Category: TỔNG HỢP

  • SKKN Dạy học Lịch sử theo mô hình lớp học đảo ngược với sự hỗ trợ của công cụ Google Classroom và các mạng xã hội Facebook, Zalo… nhằm kích hoạt thế hệ Z

    SKKN Dạy học Lịch sử theo mô hình lớp học đảo ngược với sự hỗ trợ của công cụ Google Classroom và các mạng xã hội Facebook, Zalo… nhằm kích hoạt thế hệ Z

    Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
    Môn Lịch sử thuộc môn khoa học xã hội. Đây là môn học có vai trò đặc biệt
    quan trọng, cung cấp những tri thức về quá khứ để hiểu hiện tại và hướng tới tương
    lai. Môn Lịch sử giúp cho học sinh những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân
    tộc và lịch sử thế giới, góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo
    dục lòng yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào dân tộc, tình đoàn kết quốc tế.
    Đồng thời, học lịch sử còn bồi dưỡng lực tư duy, hành động và thái độ ứng xử đúng
    đắn trong cuộc sống.
    Mặc dù là môn học có vai trò vô cùng quan trọng nhưng môn học này không
    được đánh giá cao cả trong nhà trường và ngoài xã hội. Học sinh ngại học môn học
    vì vừa dài, vừa khó, khó xin được việc khi ra trường. Phụ huynh xem nhẹ, xã hội
    coi thường. Số phận môn Lịch sử khiến nhiều người lo ngại. Nhưng nếu quay lưng
    với Lịch sử, dân tộc mình sẽ đi về đâu?
    Hiện nay ngành Giáo dục đang tiến hành đổi mới toàn diện nhằm nâng cao
    chất lượng giáo dục. Môn Lịch sử đã và đang tiến hành đổi mới để đưa môn Lịch
    sử về đúng vai trò, vị trí vốn có của nó. Nhưng làm thế nào để học sinh yêu thích
    môn học đó câu hỏi trăn trở của nhiều người thầy. Nhiều phương pháp dạy học tích
    cực được áp dụng khiến bài học Lịch sử trở nên hấp dẫn hơn, nhiều học sinh yêu
    thích với môn học hơn.
    Trong chương trình môn học Lịch sử hiện hành, học sinh THPT được tiếp
    cận các tri thức lịch sử cả thế giới và Việt Nam theo các phân kì: Cổ trung, cận đại
    và hiện đại. Qua nhiều năm giảng dạy tôi thấy chương trình Lịch sử lớp 10 rất hay
    thu hút được học sinh bởi kiến thức Lịch sử thế giới và Việt Nam cổ trung, và một
    phần cận đại phong phú và đa dạng, kích thích sự tìm hiểu của học sinh. Chương
    trình Lịch sử 12 cũng rất hay với những kiến thức về lịch sử thế giới hiện đại, nhiều
    sự kiện gần gũi gắn với hiện tại, tuy nhiên chương trình này lại quá dài, nhiều sự
    kiện. Để dạy hay được một bài thuộc Lịch sử lớp 12 là điều không dễ. Nhưng đối
    với chương trình Lịch sử lớp 11 chủ yếu về lịch sử cận đại với nhiều bài học khô
    2
    khan, ít tư liệu, nhất là việc giảm tải chương trình khiến cho giáo viên rất khó khăn
    trong việc làm thế nào để duy trì sự hứng thú của học sinh.
    Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018 thực hiện ở lớp 10 trong năm
    học 2022-2023 và các năm học tiếp theo theo hướng tiếp cận và phát triển năng lực
    của học sinh. Mục tiêu giúp học sinh làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng
    hiệu quả kiến thức, kĩ năng đã học vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướng
    lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và phát triển hài hoà các mối quan hệ
    xã hội, có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ đó có được cuộc
    sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại.
    Nội dung và phương pháp giảng dạy cũng thay đổi để phù hợp với chương trình
    giáo dục phổ thông mới để đạt mục tiêu dạy học.
    Ngày nay, loài người đang ở thời đại công nghệ thông tin – thời đai 4.0.
    Những ứng dụng công nghệ thông tin giúp các hoạt động của con người trở nên dễ
    dàng hơn. Công nghệ thông tin được ứng dụng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống.
    Công nghệ thông tin đang được ứng dụng rộng rãi trong ngành giáo dục để phát
    huy hiệu quả dạy và học ở các cấp. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin,
    việc giảng dạy của giáo viên có những sự thay đổi để đáp ứng yêu cầu mới.
    Theo thống kê, lượng người dùng mạng xã hội trên toàn thế giới tăng 8%
    trong 3 tháng vừa qua, lên mức 3,3 tỷ người, chiếm 43% dân số thế giới. Ấn Độ là
    nước có lượng người dùng Facebook cao nhất thế giới, Việt Nam xếp ở vị trí thứ 7.
    Điều này đồng nghĩa với việc các nền tảng mạng xã hội vẫn có hàng triệu người
    dùng mới mỗi ngày, hay bình quân 12,4 người dùng mới mỗi giây.
    Facebook vẫn đang dẫn đầu với 2,23 tỷ người dùng, YouTube và WhatsApp
    đồng hạng ở vị trí thứ 2 với 1,5 tỷ người dùng, tiếp sau đó là các nền tảng Facebook
    Messenger, WeChat, Instagram.
    Do sự phát triển của công nghệ nhất là các mạng xã hội khiến các kết nối trở
    nên dễ dàng hơn. Việc giáo viên và học sinh liên hệ qua các mạng xã hội ngày càng
    phổ biến. Việc dạy và học sẽ diễn ra mọi lúc, mọi nơi theo sự chủ động của người
    học với sự hỗ trợ của các phần mềm hiện đại. Trước sự phát triển đó, việc hình
    thành một lớp học đảo ngược sẽ đem lại hiệu quả lớn đối với ngành giáo dục nói
    chung và môn Lịch sử nói riêng.
    3
    II. Mô tả giải pháp
    II. 1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    II. 1.1 Giáo viên với thời đại 4.0
    Hiện nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, Việt Nam
    đang tiến lên nền kinh tế công nghiệp. Cùng với nền kinh tế công nghiệp, Việt Nam
    đang hướng đến đi vào nền kinh tế tri thức. Như vậy rõ ràng Việt Nam đang thực
    hiện đồng thời sự chuyển dịch kép.
    Nền kinh tế tri thức một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục – đào tạo
    phát triển; nhưng mặt khác, hết sức quan trọng, đòi hỏi rất nhiều ở giáo dục những
    khả năng mới về đội ngũ GV, phương pháp dạy và học, phương pháp kiểm tra,
    đánh giá…
    Trong bối cảnh toàn cầu hoá và nền kinh tế tri thức, sự tác động của công
    nghệ đã làm cho thế giới có nhiều biến đổi sâu sắc và thường xuyên. Với sự bùng
    nổ thông tin với sự xuất hiện Internet đặc biệt là sự ra đời của các mạng xã hội
    khiến cho việc trao đổi thông tin một cách nhanh chóng, việc tiếp cận tri thức nhân
    loại rất thuận lợi và đầy đủ, khoảng cách không còn là vấn đề nữa. Loài người đã
    chuyển sang nền văn minh mới: Văn minh trí tuệ.
    Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) bắt đầu diễn ra từ đầu những năm
    2000 và đến khoảng năm 2013 thì xuất hiện cụm từ “công nghiệp 4.0”. CMCN
    4.0 là một thuật ngữ bao gồm một loạt các công nghệ tự động hóa hiện đại, trao đổi
    dữ liệu và chế tạo, dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả các công nghệ
    thông tin. CMCN 4.0 với đặc trưng của nó là sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, rô
    bốt, Internet kết nối vạn vật, công nghệ di động không dây, máy tính lượng tử,
    điện toán đám mây, hệ thống dữ liệu nhanh, khoa học vật liệu, sinh học,
    …Trong đó, đặc trưng cơ bản nhất là kết nối.
    Với những đặc trưng đó, CMCN 4.0 đã mở ra một thời đại mới trong tiến
    trình phát triển của nhân loại và tác động mạnh mẽ, làm thay đổi mọi lĩnh vực đời
    sống xã hội, từ sản xuất kinh tế, dịch vụ, y tế, giao thông, hệ thống quản lí đến văn
    hóa, giáo dục.
    4
    CM 4.0 tất yếu dẫn đến nền giáo dục 4.0. Để phù hợp với thời đại mới, giáo
    dục đang có những cải cách sâu rộng và toàn diện. Việc dạy và học không còn là
    truyền thụ tri thức, tiếp thu tri thức một cách bị động và một chiều, đơn giản chỉ là
    thầy đọc, trò chép. Giáo dục chuyển sang các kĩ năng tự học, tự giải quyết vấn đề,
    hợp tác trao đối với nhau, tư duy phân tích, phản biện, tư duy sáng tạo, có khả năng
    thích nghi với các thách thức, đặc biệt là trí tuệ cảm xúc (EQ) cùng nhiều kĩ năng
    khác. Trong đó, trong thời đại mới, các kĩ năng cần phải có là
    – Kĩ năng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT): như năng lực giải
    quyết vấn đề dựa trên máy tính và các công cụ công nghệ.
    – Kĩ năng tư duy: như sức sáng tạo, tư duy phản biện, kĩ năng giải quyết vấn
    đề, kĩ năng ra quyết định, và khả năng tự học suốt đời.
    – Kĩ năng làm việc: như khả năng giao tiếp và hợp tác làm việc theo nhóm.
    – Kĩ năng sống (thích nghi) trong xã hội toàn cầu, bao gồm vấn đề ý thức
    công dân, cuộc sống và sự nghiệp, trách nhiệm cá nhân và xã hội, bao gồm cả vấn
    đề hiểu biết tính đa dạng văn hóa.
    Vậy trong thời đại mới, giáo viên có vai trò như thế nào, cần có những năng
    lực gì.
    Giáo viên vẫn là trung tâm trong thời đại số. Yếu tố quyết định ở người dạy
    chính là kiến thức, năng lực, phẩm chất và lòng yêu nghề. Tình cảm thầy và trò là
    những giá trị không thể đo lường được trong Dạy và Học. Không một máy móc nào
    có thể làm được những điều ấy.
    Giáo viên là người tạo môi trường học tập, phát triển tính sáng tọc, tư duy của
    người học. Và cũng là những người định hướng và dẫn dắt phát triển người học cả
    về trí tuệ lẫn tình cảm. Như vậy Công nghệ có phát triển như thế nào đi chăng nữa
    cũng không thể thiếu người thầy. Theo Phạm Hồng Quang : “vai trò người thầy
    trong học tập kết nối mạng đó là sáng tạo, phản biện và giáo dục”.
    Để đáp ứng yêu cầu mới, một giáo viên ngày nay phải
    – Hiểu biết công nghệ thông tin và có khả năng ứng dụng chúng trong DH;
    5
    – Khi DH phải nhận thức đúng đối tượng (đối tượng dạy – người học và đối tượng
    DH – nội dung DH) trên cơ sở đó thao tác đúng đối tượng;
    – Phải hiểu cấu trúc các phương pháp dạy học (PPDH), biết triền khai đúng quy
    trình và biết phối hợp các PPDH trong quá trình DH;
    – Thấu hiểu cách học trong môi trường thông tin và truyền thông để có thể hướng
    dẫn HS học và có khả năng làm tốt vai trò cố vấn cho họ.
    – Có kiến thức đo lường và đánh giá trong DH để đánh giá chính xác khách quan
    kết quả học tập của người học, góp phần khẳng định chất lượng sản phẩm đào tạo
    của mình.
    – Quan trọng là lòng yêu nghề, mến trẻ, là gương sáng cả về trí tuệ và đạo đức.
    Như vậy, các kĩ năng một giáo viên cần phải có trong thời đại mới nhất là
    chương trình giáo dục phổ thông mới với yêu cầu mới của người thầy.
    -Về năng lực dạy học
    + Kĩ năng thiết kế và tổ chức DH theo định hướng phát triển năng lực người
    học.
    +Kĩ năng thiết kế và tổ chức DH-GD bằng trải nghiệm.
    +Kĩ năng DH tích hợp, lồng ghép, liên môn; DH theo chủ đề/chuyên đề
    + Kĩ năng sử dụng các phương pháp và kỹ thuật DH tích cực, hiện đại.
    + Kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin và sử dụng thiết bị DH có hiệu quả.
    + Kĩ năng thuyết trình, truyền thụ kiến thức sao cho HS hứng thú, có cảm
    hứng và yêu thích môn học.
    + Kĩ năng đặt câu hỏi, dẫn dắt, nêu vấn đề trong DH.
    + Kĩ năng tương tác với HS một cách cực.
    + Kĩ năng xử lý các tình huống DH.
    + Cách lấy ví dụ để liên hệ, ứng dụng kiến thức bài học vào thực tiễn cuộc
    sống.
    + Kĩ năng sử dụng một số phương pháp và hình thức kiểm tra- đánh giá mới,
    6
    + Kĩ năng thiết kế các đề kiểm tra -đánh giá theo tiếp cận phát triển năng lực
    HS.
    + Kĩ năng và cách thức phát triển chương trình môn học.
    + Hướng dẫn và tổ chức HS nghiên cứu khoa học, tự học …vv.
    -Về năng lực GD và quản lý lớp học
    + Các kiến thức về đặc điểm tâm lý lứa tuổi HS hiện nay.
    + Kỹ năng tổ chức và quản lý lớp học (trong đó chú ý đến các vấn đề: cách xử
    lý hành vi vi phạm đạo đức và GD HS cá biệt; cách quản lý HS trong và ngoài giờ
    học; cách tổ chức hoạt động sinh hoạt tập thể cho HS;…)
    + Các phương pháp giảng dạy kỹ năng sống, giá trị sống cho HS.
    + Các kỹ năng mềm để kiềm chế cảm xúc tiêu cực và giao tiếp có hiệu quả với
    HS.
    + Kỹ năng ứng xử, giao tiếp, thiết lập mối quan hệ với đồng nghiệp, cha mẹ
    HS và tập thể GV trong nhà trường để phối hợp GD HS.
    + Kĩ năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường GD mới.
    + Kĩ năng tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp đáp ứng yêu cầu chương
    trình phổ thông mới.
    II. 1.2. Chương trình giáo dục phổ thông mới
    II. 1.2.1 Mục tiêu giáo dục Chương trình giáo dục phổ thông mới
    Thứ nhất, về mục tiêu giáo dục, Chương trình giáo dục phổ thông mới tiếp
    tục được xây dựng trên quan điểm coi mục tiêu giáo dục phổ thông là giáo dục con
    người toàn diện, giúp học sinh phát triển hài hòa về đức, trí, thể, mĩ.
    Thứ hai, về phương châm giáo dục, Chương trình giáo dục phổ thông mới kế
    thừa các nguyên lí giáo dục nền tảng như “Học đi đôi với hành”, “Lí luận gắn liền
    với thực tiễn”, “Giáo dục ở nhà trường kết hợp với giáo dục ở gia đình và xã hội”.
    Thứ ba, về nội dung giáo dục, bên cạnh một số kiến thức được cập nhật để
    phù hợp với những thành tựu mới của khoa học – công nghệ và định hướng mới của
    chương trình, kiến thức nền tảng của các môn học trong Chương trình giáo dục phổ
    7
    thông mới chủ yếu là những kiến thức cốt lõi, tương đối ổn định trong các lĩnh vực
    tri thức của nhân loại, được kế thừa từ Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành,
    nhưng được tổ chức lại để giúp học sinh phát triển phẩm chất và năng lực một cách
    hiệu quả hơn.
    Thứ tư, về hệ thống môn học, trong chương trình mới, chỉ có một số môn học
    và hoạt động giáo dục mới hoặc mang tên mới là: Tin học và Công nghệ, Ngoại
    ngữ, Hoạt động trải nghiệm ở cấp tiểu học; Lịch sử và Địa lí, Khoa học tự nhiên ở
    cấp Trung học cơ sở; Âm nhạc, Mĩ thuật, Giáo dục kinh tế và pháp luật ở cấp
    Trung học phổ thông; Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở các cấp Trung học
    cơ sở, Trung học phổ thông
    Thứ năm, về thời lượng dạy học, tuy chương trình mới có thực hiện giảm tải
    so với chương trình hiện hành nhưng những tương quan về thời lượng dạy học giữa
    các môn học không có sự xáo trộn.
    Thứ sáu, về phương pháp giáo dục, chương trình mới định hướng phát huy
    tính tích cực của học sinh, khắc phục nhược điểm của phương pháp truyền thụ một
    chiều.
    Từ nhiều năm nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phổ biến và chỉ đạo áp dụng
    nhiều phương pháp giáo dục mới (như mô hình trường học mới, phương pháp bàn
    tay nặn bột, giáo dục STEM,…); do đó, hầu hết giáo viên các cấp học đã được làm
    quen, nhiều giáo viên đã vận dụng thành thạo các phương pháp giáo dục mới.
    Đặc biệt trong tình hình dịch bệnh Covid19 diễn biến phức tạp trong những
    năm vừa qua, ngành Giáo dục có những biện pháp thích ứng với tình hình một cách
    linh hoạt. Nhiều lớp học online được diễn ra ở các cấp học trên khắp các tỉnh thành
    vừa phát huy tinh thần chống dịch, vừa đạt được hiệu quả giáo dục. Việc tiếp cận
    với E-learning trên truyền hình cũng như trên Internet không còn xa lạ với học sinh
    trên khắp cả nước.
    II. 1.2.2. Chương trình giáo dục phổ thông mới có gì khác so với chương trình
    hiện hành
    8
    Thứ nhất, chương trình giáo dục phổ thông hiện hành được xây dựng theo
    định hướng nội dung, nặng về truyền thụ kiến thức, chưa chú trọng giúp học sinh
    vận dụng kiến thức học được vào thực tiễn.
    Theo mô hình này, kiến thức vừa là “chất liệu”, “đầu vào” vừa là “kết quả”,
    “đầu ra” của quá trình giáo dục. Vì vậy, học sinh phải học và ghi nhớ rất nhiều
    nhưng khả năng vận dụng vào đời sống rất hạn chế.
    Chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo mô hình phát triển
    năng lực, thông qua những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại và các phương
    pháp tích cực hóa hoạt động của người học, giúp học sinh hình thành và phát triển
    những phẩm chất và năng lực mà nhà trường và xã hội kì vọng. Theo cách tiếp cận
    này, kiến thức được dạy học không nhằm mục đích tự thân.
    Nói cách khác, giáo dục không phải để truyền thụ kiến thức mà nhằm giúp
    học sinh hoàn thành các công việc, giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống
    nhờ vận dụng hiệu quả và sáng tạo những kiến thức đã học.
    Quan điểm này được thể hiện nhất quán ở nội dung giáo dục, phương pháp
    giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục.
    Thứ hai, Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành có nội dung giáo dục
    gần như đồng nhất cho tất cả học sinh; việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh,
    ngay cả ở cấp trung học phổ thông chưa được xác định rõ ràng.
    Chương trình giáo dục phổ thông mới phân biệt rõ hai giai đoạn: giai đoạn
    giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp
    (từ lớp 10 đến lớp 12).
    Trong giai đoạn giáo dục cơ bản, thực hiện yêu cầu của Nghị quyết 29, Nghị
    quyết 88 và Quyết định 404, chương trình thực hiện lồng ghép những nội dung liên
    quan với nhau của một số môn học trong chương trình hiện hành để tạo thành môn
    học tích hợp, thực hiện tinh giản, tránh chồng chéo nội dung giáo dục, giảm hợp lí
    số môn học;
    Đồng thời thiết kế một số môn học (Tin học và Công nghệ, Tin học, Công
    nghệ, Giáo dục thể chất, Hoạt động trải nghiệm, Hoạt động trải nghiệm, hướng
    9
    nghiệp) theo các chủ đề, tạo điều kiện cho học sinh lựa chọn những chủ đề phù hợp
    với sở thích và năng lực của bản thân.
    Trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, bên cạnh một số môn học
    và hoạt động giáo dục bắt buộc, học sinh được lựa chọn những môn học và chuyên
    đề học tập phù hợp với sở thích, năng lực và định hướng nghề nghiệp của mình.
    Thứ ba, trong Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, sự kết nối giữa
    chương trình các cấp học trong một môn học và giữa chương trình các môn học
    chưa chặt chẽ; một số nội dung giáo dục bị trùng lặp, chồng chéo hoặc chưa thật sự
    cần thiết đối với học sinh phổ thông.
    Chương trình giáo dục phổ thông mới chú ý hơn đến tính kết nối giữa
    chương trình của các lớp học, cấp học trong từng môn học và giữa chương trình
    của các môn học trong từng lớp học, cấp học. Việc xây dựng Chương trình tổng
    thể, lần đầu tiên được thực hiện tại Việt Nam, đặt cơ sở cho sự kết nối này.
    Thứ tư, chương trình giáo dục phổ thông hiện hành thiếu tính mở nên hạn
    chế khả năng chủ động và sáng tạo của địa phương và nhà trường cũng như của tác
    giả sách giáo khoa và giáo viên.
    Chương trình giáo dục phổ thông mới bảo đảm định hướng thống nhất và
    những nội dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc, đồng thời
    trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương và nhà trường trong việc lựa
    chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp
    với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của cơ sở giáo dục, góp phần
    bảo đảm kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã hội.
    II. 1.3. Môn Lịch sử trong chương trình giáo dục phổ thông mới
    II. 1.3.1. Khái quát nội dung giáo dục môn Lịch sử
    Nội dung giáo dục môn Lịch sử được xác định dựa trên các căn cứ chủ yếu:
    Vị trí, mục tiêu, đặc điểm, tính chất môn học ở cấp THPT. Yêu cầu phát triển năng
    lực, phẩm chất (bao gồm cả thái độ và kỹ năng) của học sinh thông qua môn học
    này. Đặc điểm tâm lí lứa tuổi và tâm lí học sư phạm của học sinh từ lớp 10 – 12.
    Thời lượng được quy định cho môn học này ở mỗi lớp. Kinh nghiệm trong thiết kế
    chương trình môn Lịch sử ở trong nước và nước ngoài. Điều kiện dạy học ở các
    10
    vùng miền của nước ta hiện nay, triển vọng cải thiện trong những năm tới. Đặc
    điểm khách quan của Sử học và yêu cầu của việc ứng dụng tri thức lịch sử trong
    cuộc sống hiện đại.
    Có 3 đặc điểm khái quát về nội dung giáo dục ở môn Lịch sử.
    Thứ nhất, đó là nội dung giáo dục lịch sử với tính cách là một môn khoa học:
    Dựa trên thành tựu cập nhật của giới nghiên cứu lịch sử Việt Nam và thế giới, tôn
    trọng những nguyên tắc cơ bản của sử học (trung thực, khách quan, toàn diện, cụ
    thể), hướng tới hình thành thế giới quan khoa học, tư duy phê phán, thực chứng,
    biện chứng của người học.
    Thứ hai, Lịch sử là môn học dạy làm người, góp phần phát triển các phẩm
    chất của công dân Việt Nam toàn cầu: Yêu nước, nhân ái, trung thực, khoan dung,
    dũng cảm, chăm chỉ, cởi mở tiếp nhận cái mới và sống hòa thuận với thế giới xung
    quanh, trọng danh dự của bản thân và tôn trọng sự khác biệt, yêu hòa bình… Thứ
    ba, Lịch sử là môn học có định hướng ứng dụng cao theo đúng tinh thần “ôn cố tri
    tân”, biết học lịch sử để làm gì, có thể ứng dụng tri thức lịch sử vào cuộc sống như
    thế nào.
    Nội dung giáo dục với các mạch kiến thức cốt lõi của môn học được thiết kế
    như sau:
    Nội dung các chủ đề, gồm: Chủ đề định hướng nghề nghiệp (Lịch sử và Sử
    học; Vai trò của Sử học); Lịch sử thế giới (Một số nền văn minh thế giới thời kỳ cổ
    – trung đại; Các cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử thế giới; Cách mạng tư
    sản và sự phát triển của chủ nghĩa tư bản; Sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa
    xã hội; Thế giới trong và sau Chiến tranh lạnh; Quá trình phát triển kinh tế – xã hội
    của nước Mỹ từ năm 1945 đến nay; Công cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc từ
    năm 1978 đến nay); Lịch sử Đông Nam Á (Lịch sử văn minh Đông Nam Á;
    Quá trình giành độc lập dân tộc của các quốc gia Đông Nam Á; ASEAN:
    Những chặng đường lịch sử); Lịch sử Việt Nam (Một số nền văn minh trên đất
    nước Việt Nam (trước năm 1858); Cộng đồng các dân tộc Việt Nam; Chiến tranh
    bảo vệ Tổ quốc và chiến tranh giải phóng dân tộc trong lịch sử Việt Nam (trước
    Cách mạng tháng Tám năm 1945); Làng xã Việt Nam trong lịch sử; \Một số cuộc
    11
    cải cách lớn trong lịch sử Việt Nam (trước năm 1858); Lịch sử bảo vệ chủ quyền,
    các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông; Chiến tranh bảo vệ Tổ
    quốc và chiến tranh giải phóng dân tộc trong lịch sử Việt Nam (từ sau Cách mạng
    tháng Tám năm 1945); Công cuộc Đổi mới ở Việt Nam từ 1986 đến nay; Lịch sử
    quan hệ đối ngoại Việt Nam; Hồ Chí Minh trong lịch sử Việt Nam).
    Bên cạnh nội dung giáo dục cốt lõi, trong mỗi năm học, những học sinh có
    thiên hướng khoa học xã hội và nhân văn được chọn học một số chuyên đề học tập.
    II. 1.3.2. Chú ý trong đổi mới phương pháp
    Dạy và học lịch sử theo định hướng tiếp cận năng lực được thực hiện trên
    nền tảng những nguyên tắc cơ bản của khoa học lịch sử: Thông qua các nguồn sử
    liệu khác nhau để tái hiện lịch sử, phục dựng một cách chân thực, khách quan quá
    trình hình thành, phát triển của các sự kiện, quá trình lịch sử, đồng thời đặt quá
    trình phát triển đó trong sự tương tác với các nhân tố liên quan trong suốt quá trình
    vận động của chúng.
    Giáo viên không đặt trọng tâm vào việc truyền đạt kiến thức lịch sử cho học
    sinh mà chú trọng việc hướng dẫn học sinh nhận diện và khai thác các nguồn sử
    liệu, từ đó tái hiện quá khứ, nhận thức lịch sử, đưa ra suy luận, đánh giá về bối
    cảnh, nguồn gốc, sự phát triển của sự kiện, quá trình lịch sử để tìm kiếm sự thật lịch
    sử một cách khoa học, xây dựng và phát triển những năng lực chuyên môn của môn
    Lịch sử.
    Để thực hiện mục tiêu giáo dục của Chương trình môn Lịch sử, cần coi trọng
    và phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục nhà trường với giáo dục gia đình và xã hội ngay
    từ cấp tiểu học đến các cấp THCS, THPT ở những mức độ và hình thức khác nhau.
    Bên cạnh đó, cần ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy học lịch sử,
    khuyến khích học sinh tự tìm đọc, thu thập tư liệu lịch sử trên mạng Internet, trong
    thư viện để thực hiện các nghiên cứu cá nhân hoặc theo nhóm, có khả năng trình
    bày, thảo luận kết quả nghiên cứu; xây dựng kỹ năng sử dụng các phương tiện
    CNTT để hỗ trợ cho việc tái hiện, tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử.
    Dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực chú trọng đến vấn đề
    như: Phát hiện và giải quyết vấn đề, làm việc theo nhóm, coi trọng việc sử dụng các
    12
    phương tiện trực quan như: Hiện vật lịch sử, tranh ảnh lịch sử, bản đồ, biểu đồ, sa
    bàn, mô hình, phim tài liệu lịch sử.
    Học sinh cần được hướng dẫn phương pháp tự học, biết cách tìm tòi, khai
    thác các nguồn sử liệu, đồng thời biết cách phân tích sự kiện, quá trình lịch sử và tự
    mình rút ra những nhận xét, đánh giá, tạo cơ sở phát triển năng lực tự học lịch sử
    suốt đời và khả năng ứng dụng vào cuộc sống những hiểu biết về lịch sử, văn hoá,
    xã hội Việt Nam và thế giới.
    Mở rộng không gian dạy học, không chỉ trong lớp học mà còn trên thực địa
    (di tích lịch sử và văn hoá), bảo tàng, khu triển lãm…; tổ chức cho học sinh đi tham
    quan, dã ngoại, kết hợp các hoạt động dạy học trong lớp học với hoạt động trải
    nghiệm trên thực tế. Việc kết hợp các thành tựu của khoa học giáo dục hiện đại với
    việc sử dụng một cách tích cực các phương pháp của sử học là chìa khoá thành
    công của quá trình dạy học lịch sử.
    Sự phối hợp giữa ba môi trường giáo dục (nhà trường, gia đình, xã hội) là
    nền tảng quan trọng để hình thành năng lực chuyên môn Lịch sử. Trong đó, nhà
    trường xây dựng và phát triển kiến thức, kỹ năng cho học sinh; gia đình và xã hội
    tạo điều kiện để học sinh vận dụng kiến thức, kỹ năng lịch sử vào những tình huống
    thực tiễn của cuộc sống.
    Giáo viên là người chủ động thiết lập và duy trì mối liên hệ thường xuyên
    giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong công tác giáo dục lịch sử thông qua
    các mô hình phối hợp như: Tổ chức hoạt động giáo dục truyền thống lịch sử, giáo
    dục chủ quyền biển đảo cho học sinh có sự tham gia của phụ huynh học sinh và các
    tổ chức xã hội, tổ chức các hoạt động “Cha mẹ lắng nghe con kể chuyện lịch sử”,
    “Cha mẹ cùng con khám phá lịch sử đất nước, lịch sử địa phương”…
    II. 1.3.3. Đánh giá kết quả giáo dục môn Lịch sử
    Việc đánh giá kết quả giáo dục cần được thực hiện trên các phương diện:
    Các phẩm chất, năng lực chung và các năng lực chuyên môn Lịch sử; đánh giá quá
    trình, đánh giá cuối kỳ, cuối năm học, cuối cấp, đánh giá cấp quốc gia… Trong
    đánh giá kết quả học tập, cần căn cứ vào yêu cầu cần đạt được xác định trong
    13
    chương trình môn học để xác định phương thức, phương pháp và nội dung đánh
    giá.
    Cần chú ý rằng: Đánh giá năng lực và phẩm chất không lấy việc kiểm tra khả
    năng tái hiện kiến thức lịch sử làm trung tâm của việc đánh giá. Bên cạnh nội dung
    lí thuyết, coi trọng việc đánh giá các kỹ năng thực hành (làm việc với các nguồn sử
    liệu, bản đồ, atlat, biểu đồ, sơ đồ, bảng số liệu, tranh ảnh, quan sát; thu thập, xử lí
    và hệ thống hoá thông tin, sử dụng các dụng cụ học tập ngoài trời, sử dụng công
    nghệ và thông tin truyền thông trong học tập…).
    Ngoài ra, cần đa dạng hoá các hình thức và phương pháp đánh giá như: Bài
    thi/bài kiểm tra theo hình thức tự luận và trắc nghiệm khách quan; kiểm tra miệng,
    quan sát, thực hành, bài tập, các dự án/sản phẩm học tập, nghiên cứu… Về phương
    thức đánh giá: Bao gồm cả đánh giá định tính, đánh giá định lượng và sự kết hợp
    định tính với định lượng, trên cơ sở đó tổng hợp việc đánh giá chung năng lực và
    sự tiến bộ của học sinh.
    II. 1.3.4. Bản chất của qúa trình dạy học lịch sử ở trường THPT
    Thứ nhất: Quá trình dạy học lịch sử là một quá trình nhận thức đặc thù. Đây là
    nhận thức của cá thể học sinh nên quá trình nhận thức của học sinh trong học tập có ba
    đặc điểm là tính gián tiếp, được hướng dẫn và tính giáo dục.
    Thứ hai: Quá trình nhận thức lịch sử của học sinh có đặc điểm riêng. Giai đoạn
    nhận thức đầu là giai đoạn nhận thức cảm tính (tri giác tài liệu về sự kiện quá trình
    lịch sử tạo biểu tượng), giai đoạn tiếp theo là giai đoạn nhận thức lí tính (bằng hoạt
    động tư duy tích cực độc lập, học sinh đi đến những tri thức trìu tượng, khái quát
    thông qua “xử lí các tri thức cụ thể” tiếp đó học sinh phải biết vận dụng các kiến
    thức đó để hiểu hiện tại, hành động đúng trong thực tiễn.

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học lịch sử để nâng cao chất lượng thi tốt nghiệp THPT

    SKKN Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học lịch sử để nâng cao chất lượng thi tốt nghiệp THPT

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Lí do chọn đề tài
    Trong các bộ môn ở trường THPT, lịch sử là môn học có một vị trí vô cùng
    quan trọng. Môn lịch sử cung cấp cho học sinh có được những kiến thức cơ bản,
    cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, góp phần hình thành ở học sinh thế
    giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào dân tộc,
    tình đoàn kết quốc tế. Đồng thời, học lịch sử còn bồi dưỡng cho học sinh năng lực
    tư duy, hành động và thái độ ứng xử đúng đắn trong cuộc sống. Lịch sử là một
    môn học bắt buộc trong chương trình giáo dục, vừa bồi dưỡng kiến thức, vừa có
    tác dụng giáo dục trí tuệ và tình cảm con người.
    Môn lịch sử thường gắn liền với các sự kiện và các mốc thời gian, học sinh
    thường ngại học, học thì cũng nhanh quên và dễ bị nhầm lẫn các sự kiện lịch sử
    với nhau. Đây là khó khăn thách thức lớn đối với học sinh, nhất là học sinh lớp 12
    khi tham gia kì thi tốt nghiệp THPT. Vì vậy, giáo viên cần phải đưa ra được nhiều
    phương pháp và kĩ thuật dạy học phù hợp nhằm phát huy tính tích cực học tập và
    tư duy độc lập của học sinh nhưng vẫn đảm bảo nhận thức đúng các vấn đề lịch sử.
    Khi học sinh chủ động lĩnh hội tri thức, việc học tập môn lịch sử sẽ trở nên nhẹ
    nhàng hơn, dễ hiểu hơn, đảm bảo tính hệ thống và khoa học của tri thức lịch sử.
    Hiện nay, sự phát triển khoa học- công nghệ và xu thế toàn cầu hóa đặt ra
    nhiều thời cơ và thách thức cho các quốc gia dân tộc trên thế giới. Con người dần
    phải tự chủ hơn, không ngừng giao lưu học hỏi kinh nghiệm để tồn tại, phát triển
    hòa nhập chung vào xu thế của thế giới. Trước những thay đổi của thời đại mới,
    giáo dục cũng cần phải có những thay đổi phù hợp, tạo nên những con người mới
    có đủ kiến thức, năng lực, phẩm chất, thích ứng được với xu thế chung của nhân
    loại, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và công cuộc đổi mới đất
    nước. Về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, Ban Chấp hành Trung ương Đảng
    lần thứ 8 (Khóa XI) đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW “Về đổi mới căn bản,
    toàn diện giáo dục và đào tạo”. Nghị quyết nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ
    phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động,
    sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp
    đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích
    tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển
    năng lực”.
    Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể
    4
    2018 theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh, với 5 phẩm chất
    chủ yếu và 10 năng lực cốt lõi. Những phẩm chất chủ yếu cần có ở học sinh là yêu
    nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm; đồng thời học sinh cần phát triển
    năng lực cốt lõi như năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng
    lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực ngôn ngữ… Đặc thù môn Lịch sử còn
    giúp hoc sinh hình thành các năng lực: tìm hiểu lịch sử, nhận thức và tư duy lịch
    sử, vận dụng kiến thức và kĩ năng đã học. Hoạt động dạy học trong các trường
    trung học phổ thông hiện nay không ngừng phải đổi mới để tiếp cận dần tiến tới
    thực hiện tốt mục tiêu, định hướng của chương trình giáo dục phổ thông tổng thể
    2018. Điều cần nhất trong giáo dục hiện nay là cần tìm ra các hình thức tổ chức,
    các phương pháp dạy học phù hợp và có hiệu quả. Một trong những biện pháp thực
    tế mà tôi đang thực hiện khi giảng dạy môn lịch sử ở trường THPT Nam Trực là
    đổi mới, đa dạng hóa hình thức tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh trong quá
    trình dạy học.
    Hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy học thông qua tổ chức hoạt động
    nhóm được sử dụng nhiều hơn nhưng chưa thực phổ biến, chưa mạng lại hiệu quả
    cao. Mục tiêu của tổ chức hoạt động nhóm là tạo ra môi trường học tập, trong đó
    học sinh được đối mặt với nhiệm vụ, thử thách để chiếm lĩnh kiến thức. Thông qua
    hoạt động nhóm, học sinh được tự mình nói lên ý kiến cá nhân, chủ động chiếm
    lĩnh tri thức, được thảo luận, góp ý, có bản lĩnh bảo vệ quan điểm của mình. Tham
    gia hoạt động nhóm, học sinh biết lắng nghe, biết chia sẻ, biết khẳng định mình;
    hình thành phẩm chất chăm chỉ, trách nhiệm, tôn trọng và biết công hiến.
    Từ thực tiễn trên, tôi quyết định chọn đề tài “ Tổ chức hoạt động nhóm trong
    dạy học lịch sử để nâng cao chất lượng thi tốt nghiệp THPT” làm đề tài nghiên
    cứu.
    2. Đối tượng và phạm vi của đề tài
    – Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Hoạt động học tập của học sinh lớp 12
    tham gia kì thi tốt ngiệp THPT môn lịch sử.
    – Phạm vi nghiên cứu: Phần kiến thức lịch sử Việt Nam và lịch sử Thế giới
    trong chương trình lịch sử lớp 11, lớp 12.
    3. Mục đích nghiên cứu
    Qua quá trình nghiên cứu, tôi đã đưa ra một số điểm cần lưu ý và một số biện
    pháp hữu hiệu trong việc tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh lớp 12 góp phần
    nâng cao kết quả học tập của học sinh, hướng tới nâng cao chất lượng môn lịch sử
    trong kì thi tốt nghiệp THPT.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    5
    Phương pháp dạy học truyền thống là những cách thức dạy học quen thuộc
    được truyền từ lâu đời và duy trì qua nhiều thế hệ. Về cơ bản, phương pháp dạy
    học này lấy hoạt động của người thầy là trung tâm. Theo Frire – nhà xã hội học,
    nhà giáo dục học nổi tiếng người Braxin đã gọi phương pháp dạy học này là “Hệ
    thống ban phát kiến thức”, là quá trình chuyển tải thông tin từ đầu thầy sang đầu
    trò. Thực hiện phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên là người thuyết trình,
    diễn giảng, được ví như “kho tri thức” sống, học sinh là người nghe, nhớ, ghi chép
    và suy nghĩ theo. Với phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên là chủ thể, là
    tâm điểm, học sinh là khách thể, là quỹ đạo. Giáo án dạy theo phương pháp này
    được thiết kế kiểu đường thẳng theo hướng từ trên xuống. Nội dung bài dạy theo
    phương pháp truyền thống có tính hệ thống, tính logic cao. Nhưng vì quá đề cao
    người dạy nên nhược điểm của phương pháp dạy học truyền thống là học sinh thụ
    động tiếp thu kiến thức, giờ dạy dễ đơn điệu, buồn tẻ, kiến thức thiên về lý luận, ít
    chú ý đến kỹ năng thực hành của người học.
    Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực của học sinh thực
    chất là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng chuyển từ chương trình giáo dục
    tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm
    đến học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua
    việc học. Phương pháp dạy học cần đổi mới theo hướng phát huy vai trò định
    hướng, tổ chức, hỗ trợ của người thầy; sự chủ động, tích cực, tự tin của học sinh
    trong hoạt động nhận thức.Trong những năm gần đây, giáo viên môn lịch sử
    trường Trung học phổ thông Nam Trực của chúng tôi đang dần dần đổi mới trong
    phương pháp dạy học, đa dạng hoá việc tổ chức các hoạt động dạy học nhằm phát
    huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập môn lịch sử. Hàng
    năm, số lượng học sinh tham gia thi tốt nghiệp môn khoa học xã hội nói chung
    môn lịch sử nói riêng không nhiều, chỉ dao động từ khoảng 15% đến 20 % tổng số
    học sinh trong trường. Để tạo động lực lôi cuốn các em học sinh, chúng tôi đã có
    nhiều đổi mới, sáng tạo trong dạy học để thu hút số lượng học sinh tham gia nhiều
    hơn và nâng cao hiệu quả thực tế trong kì thi tốt nghiệp. Một số biện pháp mà
    chúng tôi đã tiến hành như xây dựng hệ thống câc câu hỏi bài tập nhằm hình thành
    kiến thức mới và củng cố kiến thức cho học sinh, tổ chức các hoạt động trải
    nghiệm sáng tạo, hướng cho học sinh khai thác các phương tiện trực quan như
    tranh ảnh, lược đồ, bản đồ, sa bàn, mô hình vật thật, phim video.
    Thực tế hiện nay để học tốt môn lịch sử nhằm hướng đến một kỳ thi tốt
    nghiệp THPT đạt kết quả tốt, trước tiên học sinh phải nắm vững kiến thức cơ bản
    trong sách giáo khoa. Nội dung kiến thức lịch sử nhiều, trải rộng với nhiều mốc
    thời gian, sự kiện lịch sử là trở ngại tâm lí lớn đối với nhiều học sinh. Bên cạnh
    đó, trắc nghiệm là một hình thức thi tương đối mới và đặt ra nhiều khó khăn, thách
    thức cho học sinh; đòi hỏi các em phải học thuộc, ghi nhớ nhiều sự kiện, hiểu rộng
    và sâu, phải có kỹ năng đánh giá, nhận xét, phân tích, biết khai thác kiến thức. Vì
    6
    vậy, đa số học sinh hoang mang, lo lắng khi phải đối mặt với hình thức thi này.
    Nội dung kiến thức nhiều, hình thức thi mang tính trải rộng kiến thức trở thành
    thách thức lớn đối với các em học sinh lớp 12. Giáo viên cần phải tạo cho học sinh
    sự hứng thú, khơi dạy sự chủ động, tích cực học tập của học sinh. Hoạt động nhóm
    là hình thức tổ chức dạy học phù hợp để học sinh thể hiện và phát huy khả năng
    chiếm lĩnh tri thức, là cơ sở hình thành những phẩm chất cần thiết cho học sinh.
    Dạy học theo nhóm là một phương pháp dạy học trong đó giáo viên tổ chức
    cho học sinh hình thành các nhóm học tập nhỏ. Mỗi thành viên trong nhóm học tập
    này vừa có trách nhiệm tự học tập, vừa có trách nhiệm giúp đỡ các thành viên
    trong nhóm để cùng hoàn thành mục đích học tập chung của cả nhóm.
    Việc tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học môn lịch sử có những ưu điểm
    và hạn chế sau:
    – Ưu điểm
    + Hoạt động nhóm nâng cao sự tương tác giữa các thành viên trong lớp,
    giúp học sinh phát huy năng lực tư duy, sáng tạo, tính tích cực, độc lập trong học
    tập. Thông qua việc nghiên cứu bài học, trao đổi, thảo luận, bảo vệ ý kiến của
    mình, bác bỏ ý kiến người khác học sinh sẽ tiếp thu được kiến thức một cách chủ
    động, sâu sắc và khách quan nhất.
    + Hoạt động nhóm trong giờ lên lớp môn lịch sử giúp học sinh học hỏi được
    kiến thức của nhau, kích thích tư duy, phát triển các kĩ năng phân tích, tổng hợp so
    sánh, khái quát hóa, giải thích, tạo hứng thú học tập, khả năng tìm tòi kiến thức cho
    học sinh.
    + Tổ chức hoạt động nhóm có ưu thế trong việc phát triển năng lực, rèn kĩ
    năng giao tiếp, trình bày, tự tin trước đám đông. Học sinh tự tin trước bạn bè nói
    lên ý kiến của mình, thể hiện bản lĩnh, trách nhiệm của cá nhân, biết cách tự đánh
    7
    giá và điều chỉnh nhận thức, hành vi. Từ đó, các em có cơ hội tự khẳng định bản
    thân trước bạn bè, thầy cô để sau này có thể tự mình trình bày, diễn đạt vấn đề
    trước đám đông, giúp các em tự tin trong cuộc sống.
    + Tham gia hoạt động nhóm giúp học sinh hình thành những phẩm chất tốt
    đẹp như chăm chỉ, trách nhiệm, khiêm tốn, tôn trọng người khác và tôn trọng
    chính bản thân mình.
    + Thông qua hoạt động nhóm, giáo viên nhận được những ý kiến phản hồi từ
    học sinh để điều chỉnh phương pháp dạy học của chính mình; giáo viên cần điều
    chỉnh phương pháp dạy học để thực hiện được mục tiêu bài học và phù hợp với
    nhiều đối tượng học sinh.
    – Hạn chế
    Bên cạnh những ưu điểm thì tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học lịch sử
    còn có một số hạn chế như sau:
    + Tổ chức hoạt động nhóm thường mất nhiều thời gian, phát sinh nhiều tình
    huống cần giải quyết. Một tiết học được quy định có 45 phút, khi tổ chức hoạt
    động nhóm gồm nhiều công đoạn: chia nhóm, phân công nhiệm vụ, làm việc
    nhóm, trình bày báo cáo kết quả từng nhóm, các nhóm phản biện, nhận xét, giáo
    viên đánh giá…
    + Tổ chức hoạt động nhóm có thể dẫn đến việc nhóm đi chệch hướng nhiệm
    vụ được giao, thảo luận sai nội dung, tranh thủ thảo luận để nói chuyện, làm việc
    riêng gây mất trật tự nếu giáo viên quản lí không tốt giờ học.
    + Nếu giáo viên quản lí và tổ chức không tốt giờ học có thể dẫn đến việc học
    sinh ỉ lại vào các bạn hoặc chỉ nắm được nội dung thảo luận của nhóm mình mà
    không lắng nghe, tiếp thu được nội dung thảo luận của nhóm khác dẫn đến không
    nắm được nội dung toàn bài mà chỉ hiểu một phần nội dung bài học; hoặc giữa các
    nhóm không có được sự thống nhất ý kiến, không thừa nhận ý kiến của nhau dẫn
    đến không đạt được kết quả như mong muốn.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1. Mục đích, yêu cầu tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh trong dạy
    học lịch sử
    Hoạt động nhóm trong dạy học lịch sử là hoạt động của các nhóm học sinh
    để giải quyết nhiệm vụ học tập nhằm lĩnh hội tri thức lịch sử, phát triển năng lực
    bản thân dưới sự tổ chức của giáo viên . Hoạt động nhóm là sự tương tác qua lại
    giữa các thành viên trong nhóm, có sự phân chia vai trò, nhiệm vụ rõ ràng, hoạt
    động dựa trên các quy định và nguyên tắc chi phối lẫn nhau. Mục đích của hoạt
    động nhóm trong dạy học lịch sử là giúp học sinh lĩnh hội tri thức, hình thành các
    năng lực, phẩm chất cần có, khơi dạy sự tích cực, chủ động học tập trong mỗi học
    8
    sinh. Tác dụng của hoạt động nhóm hiểu một cách ngắn gọn theo câu nói của
    Khổng Tử là “ Tôi nghe và tôi quên. Tôi thấy và tôi nhớ. Tôi làm và tôi hiểu”.

    Một tiết dạy theo hình thức hoạt động nhóm

    Để tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học lịch sử có hiệu quả cần lưu ý
    những vấn đề sau:
    Một là, giáo viên định hướng để học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức cơ bản
    theo chuẩn kiến thức kĩ năng, đồng thời bám chắc kiến thức trong sách giáo khoa.
    Căn cứ vào mục tiêu từng bài học, giáo viên xác định nhiệm vụ giao cho các nhóm
    tìm hiểu, mỗi bài lịch sử có mục tiêu cụ thể, rõ ràng. Trên cở sở xác định đúng mục
    tiêu bài học, giáo viên có căn cứ để xác định nhiệm vụ hoạt động của từng nhóm,
    có căn cứ để chia nhóm cho phù hợp.
    Ví dụ: Đối với bài 1: “ Sự hình thành trật tự thế giới mới sau chiến tranh
    giới thứ hai (1945-1949)”- SGK lịch sử lớp 12, GV cần xác định rõ mục tiêu bài
    học :
    1. Về kiến thức
    + Học sinh cần nắm được hoàn cảnh lịch sử, nội dung của hội nghị Ianta;
    sự thành lập, mục đích, nguyên tắc hoạt động, tổ chức của Liên hợp quốc.
    + Giải thích tại sao những quyết định của hội nghị Ianta đã dần trở thành
    khuôn khổ của trật tự thế giới mới, đánh giá vai trò của tổ chức Liên Hợp quốc
    9
    + Liên hệ với quá trình hình thành của trật tự Véc xai- Oasinh tơn
    + Liên hệ tác động của hội nghị Ianta đối với Việt Nam và Đông Dương
    2. Về năng lực
    – Năng lực chung: tự học và tự chủ, giải quyết vấn đề và sáng tạo, giao tiếp
    và hợp tác, sử dụng ngôn ngữ…
    – Năng lực chuyên biệt: tái hiện sự kiện,hiện tượng, nhân vật; xác định và
    giải quyết mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử
    với nhau; thực hành với đồ dùng trực quan; so sánh, phân tích, phản biện, khái
    quát hóa; nhận xét, đánh giá rút ra bài học lịch sử từ những sự kiện, hiện tượng,
    vấn đề lịch sử, nhân vật;
    3. Về phẩm chất
    – Đấu tranh để bảo vệ hòa bình thế giới, tránh việc giải quyết tranh chấp
    bằng bạo lực.
    – Phâm chất: Nhân ái, trách nhiệm, tự rèn luyện…
    Trên cơ sở mục tiêu bài học của Bài 1- SGK Lớp 12, giáo viên chia lớp
    thành 4 nhóm, sau đó giao nhiệm vụ:
    + Nhóm 1 và nhóm 3 tìm hiểu về hoàn cảnh lịch sử, nội dung, ý nghĩa của
    hội nghị Ianta.
    + Nhóm 3 và nhóm 4 tìm hiểu về sự thành lập, mục đích, nguyên tắc hoạt
    động, tổ chức và vai trò của Liên hợp quốc.
    Mục tiêu bài học là căn cứ và cũng là mục đích của việc chia nhóm để hoạt
    động. Nếu giáo viên nắm chắc được mục tiêu bài học của từng bài học lịch sử thì
    việc chia nhóm sẽ phù hợp với mục tiêu đặt ra, đảm bảo tính khoa học và hệ thống
    trong dạy học lịch sử.
    Hai là, những vấn đề được đưa ra để hoạt động nhóm cần đảm bảo đầy đủ
    các cấp độ nhận thức. Theo đề minh hoạ của Bộ GD&ĐT, kiến thức trong đề thi
    tốt nghiệp THPT năm học 2020-2021 chủ yếu thuộc về kiến thức lớp 12. Kiến thức
    cơ bản ở mức độ “nhận biết” và “thông hiểu” chiếm khoảng 70-75% tổng số câu
    trong đề thi, còn lại 25-30% tổng số câu là những câu hỏi có tính phân loại, đòi
    hỏi khả năng “vận dụng” và “vận dụng cao” phục vụ cho việc xét tuyển vào các
    trường đại học và cao đẳng. Vì vậy khi tham gia hoạt động nhóm, học sinh không
    chỉ nêu được những sự kiện lịch sử mà cần phải hiểu để có thể nhận xét, phân tích,
    so sánh, tìm mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử với nhau. Những nội dung kiến
    thức giáo viên đặt ra đối với học sinh phải đảm bảo tính vừa sức; nếu quá khó, học
    sinh không thực hiện được; ngược lại quá dễ sẽ dẫn đến nhàm chán, không kích
    thích được tư duy sáng tạo của học sinh.
    Học sinh khi tiếp nhận kiến thức lịch sử cần đảm bảo đầy đủ các cấp độ
    10
    nhận thức.
    + Mức độ nhận biết là những câu hỏi đơn giản mang tính chất tái hiện kiến
    thức lịch sử như sự kiện, thời gian, không gian, nhân vật…
    + Mức độ thông hiểu là những câu hỏi yêu cầu học sinh phải lý giải, phân
    tích, chứng minh được các vấn đề lịch sử dùng để đánh giá năng lực học sinh ở
    mức độ cao hơn.
    + Mức độ vận dụng (bao gồm vận dụng và vận dụng cao) là những câu hỏi
    yêu cầu học sinh phải đưa ra những nhận xét, đánh giá; vận dụng được kiến thức
    đã học để giải quyết một nhiệm vụ hoặc một vấn đề thực tiễn đặt ra. Đây là nhóm
    câu hỏi khó nhất và phân loại, phân hóa học sinh cao nhất.
    Đề minh họa tốt nghiệp THPT hàng năm của bộ giáo dục đào tạo là cơ sở
    quan trọng để giáo viên định lượng kiến thức cho học sinh.
    Ma trận đề thi Minh họa tốt nhiệp THPT môn lịch sử năm 2021
    11
    Từ ma trận đề minh họa năm 2021 trên, ta nhận thấy đề thi tốt nghiệp sẽ có
    tính phân loại rõ ràng. Học sinh muốn đạt được điểm giỏi, muốn có cơ hội đỗ vào
    các trường đại học thì cần phải làm được các câu hỏi ở mức độ vận dụng và vận
    dụng cao. Vì vậy ngay từ khi tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh, giáo viên cần
    lưu ý để học sinh lĩnh hội kiến thức nhiều chiều theo đầy đủ các cấp độ nhận thức.
    Ba là, giáo viên và học sinh chuẩn bị đầy đủ, chu đáo thiết bị dạy học và học
    liệu phục vụ cho quá trình học tập. Quy trình của hoạt động nhận thức là “ Từ trực
    quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn khách
    quan”. Lịch sử là môn khoa học nghiên cứu về quá khứ, đặc biệt là quá khứ liên
    quan đến con người. Con người muốn nắm bắt được quá khứ phải dựa trên những
    dấu tích lịch sử thông qua vật chứng, tranh ảnh, câu chuyện lịch sử, con người lịch
    sử…. Vì vậy, việc chuẩn bị đầy đủ các thiết bị, tài liệu cho việc tiến hành hoạt
    động nhóm là vô cùng quan trọng, nó sẽ tác động trực tiếp đến các giác quan của
    học sinh tạo động lực và điều kiện cho việc ghi nhớ kiến thức sâu và lâu hơn.
    Ví dụ: Khi học bài 20 “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp
    kết thúc (1953-1954 )” – SGK lịch sử 12, Giáo viên tổ chức hoạt động nhóm tìm
    hiểu về chiến dịch Điện Biên Phủ thì các thiết bị, tài liệu cần có như lược đồ, sa
    bàn hoặc video diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ, các tư liệu về một số nhân vật
    lịch sử như đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng chí Phan Đình Giót, Tô Vĩnh
    Diện…, cùng với một số tranh ảnh như:

    Chủ tịch HCM và các đồng chí trong bộ chính trị thông qua chủ trương tác
    chiến Đông Xuân (1953-1954) và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ

    12
    Đoàn dân công xe đạp thồ vận chuyển hàng phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ

    Dân công, thanh niên xung phong mở đường vào Điện Biên Phủ

    13

    Tướng Đờ caxtơri cùng toàn bộ ban tham mưu của địch đầu hàng
    Biểu tượng chiến thắng Điện Biên Phủ (1954)

    Bốn là, giáo viên cần bao quát lớp và khích lệ kịp thời học sinh trong quá
    trình hoạt động nhóm. Trong mỗi nhóm đều có những học sinh với khả năng nhận
    14
    thức ở mức độ khác nhau, có học sinh năng động và cũng có học sinh rụt rè nhút
    nhát, có học sinh nhận thức nhanh và chưa nhanh.
    Trong quá trình hoạt động, trong nhóm sẽ xuất hiện những học sinh quá đề
    cao bản thân mình; học sinh mặc cảm, tự ti ngại giao tiếp; học sinh do dự luôn hoài
    nghi về ý kiến của mình và các bạn khác. Để hạn chế tình trạng này, trước khi họat
    động nhóm giáo viên cần ổn định yếu tố tinh thần cho các em, giao nhiệm vụ rõ
    ràng, đưa ra quy định về thái độ hành vi của học sinh trong quá trình hoạt động
    nhóm; kịp thời động viên các em thực hiện nhiệm vụ.
    Năm là, tổ chức hoạt động nhóm đảm bảo thực hiện đúng tiến trình.
    – Bước 1: Chia nhóm và giao nhiệm vụ
    Giáo viên chia nhóm và giao nhiệm vụ cho học sinh cần tìm hiểu phân loại
    học sinh về nhận thức, năng lực, phẩm chất để có cơ sở chia nhóm phù hợp, đảm
    bảo độ cân đối giữa các nhóm. Nhóm có thể cố định hoặc thay đổi theo từng hoạt
    động, từng buổi học; mỗi nhóm có nhóm trưởng có năng lực điều hành, sau đó
    nhóm trưởng có thể thay đổi luân phiên. Trong quá trình chia nhóm, giáo viên có
    thể lựa chọn nhiều phương án khác nhau căn cứ vào nhiệm vụ học tập.
    Khi giao nhiệm vụ học tập cho học sinh, ngôn từ của giáo viên phải rõ ràng,
    mạch lạc để học sinh nắm được nhiệm vụ, tránh lạc đề, sai hướng khi làm nhiệm
    vụ. Các vấn đề đưa ra hoạt động nhóm được giáo viên biên soạn trong phiếu học
    tập hoặc viết bảng phụ. Các phiếu được biên soạn đơn giản, rõ mục đích, có tính
    trực quan cao, không rườm rà, gây khó hiểu hoặc mất thời gian. Phiếu học tập có
    thể nâng cao được năng lực của học sinh trong việc phân tích và giải quyết các vấn
    đề lịch sử độc lập. Khi sử dụng phiếu học tập sẽ giảm thiểu được sự phụ thuộc của
    học sinh vào giáo viên và tăng nhu cầu thông tin của học sinh. Hơn nữa, phiếu học
    tập rất cần thiết đối với những bài học lịch sử có lượng kiến thức nhiều, cần nhiều
    thời gian để giáo viên và học sinh cùng thảo luận.
    Khi xây dựng phiếu học tập, giáo viên cần đảm bảo hai phần: phần dẫn (giới
    thiệu về mục tiêu, nhiệm vụ cần đạt), phần hoạt động (ghi kết quả hoạt động).
    Phiếu hoc tập cần được thiết kế ngắn gọn, rõ ràng, chính xác và tạo ra tính hệ
    thống trong tư duy lịch sử. Một điều rất quan trọng nữa là phiếu học tập phải dựa
    trên kiến thức cơ bản của bài học, cùng với đó thì phiếu học tập phải ngắn gọn, dễ
    hiểu để đa số học sinh có thể hoàn thiện được.
    Ví dụ: Khi hoạt động nhóm tìm hiểu về “chiến dịch Việt Bắc thu đông năm
    1947” bài 18-SGK lịch sử 12, giáo viên cung cấp cho học sinh phiếu học tập.
    15
    Học sinh căn cứ vào phiếu học tập để xác định đúng nhiệm vụ hoạt động của
    cá nhân và nhóm, hạn chế việc trình bày rườm rà, đảm bảo tính hệ thống và khoa
    học.
    – Bước 2: Các nhóm thực hiện nhiệm vụ.
    Khi bắt đầu làm việc, nhóm trưởng lên nhận nhiệm vụ và tài liệu từ cô giáo
    hoặc trưởng ban học tập, sau đó phát cho các bạn và phân công các thành viên
    16
    trong nhóm, mỗi người một việc, sau đó cá nhân làm việc độc lập rồi từng em đưa
    ra ý kiến để thảo luận trong nhóm. Các em làm việc cá nhân cùng với tài liệu học
    tập. Lúc này học sinh tích cực, chủ động huy động kiến thức, vốn sống, vốn hiểu
    biết cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ. Tài liệu của các em là sách giáo khoa, vở bài
    tập, từ điển… Ý kiến thống nhất được ghi nhận để chuẩn bị trình bày trước lớp.
    Trong quá trình theo dõi hoạt động của các nhóm, giáo viên đưa ra những
    gợi ý, nhắc lại những biện pháp và cách thức để hoàn thành công việc được giao,
    giải đáp các thắc mắc và dạy các kĩ năng thực hiện nhiệm vụ khi cần thiết. Đối với
    những nhóm chưa thực hiện nhiệm vụ được giao một cách tích cực, giáo viên đến
    gần và cùng tham gia, làm mẫu cho học sinh. Khi học sinh gặp khó khăn, giáo viên
    đưa ra những gợi ý cần thiết như liên hệ những kiến thức đang trao đổi với những
    kiến thức học sinh đã được học, tạo ra mối quan hệ giữa kiến thức mới và những
    kiến thức học sinh đã biết, đã trải nghiệm.
    Giáo viên cần chú ý quan tâm đến hoạt động của các học sinh yếu trong
    nhóm, đặc biệt là trong quá trình các em tự học, giúp các em hiểu bài để các em tự
    tin hơn khi trao đổi với bạn cùng bàn và với nhóm. Với các học sinh khá giỏi, giúp
    các em khắc sâu và mở rộng kiến thức bằng những câu hỏi phụ nhằm định hướng
    cho các em nâng cao kiến thức. Quy trình như vậy nhưng không dễ để các em nắm
    được ngay nếu không có sự hướng dẫn chỉ bảo từng bước một. Đầu tiên, giáo viên
    hướng dẫn học sinh biết cách tự học, thông qua tự trải nghiệm, khám phá, nghiên
    cứu tài liệu để có được những hiểu biết cá nhân về bài học, đây cũng là bước khởi
    đầu của hoạt động nhóm. Quá trình này đối với học sinh có lực học khá giỏi là đơn
    giản, nhưng đối với các em học yếu thì còn gặp khó khăn. Giải pháp của giáo viên
    lúc này là khuyến khích các em tìm kiếm sự trợ giúp từ thầy cô, bè bạn.
    Khi nhóm làm việc, học sinh khá giỏi có thể giảng giải cho bạn cùng nhóm,
    giáo viên cũng bám sát, kịp thời giúp đỡ các em. Sau họạt động cá nhân, học sinh
    sẽ chia sẻ trong cặp đôi và sau đó là trao đổi trong nhóm. Trong quá trình tự học
    rất nhiều vấn đề nảy sinh mà mỗi cá nhân không thể tự mình giải quyết hoặc kiểm
    chứng, trao đổi với bạn cùng bàn và trong nhóm sẽ giúp các em tháo gỡ những
    vướng mắc, khó khăn trong lúc tự học. Học sinh có thể đổi vở để kiểm tra bài làm
    của bạn; nói cách nghĩ, cách làm bài cho bạn nghe; tiếp thu góp ý của bạn; điều
    chỉnh ý kiến; kết quả của mình. Chia sẻ trong cặp đôi giúp học sinh kiểm tra hiểu
    biết của bản thân, tiếp thu góp ý của bạn, bảo vệ chính kiến của mình giúp học sinh
    tiếp cận vấn đề theo những góc độ khác nhau, khích lệ tính tự giác của mỗi học
    sinh.
    – Bước 3: Các nhóm báo cáo kết quả thảo luận
    Trước khi cho đại diện nhóm trình bày, giáo viên cần nêu lại vấn đề để cả
    lớp tập trung lắng nghe. Phải rèn cho học sinh có thói quen lắng nghe và khuyến
    khích các em đưa ra nhận xét cụ thể hoặc ý kiến bổ sung cho nội dung nhóm bạn
    17
    vừa trình bày. Cao hơn nữa là tập cho học sinh đặt vấn đề, nêu câu hỏi tạo tình
    huống phản biện.
    Giáo viên hướng dẫn học sinh luân phiên thay đổi báo cáo viên trong nhóm.
    Ban đầu, những học sinh có năng lực trình bày lưu loát sẽ báo cáo kết quả, sau đó
    luân chuyển để em nào cũng được trình bày, nhằm rèn cho các em năng lực trình
    bày trước đám đông, giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp. Người trình
    bày luân phiên để tạo điều kiện cho tất cả học sinh được rèn luyện kĩ năng. Trong
    thời gian học sinh làm việc, giáo viên thường xuyên theo dõi để hướng dẫn, giúp
    đỡ các nhóm trao đổi thảo luận đúng yêu cầu bài học, tránh thảo luận tùy hứng dẫn
    đến nguy cơ đi lệch yêu cầu hoặc giáo viên gợi mở thêm nhằm mở rộng kiến thức
    và giáo dục kỹ năng sống cho các em.
    Để báo cáo viên có thể trình bày rõ kết quả làm việc của nhóm, nhóm phải tổ
    chức tập huấn trước, khi đó các em sẽ đưa ra các tình huống giả định khi nhóm bạn
    phát biểu ý kiến để chuẩn bị các phương án tranh luận góp ý. Giáo viên cần dự
    kiến trước các tình huống trả lời của học sinh để có thể xử lí tốt các vấn đề. Những
    câu hỏi phụ mà giáo viên và các nhóm tự trao đổi với nhau đảm bảo sự trao đổi hai
    chiều, đảm bảo việc giao nhiệm vụ thực hiện một cách có hiệu quả và đảm bảo học
    sinh sẵn sàng bắt tay vào hoàn thành nhiệm vụ đó.
    – Bước 4: Kết luận, nhận định
    Giáo viên nhận xét, rút kinh nghiệm trong hoạt động nhóm. Việc nhận xét
    quá trình làm việc của nhóm cũng không nên qua loa, đại khái. Giáo viên đưa ra
    nhận định rõ ràng,chi tiết về hình thức, nội dung trình bày của học sinh giúp học
    sinh tích lũy nhiều kinh nghiệm cho những hoạt động sau. Những tiêu chí nhận xét
    cần thiết phải có như tinh thần thái độ làm việc của các thành viên trong quá trình
    thảo luận, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao, kĩ năng trình bày kết quả hoặc
    giải thích chất vấn trước lớp.
    2.2. Tổ chức hoạt động nhóm trong quá trình hình thành kiến thức mới
    2.2.1. Kết hợp sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực với tổ chức hoạt
    động nhóm để giải quyết các nhiệm vụ học tập
    Các kĩ thuật dạy học tích cực là những kĩ thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệt
    quan trọng trong việc phát huy sự tham gia tích cực của học sinh vào quá trình dạy
    học, kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của học sinh. Do yêu
    cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực của học
    sinh nên các kĩ thuật dạy học tích cực ngày càng đa dạng phong phú, sinh động và
    được tạo nên từ thực tiễn dạy học. Khi tổ chức hoạt động nhóm, các kĩ thuật dạy
    học tích cực tôi thường sử dụng là kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật KWLH, kĩ thuật
    mảnh ghép,…
    * Kết hợp hoạt động nhóm với kĩ thuật khăn trải bàn
    18
    Kĩ thuật khăn trải bàn là kĩ thuật dạy học đơn giản, dễ thực hiện có thể sử
    dụng ở các kiểu bài lịch sử ở trường Trung học phổ thông. Kĩ thuật này giúp khắc
    phục tình trạng học sinh ỉ lại khi nhóm đang làm việc. Nó huy động tất cả thành
    viên tham gia vào hoạt động nhóm một cách tích cực, độc lập và trách nhiệm, tạo
    ra sự tương tác tích cực giữa học sinh với học sinh.
    Hoạt động nhóm có sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn giúp giáo viên theo dõi
    được hoạt động của từng học sinh trong lớp, trên cơ sở đó giáo viên dễ dàng đánh
    giá được các nhóm học sinh trong quá trình hợp tác cùng giải quyết nhiệm vụ của
    nhóm. Kĩ thuật này còn giúp giáo viên và học sinh cùng tìm hiểu được nhiều nội
    dung bài học trong một thời gian ngắn. Kĩ thuật khăn trải bàn thường áp dụng với
    hình thức hoạt động nhóm mà mỗi nhóm thảo luận một nhiệm vụ khác nhau nhưng
    thực hiện thì giống nhau.
    Để tiến hành kĩ thuật khăn trải bàn, giáo viên thực hiện như sau:
    + Chia học sinh thành các nhóm và giao nhiệm vụ cho từng nhóm. Mỗi
    nhóm được giao một nhiệm vụ với những nội dung học tập khác nhau.
    + Phát cho mỗi nhóm 1 tờ giấy A0 hoặc A4 (tùy theo điều kiện thực tế).
    Chia tờ giấy thành phần chính giữa và phần xung quanh (phần xung quanh chia
    theo số thành viên trong nhóm
    + Mỗi học sinh trong nhóm ngồi xung quanh đúng vị trí được chia giấy
    + Mỗi cá nhân làm việc độc lập khoảng vài phút (tùy theo nội dung câu hỏi
    thảo luận mà giáo viên quy định) để cùng giải quyết một nhiệm vụ như nhau, sau
    đó viết vào phần giấy của mình.
    + Khi hết thời gian làm việc cá nhân, các thành viên chia sẻ ý kiến và ghi
    19
    phần ý kiến thống nhất vào chính giữa tờ giấy.
    ( Nếu sử dụng giấy A4 thì không chia giấy mà có thể phát cho mỗi em 1 tờ giấy
    nhớ để ghi ý kiến cá nhân. Sau khi thống nhất ý kiến thì ghi vào giấy A4).
    – Các nhóm cử đại diện trình bày sản phẩm theo yêu cầu của giáo viên.
    – Sau đó các nhóm nhận xét, bổ sung. Cuối cùng giáo viên nhận xét, đánh
    giá và cho điểm.
    Ví dụ: Khi dạy bài 16: “Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa
    tháng Tám (1939-1945). Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời” , mục II.3:
    Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo Cách mạng, Hội nghị lần thứ 8 Ban
    chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương (5 -1941), giáo viên chia lớp
    thành 4 nhóm và giao nhiệm vụ: nhóm 1 và nhóm 2 tìm hiểu và trao đổi về nội
    dung của hội nghị Trung ương Đảng (11/1939); nhóm 3 và nhóm 4 tìm hiểu và trao
    đổi về nội dung của hội nghi Trung ương Đảng (5/1941) nội dung gợi ý sau:
    + Nhiệm vụ trực tiếp trước mắt
    + Khẩu hiệu đấu tranh
    + Phương pháp đấu tranh
    + Hình thức mặt trận
    Các nhóm thực hiện theo đúng hướng dẫn của giáo viên khi thực hiện kĩ
    thuật khăn trải bàn trong 10 phút:
    + Sau khi được phát tờ giấy A0, các em chia giấy thành số ô tương ứng với
    số thành viên của nhóm.
    + Mỗi thành viên sẽ ghi tóm tắt ý kiến của mình theo phần gợi ý của giáo
    viên.

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Hướng dẫn học sinh một số phương pháp ôn và làm câu hỏi trắc nghiệm để chinh phục điểm cao môn Lịch sử thi tốt nghiệp THPT

    SKKN Hướng dẫn học sinh một số phương pháp ôn và làm câu hỏi trắc nghiệm để chinh phục điểm cao môn Lịch sử thi tốt nghiệp THPT

    ĐIỀU KIỆN TẠO RA SÁNG KIẾN
    Dân tộc Việt Nam có lịch sử từ lâu đời, với quá trình hàng nghìn năm dựng
    nước và giữ nước. Nhân dân ta không chỉ có truyền thống dân tộc anh hùng mà
    còn có kinh nghiệm phong phú, quý báu về việc giáo dục lịch sử cho thế hệ trẻ,
    về việc rút bài học quá khứ cho cuộc đấu tranh và lao động trong hiện tại. Kiến
    thức Lịch Sử góp phần xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, trở thành vũ
    khí sắc bén trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Ngày nay, cùng với quá
    trình quốc tế hóa ngày càng mở rộng thì trở về nguồn cũng là một trong những
    xu thế chung của các dân tộc trên thế giới. Với chúng ta, đó chính là sự tìm tòi,
    phát hiện ngày càng sâu sắc hơn những đặc điểm của xã hội Việt Nam, những
    phẩm chất cao quý, những giá trị truyền thống và những bài học lịch sử giúp
    chúng ta lựa chọn và tiến hành bước đi thích hợp, hướng mục tiêu dân giàu, nước
    mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Học lịch sử, hiểu lịch sử, để góp phần làm
    người có ích. Lời nói đầu của Hiến Pháp năm 2013 ghi rõ: “Trải qua mấy nghìn
    năm lịch sử, nhân dân Việt Nam lao động cần cù, sáng tạo, đấu tranh anh dũng
    để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền thống yêu nước, đoàn kết, nhân
    nghĩa, kiên cường, bất khuất và xây dựng nền văn hiến Việt Nam”.
    Tại Đại hội của Hội Khoa học lịch sử diễn ra ngày 30/11/2015, Chủ tịch
    nước Trương Tấn Sang đã nhấn mạnh: “Hội Khoa học lịch sử Việt Nam phải có
    trách nhiệm làm cho các cơ quan quản lý và xã hội thấy được tầm quan trọng
    của môn Lịch sử trong hệ thống giáo dục quốc dân, đồng thời có những đóng góp
    tích cực trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học môn Lịch sử”. “Cần
    triển khai tích cực những hoạt động để nâng cao hiểu biết và niềm yêu thích của
    nhân dân, nhất là những thế hệ trẻ đối với lịch sử dân tộc”.
    Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
    giáo dục và đào tạo “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo
    hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức,
    kĩ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy
    móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người
    học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học
    chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã
    hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
    và truyền thông trong dạy và học”, “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp
    thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách
    quan. Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo
    các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công
    nhận. Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học và đánh giá cuối
    6
    kì, cuối năm học, đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học, đánh
    giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và xã hội”.
    Từ năm 2016 – 2017, bộ môn Lịch sử đã có một thay đổi to lớn. Bộ GD –
    ĐT đã quyết định thực hiện đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá. Theo đó,
    bộ môn Lịch sử được kiểm tra theo hình thức trắc nghiệm khách quan. Bộ môn
    Lịch sử nằm trong tổ hợp môn xã hội: Sử – Địa – Giáo dục công dân khi kiểm tra
    THPT Quốc gia (Từ năm 2020 là kì thi tốt nghiệp THPT) cho học sinh lớp 12.
    Sự thay đổi này đã tạo nên một sự chuyển biến lớn trong việc ôn luyện và kiểm
    tra thi THPT bộ môn Lịch sử.
    Hiện nay ở các trường phổ thông, đã áp dụng rất nhiều phương pháp dạy
    học, nhiều phương tiện kĩ thuật mới và bước đầu mang lại những hiệu quả thiết
    thực cho quá trình dạy và học, nhất là đối với bộ môn lịch sử. Quá trình sử dụng
    công nghệ thông tin trong dạy học là một xu thế hiện nay đã mang lại hiệu quả
    đáng kể. Hay áp dụng nguyên tắc dạy học liên môn, dạy học theo nhóm, dạy học
    theo chuyên đề… đã góp phần tích cực vào việc nâng cao hiệu quả dạy học môn
    lịch sử.
    Việc thay đổi hình thức thi từ tự luận sang trắc nghiệm, đã tác động lớn
    đến sự thay đổi về phương pháp học và kết quả môn học. Sự thay đổi phương
    pháp thi theo hướng mới khiến không ít học sinh, nhất là các em học sinh lớp 12
    băn khoăn, thắc mắc về phương pháp học, phương pháp ôn thi, phương pháp làm
    bài như thế nào để có kết quả tốt nhất. Sự thay đổi này cũng gây không ít khó
    khăn cho giáo viên trong việc ôn tập, hệ thống hóa kiến thức cho học sinh.
    Từ thực tế nhiều năm hướng dẫn học sinh ôn thi THPT Quốc gia môn Lịch
    sử (từ năm học 2016 -2017 đến năm học 2018 – 2019) và ôn thi tốt nghiệp (năm
    học 2019 – 2020 và 2020 -2021). Qua kết quả các kì thi những năm trước cho
    thấy, rất nhiều em yêu thích môn lịch sử và lựa chọn môn này làm môn thi nhưng
    lại khó khăn trong việc tìm ra phương pháp học tập, ôn luyện. Không ít học sinh
    rất tự tin vào kiến thức của mình, kể cả một số học sinh đã từng ôn thi học sinh
    giỏi, hay những em có định hướng theo khối C nhưng vẫn lúng túng khi xác định
    và trả lời các dạng câu hỏi trắc nghiệm. Do đó, kết quả thi thường không tương
    xứng với kiến thức mà các em đang có. Học sinh cần có sự điều chỉnh phương
    pháp học để khắc phục những hạn chế trên.
    Bản thân Tôi là giáo viên trực tiếp hướng dẫn học sinh ôn thi môn Lịch sử,
    đây là môn học đòi hỏi độ tư duy cao, không chỉ học thuộc hay chăm chỉ giải đề
    trắc nghiệm, môn Sử yêu cầu các em có cách học và ôn thi đúng đắn. Từ thực
    tiễn giảng dạy, Tôi luôn trăn trở để tìm ra những phương pháp và cách thức ôn
    tập phu hợp nhằm nâng cao chất lượng cho bài thi của học sinh. Vì vậy, Tôi đã
    nghiên cứu và lựa chọn đề tài: “HƯỚNG DẪN HỌC SINH MỘT SỐ
    7
    PHƯƠNG PHÁP ÔN VÀ LÀM CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM ĐỂ CHINH
    PHỤC ĐIỂM CAO MÔN LỊCH SỬ THI TỐT NGHIỆP THPT”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Trước khi tạo ra sáng kiến
    Những năm gần đây bộ môn Lịch sử áp dụng hình thức thi trắc nghiệm
    trong kì thi THPT quốc gia, bên cạnh những câu hỏi cơ bản đa phần kiến thức
    trong sách giáo khoa Lịch sử lớp 12 và phần lớp 11, còn có những câu hỏi đòi hỏi
    thí sinh phải vận dụng kiến thức khái quát và tư duy lịch sử giữa các sự kiện lịch
    sử có liên quan phần kiến thức và thực tế phần tư duy kiến thức lịch sử, nhận biết
    “bản chất” của câu hỏi là mấu chốt để thí sinh tìm ra đáp án trả lời chính xác nhất.
    Học để thi trắc nghiệm khác xa so với học để thi tự luận. Số lượng câu hỏi
    nhiều và trải ra hết chương trình. Các câu hỏi dù ở mức độ nhận biết, thông hiểu,
    vận dụng thấp hay vận dụng cao cũng chỉ có 4 phương án (A, B, C, D), trong đó
    chỉ có 1 phương án đúng hoặc đúng nhất và 3 phương án gây nhiễu. Mỗi câu trắc
    nghiệm trong đề thi sẽ bắt đầu bằng một câu hỏi hoặc mệnh đề dẫn luận liên quan
    đến nội dung kiến thức trong chương trình. Các em dựa trên cơ sở kiến thức đã
    có của mình để chọn phương án đúng nhất, đây là môn học không chỉ phục vụ
    các bạn trong điểm số trên lớp còn là môn học được nhiều bạn học sinh lựa chọn
    để thi vào các trường đại học như mong muốn. Vì vậy, việc học và làm bài thi để
    đạt kết quả cao là quá trình dài đầy khó khăn thử thách, không hề dễ dàng, cần có
    phương pháp học tập đúng đắn cùng với thái độ tích cực thì việc tiếp thu kiến
    thức mới có hiệu quả.
    1.1 Vai trò của môn Lịch sử ở trường THPT
    Học môn học nào cũng thế, cũng rất cần thiết và quan trọng đối với các
    bạn học sinh, môn lịch sử được đánh giá là môn học thiên về hiểu biết thực tế
    nhiều nhất là môn cần có sự chính xác, đúng đắn về thông tin hay tin tức đưa ra.
    Đơn giản cho thấy, kiến thức môn lịch sử được bắt nguồn từ những gì đã xảy ra
    trong quá khứ, những vấn đề có thật trong cuộc sống được ông cha ta ghi lại trong
    sách vở và thế hệ trẻ là người phải tiếp nối khối tri thức đó, học hỏi, phát triển và
    giữ gìn nó từng ngày.
    Lịch sử là môn học có vị trí rất quan trọng trong chương trình giáo dục phổ
    thông, môn lịch sử không chỉ cung cấp những kiến thức cơ bản, chính xác, khoa
    học về lịch sử để các em học sinh nhận thức được những nét khái quát về lịch sử,
    mà còn giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, tự hào dân tộc về những thành tựu
    lịch sử văn hóa dân tộc. Phần lịch sử thế giới giúp cho học sinh có cái nhìn tổng
    thể về văn minh nhân loại, về những sự kiện lớn của thế giới…để từ đó các em
    soi rọi vào lịch sử nước nhà, hiểu được quá trình phát triển của đất nước nằm
    trong quá trình đi lên của thế giới. Trên cơ sở đó giáo dục lòng trân trọng, biết ơn
    8
    tổ tiên và những anh hùng dân tộc, ý thức trách nhiệm của bản thân trong học tập
    và định hướng tư tưởng cho học sinh. Mỗi giáo viên chúng ta cần hiểu rằng việc
    dạy học là việc làm đầy sáng tạo, lịch sử chính là cuộc sống, trong lịch sử chúng
    ta thấy được gương mặt của quá khứ, thấy được công cuộc dựng nước, giữ nước
    của cha ông ta, thấy được hiện thực cuộc sống, định hướng cho tương lai.
    Theo PGS.TS Võ Văn Sen“lịch sử Việt Nam có hàng ngàn năm văn
    hiến, lịch sử của ta đẫm máu và đầy những trang anh hùng ca chống chọi với các
    kẻ thù lớn mạnh. Với bề dày lịch sử như thế, dạy học sinh hiểu, biết về sử cũng
    như văn, tiếng Việt là vấn đề sống còn đất nước”. “Học sinh tốt nghiệp THPT thì
    phải hiểu biết lịch sử dân tộc, hiểu biết về đất nước, phải có kiến thức căn bản
    đó để trở thành một công dân, để làm người”. Học lịch sử, hiểu lịch sử, để góp
    phần làm người có ích.
    Lịch sử là quá khứ, là nơi chứa đựng giá trị văn hóa, là nguồn dữ liệu để
    tham chiếu kinh nghiệm cha ông vào sự phát triển hôm nay. Đó là hồn cốt, truyền
    tải những giá trị truyền thống, mà nếu không có lịch sử không thể hiểu được vị
    trí của hiện tại, với ý nghĩa đó thì nếu lịch sử còn thì văn hóa còn, và văn hóa còn
    thì dân tộc còn. lịch sử là cả một kho tàng kinh nghiệm vô cung phong phú mà
    con người cần nhận thức để rút ra những bài học. Lịch sử như một dòng chảy
    không ngừng từ khi con người xuất hiện, phát triển liên tục đến ngày nay và cả
    mai sau.
    1.2. Thực trạng dạy và học môn lịch sử
    Lâu nay việc dạy và học Lịch sử luôn được dư luận xã hội quan tâm, là
    giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Lịch sử ở trường THPT, Tôi thấy tồn tại nhiều
    vấn đề có những thuận lợi cũng như khó khăn.
    1.2.1. Về phía giáo viên
    Đội ngũ giáo viên giảng dạy môn Lịch sử ở trường THPT rất nhiệt tình,
    tận tâm trong giảng dạy, đều nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của bộ môn,
    đều có kiến thức chuyên môn đạt chuẩn, luôn có xu hướng tìm tòi, tích lũy kiến
    thức, tích cực đổi mới phương pháp dạy học sao cho thu hút học sinh.
    Giáo viên giảng dạy tại các trường THPT không tránh khỏi những áp lực
    lớn từ “căn bệnh thành tích” qua các cuộc thi, các kì thi, … với khối lượng kiến
    thức nhiều mà thời lượng dành cho bộ môn ít, nên dẫn tới thực trạng dạy học môn
    lịch sử ở một số trường trung học phổ thông chỉ là sự truyền thụ kiến thức một
    chiều, cung cấp kiến thức một cách thụ động, làm cho bài giảng trở nên khô khan
    dễ gây nên sự nhàm chán ở học sinh, hệ quả là làm cho học sinh không thích thú
    với việc học sử. Đồng thời giáo viên dạy Lịch sử cũng chưa nhận được sự quan
    tâm đúng mức của các cấp quản lý, phụ huynh học sinh về bộ môn.
    1.2.2. Về phía học sinh
    9
    Đa số học sinh đều có thái độ tốt, hứng thú học tập với bộ môn, say mê sưu
    tầm các loại tài liệu tham khảo bổ sung cho học tập, một số học sinh có năng
    khiếu bộ môn có điều kiện để nghiên cứu chuyên sâu. Bên cạnh đó, nhiều em lại
    không hứng thú với môn Lịch sử cho nên vẫn chưa chủ động khám phá kiến thức,
    chưa chủ động lên kế hoạch học tập, đi học còn thiếu sách vở, không ghi chép
    bài, không làm bài tập, nhiều học sinh còn không nắm được kiến thức cơ bản….
    Thực tế có những em rất yêu thích lịch sử, học lịch sử rất tốt ở các năm học
    trước nhưng đến kỳ thi THPT quốc gia, các em đành phải lựa chọn một cách thực
    dụng để có thể đạt kết quả tốt nhất cho mục tiêu quan trọng nhất của tương lai –
    đó chính là việc xét tuyển ĐH. Rất nhiều trường ĐH, ngành nghề trên ĐH đã từ
    chối môn sử du ai cũng có thể chỉ ra rằng môn sử rất quan trọng cho nghề nghiệp
    trong tương lai như báo chí, kiến trúc…, nên học sinh chẳng mấy quan tâm đến
    học lịch sử cũng là dễ hiểu.
    Môn sử chỉ còn xuất hiện trong tổ hợp bài thi xã hội để xét tốt nghiệp. Ngay
    chính trong bài tổ hợp xã hội này, môn sử lại tiếp tục bị thờ ơ vì nó là gánh nặng
    cho các em học sinh. Bài thi xã hội gồm có sử – địa – giáo dục công dân. Môn
    giáo dục công dân nội dung ôn tập nhẹ nhàng, môn địa lý có cứu cánh là Atlat thì
    môn sử gây lo sợ với khối lượng kiến thức quá nhiều. Cho nên sự lựa chọn của
    các thí sinh là học sơ sài, không có hệ thống nhằm mục tiêu không bị điểm liệt là
    đủ. Trong sự thờ ơ đó, nỗ lực của các giáo viên cũng như gió vào nhà trống và
    phổ điểm u ám đối với bộ môn lịch sử là một hệ quả tất yếu. Đối với học sinh
    khối 12, chương trình môn Lịch sử chiếm 1.5 tiết/tuần, lượng kiến thức khá nặng,
    chưa kể thi theo cấu trúc của Bộ GD-ĐT trong những năm qua có cả kiến thức
    lớp 11. Vì vậy, số lượng các em đăng kí thi THPT Quốc gia theo THXH và THTN
    có sự chênh nhau rất lớn ở một số trường, trong đó có trường Tôi đang giảng dạy.
    Trong bối cảnh học thực dụng như hiện nay, tình trạng học yếu môn lịch
    sử sẽ còn tiếp diễn trong các năm sau vì việc điều chỉnh độ khó, dễ của đề thi chỉ
    giải quyết được phần ngọn của vấn đề.
    1.3. Kết quả thi THPT Quốc gia
    1.3.1. Kết quả năm 2017
    Theo báo VietNamNet – Ngày 7/7/2017 – (Xem phụ lục 1)
    Theo đó, điểm trung bình của môn Lịch sử năm nay trên cả nước là 4.6
    điểm. Số thí sinh có điểm dưới trung bình là 315.957 TS – chiếm 61,9%. Số TS
    có điểm liệt (<=1 điểm) là 869 TS. Điểm số có nhiều TS đạt nhất là 4.0 điểm.
    Cả nước có 107 TS đạt điểm 10 môn Lịch sử. Số TS đạt từ 9 đến 9,75 điểm
    là 3876 TS. Có 501 TS có điểm 0.
    1.3.2. Kết quả năm 2018
    Theo báo VietNamNet – Ngày 11/7/2018- (Xem phụ lục 2)
    10
    Theo đó, điểm trung bình của môn Lịch sử năm nay trên cả nước là 3,79
    điểm. Số thí sinh có điểm dưới trung bình là 468.628 TS – chiếm 83,24%. Số TS
    có điểm liệt (<=1 điểm) là 1.277 TS. Điểm số có nhiều TS đạt nhất là 3,25 điểm.
    Cả nước có 11 TS đạt điểm 10 môn Lịch sử. Số TS đạt từ 9 đến 9,75 điểm
    là 658 TS. Có 527 TS có điểm 0.
    1.3.3. Kết quả thi năm 2019
    Theo báo VietNamNet – Ngày 15/7/2019- (Xem phụ lục 3)
    Trong kỳ thi THPT quốc gia năm 2019, có 569.905 thí sinh dự thi môn
    Lịch sử (thuộc tổ hợp bài Khoa học Xã hội). Thống kê của Bộ GD&ĐT qua dữ
    liệu điểm thi THPT quốc gia 2019 cho thấy, số thí sinh có điểm dưới trung bình
    là 399.016 (chiếm 70,01%). Số thí sinh có điểm liệt (<=1 điểm) là 395. Môn Lịch
    sử có điểm trung bình là 4,3 và có 80 bài thi đạt điểm 10 trong cả nước.
    Như vậy, so với năm 2018, điểm trung bình của môn Lịch sử 2019 là 4,3,
    cao hơn năm 2018. Tuy nhiên, so với năm 2017, điểm thi năm 2018 thấp hơn
    (năm 2017 là 4,6 điểm).
    1.3.4. Kết quả thi năm 2020
    Theo báo VietNamNet – Ngày 27/8/2020- (Xem phụ lục 4)
    Trong kì thi THPT quốc gia năm 2020, có 553.987 thí sinh dự thi
    môn Lịch sử (thuộc tổ hợp bài Khoa học Xã hội). Thống kê của Bộ GD&ĐT qua
    dữ liệu điểm thi THPT quốc gia 2020 cho thấy, số thí sinh có điểm dưới trung
    bình là 260.074 (chiếm 46.95%). Số thí sinh có điểm liệt (<=1 điểm) là 111
    (chiếm 0,02%). Môn Lịch sử có điểm trung bình là 5,19 và có 371 bài thi đạt
    điểm 10 trong cả nước.
    Như vậy, so với những nămtrước đó (2017, 2018, 2019) điểm trung
    bình môn lịch sử năm 2020 là 5,19 – cao hơn.
    1.3.5. Kết quả thi năm 2021
    Theo báo VietNamNet – Ngày 26/7/2021- (Xem phụ lục 5)
    Trong kì thi THPT quốc gia năm 2021, có 637.005 thí sinh dự thi môn Lịch
    sử (thuộc tổ hợp bài Khoa học Xã hội). Thống kê của Bộ GD&ĐT qua dữ liệu
    điểm thi THPT quốc gia 2021 cho thấy, số thí sinh có điểm dưới trung bình là
    331.429 (chiếm 52.03%). Số thí sinh có điểm liệt (<=1 điểm) là 540 (chiếm
    0,08%). Môn Lịch sử có điểm trung bình là 4,97 và có 266 bài thi đạt điểm 10
    trong cả nước.
    1.4. Nguyên nhân
    Theo kết quả công bố của Bộ giáo dục về điểm môn Lịch sử “rớt” một cách
    thê thảm qua các kì thi THPT quốc gia. Nhiều người sốc, cảm giác lo lắng trước
    điểm thi môn Sử nhưng lại không hề bất ngờ. Chẳng có gì là lạ và cũng đừng ai
    vội giật mình, dường như đây là câu chuyện “đến hẹn lại lên” của mỗi mua thi
    lớn. Nhưng vì đâu mà nên cơ sự này?
    11
    Trước hết, phải thừa nhận rằng, học môn Lịch sử khó và không hấp dẫn.
    Ðã là lịch sử, nhất thiết phải gắn với sự kiện, nhân vật và hiểu lịch sử nhất định
    phải nắm vững những sự kiện, nhân vật cơ bản, quan trọng trong suốt quá trình
    hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Nhưng chương
    trình do Bộ Giáo dục và Ðào tạo quy định là yêu cầu học sinh phải nắm được hầu
    như tất cả các nội dung về lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới, trong khi đó, số
    tiết quy định quá ít. Mặt khác, do yêu cầu của chương trình, nội dung trong sách
    giáo khoa quá nặng, nội dung trong sách giáo khoa như một “đĩa nén”, đầy ắp
    thông tin mà học sinh không thể nhớ hết được, tôi cũng như nhiều thầy cô dạy Sử
    cho rằng quá nặng nề, chi tiết, bắt các em phải nhớ quá nhiều, cách kiểm tra vẫn
    là học thuộc lòng. Chúng ta vẫn giáo dục theo hướng tiếp cận nội dung mà chưa
    chuyển sang tiếp cận năng lực. Nhồi nhét một mớ kiến thức có sẵn vừa nặng về
    học thuộc ghi nhớ, vừa nặng về tuyên truyền mà không biết áp dụng vào đâu sẽ
    gây ra sự nhàm chán, dẫn đến tình trạng “học trước quên sau”. Dạy môn học này
    theo tôi là truyền cho học sinh tinh thần của dân tộc, cái hồn của núi sông, lòng
    biết ơn với tổ tiên qua những nhân vật lịch sử thì mới khắc sâu và đọng lại trong
    các em, gây sự hứng thú.
    Thứ hai: Lịch sử là một môn học cần có sự chăm chú và tư duy cao. Trước
    đây, đề thi không theo hình thức trắc nghiệm, thậm chí nhiều học sinh luồn lách
    giở tài liệu để quay cóp nên khá “ung dung”. Nhưng bây giờ thì khác, đề thi hiện
    nay đòi hỏi học sinh cần có cả nhận thức và kiến thức, trong khi môn Lịch sử vốn
    đã khó và thậm chí là cực khó khi đó là những kiến thức về lịch sử của cả dân tộc
    và nhân loại. Học vẹt, học tủ, học để chống đối cho qua điểm liệt đã không còn
    có tác dụng thậm chí là phản tác dụng.Đã đến lúc cần thẳng thắn nói với nhau
    rằng, quan niệm về Lịch sử là môn học thuộc lòng, máy móc đã hoàn toàn sai
    lầm. Hơn thế, Lịch sử là một môn khoa học cần tư duy và lập luận logic. Nếu
    không thay đổi cách học, cứ để học sinh mãi “lơ tơ mơ” về môn này, thì
    không bao giờ có kết quả cao được. Thực tế, để nhận thức một vấn đề lịch sử đòi
    hỏi học sinh có nền tảng lý luận và nhận thức tổng hợp, phân tích chuyên sâu.
    Ở một khía cạnh khác, do trình độ nhận thức về môn học này chưa được
    đúng đắn. Có thể thấy các em học sinh luôn xem Lịch sử là môn phụ và chỉ cần
    học thuộc lòng thì sẽ qua. Chính vì thế, thái độ học tập của các em chỉ là hình
    thức đối phó với thầy cô và góp phần “dung dưỡng” cho bệnh thành tích phát
    triển.
    Thứ ba:Giáo viên chưa đủ tâm huyết để gây hứng thú trong những giờ học
    Lịch sử, nhưng với 1,5 tiết/tuần thì thật khó, rồi khi có dự giờ, thao giảng, hội
    giảng, sinh hoạt chuyên môn cụm, hội thi giáo viên giỏi cấp trường, cấp tỉnh…,
    thật buồn là đồng nghiệp chỉ chăm chăm đánh giá giáo viên có truyền thụ hết kiến
    thức trong sách giáo khoa hay không, dạy còn thiếu ý này, ý khác, ý này là trọng
    12
    tâm, ý kia là cơ bản, có liên hệ, có lồng ghép, có tích hợp, có giáo dục kiến thức,
    rèn kỹ năng, giáo dục thái độ tình cảm… để xếp loại tiết dạy chứ không xem học
    sinh có hiểu bài hay không?
    Thứ tư:Hệ quả của những định kiến và nhu cầu về mặt xã hội, đa số phụ
    huynh và học sinh đều xem nhẹ môn học này – nếu không muốn nói là xem
    thường. Vì cho rằng thực tế lịch sử học để biết vậy thôi chứ không ứng dụng gì
    trong nghề nghiệp tương lai sau này (chỉ cần thiết nếu học để đi dạy lịch sử hoặc
    nghiên cứu sử). Do vậy, phụ huynh chỉ đầu tư cho con học toán, lý, hóa…nhằm
    theo đuổi những ngành nghề đang hót của xã hội như kinh tế, ngân hàng, tài
    chính… để có thu nhập cao, kể cả các nhà tuyển dụng đều không có nhu cầu cao
    về việc học sinh phải học giỏi sử. Và khi khoa học lịch sử ít tiếng nói, cơ hôi tìm
    việc làm của những người giỏi sử ít đi thì môn Lịch sử sẽ không phải là sự lựa
    chọn. Theo đuổi đam mê và sự giàu có đó là ước mơ của mỗi con người, nói cách
    khác qui luật của cuộc sống là vậy.Trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện tại, xu
    hướng quy tất cả vào giá trị vật chất và lợi ích thực dụng đã khiến cho phụ huynh,
    học sinh không nhìn nhận ra bản chất đích thực và cuối cung của giáo dục: tạo ra
    con người tốt đẹp có năng lực cải tạo xã hội và sống hạnh phúc.
    Vì thế, tất cả những gì không phục vụ trực tiếp việc thăng tiến vị trí và
    kiếm ra tiền đều bị gạt xuống hàng thứ yếu. Bên cạnh đó, quan điểm tuyển sinh
    thực dụng, học thực dụng, thi thực dụng cũng khiến môn Sử “yếu thế” hơn. Thay
    vì trước đây học môn gì thi môn đó thì nay, thi môn gì học môn đó. Cách học
    thực dụng dẫn đến sự chủ quan trong việc dạy học, chủ quan trong tiếp nhận kiến
    thức và chủ quan cả hình thức ra đề – thi trắc nghiệm các môn trong đó có Lịch
    sử.
    Thứ năm: Hình thức thi trắc nghiệm trong môn thi Lịch sử khiến các em
    nhác học hơn so với cách thi tự luận trước đây. Vào phòng thi chủ yếu đoán mò
    là nhiều, làm theo kiểu “phủ xanh đất trống, đồi trọc”, “chơi trò may rủi”, thậm
    chí trả lời theo linh cảm, chỉ cần qua điểm liệt, dừng ở mức đỗ tốt nghiệp mà thôi.
    Sẽ chẳng có gì ngạc nhiên và cũng đừng đổ lỗi tại đề khó cho kết quả thấp, vì tư
    duy môn học vẹt nên nhận kết quả như vậy là điều tất nhiên. Rõ ràng, đó là kết
    quả buộc những người có tâm huyết với nền giáo dục nước nhà không thể vô cảm.
    Việc học và khai thác Lịch sử ở khía cạnh tư liệu về những điều đã diễn ra
    khiến Lịch sử trở thành một môn khoa học “chết”. Cần thổi một làn gió mới vào
    quá khứ đã qua, tôn trọng sự thật nhưng không có nghĩa là đóng khung tư duy
    trong những con số khô cứng. Lịch sử luôn cần là sự thật cũng như môn Lịch sử
    cần được học thật, thi thật, học bằng tất cả tình yêu với lịch sử nước nhà và sự
    phát triển của nhân loại từ quá khứ đến hiện tại và tương lai.
    13
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến kinh nghiệm
    2.1. Một số phương pháp học và ôn thi
    Một trong những vấn đề mà đa số Thầy cô và các em học sinh quan tâm
    chính là phương pháp học và ôn môn lịch sử như thế nào hiệu quả nhất. Từ thực
    tế quá trình giảng dạy và nhiều năm ôn luyện thi tốt nghiệp THPT, Tôi nhận thấy
    tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện học tập, khả năng nhận thức, quỹ thời gian
    mà mỗi em học sinh lại có cho mình những phương pháp học khác nhau. Mỗi
    phương pháp đều có những ưu điểm – nhược điểm khác nhau mà không phải trong
    trường hợp nào cũng có thể vận dụng để đạt hiệu quả cao nhất. Do vậy, trong
    khuôn khổ của sáng kiến, Tôi sẽ đưa ra một số phương pháp học và ôn môn lịch
    sử, các em học sinh có thể tham khảo và chọn ra phương pháp học và ôn phù hợp
    nhất với bản thân và quỹ thời gian của mình.
    2.1.1. Xác định đúng mục tiêu, quyết tâm học tập, có kế hoạch cụ thể cho việc
    học
    Từ thực tế cho thấy, các em học sinh lựa chọn môn Lịch sử với quan điểm
    “học để thi”, số còn lại học vì đam mê. Vì vậy trước khi bắt đầu quá trình ôn tập,
    các em cần xác định rõ mục tiêu. Khi chọn môn Lịch sử để thi tốt nghiệp THPT
    và là một trong ba môn của tổ hợp KHXH để xét tuyển, các em cần xác định rõ
    đây là môn học khó nhất trong tổ hợp, cần được đầu tư nhiều thời gian và nhất
    thiết phải có người hướng dẫn trong suốt quá trình học. Các em nên đặt ra điểm
    số cần đạt cho bản thân để lấy đó làm động lực phấn đấu. Mỗi giai đoạn trong
    quá trình học đều nên kiểm tra lại khả năng của bản thân để xác định mục tiêu ở
    giai đoạn kế tiếp, nhất là ở giai đoạn nước rút. Việc kiểm tra có thể căn cứ vào
    làm các đề thi thử trên mạng, nhất là các trường chuyên hoặc đề minh họa của Bộ
    GD – ĐT.
    Cần xác định quyết tâm cao độ trong việc học, bởi nếu không có đam mê
    thì việc học môn khó như Lịch sử là điều nhiều em học sinh rất ngại. Trong quá
    trình học các em cần xây dựng thời gian biểu hợp lý và kiên quyết làm theo.
    Thông thường, các em sẽ tự chia thời gian biểu cho việc học của mình, tuy nhiên
    ngoài các môn khác, trong thời gian học chính khóa các em nên giành cho môn
    sử thời gian ít nhất một tiếng mỗi ngày để học. Đến giai đoạn nước rút, các em
    tăng tốc thì đã có một lượng kiến thức cơ bản tích lũy để làm nền tảng.
    2.1.2. Nắm vững kiến thức cơ bản
    Việc học và nắm vững kiến thức cơ bản của môn Lịch sử là vô cùng quan
    trọng, là chiếc chìa khóa để giải đáp tất cả những câu hỏi trong đề thi, nhưng
    nhiều em vẫn còn lúng túng trong việc lựa chọn cho mình một phương pháp nắm
    vững kiến thức cơ bản hiệu quả. Kiến thức cơ bản được coi như xương sống của
    một giai đoạn, tiến trình lịch sử. Trong SGK cơ bản lớp 12, toàn bộ các sự kiện,
    giai đoạn, nhân vật lịch sử đều được trình bày thành các bài theo lối thông sử hết
    14
    sức cơ bản. Do vậy, cách tốt nhất để nắm kiến thức cơ bản là bám sát SGK, các
    em cũng cần xác định các phần giảm tải để loại bỏ nó ra khỏi chương trình học,
    bởi đấy được xem là kiến thức không cơ bản, hoàn toàn không có trong đề thi.
    Để nắm vững kiến thức cơ bản học sinh cần có thái độ nghiêm túc, tự học
    trước ở nhà, đọc trước SGK và các tài liệu cần thiết. Khi đến lớp chú ý nghe thầy
    cô giảng những ý chính, coi đó là bộ khung để xây dựng hệ thống kiến thức cơ
    bản cho bản thân. Cần nắm vững kiến thức theo các bước:
    – Xác định bối cảnh lịch sử (nguyên nhân bùng nổ sự kiện, hiện tượng)
    – Diễn biến sự kiện (nội dung chính)
    – Kết quả (kết quả lớn nhất, kết quả cơ bản nhất)
    – Ý nghĩa lịch sử (ý nghĩa lớn nhất, ý nghĩa cơ bản nhất)
    – Liên hệ thực tế hiện nay (nếu có)
    – Cuối cùng các em cần học bài cũ, làm các bài tập ở cuối bài theo hình
    thức tự luận dù thi trắc nghiệm -> đó là cách nắm vững kiến thức cơ bản nhất.
    2.1.3. Phân chia kiến thức thành các mốc, các giai đoạn cụ thể
    Việc chia nhỏ các nội dung, giai đoạn và nắm vững các cột mốc sẽ giúp
    học sinh khái quát được các vấn đề quan trọng của lịch sử. Học là một phản xạ
    có điều kiện, các em dù có học thuộc nhưng không có quá trình ôn thì sau một
    thời gian sẽ quên kiến thức. Để khắc phục các em cần phân chia kiến thức sắp
    học ra thành nhiều giai đoạn nhỏ để dễ học, thực hiện kế hoạch “chia để học”.
    Phần lịch sử thế giới 12 từ năm 1945 đến năm 2000 bao gồm:
    – Trật tự thế giới mới sau CTTGT2 (1945-1949)
    – Liên Xô và các nước Đông Âu (1945-1991). Liên Bang Nga (1991-2000)
    – Khu vực Đông Bắc Á
    – Đông Nam Á và Ấn Độ
    – Châu Phi và Mỹ La Tinh
    – Mỹ – Tây Âu – Nhật Bản
    – Quan hệ quốc tế trong và sau thời kì chiến tranh lạnh
    – Cách mạng khoa học-công nghệ và xu thế toàn cầu hóa nửa sau thế kỉ XX
    – Tổng kết lịch sử thế giới hiện đại từ 1945-2000
    Phần lịch sử Việt Nam từ 1919-2000, bao gồm
    Giai đoạn: 1919-1930
    – Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ 2 của Pháp và tác động đến kinh tế-xã
    hội Việt Nam
    – Phong trào yêu nước của tư sản, tiểu tư sản (khuynh hướng dân chủ tư
    sản), phong trào công nhân (khuynh hướng vô sản).
    – Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc
    – Sự ra đời của 3 tổ chức cộng sản và ba tổ chức cách mạng
    – Đảng cộng sản Việt Nam ra đời
    15
    – Cương lĩnh chính trị và Luận cương chính trị
    Giai đoạn: 1930-1945
    – Phong trào cách mạng 1930-1931
    – Phong trào dân chủ 1936-1939
    – Tình hình Việt Nam trong những năm CTTGT2
    – Các hội nghị trung ương Đảng tháng 11/1939 và tháng 5/1941
    – Quá trình chuẩn bị cho khởi nghĩa tháng Tám và khởi nghĩa từng phần
    – Cách mạng tháng Tám thành công và sự ra đời của nước Việt Nam Dân
    chủ Cộng hòa
    Giai đoạn: 1945-1954
    – Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 2/9/1945 đến trước ngày
    19/12/1946
    – Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ
    – Các thắng lợi của ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp (chiến dịch Việt
    Bắc năm 1947, chiến dịch Biên Giới năm 1950, cuộc tiến công chiến lược Đông
    – Xuân 1953-1954, chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954).
    – Hậu phương trong kháng chiến chống pháp (1945-1954)
    – Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình
    ở Đông Dương.
    Giai đoạn: 1954-1975
    – Tình hình 2 miền Nam – Bắc sau Hiệp định Giơ-ne-vơ
    – Chiến đấu chống lại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mĩ (1954-
    1975)
    – Hậu phương trong những năm kháng chiến chống Mĩ (1954-1975)
    – Hiệp định Pa-ri về Việt Nam năm 1973
    Giai đoạn: 1975-2000
    – Việt Nam trong những năm đầu sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống
    Mĩ cứu nước
    – Đường lối đổi mới của Đảng (1986 – 2000).
    2.1.4. Nắm vững các khái niệm, thuật ngữ và áp dụng phương pháp liên hệ ngang
    bằng
    Khái niệm và thuật ngữ lịch sử rất quan trọng, thực tế trong đề thi THPT
    quốc gia năm 2017, 2018, 2019, kì thi tốt nghiệp THPT năm 2020 và 2021 cho
    thấy, phần lớn các câu hỏi ở mức độ vận dụng thấp và cao đều có liên quan đến
    các khái niệm và thuật ngữ.
    – Đường lối chiến lược
    – Nhiệm vụ chiến lược
    – Mâu thuẫn dân tộc
    – Mâu thuẫn giai cấp
    16
    – Cách mạng Dân tộc dân chủ nhân dân
    – Đánh đuổi và đánh đổ
    – Quyền dân tộc cơ bản
    – Phi mĩ hóa chiến tranh, mĩ hóa trở lại…
    Nếu học sinh nắm không vững sẽ dẫn tới giải nghĩa sai từ khóa, không xác
    định được trọng tâm của câu hỏi, đưa đến việc lựa chọn đáp án sai.
    Trong quá trình học, các em có thể áp dụng phương pháp liên hệ ngang
    bằng. Tương ứng với các mốc lịch sử Việt Nam thì cùng thời gian đó lịch sử thế
    giới có sự kiện gì? Và tác động của sự kiện lịch sử thế giới đó đến lịch sử Việt
    Nam.
    Ví dụ: khi học về bài 16 – Lịch sử 12: Phong trào giải phóng dân tộc và
    Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939-1945). Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra
    đời -> các em sẽ thấy mối liên hệ giữa lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới như
    sau:

    Sự kiện lịch sử thế giớiSự kiện lịch sử Việt Nam
    Thời gianSự kiệnThời
    gian
    Sự kiện
    9/1939Chiến tranh thế giới thứ
    2 bùng nổ
    11/1939Hội nghị Ban chấp hành
    Trung ương đảng Đảng Cộng
    sản Đông Dương lần 6
    9/1940Nhật vào Đông Dương11/1940Hội nghị Ban chấp hành
    Trung ương đảng Đảng Cộng
    sản Đông Dương lần 7
    Đầu năm
    1941
    Đức thôn tính gần hết
    châu Âu, chuẩn bị tấn
    công Liên Xô
    5/1941Sau khi về nước (1/1941)
    Nguyễn Ái Quốc trực tiếp
    lãnh đạo cách mạng và chủ trì
    Hội nghị Ban chấp hành
    Trung ương đảng Đảng Cộng
    sản Đông Dương lần 8
    3/1945Nhật Đảo chính PhápTừ
    Tháng 3
    đến
    tháng
    8/1945
    Đảng phất động cao trào
    kháng Nhật cứu nước làm
    tiền đề cho cuộc tổng khởi
    nghĩa.
    15/8/1945Nhật đầu hàng không
    điều kiện
    8/1945Đảng chớp thời cơ, phát lệnh
    Tổng khởi nghĩa trong cả
    nước

    17
    2.1.5. Phương pháp học 5W – 1 How
    Đây là phương pháp học lịch sử căn bản nhất, giúp học sinh có cái nhìn
    tổng quan về các vấn đề lịch sử, sự kiện, nhân vật. Qua đó hình thành hệ thống
    kiến thức cơ bản. Phương pháp 5W là viết tắt của các câu hỏi trong tiếng anh
    gồm:
    – What – Xác định được sự kiện lịch sử gì đã xảy ra và xảy ra như thế nào?
    – When? – Sự kiện đã xảy ra vào thời điểm nào?
    – Where?–Gắn với địa điểm, không gian nào?
    – Who? – Gắn liền với ai – nhân vật, giai cấp, tổ chức, tầng lớp…
    Khi vận dụng 4W trên trong ôn luyện, các em không nên máy móc, vì trong
    nhiều trường hợp lịch sử không cần phải chi tiết, cụ thể về ngày, tháng, năm mà
    mang tính “tương đối”. thời gian của sự kiện lịch sử cũng rất đa dạng, có thể được
    tính bằng phút (10h 45 phút ngày 30/4/1975, xe tăng và bộ binh quân giải phóng
    tiến vào Dinh Độc lập, bắt sống toàn bộ nội các Sài Gòn), có khi theo mùa (mùa
    hè năm 1920, Nguyễn Ái Quốc được tiếp xúc với Luận cương của Lê-nin…),
    hoặc thập kỉ, thế kỉ… Đôi khi lại dùng cụm từ chỉ tương đối như “trong những
    năm”, “cuối những năm” (Những năm 20 của thế kỉ XX, phong trào yêu nước
    Việt Nam có 2 khuynh hướng chính trị cùng tồn tại là tư sản và vô sản…). Tương
    tự như vậy, địa điểm, không gian diễn ra sự kiện lịch sử có thể là cây đa (cây đa
    Tân Trào-nơi diễn ra lễ xuất quân của một đơn vị Giải phóng thị xã Thái Nguyên,
    mở đầu cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945), tại một cứ điểm, căn cứ (cứ
    điểm Điện Biên Phủ), vùng miền, khu vực (miền Bắc Việt Nam, khu vực Đông
    Nam Á).
    – Why – Tại sao (Phải lí giải tại sao, vì sao sự kiện lịch sử lại diễn ra như
    vậy… tức là phải bình luận, nhận xét, đánh giá, chứng minh, giải thích, lí giải về
    sự kiện).
    Các em học sinh cần lưu ý, kiến thức lịch sử luôn có 2 phần: phần sử là
    những sự kiện, hiện tượng đã diễn ra trong quá khứ, dù muốn hay không cũng
    không thay đổi được, phần sử gồm 4w ở trên. Phần luận (Why) là phần quan trọng
    nhất mà các em cần chú trọng giải quyết, bởi khi trả lời được các câu hỏi trên,
    các em sẽ hình thành được tư duy cho mình để hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện,
    hiện tượng lịch sử. Điểm của thí sinh cao hay thấp phụ thuộc vào phần “luận”.
    Theo phương pháp này, học sinh sẽ nắm được các nội dung trọng tâm trong
    chương trình, nắm vững kiến thức cơ bản, ghi nhớ và hiểu những sự kiện cốt yếu
    gắn với thời gian, địa danh, nhân vật lịch sử.
    Ví dụ: Khi đề cập về sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn
    quốc kháng chiến, thì các em lí giải được tại sao Đảng, Chính phủ ta lại phát động
    kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp vào ngày 19/12/1946 mà không phải
    thời gian khác. Dĩ nhiên để “luận” được phần “sử”, các em phải ghi nhớ, xác định
    18
    được quá trình của 4w diễn ra ở trên. Trên thực tế, không ít học sinh tuy biết được
    phần “sử” nhưng lại không thể giải thích, bình luận, nhận xét được sự kiện. Ví
    như các em nhớ sự kiện ngày 7/5/1954 là chiến thắng Điện Biên Phủ nhưng không
    lí giải được vì sao đây là chiến thắng lớn nhất của quân dân ta trong kháng chiến
    chống Pháp (1945-1954). Dù là bài thi tự luận hay trắc nghiệm khách quan vẫn
    phải nhớ cả phần “sử” và “luận” khi học tập và ôn tập.
    – “1 How” đề cạp đến các dạng câu hỏi nào thường gặp trong đề thi để
    chúng ta tập trung ôn luyện thành thạo và cách giải quyết mỗi dạng câu hỏi như
    thế nào?
    2.1.6. Học theo sơ đồ tư duy, kết hợp từ “chìa khóa”
    Đặc thu của môn Sử là hiện hữu nhiều mốc sự kiện, không gian, thời gian
    nên học sinh phải hệ thống hóa kiến thức dưới dạng sơ đồ tư duy để ghi nhớ kiến
    thức hiệu quả hơn. Học sinh làm “sơ đồ tư duy” dựa trên nguyên lý từ “cây” đến
    “cành” đến “nhánh”, từ ý lớn sang ý bé. Nhờ đó, các em sẽ thấy các bài học sẽ trở
    nên ngắn gọn hơn, súc tích và dễ hiểu, dễ nhớ hơn.
    Từ những kiến thức, sự kiện, vấn đề cơ bản của từng bài, từng chương,
    từng phần trong sách giáo khoa hiện hành, thông qua sơ đồ tư duy, học sinh sẽ tự
    biết cách tổng hợp và xâu chuỗi kiến thức theo trình tự, trật tự kiến thức và lý giải
    các mối quan hệ tác động biện chứng, nhân quả giữa các vấn đề, sự kiện.
    HS có thể dung sơ đồ cây hoặc sơ đồ tư duy sau khi học xong kiến thức cơ
    bản để tái hiện cũng như tổng hợp kiến thức cơ bản đã học. Đây là cách ôn tập
    giúp các em phát triển được năng lực về trí tuệ (ghi nhớ, phân tích, chọn lọc, vẽ,
    viết, …), giúp các em có nền tảng kiến thức vững chắc. Khi học theo mỗi bài,
    mỗi giai đoạn, cần lưu ý lấy bút gạch chân những từ, cụm từ quan trọng, vì đây
    là những nội dung cần được quan tâm, chú ý, không thể quên.
    Việc sử dụng sơ đồ tư duy chỉ là biện pháp bổ sung quan trọng cho việc
    nắm chắc kiến thức cơ bản, chứ không nên sử dụng như là phương pháp chính.
    Để đạt hiệu quả cao khi học, giáo viên sẽ cho học sinh tự xây dựng theo ý tưởng
    của bản thân chứ không dùng những sơ đồ tư duy có sẵn.
    Ví dụ: Khi học về Chiến dịch Biên giới thu đông 1950, với các nội dung:
    Hoàn cảnh, âm mưu của Pháp, chủ trương của ta, diễn biến, kết quả, ý nghĩa 
    Ta có thể sử dụng sơ đồ tư duy để khắc sâu kiến thức cơ bản.
    2.1.7. Phân bổ thời gian hợp lý, phương pháp cà chua (Pomodoro Technique)
    Đây là nội dung khó nhất trong ôn thi, làm sao để phân bổ thời gian hợp lý
    cho các môn học. Đối với bộ môn Lịch sử, theo đánh giá của học sinh là môn học
    khó, mức độ tư duy trong đề thi yêu cầu ngày càng cao, thì việc dành thời gian
    nhiều cho môn Lịch sử là cần thiết. Một thực trạng không thể phủ nhận hiện nay,
    là đa phần các em học sinh dành quá nhiều thời gian cho học thêm, nhiều em có
    sự lựa chọn theo số đông, còn mơ hồ về tổ hợp xét tuyển đại học. Vì vậy, các em

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Hệ thống kiến thức và xây dựng bài tập một số chủ đề trong chương trình Sinh học 11 bằng tiếng Anh

    SKKN Hệ thống kiến thức và xây dựng bài tập một số chủ đề trong chương trình Sinh học 11 bằng tiếng Anh

    Điều kiện, hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
    – Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, đặc biệt là Nghị quyết
    Trung ương số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn
    diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều
    kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
    – Theo quyết định số 2658/QĐ – BGĐT ngày 23/7/2018 của Bộ Giáo dục và
    Đào tạo về việc ban hành kế hoạch triển khai đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ
    thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2017 – 2025. Khảo sát nghiên cứu, xây dựng,
    triển khai thực nghiệm/thí điểm, hoàn thiện, tổng kết, đánh giá, ban hành chương
    trình, sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu, học liệu dạy và học ngoại ngữ, dạy tích
    hợp ngoại ngữ trong một số môn học, dạy một số môn học khác như (toán và các
    môn khoa học, môn chuyên ngành) bằng ngoại ngữ, đào tạo giáo viên dạy ngoại
    ngữ, giáo viên dạy các môn khoa học khác bằng ngoại ngữ cho các cấp học, trình
    độ đào tạo, đội ngũ cán bộ, công chức viên chức và nhu cầu học ngoại ngữ đa dạng
    của xã hội theo hướng tiếp cận chuẩn quốc tế và phù hợp với đặc thù của Việt Nam.
    – Theo công văn số 1327/SGDĐT-GDTrH ngày 27/10/2014 của Sở Giáo dục
    và Đào tạo về việc triển khai dạy các môn khoa học tự nhiên bằng tiếng Anh năm
    học 2014-2015; công văn số 32/SGDĐT-GDTrH ngày 15/01/2015 của Sở Giáo dục
    và Đào tạo về việc hướng dẫn Hội thảo các môn khoa học tự nhiên (Toán, Lý, Hóa
    hoặc Sinh) bằng tiếng Anh năm học 2014-2015. Các giáo viên tham gia phải hoàn
    thành 2 nội dung: Báo cáo về kinh nghiệm soạn giảng, khai thác tài liệu, sử dụng
    phần mềm, bồi dưỡng năng lực tiếng Anh,…và dạy minh họa 01 tiết học (45 phút)
    bằng tiếng Anh.
    – Tiếp theo đó, ngày 12/11/2015 Sở Giáo dục và Đào tạo ra công văn số
    1304/SGDĐT-GDTrH về việc hướng dẫn giảng dạy, tổ chức Hội giảng và Hội thi
    Toán và các môn KHTN bằng tiếng Anh năm học 2015-2016. Và đặc biệt, ngày
    04/12/2015 Sở Giáo dục và Đào tạo ra công văn số 1413/SGDĐT-GDTrH về việc
    triển khai dạy Toán và các môn Khoa học khác bằng tiếng Anh từ năm học 2015-
    2
    2016 hướng đến phát triển lâu dài và bền vững, các nhà trường và thầy cô giảng
    dạy có thể thực hiện nâng dần theo từng năm học các mức độ giảng dạy, cụ thể là:
    + Mức 1: giáo viên giảng dạy trên lớp, giao tiếp bằng tiếng Việt là chủ
    yếu; giao bài tập về nhà hay bài tập nhóm để học sinh thực hành bằng tiếng Anh;
    giáo viên sửa bài tập, từng bước giao tiếp bằng tiếng Anh.
    + Mức 2: giáo viên giảng dạy trên lớp kết hợp tiếng Việt với tiếng Anh
    khi giao tiếp với học sinh; trao đổi, tổ chức hoạt động bằng tiếng Anh; học sinh
    dùng tiếng Anh để ghi chép và thực hiện giải các bài tập, giáo viên sửa bài tập bằng
    tiếng Anh.
    + Mức 3: thực hiện giảng dạy và tổ chức các hoạt động hoàn toàn bằng
    tiếng Anh.
    – Công văn số 1320/SGDĐT-GDTrH ngày 16/10/2017 về việc tổ chức Hội
    thảo- Hội thi giải Toán và các môn KHTN bằng tiếng Anh năm học 2017-2018 của
    Sở GDĐT Nam Định.
    – Công văn số 1287/SGDĐT-GDTrH ngày 09/10/2019 về việc tổ chức Hội
    thi giải Toán và các môn KHTN bằng tiếng Anh năm học 2019-2020 của Sở
    GDĐT Nam Định.
    – Công văn số 1312/SGDĐT-GDTrH ngày 09/9/2020 về việc tổ chức Hội thi
    giải Toán và các môn khoa học bằng tiếng Anh năm học 2020-2021.
    Như vậy, có thể nói Sở GDĐT Nam Định đã rất quan tâm, hướng dẫn và
    khuyến khích các trường TH, THCS, THPT trong toàn tỉnh triển khai giảng dạy
    song ngữ Việt-Anh. Tuy vậy, việc thực hiện vẫn còn mang tính đơn lẻ, chuyên biệt
    ở một số trường trọng điểm.
    II. Mô tả giải pháp
    1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến
    1.1. Tiếp cận với chƣơng trình và cách học tiên tiến
    Chúng ta đang sống trong thời đại toàn cầu hóa. Chúng ta phải chủ động mở
    cửa bước vào sân chơi để hội nhập. Trong đó người chơi cần được trang bị kiến
    3
    thức, bản lĩnh văn hóa, hiểu được luật chơi…, và ngoại ngữ là một điều kiện không
    thể thiếu. Toàn cầu hóa đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với nền giáo dục cần phải có sứ
    mệnh đào tạo học sinh trở thành những công dân toàn cầu, học sinh sau khi tốt
    nghiệp THPT có thể tiếp tục học tập hoặc làm việc ở bất cứ quốc gia nào trên thế
    giới.
    Tiếng Anh và dạy các môn khoa học bằng tiếng Anh được xem như bước đột
    phá để đổi mới giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh tiến trình
    hội nhập quốc tế. Thuật ngữ ―học tập tích hợp ngôn ngữ và nội dung – Content and
    Language Integrated Learning (CLIL)‖ đã trở thành ―từ khóa – keyword‖ quan
    trọng trong Giáo dục học. Đó là quá trình học tập các môn học cụ thể (không phải
    môn ngoại ngữ) thông qua ngôn ngữ thứ hai. Bằng cách này người học sẽ vừa tiếp
    thu được tri thức khoa học của môn học đồng thời phát triển được năng lực ngôn
    ngữ. Khác với học tiếng Anh trong giờ tiếng Anh, tiếng Anh trong môn Sinh học sẽ
    đưa học sinh đến một không gian khác, học sinh có thêm môi trường để tiếp tục rèn
    luyện các kỹ năng, có trải nghiệm mới việc sử dụng tiếng Anh.
    Theo xu thế hiện nay, việc dạy và học các môn khoa học bằng tiếng Anh sẽ
    thực hiện được mục tiêu kép, đó là vừa tăng cường năng lực sử dụng tiếng Anh của
    giáo viên và học sinh, vừa đồng thời phục vụ cho việc tiếp cận chương trình và
    cách học tiên tiến, làm tiền đề để phát triển tiềm lực khoa học sau này của học sinh.
    Đây là một mục tiêu có ý nghĩa và đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển môi
    trường dạy và học tiên tiến, hướng tới mục tiêu đào tạo các công dân toàn cầu.
    1.2 Vấn đề hội nhập và tìm kiếm việc làm.
    Việc dạy và học các môn khoa học bằng tiếng Anh nhằm nâng cao chất
    lượng nhân lực, đẩy mạnh tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế.
    Giáo viên và học sinh được tăng cường năng lực ngoại ngữ, có khả năng tiếp
    cận khai thác nguồn tài liệu khoa học và chuyên môn bằng tiếng Anh phục vụ cho
    việc nghiên cứu, học tập; tăng thêm cơ hội việc làm, phát triển sự nghiệp cho người
    học.
    4
    Học sinh được nâng cao vốn hiểu biết tiếng Anh, có cơ hội nhận được học
    bổng du học nước ngoài, mang lại hiệu quả thiết thực trong thời kì hội nhập.
    Dạy các môn khoa học bằng tiếng Anh là việc quan trọng để giáo dục Việt
    Nam hội nhập với quốc tế.
    1.3 Thực trạng dạy các môn khoa học bằng tiếng anh.
    Sở GD – ĐT Nam Định đã và đang rất quan tâm đến việc thực hiện đề án
    dạy môn KHTN bằng tiếng Anh. Liên tiếp trong các năm học 2014-2015; 2015-
    2016 và 2017-2018 , 2018 – 2019, 2019 – 2020, 2020 – 2021 Sở GDĐT Nam Định
    đã tổ chức các hội thảo, Hội thi dạy và giải Toán và các môn KH bằng Tiếng Anh
    ở cả giáo viên và học sinh cho trường THPT chuyên và các trường THPT không
    chuyên trong cả tỉnh. Tạo nên phong trào tích cực thúc đẩy triển khai dạy và học
    các môn khoa học bằng tiếng Anh trong các trường THPT trên toàn tỉnh. Học sinh
    có động lực học môn khoa học bằng tiếng Anh, rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng
    Anh khi làm bài thi.
    Thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2020 – 2021, dưới sự chỉ
    đạo của ban giám hiệu, các tổ chuyên môn trường THPT A Hải Hậu đã triển khai
    mỗi giáo viên dạy 2 tiết bằng tiếng anh / 1 học kì. Tuy nhiên để các tiết dạy diễn ra
    trôi chảy, có chất lượng vẫn còn là mục tiêu không dễ thực hiện.
    Trình độ tiếng Anh của đa số GV dạy các môn khoa học còn hạn chế. GV
    chưa được đào tạo bài bản để dạy học bằng tiếng Anh. Khả năng phát âm của GV
    còn hạn chế dẫn đến tình trạng thiếu tự tin khi giảng dạy chuyên môn bằng tiếng
    Anh.
    Về phía học sinh, trình độ tiếng Anh của học sinh trong một lớp học chưa
    đồng đều. Kỹ năng nghe, nói, đọc, viết bằng tiếng Anh của học sinh vốn còn nhiều
    hạn chế, lại phải tiếp cận kiến thức, trả lời trực tiếp các câu hỏi chuyên ngành liên
    quan đến bài học bằng tiếng Anh càng khó hơn. Trước khi có tiết học bằng tiếng
    Anh, giáo viên phải cho học sinh chuẩn bị tìm hiểu bài học, các từ ngữ chuyên
    ngành trong bài cách đó cả tuần. Dù vậy, cũng không phải học sinh nào cũng có sự
    5
    chuẩn bị tốt. Học sinh nào hiểu được bài, học tiếng Anh tốt mới có điều kiện tương
    tác tốt, có tâm lý hứng khởi, tự tin, năng động hơn. Giáo viên vẫn phải giảng song
    ngữ, trong đó, phần nhiều là giảng bằng tiếng Việt mới có thể giúp tất cả học sinh
    nắm được kiến thức…
    Ở thời điểm hiện tại, việc giảng dạy các môn khoa học bằng tiếng Anh nói
    chung và môn Sinh học bằng tiếng Anh nói riêng còn gặp nhiều khó khăn.
    Khó khăn đầu tiên và cốt yếu là ở tài liệu giảng dạy. Tính đến thời điểm hiện
    tại, các tài liệu dùng để dạy học Sinh học bằng tiếng Anh ở các trường THPT và
    Đại học ở Việt Nam, gần như chưa được xuất bản. Các tài liệu trên mạng internet
    chủ yếu là sách nước ngoài. Việc tham khảo ý kiến của các giáo viên dạy môn tiếng
    Anh cũng bị hạn chế vì thuật ngữ chuyên ngành đặc thù.
    Trên cơ sở phân tích thực tiễn, chúng tôi đề xuất giải pháp HỆ THỐNG
    KIẾN THỨC VÀ XÂY DỰNG BÀI TẬP MỘT SỐ CHỦ ĐỀ TRONG
    CHƢƠNG TRÌNH SINH HỌC 11 BẰNG TIẾNG ANH.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1. Giải pháp 1: Hƣớng dẫn học sinh học tốt các thuật ngữ sinh học
    Các thuật ngữ chuyên ngành sinh học được coi là sự bắt đầu của tất cả việc
    học môn sinh học bằng tiếng anh và quyết định sự thành công của người học. Từ
    kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy, chúng tôi nhận thấy thực tế là học sinh
    thường gặp khó khăn khi đọc hiểu các văn bản tiếng anh chuyên ngành. Các thuật
    ngữ chuyên ngành đã gây không ít khó khăn cho học sinh khi đọc hiểu văn bản.
    Một số học sinh khác đang phải đối mặt với vấn đề quên từ ngay sau khi giáo viên
    dạy hoặc sau khi xem trong từ điển. Lý do học sinh dễ quên như vậy cũng là vì yếu
    từ vựng. Sự thật là càng biết nhiều từ, người học càng dễ dàng nhớ từ vựng mới.
    Giáo viên đóng vai trò thiết yếu trong việc giúp học sinh cải thiện vốn từ vựng,
    thuật ngữ chuyên ngành.
    6
    Việc sắp xếp các thuật ngữ theo chủ đề nhằm tạo ra các mối liên quan đến
    nhau nhất định giúp học sinh hiểu sâu bản chất của từ vựng, thậm chí có thể đoán
    nghĩa của từ giúp tiếp thu các thuật ngữ nhanh hơn và ghi nhớ kiến thức lâu hơn.
    Sử dụng các đồ họa, hình ảnh chứa thông tin một cách ngắn gọn và đơn
    giản nhất. Các đồ họa , hình ảnh thông tin này sẽ giúp học sinh một lượng từ vựng
    có sự liên kết nhất định, từ đó nhận được những kiến thức hữu ích và đa dạng chủ
    đề khi học thuật ngữ sinh học qua hình ảnh . Khi phải diễn đạt bằng tiếng anh, việc
    hình dung tới những hình ảnh mà mình đã nhìn thấy trước đó và nhớ tới những từ
    vựng được gắn liền giúp diễn đạt trở nên dễ dàng hơn .
    Với các từ, thuật ngữ mới học giáo viên cần cho học sinh sử dụng ngay lập
    tức cả nghe, nói, đọc, viết. Việc nhắc lại thuật ngữ mới và sử dụng nó để hoàn
    thành các nhiệm vụ học tập mà giáo viên yêu cầu là điều quan trọng giúp học sinh
    ghi nhớ các thuật ngữ sinh học hiệu quả nhất.
    2.1.1. Các thuật ngữ sinh học
    a. Các thuật ngữ sinh học chủ đề trao đổi nƣớc và khoáng

    RootsRễ
    Root hairLông hút
    AbsorptionSự hấp thụ
    DiffusionSự khuếch tán
    OsmosisThẩm thấu
    Osmotic pressureÁp suất thẩm thấu
    Bonding forceLực liên kết
    Epidermal layerBiểu bì rễ
    Prolongations of the cells of the
    epidermal layer
    Kéo dài của tế bào biểu bì rễ
    Apoplastic pathwayCon đường gian bào
    Trans-membrane pathwayCon đường tế bào chất

    7

    hypertonic environment.Môi trường ưu trương
    IsotonicĐẳng trương
    HypotonicNhược trương
    The concentration of soluteNồng độ chất tan
    Passive transportVận chuyển thụ động
    Active transportVận chuyển chủ động
    The Transport of Substances in a PlantVận chuyển các chất trong cây
    StemsThân
    XylemMạch gỗ
    PhloemMạch rây
    Sieve tubes.Ống rây
    Companion cellsTế bào kèm
    Living cellTế bào sống
    Dead cellTế bào chết
    TracheidsQuản bào
    Xylem vesselsMạch ống
    Food and other organic materialsSản phẩm QH và các chất hữu cơ khác
    Water and other nutrientsNước và các chất dinh dưỡng
    Root pressureÁp suất rễ
    TranspirationThoát hơi nước
    MacronutrientsNguyên tố đại lượng
    MicronutrientsNguyên tố vi lượng
    Essential Mineral ElementsNguyên tố dinh dưỡng khoáng thiết yếu
    organic nitrogen compoundsHợp chất nito hữu cơ
    Atmospheric nitrogenNito không khí
    Nitrogen CycleChu trình nito
    CyanobacteriaVi khuẩn lam

    8

    SymbiosisCộng sinh
    Nodule bacteria in legume rootsVi khuẩn nốt sần rễ cây họ đậu.
    Ammonium bacteria
    Nitrifying bacteria
    Vi khuẩn amon hóa
    Vi khuẩn nitrat hóa
    Nitrogen-fixing bacteriaVi khuẩn cố định nito
    Nitrogen fixationGiai đoạn cố định nito
    DenitrifyingPhản nitrat

    b. Các thuật ngữ sinh học chủ đề quang hợp

    PhotosynthesisQuang hợp
    StomataKhí khổng
    Guard cellsTế bào hình hạt đậu
    Stomata cellsTế bào khí khổng
    SynthesizeTổng hợp
    ChlorophyllDiệp lục
    Photosynthetic pigmentation systemHệ sắc tố quang hợp
    Tilacoites (containing chlorophyll,
    carotenoids, enzymes)
    Tilacoit chứa diệp lục, carotenoit và
    enzim
    Light-dependent reactions in the
    thylakoid
    Pha sáng ở tilacoit
    Light-independent reactions in the
    stroma
    Pha tối ở chất nền lục lạp
    Calvin cycleChu trình canvin
    OrganellesBào quan
    ChloroplastsLục lạp
    General equationPhương trình tổng quát

    9

    Source of organic matter for food for
    all organisms
    Nguồn chất hữu cơ làm thức ăn cho
    mọi sinh vật
    Carbon fixation, reduction and
    regeneration
    Cố định CO2, khử, tái sinh chất nhận
    Air-conditioningĐiều hòa không khí
    Releasing oxygen and absorbing CO2Thải oxi hấp thụ CO2
    Reaction centerTrung tâm phản ứng
    SurfaceBề mặt
    EpidermisBiểu bì
    DiffuseKhuếch tán
    MembranesMàng

    c. Các thuật ngữ sinh học chủ đề hô hấp tế bào

    RespirationHô hấp
    Anaerobic resolutionPhân giải kị khí
    Aerobic resolutionPhân giải hiếu khí
    Aerobic RespirationHô hấp hiếu khí
    CytoplasmTế bào chất
    Mitochondrial matrixChất nền ti thể
    Mitochondrial membranemàng ti thể
    GlycolysisĐường phân
    FermentationSự lên men
    Kreb’s cycleChu trình crep
    Electron transfer chainChuỗi truyền electron
    Light respiration
    Photorespiration
    Hô hấp sáng

    10

    Seeds are germinatingHạt đang nảy mầm
    Oxygen-deficient conditionsĐiều kiện thiếu oxi
    Biological oxidationOxihoa sinh học
    MaterialNguyên liệu
    EnergyNăng lượng
    ProcessesQuá trình

    2.1.2. Một số hình ảnh giúp ghi nhớ và đoán nghĩa của các thuật ngữ
    Hình 1. Absorption of water and mineral salts
    11
    Hình 2. Transport of Water and Solutes in Plants
    12
    Hình 3. Transport in Plants
    Hình 4. Structure of stomatal
    13
    Hình 5. Stomatal cotrol
    14
    Hình 6. Leaf cross section
    Hình 7. Deficiency Symptoms of Mineral Elements in Plants
    15
    Hình 8. Nitrogen metabolism
    16
    Hình 9. Experiment on Transpiration in plants
    Hình 10. Structure of chloroplasts
    17
    Hình 11: Two stages of photosynthesis
    Hình 12: Photosynthesis and Cellular Respiration
    18
    Hình 13: Cellular respirati
    Hình 14. Fermentation – Anaerobic Respiration in Plants
    19
    2.1.3. Diễn đạt các thuật ngữ bằng các định nghĩa.
    Ví dụ 1 : Hoàn thiện các định nghĩa ở cột A bằng cách sử dụng từ, cụm từ
    thích hợp ở cột B.

    AB
    1. Which region contains structures
    that are responsible for the transport of
    water
    2. Xylem tissue in plants is responsible
    for the transport of …
    3. The roots absorb water through …
    4. Much of the transpiration in plants
    occur through the …
    5. Mineral salts are absorbed into the
    roots by…
    6. The opening and closing of stomata
    is due to…
    7. The pathway in which water moves
    through cell wall without crossing any
    membrane
    8. Nutrients that are required by plants
    in smaller quantities are considered
    as…
    9. Energy released during fermentation
    is…
    10. Conversion of pyruvic acid into
    either ethyl alcohol or lactic acid is
    called…
    – high
    – very high
    – low
    – apoplast pathway
    – active transport
    – turgor pressure of guard cells
    – Macronutrients
    – Micronutrients
    – structure is referring to the Xylem
    Vessels
    – fermentation
    – transpiration
    – aerobic respiration
    – high humidity
    – water and mineral salts
    – root hairs
    – stomata

    20

    11. The mitochondria plays a dominant
    role in…

    Answer
    1. Structure is referring to the Xylem Vessels
    2. Xylem tissue in plants is responsible for the transport of water and mineral salts
    3. The roots absorb water through root hairs
    4. Much of the transpiration in plants occur through the somata
    5. Mineral salts are absorbed into the roots by active transport
    6. The opening and closing of stomata is due to turgor pressure of guard cells
    7. The pathway in which water moves through cell wall without crossing any
    membrane apoplast pathway
    8. Nutrients that are required by plants in smaller quantities are considered as
    micronutrients
    9. Energy released during fermentation is low.
    10. Conversion of pyruvic acid into either ethyl alcohol or lactic acid is called
    fermentation
    11. The mitochondria plays a dominant role in Aerobic Respiration
    Ví dụ 2: Nêu định nghĩa cho các thuật ngữ ở cột A bằng cách dùng từ,
    cụm từ thích hợp ở cột B

    – Transpiration
    – Stomata
    – Root pressure
    – Glycolysis
    – Kreb’s cycle
    – Photosynthesis
    – Cellular respiration
    – takes place in cytoplasm
    – process that plants and algae use to turn carbon
    dioxide from the air into sugar, the food autotrophs need
    to grow
    – pressure that forces water from the soil to be absorbed
    by xylem in the root. It is caused by the osmotic gradient
    between the interior of the root and the soil.

    21

    – Calvin cycle– is conversion of Glucose to pyruvic acid
    – operates in mitochondrial matrix
    – the process by which green plants and certain other
    organisms transform light energy into chemical energy
    – the process by which cells in plants and animals break
    down sugar and turn it into energy, which is then used to
    perform work at the cellular level.
    – loss of water from the plant to the atmosphere into the
    form of vapor.
    – small specialized passageways for water and gases
    present in the epidermis of plants

    Answer
    – Transpiration is the loss of water from the plant to the atmosphere into the form of
    vapor.
    – Stomata (singular, stoma) are small specialized passageways for water and gases
    present in the epidermis of plants.
    – Root pressure is the pressure that forces water from the soil to be absorbed by
    xylem in the root. It is caused by the osmotic gradient between the interior of the
    root and the soil.
    – Glycolysis takes place in cytoplasm, is conversion of Glucose to pyruvic acid
    – Kreb’s cycle operates in mitochondrial matrix
    – Photosynthesis, the process by which green plants and certain other organisms
    transform light energy into chemical energy.
    – Cellular respiration is the process by which cells in plants and animals break
    down sugar and turn it into energy, which is then used to perform work at the
    cellular level.
    22
    – The Calvin cycle is a process that plants and algae use to turn carbon dioxide
    from the air into sugar, the food autotrophs need to grow
    2.1.4. Diễn đạt các thuật ngữ bằng cách giải thích
    Ví dụ
    1. Explain the role of chlorophyll in the process of photosynthesis ?
    2.Why do plants need to exchange gases with the environment?
    3. Why Is Photosynthesis Important for All Organisms?
    4. Why does a plant die when its roots are submerged in water for a long time?
    5 . Why does water move to the leaves?
    6. Why do plants use cellular respiration?
    7 . Why do you use alcohol to extract chlorophyll?
    8. Why are plants green?
    Answer
    1. Chlorophyll is the green colour pigment which helps leaves to capture energy
    from sunlight to carry out the food making process of plants by the leaves.
    2. Plants need to carry out gas exchange because they use aerobic cellular
    respiration (like animals). As a result, they need to obtain molecular oxygen and
    release carbon dioxide. In addition to aerobic cellular respiration, plants also need
    to obtain carbon dioxide to carry out photosynthesis
    3. Photosynthesis is important for all living organisms because it provides the
    oxygen needed by most living creatures for survival on the planet.
    4. The roots die because they have no air, and when the roots die, the plant dies.
    5. Water moves from the roots to the leaves through tissue called the xylem, in a
    process called transpiration. As water evaporates out of the leaf, more water is
    ‘pulled upwards’ to replace what has been lost.
    6. The process of cellular respiration allows plants to break down glucose into
    ATP. The ATP provides the energy they need to carry out various functions.
    23
    7. Ethanol is an organic solvent that causes the plant cells to become leaky. The
    chlorophyll inside the cells become available and dissolves in the ethanol.
    8. plants look green because they absorb red light most efficiently and the green
    light is reflected.
    2.1.5. Diễn đạt lại các thuật ngữ bằng cách mô tả
    Ví dụ 1
    Insert the Missing Words
    (chlorophyll, roots, chemical, organelles, mitochondria, light, food, green, water,
    food chains, cellular respiration, oxygen, stoma, carbon dioxide, sun, sugar, energy)
    1. Chloroplasts ………… of plant cells that contain a green substance called …………
    Scientists believe chlorophyll absorbs ………… energy and this energy is then used
    to make ………… . The raw materials of photosynthesis are carbon dioxide and
    ………… This waste product of this reaction is ………… The carbon dioxide
    required is absorbed through the ………… in the leaves — this is how the oxygen
    is also removed. The water required is absorbed by the …………
    2. Photosynthesis – is the process of changing …………… energy into ……………
    energy. The pigment …………… which is found inside the chloroplasts of a plant cell
    can capture the light energy and store it in food. This pigment looks like the color
    ……………to our eyes. The chemical process of photosynthesis uses the energy from
    the ……………combined with …………… from rain and ……………from the air to make
    a …………… (called glucose) and also give off …………… Photosynthesis is the basis
    for all food webs and ……………
    The following is the chemical equation for photosynthesis.
    6CO2 + 6H2O + Sunlight ———> C6H12O6 + 6O2
    3. Cellular respiration: a process where ……………. molecules are broken down to
    release ……………. When the energy is released ……………. and ……………. are
    given off as waste. Cellular respiration is done by the ……………. in both plant and
    animal cells. To do cellular respiration these organelles need to use …………….
    from food and ……………. from the air to make energy. ……………must be
    performed constantly to give the living organism a continuous supply of energy.
    24
    Answer:
    1. Chloroplasts organelles of plant cells that contain a green substance called
    chlorophyll. Scientists believe chlorophyll absorbs light energy and this energy is
    then used to make food. The raw materials of photosynthesis are carbon dioxide
    and water. This waste product of this reaction is oxygen. The carbon dioxide
    required is absorbed through the stoma in the leaves — this is how the oxygen is
    also removed. The water required is absorbed by the roots.
    2. Photosynthesis – is the process of changing light energy into chemical energy. The
    pigment chlorophyll which is found inside the chloroplasts of a plant cell can capture
    the light energy and store it in food. This pigment looks like the color green to our
    eyes. The chemical process of photosynthesis uses the energy from the sun combined
    with water from rain and carbon dioxide from the air to make a sugar (called
    glucose) and also give off oxygen. Photosynthesis is the basis for all food webs and
    food chains.
    The following is the chemical equation for photosynthesis.
    6CO2 + 6H2O + Sunlight ———> C6H12O6 + 6O2
    3. Cellular respiration: a process where food molecules are broken down to release
    energy. When the energy is released water and carbon dioxide are given off as
    waste. Cellular respiration is done by the mitochondria in both plant and animal
    cells. To do cellular respiration these organelles need to use sugar from food and
    oxygen from the air to make energy. Cellular respiration must be performed
    constantly to give the living organism a continuous supply of energy.
    Ví dụ 2
    Products of photosynthesis, such as sucrose, are translocated via the phloem
    from the sites of production in green leaves to places where they are utilised, such
    as seeds, fruits, roots and new leaves. These places are known as ‘sinks’. Describe
    the pathway by which a sucrose molecule is transported from the leaf to a sink such
    as a fruit.
    Answer:
    25
    The leaf manufactures sucrose through photosynthesis. The sucrose is then
    transported into the phloem by active transport whereby energy is provided by the

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Dạy ôn thi tốt nghiệp THPT môn Tiếng Anh trong năm học và giai đoạn dịch bệnh  tại trường THPT, thực trạng và giải pháp

    SKKN Dạy ôn thi tốt nghiệp THPT môn Tiếng Anh trong năm học và giai đoạn dịch bệnh  tại trường THPT, thực trạng và giải pháp

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
    “Sự phát triển kinh tế – xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu
    mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo
    dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực. Một trong những định hướng cơ bản của việc
    đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực
    tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy
    tính chủ động, sáng tạo của người học. Định hướng quan trọng trong đổi mới phương
    pháp dạy học là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành
    động, năng lực cộng tác làm việc của người học. Đó cũng là những xu hướng quốc tế
    trong cải cách phương pháp giảng dạy ở nhà trường phổ thông” theo Ngô Quốc Đường
    – Sở giáo dục đào tạo Bắc giang trong bài “Đổi mới phương pháp dạy học ở trường
    trung học theo định hướng phát triển năng lực người học”. Đúng như vậy, ngày nay
    yêu cầu phát triển của xã hội, của khoa học kỹ thuật ngày càng cao, do đó mà việc đào
    tạo con người cũng cần đổi mới theo nhu cầu xã hội và sự phát triển của khoa học kỹ
    thuật.
    Để sản phẩm của giáo dục có thể đáp ứng với nhu cầu của xã hội, nhà trường
    phải dạy cho học sinh trở thành những người không chỉ có kiến thức sâu rộng mà còn
    phải có kỹ năng giao tiếp, kỹ năng bắt kịp và thích nghi với khoa học và công nghệ
    cao, đồng thời cũng cần biết xử lý tình huống tốt và nhất là phát huy được năng lực
    của mình một cách tối đa.
    Để đạt được mục tiêu đó, phương pháp dạy học trong nhà trường cũng cần đổi
    mới cho phù hợp với yêu cầu thực tế và hoàn cảnh xã hội. Ngôn ngữ là chìa khóa mở
    ra nhiều cánh cửa tri thức cũng như chi phối nhiều khía cạnh trong cuộc sống, trong đó
    tiếng Anh đã và đang trở thành ngôn ngữ phổ thông trong khoa học và giao tiếp trên
    toàn cầu.
    Nhận thức được tầm quan trọng của môn học này, trong những năm gần đây Bộ
    Giáo Dục và Đào Tạo đã coi môn Tiếng Anh là một môn học trọng tâm trong chương
    trình THPT và đưa ra đề án ngoại ngữ theo từng giai đoạn. Thực tế xã hội đã đòi hỏi
    đội ngũ giáo viên nói chung và giáo viên dạy ngoại ngữ nói riêng phải đổi mới phương
    pháp giảng dạy, không chỉ áp dụng việc dạy ngôn ngữ theo đường hướng giao tiếp mà
    còn thiết kế nhiệm vụ dạy học, kiểm tra đánh giá dựa trên năng lực của học sinh nhằm
    phát huy tối đa năng lực giao tiếp, năng lực sử dụng ngôn ngữ cho người học.
    Tuy nhiên trong thực tế để phát huy triệt để năng lực của học sinh là một bài toán
    khó không chỉ đối với giáo viên tiếng Anh mà còn là một trăn trở đối với toàn bộ
    những người làm nghề giáo. Trong những năm gần đây ngành giáo dục Việt Nam đã
    cải cách mạnh mẽ cả về nội dung giảng dạy, phương pháp giảng dạy cũng như kiểm
    tra đánh giá, đặc biệt là kết hợp kỳ thi tốt nghiệp THPT và kỳ thi cao đẳng đại học
    thành kỳ thi THPT quốc gia. Đó là sự đổi mới kiểm tra đánh giá khác xa so với cách
    5
    đánh giá của hai kỳ thi cũ. Với sự thay đổi đó việc các em học sinh tiếp cận với hình
    thức thi cũng như nội dung thi cũng có nhiều khó khăn, đặc biệt là đối tượng học sinh
    chỉ dự thi tốt nghiệp như đối tượng học sinh tại trường THPT Trần Văn Lan. Làm thế
    nào vừa rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ cho học sinh vừa giúp các em vượt qua kỳ thi với
    kết quả tốt nhất và đảm bảo các em được đánh giá đúng năng lực? Làm thế nào để học
    sinh hiểu rõ về hình thức của đề thi, nội dung thi và kỹ năng làm bài thi ? đó là một
    khó khăn không chỉ với giáo viên môn tiếng anh mà còn là thách thức với từng bộ môn
    thi, với từng học sinh tham gia kỳ thi và cả các bậc phụ huynh học sinh. Đặc biệt là
    trong hai năm gần đây thì dịch bệnh covid kéo dài thì việc đáp ứng được cho các em
    thi THPT đạt kết quả tốt nhất là một vấn để không chỉ của giáo viên môn Anh tại
    trường THPT Trần Văn Lan mà là vấn đề cho cả các giáo viên trong cả nước.
    Trong quá trình dạy học chúng tôi nhận ra những thực trạng sau đây:
    – Trình độ học sinh đầu vào thấp, nhận thức về tầm quan trọng của môn học trong
    học sinh còn hạn chế, kiến thức kỹ năng của học sinh thấp.
    – Học sinh đa số chỉ có mục tiêu thi tốt nghiệp nên động lực học tập không cao.
    – Lượng từ vựng của học sinh ít nên không có khả năng hiểu nội dung câu hỏi.
    – Học sinh hầu như không có kỹ năng làm bài đọc hiểu mà thường dịch nội
    dung, trong khi vốn từ vựng hạn chế mà nội dung bài đọc dài nên học sinh đa số bỏ
    qua phần đọc hiểu hoặc làm theo cảm tính.
    – Các thành ngữ hoặc cấu trúc cố định của học sinh hạn chế nên học sinh không
    thực hiện được những câu hỏi có dạng cấu trúc cố định.
    – Học sinh chưa có hình dung gì về hình thức đề thi và nội dung thi.
    – Chỉ có một số học sinh tham gia các nhiệm vụ trong giờ học và số còn lại
    thường nêu lý do là không hiểu câu hỏi của một số bài tập do rào cản của từ mới.
    – Rất nhiều học sinh thiếu kiến thức nền và năng lực ngôn ngữ nên không thể
    hiểu tốt bài học để có thể diễn đạt ý tưởng riêng của mình. Dĩ nhiên, nếu người học
    thiếu kiến thức nền và vốn từ vựng thì sẽ càng khó khăn hơn đối với việc hiểu nội
    dung của bài học hay hoàn thành các hoạt động học khác. Điều này sẽ dẫn đến sự cản
    trở lớn trong việc trao đổi thông tin với những người khác trong các hoạt động theo
    cặp, theo nhóm. Do vậy, nhiều học sinh không những gặp khó khăn trong việc học tập
    mà còn bị giảm hứng thú trong giờ học.
    – Lớp đông khiến cho giáo viên gặp khó khăn trong quá trình điều khiển và đặc
    biệt là tổ chức các hoạt động dạy học kỹ năng.
    Trong giai đoạn dịch bệnh chúng tôi gặp phải các vấn đề sau đây:
    – Bản thân tôi trình độ tin học còn hạn chế đặc biệt là việc áp dụng các phần mềm
    mới.
    – Một số học sinh không có điện thoại hay mạng để sử dụng học khi giai đoạn
    dịch bệnh diễn ra.
    – Mạng bị nghẽn và mất thời gian nhiều trong khâu điểm danh.
    – Học sinh hết pin không tham gia học hết tiết học được.
    6
    – Học sinh đa số là chưa phát huy tác dụng của công nghệ vào học tập.
    – Không kiểm soát hết được từng học sinh.
    Những năm trước khi có sáng kiến chúng tôi đã thực hiện một số giải pháp như sau:
    Bám sát nội dung sách giáo khoa, ôn tập từ vựng và ngữ pháp có liên quan và ở mức
    độ tốt nghiệp.
    Rèn luyện kỹ năng đọc nhưng ở mức độ thấp mỗi đoạn trả lời 5 câu hỏi và ở mức
    thông hiểu.
    Trình độ học sinh thấp nên cho bài tập vận dụng các kiến thức ngữ pháp theo hướng đề
    thi tốt nghiệp cũ để đảm bảo kiến thức cơ bản.
    Thiết kế bài học và bài tập vận dụng luôn theo từng unit, sử dụng bộ sách mềm của tác
    giả Hoàng Thị Xuân Hoa và một số bộ ôn tập khác nữa.
    Trong giai đoạn ôn tập thiết kế bài tập theo chuyên đề từng câu của đề minh họa và số
    lượng mỗi loại câu là 10 câu. Thực hiện giao bài phô tô và trên google form trong giai
    đoạn bệnh dịch.
    Giai đoạn cuối thiết kế bài ôn theo test đủ 50 câu trên google form và gửi link cho học
    sinh làm theo tuần. Giai đoạn đầu là 1 đề trên tuần, giai đoạn cuối là 2-3 đề trên tuần.
    Trong đó vẫn có bài phân loại học sinh yếu và trung bình số lượng câu giảm khoảng
    30-40 câu cho vừa sức.
    Học sinh có thể học chung với bạn gần nhà nếu không có máy tính hay điện thoại
    Gửi bài cho học sinh làm khi sắp xếp được kết nối internet.
    Tuy nhiên kết quả cũng còn hạn chế và đặc biệt là không ổn định theo các năm học.
    Sau khi có sáng kiến chúng tôi đã tìm hiểu những vấn đề của học sinh trong việc đánh
    giá đúng về mức độ đề thi, nội dung thi và kỹ năng làm bài thi. Chúng tôi tiến hành
    các giải pháp như sau: giải pháp chuyên môn, giải pháp ứng phó khi có dịch bệnh và
    giải pháp tâm lý động viên khích lệ học sinh.
    Về chuyên môn chúng tôi phân tích đề thi, hình thức nội dung và thang điểm
    từng phần thi của bài thi THPT năm trước, kết hợp tiện ích của công nghệ thông tin và
    các phần mềm hỗ trợ, chúng tôi nhận thấy để học sinh làm tốt bài thi THPT thì cần đáp
    ứng các yếu tố sau:
    Thứ nhất các em cần có kiến thức ngữ pháp chắc chắn và biết vận dụng linh hoạt.
    Thứ hai học sinh cần có vốn từ vựng nhất định để có thể hiểu được nội dung bài thi,
    đồng thời học sinh cần có kỹ năng đọc hiểu để làm tốt phần thi đọc hiểu và một số cấu
    trúc viết lại câu để học sinh có thể làm được phần viết. Đối với học sinh chỉ thi tốt
    nghiệp thì phần cần trọng tâm là 30 câu trắc nghiệm, chọn lọc một số câu trong bài đọc
    điền từ và kỹ năng viết lại câu sẽ là phần cần chú trọng để có được số điểm phù hợp.
    Đối với học sinh khá hơn sẽ được tập trung thêm về kỹ năng đọc hiểu. Từ những phân
    tích trên về phía giáo viên, chúng tôi đã lựa chọn các phương tiện, kỹ thuật và phương
    pháp giảng dạy thích hợp với năng lực (khả năng có thể tiếp thu) của học sinh và thiết
    kế những nhiệm vụ vừa sức và đa dạng nhằm phát huy tính tích cực của học sinh và
    giúp học sinh giải quyết bài thi có kỹ năng và độ chính xác cao.
    7
    Tiếp theo chúng tôi có kế hoạch ôn tập và rèn luyện cho học sinh ngay từ đầu
    năm học, phân loại kiến thức theo từng chuyên đề có liên quan đến bài học và cho học
    sinh tiếp cận với nội dung câu hỏi liên quan đến đề thi luôn. Về từ vựng chúng tôi áp
    dụng các phương pháp dạy từ vựng đa dạng và thiết kế bài tập vận dụng luôn theo chủ
    đề bài học. Về kỹ năng đọc hiểu chúng tôi cho học sinh tiếp cận các kỹ năng trả lời
    theo loại câu hỏi và cũng thiết kế bài tập vận dụng luôn theo chủ đề bài học. Về kỹ
    năng viết bài chúng tôi tiến hành luyện viết câu theo chuyên đề theo đề minh họa năm
    trước trong giai đoạn đầu, đến giai đoạn sau khi có đề minh họa chúng tôi tiến hành
    phân tích đề và lập đề cương chuyên đề. Đối với học sinh, chúng tôi yêu cầu các em
    làm bài luyện tập thường xuyên và chấm chữa cho nhau khi có giờ luyện tập. Khi đã
    hoàn chỉnh từng chuyên đề thì mỗi tuần giao cho các em một đề luyện tập.
    Giải pháp ứng phó khi có sự bất thường. Năm học 2019-2020 và năm 2020-2021
    là hai năm học vô cùng đặc biệt khi dịch bệnh covid diễn ra thì việc học tập trực tiếp
    gián đoạn. Khi đó cấp trên chỉ đạo dạy online thì bản thân tôi khá bối rối và chưa có
    định hướng. Bởi vì học trực tiếp rèn chi tiết cũng cần có sự kiên nhẫn và kết quả cũng
    còn không giám khảng định. Tuy nhiên khi thời gian thì cận kề mà các con thì còn
    chưa chủ động, thì bản thân tôi cũng mạnh dạn áp dụng các tiện ích của internet vào
    dạy học. Trong đó phần google form được tôi ứng dụng nhiều nhất. Phần google meet
    thì dùng dạy học và trong quá trình dạy mình gửi form để học sinh làm bài. Tôi vừa
    học vừa áp dụng và dần dần nâng cao khả năng và soạn bài nhanh hơn. Các học sinh
    thích ứng rất nhanh thậm chí còn chỉ cho một số thứ khá hữu ích vì các em có khả
    năng cập nhật công nghệ khá tốt. Chúng tôi chia sẻ học hỏi kinh nghiệm từ đồng
    nghiệp và tự học tự trao đổi để tự nâng cao trình độ tin học trong quá trình dạy học.
    Giải pháp động viên khích lệ học sinh trong quá trình học tập ôn tập nâng cao
    nhận thức và phát huy sức mạnh tự thân. Chúng tôi thưởng khi học sinh đạt kết quả
    giai đoạn, khuyến khích học sinh làm thêm bài, chữa bài giúp bạn. Thường xuyên
    động viên học sinh vượt qua các rào cản tâm lý như tâm lý áp lực từ gia đình, tâm lý
    áp lực thời gian hoàn thành nhiệm vụ…
    Khi thực hiện như vậy chúng tôi nhận thấy học sinh đã nhanh chóng nhận ra
    hình thức đề thi các nội dung thi, các kỹ năng cần rèn luyện và qua đó các em đã thực
    sự có tiến bộ. Khi hiểu hơn về giá trị bản thân các em định hướng cho mình tốt hơn,
    phát huy sức mạnh tự thân và tự chủ học tập hơn.
    Bản thân tôi đánh giá về tính mới của sáng kiến là không mới vì chủ đề ôn tốt
    nghiệp THPT thì năm nào cũng là nhiệm vụ trọng tâm. Tuy nhiên về tính khả thi và
    tính kinh tế và hiệu quả về xã hội thì tôi đánh giá là khá cao. Bởi vì học sinh xác định
    được mục tiêu cần đạt được, tiết kiệm thời gian và chi phí học tập và tính lan tỏa tạo
    niềm tin trong xã hội là không nhỏ.
    Chính vì những lý do trên mà chúng tôi muốn trao đổi kinh nghiệm đã chọn lựa
    và vận dụng để ôn luyện THPT cho học sinh lớp 12 đặc biệt là trong giai đoạn bệnh
    dịch covid trong đề tài sáng kiến kinh nghiệm này. Trong đề tài này chúng tôi trình
    8
    bày các biện pháp dạy ôn luyện xuyên suốt năm và một số cải tiến cụ thể trong giai
    đoạn bệnh dịch bất thường với mong muốn chia sẻ kinh nghiệm để có thể phù hợp cho
    một số trường có điều kiện tương tự như trường chúng tôi.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP CỤ THỂ SAU KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN (năm học 2019-
    2020)
    1. Giải pháp 1- giải pháp chuyên môn xuyên suốt năm học
    1.1. Hiểu rõ cấu trúc và phân tích về đề thi THPT quốc gia:
    PHÂN TICH ĐỀ THI MINH HỌA THPT QUỐC GIA 2019-2020
    Môn: Tiếng Anh

    Ma trậnKiến thứcCấp độ nhận thứcMức độ câu
    hỏi
    Tổng
    Dạng bàiNhận biếtThông hiểudụng VậnVận dụng caoDễTBKhó
    PhoneticsSound20002002
    Stress20002002
    Error
    Identification
    Vocabulary00100011
    Passive Voice00100101
    Word order00101001
    Multiple Choice
    Completion
    Verb Tense01000101
    Conditional
    Sentence
    01000101
    Concessive Clause01000101
    Preposition01001001
    Word Phrase01000101
    Word Choice05000145
    Word Form01000101
    Passive Voice01000101
    Participle01000011

    9

    Article01001001
    Language
    Function
    00202002
    Antonym00200112
    Synonym00200202
    Sentence TransformationComparative00100101
    Reported Speech00100101
    Modal Perfect00100101
    Sentence CombinationSubjunctive00100101
    Inversion00100101
    Lexical ReadingWord Choice00020022
    Word Form00010101
    Conjunction00010101
    Relative Pronoun00011010
    Reading ComprehensionHỏi chủ đề00020022
    Đại từ thay thế00020202
    Từ gần nghĩa00030033
    Thông tin chi tiết00050505
    Suy luận00010011
    Tổng414161610251550

    Ngữ âm: Dạng bài này kiểm tra cách phát âm/ đánh dấu trọng âm của các từ quen
    thuộc xuất hiện trong SGK, học sinh có thể dễ dàng làm được phần thi này.
    2 câu hỏi về phát âm: 1 câu kiểm tra cách phát âm về nguyên âm và 1 câu về cách phát
    âm đuôi – ed.
    2 câu hỏi về trọng âm kiểm tra cách đánh dấu trọng âm của từ có 2 và 3 âm tiết
    10
    Từ đồng nghĩa – trái nghĩa: Câu hỏi thuộc dạng bài này năm nay nhẹ nhàng hơn đề thi
    THPT quốc gia năm ngoái, một số từ xuất hiện trong SGK nên dựa vào ngữ cảnh rất
    dễ suy đoán nghĩa.
    Hoàn thành câu: Tỉ lệ số câu hỏi ngữ pháp và từ vựng: 8/6
    Số lượng câu hỏi trong phần này được tăng lên 2 câu kiểm tra về ngữ pháp.
    Các kiến thức ngữ pháp đã học trong chương trình THPT xuất hiện trong đề thi là:
    Mạo từ, câu điều kiện, thì động từ, mệnh đề nhượng bộ, giới từ, Word phrase, phân từ,
    bị động với danh động từ. Các câu hỏi ở các chuyên đề này cũng không gây khó khăn
    cho học sinh vì chỉ ở mức độ dễ và trung bình.
    Từ vựng được kiểm tra dưới dạng: word choice, word form. Từ và các cụm từ cũng rất
    quen thuộc, một số từ nằm trong các bài reading ở SGK. Tuy nhiên, việc lựa chọn từ
    sao cho đúng với ngữ cảnh của câu lại khiến các bạn học sinh cảm thấy khó khăn vì
    một từ hoặc cụm từ lại có rất nhiều nghĩa hoặc có những cụm từ cố định mà không
    phải cứ đúng nghĩa cơ bản là có thể chọn được luôn.
    Chức năng giao tiếp: Tình huống giao tiếp khá quen thuộc và rất đơn giản, đây là phần
    gỡ điểm cho học sinh.
    Tìm câu đồng nghĩa – Nối câu: Dạng bài tìm câu đồng nghĩa: kiểm tra khả năng vận
    dụng các kiến thức ngữ pháp quen thuộc như câu so sánh, câu gián tiếp, modal perfect
    để viết lại câu. Những câu hỏi ở phần này ở mức độ trung bình, học sinh hoàn toàn có
    thể đạt điểm tối đa.
    Dạng bài Nối câu: sử dụng thức giả định và đảo ngữ để nối câu. Trong phần này cũng
    không gây khó khăn cho học sinh, chỉ cần đọc kỹ là có thể làm được luôn.
    Tìm lỗi sai: 2 câu kiểm tra lỗi sai ngữ pháp dễ dàng nhận ra luôn. Tuy nhiên, có một
    câu về lỗi sai từ vựng yêu cầu học sinh phải có kiến thức về từ vựng phong phú.
    Điền từ: Chủ đề của bài điền từ cũng khá quen thuộc với học sinh: chủ đề về
    Technology.
    Có 2 câu hỏi về Word choice, 1 về đại từ quan hệ, 1 về word form và 1 về liên từ. Các
    câu hỏi về Word choice luôn là câu hỏi khiến học sinh phân vân nhất và phải có vốn từ
    vựng phong phú. 3 câu hỏi còn lại về ngữ pháp học sinh vẫn có thể lấy điểm tối đa.
    Phần đọc hiểu: Năm nay có sự thay đổi về số lượng câu đọc hiểu trong bài đọc hiểu 7
    câu ( giảm xuống còn 5 câu). Bài đọc hiểu 8 câu vẫn ở mức khó hơn để phân loại học
    sinh.
    Các loại câu hỏi của bài đọc hiểu: 2 câu hỏi ý chính, 2 câu hỏi về đại từ thay thế, 3 câu
    về từ gần nghĩa, 5 câu hỏi về thông tin chi tiết, 1 câu suy luận. Các loại câu hỏi này
    tương tự với đề thi năm 2018.
    Các câu hỏi khó rơi vào câu hỏi về ý chính, tìm từ đồng nghĩa và suy luận, yêu cầu học
    sinh phải có tư duy logic, kỹ năng phân tích và suy luận tốt mới có thể làm được.
    Về cơ bản, đề thi tham khảo THPT quốc gia năm 2019 xuất hiện các dạng bài giống
    như đề thi năm 2018. Tuy nhiên có sự thay đổi về số lượng câu ở phần hoàn thành câu
    và đọc hiểu.
    11
    Nội dung đề thi tham khảo 2019 chủ yếu nằm trong chương trình 12 .
    Phạm vi kiến thức trong đề: Các chuyên đề ngữ pháp phổ biến (thì, mạo từ, câu bị
    động, câu điều kiện, mệnh đề nhượng bộ, danh động từ, câu gián tiếp) và từ vựng.
    Về độ khó và sự phân bổ kiến thức: Tổng quan về độ khó của đề: 60% cơ bản + 40%
    nâng cao
    Các câu hỏi dễ lấy điểm nằm ở các dạng bài: ngữ âm, câu giao tiếp, hoàn thành câu
    phần ngữ pháp, câu đồng nghĩa, nối câu, tìm lỗi sai
    Các câu hỏi khó tập trung vào từ vựng như: Tìm từ đồng nghĩa trái nghĩa, các câu từ
    vựng trong phần hoàn thành câu và đọc hiểu.
    Một số kiến thức ngữ pháp nâng cao như: Đảo ngữ, liên từ, phân từ, modal perfect.
    Phần đọc hiểu cũng là dạng bài để phân loại học sinh nhưng giảm 2 câu so với năm
    2018
    Để làm tốt bài thi tiếng Anh trong kỳ thi THPT quốc gia 2019, giáo viên cũng lưu ý
    các sĩ tử những điểm sau: Nắm chắc các kiến thức ngữ pháp thuộc chương trình THPT
    và tìm hiểu thêm các kiến thức ngữ pháp nâng cao.tham khảo các đề thi thử của các
    trường.
    Học từ vựng và cấu trúc trong SGK thì cần phải mở rộng và trau dồi thêm từ vựng ở
    bên ngoài như đọc sách báo nước ngoài, xem phim có phụ đề Tiếng Anh,…..
    Luyện tập nhiều các dạng bài khó và những dạng bài mình cảm thấy yếu. Rèn luyện
    nhuần nhuyễn kỹ năng đọc hiểu, phân tích đoạn văn, khả năng suy luận để đoán nghĩa
    của từ.
    Việc phân tích cấu trúc đề thi rất quan trọng, nó giúp giáo viên định hướng hình thức
    đề thi và nội dung kiến thức trọng tâm. Từ đó giáo viên thiết kế, chọn lựa những nội
    dung học tập vừa sức và phù hợp với nội dung thi. Đồng thời giáo viên cũng tiến hành
    phân tích cho học sinh để các em có kiến thức về nội dung đề thi để có kế hoạch ôn
    tập phù hợp.
    Nhìn vào phần phân tích trên chúng tôi nhận thấy: Trọng tâm cho học sinh thi tốt
    nghiệp là phần từ vựng ngữ pháp gồm 30 câu. Vậy mục tiêu của học sinh thi tốt nghiệp
    phải đặt mục tiêu 25 câu, như vậy học sinh đạt được: 25 x 0.2 = 5 điểm.
    Từ những nhận xét trên chúng tôi phân tích cho học sinh từ đó các em biết mục tiêu
    phấn đấu và chúng tôi cũng thiết kế bài học phù hợp cho học sinh. Trong quá trình dạy
    học chúng tôi liên tục mở rộng vốn từ cho học sinh đồng thời giáo án ôn tốt nghiệp
    chúng tôi đã chia bài tập luyện thi ra 5 phần gồm các bài luyện 30 câu ngữ pháp, các
    bài luyện đọc điền từ, các bài đọc trả lời câu hỏi, các bài luyện về câu viết lại. Giai
    đoạn cuối cùng chúng tôi ghép vào thành đề thi hoàn chỉnh và cho học sinh luyện để.
    Cụ thể từng phần chúng tôi sẽ phân tích ở các bước dưới đây.
    1.2. Thiết kế bài học từ vựng sinh động dễ nhớ theo từng bài cho học sinh nâng
    cao vốn từ, do đó có thể nâng cao kỹ năng đọc hiểu.
    Việc làm tốt bài thi THPT quốc gia không phải chỉ dựa vào thời gian ôn tập cuối năm
    mà có thể đạt kết quả tốt, mà việc ôn tập cho kỳ thi phải được thực hiện từ trong quá
    12
    trình học tập và có kế hoạch lâu dài. Cụ thể là từ việc học kỹ năng, học ngữ pháp, học
    từ vựng,… thì mới đảm bảo học sinh tích lũy đủ kiến thức và kỹ năng để làm tốt bài
    thi. Từ vựng là vốn quan trọng của bất kỳ người học ngôn ngữ nào. Có vốn từ vựng
    càng nhiều người học càng có cơ hội nâng cao trình độ ngôn ngữ, do đó mà việc dạy
    từ vựng là một khâu quan trọng trong bất kỳ một ngôn ngữ nào. Tuy nhiên để việc dạy
    từ vựng đạt hiệu quả tốt nhất người dạy phải tùy thuộc vào trình độ, tâm lý, hứng thú
    của người học để có các bài dạy thích hợp. Đối tượng học sinh THPT còn mải chơi và
    ít tập trung nên cần thiết kế bài dạy từ đa dạng và tận dụng công nghệ thông tin để thu
    hút sự chú ý của các em. Chúng tôi đã vận dụng một số phương pháp sau:
    1.2.1. Dùng trực quan là một cách hiệu quả thu hút sự chú ý của học sinh và giúp
    làm rõ nghĩa của từ hiệu quả.
    Với sự phát triển của công nghệ thông tin người dạy học có thể tận dụng tối đa
    để dạy học đạt hiệu quả nhât. Đặc biệt là học ngoại ngữ những hình ảnh trực quan là
    rất quan trọng nên hầu hết các bài dạy từ mới chúng tôi đều thiết kế trên powerpoint
    để các em có thể dung nạp tốt nhất và nhiều nhất các từ vựng được dạy. Cụ thể trong
    mỗi bài có phần từ vựng chúng tôi thiết kế phần giới thiệu từ mới bằng hình ảnh như
    hình minh họa dưới đây:
    13
    Hay cho học sinh làm dạng juble word như phần thiết kế này ( unint 4 tiếng Anh 12):
    Ghi nhớ và vận dụng từ rất quan trọng nên chúng tôi thiết kế phần vận dụng từ đã học
    để làm các câu đơn giản để khắc sâu kiến thức cho học sinh. Có nhiều cách và ví dụ
    thiết kế trò chới dưới đây chẳng hạn cũng góp phần giúp củng cố bài học và vốn từ của
    học sinh.
    14
    Hoặc tìm định nghĩa cho từ, hoặc word form
    15
    Hoặc thiết kế theo sơ đồ tư duy giúp học sinh hệ thống kiến thức bài học và sử dụng
    ngôn ngữ của các em.
    16
    1.2.2. Trò chơi ngôn ngữ là phương pháp giảng dạy tích cực lấy người học làm
    trung tâm.
    Dạy từ vựng không đơn thuần là cung cấp từ, cách phát âm và nghĩa của từ mà là làm
    thế nào từ đó là của người học, tức là người học biết vận dụng từ vào các tình huống
    giao tiếp.
    Có nhiều hình thức trò chơi ngôn ngữ, như lucky number, the big wheel, central
    race… làm cho bài học có tính hấp dẫn và tăng động lực học tập cho học sinh.
    17
    Hoặc trò ai là triệu phú
    Trò đuổi hình bắt chữ: Phần này chúng tôi dùng chủ yếu phần idiom để dạy học sinh
    lúc khởi động và kết thúc giờ học tạo dấu ấn cho học sinh lưu trữ idiom.
    1.2.3. Dùng ngôn ngữ đã học.
    Một phần rất quan trọng của việc tích lũy và nâng cao vốn từ là sử dụng vốn từ
    đã có vào hoạt động giao tiếp do đó việc dạy từ mới không chỉ mở rộng vốn từ mà còn
    khai thác vốn từ sẵn có của người học. Kết hợp với hai giải pháp trên chúng ta có thể
    18
    lồng ghép trong quá trình dạy từ các thủ thuật dưới đây nhằm ôn lại từ sẵn có hay cách
    khác là đưa vốn từ có sẵn vào giao tiếp một cách tự nhiên:
    – Định nghĩa, miêu tả
    – Dùng từ đồng nghĩa, trái nghĩa.
    – Dựa vào các quy tắc hình thành từ, tạo từ.
    – Tạo tình huống.
    – Đoán nghĩa của từ trong ngữ cảnh.
    Tùy vào tình huống và trình độ học sinh mà có thể vận dụng các thủ thuật một cách
    hợp lý.
    1.2.4. Dạy và học từ thông qua luyện tập thực hành.
    Thực hành là khâu quyết định trong bất kỳ hoạt động học nào. Ngoài hoạt động như
    các giải pháp trên đã đề cập giáo viên cũng có thể soạn các task trong sách giáo khoa
    trên powerpoint để học sinh thực hành sử dụng vốn từ. Làm các bài tập điền từ, cho
    dạng đúng của từ có liên quan trực tiếp đến nội dung bài học qua các handout.
    ( Handout được đính kèm trong phần phụ lục)
    1.2.5. Kết hợp các giải pháp cho phù hợp với đối tượng học sinh để đạt hiệu quả
    cao hơn.
    Mỗi giải pháp đều có mặt ưu và khuyết vì vậy mà giáo viên cũng cần vận dụng
    linh hoạt các giải pháp cho từng đối tượng học sinh để đạt kết quả tốt nhất. Chẳng hạn
    đối với vấn đề lớp đông học sinh và năng lực không đồng đều, giáo viên nên tổ chức
    nhiều hoạt động nhóm chứ không nên để tình trạng làm cá nhân hoặc làm cặp một
    cách đơn điệu. Hơn nữa, giáo viên nên phân vai, giao bài tập… cho phù hợp với năng
    lực của học sinh để tránh sự phối hợp không khớp giữa học sinh giỏi và yếu.
    1.2.6 Rèn luyện phần 30 câu hỏi trắc nghiệm trong đề thi THPT

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Khai thác một số công cụ để thiết kế hệ thống câu hỏi tương tác phục vụ dạy học trực tuyến

    SKKN Khai thác một số công cụ để thiết kế hệ thống câu hỏi tương tác phục vụ dạy học trực tuyến

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
    Dịch bệnh Covid khiến cho nhiều hoạt động bị ngưng trệ, gây ra sự trì hoãn
    “không giới hạn” cho toàn xã hội, đặc biệt là ngành giáo dục vì phải thực hiện
    giãn cách xã hội trong thời gian dài. Trong giai đoạn đầu của dịch bệnh, nhằm
    đảm bảo an toàn sức khỏe cho học sinh nhiều trường học đã phải tạm ngừng việc
    học và cho các em tự ôn tập tại nhà. Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tạm thời, khi
    dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp thì việc tạm ngừng giảng dạy trong thời
    gian dài không chỉ gây lãng phí thời gian mà còn ảnh hưởng không tốt đến chất
    lượng học tập của các em học sinh. Vì vậy, câu hỏi lớn đặt ra đó là: “Tiếp tục tạm
    nghỉ hay tiếp tục chương trình giảng dạy?”
    Đây không chỉ là lo lắng, trăn trở của các bậc phụ huynh mà còn là thách thức
    lớn lao mà ngành giáo dục đang phải đối mặt trong việc quyết định con đường
    phát triển cho thế hệ tương lai – mầm non của đất nước. Để giải quyết thực trạng
    này, tháng 6 /2020 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình chuyển đổi
    số Quốc gia, trong đó giáo dục là 1 trong 8 lĩnh vực được ưu tiên triển khai. Hay
    nói cách khác, thay vì đến trường các em học sinh có thể tham gia các lớp học
    trực tuyến thông qua máy tính, điện thoại có kết nối Internet kèm theo cài đặt các
    phần mềm học trực tuyến chuyên dụng.
    Trước tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, Sở Giáo dục và đào tạo Nam
    Định đã bám sát chỉ đạo của Bộ GDĐT hướng dẫn, triển khai công tác dạy học
    trực tuyến cho học sinh trong tỉnh. Sở đã kịp thời tổ chức tập huấn, hướng dẫn các
    hình thức dạy học trực tuyến bằng phần mềm Shub Classroom, Google classroom,
    Zoom… cho các trường THPT, các Phòng GDĐT huyện/ Tp.
    Với phương châm “Tạm dừng đến trường nhưng không ngừng việc học”,
    trường THPT Nguyễn Huệ đã lên kế hoạch triển khai, hướng dẫn tập huấn cho
    giáo viên kỹ thuật thực hiện việc giảng dạy trên nền tảng Zoom, Shub Classroom.
    Tuy nhiên, để đạt được kết quả như mong muốn giáo viên chúng tôi đã gặp không
    ít khó khăn:
    2
    Về phía giáo viên: Do việc dạy học trực tuyến, học qua mạng không phải là
    công việc chúng tôi tiến hành thường xuyên, việc dạy học trực tuyến được các
    nhà trường triển khai để đảm bảo cho học sinh duy trì học tập, đảm bảo học kiến
    thức, kỹ năng các bộ môn, nhất là học sinh cuối cấp, khi bắt tay thực hiện, khá
    nhiều giáo viên lúng túng về kỹ thuật thực hiện. Có nhiều nguyên nhân, song chủ
    yếu vẫn là khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học ở nhiều giáo viên
    còn hạn chế, việc phối kết hợp sử dụng các phần mềm học trực tuyến chưa thông
    thạo dẫn đến việc thực hiện chưa hiệu quả.
    Nhiều giáo viên cảm thấy việc chuẩn bị bài giảng cho dạy học trực tuyến khó
    và vất vả hơn rất nhiều so với học trực tiếp, khả năng tương tác giữa thầy và trò
    thông qua phần mềm trực tuyến chưa cao dẫn đến tâm lý sợ học sinh nhàm chán
    hoặc giảng dồn dập khiến các em bị đuối, không nắm bắt hết nội dung kiến thức.
    Về phía học sinh: Mặc dù khả năng thích ứng của các em trong việc ứng dụng
    công nghệ thông tin để tiếp cận những bài giảng của giáo viên là rất tốt nhưng với
    môi trường học tại nhà, không có ai quản lý nên rất dễ dẫn đến việc học bị xao
    nhãng, không tập trung.
    Qua nhiều lần trao đổi với các đồng nghiệp khác tôi nhận thấy có nhiều em
    học sinh cảm thấy việc học online mệt mỏi, không hiệu quả dẫn đến việc học chỉ
    mang tính hình thức, chống đối. Việc không có sự tương tác trực tiếp với giáo
    viên, bạn bè cũng có thể gây ra tâm lí chán nản hoặc không tập trung. Nhiều em
    học sinh thụ động, có thể chỉ tham gia chứ không học, đôi khi lấy lý do là camera
    hỏng hoặc mic có vấn đề.
    Trong quá trình giảng dạy trực tuyến ban đầu, mặc dù là một giáo viên trẻ và
    cũng thường xuyên tìm hiểu về công nghệ thông tin nhưng tôi cũng đã không
    tránh khỏi sự lúng túng trong việc lựa chọn và kết hợp những công cụ hỗ trợ giảng
    dạy trực tuyến một cách hiệu quả. Máy móc hay công nghệ nào đi nữa cũng chỉ
    là một công cụ vô hồn nếu người dạy không biết cách khai thác nó. Tôi đã luôn
    trăn trở và có nhiều câu hỏi được đặt ra như: Làm sao để tương tác hiệu quả với
    học sinh? Làm sao có thể đánh giá khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh? Giao
    3
    bài tập và quản lý việc hoàn thành bài tập của học sinh như thế nào? Và làm sao
    để có thể hỗ trợ các em ? để kịp thời động viên hoặc nhắc nhở? Sau khi xem xét
    tất cả những vấn đề trên, tôi nhận thấy cần phải có một giải pháp có tính ứng dụng
    cao trong việc giảng dạy trực tuyến giữa tình hình dịch bệnh đang còn diễn biến
    phức tạp và kéo dài. Chính vì thế, tôi đã lựa chọn viết sáng kiến về : “Khai thác
    một số công cụ để thiết kế hệ thống câu hỏi tương tác phục vụ dạy học trực
    tuyến”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP:
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
    Đối với việc giảng dạy tiếng Anh, tương tác giữa giáo viên và học sinh đóng
    vai trò rất quan trọng. Tương tác không chỉ dừng lại ở việc sử dụng ngôn ngữ mà
    còn có các yếu tố phi ngôn ngữ như các cử chỉ cơ thể, đặc biệt là việc tiếp xúc
    bằng mắt.
    Thời gian đầu trong mỗi tiết dạy, tôi rất lo không biết học sinh nghe có rõ bài
    giảng không, nói tiếng Anh mà không có những tương tác phi ngôn ngữ như trong
    lớp học truyền thống liệu các em có hiểu không? Và ở mỗi tiết học tôi đều cố gắng
    trình bày mọi thứ rõ ràng nhất và lặp đi lặp lại nhiều lần. Kết quả là sau khi kết
    thúc 2 ca dạy ở trường tôi khàn cả giọng và cảm thấy vô cùng mệt mỏi.
    Khoa học đã chỉ ra rằng cách tốt nhất để học một thứ gì đó là thực hành nó.
    Chỉ bằng cách thực hành những điều chúng ta nghe, chúng ta học thì chúng ta mới
    có thể hiểu và nhớ lại nội dung và kỹ năng chúng ta học được. Tuy nhiên, nhiều
    giáo viên khi dạy học trực tuyến đã bỏ qua phần này và chỉ tập trung vào nội dung
    lý thuyết, truyền thụ kiến thức một chiều (Teacher – Student). Kết quả là học sinh
    rất nhanh quên kiến thức và không phát huy hết khả năng của quá trình học tập.
    Thời gian đầu khi dạy trực tuyến chúng tôi cũng đã tìm cách giao và thu bài
    tập về nhà cho học sinh bằng cách gửi qua địa chỉ mail, tài khoản Zalo hoặc upload
    lên trang nhóm facebook những phiếu bài tập in truyền thống dưới dạng Word
    hoặc Pdf. Sau đó học sinh in ra làm rồi chụp ảnh gửi bài. Điều này mất rất nhiều
    thời gian cho việc: thu bài – chấm trả bài – chữa bài khiến giáo viên cảm thấy vô
    4
    cùng mệt mỏi. Hơn nữa, việc kiểm soát và quản lý quá trình làm bài của học sinh
    cũng như hỗ trợ giải đáp còn nhiều hạn chế.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
    Việc duy trì cảm hứng học tập của học sinh trong dạy học trực tuyến là một
    thách thức lớn vì khi học online học sinh sẽ không nhận được sự hỗ trợ trực tiếp
    từ giáo viên cũng như từ bạn bè trong lớp. Việc đa dạng hóa các hoạt động học
    tập, kết hợp hài hòa các hình thức học tập (kênh hình, kênh chữ, kênh tiếng, các
    trò chơi, thử thách…) giúp cho việc học đỡ nhàm chán, tăng tính tương tác và
    hiệu quả trong việc tiếp thu kiến thức.
    Sau tuần dạy trực tuyến đầu tiên, tôi nghĩ cần phải thay đổi cách tiếp cận việc
    giảng dạy trực tuyến. Tôi tham khảo các trang mạng chia sẻ phương pháp dạy trực
    tuyến cũng như trao đổi với các anh chị đồng nghiệp xem họ làm thế nào để cải
    thiện các buổi dạy kế tiếp. Đồng thời, tôi đọc kỹ hướng dẫn mà Sở Giáo dục cũng
    như nhà trường đã gửi để cố gắng khai thác tối đa các chứng năng có sẵn của các
    công cụ giảng dạy trực tuyến.
    Trong các buổi dạy sau đó, khi đã tương đối thành thạo các chứng năng trên
    giao diện giảng dạy trực tuyến, thay vì chỉ sử dụng chức năng share screen để
    trình chiếu phiếu bài tập cho học sinh làm trong giờ hay giao bài tập về nhà dưới
    dạng file .doc, .pdf, .jpg để các em in ra làm thì tôi đã triển khai nhiều hình thức
    giảng bài, đặc biệt là việc tạo các bài tập tương tác để các em làm ngay trong giờ
    học và sau mỗi tiết học: bài tập ghép câu, ghép từ có sử dụng hình thức kéo thả
    bao gồm cả âm thanh hình ảnh dưới hình thức chơi games hoặc cuộc thi. Việc
    tương tác trực tiếp với bài tập hay việc được tham gia trả lời câu hỏi như trong
    một cuộc thi hay một “gameshow” khiến học sinh của tôi vô cùng hào hứng. Sau
    khi làm xong, học sinh có thể biết ngay điểm của mình, biết những câu mình đã
    làm sai và cần làm như thế nào cho đúng. Các hoạt động này không chỉ giúp học
    sinh chủ động hơn trong việc học mà còn giảm bớt thời gian nói của giáo viên và
    tránh lối thuyết giảng một chiều vốn không phải là đặc trưng của việc dạy tiếng
    Anh. Ngay sau khi học sinh nộp bài, giáo viên có thể đánh giá được ngay phần
    5
    kiến thức nào học sinh còn yếu, phần nào học sinh đã nắm vững để từ đó điều
    chỉnh lại nội dung giảng bài.
    Qua quá trình sử dụng và trải nghiệm một số công cụ hỗ trợ thiết kế bài tập
    cho học sinh, có 2 công cụ tôi thường xuyên sử dụng mang lại hiệu quả cao nhất
    đến thời điểm này và được học sinh hào hứng đón nhận: Quizziz và Wordwall.
    2.1. Tạo đề luyện tập và đề kiểm tra bằng công cụ Quizizz:
    Quizizz là một ứng dụng miễn phí được dùng để kiểm tra kiến thức thông qua
    hình thức trả lời câu hỏi (tự luận – trắc nghiệm). Quizizz có ứng dụng trên cả nền
    tảng IOS và Android. Giáo viên có thể tải về điện thoại hoặc máy tính bảng trên
    Appstore hoặc CH Play.
    Ứng dụng này cho phép tôi tiếp cận ngân hàng câu hỏi đa dạng hoặc có thể tự
    tạo lập bộ câu hỏi phù hợp với mục tiêu kiểm tra đánh giá. Học sinh trong cùng
    một lớp có thể tham gia trả lời câu hỏi trên Quizizz vào cùng một thời điểm do tôi
    quy định. Một điểm tôi thấy ứng dụng này rất hay ở chỗ nó được thiết kế như một
    cuộc thi rất sinh động, thông báo ngay kết quả và thứ hạng của những người tham
    gia trả lời câu hỏi vì thế tạo được hứng thú cho học sinh. Quizizz được tôi áp dụng
    ở rất nhiều tiết học trực tuyến và được phần đông các em ủng hộ. Ngay cả khi học
    offline tại lớp học truyền thống, chưa bao giờ tôi thấy học sinh lại hào hứng, thích
    thú đợi đến lúc được giáo viên giao bài tập đến như thế. Thậm chí khi tôi chưa
    gửi bài tập, học sinh liên tục nhắc và “đòi” được làm bài.
    Quizizz cũng cho phép giáo viên tạo bài giảng tương tác trực tuyến thay cho
    bài giảng Powerpoint, tuy nhiên ở đây tôi chỉ đề cập đến cách ứng dụng Quizizz
    vào soạn thảo và thiết kế bộ câu hỏi tương tác cho học sinh. Thực hiện như sau:
    2.1.1. Đăng ký tài khoản
    Vào trình duyệt: http://quizizz.com/, sau đó lựa chọn SIGN UP và làm theo
    hướng dẫn để lập tài khoản. Có nhiều lựa chọn để lập: đăng nhập với Google,
    Microsoft hoặc đăng ký bằng tài khoản email.
    6
    2.1.1. Thiết kế câu hỏi:
    Có thể tận dụng nguồn tài nguyên sẵn có hoặc tự thiết kế
     Khai thác tài nguyên sẵn có:
    Trên Quizizz có sẵn rất nhiều tài liệu của các giáo viên khác soạn và chia
    sẻ, thầy cô có thể tham khảo để sử dụng.
    Cách tìm kiếm như sau: trên thanh công cụ tìm kiếm chọn SEARCH => Ghi chủ
    đề mà thầy cô muốn tìm kiếm, sau đó tại mục GRADES chọn cấp học phù hợp
    (elementary, middle school, high school, university), mục SUBJECTS chọn môn.
    Ví dụ: tôi tìm kiếm bài tập về Passive voice, bậc THPT, môn tiếng Anh
    Kết quả tìm kiếm hiện ra rất nhiều tài liệu, với mỗi bài Quiz sẽ hiện nội dung chi
    tiết câu hỏi ở bên phải màn hình. Giáo viên có thể vào xem liệu bộ câu hỏi đó có
    phù hợp với học sinh của mình hay không?
    7
    Nếu giáo viên thấy phủ hợp có thể sử dụng luôn bằng cách chọn SAVE, bài tập
    vừa rồi sẽ tự động lưu vào phần LIBRARY.
    Nếu thấy cần chỉnh sửa một vài câu trong bộ đề đó, giáo viên ấn chọn COPY
    AND EDIT:
    8
    Ấn chọn câu hỏi mà thầy cô muốn chỉnh sửa và thực hiện những thay đổi mình
    muốn. Sau khi chỉnh sửa xong, nhấn lệnh SAVE => PUBLISH. Vậy là bộ Quiz
    này đã tự động được lưu lại trong MY LIBRARY. Khi nào cần dùng, tôi chỉ cần
    vào đây để mở tài liệu vừa lưu.
     Tự tạo bộ Quiz
    Trong trường hợp tôi không thể chọn được nguồn tài liệu nào phù hợp, tôi có
    thể tự tạo một bài tập / bài kiểm tra theo các bước sau:
    Bước 1: Đặt tên cho bộ câu hỏi
    Sau khi lập tài khoản và đăng nhập, nhấn CREATE => chọn QUIZ => đặt tên
    cho bộ câu hỏi và lựa chọn môn => Nhấn NEXT.
    9
    Ví dụ: Tôi tạo bộ câu hỏi cho Tiếng Anh 12 – Unit 1 – Grammar, môn tiếng
    Anh.
    Bước 2: Thiết kế câu hỏi
    Có 6 lựa chọn dạng câu hỏi:
    + Multiple choice: trắc nghiệm
    + Checkbox: dạng trắc nghiệm có nhiều phương án trả lời
    + Fill-in-the-blank: Điền vào chỗ trống
    + Poll: Dạng survey thu thập thông tin, ý kiến học sinh
    + Open-ended: Dạng câu hỏi mở
    + Slide: dạng trình chiếu
    10
    Giả sử ở đây tôi chọn Multiple choice ( vào bên trong với mỗi câu hỏi giáo
    viên vẫn có thể chọn lại)
    Sau đó tạo câu hỏi và các phương án trả lời. Bấm OPTION để thay đổi loại
    câu hỏi.
    Bấm ADD IMAGE để thêm ảnh vào câu hỏi hoặc đáp án
    Bấm chọn đáp án đúng
    Bấm TIME ALLOTTED TO SOLVE THIS QUESTION để thiết lập thời gian
    trả lời cho câu hỏi (thấp nhất là 5 giây và cao nhất là 15 phút)
    Bấm SAVE để lưu câu hỏi
    11
    Tương tự với các câu hỏi còn lại.
    Bước 3: Hoàn thiện thông tin chi tiết bài Quiz
    Sau khi hoàn thành các câu hỏi cho bài kiểm tra tôi có thể cài đặt một số thông
    tin thêm cho bài kiểm tra của mình
    Ấn chọn PUBLISH
    Tại đây tôi có thể thiết lập:
    + Add a title image: Thêm ảnh cho tiêu đề của bài kiểm tra
    + Select language: Chọn ngôn ngữ
    + Select grades: Chọn đối tượng học sinh từ lớp mấy đến lớp mấy
    + Who can see this quiz: Thiết lập cho phép hoặc không cho phép người khác
    nhìn bài kiểm tra
    Sau khi hoàn thành các điều chỉnh và câu hỏi cho bài kiểm tra, ấn SAVE.
    Vậy là bộ câu hỏi vừa tạo đã tự động lưu vào MY LIBRARY.
    2.1.3. Giao bài tập và kiểm tra:
    Như hướng dẫn trên thì toàn bộ bài Quiz do tôi vừa tìm trong tài nguyên hoặc
    vừa tạo đã tự động được lưu vào MY LIBRARY.
    12
    Để chọn bài gửi cho học sinh, vào MY LIBRARY.
    Để mời học sinh tham gia sử dụng Quiz trực tiếp ngay trong tiết học , tôi chọn
    PLAY LIVE. Nếu dùng để giao bài tập về nhà chọn ASSIGN HOMEWORK
     Làm trực tuyến: LIVE QUIZ
    Ở đây giáo viên có thể chọn 3 hình thức chơi:
    + Teams: Đội (tổ chức trực tiếp trên lớp)
    + Classic: mỗi người chơi trên 1 thiết bị
    + Test: Thực hiện bài kiểm tra một cách nghiêm túc, yêu cầu đăng nhập để
    làm bài
    Ví dụ ở đây tôi chọn Classic. Có 2 cách để mời học sinh tham gia:
    + Cách 1: Chia sẻ màn hình để học sinh nhìn thấy giao diện của trang Quizizz
    với thông tin mã đăng nhập (học sinh không cần tạo tài khoản mà chỉ cần truy cập
    trang http://joinmyquiz.com/ và nhập mã Code)
    + Cách 2: Chọn OR SHARE VIA… để chia sẻ đường link với học sinh (giáo
    viên copy link và paste vào cửa sổ chat để gửi cho học sinh)
    13
    Đợi học sinh vào đủ ấn START
    Trong quá trình học sinh trả lời câu hỏi tôi có thể theo dõi số lượng học sinh
    đang tham gia làm bài, học sinh nào trả lời chính xác, nhanh nhất; học sinh nào
    còn làm chậm và sai nhiều
    14
    Sau khi tất cả học sinh hoàn thành câu trả lời, tôi có thể xem phân tích của
    Quizizz về phần chơi vừa rồi như tỉ lệ trả lời đúng của cả lớp, câu hỏi nào có nhiều
    học sinh chọn sai nhất, câu hỏi nào học sinh trả lời lâu nhất. Bên dưới giáo viên
    có thể theo dõi tổng quan thống kê tỉ lệ trả lời đúng/ sai của học sinh cả lớp hay
    thống kê theo từng câu hỏi. Ấn chọn REVIEW QUESTIONS để học sinh xem
    từng câu chi tiết để và tôi có thể thực hiện việc nhận xét, chữa bài.
    15
     Giao bài tập về nhà
    Giáo viên vào MY LIBRARY để chọn bài Quiz mình muốn để giao cho học
    sinh về nhà làm, sau đó ấn chọn ASSIGN HOMEWORK.
    Xuất hiện 2 lựa chọn:
    + Custom deadline (cài đặt yêu cầu hạn thời gian nộp bài)
    + No deadline (không yêu cầu hạn thời gian nộp bài)
    Sau khi thiết lập thời gian, nhấn chọn ASSIGN
    Có 3 cách để gửi bài cho học sinh:
    + Sao chép đường link để gửi cho học sinh và phụ huynh bằng cách nhấn chọn
    SHARE LINK và gửi qua nhóm Facebook hoặc Zalo, email…
    + Quizizz cũng cho phép liên kết với Microsoft teams, Twitter, Classroom
    + Yêu cầu học sinh truy cập http://joinmyquiz.com/ và nhập mã code.
    16
    2.1.4. Kiểm tra kết quả và số lượng bài tập nộp về:
    Chọn mục REPORT: Ở đây sẽ xuất hiện tất cả những bài tập mà tôi đã giao
    cho học sinh làm cùng với xếp hạng, tỷ lệ phần trăm câu trả lời đúng, số lần học
    sinh làm bài.
    Ngoài ra, tôi còn có thể gửi kết quả bài làm của học sinh cho phụ huynh qua
    email hoặc in, tải kết quả bài làm dưới dạng file Excel.
    2.2. Tạo đề luyện tập và kiểm tra bằng phần mềm Wordwall:
    Wordwall là một công cụ cho phép giáo viên dễ dàng thiết kế các bộ câu hỏi
    và những bộ câu hỏi đó có thể được tổ chức dưới các hình thức game khác nhau,
    rất hấp dẫn đối với người tham gia. Có rất nhiều hoạt động, trò chơi mà giáo viên
    17
    có thể lựa chọn (18 hoạt động dành cho tài khoản miễn phí). Đây là phần mềm
    thiết kế trò chơi học tập hết sức tuyệt vời, chỉ cần thao tác nhập câu hỏi trong vài
    phút là tôi đã có thể tạo ra nhiều trò chơi học tập rất hấp dẫn và cuốn hút học sinh.
    Tôi thường hay sử dụng Wordwall để thiết kế các hoạt động khởi động đầu
    giờ hoặc dạy từ mới, ôn tập từ vựng, ngữ pháp. Điểm hấp dẫn của Wordwall là
    gì?
    – Các bài tập được tạo ra bởi Wordwall có tính tương tác cực kỳ cao: màu
    sắc, hiệu ứng âm thanh, hình ảnh rất thú vị.
    – Solgan của Wordwall là: EASY AS 123 nên tôi có thể thoải mái khai thác
    vì thao tác rất đơn giản và dễ hiểu
    – Ngân hàng bài tập khổng lồ do giáo viên trên toàn thế giới chia sẻ là nguồn
    tham khảo vô tận đối với tôi
    – Tôi chỉ cần thiết kế tài nguyên bài tập theo chủ đề bài học, Wordwall sẽ tự
    thiết kế nhiều hoạt động khác nhau
    – Có thể gửi link cho học sinh luyện tập trực tiếp trên lớp hoặc giao bài tập
    về nhà
    – Tất cả các kết quả của học sinh dều được hiển thị tại giao diện kết quả của
    giáo viên, từ đó nắm được khả năng của học sinh
    Không hề nói quá khi nói rằng: Wordwall như món gia vị ngon lành làm cho
    các tiết học trực tuyến của cô trò chúng tôi luôn thú vị. Cách thêm món “gia vị”
    đó như sau:
    2.2.1. Đăng ký tài khoản:
    Truy cập trang chủ: http://wordwall.net/ , nhấn SIGN UP để tiến hành đăng
    ký tài khoản sử dụng: có thể chọn đăng nhập bằng tài khoản Google hoặc đtài
    khoản email khác.
    Điền tất cả thông tin được yêu cầu rồi nhấn SIGN UP để tạo tài khoản là xong.

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Ứng dụng trò chơi trực tuyến Quizizz nhằm tạo hứng thú cho học sinh ôn tập bám sát ma trận đề thi tốt nghiệp THPT để nâng cao điểm tiếng Anh trong kì thi tốt nghiệp THPT

    SKKN Ứng dụng trò chơi trực tuyến Quizizz nhằm tạo hứng thú cho học sinh ôn tập bám sát ma trận đề thi tốt nghiệp THPT để nâng cao điểm tiếng Anh trong kì thi tốt nghiệp THPT

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Kỳ thi tốt nghiệp THPT có ý nghĩa vô cùng to lớn với mỗi học sinh, các
    em phải học thi 6 môn trong đó tiếng Anh là môn bắt buộc. Hầu hết các em đều
    nhận thức được tầm quan trọng của tiếng Anh không chỉ đối với kỳ thi sắp đến
    mà nó còn là một trong những thứ thiết yếu mà mỗi người cần trang bị để có thể
    tìm được công việc tốt. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để học tiếng Anh giỏi và
    đạt điểm thi tốt nghiệp THPT cao. Học tiếng Anh không dễ mà học trong thời kỳ
    dịch bệnh Covid 19 đang diễn biến phức tạp thì càng khó khăn gấp nhiều lần.
    Với vai trò là người đồng hành với các em trong năm học lớp 12 (một năm học
    có tính chất bước ngoặt trong cuộc đời mỗi người) tôi luôn thấu hiểu tâm lý của
    các em lo lắng và sự căng thẳng của các em. Với 16 năm trong nghề và 10 năm
    dạy lớp 12 tôi luôn trăn trở làm thế nào để việc học của các em vừa hứng thú mà
    lại mang lại hiệu quả cao. Xuất phát từ thực tiễn của năm học 2019 – 2020, các
    em học sinh lớp 12 chủ yếu phải học trực tuyến để phòng chống dịch bệnh, khi
    dạy ôn thi tốt nghiệp THPT theo cách truyền thống tôi nhận thấy các em mệt
    mỏi, ít hào hứng và tương tác với nhau và với thầy cô không nhiều. Thật may
    mắn khi tôi biết đến “Quizizz” có ứng dụng trò chơi trắc nghiệm trực tuyến có
    thể kích thích học sinh tham gia vào hoạt động ôn luyện chuẩn bị cho kì thi tốt
    nghiệp THPT. Đó là lý do tôi chọn đề tài:
    “ỨNG DỤNG TRÒ CHƠI TRỰC TUYẾN “QUIZIZZ” NHẰM TẠO
    HỨNG THÚ CHO HỌC SINH ÔN TẬP BÁM SÁT MA TRẬN ĐỀ THI
    TỐT NGHIỆP THPT ĐỂ NÂNG CAO ĐIỂM TIẾNG ANH TRONG KỲ
    THI TỐT NGHIỆP THPT”
    2
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp kỹ thuật trước khi tạo ra sáng kiến
    1.1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Chúng ta không thể phủ nhận vai trò của của môn Ngoại ngữ, đặc biệt là
    môn Tiếng Anh trong cuộc sống hiện đại. Nhất là khi mà Đảng và Nhà nước
    đang xác định “giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Muốn giáo dục Việt Nam hội
    nhập và tiếp cận với nền giáo dục tiên tiến trên thế giới thì khả năng sử dụng
    tiếng Anh trong công việc và giao tiếp phải chuyên nghiệp. Tuy nhiên, nhìn vào
    thực trạng dạy ngoại ngữ của giáo dục nước nhà trong những năm qua cho ta
    thấy nhiều thách thức đang đặt ra cho toàn ngành giáo dục nước nhà. Điều này
    được thể hiện rất rõ trong kết quả thi tốt nghiệp THPT hằng năm. Môn Tiếng
    Anh thường xuyên có tỉ lệ cao nhất về học sinh yếu kém và điểm trung bình
    chung của môn thi Tiếng Anh nhiều năm thấp hơn các môn khác.
    Luật Giáo dục – 2005 (điều 5) quy định “Phương pháp giáo dục phải phát
    huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng
    cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý
    chí vươn lên.” Có thể thấy rõ là muốn học sinh say mê thì giáo viên cần phải tìm
    ra phương pháp tốt để “thắp lên ngọn lửa” học tập trong các em. Khổng Tử đã
    từng nói rằng “biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học không bằng
    say mê mà học”. Theo cách truyền thống khi cho học sinh luyện tập, giáo viên
    thường phát đề trên giấy, yêu cầu các em làm bài ở nhà hoặc trên lớp, sau đó cô
    giáo và cả lớp sẽ lần lượt chữa các câu hỏi trong đề luyện tập. Theo cách này là
    học sinh phải làm chứ chưa thực sự thích làm, không khí học tập buồn tẻ, nhàm
    chám, chưa tạo được môi trường tích cực, có lợi cho học tập. Tôi đã áp dụng
    nhiều kỹ thuật dạy học khác nhau và một trong những kỹ thuật mà tôi rất tâm
    đắc là sử dụng “Quizizz” để tạo hứng thú cho học sinh luyện tập các dạng bài sát
    ma trận trong đề thi tốt nghiệp THPT. Tôi đã sử dụng kỹ thuật này rất nhiều
    trong năm học và theo quan sát thì các em luôn hứng thú đón nhận và thực sự
    thích hình thức luyện tập qua “Quizizz”. Từ việc thích, các em sẽ chủ động và
    3
    lĩnh hội kiến thức dễ dàng hơn, nâng cao kết quả học tập cũng như điểm số trong
    các kì thi.
    Hiện nay, rất cần thiết phải cho giáo viên và học sinh trở nên quen thuộc
    với các kĩ thuật dạy học mới có hiệu quả cao trong việc thực hiện các mục tiêu
    giáo dục. Chính vì vậy, nhằm thỏa mãn những nội dung trên tôi muốn chia sẻ
    kinh nghiệm của mình thông qua sáng kiến này.
    1.2 Mục tiêu tạo ra sáng kiến
    Sáng kiến này nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy học và giúp học
    sinh đạt kết quả cao trong các kỳ thi, đặc biệt là kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ
    thông bằng cách áp dụng công nghệ thông tin một cách hiệu quả để tạo được
    hứng khởi cho người học qua trò chơi trong “Quizizz”. Thông qua các trò chơi
    tạo sự hứng thú say mê trong học tập. Các dạng bài tập được lồng ghép linh hoạt
    vào trong trò chơi mà ở đó học sinh thực hành rất hữu hiệu, phát huy được tính
    tích cực cũng như tạo bầu không khí sôi nổi cho giờ học.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1. “Quizizz” là gì?
    “Quizizz” là một phần mềm ứng dụng trên “website” được dùng để kiểm
    tra kiến thức ở các môn học cũng như kiến thức xã hội thông qua hình thức trả
    lời câu hỏi trong đó trả lời trắc nghiệm được dùng phổ biến nhất. Các câu hỏi
    trắc nghiệm trong “Quizizz” thuộc nhiều danh mục với cấp độ khác nhau để học
    sinh thử sức, đánh giá trình độ của bản thân; hoặc giáo viên, phụ huynh có thể
    truy cập bộ câu hỏi do người khác chia sẻ để sử dụng trong giảng dạy, kèm cặp
    con em mình. Nhìn chung, “Quizizz” phù hợp với cả việc học tại nhà và trên lớp.
    2.2. Tầm quan trọng của phương pháp dạy học dùng “Quizizz”
    Nó là một trong số rất nhiều ứng dụng “trò chơi hóa” nội dung học tập rất
    phổ biến và được yêu thích. Nó được tạo ra dựa trên phương pháp dạy học qua
    trò chơi. Dạy học qua trò chơi là một xu thế của thời đại giúp cho quá trình học
    tập trở nên hứng thú và hiệu quả hơn. Nó khai thác được công nghệ thông tin
    hiệu quả để nâng cao chất lượng dạy học.
    4
    2.3. Đặc trưng cơ bản của dạy học dùng “Quizizz”
    Người học là trung tâm của quá trình dạy học.
    “Quizizz” được định hướng theo ma trận các câu hỏi trong đề thi tốt
    nghiệp THPT. Muốn tạo ra được trò chơi bổ ích thì giáo viên cần nắm rõ ma
    trận, các mức độ tư duy của các loại câu hỏi trong ma trận kỳ thi và chọn lựa
    đưa các câu hỏi phù hợp vào “Quizizz” để trò chơi đúng trọng tâm chứ không
    đơn thuần là trò chơi mang tính giải trí, gây ồn ào không cần thiết.
    “Quizizz” đòi hỏi các hình thức đánh giá đa dạng và thường xuyên
    Người học được luyện tập kiến thức và kỹ năng của mình thông qua “Quizizz”
    Công nghệ hiện đại hỗ trợ và thúc đẩy việc học của người học
    2.4. Vai trò của giáo viên và học sinh trong luyện tập bằng “Quizizz”
    2.4.1. Vai trò của học sinh
    Học sinh tập giải quyết các câu hỏi theo hình thức chơi cá nhân, cặp hoặc nhóm.
    Sau khi hoàn thành các câu hỏi, học sinh giải thích lý do tìm được câu trả lời
    cho câu hỏi.
    Cuối cùng, bản thân học sinh là người đánh giá và được đánh giá dựa trên
    những gì đã thu thập được, dựa trên tính khúc chiết, tính hợp lý trong cách thức giải
    thích lý do tìm ra đáp án của các câu hỏi của các em. Qua đó, học sinh nhìn ra các
    điểm mạnh điểm yếu của mình để có kế hoạch ôn tập và củng cố kiến thức.
    2.4.2. Vai trò của giáo viên
    Khác với phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên chuẩn bị tài liệu
    trên giấy là chủ yếu, trong “Quizizz” GV cần chuẩn bị cả tài liệu giấy và làm
    việc nhiều với máy tính để đưa các câu hỏi vào “Quizizz”. Theo đó, giáo viên
    không dạy nội dung cần học theo cách truyền thống mà từ các câu hỏi trong
    “Quizizz”, dựa trên kết quả thu được từ số câu đúng số câu sai, các phương án
    học sinh trả lời, giáo viên biết chỗ học sinh đã chắc và chỗ kiến thức hay kĩ năng
    học sinh cần được luyện tập thêm.
    5
    Tóm lại, giáo viên không còn giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học
    mà trở thành người hướng dẫn, người giúp đỡ học sinh, tạo môi trường thuận lợi
    nhất cho các em trên con đường luyện tập trước khi thi.
    2.4.3. Vai trò của công nghệ
    Công nghệ đóng vai trò cốt yếu đối với phương pháp dạy học dùng
    “Quizizz”. “Quizizz” là một công cụ học tập dựa trên nền tảng trò chơi, được áp
    dụng trong công nghệ giáo dục tại các trường học. Trò chơi được sử dụng ở đây
    là những câu hỏi trắc nghiệm là chủ yếu, không chỉ là những câu hỏi dạng văn
    bản đơn thuần, người dùng có thể tích hợp thêm hình ảnh và video vào bài. Bản
    chất của “Quizizz” là một website vì thế, người học có thể trả lời những câu hỏi
    thông qua trình duyệt web trên mọi thiết bị có kết nối Internet như điện thoại,
    máy tính cây hoặc “laptop”.
    2.5. Quy trình sử dụng “Quizizz”
    Bước 1: Giáo viên phân tích ma trận đề tham khảo TN THPT
    PHÂN TÍCH MA TRẬN ĐỀ THAM KHẢO TNTHPT
    MÔN TIẾNG ANH – BGD& ĐT
    NĂM HỌC 2020-2021

    Nội dung
    kiến thức
    Câu
    số
    Đơn vị kiến thứcMức độ nhận biếtTổng
    số
    câu
    Nhận
    biết
    Thông
    hiểu
    Vận
    dụng
    thấp
    Vận
    dụng
    cao
    NGỮ ÂM1Phát âm đuôi ed14
    2Nguyên âm1
    3Trọng âm từ 2 âm
    tiết
    1
    4Trọng âm từ 3 âm
    tiết
    1
    5Câu hỏi đuôi1
    6Câu bị động1

    6

    NGỮ PHÁP7Giới từ19
    8So sánh kép1
    9Trật tự của tính từ1
    10Thì ĐT
    (QKTD_QK)
    1
    11Liên từ1
    12Phối hợp thì
    MĐTNTG
    1
    13Rút gọn mệnh đề1
    TỪ VỰNG14Dạng thức của từ110
    15Cụm động từ1
    16Cụm từ đi kèm1
    17Từ vựng theo chủ
    điểm
    1
    18Thành ngữ1
    19Nghĩa của từ trong
    ngữ cảnh cụ thể
    1
    20Từ đồng nghĩa1
    21Từ đồng nghĩa1
    22Từ trái nghĩa1
    23Cụm từ trái nghĩa1
    CHỨC
    NĂNG
    NGÔN
    NGỮ
    24Câu giao tiếp đơn
    giản
    12
    25Câu giao tiếp đơn
    giản
    (quan điểm)
    1
    KỸ NĂNG
    ĐỌC HIỂU
    (ĐIỀN
    KHUYẾT)
    26Nghĩa của từ trong
    văn cảnh
    15
    27Liên từ1
    28Cấu trúc ngữ pháp
    (ĐTQH)
    1

    7

    (B1)
    (171 từ)
    29Lượng từ1
    30Cụm từ đi kèm1
    ĐỌC HIỂU
    1
    (277 từ)
    (B1)
    31Hiểu ý chính văn
    bản
    (tiêu đề đoạn văn)
    15
    32Lấy thông tin cụ thể1
    33Đoán nghĩa từ thông
    qua ngữ cảnh
    1
    34Tham chiếu1
    35Đối chiếu thông tin1
    ĐỌC HIỂU
    2
    (388 từ)
    (C1)
    36Hiểu ý chính văn
    bản
    17
    37Đoán nghĩa từ thông
    qua ngữ cảnh
    1
    38Lấy thông tin cụ thể1
    39Đoán nghĩa từ thông
    qua ngữ cảnh
    1
    40Tham chiếu1
    41Đối chiếu thông tin1
    42Suy luận1
    KỸ NĂNG
    VIẾT
    43Phát hiện lỗi sai
    (thì động từ)
    18
    44Phát hiện lỗi sai
    (từ tham chiếu)
    1
    45Phát hiện lỗi sai
    (Từ hay nhầm lẫn)
    1
    46Chuyển đổi thì động
    từ
    1
    47Câu gián tiếp1
    48Động từ khuyết1

    8

    thiếu
    (hiện tại)
    49Kết hợp câu (câu
    ước)
    1
    50Kết hợp câu (Đảo
    ngữ)
    1
    Tổng số27
    54 %
    10
    20 %
    8
    16%
    5
    10%
    50

    Bước 2: Xây dựng các “Quiz”.
    Dựa trên ma trận, giáo viên sẽ quyết định có thể tạo “Quiz” riêng về các
    chuyên đề ngữ pháp, phát âm, trọng âm, từ vựng, các câu giao tiếp, đọc hiểu và
    đề luyện tập tổng hợp. Dựa vào mục đích, mục tiêu và chuẩn kiến thức, kĩ năng;
    giáo viên sẽ lựa chọn các câu hỏi cần ưu tiên và đưa vào “Quiz”. Nhưng để tạo
    được “Quiz” thì phải tiến hành theo quy trình như sau:
    Đăng ký tài khoản
    Đầu tiên, truy cập vào https://Quizizz.com/. Tại màn hình trang chủ, ấn
    vào nút Get Started để tiến hành đăng ký tạo khoản mới.
    9
    Khi đó sẽ có một cửa sổ mới hiện lên. Tại đây các bạn có thể lựa chọn
    đăng ký tài khoản “Quizizz” mới theo 1 trong 2 cách là đăng ký bằng tài
    khoản Google hoặc bằng Email. Sau khi nhập xong địa chỉ email thì ấn Next để
    chuyển đến màn hình tiếp theo.
    Tiếp theo, “Quizizz” sẽ hỏi các bạn rằng muốn sử dụng ứng dụng vào mục
    đích gì. Các lựa chọn bao gồm sử dụng trong trường học, doanh nghiệp hoặc cá
    nhân. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi sẽ hướng dẫn các bạn sử dụng “Quizizz”
    với vai trò là một người giáo viên nên chúng ta sẽ chọn at a school.
    10
    Ở cửa sổ kế tiếp ứng dụng sẽ hỏi về công việc của các bạn, hãy chọn
    mục Teacher.
    Bước cuối cùng chính là nhập một số thông tin cá nhân của các bạn bao
    gồm danh xưng, họ, tên và mật khẩu. Sau khi nhập đầy đủ các bạn ấn vào
    nút Continue để chuyển đến màn hình quản lý.
    Tạo một bài “Quizizz”
    Sau khi đăng ký thành công thì ứng dụng sẽ chuyển các bạn đến màn hình
    quản lý. Tại đây các bạn có thể truy cập và sử dụng tất cả các chức năng mà ứng
    dụng cung cấp. Để tạo một bài “Quiz” mới, các bạn ấn nút Create ở góc trên
    bên trái màn hình.
    11
    Tiếp theo là bước đặt tên và chọn chủ đề cho bài “Quiz” của chúng ta. Ở
    phần 1 các bạn nên nhập tên phù hợp cho bài “Quiz” còn phần 2 ứng dụng sẽ
    hiển thị danh sách một số môn học, các bạn có thể chọn môn học tương ứng để
    sau này có thể tìm kiếm bộ câu hỏi liên quan trong thư viện chung của ứng dụng
    dễ dàng hơn.
    Một phần không thể thiếu của một bài “Quiz” đó chính là những câu hỏi.
    Sau khi đặt tên xong thì chúng ta có hai cách để tạo câu hỏi là tạo thủ công và
    lấy từ thư viện chung của ứng dụng. Tôi sẽ hướng dẫn các bạn tạo câu hỏi bằng
    cách thủ công trước nên hãy ấn Write your own nhé.
    12
    Câu hỏi trong “Quizizz” sẽ bao gồm 5 thể loại khác nhau là trắc nghiệm,
    hộp kiểm, bình chọn, điền vào chỗ trống và câu hỏi mở. Sau đây thì tôi cùng các
    bạn sẽ tạo từng loại câu hỏi khác nhau.
    Cả 5 loại câu hỏi kể trên đều sẽ có 1 ô input để nhập câu hỏi vào và với nội
    dung câu hỏi thì “Quizizz” hỗ trợ thêm kiểu chữ in nghiêng, gạch chân và tô màu.
    Ngoài ra, các bạn có thể chèn thêm các biểu tượng không thể nhập từ bàn phím như
    biểu cảm, đơn vị tiền tệ,… Đặc biệt hơn, chúng ta có thể thêm hình ảnh và âm
    thanh vào phần nội dung câu hỏi, các bạn chỉ cần tải file từ máy tính lên hoặc dán
    đường dẫn hợp lệ. Lưu ý độ dài tối đa của file âm thanh chỉ là 10 giây. Một câu hỏi
    trong “Quizizz” có tối thiểu là 2 đáp án và tối đa là 5, nếu muốn thêm các bạn chỉ
    cần ấn vào nút Add answer option.
    Đầu tiên, với câu hỏi trắc nghiệm các bạn đơn giản chỉ cần nhập nội dung
    câu hỏi, các đáp án, chọn đáp án đúng và cuối cùng là chọn thời gian để suy
    nghĩ trả lời là xong. Sau khi hoàn tất các bạn nhớ ấn nút Save ở bên dưới.
    13
    Câu hỏi dạng hộp kiểm thì gần như là tương tự với câu hỏi trắc nghiệm,
    chỉ có 1 khác biệt duy nhất đó là người chơi có thể chọn nhiều đáp án một lúc.
    Trong quá trình tạo câu hỏi dạng này thì các bạn nhớ chọn trên 1 đáp án nhé.
    Tiếp theo là câu hỏi dạng bình chọn. Các đáp án trong loại câu hỏi này đều
    được mặc định là đúng và người chơi sẽ được điểm dù chọn bất kì đáp án nào. Nếu
    muốn người chơi có thể chọn nhiều hơn 1 đáp án thì các bạn hãy ấn vào Allow
    multiple selection như hình bên dưới.
    14
    Kế tiếp là loại câu hỏi điền vào chỗ trống, một hình thức của câu hỏi tự
    luận. Người chơi chỉ nhìn thấy câu hỏi và phải tự nhập đáp án vào. Phía dưới
    câu hỏi sẽ là các đáp án được chấp nhận là đúng. Các bạn lưu ý nên ghi nhiều
    đáp án khác nhau để tránh trường hợp người chơi dùng từ đồng nghĩa nhưng hệ
    thống không ghi nhận đó là đáp án đúng. Để thêm một đáp án mới các bạn ấn
    vào Add alternative.
    Cuối cùng là câu hỏi mở. Với loại câu hỏi này, sau khi người chơi nhập
    đáp án vào thì hệ thống sẽ ghi nhận tất cả và cộng điểm cho người chơi đó. Lưu
    ý với dạng câu hỏi này các bạn nên thiết lập thời gian trả lời dài hơn một chút.
    15
    Bên trên tôi đã hướng dẫn các bạn các cách để tạo câu hỏi thủ công. Còn
    nếu muốn sử dụng những câu hỏi có sẵn trong thư viện, các bạn hãy ấn vào
    nút Teleport ở góc phía trên màn hình để truy cập.
    Sau khi ấn vào sẽ có một cửa sổ chạy ra từ phía bên phải màn hình. Ở ô
    input phía trên các bạn có thể nhập và tìm các câu hỏi theo chủ đề. Phía dưới
    bên phải sẽ là các câu hỏi có chủ đề tương ứng được hệ thống đề xuất. Khi thấy
    một câu hỏi phù hợp các bạn rê chuột vào đó và ấn nút ADD, khi đó câu hỏi này
    sẽ tự động được thêm vào bài Quiz của bạn.
    Ngoài 2 cách kể trên thì “Quizizz” còn hỗ trợ việc lấy câu hỏi từ file excel
    chúng ta upload từ máy tính lên. Để thực hiện thao tác này, các bạn ấn vào
    nút Import from spreadsheet ở góc bên phải màn hình.
    16
    Các bạn lưu ý “Quizizz” chỉ có thể nhận dạng được câu hỏi nếu các bạn
    file excel được định dạng theo chuẩn đã được cung cấp sẵn. Tốt nhất là các bạn
    tải file này về xong nhập câu hỏi, đáp án theo mẫu của “Quizizz”, sau đó upload
    file lên.
    Sau khi hoàn thành xong bộ câu hỏi, các bạn ấn vào nút DONE ở góc trên
    bên phải màn hình để lưu bài “Quiz”.
    Lúc này, ứng dụng sẽ yêu cầu chúng ta chọn một hình ảnh để làm hình
    nền cho bài “Quiz”, các bạn có thể tải lên từ máy hoặc dán đường dẫn hợp lệ
    17
    vào. Ngoài ra, bên dưới các bạn còn có thể chọn ngôn ngữ, cấp bậc học phù hợp
    với bài “Quiz” và thiết lập xem bài “Quiz” của bạn là riêng tư hay công khai.
    Bước 3: Tiến hành luyện tập trên “Quizizz”.
    Sau khi tạo xong thì các bạn có thể sử dụng bài “Quiz” theo 3 cách, tương
    ứng với 3 chế độ là Play Live, Assign HW và Practice. Đầu tiên là chơi trực
    tuyến, có nghĩa là nhiều người cùng chơi 1 lúc. Tiếp theo là giao bài tập về nhà,
    tức là các bạn sẽ chọn một mốc thời gian nhất định và yêu cầu học sinh của bạn
    phải nộp bài trước thời hạn đó. Cuối cùng là chế độ luyện tập, chế độ này thì
    không giới hạn số lần chơi và cũng không lưu lại kết quả vào hệ thống. Sau đây
    thì tôi sẽ hướng dẫn các bạn sử dụng chế độ đầu tiên, phù hợp khi lớp học đang
    diễn ra, các bạn ấn vào Play Live

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Giải pháp tăng cường hiệu quả dạy và học trực tuyến môn tiếng Anh trong nhà trường

    SKKN Giải pháp tăng cường hiệu quả dạy và học trực tuyến môn tiếng Anh trong nhà trường

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Hiện nay dạy học trực tuyến đang là hình thức giáo dục phổ biến ở nhiều
    quốc gia. Rất có thể sẽ thay thế các hình thức dạy học truyền thống trong tương
    lai. So với các lớp học truyền thống, khi tham gia các lớp học trực tuyến, người
    học có thể hoàn toàn chủ động về mặt thời gian, không gian học tập. Điều này
    lại càng phù hợp cho những người bận rộn, khó sắp xếp thời gian cho những lớp
    học với khung giờ cố định. Đặc biệt trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19
    thì dạy học trực tuyến lại là lựa chọn tối ưu nhất và ngày càng phát huy nhiều ưu
    điểm nổi bật.
    Trên thực tế, việc dạy học trực tuyến có nhiều lợi ích. Một trong những lợi
    ích đầu tiên của việc học online đó chính là sự tiện lợi. Thay vì phải tìm kiếm một
    địa điểm học và giảng dạy thì người dạy và người học có thể thực hiện ngay tại
    nhà. Giáo viên và học sinh hoàn toàn có thể tương tác trên máy tính bảng hoặc là
    máy tính xách tay đều được. Đồng thời địa điểm học có thể là bất cứ nơi đâu và
    bất cứ lúc nào. Việc học online còn giúp tiết kiệm được thời gian cho cả giáo viên
    và học sinh. Đặc biệt, các phụ huynh không mất thời gian di chuyển, đưa đón con
    và không cần phải lo lắng quá nhiều về việc không thể quản lý con cái.
    Với số lượng lớp học quá đông thì có một số học sinh không thể nhìn rõ
    được chữ trên bảng của cô giáo. Điều này sẽ làm ảnh hưởng lớn đến khả năng
    học tập và tiếp thu của học sinh. Trong khi đó việc lựa chọn đọc online sẽ giúp
    cho tất cả lớp theo dõi toàn bộ quá trình giải bài, và nhìn rõ tất cả nội dung.
    Việc học trực tuyến sẽ làm tăng tính linh hoạt trọng quá trình dạy và học.
    Đôi bên có thể ghi lại hình của buổi học ngày hôm đó và xem xét lại nếu cần
    thiết. Điều này giúp giáo viên rút kinh nghiệm cho những bài giảng sau. Song
    song đó, người tham gia cũng có thể xem lại bài giảng bất cứ lúc nào. Lợi ích
    của việc học trực tuyến còn thể hiện ở điểm, cả học sinh và giáo viên đều có thể
    truy cập tìm kiếm tài liệu mở rộng mà không bị giới hạn bên trong giáo trình.
    Điều này sẽ giúp cho các dẫn chứng trở nên phong phú, tăng khả năng tư duy và
    giải quyết vấn đề cho học sinh.
    Chi phí cũng là một trong những vấn đề khiến cho nhiều người lựa chọn
    việc học online. Hầu hết các chương trình trực tuyến đều sẽ có mức giá thành
    phải chăng hơn so với việc lựa chọn học truyền thống. Bên cạnh đó, người học
    còn tiết kiệm được chi phí đi lại hay là chi phí di chuyển, chỉ cần sở hữu một
    2
    chiếc máy tính có kết nối internet thì bạn có thể học tập thoải mái tại nhà. Các
    học sinh có thể thảo luận mà không cần phải ở cùng trong một phòng.
    Lưu trữ tài liệu học tập dễ dàng cũng là một điểm cộng của dạy học trực
    tuyến. Việc có quá nhiều sách vở đôi khi sẽ gây ra những phiền toái nhất định
    cho người học. Học sinh sẽ không thể nhớ hết được mình đã để tài liệu ở đâu.
    Đồng thời nó cũng chiếm mất khá nhiều không gian lưu trữ. Tuy nhiên lợi ích
    của việc học online ở đây là tất cả tài liệu sẽ được gói gọn trong chiếc máy tính
    và người học chỉ cần mở ra tìm kiếm bất cứ lúc nào bạn muốn.
    Dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, không chỉ các trường phổ thông mà hầu
    hết trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam đều đã điều chỉnh phương thức giảng dạy
    từ trực tiếp sang trực tuyến. Đây được xem là giải pháp hữu hiệu trong thời điểm
    này, để đảm bảo an toàn cho học sinh. Nhưng để có được những giờ học
    online chất lượng và thực sự hiệu quả, cần nỗ lực rất lớn của cả thầy và trò.
    Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 còn diễn biến khó lường như hiện nay,
    việc tạm dừng đến trường là một giải pháp vừa để phòng dịch, vừa đảm bảo sức
    khỏe, an toàn cho học sinh. Với tinh thần “tạm dừng đến trường nhưng không dừng
    việc học”, nhiều phụ huynh và thầy cô đã tích cực chuẩn bị hành trang cho con em
    học tập trong tình hình mới, với hình thức dạy và học trực tuyến.
    Đầu tiên phải có phần mềm dạy học, đường truyền mạng tốt; cần thiết bị
    công nghệ của giáo viên và học sinh. Đặc biệt, việc chuẩn bị bài và kỹ năng của
    giáo viên đóng vai trò quan trọng để tạo nên những giờ học online hiệu quả. Ví
    dụ, thầy cô phải có kỹ năng quản lý giờ dạy trên không gian mạng, như điểm
    danh học sinh trước khi bắt đầu tiết dạy, tạo một số trò chơi để khởi động, tạo
    hứng thú học tập cho học sinh.
    Vì sự an toàn của học sinh, toàn ngành Giáo dục đã kích hoạt việc dạy
    học trực tuyến, không tập trung đông người tại trường học nếu dịch bệnh chưa
    được kiểm soát. Thuận lợi của năm học này là cả giáo viên và học sinh đã có
    kinh nghiệm học trực tuyến từ lần dịch đầu năm 2020 nên hầu hết đều không
    gặp bỡ ngỡ trong khi triển khai. Tuy nhiên, không phải khó khăn không còn. Dù
    là giải pháp tối ưu, nhưng dạy học trực tuyến có những hạn chế nhất định như
    thầy trò ít được tương tác trực tiếp, chất lượng tiết học phụ thuộc vào cơ sở hạ
    tầng kỹ thuật, đường truyền mạng, kỹ năng sử dụng công nghệ của giáo viên
    (ngoài vấn đề nghiệp vụ sư phạm). Giáo viên quay video và đưa lên YouTube để
    các em có thể theo dõi. Những học sinh nào không có thiết bị học tập, giáo viên
    3
    đến tận nhà để giao bài tập. Chúng ta có thể đa dạng hóa các phương thức dạy
    học, dạy qua Internet, truyền hình, hay gửi các kho học liệu cho học sinh tự học.
    Nếu giáo viên chủ động, sáng tạo và sự đồng hành của học sinh, phụ huynh thì
    chắc chắn sẽ có cách vượt khó.
    Ngoài ra, quan trọng nhất là phải xây dựng được chương trình dạy học
    trực tuyến bài bản, đáp ứng được khung chuẩn đầu ra cho học sinh theo quy định
    của Bộ GDĐT. Bên cạnh đó, khâu tập huấn kỹ năng, phương pháp dạy học trực
    tuyến cho giáo viên cũng đóng vai trò quan trọng.
    Hiện nay, trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh COVID-19,
    Bộ GDĐT đã chỉ đạo các cơ quan quản lý giáo dục, nhà trường thực hiện các
    giải pháp đẩy mạnh việc dạy – học trực tuyến qua Internet. Đồng thời, hướng
    dẫn xây dựng chương trình, học liệu, tổ chức giảng dạy, đánh giá công nhận kết
    quả và huy động các nguồn lực xã hội hóa tham gia đảm bảo điều kiện cơ sở vật
    chất, nhân lực cần thiết cho việc học online này.
    Hiện nay, trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh COVID-19,
    Bộ GDĐT đã chỉ đạo các cơ quan quản lý giáo dục, nhà trường thực hiện các
    giải pháp đẩy mạnh việc dạy – học trực tuyến qua Internet. Đồng thời, hướng
    dẫn xây dựng chương trình, học liệu, tổ chức giảng dạy, đánh giá công nhận kết
    quả và huy động các nguồn lực xã hội hóa tham gia đảm bảo điều kiện cơ sở vật
    chất, nhân lực cần thiết cho việc học online này.
    Phát biểu tại Hội nghị trực tuyến tổng kết năm học 2020 – 2021, triển khai
    nhiệm vụ năm học 2021 – 2022 đối với giáo dục tiểu học, Bộ trưởng Nguyễn
    Kim Sơn nhấn mạnh: “Ngành giáo dục cần chuyển trạng thái để thích ứng, giảm
    thiểu các tổn thương, tác động tiêu cực đến giáo dục”.
    Bộ trưởng cũng yêu cầu xác định năm học mới việc dạy học trực tuyến
    không còn ở thế tạm thời nữa mà phải xác định dịch COVID – 19 là câu chuyện
    lâu dài để thích ứng. Để đạt hiệu qủa, chất lượng dạy học trong bối cảnh mới đòi
    hỏi người thầy vẫn phải tâm huyết, linh hoạt, phát huy tính chủ động tối đa để
    đạt được mục tiêu về chất lượng.
    Dạy học trực tuyến được coi như một công cụ mới để giảng dạy đòi hỏi
    những thay đổi cơ bản trong các yếu tố của quá trình học tập, đó là: môi trường,
    giáo viên, học sinh và nội dung. Học trực tuyến tại Việt Nam và trên thế giới đã
    trở thành một nhu cầu cần thiết sau khi các trường học đóng cửa vì Covid-19,
    cũng như xu thế của một nền giáo dục mở, linh hoạt trong bối cảnh cuộc cách
    4
    mạng số. Tuy nhiên, việc học tập trực tuyến vẫn đang phải đối mặt với nhiều
    thách thức, bao gồm nhu cầu chưa được đáp ứng về năng lực và kỹ năng công
    nghệ thông tin tiên tiến mà giáo viên yêu cầu phải chuẩn bị, lập kế hoạch, sắp
    xếp và cung cấp chương trình giảng dạy cũng như thực hiện đánh giá bằng các
    công cụ và phương pháp trực tuyến; các quy định về tiêu chí, tiêu chuẩn chất
    lượng chương trình đào tạo trực tuyến mới đang trong quá trình xây dựng, ban
    hành… Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay rất cần tinh thần chủ động, tích cực của
    các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, sự hỗ trợ, tạo điều kiện của cơ quan quản lý các
    cấp, sự tích cực tương tác của người học, sự hỗ trợ của gia đình và xã hội, đặc
    biệt là tinh thần tự học tập, bồi dưỡng, không ngừng vận dụng sáng tạo các kiến
    thức, kỹ năng số của đội ngũ giáo viên trong dạy học trực tuyến, để dạy học trực
    tuyến sẽ trở thành công cụ hữu hiệu góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, tạo
    cơ hội cho người học, hình thành xã hội học tập, học tập suốt đời cho người lao
    động, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam./.
    Trường THPT Trần Hưng Đạo là một trong những trường xây dựng
    chất lượng cao tại tỉnh Nam Định, với sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, sự tin
    tưởng của phụ huynh và đặc biệt là với sức trẻ, với sự năng động sáng tạo, yêu
    nghề của đội ngũ các thầy cô giáo đã tạo nên một địa chỉ tin cậy cho nhân dân
    thành phố Nam Định tin tưởng gửi gắm con em mình. Một trong những yếu tố
    góp phần vào thành công của nhà trường chính là sự tiếp cận nhanh nhạy kịp
    thời với sự phát triển của công nghệ thông tin hiện nay. Cùng với tình hình phát
    triển của dịch bệnh Covid 19 đã đặt ra nhu cầu thực sự cho việc học tập của học
    sinh. Là một giáo viên tiếng Anh, tôi đã tiên phong trong những ngày đầu dạy
    trực tuyến trong nhà trường, tôi cũng đã tích lũy được một số kinh nghiệm từ
    việc dạy học trực tuyến. Từ những lí do trên, tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp tăng
    cường hiệu quả dạy và học trực tuyến môn tiếng Anh trong nhà trường” để
    viết sáng kiến kinh nghiệm với mong muốn được sẻ chia kinh nghiệm, trao đổi
    thông tin giúp trường tôi đang công tác cũng như các trường khác có những giải
    pháp tốt để tăng cường hiệu quả dạy và học trực tuyến trong nhà trường. Tôi hi
    vọng góp phần nâng cao chất lượng dạy của giáo viên và chất lượng học của học
    sinh; đáp ứng nhu cầu học mọi lúc, mọi nơi của học sinh. Giải quyết vấn đề học
    tập của học sinh trong thời kì dịch bệnh hoành hành; định hướng lâu dài cho
    giáo dục của trường THPT Trần Hưng Đạo, phù hợp với mục tiêu đổi mới giáo
    dục hiện nay.
    5
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    1.1. Thực trạng việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy và học tại
    trường THPT Trần Hưng Đạo
    Nhiều năm trước, việc triển khai ứng dụng CNTT cho thấy: Phần lớn giáo
    viên mong muốn, hứng khởi ứng dụng CNTT trong dạy học, một số lại tỏ ra
    bình thường và không thích. Tuy vậy, trong quá trình triển khai nhiều giáo
    viên còn gặp khó khăn bởi hạn chế các kĩ năng như soạn thảo văn bản,
    PowerPoint, Internet, nhiều giáo viên chưa đủ điều kiện kinh tế để sắm được
    máy tính, máy in, có giáo viên còn nhận thức mơ hồ về CNTT, lúng túng khi sử
    dụng máy tính và các phần mềm, chưa biết khai thác mạng Internet để hỗ trợ đắc
    lực vào việc tìm kiếm tài liệu bổ sung giáo án.
    Mặt khác cũng không hiếm tình trạng giáo viên lạm dụng
    mạng Internet để khai thác thiếu tích cực giáo án của đồng nghiệp. Sao chép sửa
    chữa không phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện dạy học của chính mình. Và hệ
    quả tất yếu của sao chép là giáo viên không chỉ thụ động, lười nghiên cứu bài
    giảng, hiệu quả giảng dạy giảm rõ rệt.
    Công tác tập huấn cho giáo viên để ứng dụng CNTT vào giảng dạy cũng
    không được triển khai theo định kỳ, thậm chí bỏ ngỏ. Trong khi đó, để giáo viên
    ứng dụng thành thạo CNTT, soạn thảo thành thạo giáo án điện tử … luôn đòi hỏi
    giáo viên tự học tập nghiên cứu và được các chuyên gia trong lĩnh vực tập huấn,
    giảng dạy thường xuyên. Trong thời gian đó, nhà trường đã triển khai đào tạo,
    bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên, song mới chỉ dừng lại ở xóa mù kiến thức tin
    học. Cũng chính bởi những nguyên nhân chính này mà việc đổi mới PPDH bằng
    ứng dụng CNTT, giáo án điện tử vẫn chỉ dừng lại ở việc khuyến khích, động
    viên giáo viên sử dụng thay vì trở thành quy định, chỉ tiêu, điều kiện phải đáp
    ứng khi giáo viên lên lớp.
    Một vài năm trở lại đây lãnh đạo nhà trường đã xác định: Sử dụng CNTT
    thành công cụ dạy học hữu ích trong nhà trường. Để ứng dụng CNTT vào hoạt
    động giảng dạy giúp nâng cao hiệu quả giáo dục đòi hỏi mỗi giáo viên phải đáp
    ứng được những năng lực cần thiết. Giáo viên ngoài hiểu biết về lợi ích, hiệu
    quả của CNTT mang đến trong dạy học cần phải biết cả những khó khăn, hạn
    chế để tìm cách khắc phục, xử lý và sử dụng một cách hiệu quả nhất. Quá trình
    ứng dụng CNTT vào giảng dạy hết sức tránh tình trạng đổi mới phương pháp
    6
    dạy học nhưng giáo viên chưa nghiên cứu kỹ, dẫn tới ứng dụng không đúng chỗ,
    không đúng lúc và thậm chí lạm dụng công nghệ.
    Các tổ chuyên môn luôn xác định rằng: Dù công nghệ có hiện đại đến
    đâu, song yếu tố quyết định đổi mới phương pháp giảng dạy qua CNTT vẫn là
    khả năng, sự sáng tạo linh hoạt của các thầy cô. Có những bài giảng sẽ sinh
    động và giúp HS hứng thú với học tập, tiếp thu nhanh hơn nếu khai thác được
    hình ảnh trực quan, thông tin mới cập nhật… qua CNTT. Song có những bài học
    lại hiệu quả hơn học sinh nếu thầy cô áp dụng phương pháp giảng dạy truyền
    thống hoặc thông qua giáo dục trải nghiệm. Ứng dụng CNTT vào dạy học thực
    sự cần thiết và mang tới hiệu quả hơn ở tất cả các bộ môn trong nhà trường. Và
    các thầy cô luôn nhận thức vấn đề quan trọng, cần thiết trong ứng dụng công
    nghệ thông tin vào giảng dạy bên cạnh đòi hỏi năng lực của người thầy khi sử
    dụng còn là sự sáng tạo linh hoạt để biến công nghệ thông tin thành lợi thế hiệu
    quả thay vì cứng nhắc, hoặc sử dụng cho đủ.
    Nhà trường yêu cầu tối đa mỗi giáo viên phải thực hiện tối thiểu 30 tiết
    dạy có sử dụng công nghệ thông tin mỗi học kỳ, có đăng ký và có giám sát của
    Ban thi đua, từ nó tạo được phong trào nghiên cứu, tự học, sử dụng CNTT mạnh
    mẽ trong nhà trường.
    Tổ Ngoại ngữ – trường THPT luôn đi đầu trong việc sử dụng CNTT trong
    dạy học, với đặc thù môn học, các giáo viên ngoại ngữ thuận lợi hơn so với các
    bạn đồng nghiệp tại các tổ khác vì có sẵn ngôn tiếng Anh trên nền tảng CNTT.
    1.2. Thực trạng việc dạy học trực tuyến tại trường THPT Trần Hưng
    Đạo trước thời điểm dịch bùng phát
    Qua khảo sát cho thấy việc quan tâm đến dạy học trực tuyến của giáo viên
    trước khi có dịch Covid 19 còn ở mức độ hạn chế. Rất nhiều giáo viên không
    quan tâm tới hình thức dạy học này, đa số thường bằng lòng với hình thức dạy
    học truyền thống. Việc có suy nghĩ là dạy học trực tiếp đã đủ cho nghề dạy học,
    chính việc bằng lòng với hiện tại đã bỏ lỡ cơ hội học tập nâng cao kiến thức, kĩ
    năng về sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy. Tình trạng này gặp nhiều
    ở các giáo viên lớn tuổi và có khá hơn ở các giáo viên trẻ tuổi, mới ra trường.
    Nguyên nhân là do tuổi tác và sức ì dẫn đến các giáo viên cũng không có nhu
    cầu về áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Mặt khác do học sinh cũng
    chưa có kĩ năng tương tác trực tuyến nên giáo viên thường ngại khó trong việc
    tổ chức lớp học trực tuyến. Học sinh chưa có tinh thần tự học, ý thức tự giác.
    7
    Hầu hết giáo viên còn ở mức độ chưa đạt trong việc sử dụng phần mềm trực
    tuyến để dạy học. Việc thiếu kĩ năng soạn bài hay kĩ năng xử lí tình huống về kĩ
    thuật công nghệ đã tạo nên rào cản cho giáo viên. Tuy nhiên, yếu tố chủ quan
    vẫn là tâm lí bằng lòng với thực tại, tư duy cố hữu, có sao dạy vậy, đã đánh mất
    cơ hội học tập và áp dụng hình thức dạy học mới – dạy học online qua mạng
    internet. Nhưng khi dịch bệnh hoành hành, nhận thức được dạy học trực tuyến là
    nhu cầu cấp thiết, là vấn đề sống còn, vấn đề cốt tử trong nhà trường, lãnh đạo
    nhà trường và đội ngũ giáo viên tự học, tự nghiên cứu, tự tập huấn cho nhau để
    nhanh chóng đưa dạy học trực tuyến thành hoạt động giáo dục thường xuyên, đem
    lại hiệu quả cao và luồng gió mới cho giáo dục tại trường THPT Trần Hưng Đạo.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1. Mục đích nghiên cứu sáng kiến
    Sáng kiến nhằm nghiên cứu thực trạng của việc dạy học sử dụng CNTT,
    dạy học trực tuyến trong trường học đặc biệt là môn tiếng Anh, từ đó chia sẻ các
    giải pháp đã thực hiện trong quá trình dạy học trực tuyến môn tiếng Anh nhằm
    nâng cao hiệu quả của việc dạy trực tuyến trong nhà trường.
    2.2. Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu
    Giáo viên và học sinh trường THPT Trần Hưng Đạo, sử dụng các phương
    pháp biện chứng duy vật như: nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh
    đối chiếu, thống kê, phỏng vấn, trao đổi ý kiến với giáo viên trong tổ, trong
    trường đặc biệt chú trọng phương pháp tích hợp.
    2.3. Những điểm mới của sáng kiến
    Sáng kiến tập trung nghiên cứu các giải pháp, các kinh nghiệm về dạy học
    trực tuyến, từ đó chia sẻ các giải pháp dạy học trực tuyến áp dụng trong trường,
    trong tổ chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trực tuyến đặc biệt
    môn tiếng Anh để học sinh dù không được đến trường nhưng vẫn không bị gián
    đoạn việc học để việc tiếp cận với chương trình giáo dục phổ thông 2018 không
    bị ảnh hưởng.
    2.4. Nội dung sáng kiến
    2.4.1. Các khái niệm
    a) Giải pháp
    Theo A.M. Nezu, C.M. Nezu, and T.J. D’Zurilla định nghĩa “giải pháp là
    cách thức để giải quyết vấn đền hoặc xử lý một tình huống khó khăn” (a means
    of solving a problem or dealing with a difficult situation), theo Từ điển số thì
    8
    giải pháp có nghĩa là: – dt (H. giải: cởi ra; pháp: phép) là cách giải quyết một
    vấn đề khó khăn, như vậy Giải pháp là phương pháp giải quyết vấn đề là cách
    thức, hình thức diễn ra một hành động, khi bệnh dịch hoành hành, khi việc học
    trực tiếp không thể thực hiện hoặc bị gián đoạn thì Bộ Giáo dục và đào tạo, các
    Sở giáo dục, các nhà trường, các cơ sở giáo dục phải đưa ra một cách thức nào
    đó để giải quyết tình hình, đó chính là đưa ra các giải pháp, trong đó có giải
    pháp dạy học trực tuyến.
    b) Dạy học trực tuyến
    Theo GS. TS Lê Quân, Giám đốc ĐHQGHN “dạy học trực tuyến là hình
    thức giáo dục online, giúp chúng ta có thể tiếp nhận thông tin dễ dàng, với các
    phương tiện như: điện thoại, máy tính hoặc máy tính bảng có kết nối Internet.
    Học sinh có thể học tập tại nhà hay bất cứ đâu mà không cần phải tới trường
    học”, như vậy nói rộng ra dạy học trực tuyến (hay còn gọi là e-learning) là
    phương thức học ảo thông qua một máy vi tính, điện thoại thông minh nối mạng
    đối với một máy chủ ở nơi khác có lưu giữ sẵn bài giảng điện tử và phần mềm cần
    thiết để có thể hỏi/yêu cầu/ra đề cho học sinh học trực tuyến từ xa. Giáo viên có
    thể truyền tải hình ảnh và âm thanh qua đường truyền băng thông rộng hoặc kết
    nối không dây (WiFi, WiMAX), mạng nội bộ (LAN). Mở rộng ra, các cá nhân
    hay các tổ chức đều có thể tự lập ra một trường học trực tuyến (e-school) mà nơi
    đó vẫn nhận đào tạo học viên, đóng học phí và có các bài kiểm tra như các trường
    học khác. Thày Quân cũng bày tỏ rằng giáo dục trực tuyến cho phép đào tạo mọi
    lúc mọi nơi, truyền đạt kiến thức theo yêu cầu, thông tin đáp ứng nhanh chóng.
    Học viên có thể truy cập các khoá học bất kỳ nơi đâu như văn phòng làm việc, tại
    nhà, tại những điểm Internet công cộng, 24 giờ một ngày, 7 ngày trong tuần. Kết
    quả học tập của phương pháp học online không thua kém phương pháp học truyền
    thống. Nhiều người cho rằng, dựa vào ưu điểm của phương pháp học online mà
    nhiều người thấy nó dễ đào tạo hơn cách truyền thống.
    Như vậy dạy học trực tuyến, dạy học online, hay e-learning có thể hiểu là
    phương thức dạy và học thông qua sử dụng công nghệ mà vẫn có thể đảm bảo
    chất lượng như dạy và học trực tiếp
    2.4.2. Các giải pháp đã thực hiện để tăng cường hiệu quả dạy và học
    trực tuyến môn tiếng Anh trong nhà trường
    a) Đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị cho việc dạy học
    trực tuyến
    9
    Những ngày đầu dạy học trực tuyến, khó khăn bủa vây giáo viên và học
    sinh. Theo thống kê ban đầu khoảng 20% số học sinh không đủ điều kiện học
    trực tuyến, Ban giám hiệu đã vận động giáo viên và phụ huynh hỗ trợ đồng
    hành, chỉ trong một thời gian ngắn toàn bộ hoc sinh đã đươc trang bị thiết bị để
    tham gia học trực tuyến. Thời gian đầu tại nhà trường, mạng Internet yếu, các
    lớp học chưa đủ smart TV, nhưng ngay sau đó nhà trường đã trang bị các phòng
    học, các tổ chuyên môn các trang thiết bị đầy đủ như camera, máy tính, smart
    TV, cục phát wifi để giúp cho việc kết nối mạng trở nên dễ dàng. Ban giám hiệu
    nhà trường phải mua camera, máy móc, nhà trường nâng cấp đường truyền,
    chuyển đổi sang gói mạng cao cấp tạo nên các phòng dạy học trực tuyến tại
    trường để giáo viên sử dụng. Do dạy trên Zoom với hàng loạt lỗi như bị thoát
    ra, lớp học bị người ngoài vào phá rối, trường THPT Trần Hưng Đạo đã đăng ký
    Office 365 để chuyển sang MS Teams. Nhiều ứng dụng khác trong bộ Office
    365 được các cô giáo tổ Ngoại ngữ sử dụng như MS Sway, Skype, OneNote
    Class Notebook, tải thêm rất nhiều ứng dụng khác để việc dạy trực tuyến hiệu
    quả, như Azota để giao bài và thi trực tuyến, Wordwall hay Quizizz để tạo trò
    chơi. Sau đó, các đồng chí tổ trưởng chuyên môn đã tham gia mua phần mềm
    ZOOM bản quyền với giá ưu đãi để tránh tình trạng gián đoạn khi dạy trực
    tuyến. Các thầy cô, đặc biệt giáo viên dạy Toán, đã mua thêm bảng viết điện tử
    để dễ dàng ghi công thức, giúp học sinh cảm thấy như đang ngồi trước bảng đen
    ở lớp, mua thêm phần mềm đọc sách để phục vụ việc dạy, khai thác phần mềm
    miễn phí Azota để nộp và chấm bài, Classdojo hoặc Seesaw để khen thưởng, trò
    chơi Lucky Number, Quizizz.
    b) Bồi dưỡng đội ngũ sẵn sàng dạy học trực tuyến
    Bên cạnh việc xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị thì bồi dưỡng
    đội ngũ, đặc biệt là bồi dưỡng tại chỗ, mở các lớp tập huấn, tự tham gia các lớp
    tập huấn, thay đổi nhận thức, chuyển đổi thái độ đối với việc dạy học trực tuyến
    là vô cùng quan trọng. Bởi Ban giám hiệu nhà trường nhận định “Tất cả sự
    chuẩn bị cơ sở vật chất sẽ không đạt hiệu quả cao nếu giáo viên không thực sự
    cố gắng phát huy sự sáng tạo, linh hoạt và nỗ lực. Chỉ có đổi mới phương pháp
    tiếp cận và dạy học, học sinh mới cảm thấy học mà như được giải trí, giảm áp
    lực phải học trực tuyến quá nhiều”.
    – Đầu tiên là phải thay đổi về thái độ, nhận thức đối với việc dạy trực
    tuyến, từ đó mới thay đổi được hành động. Các giáo viên nhà trường nói chung
    10
    và giáo viên trong tổ Ngoại ngữ nói riêng phải luôn xác định ngừng đến trường
    nhưng không ngừng học là một trong trong những thử thách mang tính lịch sử,
    cuộc sống luôn có những khó khăn, thử thách và có những tình huống bất ngờ,
    ngoài dự định. Và có khi những ước mơ bị trì hoãn bởi những thử thách, các
    giáo viên đừng mất phương hướng, chìm đắm trong sự oán trách, tâm lý lo âu
    trước dịch bệnh. Cuộc sống phải luôn giữ cho mình sự lạc quan. Trí tuệ và bản
    lĩnh cần thể hiện vào lúc này, chuẩn bị tâm thế thoải mái, tự tin trước mọi khó
    khăn trong đó có việc làm thế nào cho việc dạy học trực tuyến trở nên hiệu quả.
    Giáo viên nên tin tưởng vào những tác động tích cực mà dạy học trực tuyến có
    thể đem lại đối với cuộc sống và nghề nghiệp của mỗi cá nhân, cũng như các cơ
    hội và thế mạnh của nó (Philomina & Amutha 2016). Họ cũng nên có thái độ
    tích cực đối với sự thay đổi, sẵn sàng sử dụng các công cụ và công nghệ mới để
    thích ứng với các tình huống mới. Thái độ tích cực đối với dạy học trực tuyến
    cũng có thể xây dựng cho giáo viên sự tự tin, sự sẵn sàng, kỳ vọng tích cực, khả
    năng tư duy và sáng tạo. Tầm quan trọng của việc giáo viên có thái độ tích cực
    đối với dạy học là cần thiết để giáo viên tiến hành bước tiếp theo của quá trình
    dạy học hiệu quả và truyền cảm hứng cho học sinh trong việc chấp nhận sự thay
    đổi. Thái độ tích cực cũng giúp giáo viên dễ dàng chấp nhận sự thay đổi, tạo ra
    sự thay đổi và chịu trách nhiệm khi đối mặt với khó khăn, phức tạp. Chấp nhận
    thử thách và chịu trách nhiệm giúp tăng khả năng tiếp nhận E-learning của mọi
    người. Niềm tin giữa các giáo viên về lợi ích của dạy học càng lớn, thì họ sẽ có
    cơ hội sử dụng nó càng lớn (khả năng sự dụng chung, chia sẻ nguồn lực, tài liệu,
    công cụ…).
    – Tiếp theo là giáo viên cần sẵn sàng hợp tác, tham gia tập huấn, đam mê

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Thành lập và phát triển mô hình CLB Tiếng Anh

    SKKN Thành lập và phát triển mô hình CLB Tiếng Anh

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, tiếng Anh được coi là một trong những
    chìa khóa quan trọng giúp con người tiếp cận được thông tin, trau dồi kiến thức và hội
    nhập với thế giới. Ngoài hoạt động chính khóa trên lớp – chủ yếu dưới dạng học sinh
    thụ động tiếp thu kiến thức thì học sinh nên được tiếp cận với những phương pháp mới,
    chủ động hơn. Một trong những cách có thể nâng cao khả năng ngoại ngữ của học sinh
    cũng như phát triển các kĩ năng mềm một cách tự nhiên đó là việc tham gia các Câu lạc
    bộ tiếng Anh.
    Ở môi trường Đại học, mô hình Câu lạc bộ được phát triển rộng rãi, đóng vai trò
    quan trọng trong việc phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên, giúp sinh viên có thể tiếp
    cận được với những tiến bộ khoa học cũng như cơ hội nghề nghiệp. Thế nên, việc giúp
    học sinh THPT làm quen với mô hình Câu lạc bộ là vô cùng cần thiết. Theo điều tra
    của chúng tôi về khả năng thích nghi của học sinh THPT chuyên Lê Hồng Phong với
    môi trường Đại học, hầu hết các em đều gặp khó khăn trong việc thi tuyển vào các Câu
    lạc bộ do thiếu kinh nghiệm, cũng như chưa rõ về cách thức hoạt động của các câu lạc
    bộ.
    Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi đề xuất giải pháp để có thể một
    phần nâng cao khả năng tiếng Anh, kỹ năng mềm của học sinh thông qua đề tài
    “Thành lập và phát triển mô hình Câu lạc bộ tiếng Anh”.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Việc tiếp nhận kiến thức một chiều và thiếu những hoạt động thực tiễn, thời gian
    luyện tập các kỹ năng làm cho học sinh giảm dần hứng thú với môn học, chưa kể đến
    khó có thể phát triển các kỹ năng mềm khác.
    Một số học sinh yêu thích hoặc có hứng thú với việc học tiếng Anh, mong muốn
    được cải thiện khả năng tiếng Anh thường lập các cặp, các nhóm để cùng nhau luyện,
    chia sẻ kinh nghiệm học tập, hoặc theo học các diễn đàn, các trung tâm Ngoại ngữ…do
    tâm lý ngại chia sẻ, giao tiếp với thầy cô cũng như bày tỏ nguyện vọng muốn được thầy
    2
    cô giúp đỡ, đồng hành trong quá trình học. Nhưng các mô hình này thường nhỏ lẻ và
    chỉ tồn tại trong thời gian ngắn.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến: (trọng tâm)
    Sau khi tham gia Câu lạc bộ (CLB) tiếng Anh, ngoài việc được luyện các kỹ năng
    nghe, nói, đọc viết thông qua các hoạt động đa dạng, linh hoạt, học sinh còn được hình
    thành và phát triển các kỹ năng mềm, mà tiêu biểu là kỹ năng làm việc nhóm, quản lý
    thời gian, lên kế hoạch, lãnh đạo… Câu lạc bộ tiếng Anh góp phần xây dựng môi
    trường học tiếng Anh chủ động, thân thiện giúp học sinh có thể cải thiện khả năng của
    mình, phát triển bản thân và tạo dựng các mối quan hệ.
    Câu lạc bộ tiếng Anh Flashlight English Club của trường THPT chuyên Lê Hồng
    Phong được thành lập vào ngày 21 tháng 11 năm 2015 với quá trình hình thành, các
    hoạt động nổi bật như sau:
    2.1. Quá trình hình thành CLB tiếng Anh
    Để hình thành CLB tiếng Anh thì ban đầu chúng tôi đã tham khảo một số mô hình
    CLB của các trường Đại học như Ngoại thương, Ngoại ngữ và các trường THPT
    chuyên như Trần Phú, chuyên Ngữ… Sau đó chúng tôi tìm hiểu nhu cầu của học sinh
    trong trường, tham khảo ý kiến của tổ chuyên môn để tìm ra mục tiêu chung, mục tiêu
    cụ thể của CLB, quy trình để tuyển thành viên, tuyển ban thủ lĩnh,… Dưới đây là bản
    kế hoạch thành lập và hoạt động chung của CLB từ những ngày đầu thành lập.
    KẾ HOẠCH THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG
    CÂU LẠC BỘ TIẾNG ANH “FLASHLIGHT”
    NĂM HỌC 2015-2016
    1. MỤC ĐÍCH CỦA CÂU LẠC BỘ
    1.1. Mục đích chung
    – Tạo không khí và môi trường học tập tiếng Anh cho học sinh và giáo viên toàn trường.
    – Nâng cao khả năng nghe và nói tiếng Anh cho học sinh, cải thiện kiến thức của học sinh
    về văn hóa, xã hội của các nước nói tiếng Anh.

    SỞ GIÁO DỤC VA ĐAO TẠO
    TRƯỜNG THPT CHUYÊN
    LÊ HỒNG PHONG
    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
    Nam Định, ngày 25 tháng 08 năm 2015

    3
    – Hình thành và phát triển cho học sinh năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề và sáng
    tạo, năng lực thẩm mỹ, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác và năng lực công nghệ thông
    tin và truyền thông.
    – Thúc đẩy tình đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau giữa học sinh các khối chuyên và không
    chuyên.
    – Phát hiện và bồi dưỡng các học sinh có năng khiếu tiếng Anh.
    1.2. Mục đích cụ thể
    1.2.1. Đối với học sinh chuyên
    – Nâng cao, thành thạo các kĩ năng: thuyết trình, nói, hoạt động nhóm, quản lý thời gian…
    – Cải thiện kiến thức về văn hóa của các nước nói tiếng Anh, tăng hứng thú, say mê đối với
    môn học.
    – Năng động, chủ động, sáng tạo, làm quen với kĩ năng quản lý, điều hành…
    1.2.2. Đối với học sinh các lớp ban D, A1 và A2
    – Làm quen và nâng cao kĩ năng thuyết trình bằng tiếng Anh.
    – Tăng thời lượng sử dụng và hình thành thói quen sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp.
    – Trau dồi, học hỏi kinh nghiệm học tiếng Anh từ học sinh chuyên
    1.2.3. Đối với học sinh các lớp ban A, B và ban C
    – Làm quen với kĩ năng thuyết trình bằng tiếng Anh.
    – Tạo hứng thú học tập môn tiếng Anh, hình thành thói quen sử dụng tiếng Anh trong giao
    tiếp.
    – Hình thành và phát triển một số kĩ năng mềm (giao tiếp, làm việc nhóm, quản lý thời
    gian…)
    – Khám phá và phát triển năng lực của bản thân (nhảy, hát, múa, nấu ăn, đóng kịch, kể
    chuyện…).
    1.2.4. Đối với giáo viên
    – Tạo môi trường, phong trào học tập tiếng Anh.
    – Tăng cường kĩ năng giao tiếp cơ bản.
    – Cải thiện mối quan hệ thầy trò
    2. KẾ HOẠCH THÀNH LẬP
    2.1. Thành phần tham gia
    2.1.1. Ban điều hành
    2.1.1.1. Tổng phụ trách và cố vấn
    – Trần Thị Hà – Tổ phó tổ Ngoại ngữ, nhóm trưởng nhóm tiếng Anh
    2.1.1.2. Chủ tịch
    – Trần Thị Hồng – giáo viên Tiếng Anh
    – Đinh Thị Nga – giáo viên Tiếng Anh
    2.1.2. Thành viên

    SttKhối lớpSố lượng
    1Chuyên35
    2A1, A2, Văn 1 và Văn 220
    3Còn lại40
    4Giáo viên5
    5Tổng100

    2.1.3. Cộng tác viên
    – Trần Nhật Anh – Giáo viên tiếng Anh
    4
    – Trần Đức Ánh – Giáo viên tiếng Anh
    – Trần Thị Phượng – Giáo viên tiếng Anh
    2.2. Quy trình

    SttNội dungThời gianNgười phụ trách
    1Lên kế hoạch, duyệt với Ban Giám Hiệu10-29/08Hồng + Nga
    2Thiết kế Poster, phát tờ rơi, thông báo cho học
    sinh
    29-31/08Hồng + Nga và học sinh
    3Nộp hồ sơ vòng 104/09Hồng + Nga
    4Thông báo kết quả vòng 107/09Hồng + Nga
    5Tổ chức thi vòng 210-11/09Hồng + Nga
    6Thông báo kết quả vòng 212/09Hồng + Nga
    7Tuyển chọn ban lãnh đạo15/9Hồng + Nga
    8Thông báo kết quả tuyển chọn16/09Hồng + Nga
    9Họp ban lãnh đạo, thống nhất nội dung17/09Hồng + Nga
    10Khai mạc câu lạc bộ20/09Hồng + Nga, thành viên

    2.3. Hình thức tuyển chọn
    2.3.1. Đăng kí
    – Nộp hồ sơ theo mẫu có sẵn
    – Số lượng
    + Lớp chuyên: bắt buộc tất cả học sinh phải đăng kí
    + Các lớp không chuyên: tối đa 10 học sinh/lớp
    + Lớp 12: tối đa 5 học sinh/lớp
    2.3.2. Tuyển chọn thành viên

    VòngHình thứcSố lượng
    1Loại hồ sơChọn 60% số lượng hồ sơ đăng kí
    2Phỏng vấn và thi năng khiếu100 thành viên

    2.3.3. Tuyển chọn Ban lãnh đạo
    2.3.3.1. Số lượng và nhiệm vụ

    SttChức vụSố
    lượng
    Nhiệm vụ
    1Phó chủ tịch01– Phối hợp với Chủ tịch điều hành hoạt động của CLB
    – Chỉ đạo các trưởng nhóm thực hiện nhiệm vụ
    – Phụ trách chung các hoạt động của câu lạc bộ
    2Phụ trách về nhân sự02– Đảm bảo mức độ tham gia của các thành viên
    – Tham gia vào quy trình tuyển chọn, đánh giá các thành
    viên
    – Tổng kết các hoạt động của câu lạc bộ theo từng Quý
    3Phụ trách về nội dung
    + Thuyết trình
    + Văn hóa
    + Các hoạt động khác (hát,
    nhảy, múa, đóng kịch…)
    03– Lên chương trình, đảm bảo chất lượng của các mảng
    được giao phó
    – Giúp các thành viên thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của
    các mảng
    – Đánh giá hiệu quả thực hiện của từng mảng
    Phụ trách về truyền thông
    + Fanpage
    – Lên ý tưởng thiết kế trang fanpage của câu lạc bộ
    – Duy trì và phát triển thường xuyên fanpage

    5

    4+ Quảng cáo (poster,
    flyers…)
    + Các hoạt động khác
    (quà, áo đồng phục, dã
    ngoại…)
    03– Thiết kế các poster, flyers, mở rộng mạng lưới hoạt
    động
    – Lên chương trình và thực hiện các hoạt động (thiết kế
    đồng phục, tổ chức dã ngoại…)
    5Thủ quỹ01– Giữ quỹ của câu lạc bộ
    – Đảm bảo minh bạch về thu chi
    – Thường xuyên báo cáo tình hình tài chính cho Chủ tịch

    2.3.3.2. Quy trình

    SttChức vụYêu cầuHình thức tuyển chọn
    1Phó chủ tịch– có khả năng lãnh đạo, quản

    – có tinh thần trách nhiệm cao
    – năng động, sáng tạo
    – lập 01 kế hoạch điều hành CLB
    – thuyết trình kế hoạch đã lập
    – trả lời các câu hỏi tình huống
    2Phụ
    trách
    về nội
    dung
    Thuyết
    trình
    – có kĩ năng thuyết trình tốt
    – có khả năng điều hành
    – có tinh thần trách nhiệm cao
    – thuyết trình về 01 chủ đề trong
    vòng 5 phút (có sử dụng công
    nghệ thông tin)
    – trả lời các câu hỏi của giám
    khảo
    Văn hóa– có kiến thức rộng, đam mê
    về văn hóa
    – sáng tạo
    – có khả năng thu thập, tổng
    hợp thông tin
    – làm bài Quiz về văn hóa
    – viết bài luận về vai trò của Văn
    hóa với việc học tiếng Anh
    Hoạt động
    khác
    – năng nổ, nhiệt tình (ưu tiên
    học sinh trong ban chấp hành
    đoàn, ban văn nghệ)
    – có khả năng tổ chức phong
    trào tốt
    – lên kế hoạch và tổ chức một
    hoạt động ngoại khóa
    3Phụ
    trách
    về
    truyền
    thông
    Fanpage– thành thạo máy tính
    – sáng tạo, nhiệt tình, có trách
    nhiệm
    – làm bài Quiz
    – trả lời phỏng vấn
    Quảng cáo– thành thạo máy tính
    – sáng tạo, nhiệt tình, có trách
    nhiệm
    – thiết kế posters, logo của CLB
    Hoạt động
    khác
    – có trách nhiệm
    – năng động, sáng tạo
    – làm bài Quiz
    – trả lời các câu hỏi tình huống
    4Thủ quỹ– cẩn thận, trung thực
    – có kiến thức về thu chi
    – làm bài Quiz
    – tham khảo ý kiến của giáo viên

    3. KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG
    3.1. Tiêu chí hoạt động
    – Đảm bảo sự tham gia của tất cả các thành viên trong câu lạc bộ ở mọi lĩnh vực.
    – Có đánh giá để đảm bảo tính cạnh tranh và tạo ra áp lực để các thành viên cố gắng.
    6
    – Chia 100 thành viên thành 19 nhóm (mỗi nhóm 5 học sinh), lựa chọn các nhóm, sắp xếp
    thành 2 nhóm lớn, tổ chức các hoạt động song song cho 2 nhóm lớn. Đảm bảo không
    trùng lặp nhóm trong một tuần.
    – Cuối mỗi Quý đều có tổng kết, đánh giá kết quả đạt được trong Quý đó. Đồng thời, cuối
    mỗi Quý sẽ tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực tế, diễn tập (làm hướng dẫn viên du
    lịch cho khách nước ngoài, xử lí các tình huống…)
    – Cuối mỗi học kì, loại và tuyển chọn mới ít nhất 10 thành viên (thông qua kết quả đánh
    giá của Chủ tịch và các thành viên).
    3.2. Tiêu chí đánh giá, xếp loại các thành viên

    SttNội dungTỉ lệNgười đánh giá
    1Chuyên cần20%Phụ trách về nhân sự
    2Tham gia các hoạt động40%– Các thành viên (40%)
    – Chủ tịch (60%)
    3Mức độ tiến bộ40%Chủ tịch

    3.3. Thời lượng
    – 1 buổi/tuần
    – Từ 17h đến 18h30 thứ 3 hàng tuần
    3.4. Nội dung (Quý I – từ 20/09/2015 đến hết 30/01/2016)

    TuầnNội dungPhụ trách
    1Làm quenHồng + Nga và Ban thủ lĩnh
    2Định hướngBan Giám Hiệu, GV tiếng Anh
    3Luyện nghe và nói tiếng Anh theo chủ đềHồng + Nga, các nhóm được phân công
    4Kĩ năng thuyết trìnhHồng + Nga, phụ trách về thuyết trình
    5Kĩ năng thuyết trìnhHồng + Nga, phụ trách về thuyết trình
    6Nhảy hiện đạiHồng + Nga, các nhóm được phân công
    7Luyện nghe và nói tiếng Anh theo chủ đềHồng + Nga, các nhóm được phân công
    8Văn hóa AnhHồng + Nga, các nhóm được phân công
    9Tìm hiểu về các bài hát tiếng AnhHồng + Nga, các nhóm được phân công
    10Văn hóa AnhHồng + Nga, các nhóm được phân công
    Tổng kết các hoạt động Quý IHồng + Nga, Ban thủ lĩnh
    Outing trip 1Các thành viên CLB
    11Giao lưu với ChelseaHồng + Nga, Chelsea
    12Văn hóa AnhHồng + Nga, các nhóm được phân công
    13Thực hành nấu ăn và thuyết trình về các
    món ăn của các nước nói tiếng Anh
    Hồng + Nga, Ban thủ lĩnh
    14Luyện nghe và nói tiếng Anh theo chủ đềHồng + Nga, các nhóm được phân công
    15Văn hóa MỹHồng + Nga, các nhóm được phân công
    16Đóng kịchHồng + Nga, các nhóm được phân công
    17Văn hóa MỹHồng + Nga, các nhóm được phân công
    18Giao lưu với Chelsea + QuizHồng + Nga, Chelsea
    19Văn hóa MỹHồng + Nga, các nhóm được phân công
    20Tổng kết các hoạt động Quý IIHồng + Nga, Ban thủ lĩnh
    Outing trip 2Các thành viên CLB

    7
    4. KINH PHÍ HOẠT ĐỘNG
    – Kêu gọi phụ huynh học sinh các lớp đóng góp.
    – Các thành viên tham gia câu lạc bộ đóng góp
    – Xin kinh phí hỗ trợ của nhà trường.
    5. CƠ SỞ VẬT CHẤT
    Để đảm bảo câu lạc bộ hoạt động hiệu quả, nhóm Tiếng Anh kính đề nghị Ban Giám Hiệu
    nhà trường xem xét và cấp cho Câu lạc bộ:
    – Phòng học: 02 phòng học được đang bị máy tính, máy chiếu và loa
    – 02 Bảng trắng
    – Bút viết bảng: 10 cái
    – Nam châm: 20 cái
    – Ghế (Xuân Hòa hoặc ghế nhựa): 110 cái
    – Tủ đựng đồ: 02 chiếc
    6. PHỐI HỢP THỰC HIỆN
    Ngoài sự điều hành chủ yếu của các giáo viên tiếng Anh, nhóm tiếng Anh đề nghị có sự
    tham gia và phối kết hợp của các thầy cô giáo trong hội đồng chủ nhiệm, các giáo viên trong chi
    Đoàn giáo viên để hoạt động của Câu lạc bộ được diễn ra thường xuyên và hiệu quả.
    7. NỘI DUNG KHÁC
    Để khuyến khích học sinh tham gia và nâng cao hiệu quả hoạt động của câu lạc bộ, nhóm
    Tiếng Anh đề nghị Ban Giám Hiệu nhà trường xem xét việc cấp Giấy chứng nhận cho các học
    sinh hoàn thành tất cả các hoạt động của câu lạc bộ trong một năm và có hình thức khen thưởng
    cho các học sinh tham gia đóng góp tích cực cho câu lạc bộ.
    Trên đây là kế hoạch thành lập và hoạt động câu lạc bộ tiếng Anh FLASHLIGHT của
    nhóm Tiếng Anh-tổ Ngoại Ngữ, kính mong Ban Giám Hiệu Nhà trường quan tâm, phê duyệt và
    tạo mọi điều kiện thuận lợi để Tổ chuyên môn hoàn thành tốt nhiệm vụ.
    Sau khi kế hoạch thành lập và hoạt động của CLB được nhà trường
    duyệt, chúng tôi bắt đầu triển khai các hoạt động tuyển thành viên.
    Đầu tiên, để thu hút sự tham gia của đông đảo học sinh trong trường,
    quảng bá về CLB, chúng tôi phối hợp với một số học sinh để thiết kế poster,
    đăng tin trên trang web của nhà trường. Sau đó, chúng tôi thiết kế các mẫu
    đơn đăng ký tham gia CLB cho thành viên nói chung và phụ trách truyền
    thông, phụ trách nội dung, văn hóa, tài chính…
    8
    Poster tuyển thành viên
    9
    Mẫu đơn tuyển thành viên (mẫu đơn đã được thu hẹp lại để vừa trang)
    APPLICATION FORM
    PART I: PERSONAL INFORMATION

    Full name
    (in Vietnamese)
    Gender
    ClassFacebook (optional)
    Date of birthMobile phone
    (optional)

    PART II: WHO ARE YOU?
    1. Your hobbies and interests
    ……………………………………………………………………………………………………………..
    ……………………………………………………………………………………………………………..
    ……………………………………………………………………………………………………………..
    ……………………………………………………………………………………………………………..
    ……………………………………………………………………………………………………………..
    2. Practice skills
    Level of skill: A (excellent), B (good), C (satisfactory), D (basic)
    Please specify the experience
    Leave the blank space if you don’t have any specific skills

    SkillYes (x)Level of skillExperience
    EnglishListening
    Speaking
    Presentation
    Group work
    Leadership

    3. Your strengths and weaknesses
    – Strengths:
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    – Weaknesses:
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    – How did you do to improve your weaknesses?
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    10
    4. Extra activities
    Extra activities include all activities you used to take part in and you are now, namely clubs,
    organizations, and voluntary work
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    PART III: YOU AND FLASHLIGHT
    1. What do you expect to gain when joining FlashLight?
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    2. What can you contribute to FlashLight?
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    THANK YOU FOR YOUR PARTICIPATION!
    11
    Mẫu đơn tuyển vị trí admin của fanpage (mẫu đơn đã được thu hẹp lại để vừa trang)
    APPLICATION FORM
    (fanpage admin position)
    PART I: PERSONAL INFORMATION

    Full name
    (in Vietnamese)
    Gender
    ClassFacebook (optional)
    Date of birthMobile phone
    (optional)

    PART II: WHO ARE YOU?
    1. Practice skills
    Level of skill: A (excellent), B (good), C (Satisfactory), D (Basic)
    Please specify your experience
    Leave the blank space if you don’t have any specific skills

    SkillYes (x)Level of skillExperience
    Update, write and
    share news
    Upload pictures
    and videos
    Hold games
    Design (fanpage/
    poster, etc.)
    Translate
    information

    2. Experience
    Do you have any working experience as an admin?
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    PART III: YOU AND FLASHLIGHT
    What can you contribute to FlashLight as a fanpage admin?
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………………
    THANK YOU FOR YOUR PARTICIPATION!
    12
    Mẫu đơn tuyển phụ trách về văn hóa (mẫu đơn đã được thu hẹp lại để vừa trang)
    CULTURAL TEST
    ( CULTURAL LEADER POSITION)
    I. British and American Quiz
    Read and circle the correct answer.
    1. The national symbol of the USA is:
    A. Donkey B. Bald eagle C. Elephant
    2. In USA, the Super Bowl is the final in which sport:
    A. Ice hockey B. football C. cricket
    3. The Big Apple is the name for
    A. Los Angeles B. Chicago C. New York city
    4. Britain’s oldest university is
    A. Cambridge B. Oxford C. London University
    5. The national flag of Great Britain is called
    A. Old Glory B. Union Jack C. Union Square
    6. What is the official home of the British family?
    A. Royal Ascot B. The White House C. Buckingham Palace
    7. Which side of the road do the British drive on?
    A. Left B. Right
    8. The legendary Scottish, “haggis”, is primarily made from?
    A. The intestines of a sheep B. The vomit of a cow C. The bowel of a pig
    9. People in UK measure their own weights in
    A. Kilograms and pounds B. Pounds and ounces C. Kilograms and ounces
    10. If you walk into a building in UK, you are
    A. On the first floor B. On the second floor C. On the ground floor
    11. In a pub in UK, one should traditionally tip:
    A. Tip? In a pub? Are you cracker? B. £1 per drink C. 10 %
    12. You ask a Brit the time, and she replies “half nine”. Is the time:
    A. 8:30 B. 4:30 C. 9:30
    13. How many states does the US have?
    A. 40 B. 50 C. 52
    14. The largest minority group in USA is
    A. African-Americans B. Asians C. Native Americans (Indians)
    15. The two main political parties are in USA are
    A. the Democratic and the Republican parties
    B. the Liberal and the Democratic parties
    C. the Liberal and the Republican parties
    16. In USA, thanksgiving celebrate
    A. Harvest B. Spring C. Independence Day
    17. Martin Luther King is famous for:
    A. A civil right leader B. A president C. A sport celebrity
    18. You are invited to a wedding reception that is going to begin at 3:00 pm. What time should
    you arrive?
    A. Anytime—it doesn’t matter. B. At 3:00. C. Between 3:00 and 3:30.
    19. An American tells you that your shirt is nice. What do you say?
    A. “Thank you.”
    B. “No, it’s not that special.”
    C. Don’t say anything because the compliment wasn’t sincere.
    13
    20. New Orleans is the home of which music?

    A. Hip hop
    II. Culture and language
    B. JazzC. Rock

    Write about the importance of culture in learning English (200-250 words).
    ……………………………………………………………………………………………………

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education