• SKKN Thiết kế và sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập nhằm phát triển năng lực sinh học cho học sinh trong dạy học chương Chuyển hóa vật chất

    SKKN Thiết kế và sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập nhằm phát triển năng lực sinh học cho học sinh trong dạy học chương Chuyển hóa vật chất và năng lượng tiếp cận chương trình Sinh học 11 Giáo dục phổ thông 2018

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN

    1. Xuất phát từ yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông và môn Sinh học
      trong chương trình giáo dục trung học phổ thông 2018.
      Đứng trước những đổi mới về giáo dục của quốc tế và các châu lục là chuyển
      mục tiêu giáo dục từ nền giáo dục định hướng nội dung, tập trung vào truyền thụ
      kiến thức, sang nền giáo dục định hướng phát triển phẩm chất và năng lực (NL) cho
      HS (HS). Khi nói NL là nói tới khả năng của con người trong một hoạt động nhất
      định nào đó. NL chỉ được phát triển khi các yếu tố của những mặt hoạt động luôn
      luôn tác động đúng chỗ, đúng hướng vào con người và đề ra yêu cầu phải có tác
      động trở lại một cách có hiệu quả nhất. Giáo dục Việt Nam đã kịp thời nắm bắt xu
      hướng đó. Vào tháng 12 năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức ban hành
      Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và chương trình các môn học rất khoa
      học, toàn diện, cụ thể và chi tiết trong đó chỉ ra rõ những phẩm chất và NL cần hình
      thành cho HS. Chương trình 2018 này đã đề cập đến 3 NL chung và 7 NL đặc thù
      cần hình thành cho HS được cụ thể hóa như hình 1 sau:
      Hình 1.1: Các năng lực cốt lõi cần phát triển cho học sinh
      Việc hình thành, phát triển NL khoa học cho HS trong quá trình dạy học là
      một nhiệm vụ đối với giáo viên (GV) phổ thông. NL khoa học được hình thành, phát
      triển ở nhiều môn học khoa học trong đó có môn Sinh học. Hay nói cách khác, NL
      sinh học là một bộ phận của NL khoa học. NL sinh học bao gồm các NL thành phần:
      2
      nhận thức sinh học; tìm hiểu thế giới sống; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học. Vì
      vậy đổi mới thành tố của quá trình dạy học các môn học nói chung và môn Sinh học
      nói riêng để đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông 2018 là rất cần thiết.
    2. Xuất phát từ những nghiên cứu về NL sinh học
      Trên thế giới cũng có nhiều công trình nghiên cứu về NL sinh học. Ví dụ, theo
      nghiên cứu đề xuất của trường Đại học Victoria (Úc) thì hệ thống các NL sinh học
      bao gồm 4 nhóm NL chính: (1) Tri thức về sinh học, (2) NL nghiên cứu, (3) NL thực
      địa, (4) NL thực hiện trong phòng thí nghiệm. Theo chuẩn NL của CHLB Đức, các
      NL người học cần đạt khi HS học bao gồm: (1) Kiến thức môn học; (2) Nghiên cứu
      khoa học; (3) Truyền thông; (4) Đánh giá các quy chuẩn [1].
      Một số tác giả trong nước đã có các công trình nghiên cứu, các bài báo công
      bố trên các tạp chí uy tín về NL chung, NL đặc thù của môn Sinh học. Tác giả Lê
      Đình Trung và Phan Thị Thanh Hội [25] đã trình bày về dạy HS học góp phần hình
      thành và phát triển các NL chung cho người học; một số giải pháp hình thành NL
      cho người học trong dạy HS học như: Xây dựng các bài tập tình huống để sử dụng
      vào các khâu của quá trình dạy học; Xây dựng các dự án học tập; Xây dựng các bài
      toán Sinh học ở một số nội dung Sinh học; Tăng cường các thí nghiệm thực hành,
      thí nghiệm nghiên cứu để giúp HS thường xuyên trải nghiệm qua thực tiễn trong dạy
      HS học.
      Trong tài liệu Chương trình giáo dục phổ thông môn Sinh học [3] cũng đã chỉ
      rõ môn Sinh học đóng góp vào việc phát triển NL khoa học. Việc hình thành, phát
      triển NL sinh học cho HS trong quá trình dạy học là một nhiệm vụ đối với GV phổ
      thông. Môn Sinh học là một môn trong nhóm các môn khoa học giúp phát triển NL
      đặc thù ở HS NL khoa học. Môn Sinh học góp phần hình thành và phát triển ở HS
      NL sinh học, biểu hiện của NL khoa học tự nhiên, bao gồm 3 NL thành phần là: NL
      nhận thức sinh học, NL tìm hiểu thế giới sống và NL vận dụng kiến thức, kĩ năng đã
      học.
      NL nhận thức sinh học là một trong những NL thành phần của NL Sinh học.
      Đây là NL nền tảng để giúp HS phá triển các NL thành phần khác như NL tìm hiểu,
      khám phá Sinh học và NL vận dụng kiến thức vào thực tiễn và ứng xử phù hợp với
      tự nhiên, con người. Vì vậy, nếu giúp HS phát triển tốt NL này cũng chính là góp
      phần phát triển 2 NL thành phần còn lại của NL sinh học.
      NL tìm hiểu thế giới sống là tìm tòi, khám phá các hiện tượng trong tự nhiên
      và trong đời sống liên quan đến Sinh học. Phát triển NL tìm hiểu thế giới sống cho
      HS được xác định là nhiệm vụ quan trọng của dạy HS học. Để phát triển NL tìm
      hiểu thế giới sống có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó việc sử dụng
      câu hỏi (CH), bài tập (BT) phát huy được hiệu quả.
      3
      NL vận dụng kiến thức vào thực tiễn là khả năng người học huy động tổng
      hợp kiến thức đã học với thái độ tích cực để giải quyết có hiệu quả các vấn đề thực
      tiễn liên quan đến tự nhiên và đời sống cá nhân, cộng đồng.
      Theo Chương trình giáo dục phổ thông môn Sinh học [3], NL sinh học bao
      gồm các NL thành phần và biểu hiện của chúng có thể được khái quát lại như trong
      hình 1.2 sau đây:
      Hình 1.2. Sơ đồ tóm tắt các NL thành phần và biểu hiện của NL sinh học
    3. Xuất phát từ một số biện pháp phát triển NL sinh học cho HS mà các tác
      giả nghiên cứu và đề xuất.
      Tác giả Lê Đình Trung, Phan Thanh Hội [26] đã đưa ra một số biện pháp hình
      thành NL cho người học trong dạy HS học như: Xây dựng CH, BT để sử dụng vào
      các khâu của quá trình dạy học; Xây dựng các dự án học tập; Xây dựng các bài toán
      sinh học ở một số nội dung; Tăng cường thí nghiệm thực hành nghiên cứu để giúp
      HS trải nghiệm qua thực tiễn trong dạy HS học.
      Các tác giả Phạm Thị Hồng Tú, Đặng Thị Thanh Hiền, Hoàng Anh Tú [27]
      đã khẳng định rằng áp dụng dạy học thực hành thí nghiệm kèm theo các CH định
      hướng nghiên cứu là biện pháp nhằm phát triển NL sinh học cho HS ở trường THPT.
      Qua phân tích các tài liệu trên có thể thấy việc sử dụng các CH, BT để hình
      thành và phát triển NL sinh học cho HS là một biện pháp quan trọng và cần thiết.
      NL sinh học
      NL nhận
      thức sinh
      học
      NL tìm hiểu
      thế giới sống
      NL vận dụng kiến
      thức, kĩ năng đã học
    • Nhận biết, kể tên,
      phát biểu, nêu được
    • Trình bày được bằng
      các hình thức biểu đạt
    • Phân loại được
    • Phân tích được
    • So sánh, lựa chọn
      được
    • Giải thích được
    • Nhận ra điểm sai và
      chỉnh sửa, phê phán
    • Tìm từ khóa, kết nối
      được thông tin
    • Đề xuất vấn đề
    • Đưa ra phán
      đoán và xây dựng
      giả thuyết
    • Lập kế hoạch
      thực hiện
      -Thực hiện kế
      hoạch
      -So sánh, lựa chọn
      được
    • Viết, trình bày
      báo cáo, thảo luận
    • Giải thích thực tiễn
    • Giải thích, đánh giá hiện
      tượng tự nhiên và đời sống
    • Giải thích, đánh giá, phản
      biện mô hình công nghệ
    • Có hành vi và thái độ
      thích hợp
    • Đề xuất, thực hiện giải
      pháp bảo vệ sức khỏe
    • Đề xuất, thực hiện giải
      pháp bảo vệ thiên nhiên,
      môi trường, phát triển bền
      vững
      NL
      thành phần
      Biểu hiện
      4
      Các tác giả cũng khẳng định rằng dạy HS học theo phương pháp tích cực để phát
      triển NL cho HS cũng cần phải có CH, BT định hướng giúp HS sau khi trả lời thì
      hình thành được NL nhận thức sinh học, thúc đẩy HS tìm hiểu thế giới sống và giúp
      HS vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn.
    1. Xuất phát từ cơ sở lí luận của việc sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy học
      CH trong đời thường của con người từ thuở mới bắt đầu tập nói là biểu hiện
      sự mong muốn tìm tòi, hiểu biết về thế giới xung quanh. Việc đặt ra các CH và trả
      lời cho những loại CH là nguồn gốc để có kho tàng tri thức của nhân loại ngày nay.
      Trong dạy học, CH, BT là yếu tố không thể thiếu trong quá trình dạy học. Tác
      giả Đinh Quang Báo [5], Lê Đình Trung [24] cũng đã khẳng định rằng dù sử dụng
      phương pháp dạy học nào thì cũng không thể thiếu hệ thống CH, BT trong dạy học.
      CH, BT là cầu nối để GV định hướng HS giúp HS hoạt động tương tác với đối tượng
      để lĩnh hội được tri thức, kĩ năng, thái độ. Quá trình đó được biểu đạt như hình 1.3
      sau:
      Hình 1.3. Vai trò của CH, BT để kết nối các hoạt động học tập

    Việc sử dụng CH, BT có vai trò quan trọng trong hoạt động dạy học. Vì CH,
    BT có vai trò định hướng hoạt động nghiên cứu tài liệu kết hợp tri thức HS sẵn có,
    hoặc thúc đẩy HS tiến hành các thao tác thực hành thí nghiệm, điều tra phỏng vấn,
    trao đổi với bạn học để trả lời. CH, BT thiết kế đạt yêu cầu sẽ có vai trò quan trọng
    trong việc biến HS trở thành chủ thể của quá trình nhận thức, qua đó khắc phục được
    tình trạng dạy học lấy GV làm trung tâm. Đây là vai trò có ý nghĩa to lớn đối với
    dạy học trong giai đoạn hiện nay.
    Theo tác giả Mai Văn Hưng thì “Câu hỏi, bài tập vừa là phương tiện vừa là
    phương pháp, biện pháp tổ chức dạy học, trong dạy học, câu hỏi/bài tập có thể được
    sử dụng để dạy kiến thức mới, để củng cố, hoàn thiện kiến thức, để kiểm tra – đánh
    giá và điều chỉnh lôgic trong quá trình dạy”[15].
    Như vậy, CH, BT như là mối liên kết gắn các yếu tố của quá trình dạy học
    thành một chỉnh thể toàn vẹn. Việc sử dụng CH, BT để tổ chức hoạt động học tập
    cho HS giúp HS tự chiếm lĩnh được tri thức mới, kích thích tìm tòi khám phá đối
    tượng và vận dụng có ích những tri thức vào cuộc sống. Vì vậy, việc thiết kế và sử
    5
    dụng CH, BT trong dạy học cần được chú trọng nhằm đạt được mục tiêu phát triển
    NL sinh học trong Chương trình chi tiết môn Sinh học 2018.

    1. Xuất phát từ thực tiễn của việc thiết kế và sử dụng câu hỏi, bài tập
      Câu hỏi (CH), bài tập (BT) đóng một vai trò quan trọng trong quá trình dạy
      học, là một nguồn tài nguyên tiềm năng cho cả việc dạy và học. Đặt CH là một phần
      không thể thiếu của việc học hỏi và nghiên cứu khoa học. Việc xây dựng CH, BT
      chu đáo trong dạy học là chìa khóa để nuôi dưỡng tinh thần tìm hiểu ở HS. Đặt CH
      tốt không những có tác dụng tốt trong dạy học mà còn rèn cho HS kĩ năng đặt ra các
      CH tốt cho người khác nên từ lâu nay ông cha ta dùng từ “học hỏi” nghĩa là “biết
      học thì mới biết hỏi” và “biết hỏi mới biết học”. CH vừa là phương pháp vừa là
      phương tiện, đồng thời là biện pháp tổ chức dạy học định hướng cho cả GV trong
      quá trình dạy và định hướng cho HS trong quá trình học. Tuy đã có rất nhiều tác giả
      nghiên cứu về việc xây dựng CH, BT nhằm phát triển các NL chung cho HS nhưng
      việc xây dựng hệ thống CH, BT trong dạy HS học nhằm phát triển được NL sinh
      học vẫn chưa được khai thác nhiều.
      Trong chương trình Sinh học 11 Trung học phổ thông (THPT), chương
      Chuyển hóa vật chất và năng lượng trang bị cho HS các kiến thức về các quá trình
      sống của thực vật, động vật và con người. Do đó, chương trình có nhiều kiến thức
      gần gũi với HS, gợi cho HS hứng thú tìm hiểu kiến thức Sinh học, tìm hiểu thế giới
      sống; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào cuộc sống hàng ngày. Đây cũng chính
      là điều kiện thuận lợi để GV có thể sử dụng các CH, BT hình thành và phát triển NL
      sinh học cho HS.
      Xuất phát từ vấn đề trên, chúng tôi đã chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm:
      “Thiết kế và sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập nhằm phát triển năng lực
      sinh học cho học sinh trong dạy học chương Chuyển hóa vật chất và năng lượng
      tiếp cận chương trình Sinh học 11- Giáo dục phổ thông 2018.”
      II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    2. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
      Để đánh giá tính cần thiết của vấn đề đang nghiên cứu, tôi đã tiến hành điều
      tra thực trạng thiết kế, sử dụng CH, BT nhằm phát triển NL sinh học cho HS của GV
      dạy Sinh học THPT. Các GV tham gia khảo sát bằng form biểu mẫu trên google
      drive gồm 49 GV, thu thập ý kiến trong vòng 1 tuần từ ngày 24/7/2020 đến ngày
      31/7/2020. Nội dung chi tiết của phiếu điều tra thể hiện rõ trong phụ lục 01.
      Để đánh giá thực trạng NL sinh học của HS hiện nay, chúng tôi đã xây dựng
      phiếu khảo sát lấy ý kiến từ phía HS, nội dung của phiếu khảo sát được chi tiết hóa
      ở phụ lục 01. Các HS tham gia khảo sát là 147 HS của trường THPT Tống Văn Trân,
      6
      Ý Yên, Nam Định từ ngày 15/8/2020 đến 30/8/2020 bằng form biểu mẫu trên google
      drive.
      1.1. Nội dung điều tra
    • Đối với GV:
    • Sự quan tâm của GV và tính cần thiết phải phát triển NL sinh học cho HS.
    • Tình hình thiết kế và sử dụng CH, BT nhằm phát triển NL sinh học cho HS
      THPT.
    • Những khó khăn gặp phải khi GV tự xây dựng các CH, BT Sinh học.
    • Những biện pháp mà GV đã thực hiện để có thể phát triển được NL sinh học
      cho HS.
    • Đối với HS:
    • Điều tra thực trạng từ đó đánh giá được NL sinh học của HS THPT.
      1.2. Phân tích kết quả điều tra
      Kết quả điều tra như sau:
      Đối với GV:
    • Về mức độ quan tâm của GV đến việc hình thành và phát triển NL sinh học
      cho HS.
      Hình 2.1. Biểu đồ biểu thị mức độ quan tâm của GV đến việc cần hình thành và
      phát triển NL sinh học cho HS
      Qua biểu đồ này cho thấy có tới 93,87% GV đã rất quan tâm và có quan tâm
      đến việc cần hình thành và phát triển NL sinh học cho HS trong quá trình dạy học.
      Có 6,12% GV còn ít quan tâm đến vấn đề này. Số GV không quan tâm là 0%. Có
      thể thấy GV môn Sinh học thường xuyên cập nhật học hỏi để đáp ứng với những
      vấn đề đổi mới của Chương trình giáo dục phổ thông 2018.
      0.00%
      10.00%
      20.00%
      30.00%
      40.00%
      50.00%
      60.00%
      70.00%
      80.00%
      90.00%
      Rất quan tâm Quan tâm Ít quan tâm Không quan
      tâm
      83.67%
      10.20%
      6.12%
      0.00%
      Tỉ lệ % GV
      7
      Hình 2.2. Biểu đồ biểu thị tầm quan trọng của việc hình thành
      và phát triển NL sinh học
      Kết quả khảo sát cho thấy, 100% GV đều cho rằng NL sinh học là rất cần thiết
      (75,5%) và cần thiết (24,5%) cho HS.
      Khi được hỏi về những biện pháp có thể phát triển được NL sinh học cho HS
      thì các GV đều đưa ra biện pháp sử dụng các CH, BT trong số các biện pháp đề xuất.
      Khi được hỏi về tầm quan trọng của việc sử dụng CH, BT trong dạy học để phát
      triển NL sinh học cho HS thì có 85,71% GV khẳng định rằng CH, BT trong dạy HS
      học có vai trò rất quan trọng; 12,24% GV cho rằng việc sử dụng CH, BT là quan
      trọng.
      Hình 2.3. Biểu đồ biểu thị tầm quan trọng của CH, BT
      trong dạy học phát triển NL sinh học
      0.00%
      10.00%
      20.00%
      30.00%
      40.00%
      50.00%
      60.00%
      70.00%
      80.00%
      90.00%
      Rất quan trọng Quan trọng Ít quan trọng Không quan
      trọng
      85.71%
      12.24%
      2.04% 0.00%
      Tỉ lệ % GV
      8
      Hình 2.4. Biểu đồ đánh giá số lượng, chất lượng của các CH, BT
      trong sách Sinh học THPT tới việc phát triển NL sinh học
      Tuy trong sách Sinh học THPT cũng đã có các CH, BT lệnh sau mỗi mục của
      bài, sau mỗi bài học, ở cuối của mỗi chương nhưng 93,88% GV khẳng định rằng
      việc sử dụng các CH, BT trong sách trình bày là chưa đủ để phát triển tốt được NL
      sinh học cho HS. Số GV cho rằng các CH, BT trong sách đủ để phát triển được NL
      sinh học chiếm tỉ lệ nhỏ 6,12%.
      Do nhận thức được tầm quan trọng của CH, BT trong dạy học và tính cấp thiết
      phải bổ sung, xây dựng thêm các CH, BT trong dạy học nên có tới 42,9% GV đã
      thường xuyên tự thiết kế hệ thống CH, BT để dạy học, tổ chức hoạt động học tập
      cho HS; 53,1% GV thỉnh thoảng làm việc này, chỉ có 4% GV hiếm khi tự xây dựng
      CH, BT. Như vậy, các GV tham gia khảo sát đều ít hay nhiều tự thiết kế các CH, BT
      để dạy học.
      Hình 2.5. Biểu đồ đánh giá mức độ GV tự thiết kế các CH, BT
      Đánh giá tình hình thiết kế, sử dụng CH, BT của GV từ góc nhìn của HS,
      chúng tôi đã tiến hành phiếu hỏi lấy ý kiến từ 147 HS lớp 11 năm học 2020-2021
      của trường THPT Tống Văn Trân.
      Nguồn CH, BT mà GV sử dụng trong quá trình dạy học như thống kê trong
      bảng sau:
      0.00%
      10.00%
      20.00%
      30.00%
      40.00%
      50.00%
      60.00%
      70.00%
      80.00%
      90.00%
      100.00%
      Đủ Chưa đủ
      6.12%
      93.88%
      Tỉ lệ % GV
      9
      Bảng 2.1. Đánh giá tình hình sử dụng các CH, BT trong sách Sinh học
      và các CH, BT ngoài sách Sinh học
      Stt Nguồn
      Mức độ
      Thường
      xuyên
      Thỉnh
      thoảng
      Hiếm
      khi
      Không
      bao giờ
      SL % SL % SL % SL %
      1 CH, BT có trong sách 110 74,83 31 20,08 6 4,08 0 0
      2 CH, BT ngoài sách 46 31,23 88 59,86 11 7,84 2 1,36
      Bảng trên cho thấy có 110/147(chiếm 74,83%) GV đều thường xuyên sử dụng
      các CT, BT trong sách giáo khoa đã trình bày. Ngoài nguồn trong sách giáo khoa có
      nhiều GV cũng thường xuyên (31,23%) hoặc thỉnh thoảng (59,86%) có sử dụng thêm
      các CH, BT ngoài sách. Có thể thấy GV nhận thức rõ được vai trò của việc sử dụng
      CH, BT trong dạy học.
      Điều đáng để chúng ta bàn thêm là có tới hơn một nửa (57,1%) GV chỉ thỉnh
      thoảng và hiếm khi tự thiết kế CH, BT trong dạy học. Nhìn từ phía đánh giá của HS
      cho thấy có 88/147 ý kiến của cho rằng GV của mình chỉ thỉnh thoảng nêu ra các
      CH, BT ngoài sách, 12/147 ý kiến nêu GV của mình hiếm khi sử dụng CH, BT ngoài
      sách và 2 ý kiến nêu GV chỉ sử dụng các CH, BT trong sách giáo khoa Sinh học để
      dạy học. Vậy những khó khăn nào mà GV đã gặp phải khi thiết kế CH, BT phát triển
      NL sinh học cho HS.
      Hình 2.6. Biểu đồ những khó khăn khi GV tự thiết kế CH, BT phát triển NL sinh học
      Có tới 39/49 (81,3%) GV cho rằng việc xây dựng CH, BT mất rất nhiều thời
      gian của họ. Đây là khó khăn chiếm tỉ lệ nhiều nhất. Cùng với đó là các lí do như họ
      không có nguồn tài liệu tham khảo (chiếm 43,8%), họ chưa hiểu rõ về NL sinh học
      (chiếm 29,2%), các ý kiến khác (10,4%). Qua đây có thể thấy nhiều rào cản về thời
      gian, về tài liệu, về hiểu biết của GV về NL sinh học…đã tác động tới GV làm cho
      10
      họ chưa tự xây dựng được hệ thống CH, BT để phát triển NL sinh học. Chỉ có một
      số ít GV (8,3%) nhận định rằng họ không gặp khó khăn nào cả.
      Hình 2.7. Biểu đồ biểu thị khả năng của GV trong việc xác định
      các NL thành phần của NL sinh học mà CH, BT biểu đạt
      Khi sử dụng các CH, BT trong dạy học thì có tới 69,4% GV xác định được là
      CH, BT ấy sẽ phát triển được NL thành phần nào của NL sinh học, có 30,6% GV có
      xác định được nhưng lại không chắc chắn, có lẽ kết quả này cũng phù hợp vì theo
      điều tra ở câu hỏi số 6 thì có 29,2% GV (gần tương đương với kết quả của câu hỏi
      số 7) còn chưa hiểu rõ ràng về NL sinh học.
      Trong quá trình dạy học, khi xây dựng được hệ thống CH, BT có 59,2% GV
      sắp xếp các CH, BT để sử dụng chúng tương ứng với từng hoạt động học như CH,
      BT nào dùng phần khởi động hay dùng phần hình thành kiến thức, củng cố hay vận
      dụng, tìm tòi và mở rộng; 32,7% GV thỉnh thoảng mới sắp xếp và 8,2% GV hiếm
      khi làm việc này. Có lẽ những GV này đã sử dụng các câu lệnh, các CH, BT theo
      đúng trình tự trong sách Sinh học đã nêu ra.
      Hình 2.8. Biểu đồ biểu thị tình hình sắp xếp các CH, BT
      phù hợp với tiến trình dạy học
      Qua việc điều tra về mức độ quan tâm tới việc phát triển NL sinh học cho HS
      và tình hình sử dụng CH, BT và nhận thức về vai trò của CH, BT cho thấy: Các GV
      đều quan tâm đến việc hình thành NL sinh học cho HS đánh giá cao tính cần thiết
      của việc hình thành NL sinh học. Các GV cũng đều đánh giá cao vai trò của CH, BT
      11
      trong các khâu của tiến trình dạy học, xác định được loại CH, BT phù hợp để phát
      triển NL sinh học. Tuy nhiên, các GV đều gặp khó khăn trong việc thiết kế và sử
      dụng các CH, BT để dạy HS học, chưa xây dựng được một hệ thống CH, BT…
      Tóm lại, qua kết quả điều tra về tình hình thiết kế và sử dụng CH, BT của GV
      chúng tôi có một số nhận xét như sau:
      Đối với GV:
      → GV chưa chú ý nhiều đến việc thiết kế và sử dụng CH, BT để phát triển NL sinh
      học cho HS trong dạy học, chưa có ý thức sử dụng CH, BT phù hợp với các hoạt
      động học tập của HS.
      → Nhiều GV còn chưa hiểu rõ về NL sinh học do Chương trình giáo dục phổ thông
      môn Sinh học đề ra. GV chưa xác định rõ được CH đang dùng sẽ phát huy được NL
      thành phần nào của NL sinh học.
      → Nhiều GV còn ngại khó, sợ mất thời gian trong việc thiết kế CH, BT phát triển
      NL sinh học.
      Đối với HS:
      Khi đánh giá NL sinh học của HS, chúng tôi tiến hành điều tra 3 thành phần
      NL sinh học gồm: NL nhận thức sinh học, NL tìm hiểu thế giới sống, NL vận dụng
      kiến thức kĩ năng đã học với các chỉ số hành vi. Kết quả khảo sát với 147 HS trong
      bảng 1.4 (Phụ lục 02).
      Kết quả điều tra thực trạng về NL nhận thức sinh học được biểu hiện ở các
      chỉ số 1, 2 và 3 như hình 2.9.
      Hình 2.9. Biểu đồ thực trạng NL nhận thức sinh học của HS.
      Kết quả cho thấy lượng HS thường xuyên biểu hiện chỉ số 1 là nhận biết, kể
      tên, phát biểu, nêu được các khái niệm, quy luật, quá trình sống và sau đó trình bày
      được tri thức sinh học bằng ngôn ngữ nói, viết, sơ đồ, biểu đồ…còn chưa cao (dưới
      50%); số HS thỉnh thoảng, hiếm khi và không bao giờ có chỉ số 1 chiếm tỉ lệ gần
      0.00%
      10.00%
      20.00%
      30.00%
      40.00%
      50.00%
      60.00%
      Chỉ số 1 Chỉ số 2 Chỉ số 3
      40.14% 36.05%
      17.01%
      43.54% 46.26%
      51.70%
      15.65% 17.01%
      25.85%
      0.68% 0.68%
      5.44%
      Thường xuyên Thỉnh thoảng Ít khi Không bao giờ
      12
      60%. Khi xem xét ở chỉ số 2 là phân loại được đối tượng, hiện tượng sống, phân tích
      được đặc điểm của đối tượng, so sánh được các đối tượng, khái niệm, các cơ chế,
      quá trình sống, chúng tôi nhận thấy khoảng hơn 1/3 số HS được điều tra thường
      xuyên có biểu hiện của chỉ số 2; gần 2/3 số HS còn lại thỉnh thoảng, hiếm khi hoặc
      họ không bao giờ có biểu hiện của chỉ số 2. Ở chỉ số 3 với biểu hiện là: thường nhận
      ra và chỉnh sửa được những điểm sai; đưa ra được những nhận định có tính phê phán
      liên quan tới CH, BT trong thảo luận thì tỉ lệ HS thường xuyên đạt được chỉ số này
      chiếm 17,01%, đây là một tỉ lệ quá thấp.
      Ba chỉ số trên đây trình bày theo mức độ tăng dần về NL nhận thức sinh học,
      xét theo chiều dọc từ chỉ số 1 đến chỉ số 3 thì tỉ lệ HS thường xuyên đạt được mức
      độ cao về thành phần NL thứ nhất của NL sinh học lại giảm đi, tỉ lệ HS thỉnh thoảng,
      hiếm khi và không bao giờ đạt được mức cao lại tăng dần lên. Qua đó có thể thấy
      rằng dù GV trong quá trình dạy học đã sử dụng các CH, BT trong sách giáo khoa và
      các CH, BT mà GV tự thiết kế hay sưu tầm được chưa phát triển tốt được NL nhận
      thức sinh học cho HS.
      Đối với NL tìm hiểu thế giới sống, chúng tôi đã xem xét ở 2 chỉ số bao gồm
      chỉ số 4 và chỉ số 5. Theo kết quả điều tra chúng tôi thu được số liệu như hình 2.10
      sau:
      Hình 2.10. Biểu đồ thực trạng NL tìm hiểu thế giới sống của HS.
      Ở chỉ số 4 với biểu hiện là HS đặt ra được câu hỏi để tìm hiểu tri thức liên
      quan nảy sinh trong khi học thì có một tỉ lệ rất thấp HS đưa ra những thắc mắc,
      những nghi vấn, những dấu hỏi khi thực hiện tìm hiểu tri thức liên quan nảy sinh
      trong giờ HS học. Nguyên nhân có thể do phương pháp học thụ động từ phía HS,
      quen với cách học thầy giảng trò nghe, thầy thông báo trò tiếp nhận, chưa tích cực,
      chủ động trong việc tìm hiểu tri thức. Ở chỉ số 5 là HS biết lập kế hoạch để làm thực
      nghiệm kiểm chứng, điều tra và sử dụng được ngôn ngữ, hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng
      để biểu đạt quá trình, kết quả nghiên cứu và bảo vệ kết quả nghiên cứu của mình thì
      0.00%
      10.00%
      20.00%
      30.00%
      40.00%
      50.00%
      Chỉ số 4 Chỉ số 5
      14.29% 12.93%
      46.94%
      30.61% 31.29%
      39.46%
      8.16%
      16.33%
      Thường xuyên Thỉnh thoảng Ít khi Không bao giờ
      13
      kết quả điều tra còn phản ánh rõ hơn nữa cách học thụ động từ phía HS, các em tiếp
      nhận một chiều những nội dung mà GV phản ảnh tới mình, không chịu khó tìm tòi,
      kiểm chứng lại nguồn tri thức.
      Khi điều tra thực trạng về NL vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học, chúng tôi
      thu được kết quả như hình 2.11 sau:
      Hình 2.11. Biểu đồ thực trạng NL vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học của HS.
      Ở chỉ số 6, chúng tôi nhận thấy tỉ lệ HS thường xuyên biết vận dụng kiến thức
      Sinh học là thấp, số HS thỉnh thoảng biết vận dụng kiến thức ở chưa vượt quá 50%,
      số HS hiếm khi có biểu hiện còn cao hơn số HS có biểu hiện thường xuyên. Cón ở
      chỉ số 7 thì chỉ hơn 1/5 số HS trong khảo sát thấy được ý nghĩa của kiến thức sinh
      học, biết vận dụng tri thức ấy để bảo vệ bản thân, gia đình, cộng đồng cũng như bảo
      vệ môi trường sống.
      Để khẳng định chắc chắn về NL vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học, chúng
      tôi còn cho HS tham gia khảo sát trả lời câu hỏi tự luận như sau: “Em hãy đưa ra một
      ví dụ về một tình huống em đã vận dụng kiến thức Sinh học đã học để giải quyết một
      vấn đề có thực trong cuộc sống?”. Kết quả thu được chỉ có 26/147 (17,68%) HS nêu
      ra ý kiến trả lời. Trong số các ví dụ mà HS nêu ra cũng có những ví dụ nêu đúng được
      tình huống là vận dụng kiến thức Sinh học để giải quyết, có những ví dụ nêu ra rất sơ
      sài chưa thể hiện được sự hiểu biết thực sự của HS, bên cạnh đó một số ví vụ còn chưa
      phải là sự vận dụng của kiến thức sinh học. Như vậy, có thể khẳng định rằng NL vận
      dụng kiến thức, kĩ năng đã học môn Sinh học của HS còn thấp.
      Để xác định lí do tại sao việc sử dụng CH, BT của GV để phát triển NL sinh
      học của HS còn chưa đạt hiệu quả, chúng tôi tiến hành khảo sát về tình hình sử dụng
      CH, BT của GV từ phần trả lời của HS. Kết quả thu được ở bảng 1.3 cho thấy việc sử
      dụng các CH, BT trong sách Sinh học và cả các CH, BT mà GV thiết kế hiện nay chưa
      phát triển được đầy đủ 3 thành phần của NL sinh học cho HS.
      0.00%
      10.00%
      20.00%
      30.00%
      40.00%
      50.00%
      Chỉ số 6 Chỉ số 7
      20.41% 22.45%
      46.94% 46.94%
      29.93%
      25.17%
      2.72%
      5.44%
      Thường xuyên Thỉnh thoảng Ít khi Không bao giờ
      14
      Khi tiến hành khảo sát HS về những nguồn thông tin mà HS dựa vào để trả lời
      các CH, BT mà GV đưa ra, chúng tôi thu được kết quả như bảng sau:
      Bảng 2.2. Các căn cứ để HS trả lời các CH, BT và mức độ trả lời
      tương ứng với từng căn cứ
      Stt Nguồn thông tin,
      dữ liệu làm căn
      cứ để HS trả lời
      CH, BT
      Mức độ
      Thường
      xuyên
      Thỉnh
      thoảng
      Hiếm khi Không
      bao giờ
      SL % SL % SL % SL %
      1 Câu hỏi, bài tập
      yêu cầu HS đọc
      thông tin sách
      Sinh học để trả lời
      117 79,59 26 17,68 3 2,04 1 0,68
      2 Câu hỏi, bài tập
      yêu cầu HS phải
      liên hệ thực tế để
      trả lời
      53 36,05 81 55,1 9 6,12 4 2,72
      3 Câu hỏi, bài tập
      yêu cầu HS vận
      dụng kiến thức đã
      học
      86 58,5 47 31,97 13 8,84 1 0,68
      4 Câu hỏi bài tập
      yêu cầu HS làm
      thực nghiệm, điều
      tra, phỏng vấn…
      9 6,12 45 30,61 71 50,34 22 14,97
      Qua bảng 2.2 cho thấy nguyên nhân dẫn đến NL nhận thức sinh học của HS
      còn chưa cao là do trong quá trình dạy học GV đã thường xuyên sử dụng dạng CH,
      BT yêu cầu HS đọc thông tin trong sách giáo khoa để làm căn cứ trả lời. Tỉ lệ những
      dạng CH, BT loại này chiếm tới 79,59% dẫn đến độ bền kiến thức của HS không
      sâu, HS hình thành trí nhớ ngắn hạn về tri thức đó ngay tại thời điểm trả lời nhưng
      sau đó sẽ bị quên mất dần theo thời gian. Tri thức muốn bền lâu phải là tri thức HS
      tự lực khám phá và tự xây dựng nên cho bản thân, hoặc phải được rèn luyện thường
      xuyên, được nhắc lại trong quá trình sống nhưng tỉ lệ GV sử dụng các CH, BT đòi
      hỏi HS phải làm thí nghiệm, thực nghiệm, điều tra, phỏng vấn… lại quá thấp chỉ
      chiếm 6,12% (9/147). Do đó, người GV trong quá trình dạy học của mình cần phải
      tích cực sử dụng các CH dạng đòi hỏi HS kiểm chứng lại những điều đã học bằng
      các thực nghiệm, điều tra…của chính HS để nâng cao độ bền tri thức cho HS.
      Bảng số liệu 2.2 cũng cho thấy có 36,05% GV thường xuyên sử dụng CH, BT
      yêu cầu HS liên hệ thực tế để trả lời; 55,10% GV thỉnh thoảng có sử dụng; 6,12%
      GV hiếm khi sử dụng và 2,72% GV không bao giờ sử dụng. Có tới 64,95% GV đã
      15
      không thường xuyên sử dụng loại CH, BT yêu cầu HS phải liên hệ thực tế trả lời, do
      đó đã không phát triển được NL quan sát của HS, mà NL quan sát là yếu tố thúc đẩy
      phát triển NL tìm hiểu thế giới sống. Có quan sát mới phát hiện ra những điều mới
      mẻ và thúc đẩy người quan sát mong muốn tìm hiểu về vấn đề mà mình nhìn thấy.
      Họ sẽ đặt ra câu hỏi Tại sao? Vì sao? và đặt ra kế hoạch thực hiện tìm hiểu vấn đề
      đó. Cùng với đó là việc sử dụng CH, BT yêu cầu HS làm thực nghiệm, điều tra,
      phỏng vấn…còn rất thấp (6,12%) nên dù HS có mong muốn tìm hiểu thế giới sống
      song lại chưa được trang bị cách thức để khám phá thế giới sống. HS không biết phải
      làm như thế nào, bắt đầu từ đâu? Nếu họ được tham gia làm thực nghiệm, điều tra,
      đo đạc, phân tích, xử lí các tham số thống kê đơn giản… thường xuyên hơn thì HS
      sẽ thấy dễ dàng hơn cho việc trả lời làm thế nào để khám phá, tìm hiểu thế giới sống.
      Tóm lại, hạn chế trong việc sử dụng các CH, BT liên hệ và sử dụng CH, BT yêu cầu
      HS làm thực nghiệm, điều tra, phỏng vấn…đã góp phần làm cho NL tìm hiểu thế
      giới sống của HS ở mức thấp.
      Đối với các CH, BT dạng yêu cầu HS vận dụng kiến thức đã học để trả lời, có
      58,50% GV thường xuyên sử dụng; 31,97% GV thỉnh thoảng sử dụng các CH, BT
      loại này; 8,84% GV hiếm khi dùng và 0,68% GV không bao giờ dùng. Phần lớn
      (90,47%) GV đã thường xuyên và thỉnh thoảng sử dụng các CH, BT yêu cầu HS vận
      dụng kiến thức, kĩ năng đã học, chỉ một số ít GV (9,63%) hiếm khi dùng và không
      bao giờ sử dụng. Vậy tại sao NL vận dụng kiến thức, kĩ năng của HS phát triển chưa
      cao (chưa đạt được 50% số HS biểu hiện NL này) phải chăng do người GV trong
      quá trình dạy học đã sử dụng CH, BT loại này chưa tốt, họ sử dụng CH, BT loại này
      chưa vào đúng phần trong bài dạy nên không phát huy được hiệu quả của CH, BT
      hoặc CH, BT đã đưa ra HS có trả lời nhưng lại không nhận được phản hồi, nhận xét
      hay đính chính đáp án từ phía GV ngay từ những tiết dạy đầu tiên dẫn đến tâm lí
      chán nản, HS không muốn trả lời các CH, BT đó nữa. Hệ quả là đa số HS chưa biết
      vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các tình huống thực tế. Qua đây chứng tỏ
      rằng phần lớn HS chỉ dừng lại ở việc học thuộc lòng, nắm kiến thức một cách máy
      móc, chưa thực sự hiểu bài, chưa hiểu được bản chất của vấn đề, chưa phát huy được
      tính tích cực trong việc tìm hiểu thêm kiến thức thực tế và chưa vận dụng được kiến
      thức đã học.
      Tóm lại, qua kết quả điều tra để đánh giá về NL sinh học của HS, chúng tôi
      có nhận xét: Trong 3 NL thành phần của NL sinh học thì NL thành phần nhận thức
      kiến thức của HS ở mức cao hơn hai NL thành phần sinh học còn lại, NL thành phần
      tìm hiểu thế giới sống của HS là thấp nhất. Đa số HS cũng chưa phát triển được NL
      vận dụng kiến thức.
      16
      Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, một trong các nguyên nhân là
      GV chưa có phương pháp dạy học phù hợp, chưa xây dựng được hệ thống CH, BT
      để phát triển cả 3 NL thành phần của NL sinh học
      Như vậy có thể thấy rõ rằng CH, BT đóng một vai trò quan trọng trong quá
      trình dạy học nói chung và dạy HS học nói riêng. Trong dạy học phát triển NL, người
      GV có thể sử dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực, trong đó có sử dụng CH,
      BT. CH, BT là cầu nối để GV định hướng, giúp HS hoạt động tương tác với đối
      tượng để hình thành NL. Có rất nhiều tác giả nghiên cứu về CH, BT cũng như sử
      dụng CH, BT trong quá trình dạy HS học. Tuy nhiên, chưa có tác giả nào đề cập chi
      tiết việc thiết kế, sử dụng CH, BT để hình thành đầy đủ 3 NL thành phần của NL
      sinh học. Cơ sở thực tiễn cũng đã chỉ ra rằng, GV phổ thông đánh giá cao tầm quan
      trọng của việc sử dụng CH, BT trong việc hình thành NL nhưng phần lớn GV vẫn
      chỉ sử dụng các CH, BT trong sách giáo khoa, chưa hình thành được đủ 3 NL thành
      phần của NL sinh học. Một trong những nguyên nhân GV không tự thiết kế thêm
      các CH, BT là do GV chưa hiểu sâu sắc vấn đề này và chưa có một quy trình cụ thể
      giúp GV có thể tự thiết kế CH, BT.
    1. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
      2.1. Nghiên cứu lí thuyết về câu hỏi, bài tập định hướng phát triển NL sinh học
      2.1.1. Khái niệm câu hỏi, bài tập
    • Khái niệm câu hỏi
      Theo từ điển tiếng Việt của GS. Hoàng Phê thì “hỏi” có nghĩa là nói ra điều
      mình muốn người ta cho mình biết với yêu cầu được trả lời [22].
      Aristotle là người đầu tiên đã phân tích câu hỏi và ông cho rằng “Câu hỏi là
      một mệnh đề trong đó chứa cả cái đã biết và cái chưa biết”.
      CH là dạng cấu trúc ngôn ngữ có 3 ý nghĩa: một yêu cầu, một đòi hỏi, một
      mệnh lệnh đòi hỏi phải trả lời, phải thực hiện. Việc trả lời, hay thực hiện CH thì thúc
      đẩy việc mở rộng hiểu biết của con người.
      Hình thức ngôn ngữ của câu hỏi hỏi là một mệnh

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • SKKN Xây dựng hệ thống câu hỏi bài tập đánh giá năng lực Sinh học của học sinh THPT

    SKKN Xây dựng hệ thống câu hỏi bài tập đánh giá năng lực Sinh học của học sinh THPT

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Ở Việt Nam, định hướng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục nước ta trong giai
    đoạn hiện nay là “… Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang
    phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn
    với thực tiễn…”. Điều này đã được chỉ rõ trong theo Nghị quyết 29 của Hội nghị Ban
    Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 8 khóa XI. Nghị quyết cũng
    nêu: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy
    tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc
    phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách
    nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ
    năng, phát triển năng lực. Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể
    chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định
    hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo
    dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng
    thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn”.
    Trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ
    phê duyệt cũng nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học
    tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực
    tự học của người học”.Để triển khai các chiến lược giáo dục và đào tạo trong thập kỉ tới,
    Bộ Giáo dục và đào tạo đã triển khai nhiều dự án ở các cấp học nhằm xây dựng hệ thống
    chương trình, sách giáo khoa, đào tạo giáo viên.
    Trong nhà trường phổ thông, ngoài việc trang bị kiến thức thì việc hình thành và
    phát triển năng lực cho người học đóng vai trò quan trọng. Nhằm hình thành và phát triển
    năng lực cho người học, các quốc gia đều lựa chọn và xây dựng hệ thống các năng lực
    chung và các năng lực đặc thù mà môn học cần hướng tới. Chương trình giáo dục phổ
    thông mới sẽ hình thành và phát triển cho học sinh 5 phẩm chất và 10 năng lực; trong đó
    có năng lực chung: giải quyết vấn đề, tính toán, ngôn ngữ, tin học, thẩm mỹ, thể chất, tìm
    hiểu tự nhiên và xã hội, tự chủ, giao tiếp. Đối với học sinh lựa chọn môn Sinh học, ngoài
    năng lực chung thì người học còn được rèn luyện năng lực Sinh học. Hiện nay, trên thế
    giới và ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về việc rèn luyện năng lực cho học sinh; tuy
    nhiên, việc đánh giá năng lực cho học sinh cũng chưa được chú trọng.
    Từ những vấn đề do thực tiễn đặt ra, tôi đã mạnh dạn viết sáng kiến:“ Xây dựng hệ
    thống câu hỏi, bài tập đánh giá năng lực Sinh học của học sinh THPT”.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP

    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
      Để có cơ sở thực tiễn cho cho sáng kiến, chúng tôi đã xây dựng các phiếu điều
      tra cho giáo viên Sinh học THPT của tỉnh Nam Địnhnăm học 2021-2022 (xem Phụ
      lục 1) dựa trên các nội dung cần điều tra và tiến hành điều tra để thu thập kết quả.
      Chúng tôi tiến hành điều tra về:
      1.1. Nhận thức của giáo viên về vai trò của việc rèn năng lực Sinh học trong dạy và học
      bộ môn Sinh học ở trường phổ thông
      Kết quả xử lý câu hỏi điều tra nhận thức của giáo viên về vai trò của việc rèn năng
      lực Sinh học trong dạy và học bộ môn Sinh học ở trường phổ thông được chúng tôi thể
      hiện ở bảng 1.1 dưới đây:
      Bảng 1.1. Kết quả điều tra nhận thức giáo viên về vai trò của việc rèn năng lực Sinh học
      trong dạy và học bộ môn Sinh học ở trường phổ thông
      Nội dung điều tra Số lượng Tỉ lệ
      Vai trò của việc rèn luyện năng
      lực Sinh học trong dạy và học bộ
      môn Sinh học ở trường phổ thông
      Rất cần thiết 72 60,0%
      Cần thiết 48 40,0%
      Bình thường 0 0,0%
      Không cần thiết 0 0,0%
      Tổng 120 100%
      Kết quả ở bảng 1.1 cho thấy, đa số giáo viên đều đánh giá cao vai trò của việc rèn
      năng lực Sinh học trong dạy và học môn Sinh học ở trường phổ thông (với 100% giáo
      viên) trong đó có 60,0% giáo viên đánh giá vai trò ở mức rất cần thiết của việc rèn năng
      lực; 40,0% giáo viên cho rằng việc rèn luyện năng lực Sinh học cho học sinh THPT là
      cần thiết và không có giáo viên được điều tra đánh giá thấp việc rèn năng lực Sinh học
      cho học sinh THPT.
      1.2. Thực trạng rèn năng lực trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông
      Để đánh giá việc cụ thể hóa nhận thức về vai trò của việc rèn năng lực trong thực
      tiễn dạy học bộ môn Sinh học ở trường phổ thông, chúng tôi thiết kế câu hỏi và tiến hành
      điều tra về thực trạng rèn năng lực Sinh học ở trường phổ thông, xử lý số liệu điều tra
      chúng tôi thu được kết quả như sau:
      Bảng 1.2. Kết quả điều tra thực trạng rèn năng lực trong dạy học Sinh học ở
      trường phổ thông
      Nội dung điều tra Số lượng Tỉ lệ
      Mức độ rèn năng lực giáo viên
      trong dạy học bộ môn Sinh học
      Thường xuyên 11 56,7%
      Thỉnh thoảng 58 43,3%
      Không tiến hành 16 0,0%
      Thường xuyên 11 56,7%
      Tổng 120 100%
      Số liệu ở bảng 1.2 cho thấy mức độ rèn năng lực trong dạy học Sinh học ở trường
      phổ thông của giáo viên đạt mức trên trung bình (chiếm 56,7%). Số lượng giáo viên thỉnh
      thoảng rèn luyện năng lực cho học sinh trong dạy học vẫn còn chiếm tỉ lệ 43,3%.
      Từ kết quả trên, chúng tôi thấy rằng giáo viên nhận thức rõ về vai trò của việc rèn
      luyện năng lực trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông.Tuy nhiên, trong thực tiễn dạy
      học mức độ rèn năng lực cho học sinh một cách thường xuyên là chưa cao.
      1.3. Nguyên nhân ảnh hưởng đến việc rèn luyện năng lực của giáo viên trong dạy học Sinh
      học ở trường phổ thông
      Để tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng trên, chúng tôi tiến hành thiết kế câu hỏi
      tìm hiểu một số khó khăn ảnh đến việc rèn năng lực cho học sinh của giáo viên, kết quả
      chúng tôi thu được như sau:
      Bảng 1.3. Kết quả điều tra nguyên nhân ảnh hưởng đến việc rèn luyện năng lực của
      giáo viên trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông
      Nội dung điều tra
      Kết quả điều tra giáo
      viên
      Số lượng Tỉ lệ
      HiểubiếtvềnănglựcSinhhọc
      và cách thiết kế câu hỏi
      đánh giá năng lực trước
      khi được tập huấn
      Chưa biết 0 0%
      Biết nhưng chưa hiểu. 30 25,0%
      Đãhiểunhưngchưabiếtcáchxây
      dựng câu hỏi, bài tập đánh giá
      năng lực
      70 58,3%
      Đãhiểuvàbiếtcáchxâydựngcâu
      hỏi, bài tập đánh giá năng lực
      20 16,7%
      Tổng 120 100%
      Số liệu bảng 1.3 cho thấy nguyên nhân dẫn đến thực trạng giáo viên ít rèn luyện
      năng lực cho học sinh trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông chủ yếu là do giáo viên
      chưa hiểu rõ về năng lực Sinh học và chưa biết xây dựng câu hỏi, bài tập đánh giá năng
      lực của học sinh.
      Từ những thực trạng điều tra trên, chúng tôi nhận định rằng việc bồi dưỡng hiểu
      biết cho giáo viên THPT về năng lực Sinh học; cũng như cách thiết kế và sử dụng câu
      hỏi, bài tập đánh giá năng lực Sinh học trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông là một
      giải pháp có hiệu quả nhằm khắc phục một số khó khăn trong thực tiễn dạy học bộ môn
      Sinh học ở trường phổ thông hiện nay, từ đó góp phần nâng cao chất lượng rèn luyện
      năng lực Sinh học.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
      Qua thực tiễn giảng dạy, chúng tôi xin đề xuất 02 nhóm giải pháp sau nhằm đánh
      giá năng lực Sinh học của học sinh THPT. Cụ thể như sau:
    • Giải pháp 1: Trang bị cho giáo viên những hiểu biết về năng lực Sinh học của học
      sinh THPT
      2.1.1. Xác định các thành tố cấu thành năng lực Sinh học của học sinh THPT
      Theo hướng dẫn thực hiện môn Sinh học của chương trình giáo dục phổ thông
      2018, môn Sinh học hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sinh học, biểu hiện của
      năng lực khoa học tự nhiên, baogồm các thành phần năng lực: nhận thức sinh học; tìm
      hiểu thế giới sống; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học.Những biểu hiện của năng lực sinh
      học được trình bày như sau:
      a. Nhận thức sinh học
    • Trình bày, phân tích được các kiến thức sinh học cốt lõi và các thành tựu công nghệ
      sinh học trong các lĩnh vực. Cụ thể như sau:
    • Nhận biết, kể tên, phát biểu, nêu được các đối tượng, khái niệm, quy luật, quá trình
      sống.
    • Trình bày được các đặc điểm, vai trò của các đối tượng và các quá trình sống bằng các
      hình thức biểu đạt như ngôn ngữ nói, viết, công thức, sơ đồ, biểu đồ,…
    • Phân loại được các đối tượng, hiện tượng sống theo các tiêu chí khác nhau.
    • Phân tích được các đặc điểm của một đối tượng, sự vật, quá trình theo một logic nhất
      định.
    • So sánh, lựa chọn được các đối tượng, khái niệm, các cơ chế, quá trình sống dựa theo
      các tiêu chí nhất định.
    • Giải thích được mối quan hệ giữa các sự vật và hiện tượng (nguyên nhân – kết quả, cấu
      tạo – chức năng,…).
    • Nhận ra và chỉnh sửa được những điểm sai; đưa ra được những nhận định có tính phê
      phán liên quan tới chủ đề trong thảo luận.
    • Tìm được từ khoá, sử dụng được thuật ngữ khoa học, kết nối được thông tin theo logic
      có ý nghĩa, lập được dàn ý khi đọc và trình bày các văn bản khoa học; sử dụng được các
      hình thức ngôn ngữ biểu đạt khác nhau.
      b. Tìm hiểu thế giới sống
      Năng lực này bao gồm các kĩ năng thực hiện được quy trình tìm hiểu thế giới
      sống. Cụ thể như sau:
    • Đề xuất vấn đề liên quan đến thế giới sống: đặt ra được các câu hỏi liên quan đến vấn
      đề; phân tích được bối cảnh để đề xuất vấn đề; dùng ngôn ngữ của mình biểu đạt được
      vấn đề đã đề xuất.
    • Đưa ra phán đoán và xây dựng giả thuyết: phân tích được vấn đề để nêu được phán
      đoán; xây dựng và phát biểu được giả thuyết nghiên cứu.
    • Lập kế hoạch thực hiện: xây dựng được khung logic nội dung nghiên cứu; lựa chọn
      được phương pháp thích hợp (quan sát, thực nghiệm, điều tra, phỏng vấn, hồi cứu tư
      liệu,…); lập được kế hoạch triển khai hoạt động nghiên cứu.
    • Thực hiện kế hoạch: thu thập, lưu giữ được dữ liệu từ kết quả tổng quan, thực nghiệm,
      điều tra; đánh giá được kết quả dựa trên phân tích, xử lí các dữ liệu bằng các tham số
      thống kê đơn giản; so sánh được kết quả với giả thuyết, giải thích, rút ra kết luận và điều
      chỉnh (nếu cần); đề xuất được ý kiến khuyến nghị vận dụng kết quả nghiên cứu hoặc vấn
      đề nghiên cứu tiếp.
    • Viết, trình bày báo cáo và thảo luận: sử dụng được ngôn ngữ, hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng
      để biểu đạt quá trình và kết quả nghiên cứu; viết được báo cáo nghiên cứu; hợp tác được
      với đối tác bằng thái độ lắng nghe tích cực và tôn trọng quan điểm, ý kiến đánh giá do
      người khác đưa ra để tiếp thu tích cực và giải trình, phản biện, bảo vệ kết quả nghiên cứu
      một cách thuyết phục.
      c. Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học
      Vận dụng được kiến thức, kĩ năng đã học để giải thích, đánh giá hiện tượng
      thường gặp trong tự nhiên và trong đời sống; có thái độ và hành vi ứng xử thích hợp. Cụ
      thể như sau:
    • Giải thích thực tiễn: giải thích, đánh giá được những hiện tượng thường gặp trong tự
      nhiên và trong đời sống, tác động của chúng đến phát triển bền vững; giải thích, đánh giá,
      phản biện được một số mô hình công nghệ ở mức độ phù hợp.
    • Có hành vi, thái độ thích hợp: đề xuất, thực hiện được một số giải pháp để bảo vệ sức
      khoẻ bản thân, gia đình và cộng đồng; bảo vệ thiên nhiên, môi trường, thích ứng với biến
      đổi khí hậu, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
      2.1.2. Xác định các thành tố cấu thành năng lực tìm hiểu thế giới sống (năng lực
      nghiên cứu khoa học)
      Qua phân tích, chúng tôi nhận thấy dạng câu hỏi đánh giá năng lực Sinh học: Tìm
      hiểu thế giới sống thực chất là đánh giá năng lực nghiên cứu khoa học và năng lực giải
      quyết vấn đề của học sinh. Tuy nhiên, các đề thi trong nước tính đến thời điểm này, gần
      như không xuất hiện những dạng câu hỏi này; hơn nữa để xây dựng được những câu hỏi
      thuộc dạng này thì đòi hỏi không chỉ giáo viên mà học sinh cũng phải nắm được các kỹ
      năng trong phương pháp nghiên cứu khoa học. Do đó, chúng tôi đề xuất các thành tố cấu
      thành năng lực tìm hiểu thế giới sống.
      Theo tác giả Vũ Cao Đàm (2003) cho rằng, nghiên cứu khoa học là phương pháp
      nhận thức thế giới bao gồm những quan điểm tiếp cận, những quy trình, các động tác cụ
      thể để tác động vào đối tượng, để bộc lộ bản chất của sự vật hiện tượng. Cũng theo tác
      giả, quy trình nghiên cứu khoa học được thực hiện qua các bước sau đây:
      Bước 1: Quan sát sự vật, hiện tượng và xác định vấn đề cần nghiên cứu.
      Bước 2: Thiết lập giả thuyết hoặc dự đoán về vấn đề nghiên cứu.
      Bước 3: Thu thập và xử lý thông tin cần nghiên cứu.
      Bước 4: Kết luận xác nhận hay phủ nhận giả thuyết về vấn đề nghiên cứu.
      Qua nghiên cứu tổng quan về năng lực nói chung và năng lực nghiên cứu khoa học
      nói riêng, chúng tôi đề xuất các kĩ năng thành phần của năng lực nghiên cứu khoa học
      của học sinh phổ thông gồm: đặt câu hỏi nghiên cứu, hình thành giả thuyết, lập kế
      hoạch và thực hiện, xử lí kết quả và rút ra kết luận, viết báo cáo.
      Những biểu hiện hành vi của mỗi kĩ năng được chúng tôi thể hiện ở bảng 2.1.
      Bảng 2.1. Những biểu hiện của từng kĩ năng cấu thành nên
      năng lực nghiên cứu khoa học
      Các kĩ năng thành phần Biểu hiện của kĩ năng
      Đặt câu hỏi nghiên cứu
      Là khả năng người học đưa ra câu hỏi giả định có giá trị
      về bản chất sự vật.
      Hình thành giả thuyết Là khả năng người học đưa ra nhận định sơ bộ, một dự
      đoán về bản chất của đối tượng nghiên cứu.
      Lập kế hoạch nghiên cứu
      Là khả năng người học đưa ra dự kiến triển khai đề tài
      khoa học về tất cả phương diện như: Những nội dung cần
      thực hiện, phương pháp thực hiện mỗi nội dung, thứ tự
      thực hiện công việc, dự kiến thời gian hoàn thành một
      công việc cụ thể.
      Thực hiện kế hoạch
      Là khả năng người học thu thập dữ liệu, phân tích, suy
      luận hoặc tiến hành thiết kế mô hình, thử nghiệm, điều
      chỉnh để chứng minh cho giả thuyết khoa học.
      Xửlí kết quả và rút rakết luận
      Là khả năng người học xử lý được các dữ liệu nghiên
      cứu thu được, trình bày được mối quan hệ giữa các dữ
      liệu, phân tích mối quan hệ nhân quả để rút ra tính quy
      luật, giải thích và tổng hợp các mô hình trong dữ liệu
      bằng cách sử dụng các khái niệm khoa học chuyên sâu,
      đưa ra những kết luận có giá trị từ kết quả nghiên cứu thu
      được.
      Viết báo cáo
      Là khả năng người học tổng kết lại toàn bộ quá trình học
      tập, nghiên cứu của mình theo trình tự xác định. Trình tự
      các hoạt động đó là lí do chọn đề tài khoa học, mục đích
      nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, thời gian thực hiện,
      phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu và những kết
      luận cần rút ra.
      Sau khi người học được rèn luyện các kĩ năng nghiên cứu khoa học thì giáo viên cần
      xây dựng các công cụ đánh giá, trong đó việc sử dụng câu hỏi là một trong những công cụ
      hiệu quả. Tuy nhiên, cách xây dựng những câu hỏi đánh giá năng lực này vẫn còn là bài toán
      khó đối với giáo viêndạy môn khoa học thực nghiệm nói chung.
      2.1.3. Những giải pháp để nâng cao hiểu biết của giáo viên về năng lực Sinh học
    • Tăng cường tập huấn cho giáo viên Sinh học THPT trong các đợt bồi dưỡng chuyên môn
      của Sở Giáo dục & Đào tạo.
    • Đưa vào nội dung sinh hoạt chuyên môn của tổ nhóm chuyên môn ở mỗi trường.
    • Giải pháp 2: Đề xuất quy trình xây dựng câu hỏi đánh giá năng lực tìm hiểu thế giới
      sống (năng lực nghiên cứu khoa học)
      Đây là loại câu hỏi nhằm đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và năng lực nghiên
      cứu khoa học của học sinh. So với loại câu hỏi truyền thống thì đây là dạng câu hỏi mới,
      ít xuất hiện trong các đề thi trong nước hiện nay, hơn nữa để xây dựng được những câu
      hỏi thuộc dạng này thì đòi hỏi người giáo viên phải nắm được các kỹ năng trong nghiên
      cứu khoa học.
    • Bước 1: Thiết kế các tình huống
      Từnội dung kiến thức trong chương trình Sinh học THPT, người giáo viên đưanhững
      nội dung đã lựa chọn vào một tình huống, bối cảnh cụ thể. Các bối cảnh có thể xuất phát
      từ lý thuyết hoặc thực tiễn. Khi đưa nội dung vào bối cảnh cụ thể, học sinh sẽ vận dụng
      kiến thức, kĩ năng, thái độ để giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra; qua đó không chỉ trang bị
      kiến thức mà còn góp phần hình thành và phát triển năng lực cho người học; đồng thời
      còn làm cho nội dung có ý nghĩa hơn.
      Để xác định bối cảnh, cần xem xét tất cả điều kiện, hoàn cảnh… tác động đến học
      sinh và liên quan đến nội dung đã lựa chọn như nội dung chuẩn kiến thức – kĩ năng, thời
      lượng, điều kiện dạy – học, đối tượng học sinh…
    • Bước 2: Thiết kế câu hỏi nhằm đánh giá kỹ năng cấu thành năng lực tìm hiểu thế giới sống
      2.1. Kỹ năng đặt câu hỏi nghiên cứu
      Câu hỏi nghiên cứu là những câu hỏi được đặt ra để tìm hiểu bản chất của một sự
      vật, hiện tượng.
      ➢ Loại câu hỏi tự luận để đánh giá kỹ năng này thường được sử dụng là “Mục đích
      của thí nghiệm/nghiên cứu này là gì?”
      Ví dụ 1:Trong một thí nghiệm sinh thái trên thực địa, một nhà nghiên cứu tiến
      hành loại bỏ một loài động vật ra khỏi khu vực thí nghiệm – nơi đang có nhiều loài thực
      vật trong một quần xã sinh sống. Sau một số năm quay lại đánh giá số lượng các loài thực
      vật trong khu vực thí nghiệm, nhà nghiên cứu nhận thấy số lượng loài thực vật đã tăng
      lên nhiều so với trước khi tiến hành thí nghiệm. Hãy cho biết mục đích của thí nghiệm trên.
      Ví dụ 2: Năm 1958, F.C.Steward và các cộng sự tại đại học Cornell đã tiến hành
      thí nghiệm sau: Cắt một lát ngang của củ cà rốt được các mẩu mô 2mg. Các mẩu mô
      được nuôi dưỡng trong môi trường dinh dưỡng. Trong môi trường dinh dưỡng lỏng,
      khuấy đều làm tách các tế bào rời khỏi nhau. Các tế bào đơn lẻ trong dịch huyền phù bắt
      đầu phân chia tạo ra cây con. Cây con được nuôi cấy trên môi trường thạch sau đó được
      chuyển ra trồng ở đất.
      (Nguồn: F.C. Steward et al., Growth and organized development of cultured
      cells.II. Organized in cultured grown from suspended cells. American Journal of Botany
      45: 705-708 (1958)
      Những câu hỏi nghiên cứu nào có thể được đặt ra để F.C.Steward và các cộng sự
      tiến hành thí nghiệm nêu trên?
      ➢ Nếu sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn thì trong mỗi câu hỏi
      sẽ có các câu trả lời tương ứng với các mức độ của năng lực này.
      Ví dụ 1: Năm 1958, F.C.Steward và các cộng sự tại đại học Cornell đã tiến hành
      thí nghiệm sau: Cắt một lát ngang của củ cà rốt được các mẩu mô 2mg. Các mẩu mô
      được nuôi dưỡng trong môi trường dinh dưỡng. Trong môi trường dinh dưỡng lỏng,
      khuấy đều làm tách các tế bào rời khỏi nhau. Các tế bào đơn lẻ trong dịch huyền phù bắt
      đầu phân chia tạo ra cây con. Cây con được nuôi cấy trên môi trường thạch sau đó được
      chuyển ra trồng ở đất. Câu hỏi nghiên cứu nào sau đây có thể được đặt ra để F.C.Steward
      và các cộng sự tiến hành thí nghiệm nêu trên?
      A. Môi trường dinh dưỡng có thành phần hóa học giống với môi trường nội bào không?
      B. Đơn vị cấu trúc nhỏ nhất của củ cà rốt có phải là tế bào?
      C. Các tế bào trong môi trường dinh dưỡng nhân tạo còn giữ đặc tính phân chia không?
      D. Khi tế bào tách rời ra khỏi tổ chức cơ thể thì tế bào có tính toàn năng không?
      2.2. Kỹ năng hình thành giả thuyết
      Giả thuyết khoa học là nhận định sơ bộ và phán đoán về bản chất vấn đề nghiên
      cứu được đưa ra để chứng minh. Để hình thành giả thuyết khoa học, cần xem xét mối
      quan hệ nhân – quả giữa những vấn đề đã biết với những vấn đề cần tìm hiểu để đưa ra
      những nhận định sơ bộ và phán đoán về vấn đề nghiên cứu, tri thức mà học sinh sẽ thu
      nhận được.
      ➢ Loại câu hỏi tự luận để đánh giá kỹ năng này thường có cấu trúc là “Hãy đưa ra
      giả thuyết về…”.
    • Để thiết kế loại câu hỏi trắc nghiệm nhằm đánh giá kỹ năng này, giáo viên nên
      đưa ra các phương án nhằm giải thích mối quan hệ nhân – quả dựa trên những tri thức đã
      có và sự vật hiện tượng cần tìm hiểu trong bối cảnh, trong đó có ít nhất một phương án
      đúng về mối quan hệ này.
      Ví dụ 1: Trong một thí nghiệm sinh thái trên thực địa, một nhà nghiên cứu tiến hành
      loại bỏ một loài động vật ra khỏi khu vực thí nghiệm – nơi đang có nhiều loài thực vật
      trong một quần xã sinh sống. Sau một số năm quay lại đánh giá số lượng các loài thực vật
      trong khu vực thí nghiệm, nhà nghiên cứu nhận thấy số lượng loài thực vật đã tăng lên
      nhiều so với trước khi tiến hành thí nghiệm. Hãy đưa ra giả thuyết giải thích sự gia tăng
      số lượng loài thực vật trong thí nghiệm trên.
      Ví dụ 2: Một nhà nghiên cứu đã tiến hành giao phấn giữa cây hoa đỏ thuần chủng với
      cây hoa trắng thuần chủng. Kết quả ông thu được F1có tỉ lệ 100% hoa hồng. Hãy đưa ra
      các giả thuyết giải thích sự xuất hiện kiểu hình hoa hồng của cây F1.
      2.3. Kỹ năng lập kế hoạch
      Để đánh giá kỹ năng này, giáo viên cần xây dựng tiêu chí: những nội dung chính
      cần nghiên cứu, phương pháp thực hiện mỗi nội dung, thứ tự thực hiện công việc, ấn định
      thời gian hoàn thành,… .Việc đánh giá kỹ năngxây dựng và thực hiện kế hoạch cần đánh
      giá quá trình và kết quả nghiên cứu, trong đó quá trình nghiên cứu để tạo ra sản phẩm cần
      được chú trọng hơn. Giáo viên đánh giá học sinh bằng công cụ như sản phẩm, bài kiểm
      tra, sổ tay nghiên cứu, thái độ học tập.
      Qua sản phẩm Qua bài kiểm tra Kĩ năng và thái độ học tập
      Nội dung
      Sản phẩm hiển thị
      được mục tiêu đề ra
      Bài kiểm tra 15 phút
      hoặc 45 phút chứa đựng
      nội dung học tập cần đạt
      Các kĩ năng học tập
      Thái độ học tập
      Cách thực
      hiện
      Chấm điểm Chấm điểm Quan sát, ghi chép
      Thời điểm Kết thúc dự án/đề tài Kết thúc dự án/đề tài
      Trong suốt quá trình
      thực hiện dự án/đề tài
      Cách tính
      điểm
      Điểm cao nhất là 10
      cho từng sản phẩm
      Điểm cao nhất là 10
      cho nội dung đã học
      Nhận xét
      Giáo viên còn hướng dẫn các nhóm học sinh tự đánh giá toàn bộ quá trình thực
      hiện đề tài cho đến khi tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh dựa trên những tiêu chí cụ thể, rõ
      ràng. Việc đánh giá có thể được thực hiện giữa các thành viên trong nhóm và giữa các
      nhóm với nhau dựa vào ý thức thái độ làm việc, hiệu quả công việc được giao.
      Trong thực tiễn giảng dạy, kỹ năng lập kế hoạch được bộc lộ rõ nhất khi học sinh
      thực hiện các dự án học tập hoặc đề tài nghiên cứu. Tuy nhiên, cũng có thể đánh giá kỹ
      năng này trong một số tình huống học tập.
      Ví dụ: Ở một loài thực vật có hai đột biến gen lặn cùng gây ra kiểu hình thân thấp.
      Hai đột biến gen trên có thể thuộc cùng locut hoặc khác locut. Để khẳng định giả thuyết
      nào là đúng, em sẽ phải làm như thế nào?
      2.4. Kỹ năng xử lí kết quả và rút ra kết luận
      Kỹ năng này được biểu hiện thông qua việc phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, tìm
      mối liên hệ giữa các thông tin trong kết quả nghiên cứu; sau đó được thể hiện ở kết luận
      về vấn đề cần giải quyết.
      Đây là kỹ năng được đánh giá phổ biến trong các đề thi hiện nay, kể cả các câu hỏi
      tự luận cũng như trắc nghiệm khách quan.
      Ví dụ 1:Cho cây hoa đỏ tự thụ phấn, đời con thu được 131 cây hoa đỏ và 173 cây
      hoa trắng. Tính trạng màu hoa di truyền theo quy luật nào?
      2.5. Kỹ năng viết báo cáo
      Để đánh giá kỹ năng này, giáo viên cần xây dựng tiêu chí đánh giá, cụ thể như
      sau:
    • Lựa chọn đúng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với mục tiêu và nội dung
      nghiên cứu.
    • Viết báo cáo đúng bố cục và phân bổ các phần hợp lí, nội dung chi tiết và đầy đủ.
    • Sử dụng văn phong khoa học, diễn đạt dễ hiểu.
    • Đưa ra các giải pháp hiệu quả để thực hiện kiểm chứng giả thuyết.
    • Đã xác định đầy đủ các nội dung thực hiện; phân chia thời gian được tiến trình, địa
      điểm thực hiện đầy đủ các nội dung.
    • Thu thập nhiều thông tin đều liên quan đến chủ đề nghiên cứu từ nhiều kênh khác
      nhau, cập nhật và có độ tin cậy cao.
    • Sử dụng đầy đủ các kết quả liên quan đến giả thuyết; phân tích, đánh giá các số liệu
      thu được; tổng hợp, khái quát để rút ra kết luận triệt để, chính xác, tường minh.
      *Bài tập thực nghiệm giả định: Sinh học là môn khoa học thực nghiệm, tuy
      nhiên, trong điều kiện thực tế của các nhà trường phổ thông hiện nay, nhiều thực nghiệm
      không thể tiến hành trực tiếp nên cần thiết phải xây dựng bài tập thực nghiệm giả định.
      Bài tập thực nghiệm là dạng bài tập đòi hỏi người học chủ yếu sử dụng các thao tác tư
      duy để trả lời các yêu cầu của bài tập thực nghiệm. Hình thức thể hiện thông tin cho trước
      của bài tập của bài tập dạng này có thể là bằng ngôn ngữ viết, hình vẽ minh họa, sơ đồ
      quy trình hoặc thực nghiệm mô phỏng… Bài tập thực nghiệm giả định có vai trò quan
      trọng trong việc tổ chức dạy học và trong việc phát triển năng lực tư duy thực nghiệm
      cho học sinh. Đặc biệt, ngày nay, với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy
      thì bài tập thực nghiệm giả định càng trở nên phổ biến.
      Ví dụ: Một giả thuyết cho rằng: Gen kháng rầy nâu có khả năng hạn chế sự kí sinh
      của rầy nâu và đồng thời cũng làm tăng năng suất của cây lúa.
      a. Hãy thiết kế một thí nghiệm để chứng minh cho giả thuyết trên.
      b. Kết quả thí nghiệm sẽ như thế nào nếu thay đổi biến độc lập?
    • Giải pháp 3:Đề xuất quy trình xây dựng câu hỏi đánh giá năng lực vận dụng kiến
      thức đã học
      Vận dụng được kiến thức, kĩ năng đã học để giải thích, đánh giá hiện tượng
      thường gặp trong tự nhiên và trong đời sống; có thái độ và hành vi ứng xử thích hợp. Cụ
      thể như sau:
    • Giải thích thực tiễn: giải thích, đánh giá được những hiện tượng thường gặp trong tự
      nhiên và trong đời sống, tác động của chúng đến phát triển bền vững; giải thích, đánh giá,
      phản biện được một số mô hình công nghệ ở mức độ phù hợp.
    • Có hành vi, thái độ thích hợp: đề xuất, thực hiện được một số giải pháp để bảo vệ sức
      khoẻ bản thân, gia đình và cộng đồng; bảo vệ thiên nhiên, môi trường, thích ứng với biến
      đổi khí hậu, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.
      Ví dụ:Hiện nay, có nhiều ý kiến trái chiều về việc nghiên cứu cũng như sử dụng
      sinh vật biến đổi gen. Quan điểm của em về vấn đề này như thế nào? Em ủng hộ hay
      phản đối việc nghiên cứu cũng như việc sử dụng sinh vật biến đổi gen? Tại sao?
    • Giải pháp 4:Đề xuất quy trình xây dựng câu hỏi dạng đọc – hiểu
      Trong các đề đánh giá năng lực của trường Đại học Bách khoa Hà Nội cũng đã xuất
      hiện dạng câu hỏi đọc – hiểu. Để xây dựng câu hỏi này, đòi hỏi những giáo viên phải biết tìm
      ngữ liệu phù hợp và xây dựng câu hỏi tương ứng nhằm đánh giá được năng lực của học sinh.
    • Bước 1: Xác định nội dung, mục tiêu đánh giá năng lực khoa học trong Sinh học
      Dựa vào chương trình học Sinh học của học sinh, tìm ra nội dung trọng tâm của câu
      hỏi phù hợp với đối tượng được đánh giá. Nội dung trọng tâm của câu hỏi được đặt ra
      dựa trên nội dung cần hỏi về tri thức và phương pháp nhận thức tri thức khoa học. Sau đó
      xác định mục tiêu cần đánh giá theo biểu hiện về năng lực khoa học trong cấu trúc năng
      lực khoa học. Việc xác định nội dung của câu hỏi giúp cho giáo viên định hướng được
      việc xây dựng đoạn thông tin dẫn. Việc xác định mục tiêu đánh giá giúp cho giáo viên
      tìm ra được các động từ để từ đó xây dựng câu hỏi đánh giá .
    • Bước 2: Biên soạn đoạn thông tin dẫn dựa vào mục tiêu và nội dung trọng tâm cần
      đánh giá.
      Ngữ cảnh trong đánh giá năng lực Sinh học gồm: cuộc sống, sức khỏe, trái đất,
      môi trường, công nghệ. Khi xác định được nội dung, mục tiêu chính về Sinh học cần
      đánh giá, giáo viên liệt kê những “nguyên liệu” bắt buộc cần có, sau đó, đưa “nguyên
      liệu” vào ngữ cảnh thực trong đoạn thông tin dẫn (thông tin Sinh học). Giáo viên cần tìm
      kiếm các đoạn thông tin trong sách giáo khoa, tạp chí ngành Sinh học, internet… sau đó
      biên soạn để thành đoạn thông tin dẫn phù hợp. Khi xây dựng phần thông tin dẫn cần lưu
      ý: Đoạn thông tin cần có tính xác thực, là mối quan tâm của nhiều độc giả, có tính thời sự
      (như dịch bệnh Covid 19), đặc biệt hấp dẫn đối với học sinh. Cần có ngôn ngữ

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • SKKN Đổi mới phương pháp dạy học và phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh

    SKKN Đổi mới phương pháp dạy học và phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh nhằm tiếp cận chương trình Giáo dục phổ thông mới môn Sinh học bậc THPT

    Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
    Quan điểm chỉ đạo của Đảng đề ra trong nghị quyết số 29-NQ/TW ngày
    04/11/2013 của Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Khóa XI về
    đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp
    hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
    nghĩa và hội nhập quốc tế: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là
    đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến
    mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực
    hiện…”
    Trong nhiệm vụ cụ thể đối với giáo dục phổ thông: “Tập trung phát triển trí
    tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng
    năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo
    dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống,
    ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực
    tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời.”
    Một trong những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể là: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ
    phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động,
    sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền
    thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ,
    khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ
    năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình
    thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa
    học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và
    học.”
    Đáp ứng quan điểm trên, chương trình GDPT 2018 được áp dụng cho cấp
    THPT từ năm học 2022-2023. Để áp dụng thành công chương trình mới Bộ
    2
    GD&ĐT, sở GD&ĐT tỉnh Nam Định đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng
    dẫn về công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn đội ngũ GV thực hiện triển khai
    chương trình GDPT mới.
    Để thực hiện thành công chương trình GDPT mới thì đội ngũ GV là một trong
    những yếu tố quan trọng nhất quyết định thành công của công cuộc đổi mới.
    Vậy nên việc đào tạo, bồi dưỡng GV chuẩn bị cho chương trình GDPT mới là
    nhiệm vụ cấp bách cần được thực hiện ngay trước năm học 2022-2023 đối với
    các nhà trường THPT.
    Trước bối cảnh đó, Tổ, nhóm bộ môn Sinh học nói riêng và các tổ bộ môn
    khác của trường THPT Nguyễn Huệ nói chung đã tổ chức cho GV tìm hiểu,
    nghiên cứu, phân tích chương trình GDPT tổng thể và chương trình bộ môn Sinh
    học; nghiên cứu và thực hành các phương pháp, hình thức dạy học; đổi mới hình
    thức kiểm tra đánh giá học sinh nhằm chuẩn bị tốt nhất cho giáo viên thực hiện
    chương trình GDPT 2018 bắt đầu áp dụng cho cấp THPT từ năm học 2022-


    1. II. CƠ SỞ LÝ LUẬN
    2. Chương trình tổng thể
      1.1. Quan điểm xây dựng
      Chương trình giáo dục phổ thông cụ thể hóa mục tiêu GDPT, giúp học
      sinh làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã
      học vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù
      hợp, biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội, có cá tính nhân
      cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và
      góp phần tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại.
      Chương trình giáo dục phổ thông đảm bảo phát triển phẩm chất và năng lực
      người học thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức, kĩ năng cơ bản,
      thiết thực, hiện đại; hài hòa đức, trí, thể, mĩ; chú trọng thực hành, vận dụng kiến
      thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống. Thông qua
      các phương pháp, hình thức dạy học phát huy tính chủ động và tiềm năng của
      3
      mỗi HS, các phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu giáo dục và phương
      pháp giáo dục để đạt được mục tiêu đó.
      Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng theo hướng mở, cụ thể là:
      a) Chương trình đảm bảo định hướng thống nhất và những giáo dục cốt lõi
      đối với HS toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho
      địa phương, nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo
      dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và
      điều kiện của địa phương, của nhà trường.
      b) Chương trình chỉ quy định những nguyên tắc, định hướng chung về yêu
      cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực của HS, nội dung giáo dục, phương
      pháp giáo dục và việc đánh giá kết quả giáo dục, không quy định quá chi
      tiết tạo điều kiện cho tác giả viết sách và giáo viên phát huy tính chủ động,
      sáng tạo trong thực hiện chương trình.
      c) Chương trình đảm bảo tính ổn định và khả năng phát triển trong quá trình
      thực hiện cho phù hợp với tiến bộ khoa học – công nghệ và yêu cầu thực
      tế.
      1.2. Mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông
      Chương trình giáo dục phổ thông cụ thể hóa mục tiêu GDPT, giúp HS làm
      chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học
      vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù
      hợp, biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội, có cá tính,
      nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú…
      Chương trình giáo dục trung học phổ thông giúp HS tiếp tục phát triển
      những phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và nhân
      cách công dân, khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn
      nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của
      bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động,
      khả năng thích ứng với những thay đổi trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách
      mạng công nghiệp mới.
      4
      1.3. Yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực
      Chương trình giáo dục trung học phổ thông hình thành và phát triển cho
      HS những phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách
      nhiệm.
      Chương trình giáo dục trung học phổ thông hình thành và phát triển cho
      HS những năng lực cốt lõi:
      a) NL chung: NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết
      vấn đề và sáng tạo.
      b) NL đặc thù được hình thành và phát triển chủ yếu thông qua một số môn
      học và hoạt động giáo dục nhất định.
    3. Chương trình môn Sinh học
      2.1. Quan điểm
      a) Tiếp cận với xu hướng quốc tế: Bên cạnh việc tiếp thu, kế thừa thành
      công, ưu điểm của chương trình môn Sinh học hiện hành của Việt Nam,
      Chương trình môn Sinh học còn được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu sâu
      chương trình môn học này của một số quốc gia, vùng lãnh thổ và tổ chức
      quốc tế.
      b) Thực hiện giáo dục định hướng nghề nghiệp: Nội dung môn Sinh học
      được xây dựng làm cơ sở cho các quy trình công nghệ gắn với các lĩnh vực
      ngành nghề, vì vậy trong yêu cầu cần đạt của từng chủ đề luôn yêu cầu học
      sinh liên hệ với các ngành nghề liên quan.
      c) Thực hiện giáo dục phát triển bền vững:
      Chương trình môn Sinh học chú trọng giúp học sinh phát triển khả năng
      thích ứng trong một thế giới biến đổi không ngừng; khả năng chung sống hài
      hoà với thiên nhiên và bảo vệ môi trường để phát triển bền vững.
      Chương trình môn Sinh học quan tâm tới những nội dung gần gũi với cuộc
      sống hằng ngày, tạo điều kiện để học sinh tăng cường vận dụng kiến thức
      khoa học vào thực tiễn, từ thực tiễn nhận thức rõ những vấn đề về môi trường
      5
      và phát triển bền vững, xây dựng ý thức bảo vệ môi trường, rèn luyện khả
      năng thích ứng trong một thế giới biến đổi không ngừng.
      2.2. Mục tiêu chương trình môn Sinh học THPT
      Môn Sinh học hình thành, phát triển ở học sinh năng lực sinh học; đồng
      thời góp phần cùng các môn học, hoạt động giáo dục khác hình thành, phát
      triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung, đặc biệt là tình yêu
      thiên nhiên, niềm tự hào về thiên nhiên của quê hương, đất nước; thái độ tôn
      trọng các quy luật của thiên nhiên, trân trọng, giữ gìn và bảo vệ thiên nhiên,
      ứng xử với thiên nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững; rèn luyện
      cho học sinh thế giới quan khoa học, tính trung thực, tinh thần trách nhiệm,
      tình yêu lao động, các năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải
      quyết vấn đề và sáng tạo.
      2.3. Yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực môn Sinh học THPT
      Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn
      có và quá trình học tập, rèn luyện cho phép con người huy động tổng hợp các
      kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý
      chí….thực hiện thành công một hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn
      trong những điều kiện cụ thể.

