• SKKN Một số giải pháp hướng dẫn học sinh học và thi Khoa học Địa lý bằng tiếng Anh

    SKKN Một số giải pháp hướng dẫn học sinh học và thi Khoa học Địa lý bằng tiếng Anh

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa hiện nay, ai trong chúng ta cũng hiểu được tầm quan
    trọng của tiếng Anh. Thông thạo ngôn ngữ này, các em học sinh sẽ nắm bắt được nhiều
    cơ hội tốt trong tương lai như du học ở các nước có nền kinh tế phát triển, làm việc tại
    nhiều các tập đoàn kinh tế đa quốc gia, các công ty nước ngoài, có nhiều cơ hội để tìm
    việc làm với mức lương tốt…
    Xu hướng học các môn Khoa học bằng tiếng Anh phát triển nhanh chóng bởi nó
    mang đến nhiều lợi ích thiết thực về cơ hội thực hành ngoại ngữ và tiếp xúc với kiến thức
    Khoa học quốc tế hiệu quả nhất cho học sinh. Chương trình môn Khoa học có thể là
    những môn học riêng lẻ như: Toán, Lý, Hoá, Sinh, Sử, Địa, … hoặc có thể là một môn
    Khoa học chung kết hợp các kiến thức của nhiều lĩnh vực khác nhau lại với nhau. Khoa
    học giúp học sinh hình thành tư duy logic, hiểu rõ các hiện tượng xảy ra hằng ngày trong
    đời sống quanh ta, phát triển khả năng phân tích, nâng cao các kỹ năng giải quyết vấn đề
    không chỉ trong học tập mà cả trong cuộc sống. Do đó, việc kết hợp giảng dạy kiến thức
    các môn Khoa học mà lại bằng tiếng Anh đã đem đến những ưu thế nổi bật khiến cho xu
    hướng học Khoa học bằng tiếng Anh ngày càng mở rộng. Việc học các môn: Toán, Lý,
    Hoá, Sinh, Sử, Địa …bằng tiếng Anh mang đến những lợi ích không thể chối bỏ như:

    • Hoàn thiện về kiến thức, kỹ năng tiếng Anh
    • Tạo nền tảng tiếng Anh ngữ học thuật vững chắc.
    • Tăng khả năng đọc hiểu và nghiên cứu sâu tài liệu quốc tế về chuyên ngành mình học.
    • Hỗ trợ cho việc học lên các chương trình đại học bằng tiếng Anh hoặc du học
      nước ngoài…
      Học các môn Khoa học bằng tiếng Anh không mới, mặc dù chưa được phổ biến
      rộng rãi, nhưng xu hướng học các môn Khoa học bằng tiếng Anh thì đang ngày càng nở
      rộ tại các trường công lập trong cả nước để nâng cao chất lượng giáo dục. Rất nhiều phụ
      huynh hiện nay có xu hướng cho con em mình học Khoa học bằng tiếng Anh, nhưng đa
      số họ chưa hiểu Khoa học bằng tiếng Anh bao gồm những gì? Việc học Khoa học mang
      đến những giá trị gì cho học sinh?
      Khoa học trong chương trình phổ thông bao gồm hai nhánh chính là khoa học tự
      nhiên và khoa học xã hội. Nếu như khoa học xã hội tập trung nghiên cứu văn học, lịch sử,
      địa lý, giáo dục pháp luật… thì khoa học tự nhiên xoay quanh các môn như vật lý, hóa
      học, sinh học… Ở cấp độ cơ bản mới tiếp cận, học sinh sẽ học dưới dạng khoa học vật
      chất (Physical Science), khoa học đời sống (Life Science), khoa học Trái Đất (Earth
      Science)… còn khi đạt đến trình độ nhất định, môn học sẽ được tách thành Vật lý
      (Physics), Hóa học (Chemistry), Sinh học (Biology), địa lí (Geographic)…. Khoa học
      bằng tiếng Anh không chỉ mang đến kiến thức chuyên môn mà còn giúp nâng cao khả
      năng tiếng Anh giao tiếp. Học sinh ngoài sở hữu trình độ chuyên môn còn sử dụng thành
      2
      thạo kỹ năng ngoại ngữ, đem đến nền tảng Anh ngữ chuyên ngành, giúp học sinh dễ dàng
      tìm hiểu sâu hơn tài liệu, thông tin về chuyên ngành học bằng tiếng Anh ở bậc cử nhân.
      Căn cứ vào chỉ thị số 3575/CT- BGĐT ngày 10/09/2014 của Bộ Giáo dục và Đào
      tạo về việc tăng cường triển khai thực hiện nhiệm vụ dạy và học ngoại ngữ trọng hệ
      thống giáo dục quốc dân cùng với công văn sô 3892/BDGĐT-GDTH ngày 28/08/2019
      của Bộ Giáo dục và Đào tạo về hướng dẫn thực hiện nhệm vụ Giáo dục Trung học năm
      2019-2020; Quyết định số 2005/QĐ – UBND ngày 10/11/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh
      Nam Định về phê duyệt đề án dạy học ngoại ngữ trong các cơ sở giao dục phổ thông tỉnh
      Nam Định giao đoạn 2011-2020; Kế hoạch số 93/KH-UBND ngày 03/7/2019 của UBND
      tỉnh Nam Định về việc triển khai thực hiện Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống
      giáo dục quốc dân giai đoạn 2019-2025; Quyết định số 1792/QĐ-UBND ngày 20/8/2021
      của UBND tỉnh Nam Định về việc Phê duyệt đề án Tăng cường giảng dạy tiếng Anh
      trong các trường phổ thông tỉnh Nam Định giai đoạn 2021-2026. Nhằm nâng cao năng
      lực ngoại ngữ cho học sinh THPT, sở Giáo dục đã phát động hội thi giải Toán và các
      môn khoa học bằng tiếng Anh trong đó có môn Địa lí.
      Ở Việt Nam, để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn
      nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng yêu cầu hội
      nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học, giáo dục phổ thông đã và đang đổi mới
      mạnh mẽ theo hướng hội nhập quốc tế, từ đó mà học sinh hiểu được học các môn bằng
      Tiếng anh trong đó có môn Địa lí sẽ giúp mình hiểu rõ được mục tiêu là: Học để biết,
      Học để làm, Học để tự khẳng định mình và Học để cùng chung sống. Đồng thời tạo sân
      chơi giúp học sinh tự tin, mạnh dạn sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp và tham gia vào
      các hoạt động giao lưu, trải nghiệm, tham dự các cuộc thi khoa học bằng tiếng Anh trong
      và ngoài nước đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Tạo môi trường cho giáo viên giảng
      dạy môn các môn khoa học được giao lưu, học hỏi, trao đổi chia sẻ kinh nghiệm giúp
      tăng cường năng lực tiếng Anh, phương pháp sư phạm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
      đối với các môn học này. Năm học 2018-2019, trường THPT Mỹ Lộc đã triển khai thực
      hiện nhiệm vụ củả giáo viên và học sinh với việc tham gia hội thi giải Toán và các môn
      khoa học bằng tiếng Anh trong đó có môn Địa lí.
      Từ thực tế giảng dạy bộ môn, tôi thấy môn Địa lí là bộ môn mang màu sắc của
      nhiều môn học khác nhau, nhất là trong thời kỳ hội nhập và bùng nổ thông tin. Thứ hai
      với mục tiêu để ngoại ngữ trở thành một ngôn ngữ chứ không phải là một môn học, nên
      tôi đã mạnh dạn đưa ra sáng kiến “Một số biện pháp hướng dẫn học sinh học và thi
      môn Địa lí bằng tiếng Anh lớp 11” .Với mong muốn được chia sẻ những kinh nghiệm
      trong quá trình thực hiện các biện pháp “hướng dẫn học sinh học và thi khoa học Địa lí
      bằng Tiếng Anh” cho học sinh và bạn bè đồng nghiệp đạt được kết quả tốt nhất.
      II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
      Trong một xã hội ngày càng toàn cầu hóa, việc bạn có thể nói hai hoặc nhiều ngôn
      ngữ là một lợi thế rất quan trọng trong học tập và làm việc, đặc biệt là môn Tiếng Anh.
      Thực tế hiện nay, đất nước ta đang trên đường nhập kinh tế quốc tế, xã hội đang sống
      3
      trong thời đại công nghệ 4.0. Với chính sách mở cửa, phát triển kinh tế thị trường những
      năm qua đất nước ta đã thu hút rất nhiều các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Đây là
      cơ hội rất tốt để các bạn học sinh có thể làm việc với các nhà đầu tư nước ngoài trên
      chính quê hương mình. Mặt khác đây cũng là cơ hội cho nhiều học sinh Việt Nam có cơ
      hội du học, đầu tư phát triển kinh tế xã hội ở các nước có nền kinh tế tiên tiến trên thế
      giới. Tuy nhiên, để nắm bắt được cơ hội này đòi hỏi học sinh Việt Nam không chỉ có
      kiến thức chuyên ngành tốt mà còn có kĩ năng tiếng Anh chuyên ngành tốt.
      Nhiều trường Đại hoc hàng đầu thế giới yêu cầu học sinh muốn nhận được học
      bổng của trường mình ngoài kết quả học tập tốt, đạt giải các cuộc thi tầm cỡ quốc gia,
      quốc tế thì cần phải có chứng chỉ tiếng ngoại ngữ: IELTS, SAT, TOEIC, TOEF
      Cambridge, ESOL, GRE, GMAT… ; viết bài luận bằng tiếng Anh với nhiều chủ đề của
      xã hội liên quan đến Địa lí như môi trường, tài nguyên, bảo vệ sinh vật, việc làm,…;
      đồng thời học sinh quay video nói bằng tiếng Anh để họ thấy được năng lực thực sự của
      học sinh đó về cả tiếng Anh, lẫn kĩ năng thuyết trình, kĩ năng tự tin và kiến thức về lĩnh
      vực mà học sinh trình bày. Hiện nay theo con đường này nhiều bạn học sinh đã tìm kiếm
      được học bổng và hoàn thành được ước mơ đi du học tại ngôi trường, đất nước mà mình
      mong ước.
      Trong xu thế này, nhiều trường đại học lớn trên đất nước ta để đón nhận được học
      sinh có chất lượng, có khả năng tiếp thu được những thành tựu mới của nền kinh tế hội
      nhập; để có đầu ra có chất lượng cao họ đã tiến hành tuyển đầu vào thẳng có các học sinh
      có điểm thi ngoại ngữ IELTS, SAT, TOEIC, TOEF Cambridge, ESOL, GRE, GMAT …
      cao, hoặc cộng điểm ưu tiên. Các trường đại học chọn chuẩn ngoại ngữ quốc tế để tuyển
      đầu vào nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, chuẩn bị đội ngũ nhân sự đáp ứng các đòi hỏi
      cao của quốc tế là điều tất yếu. Nếu nhìn vào thực tế nhiều năm qua, sinh viên Việt Nam
      tốt nghiệp đại học nhưng vẫn bị các doanh nghiệp nước ngoài chê vì năng lực ngoại ngữ
      nói chung và tiếng Anh nói riêng còn kém, dù năng lực chuyên môn tốt. Chúng ta có thể
      cảm nhận được nỗi đau khó xoa dịu của các trường đại học. Chính các cử nhân, kỹ sư
      cũng cảm nhận rõ sự thiệt thòi này khi phải chấp nhận làm việc với mức lương thấp hơn
      năng lực và bỏ phí cơ hội tiếp tục học cao hơn hoặc làm việc ở những vị trí tốt hơn chỉ vì
      trình độ ngoại ngữ còn hạn chế.
      Về phía nhà trường, thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Sở giáo dục và Đào
      tạo Nam Định về dạy tiếng Anh cho học sinh THPT, trong các năm học gần đây, trường
      THPT Mỹ Lộc đã có kế hoạch và triển khai công tác kết nối với các trung tâm dạy tiếng
      Anh để đưa giáo viên nước ngoài dạy tiếng Anh vào trong nhà trường giảng dạy. Việc
      đưa giáo viên nước ngoài vào dạy hàng tuần giúp học sinh được tiếp cận với kĩ năng
      nghe, nói, đọc viết được gần hơn, hiệu quả hơn. Ngoài ra học sinnh còn được tham gia
      sân chơi như : “Hùng biện tiếng Anh cấp tỉnh”. Tuy nhiên để để năng cao kĩ năng về
      tiếng Anh học sinh cần tiếp cận qua nhiều các kênh khác như: youtobe, học qua các trung
      tâm, tự học, học nhóm…. Với cuộc cách mạng công nghệ 4.0 học sinh được tiếp cận với
      nhiều cách học mới, tài liệu mới, môi trường học mới nhưng nhìn chung kiến thức tiếng
      Anh của học sinh của trường vẫn còn hạn chế.
      4
      Về phía cha mẹ học sinh, hầu hết gia đình học sinh THPT Mỹ Lộc đều sinh sống ở
      địa bàn nông thôn, đa số cha mẹ các bạn đều làm nông nghiệp kết hợp với làm thêm các
      nghề phụ khác nên việc đầu tư cho con học thêm tiếng Anh gặp khó khăn vì kinh phí học
      ngoại ngữ rất cao. Muốn con tự học ở nhà thì bố mẹ cần đầu tư cho con máy tính, kết nối
      mạng internet và nộp tiền qua các tài khản mạng để con có thể tham gia các khóa học
      trên mạng do đó rất tốn kém.
      Về phía học sinh, đa số học sinh cả ba khối trường THPT Mỹ Lộc đều đã biết đến
      việc mình có giỏi tiếng Anh rất quan trọng đặc biệt là các bạn nào có ý định đi du học,
      làm hướng dẫn viên du lịch, làm ngành luật, làm các tập đoàn lớn, các công ty nước
      ngoài, làm ở các tổ chức phi chính phủ … Hầu hết các em khi được hỏi về ngành nghề mơ
      ước và ngành nghề phù hợp với bản thân và xu hướng xã hội, các em có khả năng ngoại
      ngữ đều muốn thi ngành ngoại thương, thương mại, du lịch, ngân hàng, du học… nhưng
      điểm thi ngoại ngữ lại không được cao. Hạn chế lớn nhất của học sinh Việt Nam nói
      chung và học sinh trường THPT Mỹ Lộc nói riêng là kĩ năng nói và kĩ năng nghe. Thực
      tế nhiều năm qua, sinh viên Việt Nam tốt nghiệp đại học nhưng vẫn bị các doanh nghiệp
      nước ngoài chê vì năng lực ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng còn kém, dù năng
      lực chuyên môn tốt.
      Có thể nói trong thời đại hội nhập quốc tế, việc học sinh có trình độ tiếng Anh tốt
      cùng với chuyên ngành tốt là một điều kiện cực kì quan trọng giúp các em lựa chọn
      ngành nghề tốt, làm việc tốt và sống tốt. Để mỗi học sinh có sự định hướng đúng đắn
      nhất về nghề nghiệp trong tương lai cần phải có sự chung tay hỗ trợ của các lực lượng
      giáo dục trong nhà trường, sự hỗ trợ từ phía cha mẹ học sinh nhưng quan trọng nhất là ý
      chí ham học hỏi, vươn lên, trau dồi kiến thức là một trong yếu tố quyết định sự thành
      công về công việc trong tương lai. Thầy cô, cha mẹ, bạn bè là những nhân tố giúp các em
      có thể năng cao khả năng ngoại ngữ, giúp cho các em tự tin hội nhập với xu thế của toàn
      cầu và tìm ra được nghề phù hợp với năng lực của bản thân mình.
      Với mục đích tạo sân chơi giúp học sinh tự tin, mạnh dạn sử dụng tiếng Anh trong
      giao tiếp và tham gia vào các hoạt động giao lưu, trải nghiệm, tham dự các cuộc thi khoa
      học bằng tiếng Anh trong và ngoài nước đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Tạo môi
      trường cho giáo viên giảng dạy môn khoa học bằng tiếng Anh được giao lưu, học hỏi,
      trao đổi chia sẻ kinh nghiệm giúp tăng cường năng lực tiếng Anh, phương pháp sư phạm
      đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế đối với các môn học này, tôi đã mạnh dạn lựa chọn vấn
      đề này để nghiên cứu.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến.
      Học tiếng Anh đã khó bây giờ học tiếng Anh theo chuyên ngành Địa lí học sinh
      cần phải có kiến thức chuyên sâu về môn Địa lí. Để giúp học sinh có thể học Địa lí bằng
      tiếng Anh ý tưởng bắt đầu từ việc muốn tạo sự mới mẻ, khơi gợi hứng thú cho môn học
      và tăng khả năng ngoại ngữ của học sinh cùng với đó là sở giáo dục đào tạo Nam Định
      phát động hội thi các môn khoa học bằng Tiếng Anh. Tôi đã chọn một số chủ đề Địa lý
      được đề cập nhiều trong sách giáo khoa để hướng dẫn học sinh học bằng tiếng Anh với
      các chủ đề như vị trí (location), địa hình (Topographic), dân số (population), môi trường
      5
      (enviroment), kinh tế (economic), địa danh (sites), đại dương (Ocean), châu lục
      (Continents)… để học sinh đễ tiếp cận. Bên canh đó tôi tìm hiểu nhóm học sinh có trình
      độ tiếng Anh khá tốt yêu thích môn Địa lí kết hợp cùng với tôi để khám phá các chủ đề
      địa lí bằng tiếng Anh trong chương trình phổ thông và chương trình thi quốc tế. Để nâng
      cao kiến thức về tiếng Anh trong lĩnh vực Địa lí tôi đã liên hệ với thầy cô, bạn bè ở
      trường Đại học sư phạm Hà Nội đề có các tài liệu chuyên ngành, tài liệu tiếng Anh của
      môn Địa lí. Trong quá trình học tập tôi cũng đã liên hệ, tổ chức các buổi học với các học
      sinh cũ học giỏi tiếng anh ở các trường đại học Ngoại Thương, đại học Ngoại Ngữ Hà
      Nội, Đại học Sư Phạm Hà Nội qua nền tảng Google meet, Zoom, Zalo, Mersenger… để
      nâng cao khả năng giao tiếp, dịch thuật các từ chuyên ngành. Từ đó học sinh cũng thấy tự
      tin hơn trong khả năng nói, khả năng nghe tiếng Anh. Các bạn học trong nhóm không chỉ
      đơn thuần là học Địa lí mà còn được học tiếng Anh, được giao tiếp, được hiểu về học và
      làm nghề của một số bạn học tiếng Anh khóa trên. Trên cơ sở đó giúp học sinh hiểu được
      mình, tự tin trong việc học ngoại ngữ, trong lựa chọn nghề nghiệp phù hợp cho bản thân
      hơn trong tương lai..
      2.1. Cơ sở lý luận của việc thi khoa học Địa lí bằng tiếng Anh
      2.1.1. Các công văn chỉ đạo.
      Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân,
      triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm
      đến năm 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của
      nguồn nhân lực, nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên
      Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng
      độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ,
      đa văn hóa; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự
      nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
      Ngày 30 tháng 9 năm 2008 Thủ tướng đã ra Quyết định số 1400/QĐ-TTg của Thủ
      tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc
      dân giai đoạn 2008 – 2020″
    3. Mục tiêu chung
      Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân,
      triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm
      đến năm 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của
      nguồn nhân lực, nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên
      Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng
      độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ,
      đa văn hóa; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự
      nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
    4. Mục tiêu cụ thể
      a) Triển khai thực hiện chương trình giáo dục 10 năm, bắt đầu từ lớp 3 môn ngoại ngữ bắt
      buộc ở các cấp học phổ thông. Từ năm 2010 – 2011 triển khai dạy ngoại ngữ theo chương trình mới
      6
      cho khoảng 20% số lượng học sinh lớp 3 và mở rộng dần quy mô để đạt khoảng 70% vào năm học
      2015 – 2016; đạt 100% vào năm 2018 – 2019;
      b) Triển khai chương trình đào tạo tăng cường môn ngoại ngữ đối với giáo dục nghề
      nghiệp cho khoảng 10% số lượng học sinh dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp vào năm
      học 2010 – 2011, 60% vào năm 2015 – 2016 và đạt 100% vào năm học 2019 – 2020;
      c) Triển khai chương trình đào tạo tăng cường môn ngoại ngữ đối với giáo dục đại
      học (cả các cơ sở đào tạo chuyên ngữ và không chuyên ngữ) cho khoảng 10% số lượng
      sinh viên cao đẳng, đại học vào năm học 2010 – 2011; 60% vào năm học 2015 – 2016 và
      100% vào năm 2019 – 2020;
      d) Đổi mới việc dạy và học ngoại ngữ trong chương trình giáo dục thường xuyên
      với nội dung, chương trình đào tạo phù hợp với các cấp học, trình độ đào tạo, góp phần
      tích cực vào công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ ngoại ngữ cho nguồn nhân lực, đội
      ngũ cán bộ, viên chức; thực hiện đa dạng hóa các hình thức học tập, đáp ứng nhu cầu
      người học.
      Phấn đấu có 5% số cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước có trình
      độ ngoại ngữ bậc 3 trở lên vào năm 2015 và đạt 30% vào năm 2020.
      Ngày 22/12/2017 Quyết định số 2080/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc
      Phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục
      quốc dân giai đoạn 2017-2025 trong đó :
    5. Mục tiêu chung
      Đổi mới việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, tiếp tục triển
      khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nâng cao
      năng lực sử dụng ngoại ngữ đáp ứng nhu cầu học tập và làm việc; tăng cường năng lực
      cạnh tranh của nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập, góp phần vào công cuộc xây dựng
      và phát triển đất nước; tạo nền tảng phổ cập ngoại ngữ cho giáo dục phổ thông vào năm
      2025.
    6. Mục tiêu cụ thể
    • Đối với giáo dục phổ thông:Đến năm 2025, phấn đấu 100% học sinh từ lớp 3 đến
      lớp 6 được học chương trình ngoại ngữ 10 năm (bắt đầu từ lớp 3 đến lớp 12).
    • Đối với giáo dục nghề nghiệp: Đến năm 2025, 50% các cơ sở giáo dục nghề
      nghiệp triển khai chương trình ngoại ngữ theo chuẩn đầu ra và ngành, nghề đào tạo,
    • Đối với giáo dục đại học:Đến năm 2025, phấn đấu 100% các ngành đào tạo
      chuyên ngoại ngữ triển khai chương trình ngoại ngữ theo chuẩn đầu ra và ngành đào tạo;
      80% các ngành khác triển khai chương trình ngoại ngữ theo chuẩn đầu ra và ngành đào
      tạo; triển khai một số chương trình đào tạo giáo viên bằng ngoại ngữ.
    • Đối với các cơ sở đào tạo có ngành sư phạm ngoại ngữ: Đến năm 2025, phấn đấu
      100% sinh viên tốt nghiệp đạt yêu cầu theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên và khung năng
      lực giáo viên ngoại ngữ theo các cấp học và trình độ đào tạo.
      Đến năm 2025, phấn đấu hoàn thành việc xây dựng các chương trình bồi dưỡng
      năng lực ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức (không bao gồm đội ngũ
      7
      giáo viên, giảng viên ngoại ngữ), ưu tiên các chương trình tự bồi dưỡng; tổ chức bồi
      dưỡng năng lực ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức (không bao gồm đội
      ngũ giáo viên, giảng viên ngoại ngữ).
      Căn cứ vào chỉ thị số 3575/CT-BGDĐT ngày 10/9/2014 của Bộ Giáo dục và Đào
      tạo về việc Tăng cường triển khai thực hiện nhiệm vụ dạy và học ngoại ngữ trong hệ
      thống giáo dục quốc dân; Quyết định số 2658/QĐ-BGDĐT ngày 23/7/2018 của Bộ Giáo
      dục và Đào tạo về việc ban hành kế hoạch triển khai Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ
      thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2017-2025 QĐ số 2005//QĐ-UBND ngày 10/11/2011
      của Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định về phê duyệt Đề án dạy và học ngoại ngữ trong các
      cơ sở giáo dục phổ thông tỉnh Nam Định giái đoạn 2011-2020. Công văn 3892 BGDĐTGDTrH ngày 28/08/2019 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về hướng dẫn nhiệm vụ Giáo dục
      Trung học năm 2019-2020; Kế hoạch số 93/KH-UBND ngày 03/7/2019 của UBND
      tỉnh Nam Định về việc triển khai thực hiện Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ
      thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2019-2025; Quyết định số 1792/QĐ-UBND
      ngày20/8/2021 của UBND tỉnh Nam Định về việc Phê duyệt đề án Tăng cường giảng dạy
      tiếng Anh trong các trường phổ thông tỉnh Nam Định giai đoạn 2021-2026, Sở GDĐT
      xây dựng kế hoạch tổ chức Hội thi giải Toán và các môn khoa học bằng tiếng Anh từ
      năm 2018 -2019 đến nay. Mục đích:
    • Tạo sân chơi giúp học sinh tự tin, mạnh dạn sử dụng tiếng Anh trong giao
      tiếp và tham gia vào các hoạt động giao lưu, trải nghiệm, tham dự các cuộc thi Toán và
      khoa học bằng tiếng Anh trong và ngoài nước đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế;
    • Tạo môi trường cho giáo viên giảng dạy môn Toán và các môn khoa học
      được giao lưu, học hỏi, trao đổi chia sẻ kinh nghiệm giúp tăng cường năng lực tiếng Anh,
      phương pháp sư phạm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế đối với các môn học này.
      Căn cứ vào các quyết đinh, chỉ thị, công văn và kế hoạch của các cấp; từ năm học
      2018-2019, trường THPT Mỹ Lộc cũng đã tiến hành tổ chức hướng dẫn học sinh khối 11
      (khuyến khích học sinh khối 10) tham gia hội thi giải toán và các môn khoa học bằng
      tiếng Anh trong đó có bộ môn Địa lí.
      2.1.2. So sánh giữa khoa học Địa lí và chương trình môn học Địa lí trong nhà
      trường phổ thông.
      Địa lí là một ngành khoa học có lích sử phát triển lâu đời, có tính đặc thù bới đó là
      một hệ thống khoa học gồm địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế – xã hội. Khoa học là quá trình
      nghiên cứu và thực nghiệm trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống con người. Khoa học bằng
      tiếng Anh được đưa vào chương trình giảng dạy dưới dạng phân môn tổng quát ở cấp 1
      và cấp 2 trước khi phân hóa thành các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí ở
      cấp 3. Chương trình Khoa học bằng tiếng Anh bao gồm các kiến thức từ cơ bản đến kiến
      thức nâng cao.
      Khoa học Địa lí vẫn được coi là một hệ thống gồm có hai ngành khoa học: Địa lí tự
      nhiên và Địa lí kinh tế – xã hội. Hai ngành đó đã được phản ánh trong chương trình môn
      Địa lí học ở nhà trường. Chương trình này gồm cả hai phần: Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh
      tế – xã hội. Trong Địa lí tự nhiên, học sinh được học những tri thức cơ sở về cả Địa lí tự
      8
      nhiên đại cương lẫn Địa lí tự nhiên các nước và các khu vực. Trong Địa lí kinh tế -xã hội,
      học sinh được học những tri thức về Địa lí kinh tế – xã hội đại cương và Địa lí kinh tế -xã
      hội khu vực.
      Toàn bộ những tri thức được chọn lọc, dạy trong nhà trường phổ thông nói chung
      đều được sắp xếp theo tính chất khoa học của địa lí: Địa lí tự nhiên học trước, Địa lí kinh
      tế – xã hội, các yếu tố đại cương được cung cấp làm cơ sở cho Địa lí khu vực, quốc gia.
      Những quan điểm, những học thuyết đúng đắn trong Khoa học Địa lí, đương nhiên sẽ
      được thể hiện trong nội dung chương trình, trong sách giáo khoa cũng như trong phương
      pháp dạy học ở nhà trường. Nói một cách đơn giản, học về địa lý chính là học về thế giới
      chúng ta đang sinh sống.
      Điểm khác biệt quan trọng nhất giữa khoa học Địa lí và môn Địa lí trong nhà trường
      là về mặt mục tiêu và nhiệm vụ mà chúng nhằm đạt tới. Một bên nhằm tới chân lí khoa
      học, một bên thì nhằm tới việc giáo dục thế hệ trẻ. Nếu khoa học Địa lí có nhiệm vụ chủ
      yếu là nghiên cứu, tìm ra những chân lí mới, phát hiện ra những quy luật địa lí tự nhiên
      và địa lí kinh tế -xã hội, giải thích sự phân hoá lãnh thổ ở các cấp quy mô khác nhau thì
      môn Địa lí trong nhà trường lại có nhiệm vụ chọn lọc và giảng dạy những tri thức, chân lí
      đã được tìm ra và được thừa nhận. Đồng thời, môn Địa lí trong nhà trường còn có nhiệm
      vụ phải rèn luyện cho học sinh một loạt các kĩ năng, kĩ xảo giúp cho học sinh có khả
      năngvận dụng tri thức địa lí một cách có hiệu quả vào thức tiễn cuộc sống.
      Môn Địa lí trong nhà trường còn khác với khoa học Địa lí về phạm vi và khối lượng
      tri thức. Khoa học Địa lí có một phạm vi tri thức vô cùng rộng lớn và phong phú. Khối
      lượng tài liệu đó không ngừng được mở rộng và tăng lên rất nhanh. Đương nhiên, không
      thể đưa toàn bộ khối lượng tri thức đó vào nhà trường để giảng dạy cho học sinh mà chỉ
      cần lựa chọn những kiến thức và kĩ năng cơ bản nhất, phù hợp với mục tiêu đào tạo của
      nhà trường nói chung, của từng cấp học nói riêng và phù hợp với trình độ nhận thức của
      từng lứa tuổi học sinh. Trong khi xác định phạm vi, khối lượng, chiều sâu và mức độ
      chính xác của tri thức, phải chú ý đến tính chất phổ thông của nhà trường và thời gian
      giành cho môn học trong kế hoạch giảng dạy. Về mặt này có sự phân biệt rõ ràng ranh
      giới việc đào tạo ở các trường phổ thông và các trường chuyên nghiệp. Những tri thức
      dạy ở các trường phổ thông, chủ yếu nhằm giúp cho học sinh học tập có kết quả và khi
      trường thành, họ làm tốt nhiệm vụ của người công dân, người lao động có văn hoá trong
      xã hội. Còn những kiến thức và kĩ năng dạy ở trường chuyên nghiệp chủ yếu là giúp cho
      học sinh có được một trình độ hiểu biết chuyên môn nhất định về ngành nghề được đào
      tạo. Môn Địa lí trong nhà trường còn có trình tự sắp xếp các tài liệu trước sau, ngang dọc
      khác với khoa học Địa lí. Trình tự đó trong khoa học được xác định thuần tuý bởi logic
      của bản thân khoa học, còn trình tự sắp xếp tài liệu trong môn học ở trường phổ thông thì
      chủ yếu lại do lôgic nhận thức và đặc điểm tâm lí, sinh lí học sinh quyết định.
      2.1.3. Cấu trúc của chương trình môn địa lý lớp 11 và phạm vi kiến thức của hội thi
      khoa học Địa lý bằng tiếng Anh
      Chương trình Địa lí 11 được chia thành 2 phần chính:
      A. Khái quát nền kinh tế – xã hội thế giới.
      9
      Phần này chương trình địa lí lớp 11 tìm hiểu về các vấn đề kinh tế – xã hội của thế
      giới nổi bật: như sự tương phản trình độ kinh tế – xã hội của các nhóm nước; cuộc cách
      mạng khoa học và công nghệ hiên đại; xu hướng toàn cầu hóa – khu vực hóa; một số vấn
      đề toàn cầu; một số vấn đề của châu lục và khu vực châu Phi, Mĩ La Tinh, Trung Á và
      Tây Nam Á)
      B. Địa lí khu vực và quốc gia
      Phần này chương trình giới thiệu địa lí kinh tế – xã hội của các tổ chức và khu vực
      như: Liên minh châu Âu (EU), khu vực Đông Nam Á; địa lí kinh tế – xã hội các quốc gia
      như: Hợp chúng quốc Hoa Kì, Liên bang Nga, Nhật Bản, Cộng hòa nhân dân Trung
      Hoa.
      Chương trình thi khoa học môn địa lí bằng tiếng Anh chủ yếu diễn ra vào chương
      trình học kì I, đầu học kì II nên ngoài chương trình địa lí lớp 11 cần hướng dẫn học sinh
      tìm hiểu thì giáo viên còn hướng dẫn các em tìm hiểu kiến thức địa lí của các chương
      trình lớp trước, các kiến thức địa lí mới cập nhật trên các phương tiện truyền thông. Vì
      đây là một môn khoa học, khi giải thích bất cứ vấn đề gì thì học sinh có cách nhìn nhận
      logic mọi vấn đề trong cuộc sống dưới góc độ khoa học chứ không mang tính cảm tính.
      2.1.4. Vai trò của việc học môn khoa học Địa lí bằng tiếng Anh.
      Học các môn bằng tiếng Anh nói chung và học địa lí bằng tiếng Anh nói riêng là
      một xu thế của nhiều nước. Đây là một nhu cầu cực kì thiết yếu của các bạn trẻ khi muốn
      trở thành một công dân toàn cầu. Công dân toàn cầu là những người sống và làm việc ở
      nhiều quốc gia khác nhau. Họ có thể có một hoặc nhiều quốc tịch khác nhau. Ban đầu là
      nhu cầu làm việc và quản lý của các công ty đa quốc gia. Những công ty này có chi
      nhánh, văn phòng đại diện, cơ sở sản xuất, thí nghiệm… rải khắp các châu lục. Từ đội ngũ
      quản lý này đã manh nha hình thành những công dân toàn cầu đầu tiên. Muốn có cơ hội
      đo học sinh không những học giỏi một ngoại ngữ mà còn giỏi một số ngoại ngữ khác nữa.
      Ở trường trung học phổ thông Mỹ Lộc, ngoài tiết ngoại ngữ theo qui định (2 tiết/1
      tuần) và một tiết được học thêm với người nước ngoài thì trình độ ngoại ngữ của học sinh
      cơ bản đã được năng cao nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu hội nhập ngày nay. Tổ
      chức hội thi các môn khoa học bằng tiếng Anh nói chung và môn địa lí bằng tiếng Anh
      nói riêng giúp học sinh nhiều lợi ích như:
    • Không những nắm vững kiến thức chuyên môn địa lí mà còn giúp nâng cao kiến
      thức, kĩ năng về tiếng Anh trong lĩnh vực địa lí, đặc biệt là chương trình địa lí thế giới,
      địa lí khu vực và địa lí một số quốc gia. Giải thích các vấn đề kinh tế xã hội một cách
      logic trên cơ sở khoa học mà không mang tính cảm tính.
    • Nâng cao khả năng đọc, hiểu và nghiên cứu sâu tài liệu quốc tế về chuyên ngành
      địa lí.
    • Hỗ trợ cho việc học lên các chương trình đại học bằng tiếng Anh hoặc du học. Đây
      là xu hướng học đại học và làm việc ngày nay.
      10
    • Nâng cao khả năng ngôn ngữ: Học bằng một thứ tiếng khác thay vì tiếng mẹ đẻ rõ
      ràng giúp học sinh rèn luyện sự nhạy bén với ngôn ngữ. Bởi, nếu như ngày nào cũng
      được tiếp thu kiến thức cùng với loạt thuật ngữ bằng tiếng Anh kèm theo, nhất là đối với
      những môn nhiều thuật ngữ chuyên ngành như địa lí, chắc chắn bạn sẽ “lên trình” ngoại
      ngữ ngay mà chẳng cần phải vùi đầu vào việc học từ vựng – ngữ pháp cật lực.
    • Phát triển tư duy khoa học: Tư duy khoa học hoàn toàn khác biệt với tư duy nghệ
      thuật. Khi học địa lí bằng tiếng Anh, học sinh sẽ có cách nhìn nhận logic mọi vấn đề
      trong cuộc sống dưới góc độ khoa học, tôi luyện niềm đam mê cho những ai có mong
      muốn dấn thân vào nghiên cứu sau này.
    • Tìm kiếm học bổng du học: Du học là trải nghiệm đặc biệt mà phần lớn học sinh
      đều muốn chinh phục. Khi có được kiến thức khoa học bằng tiếng Anh vững chắc, bạn
      nhanh chóng đạt điểm cao trong các kỳ thi quốc tế, cánh cửa đại học không chỉ rộng mở
      mà còn hứa hẹn giúp bạn giành được những suất học bổng có giá trị.
    • Nâng cao triển vọng nghề nghiệp: Các ngành nghề liên quan đến địa lí bằng tiếng
      Anh hiện nay rất đa dạng và phong phú. Học sinh xuất sắc sẽ không phải lo lắng trong
      quá trình chọn trường chọn nghề trong tương lai vì cơ hội luôn sẵn có. Từ kiến thức về tự
      nhiên các em có thể tham gia vào các ngành nghề trồng trọt, chăn nuôi, thiết ké qui hoạch
      các công trình nông nghiệp, quản lí đất đai, bảo vệ môi trường. Với những kiến thức về
      tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội các nước, các khu vực khác nhau trên thế giới các em
      có thể tham gia hoạt động các ngành thương mại, du lịch, tài chính, giáo viên quốc tế,
      làm ở tập đoàn kinh tế lớn, các tổ chức phi chính phủ, các tập đoàn kinh tế trực thuộc
      chính phủ, các dự án về kinh tế…Những học sinh có kiến thức tổng hợp và chuyên ngành
      có khả năng tham gia làm bản đồ, địa chất về thăm dò tài nguyên thiên nhiên, hay nghiên
      cứu nhiều vấn đề kinh tế, xã hội, quản lí đô thi, quản lí xã hội
      Tại sao cần học các môn khoa học bằng tiếng Anh? Vì hầu hết các khoa học mang
      tầm quốc tế đều được viết bằng tiếng Anh, khi dịch ra ngôn ngữ khác ví dụ tiếng Việt thì
      độ chuẩn xác có thể giảm đi, và khi hướng tới trình độ khoa học được quốc tế công nhận
      thì bắt buộc phải hiểu được ngôn ngữ chuyên ngành bằng tiếng Anh; và đây là cơ hội để
      các em học sinh bước đầu tiếp cận với cách thức làm việc và tư duy khoa học quốc tế.
      Như vậy học địa lí bằng tiếng Anh sẽ giúp học sinh vừa có kiến thức bộ môn vừa
      nâng cao năng lực tiếng Anh trong lĩnh vực địa lí; giúp học sinh có nhiều cơ hội tìm việc
      làm, hội nhập quốc tế. Làm tốt điều này giáo dục nói chung và môn địa lí nói riêng đang
      góp phần rất to lớn trong đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay ở nước ta, đẩy nhanh quá
      trình hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng được một thế hệ “công dân toàn cầu” trong thời
      đại mới.
      2.2. Một số giải pháp dạy học địa lí tiếng Anh cho học sinh THPT Mỹ Lộc
      Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng về học địa lí bằng tiếng Anh của học
      sinh THPT Mỹ Lộc, tôi đề xuất tới nhà trường và bản thân đã tham gia thực hiện các
      nhóm giải pháp sau đây:
      11
      2.2.1. Nhóm giải pháp học trực tiếp.
      Dạy học trực tiếp rất quan trọng. Hoạt động này diễn ra thường xuyên và có vai trò
      rất quan trọng trong việc tương tác giữa giáo viên và học sinh, học sinh với học sinh để
      NHÓM GIẢI PHÁP HỌC TRỰC
      TIẾP
      NHÓM GIẢI PHÁP
      HỌC TRỰC TUYẾN
      HOẠT ĐỘNG
      GIỮA GIÁO
      VIÊN VÀ HỌC
      SINH
      HOẠT ĐỘNG
      GIỮA HỌC
      SINH VỚI
      HỌC SINH
      TỰ HỌC QUA CÁC
      TẢNG TRỰC TUYẾN
      HỌC
      NHÓM
      VỚI GIÁO
      VIÊN
      HỌC VỚI
      CÁC BẠN
      KHÓA
      TRÊN
      Học các
      thuật ngữ
      Học các
      chủ đề
      Giải các
      bài thi
      Học
      thuật
      ngữ, và
      lám chủ
      đề
      Làm các
      đề thi.
      HÌNH THÀNH KIẾN THỨC KĨ NĂNG
      ĐỊA LÍ BẰNG TIẾNG ANH
      THAM GIA THI KHOA HỌC
      ĐỊA LÍ BẰNG TIẾNG ANH
      Sơ đồ nhóm giải pháp hướng dẫn học sinh học và thi khoa học địa lí
      bằng tiếng Anh cho học sinh THPT Mỹ Lộc
      12
      lĩnh hội các kiến thức, các kĩ năng đặc thù môn địa lí. Thông qua dạy trực tiếp học sinh
      có thể trao đổi với nhau; rèn các kĩ năng nói, viết, nghe, đọc tiếng Anh trong môn địa lí.
      2.2.1.1. Dạy Địa lí bằng tiếng Anh thông qua hoạt động giữa giáo viên và học sinh
      Thực hiện dạy Địa lí bằng tiếng Anh thông qua hoạt động trực tiếp giữa giáo viên
      và học sinh rất đa dang. Những buổi đầu giáo viên hướng dẫn học sinh học các thuật ngữ
      khoa học liên quan đến địa lí, tiếp sau đó là các buổi giáo viên trực tiếp hướng dẫn học
      sinh nắm các chủ đề cốt lõi của môn địa lí thi bằng tiếng Anh trong chương trình khối 11
      và cả chương trình địa lí các cấp dưới nữa. Khi nắm chắc được các thuật ngữ và nội dung
      chuyên đề được học và thi thì giáo viên hướng dẫn học sinh giải các bài thi quốc tế, trong
      nước, các đề thì giáo viên tự soạn để học sinh làm quen với các dạng bài, cách thức làm
      bài đồng thời cũng củng cố năng cao kiến thức chuyên ngành địa lí, kiến thức địa lí bằng
      tiếng Anh cho học sinh phổ thông.
      2.2.1.1.1. Dạy học Địa lí bằng tiếng Anh thông qua các buổi học thuật ngữ
      Mục tiêu:
      Thông qua buổi học, học sinh sẽ lĩnh hội được các thuật ngữ hay được sử dụng
      trong khoa học địa lí, hiểu được nghĩa và cách dùng thuật ngữ đó trong nội dung nào của
      bộ môn. Từ đây học sinh cũng nắm được thuật ngữ đó dịch sang tiếng Anh là từ gì và
      cách đọc ra sao. Như vậy ban đầu học sinh cũng hiểu được một phần cấu trúc của khoa
      học địa lí gồm 2 mảng chính là địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế – xã hội.
      Cách thức tiến hành:
      Bước đầu của những buổi học địa lí bằng tiếng Anh, tôi viết ra các thuật ngữ hay
      dùng trong môn địa lí thuộc hai lĩnh vực chính là địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế – xã hội
      Sau đó tôi dùng phần mền, từ điển Oxford đề dịch nghĩa các thuật ngữ này sang
      tiếng Anh và gửi cho các thầy cô dạy ngoại ngữ trong trường và các bạn học tiếng anh
      khóa trên thuộc trường Đại học Ngoại Ngữ, Đại học Ngoại Thương, Đại học Sư phạm Hà
      Nội để kiểm tra độ chính xác của thuật ngữ. Tôi in ra một bản các thuật ngữ bằng tiếng
      Việt trước, cho học sinh xem qua, sau đó yêu cầu học sinh cho biết các thuật ngữ đó các
      em đã dịch được các thuật ngữ nào để nắm được khả năng tiếng Anh ban đầu của các em.
      Khi đã nắm được phần nào khả năng tiếng Anh của học sinh thì tôi hướng dẫn học sinh
      tìm các nguồn tra cứu tiếng Anh hay dùng: từ điên Tiếng Anh Oxford, Google dịch. Giáo
      viên giao nhiệm vụ cho học sinh đọc và dịch nghĩa cho nhau nghe bằng tiếng Anh. Ngoài
      ra khi học về chủ đề cùng với giáo viên thì học sinh sẽ cùng tra cứu các thuật ngữ mới về
      địa lí để hiểu nội dung bài học.
      Để giúp học sinh hiểu nghĩa của mỗi từ địa lí bằng tiếng Anh đó, giáo viên giảng
      đến đâu sẽ dùng hình ảnh, hình vẽ đề m

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí 12

    SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí 12

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    iên trong dạy và học, góp phần thúc đẩy việc cải
    tiến, nâng cao chất lượng giáo dục, đồng thời phát hiện những học sinh có năng
    khiếu để tiếp tục bồi dưỡng ở cấp học cao hơn nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước”
    (Điều 1- Quy chế thi chọn học sinh giỏi ban hành theo quyết định 3479/1997/QĐBGD & ĐT ngày 01/11/1997). Như vậy đào tạo bồi dưỡng học sinh giỏi là vấn đề
    cần thiết và cấp bách bởi vì hơn lúc nào hết đất nước đang cần những con người tài
    năng đón đầu tiếp thu những thành tựu khoa học mới, công nghệ hiện đại để phát
    minh ra những sáng kiến đáp ứng những yêu cầu của công cuộc đổi mới hội nhập
    đất nước hiện nay. Bồi dưỡng học sinh giỏi ở bậc THPT là phát huy hết khả năng
    phát triển “tiềm tàng” của học sinh, là tạo nguồn học sinh giỏi cho các cấp học tiếp
    theo, thực hiện chiến lược “bồi dưỡng nhân tài cho đất nước”. Mặt khác kết quả bồi
    dưỡng học sinh giỏi là một tiêu chí không thể thiếu để đánh giá năng lực chuyên
    môn của của giáo viên và sự phát triển của các nhà trường, mỗi học sinh giỏi không
    chỉ là niềm tự hào của cha mẹ, của thầy cô giáo mà còn là niềm tự hào của cả cộng
    đồng.
    Xong để có được sản phẩm học sinh giỏi ở các môn nói chung và môn Địa lí
    nói riêng, người giáo viên phải dày công nghiên cứu, trang bị cho học sinh về
    phương pháp học tập, về kiến thức kỹ năng tốt nhất phù hợp với từng đối tượng học
    sinh và từng địa phương.
    Chính vì thế trong những năm học gần đây, các đội tuyển học sinh giỏi của
    trường nói chung và đội tuyển học sinh giỏi môn Địa lí nói riêng luôn đạt được
    thành tích cao trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh. Để đạt được kết quả như trên,
    tôi đã đúc rút được một số kinh nghiệm trong việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng
    học sinh giỏi môn Địa lí và đã đạt được kết quả trong quá trình giảng dạy. Tôi đã
    thực hiện sáng kiến “Một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh
    giỏi môn Địa lí 12”
    2

    1. Mục đích nghiên cứu
      Thông qua sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất
      lượng bồi dưỡng học sinh giỏi cấp tỉnh môn Địa lí 12” tôi mong muốn góp một
      tiếng nói giúp giáo viên, học sinh, phụ huynh thấy được tầm quan trọng của công
      tác bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và học sinh giỏi môn Địa lí nói riêng.
      Trong sáng kiến, tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm, giải pháp của bản
      thân trao đổi cùng quý thầy cô đồng nghiệp, mong được các thầy cô tham khảo,
      nhận xét, góp ý, bổ sung để nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy, bồi dưỡng học sinh
      giỏi môn Địa lí 12 ở trường THPT hiện nay.
    2. Đối tượng nghiên cứu
      Đề tài này tôi đã sử dụng đối tượng nghiên cứu là các đội tuyển học sinh
      giỏi cấp tỉnh Địa lí 12 từ năm học 2018 – 2019 đến nay ở trường THPT Hoàng Văn
      Thụ- Nam Định.
    3. Phương pháp nghiên cứu
    • Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết
    • Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
    • Phương pháp thống kê, xử lí số liệu.
    • Phương pháp quan sát, phỏng vấn, trao đổi với học sinh
      II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
      1.1. Thực trạng chung
      Môn Địa lí có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ.
      Bước sang thế kỷ XXI, xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá đã và đang diễn ra mạnh
      mẽ. Càng giao lưu, hội nhập quốc tế, càng cần thiết phải có nguồn nhân tài, hướng
      tới thực hiện mục tiêu giáo dục nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
      tài cho đất nước.
      1.2. Thực trạng đối với giáo viên và học sinh
    • Đối với học sinh
      Vấn đề quan trọng đầu tiên trong giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi đó là
      xác định đúng đối tượng học sinh cần chọn. Thông thường, giáo viên trực tiếp đứng
      lớp qua kinh nghiệm giảng dạy sẽ quan sát, chú ý những học sinh tiềm năng, tiếp
      cận và động viên các em tham gia đội tuyển học sinh giỏi Địa lí 12. Những năm
      gần đây do tác động của kinh tế, xã hội và gia đình nên học sinh không hứng thú
      với các bộ môn khoa học xã hội – trong đó có môn Địa lí. Hiện trạng học sinh quan
      3
      niệm Địa lí là “môn phụ” diễn ra khá phổ biến nên ít có sự đầu tư học tập theo đúng
      yêu cầu bộ môn.
      Mặt khác đối tượng học sinh tham gia đội tuyển là học sinh đại trà, học sinh
      còn phải tập trung học nhiều môn văn hóa để thi THPTQG, đây là một vấn đề khó
      khăn, các em ít có sự đầu tư, không có nhiều thời gian học nhất là các em theo khối
      D, việc quan tâm chú trọng môn Địa lí là rất ít.
    • Đối với giáo viên
      Muốn đạt được kết quả tốt trong công tác dạy – học, vai trò của thầy cô giáo
      là rất lớn, phải yêu cầu, hướng dẫn và tổ chức điều kiển học sinh phát triển tư duy
      nhất là tư duy độc lập, sáng tạo; biết tự tiếp thu tri thức từ nhiều nguồn trong đó
      phải kể đến việc giải các dạng câu hỏi trắc nghiệm và câu trả lời ngắn trong quá
      trình học bằng cách tự mình suy nghĩ, đặt vấn đề và giải quyết các vấn đề được đặt
      ra; kết hợp với trao đổi cá nhân , thảo luận nhóm, làm phong phú thêm kiến thức.
      Sau đó, người học tự kiểm tra đánh giá sản phẩm ban đầu sau khi đã trao đổi với
      bạn bè và dựa vào kết luận của thầy cô, tự sửa chữa, tự điều chỉnh, tự hoàn thiện,
      đồng thời tự rút ra kinh nghiệm về cách học, cách xử lí tình huống, cách giải quyết
      vấn đề của mình. Nhiệm vụ tư duy đặt ra cho giáo viên khi bồi dưỡng cho học sinh
      giỏi phần lớn là việc lựa chọn vấn đề tổng hợp, sâu rộng ,chuyên sâu.
      Trước sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, trước sự đòi hỏi ngày
      càng cao của chương trình đổi mới giáo dục phổ thông, của xã hội, giáo viên gặp
      rất nhiều khó khăn trước nhiệm vụ được giao. Để “nâng cao chất lượng bồi dưỡng
      học sinh giỏi “ là không hề đơn giản mà phải được đầu tư, đào tạo, phải dày công
      bồi dưỡng kiến thức cho các em một cách kĩ lưỡng, bài bản. Học sinh “năng khiếu”
      được phát hiện và bồi dưỡng sớm bao nhiêu thì sẽ thu được kết quả tốt bấy nhiêu.
      Nhưng bồi dưỡng học sinh như thế nào để có kết quả tốt là một vấn đề hết sức khó
      khăn đòi hỏi giáo viên phải chuẩn bị kỹ lưỡng…
      Qua thực tế bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí trong các năm qua, tôi thấy
      rằng vấn đề quan trọng là giáo viên bồi dưỡng cần có quan niệm đúng về học sinh
      giỏi nói chung và học sinh giỏi môn Địa lí nói riêng. Bên cạnh đó cần trả lời cho
      câu hỏi “việc bồi dưỡng học sinh giỏi nhằm mục tiêu gì?” để từ đó người giáo viên
      bồi dưỡng lựa chọn nội dung chương trình và phương pháp bồi dưỡng sao cho thích
      hợp và đạt kết quả cao nhất.
      Theo giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Viết Thịnh, giảng viên khoa Địa lí trường Đại
      học Sư phạm Hà Nội, người được ví như “một trong những con chim đầu đàn” của
      ngành khoa học Địa lí kinh tế xã hội Việt Nam và cũng là người có nhiều năm tham
      4
      gia ra đề cho các trường Đại học, cao đẳng, thi học sinh giỏi Địa lí cho rằng “học
      sinh giỏi môn Địa lí chỉ cần học thuộc là chưa đủ, chưa chính xác và Địa lí là môn
      khoa học có đối tượng nghiên cứu phong phú, phức tạp. Các hiện tượng địa lí
      không chỉ phân bố trên bề mặt Trái Đất mà cả không gian và trong lòng đất. Hơn
      nữa, các hiện tượng đó ở đâu và bao giờ cũng phát sinh, tồn tại và phát triển một
      cách độc lập nhưng lại có mỗi quan hệ hữu cơ với nhau. Chính vì vậy, người dạy
      và học địa lí cần có phương pháp tư duy, phân tích, nhận xét các hiện tượng địa lí
      theo quan điểm hệ thống”.
      Với quan điểm trên, chúng ta hiểu rằng học sinh giỏi môn Địa lí là những
      học sinh nắm được kiến thức cơ bản của bộ môn và phải vận dụng được những hiểu
      biết, những kĩ năng Địa lí để giải quyết những nội dung cơ bản theo yêu cầu của đề
      bài, của thực tiễn sống và học sinh giỏi là những học sinh có năng lực độc lập suy
      nghĩ, vận dụng tốt những kiến thức, kĩ năng chắc chắn về địa lí.
      Về mục tiêu bồi dưỡng học sinh giỏi, có nhiều mục tiêu khác nhau tùy theo
      quan điểm của mỗi giáo viên và tùy theo môn học nhưng dù quan niệm như thế
      nào chung quy lại có những điểm tương đồng.
    • Bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và học sinh giỏi môn Địa lí nói riêng nhằm
      phát triển tư duy ở trình độ cao phù hợp với khả năng trí tuệ của học sinh.
    • Bồi dưỡng sự lao động và làm việc một cách sáng tạo.
    • Phát triển các phương pháp, kĩ năng và thái độ tự học suốt đời.
    • Nâng cao ý thức và khát vọng của học sinh.
    • Phát triển phẩm chất lãnh đạo.
    • Có ý thức trách nhiệm trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, giáo dục
      tình yêu quê hương đất nước.
      Với những mục tiêu đó, chúng ta cũng thấy rằng việc bồi dưỡng học sinh
      giỏi hiện nay phần lớn giáo viên ít nhiều đã đáp ứng tương đối đầy đủ 6 mục tiêu
      trên. Điều này đã minh chứng kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi của giáo viên và
      những em đạt giải học sinh giỏi là những em hội tụ đầy đủ các mục tiêu trên.
      Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và môn Địa lí nói riêng được các
      nhà trường chú trọng. Có sự chỉ đạo sát sao, tạo điều kiện về mặt thời gian, cơ sở
      vật chất, kinh phí cho hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi, có chế độ khen thưởng
      kịp thời đối với học sinh cũng như cũng như các giáo viên có học sinh đạt giải. Đó
      là nguồn động viên lớn đối với thầy – trò, tạo môi trường thuận lợi cho giáo viên
      tiến hành hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi và các em học sinh được thỏa mãn
      niềm đam mê với bộ môn khoa học mà mình lựa chọn.
      5
      Tuy nhiên, môn Địa lí là một môn học ít được học sinh yêu thích, nên việc
      tuyển chọn học sinh vào đội tuyển học sinh giỏi môn Địa lí là hết sức khó khăn.
      Thông thường những em học sinh giỏi môn Địa lí là học sinh giỏi toàn diện, hoặc
      giỏi về khoa học tự nhiên, do đó các em không mấy hứng thú khi được chọn môn
      Địa lí để dự thi. Bên cạnh đó nhiều phụ huynh học sinh cho rằng đây là môn phụ
      nên ít khi được quan tâm, hoặc khi thấy con em mình đầu tư vào môn Địa lí cũng
      lấy làm khó chịu và thậm chí tỏ thái độ không đồng tình.
      Vì vậy để học sinh yêu thích môn Địa lí, hứng thú học Địa lí và tham gia học
      đội tuyển học sinh giỏi đạt kết quả cao giáo viên phải không ngừng tìm tòi, nghiên
      cứu tài liệu, lựa chọn các nội dung và phương pháp phù hợp. Đặc biệt, nếu các giáo
      viên tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi có sự đầu tư, tổng kết các nội dung , phương
      pháp mình đã thực hiện trong năm học để trao đổi, chia sẻ cùng đồng nghiệp và
      giúp các em học sinh có thêm một tài liệu tham khảo thì thực sự đó là những nguồn
      tài liệu và kinh nghiệm vô cùng quý báu và chắc chắn nếu việc làm này được thực
      hiện thường xuyên, kết quả thi học sinh giỏi môn Địa lí sẽ tăng lên đáng kể.
      Do đó, việc nghiên cứu và những đề xuất của sáng kiến kinh nghiệm “Một
      số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí 12” là hiệu
      quả, thiết thực, phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ của ngành của bản thân, của đồng
      nghiệp và học sinh yêu thích bộ môn Địa lí.
    1. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến.
      Trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi tôi thực hiện các giải pháp sau:
      2.1. Thành lập đội tuyển
      2.1.1. Phát hiện, lựa chọn và tổ chức thành lập đội tuyển học sinh giỏi môn
      Địa lí
      Chuyện người thầy phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi cũng như người
      trồng hoa. Bông hoa đẹp bởi bàn tay người chăm bón, nâng niu. Nhưng đâu phải
      khi nào hoa cũng khoe sắc rực rỡ. Chỉ cần một cơn trở gió, một sự thay đổi tiết trời,
      một sự lãng quên bất cẩn của người là hoa kém sắc, cây không trổ bông. Có đồng
      nghiệp nói với tôi rằng, học sinh giỏi chỉ là “thiên bẩm”. Là người trực tiếp giảng
      dạy đã nhiều năm ở phổ thông, với tôi không nghĩ như vậy. Năng khiếu và tri thức
      văn hóa nói chung phải được bồi đắp theo năm tháng, gắn liền với sự nhạy bén của
      tố chất cá nhân. Người thầy phải là “chất xúc tác” trong quá trình biến đổi chất,
      người quản lí là nguồn động lực tiếp sức định hướng cho cả thầy và trò.
      Trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi người thầy đóng vai trò quan trọng
      nhưng học sinh là yếu tố quyết định sự thành công. Thông thường những em có tố
      6
      chất thông minh, học lực khá – giỏi bao giờ cũng đăng kí học khối A, D. Ngoài ra
      xu thế hiện nay, học sinh theo ban xã hội ngày càng ít, vậy làm thế nào để học sinh
      say mê, thích học môn Địa lí? Điểm xuất phát phải bắt đầu từ người thầy , thầy
      phải coi bộ môn mình dạy như cái nghiệp của mình để chuyên tâm gắn bó và sáng
      tạo không ngừng. Ngoài năng lực truyền thụ tri thức lí luận khoa học, thầy phải
      nhập vai là minh chứng sống động trong thực tiễn để học sinh thấy được cái thú vị
      cũng như ý nghĩa của bộ môn có tính định hướng và tính giáo dục cao. Niềm say
      mê ấy phải được bộc lộ qua từng bài giảng, trong từng câu chuyện đời thường và
      giải quyết những tình huống xảy ra trong thực tế cuộc sống.
      Vì vậy tôi nhận thấy, giáo viên dạy đội tuyển môn Địa lí phải là người truyền
      được “lửa” cho học sinh. Tức là phải khơi dạy ở các em sự yêu thích môn học,
      niềm tin và lòng say mê để các em tự giác tham gia với động cơ đúng đắn và đạt
      kết quả cao. Có thể nói đây là khâu quan trọng nhất tác động đến tâm lý học sinh vì
      nó quyết định việc các em sẽ học và thi như thế nào. Để làm được điều này, theo tôi
      giáo viên vừa đóng vai trò là người thầy đồng thời cũng là người bạn lớn của các
      em, để phân tích và chỉ ra cho các em những lợi thế khi tham gia đội tuyển học sinh
      giỏi.
      Đối với bản thân tôi, cứ vào đầu mỗi năm học tôi khảo sát và ghi chép kết quả
      học tập của những em học sinh có thành tích học tập khá – giỏi của ban xã hội, đặc
      biệt là học sinh lớp 12A5,6 (khối D) và học sinh lớp khối C để lựa chọn và vận
      động các em tham gia vào đội tuyển học sinh giỏi môn Địa lí của trường.
      Bên cạnh đó, tôi còn sự thăm dò ý kiến của giáo viên chủ nhiệm và giáo viên
      bộ môn. Giáo viên chủ nhiệm là người gần gũi, người có sự quan tâm sâu sát học
      sinh nhất, họ có thể hiểu rõ tường tận về năng lực học tâp của các em học sinh, giúp
      đỡ động viên các em tham gia đội tuyển. Bên cạnh đó tôi cũng cần phải tham khảo
      ý kiến của các giáo viên bộ môn để tìm hiểu năng lực học tập của học sinh ở các
      môn học khác, kể cả các môn tự nhiên. Một học sinh giỏi môn Địa lí thì các em
      cũng học giỏi các bộ môn khác, nhất là các môn tự nhiên.
      Vậy vấn đề đặt ra là cần phải phát hiện những học sinh có khả năng giỏi Địa
      lí từ lúc nào? Nên tổ chức bồi dưỡng từ khi nào? Trên thực tế, có nhiều trường khi
      chuẩn bị thi học sinh giỏi cấp tỉnh mới dồn sức, học gấp gáp, nhưng theo tôi việc
      phát hiện và chọn học sinh giỏi phải làm sớm, tổ chức bồi dưỡng phải thường
      xuyên ngay cả trong các tiết học, các môn học các em phải quan tâm, được uốn
      nắn và phát hiện.
      2.1.2. Giúp đỡ, động viên kích lệ các em trong đội tuyển thường xuyên, kịp thời
      7
      Tham gia ôn luyện đội tuyển là quá trình nỗ lực bền bỉ và gắn bó giữa thầy
      và trò trong quá trình bồi dưỡng, giáo viên phải thực sự là người có tâm với học
      sinh đội tuyển của mình. Sự quan tâm đó không chỉ dừng lại ở thái độ, lời nói, kiến
      thức, kinh nghiệm truyền đạt cho các em mà còn bằng cả tấm lòng không đơn
      thuần là tình thầy trò mà như một người thân thực sự của các em. Vì thế các em sẵn
      sàng chia sẻ với giáo viên về mọi mặt trong cuộc sông. Tôi nhớ năm học 2019-
      2020 có học sinh đội tuyển của tôi do bố mẹ không cho theo môn này mà bắt phải
      học các môn tự nhiên, nhưng vì thích và say sưa với khối C nên mỗi buổi đi học
      đội tuyển em ấy đều phải nói dối là đi học thêm các môn khác. Năm đó còn thi học
      sinh giỏi theo tổ hợp môn, 3 giáo viên Văn – Sử – Địa chúng tôi phải vận động phụ
      huynh, giải thích cho phụ huynh hiểu những lợi ích của việc học đội tuyển và mong
      nhận được sự ủng hộ của phụ huynh.
      Tôi thường động viên kích lệ học sinh trong mỗi giờ học, mỗi bài kiểm tra,
      mỗi lần thi thử với số điểm chưa được như mong đợi. Tóm lại giáo viên phải thực
      sự có “tâm” với đội tuyển học sinh giỏi của mình, hiện nay giáo viên có thể trao đổi
      cởi mở với học sinh qua mạng xa hội để hiểu được tâm tư nguyện vọng của các em.
      Nhờ vậy nhiều học sinh và phụ huynh đã cảm nhận được sự gần gũi, sự tận tâm
      của giáo viên để học sinh nỗ lực cố gắng và đạt kết quả cao.
      2.2 Xây dựng kế hoạch, sử dụng phương pháp bồi dưỡng đội tuyển 1 cách khoa
      học, dúng hướng và có hiệu quả.
      2.2.1. Xây dựng chương trình
      Việc bồi dưỡng đội tuyển trước hết phải có kế hoạch, có kế hoạch khoa học,
      đúng đắn là 1 trong những yếu tố giúp việc bồi dưỡng được thuận lợi và hiệu quả
      cao hơn. Ôn luyện học sinh giỏi không giống như tiết học ở lớp học bình thường vì
      ở lớp chúng ta dạy cho học sinh với các đối tượng khác nhau: khá, giỏi, trung bình
      và yếu kém. Song dạy cho học sinh giỏi là dạy để đưa học sinh đi thi. Đối tượng dự
      thi đều ngang tầm nhau về mặt học lực, nhận thức. Vì vậy việc xây dựng nội dung
      chương trình là hết sức cần thiết. Đây là công việc quan trọng sau khi thành lập đội
      tuyển.
      Giáo viên phải lên kế hoạch cụ thể về: thời gian bồi dưỡng, nội dung, số
      lượng học sinh bồi dưỡng (mỗi đội là 3 học sinh đi thi chính thức nhưng chúng ta
      nên lấy 4-5 học sinh để lựa chọn và tạo ra sự cạnh tranh); chỉ tiêu phấn đấu đạt
      giải… và bản thân phải thực hiện nghiên túc theo kế hoạch.
      Giáo viên bồi dưỡng nên biên soạn tài liệu theo từng chuyên đề của nội dung
      bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí vì đây là biện pháp mang tính bền vững đối với
      8
      công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Từ thực tế kinh nghiệm bồi dưỡng những năm
      qua cho thấy nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi Địa lí 12 tập trung chủ yếu chương
      trình Địa lí 12 và lớp 11(phần kĩ năng) gồm các chuyên đề sau:
    • Chuyên đề 1: rèn luyện kĩ năng Địa lí (nhận dạng biểu đồ, Atlat, tính toán
      và nhận xét bảng số liệu, biểu đồ).
    • Chuyên đề 2: Địa lí tự nhiên.
    • Chuyên đề 3: Địa lí dân cư.
    • Chuyên đề 4: Địa lí ngành kinh tế (đến hết ngành công nghiệp)
      2.2.2. Phương pháp bồi dưỡng
      2.2.2. 1. Chuyên đề: rèn luyện các kĩ năng Địa lí: tính toán, bảng số liệu, nhận
      dạng biểu đồ, Atlat…..
    • Kĩ năng tính toán, bảng số liệu, nhận xét biểu đồ
      Trước hết tôi đưa ra các công thức tính toán và yêu cầu học sinh phải nhớ kĩ
      các công thức này để phục vụ cho các câu hỏi rèn kĩ năng nhận xét bảng số liệu và
      biểu đồ:
      CÔNG THỨC ĐỊA LÍ THƯỜNG GẶP
    1. Tính độ che phủ rừng (Đơn vị : %)
    2. Tính tỉ trọng trong cơ cấu ( Đơn vị : %)
    3. Tính năng suất cây trồng (Đơn vị: tạ/ ha)
    4. Tính bình quân lương thực theo đầu người ( Đơn vị: kg/ người)
      9
    5. Tính thu nhập bình quân theo đầu người ( Đơn vị: USD/ người)
    6. Tính mật độ dân số ( Đơn vị: người/ km2
      )
    7. Tính tôc độ tăng trưởng của một đối tượng qua các năm với năm đầu ứng với
      100 % (Đơn vị: %)
    8. Tính tốc độ tăng trưởng TB/Năm của một đối tượng trong một giai đoạn (Đơn vị:
      %)
    9. Tính biên độ nhiệt ( đơn vị: oC)
      10
    10. Tính cán cân xuất nhập khẩu (Đơn vị: USD, Tỉ đồng)
    11. Tính tỉ lệ xuất nhập khẩu ( Đơn vị: %)
    12. Tính tỉ lệ xuất khẩu (Đơn vị: %)
    13. Tính tỉ suất gia tăng tự nhiên (Đơn vị: %)
      Sau khi học sinh nhớ được các công thức này tôi yêu cầu học sinh vận dụng
      luôn để làm các câu hỏi trắc nghiệm. Có 2 dạng câu hỏi trắc nghiệm cho kĩ năng
      này: dạng 1: cho biểu đồ -> tính toán, nhận xét ; dạng 2 cho bảng số liệu tính toán
      hoặc nhận xét.
      Ví dụ :
      Câu 1: Cho biểu đồ:
      11
      GDP CỦA IN-ĐÔ-NÊ-XI-A VÀ MA-LAI-XI-A NĂM 2015 VÀ 2020
      (Nguồn số liệu theoNiên giám thống kê ASEAN 2021https://www.aseanstats.org)
      Theo biểu đồ, nhận xét nào sau đây đúng về sự thay đổi GDP năm 2020 so với
      năm 2015 của In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a?
      A. Ma-lai-xi-a tăng nhiều hơn In-đô-nê-xi-a.
      B. In-đô-nê-xi-a tăng nhanh hơn Ma-lai-xi-a.
      C. Ma-lai-xi-a tăng và In-đô-nê-xi-a giảm.
      D. Ma-lai-xi-a tăng gấp hơn 5 lần In-đô-nê-xi-a.
      Câu 2: Cho biểu đồ:
      TỈ LỆ SINH VÀ TỈ LỆ TỬ CỦA THÁI LAN VÀ MI-AN-MA NĂM 2020
      (Nguồn số liệu theo Niên giám thông kê Việt Nam 2020, NXB Thông kê, 2021)
      Theo biểu đồ, nhận xét nào sau đây đúng về tỉ lệ sinh, tỉ lệ tử, gia tăng tự nhiên
      của Thái Lan và Mi-an-ma?
      A. Tỉ lệ sinh của Mi-an-ma thấp hơn Thái Lan.
      B. Tỉ lệ tử của Mi-an-ma thấp hơn Thái Lan.
      C. Tỉ suất gia tăng tự nhiên của Mi-an-ma thấp hơn Thái Lan.
      D. Tỉ suất gia tăng tự nhiên của Mi-an-ma cao hơn Thái Lan

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • SKKN Phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh trong dạy học chủ đề Địa lí tự nhiên lớp 12

    SKKN Phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh trong dạy học chủ đề Địa lí tự nhiên lớp 12

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN.
    Với tầm nhìn thời đại và tư duy toàn cầu, lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí
    Minh đã chỉ ra những mục tiêu của giáo dục là “đào tạo các em nên những người
    công dân hữu ích cho nước Việt Nam, phát triển toàn diện con người, thúc đẩy
    hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”. Dạy học là nhằm phát triển trí tuệ,
    phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Trong giáo dục, người học bao giờ
    cũng là trung tâm. Người luôn lưu ý những người dạy phải chú ý tới đặc điểm của
    đối tượng, phải “đóng giầy theo chân”, không phải “khoét chân cho vừa giầy”.
    Điều này đòi hỏi người thầy phải bám sát, hiểu rõ đặc điểm đối tượng người học để
    từ đó có phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá phù hợp, đảm bảo tính vừa
    sức.
    Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách
    mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ, sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức, xã hội
    thông tin, hình thành nền văn minh tri thức và tiến tới xây dựng một “ xã hội học
    tập” đã tạo ra những cơ hội lớn, đồng thời là những thách thức lớn đối với nền giáo
    dục hiện đại, nhất là trước yêu cầu cao hơn đối với việc hình thành phẩm chất,
    năng lực của con người trong thời đại mới. Giáo dục theo định hướng phát triển
    năng lực không chỉ là xu hướng phổ biến trên thế giới mà đó cũng là mục tiêu của
    công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục ở Việt Nam hiện nay.
    Quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết 29-NQ/TW nhấn mạnh: Giáo dục và đào
    tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu
    tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình,
    kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,
    đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường
    theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Phát triển giáo dục và đào
    tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá
    trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và
    phẩm chất của người học. Học đi đôi với hành; lí luận gắn với thực tiễn. Vì thế,
    trong quá trình dạy học, giáo viên cần hình thành cho học sinh các năng lực chung
    và năng lực đặc thù ở các bộ môn. Ở Việt Nam, trong lộ trình thực hiện Chương
    trình giáo dục phổ thông mới, ở tất cả các môn học và hoạt động giáo dục đều
    hướng tới hình thành và phát triển các năng lực cho học sinh: năng lực tự chủ và tự
    học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Như vậy
    có thể nói năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo là một trong những năng lực cốt
    lõi, cơ bản nhất cần hình thành và phát triển cho học sinh. Năng lực này giúp các
    em phát triển tư duy, suy luận lôgic, kĩ năng phát hiện và giải quyết các vấn đề mới
    nảy sinh trong cuộc sống. Việc hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề
    và sáng tạo cho học sinh sẽ góp phần giúp các em tự tin, chủ động, thích ứng tốt
    2
    khi bước vào cuộc sống. Đánh giá năng lực trong đó có năng lực giải quyết vấn đề
    và sáng tạo cũng là một trong những xu hướng tuyển sinh hiện tại và tương lai của
    nhiều trường đại học để tạo cơ sở đào tạo nguồn lao động chất lượng cao cho đất
    nước.
    Môn Địa lí ở cấp Trung học phổ thông là môn học có nhiều khả năng và cơ
    hội để hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Môn Địa lí
    lớp 12 cung cấp cho các em hệ thống kiến thức về Địa lí tự nhiên và kinh tế – xã
    hội của Việt Nam, trong đó phần Địa lí tự nhiên lớp 12 có nhiều vấn đề về tự
    nhiên, vấn đề về vai trò của các nguồn lực tự nhiên trong phát triển kinh tế, mối
    quan hệ giữa cuộc sống con người và thế giới tự nhiên tạo điều kiện cho các em
    phát triển tư duy lôgic, tư duy theo lãnh thổ, tư duy liên hệ, tổng hợp, vận dụng
    kiến thức đã học… để tìm hiểu, giải thích, đánh giá các mối quan hệ nhân quả
    trong tự nhiên, cũng như giữa thiên nhiên và hoạt động kinh tế của con người, các
    mối liên hệ trong dân cư, xã hội, kinh tế….để giải quyết vấn đề nhất là những vấn
    đề thực tiễn cập nhật, có tính thời sự của đất nước và địa phương.
    Để phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh, trong dạy
    học, cần sử dụng các phương pháp dạy học hợp lí kết hợp tăng cường sử dụng các
    công cụ kiểm tra đánh giá. Trong quá trình dạy học, giáo viên tăng cường tổ chức
    các hoạt động học tập tạo điều kiện cho học sinh được trao đổi, thảo luận, tranh
    luận, thuyết trình về các vấn đề trong học tập và thực tiễn. Việc sử dụng các công
    cụ kiểm tra đánh giá trên cơ sở đánh giá vì học tập và đánh giá là học tập sẽ giúp
    giáo viên phát hiện sự tiến bộ của học sinh, từ đó hỗ trợ, điều chỉnh quá trình dạy
    học, cung cấp cho học sinh các thông tin phản hồi để tiếp tục việc học của mình
    trong các giai đoạn tiếp theo. Đồng thời việc giáo viên tổ chức để học sinh tự đánh
    giá và đánh giá đồng đẳng, coi đó như là một hoạt động học tập để học sinh thấy
    được khả năng học tập, sự tiến bộ của chính mình so với yêu cầu cần đạt của bài
    học, từ đó thiết lập mục tiêu học tập cá nhân và lên kế hoạch học tập tiếp theo.
    Xuất phát từ những lí do trên, với mong muốn phát triển năng lực giải quyết
    vấn đề và tư duy sáng tạo cho học sinh trong quá trình dạy và học môn Địa lí lớp
    12, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: Phát triển năng lực giải quyết vấn
    đề và sáng tạo cho học sinh trong dạy học chủ đề Địa lí tự nhiên Việt Nam lớp


    1. II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP.
    2. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến.
      Trên cơ sở nền tảng kiến thức địa lí đại cương về tự nhiên và kinh tế – xã hội
      ở chương trình Địa lí lớp 10. Chương trình Địa lí lớp 12 hiện hành cung cấp cho
      các em hệ thống kiến thức về địa lí tự nhiên, địa lí dân cư, địa lí các ngành kinh tế,
      địa lí các vùng kinh tế và tìm hiểu địa lí địa phương. Trong đó phần Địa lí tự nhiên
      gồm các chủ đề dạy học:
      Chủ đề 1: Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ.
      Chủ đề 2: Đặc điểm chung của tự nhiên.
      3
      Chủ đề 3: Vấn đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên.
      Trong phần Địa lí tự nhiên Việt Nam, học sinh được tìm hiểu về vị trí địa lí
      và phạm vi lãnh thổ, các đặc điểm chung cơ bản của tự nhiên: đất nước nhiều đồi
      núi; thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển; thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió
      mùa, thiên nhiên phân hoá đa dạng, vấn đề sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên
      và bảo vệ môi trường. Các chủ đề này làm rõ những đặc điểm cơ bản nhất về vị trí
      địa lí, đặc điểm cơ bản của tự nhiên Việt Nam được thể hiện sâu sắc trong các
      thành phần tự nhiên, sự phân hoá đa dạng của lãnh thổ cả theo chiều Bắc – Nam,
      Tây – Đông và theo độ cao địa hình, tạo cơ sở hình thành các miền địa lí tự nhiên
      với các đặc trưng lãnh thổ khác nhau, chi phối lớn đến sự phát triển kinh tế – xã hội
      của các vùng miền. Vấn đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên được xem như phần kết nối
      giữa con người và thiên nhiên trong khai thác, sử dụng và phát triển lãnh thổ một
      cách hợp lí theo hướng phát triển bền vững. Nhiều vấn đề thực tế về tài nguyên,
      môi trường nổi cộm đã được đề cập đặt ra cho học sinh những suy nghĩ, thái độ,
      hành động tham gia vào thực tế phát triển đất nước.
      Do vậy trong quá trình dạy và học môn Địa lí 12 phần Địa lí tự nhiên, ngoài
      yêu cầu hướng dẫn các em khai thác kiến thức, vận dụng các kĩ năng Địa lí thì một
      nhiệm vụ rất quan trọng đặt ra là tổ chức các hoạt động học tập, kiểm tra đánh giá
      phải phát huy tính chủ động của người học, tạo điều kiện cho các em tham gia phát
      hiện, đề xuất giải pháp giải quyết các vấn đề, đánh giá giải pháp giải quyết các vấn
      đề trong học tập và đời sống tạo cơ sở cho sự định hướng nghề nghiệp trong tương
      lai của các em.
      Thực tế việc dạy và học Địa lí trong những năm qua đã có nhiều đổi mới tuy
      nhiên vẫn còn nặng về trang bị kiến thức và kĩ năng cho người học. Trong các giờ
      học, giáo viên chủ yếu vẫn là người thuyết trình, diễn giảng, học sinh là người
      nghe, nhớ và ghi chép. Việc tạo ra các tình huống, các vấn đề có tính mở gắn liền
      với thực tế của đất nước và địa phương để học sinh được chủ động tham gia vào
      các hoạt động học tập, được trao đổi, thảo luận, bày tỏ quan điểm của bản thân,
      vận dụng kiến thức, kĩ năng được học để giải quyết vấn đề, tìm kiến các giải pháp
      vẫn còn hạn chế. Việc sử dụng các công cụ đánh giá trong các hoạt động học tập
      để học sinh thấy được khả năng học tập, khả năng nhận thức, giải quyết vấn đề, sự
      tiến bộ học tập vẫn chưa phổ biến. Việc kiểm tra, đánh giá thường tiến hành ở các
      bài kiểm tra đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì, mục đích đánh giá kiến
      thức và kĩ năng, thái độ người học. Do vậy việc tổ chức đánh giá chưa tạo ra được
      nhiều bối cảnh, cơ hội, tình huống, nhiệm vụ, …để người học vận dụng kiến thức,
      kĩ năng đã học cùng với các kinh nghiệm của bản thân để giải quyết các tình huống
      trong học tập hoặc trong cuộc sống hàng ngày. Trong khi môn Địa lí, nội dung
      chương trình rất gần gũi với thực tiễn, thuận lợi để học sinh có thể phát hiện các
      vấn đề trong thực tế cuộc sống, lao động – sản xuất của đất nước và địa phương để
      làm sáng tỏ kiến thức, từ đó thúc đẩy việc nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo các giải
      4
      pháp để bảo vệ tự nhiên, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong phát triển
      kinh tế – xã hội của đất nước cũng như tại địa phương.
      Chương trình môn Địa lí trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể
      được xây dựng theo định hướng phát triển năng lực, chú trọng tích hợp và thực
      hành, tích hợp giữa các kiến thức địa lí tự nhiên, địa lí dân cư, xã hội và địa lí kinh
      tế trong môn học; lồng ghép các nội dung liên quan (như giáo dục dân số, giới tính,
      tài chính, môi trường, di sản, an toàn giao thông …) vào nội dung địa lí, vận dụng
      kiến thức các môn học khác (Vật lí, Hoá học, Sinh học, Lịch sử…) trong việc làm
      sáng rõ các kiến thức địa lí; hội tụ kiến thức trong nhiều lĩnh vực khác nhau để xây
      dựng thành các chủ đề có tính tích hợp cao như phát triển kinh tế biển đảo, phát
      triển bền vững, biến đổi khí hậu…Do vậy đặt ra yêu cầu cần phải đa dạng hoá
      phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, các công cụ kiểm tra đánh giá để phát
      triển các năng lực chuyên môn, góp phần vào hình thành các năng lực cốt lõi trong
      đó có năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
    3. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến.
      2.1. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
      2.1.1. Năng lực và đặc điểm năng lực của học sinh.
      a. Khái niệm năng lực.
      Năng lực là một khái niệm trừu tượng, được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau.
      Dưới đây là một số quan niệm khác nhau về năng lực.
      Theo OECD “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp
      và thực hiện thành công nhiệm vụ trong bối cảnh cụ thể”. Đây là khái niệm mang
      tính bao quát nhất, được dùng để đánh giá năng lực của học sinh trên gần 70 nước
      hiện nay, trong số đó có Việt Nam.
      Trong chương trình giáo dục trung học của bang Quebec (Ca-na-đa) năm
      2004, xác định “Năng lực là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng
      dựa trên nhiều nguồn lực.
      Theo từ điển tiếng Việt: “Năng lực là khả năng làm tốt công việc”.
      Theo Bernd Meiner – Nguyễn Văn Cường: “Năng lực là khả năng thực hiện
      có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong
      các tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ
      sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sẵn sàng hành động” .
      Theo chương trình GDPT tổng thể sau năm 2018 thì “Năng lực là thuộc tính
      cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn
      luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc
      tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại
      hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.
      Năng lực của HS là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng,
      thái độ… phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào
      thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra
      cho chính các em trong cuộc sống.”
      5
      Như vậy, năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của
      nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách
      nhiệm. Hai đặc điểm phân biệt cơ bản của năng lực là: (1) tính vận dụng; (2) tính
      chuyển đổi và phát triển. Đó cũng chính là các mục tiêu mà dạy học tích cực
      hướng đến.
      b. Đặc điểm năng lực của học sinh.
    • Năng lực của HS phổ thông không chỉ là khả năng tái hiện tri thức, thông
      hiểu tri thức, kỹ năng học được, … mà quan trọng là khả năng hành động, ứng
      dụng/vận dụng tri thức, kỹ năng học được để giải quyết những vấn đề của cuộc
      sống đang đặt ra với chính các em.
    • Năng lực của HS không chỉ là vốn kiến thức, kỹ năng, thái độ sống phù
      hợp với lứa tuổi mà là sự kết hợp hài hòa của cả 3 yếu tố này thể hiện ở khả năng
      hành động (thực hiện) hiệu quả, muốn hành động và sẵn sàng hành động đạt mục
      đích đề ra (gồm động cơ, ý chí, tự tin, trách nhiệm xã hội…).
    • Năng lực của HS được hình thành, phát triển trong quá trình thực hiện các
      nhiệm vụ học tập ở trong lớp học và ngoài lớp học. Nhà trường được coi là môi
      trường giáo dục chính thống giúp HS hình thành những năng lực chung, năng lực
      chuyên biệt phù hợp với lứa tuổi, song đó không phải là nơi duy nhất. Những môi
      trường khác như: gia đình, cộng đồng … cùng góp phần bổ sung và hoàn thiện các
      năng lực của các em.
      2.1.2. Đánh giá năng lực.
      Đánh giá năng lực là đánh giá kiến thức, kĩ năng và thái độ của người học
      trong một bối cảnh có ý nghĩa. Cụ thể là đánh giá khả năng của học sinh vận dụng
      các kiến thức, kĩ năng đã được học vào giải quyết các tình huống trong học tập
      hoặc trong cuộc sống hàng ngày. Nhằm chứng minh người học có năng lực ở mức
      độ nào thì cần phải tạo ra bối cảnh, cơ hội, tình huống, nhiệm vụ,… để người học
      vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cùng với các kinh nghiệm của bản thân để giải
      quyết. Thông qua việc hoàn thành một nhiệm vụ trong bối cảnh thực, có thể đánh
      giá được khả năng nhận thức, kĩ năng thực hiện và những giá trị, tình cảm của
      người học.
      Đánh giá năng lực có sự khác biệt so với đánh giá kiến thức, kĩ năng. Đánh
      giá kiến thức, kĩ năng là đánh giá xem xét việc đạt kiến thức kĩ năng của học sinh
      theo mục tiêu của chương trình giáo dục, gắn với nội dung được học trong nhà
      trường và kết quả đánh giá phụ thuộc vào số lượng câu hỏi, nhiệm vụ hay bài tập
      đã hoàn thành về đơn vị kiến thức, kĩ năng. Còn đánh giá năng lực là đánh giá khả
      năng vận dụng kiến thức, kĩ năng đã được học vào giải quyết vấn đề trong học tập
      hoặc trong thực tiễn cuộc sống của học sinh và kết quả đánh giá người học phụ
      thuộc vào độ khó của nhiệm vụ và bài tập đã hoàn thành theo các mức độ khác
      nhau. Thang đo trong đánh giá năng lực được xác định theo các mức độ phát triển
      năng lực của người học, chứ không phải có đạt hay không một nội dung đã được
      học.
      6
      Nội dung Đánh giá năng lực
    1. Mục đích chủ yếu nhất – Đánh giá khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ
      năng đã học vào giải quyết vấn đề thực tiễn của
      cuộc sống.
    • Vì sự tiến bộ của người học so với chính họ.
    1. Ngữ cảnh đánh giá. – Gắn với ngữ cảnh học tập và thực tiễn cuộc
      sống.
    2. Nội dung đánh giá. – Những kiến thức, kĩ năng, thái độ ở nhiều môn
      học, nhiều hoạt động giáo dục và những trải
      nghiệm của bân thân học trong cuộc sống xã hội
      (tập trung vào năng lực thực hiện).
    3. Công cụ đánh giá. – Nhiệm vụ, bài tập trong tình huống, bối cảnh
      thực.
    4. Thời điểm đánh giá. – Đánh giá mọi thời điểm của quá trình dạy học,
      chú trọng đến đánh giá trong khi học.
    5. Kết quả đánh giá. – Năng lực người học phụ thuộc vào độ khó của
      nhiệm vụ hoặc bài tập đã hoàn thành.
      2.1.3. Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
      a. Năng lực giải quyết vấn đề.
      Vấn đề là gì?
    • Vấn đề là những câu hỏi hay nhiệm vụ đặt ra mà việc giải quyết chúng
      chưa có quy luật cũng như những tri thức, kĩ năng sẵn có chưa đủ giải quyết mà
      còn khó khăn, cản trở cần vượt qua.
    • Một vấn đề thường được đặc trưng bởi ba thành phần như: Trạng thái xuất
      phát (không mong muốn), trạng thái đích (trạng thái mong muốn), sự cản trở (cần
      vượt qua).
      Có thể thấy vấn đề xuất hiện khi một cá nhân đứng trước một mục đích
      muốn đạt tới, nhận biết một nhiệm vụ cần giải quyết nhưng chưa biết bằng cách
      nào, chưa đủ phương tiện để giải quyết. Khi đó tư duy sẽ trở nên cần thiết.
      Giải quyết vấn đề, năng lực giải quyết vấn đề.
      Giải quyết vấn đề là khả năng suy nghĩ và hành động trong những tình
      huống không có quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường có sẵn. Người giải
      quyết vấn đề có thể ít nhiều xác định được mục tiêu hành động, nhưng không phải
      ngay lập tức biết cách làm thế nào để đạt được nó. Sự am hiểu tình huống vấn đề,
      và lý giải dần để đạt mục tiêu đó trên cơ sở việc lập kế hoạch và suy luận tạo thành
      quá trình giải quyết vấn đề.
      Có thể thấy, giải quyết vấn đề là quá trình tư duy phức tạp, bao gồm sự hiểu
      biết, đưa ra luận điểm, suy luận, đánh giá, giao tiếp… để đưa ra một hoặc nhiều giải
      7
      pháp khắc phục khó khăn, thách thức của vấn đề. Trong quá trình giải quyết vấn
      đề, chủ thể thường phải trải qua hai giai đoạn cơ bản: khám phá vấn đề và tổ chức
      nguồn lực của chính mình (tìm hiểu vấn đề; tìm hướng đi, thủ pháp, tiến trình… để
      dần tiến tới một giải pháp cho vấn đề); thực hiện giải pháp (giải quyết các vấn đề
      nhỏ hơn ở từng lĩnh vực/nội dung cụ thể; chuyển đổi ý nghĩa của kết quả thu được
      về bối cảnh thực tiễn); và đánh giá giải pháp vừa thực hiện, hoặc tìm kiếm giải
      pháp khác.
      Năng lực giải quyết vấn đề là năng lực hoạt động trí tuệ của con người trước
      những vấn đề, những tình huống cụ thể, có mục tiêu và có tính định hướng cao đòi
      hỏi phải huy động khả năng tư duy và sáng tạo để tìm ra lời giải của vấn đề.
      Theo tiếp cận tiến trình giải quyết vấn đề và sự chuyển đổi nhận thức của
      chủ thể thì có thể hiểu năng lực giải quyết vấn đề là khả năng của con người nhận
      ra vấn đề cần giải quyết và biết vận dụng những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm
      của bản thân, sẵn sàng hành động để giải quyết tốt vấn đề cần đặt ra.
      Theo lý thuyết thông tin, năng lực giải quyết vấn đề được tiếp cận từ quá
      trình xử lí thông tin, nhấn mạnh tới suy nghĩ của người giải quyết vấn đề hay “hệ
      thống xử lí thông tin”, vấn đề và không gian vấn đề thì năng lực giải quyết vấn đề
      thể hiện khả năng của cá nhân (làm việc độc lập hoặc làm việc nhóm) để tư duy,
      suy nghĩ về tình huống vấn đề và tìm kiếm, thực hiện giải pháp cho vấn đề đó.
      Vì vậy, năng lực giải quyết vấn đề là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả các
      quá trình nhận thức, hành động và thái độ, động cơ, xúc cảm để giải quyết những
      tình huống vấn đề mà ở đó không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông
      thường.
      b. Sáng tạo, năng lực sáng tạo
      Có rất nhiều quan niệm về sáng tạo. Theo từ điển Tiếng Việt thì: Sáng tạo
      nghĩa là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã
      có. Sáng tạo là nhìn một vấn đề, một câu hỏi theo những cách khác với thông
      thường.
      Theo tâm lý học thì: Sáng tạo đó là năng lực tạo ra những giải pháp mới
      hoặc duy nhất cho một vấn đề thực tiễn và hữu ích.
      Từ những kết quả nghiên cứu một số nhà tâm lý học đã cho biết: Sáng tạo là
      tiềm năng vốn có của mỗi người, khi gặp dịp thì bộc lộ. Chính vì vậy mà trong quá
      trình dạy học cần tạo cho học sinh có những cơ hội để phát huy năng lực sáng tạo.
      Vậy năng lực sáng tạo là gì?
      Đối với HS: “Năng lực sáng tạo là các khả năng của học sinh hình thành ý
      tưởng mới, đề xuất được các giải pháp mới hay cải tiến cách làm mới một sự vật,
      có các giải pháp khác nhau để giải quyết một vấn đề, sự tò mò, thích đặt các câu
      hỏi để khám phá sự thật xung quanh, năng lực tưởng tượng và tư duy sáng tạo…”
      Trên cơ sở những khái niệm nêu ở trên, theo chúng tôi năng lực giải quyết
      vấn đề và sáng tạo đối với HS Trung học phổ thông có thể hiểu như sau:
      8
      Là khả năng cá nhân giải quyết tình huống có vấn đề mà ở đó không có sẵn
      quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường có sẵn, hoặc có thể giải quyết một cách
      thành thạo với những nét độc đáo riêng, theo chiều hướng luôn đổi mới, phù hợp
      với thực tế.
      2.1.4. Nghiên cứu về sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong giáo
      dục hiện nay
      Theo Chương trình giáo dục phổ thông mới, nghiên cứu những biểu hiện của
      năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của HS Trung học phổ thông hiện nay được
      thể hiện qua bảng dưới đây:
      Năng lực thành
      phần
      Biểu hiện/Tiêu chí
      Phát hiện và làm rõ
      vấn đề
      Phân tích được tình huống trong học tập, trong thực tiễn,
      phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề.
      Đề xuất, lựa chọn
      giải pháp.
      Thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến vấn đề,
      đề xuất và phân tích được một số giải pháp giải quyết vấn
      đề; lựa chọn được giải pháp phù hợp nhất.
      Thực hiện và đánh
      giá giải pháp giải
      quyết vấn đề
      Thực hiện và đánh giá giải pháp GQVĐ. Suy ngẫm về cách
      thức và tiến trình GQVĐ để điều chỉnh và vận dụng trong
      bối cảnh mới.
      Nhận ra ý tưởng mới Xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới và phức tạp từ
      các nguồn thông tin khác nhau. Phân tích các nguồn thông
      tin độc lập để thấy được khuynh hướng và độ tin cậy của ý
      tưởng mới.
      Hình thành và phát
      triển ý tưởng mới
      Nêu được nhiều ý tưởng mới trong học tập và thực tiễn;
      Suy nghĩ không theo lối mòn.Tạo ra yếu tố mới dựa trên
      những ý tưởng khác nhau. Hình thành và kết nối các ý
      tưởng. Nghiên cứu để thay đổi giải pháp trước sự thay đổi
      của bối cảnh. Đánh giá rủi ro và có dự phòng.
      Tư duy độc lập Đặt được nhiều câu hỏi có giá trị, không dễ dàng chấp nhận
      thông tin một chiều; Không thành kiến khi xem xét, đánh
      giá vấn đề; Quan tâm tới các lập luận và minh chứng thuyết
      phục; Sẵn sàng xem xét, đánh giá lại vấn đề.
      Để đánh giá năng lực GQVĐ và ST của học sinh THPT hiện nay, ngoài
      phương pháp đánh giá truyền thống như đánh giá chuyên gia (giáo viên đánh giá
      học sinh), đánh giá định kì bằng bài kiểm tra từ giáo viên cần chú ý đến các
      phương pháp đánh giá khác như phương pháp quan sát; phương pháp hỏi – đáp,
      phương pháp đánh giá qua sản phẩm học tập.
      Tuy nhiên tất cả các phương pháp đánh giá trên đều có yêu cầu phải chú
      trọng đánh giá khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết tình huống học tập (hoặc
      tình huống thực tế) và chú trọng đánh giá khả năng sáng tạo của học sinh.
      9
      2.2. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực.
      2.2.1. Khái niệm.
      Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là chú trọng tổ chức cho học
      sinh hoạt động học. Trong dạy học định hướng phát triển năng lực, HS là chủ thể
      nhận thức, GV có vai trò tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học tập của HS
      theo một tiến trình sư phạm hợp lý sao cho HS tự chủ chiếm lĩnh, xây dựng tri
      thức.
      2.2.2. Bản chất, nguyên tắc, đặc điểm của dạy học theo định hướng phát triển
      năng lực.
      a. Bản chất:
    • Tạo hứng thú nhận thức thông qua việc tổ chức cho HS các hoạt động để
      HS bộc lộ những hiểu biết ban đầu…về cái mới sẽ được học trong bài.
    • Tổ chức cho HS tìm hiểu về cái mới/kiến thức mới thông qua việc sử dụng
      các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để HS chủ động chiếm lĩnh kiến thức.
    • Yêu cầu HS vận dụng/ứng dụng cái mới học được vào giải quyết các tình
      huống, các vấn đề thực tiễn.
      b. Nguyên tắc.
    • Nội dung dạy học, giáo dục phải đảm bảo tính cơ bản, thiết thực, hiện đại
    • Đảm bảo tính tích cực của người học khi tham gia vào hoạt động học tập.
    • Tăng cường những hoạt động thực hành, trải nghiệm cho HS.
    • Tăng cường dạy học, giáo dục tích hợp
    • Tăng cường dạy học, giáo dục phân hóa
    • Kiểm tra, đánh giá theo năng lực là điều kiện tiên quyết trong dạy học phát
      triển phẩm chất, năng lực
      c. Đặc điểm.
    • Dạy học thông qua các hoạt động của học sinh: Dạy học thông qua tổ chức
      liên tiếp các hoạt động học tập, từ đó giúp HS tự khám phá những điều chưa biết
      chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức được sắp xếp sẵn. Theo tinh thần
      này, giáo viên không cung cấp, áp đặt kiến thức có sẵn mà là người tổ chức và chỉ
      đạo HS tiến hành các hoạt động học tập như nhớ lại kiến thức cũ, phát triển kiến
      thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình
      huống thực tiễn…
    • Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
      Chú trọng rèn luyện cho HS những tri thức phương pháp để biết cách đọc
      sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có,
      biết cách suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới,… Các phương
      pháp thường là những quy tắc, quy trình, phương thức hành động, tuy nhiên cũng
      cần coi trọng cả các phương pháp có tính chất dự đoán, giả định. Cần rèn luyện cho
      HS các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, đánh giá… để dần hình thành và
      phát triển tiềm năng sáng tạo của HS.
    • Tăng cường học tập cá nhân với học tập hợp tác.
      10
      Tăng cường phối hợp học tập cá nhân với học tập hợp tác theo phương châm
      “tạo điều kiện cho HS nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn”.
      Điều đó có nghĩa, mỗi HS vừa cố gắng tự lực một cách độc lập, vừa hợp tác chặt
      chẽ với nhau trong quá trình tiếp cận, phát hiện và tìm tòi kiến thức mới. Lớp học
      trở thành môi trường giao tiếp thầy – trò và trò – trò nhằm vận dụng sự hiểu biết và
      kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập
      chung.
    • Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
      Chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến
      trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng
      phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của HS với nhiều hình thức
      như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể
      phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót.
      2.3. Phát triển năng lực dạy học và sáng tạo trong dạy học chủ đề Địa lí tự
      nhiên lớp 12
      2.3.1. Cấu trúc nội dung chủ đề Địa lí tự nhiên Việt Nam
      Chủ đề Nội dung
      Địa lí
      tự
      nhiên
      Nội dung 1: Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ
    • Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ.
    • Ý nghĩa của vị trí địa lí Việt Nam
      Nội dung 2: Đặc điểm chung của tự nhiên.
    • Đất nước nhiều đồi núi: Đặc điểm chung của địa hình, các khu vực địa
      hình.
    • Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển: Khái quảt về biển Đông,
      ảnh hưởng của biển Đông đến thiên nhiên Việt Nam.
    • Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa: Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, các
      thành phần tự nhiên khác.
    • Thiên nhiên phân hoá đa dạng: Thiên nhiên phân hoá theo Bắc – Nam,
      theo
      Đông – Tây, theo độ cao. Các miền địa lí tự nhiên.
      Nội dung 3: Vấn đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên.
    • Sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên: Tài nguyên rừng, tài nguyên
      đất và các tài nguyên khác.
    • Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai: Bảo vệ môi trường, một số
      thiên tai chủ yếu và biện pháp phòng chống.
      2.3.2. Mục tiêu dạy học chủ đề Địa lí tự nhiên lớp 12
      2.3.2.1. Mục tiêu chương trình Địa lí 12 hiện hành:
      a. Về kiến thức
    • Trình bày vị trí địa lí, giới hạn, phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
      11
    • Phân tích được ảnh hưởng của vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ đối với tự
      nhiên, kinh – xã hội và quốc phòng.
    • Phân tích các thành phần tự nhiên để thấy được các đặc điểm cơ bản của tự
      nhiên Việt Nam.
    • Đất nước nhiều đồi núi: Đặc điểm chung của địa hình, các khu vực địa
      hình.
    • Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển: Khái quát về biển Đông,
      ảnh hưởng của biển Đông đối với thiên nhiên Việt Nam.
    • Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa: Nguyên nhân, biểu hiện của tính chất
      nhiệt đới ẩm gió mùa thể hiện qua các thành phần tự nhiên (khí hậu, địa hình, sông
      ngòi, đất, sinh vật).
    • Thiên nhiên phân hoá đa dạng: Nguyên nhân, biểu hiện sự phân hoá thiên
      nhiên theo Bắc – Nam, theo đông – tây và theo độ cao địa hình.
    • Phân tích và giải thích được đặc điểm cảnh quan ba miền tự nhiên nước ta:
      Miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ, miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, miền Nam Trung
      Bộ và Nam Bộ (phạm vi, đặc điểm cơ bản về tự nhiên).
      -Trình bày được một số tác động tiêu cực do thiên nhiên gây ra: Bão, ngập
      lụt, lũ quét, hạn hán, động đất (nơi thường xảy ra, nguyên nhân, hậu quả, biện pháp
      phòng chống).
    • Biết được sự suy thoái tài nguyên rừng và đất; một số nguyên nhân và biện
      pháp bảo vệ tài nguyên, môi trường.
      b. Về kĩ năng.
    • Xác định được vị trí địa lí Việt Nam trên bản đồ Đông Nam Á và thế giới.
    • Sử dụng các bản đồ Tự nhiên, khí hậu, đất, thực động vật Việt Nam (hoặc
      Atlat Địa lí Việt Nam) để trình bày các đặc điểm nổi bật về địa hình, khí hậu, sông
      ngòi, đất đai, thực động vật và nhận xét mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng,
      trình bày đặc điểm của ba miền tự nhiên (về địa hình, k

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • SKKN Xây dựng bộ tư liệu tranh biếm họa để giảng dạy chuyên đề Địa lí 10 Bộ sách Cánh Diều theo mô hình lớp học đảo ngược

    SKKN Xây dựng bộ tư liệu tranh biếm họa để giảng dạy chuyên đề Địa lí 10 Bộ sách Cánh Diều theo mô hình lớp học đảo ngược

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ền tảng văn hoá vững chắc và
    năng lực thích ứng cao với sự thay đổi của Thế giới. Đổi mới giáo dục đã trở
    thành xu thế mang tính toàn cầu.
    Trong chiến lƣợc đổi mới toàn diện ngành giáo dục, đổi mới phƣơng pháp
    dạy học cóý nghĩa quyết định. Các phƣơng pháp dạy học tích cực đƣợc áp dụng
    ngày càng nhiều và đều có mục tiêu là phát huy năng lực nhận thức, độc lập,
    sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề của ngƣời học. Dạy học theo mô hình
    lớp học đảo ngƣợc – Flipped classroom là một trong những phƣơng pháp dạy học
    tích cực, hiện đại và đáp ứng đƣợc các yêu cầu nêu trên. Thay vì giảng bài nhƣ
    thông lệ, giáo viên (GV) lại là ngƣời hƣớng dẫn; ngƣời học thay vì tiếp thu kiến
    thức một cách thụ động từ GV, sẽ phải tự tiếp cận kiến thức ở nhà, tự mình trải
    nghiệm, khám phá, tìm tòi các thông tin liên quan về bài học. Mô hình này giúp
    học sinh (HS) phát huy và rèn luyện năng lực tự học, tính chủ động của chính
    bản thân mà không còn thụ động trong quá trình khám phá tri thức.
    Trong quá trình giảng dạy theo mô hình lớp học đảo ngƣợc (LHĐN), việc
    sử dụng các loại bản đồ, tranh ảnh, đặc biệt là tranh biếm họa (TBH) đƣợc đánh
    giá là một công cụ quan trọng và có hiệu quả để đổi mới phƣơng pháp dạy học.
    Khi những hiểu biết mà bản đồ mang đến chỉ dừng lại ở những đƣờng biên giới,
    những địa danh và những sự vật Địa lí khô khan thì tranh ảnh lại chuyên chở
    một giá trị đặc biệt mang tính trực quan và tạo hứng thú rất lớn cho HS. Chính
    vì thế, việc thu thập nguồn TBH phong phú trên mạng internet và các nguồn
    sách báo, tạp chí để xây dựng thành một bộ tƣ liệu tranh, phục vụ cho quá trình
    3
    dạy học Địa lí nói chung, dạy học chuyên đề Địa lí 10 nói riêng, có một ý nghĩa
    rất lớn. Nó sẽ tạo ra một cái nhìn mới mẻ và khác biệt cho các vấn đề Địa lí
    tƣởng nhƣ khô khan, trừu tƣợng. Bộ tƣ liệu TBH cùng với các video bài giảng E

    • learning cũng góp vào kho học liệu số nhƣ một nguồn tƣ liệu hữu ích, cùng với
      sách điện tử, bài kiểm tra dƣới dạng tệp tin, các bài phát biểu, chƣơng trình
      truyền hình, cho đến các loại hình ảnh, đồ họa thông tin, video, phim ảnh, hay
      các trang web chia sẻ tài nguyên…khác để GV và HS có thể tham khảo, tra cứu.
      Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã có sáng kiến “ Xây dựng bộ tư
      liệu tranh biếm họa để giảng dạy chuyên đề Địa lí 10 (bộ sách Cánh Diều) theo
      mô hình lớp học đảo ngược”
      PHẦN II: MÔ TẢ GIẢI PHÁP
      I. MÔ TẢ GIẢI PHÁP TRƢỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN
      Chúng ta đang sống ở những thập niên đầu của thế kỉ XXI, trong những
      thập kỉ qua, nền giáo dục của thế giới đã có những bƣớc chuyển biến mạnh mẽ
      cả về hình thức, nội dung, từ cách tổ chức quản lí trƣờng học cho đến phƣơng
      pháp giảng dạy của mỗi thầy cô giáo. Tuy giống nhau về mục tiêu nhƣng trình
      độ và sự phát triển về giáo dục của mỗi quốc gia có nhiều điểm khác biệt.
      Tại Việt Nam, công cuộc cải cách giáo dục hiện nay đang đƣợc tiến hành
      khá mạnh mẽ, quyết liệt. Một trong những mục tiêu của cải cách giáo dục là
      chuyển từ mô hình “lớp học truyền thống” sang mô hình “hiện đại”. Tuy nhiên,
      mô hình lớp học truyền thống vẫn đang đƣợc áp dụng chủ yếu ở tất cả các cấp
      học. Đó là mô hình lớp học với bảng đen phấn trắng, GV chuẩn bị kế hoạch bài
      dạy trƣớc khi lên lớp. Trong 45 phút học trên lớp, GV chủ yếu truyền thụ kiến
      thức, HS lĩnh hội tri thức thông qua việc học tại lớp và làm bài tập ở nhà. Mô
      hình này có nhiều ƣu điểm nhƣ: HS có thể nắm bắt đƣợc kiến thức cơ bản ngay
      trên lớp học, vấn đề gì chƣa hiểu HS có thể trao đổi trực tiếp với GV và với bạn
      bè. GV có thể nắm đƣợc lực học của từng HS để có những phƣơng pháp dạy học
      phù hợp với từng đối tƣợng HS. Trong thời lƣợng 1 tiết học, việc giao tiếp trực
      4
      tiếp giữa HS với HS, HS với GV sẽ góp phần hình thành năng lực và phẩm chất
      chủ yếu của HS. Tuy nhiên, mô hình này cũng bộc lộ nhiều hạn chế:
    • Trên lớp, GV chủ yếu truyền đạt kiến thức mới, HS tiếp thu kiến thức
      một cách thụ động. Theo thang tƣ duy của Bloom (Benjamin Bloom, một giáo
      sƣ của trƣờng Đại học Chicago), thì nhiệm vụ này chỉ ở bậc nhận thức thấp (tức
      là “Biết” và “Hiểu”), thuộc “Low thinking”. Còn khi về nhà, HS lại phải làm
      những bài tập vận dụng – những nhiệm vụ thuộc bậc nhận thức cao của thang tƣ
      duy (bao gồm “Ứng dụng”, “Phân tích”, “Tổng hợp” và “Đánh giá”). Điều trở
      ngại ở đây là những nhiệm vụ bậc cao lại do HS và phụ huynh – là những ngƣời
      không có chuyên môn đảm nhận.
    • Mỗi bài học trên lớp đều có thời gian nhất định. GV phải dùng phần lớn
      thời gian trên lớp để giúp HS nắm đƣợc kiến thức, kỹ năng mới, sau đó HS làm
      bài tập về nhà để củng cố, hoàn thiện tri thức đã tiếp nhận trên lớp. Nhiều khi
      HS không có thời gian để kịp hiểu bài, giờ học sau đã phải chuyển sang bài học
      mới. Việc học nhƣ vậy lâu dần, khiến HS cảm thấy chán nản, không kích thích
      đƣợc tính chủ động, sáng tạo và hứng thú học tập của HS.
    • Việc kiểm tra đánh giá chủ yếu làm trên giấy, hạn chế rất nhiều khả
      năng tranh biện, sáng tạo của HS…
      Nhƣ vậy, mô hình lớp học truyền thống tuy có nhiều ƣu điểm nhƣng cũng
      bộc lộ không ít hạn chế. Thực tế tại trƣờng THPT Lƣơng Thế Vinh, mô hình này
      vẫn là mô hình dạy học chủ yếu.
      Tuy nhiên, hiện nay, ngành giáo dục đang có những thay đổi căn bản và
      toàn diện. Nhiều phƣơng pháp dạy học tích cực đã và đang đƣợc áp dụng linh
      hoạt. Đặc biệt trong hai năm học 2019-2020, 2020-2021, do dịch bệnh Covid 19
      diễn biến phức tạp, ngành giáo dục đứng trƣớc thách thức lớn, phải chuyển từ
      dạy học trực tiếp sang dạy học trực tuyến. Các trƣờng trung học phổ thông đã
      thích ứng để duy trì dạy và học linh hoạt, vừa đảm bảo phòng, chống dịch, vừa
      cung cấp kiến thức cho HS trong thời gian học trực tiếp tại trƣờng và trực tuyến
      tại nhà. Việc giảng dạy cùng lúc hai hình thức “online-offline” cũng là thách
      5
      thức với các thầy cô giáo để đảm bảo chất lƣợng giảng dạy. Trƣớc tình hình đó,
      mô hình dạy học LHĐN đã đƣợc áp dụng và bƣớc đầu đã mang lại những hiệu
      quả nhất định. Đến năm học 2022-2023, dịch bệnh Covid 19 cơ bản đã đƣợc
      khống chế, GV và HS đã đƣợc trở lại trƣờng dạy và học trực tiếp. Tuy nhiên,
      các hình thức và phƣơng pháp dạy học mới kết hợp với mô hình LHĐN vẫn cần
      đƣợc phát huy để nâng cao hiệu quả giảng dạy.
      II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI TẠO RA SÁNG KIẾN
      A. ĐẶT VẤN ĐỀ
      Trong những năm gần đây, dạy học Địa lí đã có những chuyển biến tích
      cực. Nhiều phƣơng pháp dạy học mới đã đƣợc áp dụng nhằm phát huy tính tích
      cực, chủ động và sáng tạo của HS trong quá trình học tập. Công nghệ thông tin,
      học liệu số và thiết bị công nghệ đã đƣợc đƣa vào trong dạy học, giáo dục ngày
      càng phổ biến nhằm hỗ trợ việc dạy, học và đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá
      HS trong môi trƣờng số hóa…
      Trong các phƣơng pháp dạy học tích cực, việc sử dụng tranh ảnh đƣợc
      đánh giá là một công cụ quan trọng và có hiệu quả để đổi mới phƣơng pháp dạy
      học. Các loại tranh ảnh rất phong phú, trong đó có một thể loại tranh có mức độ
      thể hiện rất sâu sắc, đó là tranh biếm họa. Ở các quốc gia phát triển nhƣ Anh,
      Đức, Hoa Kỳ, Pháp, Australia…TBH đã sớm đƣợc đƣa vào trƣờng học và trở
      thành một công cụ dạy học quan trọng hàng đầu để hình thành kiến thức, phát
      triển kĩ năng. Ở nƣớc ta, việc sử dụng TBH chƣa đƣợc ứng dụng và phổ biến
      rộng rãi trong quá trình dạy học.
      Thực tế dạy học Địa lí cho thấy nhiều vấn đề tự nhiên, kinh tế xã hội phức
      tạp không đƣợc phản ánh một cách đầy đủ và sâu sắc trong SGK với bản đồ và
      tranh ảnh thông thƣờng, thì chúng lại đƣợc thể hiện rõ nét trong TBH vì TBH
      thực sự là tấm gƣơng đầy màu sắc phản ánh các hiện tƣợng Địa lí về mặt tự
      nhiên và kinh tế – xã hội một cách mới mẻ. Với sức mạnh biểu đạt riêng biệt của
      mình, TBH còn có khả năng phản ánh những vấn đề dƣờng nhƣ rất rộng lớn,
      6
      phức tạp trên quy mô toàn cầu, liên lục địa hay đa quốc gia cũng nhƣ có khả
      năng tác động đến thái độ và hành vi của ngƣời học.
      Bên cạnh đó, để phát huy tính tích cực, chủ động học tập của HS, mở rộng
      hình thức học tập với sự linh hoạt về thời gian, không gian, sự phong phú, hấp
      dẫn trong những học liệu đa phƣơng tiện, mô hình LHĐN là một cách thức hữu
      hiệu để đƣa TBH vào giảng dạy Địa lí hiệu quả, nhất là Địa lí 10 nói chung và
      chuyên đề Địa lí 10 nói riêng trong chƣơng trình GDPT 2018. Đây là môn học
      trang bị cho HS những kiến thức cơ bản về khoa học Địa lí, kiến thức Địa lí tự
      nhiên, kinh tế xã hội đại cƣơng, cũng nhƣ vận dụng những kiến thức đó vào
      cuộc sống để biết cách ứng xử với môi trƣờng tự nhiên và xã hội xung quanh,
      đồng thời đáp ứng với yêu cầu phát triển của đất nƣớc trong thời đại mới. Tuy
      nhiên, chƣơng trình Địa lí 10 có khá nhiều những khái niệm trừu tƣợng, các khái
      niệm đó nếu đƣợc đƣa vào bài giảng bằng các hình ảnh trực quan, sinh động,
      mang tính châm biếm với hình thức học tập “ đảo ngược ” sẽ kích thích đƣợc sự
      hứng thú và yêu thích môn học của HS. HS sẽ làm chủ quá trình nhận thức của
      mình, từ đó giúp các em phát triển các phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu của
      chƣơng trình GDPT 2018.
      B.TÍNH MỚI, TÍNH KHÁC BIỆT CỦA SÁNG KIẾN
      Để đƣa tranh biếm họa vào giảng dạy theo mô hình lớp học đảo ngƣợc, tác giả
      đã xác định một số nội dung chủ yếu của sáng kiến nhƣ sau:
    • Tranh biếm họa là gì?
    • Khái niệm về tranh biếm họa
    • Phân loại tranh biếm họa
    • Lợi ích của việc sử dụng tranh biếm họa trong dạy học Địa lí
    • Nguyên tắc lựa chọn tranh biếm họa
    • Mô hình lớp học đảo ngƣợc:
    • Khái niệm về lớp học đảo ngƣợc
    • So sánh mô hình lớp học truyền thống và lớp học đảo ngƣợc
    • Những ƣu điểm của lớp học đảo ngƣợc
      7
    • Ứng dụng mô hình lớp học đảo ngƣợc trong việc giảng Địa lí 10 tại trƣờng
      THPT Lƣơng Thế Vinh
    • Xây dựng bộ tƣ liệu tranh biếm họa để giảng dạy chuyên đề Địa lí 10 theo
      mô hình lớp học đảo ngƣợc:
    • Xác định rõ những nội dung có thể sử dụng tranh biếm họa trong chuyên
      đề Địa lí 10 ( Bộ sách Cánh Diều)
    • Chủ động thu thập tƣ liệu tranh biếm họa để giảng dạy chuyên đề Địa lí 10
    • Một số công cụ hỗ trợ dạy học theo mô hình lớp học đảo ngƣợc
    • Kết hợp một số phƣơng pháp dạy học tích cực trong mô hình lớp học đảo
      ngƣợc
    • Quy trình dạy học theo mô hình lớp học đảo ngƣợc
    • Bảng tổng hợp bộ tƣ liệu tranh biếm họa để giảng dạy chuyên đề Địa lí 10
      (sách Cánh Diều) theo mô hình lớp học đảo ngƣợc.
    • Kế hoạch bài dạy minh họa: sử dụng TBH vào giảng dạy chuyên đề “Biến
      đổi khí hậu” theo mô hình LHĐN.
    • Bài giảng E-lerning minh họa sử dụng TBH vào giảng dạy chuyên đề “Biến
      đổi khí hậu” theo mô hình LHĐN.
      C. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƢỢNG ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
    1. Phạm vi :
      Năm học 2020 – 2021, 2021 – 2022, chúng tôi đã sử dụng tranh biếm họa
      để giảng dạy vào khối lớp 10 (chƣơng trình Địa lí THPT 2006) theo mô hình
      LHĐN và đã thu đƣợc những hiệu quả tích cực. Năm học 2022 – 2023, sách
      giáo khoa Địa lí 10 theo chƣơng trình GDPT 2018 đƣợc áp dụng ở khối lớp 10,
      trên cơ sở những kinh nghiệm đã có, chúng tôi đã xây dựng bộ tƣ liệu TBH để
      áp dụng sáng kiến này vào giảng dạy chuyên đề Địa lí 10 bộ sách Cánh Diều.
    2. Đối tƣợng áp dụng
    • Học sinh các lớp 10 của trƣờng .
      8
    • Sáng kiến này cùng với bộ tƣ liệu tranh biếm họa và bài giảng E –
      learning có thể góp một phần vào nguồn học liệu số thêm phong phú, làm tài
      liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh.
      D. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG VIỆC ÁP DỤNG
      SÁNG KIẾN VÀO GIẢNG DẠY CHUYÊN ĐỀ ĐỊA LÍ LỚP 10
      (SÁCH CÁNH DIỀU)
    1. Những thuận lợi:
    • Ban giám hiệu nhà trƣờng cùng các tổ, nhóm chuyên môn trong trƣờng
      quan tâm đến việc dạy – học của GV và HS, quan tâm đến việc đổi mới thƣờng
      xuyên hình thức và phƣơng pháp dạy – học.
    • 100% GV của trƣờng đạt chuẩn và trên chuẩn về đào tạo. Việc sử dụng
      công nghệ thông tin ngày càng đƣợc chú trọng, nên phần lớn GV đã biết ứng
      dụng công nghệ thông tin để khai thác nguồn học liệu số phong phú phục vụ quá
      trình giảng dạy tại trƣờng.
    • Cơ sở vật chất của trƣờng khá tốt, với đầy đủ máy tính, máy chiếu có kết
      nối internet, các phòng chức năng… thuận lợi cho việc dạy và học theo mô hình
      LHĐN
    • Đa số HS tích cực, chủ động, tự giác trong việc học tập và rèn luyện.
    • Bản thân chúng tôi luôn chủ động, tích cực trong việc giảng dạy và đổi
      mới phƣơng pháp dạy học, chủ động xây dựng các sáng kiến dựa vào kinh
      nghiệm của mình.
    1. Những khó khăn:
    • Nhận thức của một bộ phận GV, phụ huynh, HS về tổ chức LHĐN còn
      chƣa đồng đều.
    • Thời gian để GV và HS tổ chức LHĐN không nhiều do môn Địa lí 10
      chƣơng trình GDPT 2018 trung bình chỉ có 2 tiết/ tuần, chuyên đề Địa lí 10 có
      tổng 35 tiết/ cả năm nên để có thể tổ chức đƣợc LHĐN đòi hỏi cả GV và HS
      phải có sự chuẩn bị thật kỹ trƣớc khi lên lớp mới có đủ thời gian để hoàn thành
      bài học.
      9
    • Việc tổ chức LHĐN đòi hỏi phải có các phƣơng tiện dạy – học hiện đại
      nhƣ máy tính, điện thoại thông minh có kết nối Internet. Trong khi đó, nhiều HS
      hoàn cảnh gia đình còn khó khăn nên chƣa thể trang bị đầy đủ các phƣơng tiện
      đó, nhiều em phải lên trƣờng hoặc nhờ bạn bè để xem video bài giảng hoặc bài
      tập GV giao trƣớc khi lên lớp. Bên cạnh đó đƣờng truyền Internet không ổn định
      cũng ảnh hƣởng không nhỏ đến chất lƣợng dạy – học của GV và HS
      E. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN:
    1. Tranh biếm họa là gì?
      1.1. Khái niệm tranh biếm họa:
      Thuật ngữ “tranh biếm họa” có gốc la-tinh là“Carrus” và trong tiếng Ý
      “caricare” nghĩa là “cường điệu“. Lần đầu tiên thuật ngữ này xuất hiện trong
      các bức tranh của họa sĩ ngƣời Ý Carracci từ những năm cuối thế kỷ XVI . Ở
      Đức, thuật ngữ “karikatur” có nghĩa là “tranh biếm họa” xuất hiện muộn và mãi
      sau mới đƣợc sử dụng rộng rãi vào giữa thế kỷ XIX. Theo từ điển tiếng Đức
      “tranh biếm họa” gồm hai lớp nghĩa: thứ nhất là “những bức tranh hài hước,
      phóng đại hoặc tương tự về một người, một vật hay sự kiện này thông qua sự hài
      hước hoặc nhấn mạnh châm biếm bằng cách chú trọng vào một số tính chất, đặc
      trưng để chế giễu”. Lớp nghĩa thứ hai ở cấp độ mạnh hơn nghĩa là “nhạo báng”.
      Ở Việt Nam, TBH đƣợc quan niệm “là một loại hình nghệ thuật có chính
      kiến rõ ràng dùng ngôn ngữ tạo hình đặc biệt vạch ra, biểu đạt một cách cường
      điệu, khuếch đại được các mâu thuẫn nội tại đối với các quan hệ chính trị, xã
      hội, giá trị đạo đức… trong sự hình thành và phát triển xã hội loài người”. Phần
      lớn TBH gắn liền với các sự kiện thời sự, chính trị, xã hội nóng quan trọng. Sức
      nặng của một bức TBH hay có giá trị hơn nhiều các bài bình luận, các bài diễn
      văn dài lê thê. Cho nên TBH đã từng đƣợc coi là “vũ khí sắc bén” trong nhiều
      lĩnh vực.
      (Nguồn: https://hoangthinga.wordpress.com/)
      Hiện nay TBH đã có mặt trong các ấn phẩm báo chí nhƣ Tuổi trẻ cười,
      Học trò cười, báo Sài Gòn Giải phóng có chuyên mục Biếm họa; báo Quân đội
      10
      nhân dân Cuối tuần duy trì chuyên mục Câu lạc bộ Chiến sĩ… Những tác
      phẩm biếm họa đã tạo đƣợc chỗ đứng và khẳng định giá trị, sức mạnh riêng có
      của nó trong truyền thông. Trong lĩnh vực giáo dục, TBH đang là một khía cạnh
      cần đƣợc khai thác có tác dụng truyền tải kiến thức trực quan, khắc sâu kiến
      thức, tạo nên nét chấm phá sinh động cho mỗi bài học.
      1.2. Phân loại tranh biếm họa
      Theo Dietrich Grünewald, ông chia TBH theo ba tiêu chí sau:
      – Xét trên tiêu chí lĩnh vực có: TBH về chính trị; TBH về kinh tế; TBH về
      quân sự; TBH về văn hóa…
      – Xét theo cách trình bày có hai loại: TBH hình ảnh và TBH có cả hình
      ảnh lẫn lời dẫn.
      – Xét theo mức độ thể hiện có bốn loại: TBH vắn tắt; TBH kỳ cục – khó
      hiểu; TBH tự nhiên và TBH sống động.
      Theo Wolfgang Marienfeld, TBH có thể đƣợc chia thành các loại nhƣ sau:
      – Theo cấu trúc thì có 3 loại: TBH về sự vật, sự việc; TBH một nhóm
      ngƣời, một tổ chức, quốc gia… và TBH cá nhân cụ thể .
      – Theo nội dung thì TBH đƣợc chia nhƣ sau: TBH về một sự kiện lịch sử,
      TBH về quá trình lịch sử và TBH về trạng thái .
      (Nguồn: https://hoangthinga.wordpress.com/)
      1.3. Lợi ích của việc sử dụng TBH trong dạy học Địa lí
      Bản thân TBH cũng là một loại kênh hình vì vậy nó có tính trực quan cao.
      Bên cạnh đó, TBH lại có yếu tố cƣờng điệu, sự hài hƣớc, lạ lẫm thu hút học sinh
      mà tranh minh họa đơn thuần không có đƣợc. Vì vậy, với TBH học sinh không
      đơn thuần chỉ quan sát tranh và liên hệ đến nội dung kiến thức mà còn phải lý
      giải, phân tích, giải thích, đánh giá những nội dung kiến thức đƣợc “cường điệu”
      trong tranh. Mặt khác, TBH cũng không “nặng nề”, không khô khan nhƣ bản
      đồ, lƣợc đồ. Mặc dù ít nhiều TBH mang tính chủ quan của tác giả nhƣng nó
      cũng có có ý nghĩa sƣ phạm to lớn, đặc biệt trong việc dạy học Địa lí trên cả ba
      mặt: kiến thức, thái độ và kỹ năng.
      11
      Về mặt kiến thức, HS khi xem xét một bức TBH, muốn hiểu đƣợc những
      biểu hiện trong đó nói lên điều gì, buộc HS phải đặt nó trong tổng thể kiến thức.
      Bên cạnh việc phải phân tích, HS phải thiết lập các mối liên hệ, các giả thuyết
      giữa hình ảnh và nội dung bài học để phán đoán và kết luận. Nhƣ vậy, khi sử
      dụng TBH, HS đƣợc tái hiện một lần nữa những kiến thức liên quan đến hình
      ảnh và qua quá trình suy luận, kiến thức dễ khắc sâu hơn rất nhiều so với việc sử
      dụng các kênh hình thông thƣờng.
      Ví dụ: Khi học chuyên đề Biến đổi khí hậu ( SGK chuyên đề Địa lí 10 –
      Cánh diều), nếu HS đƣợc xem hình ảnh thì chắc chắn các em tự đặt ra những
      câu hỏi suy luận và tìm cách giải thích: Băng tan và ngập lụt là do nguyên nhân
      nào? Hậu quả của nó là gì?
      Nguồn: https://dantri.com.vn/van-hoa/hoa-si-biem-hoa-viet-nam
      Về mặt thái độ, TBH mang đến sự hấp dẫn và cuốn hút HS bởi chính đặc
      thù của TBH. HS dễ bị lôi cuốn vào yếu tố hài hƣớc, trào phúng hay sự thể hiện
      biếm họa độc đáo trong bức tranh. HS từ chỗ tò mò, hiếu kỳ về những yếu tố đặc
      biệt trong tranh, đi đến muốn tìm hiểu nội dung ẩn giấu trong bức tranh đó là gì?
      Có một số TBH, khi mới nhìn HS có thể bật cƣời vì sự trào phúng của nó,
      nhƣng sau tiếng cƣời sảng khoái đó, các em sẽ phân tích, tổng hợp kiến thức,
      liên hệ để giải thích sự ẩn dụ trong đó. Sau cùng HS sẽ bày tỏ đƣợc quan điểm
      và thái độ của mình đồng tình hay phản đối với vấn đề đƣợc đề cập.
      12
      Về kỹ năng, việc sử dụng thích hợp các TBH đã thúc đẩy HS không thể
      làm việc đơn giản thông qua việc phân tích văn bản (kênh chữ) hay nghe giảng
      một cách đơn thuần mà nó đòi hỏi tổng hợp các kỹ năng: phân tích hình ảnh, đọc
      văn bản, liên hệ kênh chữ và kênh hình, phán đoán, liên hệ, suy xét và kết luận.
      Các nhà giáo dục học gọi chung quá trình phân tích một bức TBH là “sự giải
      mã”, bởi bức TBH càng đơn giản thì nó lại là sự mã hóa nội dung bằng hình ảnh
      ở mức cao nhất . Khi giải mã bức tranh, tức là HS đƣợc lần lƣợt thực hiện các kỹ
      năng nói trên, và khi lặp lại nhiều lần, các kỹ năng của HS sẽ trở nên thành thục.
      Mặt khác, tƣ duy độc lập, sáng tạo của HS đƣợc phát triển trong việc đánh giá
      TBH. Các hình ảnh mang yếu tố trực quan đánh thức tƣ duy, đƣa HS đi từ biết
      đến hiểu sâu sắc kiến thức.
      Với những thế mạnh của TBH thiết nghĩ việc đƣa TBH vào SGK và các
      chuyên đề Địa lí là thực sự cần thiết, nhƣ một luồng gió mới làm phong phú
      thêm các thiết bị dạy học và học liệu truyền thống.
      1.4. Nguyên tắc lựa chọn tranh biếm họa
      1.4.1. Cần đảm bảo phù hợp với nội dung bài học. Lựa chọn TBH phù
      hợp với mục tiêu của từng hoạt động.
      Ví dụ: Khi dạy chuyên đề “ Biến đổi khí hậu” hoạt động : “Tìm hiểu biểu
      hiện của biến đổi khí hậu”
    • Mục tiêu hoạt động: Trình bày đƣợc biểu hiện của biến đổi khí hậu.
    • Sản phẩm: Biểu hiện của biến đổi khí hậu
    • Nhiệt độ Trái Đất tăng
    • Lƣợng mƣa thay đổi
    • Nƣớc biển dâng
    • Gia tăng các hiện tƣợng thời tiết cực đoan
    • Tổ chức thực hiện:
      Bước 1: GV tổ chức trò chơi: Đặt tên cho tranh. GV đƣa ra 4 bức tranh
      13

    Hình 1: Nguồn//http://songngoc.com/ Hình 2: Nguồn: https://psa.vn

    Hình 3: Nguồn: https://dantri.com.vn Hình 4: Nguồn: https://images.app.goo.gl
    Bước 2: Hs trao đổi, thảo luận, phân tích

    • Hình 1: Trái Đất đang ốm và cần đƣợc chăm sóc vì nhiệt độ quá cao. Hình
      ảnh cho thấy nhiệt độ Trái Đất tăng
    • Hình 2: Trái Đất ở hai thái cực, nơi thì mƣa nhiều, nơi thì hạn hán, chứng tỏ
      lƣợng mƣa phân bố không đều và có sự khác biệt ở các địa điểm trên Trái Đất
    • Hình 3: Hai tảng băng đang nói chuyện với nhau, tảng băng lớn hỏi tảng
      băng bé sao gầy thế? Hình ảnh muốn nói về hiện tƣợng băng tan ở hai cực, nƣớc
      biển dâng
    • Hình 4: Thời tiết quá nóng, một bắp ngô đã không còn hình dạng nhƣ ban
      đầu vì không đƣợc che chắn. Cho thấy thời tiết nắng nóng cực đoan
      Bước 3: Đặt tên cho tranh
      Hình 1: Trái Đất ốm rồi
      14
      Hình 2: Kẻ ăn không hết, ngƣời lần chẳng ra
      Hình 3: Giảm cân bất đắc dĩ
      Hình 4: Hot: nhan sắc tàn phai
      Bước 4: GV: kết luận, chuẩn xác kiến thức về những biểu hiện của biến đổi
      khí hậu
      1.4.2. Cần đảm bảo tính vừa sức. Vì TBH có yếu tố cƣờng điệu, phóng
      đại và có cả sự khó hiểu nên khi lựa chọn cần chú ý đến đối tƣợng HS. Sử dụng
      một bức TBH quá phức tạp có thể đƣa đến sự kích thích tìm hiểu, nhƣng có thể
      là một “gánh nặng” khi nó quá sức HS, từ đó dẫn đến việc không đạt mục tiêu
      dạy học dự kiến cho nội dung đó. Đồng thời cũng không nên sử dụng quá ba
      TBH cho một nội dung kiến thức hoặc quá năm tranh trong một tiết học.
      Hình 5: Nguồn:https://dantri.com.vn/ Hình 6: Nguồn: https://vneconomy.vn
      Ví dụ: Khi dạy về chuyên đề “ Biến đổi khí hậu”, phần tác động và hậu
      quả của biến đổi khí hậu, thay vì sử dụng hình 5 khiến HS khó hình dung, GV
      nên sử dụng hình 6, HS sẽ thấy ngay đƣợc tình trạng hạn hán, thiếu nƣớc cho
      sinh hoạt và sản xuất
      1.4.3. Cần đảm bảo được độ tin cậy. Độ tin cậy của TBH thể hiện tính
      chân thực của nhân vật, sự kiện, hiện tƣợng đƣợc phản ánh trong tranh, giúp HS
      có đánh giá thấu đáo. TBH thƣờng phản ánh thực tế cuộc sống nên nếu nguồn
      tranh đƣợc sử dụng không đáng tin cậy sẽ tạo nên những thông tin sai lệch cho
      ngƣời học. TBH thƣờng mang tính chủ quan của ngƣời vẽ, nên khi sử dụng
      tranh vào bài học, GV cần tìm hiểu dụng ý của ngƣời vẽ, trích dẫn rõ nguồn
      trang, giúp HS tiếp cận tranh không chỉ trên lớp mà cả bên ngoài lớp học.
      15
      1.4.4. Cần đảm bảo nguyên tắc hài hòa với các loại kênh hình khác
      nhƣ: tranh, ảnh, bản đồ, lƣợc đồ, sơ đồ, bảng thống kê. TBH có thế mạnh lớn
      trong việc hấp dẫn, cuốn hút học sinh, có thể sử dụng trong tất cả các khâu của
      quá trình dạy học nhƣ khởi động, hình thành kiến thức mới hay củng cố. Tuy
      nhiên nó chỉ có thể phản ánh một khía cạnh nhất định của bài học, do đó sử dụng
      TBH cần kết hợp với các kênh hình khác để đạt đƣợc hiệu quả tối đa.
      Ví dụ: khi dạy chuyên đề “ Biến đổi khí hậu” hoạt động: Tìm hiểu nguyên
      nhân của biến đổi khí hậu. GV sử dụng hình 6 thì HS sẽ chỉ thấy đƣợc một số
      nguyên nhân gây biến đổi khí hậu đó là hoạt động công nghiệp, giao thông vận
      tải, còn các hoạt động phát thải khí nhà kính khác nhƣ năng lƣợng, nông nghiệp,
      công trình xây dựng và nhà ở, chất thải thì HS vẫn cần phải nghiên cứu dựa vào
      bảng kiến thức và biểu đồ trong SGK. Nên trong trƣờng hợp này, hình 7 đƣợc sử
      dụng nhƣ một ví dụ minh họa cho một trong những nguyên nhân của biến đổi
      khí hậu là phù hợp.
      Hình 7: Nguồn: https://cuoi.tuoitre.vn/
    1. Mô hình lớp học đảo ngƣợc:
      2.1. Khái niệm về mô hình lớp học đảo ngược:
      Lớp học lật ngƣợc hay lớp học đảo ngƣợc là một chiến lƣợc hƣớng dẫn
      học tập, và là một kiểu học tập kết hợp đảo ngƣợc môi trƣờng học tập truyền
      thống bằng cách cung cấp nội dung hƣớng dẫn học tập, thƣờng là trực tuyến, cho
      HS học tập ngoài giờ học trên lớp. Nó di chuyển các hoạt động, bao gồm cả
      16
      những hoạt động có thể đƣợc coi là làm bài tập về nhà, vào trong lớp học (trong
      giờ học). Trong một LHĐN, HS xem các bài giảng trực tuyến, hợp tác trong các
      cuộc thảo luận trực tuyến hoặc thực hiện nghiên cứu tại nhà, còn tại lớp HS đào
      sâu và vận dụng kiến thức với sự hƣớng dẫn của GV. “Lớp học đảo ngược là một
      mô hình truyền đạt trong đó các yếu tố bài giảng điển hình và bài tập về nhà
      được đảo ngược cho nhau. Học sinh (ví dụ như ở nhà) xem các bài giảng video
      ngắn trước buổi học. Trong khi đó, thời gian trên lớp dành cho các bài tập, đồ
      án, HS hỏi sâu hơn về nội dung bài giảng đã xem và tham gia vào các hoạt động
      thực hành, đồng thời GV kiểm tra khả năng áp dụng kiến thức của học sinh.”
      (Nguồn: https://vi.wikipedia.org/)
      Mô hình LHĐN đƣợc xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết về học tập tích
      cực (active learning). Đây là cách tiếp cận trong dạy học theo hƣớng để ngƣời học
      chủ động khám phá, tiếp cận kiến thức thông qua quá trình tƣơng tác. Phƣơng
      thức dạy học này tạo ra môi trƣờng khuyến khích tính tự chủ trong học tập cho
      ngƣời học vì họ có thể tìm hiểu trƣớc các kiến thức cần thiết chuẩn bị cho các bài
      học cũng nhƣ có thể tìm tòi trƣớc các vấn đề liên quan thay vì chờ đợi sự truyền
      đạt kiến thức của GV trên lớp. Thực hiện mô hình LHĐN sẽ góp phần rèn luyện
      tính tự học, phát triển nhận thức cho HS.
      Trong mô hình giảng dạy truyền thống trong lớp học, GV thƣờng là trọng
      tâm chính của một bài học và là ngƣời phổ biến chính thông tin trong suốt thời
      gian học. LHĐN chuyển sự hƣớng dẫn học tập sang mô hình lấy HS làm trung
      tâm, trong đó thời gian lên lớp đƣợc sử dụng để khám phá sâu hơn các chủ đề và
      tạo ra cơ hội học tập có ý nghĩa.
      2.2. So sánh mô hình lớp học đảo ngược với mô hình lớp học truyền
      thống
      Trong quá trình giảng dạy môn Địa lí ở lớp học truyền thống, GV thƣờng
      phải dành phần lớn thời gian trên lớp để giúp HS nắm đƣợc những kiến thức, kỹ
      năng mới, sau đó HS làm bài tập, thực hành tại lớp, giao bài tập về nhà để củng
      cố, hoàn thiện tri thức đã tiếp nhận đƣợc. GV cũng chƣa có điều kiện để ứng
      17
      dụng nhiều công nghệ thông tin trong giảng dạy, GV chủ yếu sử dụng atlat, bản
      đồ, tranh ảnh trong sách giáo khoa, ít có điều kiện để sƣu tầm và sử dụng các
      nguồn tranh ảnh khác, nhất là tranh biếm họa phục vụ bài giảng. Vì vậy, lớp học
      truyền thống chƣa thực sự tạo cho HS tính chủ động, tích cực và có nhiều hứng
      thú trong học tập.
      Hiện nay, cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 đang diễn ra mạnh mẽ. Vì
      vậy, việc dạy học kết hợp sử dụng phƣơng tiện dạy học nhƣ tranh ảnh, bản đồ,
      kết hợp với công nghệ thông tin nhằm thúc đẩy quá trình học tập bên ngoài lớp
      học là một xu thế đã và đang ngày càng phổ biến trong giáo dục trên thế giới.
      Tranh ảnh, đặc biệt là TBH, với sức mạnh riêng của nó, nếu đƣợc sử dụng
      thƣờng xuyên, kết hợp với mô hình LHĐN, sẽ tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ cách
      dạy và học của HS và GV các trƣờng THPT

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • SKKN Xây dựng một số công cụ đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trong dạy học phần Địa lý tự nhiên lớp 10 ở trường THPT

    SKKN Xây dựng một số công cụ đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trong dạy học phần Địa lý tự nhiên lớp 10 ở trường THPT

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Trong những năm gần đây, nền giáo dục của nước ta đang có bước chuyển
    mình mạnh mẽ với những đổi mới trong nội dung giảng dạy, phương pháp giảng
    dạy và hình thức kiểm tra đánh giá nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
    phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và đáp ứng yêu cầu hội
    nhập khu vực và quốc tế.
    Nghị quyết 29 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI cũng nêu rõ mục tiêu
    tổng quát của đổi mới giáo dục là: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất
    lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng,
    bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam
    phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá
    nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả.
    Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có
    cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm
    các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội
    hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội
    chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt
    trình độ tiên tiến trong khu vực….
    Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành
    phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng
    nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo
    dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ
    năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự
    học, khuyến khích học tập suốt đời”. Như vậy, giáo dục phổ thông nước ta đang
    chuyển từ chương trình định hướng nội dung sang tiếp cận năng lực của người
    học. Để đạt được mục đích này, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển
    từ phương pháp dạy học nặng về truyền thụ kiến thức sang dạy cách học, cách vận
    dụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất.
    2
    Đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra
    trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, chú
    trọng kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học để có thể tác động kịp thời nhằm
    nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập. Theo tinh thần ấy, các yếu tố của quá
    trình giáo dục trong trường phổ thông cần được đổi mới tất cả các mặt: nội dung
    dạy học, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá. Để thực hiện được các quan
    điểm hiện đại trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hướng
    phát triển phẩm chất, năng lực cần có các công cụ đánh giá hợp lý, hiện đại. Trước
    đây việc đánh giá học sinh chủ yếu dựa trên đánh giá khả năng tiếp thu kiến thức
    và đánh giá một chiều giáo viên với học sinh. Công cụ đánh giá đơn điệu chủ yếu
    bằng hệ thống câu hỏi đóng, các đề kiểm tra, hồ sơ học tập của học sinh (vở ghi,
    bài tập, bài thực hành…).
    Vì vậy để đáp ứng được yêu cầu mới thì cần có những đổi mới, những đột
    phá trong việc thiết kế tiến trình dạy học của giáo viên. Việc đổi mới phương pháp
    dạy học đã được triển khai từ lâu và đã đạt được những hiệu quả nhất định trong
    việc thay đổi không khí giờ học, thay đổi ý thức người học và khả năng tiếp thu
    kiến thức. Tuy nhiên để nâng cao hơn nữa hiệu quả của mỗi giờ học cũng như thực
    hiện được quan điểm hiện đại về kiểm tra đánh giá, tôi nghĩ cần có sự thay đổi
    trong việc thiết kế và sử dụng các công cụ đánh giá.
    Công cụ đánh giá trong môn Địa lí nói riêng và các môn học nói riêng rất đa
    dạng bao gồm:

    • Câu hỏi – bài tập – Thang đo
    • Bảng kiểm – Hồ sơ học tập
    • Phiếu đánh giá theo tiêu chí – Đề kiểm tra
    • Sổ ghi chép các sự kiện thường nhật
      Đánh giá cần chú trọng đến đánh giá quá trình để phát hiện kịp thời sự tiến
      bộ của học sinh và vì sự tiến bộ của học sinh từ đó điều chỉnh kịp thời hoạt động
      dạy và hoạt động học trong quá trình dạy học. Thay vì chỉ giáo viên đánh giá học
      sinh thì học sinh có thể tự đánh giá mình và đánh giá lẫn nhau. Vì vậy việc thiết kế
      các công cụ đánh giá hiện đại là rất quan trọng. Bản thân tôi là một giáo viên sau
      3
      khi được tham gia vào lớp tập huấn nội dung mô đun 3: “Kiểm tra, đánh giá học
      sinh THPT theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực”, tôi đã rất tâm huyết
      với nội dung xây dựng công cụ kiểm tra, đánh giá. Tôi nghĩ đây là một nội dung có
      nhiều cái mới và nhiều giáo viên có thể chưa hiểu hết được các công cụ cũng như
      việc sử dụng các công cụ này như thế nào cho hợp lý. Vì vậy trong năm học 2021
      – 2022, tôi đã nghiên cứu các tài liệu liên quan, học hỏi đồng nghiệp trong và
      ngoài trường để có thể hiểu rõ về các công cụ đánh giá, đồng thời xây dựng một số
      công cụ mới phục vụ cho việc giảng dạy, quan trọng hơn là để chuẩn bị cho
      chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ áp dụng cho năm học 2022- 2023 đối với
      lớp 10. Chương trình địa lí lớp 10 gồm 2 phần: địa lí tự nhiên và địa lý kinh tế – xã
      hội tuy nhiên trong nhiều năm giảng dạy tôi nhận thấy học sinh cảm thấy khó khăn
      hơn trong việc học địa lí tự nhiên do kiến thức trừu tượng và khó hiểu. Vì vậy
      trong phạm vi sáng kiến này tôi muốn xây dựng một số công cụ đánh giá được áp
      dụng vào các bài học của phần địa lí tự nhiên nhằm giúp các em học tốt hơn nội
      dung này và qua đó cũng đánh giá được phần nào năng lực được hình thành cho
      các em sau mỗi bài học. Xuất phát từ những nguyên nhân trên, tôi quyết định thực
      hiện sáng kiến : “Xây dựng một số công cụ đánh giá theo hướng phát triển phẩm
      chất, năng lực học sinh trong dạy học phần địa lí tự nhiên lớp 10 ở trường THPT”
      II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
      Địa lí là một bộ môn khoa học đặc biệt bởi nó vừa mang tính khoa học tự
      nhiên, vừa mang tính khoa học xã hội. Mục tiêu của môn địa lí trong nhà trường
      phổ thông hiện nay không chỉ cung cấp cho học sinh hệ thống tri thức khoa học địa
      lí mà còn hướng đến việc hình thành và phát triển những năng lực cần thiết cho
      các em. Những năng lực này giúp học sinh giải quyết các tình huống trong cuộc
      sống và nghề nghiệp, tăng cường giúp đỡ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau để cùng
      phát triển, hội nhập. Tuy nhiên để hình thành được phẩm chất, năng lực cho học
      sinh không thể nhanh chóng trong một thời gian ngắn, do đó cần có các công cụ
      kiểm tra, đánh giá thường xuyên, liên tục để giúp học sinh hình thành và khắc sâu
      năng lực một cách hiệu quả.
      4
      Thực trạng hiện nay cho thấy các giáo viên trung học phổ thông nói chung
      về cơ bản đã hiểu được tầm quan trọng của kiểm tra, đánh giá trong dạy học và sự
      cần thiết phải đổi mới các công cụ đánh giá theo hướng phát triển năng lực, phẩm
      chất người học. Tuy nhiên ở góc độ thực hành, nhiều giáo viên vẫn chưa thực sự
      đánh giá thường xuyên người học, chưa chú trọng đến xây dựng kế hoạch đánh giá
      và sử dụng các công cụ đánh giá hiện đại. Mặc dù nhận thức được xu hướng đổi
      mới trong kiểm tra, đánh giá nhưng giáo viên vẫn chủ yếu đánh giá học sinh theo
      hướng cũ, bộc lộ nhiều hạn chế, chưa phát triển được hết phẩm chất và năng lực
      người học.
      Bản thân tôi trong những năm học trước, tôi tự nhận thấy việc kiểm tra,
      đánh giá kết quả học tập của học sinh còn nhiều hạn chế. Mục đích của kiểm tra,
      đánh giá vẫn chỉ tập trung vào đánh giá kết quả học tập của học sinh, xếp loại học
      sinh, cho điểm nhưng không phản hồi (hoặc có chữa bài, nhưng “áp đặt” cách giải
      đúng của giáo viên mà bỏ qua khâu phân tích sai sót/lỗi cho người học). Các công
      cụ đánh giá vẫn chưa được sử dụng phong phú: ví dụ khi đánh giá tôi hay đặt ra
      các câu hỏi đóng và bài tập cơ bản yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức trong sách
      giáo khoa, thỉnh thoảng đưa ra một số câu hỏi mở lấy thông tin, ý kiến học sinh.
      Bài tập thực tiễn và bài tập vận dụng rất ít. Công cụ tiếp theo là sử dụng hồ sơ học
      tập của học sinh, tôi thường kiểm tra vở ghi của học sinh để theo dõi việc ghi chép
      và đánh giá ý thức của học sinh trong mỗi giờ học, từ đó nhắc nhở các em ghi chép
      cẩn thận và đầy đủ hơn. Khi đánh giá định kỳ, tôi sử dụng công cụ phổ biến là các
      đề kiểm tra tự luận hoặc trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn ngoài ra cũng
      chưa sử dụng công cụ nào khác. Như vậy các công cụ mới như bảng kiểm, phiếu
      đánh giá theo tiêu chí, thang đo chưa được sử dụng phổ biến để đánh giá học sinh.
      Và tôi nghĩ việc sử dụng các công cụ truyền thống để đánh giá học sinh vẫn còn
      phổ biến trong các nhà trường THPT hiện nay.
      Vậy tại sao phần lớn giáo viên vẫn thường sử dụng các công cụ truyền thống
      trong đánh giá học sinh? Theo tôi nghĩ là vì nó không mất nhiều thời gian chuẩn
      bị, không khó khăn trong việc xây dựng, biên soạn và đánh giá kết quả người học.
      Tuy nhiên đứng trước yêu cầu phải đổi mới để đáp ứng được mục tiêu của
      chương trình giáo dục phổ thông mới thì bản thân mỗi chúng ta cần có sự đổi mới.
      Đổi mới từ cái nhỏ nhất đó chính là những công cụ đánh giá trong mỗi bài học để
      học sinh có hứng thú hơn khi tiếp nhận kiến thức, học sinh hiểu rõ mình cần phải
      làm gì sau mỗi bài học để tiến bộ hơn và học sinh được khách quan trong việc
      đánh giá bản thân mình và đánh giá bạn bè của mình. Hướng đánh giá được đa
      5
      chiều hơn không chỉ là giáo viên đánh giá học sinh mà học sinh có thể đánh giá lẫn
      nhau, học sinh tự đánh giá bản thân mình.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
      2.1. Lý luận chung về công cụ đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất,
      năng lực học sinh trong dạy học môn địa lí ở trường THPT.
      Công cụ đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trong
      dạy học môn địa lí ở trường THPT rất đa dạng, gồm 7 loại công cụ:
      Hình 1: Các công cụ đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất,
      năng lực học sinh
      Trong phạm vi nghiên cứu của sáng kiến, tôi đặc biệt dành nhiều thời gian tìm
      hiểu về các công cụ tôi sử dụng phổ biến và có hiệu quả trong dạy học là: câu hỏi
      và bài tập, bảng kiểm và phiếu đánh giá theo tiêu chí (rubric) vì vậy tôi xin phép
      được trình bày cụ thể về ba loại công cụ này.
      2.1.1. Câu hỏi và bài tập
      Câu hỏi và bài tập là công cụ đánh giá mà trong đó học sinh trả lời câu hỏi
      (vấn đáp) hoặc viết câu trả lời (kiểm tra viết). Các bằng chứng thu thập được từ
      câu hỏi có thể giúp giáo viên phát hiện những quan niệm sai lầm của học sinh và
      sự phân hóa trình độ trong nhóm học sinh,… Loại công cụ này rất đa dạng có thể là
      câu hỏi bằng hình thức trắc nghiệm, câu hỏi tự luận, vấn đáp, viết báo cáo, vẽ
      tranh, viết bài luận,… Nhưng phổ biến nhất là câu hỏi tự luận và câu hỏi trắc
      nghiệm. Trong chỉ đạo dạy học và kiểm tra, đánh giá hiện nay, Bộ Giáo dục và
      6
      Đào tạo đang hướng dẫn thực hiện theo bốn mức độ: Nhận biết, thông hiểu, vận
      dụng và vận dụng cao. Theo tài liệu hướng dẫn bồi dưỡng giáo viên phổ thông cốt
      cán – Mô đun 3, câu hỏi và bài tập có 4 loại, tuỳ thuộc vào kế hoạch và mục đích
      dạy học mà có thể áp dụng các dạng câu hỏi và bài tập phù hợp.
      Hình 2: Sơ đồ các loại câu hỏi và bài tập
      2.1.1.1. Câu hỏi vấn đáp
      Sử dụng câu hỏi vấn đáp trong đánh giá kết học tập của học sinh là cách thức
      giáo viên đặt câu hỏi, học sinh trả lời hoặc ngược lại. Đây là phương pháp đặc
      trưng và phổ biến nhất trong dạy học nhằm thu nhận những thông tin chính thức và
      không chính thức về việc học của học sinh. Thông qua đó, người học nhận thức
      được nhu cầu học tập của bản thân và con đường để cải thiện, giáo viên kịp thời
      điều chỉnh việc hoạt động dạy học để đạt mục đích của yêu cầu bài học đặt ra, có
      điều kiện quan tâm trực tiếp tới từng học sinh, nhất là các đối tượng đặc biệt. Để
      có câu hỏi hiệu quả trong dạy học Địa lí ở nhà trường phổ thông, giáo viên cần chú
      ý tới một số vấn đề như:
    • Câu hỏi rõ ràng và súc tích để học sinh hiểu được chủ đích của câu hỏi.
    • Câu hỏi phải phù hợp nội dung bài học và với trình độ học sinh.
    • Câu hỏi phải khuyến khích học sinh trả lời, câu hỏi phải giúp học sinh huy động
      7
      kiến thức và kinh nghiệm đã có và kích thích tư duy sáng tạo.
    • Hạn chế câu hỏi yêu cầu học sinh thuộc lòng.
    • Tăng cường sử dụng câu hỏi mở, câu hỏi thực tiễn.
    • Câu hỏi phải tạo ra sự thu hút cả lớp và cho học sinh đủ thời gian chuẩn bị trả lời.
    • Giáo viên cần ứng đáp thích hợp với những câu trả lời của học sinh.
      Bảng 1: Những chú ý khi đặt câu hỏi
      Trong những chú ý này, để góp phần phát triển phẩm chất, năng lực cho
      người học, giúp người học tư duy nhiều hơn, trao đổi nhiều hơn, thảo luận nhiều
      hơn thì giáo viên cần tăng cường sử dụng câu hỏi mở, câu hỏi thực tiễn.
      Câu hỏi mở là câu hỏi có nhiều đáp án và khuyến khích học sinh suy nghĩ
      chứ không chỉ khôi phục thông tin trong trí nhớ. Câu hỏi mở giúp giáo viên thăm
      dò, lấy ý kiến của học sinh, giúp giáo viên biết được rõ hơn mức độ hiểu bài của
      học sinh. Câu hỏi mở đòi hỏi học sinh tư duy nhiều, khuyến khích học sinh tham
      gia, thảo luận. Câu hỏi mở thường được dùng trong phần giới thiệu bài, phát triển
      bài.
      Sau đây là một số kiểu vấn đáp gợi mở thường dùng trong dạy học Địa lí
      như:
    • Kiểu câu hỏi mở lấy thông tin là kiểu câu hỏi giúp học sinh có cái nhìn tổng
      quan hoặc đưa ra những băn khoăn về tình huống hiện tại.
    • Kiểu câu hỏi mở hỏi ý kiến là loại câu hỏi dùng để học sinh đưa ra ý kiến, suy
      nghĩ, tranh luận của mình về một sự kiện, chủ đề nào đó.
    • Kiểu câu hỏi mở giả định là loại câu hỏi giúp học sinh suy nghĩ vượt ra khỏi
      khuôn khổ của tình huống hiện tại.
    • Kiểu câu hỏi mở hành động là kiểu câu hỏi giúp cho học sinh đưa ra các giải
      pháp, các ý tưởng,… để sử dụng hiệu quả tài nguyên, phát triển bền vững, thích
      ứng với môi trường địa lí, thích ứng với sự thay đổi của tự nhiên, của xã hội cũng
      như các xu hướng phát triển kinh tế, các vấn đề đặt ra đối với bản thân, gia đình,
      cộng đồng, quốc gia, khu vực và thế giới.
      2.1.1.2. Câu hỏi trắc nghiệm khách quan
      Câu hỏi trắc nghiệm khách quan là phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học
      tập của học sinh bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan. Gọi là khách quan
      vì cách cho điểm (đánh giá) hoàn toàn không phụ thuộc vào người chấm. Dạng câu
      hỏi này có nhiều dạng câu hỏi: đúng – sai, điền khuyết, ghép đôi, đa lựa
      chọn,…Trong đó, dạng câu hỏi đa lựa chọn (nhiều lựa chọn) được sử dụng nhiều
      nhất trong đánh giá kết quả học tập của học sinh.
      8
    • Dạng câu hỏi đúng – sai: Là dạng câu hỏi đưa ra các phát biểu để học sinh
      đánh giá đúng hay sai hoặc để trả lời có hoặc không. Loại câu hỏi này thích hợp để
      học sinh nhớ lại một khối lượng kiến thức đáng kể trong một thời gian ngắn. Do
      đó, câu dẫn của loại câu hỏi này phải rất rõ ràng để học sinh có thể trả lời dứt
      khoát có hoặc không, đúng hoặc sai.
    • Dạng câu hỏi điền khuyết (điền vào chỗ trống): Là dạng câu hỏi đòi hỏi
      học sinh trình bày sự hiểu biết bằng cách viết một từ, một cụm từ hay một đoạn
      văn khoảng 4, 5 dòng. Phương pháp này thích hợp cho những học sinh gặp khó
      khăn về vốn từ. Khi thiết kế dạng câu hỏi này, giáo viên phải chú ý tới một số kĩ
      thuật như: từ cần điền phải là các từ khóa thể hiện nội dung, bản chất của sự vật,
      hiện tượng địa lí, đánh số thứ tự các ô trống cần điền, dự kiến các phương án học
      sinh sinh có thể điền (nhất là các từ đồng nghĩa).
    • Dạng câu hỏi ghép đôi: Ở dạng này thường có hai dãy thông tin, một bên là
      các câu dẫn và bên kia là các câu đáp, học sinh phải tìm ra các cặp tương ứng.
      Thường sử dụng dạng câu hỏi này để đánh giá học sinh về khả năng nhận biết sự
      khác biệt về đặc điểm của các đối tượng địa lí.
    • Dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn: Là dạng câu hỏi
      bao gồm một câu hỏi và các phương án trả lời. Trong các phương án trả lời, có một
      phương án đúng hoặc đúng nhất, các phương án còn lại là phương án sai/ phương
      án nhiễu. Dạng câu hỏi này có hai phần, phần dẫn và phương án trả lời.
      2.1.1.3. Câu hỏi tự luận
      Câu hỏi tự luận là dạng câu hỏi cho phép học sinh tự do thể hiện quan điểm
      khi trình bày câu trả lời cho một chủ đề hay một nhiệm vụ và đòi hỏi học sinh phải
      tích hợp kiến thức kĩ năng đã học, kinh nghiệm của bản thân, khả năng phân tích,
      lập luận, đánh giá,… và kĩ năng viết. Dạng câu hỏi này có nhiều ưu điểm trong việc
      đánh giá các năng lực tư duy bậc cao trong dạy học địa lí như: đánh giá thuận lợi
      và khó khăn của đối tượng địa lí, lí giải về sự tồn tại và phát triển của đối tượng
      địa lí, đưa ra quan điểm hoặc ý kiến cá nhân về xu hướng phát triển của đối tượng
      địa lí,… Kiểu câu hỏi tự luận thường có hai dạng: tự luận trả lời ngắn và tự luận
      trả lời dài.
      Như vậy, câu tự luận không có cấu trúc: là những câu hỏi cho phép học sinh
      tự do xác định nội dung, cấu trúc và phạm vi câu trả lời về một chủ đề cụ thể,
      trong khoảng thời gian nhất định, học sinh tự quyết định thực tế nào là thích hợp
      và làm thế nào để tổ chức, tổng hợp, đánh giá chúng. Câu hỏi này thích hợp với
      những mục tiêu kỹ năng, bao gồm cả khái niệm, tổ chức, phân tích và đánh giá.
      Câu hỏi tự luận có những ưu – nhược điểm sau:
      9
      Ưu điểm Nhược điểm
    • Là cách thức chủ yếu để đánh giá khả
      năng tổ chức, diễn tả và bảo vệ quan
      điểm của học sinh.
    • Có thể đánh giá các kỹ năng nhận
      thức, ở tất cả mức, bao gồm cả kỹ năng
      cao và kỹ năng ra quyết định.
    • Cũng có thể sử dụng để đo các kỹ
      năng phi nhận thức, ví dụ thái độ, giao
      tiếp,…
    • Tạo cơ hội để học sinh sắp xếp các ý
      tưởng để chứng tỏ khả năng tư duy và
      sáng tạo của bản thân.
    • Có thể sử dụng cả đánh giá định kỳ
      và đánh giá thường xuyên.
    • Chiếm nhiều thời gian để trả lời và
      chấm điểm; khó đạt sự khách quan khi
      chấm.
    • Chỉ kiểm tra một số lượng kiến thức
      giới hạn và chú trọng đến khả năng viết.
      Đồng thời nhiều khi câu trả lời vượt
      ngoài phạm vi khóa học, môn học.
    • Quá trình phản hồi diễn ra chậm, hầu
      như không kịp thời với tiến trình học
      tập.
      Bảng 2: Ưu điểm và nhược điểm của câu tự luận
      2.1.1.4. Bài tập thực tiễn
      Đối tượng của môn Địa lí có tính không gian, tính thời gian và có mối quan
      hệ với các sự vật hiện tượng khác, là các sự vật hiện tượng đang tồn tại và xảy ra
      ngay trong môi trường xung quanh học sinh. Do vậy, việc sử dụng các tình huống
      thực tiễn của môi trường xung quanh để tạo ra các tình huống có vấn đề, các bối
      cảnh là một trong những giải pháp góp phần đổi mới phương pháp dạy học, đổi
      mới kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực cho người học. Kiểu
      câu hỏi và bài tập đánh giá này, giúp cho giáo viên đánh giá được khả năng vận
      dụng kiến thức, kĩ năng,… đã học vào giải quyết vấn đề. Bài tập thực tiễn đều là
      các câu hỏi dựa trên các tình huống của đời sống thực, nhiều tình huống được lựa
      chọn không phải chỉ để học sinh thực hiện các thao tác về tư duy, mà còn để học
      sinh ý thức về các vấn đề xã hội, vấn đề toàn cầu.
      Dạng thức của câu hỏi phong phú, không chỉ bao gồm các câu hỏi lựa chọn
      đáp án mà còn yêu cầu học sinh tự xây dựng nên đáp án của mình. Các tình huống,
      ngữ cảnh trong bài tập thực tiễn trong dạy học Địa lí rất đa dạng, vì môn Địa lí có
      tính tích hợp và liên môn rất cao. Do đó, học sinh dễ dàng bộc lộ tư duy và quan
      điểm cá nhân, năng lực của bản thân khi giải các bài tập đó.
      Cấu trúc của kiểu bài này gồm 2 phần: Phần dẫn và phần câu hỏi.
      10
    • Phần dẫn: là phần mở đầu, phần để dẫn mô tả tình huống thực tiễn hoặc
      giả tình huống thực tiễn nhưng phải hợp lí. Các tình huống đó có thể là kênh chữ
      hoặc kênh hình được lấy từ thực tiễn sách, báo, tạp chí,,… hoặc tác giả tự viết,
      nguồn trích dẫn phải rõ ràng.
    • Phần câu hỏi: bao gồm nhiều kiểu câu hỏi được sử dụng:
    • Câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn kiểu đơn giản, câu hỏi Đúng/
      Sai phức hợp, câu hỏi Có/ Không.
    • Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời ngắn.
    • Câu hỏi mở đòi hỏi trả lời dài.
    • Câu hỏi đóng đòi hỏi trả lời.
    • Câu hỏi yêu cầu vẽ đồ thị, biểu đồ.
    • Câu hỏi yêu cầu học sinh dùng lập luận để thể hiện việc đồng tình hay bác bỏ
      một nhận định,…
      Các dạng câu hỏi và bài tập rất đa dạng, loại công cụ này được giáo viên sử
      dụng thường xuyên để đánh giá thường xuyên hay đánh giá định kỳ học sinh. Tuy
      nhiên cần áp dụng các dạng câu hỏi và bài tập cho linh hoạt và hợp lí nhằm khơi
      gợi sự hứng thú và sáng tạo trong quá trình tiếp thu kiến thức, phát triển phẩm chất
      và năng lực của học sinh
      2.1.2. Bảng kiểm
      Bảng kiểm là một trong những công cụ đánh giá có hiệu quả trong việc đánh
      giá theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh. Bảng kiểm là những yêu
      cầu cần đánh giá thông qua trả lời câu hỏi có hoặc không. Công cụ đánh giá này
      mang lại nhiều lợi ích trong việc đánh giá kĩ năng thực hành địa lí cho học sinh với
      các hành động cụ thể. Loại công cụ này cũng có thể sử dụng để đánh giá sản phẩm
      học tập của học sinh với các yêu cầu cụ thể mà một sản phẩm cần có.
      Lợi ích của việc sử dụng bảng kiểm trong đánh giá kết quả học tập của học sinh
    • Tạo thuận lợi cho việc ghi lại các bằng chứng về sự tiến bộ của học sinh trong
      một mục tiêu học tập nhất định.
    • Người học có thể tự đánh giá mức độ đạt được và chưa đạt được của mình và
      của bạn so với yêu cầu đặt ra.
      Thông qua đó, người học có thể tự điều chỉnh hoặc bổ sung những thao tác,
      kĩ năng, nội dung còn thiếu và hạn chế của mình. Do vậy, đây là loại công cụ có
      hiệu quả trong việc đánh giá sự tiến bộ của người học và đánh giá năng lực tìm hiểu
      địa lí. Bảng kiểm thường được xây dựng nhằm đánh giá sản phẩm học tập của học
      11
      sinh như: làm bài thực hành, vẽ biểu đồ, nhận xét, xử lý bảng số liệu…Khi
      xây dựng bảng kiểm cần chú ý những điều sau:
      Bảng 3: Những lưu ý khi xây dựng bảng kiểm
      2.1.3. Phiếu đánh giá theo tiêu chí (Rubric)
      Phiếu đánh giá theo tiêu chí là một tập hợp các tiêu chí được cụ thể hóa
      bằng các chỉ báo, chỉ số, các biểu hiện hành vi có thể quan sát, đo đếm được. Các
      tiêu chí này thể hiện mức độ đạt được của mục tiêu học tập và được sử dụng để
      đánh giá và thông báo về sản phẩm, năng lực thực hiện hoặc quá trình thực hiện
      nhiệm vụ của người học. Dạng công cụ này thường dùng để đánh giá sản phẩm
      học tập của học sinh, giúp học sinh có thể tự đánh giá sản phẩm học tập của mình
      và đánh giá sản phẩm của người khác.
      Loại công cụ này, mang lại lợi ích cho cả giáo viên và học sinh khi triển
      khai hoạt động đánh giá. Cụ thể như:
    • Đối với giáo viên:
    • Cụ thể hóa các tiêu chí quan trọng để người giáo viên tập trung vào những nội
      dung quan trọng;
    • Cụ thể hóa các tiêu chí để giáo viên có trọng tâm khi đánh giá người học;
    • Tăng tính nhất quán trong đánh giá;
    • Hạn chế tranh cãi khi đánh giá vì sự chủ quan của người đánh giá được giảm
      bớt nhờ các tiêu chí và cấp độ cho điểm rõ ràng;
    • Mang lại cho cả giáo viên và phụ huynh thông tin đầy đủ vể sự thể hiện năng lực
      của người học.
    • Đối với học sinh:
    • Làm rõ sự mong đợi của người dạy đối với hoạt động của người học;
    • Chỉ rõ những điểm quan trọng của một quy trình hay sản phẩm;
    • Giúp người học giám sát và tự nhận xét sản phẩm học tập của mình;
    • Mang lại cho người học thông tin đầy đủ về sự thể hiện năng lực của người học;
    • Mang lại thông tin đánh giá rõ ràng hơn cách đánh giá truyền thống bằng điểm
      số.
      Khi thiết kế phiếu đánh giá theo tiêu chí cần chú ý những vấn đề sau:

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • SKKN Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học chủ đề địa lí tự nhiên Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả ôn thi tốt nghiệp THPT môn Địa lí

    SKKN Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học chủ đề địa lí tự nhiên Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả ôn thi tốt nghiệp THPT môn Địa lí

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
    Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) là một trong những nhiệm vụ quan
    trọng của cải cách giáo dục cũng như cải cách cấp trung học phổ thông. Hiện nay,
    vấn đề đổi mới PPDH nói chung cũng như đổi mới PPDH Địa l nói riêng đã được
    pháp chế hóa trong điều 28, Luật Giáo dục: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải
    phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc
    điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc
    theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình
    cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh (HS)”. Việc dạy học không chỉ
    dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức mà quan trọng hơn là dạy cho học sinh phương
    pháp tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức.
    Trong thực tế, những năm gần đây, dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của các cấp
    lãnh đạo, sự quan tâm sát sao của Ban Giám hiệu nhà trường, trước yêu cầu của Đổi
    mới giáo dục, đổi mới hoạt động dạy và học theo hướng nghiên cứu bài học và phát
    huy năng lực của học sinh, đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá, các thầy cô trường
    THPT Ngô Quyền nói chung và nhóm Địa l nói riêng đã rất cố gắng nỗ lực, tìm tòi,
    sáng tạo trong quá trình đổi mới phương pháp, với mục đ ch nhằm nâng cao chất
    lượng dạy học, làm tăng hứng thú học tập cho học sinh trong các giờ học Địa lí, giúp
    các em yêu thích môn học hơn, làm chủ quá trình chiếm lĩnh kiến thức, phát huy năng
    lực tự học của học sinh và giúp các em có khả năng vận dụng kiến thức lí thuyết vào
    thực tiễn cuộc sống. Một trong những phương pháp mà cá nhân tôi đã sử dụng có
    hiệu quả trong quá trình giảng dạy và ôn thi Tốt nghiệp THPT môn Địa l là phương
    pháp sử dụng sơ đồ tư duy trong việc hệ thống hóa kiến thức giúp học sinh phát huy
    được tính tích cực, chủ động, phân loại kiến thức theo mức độ nhận thức trong chuẩn
    kiến thức và kĩ năng.
    Phương pháp này đã được tôi áp dụng nhiều năm trong quá trình giảng dạy,
    ôn thi Tốt nghiệp THPT Quốc gia năm học 2020- 2021 và 2021- 2022. ản thân tôi
    đã sử dụng sơ đồ tư duy trong giảng dạy và ôn thi Tốt nghiệp THPT Quốc gia để làm
    tăng hứng thú học tập và nâng cao chất lượng môn Địa lí cho học sinh. Qua việc sử
    2
    dụng sơ đồ tư duy, tôigiúp học sinh nắm vững kiến thức môn học, thúc đẩy ham
    muốn học tập của học sinh, tăng cường năng lực hoàn thành những công việc quan
    trọng và niềm khát khao được đánh giá các kết quả đã hoàn thành. Khi học sinh có cơ
    hội kiểm soát được việc học của chính mình thì giá trị của việc học đối với các em
    cũng tăng lên. Cơ hội lựa chọn và kiểm soát, cũng như cơ hội cộng tác với các bạn
    cùng lớp sẽ làm tăng hứng thú học tập của các em.
    II. Mô tả giải pháp:

    1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến:
      Một trong những nội dung của Đổi mới Giáo dục là đổi mới cách thi, hình thức
      thi trong kỳ thi Tốt nghiệp trung học phổ thông . Ở môn Địa l , để hình thành mạch
      kiến thức liên tục, giáo viên thường xây dựng thành các chủ đề: Địa l tự nhiên, địa l
      dân cư, địa l ngành kinh tế, địa l vùng kinh tế. Chủ đề địa l tự nhiên luôn là chủ đề
      khó nhất, khó trong cách truyền đạt kiến thức, khó trong việc tiếp cận kiến thức. Vì ở
      địa l tự nhiên, phải hiểu bản chất của vấn đề mới ghi nhớ được nội dung kiến thức.
      Thực trạng các phương pháp giảng dạy Địa l hiện nay vẫn được áp dụng là:
    • Phương pháp thuyết tr nh – giảng giải
      Đây là phương pháp cổ điển không thể thiếu trong mọi quá trình dạy học. Nhưng
      phương pháp này chỉ phát huy hiệu quả mạnh khi giáo viên:
    • Trình bày bài lôg c.
    • Ngôn ngữ truyền đạt trong sáng, dễ hiểu.
    • Học sinh phải tuyệt đối chú để nắm bắt kiến thức từ giáo viên.
    • Phương pháp v n đáp
      Đây là phương pháp thường được nhiều giáo viên sử dụng trong các giờ lên lớp.
      Những phương pháp này c n một số hạn chế:
    • Học sinh c n thụ động tiếp nhận tri thức từ giáo viên
    • Chỉ những học sinh thực sự hứng thú với giờ học mới tham gia vào việc trả lời các
      câu h i.
      Trước thực trạng dạy học môn Địa l c n sử dụng nhiều phương pháp truyền thống
      nên tôi xây dựng sáng kiến: “Thiết kế, sử dụng sơ đồ tư duy trong chủ đề địa lí tự
      nhiên Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả ôn thi Tốt nghiệp trung học phổ thông –
      3
      môn Địa lí” . Việc thiết kế và sử dụng các loại sơ đồ tư duy đóng một vai tr quan
      trọng trong quá trình dạy học. Nó có tác dụng rất lớn trong quá trình nhận thức của
      học sinh. Ch nh vì vậy, việc thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Địa l là
      một vấn đề cấp thiết, nhằm đổi mới tư duy, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá.
      Qua những chia sẻ trong sáng kiến này, tôi muốn giúp học sinh nắm vững kiến thức
      về địa l tự nhiên Việt Nam, thúc đẩy ham muốn học tập, năng lực của học sinh. Từ
      việc nắm vững kiến thức sẽ giúp các em giải quyết các câu h i, bài tập và đề thi đạt
      hiệu quả cao hơn.
    1. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
      Sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép sử dụng nhiều màu sắc, hình ảnh để mở
      rộng và đào sâu các tưởng. Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng có
      thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình họa kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu
      sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai
      thác tiềm năng vô tận của não bộ.
      Sơ đồ tư duy giúp học sinh có phương pháp học hiệu quả hơn: Việc rèn luyện
      phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy
      học mà còn là mục tiêu dạy học. Thực tế cho thấy, một số học sinh chăm chỉ nhưng
      kết quả học tập vẫn thấp vì các em học bài nào biết bài đấy, học trước quên sau,
      không biết vận dụng kiến thức đã học phần trước vào phần sau, không biết liên kết
      các kiến thức với nhau. Phần lớn học sinh khi đọc sách và nghe giảng không biết
      cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức một cách khoa học, trọng tâm vào trí
      nhớ của mình. Sử dụng thành thạo sơ đồ tư duy trong dạy học sẽ giúp học sinh có
      phương pháp học, tăng cường t nh độc lập, sáng tạo và chủ động. Học sinh sẽ hiểu
      sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính bản thân mình tự suy nghĩ, tự viết và vẽ ra
      theo ngôn ngữ của mình.
      Địa l là một môn khoa học vừa l thuyết vừa thực hành với nhiều kiến thức về
      tự nhiên, dân cư và kinh tế rất cần thiết cho mỗi người dân Việt Nam. Trong các PPDH
      t ch cực, phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy sẽ giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức,
      xác định được kiến thức cơ bản. Mặt khác, sử dụng phương pháp sơ đồ tư duy còn giúp
      học sinh rèn luyện, phát triển tư duy logic, khả năng tự học, phát huy t nh t ch cực và
      4
      sáng tạo của học sinh không chỉ trong học tập môn Địa l mà c n trong các môn học
      khác và các vấn đề khác trong cuộc sống.
      2.1. Các lƣu ý hi sử dụng sơ đồ tƣ duy
      Có nhiều loại sơ đồ tư duy có thể được sử dụng khi giảng dạy và ôn tâp Địa l .
      Để tạo được sơ đồ tư duy và sử dụng có hiệu quả các sơ đồ đó, theo tôi cần có các lưu
      như sau:
      2.1.1. Hiểu về các iểu sơ đồ tƣ duy trong dạy học địa lí
    • Sơ đồ tìm hiểu bài mới dùng để chứng minh, giải th ch, phản ánh nội dung bài
      giảng một cách trực quan.
    • Sơ đồ tổng hợp dùng để ôn tập, tổng kết hay hệ thống 1 chương, 1 phần kiến
      thức.
    • Sơ đồ kiểm tra để đánh giá năng lực tiếp thu, hiểu biết của học sinh đồng thời
      giúp giáo viên kịp thời điều chỉnh nội dung truyền đạt.
      2.1.2. Đảm bảo tính hoa học, tính hái quát, tính thẩm mĩ của sơ đồ tƣ duy
    • T nh khoa học: nội dung sơ đồ phải bám sát nội dung của bài học, phải thể hiện
      được mối quan hệ biện chứng giữa các sự vật, hiện tượng một cách khách quan chứ không
      phải do giáo viên áp đặt.
    • T nh khái quát: sơ đồ phải có t nh khái quát hóa cao, lược b các chi tiết phụ,
      dễ học, dễ nhớ. Qua sơ đồ học sinh có thể nhận thấy ngay các mối quan hệ khách
      quan, biện chứng.
    • T nh thẩm mĩ: bố cục của sơ đồ phải hợp l , cân đối, nổi bật trọng tâm và các
      nhóm kiến thức, có thể dùng màu sắc làm rõ.
      2.1.3. Nắm vững y u cầu hi thiết ế sơ đồ tƣ duy
      Giáo viên và học sinh phân t ch nội dung bài dạy, tìm ra những khái niệm cơ bản,
      khái niệm gốc cần truyền đạt, hình thành.
    • ước 1: Chọn kiến thức cơ bản, mã hóa các kiến thức đó một cách ngắn gọn,
      cô đọng, súc t ch nhưng phải phản ánh được nội dung cần thiết (có thể sử dụng hình
      tượng trưng).
    • ước 2: Thiết lập sơ đồ với những nội dung đã lựa chọn ở bước 1.
    • ước 3: Hoàn thiện, kiểm tra lại tất cả các công việc đã thực hiện. Điều chỉnh
      sơ đồ phù hợp với nội dung bài học đảm bảo t nh thẩm mĩ và khái quát.
      5
      Trong khi sử dụng giáo viên phải hình thành rõ mạch ch nh, mạch nhánh của sơ đồ,
      mối quan hệ nhân quả, mối quan hệ tác động hoặc sự liên kết các đơn vị kiến thức
      trên sơ đồ.
      2.1.4. Nắm vững nguy n tắc hi sử dụng sơ đồ tƣ duy
    • Sử dụng sơ đồ phải đáp ứng được mục tiêu và phù hợp với nội dung của việc
      giảng dạy.
    • Phải luôn đề cao vai tr hoạt động chủ động, t ch cực của học sinh. Giáo viên
      luôn tạo điều kiện tối đa cho học sinh tự mình làm việc với các sơ đồ để khám phá,
      tìm t i các tri thức cần thiết.
    • Sử dụng sơ đồ đúng lúc, đúng vị tr , đảm bảo tất cả học sinh trong lớp đều có
      thể tiếp cận được.
    • Sử dụng sơ đồ đủ cường độ.
    • Phối hợp nhiều loại phương tiện- đồ dùng dạy học khác nhau, không nên quá
      lạm dụng một phương tiện nào đó sẽ gây nhàm chán.
      Trong dạy học Địa lí, sơ đồ có thể được dùng vào mọi thời điểm trong giờ
      học: kiểm tra kiến thức cũ của học sinh (phụ lục 1); định hướng học sinh khi hình
      thành kiến thức mới (phụ lục 2); trong khai thác kiến thức bài mới (phụ lục 3);
      trong việc luyện tập, củng cố bài học (phụ lục 4); trong việc giao bài tập về nhà
      (phụ lục 5).
      Từ những lưu trên tôi mạnh dạn đưa ra các giải pháp thực hiện như sau:
      2.2. Các giải pháp khi thiết kế, sử dụng sơ đồ tƣ duy.
      2.2.1. Sử dụng sơ đồ tƣ duy trong quá trình chuẩn bị bài giảng.
      Ngay từ đầu năm học, tôi tiến hành xây dựng giáo án: giáo án soạn mới hoàn
      toàn, có sử dụng sơ đồ tư duy và sử dụng trong giảng dạy các lớp khối 11 và 12 theo
      phân công chuyên môn của nhà trường.
      Trong quá trình soạn bài, đối với khối 12, đặc biệt phần địa lí tự nhiên, các bài
      đều có thể lập sơ đồ tư duy nên rất dễ dàng trong việc hướng dẫn học sinh thiết lập sơ
      đồ tư duy tìm hiểu bài học.
      6
      Khi soạn bài, cả trên giáo án Word và Power Point, tôi sử dụng phần mềm
      iMindMap 6 hoặc iMindMap8 để thiết kế sơ đồ tư duy phù hợp cho từng bài giảng.
      Phần mềm này sử dụng rất đơn giản, dễ dàng và tiện lợi khi xây dựng sơ đồ tư duy.
      Hơn nữa BGH và nhóm Tin của trường THPT Ngô Quyền đã tổ chức tập huấn cho
      toàn thể cán bộ, giáo viên kĩ năng thiết kế bài giảng sử dụng sơ đồ tư duy trong năm
      học 2019- 2020. Ở các lớp tôi giảng dạy, nhiều học sinh cũng rất thành thạo thao tác
      cài đặt và sử dụng phần mềm này. Thú thực, đôi lúc bản thân tôi vừa làm vừa trao
      đổi, chia sẻ và được các em học sinh hỗ trợ rất nhiều về công nghệ thông tin.
      2.2.2. Sử dụng sơ đồ tƣ duy để khái quát chuẩn kiến thức, ĩ năng và xây dựng
      dàn ý bài học.
      Đây ch nh là bước quan trọng đầu tiên tôi chuẩn bị cho 1 tiết học, dựa và nội
      dung chuẩn kiến thức và kĩ năng, tôi sẽ thiết kế sơ đồ tư duy khái quát thể hiện các
      đơn vị kiến thức và kĩ năng trọng tâm của bài học. Từ đó, sử dung phần mềm
      iMindMap8.0 để xây dựng sơ đồ tư duy và trình chiếu trên PowerPoint.
      Ví dụ: Khi dạy bài 2:Vị tr địa lí và lãnh thổ, tôi sử dụng sơ đồ sau để khái quát kiến
      thức toàn bài giúp học sinh có cái nhìn toàn diện về bài học, có thể sử dụng kèm theo
      một số hình ảnh tiêu biểu để tăng hứng thú khám phá cho học sinh:
      Để thống nhất dàn ý cho bài học, tôi sử dụng sơ đồ còn khuyết nhánh để học
      sinh phát hiện nhánh sơ đồ còn thiếu hoặc thừa, từ đó thống nhất dàn ý chuẩn cho bài
      học:
    • Nhánh 1: Vị tr địa lí: khuyết 1 nội dung hệ tọa độ địa l trên đất liền.
    • Nhánh 2: Lãnh thổ: khuyết 2 nội dung các bộ phận vùng đất và vùng biển.
    • Nhánh 3: Ý nghĩa của vị trí và lãnh thổ khuyết nội dung các nguyên nhân của sự đa
      dạng tài nguyên sinh vật, khoáng sản.
      Sau khi học sinh bổ sung sẽ thống nhất được sơ đồ dàn ý tìm hiểu bài học.
      Cách khác, GV có thể viết nội dung bài học vào giữa bảng và yêu cầu 1- 3 học sinh
      lên bảng hoàn thành sơ đồ dàn ý bài học.
      7
      Đây là thao tác quan trọng giúp học sinh định hướng nội dung tìm hiểu bài học,
      các đơn vị kiến thức chủ yếu, trọng tâm, những nội dung kiến thức bổ trợ… trong quá
      trình khai thác tài liệu học tập hình thành kiến thức và cũng dễ dàng cho học sinh khi
      đánh giá, nhận xét các sản phẩm học tập của nhóm bạn.
      2.2.3. Sử dụng sơ đồ tƣ duy trong hoạt động hình thành kiến thức mới.
      Trong giải pháp này, tôi sử dụng sơ đồ tư duy là một phương tiện hỗ trợ hình
      thành kiến thức mới. Tôi có thể phối hợp với các phương pháp: dự án, thảo luận
      nhóm, mảnh ghép… để dẫn dắt, hướng dẫn học sinh lần lượt vẽ các nhánh theo tiến
      trình hình thành kiến thức mới. Từ mỗi nhánh chính lại triển khai các nhánh phụ: “
      con”, “ cháu”, “ chắt”, “ ch t”…
      Ví dụ: Trong nội dung hình thành kiến thức mới của Bài 2: Vị tr địa lí và lãnh thổ,
      tôi sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, dựa trên sơ đồ kiến thức đã khái quát, học
      sinh hoàn thành các nhánh sơ đồ tư tuy tương ứng với chuẩn kiến thức, kĩ năng:
    • Cách thức tiến hành:
      Bước 1: Giao nhiệm vụ
      Lớp học được chia thành 8 nhóm, hai nhóm thực hiện 1 nhiệm vụ.
    • Các nhóm: bắt thăm lựa chọn nhiệm vụ thảo luận: (Phiếu học tập số 1,2,3,4)
      PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
    • Nêu đặc điểm vị tr địa lí của nước ta:
    • Tọa độ địa l trên đất liền, trên biển
    • Vị trí tiếp giáp
    • Múi giờ
      PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2
    • Nêu đặc điểm lãnh thổ của nước ta:
    • Vùng đất: Khái niệm, diện tích, giới hạn
      8
    • Vùng biển: Diện tích, các bộ phận vùng biển
    • Vùng trời: Khái niệm, giới hạn
      PHIẾU HỌC TẬP SỐ 3
    • Nêu nghĩa tự nhiên của vị tr địa lí và lãnh thổ nước ta:
    • Ảnh hưởng đến thiên nhiên chung
    • Ảnh hưởng đến các thành phần tự nhiên
      PHIẾU HỌC TẬP SỐ 4
    • Nêu nghĩa kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của nước ta:
    • Ý nghĩa về kinh tế: giao thông, thu hút đầu tư
    • Ý nghĩa xã hội
    • Ý nghĩa an ninh, quốc phòng
      Nhiệm vụ mỗi nhóm là thảo luận 3 yêu cầu:
    1. Thông tin trả lời câu h i trên được lấy từ đâu?
    2. Đưa ra dàn và nội dung trả lời các câu h i trên bằng sơ đồ tư duy.
    3. Nhóm báo cáo sản phẩm bằng hình thức nào?
    • Đánh giá kết quả Nhóm ………..:
    • Ưu điểm:
    • Hạn chế:
    • Đề xuất (bổ sung, thay thế):
    • Phản biện:………………………………………………………………………………..
    • Phương án trả lời: ………………………………………………………
    • Yêu cầu:
      9
    • Nhận xét kết quả làm việc
    • Đặt câu h i phản biện
    • Đánh giá kết quả và sản phẩm báo cáo.
    • Quy trình thực hiện hoạt động nhóm:
    • Tiết trước, tôi giao nhiệm vụ cho học sinh chuẩn bị bài học, nghiên cứu cá
      nhân, phân công nhiệm vụ và thu thập thông tin từ các nguồn tài liệu SGK, nguồn
      học liệu mở, chuẩn bị phương tiện, đồ dùng, tranh ảnh… liên quan đến nội dung trả
      lời các câu h i và bài tập theo chuẩn kiến thức và kĩ năng.
    • Phân nhóm theo sở th ch: Đảm bảo số lượng thành viên các nhóm không quá
      chênh lệch.
    • Đại diện các nhóm xác lập lại nhiệm vụ đã bắt thăm được.
      Bước 2: Thảo luận và hoàn thành sản phẩm
    • Các nhóm thảo luận dưới sự điều hành của nhóm trưởng, thư k tập hợp ý
      kiến cá nhân thành ý kiến chung, chuẩn bị đồ dùng, phương tiện và thống nhất cách
      thức trình bày và báo cáo sản phẩm của nhóm. (5 phút)
    • Học sinh làm nhiệm vụ. GV quan sát, động viên, gợi ý.
      Bước 3: Báo cáo sản phẩm
    • Kết thúc phần hoàn thiện sản phẩm, thống nhất của các nhóm, GV ra hiệu
      lệnh mời nhóm chuyên gia lên điều khiển hoạt động báo cáo sản phẩm của các nhóm:
    • Bắt thăm để lựa chọn nhóm trình bày và nhóm đối chiếu.
    • Đại diện các nhóm lần lượt trình bày sản phẩm sơ đồ tư duy và báo cáo,.
      Trước khi trình bày nội dung sản phẩm, các nhóm cần nêu rõ hình thức báo cáo sản
      phẩm (bản thuyết trình hay Slide/tranh ảnh/…).
      Nhóm chuyên gia đánh giá kết quả làm việc của các nhóm, đặt câu h i phản
      biện. Đại diện nhóm trả lời. Nhóm chuyên gia nêu đáp án hoặc bổ sung, trao phần
      10
      thưởng cho nhóm có sản phẩm sơ đồ tư duy đầy đủ nhất và phần báo cáo xuất sắc
      nhất.
      Bước 4: Đánh giá

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • SKKN Thiết kế và sử dụng kênh hình trong Dạy học Địa lí lớp 11 theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh

    SKKN Thiết kế và sử dụng kênh hình trong Dạy học Địa lí lớp 11 theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    I.1. Xuất phát từ cách tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 và yêu
    cầu đổi mới giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh
    Trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, đòi hỏi nước ta
    phải có nguồn nhân lực có phẩm chất, năng lực, đạo đức và trí tuệ đồng thời có khả
    năng thích ứng cao, vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức của nhân loại vào hoàn cảnh
    thực tế của đất nước, từ đó tạo ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu của xã hội. Để có
    nguồn nhân lực đó, yêu cầu đặt ra là phải đổi mới giáo dục một cách toàn diện, đổi
    mới mục tiêu, nội dung giáo dục và phương pháp dạy và học.
    Chương trình giáo dục phổ thông 2018 giúp các em học sinh củng cố và mở
    rộng nền tảng tri thức, kĩ năng phổ thông cốt lõi, tạo sơ sở cho HS tiếp tục theo học
    các ngành nghề có liên quan sau này. Tiếp cận với chương trình GDPT mới, bản thân
    tôi được tập huấn và học hỏi các modul về xây dựng kế hoạch bài dạy, đổi mới kiểm
    tra- đánh giá trong dạy và học gắn với mục tiêu, yêu cầu cần đạt của mỗi chuyên đề,
    gắn kiến thức lí thuyết với thực tiễn nhằm phát triển năng lực, phẩm chất HS.
    Các môn học trong nhà trường phổ thông hiện nay nói chung và môn Địa lí nói
    riêng không chỉ nhằm cung cấp cho HS hệ thống các tri thức khoa học Địa lí mà còn
    hướng tới việc hình thành và phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất của người
    học, đáp ứng yêu cầu hội nhập phát triển của đất nước. Nhiệm vụ quan trọng hàng
    đầu của môn Địa lí hiện nay là phải đổi mới trên nhiều lĩnh vực, chú trọng phát huy
    phẩm chất, năng lực, tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học.
    Trong dạy học Địa lí, kênh hình được coi là một trong những phương tiện dạy
    học trực quan. Kênh hình là cơ sở cho việc tạo biểu tượng Địa lí, lưu giữ một khối
    lượng kiến thức rất lớn, là phương tiện để GV và HS tổ chức các hoạt động học tập.
    3
    Vai trò của kênh hình trong học tập, nghiên cứu địa lí là rất quan trọng, không
    chỉ giúp HS dễ dàng phát hiện kiến thức, khắc sâu nội dung bài học mà còn góp phần
    rèn luyện, phát triển khả năng tư duy, vận dụng sáng tạo kiến thức lí thuyết vào thực
    tiễn cuộc sống. Hiện nay, kênh hình phục vụ cho dạy học Địa lí rất đa dạng và phong
    phú bao gồm: Tranh ảnh, bản đồ, lược đồ, bảng số liệu, video clip,.. đang được tăng
    cường cả số lượng và chất lượng. Điều này tạo nhiều thuận lợi cho việc nâng cao chất
    lượng dạy học môn Địa lí. Tuy nhiên, khó khăn của nhiều GV địa lí hiện nay là chưa
    biết xây dựng, sử dụng và khai thác kiến thức một cách hiệu quả từ kênh hình, GV
    chỉ đơn thuần sử dụng kênh hình để minh họa cho nội dung bài học mà chưa biết
    cách khai thác do đó làm giảm hiệu quả giảng dạy, chưa đáp ứng được mục tiêu môn
    học đề ra. Vì thế chưa khơi dậy được tính tích cực, chủ động, hình thành và phát triển
    được các phẩm chất và năng lực cho HS. Việc tự thiết kế kênh hình của GV còn ít, sử
    dụng kênh hình trong dạy học còn nhiều hạn chế. Một số giáo viên vẫn còn tư tưởng
    ngại đổi mới, vẫn chủ yếu dựa vào kênh hình, kênh chữ SGK cũ và ít cập nhật thông
    tin, tính hiệu quả trong các giờ học chưa cao.
    Kế thừa các thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước,
    từ thực tế giảng dạy của bản thân và đồng nghiệp, tác giả thấy rằng cần phải có cái
    nhìn tổng thể về vai trò, chức năng, cách thức thiết kế và quy trình sử dụng của các
    loại kênh hình thường được dùng trong dạy học bộ môn Địa lí ở nhà trường phổ
    thông, qua đó giúp HS hình thành và phát triển các năng lực. Trong khi xây dựng kế
    hoạch bài dạy, tác giả luôn trăn trở việc gắn kênh hình với các hoạt động nhận thức
    của HS như thế nào trong mỗi bài học địa lí, để HS dễ dàng chiếm lĩnh tri thức, rèn
    luyện cho HS năng lực tư duy, khả năng sáng tạo, tự chủ và độc lập trong học tập. Vì
    vậy, tác giả chọn tìm hiểu, nghiên cứu nội dung “Thiết kế và sử dụng kênh hình
    trong dạy học Địa lí lớp 11 theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực học
    sinh” làm chủ đề cho sáng kiến kinh nghiệm của mình.
    4
    I.2. Xuất phát từ đặc điểm đối tượng học sinh hiện nay và yêu cầu thực tế
    Các đối tượng địa lí KTXH luôn thay đổi không ngừng theo không gian và thời
    gian, việc cập nhật thông tin, số liệu mới cần nhanh chóng, kịp thời về các khu vực,
    các quốc gia trên thế giới. Nếu sử dụng thông tin cũ, không có tính thời sự sẽ không
    những gây nhàm chán mà còn phản ánh không đúng bản chất, xu hướng biến đổi,
    phát triển của sự vật, hiện tượng trong giai đoạn hiện nay.
    Dạy học theo hướng phát triển năng lực đang là yêu cầu cấp thiết đòi hỏi đổi
    mới phương pháp dạy học nhằm mục đích phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS,
    để HS thích thú với bài học, có hứng thú tìm tòi tri thức thì GV phải không ngừng đổi
    mới, nâng cao chất lượng giờ dạy của mình. GV đổi mới về phương pháp dạy học,
    hình thức dạy học tiếp cận chương trình Giáo dục phổ thông mới 2018.
    HS hiện nay rất năng động, sáng tạo, tích cực tìm tòi, học hỏi tri thức mới.
    Việc sử dụng kênh hình trong dạy học địa lí theo hướng phát triển năng lực người
    học giúp HS có cái nhìn trực quan về đối tượng, mối quan hệ giữa các đối tượng,
    thông qua kênh hình HS có thể khái thác kiến thức và vận dụng sáng tạo để giải quyết
    các nhiệm vụ học tập. Dưới sự hướng dẫn, định hướng của GV, HS cũng có thể tự
    thiết kế kênh hình phục vụ hiệu quả cho học tập (thiết kế video, Inforgraphic, sơ
    đồ…) với việc ứng dụng các phần mềm Canva, Microsoft Office, Biteable… HS thỏa
    sức sáng tạo và phát triển năng lực của mình, đồng thời kiến thức bài học cũng được
    ghi nhớ sâu hơn.
    Tác giả mong rằng những kinh nghiệm này sẽ là tài liệu tham khảo có thể giúp
    ích các đồng nghiệp và các em học sinh trong quá trình dạy học môn Địa lý nói
    chung và đặc biệt cách thiết kế bài giảng, xây dựng kênh hình phù hợp, sáng tạo, đem
    lại hiệu quả cao trong phần rèn luyện, phát triển khả năng tư duy, vận dụng sáng tạo
    kiến thức lí thuyết vào thực tiễn cuộc sống.
    5
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    II. 1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Qua khảo sát điểu tra về thực trạng việc sử dụng kênh hình của GV và HS hiện
    nay, tác giả nhận ra rằng: phần lớn các GV thấy được vai trò quan trọng của kênh
    hình trong học tập, xây dựng kế hoạch bài dạy, trong kiểm tra, đánh giá địa lí. Khi
    thường xuyên khai thác kênh hình thì sẽ đạt hiệu quả cao trong giảng dạy, HS có
    hứng thú tiếp thu bài và nhớ kiến thức lâu hơn. Tuy nhiên, hiện nay nhiều GV sử
    dụng kênh hình chủ yếu với mục đích minh họa kiến thức đã học, một số GV vẫn chủ
    yếu dựa vào kênh hình từ SGK, chưa có đổi mới về nội dung và phương pháp dạy
    học, chưa đạt được mục tiêu, yêu cầu bài học và vì thế việc thiết kế các hoạt động
    học tập cho HS sử dụng kênh hình còn khá ít.
    Các kênh hình thường được sử dụng đó là tranh ảnh, video có sẵn trên mạng
    hoặc tư liệu (có thể thời lượng quá dài lại không sát với nội dung bài học, không nhấn
    mạnh vào vấn đề chính…), sử dụng bảng số liệu đã có trong SGK mà chưa cập
    nhật… Một yêu cầu mới đặt ra là GV phải thường xuyên học hỏi, đổi mới làm sinh
    động bài giảng, đạt được mục tiêu, yêu cầu phát triển năng lực, phẩm chất của HS.
    GV tìm tòi, nghiên cứu, biết cách làm và hướng dẫn HS biết làm là vấn đề hết sức
    cần thiết hiện nay.
    Điểm mới của sáng kiến là đưa ra quy trình thiết kế kênh hình, sử dụng các
    kênh thông tin chính thống, hữu ích, cập nhật số liệu, thông tin mới rất cần thiết khi
    dạy học địa lí KTXH thế giới, khu vực và các nước. SK nêu bật việc làm thế nào để
    sử dụng kênh hình một cách hiệu quả đáp ứng mục tiêu bài học về kiến thức, kĩ năng,
    phẩm chất HS. Trong sáng kiến có trình bày các bước để thiết kế kênh hình trong dạy
    học Địa lí lớp 11, có ví dụ cụ thể, phân tích quy trình thiết kế, sử dụng kênh hình.
    Đặc biệt dưới sự định hướng của GV, năng lực vốn có và hiểu biết của HS thì HS đã
    tự thiết kế được kênh hình phục vụ cho học tập tại lớp và ở nhà. Từ đó khẳng định
    tính hiệu quả trong hoạt động dạy và học, ứng dụng thực tiễn, phát triển năng lực và
    6
    phẩm chất của HS. HS cũng có thể tham gia đánh giá đồng đẳng, đánh giá cá nhân về
    quá trình làm việc và sản phẩm học tập của chính mình và các bạn.
    Sáng kiến cũng thể hiện một số kết quả khi được tập huấn và tự học của cá
    nhân qua các Modul học tập trực tiếp và online trên LMS vận dụng sáng tạo vào thiết
    kế, tổ chức các hoạt động dạy- học và kiểm tra đánh giá.
    II. 2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    Với mục tiêu cao nhất là phát triển năng lực cho học sinh đặc biệt là năng lực
    tự học, sáng tạo và nâng cao chất lượng dạy học và kết quả học tập của HS, tôi đã
    mạnh dạn áp dụng các giải pháp mới. Những giải pháp này thể hiện sự cố gắng, đóng
    góp của bản thân giáo viên với sự học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp. Đặc biệt
    trong các giải pháp tôi còn rất chú ý đến phát huy sự cố gắng, nỗ lực, khả năng sáng
    tạo, hợp tác của học sinh. Với những biện pháp mà bản thân thực hiện trong sáng
    kiến so với những giải pháp cũ tôi nhận thấy: học sinh đã được phát triển nhiều năng
    lực như mục tiêu Đổi mới của ngành giáo dục hiện nay đang hướng tới (năng lực tự
    học, sáng tạo, hợp tác, sử dụng ngôn ngữ, giải quyết vấn đề, tư duy tổng hợp theo
    lãnh thổ, năng lực sử dụng kênh hình trong học tập địa lí…). HS được tự thiết kế
    kênh hình với sự hỗ trợ của CNTT, HS biết cách chọn lọc thông tin, thu thập và xử lí
    thông tin, HS có khả năng ghi nhớ, vận dụng tốt kiến thức đã học. HS biết cách khai
    thác, sử dụng kênh hình khi học tập. Đồng thời, hiệu quả giảng dạy cũng được nâng
    lên rõ rệt, HS yêu thích môn học, hứng thú với bài học.
    Cá nhân tôi đã tiếp cận chương trình GDPT 2018 theo định hướng phát triển
    năng lực HS, tích cực đổi mới về phương pháp dạy học, áp dụng các kĩ thuật dạy học
    mới nhằm chú trọng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh.
    II. 2.1. Cơ sở khoa học của sáng kiến
    II.2.1.1 Vai trò của kênh hình trong dạy- học
    Trong bài báo “Phát triển khả năng tư duy phản biện trong học tập Địa lý cho học
    sinh dựa trên phần mềm Visual Adobe Flash Media ở trường Trung học phổ thông”,
    7
    tác giả T Gayatri cũng đã khẳng định rằng: “Kênh hình được coi là công cụ hữu hiệu
    để nâng cao khả năng tư duy phản biện của học sinh và cũng thúc đẩy học sinh học
    tập. Kênh hình bao gồm hai khía cạnh chính là khía cạnh âm thanh và khía cạnh thị
    giác. Kênh hình hỗ trợ việc truyền tải thông điệp thông qua cảm nhận trực quan. Học
    sinh cũng có thể nhận văn bản dưới dạng âm thanh thông qua thính giác”
    Trong việc thu nhận tri thức Trong việc lưu trữ tri thức
    Qua nếm: 1%
    Qua sờ: 1.5%
    Qua ngửi: 3.5%
    Qua nghe: 11%
    Qua nhìn: 83%
    Nghe: 20%
    Nhìn: 30%
    Nghe + Nhìn: 50%
    Tự trình bày: 80%
    Tự trình bày và làm: 90%
    Kênh hình có vai trò nhấn mạnh các nội dung quan trọng bằng các bố cục, màu
    sắc phù hợp, từ đó dễ tạo được sự hào hứng, hứng thú, đam mê của HS khi theo dõi
    bài dạy. Đồng thời, góp phần hình thành và phát triển năng lực tư duy sáng tạo ở HS.
    Kênh hình sử dụng trong dạy học nhằm phát triển năng lực sử dụng công cụ
    địa lí học, khả năng tư duy sáng tạo và giải quyết vấn đề cho HS thông qua các yêu
    cầu như phân tích, so sánh, tổng hợp khi HS tiến thành khai thác kênh hình. Hơn nữa,
    HS có thể sử dụng kênh hình để xây dựng các sản phẩm học tập, giúp quá trình học
    tập trở nên trực quan và sinh động hơn.
    Sử dụng kênh hình trong dạy học có khả năng làm tăng hiệu quả giờ dạy, giúp
    HS tiếp nhận tri thức một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn.
    Sử dụng kênh hình giúp bồi dưỡng cho HS các giá trị về phẩm chất như yêu
    nước, trung thực, chăm chỉ, cần cù và trách nhiệm.
    Trong dạy học địa lí, kênh hình được hiểu là nguồn tri thức, thông tin địa lí
    dưới dạng trực quan, có thể được thể hiện dưới dạng tĩnh hoặc động và được trình
    bày bằng phương pháp đồ họa. Kênh hình không chỉ giúp minh họa cho nội dung bài
    học mà còn giúp HS khai thác kiến thức, từ đó hình thành các khái niệm, biểu tượng
    8
    địa lí cho HS. Hệ thống các kênh hình được xác định như: tranh ảnh, bản đồ, sơ đồ,
    lược đồ, biểu đồ, video clip, …
    Như vậy, kênh hình trong dạy học ngoài việc cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ
    năng, hình thành phẩm chất và thái độ còn phát triển khả năng tư duy địa lí, năng lực
    sử dụng công cụ địa lí học, năng lực giải quyết vấn đề cho HS. Trong dạy học, kênh
    hình vừa đóng vai trò là phương tiện trực quan vừa là phương pháp trong giảng dạy.
    II.2.1.2. Tiếp cận chương trình GDPT mới 2018
    Chương trình bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực học sinh: Chương
    trình môn Địa lí xác định rõ các phẩm chất và năng lực có thể hình thành, phát triển
    qua môn học. Một mặt, chương trình căn cứ vào các yêu cầu cần đạt về phẩm chất
    chủ yếu và năng lực cốt lõi làm cơ sở và điểm xuất phát để lựa chọn các nội dung
    giáo dục; mặt khác, chương trình hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu và
    năng lực cốt lõi cho học sinh thông qua việc hướng dẫn học sinh tiếp thu và vận dụng
    nội dung giáo dục của môn học vào thực tiễn.
    Chương trình bảo đảm kết nối giữa các lớp học, cấp học và đáp ứng yêu cầu
    định hướng nghề nghiệp: Nội dung chương trình được thiết kế theo ba mạch: địa lí
    đại cương, địa lí thế giới, địa lí Việt Nam, bao gồm các kiến thức cốt lõi và chuyên đề
    học tập; phát triển, mở rộng và nâng cao nội dung giáo dục địa lí đã học ở cấp trung
    học cơ sở; bảo đảm tinh gọn, cơ bản, cập nhật các tri thức khoa học, hiện đại của địa
    lí học, các vấn đề về phát triển của thế giới, khu vực, Việt Nam và địa phương. Các
    nội dung giáo dục và yêu cầu cần đạt của chương trình có tính đến sự phù hợp với
    thực tế dạy học ở trường phổ thông trong định hướng phát triển. Đối với những học
    sinh có định hướng nghề nghiệp liên quan đến kiến thức địa lí, ngoài kiến thức cốt
    lõi, chương trình có các chuyên đề học tập ở mỗi lớp, nhằm thực hiện yêu cầu phân
    hoá sâu, đáp ứng yêu cầu định hướng nghề nghiệp.
    Chương trình bảo đảm tính kế thừa, hiện đại: Chương trình môn Địa lí kế thừa
    phát huy ưu điểm của những chương trình đã có, tiếp thu kinh nghiệm phát triển
    9
    chương trình môn học của các nước có nền giáo dục tiên tiến, tiếp cận với những
    thành tựu của khoa học kĩ thuật hiện đại; phù hợp với thực tiễn xã hội, giáo dục, điều
    kiện và khả năng học tập của học sinh ở các vùng, miền khác nhau.
    Chương trình chú trọng tích hợp, thực hành và vận dụng: Chương trình môn
    Địa lí chú trọng tích hợp, thực hành, gắn nội dung giáo dục của môn học với thực tiễn
    nhằm rèn luyện cho học sinh kĩ năng vận dụng kiến thức địa lí vào việc tìm hiểu và
    giải quyết ở mức độ nhất định một số vấn đề của thực tiễn, đáp ứng đòi hỏi của cuộc
    sống.
    Chương trình được xây dựng theo hướng mở: Trên cơ sở bảo đảm định hướng,
    yêu cầu cần đạt và những nội dung giáo dục cốt lõi thống nhất trong cả nước, chương
    trình dành thời lượng nhất định để các trường hướng dẫn học sinh thực hành tìm hiểu
    địa lí địa phương phù hợp với điều kiện của mình; đồng thời triển khai kế hoạch giáo
    dục phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện của cơ sở giáo dục, của địa phương.
    Trong đó, chương trình môn Địa lí đã xác định được các phẩm chất chủ yếu và
    năng lực cốt lõi cụ thể cần hình thành cho HS như sau:
    Hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu: Thông qua việc tổ chức các hoạt
    động học tập, môn Địa lí giáo dục cho học sinh thế giới quan khoa học, lòng yêu
    nước, tình yêu thiên nhiên, tình cảm yêu thương người lao động, thái độ tôn trọng
    những giá trị nhân văn khác nhau; ý thức, niềm tin, trách nhiệm và hành động cụ thể
    trong việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; rèn luyện cho
    học sinh các đức tính chăm chỉ, trung thực trong học tập và nghiên cứu khoa học.
    Hình thành, phát triển các năng lực chung:

    • Năng lực tự chủ và tự học: được hình thành và phát triển thông qua các hoạt
      động học tập như thu thập thông tin và trình bày báo cáo địa lí; khảo sát, điều tra thực
      tế địa phương, vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tế,…
    • Năng lực giao tiếp và hợp tác: được hình thành và phát triển thông qua các
      hoạt động nhóm và phương pháp dạy học thảo luận, dạy học dự án, xêmina,…
      10
    • Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: được hình thành và phát triển thông
      qua các hoạt động phát hiện vấn đề, nêu giả thuyết hoặc giả định, tìm lôgic trong giải
      quyết vấn đề, đề xuất được giải pháp giải quyết vấn đề, đánh giá giải pháp giải quyết
      vấn đề, tưởng tượng khoa học, giải quyết vấn đề mới, tự học về lí thuyết và công cụ
      địa lí.
      Hình thành, phát triển năng lực địa lí:
    • Để phát triển thành phần năng lực nhận thức khoa học địa lí, giáo viên tạo
      cho học sinh cơ hội huy động những hiểu biết, kinh nghiệm sẵn có để tham gia hình
      thành kiến thức mới.
    • Để phát triển thành phần năng lực tìm hiểu địa lí, giáo viên tạo điều kiện cho
      học sinh sử dụng các công cụ của địa lí học như: atlat địa lí, bản đồ, lược đồ, biểu đồ,
      sơ đồ, lát cắt, mô hình, khối đồ, bảng số liệu, tranh ảnh,… tìm tòi, khám phá các tri
      thức địa lí; tăng cường khai thác Internet trong học tập, tổ chức cho học sinh học tập
      ngoài thực địa, trong môi trường tự nhiên, kinh tế – xã hội địa phương.
    • Để phát triển thành phần năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học về địa
      lí, học sinh cần được tạo cơ hội để cập nhật thông tin và liên hệ thực tế, tiếp cận với
      các tình huống thực tiễn, thực hiện các chủ đề học tập khám phá từ thực tiễn; vận
      dụng được các kiến thức, kĩ năng địa lí để giải quyết một số vấn đề thực tiễn phù hợp.
      Giáo viên cần quan tâm rèn luyện cho học sinh các kĩ năng phát hiện vấn đề, lập kế
      hoạch nghiên cứu, giải quyết vấn đề, đánh giá kết quả giải quyết vấn đề, nêu giải
      pháp khắc phục hoặc cải tiến, tăng cường sử dụng các bài tập đòi hỏi vận dụng kiến
      thức thực tế và tư duy phản biện, sáng tạo.
      II.2.2. Thiết kế kênh hình trong dạy- học Địa lí 11
      Nguyên tắc sử dụng kênh hình trong dạy học:
    • Đảm bảo tính khoa học, thẩm mĩ, tính vừa sức đối với HS.
    • Đảm bảo tính thực tiễn, hệ thống
    • Đảm bảo tính giáo dục.
      11
    • Đảm bảo tính phát triển tư duy cho HS
      Quy trình thiết kế kênh hình trong dạy học ĐL theo hướng phát triển phẩm
      chất và năng lực HS
      Các bước thực hiện:
    • Xác định mục tiêu bài học
    • Xác định nội dung của các hoạt động nhận thức
    • Lựa chọn và thiết kế kênh hình phù hợp
    • Sử dụng kênh hình để thiết kế các hoạt động học phù hợp mục tiêu, yêu cầu của bài
      học.
      Về xác định mục tiêu bài học và xác định nội dung của các hoạt động nhận
      thức, tôi minh họa qua thiết kế kế hoạch bài dạy chuyên đề “Nhật Bản” ở mục
      II.2.3.3. của sáng kiến.
      Đề cập đến lựa chọn, thiết kế kênh hình phù hợp cho tổ chức hoạt động ở một số bài
      học chương trình địa lí 11, tôi xin đưa ra một số kinh nghiệm như sau:
      Ngoài việc sử dụng kênh hình có sẵn trong SGK hay từ tư liệu trên Internet, GV
      cũng có thể tự thiết kế kênh hình cho các hoạt động trên lớp và hướng dẫn để HS
      thiết kế kênh hình trong quá trình học bài cũ và chuẩn bị bài học mới cũng như ôn tập
      hiệu quả tại nhà. Các công cụ thiết kế kênh hình hữu ích như Microsoft Powerpoint,
      Microsoft Excel, Mapinfo, Arcgis, Canva, các công cụ online khác…
      Các kênh hình thường dùng đó là:
    1. Số liệu thống kê
      Số liệu trong SGK Địa lí 11 hiện nay đang sử dụng đã là các số liệu cũ từ năm
      2005, GV có thể sử dụng các công cụ tìm kiếm thông tin như Google với kho dữ liệu
      rất phong phú. Tuy nhiên, GV cần sử dụng có chọn lọc, lựa chọn những trang web
      chính thống, đối chiếu thông tin để có sự chuẩn xác và phù hợp với yêu cầu bài
      giảng. Một số trang web hữu ích cho học tập, nghiên cứu địa lí đó là: The World
      Bank- Ngân hàng thế giới, cung cấp các số liệu về dân số, GDP, nông nghiệp, công
      12
      nghiệp, dịch vụ của các quốc gia và khu vực trên TG. Hơn nữa ở đó còn có các biểu
      đồ, lược đồ về kinh tế các quốc gia.
      Một số trang web tham khảo hữu ích có thể kể đến là :
      http://vietnam.unfpa.org
      http://www.prb.org
      http://www.undp.org
      http://www.worldbank.org
      http://www.fao.org
      Ví dụ
      Trong khi dạy bài 1, Sự tương phản về trình độ phát triển KTXH của các nhóm
      nước, thay vì sử dụng số liệu năm 2004 trong SGK, GV có thể bổ sung thêm các số
      liệu mới theo bảng sau:
      Bảng 1. GDP bình quân đầu người của một số quốc gia trên thế giới năm 2020
      (Đơn vị: USD/người)
      Các nước phát triển Các nước đang phát triển
      Tên nước GDP/người Tên nước GDP/người
      Đan Mạch 57141 Cô-lôm-bi-a 6376
      Thuỵ Điển 53744 An-ba-ni 4533
      Ca-na-đa 45070 In-đô-nê-xi-a 3837
      Anh 40361 Ấn Độ 1981
      Niu Di-lân 42260 Ê-ti-ô-pi-a 768
      (Nguồn: http://www.worldbank.org)
      Bảng 2. Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên của thế giới và các nhóm nước giai đoạn
      1950- 2020 (Đơn vị %)
      Nhóm nước
      Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên các giai đoạn
      1950 –
      1955
      1965 –
      1970
      1985 –
      1990
      1990 –
      1995
      1995 –
      2000
      2010 –
      2015
      2015 –
      2020
      Thế giới 1,8 2,1 1,6 1,5 1,4 1,2 1,1
      Các nước phát triển 1,2 0,8 0,6 0,2 0,2 0,1 0,1
      13
      Các nước đang phát triển 2,0 2,6 1,9 1,9 1,7 1,4 1,3
      (Nguồn: http://www.worldbank.org)
      Bảng 3. Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi của các nhóm nước năm 2000 và 2020
      Nhóm tuổi
      Nhóm nước
      Năm 2000 Năm 2020
      0 −14 15 −64
      65 trở
      lên 0 − 14 15 −64
      65 trở
      lên
      Thế giới 30,2 63,0 6,8 25,5 65,2 9,3
      Các nước phát triển 18,2 67,5 14,3 16,4 64,3 19,3
      Các nước đang phát triển 33,1 61,9 5,0 27,2 65,4 7,4
      (Nguồn: http://www.worldbank.org)
      Bảng 4. GDP của Hoa Kì, thế giới và một số châu lục năm 2004 và 2020
      (đơn vị: Tỉ USD)
      Năm
      Lãnh thổ 2004 2020
      Thế giới
      Hoa Kì
      Châu Âu
      Châu Á
      Châu Phi
      40887,8
      11667,5
      14146,7
      10092,9
      790,3
      84710,0
      20941,0
      20253,1
      29478,0
      2215,9
      (Nguồn: http://www.worldbank.org)
      Bảng 5. Bảng sản lương một số sản phẩm công nghiệp của Liên Bang Nga giai
      đoạn 1995- 2020
      Năm
      Sản phẩm
      1995 2005 2010 2015 2020
      Dầu mỏ (triệu tấn) 305,0 470,0 511,8 541,8 554,3
      Than đá (triệu tấn) 270,8 298,3 322,9 372,6 412,5
      14
      Điện (tỉ kWh) 876,0 953,0 1038,0 1063,4 1089,6
      Giấy (triệu tấn) 4,0 7,5 5,6 8,0 8,7
      Thép (triệu tấn)) 48,0 66,3 66,9 70,9 71,5
      (Nguồn: http://www.worldbank.org)
    2. Biểu đồ
      Công cụ để vẽ biểu đồ tác giả thường dùng đó là Microsoft Excel, từ các số liệu
      thống kê, chúng ta có thể lựa chọn dạng biểu đồ thích hợp và vẽ biểu đồ mang tính
      trực quan cao, biểu đồ là phương tiện khá phổ biến trong học tập Địa lí.
      Ví dụ 1: Khi tìm hiểu về dân số Nhật Bản- một quốc gia có cơ cấu dân số già, tăng
      dân số chậm, có giai đoạn dân số giảm, để HS trả lời cho câu hỏi: Em hãy nhận xét
      về quy mô dân số và tỉ lệ tăng dân số Nhật Bản từ 1970- 2019? HS dựa vào biểu

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • SKKN Xây dựng các công cụ kiểm tra đánh giá phẩm chất, năng lực học sinh cho một số chủ đề Lịch sử lớp 10 thuộc Chương trình giáo dục phổ thông 2006 và 2022

    SKKN Xây dựng các công cụ kiểm tra đánh giá phẩm chất, năng lực học sinh cho một số chủ đề Lịch sử lớp 10 thuộc Chương trình giáo dục phổ thông 2006 và 2022

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Ngày 03 tháng 8 năm 2022, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra Thông tư Số
    13/2022/TT-BGDĐT, sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong Chương trình
    Giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Thông tư Số 32/2018TT-BGDĐT ngày
    26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trong Thông tư
    này, một trong những nội dung được điều chỉnh lớn nhất là Lịch sử trở thành
    môn học bắt buộc ở bậc THPT. Vì vậy có thể nói chưa bao giờ môn Lịch sử có
    “vị thế, cơ đồ tươi sáng như hiện tại”. Điều này chứng tỏ ý Đảng và lòng dân đã
    thống nhất với nhau về vai trò đặc biệt quan trọng của việc giáo dục Lịch sử cho
    các thế hệ công dân tương lai của đất nước. Đây cũng là nguyện ước của Bác Hồ
    lúc sinh thời “ Dân ta phải biết sử ta”. Tuy nhiên một vấn đề đặt ra cho ngành
    Giáo dục là: Làm thế nào để chất lượng dạy và học môn Lịch sử trong trường
    phổ thông tương xứng với tầm vóc và sứ mệnh cao cả của nó?
    Sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo của Việt Nam hiện nay phát triển trong bối
    cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đạt được những tiến bộ phi thường
    và thành tựu kì diệu chưa từng thấy trên tất cả các lĩnh vực. Cách mạng khoa
    học – công nghệ đã đưa các dân tộc ngày càng tiến lại gần nhau trong xu thế toàn
    cầu hóa. Toàn cầu hóa đặt ra cho các quốc gia những đòi hỏi phải tiến hành cải
    cách kinh tế, xã hội, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để thích nghi và
    phát triển. Vì vậy ở nhiều quốc gia, Giáo dục được đặc biệt coi trọng vì sản
    phẩm của Giáo dục là con người mà con người là chìa khóa, là nhân tố quyết
    định hàng đầu sự phát triển đất nước.
    Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần tập trung đào tạo thế hệ công dân toàn
    cầu vừa giỏi về chuyên môn, có khả năng thích ứng cao vừa tràn đầy khát vọng
    phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đó chính là nguồn lực nội sinh, là
    năng lượng tiềm tàng tạo thành sức mạnh vĩ đại của dân tộc trong thời kỳ mới.
    Đó cũng là thiên chức, là sứ mệnh to lớn, vinh quang của ngành Giáo dục và
    Đào tạo. Tuy vậy, trong thời gian qua, bên cạnh những cống hiến to lớn, ngành
    Giáo dục nước nhà cũng tồn tại nhiều hạn chế khi việc dạy học, kiểm tra và đánh
    giá còn nặng về truyền tải nội dung, đánh giá kiến thức mà chưa tập trung nhiều
    đến việc phát triển phẩm chất và năng lực của người học.
    Đây thực sự là một thách thức lớn, một rào cản đối với việc hội nhập quốc
    tế của Việt Nam trong hiện tại và tương lai bởi một trong những yêu cầu để có
    thể thích nghi với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 là việc nâng cao nguồn lực
    con người nhằm đáp ứng được các yêu cầu về kiến thức và kỹ năng liên tục thay
    đổi trong môi trường lao động mới. Vì vậy sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo của
    nước ta cũng đứng trước sứ mệnh to lớn là chuẩn bị đội ngũ nhân lực nhằm đáp
    ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Điều đó đồng nghĩa với việc nước ta phải
    chuyển từ một nền Giáo dục nặng về trang bị kiến thức, kỹ năng cho người học
    sang một nền giáo dục giúp phát triển phẩm chất, năng lực, thúc đẩy đổi mới và
    sáng tạo cho người học để thích nghi với dòng chảy của các mô hình học tập
    4
    mới cùng sự phát triển của khoa học công nghệ.
    Mặt khác, do đặc điểm tâm sinh lý cùng thể chất, khả năng, sở trường và
    nhu cầu học tập, định hướng nghề nghiệp khác nhau giữa các học sinh nên việc
    dạy học, kiểm tra, đánh giá cần đảm bảo sự phân hóa và có lộ trình phù hợp đối
    với từng đối tượng người học. Trong khi đó, việc dạy học và cách thức kiểm tra
    đánh giá trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành chưa thực sự đáp ứng
    được yêu cầu này. Đây cũng là một thực tế đặt ra cấp thiết cần có thay đổi một
    cách phù hợp.
    Nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học,
    kiểm tra đánh giá, Đảng và Nhà nước ta đã và đang ra sức huy động mọi nguồn
    lực để thực hiện. Tuy nhiên để sự nghiệp đổi mới Giáo dục thắng lợi thì yếu tố
    then chốt là đội ngũ nhà giáo bởi họ là kiến trúc sư của công trình Giáo dục, nếu
    chương trình thay đổi mà người dạy không thay đổi thì cũng không thể thành
    công.
    Một trong những môn học thuộc chương trình giáo dục phổ thông hiện
    hành và chương trình giáo dục phổ thông 2018 là Lịch sử. Chương trình môn
    Lịch sử góp phần giáo dục tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, các giá trị truyền
    thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại, các phẩm chất, năng lực
    của người công dân Việt Nam, công dân toàn cầu phù hợp với xu thế phát triển
    của thời đại; giúp học sinh tiếp cận và nhận thức rõ vai trò, đặc điểm của khoa
    học lịch sử cũng như sự kết nối giữa sử học với các lĩnh vực khoa học và ngành
    nghề khác, tạo cơ sở để học sinh định hướng nghề nghiệp trong tương lai.
    Trường THPT Ngô Quyền được thành lập từ năm 1971. Song, do nhiều
    nguyên nhân, đặc biệt là tuyển sinh đầu vào thấp mà trong thời gian dài chất
    lượng giáo dục của nhà trường chưa được cao như kì vọng. Tuy nhiên trong mấy
    năm học trở lại đây, bằng niềm đam mê nghề nghiệp, sức thanh xuân của tuổi trẻ
    cùng với khát vọng vươn lên, những giáo viên trẻ như chúng tôi đã cống hiến
    hết mình vì sự nghiệp trồng người và đã gặt hái được trái ngọt xứng đáng. Đó là
    động lực để chúng tôi tiếp tục lao động sáng tạo trên con đường ươm mầm tri
    thức cho các thế hệ học trò.
    Trường THPT Giao Thủy được thành lập từ năm 1965. Qua hơn nửa thế kỉ
    xây dựng và trưởng thành, THPT Giao Thủy đã trở thành một trong những đơn
    vị dẫn đầu ngành Giáo dục và Đào tạo của tỉnh nhà. Cùng với sự phát triển của
    đất nước, nhà trường cũng được đầu tư nhiều hơn về cơ sở vật chất, chất lượng
    đội ngũ được nâng cao. Tuy nhiên, đứng trước sự thay đổi nhanh chóng của tình
    hình kinh tế, xã hội và những thách thức mới đặt ra cho ngành Giáo dục, tập thể
    cán bộ, giáo viên của nhà trường cần không ngừng tìm tòi, sáng tạo để phát huy
    truyền thống dạy tốt – học tốt của nhà trường.
    Chúng tôi là những giáo viên Lịch sử của trường THPT Ngô Quyền và
    THPT Giao Thủy, có thời gian công tác trên 10 năm. Tuy ở hai ngôi trường có
    nhiều điểm khác biệt về: địa bàn, môi trường, điều kiện … nhưng chúng tôi gặp
    nhau ở niềm đam mê, tự trọng nghề nghiệp, sống nhân văn và dốc lòng vì sự
    5
    tiến bộ của học sinh. Qua thời gian công tác trong ngành giáo dục, từ những
    người xa lạ, chúng tôi đã sát cánh, đoàn kết, hợp tác chặt chẽ trong nhóm nhà
    giáo giúp nhau tiến bộ, cùng nâng nhau xây dựng ngôi trường hạnh phúc của
    mình. Đứng trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới Giáo dục, chúng tôi đã trăn
    trở, chủ động, tích cực tự học để nâng cao trình độ chuyên môn, tìm ra các giải
    pháp nhằm thực hiện thắng lợi chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử
    năm 2022.
    Lịch sử là môn học được nhiều người đánh giá là “khó-khổ-khô”, điểm thi
    môn Lịch sử trong các kì thi đánh giá diện rộng chưa được cao như kì vọng. Vì
    vậy khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông năm 2022 chắc chắn chúng
    tôi sẽ gặp không ít thách thức. Với phương châm biến khó khăn thành cơ hội,
    biến thách thức thành thời cơ, muốn đến ngày mai tương sáng, chúng tôi bắt đầu
    từ hôm nay. Bởi thế chúng tôi đã chủ động tìm tòi, sáng tạo để xây dựng nên bộ
    công cụ kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học
    sinh cho một số chủ đề tương đồng giữa chương trình Lịch sử lớp 10 năm 2006
    và chương trình môn Lịch sử năm 2022. Bộ công cụ được xây dựng cho các chủ
    đề có nội dung tương đồng giữa chương trình giáo dục môn Lịch sử lớp 10 năm
    2006 và chương trình giáo dục môn Lịch sử bậc THPT năm 2022 và chúng tôi
    chủ động xây dựng thêm các công cụ kiểm tra, đánh giá cho một số chủ đề mới
    và khó của chương trình Lịch sử mới nên vừa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn vừa
    là bước chuẩn bị có hiệu quả bền vững cho tương lai.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP

    1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến
      a. Hiện trạng trước khi áp dụng giải pháp mới
      Việc kiểm tra đánh giá học sinh thiên về kiến thức và kĩ năng nên các công
      cụ kiểm tra đánh giá chủ yếu là câu hỏi trắc nghiệm và tự luận. Nội dung kiểm
      tra là tái hiện kiến thức đã học. Việc đánh giá học sinh chỉ do giáo viên thực
      hiện, chưa có sự tham gia của các lực lượng khác. Học sinh được đánh giá thông
      qua điểm số. Trong quá trình đánh giá giáo viên luôn so sánh các học sinh với
      nhau.
      b. Phân tích ưu điểm, nhược điểm:
      Ưu điểm:
      Việc dạy học Lịch sử của nhà trường trong nhiều năm qua đạt chất lượng
      khá cao so với mặt bằng chung của tỉnh. Nhiều học sinh của nhà trường đạt
      thành tích xuất sắc trong các kì thi chọn HSG của tỉnh và thi đỗ vào các trường
      Đại học danh tiếng trong cả nước.
      Nhược điểm:
    • Việc kiểm tra đánh giá học sinh chủ yếu là về nội dung kiến thức và một
      số kĩ năng cơ bản vì vậy học sinh chủ yếu học thuộc kiến thức.
    • Chưa đánh giá được sự sáng tạo của học sinh, chưa khuyến khích học sinh
      phát triển tư duy độc lập theo cách nghĩ riêng.
      6
    • Chưa kết nối có hiệu quả giữa học và hành, nhất là việc vận dụng kiến
      thức lịch sử để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống, vì vậy học sinh
      chưa nhận thức hết được tầm quan trọng của việc học Lịch sử thậm chí chán học
      do phải học thuộc nhiều mà không có kết quả cao.
    • Việc đánh giá học sinh chưa được thực hiện theo một quá trình thường
      xuyên trên lớp, chưa đa dạng về công cụ mà chủ yếu dựa vào các bài kiểm tra
      với những câu hỏi thuộc hai hình thức trắc nghiệm và tự luận. Điểm số là thước
      đo và cơ sở duy nhất để đánh giá và so sánh người học với nhau. Việc đánh giá
      đều do giáo viên thực hiện theo quy định chung, học sinh nếu có tham gia đánh
      giá lẫn nhau và tự đánh giá thì đa số mang tính hình thức và chỉ để tham khảo.
    • Hoạt động kiểm tra đánh giá diễn ra tại lớp học hoặc ở nhà song đều
      mang tính cá nhân là chính, hầu như không có sự tương tác đa chiều giữa các
      học sinh, giữa học sinh với giáo viên và giữa học sinh với cộng đồng xã hội.
    • Sản phẩm để đánh giá là các câu trả lời đóng hoặc mở nhưng đều theo đáp
      án của người dạy.
    • Việc kiểm tra, đánh giá còn gây nhiều áp lực cho người học.
    • Công cụ kiểm tra chưa đa dạng, chưa tạo động lực thúc đẩy học sinh học
      tập.
    • Học sinh chỉ được đánh giá qua điểm số của các bài kiểm tra, chưa đánh
      giá học sinh theo một quá trình, toàn diện và từng nấc thang tiến bộ.
      Kết luận: Việc kiểm tra đánh giá như trên đã diễn ra nhiều năm, nó có tác
      dụng nhất định trong việc thực hiện mục tiêu của quá trình dạy học. Tuy nhiên,
      những hạn chế trên cho thấy việc kiểm tra đánh giá như vậy chưa phù hợp với
      yêu cầu của sự nghiệp đổi mới Giáo dục, chưa tiếp cận được với xu hướng phát
      triển của nền Giáo dục ở các nước tiên tiến, tức là chưa bắt kịp với xu thế của
      thời đại. Trong khi đó, theo lộ trình, từ năm học 2022 – 2023, chương trình Giáo
      dục 2018 đã bắt đầu triển khai thực hiện ở bậc THPT. Thực tế trên cho thấy việc
      thay đổi từ tư duy đến hành động thực tiễn của giáo viên trong quá trình kiểm tra
      đánh giá học sinh không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là một tất yếu. Điều đó
      đồng nghĩa với việc tìm ra giải pháp mới để phát huy ưu điểm, khắc phục hạn
      chế của kiểm tra đánh giá hiện tại là một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn cao. Đây
      cũng là sự chuẩn bị quan trọng, đảm bảo cho sự thành công của chương trình
      Giáo dục 2018.
    1. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
      2.1. Vấn đề cần giải quyết
    • Xây dựng được hệ thống đa dạng các công cụ kiểm tra đánh giá theo
      hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh, chú trọng việc vận dụng kiến
      thức Lịch sử để giải quyết các vấn đề đặt ra trong thực tiễn và vì sự tiến bộ của
      người học, vì một ngôi trường hạnh phúc.
    • Lựa chọn được những chủ đề vừa là nội dung cơ bản trong chương trình
      lớp 12 hiện hành nhằm giải quyết yêu cầu thực tiễn vừa là nội dung cơ bản của
      7
      chương trình giáo dục phổ thông 2018 để chuẩn bị cho việc dạy học chương
      trình mới.
      2.2. Tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ
    • Công cụ kiểm tra, đánh giá chủ yếu chuyển sang hỏi HS làm được gì sau
      khi học kiến thức.
    • Khai thác tư liệu ngoài sách giáo khoa
    • Bám sát yêu cầu cần đạt và nâng cao cho HS khá giỏi
    • Sử dụng nhiều kênh thông tin, tư liệu khác nhau
    • Các công cụ kiểm tra đánh giá đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung.
    • Kết hợp việc kiểm tra đánh giá kiến thức với việc vận dụng kiến thức để
      giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống, các nhiệm vụ học tập.
    • Việc kiểm tra đánh giá diễn ra trong suốt quá trình học, vì sự tiến bộ của
      người học.
    • Sản phẩm để đánh giá đa dạng.
    • Khuyến khích sự độc lập, sáng tạo trong tư duy.
    • Phân hóa, phù hợp với đối tượng.
    • Không chú trọng quá vào điểm số, không so sánh học sinh này với học
      sinh khác.
    • Sử dụng có hiệu quả công nghệ thông tin trong kiểm tra đánh giá.
    • Không gây áp lực cho học sinh.
    • Là thước đo chính xác để điều chỉnh quá trình dạy học.
    • Tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình kiểm tra, đánh giá.
    • Các chủ đề được lựa chọn có độ tương đồng về nội dung trong cả chương
      trình giáo dục môn Lịch sử hiện hành và chương trình giáo dục môn Lịch sử
      2022 nên vừa mang tính thời sự vừa mang tính ứng dụng cao trong tương lai.
    • Việc đánh giá được tích hợp vào trong quá trình dạy học, giáo dục, tức là
      chuyển đánh giá từ một hoạt động gần như độc lập với quá trình dạy học, giáo
      dục sang việc tích hợp đánh giá vào quá trình dạy học, giáo dục, xem đánh giá
      như là một phương pháp dạy học hiệu quả.
    • Thực hiện đánh giá đa chiều (GV đánh giá kết hợp với HS tự đánh giá,
      HS đánh giá chéo).
    • Kết hợp đánh giá bằng nhận xét và điểm số, chú trọng nhận xét sự tiến bộ
      về thái độ, hành vi, kết quả thực hiện các nhiệm vụ học tập.
      2.3. Cách thức thực hiện, các bước và điều kiện triển khai của giải pháp
      mới
      2.3.1. Cách thức thực hiện
    • Xác định mục tiêu, nội dung, xây dựng kế hoạch thực hiện giải pháp.
    • Phân tích bối cảnh, căn cứ vào thực tiễn dạy học của bản thân và đồng
      nghiệp ở nơi công tác, các cơ sở giáo dục khác để rút ra hiện trạng chung và tìm
      giải pháp khắc phục hạn chế.
    • Căn cứ vào định hướng phát triển Giáo dục của Đảng và nhà nước, chỉ
      đạo của các cấp, các ngành về Giáo dục.
    • Thu thập, phân tích, xử lý tài liệu, nhất là tài liệu của Bộ Giáo dục và Đào
      tạo, tài liệu của các trường Đại học Sư phạm ban hành.
      8
    • Tham vấn các chuyên gia giáo dục, đồng nghiệp ở nhiều cơ sở Giáo dục
      để hoàn thiện sản phẩm.
    • Đề xuất giải pháp thực hiện.
    • Thực nghiệm sư phạm ở nhiều cơ sở giáo dục khác nhau nhằm khẳng
      định hiệu quả và khả năng triển khai của giải pháp.
    • Đánh giá và rút kinh nghiệm bước đầu quá trình thực hiện giải pháp.
      2.3.2. Các bước triển khai
      2.3.2.1. Nhận thức đúng về kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học
      Theo từ điển Tiếng Việt:
      Kiểm tra là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá nhận xét”.
      Trong giáo dục, “kiểm tra là hoạt động đo lường kết quả học tập/giáo dục
      theo bộ công cụ đã chuẩn bị trước với mục đích đưa ra các kết luận, khuyến nghị
      về một mặt nào đó của quá trình dạy học/giáo dục tại một thời điểm cụ thể để
      điều chỉnh nhằm đạt mục tiêu giáo dục”. (Tài liệu bồi dưỡng GVTHPT cốt cán
      của Bộ Giáo dục và Đào tạo).
      Đánh giá “là nhận định giá trị”.
      Trong giáo dục, “đánh giá được hiểu là cách thức giáo viên thu thập và sử
      dụng thông tin trong lớp học của mình nhằm đưa ra phán xét, nhận định, quyết
      định để điều chỉnh hoạt động dạy và giúp HS học tập tiến bộ”. (Tài liệu bồi
      dưỡng GVTHPT cốt cán của Bộ Giáo dục và Đào tạo).
      Như vậy kiểm tra đánh giá là một hoạt động của quá trình dạy học, trong
      đó giáo viên hoặc chủ thể quản lí giáo dục sử dụng các công cụ nhằm xem xét
      tình hình thực tế, để đo, xác định mức độ đạt được về phẩm chất, năng lực của
      người học trong quá trình dạy và học. Kiểm tra và đánh giá có mối liên hệ mật
      thiết với nhau. Trong mối liên hệ đó kiểm tra là cơ sở, căn cứ để đánh giá. Muốn
      đánh giá chính xác thì khâu kiểm tra giữ vai trò quyết định.
      2.3.2.2. Vai trò của kiểm tra đánh giá trong giáo dục
      Mặc dù với những mục đích khác nhau, nhưng các hoạt động kiểm tra đánh
      giá trong giáo dục đều thực hiện bốn chức năng cơ bản là: định hướng, tạo động
      lực, phân loại và cải tiến dự báo.
      2.3.2.3. Nguyên tắc khi thực hiện kiểm tra đánh giá trong giáo dục
    • Đảm bảo tính giá trị: phải đo lường chính xác mức độ phát triển năng lực
      người học (đo lường các kĩ năng thành phần, chỉ số hành vi theo chuẩn đầu ra).
    • Đảm bảo độ tin cậy: kết quả đánh giá người học ổn định, chính xác,
      không bị phụ thuộc vào người đánh giá, những nhiệm vụ ở các lĩnh vực học tập
      khác nhau. Kết quả đánh giá phải thống nhất khi được lặp đi lặp lại nhiều lần.
    • Đảm bảo tính linh hoạt: thực hiện đa dạng các hình thức, phương pháp
      đánh giá để người học có cơ hội thể hiện tốt nhất năng lực của họ (phụ thuộc
      vào nhịp độ, thời điểm họ đáp ứng các yêu cầu chuẩn đầu ra của năng lực).
      9
    • Đảm bảo tính công bằng: người đánh giá và người được đánh giá đều hiểu
      chuẩn, tiêu chí, hành vi đánh giá như nhau; công cụ đánh giá không có sự thiên
      vị cho giới tính, dân tộc, vùng miền, đối tượng,… cách phân tích, xử lí kết quả
      chuẩn hóa để không bị ảnh hưởng bởi các mối quan hệ cá nhân.
    • Đảm bảo tính hệ thống: kết quả đánh giá dự đoán được sử dụng để xác
      nhận vùng phát triển hiện có của HS, từ đó lập kế hoạch cho những can thiệp sư
      phạm thích hợp; kết quả đánh giá quá trình được sử dụng để điều chỉnh hoạt
      động dạy và học theo hướng chuyển sang vùng phát triển gần của mỗi HS; kết
      quả đánh giá tổng kết được sử dụng để xác nhận mức độ phát triển năng lực của
      HS và lập kế hoạch can thiệp sư phạm cho giai đoạn giáo dục tiếp theo.
    • Đảm bảo tính toàn diện: kết quả đánh giá phải phản ánh đầy đủ sự phát
      triển của các thành tố và chỉ số hành vi của năng lực được đo lường.
    • Đảm bảo tính phát triển: đảm bảo đánh giá được sự tiến bộ so với chính
      bản thân HS về năng lực. Qua đó phát triển khả năng chịu trách nhiệm với việc
      học tập và giám sát sự tiến bộ của bản thân.
    • Đảm bảo đánh giá trong bối cảnh thực tiễn: công cụ đánh giá cần được
      thực hiện trong bối cảnh thực (cá nhân, trường lớp, dân cư, khoa học) nhằm
      phản ảnh đúng năng lực của người học khi thực hành trong môi trường thực tế.
      Để chứng minh người học có phẩm chất và năng lực ở mức độ nào đó, phải tạo
      cơ hội để họ được giải quyết vấn đề trong tình huống, bối cảnh mang tính thực
      tiễn.
    • Đảm bảo phù hợp với đặc thù môn học: mỗi môn học có những yêu cầu
      riêng về năng lực đặc thù cần hình thành cho HS, vì vậy, việc KTĐG phải đảm
      bảo tính đặc thù môn học nhằm định hướng cho GV lựa chọn, sử dụng phương
      pháp, công cụ đánh giá phù hợp với mục tiêu và yêu cầu cần đạt của môn học.
      2.3.2.4. Những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của học sinh trong quá
      trình dạy học môn Lịch sử ở trường THPT.
      Phẩm chất: là những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử của con
      người; cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người.
      Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn
      có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các
      kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý
      chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • SKKN Sử dụng công nghệ thông tin và học liệu số trong giảng dạy để nâng cao chất lượng hiệu quả bộ môn lịch sử cấp THPT

    SKKN Sử dụng công nghệ thông tin và học liệu số trong giảng dạy để nâng cao chất lượng hiệu quả bộ môn lịch sử cấp THPT

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    . ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN

    1. Lí do chọn đề tài
      Môn Lịch sử là một môn học có vai trò quan trọng góp phần hình thành những
      phẩm chất và năng lực học sinh. Môn Lịch sử giúp học sinh nhận thức được giá trị khoa
      học và giá trị thực tiễn của sử học trong đời sống xã hội hiện đại, phát triển cho HS tư
      duy lịch sử, tư duy hệ thống, tư duy phản biện, kĩ năng khai thác và sử dụng các nguồn
      sử liệu. Ngoài những năng lực chung như : giao tiếp và hợp tác,tự chủ và tự học, giải
      quyết vấn đề và sáng tạo , chương trình môn Lịch sử góp phần hình thành cho học sinh
      những thành phần năng lực đặc thù sau:
      Tìm hiểu lịch sử: Học sinh bước đầu nhận diện được các loại hình tư liệu lịch sử;
      hiểu được nội dung, khai thác và sử dụng được tư liệu lịch sử trong quá trình học tập.
      Tái hiện và trình bày được dưới hình thức nói hoặc viết diễn trình của các sự kiện, nhân
      vật, quá trình lịch sử từ đơn giản đến phức tạp; xác định được các sự kiện lịch sử trong
      không gian và thời gian cụ thể.
      Nhận thức và tư duy lịch sử: Học sinh giải thích được nguồn gốc, sự vận động của
      các sự kiện lịch sử từ đơn giản đến phức tạp; chỉ ra được quá trình phát triển của lịch
      sử theo lịch đại và đồng đại; so sánh sự tương đồng và khác biệt giữa các sự kiện lịch
      sử, lí giải được mối quan hệ nhân quả trong tiến trình lịch sử. Đưa ra được những ý
      kiến nhận xét, đánh giá của cá nhân về các sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử trên cơ
      sở nhận thức và tư duy lịch sử; hiểu được sự tiếp nối và thay đổi của lịch sử; biết suy
      nghĩ theo những chiều hướng khác nhau khi xem xét, đánh giá, hay đi tìm câu trả lời
      về một sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử.
      Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: Học sinh bước đầu có thể rút ra được bài học
      lịch sử và vận dụng được kiến thức lịch sử để lí giải những vấn đề của thực tiễn cuộc
      sống; trên nền tảng đó, có khả năng tự tìm hiểu những vấn đề lịch sử, phát triển năng
      lực sáng tạo, có khả năng tiếp cận và xử lí thông tin từ những nguồn khác nhau, có ý
      thức và năng lực tự học lịch sử suốt đời.
      2
      Môn Lịch sử được coi là “cô giáo của cuộc sống” bởi học sinh học tập Lịch sử là để
      học tất cả những gì đã diễn ra trong quá khử như bản chất vốn có của nó. Học sinh học
      tập Lịch sử là để nhìn về quá khứ mà rút ra những bài học cho hiện tại và tương lai.
      Những sự việc xảy ra trong quá khứ của Lịch sử dân tộc và xảy ra ở nhiều quốc gia
      trên thế giới sẽ trở nên cứng nhắc và khiên cưỡng, khó hình dung nếu như giáo viên
      lịch sử không biết khai thác và sử dụng các tư liệu lịch sử. Cách tốt nhất chính là biết
      khai thác và sử dụng tư liệu bằng công nghệ thông tin trong quá trình giảng dạy.
      Môn Lịch sử từ xưa đến nay luôn bị coi là một môn học khó và khô khan cũng chính
      bởi nhiều lí do khác nhau: từ phiá giáo viên dạy chưa biết đổi mới về phương pháp dạy
      còn nặng về truyền thụ theo lối “thầy đọc, trò chép”, hoặc nặng về ngày tháng năm xảy
      ra sự kiện, ít dùng tới hình ảnh trực qua sinh động khiến học sinh thấy nhàm chán, chán
      học.
      Tuy nhiên, mỗi một dân tộc hay mỗi một quốc gia muốn phát triển lại không thể trân
      trọng quá khứ và nhìn vào quá khứ của những lớp người đi trước để rút ra quy luật của
      sự sinh tồn. Có lẽ chính vì lẽ đó mà hiện nay Bộ giáo dục đào tạo đưa lịch sử trở thành
      một môn học bắt buộc trong các nhà trường THPT.
      Ngày nay với sự bùng nổ của cách mạng khoa học công nghệ thì công nghệ thông tin
      là một phương tiện hữu hiệu và không thể thiếu trong quá trình dạy học trong tất cả các
      nhà trường từ tiểu học cho đến cấp THCS, THPT, và đại học. Công nghệ thông tin
      không chỉ giúp cho môn Lịch sử khám phá “Bầu trời tri thức” mà còn giúp ích rất nhiều
      cho giáo viên trong quá trình giảng dạy, giúp học sinh yêu thích hơn bộ môn Lịch sử,
      xóa tan cảm giác cho rằng Lịch sử là môn học khô khan cứng nhắc
      Việc ứng dụng CNTT và học liệu số trong dạy học, giáo dục có một số lợi ích sau
      Dạy học bằng phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin thể hiện nhiều ưu điểm vượt
      trội, bỏ xa phương pháp giáo dục truyền thống “thầy đọc trò chép”. Một số ưu điểm có
      thể kể đến như:
      Tối ưu hóa các bài giảng bằng các chương trình học được lập trình sẵn, kích thích đa
      giác quan, tạo sự hứng thú cho học viên,tăng khả năng tư duy, tưởng tượng, thúc đẩy
      tính chủ động cho các em học sinh
      Hạn chế lối giảng dạy “thầy ghi trò chép”, tạo ra quá trình tương tác qua lại giữa người
      dạy và người học. Học sinh có thể liên lạc, tương tác và hỗ trợ học tập trực tuyến thông
      3
      qua mạng xã hội và Internet,dễ dàng tiếp cận với kiến thức mới, linh hoạt hơn trong
      quá trình nghiên cứu, tìm tài liệu,khơi gợi hứng thú, trí tò mò và khả năng tự giác học
      tập.Kích thích sự phát triển đa giác quan của học sinh bằng các chương trình học được
      lập trình sẵn trên máy tính, với nhiều phương tiện như: hình ảnh, video, âm thanh, biểu
      đồ minh họa,…
      Công văn 4096/BGDĐT – CNTT V/v hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ ứng dụng CNTT
      và thống kê giáo dục năm học 2021 – 2022 ngày 20 tháng 9 năm 2021, BGDĐT nhấn
      mạnh : “Ứng dụng CNTT và chuyển đổi số trong đổi mới nội dung, phương pháp dạy
      học và kiểm tra đánh giá”.Thực hiện theo sự chỉ đạo chung của Bộ giáo dục đào tạo
      nhằm nâng cao chất lượng dạy và học theo đúng mục tiêu của nghành giáo dục đào tạo
      đề ra, giáo viên dạy các môn học nói chung và dạy học nói riêng cần biết sử dụng Công
      nghệ thông tin vào bài giảng, như vậy bài giảng mới đem lại hiệu quả cao hơn.
      Theo thông tư mới nhất , thông tư số 13/2022/TT-BGDĐT ngày 3 tháng 8 năm
      2022, môn Lịch sử được quyết định ban hành trở thành môn học bắt buộc trong các
      nhà trường THPT với thời lượng 52 tiết, điều đó khẳng định về vai trò và sứ mệnh to
      lớn của bộ môn Lịch sử trong việc hình thành nhân cách và phẩm chất, năng lực của
      học sinh trong các nhà trường nói chung và trường THPT nói riêng.
      Xuất phát từ nhận thức về vai trò quan trọng của bộ môn Lịch sử trong các nhà trường
      phổ thông hiện nay và tình hình thực tiễn giảng dạy bộ môn Lịch sử những năm qua,
      4
      tôi mạnh dạn viết sáng kiến kinh nghiệm với đề tài ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
      THÔNG TIN VÀ HỌC LIỆU SỐ TRONG GIẢNG DẠY ĐỂ NÂNG CAO CHẤT
      LƯỢNG MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT .
      Tôi cho rằng đây là một đề tài sáng kiến kinh nghiệm có tính thực tiễn cao, có thể được
      áp dụng hiệu quả trong quá trình giảng dạy môn Lịch sử ở các tỉnh thành trên cả nước
    2. Mục đích của sáng kiến
    • Đánh giá thực trạng việc sử dụng công nghệ thông tin dạy học môn Lịch sử hiện nay
      ở các nhà trường nói chung và Trường THPT C Hải Hậu nói riêng.
    • Nêu ra một số giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin đã được thực hiện trong
      giảng dạy môn Lịch sử ở trường THPT C Hải Hậu nhằm nâng cao chất lượng giảng
      dạy và học tập môn Lịch sử trong các nhà trường cấp THPT hiện nay.
    • Chia sẻ với đồng nghiệp về một số giải pháp sử dụng công nghệ thông tin ở một
      số bài trong chương trình giảng dạy môn Lịch sử cấp THPT
    1. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
      -Đưa ra một số giải pháp kinh nghiệm về việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình
      giảng dạy môn Lịch sử nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập môn Lịch sử ở trường
      THPT theo tinh thần đổi mới chương trình GDPT 2018.
    • Phát triển cho học sinh các phẩm chất, năng lực môn Lịch sử trong chương trình Lịch sử ở
      trường THPT thông qua việc sử dụng công nghệ thông tin.
    1. Đóng góp của sáng kiến
      Để góp phần đổi mới phương pháp dạy học nói chung, phương pháp giảng dạy môn Lịch
      sử nói riêng ở trường THPT, sáng kiến “ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ
      HỌC LIỆU SỐ TRONG GIẢNG DẠY ĐỂ NÂNG CAO CHÂT LƯỢNG MÔN
      LỊCH SỬ CẤP THPT” là một đề tài SKKN có tính thực tiễn cao, có thể được áp dụng
      hiệu quả trong quá trình giảng dạy môn Lịch sử ở các tỉnh thành trên cả nước, xóa tan
      tâm lý cho rằng Lịch sử là môn học khô khan cứng nhắc, giúp học sinh yêu thích và
      hứng thú hơn.
      II: GIẢI PHÁP
    2. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến.
      5
      Thuận lợi: Trong các năm học gần đây , tình trạng dạy học môn Lịch sử có sự chuyển
      biến, số lượng học sinh yêu thích và lựa chọn tổ hợp KHXH (Khoa học xã học) ngày
      càng tăng. Năm học 2021-2022 trường có 4/10 lớp học sinh khối 12 theo tổ hợp KHXH.
      Năm học 2022-2023 nhà trường có 5/10 lớp 12 theo tổ hợp KHXH.
      Đối với phương pháp giảng dạy truyền thống, học sinh chỉ được học qua sách vở và
      kiến thức mà giáo viên truyền tải. Khi ứng dụng công nghệ thông tin, việc học của học
      sinh sẽ trở nên chủ động hơn khi các em có thể tự tìm kiếm tư liệu kiến thức cho mình.
      Việc kết hợp giữa giảng dạy truyền thống và ứng dụng công nghệ thông tin tạo ra môi
      trường học tập có tính tương tác cao, tăng hiệu quả truyền tải kiến thức, nhờ đó học
      sinh sẽ tiến bộ rõ rệt, nâng cao chất lượng về phẩm chất và năng lực học sinh, bởi vì
      sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học có một số đặc điểm sau:
    • Tính hiệu quả: tương xứng với chi phí đầu tư ban đầu, việc ứng dụng CNTT giúp quá
      trình dạy học, giáo dục trở nên thuận tiện hơn, hướng đến hiệu quả mong đợi, lâu dài.
      Học sinh có thể chủ động tìm kiếm, thu thập, xử lí dữ liệu để hoàn thành các nhiệm vụ
      học tập.
    • Tính thông minh: không chỉ hỗ trợ GV, HS tìm kiếm, xử lí thông tin, việc ứng dụng
      CNTT còn cho phép tạo ra các sản phẩm hỗ trợ, thay thế các mô hình động, các thí
      nghiệm ảo, các chuyến du hành khám phá ảo mà việc thực hiện trực tiếp có nhiều khó
      khăn. Các sản phẩm công nghệ mới không ngừng được cải tiến, cập nhật, dễ khai thác
      hơn, nhiều chức năng hơn. Từ đó, đặc tính này đáp ứng nhu cầu hiện tại, định hình xu
      hướng phát triển về mục tiêu, nội dung, hình thức, cách thức tổ chức các hoạt động dạy
      học, giáo dục ở tương lai để đáp ứng nhu cầu phát triển không ngừng của con người.
    • Tính đa phương tiện: những thiết bị công nghệ khai thác các phần mềm để trình diễn
      các dữ liệu và thông tin, sử dụng đồng thời các hình thức chữ viết, âm thanh, hình ảnh
      qua hệ thống máy vi tính một cách tích hợp có thể tạo ra khả năng tương tác giữa người
      sử dụng và hệ thống điều hành thiết bị, kích thích và tạo hứng thú nhận thức của HS
      cũng như hỗ trợ HS tích cực khám phá và thực hành.
    • Tính trực quan: thiết bị công nghệ được sử dụng nhằm hỗ trợ thu, phát thông tin, tổ
      chức các hoạt động dạy học, giáo dục. Tiếp xúc một cách trực quan mô phỏng một phần
      hay toàn phần thực tiễn, HS có thể lĩnh hội được chân thật, sống động các biểu tượng,
      6
      định hướng thực hành dựa trên khả năng làm chủ cấu trúc, thực hiện các thao tác, qui
      trình cơ bản.
      Từ việc quan sát các hình ảnh lịch sử, các video trực quan sinh động, chân thực,
      học sinh sẽ không chỉ khắc sâu, nhớ lâu kiến thức mà còn có thể giúp học sinh phát
      triển kĩ năng quan sát khai thác hình ảnh một cách khách quan hình thành các phẩm
      chất trung thực, chăm chỉ, trách nhiệm, biết trân trọng các giá trị lịch sử của nhân loại.
      Khó khăn: Tuy nhiên, trong nhà trường THPT C Hải Hậu nói riêng và các trường
      THPT nói chung vẫn tồn tại tình trạng nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc đổi
      mới phương pháp, kĩ thuật dạy học, chưa chú trọng đến việc phát triển phẩm chất và
      năng lực học sinh, còn nặng về dạy học theo lối truyền thống, khiến giờ học Lịch sử trở
      nên khô khan cứng nhắc, kém hứng thú đối với học sinh. Đặc biệt là việc ứng dụng
      Công nghệ thông tin vào dạy các môn học và dạy lịch sử chưa nhiều. Giáo viên chỉ
      mới sử dụng công nghệ thông tin trong các tiết thao giảng.
      Một số giáo viên chưa chịu khó tự học, tự tìm hiểu để thực hiện việc thao tác xây
      dựng các giáo án điện tử và tìm hiểu kiến thức trên mạng Internet còn hạn chế.
      Cơ sở vật chất , phương tiện dạy học chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương
      pháp giảng dạy và phương pháp kiểm tra đánh giá, thiếu phòng dạy học bằng Công
      nghệ thông tin gây nên sự khó khăn cho giáo viên.
      Về phía học sinh:
      Đa số các em học Lịch sử còn là do yêu cầu bắt buộc của việc thi tốt nghiệp, thực
      sự bản thân chưa có sự yêu thích đối với bộ môn, nhiều học sinh có tư tưởng học một
      cách miễn cưỡng do vậy học sinh chưa phát huy được những phẩm chất và năng lực
      của bộ môn . Ví dụ như: Năng lực tìm tòi và khám phá Lịch sử; Năng lực nhận thức và
      tư duy lịch sử; Năng lực vận dụng kiến thức Lịch sử vào thực tiễn…
      Do vậy, thông qua bộ môn Lịch sử, học sinh chưa có định hướng lựa chọn nghề
      nghiệp, trân trọng những di sản lịch sử, văn hóa của đất nước, khu vực và thế giới và
      cũng chưa thể hiện được những phẩm chất và năng lực của bản thân. Vậy làm thế nào
      để trong quá trình giảng dạy bộ môn Lịch sử ở trường THPT, thầy cô giáo có thể khơi
      dậy được ngọn lửa đam mê, phát triển được cao nhất phẩm chất và năng lực của học
      sinh và chất lượng của bộ môn ?
    1. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến.
      7
      2.1. Ứng dụng công nghệ thông tin và học liệu số để thiết kế bài giảng điện tử
      2.1.1. Mục đích sử dụng
      Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy
      học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học. Hiện nay,
      việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông từng bước được
      tăng cường. Tuy nhiên các phương tiện dạy học tự làm của giáo viên luôn có ý nghĩa
      quan trọng, cần được phát huy. Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung
      dạy học vừa là phương tiện dạy học trong dạy học hiện đại, là công cụ hỗ trợ đắc lực
      cho giáo viên trong các giờ lên lớp.
      Học liệu số là tập hợp các phương tiện điện tử phục vụ dạy và học, gồm: giáo
      trình điện tử, sách giáo khoa (SGK) điện tử, tài liệu tham khảo điện tử, bài kiểm tra
      đánh giá điện tử, bản trình chiếu, bảng dữ liệu, các tệp âm thanh, hình ảnh, video, bài
      giảng điện tử, phần mềm dạy học, thí nghiệm mô phỏng và các học liệu được số hóa
      khác. Những học liệu này được số hóa theo kiến trúc định dạng và kịch bản nhất định,
      được lưu trữ trên các thiết bị công nghệ, điện tử như CD, USB, máy tính, mạng máy
      tính nhằm phục vụ cho việc dạy và học. Sử dụng học liệu số sẽ mang lại các hiệu quả
      sau:
    • Tính đa dạng: học liệu số tồn tại dưới nhiều dạng thức khác nhau như phần mềm máy
      tính, văn bản (text), bảng dữ liệu, âm thanh, hình ảnh, video, bài trình chiếu….
    • Tính động: nhờ khả năng phóng to, thu nhỏ, thay đổi màu sắc, thay đổi hướng, cách
      di chuyển hay xuất hiện, nhiều học liệu số tạo hứng thú trong dạy học, giáo dục, phù
      hợp với hoạt động nhận thức, khám phá và vận dụng trong quá trình tổ chức hoạt động
      học. Việc tìm kiếm thông tin trên các sách, tài liệu điện tử được thực hiện dễ dàng hơn,
      nhanh chóng với các siêu liên kết, các tính năng của phần mềm. Tính động của học liệu
      số còn thể hiện ở khả năng lưu trữ, chuyển đổi giữa các dạng thức khác nhau, các hình
      thức khác nhau tùy theo ý tưởng dạy học, giáo dục và những điều kiện vận dụng cụ thể.
      Ngoài ra, tính động còn cho phép sử dụng học liệu số một cách linh hoạt và hướng đến
      sự tương tác một cách chủ động giữa người học và học liệu số cũng như giữa người học
      và người dạy.
    • Tính cập nhật: nhờ khai thác ưu điểm tức thời và tốc độ của CNTT, việc phát hành,
      cập nhật nguồn học liệu số thường thuận tiện hơn, nhanh chóng hơn, khó bị giới hạn

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT