động dạy học, giáo dục học sinh theo hướng tiếp cận năng lực. + Quản trị chất lượng giáo dục đáp ứng Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. + Tích cực phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội để thực hiện hiệu quả hoạt động dạy học và giáo dục cho học sinh, huy động và sử dụng tốt các nguồn lực để phát triển nhà trường. + Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí và lãnh đạo nhà trường thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. *Đội ngũ giáo viên: + Đội ngũ khối trưởng chắc tay nghề, có kinh nghiệm và uy tín trong tập thể khối, tích cực học hỏi kiến thức, phương pháp dạy học mới và có ý thức xây dựng khối, kèm cặp các giáo viên mới, giáo viên trẻ. + Giáo viên đa số tay nghề cao, yêu nghề, say mê công việc, tất cả vì học sinh; ủng hộ các chủ trương của nhà trường. Các giáo viên trẻ tích cực, chủ động nâng cao tay nghề. + Có một số giáo viên tham gia đội ngũ giáo viên cốt cán của Phòng và Sở; tích cực bồi dưỡng và học tập để nâng cao trình độ chuyên môn. + Giáo viên đã sử dụng các hình thức, phương pháp và kĩ thuật dạy học và giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh. + Giáo viên tư vấn và hỗ trợ tốt học sinh trong dạy học và giáo dục. + Giáo viên phối hợp tốt với gia đình, xã hội để thực hiện hoạt động dạy học, giáo dục cho học sinh. 9 + Đa số giáo viên tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác và sử dụng thiết bị công nghệ trong dạy học, giáo dục. Ngoài những phương tiện dạy học truyền thống, giáo viên đã tích cực sử dụng các phương tiện dạy học mới nhằm nâng cao chất lượng cho bài giảng (máy vi tính,tivi, máy chiếu,.. ). Với thực trạng trên, bản thân tôi nhận thấy cần phải có phương pháp và kĩ thuật dạy học phù hợp hơn nữa trong quá trình giảng dạy môn Tiếng Việt 5. Đó chính là rèn kĩ năng đọc văn bản truyện nhằm nâng cao chất lượng dạy học. 2.Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến 2.1.Mục tiêu của giải pháp Lấy học sinh làm trung tâm, học sinh biết hợp tác với các bạn trong nhóm và tự làm việc cá nhân. Giúp học sinh hình thành năng lực đọc và rèn kĩ năng đọc đúng, đọc hay trong các văn bản truyện. Học sinh phải tham gia các hoạt động học tập một cách tích cực và hứng thú. Thông qua các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực giúp học sinh có năng lực ngôn ngữ và phát triển tư duy. 2.2.Nội dung chƣơng trình và các cách thức thực hiện giải pháp 2.2.1.Nội dung chƣơng trình, tài liệu sách Hƣớng dẫn học Tiếng Việt 5 2.2.1.1.Nội dung chƣơng trình môn Tiếng Việt lớp 5 Tiếp theo chương trình tập đọc lớp 1,2,3,4, phân môn Tập đọc ở lớp 5 được học mỗi tuần 2 tiết. Thông qua 61 bài tập đọc thuộc các loại hình văn bản nghệ thuật, báo chí, khoa học, trong đó có 44 bài văn xuôi (4 bài là trích đoạn kịch), 17 bài thơ (có 3 bài ca dao ngắn được dạy trong cùng một tiết), phân môn Tập đọc ở lớp 5 tiếp tục củng cố, nâng cao kĩ năng đọc trơn, đọc thầm, tiếp tục rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm là kĩ năng bắt đầu được rèn luyện từ lớp 4. 2.2.1.2.Phƣơng pháp rèn đọc cho học sinh lớp 5 Trong thực tế mỗi bài Tập đọc đều có hai phần lớn: Luyện đọc và tìm hiểu nội dung. Hai phần này có thể tiến hành cùng một lúc hoặc đan xen vào nhau hoặc cũng có thể dạy tách theo hai phần. Tuỳ theo từng bài mà giáo viên lựa chọn, dù dạy như thế nào thì hai phần này luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau, cần tìm hiểu bài giúp học sinh hiểu kĩ nội dung, nghệ thuật của bài. Từ đó các em đọc đúng, biết đọc ngắt giọng, nhấn giọng để thể hiện nội dung của bài, 10 thể hiện những hiểu biết của mình xung quanh bài đọc. Vì vậy việc rèn đọc trong bài Tập đọc rất quan trọng, góp phần làm giàu vốn kiến thức ngôn ngữ vào đời sống và kiến thức văn học cho học sinh. Từ đó, góp phần hình thành ở các em những phẩm chất, nhân cách tốt. Việc dạy học tập đọc được đưa vào chương trình từ rất lâu đến nay. Đây là một phân môn cần thiết để tạo điều kiện học tốt môn học. Việc dạy tập đọc được dạy một cách có kế hoạch mang tính chủ động kết hợp với các câu hỏi hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài tập đọc, qua đó giáo dục nhân cách, đạo đức thẩm mỹ lòng tự hào dân tộc tình thần đoàn kết, yêu thương anh em, đồng bào. Trong quá trình tìm hiểu bài, học sinh phải biết tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của từng đoạn. Từ đó mới hiểu được nội dung của từng bài và tìm ra cách đọc tốt nhất . Dạy Tập đọc cần dạy sát đối tượng, sát trình độ để đảm bào tính vừa sức. 2.2.1.3.Yêu cầu cần đạt trong phân môn Tập đọc lớp 5 Rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 5 yêu cầu học sinh phải đọc rõ ràng, rành mạch. Không đọc lí nhí, giọng quá nhỏ, không dừng lâu quá để đánh vần, nghỉ hơi ở dấu chấm, dấu phẩy, chỗ cần tách ý. Biết đọc liền các tiếng trong từ ghép, từ láy hoặc cụm từ cố định. Ngoài ra còn biết đọc đúng giọng câu kể, câu hỏi, câu cảm; biết phân biệt lời dẫn chuyện với lời đối thoại. Dù đọc ở mức độ nào cũng đều yêu cầu phát âm đúng. Khi đọc thầm yêu cầu học sinh phải luyện thành thói quen để tạo được hứng thú khi đọc sách báo. Chương trình Tập đọc lớp 5 hướng đến đạt được chuẩn về kĩ năng đọc như sau: – Đọc đúng và diễn cảm các văn bản truyện, kịch bản, bài thơ, bài miêu tả, tốc độ đọc khoảng 90 – 100 tiếng trong 1 phút. – Đọc thầm với tốc độ nhanh hơn lớp 4. – Sử dụng được một số từ điển tiếng Việt thông dụng để tìm từ, nghĩa của từ, cách dùng từ và tra cứu thông tin khác. – Biết đọc theo những cách khác nhau (đọc lướt và đọc kĩ). – Ghi chép được vắn tắt những ý tưởng, chi tiết quan trọng vào phiếu đọc sách 11 hoặc sổ tay. 2.3.Một số giải pháp để rèn kĩ năng đọc văn bản truyện trong phân môn Tập đọc lớp 5 để phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh Trong chương trình tập đọc lớp 5, phần lớn các bài tập đọc là các câu chuyện. Để giúp học sinh khắc phục những hạn chế như đã nêu ở phần trên, tôi sử dụng linh hoạt một số biện pháp tích cực như sau:văn 2.3.1.Giải pháp 1: Rèn kĩ năng luyện đọc đúng a. Luyện đọc theo câu, đoạn: – Giáo viên hoặc học sinh đọc tốt đọc mẫu, học sinh đọc thầm toàn bài. Sau đó, học sinh chọn nhân vật, dự đoán giọng đọc của nhân vật. – Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu các câu, đoạn giáo viên cho học sinh tự đọc ngay, điều này có tác dụng hình thành cách đọc diễn cảm sát với nội dung bài vừa đề cập. Với những câu dài có nhiều trong văn bản truyện, học sinh xác định cách ngắt, nghỉ để đọc cho đúng. * Các bước tổ chức cho học sinh luyện đọc câu, đoạn: – Giáo viên cho học sinh đọc nối tiếp đoạn, yêu cầu cả lớp lắng nghe và tìm câu dài, khó đọc. – Sau khi học sinh phát hiện được câu dài, khó đọc giáo viên ghi vào bảng phụ hoặc trình chiếu, sử dụng kĩ thuật tia chớp để học sinh tự tìm ra cách ngắt, nghỉ phù hợp; sau đó học sinh luyện đọc theo nhiều hình thức: cá nhân, cặp đôi, nhóm. Cụ thể: + Học sinh nêu ngắn gọn và nhanh chóng (nhanh như tia chớp) các cách ngắt, nghỉ khác nhau cho cùng một câu văn. + Giáo viên tổ chức cho học sinh nhận xét thông qua hệ thống câu hỏi gợi ý: Em nào có ý kiến khác? Bạn đọc như thế nào? … Mời một vài em đọc lại. + Học sinh đọc và ngắt, nghỉ hơi để các bạn khác nhận xét, bổ sung và giáo viên thống nhất cách đọc. Ví dụ 1: Bài “ Thái sư Trần Thủ Độ” – Sách HDH Tiếng Việt 5- tập 2(trang 17) Học sinh nối tiếp nhau đọc các đoạn văn trong bài, sau đó học sinh nêu câu văn dài khó đọc, giáo viên trình chiếu, sử dụng kĩ thuật tia chớp; gọi 2-3 học 12 sinh đọc, các bạn nhận xét, bổ sung và thống nhất cách đọc đúng. Trần Thủ Độ là người có công lập nên nhà Trần/, lại là chú của vua /và đứng đầu trăm quan/, nhưng không vì thế mà tự cho phép mình/ vượt qua phép nước.// Ví dụ 2: Bài “Con gái ”- SHDH Tiếng Việt lớp 5 tập 2(trang118) Học sinh nối tiếp nhau đọc các đoạn văn trong bài, sau đó học sinh nêu câu văn dài khó đọc, giáo viên trình chiếu, sử dụng kĩ thuật tia chớp; gọi 2- 3 học sinh đọc, các bạn nhận xét, bổ sung và thống nhất cách đọc đúng. Dì Hạnh nói/ giọng đầy tự hào: “ Biết cháu tôi chưa? Con gái như nó thì một trăm đứa con trai cũng không bằng.”// Ảnh học sinh luyện đọc câu dài * Đối với các câu cảm, câu hỏi, câu khiến, câu kể: Đối với các câu cảm, câu hỏi, câu kể, câu khiến có nhiều trong các đoạn văn, giáo viên đề nghị học sinh nhớ lại cách đọc các kiểu câu chia theo mục đích nói đã học ở lớp 4 để đọc đúng giọng đọc của mỗi loại câu, biểu lộ đúng cảm xúc các câu nói của từng nhân vật và của tác giả. Như nhấn giọng từ để hỏi, lên giọng ở cuối câu hỏi, hạ giọng ở cuối câu kể, thay đổi giọng phù hợp với tình cảm cần diễn đạt trong câu cảm và để biểu lộ sắc thái tình cảm trong câu đó. 13 Với câu cầu khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ các nội dung cầu khiến khác nhau. Ví dụ 1: Trong bài: “Cái gì quý nhất?” (Sách HDH TV5, tập 1), giáo viên đề nghị học sinh nhớ lại cách đọc các kiểu câu: câu kể, câu cảm, câu hỏi,…để đọc đoạn văn sau cho đúng. Giáo viên lưu ý: các em cần đọc rõ giọng người dẫn chuyện, giọng Hùng, Quý và Nam. Ngoài ra, cần chú ý kéo dài giọng hoặc nhấn giọng tự nhiên những từ quan trọng trong ý kiến của từng nhân vật để góp phần diễn tả nội dung và bộc lộ thái độ :
Hùng nói: – Theo tớ, quý nhất là lúa gạo. Các cậu có thấy ai không ăn mà sống được không? Quý và Nam cho là có lí. Nhưng đi được mươi bước, Quý vội reo lên: – Bạn Hùng nói không đúng. Quý nhất phải là vàng. Mọi người thường nói quý như vàng là gì? Có vàng là có tiền, có tiền sẽ mua được lúa gạo! Nam vội tiếp ngay: -Quý nhất là thì giờ. Thầy giáo thường nói thì giờ quý hơn vàng bạc. Có thì giờ mới làm ra được lúa gạo, vàng bạc!
Giọng chậm, trầm Nhấn giọng ở từ để hỏi “ không”, giọng nhanh, sôi nổi, lên giọng cuối câu hỏi. Nhấn giọng ở từ “ gì ”, cao giọng ở cuối câu hỏi; câu cảm đọc nhanh, sôi nổi, cao giọng ở cuối câu. Giọng đọc thuyết phục, sôi nổi, cao giọng ở cuối câu.
Ví dụ 2: Hay trong bài “Người gác rừng tí hon” (Sách HDH TV5, tập 1), giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc đúng những câu dẫn lời nói trực tiếp của nhân vật: -Hai ngày nay đâu có đoàn khách tham quan nào? – Câu tự hỏi của bạn 14 nhỏ, giọng băn khoăn, nhấn giọng ở từ “ nào”, cao giọng ở cuối câu. – Mày đã dặn lão Sáu Bơ tối đánh xe ra bìa rừng chưa? – Nhấn giọng ở từ “ chưa” , lời bọn trộm nên hạ giọng thì thào, bí mật. – A lô, công an huyện đây! – Cao giọng ở cuối câu, giọng chú công an rắn rỏi, nghiêm trang. -Cháu quả là chàng gác rừng dũng cảm! – Cao giọng ở cuối câu, giọng vui vẻ, ngợi khen. Ví dụ 3:
Bài “Thái sư Trần Thủ Độ”- Sách hướng dẫn học 2(trang 17). Sau đây là cách đọc một số câu:
Tiếng Việt 5 Tập
Trần Thủ Độ có công lớn /, vua cũng phải nể. //Có viên quan nhân lúc vào chầu vua/, ứa nước mắt tâu: -Bệ hạ còn trẻ mà thái sư chuyên quyền/, không biết rồi xã tắc sẽ ra sao.// Hạ thần lấy làm lo lắm.// Vua đem viên quan đến gặp Trần Thủ Độ /và nói: -Kẻ này dám tâu xằng với Trẫm là Thượng phụ chuyên quyền,/ nguy cho xã tắc. Trần Thủ Độ trầm ngâm suy nghĩ rồi tâu: -Quả có chuyện như vậy//. Xin Bệ hạ quở trách thần /và ban thưởng cho người nói thật.// Ảnh học sinh luyện đọc các kiểu câu 15 b. Đọc toàn bài: – Đây là bước thực hiện sau khi học sinh đã đọc theo từng đoạn. Đọc toàn bài bước đầu giúp học sinh cảm thụ một cách tổng thể sắc thái của nội dung tác phẩm. Giáo viên yêu cầu học sinh chọn và dự đoán giọng đọc của nhân vật. Sau đó, hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài theo hệ thống các câu hỏi. B Ảnh học sinh luyện đọc toàn bài Trong các giờ tập đọc, giáo viên chú ý nhận xét sửa sai cho học sinh về cách đọc thật chu đáo để làm cơ sở cho việc đọc bài mới được tốt hơn.Khi đọc nối tiếp câu phát hiện ra học sinh nào chưa đúng, giáo viên sửa ngay. Khi đọc nối tiếp đoạn, giáo viên cho các em một số câu hỏi gợi mở để các em thảo luận tìm ra cách đọc cho mỗi đoạn (hoặc giọng đọc của các nhân vật) sau đó giáo viên sẽ là người chốt lại cách đọc. Khi đọc đoạn gọi một học sinh đọc, gọi học sinh nhận xét bạn và đọc lại, chú ý đọc ngắt, nghỉ và nhấn giọng ở các từ ngữ gợi tả, gợi cảm cho phù hợp. 16 2.3.2.Giải pháp 2: Rèn kĩ năng luyện đọc diễn cảm Văn bản truyện có các nhân vật nên đọc diễn cảm là đọc sao cho giọng đọc phù hợp với tình huống trong truyện, thể hiện được tình cảm, thái độ, đặc điểm của nhân vật truyện hay tình cảm, thái độ của tác giả đối với nhân vật. Từ việc học sinh đã luyện đọc đúng từ, câu, hiểu được nghĩa của từ, hiểu được nội dung truyện; các em tự tìm các từ cần nhấn giọng, giọng đọc phù hợp với tình cảm, thái độ, đặc điểm của nhân vật trong truyện, làm nổi bật nội dung truyện sau khi đối chiếu, bổ sung với dự đoán ban đầu. Từ đó, học sinh luyện đọc cá nhân, đọc cho nhau nghe để tự sửa và sửa cho bạn. Học sinh chia sẻ với bạn cùng bàn, trong nhóm để thống nhất cách đọc diễn cảm câu chuyện. Ví dụ 1: Bài “ Trí dũng song toàn ”- Sách HDH Tiếng Việt lớp 5 tập 2(trang 28). Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm theo kĩ thuật “ Khăn trải bàn ” để tìm cách đọc diễn cảm đoạn văn, trình chiếu nội dung đoạn văn cần đọc diễn cảm và tổ chức cho học sinh thi đọc. Chờ rất lâu mà vẫn không được vua nhà Minh cho tiếp kiến, ông vờ khóc lóc rất thảm thiết. Vua Minh liền hạ chỉ mời ông đến hỏi cho ra lẽ. Thám hoa vừa khóc vừa than rằng: -Hôm nay là ngày giỗ cụ tổ năm đời của thần, nhưng thần không có mặt ở nhà để cúng giỗ. Thật là bất hiếu với tổ tiên! Vua Minh phán: -Không ai phải giỗ người đã chết từ năm đời. Sứ thần khóc lóc như vậy thật không phải lẽ! Giang Văn Minh nghe vậy, bèn tâu: -Vậy, tướng Liễu Thăng tử trận đã mấy trăm năm, sao hàng năm nhà vua vẫn bắt nước tôi cử người mang lễ vật sang cúng giỗ? Biết đã mắc mưu sứ thần, vua Minh vẫn phải nói: -Từ nay trở đi, nước ngươi không phải góp giỗ Liễu Thăng nữa. Ví dụ 2: Bài “Thái sư Trần Thủ Độ”- Sách hướng dẫn học Tiếng Việt 5 tập 2 (trang 17). 17 Học sinh thảo luận nhóm theo kĩ thuật “ Khăn trải bàn ”, tìm cách đọc diễn cảm đoạn văn. Giáo viên chiếu đoạn văn, các nhóm thi đọc và bổ sung các kĩ năng đọc đúng, đọc hay. Trần Thủ Độ có công lớn /, vua cũng phải nể. //Có viên quan nhân lúc vào chầu vua/, ứa nước mắt tâu: -Bệ hạ còn trẻ mà thái sư chuyên quyền/, không biết rồi xã tắc sẽ ra sao.// Hạ thần lấy làm lo lắm.// Vua đem viên quan đến gặp Trần Thủ Độ /và nói: – Kẻ này dám tâu xằng với Trẫm là Thượng phụ chuyên quyền,/ nguy cho xã tắc. Trần Thủ Độ trầm ngâm suy nghĩ rồi tâu: -Quả có chuyện như vậy//. Xin Bệ hạ quở trách thần /và ban thưởng cho người nói thật.// Ảnh: Học sinh luyện đọc diễn cảm một đoạn trong bài “ Thái sư Trần Thủ Độ” 2.3.3.Giải pháp 3: Rèn kĩ năng luyện đọc phân vai Những câu chuyện đều có những nhân vật, vì vậy cần đọc sao cho giọng 18 đọc phù hợp với tính cách nhân vật trong câu chuyện là không thể thiếu. Từ việc luyện đọc đúng, luyện đọc diễn cảm tốt ở trên, học sinh tự phân công đóng vai các nhân vật truyện để đọc phân vai. Các nhóm cùng giáo viên nhận xét, bổ sung, điều chỉnh sao cho các em biết đọc phân biệt lời dẫn chuyện với lời của các nhân vật trong truyện, hiểu tính cách của từng nhân vật sao cho để có giọng đọc thích hợp và thay đổi giọng đọc như thế nào trong từng văn cảnh cho phù hợp với diễn biến của câu chuyện. Bước đầu biết làm chủ được giọng đọc đối với ngữ điệu, tốc độ, đọc cao giọng hay thấp giọng, âm sắc nhằm diễn tả đúng nội dung bài. Cuối cùng là thi đọc phân vai giữa các nhóm. Các nhóm nhận xét, bổ sung các kĩ năng đọc đúng, đọc hay và bình chọn cho nhóm đọc tốt nhất để nêu gương. Từ đó, học sinh thêm yêu thích các nhân vật truyện rồi cùng nhau sắm vai thể hiện các hành động, lời nói của các nhân vật. Ví dụ 1: Bài “Thái sư Trần Thủ Độ”- Sách HDH Tiếng Việt lớp 5 tập 2(trang 17). Giáo viên cho học sinh nêu các giọng đọc khác nhau trong bài; chú ý đọc phân biệt lời người dẫn chuyện, người xin chức câu đương, Linh Từ Quốc Mẫu, viên quan, vua. Sau đó, giáo viên yêu cầu học sinh thi đọc phân vai trong nhóm. Học sinh phải thể hiện được giọng đọc qua từng đoạn: + Đoạn 1: Câu giới thiệu về Trần Thủ Độ: giọng chậm rãi, rõ ràng. Đoạn đối thoại giữa thái sư và Linh Từ Quốc Mẫu: giọng nhanh, hấp dẫn. Câu nói của thái sư với người xin làm chức câu đương: giọng lạnh lùng, nghiêm nghị. + Đoạn 2: Giọng đọc ôn tồn, điềm đạm. + Đoạn 3: Lời viên quan tâu với vua: tha thiết, lời vua: chân thành, tin cậy; lời Trần Thủ Độ: trầm ngâm, thành thật, gây ấn tượng bất ngờ. Học sinh trong nhóm cùng nhau thảo luận tìm ra giọng đọc phù hợp cho từng nhân vật nên đã phát triển được năng lực giao tiếp, kĩ năng làm việc nhóm. Khi học sinh được đóng vai nhân vật, các em rất hào hứng và sôi nổi. Từ đó, học sinh đã mạnh dạn, tự tin hơn; các em được hòa mình vào nhân vật và học tập những đức tính tốt từ nhân vật, vận dụng vào trong thực tế cuộc sống; đồng thời còn góp phần nâng cao kĩ năng đọc văn bản cho học sinh. 19 Ảnh: Học sinh đóng vai một đoạn trong bài “ Trí dũng song toàn” Ví dụ 2: Trong câu chuyện “Phân xử tài tình ” (Sách HDH TV5 – tập 2), giáo viên cho học sinh thảo luận, nêu và đọc được các giọng đọc khác nhau của các nhân vật và người dẫn chuyện. Đó là: – Giọng người dẫn chuyện: Giọng rõ ràng, rành mạch, biểu thị cảm xúc khâm phục. – Giọng hai người đàn bà: giọng mếu máo, ấm ức. – Giọng quan án: giọng ôn tồn, đĩnh đạc, trang nghiêm. Sau đó, giáo viên yêu cầu các em đọc theo hình thức phân vai trong nhóm. Giáo viên mời 1 nhóm đọc trước lớp, cả lớp lắng nghe và nhận xét cách đọc của từng nhân vật . Sau đó 2 đến 3 nhóm thi đọc để chọn ra nhóm, cá nhân đọc hay nhất để nêu gương. 2.3.4.Giải pháp 4: Áp dụng các phƣơng pháp, kĩ thuật dạy học tích cực theo hƣớng phát triển năng lực học sinh Để kích thích tư duy sáng tạo và sự cộng tác làm việc của học sinh; tạo 20 không khí học tập sôi nổi, vui vẻ để học sinh luyện đọc có hiệu quả; tôi đã phối hợp linh hoạt các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực sau:n tr 2.3.4.1.Phƣơng pháp giải quyết vấn đề a.Khái niệm Phương pháp giải quyết vấn đề là phương pháp giáo viên tạo ra những tình huống có vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác. b.Cách tiến hành – Giáo viên nêu vấn đề: Giọng đọc của mỗi nhân vật trong câu chuyện thế nào? – Học sinh dự đoán giọng đọc của nhân vật bằng các kiến thức đã học và qua trải nghiệm. – Học sinh luyện đọc đúng, giải nghĩa từ, tìm hiểu bài. Sau đó, đối chiếu với dự đoán. – Cuối cùng, học sinh kết luận giọng đọc đúng của từng nhân vật. Từ đó, luyện đọc đúng, đọc hay. Ví dụ 1: Khi dạy bài Tập đọc “Lập làng giữ biển” -Sách HDH Tiếng Việt 5 tập 2 (trang 40), sau khi học sinh đọc thầm toàn bài, tôi nêu vấn đề: + Giọng đọc của các nhân vật trong câu chuyện thế nào? + Từng học sinh sẽ dự đoán giọng đọc của nhân vật, ví dụ : Lời của bố Nhụ: điềm tĩnh, lời của ông Nhụ: kiên quyết, lời của Nhụ: nhẹ nhàng. + Sau khi các em luyện đọc, tìm hiểu bài, luyện đọc diễn cảm thì cá nhân học sinh tự đối chiếu với dự đoán của mình xem đã chính xác chưa và trao đổi cặp đôi, với các bạn trong nhóm để tìm ra giọng đọc phù hợp. Giọng đọc của các nhân vật trong bài: Lời của bố Nhụ: lúc đầu điềm tĩnh, dứt khoát; sau đó hào hứng, sôi nổi. Lời của ông Nhụ: kiên quyết, gay gắt. Lời đáp của Nhụ: nhẹ nhàng. Ví dụ 2: Trong bài tập đọc” Phân xử tài tình” – Sách HDH TV5 tập 2 (trang 51), sau khi nghe giáo viên đọc, học sinh dự đoán giọng đọc của mỗi nhân vật: 21 Giọng của quan: ôn tồn; giọng của hai người đàn bà: mếu máo; giọng của người dẫn chuyện: rõ ràng. Sau khi luyện đọc đúng, tìm hiểu bài, luyện đọc diễn cảm thì từng học sinh sẽ đối chiếu với dự đoán và rút ra giọng đọc phù hợp của từng nhân vật trong bài. Giọng của các nhân vật đọc như sau: Người dẫn chuyện: giọng rõ ràng, rành mạch, biểu thị cảm xúc khâm phục. Hai người đàn bà: giọng mếu máo, ấm ức. Giọng quan án: ôn tồn, trang nghiêm. Áp dụng phương pháp này tôi thấy học sinh học tập rất hứng thú, các em thấy mình là chủ thể, là nhân vật không thể thiếu của tiết học. Suy nghĩ đó giúp các em sáng tạo và rất chủ động trong tiết học. Phương pháp này giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. 2.3.4.2. Phƣơng pháp đóng vai: a.Khái niệm: Đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. Đây là một phương pháp được sử dụng rất nhiều khi dạy văn bản truyện. Học sinh được hóa thân vào các nhân vật, cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm hình thành nhân cách cho học sinh. Sử dụng phương pháp đóng vai đã phát triển cho học sinh các năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học, phẩm chất yêu nước, nhân ái. b. Cách tiến hành – Giáo viên chia nhóm và yêu cầu học sinh chọn một đoạn trong bài đọc để đóng vai và quy định rõ thời gian chuẩn mực, thời gian đóng vai. – Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai. . – Các nhóm lên đóng vai. – Giáo viên phỏng vấn học sinh đóng vai: + Cảm xúc, thái độ của em khi được đóng vai nhân vật trong truyện? -Lớp thảo luận, nhận xét: + Giọng đọc đã phù hợp với lời của các nhân vật trong truyện chưa? Cách ngắt, 22 nghỉ, nhấn giọng, cao độ, ngữ điệu, hành động, cử chỉ đã phù hợp chưa? + Bình chọn cho học sinh, cho nhóm nào đóng vai tốt nhất. -Giáo viên kết luận. Ví dụ 1: Bài “ Chuỗi ngọc lam ” – Sách HDH Tiếng Việt 5 tập 1 Giáo viên yêu cầu học sinh chọn một đoạn trong bài để đóng vai. Các nhóm phân công luyện đọc phân vai và đóng vai nhân vật mình thích. Các bạn trong nhóm sửa và thống nhất giọng đọc, hành động, cử chỉ phù hợp của từng nhân vật. Sau đó, các nhóm thi sắm vai, các nhóm khác nhận xét, bình chọn cho nhóm đóng vai đạt nhất để nêu gương. Ví dụ 2: Bài “ Trí dũng song toàn ” – Sách HDH Tiếng Việt 5 tập 2 (trang 28) Giáo viên yêu cầu mỗi nhóm chọn một đoạn trong bài để đóng vai. Học sinh trong nhóm thảo luận, phân công luyện đọc theo vai nhân vật và sắm vai nhân vật mình thích. Sau đó, các nhóm lên sắm vai thể hiện hành động, lời nói của nhân vật; các nhóm khác nhận xét, bình chọn cho bạn, cho nhóm đóng vai tốt nhất để nêu gương. Ảnh: Học sinh đóng vai một đoạn trong bài “ Trí dũng song toàn” 23 2.3.4.3. Kĩ thuật khăn trải bàn a. Khái niệm . Kĩ thuật khăn trải bàn là 1hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm mục đích: – Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực của học sinh. – Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh. – Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh. b. Cách tiến hành Ví dụ 1: Bài “ Trí dũng song toàn ”- SGK Tiếng Việt lớp 5 tập 2(trang 28) Khi hướng dẫn học sinh luyện đọc các đoạn, tôi đã sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn. Tôi chia lớp thành các nhóm 4. Nhóm 1 nêu cách đọc của đoạn l, nhóm 2 nêu cách đọc của đoạn 2, nhóm 3 nêu cách đọc của đoạn 3, nhóm 4 nêu cách đọc của đoạn 4. Các nhóm dùng bảng phụ, chia bảng phụ làm các phần, các thành viên của từng nhóm ghi nhanh ý kiến của cá nhân mình vào ô của mình trên bảng phụ này. Sau đó ý tổng hợp được ghi ở giữa bảng. Học sinh chuyển tiếp sang kĩ thuật mảnh ghép để chia sẻ cách đọc tất cả các đoạn. Các nhóm khác bổ sung và thống nhất cách đọc đúng cho từng đoạn. Kĩ thuật này đã phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác, tự chủ và tự học cho học sinh. 24 25 Ví dụ 2: Bài “ Người gác rừng tí hon” ( Sách HDH TV5, tập 1) Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài, tôi đã sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn, các em hoạt động theo nhóm 4 và trả lời 3 câu hỏi: + Vì sao bạn nhỏ tự nguyện tham gia bắt bọn trộm? + Em học tập được ở bạn nhỏ những điều gì? + Nội dung của đoạn 3 là gì? Các nhóm dùng bảng phụ, chia bảng phụ làm các phần, các thành viên của từng nhóm ghi nhanh ý kiến của cá nhân mình vào ô của mình trên bảng phụ này. + Vì sao bạn nhỏ tự nguyện tham gia bắt bọn trộm? (Vì bạn yêu rừng giống như ba./ Vì bạn muốn đóng góp công sức của mình để bảo vệ rừng. /Vì bạn nhỏ có ý thức, trách nhiệm của một công dân, tôn trọng và bảo vệ tài sản chung của mọi người./ Vì bạn nhỏ yêu rừng, có trách nhiệm với tài sản chung nên bạn nhỏ tự nguyện tham gia bắt bọn trộm gỗ.) + Em học tập được ở bạn nhỏ những điều gì? (Tinh thần, trách nhiệm bảo 26 vệ tài sản chung./ Sự bình tĩnh, thông minh khi xử lí tình huống./ Khả năng phán đoán và xử lí nhanh./ Tính kiên trì, dũng cảm và sự táo bạo.) + Nội dung của đoạn 3 là gì? (Tình yêu rừng của bạn nhỏ.) Sau đó ý tổng hợp được ghi ở giữa bảng. Các nhóm khác bổ sung và thống nhất ý kiến đúng. Từ việc tìm hiểu kĩ nội dung bài đọc, các em biết chuyển giọng đọc linh hoạt, phù hợp với nội dung của từng đoạn và thể hiện đúng giọng đọc của mỗi nhân vật trong phần luyện đọc diễn cảm. 2.3.4.4. Kĩ thuật tia chớp a.Khái niệm Kĩ thuật tia chớp là một kĩ thuật huy động sự tham gia của các thành viên đối với một câu hỏi nào đó, hoặc nhằm thu thông tin phản hồi nhằm cải thiện tình trạng giao tiếp và không khí học tập trong lớp học, thông qua việc các thành viên lần lượt nêu ngắn gọn và nhanh chóng (nhanh như chớp) ý kiến của mình về câu hỏi hoặc tình trạng vấn đề. b. Cách tiến hành Sử dụng kĩ thuật tia chớp trong rèn đọc như luyện đọc câu văn dài của truyện, học sinh lần lượt nêu ngắn gọn và nhanh chóng (nhanh như tia chớp) các cách ngắt, nghỉ khác nhau cho cùng một câu văn. Áp dụng kĩ thuật này đã tạo cơ hội cho nhiều học sinh được thể hiện và rèn luyện kĩ năng giao tiếp, bày tỏ ý kiến, tạo tình huống để học sinh bộc lộ các năng lực như: phản ứng với tốc độ nhanh, kĩ năng tư duy. Ví dụ 1: Bài “ Con gái ”- SGK Tiếng Việt lớp 5 tập 2 (trang118) Khi luyện đọc câu: Tan học các bạn trai còn mải đá bóng thì Mơ đã về cặm cụi tưới rau rồi chẻ củi, nấu cơm giúp mẹ. Bằng kĩ thuật tia chớp giáo viên đưa ra câu hỏi: Để đọc được tốt câu văn trên, em cần ngắt nghỉ hơi như thế nào ? Nhanh như tia chớp nhiều học sinh được nêu ý kiến của mình để có thể đưa ra cách đọc đúng như sau: -li rƣớn ngƣời lên/ và chỉ còn cách xà Tan học các bạn trai còn mải đá bóng/ thì Mơ đã về cặm cụi tưới rau /rồi 27 chẻ củi, nấu cơm giúp mẹ. Ví dụ 2: Bài “ “ Chuỗi ngọc lam”- SHDH Tiếng Việt lớp 5 tập 1(trang 144) Học sinh nối tiếp nhau đọc các đoạn văn trong bài, sau đó học sinh nêu câu văn dài khó đọc, giáo viên trình chiếu, sử dụng kĩ thuật tia chớp; gọi 2-3 học sinh đọc, các bạn nhận xét, bổ sung và thống nhất cách đọc đúng. Chiều hôm ấy /có một em gái nhỏ /đứng áp trán vào tủ kính cửa hàng của Pi-e, nhìn từng đồ vật như muốn kiếm thứ gì. Học sinh rất hào hứng, sôi nổi và bạn nào cũng tích cực tham gia vào hoạt động. Khi được đưa ra ý kiến cá nhân đã giúp các em phát triển được kĩ năng giao tiếp và các em sẽ nhớ lâu hơn kiến thức mà mình vừa được học. Những học sinh rụt rè, nhút nhát cũng dần tự tin hơn và tích cực tham gia vào hoạt động, đưa ra ý kiến của mình về cách ngắt, nghỉ câu văn dài. Học sinh được hòa mình vào hoạt động, giáo viên tích cực khen ngợi khích lệ nên các em thêm hào hứng. Ảnh: Học sinh đọc câu văn dài 28 Ví dụ 3: Bài “ Lập làng giữ biển ” – Sách HDH TV5 tập 2 (trang 40). Học sinh đọc nối tiếp đoạn,tìm ra câu văn dài khó đọc, giáo viên sử dụng kĩ thuật tia chớp để nhiều học sinh được đưa ra ý kiến về cách đọc câu văn sau: Nhụ đi và sau đó cả nhà sẽ đi. Đã có một làng Bạch Đằng Giang do những người dân chài lập ra ở đảo Mõm Cá Sấu. Sau đó, học sinh cùng giáo viên thống nhất cách đọc đúng cho câu văn: Nhụ đi/ và sau đó/ cả nhà sẽ đi. // Đã có một làng Bạch Đằng Giang /do những người dân chài lập ra /ở đảo Mõm Cá Sấu.// Như vậy, khi học sinh học hết chương trình tiểu học hoặc hết một giai đoạn học tập, học sinh đã hình thành và phát triển tốt năng lực đọc thì khi gặp các văn bản truyện có trong các môn học khác như Lịch sử, Đạo đức,.. hoặc trong cuộc sống như ở thư viện, trong sách, báo, tạp chí,… với nhiều thể loại khác nhau, học sinh sẽ biết cách đọc phù hợp.Ví dụ: Truyện có yếu tố gây cười đọc nhấn giọng từ ngữ hài hước, giọng đọc hóm hỉnh, vui tươi; truyện có yếu tố li kì, hấp dẫn, đọc nhấn giọng ở tình tiết kì bí; truyện lịch sử đọc giọng trang trọng… Từ đó, học sinh có thể phát triển tốt năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, vận dụng những điều đã học vào trong cuộc sống để đọc và học suốt đời. 3. Thực nghiệm sƣ phạm 3.1.Mô tả thực nghiệm dạy học 3.1.1.Mục đích của thực nghiệm dạy học Thực nghiệm dạy học nhằm kiểm định tính khả thi và hiệu quả của các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong việc rèn kĩ năng đọc văn bản truyện trong phân môn Tập đọc lớp 5. 3.1.2.Đối tƣợng thực nghiệm dạy học Tôi tiến hành thực nghiệm trên học sinh lớp 5C của trường Tiểu học Thị trấn Rạng Đông – Nghĩa Hưng Nam Định (Trường thực hiện dạy học theo mô hình VNEN từ năm học 2015 – 2016). Trường có học sinh tham gia thực nghiệm không chia lớp chuyên, lớp chọn. Như vậy, trình độ của học sinh là tương đối đồng đều giữa các lớp. 3.1.3. Nội dung và tiến hành thực nghiệm 29 Trong năm học 2019 – 2020, tôi đã áp dụng các biện pháp và kĩ thuật dạy học như đã trình bày ở phần trên đối với toàn bộ học sinh của lớp 5C. Sau đây là một số ví dụ minh họa các tiết học có sử dụng các biện pháp, kĩ thuật nêu trên: 3.1.3.1. Kế hoạch bài dạy “ Tập đọc: Thái sƣ Trần Thủ Độ” KẾ HOẠCH BÀI DẠY Tập đọc: Thái sƣ Trần Thủ Độ (Bài 20A – Tuần 20) I.Mục tiêu: 1. Phát triển năng lực ngôn ngữ: – Đọc trôi chảy được toàn bài, ngắt nghỉ hơi đúng sau các dấu câu, giữa các cụm từ. Thay đổi giọng phù hợp với từng nhân vật. – Đọc diễn cảm toàn bài. 2. Phát triển năng lực văn học: – Hiểu nội dung bài: Ca ngợi thái sư Trần Thủ Độ – một người cư xử gương mẫu, nghiêm minh, không vì tình riêng mà làm sai phép nước. 3. Phát triển năng lực chung và phẩm chất: – Phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác, tự chủ, tự học, giải quyết vấn đề và sáng tạo. – Khơi gợi lòng tự hào về truyền thống dân tộc, tình yêu đất nước. II. Đồ dùng dạy học: – Giáo viên: Máy tính, máy chiếu, đồ dùng dạy học, tranh minh họa bài tập đọc, video về Thái sư Trần Thủ Độ. – Học sinh: Tài liệu hướng dẫn học, điều chỉnh hướng dẫn học ,đồ dùng học tập. III. Phƣơng pháp và kĩ thuật dạy học, hình thức tổ chức dạy học 1. Phương pháp dạy học: – Phương pháp trò chơi – Phương pháp hỏi đáp – Phương pháp quan sát – Phương pháp giải quyết vấn đề – Phương pháp thực hành luyện tập 30 – Phương pháp thảo luận nhóm 2. Kĩ thuật dạy học: – Kĩ thuật đặt câu hỏi – Kĩ thuật khăn trải bàn – Kĩ thuật thảo luận nhóm 3. Hình thức tổ chức dạy học: – Làm việc cá nhân – Nhóm đôi, nhóm 4, cả lớp. IV. Các hoạt động dạy học chủ yếu A. Hoạt động khởi động: Trò chơi “Chuyền hoa” 1. Mục tiêu: Khơi gợi hứng thú học tập cho HS. Nêu một đức tính, việc làm tốt của người công dân tương lai. 2. Cách tiến hành: – Tổ chức cho học sinh chơi trò chơi: Chuyền hoa. + Gv cho cả lớp hát bài “ Lớp chúng mình đoàn kết”, vừa hát và vừa chuyền hoa. Bài kết thúc, bông hoa chuyền đến bạn nào thì bạn ấy nêu một đức tính, việc làm tốt của người công dân tương lai? *Giới thiệu bài: – Chúng mình đang học chủ điểm gì? (Chủ điểm Người công dân) – Trong tuần 19, chúng ta được tìm hiểu đoạn kịch Người công dân số Một. Vậy người công dân số Một là ai? (Bác Hồ) – Đúng rồi các em ạ, Bác Hồ là một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Bác đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đi qua hai cuộc kháng chiến và giành được độc lập, tự do cho dân tộc. – Trong các thời kì lịch sử, luôn luôn có những tấm gương, những công dân tiêu biểu. Cả cuộc đời họ cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Thái sư Trần Thủ Độ là một trong những tấm gương ưu tú đó. Hôm nay, cô trò mình cùng nhau tìm hiểu bài tập đọc Thái sư Trần Thủ Độ. – GV ghi tên bài. 31 – HS ghi tên bài vào vở. *Tìm hiểu và chia sẻ mục tiêu – Gọi HS đọc mục tiêu trong điều chỉnh HDH. – GV chốt- chuyển: Cô nhất trí với ý kiến của các em. Mời các em HĐ theo điều chỉnh HDH. B. Hoạt động cơ bản. Hoạt động 1: Quan sát tranh, trả lời câu hỏi 1. Mục tiêu: Quan sát tranh minh họa bài tập đọc và nghe giới thiệu về Thái sư Trần Thủ Độ. 2. Cách tiến hành: – Quan sát tranh minh họa cho nội dung bài đọc Thái sư Trần Thủ Độ và trả lời câu hỏi: -HS quan sát tranh và trả lời câu hỏi cá nhân . + Bức tranh vẽ cảnh gì? (Bức tranh vẽ cảnh một người quen của vợ Trần Thủ Độ mang của cải vào xin làm chức câu đương) + Bạn biết gì về ông Trần Thủ Độ? (Trần Thủ Độ là người có công lập nên nhà Trần. Ông là người rất nghiêm minh) -HS chia sẻ trong nhóm. -HS chia sẻ trước lớp. – GV giới thiệu thêm về nhân vật Trần Thủ Độ : Thái sư Trần Thủ Độ là người thông minh bậc nhất lịch sử Việt Nam. Ông sinh năm 1194, mất năm 1264. Ông chính là một trong những người có công lao khai sáng, xây dựng và lập nên nhà Trần. Ông hết lòng, hết sức, tận tụy, trung thành giúp các vua Trần giữ gìn cơ nghiệp, bảo vệ đất nước, chống giặc ngoại xâm. Khi quân Nguyên – Mông tràn qua biên giới, vua Trần vô cùng lo lắng nhưng Trần Thủ Độ khẳng định: “ Đầu thần chưa rơi, xin bệ hạ đừng lo.” Không những thế , ông còn là một tấm gương cư xử gương mẫu, nghiêm minh. Bài học hôm nay giúp em hiểu thêm về nhân vật lịch sử này. 32 Hoạt động 2: Nghe thầy cô đọc bài 1. Mục tiêu: Nghe giáo viên đọc, đọc thầm và nhận biết giọng đọc bài. 2. Cách tiến hành: -GV đọc mẫu. -1 HS đọc toàn bài. Học sinh chọn nhân vật và dự đoán giọng đọc của nhân vật -Chuyển: Chúng ta cùng chuyển sang hoạt động 2. Hoạt động 3: Đọc từ và lời giải nghĩa 1. Mục tiêu: Hiểu được nghĩa của một số từ ngữ có trong bài đọc. 2. Cách tiến hành: Việc 1: 1 bạn đọc từ, 1 bạn đọc lời giải nghĩa. Việc 2: Tra từ điển (nếu có từ em thấy khó hiểu) -HS tự tra từ điền tìm hiểu nghĩa của những từ mà học sinh chưa hiểu. – GV giải thích thêm cho học sinh: thềm cấm: khu vực cấm trước cung vua khinh nhờn: coi thường kể rõ ngọn ngành : nói rõ đầu đuôi sự việc chầu vua: vào triều nghe lệnh vua hạ thần : từ ngữ mà quan lại thời xưa dùng để tự xưng khi nói với vua. chuyên quyền : nắm mọi quyền hành và tự ý quyết định mọi việc. tâu xằng: tâu sai sự thật. Hoạt động 4: Cùng luyện đọc 1. Mục tiêu: Phát âm đúng, đọc đúng từ ngữ, câu, đoạn của bài. 2. Cách tiến hành: -GV: Bài đọc Thái sư Trần Thủ Độ được chia thành 3 đoạn. + Đoạn 1: Từ đầu ……… ông mới tha cho. +Đoạn 2: Một lần khác……..lụa thưởng cho. 33 +Đoạn 3: Còn lại -Mỗi một đoạn là một mẩu chuyện ngắn về cách cư xử gương mẫu và nghiêm minh của ông. – GV giao nhiệm vụ: Học sinh đọc thầm cá nhân, đọc nối tiếp nhau trong nhóm câu chuyện. Sau đó, GV sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn. GV chia lớp thành các nhóm 4. Nhóm 1 nêu cách đọc của đoạn l, nhóm 2 nêu cách đọc của đoạn 2, nhóm 3 nêu cách đọc của đoạn 3, nhóm 4 nêu cách đọc của đoạn 4. Các nhóm dùng bảng phụ, chia bảng phụ làm các phần, các thành viên của từng nhóm ghi nhanh ý kiến của cá nhân mình vào ô của mình trên bảng phụ này. Sau đó ý tổng hợp được ghi ở giữa bảng. Học sinh chuyển tiếp sang kĩ thuật mảnh ghép để chia sẻ cách đọc tất cả các đoạn. + Đoạn 1: Câu giới thiệu về Trần Thủ Độ giọng chậm rãi, rõ ràng. Đoạn đối thoại giữa Thái sư và Linh Từ Quốc Mẫu: giọng nhanh, hấp dẫn. Câu nói của Thái sư với người xin làm chức câu đương: giọng lạnh lùng, nghiêm nghị. + Đoạn 2: Giọng đọc ôn tồn, điềm đạm. + Đoạn 3: Lời viên quan tâu với vua: tha thiết, lời vua: chân thành, tin cậy; lời Trần Thủ Độ: trầm ngâm, thành thật, gây ấn tượng bất ngờ. – Trưởng ban học tập cho các bạn đọc nối tiếp trước lớp. +HS đọc nối tiếp trước lớp. (2 lượt hs đọc) – HS đọc nối tiếp lượt 2. -Hs khác nhận xét. -Gv nhận xét, sửa cho hs. Hoạt động 5: Tìm hiểu bài 1. Mục tiêu: Trả lời đúng các câu hỏi về nội dung bài. Hiểu được nội dung bài đọc. 2. Cách tiến hành: Việc 1: Đọc thầm và trả lời câu hỏi trong sách HDH. Việc 2: Chia sẻ với bạn trong nhóm. -GV Chia sẻ trƣớc lớp: GV hỏi : 34 -Đoạn 1: + Khi có người muốn xin chức câu đương, ông Trần Thủ Độ đã làm gì? (Khi có người muốn xin chức câu đương, ông Trần Thủ Độ đã đồng ý nhưng yêu cầu chặt một ngón chân của người đó để phân biệt với các câu đương khác) -Đoạn 2: +Trước việc làm của người quân hiệu, ông Trần Thủ Độ xử lí ra sao? (Trước việc làm của người quân hiệu, ông Trần Thủ Độ không những không trách móc mà còn thưởng cho vàng, lụa) + Vì sao ông Trần Thủ Độ lại thưởng vàng, lụa cho người quân hiệu? (Vì ông khuyến khích những nguòi làm đúng theo phép nước) -Đoạn 3: +Khi biết có viên quan tâu với vua rằng mình chuyên quyền, ông Trần Thủ Độ nói thế nào? (Ông Trần Thủ Độ đã nhận lỗi và xin vua ban thưởng cho viên quan dám nói thẳng) + Những lời nói và việc làm của ông Trần Thủ Độ cho thấy ông là người như thế nào? (Ông là người cư xử nghiêm minh, nghiêm khắc với bản thân, luôn đề cao kỉ cương, phép nước) -Học sinh xin ý kiến của giáo viên. -GV chia sẻ thêm và chốt kiến thức: + Ở mẩu chuyện thứ nhất, khi có người muốn xin chức câu đương, ông Trần Thủ Độ đã đồng ý nhưng yêu cầu chặt một ngón chân của người đó để phân biệt với các câu đương khác. Cô đố các em biết vì sao ông lại làm như vậy? (Vì ông muốn răn đe những kẻ không làm theo phép nước) +Thông qua ba mẩu chuyện trên, em có nhận xét gì về Thái sư Trần Thủ Độ? (Bài đọc ca ngợi thái sư Trần Thủ Độ – một người cư xử gương mẫu, nghiêm minh, không vì tình riêng mà làm sai phép nước.) Hoạt động 6: Đọc phân vai trong nhóm 1. Mục tiêu: Đọc phân vai đoạn văn 3 trong bài văn. 35 2. Cách tiến hành: -Các nhóm luyện đọc phân vai đoạn 3 (người dẫn chuyện, viên quan, vua, Trần Thủ Độ). Học sinh thảo luận và nêu giọng đọc của các nhân vật: Lời viên quan tâu với vua: tha thiết, lời vua: chân thành, tin cậy; lời Trần Thủ Độ: trầm ngâm, thành thật, gây ấn tượng bất ngờ. Sau đó, học sinh phân công luyện đọc phân vai trong nhóm. Hoạt động 7: Thi đọc – Các nhóm thi đọc phân vai đoạn 3 trước lớp. + Cô mời 2-3 nhóm thi đọc phân vai đoạn 3 trước lớp. -Cùng bình chọn nhóm đọc hay, bạn đọc hay nhất. + Các em hãy bình chọn cho nhóm đọc hay, bạn đọc hay nhất. + Tại sao em lại bình chọn cho nhóm bạn? + Vì sao em lại thích cách đọc của bạn? – Các nhóm cùng thi sắm vai một đoạn trong bài, các nhóm khác nhận xét, bình chọn cho bạn, cho nhóm đóng vai tốt nhất để nêu gương. * Hoạt động kết thúc, nối tiếp: – Hs đánh giá việc thực hiện mục tiêu: + Theo các em, tiết học hôm nay chúng mình đã thực hiện được mục tiêu của bài học chưa? (Theo em, chúng em đã thực hiện được mục tiêu của bài học vì chúng em đã đọc diễn cảm và hiểu được nội dung của bài đọc Thái Sư Trần Độ) – Gv nhận xét, đánh giá : Qua tiết học hôm nay, cô thấy tất các em đều tích cực học tập, tiết học của chúng ta rất sôi nổi. Đặc biệt, các em đã đọc rất hay, thể hiện được cảm xúc của các nhân vật và hiểu được nội dung của bài. Cô khen tất cả các em. – Gv cho hs xem video về Thái sư Trần Thủ Độ. – Hs viết thư chia sẻ sau bài học. 36 3.1.3.2. Kế hoạch bài dạy “ Tập đọc: Công việc đầu tiên” KẾ HOẠCH BÀI DẠY Tập đọc: Công việc đầu tiên (Bài 31A – Tuần 31) I.Mục tiêu 1. Phát triển năng lực ngôn ngữ: – Đọc trôi chảy được toàn bài, ngắt nghỉ hơi đúng sau các dấu câu, giữa các cụm từ, nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả. – Đọc diễn cảm toàn bài, thay đổi giọng linh hoạt phù hợp với từng nhân vật. 2. Phát triển năng lực văn học: -Hiểu nội dung bài: Bài văn nói lên nguyện vọng và lòng nhiệt thành của một phụ nữ dũng cảm muốn làm việc lớn, đóng góp công sức cho cách mạng. 3. Phát triển năng lực chung và phẩm chất: – Phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác, tự chủ, tự học, giải quyết vấn đề và sáng tạo. – Khơi gợi lòng tự hào về truyền thống dân tộc, tình yêu đất nước, trách nhiệm giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc. II. Đồ dùng dạy học: – Giáo viên: Máy tính, máy chiếu, đồ dùng dạy học, tranh minh họa bài tập đọc, video bài hát “ Phụ nữ Việt Nam”. – Học sinh: Tài liệu hướng dẫn học, điều chỉnh hướng dẫn học ,đồ dùng học tập. III. Phƣơng pháp và kĩ thuật dạy học, hình thức tổ chức dạy học 1. Phương pháp dạy học: – Phương pháp trò chơi – Phương pháp hỏi đáp – Phương pháp quan sát – Phương pháp giải quyết vấn đề – Phương pháp thực hành luyện tập – Phương pháp thảo luận nhóm 2. Kĩ thuật dạy học: – Kĩ thuật đặt câu hỏi 37 – Kĩ thuật khăn trải bàn – Kĩ thuật thảo luận nhóm 3. Hình thức tổ chức dạy học: – Làm việc cá nhân – Nhóm đôi, nhóm 4, cả lớp. IV. Các hoạt động dạy học chủ yếu
HĐ của GV
HĐ của HS
A. Hoạt động khởi động: Trò chơi “Mảnh ghép” 1. Mục tiêu: Khơi gợi hứng thú học tập cho HS. Nêu được những tấm gương phụ nữ Việt Nam anh hùng qua các thời kì lịch sử 2. Cách tiến hành: – Để khởi động tiết học, cô sẽ tổ chức cho các em chơi trò chơi “ Mảnh ghép”. Mảnh 1. Tên vị nữ anh hùng được nói đến trong đoạn thơ sau: “Người con gái….” (Võ Thị Sáu) Mảnh 2. Người con gái vùng núi Quan Yên – Thanh Hóa cùng anh là Tiệu Quốc Đạt lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống quân Ngô xâm lược là ai? (Triệu Thị Trinh). Mảnh 3. Năm 40, Hai người phụ nữ lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa chống quân Nam Hán là ai? (Hai Bà Trưng) Mảnh 4. Người phụ nữ là Bộ trưởng Ngoại giao nước ta tham gia Lễ kí hiệp định Pa- ri 1973 là ai? (Nguyễn Thị Bình) -GV: Các mảnh ghép mà chúng ta vừa tìm được đó là những tấm gương phụ nữ Việt Nam anh hùng qua
– Chơi trò chơi mảnh ghép. – Là anh hùng lực lượng vũ trang/ Lãnh đạo đội quân tóc dài/ Lãnh đạo đồng khởi Bến Tre.
38
các thời kì lịch sử. Còn người phụ nữ trong bức ảnh này là ai? (bà Nguyễn Thị Định) – Nói những điều em biết điều gì về bà Nguyễn Thị Định, hãy chia sẻ? GV: Bà Nguyễn Thị Định là một tấm gương nổi tiếng, là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên được phong Thiếu tướng, là anh hùng lực lượng vũ trang, Phó tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Phó Chủ tịch hội đồng nhà nước; tên tuổi bà gắn liền với phong trào Đồng khởi và “đội quân tóc dài” được khai sinh từ Bến Tre, quê hương bà. Và bài đọc “Công việc đầu tiên” chúng ta học hôm nay là trích đoạn hồi kí của bà- kể lại ngày bà còn là cô gái lần đầu làm việc cho cách mạng. Mời các em mở SGK Bài 31A: Người phụ nữ dũng cảm. – GV ghi bảng.
B. Hoạt động cơ bản Hoạt động 1: Nghe thầy cô đọc bài 1. Mục tiêu: Nghe giáo viên đọc, đọc thầm và nhận biết giọng đọc bài. 2. Cách tiến hành: – GV: Trước hết cô sẽ đọc bài Công việc đầu tiên, các em hãy lắng nghe và phát hiện xem cô đã đọc bài với giọng đọc thế nào nhé! -GV đọc m
Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY
Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education
ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN Ở bậc Tiểu học, môn Tiếng Việt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với học sinh bởi nó là môn học cung cấp cho các em những kiến thức, kĩ năng cần thiết để các em học tập và giao tiếp. Nó giúp các em có những hiểu biết về Tiếng Việt và những hiểu biết ban đầu về xã hội, tự nhiên và con người. Dạy học Tiếng Việt là dạy học tiếng mẹ đẻ. Đó là môn học hình thành và phát triển ở học sinh 4 kĩ năng: đọc – viết– nghe – nói. Trong môn Tiếng Việt, phân môn Tập làm văn là phân môn mang tính chất tổng hợp, sáng tạo, thực hành, thể hiện đậm nét dấu ấn cá nhân. Tập làm văn, viết văn, hành văn là cái đích cuối cùng cao nhất của việc học Tiếng Việt ở Tiểu học. Đối với HS lớp 2 thì đây là một phân môn khó. Bởi ở lứa tuổi của các em, vốn kiến thức và hiểu biết còn hạn hẹp. Bên cạnh đó còn có một số khó khăn khách quannhưđiều kiện sống của HS ở địa bàn thuộc vùng nông thôn, gia đình không có điều kiện để quan tâm đến các em nhiều, việc diễn đạt ngôn ngữ kém, việc tiếp thu kiến thức khá chậm, HS nghèo vốn từ ngữ,…Điều này ảnhhưởng nhiều đến việc học tập nói chung, học phân môn Tập làm văn nói riêng. Trong chương trình Tiếng Việt lớp 2, ngay từ đầu năm học, các em đựơc làm quen với đoạn văn và được rèn kỹ năng viết đoạn văn từ 3 đến 5 câu. Trong quá trình làm bài, tôi nhận thấy các em còn lúng túng, nhiều HS làm bài chưa đạt yêu cầu. Các em thường lặp lại câu đã viết, dùng từ sai, có em viết không đúng yêu cầu của đề bài hoặc có những bài làm đảm bảo về số câu nhưng viết không đủ ý. Viết là kỹ năng khó nhất trong bốn kĩ năng ngôn ngữ(đọc, viết, nghe, nói) vì khi viết ta phải viết sao cho đúng về từ vựng, cấu trúc câu(ngữ pháp), cấu trúc đoạn, cấu trúc bài và hiệu quả về cách diễn đạt. Trong khi học sinh gặp nhiều khó khăn khi thực hiện các kĩ năng nêu trên thì trong quá trình viết các em lại chưa được hướng dẫn thật chi tiết, kĩ lưỡng. Cụ thể giáo viên có thể cho học sinh đọc bài mẫu- trả lời câu hỏi- và viết bài theo mẫu; hoặc giáo viên cho đề bài tập làm văncùng học sinh phân tích yêu cầu của đề bài- và các em viết bài. Trong quá trình các 2 em viết bài, giáo viên có giám sát và hỗ trợ các em. Tuy nhiên cách hỗ trợ chỉ dừng lại ở mức độ là : các em viết hoàn toàn theo ý văn, lời văn của giáo viên hoặc giáo viên để các em hoàn toàn tự “bơi” với hướng dẫn “yêu cầu đề bài là như vậy, các em làm bài đi”. Dẫn đến tình trạng học sinh bị áp đặt và mất đi tính chủ động, tích cực trong suy nghĩ và thực hành viết vì thiếu sự hướng dẫn cần thiết của GV. Kết quả là HS không viết được đoạn văn hoặc viết kém hiệu quả. Chính vì vậy dẫn đến thực trạng các em rất sợ đến giờ viết văn và bản thân giáo viên cũng thấy áp lực khi đến giờ dạy tập làm văn. Trong giờ học, quá trình hợp tác, HS còn nhút nhát, thiếu tự tin, không mạnh dạn trao đổi, bảo vệ ý kiến của mình. Đồng thời do quen với cách học tiếp thu kiến thức thụ động, nên gặp trở ngại khi phải tự tìm tòi, phát hiện, hợp tác, chia sẻ trong việc giải quyết vấn đề đặt ra trong quá trình học tập: Làm thế nào để học sinh có hứng thú làm văn và giờ học đạt hiệu quả cao? Làm thế nào để học sinh của tôi viết đúng, viết tốt các dạng văn? Qua một thời gian nghiên cứu, tìm tòi các biện pháp để tìm câu trả lời cho những băn khoăn, trăn trở đó, tôi đã vận dụng phương pháp: dạy học làm văn bằng phương pháp trải nghiệm. Saukhi áp dụng, vận dụng trong quá trình giảng dạy, tôi đã thành công với phương pháp dạy học này, nâng cao chất lượng học tập cho HS của lớp mình nhất là đối tượng HS yếu của lớp. Đây là lý do tôi chọn và áp dụng:“Một số giải pháp giúp các em học sinh lớp 2 viết đoạn văn ngắn bằng phương pháp trải nghiệm.” Sau đây, tôi xin trình bày một số giải pháp mà bản thân đã đúc kết được trong thời gian qua. II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KĨ THUẬT: II.1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến: Là một giáo viên đã trực tiếp giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 2 nhiều năm, tôi nhận thấy: Khi học sinh bắt đầu làm quen và tiếp cận với phân môn Tập làm văn, để có cơ sở cho việc viết văn của mình thì các em phải biết thu thập thông tin, xử lý thông tin phù hợp với nội dung viết mà học sinh lại thiếu kỹ năng quan sát (nhiều 3 em còn chưa hiểu quan sát là gì), chưa có kĩ năng tưởng tượng, thu thập thông tin cần thiết, chưa biết sử dụng từ ngữ, dùng từ đặt câu để viết thành câu văn nên bài viết chưa đủ ý, câu văn không diễn đạt đầy đủ những gì mình đã quan sát được. Thường thì thấy cái gì các em nghĩ ra và viết cái đó theo kiểu liệt kê chứ không biết chắt lọc, chưa biết thu thập, sắp xếp thông tin cần thiết dẫn đến bài văn viết thường lủng củng, thiếu hình ảnh, câu văn không đủ các thành phần câu, không logic. Mặt khác do vốn từ, vốn sống thực tế của các em còn ít dẫn đến việc sử dụng từ còn lặp, vụng, chưa đúng. Bài viết của các em còn lộn xộn về ý, câu văn còn lặp từ, sai, thiếu dấu câu. Thậm chí có những em còn không biết viết một câu văn ngắn như thế nào. Trong khi học sinh gặp nhiều khó khăn như thế mà giáo viên lại chưa cảm nhận được hết những khó khăn đó của trẻ để tìm ra cách dạy tốt hơn.Nhiều em không hứng thú với tiết học làm văn hoặc gặp khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ nên các em thiếu tự tin khi chia sẻ bài viết của mình. Các em thực hiện không hào hứng những yêu cầu của giáo viên. Vì vậy mà chất lượng bài văn của học sinh còn hạn chế, không được như tôi mong muốn. Thời gian đầu bản thân tôi cũng còn chủ quan, nghĩ là học sinh của tôi ở vùng nông thôn, hàng ngày các em tiếp xúc gần gũi với thiên nhiên. Như vậy học sinh có nhiều vốn từ, vốn kiến thức để làm tốt bài văn. Nhưng thực tế trong quá trình giảng dạy tôi nhận ra rằng những suy nghĩ ban đầu của tôi là chưa đúng. Một nguyên nhân nữa là do bản thân giáo viên cũng ít thực hành viết. Việc dạy học hàng ngày ít đòi hỏi bản thân phải viết những văn bản có yêu cầu cao về kỹ thuật. Bản thân cũng chưa thường xuyên tự yêu cầu chính mình thực hành viết các đoạn văn, hay các dạng văn để phục vụ cho việc dạy tập làm văn. Việc ít thực hành khiến giáo viên không lường hết được những khó khăn của trẻ. Về phía phụ huynh học sinh: Mặc dù phụ huynh học sinh luôn kết hợp và sẵn sàng đồng hành cùng giáo viên trong các hoạt động giáo dục nhưng nhiều phụ huynh cho rằng học Tập làm văn là khó. Họ nghĩ viết văn hay là phải có năng khiếumới viết được. Lớp 2 các em đã biết gì mà viết văn và viết văn là dành cho 4 các lớp lớn hơn. Cho nên việc hỗ trợ, giúp đỡ cho các con ở nhà với phân môn này chưa được phụ huynh thực sự quan tâm. II.2. Mô tả giải pháp sau khi thực hiện sáng kiến: Với những trăn trở, khó khăn của mình trong việc dạy các em viết được một đoạn văn ngắn trong chương trình lớp 2,sau khi tìm tòi, nghiên cứu“Dạy tập làm văn theo phương pháp trải nghiệm”, tôi đã áp dụng, thực hiện các giải pháp để tiết tập làm văn gần hơn với học sinh, tạo hứng thú ngay từ đầu tiết học, tổ chức các hoạt động một cách nhẹ nhàng, giúp các em dễ hiểu, phát huy được tính chủ động, sáng tạo và tích cực của các em. Qua mỗi tiết làm văn giúp các em dần biết quan sát và cảm nhận cuộc sống, biết cách diễn đạt bằng lời những điều quan sát và cảm nhận được. Mỗi khi học viết một bài văn là một lần các em học quan sát và cảm nhận bức tranh cuộc sống, rồi tập vẽ lại bức tranh đó bằng lời văn của mình. Để các em có thể làm quen và vận dụng viết văn có hiệu quả, trước tiên giáo viên giúp học sinh viết các câu văn phải chuẩn về ngữ pháp, có đủ các thành phần câu. Các câu diễn đạt rõ ý. Từ ngữ được sử dụng phù hợp với ngữ cảnh bài văn, không dùng từ ngữ mĩ miều, không trung thực, vay mượn từ bên ngoài,không khẳng định quá mức, không nhấn mạnh quá mức, cũng không lạm dụng các biện pháp tu từ làm biến dạng sự thật ( ví dụ: so sánh thân con mèo bằng cái phích, tai như cái nấm mèo, ria như ăng ten). Sự chân thật và khả năng diễn đạt chính xác bằng lời những quan sát và cảm nhận về cuộc sống mới làm nên những bài văn tốt. Học sinh lớp 2 chưa được học về lý thuyết, ngữ pháp, các khái niệm từ và câu được hình thành thông qua thực hành luyện tập. Chính vì vậy, việc tăng cường sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ rất cần thiết trong giờ học Tập làm văn. Sử dụng phương pháp này để GV có cơ sở giúp HS nhận ra cấu tạo câu, nhằm giúp các em viết câu đúng, đủ các bộ phận của câu. Dựa vào các mẫu câu được học trong phân môn Luyện từ và câu: “ Ai – là gì?”, “ Ai – làm gì?”, “ Ai –thế nào?”, GV hướng dẫn HS nhận biết những vấn đề sau: 5 – Câu văn của em viết ra đã đủ hai bộ phận chưa: Bộ phận trả lời cho câu hỏi Ai?(hoặc cái gì?/ con gì?), bộ phận trả lời cho câu hỏi Là gì? (hoặc làm gì?/ thế nào? ( Đó chính là đảm bảo về hình thức cấu tạo ). – Người đọc, người nghe có hiểu nội dung chưa? ( Đảm bảo về mặt nghĩa ) Trên cơ sở đó, tôi hướng dẫn HS viết dấu chấm khi hết câu. Với các em lớp 2, phân môn Tập làm văn tập trung vào dạy cho học sinh kĩ năng viết cơ bản. Học sinh viết để diễn đạt những gì các em quan sát được bằng các giác quan và cảm nhận được trong cảm xúc của các em. Các em học viết về những điều có thật, có thể quan sát được và cảm nhận được. Để HS có thể viết một bài ở bất cứ độ khó hay độ dài nào, tôi luôn luôn hướng dẫn các em tuân theo các tiến trình viết sau: a, Bước thứ nhất là bước chuẩn bị: ( gồm 2 việc: việc một là xác định yêu cầu đề bài. Việc hai là thu thập thông tin) * Xác định yêu cầu đề bài: Ở bước này các em cần trả lời được câu hỏi: Yêu cầu của bài viết là gì? Sau đó các em xác định các phần nội dung chính của bài viết. Ví dụ: khi miêu tả một người, các phần nội dung chính có thể là: Hình dáng bên ngoài, tính cách, công việc, sở thích, thói quen,…Đây chưa phải là thông tin cụ thể, chi tiết, đây là các đề mục, các phần nội dung cần viết. Sau khi xác định các phần nội dung chính cần có, các em sẽ sắp xếp các phần nội dung này theo một thứ tự hợp lý, gọi là cấu trúc(dàn ý) của bài viết. Cấu trúc bài viết thể hiện sự liên kết giữa các phần nội dung, đồng thời định hướng việc thu thập thông tin chi tiết cho bài viết. *Hướng dẫn thu thập thông tin: Việc thu thập thông tin đóng vai trò quyết định đối với kết quả cuối cùng bởi nếu không có “ thông tin”, học sinh sẽ không có gì để viết. Vì vậy với mỗi tiết học làm văn, bản thân tôi phải có sự chuẩn bị, thiết kế được hệ thống câu hỏi để giúp học sinh thu thập thông tin, qua những thông tin thu thập được các em sẽ viết được đoạn văn làm người đọc, người nghe có thể hình 6 dung được nội dung mà các em viết. Việc thu thập thông tin phải được diễn ra thường xuyên thông qua các tiết học Tập đọc, qua trải nghiệm, quan sát, tưởng tượng, cảm nhận cuộc sống. Ví dụ khi thu thập thông tin để viết về một người, tôi đã tiến hành:
Các phần nội dung chính
Sắp xếp các phần nội dung thành cấu trúc hợp lý
Câu hỏi để thu thập thông tin
Thông tin thu thập được
– Công việc -Hình dáng bên ngoài – Phong cách làm việc -Tính cách -Dáng vẻ
Hình dáng bên ngoài Dáng vẻ Công việc và phong cách làm việc.
Hình dáng bên ngoài của người đó có gì đặc biệt/ đáng chú ý để nhận ra? Dáng vẻ của người đó thế nào? Người đó làm gì? Người đó thế nào trong công việc? Điều đó(yêu công việc) thể hiện như thế nào?
*Khoảng 40 tuổi, thấp, đậm, da trắng, tóc mới làm xoăn. *Rất nhanh nhẹn, hoạt bát: đi nhanh, nói nhanh, nói năng rõ ràng, suy nghĩ mạch lạc, mắt sáng. *Bác sỹ, Trạm y tế của xã. *Kinh nghiệm 30 năm. *Chữa giỏi: rất cẩn thận, giải thích ngắn gọn, dễ hiểu, có chút hài hước, rất gần gũi. *Yêu công việc: Lúc nào cũng nói về công việc, không nói chuyện khác, nghiên cứu
7
Tính cách
Người đó có tính cách gì nổi bật? (Đó là người như thế nào?)Điều đó(tự trọng)thể hiện như thế nào?
nhiều sách, tìm tòi các phác đồ điều trị hiệu quả. * Tự trọng:
Sau khi định hướng để các em thu thập thông tin, bước xử lý thông tin là làm những việc như: – Sắp xếp thông tin chi tiết vào những phần/ đề mục phù hợp trong bài viết. – Chọn lọc và bỏ bớt những thông tin không đặc trưng. – Tổng hợp các thông tin định lượng (nếu có). – Xác định những thông tin còn thiếu cần tiếp tục thu thập. Ở vị trí trong bảng trên, phần “tính cách” còn thiếu thông tin chi tiết thể hiện tính “tự trọng”. -Đưa ra các nhận định ban đầu trên cơ sở các thông tin chi tiết.Ở ví dụ trong bảng trên, phần gạch chân là các nhận định ban đầu. b, Bước thứ hai là bước viết câu văn, đoạn văn: Ở giai đoạn này, GV sẽ giúp HS : – Chọn cách diễn đạt các thông tin đã thu được, tùy theo khả năng của mỗi HS, các em viết theo cách viết đơn giản, trực tiếp, ngắn gọn và rõ ý. Với những em khá có thể diễn đạt thành các câu văn có hình ảnh với tình cảm mượt mà, gây bất ngờ trong cách viết với lối dùng từ, đặt câu. -HS có thể viết theo từng phần của cấu trúc bài viết đã xác định. Không nhất thiết phải bắt đầu từ đầu bài viết; viết phần nào mà các em thấy hứng thú hơn, dễ bắt đầu hơn thì nên bắt đầu ở đó. – Viết với tốc độ phù hợp với bản thân. 8 – Vượt qua bế tắc bằng cách cứ tiếp tục viết, mặc dù biết mình viết phần đó chưa tốt. – Chú ý khi viết phải để ý đến những lỗi như chính tả, ngữ pháp, trình bày bài viết. c, Bước thứ ba là bước sửa bài viết: Ở phần này, mỗi HS sẽ đọc bài viết của mình trước lớp. Cả lớp cùng nghe sửa lỗi, điều chỉnh, bổ sung những chỗ cần thiết theo nội dung: – Bài viết đã thể hiện đúng nội dung, yêu cầu của đề bài chưa? – Thông tin đã đầy đủ và thuyết phục chưa? – Các câu văn đã lưu loát chưa? – Bài có lỗi chính tả, ngữ pháp nào không? Bản thân tôi luôn ý thức và hiểu đúng về sự cần thiết của việc hướng dẫn học sinh.Nếu hướng dẫn không đủ, học sinh sẽ gặp khó khăn, có thể rơi vào tình trạng bế tắc, không làm được bài.Vì thế tôi đã áp dụng chu trình dạy học tậplàm văn bằng phương pháp trải nghiệm cho học sinh lớp tôi theo 9 bậc phân hóa mức độ phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh.Sau đây là 9 bậc của chu trình dạy học sinh bằng phương pháp trải nghiệm mà tôi đã áp dụng cho HS trong những năm học vừa qua:
Các bước thực hiện
Mức độ hỗ trợ của GV đối với quá trình viết của HS
Bậc1
. GV đặt câu hỏi, HS trả lời, GV giúp HS trả lời. . GV viết lên bảng các ý cần đưa vào thành câu. . GV giúp HS nói thành câu dựa vào các ý trên. . GV nói lại câu, sau đó viết câu hoàn thiện lên bảng. . HS nói lại câu và chép lại câu trên bảng vào vở.
9
Bậc2
. GV đặt câu hỏi, HS trả lời, GV giúp HS trả lời. . GV viết lên bảng các ý cần đưa vào thành câu. . GV giúp HS nói thành câu dựa vào các ý trên. . GV nói lại câu, sau đó viết câu hoàn thiện lên bảng rồi xóa đi phần ( từ ) cần viết khác nhau giữa các HS (ví dụ xóa số 45 trong câu “Bố em 45 tuổi”). . HS viết lại câu theo mẫu, điền thông tin thích hợp với bản thân vào chỗ trống.
Bậc 3
. GV đặt câu hỏi, HS trả lời, GV giúp HS trả lời. . GV viết lên bảng các ý cần đưa vào thành câu. . GV giúp HS nói thành câu dựa vào các ý trên. . GV nói lại câu, sau đó viết cả câu lên bảng rồi xóa đi một từ bất kỳ không phải là động từ. . HS viết lại câu hoàn thiện vào vở, điền vào chỗ trống từ còn thiếu.
Bậc 4
. GV đặt câu hỏi, HS trả lời, GV giúp HS trả lời. . GV viết lên bảng các ý cần đưa vào thành câu. . GV giúp HS nói thành câu dựa vào các ý trên. . GV nói lại câu, sau đó viết cả câu lên bảng rồi xóa đi động từ trong câu. . HS viết lại câu hoàn chỉnh vào vở, điền động từ thích hợp vào chỗ trống.
. GV đặt câu hỏi, HS trả lời, GV giúp HS trả lời.
10
Bậc 5
. GV viết lên bảng các ý cần đưa vào thành câu. . GV giúp HS nói thành câu dựa vào các ý trên. . GV nói lại câu, sau đó GV viết một nửa câu lên bảng và để…(3 chấm). . HS viết hoàn thiện cả câu vào vở.
Bậc6
. GV đặt câu hỏi, HS trả lời, GV giúp HS trả lời. . GV viết lên bảng các ý cần đưa vào thành câu. . GV giúp HS nói thành câu dựa vào các ý trên. . GV nói lại câu, sau đó viết một nửa câu lên bảng và để…(3 chấm) trước và sau động từ. . HS viết hoàn thiện cả câu vào vở.
Bậc 7
. GV đặt câu hỏi, HS trả lời, GV giúp HS trả lời. . GV viết lên bảng các ý cần đưa vào thành câu. . GV giúp HS nói thành câu dựa vào các ý trên. . GV nói lại câu, sau đó viết viết bộ phận chính thứ nhất của câu lên bảng và để…(3 chấm) phần còn lại của câu. . HS viết hoàn thiện cả câu vào vở.
Bậc8
. GV đặt câu hỏi, HS trả lời, GV giúp HS trả lời. . GV viết lên bảng các ý cần đưa vào thành câu. . GV giúp HS nói thành câu dựa vào các ý trên. . GV nói lại câu, sau đó viết từ đầu tiên của câu lên bảng và để…(3 chấm) phần còn lại của câu. . HS viết hoàn thiện cả câu vào vở.
11 Ở mỗi bậc của chu trình sẽ phản ánh sự khác nhau về mức độ hỗ trợ của GV đối với quá trình viết của HS. Trong quá trình dạy học, tôi đã áp dụng ở bậc 7 dành cho những em có nhận thức chậm còn với những em học khá hơn tôi nâng dần đến mức 9 của chu trình. Với những tiết làm văn đầu tiên, tôi đã áp dụng bậc 1 của chu trình và việc hướng dẫn, hỗ trợ học sinh rất cụ thể, chi tiết.Vì vậy thời lượng dành cho mỗi tiết có thể kéo dài là 2 tiết so với tiết học hiện hành.Ở các bậc tiếp theo, giáo viên vẫn hướng dẫn nhưng ở mức độ giảm dần và sau mỗi bài học các em hầu như dần nắm được cách viết câu văn ngắn gọn và đủ ý. Ví dụ 1: Khi hướng dẫn HS viết đoạn văn ngắn kể về Cô giáo( hoặc Thầy giáo) lớp Một của em. Tôi thực hành hướng dẫn các em qua các bước: Bước 1: Gợi hứng thú về nhân vật được miêu tả. Bước 2: Hướng dẫn viết. Bước 3: Hoàn thiện bài viết. Bước 4: Kết thúc bài học. Bước 1: Gợi hứng thú về nhân vật được miêu tả. Đây cũng là bước các em tiến hành việc trải nghiệm bằng cách nhớ lại, tưởng tượng, hình dung lại về hình dáng, đặc điểm, tính nết của Cô giáo hoặc Thầy giáo lớp một của mình.
Bậc 9
. GV đặt câu hỏi, HS trả lời, GV giúp HS trả lời. . GV viết lên bảng các ý cần đưa vào thành câu. . GV giúp HS nói thành câu dựa vào các ý trên. . GV nói lại câu và không viết câu lên bảng. . HS viết câu hoàn thiện vào vở.
12 Khiyêu cầu các em viết một đoạn văn kể về Cô giáo (hoặc Thầy giáo) lớp 1 của mình, tôi yêu cầu các em hãy dành một ít phút để nhớ về cô giáo (thầy giáo) lớp 1 của em. Các em nhớ xem: – Cô giáo( thầy giáo) lớp 1 của em tên là gì? – Dáng người cô( thầy) như thế nào? – Cô ( thầy) dạy em những môn học nào? – Em thích điều gì ở cô(thầy)? GV cho các em viết tên cô giáo( thầy giáo) lớp 1 của mình lên đầu trang giấy. Sau đó các em hãy vẽ phác họa hình dáng cô giáo( thầy giáo) lớp 1 của em xuống bên dưới. Các em hãy vẽ theo những gì mình nhớ được, không lo vẽ đẹp hay vẽ xấu mà thông qua hành động vẽ lại hình ảnh cô giáo( thầy giáo) của mình là để các em có thêm hứng thú và nhớ được những đặc điểm nổi bật nhất về hình ảnh cô giáo ( thầy giáo) của mình. Bước 2: Hướng dẫn viết. Tôi hướng dẫn các em tập hợp thông tin, trả lời câu hỏi, ghi câu văn vào vở theo sự hướng dẫn của GV. Tôi chia bảng thành 3 cột, đặt câu hỏi và viết câu hỏi vào cột 1 trên bảng.GV giúp HS lần lượt trả lời các câu hỏi rồi viết ý trả lời cho câu hỏi vào cột 2. HS lần lượt nói thành câu văn hoàn chỉnh dựa vào thông tin ở cột 2( nếu các em còn lúng túng, tôi giúp các em nói câu văn,để các em nhắc lại câu văn đó). Tôi viết câu văn đầy đủ vào cột 3. Gọi một số HS đọc lại câu văn của mình theo thông tin trong cột 3. HS ghi câu văn vừa đọc vào vở nháp.GV gọi một số em đọc câu văn của mình vừa viết cho cô giáo và các bạn cùng nghe.Cả lớp nghe, nhận xét câu văn của bạn xem câu của bạn vừa viết đã đủ hai bộ phận chính của câu chưa?Cách dùng từ ngữ của bạn đã đúng chưa?Nếu HS dùng từ chưa chính xác,các bạn trong lớp có thể giúp bạn sửa lại câu văn cho đúng.Sau đó em hãy đọc lại câu văn em vừa sửa.Khi các em viết các câu văn, tôi đi quan sát, giúp các em còn lúng túng hoàn chỉnh câu văn của mình.Tôi hướng dẫn HS lần lượt trả lời các 13 câu hỏi, nêu ý trả lời, câu văn hoàn chỉnh. Sau mỗi câu, các em sẽ viết câu văn theo ý của mình vào vở. Tôi cùng cả lớp sửa chữa và hoàn chỉnh sao cho mỗi câu văn các em viết ra phải đủ hai bộ phận chính của câu, cách dùng từ trong câu và cách dùng dấu câu, các từ nối để liên kết các câu. Tôi đã hướng dẫn HS làm từng câu và trình bày thành 3 cột trên bảng như sau:
Câu hỏi
Ý trả lời( ví dụ)
Câu hoàn chỉnh(ví dụ)
Cô (thầy) giáo lớp Một của em tên là gì?
Cô Nguyễn Hoài Anh
Cô giáo lớp 1 của em tên là cô….. Hoặc: Hồi lớp 1, em được học cô giáo…… Hoặc: Cô…..là cô giáo lớp 1 của em. Hoặc: Năm ngoái, em được học cô….
Hình dáng của cô( thầy) có đặc điểm gì?
*mái tóc dài *dáng người hơi mập/ đậm *nụ cười rất tươi *mái tóc mới được làm xoăn
Cô …..có mái tóc dài và dáng người cô hơi mập/đậm. Nụ cười của cô rất tươi. Hoặc: Em vẫn nhớ cô….có dáng người nhỏ nhắn, nước da cô không được trắng. Mái tóc của cô mới được làm xoăn rất đẹp.
Cô(thầy) dạy em những môn học nào?
Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên-xã hội, Thủ công,…
Cô dạy em nhiều môn học như Toán, Tiếng Việt, Đạo đức, Tự nhiên- xã hội,..
Em thích điều gì ở cô(thầy)?
*dạy toán dễ hiểu *xinh *ăn mặc đẹp
Em thích cô vì cô giảng bài rất dễ hiểu. Cô cũng xinh và ăn mặc đẹp. Em còn thích cô vì cô hiền, cô
14
*hiền, không quát mắng HS *kể chuyện hay *hài hước
không hay quát mắng học sinh. Cô kể chuyện hay và hài hước làm chúng em cười.
Khi nghĩ đến cô, em mong muốn điều gì?
*cô khỏe *xinh đẹp *gặp lại cô *lại được học cô
Nhớ đến cô, em mong cô luôn khỏe mạnh, xinh đẹp và em mong lại được học cô.
Bước 3: Hoàn thiện bài viết. Sau khi HS đã viết được các câu văn hoàn chỉnh của mình vào vở nháp.GV cho các em đọc lại các câu của mình một lượt.Các em phát hiện câu văn nào còn sai về từ, lỗi chính tả, dấu câu thì các em sẽ tự sửa lại câu, từ đó cho đúng. Sau đó các em sẽ sắp xếp, viết các câu văn đó thành đoạn văn ngắn vào vở theo yêu cầu của GV. Trước khi các em viết bài viết của mình vào vở, GV hướng dẫn các em viết thành đoạn văn liền mạch, khi viết hết một câu không xuống dòng.Câu đầu tiên phải lùi vào một ô và viết hoa.Hết một câu phải ghi dấu chấm câu.Sắp xếp ý nào trước, ý nào sau để đoạn văn hay hơn.Khi các em viết bài, tôi đến từng bàn để giúp đỡ các em thực hành bài viết nhất là những em học sinh có nhận thức chậm để các em hoàn thành bài viết của mình.Sau khi HS hoàn thành bài viết, tôi cho hai em ngồi cạnh nhau làm thành một nhóm để các em trao đổi, đọc bài của nhau.Trong quá trình đọc, các em có thể cùng phát hiện xem bài của bạn có mắc lỗi sai nào không và cùng nhau sửa, đồng thời cũng phát hiện những chỗ bạn mình viết tốt để học tập.Tôi gọi 3-5 HS đọc bài viết của mình trước lớp.Cả lớp cùng nghe và nhận xét, chữa bài. Bước 4: Kết thúc bài học. GV nhận xét, tuyên dương những em có bài làm tốt.Khuyến khích, động viên những em làm bài còn chậm để các em có sự hứng thú trong học tập. 15 Ví dụ 2:Viết đoạn văn kể về một người thân của em. Đoạn văn này không phải là đoạn văn khó viết và có phần nào giống với đoạn văn ở bài 1 nên sự hướng dẫn có phần nhẹnhàng hơn vì các em đã được làm quen với cách làm văn ở bài tập 1.Với ví dụ này, GV vận dụng ở bậc 2 của chu trình . Bước 1: Gợi hứng thú về nhân vật được miêu tả. Khihướng dẫn các em viết một đoạn văn kể về một người thân của mình, trước tiên tôi yêu cầu các em hãy chọn một người thân mà em muốn kể.Sau đó gọi HS nói người mà em muốn kể cho cả lớp cùng nghe. GV nhấn mạnh: Chắc người đó có điều gì đặc biệt đối với em nên em mới chọn. Bây giờ các em sẽ viết tên người đó vào giấy nháp, sau đó em sẽ vẽ phác họa hình dáng người mà các em đã chọn lên trang giấy. Các em hãy vẽ theo những gì mình hình dung được, không lo vẽ đẹp hay vẽ xấu. Bây giờ các em hãy viết những điều các em muốn kể về người đó xung quanh hình mà các em vừa vẽ.Các em nghĩ đến điều gì thì viết luôn điều đó để khỏi quên; chỉcần viết ý, không cần viết cả câu đầy đủ. 16 17 18 19 Bước 2: Hướng dẫn viết . Tôi chia bảng thành 3 cột như ở ví dụ 1, đặt câu hỏi và viết câu hỏi vào cột 1trên bảng.Tôi giúp HS trả lời các câu hỏi rồi viết ý trả lời cho câu hỏi vào cột 2.HS lần lượt nói thành câu văn hoàn chỉnh dựa vào thông tin ở cột 2.GV viết câu văn đầy đủ vào cột 3. Gọi một số HS đọc lại câu văn của mình theo thông tin trong cột 3. HS ghi câu văn vừa đọc vào vở nháp.Tôi yêu cầu một số em đọc câu văn của mình vừa viết cho cô giáo và các bạn cùng nghe.Cả lớp nghe, nhận xét câu văn của bạn xem câu của bạn vừa viết đã đủ hai bộ phận chính của câu chưa?Cách dùng từ ngữ của bạn đã đúng chưa?Nếu HS dùng từ chưa chính xác, các bạn trong lớp có thể giúp bạn sửa lại câu văn cho đúng.Sau đó em hãy đọc lại câu văn em vừa sửa.HS tự viết các câu văn vừa nói miệng vào vở nháp.Khi các em viết các câu văn, GV đi quan sát, giúp các em còn lúng túng hoàn chỉnh câu văn của mình.Sau đó mỗi nhóm 2 bạn lại đổi bài cho nhau cùng kiểm tra và sửa chữa.Khi các em trả lời hệ thống câu hỏi đồng thời cũng thể hiện cấu trúc của đoạn văn .
Cấu trúc đoạn văn
Câu hỏi
Giới thiệu về người đó.
Người em chọn là ai? Người đó tên là gì?
Kể về hình dáng.
Người đó bao nhiêu tuổi? Hình dáng người đó có đặc điểm gì?( ví dụ: vóc dáng, mái tóc, nước da,…)
Kể về nghề nghiệp.
Người đó làm nghề gì? Ở đâu?
Kể về công việc hàng ngày.
Hằng ngày người đó làm những gì?
Những điều đặc biệt.
Em thích gì ở người đó?
Mong muốn/ suy nghĩ
Nghĩ đến người đó em mong điều gì?
GV lần lượt đặt câu hỏi, HS trả lời và ghi chép các câu văn của mình vào vở nháp, phần viết câu hoàn chỉnh lên bảng, GV sau khi viết câu hoàn thiện sẽ xóa đi 20 phần (từ) cần viết khác nhau giữa các HS (ví dụ xóa số 42 trong câu “ Bố em 42 tuổi”) Bước 3: Hoàn thiện bài viết. Sau khi HS đã viết được các câu văn hoàn chỉnh của mình vào vở nháp, tôi cho các em đọc lại các câu của mình một lượt.Các em phát hiện câu văn nào còn sai về từ, lỗi chính tả, dấu câu thì các em sẽ tự sửa lại câu, từ đó cho đúng. Sau đó các em sẽ sắp xếp, viết các câu văn đó thành đoạn văn ngắn vào vở theo yêu cầu của GV. Trước khi các em viết bài viết của mình vào vở, tôi hướng dẫn các em nhắc lại các yêu cầu cần có khi viết đoạn văn, đó là: Câu đầu tiên phải lùi
Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY
Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education
ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN: 1. Yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục 1.1. Quan điểm chỉ đạo – Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội. – Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học. Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp. – Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. – Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan. Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng. – Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục và đào tạo. 3 – Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo. Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo. – Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước. 1.2. Mục tiêu Mục tiêu tổng quát Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả. Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Mục tiêu cụ thể – Đối với giáo dục mầm non, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2020. Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non. Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục. – Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, 4 chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời. Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015. Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng. Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020. Phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương. – Đối với giáo dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp. Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế. – Đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học. Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia; trong đó, có một số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực và quốc tế. Đa dạng hóa các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển công nghệ và các lĩnh vực, ngành nghề; yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế. – Đối với giáo dục thường xuyên, bảo đảm cơ hội cho mọi người, nhất là ở vùng nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng chính sách được học tập nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng cuộc sống; tạo điều kiện thuận lợi để người lao động chuyển đổi nghề; bảo đảm xóa mù chữ bền vững. Hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên và các hình thức học tập, thực hành phong phú, linh hoạt, coi trọng tự học và giáo dục từ xa. – Đối với việc dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho người Việt Nam ở nước ngoài, có chương trình hỗ trợ tích cực việc giảng dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước 5 ngoài, góp phần phát huy sức mạnh của văn hóa Việt Nam, gắn bó với quê hương, đồng thời xây dựng tình đoàn kết, hữu nghị với nhân dân các nước. 2. Mục tiêu môn học Tiếng Việt ở trường tiểu học 2.1. Mục tiêu môn học Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm: – Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy. – Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài. – Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 2.2. Các kĩ năng học sinh đạt được trong môn Tiếng Việt ở lớp 3 – Kĩ năng đọc: + Đọc một số văn bản nghệ thuật, hành chính, báo chí, khoa học thường thức (chú trọng đọc tên riêng nước ngoài, từ dễ đọc sai do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương). + Đọc thầm. + Tìm hiểu ý chính của đoạn, nội dung của bài; nhận xét về nhân vật, hình ảnh, chi tiết; đặt đầu đề cho đoạn văn. + Đọc thuộc một số bài thơ, bài văn ngắn. + Ghi chép một vài thông tin đã đọc.
–
Kĩ năng viết: + Viết chữ cái cỡ nhỏ.
+ Viết chính tả đoạn văn, đoạn thơ theo hình thức nghe – viết, nhìn – viết, nhớ – viết. Viết tên riêng Việt Nam, tên riêng nước ngoài đơn giản. Phát hiện và sửa lỗi chính tả trong bài. + Viết câu trần thuật đơn. Dùng dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy khi viết. 6 + Huy động vốn từ để diễn đạt ý kiến của bản thân. Bước đầu sử dụng các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa. + Viết đoạn văn kể, tả đơn giản theo gợi ý. + Điền vào tờ khai in sẵn; viết đơn, viết báo cáo ngắn theo mẫu; viết bức thư ngắn, trình bày phong bì thư.
–
Kĩ năng nghe: + Nghe và kể lại những câu chuyện đơn giản, thuật lại nội dung chính
của các bản tin ngắn hoặc văn bản khoa học thường thức có nội dung phù hợp với lứa tuổi. + Nghe – viết đoạn văn, đoạn thơ, bài thơ ngắn. + Ghi lại một vài ý khi nghe văn bản ngắn, có nội dung đơn giản. – Kĩ năng nói: + Dùng lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp chính thức trong sinh hoạt lớp, sinh hoạt Đội. + Đặt câu hỏi về vấn đề chưa biết, trả lời câu hỏi của người đối thoại. + Kể từng đoạn hoặc kể toàn bộ câu chuyện đơn giản đã được nghe. + Phát biểu ý kiến trong cuộc họp; giới thiệu hoạt động của tổ, lớp, chi đội; trình bày miệng báo cáo ngắn ( đã viết theo mẫu) về hoạt động của tổ, lớp, chi đội. 3. Nhiệm vụ phân môn Luyện từ và câu 3.1. Cung cấp một số kiến thức về từ và câu Dạy học Luyện từ và câu giúp các em có được những kiến thức cơ bản về từ cần thiết như: Cấu trúc của từ, nghĩa của từ, các lớp từ, từ loại, về câu như: cấu tạo câu, dấu câu, các quy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp. 3.2. Làm giàu vốn từ cho học sinh và phát triển năng lực dùng từ đặt câu cho các em – Dạy nghĩa từ: Giúp học sinh nắm được nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ bằng cách thêm vào vố từ của học sinh những từ có nghĩa mới. Hình thành cho học sinh cách phát hiện những từ ngữ mới chưa biết nghĩa trong văn bản, 7 nắm được thao tác giải nghĩa từ, làm rõ các sắc thái ý nghĩa của từ trong các ngữ cảnh khác nhau. – Hệ thống hóa vốn từ: Giúp học sinh biết sắp xếp các từ ngữ một cách có hệ thống trong trí nhớ để có thể sử dụng thuận tiện, dễ dàng trong lời nói ở mọi tình huống. – Tích cực hóa vốn từ: Giúp học sinh biết cách sử dụng từ ngữ phù hợp tích cực chính xác một cách thường xuyên trong đời sống. Giúp học sinh biết cách đặt câu từ vốn từ đã có sử dụng các kiểu câu đúng mục đích giao tiếp có văn hóa. 3.3. Bồi dưỡng thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu, có ý thức sử dụng Tiếng Việt văn hóa trong giao tiếp Phân môn Luyện từ và câu từ việc cung cấp kiến thức về từ và câu, làm giàu vốn từ cho học sinh giúp hình thành nên thói quen dùng ngôn từ đúng trong mọi ngữ cảnh trong trí nhớ, xây dựng thói quen dùng từ đúng, nói và viết câu thành thạo từ những từ đã được tìm hiểu, từ đó hình thành ý thức sử dụng Tiếng Việt có mục đích và văn hóa trong giao tiếp hàng ngày. Ngoài các nhiệm vụ chuyên biệt trên, luyện từ và câu còn có nhiệm vụ rèn luyện tư duy và giáo dục thẩm mĩ cho học sinh. 4. Thực trạng dạy học Ngày nay, phân môn Luyện từ và câu của môn Tiếng Việt ở tiểu học nói chung và ở lớp 3 nói riêng được tích hợp với các phân môn khác trong Tiếng Việt như: Tập làm văn, Chính tả, Kể chuyện, Tập đọc đòi hỏi học sinh phải có kĩ năng nắm bắt và vận dụng từ ngữ linh hoạt sáng tạo, giáo viên cần phải linh hoạt chuyển đổi hình thức các dạng bài tập giúp học sinh nâng cao hiệu quả tiếp thu. Vậy nên, giáo viên và học sinh phải cần thêm những cuốn sách tham khảo phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả giờ học rèn cho học sinh kĩ năng sử dụng ngôn ngữ thành thạo trong mọi ngữ cảnh. Trong phân môn Luyện từ và câu, việc rèn luyện cho học sinh về từ chủ yếu thông qua các dạng bài tập mở rộng vốn từ phong phú đa dạng theo từng bài học trong từng chủ điểm, nhưng thực trạng các bài tập đó còn rất hạn chế, chưa phục vụ đủ cho nhu cầu tìm hiểu, tham khảo của giáo viên và học sinh. Vì vậy, đòi hỏi việc phải xây dựng bộ sách tham khảo tương đối toàn 8 diện cho giáo viên và học sinh để nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập ở cấp tiểu học nói chung và khối lớp 3 nói riêng. Việc xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 3 theo từng chủ điểm sẽ tạo điều kiện cho việc dạy học Luyện từ và câu lớp 3 đạt hiệu quả hơn, đảm bảo tính hệ thống của từ vựng, phù hợp với nội dung chương trình môn học, góp phần đẩy mạnh và nâng cao năng lực sử dụng từ ngữ cho học sinh. Chính vì những lí do đó, tôi quyết định chọn đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm trong phân môn luyện từ và câu cho học sinh lớp 3” làm báo cáo sáng kiến của mình. II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP: 1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến 1.1.Thực trạng dạy học phân môn Luyện từ và câu trong sách giáo khoa Tiếng Việt 3 a. Thực trạng dạy của giáo viên – Về lịch giảng dạy: Giáo viên thực hiện tương đối tốt lịch trình giảng dạy đã quy định – Về việc soạn giáo án: 100% giáo viên chuẩn bị bài giảng trước khi lên lớp, bài giảng không phụ thuộc quá nhiều vào sách giáo khoa và sách giáo viên. – Về phân bố thời lượng tiết học: Hầu hết các giáo viên đều đảm bảo thời gian dạy học phù hợp với yêu cầu, dung lượng kiến thức học sinh cần nắm được. Tuy nhiên, trong từng hoạt động dạy học việc phân bố thời gian vẫn có sự bất cập. – Về phương pháp giảng dạy: Giáo viên đã vận dụng những phương pháp dạy học đa dạng, phong phú phù hợp với nội dung kiến thức cần truyền đạt cho học sinh, phổ biến là một số phương pháp chung như: Phương pháp đàm thoại, phương pháp thảo luận nhóm,… và phương pháp riêng của môn Tiếng Việt, như: phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp rèn luyện theo mẫu, phương pháp giao tiếp,… b.Thực trạng học và kết quả học tập của học sinh * Về thực trạng học 9 Thực trạng điều tra cho thấy, nhiều em học sinh cấp tiểu học nói chung và lớp 3 nói riêng đã có ý thức học tập môn học. Bên cạnh đó, vẫn còn một số học sinh không có hứng thú với phân môn Luyện từ và câu, đa phần do các em coi đây là môn học khó và khô. Trên lớp, các em tiếp thu kiến thức một cách thụ động: giáo viên giảng – học sinh ghi chép máy móc, không hiểu chắc và sâu kiến thức, làm bài tập qua loa, lười suy nghĩ cẩn thận và luôn có ý nghĩ trông chờ giáo viên chữa rồi sao chép kết quả chính xác vào vở. * Về kết quả học tập – Trình độ học vấn của học sinh có sự chênh lệch không đáng kể giữa hai trường, đảm bảo ở mức biết và vận dụng được những tri thức đã học vào thực tế. – Kết quả kiểm tra của học sinh có sự chênh lệch, cùng trong chương trình học vẫn có tỉ lệ điểm giỏi, khá, trung bình. c. Thực trạng về các tài liệu, bài tập hiện có Vấn đề xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng là vấn đề mà đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về rất nhiều những khía cạnh khác nhau. Nhưng nhìn chung, đó thường là những vấn đề về lý thuyết đan xen bài tập tham khảo, cụ thể: Trong cuốn “Em học giỏi Luyện từ và câu lớp 3” của Th.S Lê Thị Nguyên, Trần Đức Niềm (Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh) đã biên soạn nhằm hỗ trợ học sinh lớp 3 hiểu sâu hơn về cách sử dụng từ ngữ, cấu trúc câu, đồng thời hướng dẫn các em tự học, tự rèn kỹ năng nhận biết và phân tích cấu tạo từ, ngữ, cấu trúc câu bằng các đề kiểm tra ôn luyện hằng tuần, từ đó tạo nền tảng giúp các em học tốt hơn trong phân môn Luyện từ và câu. Tuy nhiên, các dạng bài tập đó chưa đi theo từng chủ điểm làm cho các em nhầm lẫn trong việc nhận dạng và vận dụng từ ngữ trong các ngữ cảnh, các dạng bài tập còn chưa tạo hứng thú cao cho học sinh. Tác giả Đào Tiến Thi, Nguyễn Thị Lan Anh với cuốn “Bài tập trắc nghiệm Tiếng Việt 3” (Nxb Đại học Sư phạm, 2007) đã đưa ra hệ thống bài tập trắc nghiệm với hai dạng bài tìm thông tin đúng, hoàn thiện và phát triển thông tin theo các phân môn chương trình môn Tiếng Việt 3 phù hợp cho giáo viên và học sinh khi dạy – học môn Tiếng Việt 3. Tuy nhiên, phần hạn chế của cuốn sách nằm ở việc đưa ra những bài tập trắc nghiệm đơn điệu và 10 không được sắp xếp theo từng chủ điểm bài học, làm cho học sinh khó nắm bắt được cách sử dụng từ ngữ. Trong luận văn của tác giả Lê Thị Thắm về “Xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm cho học sinh lớp 3” đã triển khai được những dạng bài tập mở rộng vốn từ theo các chủ điểm trong sách giáo khoa Tiếng Việt 3 nhưng chỉ triển khai xây dựng hệ thống bài tập trong 8 chủ điểm của chương trình Tiếng Việt 3, chưa bao hàm tất cả 15 chủ điểm của sách giáo khoa Tiếng Việt 3. Sáng kiến này là cơ sở gợi ý chính để tôi tiếp tục nghiên cứu 7 chủ điểm còn lại của sách giáo khoa Tiếng Việt 3. Những công trình trên đây đã đề cập đến những vấn đề khác nhau của phân môn Luyện từ và câu trong môn Tiếng Việt ở tiểu học đặc biệt là lớp 3, nội dung chủ yếu của các dạng bài tập là nâng cao vốn từ cho học sinh, xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm, bài tập tự luận về việc mở rộng vốn từ theo từng chủ điểm cho học sinh nhưng chưa đầy đủ. Vì vậy, trước những yêu cầu phát triển và nâng cao kiến thức của người học, đổi mới tài liệu dạy học phù hợp của người dạy, bổ sung hoàn thiện hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo từng chủ điểm trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 3. Tôi mạnh dạn xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 3 nhằm phát huy tính tích cực chủ động trong dạy và học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 3 trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa, thành tựu đúng đắn sáng tạo của những người đi trước. 2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến Sáng kiến kinh nghiệm này của tôi có điểm mới và đột phá nhất chính là việc đề xuất xây dựng hệ thống bài tập mẫu về mở rộng vốn từ theo chủ điểm trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 3 với 7 chủ điểm còn lại trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 3 – phân môn Luyện từ và câu đã được áp dụng hiệu quả tại đơn vị. 2.1. Đề xuất xây dựng hệ thống bài tập mẫu về mở rộng vốn từ theo chủ điểm trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 3 a. Chủ điểm Anh em một nhà * Nhóm bài tập nhận dạng từ 11 – Bài tập nhận dạng từ rời Bài tập 1: Trong các từ sau đây, từ nào chỉ tên một số dân tộc thiểu số ở đất nước ta: Tày, Thái, Cốc, Mèo, Nùng, Hoa, Ba Na, Gia Rai, Chăm, Ba Lan, Dao, Kinh. Bài tập 2: Gạch chân dưới từ chỉ nếp sống sinh hoạt và làm việc của người dân tộc thiểu số vùng đồi núi: nhà rông, nhà ống, ruộng bậc thang, áo bà ba, cơm lam, đình làng, nhà sàn, áo dài, rượu cần, bản làng. Bài tập 3: Gạch chân dưới từ chỉ tên lễ hội của các dân tộc thiểu số ở nước ta: cồng chiêng, đền Hùng, đâm trâu, hội Gióng, đua voi, hội Xoan, nhảy lửa, chùa Hương cúng bản, đền Trần, đập trống, nhảy sạp. Bài tập 4: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng Những từ nào sau đây nói về tên lễ hội ở vùng dân tộc thiểu số? a) Cồng chiêng c) Chùa Hương b) Đền Hùng d) Yên Tử Bài tập 5: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng Chỉ ra tên dân tộc không là dân tộc thiểu số ở nước ta? a) Dao c) Mông b) Thái d) Kinh – Bài tập nhận dạng từ trong lời nói Bài tập 6: Những từ, cụm từ nào có liên quan đến các dân tộc thiểu số trong các phát ngôn sau đây: a) Lễ hội cồng chiêng là một lễ hội được tổ chức hàng năm theo hình thức luân phiên tại các tỉnh có văn hóa cồng chiêng. b) Dưới bàn tay tài hoa của người nông dân cần mẫn, những thửa ruộng bậc thang đã trở thành một kiệt tác nghệ thuật giữa trời đất mỗi độ thu về. c) Thức uống mang đậm bản sắc dân tộc Mường chính là rượu cần – thứ rượu có mùi thơm nồng của hương gạo của men ủ làm say đắm biết bao nhiêu vị khách thập phương khi thưởng thức. Bài tập 7: Gạch chân dưới những từ, cụm từ chỉ tên những hoạt động hay những trò chơi chủ yếu được tổ chức trong lễ hội của các dân tộc thiểu số ở những câu sau: 12 a) Múa sạp là điệu múa dân gian có nguồn gốc từ dân tộc Mường. b) Mỗi dịp hội làng, những trò chơi dân gian như đẩy gậy, kéo co, ném còn, đi cầu kiều, múa khèn,… lại được người dân mọi miền tổ chức. c) Hàng nghìn con người nắm tay nhau nhảy múa hòa điệu theo từng nhịp Bài tập 8: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng Nhà rông ở Tây Nguyên được làm bằng chất liệu gì? a) Gạch, đá c) Đất nung
b) Các loại gỗ bền chắc như lim, gụ, sến, táu đánh cồng chiêng trong đêm núi rừng Tây Nguyên.
d) Rơm, rạ
Bài tập 9: Trong đoạn văn sau đây từ nào chỉ tên một số dân tộc thiểu số nước ta: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai, Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giản bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng để giữ vững quyền tự chủ của chúng ta.” HỒ CHÍ MINH * Nhóm bài tập sử dụng từ – Bài tập điền từ vào chỗ trống Bài tập 10: Chọn từ thích hợp để điền vào ô trống trong các câu sau đây: (múa sạp, gội đầu, nhà rông) a) Các già làng của các dân tộc vùng Tây Nguyên thường họp tại … để bàn những công việc lớn. b) Trong lễ hội xuân đầy màu sắc của dân tộc Mường, những điệu múa dân gian như … được thể hiện đầy ấn tượng. c) Lễ hội … hay lễ hội Lúng ta là một lễ hội của đồng bào Thái trắng, đánh dấu thời điểm qua năm, rũ bỏ cái cũ, đón nhận cái mới. Bài tập 11: Điền từ ngữ vào chỗ trống trong những câu ca dao, tục ngữ sau: a) Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một … phải … nhau cùng. b) Lá … đùm lá … 13 c) Khi đói cùng chung một… Khi rét cùng chung một … Bài tập 12: Điền từ thích hợp vào chỗ trống trong các câu sau: a) … là một kiểu nhà ở có sàn được làm lưng chừng trên các cột, cách mặt đất một khoảng, thường thấy ở miền núi. b) Các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam phải luôn …, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển c) Đồng bào miền đồi núi thường trồng lúa trên những thửa ruộng … Bài tập 13: Điền từ thích hợp vào ô trống theo mô hình với các gợi ý dưới đây: a) Tên lễ hội được tổ chức hằng năm theo hình thức luân phiên tại Tây Nguyên: có 2 tiếng, bắt đầu bằng chữ C b) Tên một dân tộc sống ở khu vực trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam: có một tiếng, bắt đầu bằng chữ M c) Tên một trang phục truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: có hai tiếng, bắt đầu bằng chữ A – Bài tập dùng từ đặt câu Bài tập 14: Đặt câu với các từ sau đây (mỗi từ đặt một câu): dân tộc, nhà sàn, ruộng bậc thang, múa khèn, dân tộc Mèo Bài tập 15: Tìm 5 từ chỉ tên của các dân tộc thiểu số Việt Nam, đặt câu với 1 từ vừa tìm được. Bài tập 16: Tìm 3 từ chỉ tên những lễ hội của các dân tộc trên đất nước ta, đặt câu với các từ đó – Bài tập thay thế từ ngữ Bài tập 17: Hãy thay từ in nghiêng trong các câu dưới đây bằng một từ khác có cùng nghĩa: a) Mọi dân tộc trên đất nước ta cùng chung sức, đồng lòng xây dựng đất nước phát triển 14 b) Đồng bào Dao ở Tuyên Quang có đời sống văn hóa tinh thần rất phong phú với nhiều phong tục, nghi lễ, nghệ thuật đặc sắc. c) Múa sạp là môn nghệ thuật dân gian đặc sắc của một số dân tộc vùng Tây Bắc trong những dịp vui, trong các lễ hội. Bài tập 18: Thay thế những từ in nghiêng trong các câu sau đây bằng những từ khác mà không thay đổi nghĩa của câu: a) Những ngày lễ hội, đồng bào các dân tộc thiểu số thường quây quần bên nhà rông để múa hát. b) Câu chuyện “Hũ bạc của người cha” là truyện cổ của dân tộc Chăm. c) Anh Kim Đồng là một thiếu niên người dân tộc Nùng, anh chính là đội trưởng đầu tiên của tổ chức Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. Bài tập 19: Những từ nào thuộc chủ điểm Anh em một nhà có thể thay thế được cho những từ in nghiêng trong các câu sau đây: a) Ngày hội tôn vinh tinh thần thượng võ và tài nghệ thuần dưỡng voi là một trong những hội của văn hóa truyền thống cấc dân tộc ở vùng Tây Nguyên diễn ra rất tưng bừng. b) Người dân vùng đồi núi trồng lúa trên những bãi đất bên sườn đồi, lớp nọ gối tiếp lớp kia tạo thành những lớp lụa đào rực rỡ sắc xanh của lúa non và sắc vàng khu mùa lúa chín. c) Nhà của người dân tộc Bana gọi là đình làng của người Kinh là nơi lưu giữ nhiều vật linh thiêng của làng, nơi đón khách của làng và các gia đình trong làng. * Nhóm bài tập sửa lỗi từ Bài tập 20: Em hãy phát hiện và chỉ ra lỗi dùng từ trong các câu sau đây và sửa lại cho đúng: “Trong 8 nhóm ngôn ngữ của 54 dân tộc Việt Nam, nhóm ngôn ngữ Việt – Mường có 4 người: Kinh, Mường, Thổ, Chứt. Đồng bào sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước và đánh cá.” Bài tập 21: Trong câu sau đây, từ nào viết sai chính tả, em hãy tìm và sửa lại cho đúng: Nhà Dông là một kiểu nhà sàn đặc trưng, đây là ngôi nhà cộng đồng, như đình làng người kinh, dùng làm nơi tụ họp, trao đổi, thảo luận của dân làng trong các buôn làng trên Tây Nguyên. 15 Bài tập 22: Trong câu dưới đây, từ nào dùng sai chính tả? Hãy sửa lại cho đúng: Nhà xàn của dân tộc Mường mang đặc điểm của người Việt và người Tày, Nùng, còn người Thái lại có kiểu nhà sàn riêng được thiết kế hướng về một ngọn núi vút cao, cây cối xanh tươi thể hiện một sức sống mãnh liệt, bất diệt. b. Chủ điểm Bắc – Trung – Nam * Nhóm bài tập nhận dạng từ – Bài tập nhận dạng từ rời Bài tập 23: Trong các từ sau đây, từ nào được dùng ở miền Bắc nước ta: ba, bố, tía, quả dứa, trái thơm, tôi, tui, bàn là, bàn ủi, bát, chén, chăn, mền Bài tập 24: Gạch chân dưới những từ được dùng ở miền Nam nước ta: ngan, vịt xiêm, ruốc, chà bông, buồn, nhột, cái bút, cây viết, dùng, xài Bài tập 25: Gạch chân dưới những từ được dùng ở miền Trung nước ta: mẹ, mệ, đâu, mô, bên kia, bên tê, ni, này, mô, chổi, chủi Bài tập 26: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng Những từ nào sau đây nói về tên một loài hoa hồng bản địa của Đông Á mà người miền Bắc thường gọi? a) tường vi c) bông súng b) bông bụp d) bông lau Bài tập 27: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng Chỉ ra tên một loại phương tiện giao thông chạy trên đường sắt mà người miền Nam thường gọi? a) tàu hỏa c) xe lửa b) tàu thủy d) tàu bay Bài tập 28: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng Từ chà bông được người dân ở miền nào thường xuyên sử dụng để gọi tên? a) miền Bắc c) miền Nam b) miền Trung d) không có miền nào – Bài tập nhận dạng từ trong lời nói Bài tập 29: Những từ nào thường được dùng ở một số tỉnh miền Nam nước ta trong các phát ngôn sau đây: 16 a) Chị hai tôi là người vô cùng thông minh và xinh đẹp. b) Trái thơm có thân ngắn, lá dài và cứng với gai mọc ở mép, quả có nhiều mắt; phía trên có một cụm lá c) Từ xa xưa, heo là loài vật đã gắn bó thân thiết với người dân Việt Nam, nó là nét đặc trưng của vùng quê lam lũ, con vật hiền lành và được nuôi phổ biến trong những hộ gia đình. Bài tập 30: Gạch chân dưới những từ thường được dùng ở một số tỉnh miền Trung nước ta ở những câu sau: a) Bây hãy lại đây, chúng ta sẽ cùng nhau nói chuyện nhé! b) Mệ tôi là một người phụ nữ yêu gia đình, đi mô mệ cũng chỉ mong có thời gian để chăm sóc cho gia đình. c) Các bạn nhỏ đang diễn văn nghệ trên sân khấu được khoác trên mình những chiếc mấn vô cùng xinh đẹp và duyên dáng. Bài tập 31: Trong đoạn văn sau đây từ nào chủ yếu được dùng ở miền Bắc nước ta: Gia đình là tiếng gọi thân thương trìu mến, là mái ấm chốn dừng chân mỗi khi mỏi mệt. Gia đình tôi luôn có sự che chở của bố, có giọng nói ngọt ngào của mẹ, có sự chăm sóc, yêu mến của anh cả. Với tôi, gia đình là món quà quý giá mà tôi luôn nâng niu và trân trọng cả cuộc đời. * Nhóm bài tập sử dụng từ – Bài tập điền từ vào chỗ trống Bài tập 32: Chọn từ thích hợp để điền vào ô trống trong các câu sau đây: (vịt xiêm, chủi, mẹ, mô, heo, bàn là, vô, thơm, bảo) • Các từ thường dùng ở miền Bắc a) … em có dáng người mảnh mai, đôi mắt tròn đen, mái tóc ngắn gọn. b) Siêu thị điện máy xanh có bán rất nhiều đồ điện tử như: …., nồi cơm điện, tủ lạnh, ti vi, máy giặt, máy điều hòa và còn rất nhiều đồ điện tử khác nữa. c) Cô giáo … : “Ai chăm chỉ học tập, tích cực phát biểu xây dựng bài, mỗi ngày cô sẽ thưởng cho bạn đó một bông hoa điểm tốt”. • Các từ thường dùng ở miền Trung 17 a) Cứ mỗi độ gặt hát, bà em lại ngồi tuốt từng bông lúa nếp để lấy rơm phơi ra làm … . b) Những người con xa xứ, đi … cũng vẫn luôn nhớ về quê hương. c) Hè đến, bố Hùng cho bạn ấy … miền Nam chơi với ông bà. • Các từ thường dùng ở miền Nam a) Những chú … con ăn đã no tròn lăn quay ra ngủ. b) Đến mùa rộ, những cánh đồng … trải dài tới tận chân núi, xanh ngút tầm mắt. c) Đàn … lũ lượt kéo nhau ra ao tắm mát. Bài tập 33: Điền từ ngữ vào chỗ trống trong những câu ca dao, tục ngữ sau: a) Núi cao … lắm núi ơi, Che khuất mặt trời, không thấy người yêu. b) … hay không ngại cày trưa c) Đã lâu lắm chưa về thăm … Ăn bữa cơm giòn giã thơm ngon Canh cà rau muống bàn tròn Gia đình sum họp còn hơn thiên đường. Bài tập 34: Điền những từ thưởng sử dụng ở miền Trung vào chỗ trống trong các câu sau: a) … là dụng cụ để làm sạch, vệ sinh những mặt phẳng bám bụi: nền nhà, mặt sân, mặt đường. b) Những con người Việt Nam đi … cũng nhớ về quê hương yêu dấu. c) Rừng về đêm, bản làng cùng nhau … đuốc vui đùa bên ánh trăng. Bài tập 35: Điển từ thích hợp vào ô trống theo mô hình với các gợi ý dưới đây: a) Từ ngữ được dùng ở miền Nam, chỉ tên vật dụng ăn cơm hằng ngày giống với nghĩa của từ bát của người miền Bắc: có một tiếng, bắt đầu bằng chữ C b) Từ ngữ thường được dùng ở miền Bắc, chỉ tên một cảm giác khi cảm thấy hổ thẹn khi thấy mình có lỗi hoặc kém cỏi trước người khác: có hai tiếng, bắt đầu bằng chữ X 18 c) Từ ngữ thường được dùng ở miền Trung, tên vị trí cao nhất trong thứ tự xếp hạng: có một tiếng, bắt đầu bằng chữ N – Bài tập dùng từ đặt câu Bài tập 36: Đặt câu với các từ sau đây (mỗi từ đặt một câu): trái thơm, bố, chi, mần, ăn hiếp, dơ, bóng điện Bài tập 37: Tìm 5 từ thường được dùng ở miền Bắc nước ta, đặt câu với 1 từ vừa tìm được. Bài tập 38: Tìm 3 từ thường được dùng ở miền Nam nước ta, đặt câu với các từ vừa tìm được. – Bài tập thay thế từ ngữ Bài tập 39: Hãy thay từ in nghiêng trong các câu dưới đây bằng một từ khác có cùng nghĩa: a) Những người dân tỉnh lũ lượt kéo nhau lên Hà Nội tìm một công việc mưu sinh. b) Dàn dưa leo xanh mướt chi chít những trái treo lơ lửng trên thân cây. c) Bạn Hoa lớp 3B trông hơi gầy. Bài tập 40: Hãy thay thế những từ in nghiêng trong các câu sau đây bằng những từ khác mà không thay đổi nghĩa của câu: a) Những người lái ghe xếp những chiếc ghe của mình san sát bên bờ sông. b) Chiều chiều, trên những thửa ruộng bậc thang, những đàn trâu rừng kéo nhau về bản. * Nhóm bài tập sửa lỗi từ Bài tập 42: Em hãy phát hiện và chỉ ra lỗi dùng từ trong các câu sau đây và sửa lại cho đúng: Những cô gái xứ Huế e thẹn, ngượn ngùng trong chiếc nón lá, tà áo dài trắng tung bay trong chiều gió hè. Bài tập 43: Trong câu sau đây, từ nào dùng không đúng âm? Hãy sửa lại cho đúng: 19 Nhà trường quy định, mỗi bậc phụ huynh khi đến đón con em mình đều không được đẫu xe trước cổng trường. Bài tập 44: Trong câu dưới đây, từ nào dùng sai chính tả? Hãy sửa lại cho đúng: Những chiếc ny uống nước xinh đẹp được bày bán rất nhiều trong những cửa hàng đồ lưu niệm. c) Những chiếc váy dân tộc đều mang những nét đẹp và ý nghĩa khác nhau, in dấu truyền thống văn hóa và phong tục của dân tộc đó Bài tập 41: Những từ nào sử dụng ở 2 miền Bắc – Nam có thể thay thế được cho những cụm từ in nghiêng trong các câu sau đây a) Những người không chịu học tập và làm việc sẽ không bao giờ có được thành công b) Cả ngày hôm qua khu nhà Lan không có điện c) Những đứa nhỏ trong nhà hàng xóm đang đợi mẹ chúng đi làm về. c. Chủ điểm Bầu trời và mặt đất * Nhóm bài tập nhận dạng từ – Bài tập nhận dạng từ rời Bài tập 45: Trong các từ sau đây, từ nào chỉ tên một số vật trên bầu trời: mây, đất, mặt trời, chim, sao băng, biển cả, mặt trăng, cầu vồng Bài tập 46: Gạch chân dưới những từ chỉ tên một số vật trên mặt đất: cây cối, san hô, đồi núi, ngôi sao, thú rừng, cá mập, đất đai Bài tập 47: Gạch chân dưới những từ chỉ những gì thiên nhiên mang lại cho con người: biển cả, nhà cửa, khoáng sản, hoa màu, cây cối, không khí, đường nhựa Bài tập 48: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng Từ nào sau đây nói về vật có trong tự nhiên? a) nhà cửa c) đường nhựa b) đất đai d) trường học Bài tập 49: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng Chỉ ra những việc con người đã làm để bảo vệ thiên nhiên? a) trồng rừng c) không xả rác bừa bãi b) khai thác khoáng sản trái phép d) đốt rừng Bài tập 50: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng 20 Con người đã làm gì để thiên nhiên thêm giàu đẹp? a) xây dựng nhà cửa c) khai thác rừng hợp lý b) trồng nhiều cây xanh d) tất cả các phương án trên – Bài tập nhận dạng từ trong lời nói Bài tập 51: Những từ nào là những từ chỉ những vật có trong thiên nhiên trong các phát ngôn sau đây: a) Trồng rừng hay trồng cây gây rừng là hệ thống các giải pháp kỹ thuật lâm sinh được áp dụng để xây dựng rừng nhân tạo. b) Khoáng sản có vai trò rất lớn trong các ngành: khai thác,chế biến,công nghiệp năng lượng ,con người xây dựng đóng góp phần không nhỏ trong sự phát triển của kinh tế. c) Bãi biển Nha Trang hấp dẫn khách du lịch thập phương bởi ánh nắng mặt trời nhiệt đới, màu xanh của những triền núi nhấp nhô trên bờ, của các hòn đảo hoà cùng mầu biển biếc, như tôn thêm vẻ quyến rũ của những dải cát vàng dạt dào sóng trắng. Bài tập 52: Gạch chân dưới những từ, cụm từ chỉ những việc con người đã làm để bảo vệ thiên nhiên trong những câu sau: a) Phong trào trồng rừng đã tạo ra sức sống mới cho nhiều vùng đất trống, đồi núi trọc, góp phần xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân vùng núi, vùng sâu, vùng xa. b) Nhà nước ngăn chặn và xử lý việc xả thải trái phép ra môi trường của các nhà máy, giúp giảm thiểu phần nào ô nhiễm đất, nước, không khí. c) Mỗi người dân có ý thức tự giác không vứt rác bừa bãi, tuyên truyền, vận động người thân cùng tham gia. Bài tập 53: Trong đoạn văn sau đây, em hãy cho biết từ nào chỉ tên những thứ có ở thiên nhiên: Khi thiên nhiên lớn lên, bạn cũng lớn lên! Những đại dương, những mảnh đất, những dòng chảy, những cánh rừng của thiên nhiên đều lớn lên theo thời gian bằng cách này hay cách khác. * Nhóm bài tập sử dụng từ – Bài tập điền từ vào chỗ trống Bài tập 54: Chọn từ thích hợp để điền vào ô trống trong các câu sau đây: (cầu vồng, rừng núi, mây) 21 a) Những đám … trắng lững lờ trôi trên bầu trời tựa như chiếc chăn bông khổng lồ. b) Sau cơn mưa rào mùa hạ, trời hửng nắng, những vệt sáng đầy sắc màu của … cũng dần hiện ra giữa bầu trời. c) … Tây Bắc thoắt ẩn thoắt hiện trong làn sương khói mênh mông mờ ảo của một vùng non cao. Bài tập 55: Điền từ ngữ vào chỗ trống trong những câu ca dao, tục ngữ sau: a) … có quầng thì hạn, … có tán thì mưa. b) Người xuôi lên thác xuống đèo Chim kêu … nọ, vượn trẻo non kia c) Mau … thì nắng, vắng … thì mưa Bài tập 56: Điền từ thích hợp vào chỗ trống trong các câu sau: a) … hay dầu thô là một chất lỏng sánh đặc màu nâu hoặc ngả lục. b) Câu chuyện “Ông già và …” vẽ ra trước mắt chúng ta một sự thật trần trụi đến phũ phàng nhưng cũng đầy tính nhân văn. c) … là vệ tinh tự nhiên duy nhất của trái đất. Bài tập 57: Điển từ thích hợp vào ô trống theo mô hình với các gợi ý dưới đây: a) Tên một vật có trong thiên nhiên mang lại ánh sáng, nhiệt độ và sự sống cho con người: có 2 tiếng, bắt đầu bằng chữ M b) Tên một sinh vật trong thiên có khả năng tạo cho mình chất dinh dưỡng từ đất: có hai tiếng, bắt đầu bằng chữ T c) Tên một vùng nước mặn rộng lớn nối liền với các đại dương: có một tiếng, bắt đầu bằng chữ B – Bài tập dùng từ đặt câu Bài tập 58: Đặt câu với các từ sau đây (mỗi từ đặt một câu): Khoáng sản, không khí, đồi núi 22 Bài tập 59: Tìm 5 từ chỉ tên của một số sinh vật tự nhiên dưới mặt nước, đặt câu với các từ vừa tìm được. Bài tập 60: Tìm 3 từ chỉ tên một số khoáng sản trong tự nhiên, đặt câu với 1 từ trong các từ vừa tìm được. – Bài tập thay thế từ ngữ Bài tập 61: Hãy thay từ, cụm từ in nghiêng trong các câu dưới đây bằng một từ khác có cùng nghĩa: a) Hành tinh thứ ba trong hệ mặt trời là nhà của hàng triệu loài sinh vật, trong đó có con người và cho đến nay, đây là nơi duy nhất trong vũ trụ được biết đến là có sự sống. b) Hàng trăm những cánh diều với đủ các màu sắc, hình dáng những động vật quen thuộc dưới lòng biển cả đâng tung bay trên bầu trời. c) Vệt sáng của những ngôi sao sa trên trời làm cho bầu trời đêm bỗng sáng rực, lóng lánh. Bài tập 62: Hãy thay thế những từ, cụm từ in nghiêng trong các câu sau đây bằng những từ khác mà không thay đổi nghĩa của câu: a) Nước ta có nguồn tài nguyên dầu mỏ, khí đốt, than đá,… vô cùng phong phú. b) Những dòng nước nhỏ chảy tự nhiên từ trên cao xuống róc rách trên các phiến đá hợp lại cùng nhau để tạo thành dòng sông. c) Sự tác động của những yếu tố về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa,… đã làm cho thảm thực vật nước ta vô cùng phong phú và đa dạng. Bài tập 63: Những từ nào nói về những vật trong tự nhiên có thể thay thế được cho những từ in nghiêng trong các câu sau đây a) Vực chứa nước Ba bể là một trong những nơi chứa nước ngọt lớn nhất thế giới nằm trong vườn quốc gia Ba Bể. b) Tô điểm cho sự hùng vĩ của Trường Sơn là những khối tảng đất đá lớn đồ sộ. c) Mùa đầu tiên của đất trời gõ cửa bắt đầu từ những hạt nước nhỏ li ti từ trên trời rơi xuống để ban phát cho muôn loài sự sống, giục giã cây cối đâm trồi, nảy lộc. * Nhóm bài tập sửa lỗi từ 23 Bài tập 64: Em hãy phát hiện và chỉ ra lỗi dùng từ trong câu sau đây và sửa lại cho đúng: Môi trường tự nhiên là tất cả những vật thể sống và không sống xuất hiện một cách tự nhiên trên trái đất như: đất đai, đại giương, khí quyển, thủy quyển, … Bài tập 65: Trong câu sau đây, từ nào dùng không đúng âm? Hãy sửa lại cho đúng: Tự nhuyên luôn mang lại cho con người những điều tốt dẹp nhất, vì vậy mỗi người hãy luôn chung tay bảo vệ chúng. Bài tập 66: Trong câu dưới đây, từ nào dùng sai chính tả? Hãy sửa lại cho đúng: Trái đất luôn luôn quay xung quanh mặt chời. d. Chủ điểm Bảo vệ Tổ quốc * Nhóm bài tập nhận dạng từ – Bài tập nhận dạng từ rời Bài tập 67: Trong các từ sau đây, từ nào được dùng để chỉ tên một số anh hùng dân tộc ở nước ta: Trưng Trắc, Chúa Nguyễn, Ngô Quyền, Hồ Chí Minh, Hùng Vương Bài tập 68: Gạch chân dưới những từ chỉ tên các nước đã sang xâm chiếm nước ta: Ân, Ấn Độ, Pháp,Hà Lan, Mỹ, Nguyên Mông, Đức Bài tập 69: Gạch chân dưới những từ chỉ tên các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta thời Bắc thuộc: Hai Bà Trưng, Lam Sơn, Bạch Đằng, đánh Mỹ, Phùng Hưng Bài tập 70: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng Những từ nào sau đây nói về tên nữ anh hùng dân tộc có công chống giặc Ngô? a) Triệu Thị Trinh c) Trần Quốc Tuấn b) Triệu Quang Phục d) Hai Bà Trưng Bài tập 71: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng Nghĩa quân Lam Sơn do ai lãnh đạo? a) Ngô Quyền c) Trưng Trắc b) Lê Lợi d) Lý Bí 24 Bài tập 72: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng Chỉ ra những việc mà những người học sinh cần phải làm để góp phần bảo vệ Tổ quốc? a) học tập tốt c) thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy b) chăm chỉ lao động d) tất cả các ý trên – Bài tập nhận dạng từ trong lời nói Bài tập 73: Những từ, cụm từ nào chỉ tên các anh hùng dân tộc trong các phát ngôn sau đây: a) Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn đã có công lớn ba lần đại phá quân xâm lược Nguyên Mông. b) Danh tướng Lý thường Kiệt là một vị tướng tài lừng danh trong lịch sử Việt. c) Năm 938, Ngô Quyền là người lãnh đạo nhân dân đánh bại quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng lịch sử, chính thức kết thúc thời kì Bắc thuộc, mở ra thời kì độc lập lâu dài của Việt Nam ta.. Bài tập 74: Gạch chân dưới những từ cùng nghĩa với từ tổ quốc ở những câu sau: a) Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam, Bác Hồ thiết tha căn dặn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn vào công học tập của các em”. b) Cách đây khoảng 40 – 30 vạn năm, người tối cổ sinh sống khắp nơi trên đất nước ta. c) Dân gian có câu: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời” nói lên đất nước trong lịch sử có thể thay đổi các triều đại khác nhau, còn bản tính, cá tính của con người sẽ khó có thể thay đổi theo thời gian. Bài tập 75: Trong đoạn văn sau đây, từ nào chỉ tên anh hùng dân tộc thiểu số nước ta: Đinh Núp – anh hùng Núp là nhân vật chính, nguyên mẫu trong bộ tiểu thuyết Đất nước đứng lên của nhà văn Nguyên Ngọc, tác phẩm này đã được dựng thành bộ phim cùng tên. (Bài viết của học sinh) 25 * Nhóm bài tập sử dụng từ – Bài tập điền từ vào chỗ trống Bài tập 76: Chọn từ thích hợp để điền vào ô trống trong các câu sau đây: (nước nhà, Phùng Hưng, gìn giữ) a) Bác Hồ có câu: Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích … Việt Nam b) … là lãnh tụ một cuộc nổi dậy chống lại sự đô hộ của nhà Đường thời Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam c) Việc … giá trị văn hóa truyền thống là một việc làm vô cùng cần thiết để bảo tồn bản sắc văn hóa Việt. Bài tập 77: Điền từ ngữ vào chỗ trống trong những câu ca dao, tục ngữ sau: a) Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày … mùng mười tháng ba b) Nhớ xưa thứ sáu … Hai mươi tám tướng, tướng cường nữ nhung. c) … nước Nam vua Nam ở Rành rành định phận tại sách trời Bài tập 78: Điền từ thích hợp vào chỗ trống trong các câu sau: a) Bác Hồ có câu: “Các vua Hùng đã có công … , Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. b) Học sinh Việt Nam trong giai đoạn hiện nay luôn được sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội, điều đó đã tạo ra môi trường hết sức thuận lợi để chúng ta có điều kiện phát triển toàn diện, nhưng cũng đặt ra trách nhiệm cho mỗi bản thân chúng ta cần tham gia tích cực hơn vào sự nghiệp học tập góp phần xây dựng và bảo vệ … . c) Khi giặc Minh xâm chiếm nước ta, ở Lam Sơn có ông … đứng lên phất cờ khởi nghĩa. Bài tập 79: Điển từ thích hợp vào ô trống theo mô hình với các gợi ý dưới đây: a) Tên một vị anh hùng dân tộc có công dẹp loạn 12 xứ quân: có 3 tiếng, bắt đầu bằng chữ Đ 26 b) Tên vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam: có một tiếng, bắt đầu bằng chữ H c) Tên một vị thánh trong truyền thuyết Việt Nam có công đánh phá giặc Ân xâm lược: có hai tiếng, bắt đầu bằng chữ T – Bài tập dùng từ đặt câu Bài tập 80: Đặt câu với các từ sau đây (mỗi từ đặt một câu): Giang sơn, Lê Lợi, tổ quốc, Lý Bí, đất nước Bài tập 81: Tìm 5 từ chỉ tên của các anh hùng dân tộc dân tộc Việt Nam, đặt câu với 1 từ vừa tìm được. Bài tập 82: Tìm 3 từ có cùng nghĩa với từ đất nước, đặt câu với 3 từ vừa tìm được. – Bài tập thay thế từ ngữ Bài tập 83: Hãy thay từ in nghiêng trong các câu dưới đây bằng một từ khác có cùng nghĩa: a) Việt Nam – đất nước hình chữ S đang đi lên xây dựng, hoàn thiện, phát triển sánh vai với các cường quốc năm châu. b) Bảo vệ tổ quốc Việt Nam là trách nhiệm của mỗi con người đang sống và làm việc trên đất nước ta. c) Triệu Quang Phục là người “uy hùng sức mạnh” kế tục sự nghiệp của Lý Nam Đế. Bài tập 84: Hãy thay thế những từ in nghiêng trong các câu sau đây bằng những từ khác mà không thay đổi nghĩa của câu: a) Trên con đường mòn mang tên Bác, đoàn quân ta đã hùng dũng băng đèo, lội suối dọc theo dãy Trường Sơn lịch sử đưa bộ đội vào chiến trường miền Nam đánh Mĩ. b) Nhân dân ta cần phải luôn noi gương những anh hùng đã chiến đấu gian khổ hi sinh bảo vệ tổ quốc hòa bình. * Nhóm bài tập sửa lỗi từ 27 Bài tập 85: Em hãy phát hiện và chỉ ra lỗi chính tả trong các câu thơ sau đây và sửa lại cho đúng: Đất nghèo nuôi những anh hùng Trìm trong máu nửa lại vùng đứng lên Đạp quân thù suống đất đen Xúng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa. NGUYỄN ĐÌNH THI Bài tập 86: Trong câu sau đây, từ nào dùng không đúng âm? Hãy sửa lại cho đúng: Việt Nam – hai tiếng thiên liên, thân thương in hằn trong tim mỗi con người dân tộc. e. Chủ điểm Cộng đồng * Nhóm bài tập nhận dạng từ – Bài tập nhận dạng từ rời Bài tập 87: Trong các từ sau đây, từ nào được dùng để chỉ những người trong cộng đồng, từ nào được dùng để chỉ thái độ hoạt động trong cộng đồng: Đồng nghiệp, cộng tác, đồng đội, đồng hành, đồng bào, đồng tâm, đồng hương, đồng ngũ, đồng chí,đồng lòng, cộng cư Bài tập 88: Gạch chân dưới những từ có tiếng “đồng” với nghĩa là cùng nhau hoặc giống nhau: Đồng ý, kim đồng, đồng thanh, đồng hương, đồng sắt, đồng ca, đồng hạng Bài tập 89: Gạch chân dưới những từ có tiếng “cộng” với nghĩa là gắn bó với nhau: Cộng tác, cộng hòa, cộng cư, công cộng, cộng hưởng, cộng quản, cộng chèo Bài tập 90: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng Em hãy chỉ ra từ có gần nghĩa với từ dân tộc trong các từ ngữ được cho dưới đây? a) đồng bào c) đồng chí b) đồng hương d) đồng lòng Bài tập 91: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng Từ nào trong các từ sau đây chỉ thái độ, hoạt động trong cộng đồng? 28 a) cố kết c) đồng nghĩa b) đồng âm d) đồng đẳng – Bài tập nhận dạng từ trong lời nói Bài tập 92: Những từ nào nói về những người trong cộng đồng trong các phát ngôn sau đây: a) Tất cả những đồng hương ở nước ngoài cứ tết đến là họ lại một lòng hướng về quê hương. b) Tình đồng chí trong nghĩa vụ chiến đấu bảo vệ tổ quốc thắm đượm nghĩa tình. Bài tập 93: Gạch chân dưới những từ chỉ thái độ, hoạt động trong cộng đồng ở những câu sau: a) Toàn trường đang đồng tâm hướng về việc ủng hộ nhân dân vùng bão, lũ, thiên tai. b) Hai lớp 5A và lớp 5B cộng tác với nhau hoàn thành việc trồng hoa khu vực nhà hiệu bộ của trường. Bài tập 94: Trong đoạn văn sau đây từ nào chỉ thái độ ứng xử trong cộng đồng: Sự cộng sinh, sự cố kết cộng đồng để tồn tại suốt mấy ngàn năm chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, đã tạo ra sức mạnh Sơn Tinh trong mỗi con người bé nhỏ. Những con người ấy đồng tâm, đồng lực làm nên những con đê vững chắc chế ngự lũ lụt, hạn hán, bảo vệ làng mạc, mùa màng và tạo thành một nền văn minh lúa nước phát triển rực rỡ cho đến ngày nay. Bài tập 95: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng Ý nào sau đây thể hiện ý nghĩa sâu xa của câu tục ngữ Ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn? a) phải biết đoàn kết với nhau, bạn bè đoàn kết, gia đình đoàn kết và xa hơn nữa là dân tộc phải biết đoàn kết với nhau. b) ngựa chạy thì phải có cả bầy, chim bay thì phải bay cùng bạn * Nhóm bài tập sử dụng từ – Bài tập điền từ vào chỗ trống Bài tập 96: Chọn từ thích hợp để điền vào ô trống trong các câu sau đây: (đồng sức, cộng tác, đồng hương) 29 a) Hội … là tổ chức của những người cùng quê hương đang sinh sống và làm việc tại một nơi xa. b) … là cùng góp sức hoàn thành một công việc nhằm một mục đích chung, nhưng có thể không cùng chung một trách nhiệm. c) Nhân dân cả nước đã … khắc phục hậu quả thiên tai bằng cách: quyên góp tiền, mì tôm, chăn màn, thuốc men, sách vở để ủng hộ người dân vùng nạn. Bài tập 97: Điền từ ngữ vào chỗ trống trong những câu ca dao, tục ngữ sau: a) Dân ta nhớ một chữ đồng: … , đồng sức, đồng lòng, đồng minh b) … làm chẳng nên non … chụm lại nên hòn núi cao. Bài tập 98: Điền từ thích hợp vào chỗ trống trong các câu sau: a) … là một nhóm xã hội của các cơ thể sống chung trong cùng một môi trường thường là có cùng các mối quan tâm chung. b) Người dân cả nước cùng … hướng về biển đảo. Bài tập 99: Điển từ thích hợp vào ô trống theo mô hình với các gợi ý dưới đây: a) Từ chỉ những người trong cùng một đội ngũ: có hai tiếng, bắt đầu bằng chữ Đ b) Từ chỉ những người có cùng chung một lòng: có hai tiếng, bắt đầu bằng chữ Đ c) Từ chỉ những người cùng làm chung một việc: có hai tiếng, bắt đầu bằng chữ C – Bài tập dùng từ đặt câu Bài tập 100: Đặt câu với các từ sau đây (mỗi từ đặt một câu): Đồng hương, đồng chí, đồng bào 30 Bài tập 101: Tìm 3 từ chỉ những con người trên mọi đất nước, đặt câu với 1 từ vừa tìm được. – Bài tập thay thế từ ngữ Bài tập 102: Hãy thay từ in nghiêng trong các câu dưới đây bằng một từ khác có cùng nghĩa: a) Giáo viên và học sinh trường tiểu học A đồng lòng xây dựng ngôi trường xanh – sạch – đẹp b) Người cùng công việc với mẹ Nam mới được thăng chức. Bài tập 103: Hãy thay thế những từ in nghiêng trong các câu sau đây bằng những từ khác mà không thay đổi nghĩa của câu: a) Trên mọi miền tổ quốc, người dân cùng nhau hướng đến xây dựng một đất nước hoà bình, phát triển. b) Chúng ta hãy nêu cao tinh thần thiện chí giúp đỡ với những người gặp nạn khi họ đang ở trong tình cảnh khó khăn. * Nhóm bài tập sửa lỗi từ Bài tập 104: Em hãy phát hiện và chỉ ra lỗi dùng từ trong các câu sau đây và sửa lại cho đúng: Không ngoan đối đáp người ngoài Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau (Ca dao) Bài tập 105: Trong câu ca dao sau đây, từ nào dùn
Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY
Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education
BÁO CÁO SÁNG KIẾN I. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến: Ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy học là một trong những giải pháp hữu hiệu nhằm phát huy tính tích cực, hiệu quả và sáng tạo của cả giáo viên và học sinh; nâng cao tính tự học, tự tìm tòi thông tin qua mạng internet của học sinh, tạo điều kiện để học sinh có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, tìm được nội dung học phù hợp; khuyến khích giáo viên thiết kế bài dạy với sự hỗ trợ của các thiết bị công nghệ và thông tin để đem lại cho học sinh những hứng thú học tập cao nhất. Để làm được điều này thì người giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học sao cho phát huy tối đa tính tích cực của học sinh. Việc dạy học phát huy tính tích cực của học sinh nhằm phát triển cho trẻ một con người toàn diện, có tố chất năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề, có khả năng đáp ứng yêu cầu của dòng tri thức không ngừng gia tăng trong xã hội hiện nay. Do vậy việc tích lũy phương pháp và hình thức dạy học đạt hiệu quả cao chính là việc làm cần thiết và thường xuyên của mỗi giáo viên. Do đặc điểm học sinh Tiểu học “Tiềm tàng khả năng phát triển” nên người giáo viên cần sáng tạo, sử dụng linh hoạt nhiều phương pháp, hình thức dạy học khác nhau để giúp học sinh lĩnh hội kiến thức, giúp học sinh có điều kiện “Trải nghiệm và thử thách”. Qua trải nghiệm và thử thách cộng với việc học tập tích cực, chủ động, tự giác dựa trên nhu cầu hứng thú, sự tương tác lẫn nhau trong học tập. Từ đó học sinh hình thành kĩ năng, kĩ xảo, các em được phát triển nhiều mặt nhằm vận dụng vào cuộc sống hằng ngày. Trò chơi học tập là một trong các biện pháp đó giúp học sinh trải nghiệm trong học tập. Phát triển trí tuệ cho học sinh tiểu học là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu của hầu hết các quốc gia, của những bậc phụ huynh và các thầy cô giáo. Cùng với tất cả các môn học khác trong chiến lược phát triển toàn diện, có thể nói rằng môn Tiếng Việt là một trong những môn học cơ bản – môn học công cụ của chương trình giáo dục phổ thông hiện nay. Tuy nhiên, tôi nhận thấy hầu hết học sinh khối 4 chưa thực sự có hứng thú (hay chưa ham thích) khi học phân môn Luyện từ và câu. Điều đó dẫn đến các em chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập các môn học trên. Trên tinh thần “học mà chơi, chơi mà học”, “chơi vui học càng vui” nhằm thỏa mãn được nhiều loại nhu cầu trong khi chơi. Với ưu thế như vậy 4 trò chơi thực sự là một phương tiện hữu hiệu để tạo ra sự hài hoà, thoải mái, không rập khuôn, khô cứng, đảm bảo tính tự nhiên cho cuộc sống cũng như trong học tập của học sinh. Ngày nay do sự phát triển mạnh mẽ về công nghệ thông tin. Khi sử dụng trò chơi bằng hình thức thủ công mang tính truyền thống tôi thấy học sinh đã rất hứng thú. Song áp dụng công nghệ thông tin sẽ đưa các trò chơi học tập lên một tầm cao mới làm cho học sinh thực sự bị thu hút và lôi cuốn bởi hình thức trực quan đẹp, hữu hiệu, có nội dung và hình thức phong phú gây sự tò mò, ham học hỏi đối với học sinh. Mặt khác, trò chơi khi xây dựng bằng các phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin có nhiều ưu điểm: + Trong cùng một khoảng thời gian như nhau nếu tổ chức trò chơi bằng hình thức thủ công sẽ tốn nhiều công, nhiều kinh phí cho việc chuẩn bị đồ dùng, nhưng nếu thiết kế bằng phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin sẽ tốn ít thời gian, chuyển tải được nhiều nội dung cùng một lúc. + Trò chơi bằng phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin có thể một lúc kiểm tra được nhiều học sinh, nhiều đối tượng học sinh tham gia cùng một lúc. + Khi chơi các trò chơi được xây dựng bằng phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin học sinh sẽ được tương tác nhiều hơn giữa trò với trò, giữa trò với thầy. Tiện lợi nhất là câu trả lời trắc nghiệm đúng/ sai. + Trò chơi bằng phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin có những hình ảnh đẹp, mới lạ, sống động, nhiều trường hợp có cả âm thanh. Nên kiến thức trở nên sống động, gần gũi, học sinh dễ hiểu và thực tế hơn. Từ những cơ sở đã nêu trên, việc ứng dụng công nghệ thông tin tạo hứng thú học tập và phát huy tính tích cực, sáng tạo thông qua trò chơi học tập của học sinh khi học phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4 là hết sức cần thiết và cấp bách. Nó giúp cho học sinh phát triển toàn diện các năng lực một cách tự nhiên, giúp cho các em trao đổi kinh nghiệm, tương tác lẫn nhau, từ đó các em tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng. Xuất phát từ những lí do trên tôi mạnh dạn chọn sáng kiến Ứng dụng công nghệ thông tin thiết kế trò chơi gây hứng thú cho học sinh trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4 để nghiên cứu và thực hiện. II. Mô tả giải pháp kỹ thuật II.1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến : II.1. 1. Thuận lợi : 5 – Nhà trường có đủ các phòng học đảm bảo cho học sinh học 2 buổi/ ngày. – Nhà trường có hệ thống điện đầy đủ trang bị cho từng lớp, có 03 bộ đầu chiếu projector dùng lưu động và 7 ti vi thông minh có kết nối mạng internet tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên đổi mới phương pháp dạy và học. – Trong thực tế giảng dạy hiện nay, giáo viên đã có những chuyển biến rất tích cực trong công tác đổi mới phương pháp giảng dạy với định hướng lấy học sinh làm trung tâm. – Hoạt động của tổ chuyên môn. Tham gia các buổi tập huấn chuyên môn do phòng, sở tổ chức. Tổ chuyên môn tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học, từng bước nâng cao chất lượng dạy và học. – Qua thời gian công tác, bản thân đã đúc rút được những kinh nghiệm, tổ chức nhịp nhàng các hoạt động học, đổi mới phương pháp giảng dạy với định hướng lấy học sinh làm trung tâm. II.1. 2. Khó khăn : – Phân môn “Luyện từ và câu” là phần kiến thức khó nên trong quá trình dạy học dẫn đến tâm lý giáo viên e ngại, dạy cho qua đủ, bởi chính việc vận dụng của giáo viên còn lúng túng gặp khó khăn. Giáo viên một số ít đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu để khai thác kiến thức chính vì thế phương pháp dạy học trở nên đơn điệu, lệ thuộc sách giáo khoa, hầu như ít sáng tạo, chưa thu hút lôi cuốn học sinh, dẫn đến cũng không nắm được kiến thức tạo ra tâm lí học sinh ngại học phân môn này. – Việc dạy học ứng dụng công nghệ thông tin của giáo viên chưa được thực hiện thường xuyên. Đồ dùng dạy học môn Luyện từ và câu ở lớp 4 chưa thực sự phù hợp, cho nên việc tạo ra một môi trường dạy học đạt hiệu quả là điều không dễ dàng. – Học sinh đa phần là con em các gia đình nông dân ở vùng nông thôn, cách tiếp cận các hoạt động vui chơi cũng như trong học tập còn hạn chế, sự nhút nhát, rụt rè, thụ động cũng ảnh hưởng đến quá trình học tập của các em. Học sinh vốn từ rất hạn chế, việc hiểu nghĩa của từ còn mờ nhạt, nên các em khá thờ ơ với môn học, xa rời vận dụng nội dung bài học với thực tế. Để đánh giá được khách quan tôi đã tiến hành khảo sát về chất lượng và hứng thú học tập phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4 trong năm học 2020 – 2021 với 2 lớp 4A (lớp đối chứng) và 4C (lớp thực nghiệm) thu được kết quả như sau: Kết quả thống kê chất lượng đầu năm học: 6
Lớp
TSHS
Điểm 10
Điểm 9
Điểm 8
Điểm 7
Điểm 6
Điểm 5
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
4A
36
0
0
4
11,1
3
8,3
11
30,5
10
27,7
8
22,4
4C
36
0
0
3
8,3
5
13,8
10
27,7
10
27,7
8
22,4
* Kết quả điều tra hứng thú của học sinh đầu năm học:
LỚP
TSHS
Thích học
Học thụ động
Không thích học
Số lượng
Tỉ lệ
Số lượng
Tỉ lệ
lượng Số
Tỉ lệ
4A
36
33
91,6
3
8,4
0
0
4C
36
20
55,5
10
27,8
6
16,7
II.2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến. Giải pháp 1: Xây dựng trò chơi học tập trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4. Trò chơi trong tiết học sẽ tạo được hứng thú cho học sinh với môn học, giúp các em học tập tốt, yêu thích, hứng thú với phân môn Luyện từ và câu. Từ đó duy trì tốt hơn sự chú ý của các em đối với mỗi bài học. Để xây dựng được một hệ thống trò chơi phục vụ cho phân môn Luyện từ và câu lớp 4, tôi đã tiến hành nghiên cứu và thực hiện theo các bước sau: Bước 1. Khảo sát chương trình và lựa chọn các trò chơi phù hợp. Đây là bước quan trọng nhất trong giải pháp bởi vì trong chương trình Luyện từ và câu lớp 4 có rất nhiều dạng bài như : Mở rộng vốn từ, từ loại, câu,… mỗi dạng bài có những đặc điểm riêng của nó. Trong mỗi dạng bài thì các phần Khởi động, Khám phá, Luyện tập, Vận dụng cũng rất khác nhau đòi hỏi mỗi dạng trò chơi phù hợp khác nhau. Tôi đã tiến hành khảo sát và hệ thống được một số dạng trò chơi có thể vận dụng yếu tố công nghệ để thiết kế trò chơi nhằm gây hứng thú cho học sinh như sau: 1. Trò chơi ô chữ bí mật: Với trò chơi này giáo viên có thể áp dụng hiệu quả vào các dạng bài tìm từ khóa hoặc tìm chủ đề, chủ điểm của bài học đó. Giáo viên có thể dễ dàng đưa các câu hỏi tích hợp môn Lịch sử, các nhân vật trong các tác phẩm văn học học sinh đã được học hoặc đã biết cùng thuộc chủ đề từ khóa đó hoặc sử dụng các câu hỏi gợi mở để nảy ra từ liên quan tới chủ điểm đó. Từ khóa không nên quá dài tránh sự nhàm chán khi tham gia. 7 Một số bài học có thể áp dụng: + Mở rộng vốn từ Trung thực – Tự trọng( tuần 5); + Mở rộng vốn từ Ý chí-nghị lực (tuần 12); + Mở rộng vốn từ Tài năng (tuần 19); + Mở rộng vốn từ Sức khỏe (tuần 20), + Mở rộng vốn từ Cái đẹp (tuần 23); + Mở rộng vốn từ Dũng cảm (tuần 25);… 2. Trò chơi Rung chuông vàng: Trò chơi này giáo viên có thể thiết kế cho học sinh chơi vào đầu tiết hoặc cuối tiết học, nhằm mục đích khắc sâu, củng cố, mở rộng, vận dụng từ thuộc chủ điểm vào trong câu từ, và khả năng phản ứng nhanh của học sinh. Có thể vận dụng vào nhiều tiết ôn luyện, củng cố kiến thức bài học như: + Bài Từ đơn và từ phức (tuần 3); + Mở rộng vốn từ Nhân hậu – Đoàn kết (tuần 3);… 3. Trò chơi Ai là triệu phú: Đây là trò chơi phù hợp với những tiết nhiều nội dung kiến thức, hoặc kiến thức tổng hợp, để khắc sâu thêm kiến thức tránh để học sinh nhầm lẫn + Từ ghép và từ láy (tuần 4); + Danh từ chung, danh từ riêng (tuần 18); + Ôn tập (Tiết 6) (tuần 18); + Luyện tập về câu hỏi (tuần 15); + Ôn tập (Tiết 7) (tuần 18); + Mở rộng vốn từ Sức khỏe (tuần 20);… 4. Trò chơi Nối ô chữ: Vận dụng với những dạng bài nhỏ trong một tiết học, tránh được sự đơn điệu trong một tiết Luyện từ và câu. + Mở rộng vốn từ Trung thực – Tự trọng (Bài tập 2) (tuần 6) ; + Ôn tập (Bài tập 2) (Tiết 2) (tuần 18); + Ôn tập (Bài tập 2) (Tiết 5) (tuần 18); + Mở rộng vốn từ : Cái đẹp (Bài tập 2) (tuần 23); + Vị ngữ trong câu kể Ai là gì? (Bài tập 2, 3) (Tuần 23);… 5. Trò chơi Đuổi hình bắt chữ: Giáo viên có thể cho học sinh chơi vào phần Khởi động hoặc Ứng dụng của tiết học. Tăng khả năng ghi nhớ từ vựng cho học sinh, rèn tư duy, phản ứng nhanh. Áp dụng được với các dạng bài tổng hợp kiến thức sau mỗi chủ đề, chủ điểm. + Chủ điểm Thương người như thể thương thân.(tuần 1+2+3) 8 +Chủ điểm Trên đôi cánh ước mơ (tuần 7+8+9) +Chủ điểm Vẻ đẹp muôn màu (tuần 22+23+24 +Ôn tập (Tiết 4 – tuần 28) +Tiết Mở rộng vốn từ Du lịch – Thám hiểm (tuần 30)… 6. Trò chơi Hái hoa quả: Trò chơi sẽ chia học sinh theo đội, nhóm. Số lượng đội, nhóm có thể do giáo viên tự thiết kế sao cho phù hợp với đặc điểm, tình hình của lớp. Trò chơi theo đội, nhóm hình thành cho các em kĩ năng làm việc nhóm, đồng đội, kĩ năng phân công nhiệm vụ, giải quyết vấn đề, đề cao tinh thần đoàn kết; hợp tác trong công việc chung. Áp dụng ở các dạng bài ôn tập hoặc tổng hợp nhiều dạng kiến thức. Cách thực hiện này đòi hỏi giáo viên phải có sự nghiên cứu, chuẩn bị bài kĩ lưỡng, có sự tổng hợp kiến thức của các tiết ôn tập, sao cho nội dung câu hỏi đưa ra cho các đội ngắn gọn, phù hợp nhưng vẫn đám bảo được lượng kiến thức cần chuyển tải tới học sinh. Áp dụng trong các tiết: + Ôn tập (tuần 10)… + Ôn tập (tuần 18)… + Ôn tập (tuần 28)… + Ôn tập (tuần 35) Bước 2. Lựa chọn và thiết kế trò chơi: Mỗi trò chơi học tập nói chung khi tôi xây dựng đều nhằm mục đích như : Khởi động một tiết học, xây dựng kiến thức bài mới hoặc củng cố kiến thức, kĩ năng cụ thể, hoặc có những kiến thức tổng hợp. Trò chơi mang tính logic, đảm bảo tính khoa học liên môn. Căn cứ vào vốn từ ngữ của học sinh, nét văn hóa khác biệt của địa phương trong đời sống sinh hoạt của học sinh với nội dung kiến thức cần chuyển tải. Sao cho trò chơi đem lại những kết quả tốt nhất, hiệu quả và thân thiện nhất với các em. Và chỉ có như vậy mới kích thích được hứng thú học tập của các em. Từ những căn cứ về mục đích của trò chơi và các yếu tố ảnh hưởng đã nêu ở trên, tôi đã nghiên cứu kĩ từng dạng bài, từng chủ đề trong chương trình phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4 để xây dựng các trò chơi sao cho thích hợp nhất. Nhưng tất cả đều tuân thủ theo cấu trúc như sau: Cấu trúc chung của mỗi trò chơi Luyện từ và câu lớp 4 được xây dựng như sau: + Mục đích của trò chơi. + Luật chơi: chỉ rõ các quy định đối với người chơi, quy định thắng thua trong trò chơi. 9 + Đồ dùng, đồ chơi: Mô tả đồ dùng, đồ chơi được sử dụng trong khi chơi. + Số người tham gia chơi: chỉ rõ số người tham gia chơi, những trò chơi có thể tổ chức một cách linh hoạt tạo nhiều trò chơi phù hợp với đối tượng học sinh, phù hợp với khả năng và nội dung kiến thức cần chuyển tải. + Xác định tác dụng của trò chơi. Giải pháp 2: Ứng dụng công nghệ thông tin thiết kế trò chơi trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4 : * Thực hiện trò chơi: 1. Giáo viên giới thiệu tên, mục đích của trò chơi. 2. Hướng dẫn chơi. Bước này bao gồm những việc làm sau: – Tổ chức người tham gia trò chơi: Số người tham gia, số đội tham gia (mấy đội chơi), quản trò, trọng tài. – Các dụng cụ dùng để chơi (chuông, bảng, thẻ từ, cờ…) – Cách chơi: Từng việc làm cụ thể của người chơi hoặc đội chơi, thời gian chơi, những điều người chơi không được làm… – Cách xác nhận kết quả và cách tính điểm chơi, cách giải của cuộc chơi. (nếu có) 3. Thực hiện trò chơi. 4. Nhận xét sau cuộc chơi. Bước này bao gồm những việc làm sau: – Giáo viên hoặc trọng tài là HS nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của từng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm. – Trọng tài công bố kết quả chơi của từng đội, cá nhân và trao phần thưởng cho đội đoạt giải (nếu có). – Một số học sinh nêu kiến thức, kỹ năng trong bài học mà trò chơi đã thể hiện. a. Dạng trò chơi Ô chữ bí mật: Theo tôi, trò chơi ô chữ bí mật là trò chơi sử dụng các từ, các cụm từ là nội dung trọng tâm, mấu chốt của bài, chương ghép lên các ô vuông kẻ sẵn. Sau khi học sinh trả lời được câu hỏi thì các ô chữ được mở ra. * Các bước xây dựng bảng trò chơi Ô chữ bí mật tôi thực hiện như sau: – Trong một bảng trò chơi ô chữ có nhiều hàng ngang và có thể có một hàng dọc. Một hàng ngang có chứa một hoặc vài chữ cái của từ / cụm từ trong hàng dọc (hoặc từ / cụm từ trung tâm). Nội dung của từ / cụm từ trong hàng dọc ( hoặc từ / cụm từ trung tâm) thường là những nội dung trọng tâm, mang tính khái quát cao và có mối liên quan nhất định với từ / cụm từ trong hàng ngang. 10 – Bảng trò chơi Ô chữ bí mật được xây dựng theo các bước sau: Bước 1: Xác định mục tiêu của bài, chương, phần. Bước 2: Xác định nội dung trọng tâm để từ đó tìm từ / cụm từ hàng dọc (trung tâm), hàng ngang. Bước 3: Viết các câu hỏi cho các từ / cụm từ hàng ngang, hàng dọc (trung tâm). Bước 4: Sắp xếp, kiểm tra các từ / cụm từ, câu hỏi và chỉnh sửa (nếu cần). Bước 5: Sử dụng ứng dụng POWER POINT để nhập thông tin về bảng trò chơi ô chữ. Trò chơi Ô chữ bí mật được tôi xây dựng và vận dụng vào các dạng bài : Mở rộng vốn từ ở các chủ đề trong cả năm học như : Nhân hậu – Đoàn kết; Trung thực – Tự trọng; Ước mơ; Ý chí – Nghị lực; Đồ chơi – Trò chơi; Đồ chơi – Trò chơi; Tài năng; Sức khỏe; Cái đẹp; Dũng cảm; Du lịch – Thám hiểm; Lạc quan – Yêu đời;… Ví dụ: Trò chơi giải ô chữ: Bài mở rộng vốn từ : Dũng cảm Các từ hàng ngang: Câu hỏi 1: Hoàn thành câu thành ngữ sau: “Dám nghĩ, ….” Câu hỏi 2: Chàng trai đan sọt sau này trở thành tướng thời nhà Trần là ai? Câu hỏi 3: Ai là người lãnh đạo nhân dân chống quân Tống xâm lược lần thứ nhất? Câu hỏi 4: Vào thời Hùng Vương, cậu bé nhỏ tuổi đánh thắng giặc Ân là ai ? Câu hỏi 5: Vị tướng được nhân dân thờ tại đình Đồng, làng Mai, Mỹ Thắng là ai? Câu hỏi 6: Điền từ còn thiếu trong câu thành ngữ sau: “Chớ thấy ……….mà ngã tay chèo” Câu hỏi 7: Tên thật của anh hùng Nông Văn Dèn là ai? Viết từ xuất hiện ở hàng dọc (được in màu đậm):… 11 Trò chơi Ô chữ bí mật sau khi được vận dụng vào các bài học đã thu được những kết quả hết sức khích lệ. Học sinh học tập với tất cả hứng thú tích cực, các em chủ động huy động tất cả các vốn sống của mình, tìm mọi cách phát hiện các tri thức thuộc chủ đề, vận dụng kiến thức vào thực tế hết sức tự nhiên. Lớp học sôi nổi, tích cực. b. Dạng trò chơi Ai là triệu phú. Đây là trò chơi được xây dựng trên cơ sở trò chơi của kênh truyền hình VTV3 nhưng là phiên bản học sinh. Trò chơi này tôi xây dựng dành cho các dạng bài Luyện tập, Ôn tập giữa kì và cuối học kì với mục đích củng cố, ôn tập cho các em. Bởi vì, các dạng bài này thường có khối lượng kiến thức lớn tổng hợp của một vài tiết hay cả một nửa, thậm chí cả một học kì. Bảng câu hỏi trong trò chơi này được thiết kế đa dạng về nội dung kiến thức. Để có nhiều học sinh tham gia trò chơi, tôi thiết kế thêm một số câu hỏi dành cho khán giả. Nếu người chơi trả lời sai thì khán giả có quyền được trả lời câu hỏi đó. Như vậy sẽ kết nối được người chơi với khán giả. Cách chơi: Bước 1. Giáo viên cho học sinh cả lớp ai trả lời một câu hỏi về kiến thức cần được ôn tập, luyện tập. Ai trả lời nhanh nhất thì được ngồi lên “ghế nóng”. 12 Bước 2. Học sinh được chọn sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi xuất hiện trên màn hình trong thời gian 20 giây cho mỗi câu hỏi cho đến khi nào hết gói câu hỏi hoặc trả lời sai thì dừng lại. Và vòng chơi khác lại lặp lại với các câu hỏi khác. Ở đây các em cũng có quyền trợ giúp 50/50 và hỏi ý kiến khán giả. Ví dụ: Bài Luyện tập về từ ghép và từ láy: Tôi đã tiến hành cho các em chơi trò chơi trong phần Thực hành – Luyện tập. Trò chơi giúp các em củng cố và vận dụng tối đa những kiến thức về từ ghép và từ láy: Ở trò chơi này các em cũng có đầy đủ các sự trợ giúp từ bạn bè, 50/50,… khiến không khí học tập trở nên rất sôi nổi, tích cực, nhiều học sinh được tham gia trò chơi khi ngồi lên “Ghế nóng”. c. Dạng trò chơi Rung chuông vàng. Đây là trò chơi được biến tấu của một trò chơi đã xuất hiện trên sóng truyền hình. Trò chơi này tôi xây dựng dành cho các dạng bài Luyện tập, Ôn tập giữa kì và cuối học kì với mục đích củng cố, ôn tập cho các em. Bởi vì, trò chơi này sẽ truyền tải được một khối lượng kiến thức vô cùng lớn mà không làm việc học căng thẳng mà ngược lại khiến cho các em càng thêm hào hứng với các màn cứu nguy, hỗ trợ của giáo viên. Cách chơi : Trò chơi được tiến hành ngay trong lớp học, mỗi học sinh được trang bị một bảng con và 1 viên phấn để viết đáp án. 13 Giáo viên trình chiếu các câu hỏi với các đáp án A, B, C hoặc dạng câu hỏi điền khuyết lên màn hình. Học sinh có nhiệm vụ xác định đáp án hoặc từ cần điền rồi viết vào bảng với thời gian 10 giây suy nghĩ. Hết thời gian, học sinh giơ bảng ghi đáp án của mình. Những học sinh nào có đáp án sai sẽ rời sân chơi. Màn cứu trợ: Trò chơi tiếp tục cho đến khi số người tham gia trò chơi còn khoảng 30% sẽ có màn cứu trợ. Những bạn đang còn tham gia chơi sẽ phải trả lời một câu hỏi của Ban tổ chức trò chơi. Số người bị loại sẽ được tham gia trở lại bằng đáp án đúng câu hỏi này nhân với 2. Trò chơi được tiếp tục cho đến khi đến câu hỏi cuối cùng và những người chiến thắng sẽ được nhận phần thưởng cao nhất đó là rung chiếc chuông vàng huyền thoại mơ ước hoặc sẽ dừng lại khi không còn bạn nào có đáp án đúng nữa. Ví dụ : Bài Luyện tập về câu hỏi. Trong bài này, tôi đã thiết kế các câu hỏi trắc nghiệm nhiều đáp án và trắc nghiệm điền khuyết với nhiều mức độ từ dễ đến khó cho toàn bộ 35 phút của bài. Tiết học diễn ra vô cùng sôi nổi và hứng thú, các em tham gia trải nghiệm với nhiều cung bậc cảm xúc: có bạn tiếc nuối khi bị loại, có bạn vỡ òa khi câu trả lời của mình đúng đáp án. Trò chơi này có ưu điểm là tất cả học sinh đều được tham gia trò chơi, đều được tư duy tích cực với sự hào hứng cao nhất. Học sinh sẽ phải tái hiện, vận dụng kiến thức trong thời gian ngắn nhất để đưa ra đáp án cho đúng thời 14 gian. Điều này sẽ rèn các phản xạ, tổng huy động và xử lí thông tin một cách nhanh nhất, chính xác nhất. d. Dạng trò chơi Nối ô chữ. Dạng trò chơi học tập này, tôi thiết kế dùng cho các hoạt động luyện tập. Trong trò chơi này các em có nhiệm vụ nối các mệnh đề, nhận định tương ứng với nhau. Dạng trò chơi này có ưu điểm là kiểm tra được khá nhanh và toàn diện các kiến thức các em vừa học. Giúp cho học sinh hệ thống hóa toàn bộ kiến thức một cách có hệ thống và giúp các em vận dụng kiến thức vào thực tế. Ví dụ: Bài Ôn tập cuối học kì I (Tiết 2) Trong bài này, tôi đã thiết kế các slide nhằm mục đích hệ thống các thành ngữ tục ngữ mà các em đã được học trong cả học kì I. Tổ chức cho học sinh chơi trò chơi theo 2 đội thi đua, mỗi đội 6 bạn. Học sinh tham gia chơi mỗi người lần lượt lên nối rồi đi xuống cuối hàng. Sau đó người kế tiếp mới được lên nối tiếp. Đội nào hoàn thành và chính xác hơn thì đội đó chiến thắng. d. Dạng trò chơi Đuổi hình bắt chữ. Đây là dạng trò chơi vô cùng sôi động, luôn được các em mong chờ nhất. Cách chơi của game trò chơi này tương tự như game show Đuổi hình bắt chữ trên truyền hình.Những hình ảnh lần lượt xuất hiện, đó có thể là hình ảnh các loài động vật, thực vật, các môn thể thao, các dụng cụ thường ngày các 15 em vẫn thấy. Tưởng như không liên quan nhưng tất cả được lồng ghép một cách đầy dụng ý để người chơi phán đoán ra được câu, từ kì thú, dí dỏm. Ngoài hình ảnh còn có các ô chữ cái để gợi ý thêm cho người chơi. Trò chơi Đuổi hình bắt chữ luôn thúc đẩy người chơi phải tiếp tục chơi để chinh phục thử thách, luôn tạo được những tiếng cười giòn giã. Trò chơi giúp các em tăng cường khả năng tư duy, phát triển kĩ năng phán đoán và ra quyết định. Ví dụ :Chủ điểm tuần 1+2+3: Thương người như thể thương thân. Bài Mở rộng vốn từ Đoàn kết – Nhân hậu (tuần 3). 16 e. Trò chơi Hái hoa quả: Cách chơi : Trò chơi chia học sinh thành 4 đội chơi (hoặc 3 đội, 2 đội) tùy cơ sở vật chất, diện tích phòng học. Giáo viên trình chiếu các câu hỏi với các đáp án A, B, C hoặc dạng câu hỏi điền khuyết lên màn hình. Lần lượt từng đội chơi sẽ nhận câu trả hỏi, suy nghĩ trả lời. Đội chơi nào trả lời nhiều đáp án nhất, đội đó giành chiến thắng. Ví dụ : Bài Ôn tập (tiết 4+5 – tuần 28). 17 III. Hiệu quả do sáng kiến đem lại : Qua việc đưa các trò chơi vào dạy học Luyện từ và câu trong năm học này, tôi nhận thấy không khí trong các tiết học thay đổi hẳn lên. Các em học sinh học tập với tâm trạng hồ hởi, thích thú, các em say mê hơn và tích cực chủ động nắm vững kiến thức. Chất lượng học tập có sự tiến bộ rõ rệt, số học sinh nắm được nội dung bài tăng lên. Không những việc học tập có tiến bộ mà các em còn rèn thêm về tính nhanh nhạy, biết đoàn kết thân ái với nhau, biết phân công công việc cụ thể,… Các em học sinh ngày càng năng động hơn, tư duy phát triển hơn. Học sinh thấy vui hơn, thư thái dễ chịu và khoẻ mạnh hơn. Giao lưu giữa cô và trò gần gũi, cởi mở và tình cảm hơn. Các trò chơi học tập luôn thu hút được các em tham gia một cách hào hứng và tự nguyện, không có một áp lực tâm lí nào đối với học sinh, luôn có sự khám phá và nảy sinh nhiều sáng kiến hay. Các em học được cách điều khiển hành vi, cách bắt hành vi tuân theo một nhiệm vụ nhất định. Giúp học sinh rèn luyện, củng cố tiếp thu tri thức đồng thời phát triển vốn kinh nghiệm mà các em đã được tích luỹ thông qua hoạt động chơi. 18 Rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thúc đẩy hoạt động trí tuệ. Nhờ sử dụng trò chơi học tập mà quá trình dạy và học trở thành một hoạt động vui và hấp dẫn hơn. Qua trò chơi, các em biết tự kiềm chế, tham gia hoạt động tích cực. Trò chơi không chỉ là phương tiện mà còn là phương pháp giáo dục. Dưới đây là bảng minh chứng khảo sát chất lượn
Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY
Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education
ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN Năm học 2020 – 2021 là năm học đầu tiên thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 (GDPT 2018) bắt đầu từ lớp 1. Chương trình GDPT được xây dựng trên quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nhằm mục tiêu phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức kĩ năng cơ bản, thiết thực, hiện đại; hài hòa đức, trí, thể, mĩ; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống. Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng theo hướng mở- một chương trình nhiều bộ sách giáo khoa (SGK) tạo điều kiện cho giáo viên phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện chương trình. SGK được xem là ngữ liệu quan trọng, là công cụ hỗ trợ nhằm giúp người dạy và người học đạt được mục tiêu của chương trình. Bên cạnh đó, người giáo viên cũng được giao quyền chủ động nhiều hơn, được thỏa sức sáng tạo trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức các hoạt động, tăng cường kết nối với thực tiễn theo triết lí “đưa bài học vào cuộc sống, mang cuộc sống vào bài học” Lớp 1 là lớp học đầu cấp tiểu học, là giai đoạn vô cùng quan trọng, là nền tảng, là tiền đề cho tất cả các cấp học. Nếu các em được học tập vui chơi trong một môi trường khoa học, lành mạnh, có tri thức thì đó là cơ sở vững chắc để tạo ra một thế hệ khỏe về thể chất, mạnh về tinh thần. Bước vào lớp 1, học sinh được làm quen với nhiều kiến thức mới – những kiến thức cơ bản ban đầu của chương trình học phổ thông. Môn Tiếng Việt giúp học sinh sử dụng Tiếng Việt thành thạo để giao tiếp hiệu quả trong cuộc sống và học tập tốt các môn học và hoạt động giáo dục khác. Môn Tiếng Việt lớp 1 có vai trò vô cùng quan trọng giúp hình thành các phẩm chất, năng lực chung, phát triển năng lực ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe với mức độ căn bản. Trong những năm trở lại đây, giáo dục Nam Định đang thực hiện dạy học Tiếng Việt lớp 1 theo chương trình Công nghệ của giáo sư Hồ Ngọc Đại. Có thể nói đây là một chương trình có nhiều ưu thế trong việc phát triển khả năng tự 4 học cũng như giúp học sinh nắm vững luật chính tả, ít mắc lỗi, không bị tái mù ngay cả với những học sinh vùng khó khăn. Giáo viên lớp 1 cũng đã rất quen và thành thạo với chương trình Công nghệ. Chính vì thế, khi bước sang giai đoạn mới, giai đoạn thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018 – với cách tiếp cận mới, nội dung mới, phương pháp mới, chúng tôi vô cùng trăn trở. Làm thế nào để thực hiện hiệu quả chương trình GDPT 2018, làm thế nào để giáo viên nhanh chóng thích ứng với cái mới, làm thế nào để học sinh hứng thú với chương trình mới và học tập hiệu quả môn Tiếng Việt 1- môn học nền tảng cho mọi môn học, chúng tôi chọn đề tài: “Đổi mới, sáng tạo trong các hoạt động dạy học Tiếng Việt 1 theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018” 5 II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến Năm học 2020-2021 là năm đầu tiên thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đối với lớp 1. Một năm học rất đặc biệt với nhiều bỡ ngỡ, khó khăn từ phía nhà trường, giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh. a. Về phía nhà trường: Năm học 2019- 2020 là năm học đầu tiên Trường Tiểu học Trần Nhân Tông chính thức đi vào hoạt động, đồng thời cũng là năm học cuối thực hiện dạy học Tiếng Việt theo chương trình công nghệ 1. Chính vì thế, để tạo tiền đề cho năm học tiếp theo, nhà trường đã chủ động đổi mới một số nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học cũng như thay đổi, sáng tạo điều chỉnh một số học liệu, đồ dùng dạy học cho phù hợp với mục tiêu giáo dục của trường. Theo đó, chương trình Tiếng Việt 1 ở trường không rập khuôn máy móc theo quy trình công nghệ; học sinh được thao tác nhiều hơn với những đồ dùng trực quan; tăng cường sử dụng tranh ảnh, video clip để bổ sung vốn từ, vốn kinh nghiệm cho học sinh, yếu tố công nghệ được khai thác tối đa. Việc dạy học các môn học dựa trên nguyên tắc: kế thừa tính ưu việt của chương trình hiện hành, hạn chế những bất cập của chương trình công nghệ (chân không về nghĩa, hạn chế khả năng giao tiếp, mở rộng vốn từ). Tăng cường tổ chức các hoạt động dạy học theo hướng tăng cường hoạt động thực hành, ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống, tăng cường các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, các hoạt động phát triển thể chất, học thông qua chơi – chơi mà học; dạy học theo hướng mở, không máy móc coi SGK là pháp lệnh… Bên cạnh đó, nhà trường phát huy vai trò của học sinh trong hoạt động nhóm… Với cách làm đó đã đem lại hiệu quả thiết thực, học sinh cảm nhận được sự gắn kết giữa môn học với thực tiễn, hứng thú hơn, tiếp thu nhanh hơn, quá trình học đọc, học viết cũng hiệu quả hơn. Tuy nhiên, nhà trường cũng còn có những trăn trở là làm thế nào để thổi lửa cho đội ngũ giáo viên trẻ luôn đam mê, nhiệt huyết; luôn sẵn sàng đổi mới, thử nghiệm cái mới và có niềm tin vào những giá trị tốt đẹp mà chương trình 6 GDPT 2018 mang lại cho những thế hệ công dân tương lại. Làm thế nào để học sinh có nề nếp tốt, học tập hiệu quả, phụ huynh tin tưởng đồng hành cùng nhà trường, cùng cộng đồng trách nhiệm trong việc nuôi dạy trẻ thành công b. Về phía giáo viên: Giáo viên được tiếp cận với chương trình giáo dục phổ thông 2018 thông qua việc tập huấn tìm hiểu chương trình, SGK và tài liệu bổ trợ để dạy học theo hướng. Tuy nhiên, giáo viên còn đang khá quen với chương trình cũ, với nếp cũ với chương trình công nghệ, việc tiếp cận với chương trình mới gặp không ít khó khăn. Việc xây dựng kế hoạch giáo dục, xác định nội dung trọng tâm, phân chia nội dung theo lộ trình từng giai đoạn là một nhiệm vụ mới khiến nhiều giáo viên tỏ ra lúng túng. Bên cạnh đó, giáo viên còn đang có tư duy coi SGK là pháp lệnh, vì vậy nhiều thầy cô chưa thực sự mạnh dạn trong việc thay đổi, điều chỉnh ngữ liệu hay sử dụng tài liệu bổ trợ để tiết học thực sự hiệu quả. Bên cạnh đó, để chuyển đổi từ dạy học tiếp cận nội dung sang dạy học phát triển năng lực, giáo viên cũng cần được trang bị nhiều hơn kiến thức, kĩ năng tổ chức hoạt động theo hướng dạy học chú trọng phát triển năng lực; việc tăng cường các hoạt động ứng dụng, trải nghiệm, gắn kết với cuộc sống cũng cần được trang bị, tích lũy và đúc rút kinh nghiệm… c. Về phía học sinh: Do những diễn biến phức tạp của dịch Covid, học sinh chưa được trang bị chu đáo hành trang vào lớp 1. Nhiều em khi bước chân vào trường tiểu học nhưng chưa biết chữ và các con số, chưa biết cầm bút và chưa biết cách tự phục vụ bản thân (vệ sinh, chải tóc, mặc quần áo…), chưa quen nề nếp học tập ở tiểu học. Tiếng Việt lớp 1 tiếp cận theo quan điểm giao tiếp, lấy học sinh làm trung tâm. Tuy nhiên kinh nghiệm sống, vốn hiểu biết, vốn từ và kĩ năng giao tiếp của học sinh lớp 1 còn nhiều hạn chế. Từ mầm non chuyển lên lớp 1 là các em chuyển từ môi trường được chăm sóc, vui chơi sang môi trường với hoạt động học là chính, học sinh có thể còn bỡ ngỡ hoặc mất tập trung, thậm chí sợ hãi nếu bị ép buộc phải ngồi học quá lâu. 7 Một số em còn nhút nhát, chưa tự tin khi nói, khi trao đổi với cô hay tương tác với các bạn. Một số em lại ham chơi, thiếu tập trung và chưa chủ động trong học tập. d. Về phía phụ huynh: Một bộ phận cha mẹ học sinh và cộng đồng xã hội chưa nhận thức đầy đủ và đúng đắn về chủ trương, mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 nên có nhiều băn khoăn, lo lắng, dễ bị dao động theo dư luận đám đông. Một bộ phận cha mẹ còn thiếu kĩ năng để đồng hành cùng con trong giai đoạn đầu tiểu học; Một số cha mẹ đặt quá nhiều kì vọng vào con nên càng cố gắng trang bị thật nhiều kiến thức cho trẻ: cho con học trước biết đọc, biết viết, đếm số trước khi vào lớp 1 khiến các em chủ quan và nhàm chán trong quá trình học tập. 8 2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến: (trọng tâm) Giải pháp 1: Chuẩn bị hành trang vững vàng cho trẻ vào lớp 1. Bước vào lớp 1 là các con bước vào một môi trường hoàn toàn mới, khác với môi trường mầm non. Môi trường tiểu học, hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo. Song song với đó là hoạt động vui chơi và các hoạt động giaod dục khác. Học sinh bước đầu phải làm quen với nhiều quy tắc và buộc phải tuân theo các quy tắc theo một trật tự chung để đảm bảo các hoạt động của tập thể diễn ra một cách thuận lợi. Vì vậy để các con học tốt chương trình lớp 1 cũng như môn Tiếng Việt 1, nhà trường và gia đình cần chuẩn bị tốt cho các con hành trang vững vàng bước vào lớp 1. Bước vào lớp 1, trẻ cần trang bị những gì? Theo chúng tôi khi trẻ bước vào lớp 1 cần: Về mặt kiến thức: – Biết và thuộc bảng chữ cái Tiếng Việt. – Thuộc bảng số, biết đếm các số từ 1 đến 10. – Cầm bút đúng cách, ngồi học đúng tư thế. – Bước đầu các con tập tô và biết tên các nét cơ bản. Về kĩ năng: – Kĩ năng giao tiếp: Biết nói năng lễ phép với các thầy cô giáo, người lớn tuổi hơn; cư xử thân thiện với bạn bè; biết lắng nghe khi người khác nói và biết trả lời những câu hỏi đơn giản; biết tự giới thiệu về bản thân mình (tên là gì? bao nhiêu tuổi? sở thích là gì?) – Kĩ năng tự phục vụ: Các con tự đi vệ sinh và vệ sinh đúng cách, đúng nơi quy định; tự rửa mặt, chải đầu, buộc tóc, tự mặc quần áo; tự ăn uống; nhận biết và tự sắp xếp sách vở, giữ gìn, bảo quản đồ dùng học tập, đồ dùng của cá nhân mình như: bút, thước, tẩy, mũ, bình nước, quần áo…; có thói quen sinh hoạt đúng giờ: học đúng giờ, đi ngủ trước 22 giờ và thức đậy trước 6 giờ sáng. – Kĩ năng giải quyết vấn đề: Biết tìm kiếm sự giúp đỡ của thầy cô, người lớn hoặc bạn khi cần thiết; Ghi nhớ thông tin cá nhân như tên, số điện thoại… của bố mẹ, ông bà, anh chị. 9 Để các con có hành trang bước vào lớp 1, ngay từ khâu tiếp cận phụ huynh, tiếp cận phụ huynh, nhà trường đã chủ động chia sẻ những điều này. Bên cạnh đó, nhà trường cũng mạnh dạn chia sẻ trên fanpage, website những kiến thức, kinh nghiệm cần thiết để giúp phụ huynh đồng hành cùng con trong những bước đi đầu tiên vào môi trường tiểu học. “Hành trang vào lớp 1” còn có giá trị như một bản quy ước ngầm giữa nhà trường với gia đình. Phụ huynh khi cầm trên tay bản Hành trang vào lớp 1 sẽ soi chiếu vào con mình: con đã thực hiện tốt những kiến thức, kĩ năng nào; con còn thiếu hụt những gì để từ đó bù đắp cho con. Từ đó, phụ huynh hiểu hơn về trách nhiệm của gia đình, quyền và trách nhiệm của đứa trẻ khi bước vào tiểu học. Từ đó, phụ huynh không còn tư tưởng giao phó, phó mặc hết cho nhà trường, giao phó hết cho cô giáo. Quá trình giáo dục phải là sự kết hợp chặt chẽ của hai môi trường: gia đình- nhà trường cùng với cộng đồng, xã hội. 10 – Bên cạnh đó, nhà trường còn liên kết với một số trường mầm non, xây dựng Câu lạc bộ Giáo dục tiền tiểu học để tạo cơ hội cho trẻ mầm non làm quen với môi trường mới, giúp các con bớt bỡ ngỡ, tự tin hơn khi bước chân vào lớp 1. Ví dụ: 11 Từ những việc làm đó, nhà trường, các thầy cô cũng về cơ bản nắm bắt được thực trạng học sinh, về những thuận lợi, những khó khăn để chủ động hơn trong việc xây dựng những kế hoạch tiếp theo trong năm học. Giải pháp 2: Xây dựng lộ trình môn học theo từng giai đoạn: Là năm đầu tiên đổi mới giáo dục, với một chương trình nhiều bộ sách giáo khoa chính vì vậy giáo viên cần nắm chắc nội dung chương trình học. Giáo viên cần nghiên cứu nội dung chương trình và nội dung sách giáo khoa Tiếng Việt 1. Từ đó giáo viên xây dựng lộ trình môn Tiếng Việt theo từng giai đoạn, cụ thể: Với mỗi môn học, tổ chuyên môn phải cùng nhau nghiên cứu, chia tách nội dung theo từng giai đoạn: 8 tuần kì 1; cuối kì 1; 8 tuần kì 2; cuối năm học… Từ đó, giáo viên xác định được nhiệm vụ trọng tâm của từng giai đoạn, nhanh chóng nắm bắt được những nội dung cốt lõi, chủ động hơn trong các nội dung dạy học và chủ động điều chỉnh nội dung, chương trình khi cần thiết. 12 13 14 15 Lộ trình kiến thức này ngoài việc giúp giáo viên xác định được nội dung, nhiệm vụ trọng tâm trong từng giai đoạn thì còn được chia sẻ với PHHS để phụ huynh nắm bắt được tình hình học tập của con ở trường. Thông qua đó, phụ huynh biết cách để hỗ trợ con một cách phù hợp. 16 Giải pháp 3: Sáng tạo trong sử dụng đồ dùng dạy học giúp học sinh đọc viết nhanh hơn. Trong nhiều năm dạy học lớp 1, bản thân tôi và nhiều đồng nghiệp nhận thấy rằng: Khi dạy viết, học sinh phải học viết chữ qua 2 giai đoạn: Chữ cỡ nhỡ (2 ô li) ở kì I và chữ cỡ nhỏ (1 ô li) ở kì II. Học sinh học viết chữ 2 ô li một học kì, còn sau này chủ yếu chỉ thực hành và sử dụng chữ 1 li. Mục đích của việc viết chữ 2 ô li trong giai đoạn đầu tiên là phóng to con chữ cho dễ nhìn, dễ quan sát. Tuy nhiên, cách viết chữ 2 li khác hoàn toàn với chữ một li về chấm tọa độ. Nhiều học sinh chưa kịp nhớ cách chấm tọa độ chữ 2 li đã phải chuyển xuống chữ một li. Việc hạ cỡ chữ gặp rất nhiều xáo trộn. Chính vì thế, để giảm khó khăn cho học sinh trong việc viết chữ, nhà trường và đội ngũ chuyên môn đã chủ động thiết kế Mẫu chữ, vở ô li, bảng, vở luyện viết để học sinh làm quen với chữ 1 li phóng to ngay từ những buổi học đầu tiên. Cụ thể: 17 Để thống nhất với vở viết ô li to chúng tôi sử dụng bảng con ô li to. Bảng con Vở ô li 18 Vở tập viết Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm như thẻ trống (viết chữ cái, vần, tiếng, từ cho từng tiết) sử dụng trong trò chơi nhằm đổi mới phương pháp dạy học giúp học sinh hứng thú, tích cực trong học tập. Với cách làm này, học sinh không cần phải học lại cách viết hạ cỡ chữ. Việc viết chữ rất nhanh chóng, hiệu quả. Việc làm này đã được phụ huynh rất đồng thuận, bản thân mỗi thầy cô giáo chúng tôi cũng cảm thấy tự hào vì đã góp phần nhỏ bé vào quá trình cải tiến kĩ thuật, làm cho việc học, việc viết của học trò trở nên thuận lợi, dễ dàng và hiệu quả hơn. Đồng thời đây cũng là những nét riêng biệt, giúp chúng tôi thêm tự hào về nhà trường, có thêm động lực, niềm tin để thỏa sức sáng tạo với những điều mới mẻ, nhằm đem lại những giá trị thiết thực cho học sinh. 19 Giải pháp 4: Đổi mới phương pháp dạy học tăng cường ứng dụng trải nghiệm gắn với thực tiễn cuộc sống. Con đường để phát triển năng lực cho người học là thông qua quá trình tổ chức các hoạt động, đặc biệt là khi những hoạt động đó được vận dụng, ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống. Vì vậy, để phát triển năng lực cho HS, người GV phải chú trọng: 4.1 Khai thác, sử dụng tối đa các yếu tố trực quan, yếu tố thực tiễn. Ví dụ: học sinh bước vào lớp 1 rất khó phân biệt dấu sắc (/), dấu huyền (`). Nếu GV chỉ mô tả một cách thông thường dấu sắc là nét xiên kéo từ bên phải sang bên trái, dấu huyền là nét xiên kéo từ bên trái sang bên phải… sẽ rất khó đi vào đầu các em. Tuy nhiên, nếu GV biết biến những dấu thanh đó thành những hình ảnh gắn liền với thực tiễn cuộc sống thì HS chỉ cần nghe một lần có thể nhớ luôn được. Để giúp trẻ phân biệt dấu sắc, dấu huyền, chúng ta có thể hỏi:: “Chú công an chào như thế nào?” Các em sẽ giơ tay phải lên và chào. Tiếp đó cô giáo yêu cầu hạ tay xuống, viết dấu huyền (giống như tay chào). Giáo viên cho học sinh thực hiện nhiều lần để ghi nhớ. Còn dấu sắc thì ngược lại. Ngoài ra, giáo viên có thể sử dụng biểu tượng mái nhà, đặt tay bên trái là dấu sắc, tay bên phải là dấu huyền. Với những quy tắc trực quan, 20 gắn liền với thực tiễn, gắn liền với cuộc sống của HS, các em sẽ vui vẻ tiếp nhận và ghi nhớ rất nhanh. Đối với dấu ngã ( ): GV có thể mô tả hình chữ S đang đứng thẳng bị ngã ngửa ra… từ đó hình như thế này gọi là dấu ngã. Hay dấu nặng (.) vì nặng quá nên bị rơi tụt xuống dưới. Vì thế trong cả 5 dấu thanh, có mỗi dấu nặng được đặt ở phía dưới nguyên âm; những dấu còn lại đặt trên đầu nguyên âm. Những ví dụ như vậy vừa làm tăng sự liên tưởng thú vị cho trẻ, vừa tăng cường yếu tố thực tiễn, giúp trẻ dễ nhớ, nhớ lâu và quan trọng các em cảm thấy hứng thú, thú vị hơn với các con chữ và dấu. Tương tự như vậy, khi dạy chữ, giáo viên có thể sử dụng trò chơi tương tự trò chơi tìm dấu bên trên. Ví dụ dạy bài chữ ư giáo viên yêu cầu học sinh tìm và đếm trong bài sau có bao nhiêu chữ ư: Ngoài ra, giáo viên đưa thêm các câu đố về con vật, đồ vật có chứa âm vần đã học cho các em thêm hứng thú. 21 Dưới dạng các câu đó học sinh được khơi gợi những hiểu biết, trải nghiệm cá nhân của mình về sự vật để biết đó là vật gì, con gì… Thông qua đó học sinh được rèn luyện trí tưởng tượng, tư duy logic. Những kiến thức này giúp các em học tốt môn tự nhiên và xã hội. Kết thúc mỗi bài, mỗi con chữ, mỗi vần, học sinh được giao nhiệm vụ tìm từ ứng dụng – đó là những sự vật hiện tượng gần gũi xung quanh các em. Các bạn trên lớp thi nhau theo nhóm, theo tổ khối. Hoạt động ứng dụng này, bố mẹ và người thân trong gia đình cũng có thể 22 tham gia hoạt động này. Ví dụ, tìm những đồ vật trong gia đình bắt đầu bằng âm x như: xoong nồi, xô chậu, xà phòng hay các món ăn như xúc xích, xôi xíu, xoài dầm… Cứ như thế, sinh hoạt trong gia đình mỗi buổi tối sẽ như một buổi hội thảo nhỏ về ngôn ngữ. Học sinh tự tin giao nhiệm vụ cho người thân trong gia đình, được gia đình hỗ trợ, làm giàu ngôn ngữ, nuôi dưỡng tình yêu với Tiếng Việt… 4.2. Sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên công nghệ thông tin Bên cạnh việc khai thác học liệu điện tử trong SGK thì việc khai thác và ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt khai thác Game là điều không thể thiếu đối với GV trong thời đại 4.0. Các trò chơi trên Powerpoint hay trò chơi trực tuyến trên Quizziz là một kho tư liệu vô cùng phong phú. Trò chơi Powerpoint hấp dẫn, dễ sử dụng, điều chỉnh nội dung dễ dàng; linh hoạt khi sử dụng có thể dùng để khởi động, kiểm tra bài cũ, giới thiệu bài mới, luyện tập thực hành hay củng cố kiến thức. Dưới cách dẫn dắt của cô giáo, của game, các nội dung học tập trở nên nhẹ nhàng, nhân văn, trở thành động lực để thôi thúc các em học tập. Ví dụ trò chơi: Giúp ong tìm mật, Sóc nhặt hạt dẻ, Vòng quay kì diệu… 23 Bên cạnh đó việc sử dụng phần mềm trực tuyến Quizziz cũng rất hiệu quả khi tổ chức khởi động hoặc muốn kiểm tra học sinh học xong một mảng kiến thức hoặc vào cuối tuần hoặc cuối tháng. 24 Ưu điểm: HS có thể làm bài nhiều lần. HS biết được kết quả làm bài ngay sau khi trò chơi kết thúc. Thứ tự xếp hạng của học sinh thay đổi liên tục trong quá trình các con chơi nên rất kích thích ý chí cố gắng nỗ lực. Bố mẹ biết được con đang học đến nội dung kiến thức nào và con còn chưa nắm chắc kiến thức nào để cùng cô giúp con nắm vững kiến thức. Đối với giáo viên biết được nội dung kiến thức nào HS đã nắm vững, kiến thức nào cần ôn tập củng cố… 4.3 Học Tiếng Việt thông qua tích hợp liên môn: Học Tiếng Việt giúp học sinh phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ. Thông qua các môn học, hoạt động giáo dục năng lực ngôn ngữ và văn học của các em được phát triển. Giáo viên lựa chọn ngữ liệu dạy học Tiếng Việt tích hợp với nội dung các môn học khác như môn Toán, Đạo đức, Tự nhiên và xã hội, Âm nhạc, hoạt động trải nghiệm, kĩ năng sống… Môn Tự nhiên và xã hội: 25 (Tranh ảnh sưu tầm) Giáo dục kĩ năng sống 26 (Tranh ảnh sưu tầm) Việc cập nhật thông tin thời sự, đặc biệt là tình hình dịch bệnh covid 19, tuyên truyền các biện pháp phòng chống dịch covid 19 đến các em khi được giáo viên làm mới cũng sẽ vô cùng hiểu quả. Ví dụ, GV có thể chuyển từ 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng thành 5 điều Bác sĩ dặn để chống giặc Covid: 1. Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào 2. Ai ở nơi nào thì ở yên nơi đó 3. Vệ sinh tốt, rửa tay thật tốt 4. Đoàn kết tốt, kỉ luật tố 5. Thật thà, dũng cảm khai báo bệnh Chỉ một thao tác nhỏ là làm tươi mới những cãi cũ, đưa những cái xa lạ thành những cái gần gũi hơn bằng cách liên hệ với thực tiễn, so sánh và liên tưởng, GV nhất định sẽ làm cho HS cảm thấy hứng thú và dễ dàng tiếp nhận những kiến thức mới, kĩ năng mới. Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, vấn đáp, làm mẫu, luyện tập…mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Để nâng cao hiệu quả của các biệ
Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY
Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education
ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN: Năm học 2020 – 2021 là năm học tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29 của Trung ương Đảng về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam. Một trong các nội dung của chương trình giáo dục đó là: Giáo dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh, phù hợp với tình hình thực tế của trường thông qua việc tăng cường các hoạt động thực hành, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, Vì vậy mục tiêu của giáo dục Tiểu học đặc biệt nhấn mạnh đến việc hình thành và phát triển cho học sinh những tri thức, kĩ năng cần thiết cho cuộc sống. Vì vậy qua quá trình dạy học tôi đã mạnh dạn để đưa ra một số ý kiến, suy nghĩ của mình qua sáng kiến: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY VĂN MIÊU TẢ LỚP 4” Từ năm học 2018 – 2019 đến năm học 2020 – 2021, tôi được phân công giảng dạy môn Tiếng Việt khối lớp 4. Trong quá trình dạy học tôi thấy rằng một trong những đặc trưng cơ bản của dạy học môn Tiếng Việt và đặc biệt là dạy phân môn Tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp nhằm rèn luyện kĩ năng tạo ra ngôn ngữ nói đồng thời là ngôn ngữ viết cho học sinh. Mỗi một quy trình dạy học đều có các hình thức tổ chức hoạt động khác nhau nhưng có điểm chung là: học sinh được khám phá, tìm tòi, sáng tạo để hoàn thành các bài thực hành đúng theo yêu cầu của giáo viên. Trong chương trình giáo dục đặc biệt là giáo dục tiểu học (bậc học nền tảng) theo hướng đổi mới thì hình thành và phát triển ngôn ngữ cho học sinh là một mục tiêu rất quan trọng, vì trong hoạt động này phù hợp với tâm lí của học sinh tiểu học “từ tự bản thân sẽ nghe, nói, đọc ,viết một cách độc lập đến hiểu, từ thích thú đến tự giác và vận dụng vào bài làm của mình”. Hoạt động này giúp cho học sinh có nhiều cách để vận dụng những kiến thức học được vào thực tiễn. Từ đó, các em có thể phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân. Trong các môn học ở tiểu học thì Tập làm văn là một phân môn rất quan trọng vì nó góp phần rèn luyện cho HS năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện cho các em giao tiếp trong cuộc sống hằng ngày và học tốt các môn học khác. Ở phân môn này, các kiểu bài miêu tả được học nhiều nhất, nó giúp HS tái hiện lại 5 cuộc sống con người, phong cảnh thiên nhiên một cách vừa chân thực vừa sinh động. Chương trình Tập làm văn lớp 4 gồm nhiều nội dung, một trong những nội dung chính là văn miêu tả đồ vật, con vật, cây cối…Văn miêu tả là kiểu bài là khi đọc những gì chúng ta viết, người đọc như thấy được những thứ đó hiện ra trước mắt mình: một con vật ngộ nghĩnh thân thương, hay một cái cây đầy kỉ niệm…Người đọc có thể nghe được cả tiếng nói, tiếng kêu hay thậm chí là cả mùi thơm nồng nàn của một loài hoa… Văn miêu tả giúp chúng ta nhìn r những gì mình muốn tả, tưởng tượng như mình đang được xem tận mắt. Tuy nhiên hình ảnh tạo nên không phải là bản sao ch p từ sự việc có sẵn mà nó được đúc kết từ những nhận x t tinh tế, những xúc cảm sâu sắc mà người viết góp nhặt được khi quan sát thực tế cuộc sống. Vì vậy, việc phát triển ngôn ngữ và vốn từ cho HS là việc làm rất cần thiết. Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy các em HS chưa thực sự thích thú với các tiết học tập làm văn đặc biệt là các tiết học văn miêu tả, vốn sống thực tế còn nghèo nàn, cảm xúc trong bài viết chưa chân thực. Các con đã tư duy nói ra được các điều cần viết nhưng khi đặt bút để viết bài thì các con lại chưa làm thoát được ra ý mình cần viết do vốn từ của mình còn hạn hẹp. Nên các giải pháp mà tôi đưa ra sẽ góp phần khắc phục các thực trạng trên, giúp HS có nhiều cơ hội để vận dụng những kiến thức học được vào thực tiễn cuộc sống. Từ đó, các em có thể phát huy tốt tiềm năng sáng tạo của bản thân. Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã nghiên cứu và áp dụng sáng kiến: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY VĂN MIÊU TẢ LỚP 4” II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến 1.1. Sách giáo khoa Theo phân phối chương trình trong Tài liệu hướng dẫn (dạy học theo mô hình VNEN), tổng số tiết tập làm văn lớp 4 là 67 tiết. Cùng với kiểu bài kể chuyện thì bài văn miêu tả chiếm thời lượng lớn (có 19 tiết là văn miêu tả, trong đó có 13 tiết lý thuyết kết hợp thực hành, còn lại là kiểm tra và trả bài). Nội dung văn miêu tả tập trung vào các dạng: Miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối, miêu tả con vật. Có thể nói, kiểu bài văn miêu tả là một trong những kiểu bài cơ bản, quan trọng trong chương trình tập làm văn ở Tiểu học. Tuy nhiên, với thời lượng ít ỏi như thế ở trên lớp để đạt được mục tiêu các tiết học đã khó, để viết một bài văn hay, cảm xúc đối với HS lại càng khó khăn hơn. 6 1.2. Về phía giáo viên – Một số GV thường hình thành hiểu biết về lí thuyết, thể loại văn, kĩ năng làm văn… qua việc phân tích các bài văn mẫu với lý thuyết khô khan, khó hiểu. Một số GV khác đã có sáng tạo trong dạy học như sử dụng hình ảnh, những đoạn video để học sinh quan sát, cho học sinh trực tiếp ra ngoài không gian lớp học để quan sát thực tế. Tuy nhiên, biện pháp đó vẫn chưa tạo hứng thú cho học sinh khi học văn miêu tả. Hiệu quả của việc dạy tập làm văn miêu tả chưa cao. – Quan sát trong văn miêu tả có vai trò vô cùng quan trọng nhằm cung cấp cho học sinh vốn sống thực tế phong phú. Học sinh có phương pháp quan sát sẽ viết được những bài văn hay, chân thực, giàu cảm xúc. Tuy nhiên để tổ chức cho học sinh ra ngoài thực tế quan sát cảnh đòi hỏi giáo viên có sự chuẩn bị chu đáo, kĩ lưỡng, mất nhiều thời gian. Vì vậy mà một số giáo viên ngại thực hiện. – Đối với một số HS học k m, ngại học tập làm văn, một số GV nôn nóng muốn nhìn thấy ngay kết quả nên đã cho học sinh học thuộc một số bài văn mẫu để các em khi gặp đầu bài tương tự cứ thế mà ch p ra. Điều đó đã khiến các em không nắm được phương pháp làm văn, không có sáng tạo khi làm bài. – Một số giáo viên ra đề bài chưa thích hợp với địa phương khiến học sinh vô cùng lúng túng khi miêu tả. Ví dụ: Đề bài yêu cầu em hãy tả lại một chú trâu đang thong dong gặm cỏ, thực tế học sinh ít hoặc chưa được nhìn thấy thực tế về con trâu. 1.3. Về phía HS Để tìm hiểu vướng mắc của HS khi học Tập làm văn, tôi đã tiến hành khảo sát bằng đề bài cụ thể với hai lớp. Lớp 4A5 đối chứng, lớp 4A6 thực nghiệm để làm kiểm chứng sau này. Đề bài 1: Em hãy tả lại một cây bóng mát trong sân trường em.
Năng lực viết văn
Xác định đối tượng
Quan sát, ghi chép
Ngôn ngữ, diễn đạt
Tốt
Chưa tốt
Tốt
Chưa tốt
Tốt
Chưa tốt
4A5
35/50
15/50
18/50
32/50
9/50
41/50
4A6
20/42
22/42
10/42
32/42
6/42
36/42
7 Đề bài 2: Em hãy tả một cây ăn quả trong vườn trường.
Năng lực viết văn
Xác định đối tượng
Quan sát, ghi chép
Ngôn ngữ, diễn đạt
Tốt
Chưa tốt
Tốt
Chưa tốt
Tốt
Chưa tốt
4A5
20/50
30/50
16/50
34/50
12/50
38/50
4A6
13/42
29/42
10/42
32/40
9/42
33/42
Căn cứ vào bảng khảo sát kết hợp với thực tế giảng dạy, tôi thấy thực trạng của việc học phân môn tập làm văn đối với học sinh như sau: – Còn lúng túng khi xác định đối tƣợng miêu tả. Khi viết văn các em thường sao ch p những bài văn mẫu thành bài văn của mình không quan tâm đầu bài quy định như thế nào. Vì thế, các em thường xác định sai đối tượng miêu tả. – Chƣa biết cách quan sát và ghi chép đối tƣợng mình tả Phần lớn các em quan sát đối tượng bằng mắt làm đối tượng miêu tả hiện nên mờ nhạt. Bên cạnh đó khi quan sát các em chưa chưa biết cách quan sát để tìm ra được những đặc điểm tiêu biểu của sự vật, sự thay đổi của cảnh theo thời gian của sự vật trong năm. Một số em học sinh đã biết cách quan sát nhưng lại lúng túng khi ghi ch p những điều quan sát được một cách hệ thống, khoa học. – Diễn đạt lủng củng, rời rạc chƣa linh hoạt, ngôn ngữ chƣa phong phú. Một số HS ghi ch p đối tượng miêu tả chỉ liệt kê một cách chung chung, khô khan, cứng nhắc, chưa làm thoát được cái ý hay,đẹp của sự vật được miêu tả đến. Một số em kĩ năng diễn đạt còn k m; khi vận dụng những từ ngữ gợi tả, gợi cảm, các biện pháp tu từ để viết văn còn gặp nhiều lúng túng. Do đó bài văn chưa hấp dẫn được người đọc người nghe. Ví dụ: Trích bài làm của bạn Trần Quỳnh Anh khi tả cây bóng mát 8 Trích bài làm của bạn Nguyễn Thị An An khi tả chi tiết về cây bóng mát Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến các thực trạng trên. Nhưng nguyên nhân cơ bản là do các em HS có vốn sống thực tế chưa phong phú, các em còn chưa có ý thức tìm hiểu và đọc sách nhiều để tích lũy vốn từ cho bản thân. Do đó, bài viết k m chân thực, ít cảm xúc, khó có thể truyền cảm hứng cho người đọc. 1.4. Đối với nhà trường và phụ huynh – Đối với nhà trƣờng: Không đủ đối tượng miêu tả để học sinh quan sát đáp ứng với từng dạng bài và với từng đề bài cụ thể: như bài tả các con vật nuôi như trâu, bò… tả các loại cây ăn quả… – Đối với cha mẹ HS: Một n t tâm lí khá phổ biến của cha mẹ học sinh là muốn con giỏi toán và các môn tự nhiên; không nhiều cha mẹ muốn con học Tập làm văn nếu không có yêu cầu của giáo viên. Chính vì vậy, một số bậc phụ huynh ít quan tâm đến việc bồi dưỡng, hình thành kĩ năng quan sát, phát hiện cái hay, cái mới, cái riêng của sự vật trong quan sát. Điều này đã tác động không nhỏ đến việc học văn của học sinh. * Qua việc nghiên cứu và phân tích thực trạng, tôi thấy hiệu quả của việc tập làm văn đặc biệt là tập làm văn miêu tả chưa cao. Có rất nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân cơ bản, chủ yếu là do các em chưa có hứng thú khi học các tiết tập làm văn. Đặc biệt là phần lớn học sinh thiếu vốn sống thực tế và chưa có kĩ năng quan sát ghi chép. 2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến Từ thực trạng và nguyên nhân trên, qua quá trình thực hiện, tôi đã ra 6 giải pháp nhằm giúp hoạc sinh phát triển ngôn ngữ và vốn từ cho học sinh lớp 4 khi làm văn miêu tả. Giải pháp 1: Thống kê và xây dựng các hình thức phát triển ngôn ngữ phù hợp với đặc thù của kiểu bài văn miêu tả lớp 4 9 Giải pháp 2: Chú trọng rèn các kĩ năng cần thiết và xây dựng các công cụ phục vụ cho phát triển ngôn ngữ sáng tạo có hiệu quả Giải pháp 3: Hướng dẫn HS vận dụng một cách linh hoạt , có hiệu quả các kiến thức thu được từ thực tế để sáng tạo để viết văn Giải pháp 4: Tổ chức các hoạt động học tập giúp học sinh phát triển ngôn ngữ sáng tạo một cách linh hoạt hiệu quả Giải pháp 5: Sử dụng hiệu quả các công cụ trong lớp học của mô hình VNEN hỗ trợ các hoạt động học tập Giải pháp 6: Huy động các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tham gia tích cực, hiệu quả các tiết học của học sinh 2.1.Giải pháp 1: Xây dựng các hình thức phát triển ngôn ngữ phù hợp với đặc thù của kiểu bài văn miêu tả lớp 4 Nắm vững nội dung chương trình kiểu bài văn miêu tả chọn các hình thức phát triển ngôn ngữ là điều then chốt giúp cho học sinh trình bày, diễn đạt được suy nghĩ của mình trong quá trình học để phát huy được thế mạnh của nó. Vì thế, ngay từ đầu năm học, tôi nghiên cứu để tìm ra các hình thức học cho phù hợp với nội dung của các tiết học. Từ đó, xây dựng các hoạt động học sáng tạo phù hợp với nội dung của từng hoạt động, ứng với từng tiết học tập làm văn miêu tả; lựa chọn những nội dung phù hợp từ nhiều kênh khác nhau để cung cấp thông tin cho học sinh. Dựa vào các kênh thông tin do giáo viên cung cấp với từng hoạt động cụ thể của tiết học, GV có thể thiết kế chi tiết các hoạt động phù hợp với đối tượng học sinh của lớp mình và tổ chức các hoạt động ấy một cách chủ động, sáng tạo, mang tính hiệu quả cao mà không phải mất nhiều thời gian. 2.2. Giải pháp 2: Chú trọng rèn các kĩ năng cần thiết và xây dựng các công cụ phục vụ cho phát triển ngôn ngữ sáng tạo có hiệu quả 2.2.1. Rèn kĩ năng quan sát và ghi chép Khi bắt đầu viết văn miêu tả học sinh cần nhiều kĩ năng. Trong đó kĩ năng quan sát là quan trọng nhất. Vì vậy, trước khi tổ chức cho học sinh bắt tay vào làm bài tôi đã rèn kĩ năng đó cho các em. 2.2.1.1.Rèn kĩ năng quan sát a . Hướng dẫn các em kĩ năng quan sát đối tượng bằng nhiều bước như sau: Bước 1: Tái hiện đối tượng miêu tả một cách khái quát 10 Bước 2: Liệt kê những đặc điểm của sự vật cần miêu tả Bước 3: Lựa chọn những đặc điểm chính của sự vật cần miêu tả Các bước trên giúp các em biết quan sát từ khái quát đến cụ thể đối tượng cần miêu tả để lựa chọn những đặc điểm quan trọng, chủ chốt của đối tượng. b. Xác định trình tự quan sát, vị trí quan sát Trước khi HS quan sát, tôi thường hướng dẫn các em tự lựa chọn trình tự quan sát phù hợp với đối tượng miêu tả: Các trình tự quan sát các em có thể tiến hành là : – Trình tự không gian: Từ quan sát toàn bộ đến quan sát từng bộ phận hoặc ngược lại; từ trái sang phải, trên xuống dưới, ngoài vào trong hoặc ngược lại … – Trình tự thời gian: Quan sát theo diễn biến của thời gian từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc, từ mùa này sang mùa khác, tuần này sang tuần khác, ngày này sang ngày khác … – Trình tự tâm lí : Thấy nét gì nổi bật, gây cảm xúc mạnh cho bản thân (hứng thú, khó chịu, yêu hay ghét …) thì quan sát trước, các bộ phận khác thì quan sát sau. Trình tự quan sát sẽ giúp bài viết của các em có hệ thống, mạch lạc và các ý sẽ không bị xếp lộn xộn. Tuy nhiên, dù quan sát ở trình tự nào cũng cần biết dừng lại ở bộ phận chủ yếu, trọng tâm để quan sát kĩ lưỡng hơn. Như vậy là muốn miêu tả hay nhất định học sinh phải tập quan sát, phải có công quan sát. Công việc này đối với mỗi người có thể làm một cách khác nhau.Có người chỉ im lặng quan sát rồi ghi nhớ ở trong đầu, còn có người lại ghi ch p rất tỉ mỉ và công phu… Vì thế nên tôi còn hướng dẫn HS chọn vị trí quan sát tốt, góc quan sát phù hợp (xa hay gần, trong hay ngoài, ban ngày hay ban đêm), việc quan sát tỉ mỉ, kĩ lưỡng sẽ giúp ta nắm được cái thần của đối tượng miêu tả, cảm nhận được đối tượng miêu tả một cách r ràng, cụ thể và tinh tế hơn. c. Hướng dẫn HS quan sát bằng nhiều giác quan để phát hiện ra cái riêng, những nét đặc s c về đối tượng miêu tả 11 Quan sát đối tượng không chỉ bằng thị giác như các em vẫn nghĩ, mà phải biết huy động mọi giác quan: Thính giác (nghe), khứu giác (ngửi), xúc giác (sờ, nắm), vị giác (nếm). Khi làm văn miêu tả, chúng ta vẫn sử dụng thị giác là chủ yếu. Nhưng những đoạn văn hay và hấp dẫn là những đoạn văn mà tác giả đã thành công trong việc dùng nhiều giác quan để quan sát. Ví dụ: Tôi đã hướng dẫn HS tìm hiểu bài văn sau trong giờ tự học nhằm làm tăng khả năng quan sát trong văn miêu tả: Phân tích: Ở đây, tác giả đã cho ta như được sống với cây gạo qua bốn mùa của mỗi năm, lúc cây ra hoa, lúc cây kết quả, lúc cây cho bông tung bay vào trong gió, lúc cành cây chỉ còn lại trơ trụi một mình…Ta còn có thể cảm nhận thấy thêm, cây gạo không chỉ sống với trời với đất, với chim muông, với gió mà nó còn gắn liền cả với con người: “ Cây gạo đứng im, cao lớn, hiền lành, làm tiêu cho những con đò cập bến và cho những đứa con về thăm quê mẹ”. Lời văn miêu tả thật đẹp, trong sáng và thật có tình. Cây gạo không chỉ được nhân hóa mà nó thật sự đã trở Cây gạo Cây gạo già mỗi năm lại trở lại tuổi xuân, cành nặng trĩu những hoa đỏ mọng và đầy tiếng chim hót. Lũ chim no mồi chạm vào đâu cũng kiếm được những con sâu xám b o nhũn hoặc những anh chị bọ gạo mình cũng đỏ như hoa.Chỉ cần một làn gió nhẹ hay một đôi chim mới đến là có ngay mấy bông hoa gạo lìa cành. Những bông hoa rơi từ trên cao, đài hoa nặng chúi xuống, những cánh hoa đỏ rực quay tít như chong chóng nom thật đẹp. Hết mùa hoa, chim chóc cũng vãn. Cây gạo chấm dứt những ngày tưng bừng ồn ã, lại trở về với dáng vẻ xanh mát, trầm tư. Cây đứng im cao lớn, hiền lành, làm tiêu cho những con đò cập bến và cho những đứa con về thăm quê mẹ. Ngày tháng qua đi thật chậm mà cũng thật nhanh. Những bông hoa đỏ ngày nào đã trở thành những quả gạo múp míp, hai đầu thon vút như con thoi. Sợi bông trong quả đầy dần, căng lên; những mảnh vỏ tách ra cho các múi bông nở đều, chín như nồi cơm chín đội vung mà cười, trắng loá. Cây gạo như treo rung rinh hàng ngàn nồi cơm gạo mới. Vũ Tú Nam Đã sẵn sàng cả rồi. Cơn giông như được báo trước rào rào kéo đến. Hàng vạn lá gạo reo lên, múa lên. Chúng chào anh em của chúng lên đường. Từng loạt, từng loạt một, những bông gạo bay tung vào trong gió tuyết mịt 12 thành một con người nhất là ở những câu văn: “ Ngàn vạn lá gạo reo lên, múa lên, chúng chào anh em của chúng lên đường…” hay “ Cây gạo xơ xác hẳn đi, nom thương lắm…” Dưới con mắt quan sát đầy tinh tế, kèm theo những rung động của tác giả, lúc nào cũng làm hấp dẫn cho người đọc và tạo được cho người đọc sự thích thú. 2.2.1.2. Hướng dẫn học sinh ghi chép những điều quan sát được một cách khoa học Quan sát luôn gắn liền với ghi chép. Ghi chép làm giàu thêm trí nhớ, chi chép giúp học sinh lựa chọn những chi tiết những hình ảnh đặc sắc để đưa vào bài viết. Tôi đã hướng dẫn học sinh ghi chép dựa trên một số những yêu cầu sau: + Ngắn gọn, dễ hiểu + Đảm bảo tính khoa học + Có thể sử dụng kí hiệu, chữ viết tắt… Ở đây, tôi còn hướng dẫn học sinh vận dụng sơ đồ tư duy để ghi chép. Điều đó đã mang lại hiệu quả cao cho việc ghi chép. Tạo hứng thú, phát triển tư duy logic, trí nhớ…cho học sinh. Ngoài ra, tôi khuyến khích các con học sinh trong lớp nên có một cuốn sổ tay để ghi chép những điều mình quan sát và tích luỹ được làm tư liệu phục vụ cho quá trình học tập. Ví dụ: Ghi chép bằng sổ tay văn học 13 Ghi chép bằng phiếu quan sát Ghi chép bằng sử dụng sơ đồ tƣ duy 2.2.2.Rèn các kĩ năng sống cần thiết để đảm bảo cho việc dạy văn miêu tả đạt hiệu quả tốt Để đảm bảo việc tổ chức các hoạt khi dạy văn miêu tả đạt hiệu quả, tôi chú ý rèn cho các em những kĩ năng sống cần thiết như sau: Kỹ năng ứng xử thân thiện trong mọi tình huống, kỹ năng làm việc theo nhóm; Giáo dục cho học sinh thói quen rèn luyện sức khỏe, ý thức tự bảo vệ bản thân, cách sơ cứu vết thương. Những kĩ năng sống này được tôi rèn tích hợp thông qua môn học, các tiết học kĩ năng sống buổi chiều thứ sáu, những buổi hoạt động ngoại khi, những tiết chào cờ đầu tuần hay có sự phối hợp với phụ huynh học sinh. 14 2.2.3. Thiết kế các công cụ phục vụ cho hoạt động phát triển ngôn ngữ vốn từ khi làm văn miêu tả 2.2.3.1. Thiết kế trò chơi a. Mục đích: Trò chơi là một loại hình hoạt động giải trí, thư giãn; là món ăn tinh thần bổ ích và không thể thiếu được đối với học sinh.Trò chơi giúp học sinh nắm vững một số kĩ năng cơ bản khi làm văn miêu tả, có tinh thần thoải mái, phát huy tính sáng tạo, hấp dẫn và tạo hứng thú cho học sinh. Đồng thời trò chơi còn giúp học sinh dễ tiếp thu kiến thức mới, tạo được bầu không khí thân thiện đồng thời còn giúp các em hình thành và phát triển phẩm chất như: Tự tin, hợp tác, đoàn kết… b. Phân loại trò chơi Căn cứ vào việc xây dựng kế hoạch thực hiện mà tôi phân loại trò chơi như sau:- Trò chơi trong không gian lớp học – Trò chơi ngoài không gian lớp học c. Yêu cầu với từng loại trò chơi + Trò chơi trong không gian lớp học: Đảm bảo mục đích của hoạt động, phù hợp với đối tượng và không gian lớp học . + Trò chơi ngoài không gian lớp học: Đảm bảo mục đích của hoạt động, sử dụng tối đa các điều kiện ngoài không gian lớp học để phát huy được tính sáng tạo của học sinh khi học văn miêu tả. d. Tiến hành thiết kế trò chơi Tôi đã thiết kế và tổ chức hoạt động trò chơi ở nhiều khâu khác nhau trong quá trình dạy văn miêu tả như: củng cố kĩ năng quan sát, khởi động dẫn nhập vào nội dung học tập. d.1. Trò chơi trong không gian lớp học *Ví dụ:
Trò chơi 1: Dấu ấn thời gian – Mục đích: Giúp học sinh nhận biết được một số đặc điểm của sự vật vào các thời điểm trong ngày. Miêu tả lại một hoặc một vài đặc điểm của sự vật vào thời điểm đó bằng những câu văn có hình ảnh. Qua đó, biết cách quan sát kết hợp với sử dụng phương tiện để diễn đạt. – Luật chơi: Xếp tranh vào các nhóm theo yêu cầu và viết được những câu văn miêu tả phù hợp với đặc điểm của sự vật. – Chuẩn bị: Tranh (ảnh) cảnh các thời điểm trong ngày . – Cách chơi: Giáo viên làm quản trò chia thành các đội (tùy theo sĩ số của
15
lớp). Mỗi đội nhận một tập tranh(ảnh) ở góc học tập. Sau thời gian 7 phút nhóm nào xếp tranh vào các nhóm theo yêu cầu và viết được những câu văn miêu tả giàu hình ảnh phù hợp với đặc điểm của các sựu vật trong các tranh nhất thì đội đó là đội chiến thắng.
– Chú ý: Trò chơi này có thể được sử dụng để phân biệt đặc điểm của cây cối theo các mùa trong năm…
Trò chơi 2: Tiếng gọi thiên nhiên – Mục đích: Giúp học sinh nêu được đặc điểm của các hiện tượng thiên nhiên (màu sắc, hình dáng, âm thanh,…) diễn tả chúng bằng những từ ngữ gợi tả, gợi cảm. – Luật chơi: Nêu đặc điểm của các hiện tượng tự nhiên theo yêu cầu của quản trò bằng những từ ngữ gợi tả, gợi cảm. – Cách chơi: Mỗi nhóm sẽ cử một bạn là quản trò. Khi quản trò gọi tên một hiện tượng thiên nhiên và nêu tên bạn nào thì bạn ấy sẽ đứng lên và tìm một từ gợi tả, gợi cảm để miêu tả đặc điểm của hiện tượng tự nhiên đó.Nếu tìm đúng bạn đó sẽ được chỉ định một bạn khác chơi tiếp. Nếu sai thì bạn đó bị loại khỏi cuộc chơi.
– Chú ý: Trò chơi này có thể được sử dụng để mở rộng vốn từ miêu tả đặc điểm của sự vật và rèn kĩ năng sử dụng từ gợi tả, gợi cảm khi viết văn miêu tả. d.2. Trò chơi ngoài không gian lớp học *Ví dụ:
Trò chơi: Bịt m t đi theo sơ đồ – Mục đích + Khơi gợi sự tò mò, thích khám phá của học sinh + Củng cố kĩ năng quan sát bằng tổng hợp các giác quan – Chuẩn bị : Dây thừng buộc được buộc vào gốc cây, đưa qua (cây cổ thụ, những vạt cỏ, những chiếc ghế đá…) – Cách chơi: Các bạn học sinh tham gia trò cho sẽ bám vào sợ dây thừng đi qua những vật mà giáo viên đã lựa chọn để tìm phần quà bí mật. Bạn nào tìm được phần quà bí mật nhanh nhất, bạn đó là người chiến thắng.
16 – Chú ý: Trò chơi này có thể giúp học sinh mở rộng vốn từ trong văn miêu tả .
2.2.3.2. Thiết kế phiếu quan sát a. Mục đích: Thiết kế phiếu quan sát định hướng cho học sinh trình tự miêu tả và bố cục của phần thân bài trong bài văn miêu tả. Giúp các em tìm ra màu sắc, âm thanh hình ảnh tiêu biểu của các sự vật trong sự vật được miêu tả, thấy được sự thay đổi của sự vật tại các thời điểm khác nhau. Giúp các em có thể tự học. Bên cạnh đó cũng tạo điều kiện để các em thể hiện cái riêng, cái sáng tạo của mình khi làm văn miêu tả. Không những thế thông qua phiếu quan sát còn định hướng cho học sinh về nhân cách. Huy động được cả phụ huynh tham gia vào quá trình dạy học đồng thời cũng giúp phụ huynh kiểm tra kết quả học tập và rèn luyện của con em mình, giúp cha mẹ có điều kiện gần gũi con hơn. Vì vậy, tôi rất chú trọng thiết kế phiếu quan sát một cách đa dạng và đưa ra yêu cầu cụ thể cho riêng từng loại phiếu. b. Phân loại: Tôi chia phiếu quan sát làm 3 loại – Phiếu dành cho HS mới biếtquan sát – Phiếu dành cho HS quan sát tốt – Phiếu đánh giá sau khi quan sát c. Đặc điểm và yêu cầu đối với từng loại phiếu c.1. Phiếu cho học sinh mới biết quan sát + Ngắn gọn, dễ hiểu + Có những định hướng cụ thể tỉ mỉ để học sinh biết cách quan sát,ghi chép (chú ý quan sát trọng tâm sự vật được miêu tả ) + Thông qua phiếu học sinh nắm được trình tự miêu tả, bố cục của phần thân bài trong bài văn miêu tả , cách tìm ý, diễn đạt ý, liên kết câu và liên kết đoạn. + Các phiếu có câu hỏi đưa ra phải rành mạch, chính xác, dễ hiểu, dễ thực hiện. c.2. Phiếu cho học sinh quan sát thuần thục + Không gợi ý nhiều để học sinh bộc lộ được cái tôi, cái sáng tạo riêng của cá nhân mình. + Không có gợi ý, tạo điều kiện cho HS chủ động lựa chọn trình tự miêu tả, các mảng cảnh mà mình yêu thích, sáng tạo trong cách ghi chép kết quả quan sát.
c.3. Phiếu đánh giá sau khi quan sát + Với gợi ý ngắn gọn, định hướng cho HS có thể kiểm tra đánh giá kết quả quan sát của bạn. c.4. Cách sử dụng phiếu + Sử dụng trong quá tình dạy học (chủ yếu là khi trải nghiệm ngoài không gian lớp học) + Sử dụng khi thực hiện hoạt động ứng dụng + Sử dụng để đánh giá kết quả sau trải nghiệm thực tế ngoài lớp học. 17 d.Ví dụ về các loại phiếu quan sát: *Phiếu quan sát cho HS mới biết quan sát Đề bài : Viết bài văn tả cây cối. 2.3. Giải pháp 3: Hướng dẫn HS vận dụng một cách linh hoạt , có hiệu quả các kiến thức thu được từ thực tế để sáng tạo để viết văn Ta thấy, hầu như kết quả của các bài văn mà các con học sinh viết là các kiến thức đơn lẻ về kiểu bài, những từ ngữ, hình ảnh, các ý xung quanh các đối tượng miêu tả. Vậy làm thế nào để sử dụng các kết quả này vào viết văn một cách có hiệu quả là điều mà giáo viên cần lưu tâm. Qua thực tế giảng dạy, tôi đã đúc rút được một số phương pháp nhằm sử dụng có hiệu quả những “vốn” mà các em thu được vốn từ cho bản thân mình như sau: 2.3.1. Hướng dẫn học sinh cách tìm ý, lập dàn ý cho bài văn miêu tả Quá trình tìm ý gắn với lập dàn ý là một kĩ năng cực kì quan trọng. Trên thực tế trong khi làm bài, học sinh đã xác định được yêu cầu của đề, xác định được đối tượng, có vốn kiến thức thực tế, có vốn từ phong phú nhưng có thể các em chưa định hình được hướng đi cho bài viết. Nhiều em chưa có kĩ năng lập dàn ý. Các mảng cảnh sắp xếp lộn xộn, viết tràn lan, lạc đề, miêu tả không đúng trọng tâm. Vì PHIẾU QUAN SÁT Chủ đề: Viết đoạn mở bài cho bài văn tả cây cối 1.Viết mở bài theo cách thông thường ta cần tả những gì? …………………………………………………………………………………………………………………. 2.Ghi lại những gì bạn quan sát bằng các giác quan theo trình tự không gian. + Cây ta miêu tả là cây gì:……………………………………………………….. + Trồng ở đâu:……………………………………………………………………….. + Cây có từ bao giờ…………………………………………………………..…… + Cảm nghĩ của mình dành cho cây:…………………………………………… 3. Trong những sự vật bạn quan sát được ở cây, bạn thích nhất đặc điểm nào? Bạn hãy miêu tả đặc điểm ấy bằng một câu văn có sử sụng các từ ngữ gợi tả hoặc sử dụng nghệ thuật so sánh hoặc nhân hóa. ……………………………………………………………………………………………………………………… 4. Hãy ghi lại cảm xúc của bạn khi được trực tiếp quan sát những đặc điểm của cái cây mà bạn sẽ miêu tả: ……………………………………………………………………………………………………………………………. 18 thế, để giúp cho học sinh định hình được hướng đi của bài viết văn miêu tả, tôi đã hướng dẫn học sinh các bước tìm ý như sau: – Từ thực tế hướng dẫn học sinh tìm ý cho phù hợp với đối tượng miêu tả. – Sắp xếp các ý đó theo một trình tự hợp lí: trình tự không gian, trình tự thời gian, trình tự cảm xúc (đối với những học sinh có năng khiếu). – Hướng dẫn học sinh cách vận dụng dàn bài chung của bài văn miêu tả vào dàn bài riêng cho từng đối tượng miêu tả. – Giáo viên hướng dẫn học sinh xác định những mảng cảnh chính, dàn ý cơ bản của bài văn khi miêu tả một số đối tượng miêu tả tiêu biểu để HS có thể … Trong văn miêu tả ta thấy có một số đối tượng miêu tả cơ bản mà học sinh thường gặp đó là: các đồ dùng thân quen trong cuộc sống, những cây cối trong sân trường, trên dường đi học, hay những con vật nuôi gần gũi…Đề bài có thể yêu cầu các em miêu tả các đối tượng này ở những thời điểm khác nhau. Tuy nhiên, trên thực tế không phải bất cứ lúc nào giáo viên cũng có thể tổ chức cho học sinh quan sát đối tượng đó ở những thời điểm khác nhau và hướng dẫn học sinh làm bài cho phù hợp với các thời điểm đó. Vì vậy, việc hướng dẫn học sinh xác định được các mảng cảnh chính, quy luật biến đổi của các mảng cảnh từ đó có thể chủ động, sáng tạo, linh hoạt khi viết văn. Ví dụ: Tả cây phượng vào các thời điểm khác nhau trong năm. Tôi đã hướng dẫn HS các làm như sau: – Dựa vào kiến thức thu được sau trải nghiệm các em sẽ lập dàn ý cơ bản (dàn ý gồm các mảng cảnh chính )
Dàn ý cơ bản 1. Mở bài Nếu như ai hỏi em loài cây nào gắn liền với lứa tuổi học trò thì em không cần phải suy nghĩ nhiều mà có thể trả lời được luôn đó chính là cây hoa phượng. Những năm học qua cây giống như một người bạn đầy ấm áp và tin cậy đối với em. 2. Thân bài
19
a. Tả bao quát :Từ xa nhìn lại cây phượng như một chiếc ô khổng lồ. b. Tả chi tiết: – Rễ cây : ăn sâu xuống lòng đất hút chất dinh dưỡng nuôi cây. – Gốc cây: Đến gần hơn ta dễ dàng có thể nhận thấy phần gốc cây to nổi lên trên mặt đất như một con trăn già nua. Trông xù xì vậy nó lại cùng với rễ vận chuyển chất dinh dường để nuôi cây lớn. – Thân cây: Thân cây với lớp vỏ xù xì, tay ta sờ vào ram ráp.Và nếu bạn vòng tay ôm thì có lẽ cả vòng tay của bạn chưa ôm xuể. – Lá cây: lá cây màu xanh non, mỗi chiếc lá chỉ nhỏ xíu như móng tay bé ơi là bé. – Hoa: mỗi cách hoa đỏ như những đốm lửa thắp sáng cả bầu trời. Khi hoa nở rộ người ta dường như quên đi rằng phượng đã từng có lá xanh. 3. Kết bài Thật tuyệt vời khi được nhìn ngắm nhìn cây hoa phượng nở đỏ rực rỡ. Phượng làm cho các cô cậu học sinh lại náo nức đón chờ một mùa thi – một kì nghỉ sẽ bắt đầu.
– Từ dàn ý cơ bản, tôi hướng dẫn HS quy luật biến đổi của các mảng cảnh đó :một số đặc điểm của các mảng cảnh chính không thây đổi nhưng một số đặc điểm của chúng lại thay đổi theo thời gian. VD: Phượng mùa hè lặng lẽ, khoe ra những chiếc tán to tròn, chào các cô cậu học trò bằng một màu hoa đỏ rực, mùa thu lá phượng chuyển dần sang màu vàng đỏ, lá phượng khẽ rơi hòa mình vào trong gió…Khi biết được quy luật thay đổi đó các em sẽ vận dụng được linh hoạt những kiến thức thu được từ trải nghiệm vào thực hiện các yêu cầu khác nhau của đề bài khi viết văn mà không phụ thuộc vào văn mẫu. 2.3.2. Lựa chọn cách diễn đạt phù hợp với đối tượng miêu tả đồng thời bộc lộ được cái “tôi” của người viết – Trên cơ sở việc ghi ch p một cách vắn tắt, những từ cụm từ mang tính ngẫu hứng mà học sinh thu được , tôi đã hướng dẫn học sinh sử dụng các biện pháp tu từ như: sử dụng từ gợi tả, gợi cảm, so sánh, nhân hóa, điệp từ, đảo ngữ…. để viết những câu văn giàu hình ảnh, giàu cảm. 20 Ví dụ: Người ta có thể đứng lặng trong đêm để hít đến no nê mùi thơm nồng nàn quyến rũ của hoa giẻ. Những tia nắng ban mai tinh nghịch nô đùa trên nhứng tán lá cây. – Trên thực tế các bài viết của HS thường diễn đạt xuôi, sử dụng chủ yếu là kiểu câu kể nên việc diễn đạt đơn điệu, không gây bất ngờ hay tạo hứng thú cho người đọc. Vì vậy, tôi đã hướng dẫn HS cách phối hợp giữa các kiểu câu (câu kể với câu hỏi, câu khiến, câu cảm…) để làm phong phú trong cách diễn đạt, tạo sự mới lạ, đem lại cảm xúc cho người đọc. Ví dụ: Bạn Nguyễn Minh Châu khi miêu tả cây phượng đã viết: Hãy nhìn kìa! Trên vòm cây, một đóa hoa phượng thắm đang rung rinh trong nắng sớm. Hay khi miêu tả vườn hoa vào buổi sớm bạn Trần Hà Vy đã viết: Bạn hãy tiến lại gần, hãy gửi mùi hương dịu dàng, ngọt ngào ấy! Bạn sẽ cảm nhận được quyến rũ đến kì lạ của hoa hồng nhung. 2.3.3. Rèn kĩ năng viết lời văn chuyển ý, liên kết đoạn khi làm bài Lời văn chuyển ý không nhiều nhưng có tác dụng rất lớn trong việc liên kết, liên hoàn mạch văn. Nó đánh giá sự kh o l o của các em khi miêu tả sự vật. Đồng thời tránh được việc liệt kê, kể lể. Tôi đã hướng dẫn học sinh những thủ thuật chuyển cảnh như sau: Các sự việc nhỏ được nối tiếp nhau một cách tự nhiên theo mô típ liên tục (các sự vật kề gần nhau theo tầm quan sát). Ví dụ: Cây bàng đứng ngay trước của lớp em. Mỗi buổi sớm đến lớp, nhìn thấy cây bàng, lòng ai cũng thấy ấm áp, thân thương. Chuyển ý nhờ những hình ảnh trung gian. Ví dụ: Bờ đê cao to vạm vỡ. Chân đê cỏ mọc thành thảm xanh tốt. Trâu bò thung thăng gặm cỏ, vểnh đôi tai nghe tiếng sáo trở về. Âm thanh ấy lúc trầm lúc bổng, hòa nhịp với tiếng chim họa mi lảnh lót rắc đều xuống mặt sông. Con sông quê tôi nằm uốn khúc giữa làng rồi chạy dài bất tận”… Chuyển ý bằng cách liên tưởng theo sự quan sát qua các giác quan khác nhau: Thính giác, thị giác, khứu giác, vị giác và bằng cả cảm giác nữa. 21 Ví dụ: Người ta có thể đứng lặng trong đêm hít hà đến no nê mùi hương quyến rũ ấy và cảm tạ đất trời đã tích tụ tinh hoa tạo nên những loài hoa kì diệu đến thế. Khẽ chạm vào cánh hoa vàng thẫm dịu dàng, ta như lạc vào một khung trời cổ tích… Với các phương pháp này, tôi cho học sinh tập viết, kết hợp với học tập tư liệu để có nhiều cách chuyển cuốn hút. 2.3.4. Hướng dẫn học sinh viết những đoạn văn theo đề tài nhỏ Việc hướng dẫn học sinh viết những đoạn văn theo đề tài nhỏ là một việc làm cần thiết .Điều này giúp cho HS vận dụng những kiến thức mà mình đã thu được saumỗi tiết học để tạo thành những sản phẩm c
Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY
Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education
ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN 1. Cơ sở lí luận: Trong cuộc sống của chúng ta, cái đẹp luôn tồn tại và là nhu cầu rất tự nhiên của con người. Trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Mĩ thuật (thuộc lĩnh vực giáo dục nghệ thuật) hình thành, phát triển cho học sinh năng lực thẩm mĩ, đồng thời góp phần cùng các môn học và hoạt động giáo dục khác hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung, đặc biệt là giáo dục ý thức kế thừa, phát huy văn hoá nghệ thuật dân tộc phù hợp với sự phát triển của thời đại. Học Mĩ thuật sẽ giúp học sinh biết cảm thụ cái đẹp và biết làm ra cái đẹp thông qua các hoạt động trải nghiệm để khơi gợi và phát huy khiếu thẩm mĩ vốn có ở các em, tiến tới hình thành thị hiếu thẩm mĩ của riêng mình trong cuộc sống hàng ngày. 2. Cơ sở t c t n Trong những năm gần đây, dạy học Mĩ thuật theo định hướng phát triển năng lực được áp dụng vào giảng dạy ở trường Tiểu học đã chứng tỏ tính ưu việt và hiệu quả, phù hợp với nhu cầu đổi mới về phương pháp dạy – học Mĩ thuật tiểu học ở Việt Nam hiện nay. Năm học 2020 – 2021 là năm học thứ sáu tiếp tục thực hiện dạy học Mĩ thuật theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh. Những quy trình mĩ thuật theo phương pháp mới đều hướng tới mục tiêu: lấy học sinh làm trung tâm; kích thích sự tương tác, tư duy sáng tạo và phát triển nhận thức, phát triển phẩm chất, năng lực người học. Nghiên cứu chương trình giáo dục phổ thông 2018 tôi thấy: Mục tiêu môn Mĩ thuật cấp Tiểu học là giúp học sinh bước đầu hình thành, phát triển năng lực mĩ thuật thông qua các hoạt động trải nghiệm; biết thể hiện cảm xúc, trí tưởng tượng về thế giới xung quanh, từ đó hình thành năng lực giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo; bước đầu làm quen, tìm hiểu và cảm nhận vẻ đẹp của sản phẩm, tác phẩm nghệ thuật, hình thành năng lực tự chủ và tự học; góp phần hình thành các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. Bên cạnh yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực chung thì chương trình môn Mĩ thuật giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực đặc thù với các thành phần: quan sát và nhận thức thẩm mĩ, sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ, phân tích và đánh giá thẩm mĩ. Trong đó năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ là một phần quan trọng trong việc phát huy khiếu thẩm mĩ vốn có của học sinh. Thông qua hoạt động này, các em phát huy được khả năng tư duy sáng tạo độc lập theo cách nhìn, cách nghĩ bằng cảm xúc riêng của mình về đường nét, hình mảng, cách sắp xếp hình ảnh và màu sắc trong không gian. Có được năng lực phân tích đánh giá thẩm mĩ tốt học sinh sẽ dễ dàng nhận ra cái đẹp ở xung quanh. 2 Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy khả năng tương tác, sự chia sẻ, đánh giá sản phẩm học tập của học sinh còn hạn chế, ảnh hưởng tới sự hình thành các năng lực, phẩm chất của người học. Để khắc phục tình trạng đó và nâng cao chất lượng môn học, tôi đã thực hiện biện pháp: “Phát triển năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ cho học sinh lớp 5”. II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Mô tả giả p áp trước khi tạo ra sáng kiến 1.1. Th c trạng công tác dạy và học môn Mĩ t uật Thực hiện sự chỉ đạo của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Giao Thủy, từ ngày 01/10/2015, trường Tiểu học Giao Thanh tiến hành triển khai dạy học Mĩ thuật theo phương pháp Đan Mạch (Công văn 386/PGD&ĐT-TH). Năm học này, khối lớp 1 thực hiện dạy Mĩ thuật theo chương trình giáo dục phổ thông 2018, các khối 2, 3, 4 ,5 tiếp tục thực hiện theo phương pháp Đan Mạch. Phương pháp dạy học phát huy khả năng sáng tạo cao của học sinh, tiết học thoải mái, sinh động hơn, tạo cơ hội cho học sinh thực hành, ứng dụng trong học tập và cuộc sống. Với phương pháp dạy học phát triển năng lực, học sinh có hứng thú học tập tốt, mong chờ đến tiết học Mĩ Thuật để được tự do sáng tạo, khám phá những điều mới mẻ. Đối với những em học sinh chưa yêu thích môn Mĩ thuật, chưa tích cực trong các hoạt động sẽ có hứng thú hơn. Đối với học sinh có năng khiếu thì được bộc lộ khả năng của mình, qua đó tinh thần hợp tác nhóm trong môn Mĩ thuật và các môn học khác được nâng cao. Không những thế nó còn mang lại niềm vui, sự sáng tạo, lòng đam mê trong từng sản phẩm do chính tay các em và bạn làm ra. 1.2. Khảo sát năng l c học sinh Tiến hành khảo sát mức độ hình thành ba năng lực đặc thù môn Mĩ Thuật của học sinh khối 5 cuối năm học 2018-2019. Kết quả như sau:
Nội dung khảo sát
Tổng số học sinh Khối 5
Tốt
Đạt
Cần cố gắng
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
Năng lực quan sát và nhận thức thẩm mĩ
90
100
30
33,3
60
66,7
0
0
Năng lực sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ
90
100
28
31,1
62
68,9
0
0
Năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ
90
100
15
16,7
72
80
3
3,3
Kết quả khảo sát năng lực đặc thù môn Mĩ thuật cuối năm học 2018-2019 3 * Ưu đ ểm: Bảng khảo sát trên cho thấy ưu điểm là: năng lực quan sát và nhận thức thẩm mĩ; năng lực sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ có 100% số học sinh được đánh giá ở mức Tốt và Đạt. Các em đều hiểu về các yếu tố tạo hình và biết tạo ra được sản phẩm đẹp. * Hạn c ế Bảng khảo sát trên cho thấy trong 3 năng lực đặc thù của môn Mĩ thuật thì năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ tỉ lệ học sinh đạt mức tốt còn thấp, chỉ chiếm 16,7%, vẫn còn có học sinh chưa hoàn thành. * Nguyên nhân ạn c ế: – Về học sinh: chưa xác định được nội dung đánh giá sản phẩm; chưa biết tự đánh giá sản phẩm của mình. Các em có thể biết thể hiện ý tưởng, chủ đề của mình qua sản phẩm bằng ngôn ngữ hội họa nhưng do năng lực ngôn ngữ còn hạn chế, kỹ năng thuyết trình chưa tốt nên còn lúng túng trong việc chia sẻ với bạn, nhóm bạn hoặc chưa nêu được cảm nhận về đối tượng thẩm mĩ ở mức độ đơn giản; chưa mô tả được một số yếu tố, dấu hiệu của nguyên lí tạo hình ở sản phẩm, màu sắc, bố cục, nội dung tranh, … Các em chỉ biết đánh giá bài của bạn đẹp hoặc chưa đẹp mà chưa biết được đẹp như thế nào, màu sắc, đường nét, cách sắp xếp có cân đối hợp lý không? Hoặc chưa đẹp vì sao? Nhiều em nhút nhát, tự ti ngại phân tích, đánh giá. Bên cạnh đó, học sinh lớp 5 trường tôi sống ở vùng nông thôn, ít được tiếp cận với triển lãm hội họa. Các em ít được tham gia trải nghiệm, chưa được quan sát vẻ đẹp thực tế của các tác phẩm hội họa nổi tiếng, sản phẩm thực của các nghệ nhân, nghệ sĩ điều đó cũng ảnh hưởng đến việc hình thành năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ. – Về phía giáo viên: giai đoạn đầu, giáo viên tập trung việc hình thành năng lực quan sát và nhận thức thẩm mĩ, sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ. Giáo viên chưa phân bố được thời gian hợp lý giữa các hoạt động, còn chú ý nhiều đến việc hướng dẫn học sinh cách tạo ra và thực hành làm sản phẩm, thời gian dành cho hoạt động trưng bày và giới thiệu sản phẩm còn ít, do đó chưa phát triển năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ cho học sinh. Giáo viên chưa xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá cho từng chủ đề, bài học; chưa tạo động lực và cơ hội để học sinh tự đánh giá sản phẩm của mình, đánh giá sản phẩm của bạn, nhóm bạn. Giáo viên chưa rèn kĩ năng chia sẻ về ý tưởng sản phẩm cũng như kĩ năng thuyết trình về sản phẩm của cá nhân, sản phẩm của nhóm. – Về phía nhà trường: chưa có nhiều những buổi giao lưu để cho học sinh tự lên diễn đàn tự nói chuyện, tự thuyết minh, thuyết trình, chưa tạo nhiều cơ hội cho học sinh đi trải nghiệm tham quan thực tế. 4 – Về phía phụ huynh: nhiều phụ huynh chỉ quan tâm đến các môn văn hóa, chưa hiểu được tầm quan trọng của giáo dục nghệ thuật nói chung, mĩ thuật nói riêng trong thực tiễn cuộc sống. Họ cho rằng đây là môn phụ, không cần thiết nên chưa tham gia đánh giá sản phẩm cùng con, chưa phối hợp với giáo viên để hình thành năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ cho các em. 2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến 2.1. Tên giải pháp: “Phát triển năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ trong môn Mĩ thuật lớp 5”. 2.2. Mục đíc , ý ng ĩa, s cần t ết của g ả p áp 2.2.1. Mục đích: – Về phân tích thẩm mĩ: Giúp học sinh: + Biết chia sẻ, cảm nhận về đối tượng thẩm mĩ ở mức độ đơn giản. + Biết tìm hiểu tác giả, sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật. + Mô tả được một số yếu tố, dấu hiệu của nguyên lí tạo hình ở sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật trong thực hành, thảo luận và liên hệ thực tiễn. – Về đánh giá thẩm mĩ: Giúp học sinh bước đầu: + Đánh giá được đối tượng thẩm mĩ thông qua một số yếu tố tạo hình. + Học hỏi được kinh nghiệm thực hành sáng tạo thông qua đánh giá đối tượng thẩm mĩ. 2.2.2. Ý nghĩa: Phát triển năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ cho học sinh lớp 5 có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển năng lực của người học theo mục tiêu môn Mĩ thuật chương trình giáo dục phổ thông mới. 2.2.3. Sự cần thiết của biện pháp trong công tác giảng dạy môn Mĩ thuật: Năm học 2021 – 2022, học sinh lớp 6 sẽ học theo CT GDPT 2018. Do đó, chúng ta cần chuẩn bị tâm thế và phẩm chất, năng lực cần thiết khác để học sinh lớp 5 sẽ được làm quen và đáp ứng được chuẩn đầu vào của lớp 6 theo CT GDPT 2018. Để chất lượng đầu ra của lớp 5 phù hợp với chương trình lớp 6 CT GDPT 2018 thì biện pháp phát triển năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ là trong môn mĩ thuật lớp 5 là vô cùng cần thiết thể hiện tính kết nối phù hợp, “đi trước đón đầu” hiệu quả. 2.3. Nội dung giải pháp: 2.3.1. Giải pháp 1: Rèn kĩ năng xác định nội dung đánh giá cho học sinh. 5 2.3.1.1. Mục tiêu: Giúp học sinh xác định nội dung đánh giá (các yếu tố và nguyên lí tạo hình). 2.3.1.2. Cách tiến hành: – Hướng dẫn học sinh nắm chắc cách đánh giá sản phẩm mĩ thuật bằng cách vẽ sơ đồ theo sở thích, dán ở góc học tập, ở nhà, ở lớp để học sinh nhớ, sử dụng trong tất cả các tiết trưng bày, giới thiệu sản phẩm. Nội dung sơ đồ thể hiện được: Hình ảnh (Đa dạng, phong phú…; Đường nét, hình khối..; Phù hợp chủ đề…) Bố cục (cách sắp xếp hình mảng, tạo ra sự tương quan, hòa hợp cả về màu sắc, nhịp điệu và sự cân bằng, nhấn mạnh trọng tâm của sản phẩm). Màu sắc (tương quan đậm nhạt, cách tô màu). 2.3.2. Giải pháp 2: Rèn kĩ năng phân tích, đánh giá sản phẩm: 2.3.2.1. Mục tiêu: Giúp học sinh nắm được phương pháp đánh giá, có kỹ năng tự đánh giá về sản phẩm của mình, biết nhận xét cách thể hiện các yếu tố, nguyên lý tạo hình trên sản phẩm của bạn, nhóm bạn. 2.3.2.2. Cách tiến hành: * Rèn kĩ năng t đán g á – Giáo viên dựa vào mục tiêu và yêu cầu cần đạt của mỗi chủ đề, lập bản “hợp đồng học tập môn Mĩ thuật”, phát cho tất cả học sinh ngay từ đầu tiết học. – Học sinh tự đánh giá, ghi dấu x vào ô tương ứng trong bản hợp đồng sau khi hoàn thành sản phẩm. HỢP ĐỒNG HỌC TẬP MÔN MĨ THUẬT HS:……………………………………………… Lớp: …………………………… Thời gian: tiết học……., ngày………. tháng………………. năm ……………………………………..
Nhiệm vụ bắt buộc
Nội dung
Tự đánh giá sau khi hoàn thành nhiệm vụ bằng các đánh dấu (x) vào ô tương ứng
GV đánh giá
Sự hỗ trợ
Cùng bạn để hoàn thành
Vượt thời gian cho nhiệm vụ
Hứng thú với nhiệm vụ
Hoàn thành tốt nhiệm vụ
Theo mục tiêu và yêu cầu cần đạt của mỗi chủ đề.
6
Nhiệm vụ t chọn
1. Bố cục … (tiêu chí giáo viên đưa ra phù hợp với từng chủ đề)
2. Màu sắc ….. (tiêu chí giáo viên đưa ra phù hợp với từng chủ đề)
3. Đường nét…(tiêu chí giáo viên đưa ra phù hợp với từng chủ đề)
* Rèn kĩ năng c a sẻ ý tưởng về sản p ẩm. – Giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi gợi ý để học sinh chia sẻ nhóm đôi, nhóm bốn, chia sẻ trước lớp: + Đây là sản phẩm của mình, mình đã dùng chất liệu … để tạo ra nó. + Với chủ đề …, mình chọn hình ảnh chính của sản phẩm là…. + Để sản phẩm đẹp, mình thêm hình ảnh phụ là … + Mình đã dùng màu … để vẽ các chi tiết. + Bạn thấy sản phẩm của mình như thế nào? + Theo bạn mình cần làm gì để sản phẩm của mình đẹp hơn? – Giáo viên yêu cầu học sinh về nhà chia sẻ về sản phẩm của mình với người thân, mọi người xung quanh. – Phối hợp với phụ huynh học sinh, phụ huynh sẽ đồng hành cùng nhà trường trong việc đánh giá sản phẩm của con mình: Những học sinh chưa làm xong sản phẩm ở lớp giáo viên cho các em về nhà hoàn thiện tự đánh giá vào phiếu đánh giá ở nhà. Giờ học sau, báo cáo với trưởng ban học tập. – Giáo viên động viên kịp thời khi học sinh mạnh dạn chia sẻ bằng nhiều hình thức khác nhau như tặng sao hoặc những bông hoa… * Rèn kĩ năng t uyết trìn – Hướng dẫn học xác định nội dung thuyết trình bằng hệ thống câu hỏi gợi ý: + Nội dung chủ đề là gì? + Nhóm em đã sử dụng chất liệu gì để thể hiện sản phẩm? + Sản phẩm của nhóm em có những hình ảnh gì? + Hình ảnh nào là chính, hình ảnh nào là phụ? + Nhóm em đã sắp xếp như thế nào để thể hiện nội dung chủ đề? + Thông điệp mà nhóm muốn truyền đạt là gì? 7 – Học sinh chia sẻ nhóm đôi, nhóm lớn về nội dung thuyết trình – Rèn luyện phong thái tự tin, thái độ biểu cảm: Giáo viên yêu cầu học sinh tập thuyết trình nhóm đôi, nhóm lớn. Giáo viên động viên, khuyến khích, hướng dẫn các em thể hiện ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ, giọng nói khi thuyết trình. – Thường xuyên gọi những học sinh rụt rè, nhút nhát lên thuyết trình để các em quen dần. 2.3.3. Giải pháp 3: Tạo động lực và cơ hội đánh giá cho học sinh. 2.3.3.1. Mục tiêu: – Giúp học sinh có thái độ đúng đắn khi tham gia phân tích đánh giá sản phẩm để tạo hứng thú cho cho các em. – Giúp giáo viên phân bố thời gian hợp lý; tổ chức đa dạng các hình thức trưng bày để học sinh thường xuyên được tham gia phân tích, đánh giá sản phẩm. – Tạo cơ hội cho học sinh được tham gia phân tích đánh giá thẩm mĩ thông qua các hoạt động trải nghiệm trong và ngoài nhà trường. 2.3.3.2. Cách thực hiện: * Tạo động l c và hứng thú k trưng bày và g ới thiệu sản phẩm – Đối với học sinh: + Đề cao thành quả lao động sáng tạo của bạn. Tìm ra ưu điểm trong sản phẩm của cá nhân bạn, nhóm bạn để bày tỏ sự thích thú. + Không chê bai hoặc so sánh sản phẩm của cá nhân này với sản phẩm cá nhân khác; sản phẩm nhóm này với sản phẩm nhóm khác. + Chia sẻ ý tưởng góp ý của mình để sản phẩm đẹp hơn, khi đánh giá nên dùng từ ngữ có tính động viên thúc đẩy bạn cố gắng. + Thể hiện thái độ cởi mở, vui vẻ khi chia sẻ trước lớp. – Đối với giáo viên: + Hướng dẫn học sinh cách giới thiệu sản phẩm + Dành thời gian hợp lý cho hoạt động trưng bày sản phẩm + Hình thức thuyết trình sản phẩm đa dạng, phong phú: + Khen thưởng động viên học sinh kịp thời: Những học sinh giới thiệu sản phẩm hấp dẫn, độc đáo được giáo viên thưởng sao (*). Khi đánh giá định kì giữa kì I, cuối kì I, giữa kì II… giáo viên sẽ biểu dương những học sinh đạt nhiều sao (*). 8 * Tạo cơ ội cho học sinh giới thiệu sản phẩm, đán g á thẩm mĩ – Giáo viên phối hợp với ban giám hiệu nhà trường, tổ chức “Ngày hội Triển lãm các sản phẩm mĩ thuật”; “Ngày hội STEM”; “Biểu diễn thời trang”…. tạo cơ hội cho học sinh tham gia tích cực vào hoạt động giơi thiệu và đánh giá sản phẩm. Với giải pháp này, học sinh có cơ hội được vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, rèn luyện thêm khả năng cảm thụ thẩm mĩ. – Sưu tầm các tác phẩm nổi tiếng trên mạng Internet để học sinh phân tích, đánh giá. 2.4. Th c nghiệm sư p ạm Để tiến hành thực nghiệm kiểm chứng lại tính khả thi và hiệu quả của việc vận dụng biện pháp “Phát triển năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ cho học sinh lớp 5”, tôi chọn ra hai lớp: lớp 5A (gồm 30 học sinh) để thực nghiệm; lớp 5B (gồm 30 học sinh) để đối chứng. Hai lớp này cùng do tôi dạy. Ở lớp thực nghiệm, tôi vận dụng các biện pháp phát triển năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ, còn lớp đối chứng thì không. Hình thức thực nghiệm: thông qua hoạt động tổ chức trưng bày, giới thiệu và đánh giá sản phẩm. – Thời gian thực nghiệm: từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 7 năm 2020. – Địa điểm thực nghiệm: tại lớp 5A trường Tiểu học Giao Thanh. – Việc tổ chức thực nghiệm được tiến hành theo 3 giai đoạn: chuẩn bị thực nghiệm, tiến hành thực nghiệm, đánh giá kết quả sau thực nghiệm. * Giai đoạn 1: Chuẩn bị thực nghiệm Trước khi thực nghiệm, tôi tiến hành khảo sát về năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ của học sinh lớp 5A (lớp thực nghiệm) và lớp 5B (lớp đối chứng), kết quả khảo sát như sau:
Lớp Mức độ
Lớp thực nghiệm (5A: 30 HS)
Lớp đối chứng (5B: 30 HS)
SL
%
SL
%
Tốt
9
30
10
33.4
Đạt
20
66.7
19
63.3
Cần cố gắng
1
3.3
1
3.3
Bảng 1: Thống kê về năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (thời điểm tháng 9 năm 2019) 9 Theo thống kê bảng 1 cho thấy về năng lực phân tích và đánh giá sản phẩm của 2 lớp là tương đương nhau. Sau khi khảo sát về năng lực phân tích và đánh giá sản phẩm của 2 lớp trên, tôi bắt đầu áp dụng các biện pháp đã nêu vào các tiết dạy mĩ thuật của lớp 5A. * Giai đoạn 2: Tiến hành thực nghiệm: Thực nghiệm giải pháp 1: Cho học sinh ghi nhớ nội dung đánh giá sản phẩm bằng cách cho các em tự vẽ sơ đồ theo sở thích. Ví dụ: Sơ đồ cây về nội dung đánh giá Với sơ đồ này, học sinh cùng nhau trang trí trong lớp để quan sát hàng ngày, giúp các em hình thành thành thói quen sử dụng trong nhiều tiết học, hình thành thói quen đánh giá trước một sản phẩm, tác phẩm. 10 Ví dụ 2: Các mẫu sơ đồ nội dung đánh giá học sinh treo ở góc học tập ở nhà 11 Thực nghiệm giải pháp 2: – Chủ đề 1: Chân dung tự họa – Mĩ thuật 5 (Trang 29): Sau khi học sinh đã hoàn thiện sản phẩm, tôi yêu cầu các em làm theo các bước sau: Bước 1: Học sinh tự đánh giá về sản phẩm của mình Bước 2: Chia sẻ ý tưởng về sản phẩm theo khung câu hỏi gợi ý: + Đây là sản phẩm của mình. Mình vẽ về … + Mình vẽ phác hình khuôn mặt … và các bộ phận như: mắt…, mũi,… + Mình dùng màu … để vẽ mái tóc, màu… để vẽ môi,… + Bạn thấy nhân vật trong tranh có giống với…? + Nhân vật trong tranh đang thể hiện cảm xúc gì? + Bạn thích nhất điều gì ở sản phẩm của mình? + Mình phải làm gì để sản phẩm của mình tuyệt vời hơn? Bước 3: Thuyết trình trước lớp: Gọi một vài học sinh xung phong lên thuyết trình về sản phẩm của mình. Sau đó, tạo cơ hội cho 01 học sinh có năng lực ở mức cần cố gắng trong lần khảo sát trước khi thực nghiệm lên trình bày. Nếu học sinh này không trình bày được, giáo viên đưa khung câu hỏi gợi ý thuyết trình và yêu cầu học sinh về nhà dựa vào những câu hỏi này tập thuyết trình cho người thân nghe. Giờ sau, các em sẽ báo cáo với cô giáo. Bước 4: Học sinh đánh giá sản phẩm của bạn: Nếu học sinh gặp khó khăn trong quá trình phân tích, nhận xét đánh giá sản phẩm của bạn thì tôi cho các em tham khảo gợi ý “sơ đồ cây” – Với các chủ đề tiếp theo, tôi thực hiện tương tự và cứ sau 3 chủ đề, tôi lại khảo sát lại để kiểm chứng kết quả nhằm khẳng định tính đúng
Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY
Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education
ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN: Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân; phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và yêu cầu hội nhập quốc tế. Để thực hiện mục tiêu đó, Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng đầu tư cho giáo dục, xem giáo dục là “quốc sách hàng đầu” cho sự phát triển bền vững và lâu dài của đất nước. Đối với môn học Mĩ thuật ở trường tiểu học, mục tiêu của dạy – học chính là giáo dục thẩm mĩ, tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc làm quen, cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, đời sống và của các sản phẩm Mĩ thuật; cung cấp cho học sinh những hiểu biết ban đầu về môn Mĩ thuật, hình thành và củng cố các kĩ năng cần thiết để học sinh hoàn thành bài tập trong chương trình; bồi dưỡng năng lực quan sát, phân tích, phát triển trí tuệ, phát huy trí tưởng tượng, sáng tạo, góp phần hình thành nhân cách người lao động mới; phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu Mĩ thuật của học sinh; góp phần tạo dựng môi trường thẩm mĩ cho xã hội. Bên cạnh đó, chương trình giáo dục phổ thông mới chính thức đưa hoạt động trải nghiệm trở thành hoạt động giáo dục bắt buộc của cấp tiểu học, giúp các em tiếp cận thực tế, khai thác kinh nghiệm đã có, huy động kiến thức, kĩ năng để giải quyết các vấn đề thực tiễn của bản thân. Vưgốtxki – Nhà tâm lí học nổi tiếng thế giới từng nói: “Tâm lí hình thành thông qua hoạt động”. Điều này có nghĩa là: chỉ thông qua hoạt động của chính bản thân con người thì bản chất người và nhân cách người đó mới hình thành và phát triển. Con người tự lực hoạt động mới biết kiến thức, kinh nghiệm xã hội tích lũy thành tri thức bản thân. Mục tiêu của nhà trường chính là giúp người học tự lực học tập, giáo dục cho học sinh biết tự giáo dục. Điều đó cho thấy mối quan hệ mật thiết giữa hoạt động trải nghiệm và hoạt động giáo dục các lĩnh vực khác, đặc biệt là đối với giáo dục Mĩ thuật trong trường tiểu học hiện nay. Đó cũng chính là động lực lớn để tôi tìm tòi và viết “Biện pháp tổ chức các hoạt động trải nghiệm nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong môn Mĩ thuật”. 2 II- MÔ TẢ GIẢI PHÁP II.1. MÔ TẢ GIẢI PHÁP TRƯỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN 1.1. Thực trạng 1.1.1. Thuận lợi * Về phía giáo viên: – Giáo viên Mĩ thuật luôn được sự quan tâm, tạo điều kiện của các ngành cấp trên khi tham gia các buổi tập huấn dạy Mĩ thuật theo định hướng phát triển năng lực, vận dụng phương pháp mới của Dự án Hỗ trợ Giáo dục Mĩ thuật Tiểu học do Vương quốc Đan Mạch tài trợ. – Cơ sở vật chất và thiết bị phục vụ cho việc học tập của nhà trường khang trang, sạch đẹp, tương đối đầy đủ. – Ban giám hiệu nhà trường năng động, sáng tạo trong công tác chuyên môn và đặc biệt cũng rất quan tâm tới bộ môn Mĩ thuật Đan Mạch, thường xuyên động viên, khuyến khích giáo viên áp dụng phương pháp mới vào giảng dạy, luôn tạo mọi điều kiện để giáo viên an tâm công tác và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. – Đã nhiều năm thực hiện dạy và học Mĩ thuật theo định hướng phát triển năng lực, vận dụng phương pháp mới của Dự án Hỗ trợ Giáo dục Mĩ thuật Tiểu học do Vương quốc Đan Mạch tài trợ nên nhận thức của giáo viên, phụ huynh học sinh và cộng đồng đã thay đổi theo chiều hướng tích cực. – Nhà trường có một số đồ dùng cần thiết cho việc giảng dạy Mĩ thuật cho học sinh như: bộ đồ dùng dạy học các phân môn từ lớp 1 đến lớp 5, sách tham khảo, một số tranh ảnh có liên quan đến bài học, … – Đội ngũ giáo viên trường có tay nghề vững, lâu năm trong công tác, có nhiều kinh nghiệm, có ý thức tốt về trách nhiệm người giáo viên và sẵn sàng giúp đỡ đồng nghiệp về chuyên môn cũng như giúp nhau tháo gỡ những khó khăn. * Về phía học sinh: – Các em đa số ngoan và rất yêu thích môn học vì Mĩ thuật là một môn học không gò bó, không có nhiều áp lực, dễ khích lệ động viên, khen thưởng. – Có được sự quan tâm về việc học tập của con em mình của một số phụ huynh có ý thức trách nhiệm. Đã phối hợp với giáo viên bộ môn chuẩn bị đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập, thường xuyên nhắc nhở và tạo điều kiện tốt cho con em mình học tập Mĩ thuật ở trên lớp cũng như ở nhà. – Trong các hoạt động Mĩ thuật, mỗi chủ đề thường nối tiếp liền mạch nhau, làm cho học sinh luôn cảm thấy hào hứng khi được khám phá, sáng tạo 3 với nhiều trải nghiệm. Mặt khác, các em được thỏa thích với những sáng tạo, được trao đổi, học hỏi từ bạn rất nhiều. Thông qua hoạt động Mĩ thuật thực tế, học sinh tự mình làm tích lũy được cách biểu đạt, phân tích, đánh giá, tự lựa chọn và nhận thức để hình thành, phát triển những năng lực cá nhân. Chính bản thân các em sẽ tự tin trình bày những ý kiến cá nhân trước tập thể. 1.1.2. Khó khăn: * Về nhận thức: – Từ phía cộng đồng: Mặc dù đã tương đối nhiều năm nhà trường triển khai thực hiện phương pháp dạy học Mĩ thuật theo định hướng phát triển năng lực, vận dụng phương pháp mới của Dự án Hỗ trợ Giáo dục Mĩ thuật Tiểu học do Vương quốc Đan Mạch tài trợ, nhiều phụ huynh đã nhận thấy mặt tích cực của bộ môn này nhưng vẫn còn một số bậc phụ huynh thiếu sự quan tâm học tập cho học sinh, còn chưa coi trọng môn học Mĩ thuật… Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh gây cho học sinh cảm giác chán nản, chưa tự tin khi học bài. – Phụ huynh của các em chưa quen với phương pháp mới nên còn lúng túng trong việc giúp đỡ con em thực hành ứng dụng sáng tạo ở nhà. Nhiều học sinh có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, phụ huynh đi làm ăn xa không có điều kiện chăm sóc và dạy bảo các em, không mua đủ đồ dùng học tập nên ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả học tập của các em. * Về phía giáo viên: – Trường tiểu học Phúc Thắng có số học sinh đông nên trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ môn học chưa đủ đáp ứng nhu cầu cho dạy – học bộ môn Mĩ thuật. – Đối với phương pháp mới này đồ dùng dạy học cho giáo viên là không có sẵn, hầu hết giáo viên phải tự chuẩn bị vật mẫu cho giáo viên và học sinh, phương tiện, đồ dùng trực quan… vì thế cũng phần nào ảnh hưởng đến kết quả học tập và giảng dạy của giáo viên và học sinh. – Số buổi do Phòng Giáo dục và Đào tạo Huyện tổ chức tập huấn để giáo viên Mĩ thuật thực hiện dạy chuyên đề, trao đổi chuyên môn, rút kinh nghiệm để giáo viên nắm vững thêm về phương pháp mới chưa được nhiều nên hiệu quả dạy – học chưa cao. – Sự kết nối và chia sẻ giữa các giáo viên chuyên Mĩ thuật trong toàn huyện chưa nhiều nên hoạt động Mĩ thuật chưa thật sự nổi bật. * Về phía học sinh: 4 – Còn một số học sinh tỏ thái độ thờ ơ với môn học vì thực tế đời sống còn khó khăn, hầu hết là con em nông thôn, cha mẹ làm nghề tự do không ổn định nên điều kiện để phụ huynh tập trung đầu tư cho học tập của các em còn hạn chế, điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến tinh thần học tập của các em. – Khả năng giao tiếp giữa học sinh với giáo viên, giữa học sinh với học sinh còn hạn chế, chỉ có một số học sinh khá giỏi mạnh dạn tham gia còn học sinh nhút nhát thì thu mình ngại tham gia vào các hoạt động nhóm, hoạt động thuyết trình, chia sẻ bài vẽ của mình trước lớp. – Trình độ học sinh trong các lớp, các khối lớp không đồng đều. Bên cạnh những em phát triển, học tốt, tiếp thu nhanh vẫn còn một số em nhận thức chậm, hoạt động chậm hơn. – Trong chương trình học Mĩ thuật theo dự án Đan Mạch gồm nhiều quy trình học khác nhau. Các chủ đề bài học chủ yếu phát huy khả năng tự học, tự tìm tòi, sáng tạo của học sinh. Các em phải chuẩn bị rất nhiều đồ dùng học tập như: giấy A0, A4, giấy bồi, kẽm, băng keo, hộp giấy, vật dụng tìm được để tái chế. Điều này rất khó khăn cho cả giáo viên và học sinh, vì bản thân các em chưa thể tự chuẩn bị được mà phải có sự hỗ trợ từ phía phụ huynh. Trước tình trạng chung của các em học sinh, tôi rất băn khoăn trăn trở làm thế nào để việc dạy và học Mĩ thuật theo định hướng phát triển năng lực, vận dụng phương pháp mới của Dự án Hỗ trợ Giáo dục Mĩ thuật Tiểu học do Vương quốc Đan Mạch tài trợ được triển khai, áp dụng và đạt được kết quả tốt nhất. Vì vậy tôi thấy rằng, cần phải có những biện pháp để nâng cao hiệu quả dạy và học môn Mĩ thuật ở Tiểu học theo phương pháp Đan Mạch nhằm cải thiện tình trạng đã nêu trên. II.2. MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI TẠO RA SÁNG KIẾN Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Sự phát triển kinh tế – xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới đối với tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục bởi giáo dục là đào tạo con người, là phát triển nhân cách học sinh một cách toàn diện. Một trong những môn học góp phần không nhỏ đến việc phát triển toàn diện học sinh trong trường tiểu học đó là môn Mĩ Thuật. Môn học Mĩ Thuật trong nhà trường tiểu học không nhằm đào tạo các em trở thành hoạ sĩ mà nhằm phát huy khiếu thẩm mĩ vốn có ở trẻ, gây hứng thú cho các em trước cái đẹp tiến tới hình thành thị hiếu thẩm mĩ của riêng mình trong cuộc sống hằng ngày. 5 Như chúng ta đã biết, hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục do giáo viên định hướng thiết kế và hướng dẫn thực hiện; tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận thực tế, thể hiện những cảm xúc tích cực về thế giới xung quanh. Trong môn Mĩ thuật các em sẽ được phát triển phẩm chất, năng lực cần đạt; đồng thời phát huy tư duy sáng tạo, trí tưởng tượng và có cơ hội chia sẻ về sở thích, ước mơ của bản thân. Dạy học Mĩ Thuật trong nhà trường giúp học sinh có những kiến thức, kĩ năng cơ bản về vẽ hình, vẽ màu, tạo hình, điêu khắc và nghệ thuật không gian. Thông qua các hoạt động trải nghiệm, học sinh học cách sáng tạo, biểu đạt bản thân, có những hiểu biết cơ bản, cảm nhận được vẻ đẹp, đánh giá được sản phẩm Mĩ Thuật. Bên cạnh đó, một trong những quan điểm đổi mới của các môn học trong chương trình giáo dục tổng thể là tích cực hóa hoạt động của người học, trong đó giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động cho học sinh, tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn để để khuyến khích học sinh tích cực, tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát triển năng lực, nguyện vọng của bản thân, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và những kiến thức, kĩ năng đã tích lũy được để phát triển. Các hoạt động học tập nói trên được tổ chức trong và ngoài khuôn viên nhà trường, trong và ngoài lớp thông qua một số hình thức như: trò chơi, thực hiện bài tập, đóng vai, tham quan, sinh hoạt tập thể, hoạt động phục vụ cộng đồng,… Mỗi một giây phút các em trải nghiệm trong các hoạt động như vậy chính là những khoảnh khắc đáng nhớ và hữu ích, theo suốt cuộc đời các e. Đối với các hoạt động của bộ môn Mĩ thuật trong trường tiểu học cũng vậy. Thông qua việc dạy và học Mĩ thuật theo chương trình trường tiểu học mới Việt Nam, các em cảm nhận được cái hay, cái đẹp thể hiện từ nội dung cho đến hình thức mỗi khi các em thực hiện một chủ đề; thể hiện những gì mình mơ ước, mình yêu thích, biết vận dụng bài học vào thực tế như: trang trí những vật dụng cá nhân: sách, vở và cả góc học tập của mình,… góp phần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy, cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về Mĩ thuật, ngoài ra, giúp các em hào hứng hơn trong môn học, giảm căng thẳng trong các buổi học. Bản thân giáo viên cũng ngày một thoải mái và phát huy tính sáng tạo hơn. Chính vì vậy, ngay từ đầu năm học, tôi đã đề ra “Biện pháp tổ chức các hoạt động trải nghiệm nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong môn Mĩ thuật” ở trường tiểu học với các nội dung cụ thể như sau: 2.1. Thứ nhất: Tăng cường trải nghiệm môn học với các tiết học trong và ngoài không gian lớp. 2.1.1 Các hoạt động trải nghiệm trong không gian lớp học. Hiện nay, trong hệ thống các môn học ở trường phổ thông nói chung, ở tiểu học nói riêng, môn Mĩ thuật giúp các em sử dụng ngôn ngữ tạo hình thông qua hoạt động trải nghiệm để biểu đạt thái độ, cảm xúc, sự tưởng tượng và kiến thức của bản thân về thế giới xung quanh. Các năng lực của học sinh được hình thành qua các kênh học tập, các giác quan khác nhau như: Nói chuyện, nghe, thảo luận (qua thính giác); thông qua quan sát đồ vật, hình ảnh (qua thị giác); 6 thông qua hoạt động và làm việc bằng tay trong những hoạt động thực tế (qua xúc giác); thông qua hoạt động sử dụng các động tác cơ thể trong những tình huống cụ thể (qua ngôn ngữ hình thể). Thời gian dành cho các hoạt động của môn học được tổ chức trong lớp học lại chiếm thời lượng tương đối nhiều nên bản thân tôi đã tích cực tăng cường và đổi mới các trải nghiệm mĩ thuật trong lớp học nhằm kích thích hứng thú và sự hiệu quả, sáng tạo ở các chủ đề, trong từng hoạt động của các chủ đề. * Hoạt động khởi động: Đây là hoạt động quan trọng nhằm tạo hứng thú cho các em trong mỗi giờ học. Nhưng hoạt động khởi động sẽ trở nên ý nghĩa hơn khi được kết hợp với những “thông điệp” kiến thức được khéo léo gửi gắm vào các trò chơi. Ví dụ: Chủ đề “Em sáng tạo cùng những con chữ” – Mĩ thuật lớp 4, tôi tổ chức trò chơi “Sáng tạo cùng con chữ” (Sử dụng sản phẩm thực hành của học sinh lớp 3: chủ đề “Những chữ cái đáng yêu”). – Mục tiêu: Giúp học sinh sử dụng vốn kiến thức học sinh đã hiểu về bảng chữ cái với các kiểu chữ: chữ thường, chữ in hoa, chữ in thường, chữ nét đều, chữ nét thanh, chữ nét đậm,… để ghép thành từ có nghĩa. – Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị các con chữ, dấu thanh, tranh nền hình ảnh như: chiếc lá, ngôi sao, đám mây, trái tim,… – Luật chơi: Học sinh chọn chữ cái ghép thành tên nhóm của mình (được trang trí trên nền có sẵn). – Cách tiến hành: + Học sinh thảo luận, tìm con chữ cấu tạo nên tên nhóm. + Học sinh lựa chọn các con chữ, ghép từ tạo thành tên nhóm. + Trưng bày chia sẻ nhanh về tên nhóm vừa ghép được. Khi kết thúc trò chơi, tôi đánh giá nhận xét kết quả của các nhóm, đồng thời giới thiệu cho học sinh xem một số mẫu từ mà tôi đã ghép sẵn bằng các con chữ được trang trí để giới thiệu bài học mới. * Kết quả tổ chức trải nghiệm thông qua trò chơi trong hoạt động khởi động. Trò chơi không chỉ rèn cho các em kĩ năng tương tác, sáng tạo trong học tập, kĩ năng tự tìm hiểu kiến thức, thu hút các em tham gia sôi nổi, hào hứng mà còn giúp các em tiếp thu bài một cách chủ động, linh hoạt hơn rất nhiều trong việc hoàn thiện sản phẩm. Điều đặc biệt hơn là học sinh có thể tận dụng các sản phẩm liên kết từ khối lớp này đến khối lớp khác, tăng thêm tính liền mạch, hệ thống và hiệu quả trong chương trình chung của môn Mĩ thuật Tiểu học. 7 Sản phẩm sau hoạt động của trò chơi. Sản phẩm sau hoạt động của trò chơi. 8 Sản phẩm của học sinh với chủ đề “ Em sáng tạo cùng những con chữ”. * Hoạt động tìm hiểu: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu là một hoạt động vô cùng quan trọng, tác động không nhỏ đến chất lượng của giờ học. Giáo viên thường sử dụng những câu hỏi đơn giản, ngắn gọn hoặc đưa ra các giáo cụ trực quan gắn với bài học để dẫn dắt các em tìm hiểu. Thay vì thực hiện như thế, tôi lựa chọn một số chủ đề phù hợp để các em trải nghiệm hoạt động tìm hiểu mới: tự mình thực hiện, tự mình khám phá, diễn giải và chia sẻ với nhau cách thực hiện. Ví dụ: Chủ đề 14: “Em tưởng tượng từ bàn tay” – Mĩ thuật lớp 2. – Mục tiêu: Học sinh nhận ra được đặc điểm cấu tạo, hình dạng của đôi bàn tay; từ đôi bàn tay có thể tưởng tượng được nhiều hình ảnh đẹp và thú vị. – Chuẩn bị: + Giáo viên: Máy chiếu; sản phẩm tưởng tượng từ bàn tay. + Học sinh: Đồ dùng học tập, đèn pin. – Cách tiến hành: + Hướng dẫn học sinh trải nghiệm với máy chiếu. + Tổ chức cho học sinh lần lượt lên thử nghiệm với bàn tay được chiếu trên bảng hoặc sử dụng với đèn pin mà học sinh đã chuẩn bị. + Cả lớp quan sát, gọi tên hình ảnh các bạn thực hiện với máy chiếu. + Học sinh tự chia sẻ về cách thực hiện tưởng tượng từ bàn tay. * Kết quả tổ chức trải nghiệm trong hoạt động tìm hiểu. 9 Thay vì hướng dẫn tìm hiểu theo cách thông thường như: đặt ra một hệ thống câu hỏi (Bàn tay có cấu tạo như thế nào? So sánh hai bàn tay, em rút ra nhận xét gì? Em tưởng tượng được hình ảnh gì từ bàn tay đặt nằm ngang, bàn tay thẳng đứng? Sự chuyển động của bàn tay và các ngón tay có tạo ra các hình khác nhau không? Em nhận ra những hình ảnh gì được tạo ra từ đôi bàn tay?) thì giáo viên chỉ là người điều hành, giúp các em cùng nhau trải nghiệm, khám phá và lĩnh hội kiến thức. Hoạt động tìm hiểu chủ đề bài học sẽ diễn ra nhẹ nhàng và hiệu quả hơn rất nhiều. Học sinh trong hoạt động thực hiện tìm hiểu cùng máy chiếu. 10 Học sinh thích thú trong hoạt động thực hiện tìm hiểu. 11 * Hoạt động thực hành: Thực hành là hoạt động chiếm phần lớn thời gian của chủ đề, là hoạt động quết định đến chất lượng sau cùng của sản phẩm. Chính vì thế, trong những năm gần đây, chương trình Mĩ thuật cũng đã có thêm nhiều hình thức tổ chức thực hành khác nhau nhằm tăng hiệu quả cho các chủ đề nhưng nhận thấy một số chất liệu vẫn còn có thể mở rộng hoặc sáng tạo được thêm các cách thức thực hiện khác nhau với các tiết dạy trong lớp học, tôi đã mạnh dạn đưa tranh in ứng dụng vào một số chủ đề như: Chủ đề 12: Trang phục của em – Lớp 3; chủ đề 9: Trang phục em yêu thích – Lớp 5. Ví dụ: Chủ đề 12: Trang phục của em – Mĩ thuật lớp 3. – Mục tiêu: Học sinh tạo dáng trang phục cho mình hoặc người thân bằng cách kết hợp vẽ, in, hoặc xé, cắt, dán. – Chuẩn bị: + Giáo viên: lá cây, một số đồ vật có họa tiết nổi, một số sản phẩm mẫu. + Học sinh: đồ dùng học tập, lá cây, một số đồ vật có họa tiết nổi. – Cách thực hiện: + Nhắc nhở học sinh chuẩn bị trước một số lá cây hoặc đồ vật có bề mặt nổi để in… + Hướng dẫn học sinh in họa tiết trong tiết thực hành. + Học sinh in họa tiết, thiết kế trang phục phù hợp với họa tiết đã in. + Kết hợp với các cách thức, chất liệu khác để hoàn thiện sản phẩm. Thay vì học sinh thực hành vẽ, xé, cắt dán ,… tôi áp dụng hình thức tranh in mà các em chưa đc thực hiện trong chương trình mĩ thuật tiểu học từ trước tới giờ. Đây là trải nghiệm mới mẻ, dễ chuẩn bị, dễ thực hiện với các vật liệu sẵn có ở xung quanh nên đã tác động rất tích cực đến hoạt động dạy và học môn Mĩ thuật. * Kết quả tổ chức trải nghiệm trong hoạt động thực hành. Qua quá trình cho các em trải nghiệm trong hoạt động thực hành bằng cách in họa tiết vào trang trí sản phẩm, các em đã tạo ra được những sản phẩm đẹp và mang tính thẩm mĩ, các em tích cực và hứng thú hơn trong học tập. 12 Trải nghiệm in họa tiết vào trang trí cho trang phục. *Hoạt động trưng bày, giới thiệu và đánh giá sản phẩm: Trên thực tế, hoạt động trưng bày sản phẩm trong môn Mĩ thuật dù đã được thay đổi bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng vẫn còn một vài học sinh chưa mạnh dạn trong chia sẻ. Chính vì thế tôi cố gắng đưa các em đến với những trải nghiệm mới hơn như: phân vai chia sẻ, sáng tác câu chuyện học đường, gieo vần thơ cho những sản phẩm phù hợp,… Ví dụ: Chủ đề 4: “Em sáng tạo cùng những con chữ” – Mĩ thuật lớp 4 – Mục tiêu: + Học sinh trưng bày được sản phẩm trang trí tên của bản thân. + Giúp học sinh tự tin, thoải mái hơn với hoạt động trưng bày, chia sẻ; tăng hứng thú trong các hoạt động học tập. – Chuẩn bị: + Giáo viên: một số hình thức thơ, gieo vần, vè… + Học sinh: sản phẩm để trưng bày – Cách thực hiện: + Giáo viên làm mẫu với tên bất kì. + Học sinh suy nghĩ: gieo vần thơ hoặc vè,… gắn liền với tên mà mình đã trang trí. + Đưa nhiều hình thức khen thưởng để học sinh bình bầu như: sản phẩm ấn tượng nhất, bài thơ ngộ nghĩnh nhất, bài thơ dài nhất,… 13 Phần nhiều chủ đề, học sinh bị hạn chế cách chia sẻ theo hình thức giới thiệu chất liệu, màu sắc, đường nét, hình mảng,… đơn thuần nên việc thay đổi hoạt động đánh giá ở một số nội dung tôi thấy học sinh thật sự thích thú và tự tin hơn rất nhiều. Ví dụ: Với tên Ngân: học sinh gieo vần: “Mình tên là Ngân Rất nhiều bạn thân Chăm học chuyên cần Bạn nào cũng thích”. * Kết quả tổ chức trải nghiệm trong hoạt động trưng bày, giới thiệu và đánh giá sản phẩm. Sự sáng tạo, dí dỏm trong những câu thơ, câu vè đã giúp cho thời gian bên nhau của cô trò tôi trong những trải nghiệm Mĩ thuật ngày một đáng nhớ hơn. Trải nghiệm “gieo vần thơ” với chủ đề: Em sáng tạo cùng những con chữ.(Lớp 4) 14 Một số bài vẽ “Sáng tạo cùng những con chữ” của học sinh. Một số bài vẽ “Sáng tạo cùng những con chữ” của học sinh. 2.1.2 Tăng cường trải nghiệm môn học với các tiết học ngoài không gian lớp. Mĩ thuật là cái đẹp, còn gì tuyệt vời hơn khi được hòa mình và trải nghiệm cùng với thiên nhiên. Chúng ta không thể dạy hiệu quả bài “Sáng tạo với những chiếc lá” mà chỉ ngồi trong lớp và tưởng tượng ra chiếc lá; hay trong quá trình vẽ theo nhạc, thay vì thực hiện trong không gian lớp chật hẹp, gò bó, tôi đã thực hiện di chuyển ra ngoài không gian lớp để các em thay đổi không khí, được nhảy múa, vẽ hòa mình cùng âm nhạc và thiên nhiên. Tương tự như vậy, tùy vào từng chủ đề mà tôi lên kế hoạch thực hiện với từng khối lớp để các 15 em được trải nghiệm với các tiết học ngoài không gian lớp, giúp các em có ý thức bảo vệ môi trường, phát triển phẩm chất và nhân cách một cách tự nhiên. Ngoài ra, Nam Định là địa phương có di tích lịch sử lâu đời, phong cảnh đẹp, có nhiều nghề truyền thống. Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho cô trò chúng tôi có những tiết học chép họa tiết cổ, vẽ tranh phong cảnh để áp dụng vào trong các chủ đề bài học. Với trải nghiệm ngoài không gian lớp, bên cạnh việc thay đổi không gian học tập ra ngoài môi trường, tôi còn có thể tận dụng những chất liệu từ cuộc sống vào trong giảng dạy. Thay vì sử dụng giá vẽ để vẽ, tôi đã cho các em sử dụng những gốc cây được ốp lát sạch sẽ để làm giá vẽ, hay có khi sử dụng những thân cây, cành cây làm nơi trưng bày sản phẩm. Từ đó tạo nên sự mới mẻ nhưng chứa đựng sự gần gũi, thân thương trong mỗi “giờ học Mĩ thuật hạnh phúc” của cô trò chúng tôi. Chúng ta có thể thấy chất liệu ngoài thiên nhiên cuộc sống chính là giáo cụ trực quan, là phương tiện dạy học mà bản thân người giáo viên cần phải phát huy. – Mục tiêu: + Giúp học sinh có tâm thế thoải mái, thư giãn trong các giờ học. + Học sinh có cảm xúc thực tế khi tiếp cận bài học theo hướng mở ngoài không gian lớp. + Sử dụng chất liệu từ thiên nhiên cuộc sống làm giáo cụ trực quan, phương tiện dạy học. + Cách thể hiện sản phẩm gần gũi, chân thật hơn; hình thành tình yêu với thiên nhiên, bồi dưỡng thêm tình yêu quê hương, đất nước. – Phương pháp: Quan sát, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề. – Chuẩn bị: + Giáo viên: Kế hoạch chi tiết, phù hợp với các chủ đề; đồ dùng trực quan,… + Học sinh: Đồ dùng học tập phù hợp với chủ đề. – Biện pháp tiến hành: + Nghiên cứu các chủ đề có thể trải nghiệm ngoài không gian lớp và đặc thù địa phương. + Xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng chủ đề. + Tiến hành trải nghiệm theo kế hoạch. + Rút kinh nghiệm sau quá trình thực nghiệm. 16 Kế hoạch dạy học ngoài không gian lớp học. Ví dụ: + Đối với chủ đề “Sáng tạo với những chiếc lá” – Mĩ thuật lớp 5 và một số chủ đề khác: Tôi đã hướng dẫn các em tìm hiểu trong không gian lớp, sau đó di chuyển ra ngoài không gian lớp thực hiện tìm hiểu về những chiếc lá có trong tự nhiên. Hiệu quả từ việc quan sát, tiếp xúc thực tế bằng các giác quan khác nhau đã giúp các em tạo hình được những sản phẩm sáng tạo hơn cả mong đợi. 17 Tiết dạy ngoài không gian lớp học. Chủ đề 6: Khu vườn kì diệu – Lớp 2. Tiết dạy ngoài không gian lớp học Chủ đề 4: Sáng tạo với những chiếc lá – Lớp 5. 18 Tiết dạy ngoài không gian lớp học Chủ đề 9: Sắc màu thiên nhiên – Lớp 2. Tiết dạy ngoài không gian lớp học Sản phẩm chủ đề 2, bài: “Những chiếc lá kì diệu” – Lớp 1. 19 Tiết dạy ngoài không gian lớp học Chủ đề 7: Vũ điệu của sắc màu – Lớp 4 Tiết dạy ngoài không gian lớp Chủ đề 5: Sự chuyển động của dáng người – Lớp 4. 20 Thay vì sử dụng giá vẽ các em tận dụng những gốc cây được lát đá sạch sẽ. + Đối với chủ đề “Sáng tạo họa tiết, tạo dáng và trang trí đồ vật” – Mĩ thuật lớp 4. Tôi đã tìm hiểu một số di tích lịch sử của địa phương và lên kế hoạch thực hiện trải nghiệm cụ thể: Đền Bình Lãng được công nhận là di tích lịch sử cấp 21 tỉnh với nhiều họa tiết cổ tinh xảo. Các em được lắng nghe những câu chuyện gắn với ngôi đền và người anh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và thực hành chép họa tiết cổ. Từ những bản kí họa, bản in họa tiết, các em đã vận dụng sáng tạo vào trang trí các đồ vật gần gũi như: lọ hoa, khăn tay, mũ nón, trang phục… Thông qua trải nghiệm này, các em bước đầu được tiếp xúc với đồ họa tranh in và có thêm nhiều kiến thức hữu ích cho bản thân. Trải nghiệm kí họa, in họa tiết tại Đền Bình Lãng. 22 Trải nghiệm kí họa, in họa tiết tại Đền Bình Lãng. Sản phẩm chủ đề được áp dụng khi trải nghiệm tại đền Bình Lãng. 23 2.2. Thứ hai: Trải nghiệm sáng tạo trong câu lạc bộ trường học. Qua thực tiễn cho thấy, việc học sinh tham gia các câu lạc bộ là một hình thức trải nghiệm sáng tạo hấp dẫn, phù hợp tâm lí lứa tuổi. Khi tham gia câu lạc bộ, học sinh có cơ hội thể hiện tài năng và niềm đam mê của bản thân đồng thời là môi trường để học sinh tự học hỏi, là nơi vun đắp cho những ước mơ, đam mê của các em. Tham gia câu lạc bộ, các em được làm quen và trải nghiệm với nhiều cách thức sáng tạo hơn, chủ đề mở rộng hơn và chất liệu có thể coi là vô tận. Từ những chất liệu quen thuộc, gần gũi trong cuộc sống hàng ngày như rau, củ, quả cho đến những sợi len, xốp giấy,… cũng giúp các em có được những bức họa nên thơ; từ vẽ cho đến vảy màu, xé dán, gắn dính chất liệu,… cũng giúp các em được luyện rèn đôi tay khéo léo. Hơn hết, bản thân các em sẽ nhận ra giá trị đoàn kết thông qua việc sinh hoạt tập thể, sinh hoạt nhóm và cảm nhận thật sự: “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”! – Mục tiêu: Câu lạc bộ Mĩ thuật là môi trường để các em học sinh bộc lộ và phát huy năng khiếu của mình. Bên cạnh đó còn cung cấp cho các em những kiến thức cơ bản về hội họa, đặc biệt các em được nâng cao khả năng cảm nhận nghệ thuật, tư duy thẩm mỹ và sáng tạo nghệ thuật. – Phương pháp: Quan sát, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề. – Chuẩn bị: + Giáo viên: Kế hoạch chi tiết, phù hợp với các chủ đề; đồ dùng trực quan,… + Học sinh: Đồ dùng học tập phù hợp với chủ đề. – Biện pháp tiến hành: + Xây dựng kế hoạch thành lập câu lạc bộ. + Tuyên truyền tới toàn thể Liên đội về mục đích, lợi ích và nội quy của câu lạc bộ. + Hướng dẫn các em học sinh có nguyện vọng tham gia câu lạc bộ viết đơn xin tham gia. + Giáo viên chuyên trách câu lạc bộ lên kế hoạch thực hiện các chủ đề học của câu lạc bộ. Ví dụ: Đối với chủ đề “Bàn tay yêu thương”. – Mục tiêu: + Giúp học sinh biết thực hiện kĩ thuật in bàn tay. + Giúp học sinh có tinh thần đoàn kết thông qua hoạt động học tập. + Giúp học sinh biết tận dụng các vật liệu đã qua sử dụng để tạo hình sản phẩm. 24 – Phương pháp: Quan sát, làm việc cá nhân, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề. – Chuẩn bị: + Giáo viên: Một số vật liệu đã qua sử dụng, sản phẩm mẫu. + Học sinh: Một số vật liệu đã qua sử dụng, đồ dùng học tập. – Biện pháp tiến hành: + Thời gian sinh hoạt câu lạc bộ: chiều thứ 4. + Nhắc nhở học sinh chuẩn bị đồ dùng cần thiết trước mỗi chủ đề. + Giáo viên chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng phù hợp với chủ đề. + Tiến hành thực hiện chủ đề “Bàn tay yêu thương” theo kế hoạch của câu lạc bộ. Từ những bàn tay đơn lẻ của mỗi cá nhân được in trên giấy bìa, giấy báo, giấy thủ công, các em đã cùng nhau tạo hình những “Tay yêu thương, cây đoàn kết” bằng nhiều cách thức khác nhau như: vò giấy, xé dán giấy, kết hợp với một số chất liệu khác (ống hút, sợi len…). Sản phẩm của chủ đề “Bàn tay yêu thương”. Khi hoàn thành một chủ đề của câu lạc bộ, tôi thường cho học sinh mang sản phẩm về nhà để trưng bày thành góc Mĩ thuật ở gia đình; ngoài ra trong các buổi sinh hoạt dưới cờ đầu tuần tôi thường lựa chọn những bài vẽ đặc sắc của 25 các hội viên trong câu lạc bộ để các em giới thiệu, chia sẻ trước toàn trường hay tổ chức các buổi triển lãm tranh vẽ, trưng bày sản phẩm của học sinh trong câu lạc bộ vào các ngày sinh hoạt tập thể. Điều này cũng giúp khích lệ, động viên các em phấn đấu hơn, yêu thích môn học hơn. Sau một thời gian hoạt động tôi nhận thấy câu lạc bộ rất phù hợp với khả năng của các em, các em thích thú và say mê với môn học hơn; số lượng hội viên xin tham gia vào câu lạc bộ tăng nhiều so với ngày đầu thành lập. Hình ảnh sản phẩm trong câu lạc bộ. 26 Một số hình ảnh sản phẩm trong câu lạc bộ. 2.3. Thứ ba: Trải nghiệm sáng tạo trong các hoạt động tập thể. Trong quá trình giảng dạy, tôi đã tích hợp hoạt động trải nghiệm theo kế hoạch của liên đội vào dạy học môn Mĩ thuật, thực hiện điều chỉnh một số chủ đề ở các khối lớp sao cho phù hợp với kế hoạch của Liên đội để các em được tham gia trải nghiệm theo chủ đề bài học. 27 – Mục tiêu: Hoạt động tổ chức trải nghiệm sáng tạo trong các hoạt động tập thể sẽ giúp học sinh có nhiều cơ hội được giao lưu, trải nghiệm, học hỏi, thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn đời sống đồng thời phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân. – Phương pháp: Quan sát, làm việc cá nhân, nhóm, giải quyết vấn đề. – Chuẩn bị: + Giáo viên: Kế hoạch chi tiết, phù hợp với các chủ đề; đồ dùng trực quan,… + Học sinh: Đồ dùng học tập phù hợp với chủ đề. – Biện pháp tiến hành: + Nghiên cứu điều chỉnh lại một số các chủ đề sao cho phù hợp với kế hoạch trải nghiệm của liên đội. + Xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng chủ đề. + Tiến hành trải nghiệm theo kế hoạch. + Rút kinh nghiệm sau quá trình thực nghiệm. Ví dụ: Đối với chủ đề “Chú bộ đội của chúng em” – lớp 5. – Mục tiêu của chủ đề: + Biết được một số hoạt động cơ bản của bộ đội và đặc điểm về trang phục của một số quân chủng trong Quân đội nhân dân Việt Nam. + Thể hiện được hình ảnh chú bộ đội. + Giới thiệu cá nhân được về sản phẩm của nhóm mình, nhóm bạn. – Chuẩn bị: + Giáo viên: Kế hoạch cụ thể. + Học sinh: Sổ bút ghi chép. – Phương pháp: Quan sát, làm việc cá nhân, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề. – Biện pháp tiến hành: + Trước tiên tôi nghiên cứu trải nghiệm của Liên đội để nắm rõ nội dung, hoạt động của trải nghiệm. + Tôi định hướng trước cho các em quan sát, ghi nhớ một số hoạt động cơ bản của bộ đội và cảnh quan xung quanh đơn vị. + Trải nghiệm cùng Liên đội. Giáo viên quan sát, hỗ trợ, nhắc nhở các em ghi nhớ, ghi chép. + Triển khai chủ đề bài học. Sản phẩm Mĩ thuật được tạo hình sau quá trình quan sát, ghi nhớ tại trải nghiệm “Một ngày làm chiến sĩ” trở nên ch
Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY
Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education