    6
    Phân loại năng lực gồm:
    NĂNG
    LỰC
    NĂNG LỰC
    CHUNG

    1. NL TỰ CHỦ VÀ TỰ HỌC
    2. NL GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC
    3. NL GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO
      NĂNG LỰC
      ĐẶC THÙ
    4. NL NGÔN NGỮ
    5. NL TÍNH TOÁN
    6. NL KHOA HỌC
    7. NL CÔNG NGHỆ
    8. NL TIN HỌC
    9. NL THẨM MỸ
    10. NL THỂ CHẤT
      NĂNG LỰC
      ĐẶC BIỆT
      Năng lực sinh học
      Nhận
      thức sinh
      học
    • Nhận biết, kể tên, phát biểu, nêu được các đối tượng, khái niệm,
      quy luật, quá trình sống. [1.1]
    • Trình bày được các đặc điểm, vai trò của các đối tượng và các
      quá trình sống bằng các hình thức biểu đạt như ngôn ngữ nói,
      viết, công thức, sơ đồ, biểu đồ,…[1.2]
    • Phân loại được các đối tượng, hiện tượng sống theo các tiêu chí
      khác nhau. [1.3]
    • Phân tích được các đặc điểm của một đối tượng, sự vật, quá
      trình theo một logic nhất định.[1.4]
    • Giải thích được mối quan hệ giữa các sự vật và hiện tượng
      (nguyên nhân – kết quả, cấu tạo – chức năng,…).[1.5]
    • Nhận ra và chỉnh sửa được những điểm sai; đưa ra được những
      nhận định có tính phê phán liên quan tới chủ đề trong thảo
      luận.[1.6]
      7
      Tìm hiểu
      thế giới
      sống
    • Đề xuất vấn đề liên quan đến thế giới sống: đặt ra được các câu
      hỏi liên quan đến vấn đề; phân tích được bối cảnh để đề xuất vấn
      đề; dùng ngôn ngữ của mình biểu đạt được vấn đề đã đề
      xuất.[2.1]
    • Đưa ra phán đoán và xây dựng giả thuyết: phân tích được vấn đề
      để nêu được phán đoán; xây dựng và phát biểu được giả thuyết
      nghiên cứu [2.2]
    • Lập kế hoạch thực hiện: xây dựng được khung logic nội dung
      nghiên cứu; lựa chọn được phương pháp thích hợp (quan sát, thực
      nghiệm, điều tra, phỏng vấn, hồi cứu tư liệu,…); lập được kế
      hoạch triển khai hoạt động nghiên cứu [2.3]
    • Thực hiện kế hoạch: thu thập, lưu giữ được dữ liệu từ kết quả
      tổng quan, thực nghiệm, điều tra; đánh giá được kết quả dựa trên
      phân tích, xử lí các dữ liệu bằng các tham số thống kê đơn giản;
      [2.4]
    • Viết, trình bày báo cáo và thảo luận: sử dụng được ngôn ngữ,
      hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng để biểu đạt quá trình và kết quả nghiên
      cứu; viết được báo cáo nghiên cứu.[2.5]
      Vận dụng
      kiến thức,
      kĩ năng
      đã học
    • Giải thích thực tiễn: giải thích, đánh giá được những hiện tượng
      thường gặp trong tự nhiên và trong đời sống, tác động của chúng
      đến phát triển bền vững.[3.1]
    • Giải thích, đánh giá, phản biện được một số mô hình công nghệ
      ở mức độ phù hợp.[3.2]
    • Có hành vi, thái độ thích hợp: đề xuất, thực hiện được một số
      giải pháp để bảo vệ sức khoẻ bản thân, gia đình và cộng đồng;
      bảo vệ thiên nhiên, môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu,
      đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.[3.3]
      8
      III. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Thực trạng trước khi tạo ra sáng kiến
    2. 1. Về chương trình hiện hành và phương pháp dạy học truyền thống
      a. Mô tả
      Chương trình còn nặng tính hàn lâm, hình ảnh minh họa chưa sinh động,
      tình trạng khá phổ biến hiện nay là giáo viên lệ thuộc quá nhiều vào sách giáo
      khoa và sách giáo viên. Vẫn còn quan niệm cho rằng sách giáo khoa là “pháp
      lệnh”, nên nhiều giáo viên đã cố gắng thuyết trình, giảng giải hết những nội
      dung kiến thức có trong sách giáo khoa, yêu cầu học sinh học thuộc, ghi nhớ
      máy móc theo sách giáo khoa, thậm chí biến giờ dạy thành một giờ “đọc chép”
      từ sách giáo khoa. Chính việc cố gắng để dạy hết kiến thức trong sách giáo khoa
      đã gây ra sự quá tải, nặng nề, thiếu thời gian cho một tiết học trên lớp. Nội dung
      của sách giáo viên cũng chỉ là những hướng dẫn được cho rằng “có thể tốt nhất”
      mà thôi.
      Quá trình DH còn thiên về truyền thụ kiến thức, chủ yếu GV dạy cho HS
      những kiến thức mà mình có, HS ra sức học và ghi nhớ kiến thức một cách máy
      móc, thói quen dạy chay, không làm chủ thiết bị, không bao quát đối tượng học
      sinh, chỉ chú trọng truyền đạt kiến thức, không chú trọng rèn luyện kỹ năng, ứng
      dụng.
      Việc tiếp cận với phương pháp dạy học mới, tiếp cận công nghệ thông tin
      của nhiều giáo viên còn hạn chế, nhiều giáo viên vẫn duy trì các phương pháp
      dạy học truyền thống, ngại học hỏi, thiếu tính sáng tạo, giờ học đơn điệu, buồn
      tẻ.
      Hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học chưa mang lại
      hiệu quả cao. Truyền thụ tri thức một chiều vẫn là phương pháp dạy học chủ đạo
      của nhiều giáo viên. Số giáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc
      phối hợp các phương pháp dạy học cũng như sử sụng các phương pháp dạy học
      phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh còn chưa nhiều. Dạy học
      vẫn nặng nề truyền thụ kiến thức lí thuyết, kĩ năng giải quyết các tình huống
      9
      thực tiễn cho học sinh thông qua khả năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực
      sự được quan tâm. Việc ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông, sử dụng
      các phương tiện dạy học chưa được thực hiện rộng rãi hoặc một bộ phận giáo
      viên còn lạm dụng hoặc thiếu kỹ năng CNTT nên làm giảm hiệu quả giờ dạy
      trong các trường trung học.
      b. Ưu điểm
      Đảm bảo về nội dung, kiến thức, kỹ năng và thái độ, việc lựa chọn nội dung
      dễ dàng bám theo nội dung SGK.
      Đã có sự đổi mới về phương pháp DH, bên cạnh việc trang bị kiến thức cũng
      đã chú ý rèn luyện một số kỹ năng.
      c. Hạn chế
      Khả năng vận dụng các kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn còn hạn
      chế, chưa phát triển được năng lực HS, giờ học thiếu hấp dẫn, HS thụ động tiếp
      thu kiến thức.
      1.2. Về hoạt động kiểm tra, đánh giá truyền thống
      a. Mô tả
      Hiện nay đa phần việc đánh giá chủ yếu dựa trên bài kiểm tra. Trong năm
      học HS được kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ, việc đánh giá HS về mặt
      học tập dựa trên điểm số các bài kiểm tra.
      Công cụ đánh giá chủ yếu là các câu hỏi, bài tập gồm hai hình thức là tự luận
      và trắc nghiệm, nội dung câu hỏi chủ yếu xoay quanh kiến thức đã học, có một
      phần nhỏ là vận dụng kiến thức, chưa bảo đảm yêu cầu khách quan, chính xác
      công bằng; việc kiểm tra chủ yếu chú ý đến yêu cầu tái hiện kiến thức và kỹ
      năng giải bài tập.
      b. Ưu điểm
      Khi sử dụng các bài kiểm tra truyền thống đã đánh giá được các mức độ về
      kiến thức và kỹ năng của HS.
      10
      Câu hỏi, bài tập có thể giúp HS ghi nhớ kiến thức và rèn luyện các kỹ năng
      giải bài tập, kỹ năng trình bày, vận dụng kiến thức… góp phần hình thành tư duy
      bộ môn.
      c. Nhược điểm
      Các bài kiểm tra còn nặng tính chủ quan của người dạy. Không đánh giá được
      đầy đủ năng lực, phẩm chất người học.
      Chưa nhận thức đúng mối quan hệ giữa đổi mới PPDH và đổi mới kiểm tra
      đánh giá nên đã dẫn đến hệ quả là không rèn luyện được tính trung thực trong
      thi, kiểm tra; nhiều học sinh phổ thông còn thụ động trong việc học tập; khả
      năng sáng tạo và năng lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống
      thực tiễn cuộc sống còn hạn chế.
    3. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến

    Đề xuất các giải pháp

    2.1. Giải pháp 1: Nghiên cứu, vận dụng một số phương pháp, hình thức dạy
    học tích cực đáp ứng chương trình GDPT mới
    Quan điểm dạy học (PPDH nghĩa rộng) là những định hướng tổng thể cho
    các hành động, thường dựa trên các lí thuyết học tập hoặc cơ sở lí luận dạy học
    chuyên ngành. Dạy học lấy người học làm trung tâm, dạy học giải quyết vấn đề,
    dạy học khám phá, dạy học hợp tác, dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin
    Giải pháp 1
    Nghiên cứu, vận dụng
    một số phương pháp,
    hình thức dạy học tích
    cực đáp ứng chương
    trình GDPT mới
    Giải pháp 2
    Đổi mới kiểm tra đánh
    giá theo định hướng tiếp
    cận năng lực, phẩm chất
    11
    và truyền thông… Phương pháp dạy học (PPDH nghĩa hẹp) là cách thức hoạt
    động của GV và HS, trong điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt được mục tiêu
    dạy học. Thuyết trình, đàm thoại, trực quan, thực hành, hợp tác, giải quyết vấn
    đề, dạy học trên dự án, đóng vai… KTDH là những cách thức hành động của
    GV và HS trong các tình huống nhỏ nhằm thực hiện và điều chỉnh quá trình dạy
    học gồm: Công não, phòng tranh, mảnh ghép, sơ đồ tư duy, khăn trải bàn, KWL,
    KWLH…
    Để đổi mới phương pháp DH, GV cần phải hiểu được bản chất của dạy học
    tiếp cận nội dung và dạy học phát triển phẩm chất, năng lực có những khác biệt
    nhất định về mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, PPDH, đánh giá … Có thể liệt
    kê một số khác biệt cụ thể đó ở bảng so sánh dạy học tiếp cận nội dung và dạy
    học phát triển phẩm chất, năng lực.
    Tiêu chí Dạy học tiếp cận nội dung DH phát triển phẩm chất, năng
    lực
    Về mục
    tiêu dạy
    học

    • Chú trọng hình thành kiến
      thức, kĩ năng, thái độ khá rõ.
    • Mục tiêu học để thi, học để
      hiểu biết được ưu tiên.
    • Chú trọng hình thành PC, NL.
    • Lấy mục tiêu học để làm, học để
      cùng chung sống làm trọng.
      Về nội
      dung dạy
      học
    • Nội dung được lựa chọn
      dựa trên hệ thống tri thức
      khoa học chuyên ngành là
      chủ yếu.
    • Nội dung được quy định
      khá chi tiết trong chương
      trình.
    • Chú trọng hệ thống kiến
      thức lí thuyết, sự phát triển
      tuần tự của khái niệm, định
    • Nội dung được lựa chọn dựa trên
      yêu cầu cần đạt được về PC, NL.
    • Chỉ xác lập các cơ sở để lựa chọn
      nội dung trong chương trình.
    • Chú trọng nhiều hơn đến các kĩ
      năng thực hành, vận dụng lí thuyết
      vào thực tiễn.

    12
    luật, học thuyết khoa học.

    • Sách giáo khoa được trình
      bày liền mạch thành hệ thống
      kiến thức.
    • Sách giáo khoa không trình bày
      hệ thống kiến thức mà phân nhánh
      và khai thác các chuỗi chủ đề để
      gợi mở tri thức, kỹ năng.
      Về
      phương
      pháp dạy
      học
    • GV chủ yếu là người truyền
      thụ tri thức; HS lắng nghe,
      tham gia và thực hiện các
      yêu cầu tiếp thu tri thức được
      quy định sẵn. Khá nhiều GV
      sử dụng các PPDH (thuyết
      trình, hướng dẫn thực hành,
      trực quan…). Việc sử dụng
      PPDH theo định hướng của
      GV là chủ yếu.
    • Khá nhiều HS tiếp thu thiếu
      tính chủ động, HS chưa có
      nhiều điều kiện, cơ hội tìm
      tòi, khám phá vì tri thức
      thường được quy định sẵn.
    • Kế hoạch bài dạy thường
      được thiết kế tuyến tính, các
      nội dung và hoạt động dùng
      chung cho cả lớp; PPDH,
      KTDH dễ có sự lặp lại, quen
      thuộc.
    • GV là người tổ chức các hoạt
      động, hướng dẫn HS tự tìm tòi,
      chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ
      năng; chú trọng phát triển khả năng
      giải quyết vấn đề, khả năng giao
      tiếp… GV sử dụng nhiều PPDH,
      KTDH tích cực (giải quyết vấn đề,
      hợp tác, khám phá…) phù hợp với
      yêu cầu cần đạt về PC & NL của
      người học.
    • HS chủ động tham gia hoạt động,
      có nhiều cơ hội được bày tỏ ý kiến,
      tham gia phản biện, tìm kiếm tri
      thức, kĩ năng.
    • Kế hoạch bài dạy được thiết kế
      dựa vào trình độ và NL của HS;
      PPDH, KTDH đa dạng, phong phú,
      được lựa chọn dựa trên các cơ sở
      khác nhau để triển khai kế hoạch
      bài dạy.
      Về đánh
      giá
    • Tiêu chí đánh giá chủ yếu
      được xây dựng dựa trên sự
      ghi nhớ nội dung đã học,
      chưa quan tâm nhiều đến khả
    • Tiêu chí đánh giá dựa vào kết quả
      “đầu ra”, quan tâm tới sự tiến bộ
      của người học, chú trọng khả năng
      vận dụng kiến thức đã học vào thực
      13
      năng vận dụng kiến thức vào
      thực tiễn.
    • Quá trình đánh giá chủ yếu
      do GV thực hiện.
      tiễn, các PC & NL cần có.
    • Người học được tự đánh giá và
      được tham gia vào đánh giá lẫn
      nhau…
      Về sản
      phẩm giáo
      dục
    • Người học chủ yếu tái hiện
      các tri thức, phải ghi nhớ phụ
      thuộc vào tài liệu và sách
      giáo khoa có sẵn.
    • Việc chú ý đến khả năng
      ứng dụng chưa nhiều nên yêu
      cầu về tính năng động, sáng
      tạo vẫn còn hạn chế.
    • Người học vận dụng được tri
      thức, kỹ năng vào thực tiễn, khả
      năng tìm tòi trong quá trình dạy
      học đã được phát huy nên NL ứng
      dụng cũng có cơ hội phát triển.
    • Chú ý đến khả năng ứng dụng
      nhiều nên sự năng động, tự tin ở
      HS biểu hiện rõ. Sinh học là một môn khoa học thực nghiệm và lí thuyết. Bản chất của phương
      pháp nhận thức sinh học là sự kết hợp thực nghiệm khoa học và tư duy lí thuyết,
      đề cao vai trò của giả thuyết, học thuyết, quy luật dùng làm tiên đoán khoa học.
      Vì vậy phương pháp dạy học sinh học có những nét đặc trưng riêng đó là
      phương pháp truyền đạt có lập luận trên cơ sở thí nghiệm trực quan, nghĩa là có
      sự kết hợp thống nhất phương pháp thực nghiệm – thực hành với tư duy khoa
      học.
      Phương pháp DH phát triển năng lực là gì? Trước hết, người GV phải hiểu
      năng lực được coi là sự huy động kiến thức, kĩ năng, niềm tin … để HS thực
      hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong
      những điều kiện cụ thể. Theo đó, dạy học phát triển

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • Tezuka Osamu là ai?

    Tezuka Osamu là ai?

    Tezuka Osamu là một họa sĩ truyện tranh, họa sĩ diễn hoạt, nhà sản xuất phim, bác sĩ y khoa và nhà hoạt động xã hội người Nhật.

    Tezuka Osamu là ai?

    Tezuka Osamu là con cả trong một gia đình có ba đứa con ở thành phố Toyonaka, tỉnh Ōsaka. Gia tộc Tezuka giàu có và có sự đầu tư giáo dục tốt; cha của ông, Yutaka làm công việc quản lý tại Công ty Sumitomo Metals, ông nội Taro là luật sư, cụ nội Ryoan và kị nội Ryosen là bác sĩ. Gia tộc phía mẹ ông có lịch sử phụng vụ lâu đời trong quân ngũ.

    Tezuka Osamu là ai?

    Sau này khi lớn lên, Tezuka đã ghi công cho mẹ của mình vì đã truyền cảm hứng cho sự tự tin và sáng tạo qua những câu chuyện của bà. Bà thường xuyên đưa ông đến Nhà hát lớn Takarazuka, nơi thường tổ chức công diễn của Đoàn kịch Takarazuka, một đoàn kịch toàn nữ. Các vở nhạc kịch lãng mạn của họ hướng đến khán giả nữ, có ảnh hưởng lớn đến các tác phẩm sau này của Tezuka, bao gồm cả các thiết kế trang phục của ông. Không chỉ vậy, đôi mắt to long lanh của người biểu diễn cũng có ảnh hưởng đến phong cách nghệ thuật của Tezuka. Ông đã nói rằng bản thân có một “tinh thần hoài cổ” sâu sắc đối với Takarazuka.

    Tezuka Osamu là ai?

    Khi Tezuka còn nhỏ, cha đã cho ông xem các bộ phim của Disney và Tezuka trở thành một người yêu thích phim Disney, xem các bộ phim này nhiều lần liên tiếp, nổi tiếng nhất là xem Bambi hơn 80 lần. Tezuka bắt đầu vẽ truyện tranh vào khoảng năm thứ hai tiểu học, phần lớn lấy cảm hứng từ hoạt hình Disney; ông vẽ nhiều đến mức mẹ ông phải tẩy hết các trang trong vở để theo kịp năng suất của ông. Tezuka cũng được truyền cảm hứng từ các tác phẩm của Tagawa Suihō và Unno Juza.

    Tezuka Osamu là ai?

    Vào khoảng năm lớp 5, ông đã tìm thấy một con bọ cánh cứng, được gọi là “Osamushi” trong tiếng Nhật. Nó giống với tên của chính ông đến nỗi Tezuka đã lấy “Osamushi” làm bút danh của mình. Tezuka tiếp tục phát triển các kỹ năng vẽ manga trong suốt quá trình học ở trường. Trong thời kỳ này, ông đã tạo ra những tác phẩm nghiệp dư lão luyện đầu tiên của mình.

    Trong thời gian học trung học năm 1944, Tezuka được chuyển sang làm việc cho một nhà máy, hỗ trợ nỗ lực chiến tranh của Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai; đồng thời tiếp tục vẽ manga. Năm 1945, Tezuka được nhận vào Đại học Osaka và bắt đầu theo học ngành y. Trong thời gian này, ông cũng bắt đầu xuất bản những tác phẩm chuyên nghiệp đầu tiên của mình.

    Những tác phẩm của Tezuka Osamu

    Tezuka Osamu là ai?

    Những tác phẩm của Tezuka Osamu được dịch và xuất bản tại Việt Nam:

    • Black Jack Bác Sĩ Quái Dị
    • Thư Gửi Adolf
    • Sự Báo Thù Của Alabaster
    • Lâu Đài Bình Minh
    • Atom – Cậu Bé Tay Sắt
    • Phượng Hoàng
    • Bài Hát Của Apollo
    • Dororo
    • Tân Đảo Giấu Vàng
    • The Crater
    • Ode to Kirihito
    • Cậu bé 3 mắt
    • Grand Dolls
    • Angel no Oka
    • Brave Dan
    • Vampire
    • Wonder 3
    • ….
  • SKKN Sử dụng thí nghiệm ảo trong dạy học Vật lý lớp 11

    SKKN Sử dụng thí nghiệm ảo trong dạy học Vật lý lớp 11

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Thực trạng giáo dục Việt Nam đã và đang có những cải cách to lớn trong việc
    chú trọng đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình, sách giáo khoa và đổi mới
    phương pháp.
    Vật lý là một môn học gắn liền với thực tiễn. Tuy nhiên, chương trình Vật lý
    hiện nay vẫn còn nặng về mặt kiến thức. Cơ sở vật chất dành cho phòng học bộ
    môn Vật lý ở nhiều trường còn hạn chế nên thực hiện các thí nghiệm cũng gặp
    nhiều khó khăn, giáo viên (GV) đa số vẫn dạy theo phương pháp truyền thống. Học
    sinh (HS) ít có điều kiện tiếp xúc với thí nghiệm thực hành cùng với lối học thụ
    động nên việc tự chủ xây dựng kiến thức cũng nhưng vận dụng kiến thức vào thực
    tiễn của HS chưa cao
    Việc đổi mới nội dung và phương pháp trong dạy học Vật lý phải gắn liền với
    việc tăng cường sử dụng thí nghiệm trong quá trình dạy học. Bên cạnh đó, có những
    bài có khối lượng kiến thức nhiều, hầu hết trong các bài đều có thí nghiệm. Nếu dạy
    theo phương pháp truyền thống và với những thí nghiệm thật thì đôi khi sẽ không đủ
    thời gian. Mặt khác, với điều kiện cơ sở vật chất hiện nay thì các trường phổ thông
    vẫn chưa có nhiều dụng cụ thí nghiệm để đáp ứng yêu cầu của bài học. Do đó, việc
    ứng dụng công nghệ thông tin và tiến hành các thí nghiệm ảo trên máy vi tính là một
    giải pháp quan trọng trong việc giảng dạy, giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách
    nhanh chóng, sâu sắc, tin tưởng vào kiến thức mà mình chiếm lĩnh được, đồng thời
    tạo hứng thú học tập cho học sinh trong từng bài học.
    Trong chương trình Vật lý THPT, so với các thí nghiệm trực quan ở các phần
    Cơ học (Vật lý 10), Dao động cơ, sóng cơ, sóng ánh sáng (Vật lý 12), các thí
    nghiệm ở khối lớp 11 như các thí nghiệm về điện trường, từ trường, dòng điện
    trong các môi trường,… là các thí nghiệm trừu tượng, HS quan sát thí nghiệm thật
    không thể thấy hết được bản chất bên trong hiện tượng như lực điện, lực từ, dòng
    điện tích,… Do đó với khối lớp 11, việc kết hợp sử dụng thí nghiệm ảo trong dạy
    học càng có vai trò quan trọng.
    Năm học 2020-2021; 2021-2022 là những năm học đầy khó khăn của GV và
    HS cả nước khi dịch bệnh Covid 19 bùng phát. Việc đến trường của HS bị gián
    đoạn, rất nhiều địa phương HS không được đến trường học trực tiếp mà phải học
    2
    online. Do đó Bộ giáo dục cũng đã ban hành công văn 4040 để giảm tải nội dung
    học tập, cho phù hợp với hình thức dạy học trực tuyến. Với đặc thù bộ môn Vật lý,
    các thí nghiệm đều được hướng dẫn có thể thay thế bằng thí nghiệm ảo cho phù
    hợp với tình hình thực tế dạy học. Do đó đối với hai năm học này, thực hiện thí
    nghiệm ảo là bắt buộc đối với các bài dạy online.
    Khi tôi sử dụng thí nghiệm ảo trong quá trình thực tế giảng dạy trên lớp,
    giúp học sinh hứng thú tiếp thu kiến thức, từ đó giúp tôi dễ dàng lựa chọn học sinh
    dạy đội tuyển học sinh giỏi tỉnh, học sinh khối 12 yêu thích học môn Lý hơn. Kết
    quả, đội tuyển học sinh giỏi cấp tỉnh do tôi hướng dẫn đạt: 1 Nhất, 1 Nhì, 1 Khuyến
    khuyến xếp thứ 5/45 trường công lập; kết quả thi THPTTN trung học phổ thông
    Quốc gia xếp thứ 10/45 trường công lập.
    Xuất phát từ những lí do trên, tôi xét thấy cần phải vận dụng kết hợp thí
    nghiệm ảo trong quá trình dạy học online tại trường THPT và tiến hành nghiên cứu
    đề tài: “Sử dụng thí nghiệm ảo trong dạy học Vật lý 11 đạt hiệu quả”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    Thông qua trao đổi trực tiếp với GV, nghiên cứu giáo án, dự giờ, tôi đi đến
    những nhận định sau:

    1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến
      1.1. Thực trạng về giảng dạy của giáo viên
      Mặc dù đã tiếp cận với việc đổi mới phương pháp dạy học nhưng hầu hết các
      GV đều dạy các nội dung bài theo phương pháp thuyết trình, thông báo. Việc tiến
      hành bài dạy hầu như đều được diễn đạt bằng lời nói của GV: mô tả hiện tượng, đưa
      ra các khái niệm và nhấn mạnh các nội dung quan trọng để HS ghi nhớ. Vai trò tổ
      chức, định hướng của GV chưa thể hiện rõ rệt, GV chưa tạo điều kiện để HS tích
      cực tìm tòi, xây dựng kiến thức.
      GV ít tiến hành thí nghiệm theo yêu cầu của chương trình khi dạy học các nội
      dung kiến thức chương trình Vật lý 11. Nhìn chung GV chỉ mô tả thí nghiệm theo
      hình vẽ trong SGK để qua đó HS thu nhận kiến thức. GV có tâm lí ngại làm thí
      nghiệm bởi sự không đảm bảo về mặt thời gian, sự thành công khi tiến hành dạy
      học. Mặt khác, các thí nghiệm ở chương trình 11 như thí nghiệm dòng điện trong
      các môi trường, điện trường – từ trường lại không quan sát được bản chất bên trong
      3
      hiện tượng, các thí nghiệm quang học thực hiện vào ban ngày trên lớp học, không
      gian thí nghiệm quá sáng làm không quan sát rõ được các đường truyền tia sáng
      Năm học 2021-2022, với tình hình dịch bệnh phải giảng dạy bằng hình thức
      trực tuyến, phương pháp dạy học truyền thụ thầy đọc – trò chép lại càng được GV
      áp dụng. Các thí nghiệm hoàn toàn không thực hiện được trực tiếp, GV lại bị động,
      chưa tìm hiểu và chưa xây dựng được nguồn các thí nghiệm ảo thay thế, do đó
      trong các bài dạy GV chủ yếu mô tả thí nghiệm cho HS ghi nhớ, hoặc chỉ dạy các
      thí nghiệm có sẵn trong bài powepoint tìm được trên internet mà chưa biết cách sử
      dụng các nguồn thí nghiệm ảo đa dạng khác.
      1.2. Về tình hình học tập của học sinh
      HS rất ít được làm thí nghiệm nên kĩ năng thực hành rất yếu. Kiến thức HS
      chủ yếu là thừa nhận từ GV thông báo, không được kiểm chứng qua các thí nghiệm
      nên HS rất thiếu tự tin khi trả lời, khi làm bài, không tự tin vào kiến thức mà mình
      đã có, không biết kiến thức đó là đúng hay sai, nhớ chính xác hay chưa, ít có khả
      năng vận dụng sáng tạo kiến thức đã học, không liên hệ được kiến thức đã học vào
      việc giải thích các hiện tượng trong thực tế.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
      2.1. Cơ sở lý luận
      Hội nghị lần thứ VIII Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI
      năm 2013 đã thông qua Nghị quyết về Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào
      tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị
      trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Nghị quyết đã chỉ rõ: Giáo dục và
      đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân.
      Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương
      trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội. Phát triển Giáo dục và Đào tạo là nâng cao
      dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ
      chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người
      học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với
      giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với
      nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công
      nghệ; phù hợp quy luật khách quan.
      4
      Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành
      phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề
      nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý
      tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực
      hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học,
      khuyến khích học tập suốt đời. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
      theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
      thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
      máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
      người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Đẩy mạnh
      ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học. Khuyến khích xã
      hội hóa để đầu tư xây dựng và phát triển các trường chất lượng cao ở tất cả các cấp
      học và trình độ đào tạo.
      Thực hiện Nghị quyết 29- NQ/TW (2013) của Đảng, nước ta đã từng bước
      thực hiện quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Đến năm 2019,
      Quốc hội nước ta đã ban hành Luật giáo dục. Tại Điều 4 chỉ rõ “Phát triển giáo dục
      phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, tiến bộ khoa học, công nghệ, xây
      dựng xã hội học tập nhằm tạo cơ hội để mọi người được tiếp cận giáo dục, được học
      tập ở mọi trình độ, mọi hình thức, học tập suốt đời”; Tại Điều 7 nhấn mạnh
      “Phương pháp giáo dục phải khoa học, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư
      duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học và hợp tác,
      khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”.
      Trong năm 2021, Bộ Giáo dục và đào tạo đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, tọa
      đàm như: Chuyển đổi số trong giáo dục đại học với chủ đề “Công nghệ cho tương
      lai”; “Chuyển đổi số để vận hành giáo dục hiệu quả, chất lượng hơn”; “Chuyển đổi
      số trong giáo dục:thực trạng và giải pháp”. Bộ GDĐT đã nhấn mạnh ngành giáo dục
      rất quan tâm tới việc đào tạo những công dân Việt Nam có kiến thức, kỹ năng
      chuyển đổi số để trở thành công dân toàn cầu (có khả năng thích ứng sống và lầm
      việc tại nhiều quốc gia). Chính vì vậy, chuyển đổi số được ngành xác định là khâu
      đột phá, nhiệm vụ quan trọng cần chú trọng triển khai thực hiện những năm tới đây,
      nhằm rút ngắn quá trình đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là đối với vùng
      sâu, vùng xa và đóng góp tích cực vào quá trình chuyển đổi số quốc gia. Chuyển
      5
      đổi số trong giáo dục, theo Bộ Giáo dục và Đào tạo nhấn mạnh là “phát triển nền
      tảng hỗ trợ dạy và học từ xa, ứng dụng triệt để công nghệ số trong công tác quản
      lý, giảng dạy và học tập; số hóa tài liệu, giáo trình; xây dựng nền tảng chia sẻ tài
      nguyên giảng dạy và học tập theo cả hình thức trực tiếp và trực tuyến. Phát triển
      công nghệ phục vụ giáo dục, hướng tới đào tạo cá thể hóa. 100% các cơ sở giáo
      dục triển khai dạy và học từ xa, trong đó thử nghiệm chương trình đào tạo cho phép
      học sinh, sinh viên học trực tuyến tối thiểu 20% nội dung chương trình…”.
      Về phía Sở Giáo dục và Đào tạo Nam Định
      Đối với Sở giáo dục và đào tạo Nam Định cũng đã ra nhiều văn bản chỉ đạo
      như: Kế hoạch số 120/KH-UBND ngày 31/12/2020 của UBND tỉnh Nam Định về
      việc Chuyển đổi số tỉnh Nam Định giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm
      2030; Kế hoạch số 122/KH-UBND ngày 22/10/2021 của UBND tỉnh về việc thực
      hiện Nghị quyết số 09/NQ-TU ngày 15/10/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh
      Nam Định về chuyển đổi số tỉnh Nam Định đến năm 2025, định hướng đến năm
      2030; Kế hoạch số 480/KH-SGDĐT ngày 08/04/2021 về Chuyển đổi số ngành Giáo
      dục và Đào tạo (GDĐT) Nam Định giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm
      2030: Công văn 1739 về ứng dụng công nghệ thông tin phát triển chính quyền số;
      Hướng dẫn 1804 về tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin – chuyển đổi số;
      công văn 1638 về quy định thích ứng với linh hoạt với dịch Covid – 19. Tất cả các văn
      bản chỉ đạo trên đều chỉ rõ mục tiêu và yêu cầu cần thiết phải thực hiện chuyển đổi số
      trong giáo dục ở địa phương, trong đó có xác định mục tiêu xây dựng kho học liệu số của
      ngành (bài giảng điện tử e-learning, dữ liệu về đề thi, đề kiểm tra, đề ôn thi tốt nghiệp
      THPT quốc gia các môn học) được chia sẻ trực tuyến đáp ứng được 10% nhu cầu về tài
      liệu giảng dạy, học tập đối với giáo viên, học sinh và học viên.
      2.2. Sử dụng các thí nghiệm ảo trong dạy học Vật lý 11 đạt hiệu quả
      Ở trên tôi đã đánh giá những hạn chế của GV và HS trong quá trình học
      chương trình Vật lí 11. Ở trong đề tài này, để khắc phục được những hạn chế không
      sử dụng được thí nghiệm trong quá trình dạy học, tôi mạnh dạn đưa ra giải pháp sẽ
      áp dụng thí nghiệm ảo trong quá trình dạy học. Thí nghiệm ảo không phải là mới
      đối với dạy học Vật lý, nhưng ở đề tài này, tôi sẽ đưa ra nhiều loại hình thí nghiệm
      ảo khác nhau, để đa dạng hóa và tạo nguồn thí nghiệm ảo cho GV dạy Vật lý 11 nói
      riêng cũng như GV dạy Vật lý THPT, THCS nói chung.
      6
      2.2.1. Tên các thí nghiệm ảo có thể sử dụng trong chương trình Vật lý 11
      STT BÀI Tên thí nghiệm
      01 Bài 1: Điện tích. Định luật Cu
      lông
      Thí nghiệm về hiện tượng nhiễm điện do
      cọ xát, tiếp xúc, hưởng ứng
      02 Bài 6: Tụ điện Mô phỏng sự tích điện của tụ
      03 Bài 7: Dòng điện không đổi,
      nguồn điện
      Mô phỏng dòng điện không đổi, lực lạ
      04 Bài 13: Dòng điện trong kim
      loại
      Mô phỏng dòng điện trong kim loại, Thí
      nghiệm về hoạt động cặp nhiệt điện
      05 Bài 14: Dòng điện trong chất
      điện phân Mô phỏng dòng điện trong chất điện phân
      06 Bài 15: Dòng điện trong chất
      khí Mô phỏng dòng điện trong chất khí
      07 Bài 17: Dòng điện trong chất
      bán dẫn
      Mô phỏng dòng điện trong chất bán dẫn
      08 Bài 19: Từ trường
      Thí nghiệm tương tác giữa nam châm và
      dòng điện
      09 Bài 20: Lực từ. Cảm ứng từ Thí nghiệm lực từ
      10 Bài 23: Từ thông. Cảm ứng
      điện từ
      Thí nghiệm hiện tượng cảm ứng điện từ
      11 Bài 25: Tự cảm Thí nghiệm về hiện tượng tự cảm
      12 Bài 26: Khúc xạ ánh sáng Thí nghiệm hiện tượng khúc xạ ánh sáng
      13 Bài 27: Phản xạ toàn phần Thí nghiệm hiện tượng phản xạ toàn phần
      14 Bài 28: Lăng kính Thí nghiệm đường đi của chùm sáng qua
      lăng kính
      15 Bài 29: Thấu kính mỏng
      Thí nghiệm khảo sát đường đi của chùm
      sáng qua thấu kính hội tụ, thấu kính phân

      16 Bài 31: Mắt Mô phỏng thấu kính mắt
      17 Bài 32: Kính lúp Thí nghiệm về đường đi của chùm sáng
      qua kính lúp
      18 Bài 33: Kính hiển vi Thí nghiệm về đường đi của chùm sáng
      qua kính hiển vi
      19 Bài 34: Kính thiên văn Thí nghiệm về đường đi của chùm sáng
      qua kính thiên văn
      7
      2.2.2. Giới thiệu một số phần mềm thí nghiệm ảo và xây dựng một số thí
      nghiệm ảo chƣơng trình Vật lý 11
      2.2.2.1.Thí nghiệm ảo trên powepoint
      Powepoint là phần mềm được sử dụng để thiết kế thí nghiệm phổ biến nhất
      hiện nay với ưu điểm quen thuộc, dễ dàng thiết kế và sử dụng, hình ảnh đẹp và đa
      dạng. Từ các hiệu ứng và tính năng trên powepoint, GV có thể dễ dàng thiết kế các
      thí nghiệm minh họa.
      Thí nghiệm: Hiện tượng nhiễm điện do tiếp xúc
      . Thí nghiệm: Hiện tượng nhiễm điện do cọ xát
      Thí nghiệm nhiễm điện do tiếp xúc
      Thí nghiệm sự tích điện của tụ điện
      8
      Thí nghiệm mô phỏng lực lạ
      Thí nghiệm mô phỏng dòng điện trong kim loại
      Thí nghiệm hoạt động cặp nhiệt điện
      9
      Thí nghiệm mô phỏng dòng điện trong chất điện phân
      Thí nghiệm mô phỏng dòng điện trong chất khí
      Thí nghiệm mô phỏng dòng điện trong chất bán dẫn)
      10
      Thí nghiệm hiện tượng cảm ứng điện từ
      Thí nghiệm hiện tượng tự cảm
      Thí nghiệm lực từ
      11
      Thí nghiệm hiện tượng khúc xạ – phản xạ toàn phần
      2.2.2.2. Thiết kế thí nghiệm trên phần mềm Crocodile Physics
      Crocodile Physics là phần mềm giả lập phòng thí nghiệm ảo cho phép GV có
      thể thiết kế những hình ảnh cho phù hợp với bài thí nghiệm Vật lý. Ngoài ra, các
      học HS có thể thực hành các bài tập và các thí nghiệm trên chương trình giả lập này.
      Ứng dụng Crocodile Physics được đánh giá là chương trình dành cho lĩnh vực
      khoa học tự nhiên với đầy đủ các kiến thức, phong phú, linh hoạt và giao diện đơn
      giản rất dễ dàng để sử dụng. Công cụ mô phỏng thí nghiệm hình học thích
      hợp nhiều lĩnh vực liên quan đến các mô hình trong quang học, điện tử, tác dụng
      lực, ánh sáng, sự chuyển động sóng…
      Sau đây tôi xin ví dụ một số thí nghiệm Vật lý 11 được thiết kế trên phầm
      mềm này
      Thí nghiệm minh họa Mắt – các tật của mắt
      12
      Thí nghiệm mô phỏng đường truyền tia sáng qua kính hiển vi
      Thí nghiệm mô phỏng đường truyền tia sáng qua kính thiên văn
      Thí nghiệm mô phỏng đường truyền của tia sáng qua lăng kính
      13
      Thí nghiệm minh họa đường truyền của tia sáng qua thấu kính
      c. Thiết kế thí nghiệm ảo trên phần mềm Lectora
      Lectora hỗ trợ nhiều định dạng thông tin khác nhau như: chữ, hình ảnh, âm
      thanh, phim hay hoạt hình…cũng như hỗ trợ các chuẩn công nghệ Internet như
      HTML, Java hay JavaScript. Ưu điểm của phần mềm là có thể thiết kế toàn bộ thí
      nghiệm trên một giao diện như một quyển sách, có thể chia thành các chương, các
      bài. Sau khi thiết kế xong có thể đóng gói chạy như một file

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • SKKN Sử dụng ứng dụng Quizizz nhằm nâng cao chất lượng ôn thi tốt nghiệp THPT môn Vật lý lớp 12

    SKKN Sử dụng ứng dụng Quizizz nhằm nâng cao chất lượng ôn thi tốt nghiệp THPT môn Vật lý lớp 12

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
    Giáo dục là vấn đề cấp bách, thách thức toàn cầu. Hiện nay, trên thế giới
    luôn nỗ lực đổi mới giáo dục với nhiều mô hình, nhiều biện pháp giáo dục khác
    nhau. Bộ Giáo dục và đào tạo luôn quan tâm, đề cao vai trò và đẩy mạnh ứng dụng
    công nghệ thông tin trong các hoạt động giáo dục. Đây cũng là một trong chín nhóm
    nhiệm vụ trọng tâm của ngành để thúc đẩy phát triển Giáo dục và đào tạo. Bên cạnh
    việc thực hiện đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và
    hỗ trợ các hoạt động dạy học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng
    Giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến năm 2025” đã được Thủ
    tướng Chính phủ phê duyệt, hàng năm Bộ Giáo dục và đào tạo đều có những văn
    bản chỉ đạo, hướng dẫn việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ
    sở Giáo dục và đào tạo. Thầy và trò trường THPT C Hải Hậu tích cực vận dụng các
    phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo cho
    học sinh là điều cần thiết như hiện nay.
    Theo tinh thần chỉ đạo của Bộ giáo dục, việc học tập và sử dụng modul 9 vào
    công tác giảng dạy: Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy là một trong các
    biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nhằm kiểm tra đánh giá học sinh. Với
    học sinh khối 12 việc áp dụng hình thức thi trắc nghiệm đã trở nên quen thuộc. Trong
    điều kiện kinh tế phát triển như hiện nay, trong xu thế phát triển của thời đại ngày nay,
    rất nhiều các em học sinh có điện thoại thông minh, máy tính bảng, laptop,… để làm
    bài ôn tập, kiểm tra. Tuy nhiên bố mẹ, thầy cô cần kiểm soát việc sử dụng các thiết bị
    đó cho việc học tập, tránh việc các em lợi dụng việc học mà sử dụng các thiết bị đó
    vào việc lướt web, Facebook, Zalo, TikTok, chơi game,… Qua đó tạo hứng thú học
    tập cho học sinh đồng thời nâng cao chất lượng dạy và học là điều mà chúng tôi quan
    tâm, suy nghĩ trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, khi mà hệ thống IoT – internet
    vạn vật và các hệ thống kết hợp thực – ảo trở nên phổ biến. Hệ thống wifi đã phủ sóng
    toàn bộ các lớp học trong trường, giúp cho việc dạy và học trở nên hiệu quả hơn.
    Đổi mới phương pháp dạy học cần gắn liền với đổi mới về đánh giá quá trình
    dạy học cũng như đổi mới kiểm tra và đánh giá thành tích học tập của học sinh.
    Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập thông tin, phân tích và xử lý thông
    2
    tin, giải thích thực trạng việc đạt mục tiêu giáo dục, tìm hiểu nguyên nhân, ra những
    quyết định sư phạm giúp học sinh học tập ngày càng tiến bộ. Khi có kế hoạch kiểm
    tra, giáo viên phải nắm bắt được đúng đối tượng học sinh của mình để ra đề kiểm
    tra, đánh giá cho phù hợp. Sau khi có kết quả dựa vào đó mà kịp thời điều chỉnh
    phương pháp dạy, thay đổi cách học của từng đối tượng học sinh, đối với học sinh
    phải biết vận dụng kiến thức mình đã học vào làm bài tập cụ thể để đánh giá đúng
    thành quả học tập của mình. Tóm lại, hình thức kiểm tra như thế nào thì hợp lí? Và
    làm sao để kiểm tra được nhiều nhất lượng kiến thức các em đã được học? Cách
    kiểm tra nào giúp giáo viên có kết quả nhanh và chính xác nhất, đỡ chi phí cho giáo
    viên và và giảm thiểu chi phí cho học sinh.
    Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng giáo dục trong
    trường phổ thông chính là điểm bình quân các môn thi trong kỳ thi tốt nghiệp THPT.
    Để nâng cao điểm số trung bình, việc tối ưu hóa điểm số của các học sinh có lực học
    trung bình khá là yếu tố quyết định.
    Trong vài năm gần đây, khi đại dịch covid 19 hoành hành, khi mà các trường
    học thực hiện việc giãn cách xã hội theo chủ trương của Thủ tướng Chính phủ để
    phòng, chống dịch Covid-19, học sinh các cấp học đã được tiếp cận với kiến thức,
    với thầy cô qua môi trường mạng, giáo dục trực tuyến trở thành hình thức học tập
    được quan tâm nhiều nhất. Chỉ trong thời gian ngắn, các bài giảng trực tuyến đã và
    đang tạo ra những thay đổi lớn đến việc dạy – học của giáo viên và học sinh. Như
    vậy tin học đã làm thay đổi cách thức học trong ngành giáo dục, chuyển từ học trực
    tiếp sang học trực tuyến thông qua môi trường Internet. Tuy nhiên, đại dịch đó đã
    được khống chế, con người tạm thời thoát khỏi thời kì khủng hoảng đó, nhưng
    chúng ta cũng không được chủ quan.
    Trong các kỳ thi tốt nghiệp THPT chuyển sang hình thức trắc nghiệm, những tài
    liệu giáo viên cần photo cho học sinh tăng rất lớn gây lãng phí tiền của của phụ huynh
    và học sinh. Cho nên để tránh lãng phí kinh tế mà vẫn đảm bảo chất lượng học tập của
    học sinh cũng là điều nên làm. Ngoài ra việc sử dụng một lượng giấy lớn cũng ảnh
    hưởng đến môi trường, ngành sản xuất giấy gây ô nhiễm môi trường không khí. Các
    hoạt động trong quá trình sản xuất giấy đều tác động đến môi trường không khí. Khai
    thác cây gỗ không có kế hoạch cũng gây một vấn nạn lớn cho môi trường tự nhiên.
    Ngoài ra, trong quá trình sản xuất, nghiền bột và làm giấy cũng sinh ra bụi ảnh hưởng
    3
    tới môi trường. Nên chúng ta hạn chế việc sử dụng giấy là một việc làm có ảnh hưởng
    tốt tới môi trường sống của chúng ta.
    Là giáo viên dạy Vật lý và giáo viên môn Tin học của trường, chúng tôi thường
    xuyên trau dồi, bồi dưỡng các kỹ năng ứng dụng công nghệ thông để hoàn thành tốt
    nhiệm vụ của mình được giao với tinh thần làm chủ được công nghệ, sử dụng công
    nghệ hiệu quả và không bị lạm dụng công nghệ quá mức. Để việc ôn tập, trang bị kiến
    thức chuẩn bị cho kì thi tốt nghiệp THPT, xét tuyển đại học của học sinh lớp 12 được
    diễn ra thường xuyên, liên tục, đạt kết quả cao. Trong thời gian rảnh rỗi tôi hỗ trợ việc
    thiết kế và cho các em học sinh làm bài tập Quizizz trên phòng thực hành Tin học của
    nhà trường, trường tôi hiện có ba phòng thực hành để phục vụ việc giảng dạy cho giáo
    viên và học sinh trong trường. Chúng tôi luôn hỗ trợ một cách tối đa việc học tập, ôn
    luyện cho các em đạt kết quả tốt nhất trong kì thi tốt nghiệp THPT, và các kì thi, kiểm
    tra đánh giá trong năm học. Từ thực tế giảng dạy của bản thân cũng như việc đi dự giờ
    các đồng nghiệp tại trường chúng tôi đã thực hiện sáng kiến “Sử dụng ứng dụng
    Quizizz nhằm nâng cao chất lượng ôn thi tốt nghiệp THPT môn Vật lý lớp 12”.
    II. Mô tả giải pháp:

    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    • Khi Bộ giáo dục thay đổi hình thức các môn thi của kỳ thi trung học phổ thông
      quốc gia sang hình thức trắc nghiệm. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, làm đề kiểm
      tra và hướng dẫn học sinh ôn tập, bản thân chúng tôi đã rút ra một số biện pháp để
      nâng cao chất lượng ôn tập thi trắc nghiệm khách quan môn Vật lí cho học sinh lớp 12
      nhằm đáp ứng yêu cầu thay đổi đề thi và cách thi hiện nay của Bộ Giáo dục và Đào
      tạo.
      Với học sinh, các em rất hứng thú trong việc ứng dụng công nghệ thông tin để
      học và ôn tập. Điều kiện cơ sở vật chất của gia đình học sinh sẽ ảnh hưởng nhiều đến
      hoạt động học và làm bài tập trực tuyến của các em. Và không phải gia đình nào cũng
      có điều kiện kết nối internet, máy tính, laptop, điện thoại thông minh,… để cho con em
      mình học tập, nhất là ở một số gia đình có hoàn cảnh khó khăn, các em có thể học
      nhóm với các bạn, một nhóm từ 2 – 3 người để hỗ trợ nhau vươn lên trong học tập.
    1. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
      Các vấn đề cần làm rõ là thiết lập tài khoản Quizizz, thiết lập kênh liên lạc với
      học sinh, phụ huynh và cách thức sử dụng Quizizz để ôn tập một cách hiệu quả.
      4
      2.1. Quizizz.
      Quizizz là một ứng dụng được dùng để kiểm tra kiến thức ở các môn học cũng
      như kiến thức xã hội thông qua hình thức trả lời trắc nghiệm.
      Quizizz cho phép giáo viên tiếp cận ngân hàng câu hỏi đa dạng hoặc tự tạo lập bộ
      câu hỏi phù hợp với mục tiêu kiểm tra đánh giá.
      Học sinh trong cùng một lớp có thể tham gia trả lời câu hỏi trên Quizizz vào
      cùng một thời điểm do giáo viên quy định; hoặc hoàn tất bài kiểm tra vào một thời
      gian thuận lợi, trước thời hạn mà giáo viên đề ra.
      Quizizz thông báo ngay kết quả và thứ hạng của những người tham gia trả lời câu
      hỏi, vì thế tạo được hứng thú cho học sinh.
      2.1.1. Giới thiệu về ứng dụng Quizizz.
      2.1.1.1 Thiết lập tài khoản Quizizz dành cho giáo viên.
    • Vào trình duyệt: https://quizizz.com/. Nhấp chuột vào “Sign up” hoặc “Get
      started” và làm theo hướng dẫn để lập tài khoản.
    • Chọn “Sign up”, giáo viên nên chọn “Tiếp tục với Google”
      5
    • Chọn gmail muốn dùng để đăng ký tài khoản Quizizz.
    • Chọn ngành/ lĩnh vực mà chúng ta sử dụng ứng dụng
    • Chọn vai trò của chúng ta trong Quizizz. Giáo viên sẽ chọn “Teacher”, học sinh
      sẽ chọn “Student’, phụ huynh sẽ chọn “a parent”
      6
    • Hoàn thiện thiết lập và chúng ta có giao diện của trang chủ:
    • Tạo đề kiểm tra trên Quizizz.
    • Trên giao diện của trang chủ, chọn nút Tạo mới → Quiz
    • Tại cửa số kế tiếp xuất hiện điền thông tin tên đề kiểm tra, môn… sau đó chọn
      ‘Tiếp’.
      7
    • Tại giao diện tiếp theo: Lựa chọn các hình thức câu hỏi trắc nghiệm → sau đó chọn
      Teleport.
    • Multiple choice: Câu hỏi trắc nghiệm
    • Checkbox: dạng trắc nghiệm có nhiều phương án trả lời.
    • Fill – in – the – Blank: Điền vào chỗ trống
    • Poll: Dạng survey thu thập thông tin, ý kiến học sinh.
    • Open – Ended: Dạng câu hỏi mở.
    • Lựa chọn xong kiểu câu hỏi xuất hiện giao diện.
      8
    • Giáo viên gõ hoặc copy nội dung câu hỏi từ nguồn có sẵn, chọn đáp án đúng →
      nhấn nút Save (Lưu).
    • Muốn thêm câu hỏi các thầy cô vào “New question” (Câu hỏi mới).
      9
    • Chọn “Công bố” (Publish) để lưu lại quiz vừa tạo, ra được giao diện như sau:
      10
    • Bổ sung thông tin cho đề kiểm tra và chọn “Lưu” (Save)
    • Giao bài cho học sinh
    • Nếu muốn cho học sinh chơi trực tiếp, thầy cô chọn “Bắt đầu một bài kiểm tra trực
      tiếp” (Start a live quiz)
    • Nếu muốn giao bài cho học sinh làm về nhà, chọn “Giao bài tập về nhà” (Assign
      homework) → cài đặt ngày giờ nộp bài cho quiz → continue → share link/copy code
      gửi vào kênh liên lạc cho học sinh để học sinh làm bài.
      11
    • Mời học sinh tham gia
      Có 2 cách để mời học sinh tham gia.
    1. Yêu cầu học sinh truy cập vào trình duyệt web https://joinmyquiz.com/, sau đó nhập
      mã code bên dưới. Khi đã đầy đủ thì ấn nút START để bắt đầu bài Quiz.
    2. Thầy cô bấm chọn Copy link để chia sẻ đường link với học sinh.
      Đây là giao diện khi học sinh của bạn đang làm bài Quiz. Bên dưới sẽ hiển thị
      danh sách các học sinh đang chơi cũng như điểm số mà học sinh đó đạt được.
      12
      2.1.1.2. Hướng dẫn sử dụng Quizizz dành cho cha mẹ học sinh và học sinh
    • Dùng trên laptop, trên điện thoại
      Bước 1: Vào trình duyệt https://quizizz.com/ ứng dụng dùng được cả trên hệ điều hành
      IOS hoặc Android, cha mẹ và học sinh tìm kiếm trong Apps (Ứng dụng): Quizizz:
      Play to learn sau đó tải ứng dụng về máy.
      Bước 2: Vào phần Join a game trên thanh công cụ, nhập mã do giáo viên cung cấp
      vào ô Enter a game code, rồi bắt đầu trả lời câu hỏi.
      Nếu điện thoại đã cài ứng dụng Quizizz mở ứng dụng Quizizz đã cài trên điện
      thoại, nhập mã do giáo viên cung cấp vào ô Enter a game code, rồi bắt đầu trả lời câu
      hỏi.
      13
      2.1.1.3. Phân tích, tổng hợp kết quả sau khi học sinh làm bài xong:
    • Ta chọn mục Report trên giao diện chính của Quizizz.
    • Chọn Quizizz đã giao cho học sinh → xuất hiện bảng thống kê tên học sinh
      làm bài, số lần làm, số câu đúng, số câu sai.
    • Kết quả các bài kiểm tra của học sinh nằm trong mục Reports. Tại đây có thể
      xem điểm, các thống kê của bài kiểm tra.
      Bảng kết quả theo điểm thi của từng cá nhân.
      Bảng kết quả thống kê theo thông số từng câu hỏi.
      14
      Bảng tổng hợp theo cả điểm thi và câu hỏi của từng học sinh.
      15
    • Muốn xem chi tiết hơn số học sinh đúng/sai ở các câu hỏi, các thầy cô chọn
      “Overview”.
      2.1.1.4. Những lưu ý khi sử dụng ứng dụng Quizizz
    • Giáo viên cần nghiên cứu trò chơi học tập, hệ thống các câu hỏi để củng cố kiến
      thức, kĩ năng, các yêu cầu cũng như nội dung kiến thức. Qua đó học sinh sử dụng ứng
      dụng Quizizz sẽ được làm quen với tác phong nhanh nhẹn, rèn luyện được kỹ năng
      làm bài nhanh cho hình thức trắc nghiệm, làm bài trực tuyến sẽ giúp các em làm quen
      và sử dụng thành thạo máy tính, làm quen và biết cách khai thác được thông tin trên
      mạng, đây là kỹ năng thiết yếu cho sự phát triển ở thời đại công nghệ 4.0.
    • Giáo viên chuẩn bị các phiếu theo dõi quá trình học tập của học sinh làm cơ sở
      cho việc kiểm tra đánh giá được khách quan, tạo động cơ học tập tốt.
    • Do đặc điểm của ứng dụng Quizizz thiết kế dưới dạng game, màn hình chỉ hiện
      một câu hỏi, học sinh phải trả lời xong mới chuyển qua câu kế tiếp nên ứng dụng này
      phù hợp nhất với việc ôn phần kiến thức lý thuyết với học sinh.
    • Trong quá trình dạy bài mới, giáo viên nên giao bài cho học sinh dưới hình thức
      bài tập về nhà, giới hạn thời gian làm theo tuần để học sinh chủ động bố trí thời gian
      làm bài phù hợp. Mỗi tuần giao cho học sinh từ 1 đến 2 đề phụ thuộc vào khả năng của
      học sinh. Thời gian giao bài cho học sinh là một tuần. Bởi vì ôn lý thuyết, nên các thầy
      cô cài đặt bài kiểm tra cho phép học sinh xem đáp án đúng ở mỗi câu trả lời sai để học
      sinh củng cố lại kiến thức ngay trong quá trình làm bài.
    • Để khắc phục tình trạng học sinh làm bài chống đối, các thầy cô giáo nên yêu
      cầu học sinh làm đi làm lại cho đến khi đạt mức điểm yêu cầu mới dừng lại. Do ôn tập
      lý thuyết giáo viên thường yêu cầu học sinh phải làm đúng 100% mới đạt yêu cầu.
    • Trước mỗi tiết ôn tập trên lớp, giáo viên thường cho các em chơi live một game
      ôn tổng hợp vào buổi tối của ngày hôm trước. Tại kiểu live này, học sinh tham gia
      16
      giống như tham gia vào một game thi kiến thức. Sau mỗi câu trả lời, máy sẽ cho học
      sinh biết mình đúng hay sai, được bao nhiêu điểm và thứ hạng thay đổi như thế nào.
      Hình thức làm bài giống như chơi game nên học sinh rất hứng thú, làm cho không khí
      học trở nên sôi nổi, nhẹ nhàng và đạt hiệu quả tốt. Khi kết thúc game, tôi chọn và trao
      các phần thưởng nho nhỏ qua đó làm các em rất mong đợi và hào hứng tham gia. Việc
      được luyện đi luyện lại theo từng tuần, theo từng kỳ giúp các em nhớ kiến thức lâu và
      đạt kết quả tốt trong các kỳ thi, đó là điều mà giáo viên mong đợi ở các em học sinh.
      2.1.2. Bài tập trên Quizizz
      Đường link câu hỏi trắc nghiệm các chương mà giáo viên soạn thảo để sử
      dụng ôn tập trên Quizizz:
      Chương I: Dao động cơ
      Bài 1: Dao động điều hòa
      Dạng 1. Đại cương về dao động điều hòa:
      https://quizizz.com/admin/quiz/6291e10b706221001ee6cb71?source=quiz_share
      hoặc link rút gọn: https://bit.ly/3SpMg0e
      Dạng 2. Xác định các đặc trưng ω, T, f; khai thác các phương trình x, v, a của dao
      động điều hòa:
      https://quizizz.com/admin/quiz/6290df11806f86001d5ec7be?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/3dzPmQv
      Dạng 3. Bài toán viết phương trình dao động điều hòa
      https://quizizz.com/admin/quiz/6290ec77407419001d5f82b9?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/3qYK5oz
      Dạng 4. Đồ thị dao động điều hòa
      https://quizizz.com/admin/quiz/632a42bade0f1e001eacc5eb?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/3dBSI5r
      Dạng 5. Quãng đường vật đi được ứng với khoảng thời gian đặc biệt, khoảng thời
      gian bất kì từ thời điểm t1 đến t2
      https://quizizz.com/admin/quiz/6291e10b706221001ee6cb71?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/3SpMg0e
      Dạng 6: Quãng đường lớn nhất, nhỏ nhất
      https://quizizz.com/admin/quiz/6125017c7b5889001debb8fc?source=quiz_share
      17
      hoặc https://bit.ly/maiquy1
      Bài 2: Con lắc lò xo
      Dạng 1. Xác định các đại lượng đặc trưng ω, T, f của con lắc lò xo
      https://quizizz.com/admin/quiz/610d1c8d831cd0001bd56cd7?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau1
      Dạng 2. Thời gian nén giãn của con lắc lò xo
      https://quizizz.com/admin/quiz/6110cd97e844c2001c203ed7?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau2
      Dạng 3. Năng lượng của con lắc lò xo
      https://quizizz.com/admin/quiz/610de7e7eb190b001b1d5b20?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau3
      Bài 3: Con lắc đơn
      Dạng 1. Xác định các đặc trưng ω, T, f của con lắc đơn
      https://quizizz.com/admin/quiz/610df4ad033bfe001b614699?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau4
      Dạng 2. Năng lượng của con lắc đơn
      https://quizizz.com/admin/quiz/612d82bd9e72dc001e57fefc?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau5
      Dạng 3. Vận tốc, lực căng dây của con lắc đơn
      https://quizizz.com/admin/quiz/6110c981e844c2001c203d64?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau6
      Bài 5: Tổng hợp 2 dao động điều hòa cùng phương, cùng tần số. Phương pháp
      giản đồ Fre – nen.
      https://quizizz.com/admin/quiz/6111e8b02b5f6a001b585003?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau8
      Chương II: Sóng cơ và sóng âm
      Bài 7: Sóng cơ và sự truyền sóng cơ
      Dạng 1. Đại lượng đặc trưng về sóng cơ
      https://quizizz.com/admin/quiz/62fb4a62359344001eaf547e?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau9
      Dạng 2. Phương trình truyền sóng
      18
      https://quizizz.com/admin/quiz/61a18540f31557001d90a1eb?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchauhau10
      Dạng 3. Độ lệch pha
      https://quizizz.com/admin/quiz/62fb56af85b1f8001dfe1a19?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau11
      Bài 8: Giao thoa sóng
      https://quizizz.com/admin/quiz/61a5fc5726dd60001d617139?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau12
      Bài 9: Sóng dừng
      https://quizizz.com/admin/quiz/61c277aabae04f001d9bb2d5?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau13
      Bài 10 + 11: Sóng âm và các đặc trưng của sóng âm
      https://quizizz.com/admin/quiz/6316789cd0a29b001d421daa?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau14
      Chương III: Dòng điện xoay chiều
      Bài 12: Đại cương về dòng điện xoay chiều
      https://quizizz.com/admin/quiz/61dd33a1950481001dabce92?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau15
      Bài 13: Các mạch điện xoay chiều
      https://quizizz.com/admin/quiz/61d3c9715c7b43001d5c9e71?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau16
      Bài 14: Mạch R, L, C mắc nối tiếp
      https://quizizz.com/admin/quiz/61c259050e32be001db69ae8?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau17
      Bài 15: Công suất điện tiêu thụ của mạch điện xoay chiều. Hệ số công suất
      https://quizizz.com/admin/quiz/61d40667ca9869001df42ca8?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau19
      Bài 17: Máy phát điện xoay chiều
      https://quizizz.com/join?gc=54907389
      Chương IV: Dao động và sóng điện từ
      https://quizizz.com/admin/quiz/6316804e5d9201001e017745?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau20
      19
      Chương V: Sóng ánh sáng
      Bài 24: Tán sắc ánh sáng
      https://quizizz.com/admin/quiz/6267a09046835c001e23b6ab?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau21
      https://quizizz.com/admin/quiz/6228ae7b605c4e001dd2c8e0?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau22
      Bài 26: Các loại quang phổ
      https://quizizz.com/admin/quiz/62047e8f835373001d19b947?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau23
      Chương VI: Lượng tử ánh sáng
      Bài 30: Hiện tượng quang điện. Thuyết lượng tử ánh sáng
      https://quizizz.com/admin/quiz/623ae487265f74001d1f0bda?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau24
      Bài 31: Hiện tượng quang điện trong
      https://quizizz.com/admin/quiz/632ce85e665824001dbb9ad9?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau25
      Bài 32: Hiện tượng quang – phát quang
      https://quizizz.com/admin/quiz/632ce8f9e6bf56001ecae6b5?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau26
      Bài 33: Mẫu nguyên tử Bo
      https://quizizz.com/admin/quiz/62a6f93d7d5919001e1756ac?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau27
      ❖ Bộ đề ôn thi tốt nghiệp
      Đề 1: Kiểm tra chương I
      https://quizizz.com/admin/quiz/6321878a19bc57001dce6b7b?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau28
      Đề 2: https://quizizz.com/admin/quiz/632ce942ee22ef001da3d133?source=quiz_share
      Hoặc https://bit.ly/thptchaihau29
      Đề 3: https://quizizz.com/admin/quiz/632ce68bfa1674001dedc24f?source=quiz_share
      Hoặc https://bit.ly/thptchaihau30
      Đề 4:
      https://quizizz.com/admin/quiz/632ce9886abc94001d338b15?source=quiz_share
      20
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau31
      Đề 5: https://quizizz.com/admin/quiz/628562e00c8fd0001d02fff5?source=quiz_share
      Hoặc https://bit.ly/thptchaihau32
      ❖ Bộ đề ôn lí 11
      Đề 1:
      https://quizizz.com/admin/quiz/632abbfe632939001d8d133b?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau33
      Đề 2:
      https://quizizz.com/admin/quiz/632ac2d9ee02d2001e27fb02?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau34
      Đề 3:
      https://quizizz.com/admin/quiz/632b7006e57ba6001db8e2f3?source=quiz_share
      hoặc https://bit.ly/thptchaihau35
      Đề 4: https://quizizz.com/admin/quiz/632b78014cfe88001dd04bd1?source=quiz_share
      Hoặc https://bit.ly/thptchaihau36
      2.1.3. Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm được giáo viên soạn thảo trên Microsoft
      Word để sử dụng ôn tập trên Quizizz.
      Chương I: Dao động cơ
      Bài 1: Dao động điều hòa
      Dạng 1: Đại cương về dao động điều hòa
      Câu 1: Theo định nghĩa. Dao động điều hòa là
      A. chuyển động mà trạng thái c

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • SKKN Vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Vật lý 10 THPT theo hướng tiếp cận chương trình GDPT 2018

    SKKN Vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Vật lý 10 THPT theo hướng tiếp cận chương trình GDPT 2018

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển, cùng với quá trình hội nhập quốc tế tạo ra
    nhiều cơ hội, đồng thời cũng tạo ra nhiều thách thức với nền giáo dục của Việt Nam.
    Vì thế việc đổi mới trong giáo dục là điều tất yếu. Để đáp ứng yêu cầu của chương
    trình mới, chương trình GDPT 2018 sẽ được bắt đầu vào năm học 2022-2023, người
    GV cần đẩy mạnh đổi mới phương pháp và hình thức giảng dạy. Đổi mới phương pháp
    là đổi mới về cách truyền thụ kiến thức của người thầy, cách tiếp thu kiến thức của trò.
    Do đó, người thầy phải biết cách sử dụng các phương tiện và thiết bị hiện đại, sử dụng
    công nghệ thông tin vào quá trình dạy học, đa dạng hóa các hình thức kiểm tra, đánh
    giá, tiếp cận với yêu cầu kiến thức, kĩ năng cũng như tâm lí của học trò.
    Trong bối cảnh cả Thế giới, cả đất nước đang phải trải qua đại dịch Covid 19 thì
    giáo dục cũng là một trong lĩnh vực bị ảnh hưởng nặng nề. Trước tình hình đó, Ban
    Giám Hiệu Trường THPT Nam Trực đã phải đưa ra những phương án, giải pháp ứng
    phó kịp thời, đó là kết hợp giữa việc dạy học trực tuyến và trực tiếp vào quá trình dạy
    học để nâng cao chất lượng học tập, giúp người đọc chủ động tìm kiếm tri thức, sắp
    xếp hợp lí quá trình tự học. Đổi mới các hình thức dạy học theo lớp, nhóm hay từng cá
    nhân cũng rất cần sự trợ giúp của truyền thông đa phương tiện như âm thanh, hình ảnh,
    video…. Một trong những mô hình dạy học hiện đại mà công nghệ thông tin và truyền
    thông đa phương tiện quyết định sự thành công của mô hình dạy học đó, chính là dạy
    học theo mô hình lớp học đảo ngược- Flipped Classroom. Ở đó thay vì bài giảng
    như thường lệ, GV lại là một người hướng dẫn, ngược lại người học thay vì tiếp thụ
    kiến thức một cách thụ động, các em sẽ phải tự tiếp cận kiến thức ở nhà, tự mình trải
    nghiệm, khám phá, tìm tòi các thông tin liên quan đến bài học. Còn môi trường trên
    lớp là môi trường năng động giúp các em tương tác với GV và HS khác giúp các em
    sáng tạo, phát triển năng lực giải quyết vấn đề….Mô hình này giúp HS phát huy và rèn
    luyện tính tự học, tính chủ động làm chủ quá trình học tập chính của bản thân mà
    không còn bị động, phụ thuộc trong quá trình khám phá tri thức.
    Xuất phát từ lí do đó, với mong muốn nuôi dưỡng hứng thú học tập, tạo sự tự
    giác trong học tập và nâng cao chất lượng dạy học Vật lí 10, đặc biệt ứng phó với việc
    dạy học trực tuyến khi dịch bệnh bùng phát, chúng tôi đã lựa chọn đề tài “VẬN DỤNG
    MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY HỌC MÔN VẬT LÍ 10-THPT
    THEO HƯỚNG TIẾP CẬN CHƯƠNG TRÌNH GDPT 2018”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP

    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến.
      1.1. Chương trình hiện hành và phương pháp dạy học truyền thống.
      1.1.1. Mô tả
      Chương trình còn nặng tính hàn lâm, quá trình dạy học còn thiên về truyền thụ
      kiến thức, chủ yếu GV dạy cho HS những kiến thức mà mình có, HS ra sức học, ghi
      nhớ những kiến thức.
      Các GV được hỏi đa phần đều công tác tương đối lâu năm nên chủ yếu vẫn quen
      với phương pháp dạy học truyền thống. Các lớp bồi dưỡng tập trung do Sở GD&ĐT tổ
      chức hàng năm về cơ bản mới chỉ bồi dưỡng về tiếp cận thi Tốt nghiệp THPT, hoặc
      các kĩ thuật dạy học tích cực và về việc xây dựng ma trận đề kiểm tra đánh giá. Còn về
      2
      các phương pháp dạy học hiện đại đa phần các GV khi cần thiết mới tự tìm hiểu thông
      qua các thông tin trên mạng và trao đổi với đồng nghiệp.
      GV thiết kế giáo án và xây dựng bài giảng dựa trên nội dung được quy định chi
      tiết trong chương trình, tài liệu chủ yếu là sách giáo khoa, sách giáo viên với các mục
      tiêu cần đạt của mỗi bài về: Kiến thức thuần túy khoa học ít gắn với thực tiễn, kĩ năng
      giải các bài tập mang tính lí thuyết.
      Thực hiện đổi mới dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của HS
      đã được áp dụng rất rộng rãi trong các năm trở lại đây nhưng việc dạy học phát triển
      năng lực HS mới bắt đầu được đưa vào áp dụng nên GV còn nhiều bỡ ngỡ và hầu như
      chưa có khái niệm đánh giá năng lực theo các thành tố của năng lực.
      Một số GV đã thực hiện dạy học chủ đề tích hợp, tuy nhiên do hạn chế trong việc
      sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại, các GV mới chỉ tập trung vào xây dựng
      các nội dung tích hợp và sử dụng một số kĩ thuật dạy học tích cực để tăng tính tích cực,
      chủ động của HS chứ chưa tập trung vào việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề dẫn
      đến HS hiểu bài, có liên hệ với thực tế, kết quả học tập nâng cao nhưng với các bài tập
      thực tiễn ở mức vận dụng cao lại vẫn gặp nhiều khó khăn do chưa được luyện tập
      nhiều các thao tác, kĩ năng giải quyết vấn đề.
      1.1.2. Ưu điểm
    • Đảm bảo về nội dung: kiến thức, kĩ năng và thái độ, việc lựa chọn nội dung dễ
      dàng, không tốn nhiều thời gian.
    • Có sự đổi mới về phương pháp dạy học, bên cạnh việc trang bị kiến thức đã chú
      ý rèn luyện một số kĩ năng.
    • Có phần ứng dụng, liên hệ thực tế để học sinh có thể ứng dụng giải quyết vấn đề
      trong cuộc sống.
      1.1.3. Nhược điểm
    • HS dễ tiếp thu kiến thức một cách thụ động, giờ học thiếu hấp dẫn.
    • Chưa phát triển được năng lực học sinh.
    • Khả năng vận dụng các kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn còn hạn
      chế, ít liên hệ với thực tiễn, học sinh không có kĩ năng sử dụng các kiến thức đã học để
      giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tế cuộc sống.
      1.2. Thực trạng dạy học ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong
      dạy học Vật lí tại một số trường THPT
      Để tìm hiểu thực trạng hoạt động tự học của HS ở trường THPT, chúng tôi đã
      tiến hành khảo sát, lấy ý kiến 10 GV Vật lí, 120 học sinh tại Trường THPT Nam Trực,
      tỉnh Nam Định.
    • Nội dung khảo sát dựa trên những yếu tố dự kiến ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián
      tiếp đến hiệu quả sử dụng Elearning dạy – tự học gồm:
    • Thực trạng sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin hỗ trợ dạy học của GV.
    • Năng lực về công nghệ thông tin của GV và HS.
    • Tình hình dạy: tìm hiểu mục tiêu, phương pháp dạy học, tình trạng sử dụng các
      phương tiện dạy học, các hình thức kiểm tra đánh giá của GV Vật lí.
      3
    • Tình hình học tập của HS: tìm hiểu nhu cầu, kĩ năng , thái độ học tập của HS
      trên lớp và ở nhà; những khó khăn của HS trong quá trình học tập Vật lí.
    • Quy trình khảo sát:
      Bước 1: Lập phiếu khảo sát .
      Bước 2: Tiến hành khảo sát thực trạng.
      Bước 3: Phân tích số liệu.
      Bước 4: Kết luận.
      a) Thực trạng hoạt động tự học môn Vật lí của học sinh
      Khảo sát 120 HS thì chỉ có 25% HS rất hứng thú với môn Vật lí, 33 % HS hứng
      thú, 22% có thái độ bình thường, thờ ơ; còn lại 20 % bày tỏ ý kiến không thích môn
      này.
      Biểu đồ 1: Thái độ học sinh với môn Vật lí
      Về nhận thức tầm quan trọng của môn Vật lí: Có 61% HS cho rằng đây là môn
      học quan trọng, 38% HS cho là bình thường, còn lại 1% thì lại có ý kiến trái ngược,
      đánh giá đây là một môn học không quan trọng.
      Biểu đồ 2: Biểu đồ đánh giá vai trò môn Vật lí
      Để tìm hiểu nguyên nhân, chúng tôi lấy ý kiến qua trao đổi với một số HS. Các
      em cho biết hầu hết động cơ học tập Vật lí chủ yếu là để thi vào đại học, một số vì
      25%
      33%
      22%
      20% Rất hứng thú.
      Có hứng thú.
      Bình thường.
      Không hứng thú.
      Quan
      trọng.
      61%
      Bình
      thường.
      38%
      Không
      quan
      trọng.
      1%
      4
      muốn đạt kết quả học tập cao. Nhiều em chưa nhận thức được tầm quan trọng của môn
      Vật lí. Chỉ có một số ít cho rằng yêu thích hay học Vật lí để áp dụng kiến thức đã học
      vào giải thích các hiện tượng Vật lí diễn ra trong thực tế và ứng dụng trong cuộc sống.
      Về phương pháp học tập Vật lí hiệu quả
      Kết quả khảo sát thu được theo bảng
      Bảng 3: Ý kiến cá nhân về phương pháp học Vật lí hiệu quả
      STT Phương pháp
      1 Chỉ học trên lớp là đủ 8/120
      2 Chỉ nghiên cứu SGK 1/120
      3 Phải nghiên cứu SGK và tìm tài liệu bên ngoài 7/120
      4 Phải nghiên cứu SGK, tìm tài liệu bên ngoài và có GV hướng dẫn 107/120
      Số liệu cho thấy, nhiều HS đã có ý thức phải tự học và nhận rõ tầm quan trọng
      của tự học. Tuy nhiên, các em chưa biết cách tự học như thế nào là hiệu quả. GV cần
      có các biện pháp định hướng , hướng dẫn cho HS, rèn luyện cho các em các năng lực
      tự học cần thiết. Kết quả được thể hiện qua biểu đồ về tần suất hoạt động trong học tập
      Biểu đồ 3: Biểu đồ phương pháp học tập Vật lí hiệu quả
      Bảng 4: Tần suất tham gia các hoạt động Vật lí
      STT Hoạt động
      Mức độ
      Thường
      xuyên
      Thi thoảng Không bao
      giờ
      1 Xem bài trước khi đến lớp 36/120 80/120 4/120
      2 Chủ động phát biểu ý kiến 25/120 85/120 10/120
      3 Tham gia làm thí nghiệm, xây
      dựng kiến thức nội dung bài
      25/120 80/120 15/120
      4 Tham gia hoạt động nhóm 20/120 83/120 17/120
      5 Nêu câu hỏi thắc mắc với GV và
      bạn học
      20/120 85/120 15/120
      Chỉ học trên
      lớp là đủ
      6%
      Chỉ nghiên
      cứu sgk
      1% Phải nghiên
      cứu SGK và
      tìm tài liệu
      bên ngoài
      Phải 6%
      nghiên
      cứu sgk,
      tìm tài liệu
      bên ngoài
      và có GV
      hướng
      dẫn…
      5
      Biểu đồ 4: Tần suất các hoạt động tự học
      Trong giờ học, HS chủ yếu nghe thầy cô giảng bài, chỉ phát biểu khi GV yêu cầu
      chỉ có 20,8% HS chủ động phát biểu trước lớp thường xuyên nhưng có đến 79,2% HS
      ít hoặc không bao giờ chủ động phát biểu. Nhiều HS tỏ ra lúng túng khi diễn đạt và sắp
      xếp lại các vấn đề đã học, chỉ một số ít mạnh dạn bộc lộ quan điểm riêng của mình.
      Một phần vì vốn ngôn ngữ Vật lí còn hạn hẹp, thiếu mạnh dạn và chưa có kĩ năng nói
      trước đám đông, vì sợ sai, xấu hổ nên ngại phát biểu. Có 16,7% HS thường xuyên nêu
      câu hỏi thắc mắc nhưng lại có đến 83,3% HS ít hoặc chưa bao giờ chủ động hỏi và
      chất vấn khi học.
      Học sinh tự đánh giá năng lực tự học của bản thân.
      Bảng 5: Tự đánh giá kĩ năng học tập của bản thân.
      STT Kĩ năng của bản thân Mức độ
      Tốt Khá TB
      1 Kĩ năng nghe và ghi chép 80/120 38/120 2/120
      2 Kĩ năng hoạt động nhóm 30/120 65/120 25/120
      3 Kĩ năng trình bày và phát biểu ý kiến trước lớp 20/120 80/120 20/120
      4 Kĩ năng sử dụng CNTT để trao đổi với GV và bạn bè 15/120 60/120 45/120
      5 Kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá trong quá trình học tập 35/120 55/120 30/120
      6 Kĩ năng khai thác tài liệu bằng phương tiện CNTT,
      mạng internet
      40/120 70/120 10/120
      7 Kĩ năng lập kế hoạch học tập 20/120 65/120 35/120
      Từ ý kiến khảo sát được, có thể thấy rằng hoạt động học tập của HS rất thụ động,
      nhiều HS chưa có hoặc yếu kĩ năng tự học, đặc biệt 66,67% HS chưa có kĩ năng khai
      thác tài liệu học tập bằng phương tiện CNTT; 70,83% HS cho rằng mình chưa có kĩ
      năng tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập; 83.33% HS chưa có kĩ năng lập kế hoạch
      0
      10
      20
      30
      40
      50
      60
      70
      80
      90
      Xem bài trước
      khi đến lớp
      Chủ động phát
      biểu ý kiến
      Tham gia làm thí
      nghiệm, xây dựng
      kiến thức nội dung
      bài
      Tham gia hoạt
      động nhóm
      Nêu câu hỏi thắc
      mắc với GV và bạn
      học
      Tần suất các hoạt động tự học
      Thường xuyên Thi thoảng Không bao giờ
      6
      học tập. Chỉ có 66,67 % HS nắm được kĩ năng nghe giảng, ghi chép nhưng ở mức độ
      chưa cao.
      Biểu đồ 5: Mức độ kĩ năng tự học
      Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy – tự học môn
      Vật lí
      Thực trạng sử dụng Internet của HS
      Khảo sát những hoạt động hàng ngày trên Internet của HS, theo bảng 5
      Bảng 6: Thực trạng sử dụng Internet
      STT Mục đích sử dụng internet
      Mức độ
      Thường
      xuyên
      Thi
      thoảng
      Rất ít khi Không
      bao giờ
      1 Đọc tin tức giải trí, chơi game 70/120 42/120 7/1201 1/120
      2 Trao đổi mail, facebook… 80/120 35/120 4/120 1/120
      3 Tra cứu tài liệu học tập 40/120 60/120 15/120 5/120
      4 Tham gia khóa học trực tuyến 35/120 45/120 25/120 15/120
      5 Tìm các tài liệu để tự học, tự
      nghiên cứu mở rộng kiến thức
      các môn đang học
      40/120 60/120 15/120 5/120
      Phân tích số liệu cho thấy có 58,3% HS thường xuyên truy cập Internet để đọc tin
      tức, xem phim ảnh giải trí. Có 66,67% HS thường xuyên trao đổi mail, facebook, tán
      gẫu với bạn bè. HS sử dụng Internet phục vụ cho học tập rất hạn chế: cụ thể chỉ có
      33,33% HS tra cứu tài liệu học tập trên Internet; 29,1% HS tham gia các khóa học trực
      tuyến; 16,67% HS chưa bao giờ sử dụng Internet tìm các tài liệu để mở rộng hiểu biết,
      tìm hiểu những hiện tượng thực tế liên quan đến vấn đề đang học. Hầu như giải trí,
      giao lưu bạn bè là mục tiêu chính khi HS sử dụng Internet.
      0
      10
      20
      30
      40
      50
      60
      70
      80
      90
      1 2 3 4 5 6 7
      Mức độ kĩ năng tự học
      Tốt Khá TB
      7
      Biểu đồ 6: Thực trạng sử dụng Internet của HS
      Mức độ ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động dạy học
      Bảng 7: Mức độ ứng dụng CNTT vào hoạt động dạy học
      STT Mục đích và mức độ sử dụng
      Mức độ
      Thành
      thạo
      Khá TB Yếu
      1 Phần mềm soạn bài giảng (word) 4 6 0 0
      2 Phần mềm trình chiếu (powerpoint) 5 4 1 0
      3 Phần mềm xử lí số liệu (excel) 2 7 1 0
      4 Phần mềm khác (đồ họa, lập trình,
      thí nghiệm ảo…..) 0 3 6 1
      Kết quả khảo sát cho thấy: hầu hết GV đều tự đánh sử dụng ở mức độ thành thạo
      và khá đối với những phương tiện điện tử thông dụng như máy tính, máy chiếu,
      phương tiện nghe nhìn (chiếm từ 80 – 90%), không có GV tự đánh là sử dụng yếu. Đối
      với các hệ thống đa phương tiện, nhóm sử dụng thành thạo và khá còn thấp (chiếm từ
      30 – 40%), nguyên nhân do các hệ thống này chưa được trang bị phổ biến cho trường.
      Kết quả thể hiện qua biểu đồ dưới đây:
      0
      10
      20
      30
      40
      50
      60
      70
      80
      90
      1 2 3 4 5
      Thực trạng sử dụng Internet
      Thường xuyên Thi thoảng Rất ít khi Không bao giờ
      8
      Biểu đồ 7: Mức độ sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học
      Khảo sát việc sử dụng phương pháp dạy học
      Đa phần GV vẫn ưa chuộng sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống,
      đánh giá dựa trên mức độ thuộc bài cũ của HS (70% ). Dạy học nặng về thuyết trình,
      có đến 80% GV thường xuyên sử dụng phương pháp này. Rất ít GV tổ chức cho HS
      tích cực hoạt động. Phần lớn GV chưa chú tâm đến tổ chức rèn luyện các kĩ năng tự
      học cho HS. Tỷ lệ GV tổ chức cho HS hoạt động học tập, thảo luận nhóm, giúp HS
      tích cực, tự lực sáng tạo tham gia xây dựng bài chưa nhiều. Kiến thức HS nắm được
      chủ yếu thông qua hoạt động ghi nhớ, làm bài tập. Chỉ có 80% GV thỉnh thoảng sử
      dụng bài giảng điện tử và các phương tiện trực quan. Đa phần GV sử dụng phương
      pháp thực nghiệm trong giảng dạy chỉ ở mức độ không thường xuyên mặc dù Vật lí là
      một môn khoa học thực nghiệm. Nhiều giáo viên đã mô tả lại thí nghiệm bằng hình vẽ
      hoặc hoặc dùng các video clip để thay thế làm thực nghiệm, dù đó là nội dung có thể tổ
      chức thực nghiệm được.
      STT Phương pháp dạy học
      Mức độ
      Thường
      xuyên
      Thi
      thoảng
      Không sử
      dụng
      1 Phiếu học tập yêu cầu hs trả lời các câu hỏi
      chuẩn bị bài, có kiểm tra việc thực hiện
      6 4 0
      2 Kiểm tra bài cũ 7 3 0
      3 Phương pháp diễn giảng và thuyết trình khi ở
      trên lớp
      8 2 0
      4 Cho hs xem phim, ảnh trực quan….có sử dụng
      bài giảng điện tử
      2 8 0
      5 Phương pháp dạy học bằng thực nghiệm 0 9 1
      6 Tổ chức thảo nhóm 3 7 0
      0
      1
      2
      3
      4
      5
      6
      7
      8
      Thành thạo Khá TB Yếu
      Mức độ sử dụng CNTT vào dạy học
      1 2 3 4
      9
      Biểu đồ 8: Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học
      1.3. Giải pháp khắc phục nhược điểm của phương pháp dạy học truyền
      thống, tiếp cận chương trình GDPT 2018, đặc biệt trong việc dạy học trực tuyến.
      Sau khi tất cả các GV trong cả nước đều được Bộ Giáo dục và đào tạo tổ chức
      học tập, tập huấn, kiểm tra các Modul, hầu hết các GV bước đầu đã nắm được các
      phương pháp dạy học tích cực (phương pháp thảo luận nhóm; phương pháp đóng vai,
      phương pháp nghiên cứu tình huống, phương pháp dạy học theo dự án, phương pháp
      trạm-góc,…) và kĩ thuật dạy học tích cực (kĩ thuật chia nhóm; kĩ thuật đặt câu hỏi; kĩ
      thuật “khăn trải bàn”; kĩ thuật “phòng tranh”; kĩ thuật “công đoạn”; kĩ thuật “trình bày
      một phút”; kĩ thuật “hỏi chuyên gia”; kĩ thuật “bản đồ tư duy”…). Trong giảng dạy,
      người thầy đã phát huy được tính tích cực, chủ động trong việc dạy học. HS được bày
      tỏ ý kiến tình cảm, cách hiểu của mình, được thực hành giao tiếp nhiều hơn. Với tinh
      thần mới, giờ Vật lí không phải là giờ truyền thụ kiến thức đơn giản. Trong từng tiết
      dạy và sau tiết dạy, nhiều GV đã mạnh dạn phối hợp cùng học sinh tiếp cận, phân tích,
      tổng hợp và hình thành những tri thức cần đạt được theo các hoạt động hướng tới phát
      triển năng lực học sinh: Hoạt động trải nghiệm, hoạt động hình thành kiến thức, hoạt
      động thực hành, hoạt động ứng dụng và hoạt động bổ sung. GV đã linh hoạt sử dụng
      nhiều phương tiện dạy học để đạt được mục tiêu dạy học đã đề ra. Qua thực tế trên, có
      thể nói: Phương pháp dạy học bộ môn Vật lí theo tinh thần đổi mới đã có những tín
      hiệu khởi sắc, việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh đã và đang
      được tiếp cận một cách tích cực.
      Trước bối cảnh cả nước đang phải học tập trực tuyến do ảnh hưởng nặng nề của
      đại dịch Covid 19, vừa phải đáp ứng yêu cầu về đổi mới phương pháp, vừa thích ứng
      linh hoạt việc dạy học Online chúng tôi thấy việc vận dụng mô hình dạy học hiện đại
      mà công nghệ thông tin và truyền thông đa phương tiện quyết định sự thành công của
      mô hình dạy học đó, chính là dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược- Flipped
      Classroom là rất phù hợp. Ở đó thay vì bài giảng như thường lệ, giáo viên lại là một
      người hướng dẫn, ngược lại người học thay vì tiếp thụ kiến thức một cách thụ động,
      các em sẽ phải tự tiếp cận kiến thức ở nhà, tự mình trải nghiệm, khám phá, tìm tòi các
      thông tin liên hoan đến bài học để phục vụ cho việc học tập và chúng tôi đã áp dụng nó
      tại một số trường THPT có hiệu quả rõ rệt.
      0
      1
      2
      3
      4
      5
      6
      7
      8
      9
      10
      1 2 3 4 5 6
      Tần suất sử dụng các PPDH
      Thường xuyên Thi thoảng Không sử dụng
      10
    1. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
      2.1 Tìm hiểu khái niệm năng lực tự học để định hướng phát triển cho học
      sinh trong và sau giờ Vật lí.
      2.1.1. Năng lực và năng lực tự học của học sinh là gì?
      Năng lực là một phạm trù từng được bàn đến trong mọi lĩnh vực của cuộc sống
      xã hội. Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực. Theo từ điển tiếng Việt “Năng
      lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động
      nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành
      một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”.
      Đứng về góc độ tâm lí học, năng lực trở thành đối tượng nghiên cứu chuyên sâu
      từ thế kỷ XIX, trong các công trình thực nghiệm của F.Ganton năng lực có những biểu
      hiện như tính nhạy bén, chắc chắn, sâu sắc và dễ dàng trong quá trình lĩnh hội một hoạt
      động mới nào đó. Người có năng lực là người đạt hiệu suất và chất lượng hoạt động
      cao trong các hoàn cảnh khách quan và chủ quan như nhau. Năng lực gắn bó chặt chẽ
      với tính định hướng chung của nhân cách.
      Từ điển tâm lí học đưa ra khái niệm, năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm
      chất của tâm lí cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc thực
      hiện tốt một dạng hoạt động nhất định.
      Theo Cosmovici thì: “năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác
      biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi
      nhất định”. Còn A.N.Leonchiev cho rằng: “năng lực là đặc điểm cá nhân quy định việc
      thực hiện thành công một hoạt động nhất định”. Nhà tâm lí học A.Rudich đưa ra quan
      niệm về năng lực như sau: năng lực đó là tính chất tâm sinh lí của con người chi phối
      quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một
      hoạt động nhất định. Năng lực của con người không chỉ là kết quả của sự phát triển và
      giáo dục mà còn là kết quả hoạt động của các đặc điểm bẩm sinh hay còn gọi là năng
      khiếu. Năng lực đó là năng khiếu đã được phát triển, có năng khiếu chưa có nghĩa là
      nhất thiết sẽ biến thành năng lực. Muốn vậy phải có môi trường xung quanh tương ứng
      và phải có sự giáo dục có chủ đích.
      Như vậy, khi nói đến năng lực thì không phải là một thuộc tính tâm lí duy nhất
      nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ…) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lí
      cá nhân (sự tổng hợp này không phải phép cộng của các thuộc tính mà là sự thống nhất
      hữu cơ, giữa các thuộc tính tâm lí này diễn ra mối quan hệ tương tác qua lại theo một
      hệ thống nhất định và trong đó một thuộc tính nổi lên với tư cách chủ đạo và những
      thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc) đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm
      bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn.
      Tóm lại, dựa trên quan niệm của nhiều tác giả đưa ra ở trên có thể định nghĩa như
      sau: “Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất
      định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác
      như hứng thú, niềm tin, ý chí… năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức
      và khả năng hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống”.
      Như vậy, năng lực không mang tính chung chung mà khi nói đến năng lực, bao
      giờ người ta cũng nói về một lĩnh vực cụ thể nào đó như năng lực toán học của hoạt
      động học tập hay nghiên cứu toán học, năng lực hoạt động chính trị của hoạt động
      chính trị, năng lực dạy học của hoạt động giảng dạy… Năng lực của học sinh là một
      11
      cấu trúc động, có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là
      kiến thức, kỹ năng mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội… thể hiện ở tính sẵn
      sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện
      thực tế đang thay đổi của xã hội.
      2.1.2. Những biểu hiện của năng lực tự học.
      Năng lực tự học là một khái niệm trừu tượng và bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố.
      Trong nghiên cứu khoa học, để xác định được sự thay đổi các yếu tố của năng lực tự
      học sau một quá trình học tập, các nhà nghiên cứu đã tập trung mô phỏng, xác định
      những dấu hiệu của năng lực tự học được bộc lộ ra ngoài. Điều này đã được thể hiện
      trong một số nghiên cứu dưới đây: Candy [Philip Candy (1991), Self-direction for
      lifelong Learning: A comprehensive guide to theory and practice] đã liệt kê 12 biểu
      hiện của người có năng lực tự học. Ông chia thành 2 nhóm để xác định nhóm yếu tố
      nào sẽ chịu tác động mạnh từ môi trường học tập.
      Nhóm đặc biệt bên ngoài: chính là phương pháp học nó chứa đựng các kĩ năng
      học tập cần phải có của người học, chủ yếu được hình thành và phát triển trong quá
      trình học, do đó phương pháp dạy của GV sẽ có tác động rất lớn đến phương pháp học
      của học trò, tạo điều kiện để hình thành, phát triển và duy trì năng lực tự học. Nhóm
      đặc điểm bên trong (tính cách) được hình thành và phát triển chủ yếu thông qua các
      hoạt động sống, trải nghiệm của bản thân và bị chi phối bởi yếu tố tâm lí. Chính vì
      điều đó mà GV nên tạo môi trường để HS được thử nghiệm và kiểm chứng bản thân,
      đôi khi chỉ cần phản ứng đúng sai trong nhận thức hoặc nhận được lời động viên, khích
      lệ cũng tạo ra được động lực để người học phấn đấu, cố gắng tự học. Tác giả Taylor
      [Tay lor, B (1995), Self- directed Learning: Revisiting an idea most appropriare for
      middle school students] khi nghiên cứu về vấn đề tự học của HS trong trường THPT
      đã xác định năng lực tự học có những biểu hiện sau:
      12
      Năng lực tự học cũng là một khả năng, một phẩm chất “vốn có” của mỗi cá nhân.
      Tuy nhiên nó luôn luôn biến đổi tùy thuộc vào hoạt động của cá nhân trong môi trường
      văn hóa – xã hội. năng lực tự học là khả năng bẩm sinh của mỗi người nhưng phải
      được đào tạo, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn thì nó mới bộc lộ được những ưu
      điểm giúp cho cá nhân phát triển, nếu không sẽ mãi là khả năng tiềm ẩn. Thời gian mỗi
      chúng ta ngồi trên ghế nhà trường là rất ngắn ngủi so với cuộc đời vì vậy tự học và
      năng lực tự học của HS sẽ là nền tảng cơ bản đóng vai trò quyết định đến sự thành
      công của các em trên con đường phía trước và đó cũng chính là nền tảng để các em tự
      học suốt đời.
      Như vậy “Năng lực tự học là khả năng xác định được nhiệm vụ học tập một cách
      tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu thực
      hiện; thực hiện các phương pháp học tập hiệu quả; điều chỉnh những sai sót, hạn chế
      của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua tự đánh giá hoặc lời góp ý
      của gGV, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp khó khăn trong học tập”.
      2.2. Tìm hiểu mô hình lớp học đảo ngược và cách thức vận dụng mô hình đó
      trong dạy học Vật lí tại các trường THPT.
      Ở mô hình lớp học truyền thống người học đến trường nghe GV giảng bài một
      cách thụ động, hình thức này được gọi là Low thinking. Sau đó người học làm bài tập
      thực hành tại lớp hoặc tại nhà để xử lí thông tin và tiếp nhận kiến thức. Thời gian trên
      lớp bị giới hạn nên trong khi làm bài tập hoặc thực hành người học sẽ gặp khó khăn
      nếu không hiểu bài. Lúc này phụ huynh thành những người thầy, cô bất đắc dĩ giúp
      con làm bài nhưng hầu như không thành công hoặc rất vất vả vì không có chuyên môn.
      13
      Nguồn: http://vnexpress.net/giao-duc/lop-hoc-dao-nguoc-3141727.html
      Năm 2013 Brame cho rằng với mô hình “Lớp học đảo ngược”, người học phải tự
      làm việc với bài giảng trước thông qua đọc tài liệu, nghe giảng qua phương tiện hỗ trợ
      như băng đĩa, powerpoint và khai thác tài liệu trên internet. Đó là nhiệm vụ người học
      phải chuẩn bị trước khi lên lớp, trên lớp người học dành toàn bộ thời gian cho các hoạt
      động giải bài tập, giải quyết vẫn đề, thảo luận nhóm để xây dựng hiểu biết dưới sự
      hướng dẫn của GV; khi đó người GV đóng vai trò là người quản lí, hỗ trợ, có thể giúp
      HS giải quyết những điểm khó hiểu trong bài học mới.
      Theo các tác giả Barbara và Anderson (1998), Mc Dainel và Caverly (2010), ở
      lớp học đảo ngược thời gian lên lớp dành cho người học xử lí thông tin kiến thức với
      sự hỗ trợ của GV và bạn bè.
      Ở lớp học đảo ngược là tất cả hoạt động dạy học được thực hiện “đảo ngược ”
      so với thông thường . Sự “đảo ngược ” ở đây được hiểu là sự thay đổi với dụng ý và
      chiến lược sư phạm thể hiện ở cách triển khai các nội dung, mục tiêu dạy học và các
      hoạt động dạy học khác với cách truyền thống trước đây của n

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • 10 cách dạy trẻ tư duy phản biện hiệu quả nhất!

    10 cách dạy trẻ tư duy phản biện hiệu quả nhất!

    Theo các nhà giáo dục đã đánh giá, tư duy phản biện là kỹ năng thiết yếu đối với trẻ. Giúp trẻ dễ dàng có được thành công trong học tập cũng như cuộc sống sau này.

    Tư duy phản biện kết hợp cùng với khả năng đọc hiểu làm tăng sự phát triển giáo dục trẻ, đồng thời trang bị những kỹ năng giúp trẻ đạt được những mục tiêu trong đời.

    Tư duy phản biện là gì?

    Tư duy phản biện là khả năng tưởng tượng, áp dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá các thông tin. Lấy đó làm tiền đề cho hành động và đúc kết vấn đề. Nguồn thông tin thu thập bằng cách quan sát hoặc qua các kênh truyền thông. Sau đó được phân tích và  xử lý bằng kinh nghiệm, phản ánh, lập luận của bản thân. Từ đó, mới có thể nhận định rõ ràng vấn đề được truyền tải qua thông tin nhận được là gì.

    10 cách dạy trẻ tư duy phản biện hiệu quả nhất!

    Vậy làm thế nào để chúng ta có thể dạy con trẻ phân biệt được đâu là sự giả mạo và đâu là sự thật? Và làm gì để khích lệ tiềm năng tư duy bên trong con bạn?

    TOP 10 cách dạy trẻ tư duy phản biện hiệu quả nhất!

    #1 Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu ở trẻ

    Đọc hiểu là bước đầu tiên để phát triển các kỹ năng cần thiết sau này. Trẻ cần phân biệt điều nào hiểu và chưa hiểu khi đọc một trích dẫn, cuốn sách hoặc một tuyên bố. Từ đó, trẻ thực hành tốt và tìm ra những cách có thể giúp chúng cải thiện kỹ năng đọc hiểu.

    #2 Lắng nghe và thấu hiểu con cái

    Lắng nghe và thấu hiểu là kỹ năng rất quan trọng để dạy con tư duy phản biện. Thông qua việc trò chuyện cùng con, cha mẹ sẽ hiểu được những điều trăn trở mà con đang gặp. Đồng thời, đây cũng là cách để trẻ thấy được sự tôn trọng của mọi người dành cho mình. Từ đó, trẻ cũng cởi mở hơn trong việc nêu ra từng quan điểm của bản thân. 

    10 cách dạy trẻ tư duy phản biện hiệu quả nhất!

    Có một điểm lưu ý khi lắng nghe con cái, đó là thái độ của cha mẹ. Hãy lắng nghe bằng cả tấm lòng yêu thương, chân thành và kiên trì với trẻ. Không nên lắng nghe theo kiểu hời hợt, cho có. Vì trẻ em thường hay lặp lại những hành động của cha mẹ chúng. Nếu cha mẹ lắng nghe hời hợt thì trẻ cũng lắng nghe hời hợt, thiếu văn minh. 

    #3 Thường xuyên đặt câu hỏi mở cho con

    Tạo cho trẻ thói quen suy nghĩ mọi tình huống chính là một trong những cách rèn luyện tư duy phản biện. Vậy nên, cha mẹ cần thường xuyên đưa ra những câu hỏi mở để trẻ tự tìm kiếm câu trả lời tốt nhất cho riêng mình. 

    Cha mẹ có thể hỏi con theo kiểu câu “Con nghĩ việc gì sẽ diễn ra?” hoặc những câu hỏi mang tính so sánh, phản biện. Ví dụ như: “Con nghĩ việc gì sẽ diễn ra nếu con không làm bài tập?” hay “Con nghĩ mùa hè đẹp hơn hay mùa xuân đẹp hơn?”.

    Cha mẹ nên tôn trọng mọi câu trả lời của trẻ. Dù chính xác hay không thì vẫn nên khích lệ và tiếp tục đặt câu hỏi xoay quanh vấn đề đó: “Cách suy nghĩ của con thật thú vị, con có thể nói cho cha/ mẹ biết vì sao con lại nghĩ như thế không?”.

    Đặt câu hỏi để trẻ phản biện lại vấn đề cũng là cách để cha mẹ hiểu hơn về cách suy nghĩ của trẻ. Từ đó, dễ dàng đưa ra những phương pháp dạy dỗ, rèn luyện phù hợp với trẻ nhất. 

    Gợi ý con bạn hỏi và tự trả lời các câu hỏi liên quan đến đề tài mà trẻ chuẩn bị đọc. Đây là cách tuyệt vời để giúp trẻ hăng hái và tập trung tốt hơn khi đọc sách. Trẻ hiểu tốt hơn khi diễn giải hoặc kể lại những nội dung đã đọc . Việc này còn giúp các phụ huynh tìm ra được điểm mạnh và điểm yếu trong việc đọc hiểu của con. Thêm vào đó, trẻ cũng có cơ hội thực hành khả năng phê bình, nhận định.

    #4 Rèn luyện “siêu nhận thức”

    “Siêu nhận thức” là sự suy nghĩ, nhận thức và hiểu biết về diễn biến tư duy của một người. Đó là quá trình con bạn suy nghĩ cách để hiểu thông tin tiếp nhận. Dần dần nâng cao kỹ năng đọc hiểu của trẻ. Cha mẹ nên hỏi con về những câu hỏi nền tảng như tại sao, ở đâu, ai, khi nào và bằng cách nào dựa theo một đoạn văn hoặc một câu chuyện trẻ đọc.

    Mời bạn tham khảo Siêu nhận thức Metacognition là gì?

    #5 Nâng cao khả năng kết nối sự việc

    Luyện cho trẻ kĩ năng kết nối thông tin khi đọc. Yêu cầu chúng tìm ra cách liên kết các đoạn văn với nhau. Hướng cho bé kĩ năng dự đoán kết thúc của một câu chuyện, sự vật, hiện tượng. Qua đó thúc đẩy khả năng ứng phó tình huống và đưa ra những phân tích quan trọng về những kết quả tiềm ẩn.

    #6 Yêu cầu trẻ tóm tắt vấn đề

    Tập cho trẻ tóm tắt câu chuyện hoặc một sự việc, thông tin nào đó. Yêu cầu trẻ nêu ra điểm quan trọng trong câu chuyện. Hỏi con bạn đâu là ý tưởng chính của chương và các nhân vật đóng vai. Điều này giúp con bạn nhớ và hiểu những gì đã đọc.

    #7 Khuyến khích trẻ thuyết phục vấn đề

    Kỹ năng thuyết phục là yếu tố cần thiết để xây dựng tư duy phản biện. Với những việc trẻ làm sai, cha mẹ nên tìm cách dạy con biết nhìn nhận điểm sai và đưa ra hướng khắc phục. Còn nếu trẻ nghĩ việc đó là đúng, cha mẹ cần gợi ý cho con những cách để thuyết phục đối phương. 

    Ban đầu, cha mẹ đừng phủ nhận những lời nói hay chê bai con vì những lý lẽ chưa chính đáng. Mà hãy từ tốn bảo với trẻ “Mẹ thấy lý do này chưa thuyết phục. Mẹ nghĩ con nên làm như thế này…, con thấy như vậy có được không?”. Với câu nói này, cha mẹ cũng đã dạy con cách đào sâu vấn đề, tăng khả năng phân tích và tư duy của trẻ. 

    Ngoài ra, để phản biện lại mọi ý kiến từ trẻ, cha mẹ cũng cần phải đưa ra những bằng chứng thuyết phục. Cha mẹ nên cùng con tìm hiểu những thông tin về vấn đề đó trên sách vở, Internet,… Và nếu như những ý tưởng của trẻ tốt hơn, cha mẹ nên chấp nhận điều đó và khen ngợi trẻ. 

    #8 Luyện cho trẻ cách “mổ xẻ” từng vấn đề

    Muốn dạy con tư duy phản biện được hiệu quả nhất, cha mẹ nên cho trẻ em học theo phương pháp PEE để nêu lên quan điểm của mình. PEE là từ viết tắt của các từ: Point: chỉ ra vấn đề, Envidence: bằng chứng và Explain: giải thích. Ngoài ra, hãy cùng con sáng tạo nên sơ đồ tư duy về một vấn đề, tình huống nào đó. Để giúp trẻ khái quát và hiểu rõ sự vật, sự việc sau đó đưa ra quyết định cho hợp lý. 

    • Bước 1: Tóm tắt vấn đề, tình huống đơn giản.
    • Bước 2: Phân tích kỹ vấn đề cần giải quyết.
    • Bước 3: Liệt kê những cách làm mang tính khả thi. 
    • Bước 4: Liệt kê những điều không nên làm. 
    • Bước 5: Lựa chọn và đưa ra quyết định. 
    • Bước 6: Đánh giá lại sự thành công và thất bại của quyết định.

    Cha mẹ cần dạy con tư duy phản biện càng sớm càng tốt để có hiệu quả tối ưu nhất. Bởi khả năng trí tuệ, thay đổi nhận thức của trẻ phát triển mạnh từ lúc 2 đến 10 tuổi. Khi rèn luyện những phương pháp ở trên, trẻ sẽ có năng lực tự phân tích và giải quyết mọi vấn đề trong cuộc sống. Đây là giá trị cốt lõi mà cha mẹ cần trang bị để con yêu của mình tự tin hơn khi bước vào đời.  

    #9 Chơi giải đố và đọc báo cùng con

    Bạn hãy đặt những câu đố từ đơn giản đến khó và cùng con tìm ra đáp án. Qua đó, con bạn sẽ học được cách phân tích thông tin một cách logic và khoa học nhất. Vừa là trò chơi bổ ích, vừa giúp con có thể chủ động rèn luyện trí não thay vì mất thời gian vào youtube hàng giờ liền.

    10 cách dạy trẻ tư duy phản biện hiệu quả nhất!

    Hãy chọn ra một bài báo có chủ đề thích hợp và đọc cùng với trẻ. Yêu cầu con tìm kiếm các lỗ hổng hoặc các thông tin hàm ý. Bạn theo dõi xem bé có biết cách tư duy xử lý vấn đề hay không. Sau đó,  hãy hướng dẫn cách phân tích và sử dụng kỹ năng tư duy phê bình, nhận định.

    #10 Khuyến khích trẻ đặt câu hỏi

    Xây dựng khối tư duy phản biện bao gồm việc đưa ra những tình huống thách thức và đặt ra những câu hỏi thường xảy ra trong thực tế. Điều quan trọng là bạn cần vượt qua cảm giác buồn chán khi tương tác với trẻ.

    Bằng cách thấm nhuần các kỹ năng tư duy phản biện sớm trong cuộc đời, bạn đang giảng dạy cho trẻ em cách phân tích thế giới xung quanh. Đây là tiền đề giúp con bạn vững bước vào đời và dễ dàng gặt hái thành công.

  • SKKN Xây dựng Rubric để tổ chức và đánh giá quá trình dạy học một số kiến thức chương Cảm ứng điện từ Vật lý 11

    SKKN Xây dựng Rubric để tổ chức và đánh giá quá trình dạy học một số kiến thức chương Cảm ứng điện từ Vật lý 11

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Trong nhà trường hiện nay, việc dạy học không chỉ chủ yếu là dạy cái gì mà
    còn dạy học như thế nào. Đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu cấp bách có
    tính chất đột phá để nâng cao chất lượng dạy học. Đổi mới phương pháp dạy học đòi
    hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ đổi mới từ nội dung chương trình sách giáo
    khoa, phương pháp dạy học cho đến kiểm tra – đánh giá kết quả dạy học. Kiểm tra –
    đánh giá là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học và quản lý giáo dục.
    Nếu kiểm tra – đánh giá sai dẫn đến nhận định sai về chất lượng đào tạo gây tác hại to
    lớn trong việc sử dụng nguồn nhân lực. Vậy đổi mới kiểm tra – đánh giá trở thành nhu
    cầu bức thiết của ngành giáo dục và toàn xã hội ngày nay. Kiểm tra – đánh giá đúng
    thực tế, chính xác và khách quan sẽ giúp người học tự tin, hăng say, nâng cao năng
    lực sáng tạo trong học tập.
    Để thực hiện được mục tiêu đổi mới này, trong thời gian qua ngành giáo dục đã
    có nhiều nỗ lực xây dựng lại chương trình theo hướng cập nhật và giảm tải, áp dụng
    phương pháp giáo dục chủ động với triết lý lấy người học làm trung tâm.
    Tuy nhiên, bên cạnh những lực lượng giáo viên liên tục đổi mới phương pháp
    kiểm tra – đánh giá nhằm phát triển phẩm chất năng lực của học sinh thì vẫn còn một
    bộ phận giáo viên còn đi theo lối mòn với cách kiểm tra – đánh giá lạc hậu, thiếu
    khách quan, chưa chính xác, hơn nữa lại đi ngược với mục tiêu của chương trình giáo
    dục phổ thông 2018.
    Đã có nhiều công cụ hỗ trợ cho việc kiểm tra – đánh giá được nghiên cứu và áp
    dụng thành công tại nhiều nước trên thế giới, Việt Nam cũng đang từng bước triển trai
    áp dụng. Tuy nhiên trong đề tài này, chúng tôi chỉ đề cập đến việc nghiên cứu mô
    hình áp dụng bảng rubric để tổ chức và đánh giá quá trình dạy học, cụ thể là ” Xây
    dựng rubric để tổ chức và đánh giá quá trình dạy học chương “cảm ứng điện từ” – Vật
    lí 11 “
    2
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP

    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
      1.1. Thực trạng áp dụng bảng rubric để tổ chức và đánh giá quá trình dạy học
      đối với bộ môn Vật lí ở trường THPT
      Trong quá trình thực hiện đề tài, để biết được thực trạng áp dụng bảng rubric để
      tổ chức và đánh giá quá trình dạy học đối với bộ môn Vật lí ở trường THPT chúng tôi
      đã thực hiện điều tra bằng phiếu, dự giờ đồng nghiệp, trực tiếp hỏi ý kiến đồng nghiệp
      là các giáo viên dạy bộ môn Vật lí và các bộ môn khác ở trường THPT B Hải Hậu,
      THPT An Phúc, THPT Vũ Văn Hiếu, THPT C Hải Hậu.
      Chúng tôi tiến hành điều tra trên các đối tượng: Học sinh lớp 11,12 của trường
      THPT B Hải Hậu, các giáo viên trong nhóm Vật lí của các trường: THPT B Hải Hậu (
      4 GV), THPT An Phúc ( 3 GV), THPT Vũ Văn Hiếu (5 GV), THPT C Hải Hậu ( 5
      GV) ở thời điểm giữa tháng 12 năm 2021. Kết quả như sau:
      Bảng 1: Thống kê phiếu điều tra giáo viên và học sinh
      Nội dung phiếu
      điều tra
      Đối tượng điều tra Số phiếu điều tra Số phiếu thu vào
      Phiếu 1 Học sinh lớp 12 120 120
      Phiếu 2 Học sinh lớp 11 300 300
      Phiếu 3 Giáo viên Vật lí 17 17
      Qua việc phân tích kết quả điều tra, chúng tôi đã rút ra được một số vấn đề sau:
    • Về phía giáo viên:
    • Nhiều giáo viên kiểm tra – đánh giá một chiều, chỉ có giáo viên đánh giá học sinh
      mà ngược lại học sinh không thể tự kiểm tra, đánh giá mình.
    • Một số giáo viên chỉ chú trọng đánh giá kết quả học tập của học sinh mà quên đi
      việc đánh giá quá trình học tập của các em học sinh.
    • Nhiều giáo viên đã cho học sinh hoạt động nhóm nhưng ít sử dụng rubric để kiểm
      tra – đánh giá quá trình dạy học và kết quả học tập của học sinh, một số giáo viên còn
      rất mơ hồ về lí thuyết của rubric.
      3
    • Khi yêu cầu học sinh làm dự án nhóm, bài tập nhóm, giáo viên thường mô tả yêu
      cầu nhưng không cho học sinh một tiêu chí cụ thể để đánh giá được chất lượng của
      sản phẩm. Dẫn đến học sinh có thể làm hời hợt hoặc quá căng thẳng khi được tham
      gia một hoạt động nhóm.
    • Về phía học sinh:
      Trong quá trình học, học sinh đa số tiếp thu thụ động
    • Trên lớp, hoạt động chủ yếu của học sinh là lắng nghe thông báo, diễn giảng của
      giáo viên và ghi chép lại những điều giáo viên ghi trên bảng hay những câu trả lời
      được giáo viên nhấn mạnh hoặc nhắc lại nhiều lần, ít khi các em hoạt động nhóm để
      thảo luận tìm ra câu trả lời cho các vấn đề giáo viên nêu ra.
    • Ở nhà, đến 80% học sinh thường chỉ học theo vở ghi trên lớp hay theo sách giáo
      khoa.
    • Chỉ 20% số học sinh chịu khó suy nghĩ và nghiên cứu các kiến thức mới của bài
      học.
    • Nhiều học sinh cảm thấy đề kiểm tra và đề thi trong đó có nhiều đề nặng về yêu cầu
      tái hiện kiến thức. Một số đề quá khó hoặc quá dễ, không phù hợp với trình độ, khả
      năng của học sinh, không phù hợp với sự phân bố thời gian nên học sinh bị ức chế,
      chán nản và lười học.
    • Học sinh mong muốn được hoạt động nhóm, được chế tạo các sản phẩm ứng dụng
      Vật lí trong thực tiễn, nhưng không biết bắt đầu từ đâu, tiêu chí để đánh giá hoạt động
      nhóm, sản phẩm như thế nào.
    • Nhiều học sinh không biết rõ mục tiêu của bài học, chưa biết trước mình sẽ học
      được kiến thức nào và chưa biết rõ cái đích mà mình phải đạt tới.
    • Học sinh chưa được giáo viên đặt vào vị trí chủ thể, là trung tâm của quá trình dạy
      học, cho nên dẫn tới tư duy chỉ là sự ghi nhớ, tái hiện mà thiếu tính tích cực, tự chủ và
      sáng tạo.
    • Những khó khăn mà học sinh gặp phải khi học chương “Cảm ứng điện từ” của
      chương trình Vật lí 11: Phần đông học sinh cho rằng, các khái niệm các đại lượng
      4
      của phần này mang tính trừu tượng, khó hình dung như: khái niệm và ý nghĩa từ
      thông, định nghĩa về đơn vị vêbe (Wb), xác định chiều dòng điện cảm ứng theo định
      luật Len-xơ, quan hệ giữa suất điện động cảm ứng và định luật Len-xơ, sự chuyển hóa
      năng lượng trong hiện tượng cảm ứng điện từ… Và chưa vận dụng được các kiến thức
      lí thuyết về chương này cho các hiện tượng thực tiễn.
      1.2. Giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng bảng rubric trong dạy học để tăng
      tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học sinh
      Các tổ chuyên môn của nhà trường cần nhân rộng mô hình kiểm tra, đánh giá
      quá trình dạy học bằng rubric. Với nhóm Vật lí, tuyên truyền để giáo viên nhận thức
      được trong dạy học Vật lí, người giáo viên cần phát huy tính tích cực của học sinh
      bằng cách tạo nhu cầu hứng thú, kích thích tính tò mò, ham hiểu biết của học sinh;
      xây dựng lôgic nội dung phù hợp với đối tượng học sinh; cho học sinh biết rõ mục
      tiêu dạy học, biết trước mình sẽ học được kiến thức nào và biết rõ cái đích mà mình
      phải đạt tới.
      Kiểm tra – đánh giá đúng thực tế, chính xác và khách quan sẽ giúp học sinh tự
      tin, hăng say, nâng cao năng lực sáng tạo trong học tập. Cần xây dựng bộ tiêu chí ứng
      với các mức điểm cụ thể để đánh giá từng cá nhân học sinh, nhóm học sinh; cho học
      sinh tham gia vào quá trình đánh giá bạn và đánh giá chính mình để biết được những
      tồn tại của bản thân và tự điều chỉnh, đồng thời tham gia tích cực vào quá trình xây
      dựng bài và hoạt động nhóm.
    1. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
      2.1. Cơ sở lí luận của kiểm tra – đánh giá kết quả học tập
      2.1.1. Các khái niệm cơ bản
      a, Đánh giá
    • Đánh giá trong giáo dục là một quá trình thu thập, tổng hợp và diễn giải thông tin về
      đối tượng cần đánh giá ( ví dụ như kiến thức, kĩ năng, năng lực của HS, kế hoạch dạy
      học, chính sách giáo dục) qua đó hiểu biết và đưa ra được các quyết định cần thiết về
      đối tượng.
      5
    • Đánh giá trong lớp học là một quá trình thu thập, tổng hợp và diễn giải thông tin liên
      quan đến hoạt động học tập và trải nghiệm của học sinh nhằm xác định những gì học
      sinh hiểu, biết và làm được. Từ đó đưa ra quyết định phù hợp tiếp theo trong quá trình
      giáo dục học sinh.
    • Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập thông tin về kết quả học tập của HS và
      được diễn giải bằng điểm số/ chữ hoặc nhận xét của GV, từ đó biết được mức độ đạt
      được của HS trong các biểu điểm đang được sử dụng hoặc trong tiêu chí đánh giá
      trong nhận xét của GV.
      b, Kiểm tra
      Kiểm tra là một cách tổ chức đánh giá, do đó nó có ý nghĩa và mục tiêu như
      đánh giá. Việc kiểm tra chú ý nhiều đến việc xây dựng công cụ đánh giá, ví dụ như
      câu hỏi, bài tập, đề kiểm tra. Các công cụ này được xây dựng trên một căn cứ xác
      định, chẳng hạn như đường phát triển năng lực hoặc các rubric trình bày nhiều tiêu
      chí đánh giá.
      Như vậy, trong giáo dục:
    • Kiểm tra, đánh giá là một khâu không thể tách rời của quá trình dạy học.
    • Kiểm tra, đánh giá là công cụ hành nghề của giáo viên.
    • Kiểm tra, đánh giá là một bộ phận quan trọng của quản lí giáo dục, quản lí chất
      lượng dạy và học.
      2.1.2. Mục đích của kiểm tra – đánh giá trong giáo dục
      Kiểm tra, đánh giá trong giáo dục có mục đích chung là cung cấp thông tin để
      ra các quyết định về dạy học và giáo dục. Có ba cấp độ đối tượng sử dụng thông tin
      này:
    • Cấp độ trực tiếp dạy và học.
    • Cấp độ hỗ trợ hoạt động dạy và học.
    • Cấp độ ra chính sách.
      2.1.3. Các loại hình đánh giá trong giáo dục
      6
      Có nhiều cách phân loại các loại hình đánh giá trong giáo dục dựa vào các đặc
      điểm như quy mô, vị trí của người đánh giá; đặc tính của câu hỏi; tính chất thường
      xuyên hay thời điểm hoặc tính chất quy chiếu của mục tiêu đánh giá…
      Đánh giá trong giáo dục thường có một số loại hình chính như sau:
    • Đánh giá tổng kết và đánh giá quá trình.
    • Đánh giá sơ khởi và đánh giá chẩn đoán.
    • Đánh giá dựa theo chuẩn và đánh giá dựa theo tiêu chí.
    • Đánh giá chính thức và đánh giá không chính thức.
    • Đánh giá khách quan và đánh giá chủ quan.
    • Đánh giá trên lớp học, đánh giá dựa vào nhà trường và đánh giá trên diện rộng.
    • Đánh giá cá nhân và đánh giá nhóm.
    • Tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng.
    • Đánh giá xác thực.
    • Đánh giá sáng tạo.
      2.1.4. Quan điểm hiện đại về kiểm tra đánh giá kết quả học tập, giáo dục theo
      hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh
    • Đánh giá là học tập: Diễn ra thường xuyên trong quá trình dạy học, tập trung vào
      khả năng tự đánh giá của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên với hình thức
      chính là tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng; coi đó như là một hoạt động học tập để
      HS thấy được sự tiến bộ của chính mình so với yêu cầu cần đạt của bài học/môn học,
      từ đó HS tự điều chỉnh việc học.
    • Đánh giá vì học tập: Diễn ra thường xuyên trong quá trình dạy học nhằm phát hiện
      sự tiến bộ của người học từ đó hỗ trợ, điều chỉnh quá trình dạy học. Việc chấm điểm,
      cho điểm, xếp loại không nhằm so sánh giữa các học sinh với nhau, mà để làm nổi bật
      những điểm mạnh, điểm yếu của mỗi HS và cung cấp cho họ thông tin phản hồi để
      tiếp tục việc học của mình ở các giai đoạn học tập tiếp theo. Với cách đánh giá này,
      GV giữ vai trò chủ đạo trong đánh giá kết quả học tập, nhưng người học cũng được
      tham gia vào quá trình đánh giá.
      7
    • Đánh giá kết quả học tập: Có mục tiêu chủ yếu là đánh giá tổng kết, xếp loại, lên
      lớp và chứng nhận kết quả. Đánh giá này diễn ra sau khi học sinh học xong một giai
      đoạn học tập, nhằm xác định xem các mục tiêu học tập có được thực hiện và đạt được
      mục đích nào. Giáo viên là trung tâm của quá trình đánh giá và học sinh không được
      tham gia vào các khâu của quá trình đánh giá.
      2.1.5. Nguyên tắc kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất, năng
      lực cho học sinh THPT
      a, Đảm bảo tính toàn diện, tính linh hoạt
      Việc đánh giá năng lực hiệu quả nhất khi phản ánh được sự hiểu biết đa chiều,
      tích hợp về bản chất của các hành vi được bộc lộ theo thời gian. Năng lực là một tổ
      hợp, đòi hỏi không chỉ sự hiểu biết mà là những gì họ có thể làm với những gì họ biết;
      nó bao gồm không chỉ có kiến thức, khả năng mà còn là giá trị, thái độ và thói quen
      hành vi ảnh hưởng đến mọi hoạt động. Do vậy, đánh giá cần phản ánh những hiểu biết
      bằng cách sử dụng đa dạng các phương pháp nhằm mục đích mô tả một bức tranh
      hoàn chỉnh hơn và chính xác năng lực của người được đánh giá.
      b, Đảm bảo tính phát triển
      Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình kiểm tra, đánh giá có thể phát hiện sự tiến
      bộ của HS, chỉ ra những điều kiện để cá nhân đạt kết quả tốt hơn về phẩm chất và
      năng lực, phát huy khả năng tự cải thiện của HS trong hoạt động dạy học và giáo dục.
      c, Đảm bảo đánh giá trong bối cảnh thực tiễn
      Để chứng minh người học có phẩm chất và năng lực ở mức độ nào đó, phải tạo cơ
      hội để họ được giải quyết vấn đề trong tính huống, bối cảnh mang tính thực tiễn. Vì
      vậy kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS chú trọng
      việc xây dựng những tình huống, bối cảnh thực tiễn để học sinh được trải nghiệm và
      thể hiện mình.
      d, Đảm bảo phù hợp với đặc thù môn học
      Mỗi môn học có những yêu cầu riêng về năng lực đặc thù cần hình thành cho HS,
      vì vậy, việc kiểm tra, đánh giá cũng phải đảm bảo tính đặc thù của môn học nhằm
      8
      định hướng cho GV lựa chọn những phương pháp, công cụ đánh giá phù hợp với mục
      tiêu và yêu cầu cần đạt của môn học.
      2.1.6. Quy trình kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực
      của học sinh THPT
    • Bước 1: Phân tích mục đích đánh giá, mục tiêu học tập sẽ đánh giá: Các phẩm chất
      về năng lực chung, năng lực đặc thù.
    • Bước 2: Xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá
    • Xác định thông tin, bằng chứng về năng lực, phẩm chất.
    • Phương pháp, công cụ để thu thập thông tin, bằng chứng về năng lực, phẩm chất.
    • Xác định cách xử lí thông tin, bằng chứng thu thập được.
    • Bước 3: Lựa chọn, thiết kế công cụ kiểm tra, đánh giá: Câu hỏi, bài tập, bảng kiểm,
      hồ sơ, phiếu đánh giá theo tiêu chí…
    • Bước 4: Thực hiện kiểm tra, đánh giá: Thực hiện theo các yêu cầu, kĩ thuật đối với
      các phương pháp, công cụ đã lựa chọn, thiết kế nhằm đạt mục tiêu kiểm tra, đánh giá
      phù hợp với từng loại hình đánh giá: GV đánh giá, HS tự đánh giá, các lực lượng khác
      tham gia đánh giá.
    • Bước 5: Xử lí, phân tích kết quả kiểm tra, đánh giá
    • Phương pháp định tính/ định lượng.
    • Sử dụng các phầm mềm thống kê…
    • Bước 6: Giải thích kết quả và phản hồi kết quả đánh giá
    • Giải thích kết quả, đưa ra những nhận định về sự phát triển của người học về năng
      lực, phẩm chất so với mục tiêu và yêu cầu cần đạt.
    • Lựa chọn cách phản hồi kết quả đánh giá: Bằng điểm số, nhận định/ nhận xét, mô tả
      năng lực, phẩm chất đạt được…
    • Bước 7: Sử dụng kết quả đánh giá trong phát triển năng lực, phẩm chất HS: Trên cơ
      sở thu được, sử dụng để điều chỉnh hoạt động dạy học, giáo dục nhằm phát triển năng
      lực, phẩm chất HS; thúc đẩy HS tiến bộ.
      2.1.7. Kiểm tra – đánh giá trong môn Vật lí
      9
      2.1.7.1. Yêu cần đạt theo năng lực Vật lí
      a, Nhận thức Vật lí
      Nhận thức được kiến thức, kĩ năng phổ thông cốt lõi về
    • mô hình hệ vật lí;
    • năng lượng và sóng;
    • lực và trường;
    • nhận biết được một số ngành, nghề liên quan đến Vật lí
      b, Tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ Vật lí
      Tìm hiểu được một số hiện tượng, quá trình Vật lí đơn giản, gần gũi trong đời
      sống và trong thế giới tự nhiên theo tiến trình; sử dụng được các chứng cứ khoa học
      để kiểm tra các dự đoán, lí giải các chứng cứ, rút ra các kết luận.
      c, Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học
      Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học trong một số trường hợp đơn giản, bước đầu
      sử dụng toán học như một công cụ ngôn ngữ và công cụ để giải quyết được vấn đề.
      2.1.7.2. Đánh giá kết quả giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông môn
      Vật lí
      a, Mục tiêu đánh giá
    • Thu thập thông tin trung thực, kịp thời, có giá trị về mức độ đáp ứng yêu cầu cần
      đạt và sự tiến bộ của học sinh.
    • Hướng dẫn hoạt động học tập và điều chỉnh hoạt động dạy học.
      b, Căn cứ đánh giá
    • Các yêu cần cần đạt về phẩm chất, năng lực chung.
    • Các yêu cầu cần đạt về năng lực Vật lí.
      c, Tình huống đánh giá
    • Cần thiết kế các tình huống xuất hiện vấn đề cần giải quyết.
    • Giúp học sinh bộc lộ năng lực của mình.
      d, Trọng tâm đánh giá
      10
    • Nhận thức cốt lõi về: mô hình hệ vật lí, năng lượng và sóng, lực và trường, ngành
      nghề liên quan đến Vật lí.
    • Các kĩ năng thí nghiệm, thực hành, tìm hiểu khoa học, vận dụng những điều đã học
      để giải thích một số hiện tượng Vật lí đơn giản.
      e, Hình thức đánh giá
    • Tự đánh giá, đồng đẳng, chéo.
    • Quan sát hoạt động, phân tích, thuyết trình.
    • Vấn đáp, bài tập, kiểm tra, rubric, câu hỏi.
    • Thường xuyên, định kì, quá trình, tổng kết.
      2.2. Cơ sở lí luận của rubric
      2.2.1. Khái niệm rubric
      Rubric là một bản mô tả cụ thể các tiêu chí đánh giá và các mức độ đạt được của
      từng tiêu chí đó về quá trình hoạt động hoặc một sản phẩm của học sinh.
      Như vậy, rubric bao gồm hai yếu tố cơ bản: các tiêu chí đánh giá và các mức độ
      đạt được của từng tiêu chí, trong đó các mức độ thường được thể hiện dưới dạng
      thang mô tả hoặc kết hợp giữa thang số và thang mô tả

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT