• SKKN Phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập thông qua tổ chức dạy học theo chủ đề Lịch sử Việt Nam 1945 1954 Lớp 12 chương trình cơ bản

    SKKN Phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập thông qua tổ chức dạy học theo chủ đề Lịch sử Việt Nam 1945 1954 Lớp 12 chương trình cơ bản

    . ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Lịch sử (LS) là môn học có vai trò, tác động to lớn trong việc giáo dục thế
    hệ trẻ những phẩm chất, nhân cách của một con người phát triển toàn diện. Các
    nhà sử học cổ đại đã khẳng định “Lịch sử là cô giáo của cuộc sống”, “Lịch sử
    là bó đuốc soi đường đi đến tương lai” [32, tr.95]. Nhà văn dân chủ Nga thế kỉ
    XIX, Tsecnưsépxki đã từng viết: “Có thể không biết, không cảm thấy say mê
    học Toán, tiếng Hilạp hoặc chữ Latinh, Hóa học, có thể không biết hàng nghìn
    môn học khác, nhưng dù sao đã là người có giáo dục mà không yêu thích LS thì
    chỉ có thể là một con người không phát triển đầy đủ trí tuệ” [39, tr.72].
    Tuy nhiên, có một thực trạng đáng buồn hiện nay phần lớn học sinh (HS)
    không thích tìm hiểu về lịch sử dân tộc (LSDT), ngày càng nhiều em cho rằng
    học Sử chỉ là thuộc lòng mất nhiều thời gian, coi đó là môn học của các sự kiện
    ghi nhớ khô khan, nhàm chán. Sự phát triển nhanh chóng của xã hội hiện đại với
    xu thế hội nhập khu vực và quốc tế ngày càng mạnh mẽ, những tác động của cơ
    chế thị trường, lối sống thực dụng… đã dẫn đến một bộ phận không nhỏ phụ
    huynh, HS không coi trọng môn học LS, lựa chọn môn học, ngành học nào có
    thu nhập cao. Điều này được thể hiện rõ trong quá trình dạy học môn học LS ở
    các nhà trường và nhất là qua kì thi tốt nghiệp Trung học phổ thông (THPT) để
    đăng kí xét tuyển vào các trường Cao đẳng và Đại học. Các nhà giáo dục đã đi
    tìm nguyên nhân, xác định các giải pháp giúp HS yêu thích môn học LS, trong
    đó đặc biệt nhấn mạnh đến việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) của thầy

    • trò theo hướng phát triển năng lực của các em.
      Đổi mới PPDH được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng của
      cải cách giáo dục sau 2015 ở Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW
      ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện
      giáo dục và đào tạo“Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo
      hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
      thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ
      máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để
      2
      người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực chuyển
      từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt
      động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
      thông tin và truyền thông trong dạy và học”[2].
      Thực hiện chủ trương trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức triển khai
      tập huấn đổi mới cách dạy học theo chủ đề/chuyên đề cho giáo viên (GV) toàn
      quốc từ năm học 2014-2015 nhằm giúp họ nhận thức và thực hiện tốt hơn việc
      đổi mới để từng bước nâng cao chất lượng dạy học bộ môn. Dạy học theo chủ đề
      có nhiều điểm mới so với cách dạy truyền thống: các nhiệm vụ học tập được
      giao cho HS, các em chủ động tìm hướng giải quyết vấn đề; kiến thức không
      vụn vặt, riêng lẻ mà được tổ chức lại thành hệ thống, có quan hệ chặt chẽ; HS
      sau phần học không chỉ là hiểu, biết, vận dụng mà còn biết phân tích, tổng hợp,
      đánh giá.
      Thực tế việc vận dụng dạy học theo chủ đề hiện nay ở trường phổ thông
      còn nhiều bất cập, hiệu quả chưa cao. Một số GV chưa nhận thức đúng tầm quan
      trọng của việc triển khai bài học theo chủ đề để phát huy vai trò tích cực, chủ
      động, sáng tạo của HS, nên chưa thật sự quan tâm tổ chức dạy học theo chủ đề
      trong các giờ học LS. Phần lớn việc dạy học đã có những đổi mới tích cực
      nhưng vẫn còn có những hạn chế. Tình trạng dạy học theo kiểu tóm tắt sách giáo
      khoa (SGK), nặng về truyền thụ kiến thức vẫn còn khá phổ biến. HS thụ động và
      phụ thuộc nhiều vào GV trong quá trình tiếp nhận kiến thức. Nếu có thực hiện
      dạy học theo chủ đề thì GV vẫn chủ yếu sử dụng một số PPDH như vấn đáp,
      thuyết trình, thảo luận nhóm… chưa vận dụng nhiều các PPDH hiện đại vào
      trong giờ học LS. Vì vậy, việc tổ chức dạy học theo chủ đề chưa thực sự phát
      huy được vai trò vốn có của nó. Cho nên HS cảm thấy giờ học LS còn nặng nề,
      nhàm chán, nhiều em không hứng thú với bộ môn LS, làm cho chất lượng dạy
      học bộ môn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra.
      Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến 1954, lớp 12 THPT giữ một vị trí quan
      trọng trong tiến trình phát triển của dân tộc. Đó là lịch sử của cuộc đấu tranh
      kiên cường của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng để giữ vững nền độc lập.
      3
      Đó là lịch sử của nghệ thuật giành, xây dựng và bảo vệ chính quyền dân chủ
      nhân dân của Đảng ta, là lịch sử của công cuộc kháng chiến và kiến quốc…
      Chặng đường lịch sử đó đã in đậm bao chiến công oanh liệt của dân tộc cũng
      như đã để lại biết bao bài học quý báu cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
      Quốc hiện nay.
      Xuất phát từ yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra,
      đánh giá theo định hướng phát triển năng lực, từ thực tiễn giảng dạy ở trường
      THPT, chúng tôi đã nghiên cứu và lựa chọn đề tài PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
      CỦA HỌC SINH TRONG HỌC TẬP THÔNG QUA TỔ CHỨC DẠY HỌC
      THEO CHỦ ĐỀ “LỊCH SỬ VIỆT NAM 1945 – 1954” – LỚP 12 CHƯƠNG
      TRÌNH CƠ BẢN làm báo cáo sáng kiến.
      II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
      Thực trạng dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay đang tồn tại nhiều vấn
      đề có những mặt tích cực và cũng có những mặt tiêu cực.
      Về phía giáo viên, về cơ bản giáo viên giảng dạy môn lịch sử ở trường
      THPT đều có kiến thức chuyên môn đạt chuẩn, nhận thức đúng đắn về vai trò
      của bộ môn trong trường THPT, đã có xu hướng đổi mới phương pháp dạy học
      sao cho thu hút hấp dẫn và thực tế hơn. Các cấp quản lý có quan tâm và chỉ đạo
      thường xuyên việc dạy và học bộ môn. Học sinh học bộ môn lịch sử đã có phần
      yêu thích hơn, hứng thú hơn và có kết quả học tập tốt hơn. Chương trình học tập
      phù hợp, sách giáo khoa được biên soạn tương đối quy củ có hệ thống, hình ảnh
      đẹp hơn in ấn sinh động hơn.
      Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề hạn chế như việc dạy học lịch sử vẫn
      hướng tới việc cung cấp các sự kiện lịch sử có sẵn trong sách giáo khoa, bài
      giảng của giáo viên chủ yếu hướng tới việc giúp học sinh ghi nhớ kiến thức mà
      chưa chú ý tới phát triển tư duy, năng lực cho học sinh. Việc đổi mới phương
      pháp dạy học tuy được đặt ra, được quan tâm, giáo viên nhận thức được tầm
      quan trọng nhưng tiến hành lại chưa được thực sự hiệu quả. Học sinh chưa thực
      sự hứng thú đối với môn học, kết quả thi môn lịch sử thi THPT quốc gia vẫn còn
      4
      thấp so với các môn khác … Trong thực tế cuộc sống, học sinh ít hiểu biết về
      lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương dẫn tới thái độ, nhận thức chưa đúng đắn, dễ
      bị lung lay bởi các tác động từ bên ngoài.
      Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này thì rất nhiều. Song với tư cách của
      người dạy học, chúng ta cần nhìn nhận một cách thẳng thắn và nghiêm túc vào
      những nguyên nhân chủ quan xuất phát từ phía người dạy như chậm đổi mới
      phương pháp dạy học. Nhiều giáo viên vẫn chọn phương pháp thuyết trình, tư
      duy dạy học theo lối cũ, lấy người dạy làm trung tâm truyền đạt kiến thức một
      chiều, sơ cứng. Môn học lịch sử vốn là một môn học hấp dẫn vì nó chính là thực
      tế đời sống. nhưng đã bị kinh viện hóa, biến thành một môn học với các con số,
      sự kiện “chết cứng”. Chính những điều này đã khiến việc giảng dạy môn học trở
      nên kém hiểu quả. Giáo viên đôi khi quá chú tâm tới việc truyền đạt kiến thức
      mà quên đi nhiệm vụ bồi đắp những nhận thức, tình cảm đúng đắn cho cho học
      sinh trước quá khứ, hiện tai và tương lai.
      Ngoài ra cũng có những nguyên nhân khách quan như những quan niệm
      chưa đúng về bộ môn từ các cấp quản lý, từ xã hội, tới cha mẹ học sinh và cả
      học sinh coi đây là một môn phụ, ít tính ứng dụng vào đời sống và gắn liền việc
      học tập với mục đích thi cử nên không coi trọng bộ môn. Từ đó dẫn tới thái độ
      dạy và học chưa phù hợp hạn chế phần nào việc tiếp thu, tìm hiểu các kiến thức
      bộ môn cũng như lòng yêu thích say mê đối với môn học. Cũng không thể
      không nhắc tới nền kinh tế thị trường, xã hội phát triển với nhiều mặt tác động
      không nhỏ tới tâm lý của giáo viên và học sinh từ đó không còn coi trọng môn
      lịch sử một cách đúng mức.
      Tiếp theo, có thể kể tới khung chương trình còn nặng nề nội dung kiến thức
      nhiều mà thời gian dạy và học lại ít khiến giáo viên đổi khi chưa dám mạnh dạn
      đổi mới, sử dụng phương pháp truyền thống cho an toàn, cho đảm bảo tiến độ
      chương trình. Cơ sở vật chất cũng chưa đảm bảo cho việc tiến hành dạy học
      môn lịch sử một cách thuận tiện và sinh động hơn.
      Riêng về vấn đề xây dựng bài tập lịch sử tự luận hay trắc nghiệm khách
      theo hướng phát triển năng lực người học, đại đa số thầy, cô dạy lịch sử ở các
      5
      trường THPT đều thấy được tầm quan trọng của việc sử dụng bài tập lịch sử
      trong quá trình giảng dạy do đó các thầy, cô đã thiết kế và sử dụng bài tập trong
      dạy học. Tuy nhiên, do gặp phải nhiều khó khăn như chương trình quy định số
      giờ làm bài tập ít, lượng kiến thức trên lớp nhiều không đủ để học sinh có thời
      gian làm bài tập… do vậy mà mức độ sử dụng bài tập của thầy, cô còn hạn chế,
      lượng bài tập chưa phù hợp, mức độ bài tập chưa đáp ứng đúng mục tiêu bài
      dạy, các bài tập chưa phong phú đa dạng bám sát năng lực học sinh.
      Mặt khác mục đích sử dụng bài tập của thầy, cô chủ yếu là dùng để củng cố
      bài học hoặc kiểm tra. Việc sử dụng bài tập để dạy kiến thức mới, để phát triển
      các năng lực cho học sinh chưa được chú trọng.
      Về phía học sinh, học sinh ở các trường THPT đều thích được làm bài tập
      lịch sử, các em đều có nhận thức đúng về vai trò của bài tập trong quá trình học
      lịch sử. Bài tập mà các em thích được sử dụng chủ yếu là bài tập trắc nghiệm và
      bài tập nhận thức. Tuy nhiên kĩ năng làm bài của các em còn kém, chưa đầu tư
      nhiều công sức và thời gian cho bài tập. Nhiều học sinh còn khó khăn, lúng túng
      khi giải quyết bài tập nhất là các bài tập thực hành bộ môn như vẽ biểu đồ, bản
      đồ, sơ đồ… Nhận thức của các em về việc làm bài tập để phát triển các năng lực
      chưa được rõ ràng, đầy đủ.
      Với các nguyên nhân như vậy thì kết quả học tập và giảng dạy môn lịch sử
      chưa đạt yêu cầu là điều hoàn toàn có thể lí giải được. Từ đó, càng đặt ra vấn đề
      : mỗi người dạy cần thay đổi một cách tích cực, hướng tới việc nâng cao chất
      lượng giảng dạy, đồng thời giúp học sinh phát huy những năng lực của bản thân
      ứng dụng vào thực tế hoạt động xã hội sau này.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
      2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY
      HỌC LỊCH SỬ THEO CHỦ ĐỀ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
      THÔNG
      2.1.1. Cơ sở lý luận
      2.1.1.1. Cơ sở xuất phát
    • Mục tiêu đổi mới giáo dục và đào tạo
      6
      Luật giáo dục Việt Nam năm 2005 (sửa đổi 2009) đã xác định rõ mục tiêu
      chung của giáo dục là“đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo
      đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc
      lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất
      và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
      Tổ quốc” [20, tr.8]. Trên cơ sở mục tiêu chung, mục tiêu giáo dục THPT được
      xác định là: “Giáo dục phổ thông nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết
      quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết
      thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá
      nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp,
      học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [20, tr.14]. Mục tiêu giáo dục môn
      học LS ở trường phổ thông được cụ thể hóa “nhằm giúp cho HS có được những
      kiến thức cơ bản, cần thiết về LSDT và LS thế giới, góp phần hình thành ở HS
      quan điểm chung một cách khoa học, biện chứng; giáo dục lòng yêu quê hương,
      đất nước, truyền thống dân tộc, cách mạng, bồi dưỡng các năng lực tư duy,
      hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội” [57, tr. 68].
      Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương
      Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ việc đổi mới
      chương trình giáo dục sau 2015 phải chuyển từ định hướng nội dung sang định
      hướng phát triển năng lực. Từ chỗ chỉ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến
      cần phải quan tâm xem HS vận dụng được cái gì qua việc học, thực hiện mục
      tiêu phát triển toàn diện nhân cách người học, chú trọng năng lực thực hành vào
      thực tiễn. Trong công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện, giáo dục Việt Nam
      đang hướng tới những nguyên tắc chung của giáo dục thế kỉ XXI là học để học
      cách học, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mìn

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • SKKN Vận dụng thuyết đa trí thông minh trong dạy học Lịch sử thế giới Chương trình Lịch sử lớp 10 nhằm phát triển năng lực cho học sinh THPT

    SKKN Vận dụng thuyết đa trí thông minh trong dạy học Lịch sử thế giới Chương trình Lịch sử lớp 10 nhằm phát triển năng lực cho học sinh THPT

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Hiện nay, chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực đã trở thành
    xu hướng giáo dục quốc tế. Nhiều nước trên thế giới đã có sự thay đổi mạnh mẽ
    theo hướng chuyển từ dạy học truyền thụ kiến thức sang dạy học phát triển năng
    lực của người học. Ở Việt Nam, Nghị quyết số 29 – NQ/TW ngày 04/11/2013 của
    Hội nghị Trung ương 8 khóa XI và Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014
    của Quốc hội cũng đã yêu cầu phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,
    để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nền kinh tế thị trường theo
    định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Bối cảnh đó đòi hỏi giáo dục
    phải đào tạo những con người phát triển toàn diện phù hợp với sự nghiệp công
    nghiệp hóa hiện đại hóa, biết nắm bắt cơ hội trong thời đại mới. Nhà trường là môi
    trường phải đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Mỗi môn học ở nhà trường với đặc
    trưng của từng bộ môn, đều phải góp phần giáo dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ, trong
    đó có sự đóng góp của môn Lịch sử. Tất cả những gì đã diễn ra trong quá khứ –
    những con người thật, sự việc thật trong lịch sử, nhất là lịch sử dân tộc có ý nghĩa
    quan trọng, là tấm gương phản chiếu có tác dụng giáo dục thế hệ trẻ sâu sắc.
    Bộ môn Lịch sử có ưu thế trong việc góp phần đào tạo thế hệ trẻ theo mục
    tiêu giáo dục của Đảng, nhà nước và nhân dân ta – những con người có lí tưởng
    cách mạng đồng thời là những con người Việt Nam của thế kỉ XXI. Chính vì thế,
    giáo dục lịch sử được coi trọng. Thế nhưng trong những năm gần đây, dưới tác
    động của nền kinh tế thị trường, tác động của bối cảnh xã hội hiện đại, vai trò, vị
    thế của các môn khoa học xã hội trong nhà trường nói chung, môn Lịch sử nói
    riêng chưa được đánh giá đúng vai trò và nhiệm vụ của nó trong công tác “dạy
    chữ, dạy người” mà môn học có ưu thế.
    Những năm gần đây, việc dạy học Lịch sử ở nhà trường phổ thông có những
    bước tiến đáng kể về nội dung, nhận thức và phương pháp dạy học nhưng vẫn chưa
    đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Điều này đã làm cho các nhà khoa học, nhà giáo dục
    lịch sử, nhà giáo ở trường phổ thông và toàn xã hội phải lo lắng. Qua các kỳ thi
    Trung học phổ thông quốc gia (THPT QG), dư luận, báo chí quan tâm nhiều hơn
    đến kết quả của bộ môn Lịch sử, về sự giảm sút số lượng thí sinh tham gia, chất
    lượng của môn học này. Việc đánh giá đúng thực trạng dạy – học môn Lịch sử hiện
    nay và tìm ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó, sẽ góp phần đề xuất những giải
    pháp khắc phục tình trạng nêu trên.
    Dạy học Lịch sử ở trường phổ thông cũng giống như dạy – học các môn khoa
    học khác trong hệ thống giáo dục quốc gia được phân bố thời lượng theo qui định
    của Bộ Giáo dục và Đào tạo; sách giáo khoa, tài liệu tham khảo giảng dạy và học
    tập cũng được đầu tư, cung cấp đầy đủ và phong phú hơn so với trước đây. Bên
    2
    cạnh đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), Sở GD&ĐT đã rất chú trọng đến
    công tác tập huấn, triển khai trang bị những kỹ năng cho giáo viên (GV): Việc đổi
    mới phương pháp dạy và học, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, thực
    hiện chuẩn kiến thức kỹ năng, đổi mới tư duy trong kiểm tra đánh giá học sinh
    (HS), kiểm tra đánh giá theo ma trận đề; giảng dạy theo hướng tích hợp về giáo
    dục tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, tích hợp giáo dục môi trường,
    phòng chống tham nhũng; xây dựng hệ thống các tài liệu dạy học như: tài liệu
    giảng dạy phục vụ nội bộ, hệ thống hoá hiến thức, ngân hàng đề kiểm tra đáng giá,
    ngân hàng câu hỏi đăng trên website Sở GD&ĐT và các đơn vị trường học; các
    giải pháp sinh hoạt chuyên môn như: sinh hoạt chuyên môn theo cụm, theo trường,
    trên trường học kết nối, …. Ngoài ra, người GV cũng đã cố gắng sử dụng và kết
    hợp nhiều phương pháp dạy học tích cực như dạy học nêu vấn đề, dạy học dự án,
    …Tất cả những giải pháp này góp phần làm biến chuyển công tác dạy học Lịch sử
    trong nhà trường, công tác giảng dạy và học tập của bộ môn Lịch sử bắt đầu có sự
    thay đổi tích cực hơn trước.
    Tuy nhiên, cũng có nhiều người bày tỏ sự lo lắng, trăn trở khi nhìn vào thực
    trạng dạy và học bộ môn Lịch sử trong các nhà trường hiện nay. Không khó để
    nhận ra, đang có những tiết học Lịch sử trở thành giờ “học sách giáo khoa”, khô
    khan, nặng về trình bày sự kiện; nhiều HS thiếu hoặc nhầm lẫn các kiến thức cơ
    bản; nhiều em không chọn Lịch sử là môn thi xét tuyển đại học; chất lượng kì thi
    Tốt nghiệp trung học phổ thông môn Lịch sử có điểm trung bình thấp hơn so với
    các bộ môn khác… Nhiều GV bày tỏ, họ đang bị “mắc kẹt” giữa một bên là lượng
    kiến thức khổng lồ với một bên là khoảng thời gian hạn hẹp trên lớp. Kết quả là
    HS phải chịu tiếp nhận 1 mô hình giáo dục khô cứng theo kiểu “1 cỡ cho vừa tất
    cả”- mọi HS cùng học theo 1 cách, kiểm tra theo cùng 1 kiểu bài và phân loại,
    đánh giá theo cùng 1 tiêu chuẩn nhất định. Và cứ như vậy thì sẽ thật bất công “nếu
    bạn đánh giá một con cá bằng khả năng leo cây thì cả đời nó phải sống với niềm tin
    rằng, nó là kẻ ngu ngốc” (Albert Einstein). Đã đến lúc, chúng ta cần tìm kiếm, áp
    dụng những ý tưởng giáo dục mới, thổi hồn vào bộ môn Lịch sử (LS) để mỗi HS
    không chỉ được tìm thấy niềm vui, hạnh phúc trong học tập, phát huy sở thích, thế
    mạnh của bản thân mà qua đó còn khơi dậy niềm đam mê với Lịch sử, góp phần
    định hướng nghề nghiệp trong tương lai. Giáo dục sẽ chỉ thực sự thành công nếu
    có thể để mỗi cá nhân phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mình,
    đồng thời có cơ hội thay đổi và khắc phục những thiếu sót. Điều quan trọng là
    “đánh thức” những năng lực, trí thông minh của HS như thế nào?
    Dạy học là một trong những việc khó thực hiện nhất vì tất cả chỉ liên quan
    đến việc xử lý trí óc của con người. Tâm trí con người tiếp nhận thông tin theo
    nhiều cách khác nhau tùy theo nền tảng và kinh nghiệm khác nhau. Từ đây, tầm
    3
    quan trọng của việc nghiên cứu các loại trí thông minh khác nhau mà con người
    tiếp nhận, giải mã, hiểu, áp dụng và phân tích thông tin. Để thành công trong việc
    giảng dạy, một GV phải nâng cao khả năng của họ để giải quyết mọi suy nghĩ của
    HS khi họ có thể khác nhau. “Thuyết đa trí thông minh” (TĐTTM) của Howard
    Gadner chỉ ra rằng, trong mỗi cá nhân đều tồn tại 8 loại hình trí thông minh, tồn tại
    ở những mức độ cao thấp khác nhau, có những trí thông minh nổi bật, phát triển
    với người này nhưng lại không phát triển đối với người khác và hoàn toàn có thể
    phát triển qua giáo dục (GD) để mỗi người đều trở thành một người thực sự tài
    năng với trí thông minh nổi bật của mình. Vì vậy, “Thuyết đa trí thông minh” như
    một gợi ý để GV tìm tòi, lựa chọn, sáng tạo ra các phương pháp dạy học (PPDH)
    hiệu quả trong quá trình dạy học (DH).
    Từ những vấn đề lí luận và thực tiễn trên, tôi cho rằng, cùng với các phương
    pháp dạy học tích cực khác, việc vận dụng thuyết đa trí thông minh trong dạy học
    Lịch sử là một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học
    bộ môn Lịch sử. Góp phần làm cho thế hệ trẻ hôm nay trong hành trang tri thức
    khoa học được trang bị đầy đủ tri thức, phương pháp học tập thông minh về lịch
    sử. Với lí do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Vận dụng thuyết đa trí thông minh
    trong dạy học Lịch sử thế giới (chương trình Lịch sử lớp 10) nhằm phát triển
    năng lực cho HS THPT” làm đề tài cho Sáng kiến kinh nghiệm dự thi của mình.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    II.1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    II.1.1. Cơ sở lí luận
    Trên thế giới hiện nay, nhiều lý thuyết có tính ứng dụng cao trong giáo dục như
    Thuyết kiến tạo, Thuyết hành vi, Thuyết nhận thức, Thuyết liên kết, Linh hoạt nhận
    thức, Học theo tình huống, Cộng đồng thực hành, Học khám phá và Thuyết đa trí
    thông minh. Mỗi lý thuyết đều có ưu nhược điểm, phù hợp với nhiều bối cảnh giáo
    dục khác nhau. Trong số đó, lý thuyết đa trí thông minh cho thấy sự phù hợp trong
    mô hình lớp học. Học thuyết về Đa trí thông minh trong giáo dục đã được một số
    nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước tiếp cận. Trên thế giới, người khai sinh ra
    thuyết đa trí thông minh là nhà nghiên cứu Howard Gardner khi ông xuất bản cuốn
    sách có tựa đề “Khung trí thông minh: Thuyết đa trí thông minh” vào năm 1983.
    TĐTTM thừa nhận nhiều thành phần của trí thông minh trong một hoặc nhiều năng
    lực của con người, cụ thể bao gồm 8 loại trí thông minh và mỗi loại trí thông minh
    tương ứng với đặc điểm và phù hợp với những ngành nghề nhất định trong xã hội.
    Cụ thể:
    Thứ nhất, trí thông minh ngôn ngữ. Theo Howard Gardner, đó là “khả năng
    phân tích thông tin và tạo ra các sản phẩm sử dụng ngôn ngữ nói và viết như lời
    4
    nói, sách và bản ghi nhớ”1
    . Với thế mạnh về ngôn ngữ, môn Lịch sử có lợi thế
    trong việc sử dụng thế mạnh ngôn ngữ để việc đọc, viết, kể chuyện, ghi nhớ từ
    khóa và có xu hướng học tốt nhất thông qua đọc sách, nghe giảng, tiếp cận tư liệu
    và tài liệu tham khảo, tranh luận và thảo luận… Đây cũng là loại hình trí thông
    minh mà nhiều người sở hữu nhất. Có nhiều PPDH để vận dụng trí thông minh
    ngôn ngữ trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông như: trình bày miệng (tường
    thuật, miêu tả, nêu đặc điểm, giải thích), hùng biện, tiếp cận tư liệu và tài liệu tham
    khảo, trò chơi ô chữ, kể chuyện, viết nhật ký, động não, …
    Thứ hai, trí thông minh logic-toán học. Theo Howard Gardner, logic toán học
    là “khả năng phát triển các phương trình và chứng minh, tính toán và giải quyết các
    vấn đề trừu tượng”2
    . Nó bao gồm khả năng phân tích và suy luận vấn đề một cách
    logic. Người có trí thông minh này có khả năng phát hiện, suy luận trình tự,
    nguyên nhân và tư duy logic tốt, nhạy bén với các mối quan hệ và sơ đồ logic …
    Trên thực tế, trong quá trình dạy học, có rất nhiều những phương pháp để vận dụng
    trí thông minh logic – toán học, khơi gợi và phát triển tư duy của HS một cách có
    hiệu quả. Có thể kể tới một vài phương pháp như: lập sơ đồ tư duy, trò chơi điền
    lược đồ trống, dạy học nêu vấn đề, tranh biện, …
    Thứ ba, trí thông minh âm nhạc. Theo Howard Gardner, âm nhạc thông minh
    cùng với trí thông minh ngôn ngữ, là khả năng tạo ra, ghi nhớ và tạo ra ý nghĩa của
    các mẫu âm thanh khác nhau, hoặc khả năng tạo ra và đánh giá cao độ nhịp điệu và
    âm sắc; đánh giá cao các hình thức biểu đạt âm nhạc. Những người có trí thông
    minh này có xu hướng học hỏi qua các giai điệu âm nhạc, thích chơi nhạc cụ, ca
    hát, truyền cảm hứng và đọc các tác phẩm. Ở mô hình lớp học, trong dạy học Lịch
    sử, thông qua các bài hát, lời bài hát có liên quan, các làn điệu về Chủ tịch Hồ Chí
    Minh, các vị lãnh tụ cách mạng, các anh hùng dân tộc, các bộ phim Lịch sử … sẽ
    phát huy thế mạnh này, đây cũng là biện pháp kích thích thính giác, cảm xúc của
    người học, giảm tính hàn lâm, giờ học sẽ trở nên có điểm nhấn, hào hứng hơn.
    Thứ tư, trí thông minh cơ thể. Loại trí thông minh này bao gồm các kỹ năng
    cơ thể đặc biệt như phối hợp vận động, giữ thăng bằng, khéo léo, linh hoạt và mềm
    dẻo. Người có trí thông minh này có khuynh hướng học tập thông qua vận động và
    sử dụng động tác, thích hoạt động thể chất, chơi thể thao,… Những người mạnh về
    trí thông minh này yêu thích thực hành và vận động. Trong quá trình dạy học LS,
    rất nhiều PPDH có thể vận dụng trí thông minh này để đem lại hiệu quả như sân
    khấu hóa, đóng vai, sử dụng ngôn ngữ cơ thể, dạy học trải nghiệm sáng tạo, dựng
    phim ngắn, video…
    1 Trần Văn Trung, Tăng cường tổ chức hoạt động nhóm theo hướng tiếp cận Lý thuyết đa thông minh, Tạp chí Khoa
    học Giáo dục, số 138, tr.28-30, Hà Nội.
    2 Trần Văn Trung, Lê Thị Tuyết Hạnh, 2017, Ứng dụng Lý thuyết Đa trí thông minh trong dạy học nhằm phát triển
    các năng lực cần thiết cho học sinh phổ thông ở Việt Nam, Tạp chí Giáo dục, Số. 420, Hà Nội, tr.18.
    5
    Thứ năm, trí thông minh không gian: Đó là khả năng liên tưởng đến tư duy
    trực quan, hình ảnh, khả năng nhận thức, biến đổi và khả năng tái tạo các góc độ
    khác nhau của thế giới không gian trực quan. Những người có khả năng về trí
    thông minh không gian thường rất giỏi hình dung và tưởng tượng, có khả năng tự
    định hướng một cách thích hợp trong một không gian. Để vận dụng trí thông minh
    không gian trong dạy học Lịch sử nhằm tác động tới dạng trí thông minh này của
    HS, thay vì yêu cầu HS tìm hiểu nội dung chương trình học, GV có thể tổ chức
    nhóm, thiết kế bài vẽ hoặc nhận diện tranh theo chủ đề và thuyết minh ý tưởng về
    sản phẩm của nhóm thông qua các phương pháp như sử dụng đồ dùng trực quan,
    thiết kế poster, lập sơ đồ tư duy…
    Thứ sáu, trí thông minh nội tâm: Là khả năng hiểu rõ bản thân và hành động
    phù hợp trên cơ sở hiểu biết của bản thân. Những người có trí thông minh này có
    xu hướng học tập thông qua cảm xúc, tình cảm, kiểm soát và kiểm soát tốt việc học
    của họ, hiểu được suy nghĩ của họ và có thể hiểu được cảm xúc và tình cảm. cảm
    xúc của người khác … Để vận dụng trí thông minh nội tâm trong dạy học LS, có
    thể sử dụng các phương pháp phát huy tính tư duy độc lập của mỗi cá nhân như:
    suy ngẫm trong một phút, tạo các liên kết cá nhân, các hoạt động đặt mục đích, kỹ
    thuật KWLH, …
    Thứ bảy, trí thông minh tương tác cá nhân (trí thông minh giao tiếp): Là khả
    năng hiểu và làm việc với người khác, đặc biệt là khả năng cảm nhận và chia sẻ dễ
    dàng với tâm trạng, tính cách, ý định. và mong muốn của người khác. Những
    người sở hữu trí thông minh này có xu hướng học hỏi thông qua việc sử dụng các
    kỹ năng xã hội, giao tiếp, hợp tác làm việc với người khác, thích gặp gỡ và trò
    chuyện, có khả năng nắm bắt tâm lý của các thành viên trong nhóm học tập. Vận
    dụng trí thông minh giao tiếp trong dạy học LS đã được nhiều GV thực hiện.
    Phương pháp dễ nhận thấy nhất đó chính là các hình thức hoạt động nhóm; tuy
    nhiên, mức độ hiệu quả trong vận dụng trí thông minh tương tác cá nhân ra sao phụ
    thuộc vào cách thức tổ chức hoạt động nhóm và yêu cầu nhiệm vụ của GV. Không
    chỉ có hoạt động nhóm, nhiều PPDH khác cũng có khả năng vận dụng tốt loại hình
    trí thông minh này như: tranh biện, thuyết trình, vấn đáp, trò chơi hiểu ý đồng đội,
    làm phóng sự, …
    Thứ tám, trí thông minh về tự nhiên: Là khả năng nhận biết và phân loại các
    loại động thực vật trong môi trường của chúng ta. Loại trí thông minh này cũng rất
    nhạy cảm với các hiện tượng thay đổi của tự nhiên. Người có trí thông minh thiên
    bẩm luôn thích hòa mình với thiên nhiên, thích chăm sóc, trồng trọt, khám phá
    thiên nhiên, tìm hiểu các loài sinh vật. Những người này thích đi picnic, cắm trại,
    leo núi, khám phá thế giới. Vận dụng trí thông minh tự nhiên học trong dạy học
    6
    LS, có thể sử dụng các hình thức dạy học ngoài trời, trải nghiệm, dự án, tham quan
    học tập, …sẽ đem lại hiệu quả cao cho quá trình lĩnh hội kiến thức lịch sử của HS.
    Theo quan điểm của nhà giáo dục, mỗi trí thông minh phải dẫn đến một trong
    những kỹ năng giải quyết vấn đề, cho phép người học giải quyết các vấn đề gặp
    phải và tạo ra kết quả, đồng thời mang lại những điều hữu ích và đáng kể. TĐTTM
    đã cho thấy sự phù hợp của mình khi khẳng định rằng trí thông minh của người
    học không phải là bất biến, được di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác mà có thể
    cải thiện khả năng giao tiếp, thông qua giáo dục. Mỗi loại trí thông minh nếu được
    chăm sóc và phát triển đúng cách sẽ là tiền đề tạo nên sự đa dạng của mỗi cá nhân.
    Thuyết đa trí thông minh cung cấp cho GV những cơ sở về mặt lí luận để
    đánh giá sự phát triển trí thông minh của HS, từ đó lựa chọn, tìm tòi hoặc sáng tạo
    ra những PPDH tác động được tới các dạng trí thông minh của HS một cách toàn
    diện nhất. Trên cơ sở, đó GV linh hoạt vận dụng các phương pháp để HS có cơ hội
    sử dụng thế mạnh của mình trong chủ động phát triển năng lực bản thân cũng như
    có thể rèn luyện những trí thông minh mình còn hạn chế. Sở dĩ có sự trùng lặp một
    vài phương pháp khi vận dụng mỗi loại trí thông minh trong dạy học, bởi thuyết đa
    trí thông minh khẳng định: các dạng trí thông minh luôn tồn tại đồng thời và tương
    tác với nhau bằng nhiều cách. Trên thực tế, mỗi phương pháp đều là sự tổng hòa
    của việc vận dụng một vài dạng trí thông minh. Tuy nhiên, mức độ vận dụng của
    mỗi dạng trí thông minh có tác dụng đậm nhạt khác nhau là do yêu cầu và cách
    thức tổ chức dạy học của GV trong giờ học.
    Từ việc nghiên cứu bước đầu, tôi nhận thấy: thuyết đa trí thông minh hướng
    đến việc dạy học đa dạng. Vì giữa các HS có sự khác biệt về thiên hướng trí thông
    minh như thế nên GV cần ứng dụng nhiều chiến lược dạy học khác nhau đối với
    các em. Ngày nào GV còn di chuyển được từ dạng trí thông minh này sang dạng trí
    thông minh khác thì mọi HS đến một lúc nào đó trong tiết học hay hàng ngày đều
    sẽ có cơ may được học với một hoặc nhiều trí thông minh nổi trội nhất của mình.
    II.1.2. Năng lực và phát triển năng lực HS trong dạy học Lịch sử
    II.1.2.1. Định nghĩa năng lực
    Trên thế giới, trong các nghiên cứu về năng lực, nhiều tác giả đã định nghĩa
    năng lực ở các khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, có thể định nghĩa năng lực theo ba
    xu hướng: Thứ nhất là các tác giả đã định nghĩa năng lực là một phẩm chất của
    nhân cách. Theo những quan điểm này, năng lực là khả năng bên trong (phẩm chất
    tâm lý và sinh lý) của mỗi con người để đạt được một hoạt động nhất định.
    Nhóm thứ hai dựa vào thành phần cấu trúc của năng lực để xác định năng
    lực. Tất cả các định nghĩa trong nhóm này đều xác nhận rằng năng lực bao gồm
    các kỹ năng. Kỹ năng thể hiện khả năng thực hiện các hành động nhận thức hoặc
    7
    hành vi một cách thành thạo, chính xác và thích ứng với các điều kiện có thể thay
    đổi, trong khi năng lực có nghĩa là một hệ thống các hành động phức tạp, bao gồm
    năng lực và các thành phần phi nhận thức (thái độ, cảm xúc, động cơ, giá trị và đạo
    đức).
    Nhóm thứ ba xác định năng lực dựa trên nguồn gốc của năng lực. Tất cả các
    định nghĩa của nhóm này khẳng định rằng năng lực được hình thành từ các hoạt
    động và thông qua hoạt động, năng lực có thể được hình thành và phát triển.
    Theo dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ Giáo dục và
    Đào tạo Việt Nam (2017): “Năng lực là thuộc tính của cá nhân được hình thành,
    phát triển bởi phẩm chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người
    tổng hợp kiến thức, kỹ năng và các các thuộc tính của cá nhân như hứng thú, niềm
    tin, ý chí,… để thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả
    mong muốn trong những điều kiện cụ thể”.
    Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho HS các năng
    lực cốt lõi sau:

    • Các năng lực chung được hình thành và phát triển bởi tất cả các môn học và
      hoạt động giáo dục như năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác,
      năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;
    • Năng lực nghề nghiệp: Năng lực nghề nghiệp được hình thành và phát triển
      chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định như năng lực
      ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khám phá tự nhiên và xã hội, năng lực công
      nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất.
      II.1.2.2. Phát triển năng lực HS trong dạy học Lịch sử
      Bộ môn Lịch sử trong Chương trình giáo dục phổ thông đang được điều
      chỉnh, xây dựng theo định hướng phát triển năng lực (Chương trình GD phổ thông
      mới). Vì vậy, phương pháp dạy học chủ đạo là tích cực hoá hoạt động của người
      học. Phương pháp dạy học tích cực chú trọng tổ chức cho HS thực hiện các hoạt
      động học tập gắn với những tình huống của cuộc sống; gắn hoạt động trí thông
      minh với hoạt động thực hành, thực tiễn; tăng cường tự học, làm việc trong nhóm
      nhằm phát triển các phẩm chất chủ yếu, các năng lực chung và năng lực lịch sử cho
      HS. Với đặc trưng riêng của môn học, môn Lịch sử góp phần phát triển năng lực
      lịch sử, thành phần năng lực được xác định gồm:
    • Năng lực tìm hiểu lịch sử, được thể hiện qua việc:
    • Nhận diện và sử dụng tư liệu lịch sử: phân biệt được các loại hình tư liệu
      lịch sử, hiểu được nội dung, khai thác và sử dụng được tư liệu lịch sử trong quá
      trình học tập.

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • Bỏ bài thi SAT ảnh hưởng thế nào đến sinh viên Việt Nam định du học Mỹ?

    Bỏ bài thi SAT ảnh hưởng thế nào đến sinh viên Việt Nam định du học Mỹ?

    Như vậy, hiện nay nhiều trường đại học ở Mỹ bỏ xét điểm SAT và ACT mà chuyển qua xét hồ sơ. Vậy bỏ bài thi SAT ảnh hưởng thế nào đến sinh viên Việt Nam định du học Mỹ?

    Bài thi SAT là gì?

    Điểm GPA là gì? Bỏ bài thi SAT ảnh hưởng thế nào đến sinh viên Việt Nam định du học Mỹ?

    SAT là một trong những kỳ thi chuẩn hóa đầu vào được sử dụng để đánh giá năng lực của thí sinh khi đăng ký vào các trường Đại học của Mỹ. Thế nhưng, đại dịch Covid-19 đã bắt buộc kỳ thi SAT phải hủy bỏ, bên cạnh đó, đã có rất nhiều trường Đại học đã hủy bỏ tiêu chí này trong quá trình tuyển sinh.

    Mời bạn tham khảo thêm trong bài Kỳ thi SAT là gì?

    Hầu hết các trường đại học và cao đẳng tại Mỹ đã bỏ điểm SAT trong kỳ thi tuyển sinh của mình. Trong số đó có các trường danh tiếng như Williams, Swarthmore, Amherst, Viện Công nghệ CalTech, Cornell, Stanford, Yale…

    Xét tuyển vào ĐH Mỹ sẽ bao quát mọi khả năng của HS từ năng lực học, say mê trong lĩnh vực học tập, năng lực giao tiếp, tính cộng đồng, tính lãnh đạo, tính tổ chức, năng khiếu trong khoa học, nghệ thuật, thể thao… Trong đó điểm SAT hoặc ACT là một yếu tố để đánh giá năng lực học của HS.

    Ngày 21/5/2020, hệ thống ĐH tiểu bang California, bao gồm 10 trường thành viên, tuyên bố sẽ không dùng SAT/ACT từ năm học 2025. Trong giai đoạn 2021 – 2024, trường xem điểm SAT/ACT là sự lựa chọn, không bắt buộc và sẽ dùng SAT/ACT để xét học bổng. Tuyên bố này như hồi chuông báo hiệu chấm dứt sự tồn tại lâu đời của kỳ thi SAT trong 90 năm qua tại Mỹ.

    Bỏ bài thi SAT ảnh hưởng thế nào đến sinh viên Việt Nam định du học Mỹ?

    Lợi ích khi bỏ bài thi SAT

    Với thời gian được tiết kiệm hơn do thí sinh không cần phải ôn luyện SAT Essay hay SAT II, học sinh có thêm thời gian để đầu tư vào những mục khác trong hồ sơ của mình. Ngoài ra, nhiều bạn học sinh đã ủng hộ việc bỏ bài thi SAT bởi vì cho rằng bài thi này không phản ánh chính xác thực lực của học sinh. Đặc biệt là vụ gian lận trong tuyển sinh năm ngoái đã làm rúng động hệ thống giáo dục tại Mỹ.

    “Chúng tôi không muốn học sinh lãng phí thời gian vào bài kiểm tra này. Thi xong, các em cũng không sử dụng lại kiến thức đó. Một số em ở các nước khác thậm chí còn phải bay sang nước khác để thi”

    Ông David J. Wivell, đại diện tuyển sinh của Học viện Công nghệ Rochester (RIT)

    Nhiều người cho rằng bài thi này là không công bằng đối với những tầng lớp sinh viên nghèo bởi một số gia đình giàu có thể “mua chỗ” cho con cái họ vào những trường Đại học top tại Mỹ.

    Theo College Board, gần 55% học sinh gốc Á và 45% học sinh da trắng đạt điểm trên 1200 (mức điểm tối đa là 1800) trong các kỳ thi năm 2019. Tỷ lệ này ở các học sinh gốc Mỹ Latin và học sinh da đen chỉ chiếm 12% và 9%.

    Khi tuyên bố sẽ không dùng SAT/ACT từ năm học 2025, các nhà lãnh đạo giáo dục của hệ thống ĐH California cho rằng điểm kỳ thi này không công bằng cho tầng lớp sinh viên nghèo, da đen và nhóm nói tiếng Tây Ban Nha. Ðối với HS châu Á, học thi SAT như là trào lưu, nhiều HS đã học từ lớp 10. Vì thế cựu Thống đốc tiểu bang California, Eleni Kounalakis, thành viên trong ban cố vấn, cho rằng “những bài kiểm tra này vô cùng thiếu sót và không công bằng”.

    Tác hại của việc bỏ bài thi SAT

    Tuy việc bỏ bài SAT mang lại nhiều lợi ích, giúp các bạn sinh viên giảm bớt áp lực và căng thẳng thi cử, thế nhưng nó cũng tạo ra những bất lợi nhất định cho các bạn trong quá trình chuẩn bị hồ sơ apply học bổng.

    Không phải ngẫu nhiên mà kết quả của kỳ thi SAT được coi là điều kiện tiên quyết để vào Đại học tại Mỹ. Đề SAT được thiết kế để biết được khả năng của thí sinh đến mức nào trong việc học hỏi những cái mới, chứ không nhằm mục đích đo lường xem thí sinh đã biết được những gì.

    Với việc hầu hết các ĐH Mỹ không yêu cầu hoặc lựa chọn điểm SAT trong hồ sơ xét tuyển ĐH năm 2021 thì điểm GPA (điểm trung bình học tập) có thể sẽ được các trường ĐH quan tâm hơn mọi năm. Sinh viên có quyền được lựa chọn việc nộp hay không điểm SAT cho đến năm 2022, trong bối cảnh có nhiều học sinh không có khả năng tiếp tục đi thi vì dịch Covid-19 vẫn đang hoành hành tại Mỹ.

    Du học sinh Việt Nam nên làm gì khi các trường đại học Mỹ bỏ bài thi SAT?

    Với việc hầu hết các ĐH Mỹ không yêu cầu hoặc lựa chọn điểm SAT/ACT trong hồ sơ xét tuyển ĐH năm 2021 thì điểm GPA (điểm trung bình học tập) có thể sẽ được các trường ĐH đặt trọng tâm hơn mọi năm.

    Học sinh cần tập trung hơn vào điểm GPA của những năm trung học. Đó sẽ là con số quan trọng để đánh giá năng lực của học sinh khi bỏ bài thi SAT. Những học sinh Việt Nam hiện đang theo học tại Mỹ có thể đăng ký thêm các môn AP (những môn trong chương trình Đại học) để làm điểm GPA tăng cao nếu có kết quả học tập tốt.

    Những HS VN đang học ở Mỹ nếu có năng lực học tốt thì nên tiếp cận và đăng ký học các môn AP (các môn trong chương trình ĐH). Trung bình lớp 11 – 12 học 2 – 3 môn AP sẽ làm cho điểm GPA tăng cao nếu kết quả học tốt.

    Bỏ bài thi SAT ảnh hưởng thế nào đến sinh viên Việt Nam định du học Mỹ?

    Học sinh cũng cần cố gắng và tập trung giữ điểm tốt trong học kỳ I, tăng thêm kiến thức và trải nghiệm bản thân, tìm hiểu rõ hơn về ngành học và ngôi trường phù hợp với năng lực và tài chính của bản thân và gia đình.

    Bên cạnh đó, học sinh cần chăm chỉ tham gia các hoạt động thiện nguyện, ngoại khóa bên ngoài. Ngoài việc làm cho bộ hồ sơ của bạn thêm đẹp, thì đó chính là cách để bản thân trải nghiệm và tìm hiểu thêm về cuộc sống.

    Tham gia các hoạt động ngoại khóa giúp các bạn học sinh có bộ hồ sơ nổi bật hơn
    Sự dỡ bỏ kỳ thi SAT có thể tác động tiêu cực lên một số người, thế nhưng nó cũng tạo nên những tác động tích cực lên những người khác. Bạn cũng đừng nên quá lo lắng vì điểm số, bởi vì các trường Đại học ở Mỹ cần tuyển về “con người”, chứ không quan trọng đến”điểm số”. Do đó, thay vì tập trung vào những bài kiểm tra, du học sinh có thể tham gia các hoạt động xã hội nhiều hơn, hình thành nên một nét đặc biệt của cá nhân – thứ mà các trường Đại học kỳ vọng ở bạn.

  • Nhiều trường đại học ở Mỹ bỏ xét điểm SAT và ACT!

    Nhiều trường đại học ở Mỹ bỏ xét điểm SAT và ACT!

    Hơn 80% đại học ở Hoa Kỳ chính thức bãi bỏ yêu cầu nộp điểm thi chuẩn hóa như SAT hay ACT trong hồ sơ dự tuyển. Vậy các trường này sẽ dựa vào đâu để tuyển sinh viên?

    Việc hủy bỏ kỳ thi tạo ra sự bùng nổ số lượng đăng ký vào các trường. Theo dữ liệu thu thập từ 28 viện tại Mỹ của College Dekho, những trường yêu cầu bài test không bắt buộc có nhiều học sinh thi tuyển vào hơn. Tờ Washington Post cho biết, Viện Công nghệ MIT đã có hơn 66% đơn đăng ký vào năm 2021 so với năm 2020, trong khi đó tỉ lệ này ở đại học UCLA là 28%.

    Nhiều trường đại học ở Mỹ bỏ xét điểm SAT và ACT!

    Nhiều trường đại học ở Mỹ bỏ xét điểm SAT và ACT!

    Thay vào đó, các trường này sẽ dựa vào lý lịch, hồ sơ để tuyển sinh! Lý do? Để công bằng trong tuyển sinh!

    Điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kế hoạch đi học ở Hoa Kỳ của rất nhiều người Việt Nam nói riêng và châu Á nói chung. Các sinh viên châu Á nổi tiếng là có điểm thi chuẩn hóa rất cao. Do đó sinh viên châu Á tràn ngập các trường đại học Hoa Kỳ mặc dù chỉ chiếm khoảng 7% dân số Hoa Kỳ.

    Để giảm bớt lượng sinh viên châu Á trong trường, nhiều đại học lớn ở Hoa Kỳ giới hạn số lượng sinh viên châu Á có thể nhập học. Điều này khiến cho nhiều người gốc Á ở Hoa Kỳ không vào được các đại học tốt mặc dù điểm thi của họ cao hơn hẳn những người được nhập học. Nhiều người đã kiện các trường này là phân biệt chủng tộc trong việc tuyển sinh.

    Nay các trường bãi bỏ việc nộp điểm thi, tất nhiên những người gốc Á sẽ không còn cơ sở để kiện các trường nữa.

    Như vậy nhiều bạn châu Á sẽ phải thay đổi rất nhiều để có thể đi học ở Hoa Kỳ, các bạn phải chuyển trọng tâm từ cố gắng đạt điểm cao thành ra làm sao để có lý lịch “đẹp.” Tất nhiên, nhiều thứ trong lý lịch không dễ thay đổi, ví dụ như gốc Á của mình. Một số người bạn của mình đã cân nhắc đặt tên con theo các sắc dân khác, “đẹp” hơn.

    Đây là chuyện thật 100%, không có đùa nhé!

    Mấy việc này Việt Nam đã làm mấy chục năm trước nhưng làm không đến nơi đến chốn, bây giờ Hoa Kỳ đã qua mặt quá xa. Vậy mà Việt Nam vẫn lay hoay với các thể loại thi tuyển đại học.

    “Các học sinh châu Á muốn du học Mỹ đều nghĩ rằng cần phải thi SAT. Tuy nhiên, xu hướng này đang thay đổi”, ông Ian Boley giáo viên dạy SAT, ACT với kinh nghiệm 1.600 giờ dạy, nói.

    Các trường Đại học của Mỹ đánh giá cao thư giới thiệu trong hồ sơ của ứng viên. Bức thư mà người viết làm nổi bật được thế mạnh của học sinh ở trường trung học sẽ gây được ấn tượng. Ngoài ra, các trường đều yêu cầu ứng viên phải có một trong các chứng chỉ ngoại ngữ như IELTS, TOEFL hay Duolingo.

    Tổng hợp từ bài viết của GS Nga Ho-Dac

  • Đề Sử sở Nam Định 2023

    O2 Education xin giới thiệu Đề Sử sở Nam Định 2023 kèm đáp án. Mời thầy cô và các em tham khảo thêm Đề Địa sở Nam Định 2023.

    Đề Sử sở Nam Định 2023 mã 511

    Câu 1: Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nước Đông Nam Á bị biến thành thuộc địa của nước nào sau đây?

         A. Italia.                             B. Nhật Bản.                       C. Ba Lan.                  D. Nam Tư.

    Câu 2: Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919-1929) ở Đông Dương, thực dân Pháp đầu tư vốn nhiều nhất vào ngành kinh tế nào?

         A. Nông nghiệp.                 B. Thương nghiệp.             C. Dịch vụ.                 D. Công nghiệp

    Câu 3: Phong trào cách mạng nào lần đầu khẳng định quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với cách mạng Đông Dương?

         A. Phong trào dân chủ 1936-1939.                             B. Phong trào giải phóng dân tộc 1939-1945.

                C. Phong trào “vô sản hóa” cuối năm 1928.              D. Phong trào cách mạng 1930-1931. Câu 4: Tháng 1-1950, nước nào dưới đây ở châu Á tuyên bố độc lập?

         A. Dimbabuê.                     B. Ấn Độ.                           C. Inđônêxia.              D. Ai Cập.

    Câu 5: Năm 1941, Nguyễn Ái Quốc chọn Cao Bằng để xây dựng căn cứ địa cách mạng vì một trong những lí do nào sau đây?

    1. Nhiều căn cứ du kích đã được xây dựng.
    2. Các đội quân giải phóng đã được thành lập.
    3. Lượng lượng vũ trang phát triển lớn mạnh.
    4. Quần chúng hăng hái tham gia cách mạng.

    Câu 6: Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (11-1939) đã chủ trương thành lập Mặt trận nào?

    1. Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh.
    2. Mặt trận Liên hiệp Quốc dân Việt Nam.
    3. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
    4. Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương.

    Câu 7: Sau chiến tranh lạnh, để xây dựng sức mạnh thực sự, các quốc gia trên thế giới đều tập trung phát triển lĩnh vực nào?

         A. Văn hóa.                        B. Dân số.                           C. Kinh tế.                  D. Thể thao.

    Câu 8: “Quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, những ảnh hưởng tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau, của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới” là bản chất của xu thế nào sau đây?

     A. Toàn cầu hóa. B. Quốc hữu hóa. C. Khu vực hóa. D. Công nghiệp hóa. Câu 9: Nội dung nào sau đây là nguồn gốc của cách mạng khoa học-kĩ thuật diễn ra từ những năm 40 của thế kỉ XX?

         A. Những đòi hỏi của cuộc sống.                                  B. Trật tự thế giới đa cực được thiết lập.

     C. Trật tự thế giới hai cực Ianta sụp đổ. D. Những phức tạp của quan hệ quốc tế. Câu 10: Trong những năm 1952-1991, về khoa học-công nghệ, Nhật Bản tập trung chủ yếu vào lĩnh vực nào?

         A. Khai thác lâm sản phong phú.                                   B. Sản xuất ứng dụng dân dụng.

         C. Sản xuất vũ khí hạt nhân.                                          D. Khai thác nguồn tài nguyên.

    Câu 11 Một tổ chức của các nước tư bản phát triển được thành lập trong nửa sau thế kỉ XX là

         A. Quốc tế cộng sản.                                                      B. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á.

         C. Liên minh phòng thủ Vácsava.                                 D. Liên minh Châu Âu.

    Câu 12: Trong những năm 1946-1954, chiến thắng nào của Việt Nam buộc thực dân Pháp phải chuyển từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh lâu dài”?

         A. Chiến thắng Điện Biên Phủ.                                     B. Chiến thắng Phước Long.

         C. Chiến thắng Bình Giã.                                               D. Chiến thắng Việt Bắc thu-đông .

    Câu 13: Kinh tế Mĩ lâm vào tình trạng khủng hoảng và suy thoái kéo dài những năm 1973-1982 là do nguyên nhân nào sau đây?

    1. Xu thế khu vực hóa đang diễn ra mạnh mẽ.
    2. Thực hiện chiến lược “Cam kết và mở rộng”.
    3. Tác động của cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới.
    4. Áp dụng thành tựu của khoa học-kĩ thuật vào sản xuất.

    Câu 14: Trong khoảng thời gian từ năm 1950 đến nửa đầu những năm 70 của thế kỉ XX, Liên Xô đi đầu thế giới trong ngành công nghiệp nào sau đây?

         A. Điện ảnh.                       B. Vũ trụ.                            C. Âm nhạc.                 D. Điện tử.

    Câu 15: Liên minh quân sự lớn nhất của các nước tư bản phương Tây do Mĩ cầm đầu là

         A. NATO.                           B. IMF.                               C. UNESCO.                D. APEC.

    Câu 16. Một trong những hoạt động của nhân dân Việt Nam trong phong trào dân chủ 1936-1939 là        A. xây dựng bộ đội địa phương. B. thành lập bộ đội chủ lực.

         C. phát triển dân quân du kích.                                      D. đấu tranh đòi các quyền dân chủ.

    Câu 17: Ngày 8-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ để

         A. cải cách kinh tế.                                                        B. cải cách văn hóa.

         C. giải quyết nạn dốt.                                                     D. chống giặc đói.

    Câu 18: Tờ báo nào sau đây do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và ra số đầu tiên ngày 21-6-1925?

         A. Báo Nhân dân.               B. Báo Búa liềm.                C. Báo Thanh niên.      D. Báo Nhân đạo.

    Câu 19: Theo quyết định của Hội nghị Ianta (tháng 2-1945),  nước nào đóng quân ở phía nam vĩ tuyến 38 trên bản đảo Triều Tiên?

         A. Anh.                               B. Liên Xô.                         C. Mĩ.                           D. Trung Quốc.

    Câu 20: Tháng 8-1961, Mĩ đề xướng việc tổ chức Liên minh vì tiến bộ để lôi kéo các nước nào?

         A. Đông Âu.                       B. Mĩ Latinh.                      C. Tây Âu.                    D. Bắc Phi.

    Câu 21: Một trong những vai trò của lực lượng chính trị ở Việt Nam trong cao trào kháng Nhật cứu nước là

    1. là chỗ dựa cho quân đội nhân dân trong chiến đấu.
    2. cung cấp sức người, sức của cho tiền tuyến chiến thắng.              C. hỗ trợ lực lượng vũ trang thực hiện Tổng khởi nghĩa.

         D. tăng cường sức mạnh đấu tranh của lực lượng vũ trang.

    Câu 22: Nhận xét nào sau đây là đúng về vai trò tiên phong của Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam trong những năm 1921-1925?

    1. Mở đầu cho việc giải quyết tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước.
    2. Đưa tư tưởng cách mạng mới đi vào đời sống của các lực lượng xã hội.
    3. Tìm ra con đường cứu nước mới đó là con đường cách mạng vô sản.
    4. Bắt đầu trở thành người cộng sản nhằm đấu tranh giải phóng dân tộc.

    Câu 23: Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (7-1973) xác định kẻ thù của cách mạng là

    1. liên quân Anh, Mĩ và quân đội Sài Gòn.
    2. đế quốc Mĩ và quân Trung Hoa Dân quốc.
    3. đế quốc Mĩ và tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu.
    4. chính quyền Sài Gòn và thực dân Pháp.

    Câu 24 Khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội thắng lợi (19-8-1945) đã

    1. tượng trưng cho thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa trong cả nước.
    2. làm sụp đổ chính quyền thực dân phong kiến ở các tỉnh Bắc Kì.
    3. giải phóng thủ đô, tạo điều kiện để Việt Nam tuyên bố độc lập.
    4. cổ vũ, động viên nhân dân các địa phương đứng lên giành chính quyền.

    Câu 25: Nội dung nào sau đây phản ánh đúng ý nghĩa của chiến thắng Ấp Bắc (02-01-1963) ở miền Nam Việt Nam?

    1. Chứng minh sức mạnh của Quân giải phóng miền Nam trong trận đối đầu đầu tiên với quân đội Sài Gòn.
    2. Làm phá sản các chiến thuật chiến tranh hiện đại của đế quốc Mĩ trong chiến lược chiến tranh đặc biệt ở miền Nam.
    3. Mở đầu cho sự khủng hoảng về chiến thuật và là dấu hiệu phá sản chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mĩ.  D. Mở ra khả năng thắng Mĩ của quân dân hai miền đất nước, làm xoay chuyển tình thế của chiến tranh.

    Câu 26: Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương (2-1951) quyết định Đảng sẽ

         A. ra hoạt động công khai.                                             B. thực hiện đổi mới đất nước.

         C. tuyên bố tự giải tán.                                                  D. phát động tổng khởi nghĩa.

    Câu 27: Quyền độc lập của Việt Nam lần đầu tiên được ghi nhận trong văn bản pháp lí quốc tế nào dưới đây?

         A. Hiệp định Giơnevơ năm 1954.                                  B. Tạm ước Việt- Pháp năm 1946.

         C. Hiệp định Pari năm 1973.                                         D. Hiệp định Sơ bộ năm 1946.

    Câu 28: Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam những năm 1927-1930 có hạn chế nào dưới đây?

    1. Việc giáo dục, tuyên truyền nhân dân đấu tranh chưa được đẩy mạnh.
    2. Chưa nhận thức được tầm quan trọng của sức mạnh trong đấu tranh.
    3. Chưa có sự định hướng và lãnh đạo của các lực lượng xã hội mới.
    4. Chủ yếu đấu tranh đòi quyền lợi về kinh tế, dễ thỏa hiệp với thực dân.

    Câu 29: Chiến thắng Vạn Tường (8- 1965) chứng tỏ quân dân miền Nam Việt Nam hoàn toàn có khả năng đánh bại chiến lược chiến tranh nào của Mĩ?

         A. “Chiến tranh đơn phương”.                                       B. “Việt Nam hóa chiến tranh”.

         C. “Chiến tranh đặc biệt”.                                             D. “Chiến tranh cục bộ”.

    Câu 30: Đối với Việt Nam, Hiệp định Pari năm 1973 và Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đều        A. là những thắng lợi trong đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới.

    • đưa đến việc chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.
    • mở ra kỷ nguyên độc lập, thống nhất tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
    • kết thúc các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

    Câu 31: Nội dung nào dưới đây phản ánh không đúng thủ đoạn của Mĩ khi thực hiện chiến lược Chiến tranh cục bộ ở miền Nam Việt Nam?

    1. Đưa quân viễn chinh vào tham chiến trực tiếp.
    2. Sử dụng phương tiện chiến tranh hiện đại.
    3. Mở các cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định”.
    4. Mở rộng chiến tranh ra toàn khu vực Đông Nam Á.

    Câu 32: Nội dung nào sau đây là nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước (1954-1975) ở Việt Nam?

    1. Sự chi viện, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa.
    2. Được sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới.
    3. Đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng Lao động Việt Nam.
    4. Tình đoàn kết chiến đấu giữa liên minh ba nước Đông Dương.

    Câu 33 Nội dung nào dưới đây phản ánh đúng về giá trị của phong trào thi đua yêu nước ở Việt Nam những năm 1950-1954?

    1. Lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
    2. Diễn ra với nhiều hình thức khác nhau và thu hút đông đảo các lực lượng xã hội.
    3. Có nội dung phong phú, phạm vi rộng lớn, diễn ra liên tục trong thời gian dài.
    4. Tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn dẫn tới những thắng lợi vẻ vang.

    Câu 34: Ở Việt Nam, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 được mở đầu bằng chiến dịch

    1. Đà Nẵng.    B. Huế.            C. Hồ Chí Minh.          D. Tây Nguyên.

    Câu 35: Các hình thức mặt trận dân tộc thống nhất ở Việt Nam những năm 1936-1941 đều           A. đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất, tập trung của Đảng Cộng sản Việt Nam.

    • đấu tranh nhằm giải quyết triệt để các mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội.
    • tập hợp các dân tộc Đông Dương cùng đấu tranh giành độc lập dân tộc.
    • tập hợp, phát huy sức mạnh đấu tranh của các lực lượng xã hội khác nhau.

    Câu 36: Ở Việt Nam, phong trào cách mạng 1930-1931 có bước tiến mới nào dưới đây so với phong trào dân tộc dân chủ 1919-1930?

    1. Diễn ra ở khắp các vùng nông thôn và thành thị, buộc chính quyền thực dân phải nhượng bộ.
    2. Mang tính thống nhất cao, các lực lượng cách mạng chủ yếu phối hợp chặt chẽ trong đấu tranh.  C. Nhận thức đúng kẻ thù của dân tộc và giai cấp, lôi cuốn nhiều lực lượng xã hội tham gia đấu tranh.  D. Đánh đổ chính quyền thực dân phong kiến, thành lập nhà nước dân chủ của nhân dân lao động.

    Câu 37: Quân Trung Hoa Dân quốc và thực dân Pháp đều là đối tượng của cách mạng Việt Nam trong khoảng thời gian 1945-1946 vì chúng

    1. liên minh với nhau để cùng thống trị nhân dân.
    2. âm mưu lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân.
    3. hợp sức với nhau đánh chiếm miền Bắc Việt Nam.
    4. kết hợp với nhau gây chiến tranh trong cả nước.

    Câu 38: Ở Việt Nam, phong trào công nhân 1919-1925 và phong trào công nhân 1926-1929 có điểm tương đồng nào sau đây?

    1. Là trung tâm của phong trào yêu nước và cách mạng.
    2. Dẫn đầu phong trào yêu nước, cổ vũ các lực lượng khác.
    3. Có sự liên kết chặt chẽ trong quá trình đấu tranh cách mạng.
    4. Có sự dẫn đường của lí luận cách mạng tiên tiến.

    Câu 39: Một trong những nguyên nhân chung dẫn đến thắng lợi của Việt Nam trong các chiến dịch từ năm 1947 đến năm 1950 là

    1. có sự giúp đỡ to lớn của các nước lớn xã hội chủ nghĩa.
    2. lực lượng giải phóng quân tràn ngập khí thế quyết thắng.
    3. chính quyền công nông trong cả nước được hoàn chỉnh.              D. sức mạnh toàn diện của đất nước được phát huy cao độ.

    Câu 40: Nội dung nào sau đây phản ánh không đúng vai trò của cách mạng miền Bắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong thời kì 1954-1975?

    1. Làm nghĩa vụ hậu phương của chiến tranh cách mạng.
    2. Nối liền hậu phương quốc tế với chiến trường miền Nam.
    3. Trực tiếp đánh thắng các chiến lược chiến tranh của Mĩ.
    4. Bảo vệ vững chắc căn cứ địa chung của cách mạng cả nước.

    Đáp án đề Sử sở Nam Định 2023

    Đề\câu1234567891011121314151617181920
    511BADBDDCAABDDCBADCCCB
    513BBDBABDDDBBBADAACDDA
    515CBBBADADCBBBAAAABAAA
    517BBCCDBBCCABAADACAADA
    Đề\câu2122232425262728293031323334353637383940
    511DBCDCAAADBDCDDDBBDDC
    513CCADDACBBDBADCAAACBD
    515DBBCACCBBCACBCBBACDD
    517CBCAADABCBDADDBBCCBD
  • Đề Địa sở Nam Định 2023

    O2 Education xin giới thiệu đề Địa sở Nam Định 2023 dành cho khối 12 thi khảo sát cuối năm học.

    Mời thầy cô và các em tham khảo Đề Tiếng Anh SGD Nam Định 2023.

    Đề Địa sở Nam Định 2023 mã 511

    Câu 41: Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang Thương mại, cho biết tỉnh nào sau đây nhập siêu?

    A. Thanh Hóa.                       B. Lào Cai.                         C. Quảng Ninh.                  D. Khánh Hòa.

    Câu 42: Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang Kinh tế chung, cho biết trung tâm kinh tế nào sau đây thuộc tỉnh Tiền Giang?

    A. Biên Hòa.                          B. Long Xuyên.                  C. Mỹ Tho.                         D. Vũng Tàu.

    Câu 43: Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, vùng Đồng bằng sông Hồng, cho biết địa điểm nào sau đây có công nghiệp khai thác quặng mangan?

    A. Tĩnh Túc.                          B. Sinh Quyền.                   C. Văn Bàn.                       D. Tốc Tát.

    Câu 44: Lũ quét ở nước ta

    A. được dự báo chính xác.                                                B. xu hướng ngày càng tăng.

    C. xảy ra nhiều ở đồng bằng.                                            D. tập trung ở Nam Bộ.

    Câu 45: Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, cho biết hồ Phú Ninh thuộc tỉnh nào? 

    A. Quảng Ngãi.                       B. Kon Tum.                     C. Gia Lai.                        D. Quảng Nam.

    Câu 46: Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang Các ngành công nghiệp trọng điểm, cho biết hai trung tâm công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm nào sau đây có cùng quy mô?

    A. Cà Mau, Biên Hòa.        B. Tây Ninh, Nha Trang.     C. Phan Thiết, Vũng Tàu.        D. Cần Thơ, Tân An.

    Câu 47: Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang Dân số, cho biết tỉnh nào có mật độ dân số nhỏ nhất trong các tỉnh sau đây?

    A. Quảng Ninh.                     B. Vĩnh Phúc.                     C. Thái Bình.                     D. Lai Châu.

    Câu 48: Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang Các miền tự nhiên, miền Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ, miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, cho biết lát cắt AB đi qua núi nào sau đây?

    A. Phia Ya.                             B. Tây Côn Lĩnh.               C. Phia Boóc.                     D. Pu Tha Ca.

    Câu 49: Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang Nông nghiệp, cho biết tỉnh nào có tổng số lượng trâu và bò ít nhất trong các tỉnh sau đây?

    A. Hà Tĩnh.                            B. Quảng Nam.                  C. Yên Bái.                        D. Sơn La.

    Câu 50: Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang Giao thông, cho biết địa điểm nào sau đây là cảng sông?

    A. Cửa Ông.                          B. Nà Sản.                          C. Nhật Lệ.                         D. Sơn Tây.

    Câu 51: Biên giới trên đất liền nước ta được xác định theo

    A. đường ô tô.                       B. đường kinh tuyến.          C. hồ tự nhiên.                   D. đường sống núi.

    Câu 52: Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang Hành chính, cho biết phía nam của tỉnh Bình Định giáp với tỉnh nào sau đây?

    A. Gia Lai.                             B. Phú Yên.                        C. Ninh Thuận.                  D. Quảng Ngãi.

    Câu 53: Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang Vùng Bắc Trung Bộ, cho biết cây nào sau đây được trồng ở tỉnh Nghệ An?

    A. Cao su.                              B. Bông.                             C. Cà phê.                          D. Điều.

    Câu 54: Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang Khí hậu, cho biết địa điểm nào sau đây có tổng lượng mưa từ tháng XI – IV lớn nhất?

    A. Lũng Cú.                           B. Huế.                               C. TP. Hồ Chí Minh.          D. Hà Nội.

    Câu 55: Khu vực được bồi tụ phù sa hàng năm ở đồng bằng sông Hồng là

    A. vùng ngoài đê. B. ở rìa phía tây. C. ô trũng ngập nước. D. khu ruộng cao. Câu 56: Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang Công nghiệp chung, cho biết tỉnh nào sau đây có ngành công nghiệp khai thác, chế biến lâm sản?

    A. Kon Tum.                          B. Bình Phước.                   C. Bình Thuận.                   D. Lâm Đồng.

    Câu 57: Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang Du lịch, cho biết điểm du lịch nào sau đây nằm ở ven biển?

    A. Đá Nhảy.                           B. Nậm Cắn.                       C. Khe Sanh.                      D. Bến En.

    Câu 58: Căn cứ vào Atlat Địa lí Việt Nam trang Các hệ thống sông, cho biết cửa sông nào sau đây thuộc lưu vực hệ thống sông Hồng?

    A. Lạch Giang.                      B. Lạch Trường.                 C. Văn Úc.                         D. Nhật Lệ.

    Câu 59: Ngành khai thác thủy sản ở nước ta hiện nay

    A. không tác động đến môi trường vùng biển.                 B. sản lượng luôn cao hơn ngành nuôi trồng.

    C. chỉ chịu tác động của thị trường trong nước.     D. tăng cường đầu tư phương tiện đánh bắt. Câu 60: Cho bảng số liệu:

                            DÂN SỐ VÀ GDP CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á, NĂM 2020

    Quốc giaThái LanPhilippinLàoViệt Nam
    GDP (nghìn USD)501,6361,419,1346,6
    Dân số (triệu người)69,7109,67,297,3

                                                       (Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2021, NXB Thống kê 2022)

    Theo bảng số liệu, nhận xét nào sau đây đúng về GDP bình quân đầu người của một số quốc gia  Đông Nam Á năm 2020?

    A. Thái Lan thấp hơn Philippin.                                       B. Việt Nam thấp hơn Lào.

    C. Philippin cao hơn Việt Nam.                                        D. Thái Lan cao hơn Việt Nam.

    Câu 61: Cho biểu đồ:

    DIỆN TÍCH GIEO TRỒNG CÂY LƯƠNG THỰC CÓ HẠT Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG NƯỚC TA, NĂM 2015 VÀ 2020.

    Đề Địa sở Nam Định 2023

                                     (Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2021, NXB Thống kê 2022)

    Theo biểu đồ, nhận xét nào sau đây đúng về sự thay đổi diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt ở một số địa phương nước ta năm 2015 và 2020?

    A. Hà Nội giảm nhiều hơn Nam Định.                             B. Nam Định giảm, Hà Nội tăng.

    C. Nam Định giảm ít hơn Thái Bình.                               D. Thái Bình tăng, Nam Định tăng.

    Câu 62: Ngành chăn nuôi lợn ở nước ta thường tập trung ở những vùng

    A. ven biển, có nghề cá phát triển mạnh.                         B. sản xuất lương thực phát triển, đông dân cư.

    C. lao động có trình độ, mức sống cao.                            D. đảm bảo nguồn thức ăn, nguồn nước dồi dào.

    Câu 63: Diện tích đất trống, đồi trọc ở nước ta gần đây giảm mạnh chủ yếu do

       A. trồng rừng và bảo vệ rừng.                                       B. mở rộng diện tích rừng đặc dụng.

       C. du canh du cư và cải tạo đất.                                    D. tăng khai thác gỗ ở rừng sản xuất.

    Câu 64: Dân số vùng đồng bằng nước ta hiện nay

       A. tập trung ở phía nam.                                                B. có mật độ dân số cao.

       C. chỉ hoạt động nông nghiệp.                                      D. không có dân tộc thiểu số.

    Câu 65: Sản xuất lúa ở nước ta hiện nay

       A. có diện tích tăng rất nhanh.                                       B. chỉ phục vụ thị trường nội địa.

       C. tỉ trọng giá trị sản xuất giảm.                                    D. năng suất biến động mạnh.

    Câu 66: Đô thị ở nước ta hiện nay

       A. chủ yếu có quy mô trên 1 triệu dân.                         B. số lượng nhiều nhất ở Đông Nam Bộ.

       C. tỉ lệ các hộ dân phi nông nghiệp cao.                       D. không gây ra áp lực đến việc làm.

    Câu 67: Cho biểu đồ về sản lượng xi măng phân theo thành phần kinh tế ở nước ta giai đoạn 2015 – 2020:

    Đề Địa sở Nam Định 2023

                                       (Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2021, NXB Thống kê 2022) Biểu đồ trên thể hiện nội dung nào sau đây?

       A. Quy mô và cơ cấu sản lượng xi măng.                     B. Tốc độ tăng trưởng sản lượng xi măng.

       C. Sự chuyển dịch cơ cấu sản lượng xi măng.              D. Sản lượng và giá trị sản xuất xi măng.

    Câu 68: Ngành công nghiệp khai thác than ở nước ta hiện nay

       A. chỉ làm nhiên liệu cho nhiệt điện.                             B. than antraxit sinh nhiệt cao.

       C. gây ô nhiễm nhất cho vùng đô thị.                           D. có sản lượng giảm liên tục.

    Câu 69: Vận tải đường biển ở nước ta hiện nay

       A. chỉ phát triển các tuyến đường biển nội địa.             B. có khối lượng vận chuyển hàng hóa lớn nhất.

       C. tuyến ven bờ chủ yếu là hướng bắc – nam.                 D. không ảnh hưởng đến các ngành kinh tế khác.

    Câu 70: Chế độ nhiệt của nước ta biến động theo thời gian chủ yếu do

    1. hướng địa hình, các hoạt động kinh tế, gió mùa Đông Bắc.
    2. tác động của hoàn lưu gió mùa, biến đổi khí hậu toàn cầu.
    3. hậu quả của phá rừng, địa hình núi cao, hình dáng lãnh thổ.
    4. hiện tượng thời tiết cực đoan, tác động của biển, vị trí địa lí.

    Câu 71: Giải pháp chủ yếu để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động ở nông thôn nước ta là

    1. xây dựng chính sách chuyển cư phù hợp, giảm gia tăng dân số tự nhiên.
    2. đa dạng hóa hoạt động kinh tế, đẩy mạnh sản xuất nông sản hàng hóa.
    3. thu hút vốn nước ngoài để mở rộng sản xuất, xây dựng khu công nghiệp.
    4. đẩy mạnh xuất khẩu lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

    Câu 72: Biểu hiện của sự chuyển dịch cơ cấu lãnh thổ kinh tế nước ta là

    1. số lượng các công ty cổ phần và doanh nghiệp tư nhân tăng nhanh.
    2. tăng tỉ trọng các sản phẩm cao cấp, giảm các sản phẩm chất lượng thấp.
    3. xuất hiện nhiều phương thức hoạt động mới, cơ cấu ngành đa dạng.
    4. hình thành các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất quy mô lớn.

    Câu 73: Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển du lịch bền vững ở vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ là

    1. ứng dụng công nghệ, đa dạng hóa hoạt động, phát triển giao thông, tăng cơ sở lưu trú.
    2. tôn tạo các địa điểm du lịch, đẩy mạnh đào tạo du lịch, tăng đầu tư, mở rộng sân bay.
    3. đa dạng hóa sản phẩm du lịch, nâng cao trình độ, phát triển hạ tầng, bảo vệ môi trường.
    4. đổi mới chính sách, đầu tư hạ tầng du lịch, bảo vệ tài nguyên rừng, bảo tồn các di tích.

    Câu 74: Nguyên nhân chủ yếu làm cho kim ngạch nhập khẩu của nước ta tăng là

    1. kinh tế phát triển rất nhanh, nhu cầu tiêu dùng hàng cao cấp tăng.
    2. tham gia tổ chức Thương mại thế giới, xuất khẩu tăng nhanh.
    3. sự phục hồi và phát triển của sản xuất, đẩy mạnh hội nhập quốc tế.
    4. thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn, mức sống người dân tăng.

    Câu 75: Hoạt động công nghiệp ở khu vực miền núi nước ta còn hạn chế chủ yếu do

    1. địa hình cắt xẻ mạnh, Nhà nước chưa chú trọng đầu tư.
    2. khoáng sản nghèo, thiếu nhiều lao động có trình độ cao.
    3. tài nguyên thiên nhiên kém đa dạng, thiếu năng lượng.
    4. cơ sở hạ tầng hạn chế, đặc biệt là giao thông vận tải.

    Câu 76: VùngĐồng bằng sông Hồng có cơ cấu ngành dịch vụ đa dạng chủ yếu do

       A. nền kinh tế phát triển, dân cư đông đúc.                   B. thu hút nhiều nguồn vốn, mức sống cao.

       C. cơ sở hạ tầng đồng bộ, nhiều đô thị lớn.                  D. vị trí quan trọng, nhiều khu công nghiệp.

    Câu 77: Giải pháp chủ yếu để ổn định sản xuất cây công nghiệp lâu năm ở vùng Tây Nguyên là

    1. tăng diện tích kết hợp bảo vệ rừng, phát triển thủy lợi.
    2. mở rộng diện tích có quy hoạch, phát triển chế biến.
    3. đa dạng hóa cơ cấu cây trồng, mở rộng thị trường.
    4. đẩy mạnh xuất khẩu, trồng các giống năng suất cao.

    Câu 78: Ý nghĩa chủ yếu của việc phát triển các cảng nước sâu ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là

    1. tăng cường liên kết, nâng cao vị thế của vùng, thay đổi sự phân bố dân cư.
    2. thay đổi phân công lao động, hình thành khu kinh tế, phát huy nguồn lực.
    3. phát triển nền kinh tế mở, thu hút vốn đầu tư, hình thành khu công nghiệp.
    4. hình thành mạng lưới đô thị, tăng vai trò trung chuyển, đẩy mạnh giao lưu.

    Câu 79: Cho bảng số liệu: 

    GIÁ TRỊ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HÓA VÀ DỊCH VỤ CỦA THÁI LAN GIAI ĐOẠN 2015 – 2020 

                                                                                                                                         ( Đơn vị: Tỉ USD)

    Năm2015201720192020
    Xuất khẩu7308792175357091
    Nhập khẩu6407681667085842

                                                              (Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam 2021, NXB Thống kê 2022)

    Theo bảng số liệu, biểu đồ nào thích hợp nhất để thể hiện tốc độ tăng trưởng giá trị xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của Thái Lan giai đoạn 2015 – 2020?

       A. Đường.                          B. Kết hợp.                         C. Miền.                             D. Cột.

    Câu 80: Việc phát triển cơ cấu nông – lâm – ngư nghiệp ở vùng Bắc Trung Bộ chủ yếu nhằm

    1. tạo nhiều hàng hóa, tận dụng nguồn lực, nâng cao giá trị sản xuất.
    2. thay đổi cơ cấu kinh tế, phát huy thế mạnh, tạo ra nhiều hàng hóa.
    3. phân bố lại sản xuất, tạo nguyên liệu cho chế biến, tăng thu nhập.
    4. tăng hiệu quả kinh tế, tạo sản phẩm xuất khẩu, khai thác thế mạnh.

    ———– HẾT ———-

    • Thí sinh được sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam.
    • Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.

    Đáp án Địa sở Nam Định 2023 mã 511

    CÂUMÃ 511    CÂUMÃ 513CÂUMÃ 515CÂUMÃ 517
    41B41A41C41A
    42C42B42C42D
    43D43A43D43D
    44B44D44D44C
    45D45C45C45C
    46A46D46C46B
    47D47A47B47C
    48C48C48B48A
    49C49D49B49B
    50D50B50B50D
    51D51B51D51D
    52B52C52D52D
    53C53D53D53A
    54B54C54A54A
    55A55D55A55B
    56C56A56A56D
    57A57B57C57B
    58A58A58C58C
    59D59A59C59A
    60D60D60A60C
    61A61B61C61C
    62B62A62C62B
    63A63C63B63C
    64B64C64D64C
    65C65B65C65B
    66C66A66B66D
    67C67B67D67B
    68B68D68A68D
    69C69B69A69A
    70B70C70D70D
    71B71D71A71A
    72D72A72B72A
    73C73B73C73B
    74C74D74A74C
    75D75A75B75C
    76A76B76B76A
    77C77D77A77C
    78C78A78C78C
    79A79C79D79B
    80B80D80D80D

  • Đề Tiếng Anh SGD Nam Định 2023

    O2 Education xin gửi thầy cô Đề Tiếng Anh SGD Nam Định 2023 lớp 12 và đáp án. Mời Thầy Cô và các em tham khảo thêm:

    Đề Tiếng Anh SGD Nam Định 2023 mã 311

    Mark the letter A, B, C or D on your answer sheet to indicate the word whose underlined part differs from the other three in pronunciation in each of the following questions. 

    Question 1: A. wealth            B. theatre        C. breath                     D. weather

    Question 2: A. pick         B. hide            C. shine             D. like

    Mark the letter A, B, C, or D on your answer sheet to indicate the word that differs from the other three in the position of primary stress in each of the following questions. 

    Question 3: A. career            B. hacker                      C. custom                    D. leaflet Question 4: A. activate          B. specialize                 C. abandon                 D. classify

    Mark the letter A, B, C, or D on your answer sheet to indicate the correct answer to each of the following questions.

    Question 5: Tom’s parents insisted that he ______ hard for the GCSE exams.

    A. studies                   B. studied                      C. study                       D. was studying

    Question 6: My younger sister is much ______ at English than me.

    A. good                              B. better                        C. the best                         D. best

    Question 7: My brother feels too exhausted. He ______ in the garden all morning. 

    A. works                B. worked                C. has worked                   D. has been working

    Question 8: My son became addicted ______ social networking when he was at the age of eleven.

    A. at                                   B. for                            C. with                               D. to

    Question 9: How long will you have worked on this assignment ______ ?

    A. when you submitted it       B. by the time you submit it 
    C. after you had submitted it D. as soon as you will submit it

    Question 10: Do ______ English drink tea or coffee at breakfast?

         A. a                                    B. an                             C. the                                 D. Ø (no article) 

    Question 11: When I was in Hanoi, I often saw ______ faces of people coming from the rural areas.

                A. weather-beaten       B. thought-provoking  C. cost-effective         D. well-paid Question 12: The workers are trying to ______ the source of the oil leak.         

         A. look up                          B. carry out                   C. search for                      D. rely on

    Question 13: My father offered ______ all of us to the airport.

         A. to take                           B. taking                       C. take                               D. taken 

    Question 14: We must stay ahead of the ______, so we are changing our marketing strategies and the advertising will now include TikTok. 

         A. play                               B. event                        C. game                             D. match

    Question 15: The children ______ video games when the father came into the room.

         A. are playing                    B. play                          C. played                           D. were playing

    Question 16: If you ______ your CV to suit the job requirements, you can increase your chances of getting a job interview. 

        A. sailor                              B. tailor                         C. give                               D. make  

    Question 17: I couldn’t attend your party because I got the fence that fell over the garden ______.

         A. repair                            B. was repaired             C. repaired                        D. to repair

    Question 18: One of the popular ______ used in smartphones at present is voice recognition.

         A. applicants                      B. applicable                 C. apply                             D. applications 

    Question 19: Don’t forget to send a ______ letter with your application form, please.

         A. suggesting                     B. covering                   C. applying                        D. inviting

    Mark the letter A, B, C, or D on your answer sheet to indicate the option that best completes each of the following exchanges in each of the following questions.

    Question 20: Tim and Mary are in the kitchen. 

         Mary: “Would you like some cookies? I have just baked them.”   Tim: “______. I’m hungry now.” 

         A. No, thanks                     B. Yes, of course          C. Here you are                 D. Take it easy

    Question 21: Thomas and Tom are talking about a book they have just read.

    Thomas: “The book is really interesting and educational.”  Tom: “_____. I think everyone should read it.”

         A. I’d love it                                                             B. That’s nice of you to say so

          C. You can say that again                                       D. Don’t mention it

    Mark the letter A, B, C, or D on your answer sheet to indicate the sentence that is closest in meaning to each of the following questions.

    Question 22: My friends said: “We will be here next week.”

    1. My friends said we would be there the following week.
    2. My friends said they should be there the following week.
    3. My friends said they would be here the next week.
    4. My friends said they would be there the following week.

    Question 23: The last time I played volleyball was four years ago.              A. I have not played volleyball for four years.

    • I have often played table tennis for the last four years.
    • About four years ago, I used to played volleyball.
    • I played volleyball four years ago and will never play it again.

    Question 24: It wasn’t necessary for you to do all this work.

         A. You mustn’t have done all this work.                    B. You couldn’t have done all this work.

         C. You may not have done all this work                    D. You needn’t have done all this work.

    Mark the letter A, B, C, or D on your answer sheet to indicate the sentence that is combines each pair of sentences in the following questions.

    Question 25: Lucy really wants to attend the Halloween event. She doesn’t have a Halloween costume.

    1. Provided that Lucy has a Halloween costume, she can’t attend the Halloween event.
    2. If only Lucy had had a Halloween costume, she could attend the Halloween event.
    3. Lucy wishes she had a Halloween costume so that she could attend the Halloween event.
    4. If Lucy had a Halloween costume, she could have attended the Halloween event.

    Question 26: The basketball team knew they lost the match. They soon started to blame each other.

    1. Hardly had the basketball team known they lost the match when they started to blame each other.
    2. No sooner had the basketball team started to blame each other than they knew they lost the match.
    3. As soon as they blamed each other, the basketball team knew they lost the match.
    4. Not only did the basketball team lose the match but they blamed each other as well.

    Mark the letter A, B, C, or D on your answer sheet to indicate the word(s) OPPOSITE in meaning to the underlined word(s) in each of the following questions.

    Question 27: He is overweight because he eats too much junk food and he exercises infrequently.

         A. very often                 B. very poorly                   C. very little                      D. very weakly

    Question 28: I studied and studied for my final test until I knew it by heart.

         A. knew it very well                                                B. was unaware of it

         C. learnt it as much as possible                              D. did it the best 

    Mark the letter A, B, C, or D on your answer sheet to indicate the word(s) CLOSEST in meaning to the underlined word(s) in each of the following questions.

    Question 29: According to the weather forecast, fog will blanket the western area of the island.

         A. report                        B. remove                          C. increase                         D. cover 

    Question 30: Here customers can eat delicious food prepared by a master chef who came from Vietnam.

         A. serious                      B. tasty                              C. skillful                           D. polite

    Mark the letter A, B, C or D on your answer sheet to indicate the underlined part that needs correction in each of the following questions.  

    Question 31: People that are walking across the desert are the kind of industrial and courageous people and they are fully confident in their mental and physical health.

         A. confident                  B. industrial                       C. desert                            D. health

    Question 32: When an animal disappeared totally from the surface of the Earth, we said that they became extinct.

         A. surface                      B. When                            C. disappeared                   D. they

    Question 33: Hackers take her Facebook account last week and they used it to ask others on her social network for money.

         A. for                             B. it                                    C. take                               D. social

    Read the following passage and mark the letter A, B, C or D on your answer sheet to indicate the correct word or phrase that best fits each of the numbered blanks from 34 to 38.

    Plastic bags are being used everyday, not only in Viet Nam but all over the world. They are thought harmful to (34) _______ development. The impacts of plastic bags have long been studied and bad effects of plastic bags are undeniable. Plastic bags (35) _______ end up in landfills or nature can take about 500 years to fully degrade, which is awful for the environment. (36) _______ bad effect is that when plastic bags reach 7080 degrees Celsius, they can indirectly cause cancer and neuron loss. For such reasons, environmentalists want to get rid of plastic bags and set higher tax on plastic bags producers.

    (37) _______, plastic bags are sometimes believed to be the most environmentally friendly option in

    supermarkets. Studies say that “greener” options like paper bags are worse for the environment than plastic bags, which require 96% less water than what is used to (38) _______ paper bags. So it could be argued that plastic bags are also necessary because alternative options haven’t been widely adopted due to cost and consumption habits.

                        (Adapted from FCE Use of English by Virginia Evans)

    Question 34: A. expensive B. changeable  C. unsuitable                     D. sustainable

    Question 35: A. whose          B. who. C. which                            D. what 

    Question 36: A. Few            B. Another C. Many                            D. Much

    Question 37: A. Hence          B. Moreover C. Therefore                      D. However

    Question 38: A. have             B. do C. make                             D. take

    Read the following passage and mark the letter A, B, C, or D on your answer sheet to indicate the correct answer to each of the questions from 39 to 43.

    Lee Kuan Yew was appointed as the first prime minister of Singapore in 1959 when the nation became one of the self-governing states. At that time, Singapore per capita income was only about USD 400. When Lee retired in 1990, the figure was USD 11,000 and in 2014 it went up to over 56,000 even higher than that of its former colonizer, Great Britain. In his impassioned speeches and his famous memoirs, he said “there were also some probable opponents and they laughed at us, but I was confident that we would have the last laugh.”

    Born into a middle-class Chinese family in Singapore, Lee was influenced by the language and institutions of the British rulers. He was destined to go to the UK to study law, but the Second World War broke out and he had to go to the local Raffles College where he learnt some economics. It was not until 1946 when he talked his way to Cambridge and graduated three years later with a starred first. It was during this time that he nurtured ambitions beyond starting a legal career back home.

    As a prime minister, he has always been described as an efficient and inventive person. He was one of the greatest statesmen who proved to the whole world that human ingenuity, not natural resources, is the essential element of prosperity. Lee is also believed to be very forward-looking. When Singapore gained independence in 1965, he decided to keep English as the main language to increase economic benefits. Although many of his policies are still considered controversial, they helped Singapore to overcome many obstacles and become one of the most admired international business and financial centers around the world.

    (Adapted from Sach Bai Tap Tieng Anh 12 by Hoang Van Van)

    Question 39: Which of the following can be the best title for the passage?

    A. Lee Kuan Yew – the Founding Father of Modern Singapore

    B. Lee Kuan Yew – the Ambitious Law Student in the UK

    C. Lee Kuan Yew – the Only Prime Minister of Singapore       

    D. Lee Kuan Yew – the Most Admired International Businessman

    Question 40: The word They in paragraph 1 refers to _______.

    A. self-governing states      B. impassioned speeches            C. probable opponents      D. famous memoirs

    Question 41: According to the text, Lee Kuan Yew’s policies_________.

    A. were in conflict with the public                                   
    B. transformed Singapore into a wealth city
    C. promoted people’s solidarity and health                                   
    D. related to business and finance

    Question 42: The word forward-looking in paragraph 3 mostly means _______.

    A. conservative             B. developing          C. absent-minded             D. progressive

    Question 43: Which of the following is NOT true about Lee Kuan Yew?

    A. He didn’t go to the UK to study law as he didn’t want to pursue a legal career.

    B. He was Singapore’s prime minister for 31 years and had much success.

    C. He had to go to the local Raffles College to learn some economics.         

    D. He postponed his law study because the Second World War broke out.

    Read the following passage and mark the letter A, B, C, or D on your answer sheet to indicate the correct answer to each of the questions from 44 to 50.

    Chat GPT is a language model developed by Open AI that uses deep learning techniques to generate human-like responses to text-based prompts or questions. GPT stands for “Generative Pre-trained Transformer”. The GPT model is capable of generating coherent and contextually relevant responses to a wide range of prompts, making it useful for a variety of applications, such as chatbots, language translation, and content creation. Chat GPT gets its information from a vast corpus of text data that has been preprocessed and used to train the model. This corpus includes a diverse range of sources, such as books, articles, web pages, and other forms of text-based content that are available on the Internet. 

    However, the responses it generates can incorporate knowledge and information that it has learned from this training data. People wonder if this tool will eliminate the majority of jobs and put a huge majority of them out of work. The development of advanced language models like Chat GPT has led to concerns that they could replace human workers and lead to job losses. While it is true that these models are capable of automating certain tasks that were previously performed by humans, they are not necessarily designed to replace human workers. Instead, language models like Chat GPT are often used to increase human labor, enabling workers to be more productive and efficient in their roles. For example, they can be used to assist customer service representatives by answering common questions, freeing up their time to focus on more complex issues. They can also be used to improve the accuracy and efficiency of translation services or to generate content for news articles, social media posts, and other forms of written content.

    In some cases, the development of language models may lead to the displacement of certain jobs, but they also offer new opportunities in fields such as machine learning, data science, and artificial intelligence. It is important to consider the potential impacts of these technologies on the job market and to take steps to ensure that workers are trained and equipped to adapt to these changes. Ultimately, the impact of language models like Chat GPT on the job market will depend on how they are implemented and used in various industries and sectors. 

    (Adapted from https://en.islcollective.com)

    Question 44: Which of the following can be the best title for the passage? 

    A. A Definition of Chat GPT              B. The Drawbacks of Chat GPT         C. An Overview of Chat GPT            D. Chat GPT and Its Origin

    Question 45: The word corpus in paragraph 1 is CLOSEST in meaning to _______.

    A. website                     B. collection                           C. audience                   D. shortage 

    Question 46: According to the passage, which of the following statements is NOT true?

    A. Chat GPT can generate coherent and contextually relevant responses to users’ questions.

    B. Chat GPT can automate certain tasks that were previously performed by humans.

    C. Chat GPT can assist customer service representatives by answering common questions.

    D. Chat GPT can develop Open AI to deal with the problems related to deep learning techniques.

    Question 47: The word them in paragraph 2 refers to _______.

    A. concerns                   B. people                  C. jobs                          D. responses

    Question 48: According to paragraph 2, how does Chat GPT help workers improve their work efficiency?

    A. by freeing up workers’ time to focus on more complicated tasks  

    B. by automating all tasks previously performed by workers 

    C. by enhancing communication between workers and their family

    D. by encouraging workers with its language models

    Question 49: The word offer in paragraph  3 is CLOSEST in meaning to _______.

    A. cancel                     B. create          C. have            D. take

    Question 50: Which of the following can be inferred from the passage? 

    A. Chat GPT can reach its full potential when used properly.

    B. Everyone is indifferent to the influences of Chat GPT on their lives.

    C. Employees fail to work productively due to language models like Chat GPT.  

    D. Chat GPT can generate content for all kinds of media thanks to its brain.

    ———- THE END ———-

    Đáp án Tiếng Anh SGD Nam Định 2023

    SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO                     THI KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG HỌC KỲ II

                    NAM ĐỊNH                                                       NĂM HỌC 2022-2023

    HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN TIẾNG ANH LỚP 12 THPT

    CâuMã đề 311Mã đề 313Mã đề 315Mã đề 317
    1DABC
    2ACAA
    3ACBC
    4CBAD
    5CACA
    6BDDC
    7DDAB
    8DBBD
    9BDCB
    10CDAD
    11ABCC
    12CDBA
    13AADA
    14CCAC
    15DCAD
    16BBCD
    17CCAB
    18DACD
    19BACB
    20BCBA
    21CBAB
    22DBBA
    23ADDC
    24DADD
    25CCBA
    26ACBC
    27ADDB
    28BDDD
    29DDAC
    30CDCA
    31BCAB
    32DBDA
    33CDBD
    34DBDD
    35CDBB
    36BAAD
    37DBBA
    38CAAC
    39ADAC
    40CBAB
    41BBDD
    42DCBC
    43ACBC
    44CBCD
    45BCBA
    46DBAD
    47BABD
    48ABDB
    49BDDA
    50AACB

    Làm tròn điểm tổng sau dấu phảy 01 chữ số

  • SKKN Tạo lớp học ảo học xuyên biên giới để tăng cường khả năng nghe nói bằng hình thức giao lưu với học sinh, sinh viên Mỹ góp phần nâng cao hiệu quả giao tiếp của học sinh

    SKKN Tạo lớp học ảo học xuyên biên giới để tăng cường khả năng nghe nói bằng hình thức giao lưu với học sinh, sinh viên Mỹ góp phần nâng cao hiệu quả giao tiếp của học sinh

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện này, Tiếng Anh được coi là một trong những chìa
    khóa quan trọng giúp con người tiếp cận được thông tin, trau dồi kiến thức và hội nhập với
    xã hội. Chính vì vậy việc đẩy mạnh phòng trào dạy và học tiếng anh ngày càng mạnh mẽ
    ở Việt Nam. Trong việc học tiếng anh việc làm chủ và tự tin nói là yếu tố rất quan trọng
    với người học Tiếng Anh. Tuy nhiên nhiều học sinh ngày nay chỉ quen học từ vựng và ngữ
    pháp để làm tốt trong các bài thi và kiểm tra, chưa được thực hành nói và tâm lí cũng ngại
    nói. Nhiều học sinh khi đứng trước một câu hỏi hay chủ đề nói nào đó lúng túng không
    biết bắt đầu từ đâu và sẽ giao tiếp nói chuyện như thế nào hoặc nhiều học sinh có sử dụng
    Tiếng Anh nhưng còn thiếu tự tin, không đúng nội dung hay nói rất đơn giản.
    Là một giáo viên tiếng Anh cũng không ít lần tôi hỏi học sinh về một vấn đề đã học
    muốn học sinh chia sẻ ý kiến hay quan điểm nhưng nhiều học sinh khi được hỏi cứ lặng
    im và không biết giao tiếp gì. Nhiều học sinh sau 10, 11 năm học hay thậm chí 12 năm học
    tiếng anh vẫn không thể tự tin nói những điều cơ bản trong giao tiếp gì. Hơn thế nữa, việc
    tăng cường cải thiện còn khá là hạn chế và không hẳn bạn học sinh nào cũng có điều kiện
    được tiếp xúc và nói chuyện với người bản xứ để trau dồi khả năng nói tiếng Anh. Trong
    thời gian đại dịch, học sinh và giáo viên đã phải không ngừng học hỏi và làm quen với các
    công cụ dạy học trực tuyến như Zoom, Microsoft Teams, Google Meets… Và nhờ có sự
    kết nối với cô Quỳnh Giao- giảng viên Trường Y David Geffen của đại học California và
    bạn Phan Lê – cựu học sinh, kĩ sư công nghệ thông tin tại SUSE, tôi cũng như học sinh
    trường Mỹ Lộc và một số trường đã có cơ hội tham gia vào lớp học ảo, xuyên biên giới
    với các bạn học sinh sinh viên Mỹ thông qua nền tảng học trực tuyến Zoom vào trưa chủ
    nhật hàng tuần. Trên cơ sở tổ chức các hoạt động học tập kết nối giao lưu, tôi tích lũy được
    rất nhiều kinh nghiệm và kiến thức bổ ích và thông qua sáng kiến này tôi muốn lan tỏa đến
    cho nhiều học sinh và các bạn đồng nghiệp về lớp học ảo trực tuyến này.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến

    1.1.Thực trạng về giao tiếp và sử dụng Tiếng Anh trong các lớp học ảo, lớp
    học xuyên biên giới hiện nay ở Việt Nam.

    2
    Đứng trước yêu cầu môn học hay nghề nghiệp, nhiều học sinh hiện nay đã tìm tòi,
    học hỏi theo nhiều cách khác nhau để cải thiện khả năng giao tiếp sử dụng Tiếng Anh thay
    vì chỉ chú trọng vào từ vựng và ngữ pháp. Trong nhiều cách tiếp cận để cải thiện khả năng
    nói và giao tiếp Tiếng Anh thì những lớp học ảo, lớp học xuyên biên giới với các thầy cô
    hay người nói tiếng Anh bản xứ ngày càng phổ biến vì tính tiện lợi và linh hoạt học mọi
    lúc, mọi nơi. Rất nhiều bạn học sinh trên khắp Việt Nam sử dụng các thiết bị số như ứng
    dụng Zoom, Google Hangouts, Skype để giao tiếp dưới sự kết nối của một số trung tâm và
    tổ chức giáo dục như TOPICA hay Cambly. Ngoài ra còn có các thầy cô giáo Việt Nam đã
    liên hệ kết nối được qua những dự án học xuyên biên giới của cô Hà Ánh Phượng – Phú
    Thọ. Với các lớp học của các trung tâm như TOPICA hay Cambly, học sinh được tương
    tác 24/7 nhưng học sinh phải trả phí để tham gia. Còn lớp học của cô Hà Ánh Phượng, học
    sinh có thể giao lưu kết nối với nhiều học sinh và giáo viên của nhiều nước trên thế giới
    miễn phí nhưng học sinh không thể tương tác 24/7 và là kết nối cả lớp khá đông nên chưa
    cá nhân hóa nhiều bạn vẫn chưa có cơ hội được giao tiếp và thực hành nhiều. Do vậy, với
    nhu cầu và điều kiện của nhiều học sinh thì việc giao tiếp và sử dụng Tiếng Anh với người
    bản xứ vẫn còn nhiều hạn chế. Thực sự rất cần những lớp học xuyên biên giới miễn phí
    với người nói Tiếng Anh bản xứ để học sinh có thể tham gia nhằm cải thiện năng lực ngoại
    ngữ để đáp ứng nhu cầu càng cao của giáo dục và nghề nghiệp.

    1.2.Thực trạng về giao tiếp và sử dụng Tiếng Anh trong các lớp học ảo, lớp
    học xuyên biên giới của học sinh trường THPT Mỹ Lộc.

    Cùng với các trường trong tỉnh, trường THPT Mỹ Lộc đã và đang đồng loạt áp dụng
    giảng dạy sách Tiếng Anh thí điểm hệ 10 năm cho học sinh cả ba khối 10, 11 và 12. Đây
    là chương trình mới, nhằm trang bị cho học sinh đầy đủ bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết,
    phát triển toàn diện cho người học ngoại ngữ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã
    hội. Tuy nhiên để dạy đều cả bốn kỹ năng cho học sinh không phải là dễ vì nhiều em học
    sinh vẫn còn quen với cách học cũ, chỉ chú trọng đọc viết ngữ pháp mà chưa rèn luyện
    nhiều về nghe nói, đặc biệt là kĩ năng nói. Nhiều em học sinh học hết 12 năm học không
    thể nói về những chủ đề thân thuộc nhất như giới thiệu về gia đình, nghề nghiệp tương lai,
    giấc mơ, sở thích của mình. Nguyên nhân của tình trạng rất đáng báo động trên một phần
    là do công tác đánh giá học sinh vẫn dựa trên các kì thi với những bài kiểm tra về đọc, nghe
    và viết. Các bài kiểm tra riêng về nói hầu như là không có hoặc có rất ít nên cả giáo viên
    và học sinh còn chưa chú trọng vào việc rèn luyện kĩ năng này. Tại trường THPT Mỹ Lộc,
    3
    nhiều học sinh cũng vẫn chỉ học từ vựng và ngữ pháp, số lượng các bạn chú trọng phát
    triển kĩ năng nghe nói không nhiều. Ngoài ra, phần đông học sinh của trường đến từ vùng
    nông thông nên chưa có điều kiện tiếp cận với những khóa học trực tiếp hay trực tuyến với
    người bản xứ. Ở trường THPT Mỹ Lộc học sinh có cơ hội được học và tiếp xúc với người
    bản xứ duy nhất qua học Tiếng Anh với người nước ngoài. Trong thời lượng 45 phút và
    lớp học khá đông thì nhiều bạn học sinh vẫn còn e dè và chưa có cơ hội cải thiện khả năng
    nói Tiếng Anh nhiều. Ngoài ra, cũng có một bộ phận học sinh có điều kiện được tiếp xúc
    và học trong các trung tâm tuy nhiên số lượng rất ít. Ngày nay khi xã hội càng phát triển
    và hội nhập sâu rộng hơn thì nhu cầu sử dụng Tiếng Anh càng cao. Bạn sẽ làm gì khi bạn
    chỉ biết viết hay biết ý nghĩa nội dung mà không thể nói để truyền tải thông điệp. Với tư
    cách là một giáo viên Tiếng Anh đứng trước thực trạng này tôi thấy mình cần phải làm gì
    đó để giúp cho các bạn học sinh trường tôi và nếu có cơ hội sẽ giúp thêm các bạn học sinh
    của trường khác. Và tôi đã có cơ hội gặp và tiếp xúc với cô Phạm Quỳnh Giao – giảng viên
    trường đại học Y – David Geffen ở UCLA và một bạn cựu học sinh trường THPT Mỹ Lộc
    – Lê Phan – kĩ sư phần mềm ở SUSE. Là hai người đang sinh sống trên một đất nước phát
    triển, sử dụng rất nhiều các thiết bị số, tham gia những lớp học, khóa học xuyên biên giới
    thì cô Quỳnh và bạn Phan rất muốn tổ chức ra các lớp học ảo để học xuyên biên giới để
    giúp đỡ các bạn học sinh Mỹ Lộc nói riêng và Việt Nam nói chung. Chính vì lí do đó chúng
    tôi đã cùng nhau lên kế hoạch tổ chức để giúp các bạn học sinh, sinh viên Việt Nam có cơ
    hội giao lưu học hỏi, tự tin hơn cải thiện dần khả năng nói Tiếng Anh.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
    2.1. Một số khái niệm
    2.1.1. Lớp học ảo
    Một lớp học ảo là một môi trường dạy và học nơi người tham gia có thể tương tác,
    giao tiếp, xem và thảo luận về các bài thuyết trình, và tham gia với tài nguyên học tập trong
    khi làm việc theo nhóm, tất cả trong một môi trường trực tuyến. Môi trường thường là
    thông qua một ứng dụng hội nghị truyền hình cho phép nhiều người dùng được kết nối
    cùng lúc thông qua Internet, cho phép người dùng từ hầu như bất cứ nơi nào để tham gia.
    Một lớp học ảo cho phép học sinh tiếp cận với các giáo viên chất lượng ở bất kỳ đâu miễn
    là cả hai đều có kết nối internet đáng tin cậy. Điều này có thể phá vỡ hầu hết các rào cản
    phổ biến đối với việc học đồng bộ: chi phí, khoảng cách và thời gian.
    • Khả năng hội nghị truyền hình (để giáo viên và học sinh có thể nhìn thấy nhau)
    4
    • Hội nghị âm thanh (để những người tham gia có thể nghe thấy nhau)
    • Trò chuyện văn bản trong thời gian thực
    • Bảng trắng trực tuyến tương tác (để người dùng có thể tương tác trên cùng một trang
    trực tuyến).
    • Thư viện tài liệu học tập (cần thiết để cung cấp các bài học có cấu trúc hơn)
    • Các công cụ và điều khiển dành cho giáo viên (giống như trong một lớp học vật lý)
    2.1.2. Học xuyên biên giới
    Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự phát triển bùng nổ của mạng và các công nghệ mới
    thì việc cộng tác học online ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn. Theo Lindsay (2016), học
    xuyên biên giới, hợp tác toàn cầu đề cập đến việc những nhà giáo dục, học sinh, lớp học,
    trường học và các môi trường giáo dục khác ở các nơi phân tán sử dụng công nghệ để học,
    làm việc với nhau trao đổi vì mục tiêu chung cụ thể nào đó cùng nhau tạo ra những kiến
    thức mới, tăng sự hiểu biết về văn hóa, tư duy phê phán, phản biện, năng lực cá nhân và
    năng lực xã hội. Không còn giới hạn trong không gian của lớp học truyền thống, người học
    có thể sử dụng các phần mềm như Zoom, Google Meet, Skype…tham gia các vào việc học
    xuyên biên giới này.
    2.2. Tổ chức lớp học
    Để hình thành lớp học và triển khai các hoạt động lớp học, chúng tôi trong ban cố
    vấn gồm có ba thành viên: Cô Phạm Quỳnh Giao – giảng viên trường đại học Y – David
    Geffen ở UCLA, cựu học sinh trường THPT Mỹ Lộc – Lê Phan – kĩ sư phần mềm ở SUSE
    và tôi Trần Thị Yến – giáo viên trường THPT Mỹ Lộc đã họp bàn và lên kế hoạch triển
    khai lớp học qua Zoom. Dưới đây là nội dung chi tiết các công việc chúng tôi triển khai để
    hình thành lớp học:
    2.2.1. Mục đích chung
    – Tạo không khí và môi trường giao lưu giao tiếp tiếng Anh cho học sinh Việt Nam
    với học sinh, sinh viên Mỹ.
    – Nâng cao khả năng nghe nói cho học sinh, tăng cường giao tiếp tự tin cho học sinh
    – Hình thành phát triển cho học sinh năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề, sáng tạo,
    năng lực hợp tác và năng lực sử dụng công nghệ thông tin
    – Bồi đắp thêm tình yêu sự say mê với tiếng Anh
    2.2.2. Phân công công việc
    5

    SttNội dungNgười phụ trách
    1Tuyển các bạn tình nguyện viên bên
    Mỹ và quản lý
    Cô Quỳnh Giao
    2Thiết kế websiteLê Phan
    3Tuyển học sinh bên Việt Nam và quản
    lý các vấn đề chung bên Việt Nam
    Trần Yến
    4Gửi mail và thông báo lịch học nội
    dung học
    Vanessa Tran, Michael
    Truong, Spencer Tran,
    Calvin Nguyen

    Ban cố vấn
    6
    Ban giám đốc điều hành
    Một số các bạn học sinh Mỹ tham gia chương trình
    2.2.3. Kinh phí hoạt động
    Kêu gọi ủng hộ từ các hoạt động của các bạn sinh viên và các nhà hảo tâm bên Mỹ.
    2.2.4. Thời gian học
    7
    Do có sự điều chỉnh giờ bên Mỹ vào mùa hè và mùa đông nên thời gian học của chương
    trình có sự khác biệt giữa mùa đông và mùa hè:
    – 10h30 – 11h30 sáng – mùa hè
    – 11h – 12h sáng – mùa đông
    2.2.5. Tuyển học sinh
    Để tuyển được các bạn học sinh tham gia vào chương trình, ban tổ chức chương trình
    đã truyền thông theo một số cách sau:
    – Thứ nhất, là thành viên trong ban tổ chức chịu trách nhiệm tuyển quản lý các bạn
    học sinh bên Việt Nam, tôi đã trực tiếp nhờ nhà trường tuyên truyền trước trường
    và gửi link google forms cho các bạn học sinh đăng kí.
    – Thứ hai, nhờ sự phát triển bùng nổ của công nghệ số mà tôi có thể sự dụng các ứng
    dụng của công nghệ số để tuyên truyền và lan toả cho các bạn học sinh ở một số
    tỉnh như Ninh Bình, Phú Thọ hay một số huyện quanh tỉnh. Tôi đã đăng bài trên
    facebook để giới thiệu về chương trình gửi link google forms cho các bạn học sinh
    8
    đăng kí. Và ngoài ra chúng tôi cũng có trang web riêng để tải nội dung học cũng
    như giới thiệu về chương trình.
    – Thứ ba, chương trình cũng có sự giới thiệu của chính các bạn học sinh đã tham gia
    từ chương trình chính các bạn học sinh đã chia sẻ và giới thiệu về chương trình cho
    các bạn của mình.
    2.2.6. Sắp xếp học sinh vào phòng học.
    Sau khi các bạn học sinh đăng kí qua google forms, chúng tôi sẽ tổng hợp và dựa
    vào phiếu để xếp học sinh tham gia vào các phòng nhỏ theo khả năng để các bạn kém hơn
    không bị tự ti hay không dám nói nếu cùng phòng với bạn giỏi hơn quá nhiều. Trong phiếu
    đăng kí của chúng tôi, chúng tôi có để mục các bạn tự đánh giá về khả năng ngoại ngữ của
    mình. Ngoài ra, các bạn học sinh có thể tham gia rồi tự đánh giá và trình bày nguyện vọng
    nếu muốn chuyển phòng khác.
    9
    2.2.7. Quyền lợi khi tham gia vào các lớp học trực tuyến
    – Học sinh từng bước hình thành và nâng cao năng lực giao tiếp và hợp tác trong môi
    trường số. Học sinh sử dụng thành thạo các chứng năng của phòng họp trực tuyến để
    hỗ trợ và giúp đỡ nhau trong học tập.
    – Được đảm bảo an toàn kỹ thuật số cho các học viên khi tham gia, có duyệt vào phòng,
    chỉ có người chủ trì, hoặc đồng chủ trì mới có quyền quay nên học sinh không sợ bị
    chia sẻ thông tin, hình ảnh cá nhân khi chưa được cho phép. Đảm bảo dữ liệu cá nhân,
    quyền riêng tư, bảo vệ thể chất tâm lý cho các học sinh tham gia.
    – Học sinh có thêm những hiểu biết, thêm tự tin và hoàn thiện hơn khả năng giao tiếp của
    mình.
    2.2.8. Yêu cầu và hình thức tổ chức dạy học trực tuyến qua Zoom
    – Dựa vào tính năng của lớp học trực tuyến trên Zoom: từ phòng lớn có thẻ chia thành
    các phòng nhỏ (3-4 học sinh người Mỹ và Việt Nam), để chia học sinh về các nhóm có
    sự phù hợp về trình độ, lứa tuổi chủ để
    – GV và cộng tác viên theo dõi và tương tác với các phòng nhỏ, kịp thời xử lý các vấn đề
    phát sinh để đảm bảo an ninh, an toàn số cho học viên; đồng thời để ra các nguyên tắc
    khi tham gia các lớp học trực tuyến:
    + Thực hiện buổi học theo đúng chủ đề đã đề ra
    + Không có hành vi xâm phạm đời tư của học viên tham gia học tập. Không chụp ảnh
    màn hình và chia sẻ hình ảnh cá nhân của học sinh, ban cố vấn hay bất kì ai trong chương
    trình lên các trang mạng xã hội mà chưa được cho phép của cá nhân đó.
    + Phải bật cam và mic trong suốt quá trình học
    + Không ăn hay làm việc riêng trong quá trình học
    10
    + Khi có việc cần rời phòng học phải thông báo lại cho các bạn học sinh Mỹ hoặc ban
    cố vấn ở phòng họp chính.
    2.3. Nội dung học
    Chủ yếu là các hoạt động thảo luận để học sinh có thể trao đổi kiến thức và kinh nghiệm
    với nhau. Đan xen vào đó sau một khoảng thời gian chúng tôi cũng tổ chức các cuộc thi và
    có những phần thưởng hấp dẫn để động viên khích lệ sự hăng say đam mê của các em học
    sinh.
    2.3.1. Hoạt động hàng tuần
    Mục tiêu:
    Hàng tuần để rèn kĩ năng giao tiếp cho học sinh chúng tôi sẽ chọn chủ đề và triển
    khai cho học sinh. Học sinh Mỹ và Việt Nam cùng nhau chia sẻ những kiến thức, thảo luận
    và trao đổi chia sẻ với nhau những điều bổ ích.
    Kế hoạch hoạt động:
    Chúng tôi sẽ gửi mail hàng tuần những gợi ý cho học sinh chuẩn bị trước hoặc đăng
    lên trang web của chương trình. Qua hơn 1 năm tổ chức thì chúng tôi đã triển khai được
    những nội dung sau với học sinh. Ban đầu chúng tôi tổ chức thảo luận các chủ điểm đã
    được chọn lọc trong chương trình 10, 11 của học sinh Việt Nam như generation gap, sports
    and music, celebrations and holidays in Vietnam and in the USA, global warming,
    relationship, staying healthy, technology. Dưới đây là các chủ đề mà chúng tôi đã triển
    khai được:

    STTChủ đềNgày thảo luận
    1Introductions30/01/2021
    2Tet06/02/2021
    3Sports and music20/02/2021
    4Gender equality and Generation gap13/03/2021
    5Becoming independent20/03/2021
    6Relationships27/03/2021
    7Healthy living03/04/2021
    8Technology10/04/2021
    9Problem solving/ Simulating situations at the airport17/04/2021
    10Food24/04/2021

    11

    11Violence01/05/2021
    12Dream08/05/2021
    13Covid-1915/05/2021
    14Sports, Fitness, Nutrition22/05/2021
    15Teach me29/05/2021
    16Study methods05/06/2021
    17Stories12/06/2021
    18Childhood and Family19/06/2021
    19Fashion26/06/2021
    20Social Norms and Customs10/07/2021
    21Crime17/07/2021
    22Games24/07/2021
    23Words of expression04/09/2021
    24Fitness and Musculoskeletal injuries11/09/2021
    25Famous people2/10/2021
    26Holidays and festivals9/10/2021
    27Teen’s stress and pressure16/10/2021
    28Animals23/10/2021
    29Halloween30/10/2021
    30Future plans6/11/2021
    31Online learning13/11/2021
    32Thanksgiving20/11/2021
    33Friendship4/12/2021
    34Beauty standard11/12/2021
    35Goals for the New Year8/1/2022
    36Marriage15/1/2022
    37Pets22/1/2022
    38Valentine’s Day12/2/2022

    Trong thời gian gần đây, ban tổ chức của chương trình được biết học sinh Việt Nam
    giờ đang chuẩn bị và thi ielts khá nhiều nên chúng tôi mong muốn sẽ chung tay cùng các
    bạn học sinh chuẩn bị thật tốt cho bài thi nói trong ielts. Trong thời gian tới hàng tuần
    12
    chúng tôi sẽ bám sát vào dạng bài thi ielts để hỗ trợ ôn luyện cùng các bạn học sinh Việt
    Nam chuẩn bị cho kì thi ielts. Dưới đây là 1 số chủ đề chúng tôi đã triển khai:

    STTChủ đềNgày thảo luận
    1Personal questions in ielts17/07/2022
    2Transportation23/07/2022
    3Music30/7/2022
    4Movies6/08/2022
    5Tardiness14/08/2022
    6Housework21/8/2022
    7Clothes28/8/2022
    8Newspapers and magazines4/9/2022
    9Sports18/9/2022

    Một số hình ảnh của các buổi học
    Phòng chia theo nhóm và có điểm danh mỗi buổi để thưởng chuyên cần
    13
    Giới thiệu về trước mỗi buổi thảo luận
    Đánh giá hoạt động:
    14
    Tôi đã tiến hành khảo sát trong các bạn học sinh và đa phần học sinh thích hoạt
    động thảo luận vì các chủ đề thảo luận khá đa dạng và hữu ích giúp các bạn có thêm
    những kiến thức mới hay và bổ ích.
    2.3.2. Hoạt động theo quý (Các cuộc thi)
    Mục tiêu:
    Sau một thời gian. chúng tôi có tổ chức các trò chơi như vòng đua câu đố, thi thuyết
    trình để tạo sự mới mẻ hứng thú cho các học sinh tham gia. Thay vì tuần nào cũng thảo
    luận các chủ đề chúng tôi muốn đan xen có các cuộc thi hoạt động để học sinh thử sức
    mình, học them những điều mới, tạo không khí vui tươi, gắn kết với chương trình.
    Kế hoạch hoạt động:
    – Vòng thi câu đố (Jeopardy Competition)
    Hai đội sẽ thi trả lời câu hỏi để loại và vào vòng trong. Lần đầu tiên sẽ ngẫu nhiên
    chọn 1 đội lựa chọn câu hỏi. Mỗi câu hỏi có số điểm tương ứng và người dẫn sẽ đọc câu
    hỏi. Sau khi đọc xong hai đội mới được giơ tay trả lời, ai giơ tay trước phạm luật đội còn
    lại sẽ được quyền trả lời. Bấm phím chức năng trong Zoom để giơ tay. Trả lời đúng nhận
    số điểm tương ứng trả lời sai bị trừ điểm. Cuối cùng ai có nhiều điểm nhất sẽ thắng và vào
    vòng trong. Sau các vòng loại bán kết và chung kết sẽ tìm ra đội thắng chung cuộc. Chúng
    tôi có tất cả 8 đội chơi như sau:

    Đội chơiThành viên
    1Angela Tran
    Emma
    Trần Thị Phương Linh

    15

    Trần Hoàng Linh
    Trần Quang Huy
    2Vanessa
    Viviana
    Nguyễn Thảo Chi
    Vũ Đăng Hưng
    3Calvin Nguyen
    Anthony
    Đào Thị Thu Trang
    Trần Phúc An
    Ngô Trần Nhật Minh
    Lê Thị Hồng Nhật
    4Chloe
    Marco
    Nguyễn Tất Đạt
    Nguyễn Trần Tú Linh
    Nguyễn Quỳnh Anh
    6Shannon
    CJ
    Trần Châu Anh
    Nguyễn Thị Hồng Nhung
    7Spencer
    Scott
    Anthony
    Laura
    Đinh Mai Anh
    Trần Thị Thu Phương
    Trần Việt Nhật
    Mai Phương Linh
    8Jackie
    Nicolas
    Charles

    16

    Nguyễn Thọ Anh
    Phùng Kiều Hà Phương
    Trần Thị Minh Ngọc
    Bùi Tuấn Anh
    9Joeffrry
    Krystal
    Nguyễn Nhật Quang
    Nguyễn Thị Quỳnh Lê
    Nguyễn Bảo Trang
    Nguyễn Phạm Như Quỳnh

    Cuộc đua câu đố
    17
    Kết quả cuộc thi vòng đua câu đố
    Chứng chỉ của cuộc thi
    – Cuộc thi thuyết trình
    18
    Học sinh sẽ tự chọn một chủ đề thuyết trình dưới 10 phút và chuẩn bị với sự góp ý hỗ
    trợ của các bạn học sinh sinh viên Mỹ. Học sinh có thể chọn quay video thuyết trình và
    nộp lại cho ban tổ chức hoặc thuyết trình trực tiếp sau đó các bạn học sinh Mỹ cùng phòng
    sẽ mượn quyền làm chủ trong zoom để ghi lại phần thuyết trình để gửi ban giám khảo đánh
    giá và chọn ra 6 bài xuất sắc nhất. Trong cuộc thi này chúng tôi chia học sinh thành 2 trình
    độ – giỏi và khá để các bạn thi với nhau cho đỡ bị lệch về trình độ và để các bạn học sinh
    đỡ mất tự tin khi thi với nhau. Dưới đây là các bài thuyết trình mà học sinh đã đăng kí và
    trình bày:

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

  • SKKN Một số giải pháp giúp nâng cao hiệu quả ôn thi tốt nghiệp THPT môn Tiếng Anh trong giai đoạn cuối

    SKKN Một số giải pháp giúp nâng cao hiệu quả ôn thi tốt nghiệp THPT môn Tiếng Anh trong giai đoạn cuối

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
    Để đáp ứng yêu cầu giảng dạy và giáo dục trong thời kì công nghiệp hóa,
    hiện đại hóa đất nước, những năm gần đây, ngành GD&ĐT đã chú trọng đổi mới
    công tác quản lý, đổi mới phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới
    nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh. Dạy học theo hướng
    phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh, điều chỉnh nội dung dạy học phù
    hợp đặc điểm tâm sinh lí của học sinh là điều cần thiết.
    Cũng nằm trong các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục chính là ứng
    dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, kiểm tra đánh giá. Với học sinh khối
    12 việc áp dụng hình thức thi trắc nghiệm đã trở nên quen thuộc. Trong điều kiện
    kinh tế phát triển việc học sinh có điện thoại thông minh, máy tính là rất nhiều.
    Vậy làm thế nào hướng học sinh sử dụng các thiết bị này vào việc tự học tự ôn tập
    một cách hiệu quả là điều mà tôi nghĩ đến trong thời đại công nghệ 4.0.
    Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng giáo dục trong
    trường phổ thông chính là điểm bình quân các môn thi trong kỳ thi tốt nghiệp
    THPT. Tuy nhiên, nhìn vào thực trạng kết quả thi tốt nghiệp THPT hàng năm,
    môn Tiếng Anh thường xuyên có tỉ lệ cao nhất trong các môn học về học sinh yếu
    kém và điểm trung bình chung của môn thi Tiếng Anh nhiều năm thấp hơn các
    môn khác. Kết quả thi tốt nghiệp THPT môn Tiếng Anh ở trường THPT C Hải
    Hậu trong những năm học vừa qua cũng không phải là ngoại lệ. Trường vẫn đứng
    ở vị trí thấp so với các trường khác trong toàn tỉnh.
    Chính bởi những lý do trên, tôi đã tìm hiểu và viết sáng kiến:
    “Một số giải pháp giúp nâng cao hiệu quả ôn thi tốt nghiệp THPT môn
    Tiếng Anh trong giai đoạn cuối”
    2
    II. Mô tả giải pháp:
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Giai đoạn tổng ôn cuối cùng trước khi học sinh bước vào kì thi tốt nghiệp
    THPT thường kéo dài từ khoảng đầu tháng 5 đến cuối tháng 6 là một giai đoạn vô
    cùng quan trọng và nhạy cảm. Quan trọng vì trong giai đoạn này sẽ củng cố vững
    chắc kiến thức cơ bản cho các học sinh có lực học trung bình, yếu và sẽ tối ưu hóa
    điểm số cho các học sinh khá giỏi. Nếu không xác định trước tinh thần, tư tưởng
    học tập cho học sinh trong giai đoạn này sẽ dẫn đến tình trạng mất tập trung, mất
    kiểm soát làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả học tập. Trước đây, giáo viên
    thường không đề cao việc này dẫn đến một số thực trạng: Sau một thời gian đầu
    của giai đoạn tổng ôn, bắt đầu có hiện tượng học sinh nghỉ học. Số lượng nghỉ
    ngày càng tăng vào giai đoạn cuối. Có nhiều học sinh ban đầu ý thức học tốt nhưng
    sau một thời gian cũng bị cuốn vào tình trạng thường xuyên nghỉ học; điều này
    ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng ôn tập của bản thân học sinh và chất lượng
    chung của toàn trường.
    Bên cạnh đó, giai đoạn cuối ôn thi tốt nghiệp với đặc điểm là thời gian học
    trên lớp không nhiều, học sinh phải học đồng thời nhiều môn, vì thế nếu chỉ dựa
    vào thời gian trên lớp để ôn tập cho học sinh thì thực sự rất ít ỏi, dẫn tới hiệu quả
    học tập không cao. Giáo viên cần có biện pháp quản lý, hỗ trợ và hướng dẫn học
    sinh tận dụng tối đa thời gian ở nhà để tự ôn tập một cách hiệu quả. Trước đây,
    giáo viên thường quản lý việc tự học của học sinh qua việc phát đề cương giấy yêu
    cầu các em về nhà làm. Tuy nhiên, biện pháp này chưa thực sự hiệu quả vì vẫn có
    một bộ phận không nhỏ các em lười làm bài tập về nhà hoặc lười suy nghĩ, chỉ đi
    chép đáp án của các bạn khác. Ngoài ra, với những học sinh khả năng tự học kém,
    không biết sắp xếp thời gian học hợp lý thì trước rất nhiều các nhiệm vụ phải hoàn
    thành cho các môn học trong ngày, học sinh sẽ bị mất phương hướng dẫn tới không
    hoàn thành yêu cầu, chán học qua đó ảnh hưởng đến kết quả học tập.
    3
    Những thực trạng này thực sự đã làm tôi suy nghĩ trăn trở. Làm thế nào để
    tìm ra được giải pháp hiệu quả để nâng cao chất lượng ôn thi tốt nghiệp THPT cho
    học sinh? Với sự không ngừng học hỏi từ các đồng nghiệp, sự tìm tòi từ các nguồn
    Internet, và sự sáng tạo của bản thân từ những trải nghiệm dạy học thực tế, tôi xin
    mạnh dạn chia sẻ một số kinh nghiệm của mình thông qua sáng kiến này.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
    Trong phạm vi sáng kiến này, tôi xin trình bày rõ các giải pháp sau:
    – Giải pháp thứ nhất là quản lý học sinh hiệu quả trong giai đoạn tổng ôn.
    – Giải pháp thứ hai là biên soạn hệ thống tài liệu chất lượng hiệu quả cho học sinh
    tự ôn tập.
    – Giải pháp thứ ba là quản lý hiệu quả việc tự ôn tập ở nhà của học sinh.
    2.1. Quản lý học sinh hiệu quả trong giai đoạn ôn thi tốt nghiệp THPT :
    Như đã nói ở trên, giai đoạn tổng ôn cuối cùng trước khi học sinh bước vào
    kì thi tốt nghiệp THPT là một giai đoạn vô cùng quan trọng vì ở giai đoạn này,
    trên lớp giáo viên sẽ ôn tập lại và củng cố vững chắc các mảng kiến thức cơ bản
    và các mảng kiến thức còn yếu cho các học sinh có lực học trung bình- yếu và sẽ
    tối ưu hóa điểm số cho các học sinh khá giỏi. Chính vì thế, việc học sinh nghỉ học
    rất nhiều trong giai đoạn cuối này sẽ ảnh hưởng rất lớn tới kết quả thi của học sinh
    và chất lượng chung của toàn trường. Để giải quyết được thực trạng này, tôi xác
    định cần sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên và phụ huynh học sinh. Do đó, ngay
    khi bước vào giai đoạn ôn thi quan trọng (khoảng từ đầu tháng 5), tôi đã tiến hành
    tổ chức các buổi họp phụ huynh qua Zoom ở các lớp tôi dạy. Một trong những
    điểm mới của cuộc họp phụ huynh này là: Không chỉ có mỗi phụ huynh tham gia
    mà còn yêu cầu có sự góp mặt của cả học sinh. Tôi muốn thông qua buổi họp đó,
    trước sự có mặt của phụ huynh, học sinh nắm được các yêu cầu cũng như nhiệm
    vụ và trách nhiệm của mình để hoàn thành cho tốt và hiệu quả. Đồng thời, sự có
    mặt của cả phụ huynh và học sinh sẽ hạn chế được các trường hợp một số học sinh
    4
    ý thức học chưa tốt sẽ về nói dối phụ huynh để làm sai các quy định chung của
    trường, của lớp để tự ý nghỉ học hoặc bỏ tiết. Cũng trong cuộc họp phụ huynh trên,
    bằng kinh nghiệm của những năm học trước, tôi đã làm công tác tâm lý với hai
    nhóm học sinh điển hình hay nghỉ:
    – Nhóm 1 là những học sinh chỉ tập trung học những môn xét tuyển đại học
    và sẵn sàng nghỉ các môn còn lại. Tôi thuyết phục các em rằng thay vì nghỉ học ở
    nhà và sa đà vào điện thoại máy tính dẫn đến mất kỷ luật học tập thì các em nên
    đi học đầy đủ chuyên cần bởi vì trước khi xét đại học thì bản thân các em phải đỗ
    tốt nghiệp trước đã. Với môn không xét tuyển đại học thì việc các em tập trung
    học trên lớp cũng giúp nắm được cơ bản kiến thức. Thời gian còn lại ở nhà, các
    em sẽ có thể dành nhiều hơn cho các môn xét tuyển đại học mà không phải lo lắng
    về vấn đề tốt nghiệp.
    – Đối với nhóm học sinh đã đỗ đại học dựa vào xét học bạ hoặc thi đánh giá
    năng lực thì tôi thuyết phục các em rằng: một trong các lí do mà các em chọn học
    tại trường THPT C Hải Hậu là bởi vì kết quả giáo dục nổi bật của nhà trường mà
    các thầy cô và các anh chị khóa trước đạt được. Vì thế, nhiệm vụ và cũng là trách
    nhiệm của các em là phải tiếp tục phát huy truyền thống đó, phải gặt hái được
    thành công hơn nữa để xây dựng thương hiệu nhà trường và là tấm gương cho các
    đàn em khóa sau.
    Trên lớp, tôi cũng quản lý rất chặt chẽ việc đi học đầy đủ chuyên cần của
    các em trong giờ học của bộ môn. Đầu mỗi tiết học, tôi đều dành ra ít thời gian để
    kiểm diện học sinh. Học sinh nào vắng mặt không có lý do, tôi sẽ liên lạc ngay với
    phụ huynh để kịp thời nhắc nhở. Bên cạnh đó, để tránh hiện tượng học sinh nghỉ
    học vô tội vạ, chỉ hơi nhức đầu sổ mũi cũng viện lý do để nhờ phụ huynh xin nghỉ
    học, tôi đã thống nhất với phụ huynh và học sinh để đưa ra một nội quy riêng đối
    với bộ môn đó là: học sinh nghỉ học có lý do hay không có lý do đều phải chép lại
    một số lần toàn bộ nội dung ôn tập trong buổi học hôm đó. Ví dụ, học sinh nghỉ
    5
    học có lý do thì chép hai lần, còn học sinh nghỉ học không có lý do thì chép bốn
    lần.
    Nhờ việc xác định tư tưởng rõ ràng với các em học sinh, đồng thời nhận
    được sự cổ vũ và phối hợp của các bậc phụ huynh và việc sát sao trong vấn đề
    chuyên cần trên lớp học của giáo viên nên hiện tượng nghỉ học của học sinh ở các
    lớp tôi dạy giảm đi rõ rệt. Điều này góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu
    quả ôn tập của các em.
    2.2. Biên soạn hệ thống tài liệu chất lượng hiệu quả cho học sinh tự ôn tập
    Trong quá trình tự ôn tập ở nhà, nhiều học sinh gặp khó khăn trong việc tìm
    nguồn tài liệu phù hợp vì lý do có quá nhiều tài liệu trên mạng, học sinh không
    biết được cần ôn tập trọng tâm kiến thức gì. Điều đó dẫn tới việc học sinh ôn tập
    lan man, mất nhiều thời gian nhưng không hiệu quả. Do đó, việc giáo viên biên
    soạn hệ thống tài liệu trọng tâm chất lượng giúp định hướng cho việc tự ôn tập của
    học sinh là rất quan trọng.
    Từ cuối tháng 3, sau khi Bộ giáo dục công bố đề minh hoạ tốt nghiệp THPT
    năm học 2021-2022, tôi đã tiến hành nghiên cứu và phân tích kỹ cấu trúc đề minh
    hoạ:

    Nội dung
    kiến thức
    Câu
    số
    Đơn vị kiến thứcMức độ nhận biếtTổng
    số
    câu
    Nhậ
    n
    biết
    Thô
    ng
    hiểu
    Vận
    dụn
    g
    thấ
    p
    Vận
    dụn
    g
    cao

    6

    NGỮ ÂM1Phát âm đuôi ed14
    2Nguyên âm1
    3Trọng âm từ 2 âm tiết1
    4Trọng âm từ 3 âm tiết1
    NGỮ
    PHÁP
    5Câu hỏi đuôi19
    6Câu bị động1
    7Giới từ1
    8So sánh kép1
    9Trật tự của tính từ1
    10Thì ĐT (QKTD_QK)1
    11Liên từ1
    12Phối hợp thì MĐTNTG1
    13Rút gọn mệnh đề1
    TỪ
    VỰNG
    14Dạng thức của từ110
    15Cụm động từ1
    16Cụm từ đi kèm1
    17Từ vựng theo chủ điểm1
    18Thành ngữ1
    19Nghĩa của từ trong ngữ
    cảnh cụ thể
    1
    20Từ đồng nghĩa1
    21Từ đồng nghĩa1
    22Từ trái nghĩa1
    23Cụm từ trái nghĩa1
    24Câu giao tiếp đơn giản1

    7

    CHỨC
    NĂNG
    NGÔN
    NGỮ
    25Câu giao tiếp đơn giản
    (quan điểm)
    12
    KỸ
    NĂNG
    ĐỌC
    HIỂU
    (ĐIỀN
    KHUYẾT
    )
    (B1)
    (171 từ)
    26Nghĩa của từ trong văn
    cảnh
    15
    27Liên từ1
    28Cấu trúc ngữ
    pháp(ĐTQH)
    1
    29Lượng từ1
    30Cụm từ đi kèm1
    ĐỌC
    HIỂU 1
    (277 từ)
    (B1)
    31Hiểu ý chính văn bản
    (tiêu đề đoạn văn)
    15
    32Lấy thông tin cụ thể1
    33Đoán nghĩa từ thông
    qua ngữ cảnh
    1
    34Tham chiếu1
    35Đối chiếu thông tin1
    ĐỌC
    HIỂU 2
    (388 từ)
    36Hiểu ý chính văn bản1
    37Đoán nghĩa từ thông
    qua ngữ cảnh
    1

    8

    (C1)38Lấy thông tin cụ thể17
    39Đoán nghĩa từ thông
    qua ngữ cảnh
    1
    40Tham chiếu1
    41Đối chiếu thông tin1
    42Suy luận1
    KỸ
    NĂNG
    VIẾT
    43Phát hiện lỗi sai
    (thì động từ)
    18
    44Phát hiện lỗi sai
    (từ tham chiếu)
    1
    45Phát hiện lỗi sai
    (Từ hay nhầm lẫn)
    1
    46Chuyển đổi thì động từ1
    47Câu gián tiếp1
    48Động từ khuyết thiếu
    (hiện tại)
    1
    49Kết hợp câu (câu ước)1
    50Kết hợp câu (Đảo ngữ)1
    Tổng số27
    54
    %
    10
    20
    %
    8
    16
    %
    5
    10
    %
    50

    Từ việc phân tích cấu trúc đề minh hoạ, và dựa vào tình hình thực tế học
    sinh ở các lớp tôi phụ trách, tôi nhận thấy hầu hết các chuyên đề cơ bản trong cấu
    9
    trúc đề minh họa này các em đã được tôi ôn tập lý thuyết và làm bài tập chuyên
    sâu trong các buổi ôn tập từ trong năm học. Do đó việc tự luyện đề bám sát cấu
    trúc đề minh hoạ trong giai đoạn này sẽ là tối ưu nhất. Một mặt, nó giúp các học
    sinh trung bình và yếu nhớ lại và nắm chắc được lý thuyết quy tắc, các cấu trúc
    ngữ pháp đã học sẽ xuất hiện trong đề thi để đạt được ít nhất 5-6 điểm; các học
    sinh khá giỏi có cơ hội cọ sát với các mảng kiến thức nâng cao như đọc hiểu, từ
    vựng. Mặt khác, việc tự luyện đề còn giúp tất cả các học sinh rèn luyện kỹ năng
    làm bài, làm quen với cấu trúc đề thi . Vì những lý do trên, tôi đã tiến hành biên
    soạn hệ thống tài liệu giúp học sinh tự ôn tập ở nhà gồm :
    – Phần cơ bản gồm 25 đề gồm 30 câu trắc nghiệm bám sát cấu trúc đề minh hoạ
    (bỏ phần kỹ năng đọc để học sinh trung bình yếu tập trung luyện đi luyện lại nắm
    chắc các chuyên đề ngữ pháp cơ bản); 35 đề gồm 50 câu trắc nghiệm bám sát cấu
    trúc đề minh hoạ có lời giải chi tiết để học sinh làm quen với cấu trúc đề thi thật
    và rèn luyện kỹ năng làm bài.
    – Phần nâng cao gồm 10 đề về Idiom, 10 đề về collocation và 6 đề về Phrasal verb.
    Tôi xin chia sẻ toàn bộ đường link hệ thống tài liệu giúp học sinh tự ôn tập
    ở nhà mà tôi đã biên soạn được với hi vọng sẽ hữu ích với các thầy cô:
    35 đề gồm 50 câu trắc nghiệm bám sát cấu trúc đề minh hoạ 2022 có lời giải chi
    tiết:
    https://drive.google.com/drive/folders/1_6x43RHxEk4ZfLnru3GmSNTMDCAC
    EDT4?usp=sharing
    25 đề gồm 30 câu trắc nghiệm bám sát cấu trúc đề minh hoạ 2022:
    https://drive.google.com/drive/folders/1sHnBXPiONaO3Ib50zGEhGj_QDMrcns
    6u?usp=sharing
    10 đề về Idiom:
    https://docs.google.com/document/d/17Q5g3HsywwQiZY8OyltNsFA0HVH_HF
    m7/edit?usp=sharing&ouid=107488914559794443025&rtpof=true&sd=true
    10
    10 đề về collocation:
    https://docs.google.com/document/d/1aeROCSEe9SIxTbKEUh79O6RbVAGWz
    e-G/edit?usp=sharing&ouid=107488914559794443025&rtpof=true&sd=true
    6 đề về Phrasal verb:
    https://docs.google.com/document/d/1RPHdGqeG19931Ih5nJhubqYxbg2IQwz/edit?usp=sharing&ouid=1074889145597
    94443025&rtpof=true&sd=true
    2.3. Quản lý hiệu quả việc ôn tập ở nhà của học sinh
    Như đã nói ở trên, nếu học sinh chỉ học qua những gì giáo viên dạy và ôn
    tập trên lớp thì thực sự rất ít ỏi. Học sinh cần phải tự ôn tập thêm ở nhà thì hiệu
    quả mới cao được. Tuy nhiên, khi tự học ở nhà, học sinh sẽ gặp phải một số khó
    khăn. Một là, có quá nhiều tài liệu trên mạng khiến học sinh không biết ôn tập tài
    liệu gì và ôn như thế nào. Hai là, nhiều học sinh ý thức học chưa cao, ở nhà không
    có sự quản lý của giáo viên sẽ không tự học hoặc sẽ làm bài đối phó. Ý thức được
    điều này, tôi nhận thấy cần thiết phải có biện pháp quản lý sát sao và sự hỗ trợ của
    giáo viên trong việc định hướng giúp học sinh biết mình nên tự ôn tập như thế nào
    ở nhà mỗi ngày để phát huy được tối đa hiệu quả tự ôn tập. Các bước tôi tiến hành
    như sau:
    2.3.1.Tạo kênh liên lạc với học sinh
    Bước 1: Tạo 1 nhóm Facebook chung
    Mục đích: Nhóm Facebook là nhóm miễn phí, tương tác thầy – trò nhanh.
    Đặc biệt, giáo viên cài đặt được thời gian đăng bài nên rất chủ động thời gian.
    Cách làm:
    – Mở trang facebook cá nhân.
    – Trên thanh công cụ, chọn nút “TẠO”, sau đó chọn “NHÓM”:
    11
    – Tại ô “TÊN NHÓM” nhập tên nhóm, và chọn quyền riêng tư sau đó chọn nút
    “TẠO”.
    Bước 2: Kết nạp các thành viên vào trong nhóm
    Cách 1: Tại ô “MỜI BẠN BÈ” nhập tên các thành viên tham gia ôn tập
    vào trong nhóm. Lưu ý: cách này chỉ thêm được các thành viên đã kết bạn trên
    facebook với người mời.
    12
    Cách 2: Nhờ các thành viên đã có trong nhóm mời thêm thành viên mới.
    13
    Bước 3: Cài đặt quản trị viên
    Mục đích:
    – Quản trị viên là người quản lý được các bài đăng
    – Chỉ quản trị viên mới có chức năng hẹn giờ, đăng bài
    Cách cài quản trị viên:
    – Trong nhóm vừa lập, click vào mục “THÀNH VIÊN”, sau đó click vào mục “
    MỜI QUẢN TRỊ VIÊN”
    – Click vào ô “MỜI” cạnh tên thành viên muốn cài đặt làm quản trị viên, chọn
    “XONG”
    14
    15
    2.3.2. Cách hẹn lịch đăng bài lên nhóm Facebook
    Như đã nói ở trên, tôi lựa chọn kênh liên lạc với học sinh qua nhóm
    Facebook vì một lý do rất quan trọng đó là giáo viên có thể hẹn giờ đăng bài. Ví
    dụ, giáo viên muốn đăng bài vào 5h sáng hàng ngày thì thay vì ngày nào giáo viên
    cũng phải chờ đến 5h sáng để đăng thì giáo viên có thể lập sẵn một bản kế hoạch
    giao bài về nhà hàng ngày (trong một tuần hoặc nhiều tuần tuỳ giáo viên) trên bản
    word, sau đó giáo viên vào nhóm Facebook hẹn giờ đăng bài theo các bước sau:
    Bước 1: vào nhóm Facebook, click vào ô “ BẠN VIẾT GÌ ĐI” và viết nội dung
    ôn tập:
    16
    Bước 2: click vào biểu tượng cạnh mục “ĐĂNG” để hẹn ngày/giờ bài sẽ xuất
    hiện trên nhóm
    17
    Bước 3: Sau khi chọn được ngày/ giờ đăng, giáo viên click vào ô “LÊN LỊCH”
    để hoàn thành việc lên lịch cho bài viết.
    2.3.3.Tạo ngân hàng bài kiểm tra online
    Tôi lựa chọn hình thức giao bài tập online qua hai ứng dụng Quizizz và
    Azota vì một số ưu điểm vượt trội hơn so với đề cương giấy. Thứ nhất, với ứng
    dụng quizizz có đặc điểm là được thiết kế dưới dạng game, màn hình chỉ hiện một
    câu hỏi, học sinh phải trả lời xong mới chuyển qua câu kế tiếp nên ứng dụng này
    rất phù hợp với việc ôn tập các câu trắc nghiệm liên quan tới việc ghi nhớ các quy
    tắc, cấu trúc ngữ pháp và từ vựng. Giáo viên có thể yêu cầu các em làm đi làm lại
    tới khi được 100% điểm mới đạt yêu cầu. Điều này vừa khắc phục được tình trạng
    học sinh làm bài chống đối, vừa giúp các em có thể ghi nhớ kiến thức rất hiệu quả
    mà không cần phải photo các tài liệu để làm lại, giúp tiết kiệm một số lượng tiền
    đáng kể. Ứng dụng này còn có chức năng cho phép học sinh có thể biết được câu
    trả lời đúng sai ngay sau khi lựa chọn đáp án. Điều này giúp kích thích tính tò mò

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại: 

    Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT