Category: TỔNG HỢP

  • SKKN Thiết kế bài tập Nghe hiểu bản tin Tiếng Anh thực tế

    SKKN Thiết kế bài tập Nghe hiểu bản tin Tiếng Anh thực tế

    Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
    Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, tiếng Anh, đặc biệt là kĩ năng nghe là một trong
    những điều kiện quan trọng giúp con người tiếp cận thế giới, hội nhập với xã hội. Trong
    khi đó, học sinh trung học cũng nhận ra tầm quan trọng của việc học kỹ năng nghe.
    Hiện nay, việc sử dụng tài liệu thực tế trong giảng dạy môn Tiếng Anh, đặc biệt là kĩ
    năng giao tiếp ngày càng được chú ý và áp dụng rộng rãi. Xuất phát chính những
    nguyên nhân này, chúng tôi đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học kĩ
    năng nghe thông qua đề tài “Thiết kế bài tập Nghe hiểu Tiếng Anh thực tế”.
    II. Mô tả giải pháp:
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Phương pháp dạy kĩ năng Nghe trong các lớp học tiếng truyền thống ở các trường phổ
    thông thường chỉ là nghe và làm các bài tập trong sách giao khoa. Phương pháp này
    không mang lại hứng thú cho học sinh, do các bài nghe trong sách giáo khoa có nội
    dung xa lạ hoặc không mời mẻ để kích thích nhu cầu nghe và tìm hiểu trong học sinh.
    Từ đó, sự cải thiện về kĩ năng Nghe và hiểu biết chung của học sinh không rõ rệt trong
    quá trình học. Trong bối cảnh trường THPT chuyên Lê Hồng Phong nói riêng và giáo
    dục Việt Nam nói chung, việc dạy kĩ năng Nghe đã được chú trọng và đề cao hơn. Cùng
    với đó trong thời đại công nghệ thông tin, các tài liệu nghe thực tế sẵn có và phong phú,
    có thể sử dụng mang lại nhiều lợi ích và hiệu quả trong việc dạy và học kĩ năng Nghe
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến: (trọng tâm)
    Sau nghiên cứu, người nghiên cứu nhận ra cả học sinh và giáo viên tại trường THPT
    Chuyên Lê Hồng Phong đều có nhu cầu cải thiện kĩ năng Nghe. Nhận thức được những
    ưu điểm của tài liệu thực tế, đa số học sinh và giáo viên đều xem tài liệu thực tế là một
    trong số những tài liệu tiềm năng cho học sinh THPT luyện tập kĩ năng Nghe. Trong
    cuộc sống hàng ngày, học sinh thường tiếp cận với tài liệu nghe thực tế qua các phương
    tiện truyền thông như các chương trình truyền hình TV và các trang web trên Internet.
    Những nguồn tài liệu này, đặc biệt là các trang web trên Intemet được sử dụng bởi giáo
    viên để làm tài liệu cho các bài giảng kĩ năng Nghe trên lớp. Mặc dù vậy, từ vựng, tốc
    2
    độ nói. thời gian tìm kiếm, thiết kế tài liệu và khó khăn trong cơ sở vật chất là những trở
    ngại cho các thầy và trò khi tiếp cận với loại tài liệu này.
    Với những nhu cầu đó của thầy và trò, cùng những điểm hạn chế của tài liệu thực tế
    trong sử dụng thử nghiệm, người nghiên cứu đề xuất một số các giải pháp khắc phục
    với hy vọng giúp học sinh và giáo viên thấy việc học và dạy kĩ năng Nghe hiệu quả và
    hứng thú.
    III. Hiệu quả do sáng kiến đem lại:
    1. Hiệu quả kinh tế (Giá trị làm lợi tính thành tiền):

    2. Hiệu quả về mặt xã hội

    CHAPTER 1. INTRODUCTION
    1.1. Statement of research problem and rationale of the study
    The process of learning any languages is comprised of four different skills, namely
    listening, speaking, reading and writing. These four skills are inextricably
    intertwined, and they always complement one another. Therefore, they should be
    treated on equal terms so that learners can be proficient at using languages.
    However, it is not rare to see that English authentic listening materials are largely
    marginalized in high schools in Vietnam. In most high schools, English teachers
    virtually make light of listening skills, let alone authentic listening materials. As
    the ultimate target of these schools is to enable students to pass the entrance
    English test for university, which do not include listening tasks, students mainly
    concentrate on other skills and realms such as lexico- grammar and reading. The
    recent test structure substantially reduces the time and the opportunities for nonspecialized students to be exposed to authentic learning. In gifted high schools,
    authenticity in listening materials is also limited. Although listening skill is more
    meticulously focused on, teaching and learning this skill are still confined to the
    zeitgeist of utilizing test-oriented materials such as IELTS and FCE practice
    books. These reference books often provide very scripted, stilted and second-rate
    recordings with an air of inauthenticity. Generally, Vietnamese students are
    suffering from a widespread shortage of genuine listening materials, giving rise to
    many serious repercussions. Without the ability to listen effectively, messages are
    likely to be misunderstood. As a result, communication breaks down and the
    sender of message can easily become frustrated or irritated. If there is one skill that
    learners need to master, that is listening. Despite its importance, listening skill has
    secured only a tenuous position in Vietnam’ s curricula, leading to a woeful lack of
    authentic listening materials within Vietnamese academic milieu.
    The scarcity of English authentic listening materials at high schools is nothing
    other than a hindrance to students’ receptive ability to the language. Because of the
    lack of exposure to authentic materials, students will encounter numerous
    difficulties to comprehend them including news, films and music videos. Since
    6
    students are only accustomed to recorded listening tapes, it simultaneously means
    that they practice their listening skill in an inauthentic manner, with formal
    speeches, consistent speed and similar accent. However, in authentic materials, it
    varies from speed, accent and expressions such as slangs and idioms.
    Consequently, several students will find it hard to catch their gist and overall
    meaning.
    Another repercussion is that students are likely to be unnatural and appear too
    academic in daily situations. Indeed, too formal and ingenuine English teaching
    and learning programs in Vietnamese academic environment are negligently
    jettisoning the importance of colloquial phrases and expressions in daily
    conversations. Additionally, these programs fail to erect a sense of daily normality
    in the process of learning English. In a worse case, students will run the risk of
    misunderstanding or mutual intelligibility, even after graduating from high schools.
    Therefore, it is strongly recommended that teachers should integrate teaching
    listening to authentic materials into the curriculum. Each topic of content in
    coursebooks should be complemented with videos or listening records in real- life
    situations that are related to the studying topics, so that students can get used to the
    accents, expressions and the way words are spoken. After each listening material,
    teachers are responsible for checking the understanding of students by asking
    questions. This strategy can be applied to promote students’ general understanding
    of colloquial English, enhance the ability of students to acquire information
    through auditory medium and indirectly improve students’ communication when
    facing a daily situation.
    1.2. Aims
    This study is conducted with a view to recommending high school teachers
    potential news pages to design their own authentic listening exercises for in-class
    lessons, as well as giving them a general idea of designing those exercises via
    sample listening activities designed from the recommended sources.
    The aims are expected to be fulfilled by answering the following question:
    7
    What are proper news sources for designing listening exercises and how to
    design listening activities for those authentic materials?
    1.3. Scope of the study
    Due to time constraint, the research merely focused on designing common
    types of listening exercises based on authentic materials, namely short-answer
    question, Gap filling, Multiple matching and True-False.
    1.4. Significance of the study
    After the study, the researcher hopes to alleviate teachers’ confusion, hence
    hesitation when it comes to designing their own listening tasks for in-class
    activities. Once they are more willing to create their own authentic listening
    exercises, teachers may become less reliant on test-oriented books. Moreover, this
    change in attitude and teaching practice, hopefully, can make a minor contribution
    to directing teaching listening skills trend in high schools, especially those for
    gifted students towards attaching academic lessons to practical circumstances, so
    that students can be better equipped and more confident during daily
    communications with English speakers.
    8
    CHAPTER 2: LITERATURE REVIEW
    In this part, an overview of literature background related to the study is exposed,
    laying the solid foundation for the next parts. Key concepts of news, types of
    listening tasks in some international English proficiency exams and national exam
    for the gifted are meticulously explained.
    2.1. Different types of authentic materials
    2.1.1. News
    News is a term with multiple meanings defined differently from person to person.
    According to Oxford Learner’s Dictionaries news (noun) is defined as follows:
    • new information about something that has happened recently.
    • reports of recent events that appear in newspapers or on television or radio.
    • the news: a regular television or radio broadcast of the latest news.
    • a person, thing or event that is considered to be interesting enough to be
    reported as news.
    In general, the definition of news items is dependent on:
    • The size of community (Reader).
    • Periodicity of the publication (Weekly, Daily).
    • Social character and economic base of the community.
    • Focus of attention or emphasis of the community.
    2.1.2. Talk shows
    A talk show is a television programming or radio programming genre structured
    around the act of spontaneous conversation. A talk show is distinguished from
    other television programs by certain common attributes. In a talk show, one person
    (or group of people or guests) discusses various topics put forth by a talk show
    host. This discussion can be in the form of an interview or a simple conversation
    about important social, political or religious issues and events.
    2.1.3. Podcasts
    9
    A podcast is a recording of audio discussion on a specific topic, like business or
    travel, that can be listened to.
    Podcasts have some typical features as follows:
    • They can be any length, from a 1- minute news snippet, to a 3-hour in-depth
    interview.
    • They can be any frequency, from daily to monthly
    • They can be any format, from simple solo shows up to mammoth, multiperson audio dramas
    • They can cover ANY topic, many of which would never make it onto radio
    2.2. Listening tasks in exams
    2.2.1. IELTS listening tasks
    2.2.1.1. Format
    Section 1: conversation between 2 speakers about everyday situations.
    They will usually be making some kind of booking (e.g. at a restaurant or travel
    agents) or requesting information (e.g. about a membership to a sports club or an
    education course).
    This is the easiest section. Speaker talks quite slowly, making pauses. The key
    information is usually repeated.
    Section 2: a monologue about everyday situations.
    Speaker talks quite slowly, but makes less pauses than in previous section.
    A variety of topics come up, but common things to hear about are explanations of
    tours, such as where you can go, how to book, them and how much they cost, or
    someone on the radio giving advice about something or explaining some charity
    work they have been involved in.
    Section 3: a conversation between up to four people set in an educational or
    training context, e.g. a university tutor and a student discussing an assignment.
    This section is harder than the two previous, speakers discuss topics at a faster pace
    and sometimes use advanced vocabulary.
    Section 4: a monologue on academic subject.
    10
    It is the most difficult section. There is no break in the middle, the speaker talks
    quite quickly and uses a wide range of vocabulary.
    2.2.1.2. Types of questions and purposes
    – Multiple choice: used to test a wide range of skills. The test taker may be
    required to have a detailed understanding of specific points or an overall
    understanding of the main points of the listening text.
    – Short-answer questions: focuses on the ability to listen for concrete facts, such
    as places, prices or times, within the listening text
    – Sentence completion: Sentence completion focuses on the ability to identify the
    key information in a listening text. Test takers have to understand functional
    relationships such as cause and effect.
    – Notes, summary, diagram, table or chart completion: This focuses on the
    main points which a listener would naturally record in this type of situation
    – Matching: assesses the skill of listening for detail and whether a test taker can
    understand information given in a conversation on an everyday topic, such as the
    different types of hotel or guest house accommodation. It also assesses the ability
    to follow a conversation between two people. It may also be used to assess test
    takers’ ability to recognise relationships and connections between facts in the
    listening text.
    – Plan, map, diagram labeling: This type of task assesses the ability to
    understand, for example, a description of a place, and to relate this to a visual
    representation. This may include being able to follow language expressing spatial
    relationships and directions (e.g. straight on/through the far door).
    2.2.2. TOEFL
    2.2.2.1. Format
    In total, candidates listen to four to six lectures and two to three conversations.
    Each lecture lasts three to five minutes and comes with six questions, while each
    conversation lasts about three minutes and comes with five questions. They will
    11
    hear each audio clip only once. The Listening section measures test takers’ ability
    to understand spoken English from English-speaking countries.
    2.2.2.2. Types of questions
    There are three question types: standard multiple choice, multiple answer, and
    Replay in order to :
    – Ask for Main Idea: As each listening passage starts, the narrator will inform you
    of the main topic of the academic talk or dialogue so you have a slight idea of what
    to expect. No matter what the topic is, you should be able to understand what the
    main idea of the passage is.
    – Ask for Detail: The detail type of listening question asks you to identify factual
    information that is stated directly in the passage. Usually the information is given
    to support or expand or provide an example related to the main idea.
    – Ask for purposes: Dialogues, rather than academic talks, mostly use this type.
    The prompt generally asks why one speaker visits the other speaker. So you need
    to be able to understand why the dialogue, what its purpose is, is happening.
    You’re looking for the overall reason for the talk, instead of any detail.
    – Ask for organization: This listening question type will ask a “why” or “how”
    question and is more common to be found after hearing an academic talk. You are
    expected to understand how the passage is organized, why it is presented to you in
    a certain way. Sometimes the question will ask why something was included in the
    talk when it seems to be unimportant or off-topic. It was included for a reason; you
    need to be able to figure out that reason. You might also be asked how something
    functions in relation to what is said before or after it. Maybe it’s being used to
    signal the change to a subtopic or used to set off an example.
    – Ask for implication: Based on what you hear in the listening passage, you should
    be able to decide what logically might happen next, or be able to reason what the
    speaker means – what is implied – by saying or asking something. For this type of
    question, it’s the opinions, feelings, thoughts of the speaker you need to be able to
    understand and not just the factual information. It’s a difficult type, but it’s also not
    12
    used very often.
    2.2.3. CAE
    2.2.3.1. Format
    Part 1 (6 questions) of the paper requires candidates to listen to three brief
    excerpts of conversation and then answer two questions about each of the
    recordings.
    Part 2 (8 questions) features a 3-minute monologue, with candidates being
    required to complete a number of sentence-completion problems using information
    gleaned from the recording.
    Part 3 (6 questions) involves a 4-minute recording of a conversation featuring
    multiple speakers. Candidates will be required to answer questions about both the
    information discussed in the conversation and the speakers themselves (attitude,
    tone, opinion, etc.).
    Part 4 (10 questions), which consists of a series of five, 30-second monologues all
    discussing a central theme. Two tasks are associated with this part.
    2.2.3.2. Types of questions
    – Sentence completion: listening for specific information, stated opinion.
    – Multiple-choice: listening for feeling, attitude, opinion, purpose, function,
    agreement, course of action, gist, detail, etc.
    – Matching: listening for gist, attitude, opinion, main points, speaker purpose and
    feeling; interpreting context.
    2.2.4. CPE
    2.2.4.1. Format
    The C2 Proficiency Listening paper has four parts. For each part candidates have
    to listen to a recorded text or texts and answer some questions. You hear each
    recording twice.
    Part 1: Three short, unrelated recordings lasting approximately 1 minute each.
    13
    Part 2: A monologue or prompted monologue lasting 3–4 minutes. The questions
    are a series of incomplete sentences.
    Part 3: A recording with interacting speakers lasting 3–4 minutes.
    Part 4: Five short, themed monologues, of approximately 35 seconds each. There
    are two multiple-matching tasks. Each multiple-matching task requires the
    selection of the five correct options from a list of eight.
    2.2.4.2. Types of questions
    – Multiple choice – 3 options: listening for gist, detail, function, purpose, topic,
    speaker, addressee, feeling, attitude, opinion, etc.
    – Sentence completion: listening for specific information, stated opinion.
    – Multiple choice – 4 options: listening for opinion, gist, detail, inference.
    – Multiple matching: listening for gist, attitude, main points, interpreting context.
    2.2.5. Vietnam National Exam for gifted students
    The English test in National exam for gifted students usually consists of 3 to 4
    parts. Candidates’ language proficiency is expected to be at C1 and C2 level.
    Common question types:
    – Note completion (similar to section 1 in IELTS)
    – True/ False questions: Listening to a conversation and deciding whether a

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Cạm bẫy sugar daddy- sugababy- Thực trạng và đề xuất một số giải pháp

    SKKN Cạm bẫy sugar daddy- sugababy- Thực trạng và đề xuất một số giải pháp

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH NẢY SINH SÁNG KIẾN:
    Cùng với sự bùng nổ của mạng xã hội, các trào lưu (hot trend) dễ dàng được
    lan truyền, chia sẻ với tốc độ chóng mặt. Các trào lưu này đã tác động đến lối sống,
    phong cách và thẩm mỹ của giới trẻ. Do đó chúng ta cần khuyến khích để giới trẻ
    thực hiện những trào lưu lành mạnh, ý nghĩa. Những trào lưu tích cực như “Dọn rác
    check-in”, “Thách thức mỗi ngày 1 cuốn sách”, Trào lưu chế ảnh mang tên BeLike
    (tạm dịch là “Hãy như tôi”)… hay trong đợt dịch Covid-19, có “Thử thách ở nhà 15
    ngày”, “Thực hiện vũ điệu rửa tay”, “Thử thách đăng ảnh phong cảnh đẹp”… đã
    khuyến khích nhiều người thực hiện. Từ đó tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ, định
    hướng lối sống tích cực, đặc biệt là cho giới trẻ. Tuy nhiên bên cạnh những trào lưu
    tốt, mạng xã hội cũng xuất hiện nhiều trào lưu vô bổ, thậm chí gây tranh cãi vì mức
    độ nhảm nhí và phản tác dụng của nó. Chẳng hạn, trào lưu “tạo sự kiện nhảm nhí
    trên Facebook”; trèo lên tầng cao chụp ảnh tự sướng (selfie); ghép ảnh, đối thoại
    nhảm nhí với người nổi tiếng… Những trào lưu này gây hiệu ứng xấu và bị truyền
    thông lên án. Đặc biệt thời gian gần đây, mạng xã hội thế giới cũng như Việt Nam
    đang xôn xao về hiện tượng “Sugar daddy – Sugar baby”. Nhiều người cho rằng hiện
    tượng này là một hình thức mại dâm trá hình, nhưng cũng không ít người cho rằng
    đây chỉ là một cách tìm kiếm người yêu. Nguyên nhân chủ yếu khiến mối quan hệ
    Sugar daddy – Sugar baby ngày càng phổ biến đó là do sự tha hóa về suy nghĩ và lối
    sống của các “con nuôi”. Họ sẵn sàng bán rẻ danh dự, nhân phẩm của bản thân để
    thỏa mãn những thú vui sang chảnh, xa hoa “nhuốm màu” vật chất.
    Lòng tham không đáy và nhu cầu hưởng thụ chính là nguyên nhân khiến các
    bạn trẻ vẫn “vô tư” biến mình là thành viên của các đường dây mại dâm online.
    Ngược lại, những kẻ dưới mác “bố nuôi”, dùng tiền sai trái để thỏa mãn những nhu
    cầu cá nhân cũng đáng lên án không kém. Những mối quan hệ này có thể để lại
    những hậu quả khôn lường, tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến đánh ghen, lừa đảo, bệnh tật,
    mang thai ngoài ý muốn.
    2
    Theo ông Vũ Tuấn, Giám đốc Sở Thông tin – Truyền thông Tuyên Quang:
    “Chúng ta cần định hướng để giới trẻ sử dụng mạng xã hội một cách hiệu quả, thiết
    thực. Việc khuyến khích lan tỏa trào lưu tích cực tạo hiệu ứng mạnh mẽ trở thành
    hoạt động thiết thực, thường xuyên trong giới trẻ ngày nay”.Chính vì vậy tôi lựa
    chọn sáng kiến“Cạm bẫy sugar daddy- suga baby – Thực trạng và đề xuất một số
    giải pháp”. Đây cũng là hồi chuông báo động với người trẻ và toàn xã hội về một tệ
    nạn đang len lỏi và ngày càng trở nên phổ biến
    Thời gian áp dụng sáng kiến này : Tiến hành trong năm học 2019-2020,năm học
    2020-2021 sẽ tiếp tục tiến hành trong năm học tiếp theo
    Đối tượng áp dụng: Học sinh THPT.
    PHẦN II: MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    I. MÔ TẢ GIẢI PHÁP TRƯỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN
    Một vấn đề cần quan tâm là việc sử dụng điện thoại thông minh, tham gia
    mạng xã hội đối với học sinh hiện nay, theo một khảo sát của Bộ Giáo dục và Đào
    tạo với 2.000 học sinh, sinh viên tại 4 tỉnh, thành Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Thái
    Nguyên, Hải Phòng thì có trên 92% sinh viên và trên 84% học sinh cấp THCS và
    THPT thường xuyên sử dụng mạng xã hội. Về thời điểm truy cập, có tới 45% cho
    biết sử dụng mạng bất kỳ lúc nào và có thiết bị truy cập trong tay.
    Internet, mạng xã hội có nhiều mặt tích cực đối với học sinh trong việc tìm
    hiểu kiến thức; liên kết, chia sẻ, giải trí sau những giờ học tập căng thẳng. Nhưng,
    học sinh sử dụng mạng xã hội cũng đặt ra rất nhiều hệ lụy. Trước hết là có những
    ảnh hưởng lớn đến tâm lý, mất thời gian, mất tập trung trong học tập. Một số học
    sinh do sử dụng quá nhiều nên ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, tình cảm, hình
    thành lối sống ảo. Có những trường hợp vì thiếu văn hóa ứng xử trên mạng xã hội
    dẫn đến phát sinh mâu thuẫn, bạo lực học đường đặc biệt là cạm bẫy ‘’sugar babysugar dady’’dẫn tới những hậu quả khôn lường đối với học sinh có thai ngoài ý
    3
    muốn, mắc một số bệnh lây lan qua đường sinh dục ảnh hưởng tới học tập và tâm lí
    của học sinh.
    Đó là bài toán đặt ra cho mỗi gia đình khi quyết định trao cho con chiếc điện
    thoại thông minh, có thể kết nối internet với đủ thông tin, hình ảnh thượng vàng hạ
    cám đầy hấp dẫn đối với thanh thiếu niên. Nếu trao cho các em một công cụ có thể
    vào mạng dễ dàng mà không có kỷ luật, không kiểm soát thì lợi bất cập hại là điều
    có thể thấy trước và việc sa vào cam bẫy trên mạng xã hội là điều dễ xảy ra. Đây là
    vấn đề nóng và bức xúc trong xã hội.Chính vì vậy việc nghiên cứu cạm bẫy ‘’sugar
    baby- sugar dady’’là rất cần thiết trong công tác tư vấn và giáo dục học sinh. Trong
    quá trình nghiên cứu vấn đề này tôi gặp phải những thuân lợi và khó khăn như sau:
    – Về phía nhà trường THPT Lương Thế Vinh : Ban giám hiệu nhà trường
    cùng các giáo viên trong trường quan tâm đến việc giáo dục ý thức đạo đức học
    sinh. Đặc biệt nhà trường luôn quan tâm tạo điều kiện cho công tác tư vấn tâm lí
    trong nhà trường. Nhà trường đã thích nghi với sự phát triển của công nghệ để
    không quá khắt khe nhưng không để các em sa đà vào mạng xã hội. Nhà trường
    khuyến khích học sinh sử dụng Facebook như một kênh thông tin, giao tiếp lành
    mạnh, nhưng đi kèm với một số quy định mang tính nhắc nhở, răn đe để thuyết phục
    học sinh hơn. Các gia đình cũng đã quan tâm hơn tới việc giáo dục đạo đức học sinh
    -Tuy nhiên khi nghiên cứu vấn đề này tôi còn gặp một số vấn đề khó khăn
    + Về phía gia đình học sinh: Ở nhiều gia đình cha mẹ chưa tìm hiểu và nắm
    bắt được trào lưu ”sugar baby- sugar dady” đã xuất hiện trong giới học sinh nên còn
    chủ quan ít quan tâm, thậm chí lơ là với con cái. Mặt khác ít có thời gian để ý con
    cái cho sử dụng mạng xã hội một cách tự do, không quản lý thời gian và trang mạng
    con sử dụng
    + Về phía nhà trường: Chưa thật sự quan tâm chú trọng giúp học sinh hiểu
    được mối quan hệ ”sugar baby- sugar dady” và tác hại khôn lường của nó.
    + Về phía xã hội: Một số người còn vì lợi ích cá nhân mà dùng thủ đoạn để dụ
    dỗ các em học sinh sa vào cạm bẫy. Một số người có lối sống đồi trụy nhằm thỏa
    mãn nhu cầu cá nhân.
    4
    Do vậy việc tư vấn cho học sinh trong nhà trường nhằm phòng ngừa cạm bẫy
    và hỗ trợ ,can thiệp (khi cần thiết) đối với học sinh đang gặp phải khó khăn để tìm
    hướng giải quyết phù hợp, giảm thiểu tác động tiêu cực có thể xảy ra; góp phần xây
    dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện và phòng, chống tác hại
    của tệ nạn xã hội trong học đường.
    Việc tư vấn cho học sinh trong trường phổ thông cũng giúp hỗ trợ học sinh
    rèn luyện kỹ năng sống; tăng cường ý chí, niềm tin, bản lĩnh, thái độ ứng xử phù
    hợp trong các mối quan hệ xã hội; rèn luyện sức khỏe thể chất và tinh thần, góp
    phần xây dựng và hoàn thiện nhân cách.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI CÓ SÁNG KIẾN
    A. THỰC TRẠNG
    1. ĐẶT VẤN ĐỀ
    Bước sang thế kỷ XXI, kết thúc những năm tháng chiến đấu đầy đau thương,
    Việt Nam ta chính thức bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập dân
    tộc và đổi mới đất nước. Nếu khi xưa toàn dân một lòng kháng chiến, hôm nay nhân
    dân ta tại cùng chung tay dựng đất nước phát triển theo định hướng công nghiệp hóa
    hiện đại hóa đất nước. Hồ Chủ tịch đã căn dặn giới trẻ Việt Nam, đặc biệt là thế hệ
    học sinh trong bức thư gửi các em học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên, những
    lời hết sức chân thành và thuấn nhuần tư tưởng của Bác như sau: “Non sông Việt
    Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang
    để sánh vai cùng các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần
    lớn ở công học tập của các em”. Như vậy, tầng lớp trẻ chính là cốt lõi của sự phát
    triển đất nước, trong đó có một phần rất quan trọng để hình thành nên tư cách của
    thế hệ trẻ, đó là phong cách sống học tập và làm việc trong xã hội, điều đó ảnh
    hưởng rất nhiều đến sự rèn luyện và tu dưỡng phẩm chất đạo đức.
    Phong cách sống có thể hiểu đơn giản là tất cả những gì thuộc về lối sống,
    cách đối nhân xử thế, cách làm việc, học tập của một cá nhân, làm nên cái gọi là
    “thương hiệu” hay nét riêng mà khó có có thể nhầm lẫn giữa nhiều cá thể trong một
    quần thể. Nếu nói về phong cách sống thì có lẽ Hồ Chủ tịch là người có một phong
    cách sống rất riêng và được nhiều người biết đến nhất, bởi sự đẹp đẽ và mẫu mực vô
    5
    cùng của vị lãnh tụ vĩ đại bậc nhất của dân tộc. Phong cách sống của Bác đã trở
    thành tấm gương sáng, vô cùng quý giá để cho lớp lớp thế hệ trẻ học tập và noi theo
    cho đến tận bây giờ và mãi mãi.
    Trong xã hội hiện đại, đa số các bạn trẻ đều có một phong cách sống rất đẹp
    và đáng trân trọng. Đó là phong cách sống có lý tưởng, nề nếp, các bạn rất hăng hái,
    năng động và sáng tạo trong học tập, làm việc. Ham sống, ham học hỏi, yêu Tổ
    quốc, yêu đồng bào, coi trọng tình cảm gia đình, kính trọng thầy cô, chăm chỉ tu
    dưỡng đạo đức, cầu tiến trong học hành và công việc, biết xây dựng mối quan hệ tốt
    đẹp với những người xung quanh, giúp đỡ lẫn nhau khi cần thiết. Giới trẻ là tầng lớp
    có tri thức cao nên việc tuân thủ pháp luật và các chính sách của Đảng, Nhà nước
    được các bạn tiếp thu và thực hiện rất tốt. Tất cả những điều ấy tạo nên một thế trẻ
    thật năng động, bừng sức sống, đó chính là tương lai của đất nước. Đặc biệt đáng
    trân trọng nhất là các bạn rất chăm chỉ bồi dưỡng viên ngọc tâm hồn bằng những
    việc làm đáng quý như tham gia các chương trình tình nguyện giúp đỡ những người
    có hoàn cảnh khó khăn, tích cực tuyên truyền văn hóa giao thông, nhiệt tình năng
    động trong công tác Đoàn – Đội, phấn đấu, gây dựng những câu lạc bộ trẻ trong
    nhiều lĩnh vực, như các câu lạc bộ ngoại ngữ, kỹ năng mềm,… Đó là những môi
    trường vô cùng thích hợp để rèn luyện phong cách sống cũng như những kỹ năng
    cần thiết để giới trẻ có đủ hành trang vào đời. Hơn thế nữa, ngày càng có nhiều bạn
    trẻ có hứng thú đọc sách, đó cũng là một các bồi dưỡng tâm hồn và phong cách sống
    đẹp.
    Tuy nhiên, có một điều đáng buồn là song song với việc đại đa số các bạn trẻ
    có phong cách sống cao đẹp thì cũng tồn tại một số ít lớp trẻ đi ngược lại với phong
    cách sống ấy. Mang trên vai trách nhiệm là trụ cột tương lai của đất nước nhưng họ
    lại có lối sống buông thả, không chịu cố gắng trong học tập và tu dưỡng đạo đức,
    thường ăn chơi, quậy phá, đua đòi làm cha mẹ, thầy cô phải phiền lòng. Thậm chí là
    cố tình chống đối pháp luật, tham gia vào các tệ nạn của xã hội như trộm cắp, bạo
    lực học đường, mại dâm, hút chích ma túy,… Một số khác thì không có ý chí cầu
    tiến, lười biếng, giỏi ăn chơi tiêu pha, nhưng không chịu lao động, dựa dẫm ỷ lại vào
    cha mẹ. Họ thích cuộc sống xa hoa, phù phiếm, thực dụng, ích kỷ, thường có cái
    6
    nhìn tiêu cực về cuộc sống và xã hội, không biết thế nào là yêu thương, bao dung
    người khác, chỉ mong muốn nhận được sự thông cảm mà chưa bao giờ biết cho đi.
    Một bạn trẻ khác thì luôn tự huyễn hoặc mình bằng lối sống mơ mộng, không chịu
    bước ra khỏi vùng an toàn, chỉ biết chôn vùi thanh xuân trong những bộ phim, cuốn
    truyện phi thực tế. Đối với họ việc cố gắng rèn luyện bản thân luôn là những việc
    khó khăn, họ cảm thấy không cần thiết phải làm vậy, đó chính là một sai lầm
    nghiêm trọng, họ đang tự giết chết tâm hồn mình bằng những suy nghĩ thiển cận như
    vậy. Chính vì vậy một số bạn trẻ, trong đó có cả học sinh sa đà vào “ Cạm bẫy sugar
    daddy- sugababy”. Đây là một trào lưu xấu đang thịnh hành ở Việt Nam cũng như
    thế giới. Đây là cạm bẫy mang lại hậu quả khôn lường.
    2. THỰC TRẠNG
    2.1 Nguyên nhân của cạm bẫy ‘’sugar baby- sugar daddy”
    Môi trường sống hình thành nên tính cách con người, điều này là dễ nhận
    thấy. Nhưng nó có can hệ gì tới chuyện nhiều cô gái quyết định trở thành Sugar
    baby,
    Câu trả lời, xét trên góc độ tâm lý học, là có! 1/3 các Sugar baby có vấn đề về
    ám ảnh tuổi thơ.Đương nhiên, điểm chung dễ thấy nhất chính là các cô gái đều ngại
    lao động chân chính nhưng lại khát khao giàu sang. Người ta vẫn bảo không nên
    nghe các cô nàng lười biếng này trình bày, ngụy biện nhưng hãy tạm bỏ qua định
    kiến ấy để thấy được những điểm chung khác của các Sugar baby.
    7
    Theo nghiên cứu của Seeking Arrangement – website khá nổi tiếng trong giới
    “làm mai” các sugar baby với daddy lắm tiền nhiều của: Khoảng 1/3 trong số 12.600
    “bé đường” được phỏng vấn có vấn đề tâm lý do ám ảnh tuổi thơ liên quan tới người
    cha. Họ – một là không biết đến mặt người cha sinh học của mình, hoặc, bị cha bạo
    hành, lạm dụng.
    Năm 2011, Cục Thống kê dân số Mỹ cho biết có tới 24 triệu trẻ em nước này
    đang sống trong hoàn cảnh thiếu vắng người cha. Bên cạnh đó, trẻ em sống trong
    gia đình thiếu vắng người cha có tỷ lệ sống dưới mức nghèo cao gấp 4 lần so với các
    gia đình đủ đầy.
    Cụ thể hơn, trong năm 2015, số gia đình đủ bố và mẹ chiếm 12% tổng số hộ
    nghèo, trong khi gia đình mẹ đơn thân lại chiếm tới 44% số đó.
    8
    Một baby 25 tuổi người Việt đã thừa nhận: Gia đình cô không hề khốn khó,
    bản thân cũng có công việc riêng nhưng vẫn quyết định coi Sugar baby như một
    công việc tay trái. Thời thơ ấu, ả luôn bị bố đánh đập, chửi mắng thậm tệ mỗi lần
    xin tiền đóng học. Khi trưởng thành, nhận được tiền cùng sự ve vuốt từ đàn ông
    bỗng trở thành niềm hưng phấn, an ủi khó bỏ.
    Trên trang Quora, một tài khoản có tên Robyn Lockhart đã trả lời câu hỏi
    “Tại sao một số người phụ nữ lại muốn trở thành Sugar baby?” như sau: “Cha tôi
    đã bỏ mẹ con tôi để đi theo một người phụ nữ khác khi tôi chưa đầy 1 tuổi. Tôi đã
    sống 26 năm mà không nhận được sự quan tâm hay chú ý từ bất kỳ người đàn ông
    nào. Tôi không có bố và suốt thời đi học, cũng chẳng có gã nào thích tôi.
    Tôi không cố gắng đổ lỗi cho hoàn cảnh hay quá khứ của mình, nhưng thật khó để
    từ chối khi lần đầu tiên được đàn ông tiếp cận, dù dưới danh nghĩa một Daddy
    chăng nữa.”
    9
    Trang Trauma.blog cũng đăng tải lời tự sự của Emily (tên nhân vật đã được
    thay đổi) với hoàn cảnh gần tương tự: “Tôi không có bố mẹ và Daddy là nguồn thu
    nhập giúp tôi trang trải cuộc sống suốt những năm Đại học. Daddy của tôi là một
    người đã có gia đình.
    Tôi đã trải qua một cuộc khủng hoảng giá trị bản thân trước khi quyết định từ
    bỏ công việc này. Gian díu với một người đàn ông có vợ con là điều tôi không
    muốn, nhưng tôi chẳng có lựa chọn nào khả thi hơn vào thời điểm đó. Tôi đã dừng
    lại sau khi tốt nghiệp.”
    Đây chỉ là 3 trong rất nhiều câu chuyện thật đằng sau quyết định trở thành
    Sugar baby của nhiều cô gái trẻ. Bản thân họ đều nhận thức được những rủi ro như
    bị hãm hại, bạo hành,… khi tham gia mối quan hệ Sugaring. Nhưng hầu hết đều bất
    chấp, vì tiền, hoặc ngây thơ coi rằng sự xuất hiện của các Daddy chính là niềm cứu
    rỗi cho một tuổi thơ không vẹn toàn.
    Tessica Stebbins – Nhà trị liệu hôn nhân và gia đình, người có nhiều kinh
    nghiệm giúp đỡ các Baby trải qua khủng hoảng sau các mối quan hệ với “bố đường”
    chia sẻ:”Hầu hết các Sugar baby và gái mại dâm đều có những điểm chung: Họ bắt
    đầu những mối quan hệ không mấy lành mạnh này vì tiền, đều không có khả năng
    nhìn nhận đúng đắn về cảm xúc của bản thân cũng như các nhu cầu thực sự cần cho
    cuộc sống của họ.Tôi không khẳng định là tất cả baby và gái mại dâm đều như vậy,
    nhưng phần lớn, tuổi thơ của họ không được phát triển lành lặn về mặt cảm xúc.
    Thiếu cha hoặc mẹ, bị đánh đập thường xuyên hoặc bị bỏ rơi đều là những yếu tố
    khiến con người dễ có phức cảm tự ti. Cũng chính bởi tuổi thơ thiếu thốn tiền bạc,
    hoặc vật chất nên họ càng dễ hài lòng khi nhận được tiền và sự chú ý từ các mối

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Sử dụng mô hình “Lớp học đảo ngược” nhằm nâng cao hứng thú và tính tích cực học tập phần công dân với đạo đức, giáo dục công dân, lớp 10

    SKKN Sử dụng mô hình “Lớp học đảo ngược” nhằm nâng cao hứng thú và tính tích cực học tập phần công dân với đạo đức, giáo dục công dân, lớp 10

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    I.1. Cơ sở lý luận
    I.1.1. Quan điểm đổi mới phương pháp dạy học
    Trong những năm gần đây, Giáo dục và Đào tạo cùng với Khoa học và
    Công nghệ là những nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã
    hội của một quốc gia. Vấn đề đổi mới giáo dục gắn liền với khoa học công
    nghệ đang đặt ra nhiều thách thức cho ngành giáo dục nói chung, đặc biệt là
    đội ngũ nhà giáo tâm huyết không ngừng nghiên cứu để tìm ra những biện
    pháp, hình thức đem lại hiệu quả cao, kích thích khả năng tư duy sáng tạo của
    học sinh nhằm đào tạo ra những thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước có đủ
    tài – trí – lực đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại.
    Từ định hướng chiến lược phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp
    hóa – hiện đại hóa đất nước, căn cứ vào chiến lược phát triển giáo dục của Bộ
    Giáo dục và Đào tạo: “Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục theo hướng
    chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, thích hợp
    với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN gắn với phát triển khoa học và
    công nghệ…” thì giải pháp đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học
    là một trong những giải pháp quan trọng mà ngành giáo dục cần đặc biệt chú
    trọng. Đặc biệt sự phát triển của khoa học công nghệ đã ra đời nhiều mô hình,
    phương pháp dạy học mới (phương pháp bàn tay nặn bột, giáo dục trải
    nghiệm sáng tạo, phân góc, giáo dục STEM…). Học tập hỗn hợp ra đời cùng
    sự phát triển của máy tính, tạo cơ sở cho người học tiếp cận thông tin, truyền
    thông và công nghệ. Học tập hỗn hợp (Blended Learning) có thể hiểu là sự
    kết hợp giữa giảng dạy trực tiếp và cơ hội học tập trực tuyến, bao gồm các mô
    hình: tự do, linh hoạt, xoay vòng.
    Thực hiện chiến lược phát triển giáo dục trong thời đạo công nghệ 4.0,
    giáo viên và học sinh trường THPT đang cố gắng đổi mới phương pháp, hình
    thức giảng dạy các môn học nhằm phát triển năng lực học sinh, đáp ứng yêu
    2
    cầu của con người xã hội chủ nghĩa. Trong các môn học đó có môn Giáo dục
    công dân, bởi đây là một trong những môn học quan trọng nhằm hình thành
    và phát triển nhân cách học sinh.
    I.1.2. Khái niệm lớp học đảo ngược
    Lớp học đảo ngược là một dạng lớp học mà ở đó người học tiếp thu nội
    dung bài học trực tuyến qua việc xem các video bài giảng về lý thuyết và bài
    tập cơ bản ở nhà, còn thời gian trên lớp dành cho việc giải đáp thắc mắc của
    học sinh, làm bài tập khó, thực hành hay thảo luận sâu hơn về kiến thức.
    Với mô hình này, sự tương tác giữa người dạy và người học được cá
    nhân hóa hơn bởi thay vì giảng bài như thường lệ, giáo viên trở thành một
    người hướng dẫn. Học sinh thay vì tiếp thu kiến thức thụ động từ giáo viên sẽ
    tự tiếp cận kiến thức một cách chủ động, tự giác tại nhà.
    Lớp học đảo ngược là một dạng lớp học mà ở đó người học tiếp thu nội
    dung bài học trực tuyến qua việc xem các video bài giảng về lý thuyết và bài
    tập cơ bản ở nhà, còn thời gian trên lớp dành cho việc giải đáp thắc mắc của
    học sinh, làm bài tập khó, thực hành hay thảo luận sâu hơn về kiến thức. Ở
    trong lớp học đảo ngược, sự tương tác và các hoạt động học tập có ý nghĩa
    xảy ra trong thời gian học tập.
    Với lớp học đảo ngược, người học có nhiều cơ hội phát triển năng lực,
    được lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ do tính ưu việt nổi trội của mô
    hình này. Đây là mô hình giáo dục tiên tiến, được ứng dụng dựa trên sự
    phát triển của công nghệ E-learning và phương pháp đào tạo hiện đại.
    Lớp học đảo ngược là xu hướng giáo dục mới trên thế giới, đem lại
    những hiệu quả tích cực và thu hút rất nhiều nhà giáo thử nghiệm và sử dụng
    như là hình thức dạy học chính thức trong nhà trường. Nhờ có sự phát triển
    mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông, hình thức này ngày càng
    dễ dàng thực hiện và khả quan hơn. Các giáo viên chỉ cần ghi lại bài giảng và
    phân phối qua mạng để giảm bớt áp lực do sự mâu thuẫn lớn giữa nội dung
    3
    giảng dạy và thời gian giảng dạy gây nên. Quả thật, đây sẽ là sự “đảo ngược”
    cách dạy truyền thống bấy lâu nay.
    I.1.3. Các hình thức của mô hình lớp học đảo ngược
    – Lớp học đảo ngược căn bản: Học sinh được giao “bài tập” là xem
    video bài giảng hoặc đọc các tư liệu liên quan đến lớp học ngày hôm sau.
    Trong giờ học, học sinh luyện tập những điều chúng học thông qua bài tập
    truyền thống và giáo viên có thời gian để có thể thực hiện “một kèm một”
    thêm cho các em.
    – Lớp học đảo ngược chú trọng thảo luận: Giáo viên giao các video bài
    giảng, cùng với bất kỳ video hoặc bài đọc liên quan đến chủ đề của ngày hôm
    đó, trong đó có YouTube, Google, OML và các nguồn tài liệu khác. Giờ lên
    lớp để bàn luận và tìm hiểu về chủ đề. Đây là một cách tiếp cận hiệu quả cho
    các bộ môn mà nội dung là tất cả mọi thứ – ví dụ như lịch sử, hội họa và tiếng
    anh.
    – Lớp học đảo ngược chú trọng làm mẫu: Chuyên dành cho các môn yêu
    cầu học sinh phải ghi nhớ và lặp lại hành động một cách chính xác – như lớp
    hóa học, vật lý, và tất cả các lớp toán. Tốt nhất là nên có video hướng dẫn để
    học sinh có thể tua đi tua lại để xem. Trong mô hình này, giáo viên sử dụng
    phần mềm thu hình để thể hiện các hoạt động theo cách mà học sinh có thể
    làm theo nhịp độ vừa sức của các em.
    – Lớp học đảo ngược của Faux: EducationDrive có đề cập đến một ý
    tưởng tuyệt vời dành cho các học sinh nhỏ tuổi – những người mà bài tập về
    nhà có thể không phải là một biện pháp phù hợp. Mô hình lớp học này cho
    phép học sinh xem video bài giảng tại lớp – cho chúng xem tài liệu với tốc độ
    phù hợp, còn giáo viên thì có thể di chuyển đến chỗ các em để hỗ trợ theo nhu
    cầu của từng học sinh.
    – Lớp học đảo ngược theo nhóm: Mô hình này thêm vào một nhân tố mới
    giúp các em học sinh học hỏi lẫn nhau. Lớp học bắt đầu như các lớp học đảo
    4
    ngược khác, có video bài giảng và các tài liệu được chia sẻ trước khi buổi học
    bắt đầu. Mọi thứ có sự chuyển đổi khi học sinh đến lớp, ghép nhóm với nhau
    và cùng làm bài tập của hôm đó. Hình thức này khuyến khích các học sinh
    học hỏi lẫn nhau và giúp các em không chỉ học từ câu trả lời đúng mà còn biết
    được cách giải thích với các bạn tại sao câu trả lời đó lại đúng.
    – Lớp học đảo ngược thực tế: Cho các học sinh lớn hơn và trong các
    khóa học, lớp học đảo ngược có thể loại bỏ tính cần thiết của giờ lên lớp. Một
    số giáo sư đại học và cao học có thể chia sẻ video bài giảng cho học sinh, giao
    bài tập và nhận lại bài giải thông qua hệ thống quản lý học tập online, và chỉ
    yêu cầu học sinh đến văn phòng hoặc tham gia các buổi tư vấn riêng theo nhu
    cầu của từng học sinh.
    – Đảo ngược vai trò của giáo viên: Tất cả video tạo ra cho lớp học đảo
    ngược không nhất thiết phải bắt đầu và kết thúc với giáo viên. Học sinh cũng
    có thể sử dụng video để thể hiện khả năng tốt hơn. Chỉ định học sinh ghi lại
    các hoạt động đóng vai của các em để thể hiện năng lực hoặc yêu cầu mỗi
    người tự quay phim bản thân giới thiệu một chủ đề hoặc kỹ năng mới như một
    cách để “chỉ dẫn giáo viên”.
    I.2. Cơ sở thực tiễn
    I.2.1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy và việc
    dạy học trực tuyến trong tình hình mới
    Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, trong đó có đổi mới hình
    thức, phương pháp giảng dạy ngày càng trở thành một yêu cầu tất yếu trong
    thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão trên mọi lĩnh vực của
    đời sống nhằm hướng đến mục tiêu giáo dục thiên niên kỉ là đào tạo một
    con người phát triển toàn diện, một người công dân toàn cầu có kiến thức,
    có kỹ năng, tư duy phê phán, hợp tác. Với lớp học đảo ngược, người học có
    nhiều cơ hội phát triển năng lực, được lĩnh hội kiến thức một cách đầy đủ
    do tính ưu việt nổi trội của mô hình này. Đây là mô hình giáo dục tiên tiến,
    5
    được ứng dụng dựa trên sự phát triển của công nghệ E-learning và phương
    pháp đào tạo hiện đại.
    Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, trong đó có đổi mới hình thức,
    phương pháp giảng dạy ngày càng trở thành một yêu cầu tất yếu trong thời
    đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão trên mọi lĩnh vực của đời
    sống nhằm hướng đến mục tiêu giáo dục thiên niên kỉ là đào tạo một con
    người phát triển toàn diện, một người công dân toàn cầu có kiến thức, có
    kỹ năng, tư duy phê phán, hợp tác.
    Năm 2020, thế giới đánh dấu sự ảnh hưởng sâu sắc của dịch bệnh khi
    COVID-19 diễn ra phức tạp trên toàn cầu. Dịch bệnh đã tác động đến mọi
    mặt của đời sống xã hội, trong đó có hoạt động giáo dục trong các nhà trường,
    các trường học phải tạm thời đóng cửa. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Giáo dục và
    Đào tạo (Công văn Triển khai công tác đào tạo từ ứng phó với dịch COVID-
    19) với quan điểm học sinh không đến trường nhưng không ngừng việc học,
    các nhà trường đã tiến hành dạy học trực tuyến cho học sinh.
    Hiện nay, trước bối cảnh dịch COVID-19 diễn ra hết sức phức tạp trên toàn
    thế giới, việc dạy học trực tuyến ở các cấp học đang được Bộ GD&ĐT xem xét
    chính thức được sử dụng trong các nhà trường. Nên việc sử dụng mô hình Lớp
    học đảo ngược trong dạy học trực tuyến sẽ giúp cho hiệu quả của hoạt động
    này tốt hơn, người học hứng thú và chủ động hơn trong việc tiếp cận kiến
    thức, rèn cho mình được nhiều kỹ năng; giảng viên dành được nhiều thời gian
    trên lớp học (khi giảng dạy theo thời gian thực) để trao đổi, kiểm tra, nắm bắt
    tình hình học tập của học sinh cũng như có điều kiện để khai thác, mở rộng
    vấn đề cần nghiên cứu đồng thời là cơ hội rất tốt để giáo viên giúp cho người
    học bồi dưỡng năng lực tự học của mình với sự hỗ trợ của công nghệ thông
    tin.
    6
    I.2.2. Xuất phát từ yêu cầu trang bị kiến thức môn học, giáo dục đạo
    đức và phát triển nhân cách tốt đẹp cho học sinh
    Môn Giáo dục công dân là môn học có nội dung tri thức mang tính thực
    tiễn cao, gắn bó mật thiết với đời sống kinh tế, chính trị – xã hội. Chính bởi
    vậy, để trang bị tri thức môn Giáo dục công dân một cách đầy đủ, phong phú
    cho học sinh, tránh nhàm chán, khô khan thì việc ứng dụng mô hình lớp học
    đảo ngược trong dạy học môn Giáo dục công dân nói chung và phần Công
    dân với đạo đức nói riêng là một cách thức tổ chức phù hợp và mới mẻ. Điều
    này không những góp phần làm cho nội dung môn học thêm dễ hiểu, sinh
    động mà còn huy động tối đa tính chủ động, tự giác của học sinh.
    Nội dung kiến thức môn Giáo dục công dân phần đạo đức học đòi hỏi
    giáo viên giảng dạy phải am hiểu có kinh nghiệm sống và kiến thức thực tiễn.
    Có như vậy giáo viên có thể thực hiện tốt mục tiêu dạy học: không chỉ dừng
    lại ở việc trang bị những kiến thức lí luận mà quan trọng hơn là xây dựng và
    phát triển nhân cách tốt đẹp cho học sinh THPT.
    Trong xu hướng cải cách giáo dục, việc đổi mới chương trình và sách
    giáo khoa, nâng cao chất lượng kiến thức về Giáo dục công dân đã được thực
    hiện, vừa kế thừa một phần chương trình và sách giáo khoa cũ, vừa đổi mới ở
    một mức độ phù hợp, khoa học hơn. Công việc này đã và đang tạo ra những
    hiệu ứng xã hội tích cực cho diện mạo và đặc trưng của nền giáo dục, cho
    chiều hướng phát triển và thực hiện mục tiêu giáo dục con người toàn diện ở
    Việt Nam hiện nay.
    Cũng như các môn khoa học xã hội khác, môn Giáo dục công dân với
    nhiều khái niệm, định nghĩa và hơn nữa, môn Giáo dục công dân còn có nhiều
    từ khó hiểu đối với học sinh THPT. Nếu giảng giải lý thuyết trên lớp sẽ mất
    khá nhiều thời gian cho việc giải thích các từ khó để mọi học sinh đều hiểu
    được, vì khả năng tiếp thu của mỗi người là khác nhau. Do vậy, việc học sinh
    xem trước video bài giảng lý thuyết ở nhà trong mô hình lớp học đảo ngược
    7
    sẽ góp phần tiết kiệm thời gian trên lớp, thay vào đó là thời gian để giải đáp
    vướng mắc, ứng dụng và thực hành. Từ đó góp phần phát triển năng lực tự
    học của học sinh và khả năng tương tác giữa những người học với nhau, giữa
    giáo viên và học sinh.
    Ngoài ra, theo phân phối chương trình Giáo dục công dân cấp THPT
    hiện hành thì số tiết giáo dục công dân là 1 tiết/1 tuần, điều này tạo điều kiện
    thuận lợi cho việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược, vì giáo viên có nhiều
    thời gian để chuẩn bị video bài giảng, học sinh thì có nhiều thời gian tự học
    tập, nghiên cứu video ở nhà.
    Với những đặc trưng nêu ở phần trên, việc áp dụng mô hình lớp học đảo
    ngược sẽ giúp kiến thức môn học không trở nên khô khan, nhàm chán và tạo
    điều kiện cho học sinh vận dụng, thực hành nhiều hơn trên lớp học. Như vậy thì
    hiệu quả giáo dục sẽ được nâng cao, gắn học với hành, lý luận với thực tiễn. Như
    nhà văn Goethe đã từng ca ngợi vai trò của việc ứng dụng thực tế qua câu nói:
    “Mọi lý thuyết chỉ là màu xám còn cây đời mãi mãi xanh tươi”.
    Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiến trên, Sáng kiến kinh
    nghiệm: Sử dụng mô hình “Lớp học đảo ngược” nhằm nâng cao hứng thú
    và tính tích cực học tập phần công dân với đạo đức, giáo dục công dân, lớp
    10 là kết quả quá trình làm việc nghiêm túc, say mê của cả giáo viên và học
    sinh trong năm học vừa qua.
    8
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    II.1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    II.1.1. Thực tiễn dạy và học phần công dân với đạo đức, môn GDCD,
    lớp 10 của trường THPT Hoàng Văn Thụ
    Qua quá trình khảo sát giáo viên giảng dạy bộ môn GDCD và 400 HS khối
    lớp 10 Trường THPT Hoàng Văn Thụ, tác giả nhận thấy một thực trạng:
    Phần lớn giáo viên đều nhận định phần công dân với đạo đức, môn Giáo
    dục công dân, lớp 10 là phần nội dung kiến thức gắn liền với thực tiễn nhiều
    bài học đạo đức bổ ích. Giáo viên muốn có nhiều thời gian trên lớp để tổ
    chức các hoạt động dạy học để nâng cao khả năng vận dụng của học sinh.
    Trong quá trình giảng dạy, nhiều giáo viên có kinh nghiệm lâu năm vẫn
    gặp phải khó khăn khi HS chưa tích cực phát biểu xây dựng bài. Theo đánh
    giá của giáo viên, khó khăn thường gặp nhất ở HS khi học tập phần công dân
    với đạo đức là việc vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã học vào
    trong những tình huống thực tế của cuộc sống.
    Theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học, để phát huy tính tích cực,
    chủ động, sáng tạo của HS, phần lớn GV cho rằng để tăng hiệu quả dạy và học,
    cần tăng thời gian rèn luyện kỹ năng, bài tập, tình huống thực tế cho HS.
    Ngoài ra, về việc sử dụng các phương pháp dạy học trong quá trình
    giảng dạy, kết quả điều tra cho thấy phương pháp thuyết trình là phương pháp
    chủ yếu được giáo viên sử dụng trong giờ học.

    STTPhương pháp dạy họcTỉ lệ sử dụng
    1Phương pháp thuyết trình62%
    2Phương pháp đàm thoại vấn đáp10%
    3Phương pháp trực quan3%
    4Phương pháp nêu vấn đề8%
    5Phương pháp thảo luận nhóm15%
    6Phương pháp động não2%
    7Phương pháp đóng vai0%
    8Phương pháp dự án0%
    9Phương pháp khác0%

    Bảng 1 – Kết quả điều tra tỉ lệ sử dụng các phương pháp dạy học của GV
    9
    88%
    12%
    1st Qtr 2nd Qtr
    Trong các tiết học, giáo viên thường nêu vấn đề sau đó thuyết trình theo
    trình tự sách giáo khoa. Hầu hết các giờ dạy có hoạt động thảo luận nhóm, tuy
    nhiên, do thời gian ít nên hoạt động này chỉ mang tính chất hình thức, chưa
    thực sự hiệu quả đối với học sinh.
    Các câu hỏi mà giáo viên đưa ra chủ yếu xoay quanh phát biểu khái
    niệm, tái hiện kiến thức trong sách giáo khoa, ít những câu hỏi mở rộng, gợi
    mở đến những vấn đề thiết thực của cuộc sống.
    Đối với dạy học bằng mô hình lớp học đảo ngược, phần lớn giáo viên
    chưa có kinh nghiệm trong việc triển khai thực tế.
    Đa phần HS có nhận định rằng môn Giáo dục công dân chưa tạo được
    hứng thú với các em, môn học còn nặng tính hàn lâm, lý thuyết (Tỉ lệ HS hứng
    thú với môn GDCD là 25%, tỉ lệ HS chưa hứng thú với môn học này chiếm
    75%). Các em muốn được học tập theo nhiều phương pháp, hình thức mới để
    tăng hứng thú và hiệu quả học tập. HS chủ yếu tiếp thu kiến thức qua lời giảng
    của thầy cô trên lớp, ít khi chủ động tìm hiểu bài ở nhà trước khi đến lớp.
    Bảng 2: Biểu đồ tỉ lệ HS tìm hiểu bài trước khi đến lớp.
    10
    Khi trình bày một vấn đề, một quan điểm trước lớp, các em HS còn rụt
    rè, e ngại. Ngoài ra, khi ý kiến của các em trái với ý kiến của phần đông HS
    trong lớp thì các em chưa mạnh dạn nêu ý kiến, quan điểm riêng.
    Hầu hết các em học sinh đều thích học những bài thuộc phần “Công dân
    với đạo đức” vì nó dễ hiểu, gần gũi với đời sống thực tế. Các em còn ít hứng
    thú với các bài học liên quan đến thế giới quan và phương pháp luận khoa học
    vì nó mang tính trừu tượng, khó hiểu, khó nhớ.
    Đa số các em đến lớp ghi chép bài đầy đủ, về nhà học bài làm bài tập
    vận dụng các kiến thức đã học. Các bài tập chủ yếu liên quan đến nhận biết,
    thông hiểu và vận dụng, còn mức độ vận dụng cao thì rất ít.

    SKKN Sử dụng mô hình “Lớp học đảo ngược” nhằm nâng cao hứng thú và tính tích cực học tập phần công dân với đạo đức, giáo dục công dân, lớp 10

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Tích hợp tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh để giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ qua môn GDCD

    SKKN Tích hợp tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh để giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ qua môn GDCD

    Điều kiện, hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
    * Chủ tịch Hồ Chí Minh anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa
    kiệt xuất, đồng thời cũng là nhà giáo dục vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời
    của Người là tấm gương sáng cho các thế hệ muôn đời noi theo. Chủ tịch Hồ Chí
    Minh luôn đánh giá cao vai trò của thanh niên, đối với sự nghiệp cách mạng của
    Đảng và dân tộc ta. Người cho rằng: “Thanh niên là người chủ của nước nhà. Nước
    nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh phần lớn là do các thanh niên”, trước lúc đi xa
    Người căn dặn “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan
    trọng và rất cần thiết”.Trong nội dung bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, Hồ
    Chí Minh đặt lên hàng đầu vấn đề bồi dưỡng lý tưởng và đạo đức cách mạng. Đó
    là phấn đấu cho đất nước hoàn toàn độc lập, làm cho chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa
    cộng sản thắng lợi hoàn toàn ở nước ta và trên thế giới…
    * Mặt khác trong thời điểm đặc biệt này, Việt nam nói riêng và cả thế giới
    nói chung đang phải đối mặt với đại dịch toàn cầu – Covid 19. Hơn lúc nào hết tinh
    thần đoàn kết, tự lực tự cường, giúp đỡ cưu mang, lá lành đùm lá rách, hi sinh vì
    nhau, vì dân tộc Việt Nam cần được thể hiện và cần thiết phải giáo dục cho thế hệ
    trẻ.
    * Lứa tuổi học sinh trung học phổ thông luôn có nhu cầu khẳng định mạnh
    mẽ về cá tính, thích những hoạt động tập thể, ham học hỏi, nhưng cũng dễ bị ảnh
    hưởng các thói hư tật xấu ngoài xã hội.
    *Trong trường học phổ thông môn GDCD là môn học có vai trò và nhiệm
    vụ hết sức quan trọng, định hướng cho các em học sinh những giá trị tình cảm,
    chuẩn mực đạo đức, thái độ niềm tin, hình thành hệ thống tư tưởng nhân sinh quan,
    thế giới quan đúng đắn cho mỗi học sinh. Chương trình GDCD THPT được sắp
    xếp thành 5 phần: Thứ nhất: Công dân với thế giới quan- phương pháp luận, Thứ
    2
    hai: Công dân với đạo đức, Thứ ba: Công dân với kinh tế, Thứ tư: Công dân với
    các vấn đề chính trị-xã hội, Thứ năm: Công dân với pháp luật.
    “Công dân với đạo đức” là đơn vị kiến thức thứ hai được sắp xếp ở lớp 10,
    khi giảng dạy phần kiến thức này, giáo viên có nhiệm vụ giúp các em học sinh lĩnh
    hội được các giá trị đạo đức, truyền thống đạo đức dân tộc, để từ đó xây dựng khơi
    gợi ý thức, tình cảm đạo đức đẹp đẽ cho các em.
    Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân
    tộc Việt Nam đã được hình thành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng
    nước và giữ nước; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng đạo đức cách
    mạng của chủ nghĩa Mác- Lênin. Đó là sự tiếp thu có chọn lọc và phát triển những
    tinh hoa văn hóa, đạo đức nhân loại, cả phương Đông và phương Tây, mà Người
    đã tiếp thu được trong quá trình hoạt động cách mạng đầy gian lao thử thách và vô
    cùng phong phú vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng
    con người… Như vậy, việc lồng ghép tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh để giáo dục
    lòng yêu nước cho thế hệ thanh niên Việt Nam hiện nay trong môn học GDCD là
    việc làm hết sức cần thiết.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Thực trạng trước khi tạo ra sáng kiến
    * Trong bối cảnh Việt Nam và cả thế giới đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại
    dịch Covid. Hằng ngày, có biết bao người bị nhiễm loại virut nguy hiểm đáng sợ
    này, nó đã cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người, làm đổ mồ hôi và nước mắt
    của hàng triệu triệu con người. Ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần của nhân
    dân, đến nền kinh tế – xã hội của đất nước. Đảng và Nhà nước dốc toàn lực để chỉ
    đạo và đưa ra quyết sách để cùng nhân dân cả nước đương đầu chống dịch, tuy
    nhiên kết quả thành công lại phụ thuộc phần lớp vào ý thức tuân thủ và thực hiện
    của toàn dân đặc biệt là hệ thanh niên của đất nước. Là người con của dân tộc Việt
    Nam, tôi mong muốn được góp sức mình vào khó khăn chung này, chính vì vậy
    trong công việc giảng dạy của mình, tôi đã cố gắng tuyên truyền và giáo dục để
    mỗi thanh niên Việt Nam hiểu được tầm quan trọng, cần thiết của sự đoàn kết, giúp
    đỡ lẫn nhau và khơi dậy truyền thống yêu nước đang tiềm tàng trong huyết quản
    3
    của người Việt.
    Điều đáng nói ở đây là bên cạnh tinh thần thiện nguyện, xả thân vì dịch bệnh
    của thanh niên Việt Nam, thì còn không ít các bạn thanh niên còn đang có tư tưởng
    thờ ơ, vô tâm coi đó không phải là việc của mình, ở đâu có dịch bệnh thì kệ nơi
    đó…. Đặc biệt, phần nhiều giới trẻ còn chưa thực hiện đúng 5K của Bộ Y tế, không
    đeo khẩu trang hoặc đeo khi bị kiểm tra, các bạn ấy còn chưa ý thức được tầm
    quan trọng của tuân thủ y tế, để biến hành động thành thói quen thường ngày. Do
    đó cần giáo dục tinh thần đoàn kết, sát cánh cùng Tổ quốc dẫn đến thành công.
    * Nhiều học sinh ít hứng thú với môn GDCD. Sở dĩ học sinh chưa tìm thấy
    niềm vui, sự hứng thú trong học tập GDCD là do chưa được rèn luyện những kĩ
    năng, cũng như khả năng vận dụng tri thức của GDCD vào trong đời sống hằng
    ngày.
    Nội dung kiến thức của GDCD nói chung và đặc biệt là GDCD lớp 10 còn
    nặng về lý luận, cụ thể: Phần 1 là công dân với việc hình thành thế giới quan,
    phương pháp luận khoa học – một màn hình thu nhỏ của môn Triết học Mác- Lê-
    nin với những nguyên lý, phạm trù, quy luật mang tính trừu tượng; phần 2 công
    dân với đạo đức là những khái niệm về đạo đức, về tình yêu, hôn nhân, gia đình….
    .
    Phần công dân với đạo đức được phân phối trong sách giáo khoa như sau:

    Tên bài họcSố tiết
    Quan niệm về đạo đức1
    Một số phạm trù của đạo đức học2
    Công dân với tình yêu hôn nhân gia đình3
    Công dân với cộng đồng2
    Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc2
    Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại2
    Tự hoàn thiện bản thân1

    Theo phân phối trên, số tiết để dạy và học phần công dân với đạo đức là 13
    tiết, rất phù hợp để lồng ghép thêm tư tưởng đạo đức của Hồ chí Minh vào trong
    4
    giảng dạy
    Ở một khía cạnh khác, các tài liệu tham khảo đóng vai trò là một kênh thông
    tin quan trọng, tuy nhiên các tài liệu tham khảo dành cho nội dung này chưa được
    phong phú và ở nhận thức của học sinh lớp 10 – vừa mới trải qua quá trình học tập
    ở THCS thì khả năng tự học, tự đọc tài liệu, tự tổng hợp kiến thức để củng cố kiến
    thức bài học còn chưa cao.
    * Những khó khăn nảy sinh khi học tập môn GDCD và cốt lõi là phần công
    dân với đạo đức : Học sinh phải nắm bắt và ghi nhớ khá nhiều khái niệm, thời gian
    thực hành còn ít, dẫn đến lối học tập thụ động. Để góp phần giải quyết những khó
    khăn trên, dựa trên thực tiễn đã giảng dạy, trong báo cáo này tác giả trình bày một
    số kinh nghiệm tích hợp tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh để giáo dục tinh thần
    truyền thống yêu nước cho thế hệ thanh niên Việt Nam thông qua dạy học GDCD
    phần công dân với đạo đức nhằm làm phong phú thêm nội dung bài giảng, tạo
    thêm niềm say mê, hấp dẫn học sinh học tập.
    2. Giải pháp sau khi có sáng kiến
    A. TÓM TẮT NỘI DUNG GIẢI PHÁP
    * Các nội dung cơ bản được đưa ra là:
    Đề xuất các giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho thanh
    niên học sinh theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong trường THPT hiện nay.
    – Nhóm giải pháp đối với các cấp quản lý
    – Nhóm giải pháp đối với nhà trường
    – Nhóm giải pháp đối với giáo viên bộ môn
    * Điểm mới- sáng tạo của giải pháp:
    – Các cấp quản lý cần nhanh chóng chuẩn hóa, sinh động nội dung giáo dục
    các giá trị đạo đức trong chương trình
    – Giáo viên mạnh dạn đưa nội dung giáo dục các giá trị đạo đức mới vào
    giảng dạy trong thực tế. Tích hợp tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong giáo dục
    đạo đức cho học sinh
    5
    B. NỘI DUNG GIẢI PHÁP:
    Chương 1
    CƠ SỞ DẠY HỌC TÍCH HỢP TƯ TƯỞNG
    ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH ĐỂ GIÁO DỤC LÒNG YÊU NƯỚC TRONG DẠY HỌC
    GDCD Ở TRƯỜNG THPT
    1.1. Cơ sở lý luận
    1.1.1. Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
    Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, cả cuộc đời
    vĩ đại của Người là tấm gương sáng ngời cho chí khí cách mạng kiên cường, lòng
    yêu nhân dân thắm thiết, đạo đức chí công vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị. Tấm
    gương đạo đức trong sáng, mẫu mực của Người là sự kết tinh những giá trị truyền
    thống của dân tộc, của nhân loại và thời đại. Tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh
    là tấm gương của một vĩ nhân, một lãnh tụ cách mạng, một người cộng sản vĩ đại,
    nhưng đồng thời cũng là tấm gương đạo đức của một người bình thường ai cũng có
    thể học theo, làm theo để trở thành một người cách mạng, một người công dân tốt
    trong xã hội.
    Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành, phát triển trên cơ sở kế thừa, chọn
    lọc những tư tưởng, giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, phù hợp với thực
    tiễn hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam. Cùng với đó là sự tiếp thu, tiếp biến và vận
    dụng sáng tạo tinh hoa văn hóa nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác- Lênin. Tư
    tưởng Hồ Chí Minh được hình thành bởi tư duy, trí tuệ, phẩm chất đạo đức và năng
    lực hoạt động thực tiễn của Người.
    Đó cũng là quá trình tiếp thu, làm giàu, rèn luyện từ học tập, nghiên cứu, trải
    nghiệm thực tiễn, khám phá các quy luật vận động, đời sống văn hóa, xã hội và
    cuộc đấu tranh của các dân tộc vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội để khái quát thành
    lý luận, đem lý luận chỉ đạo hoạt động thực tiễn, kiểm nghiệm trong thực tiễn nên
    mang giá trị khách quan, cách mạng và khoa học.
    Quan điểm đạo đức Hồ Chí Minh bao quát những mối quan hệ cơ bản của
    con người trong xã hội, mà trước hết là với đất nước, với nhân dân – “Trung với
    6
    nước, hiếu với dân”. Đây chính là điều chủ chốt của đạo đức cách mạng. Trung với
    nước là trung thành vô hạn với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, đấu tranh giành
    độc lập dân tộc và làm cho đất nước ngày càng giàu mạnh. Hiếu với dân tức là mọi
    cán bộ phải là “đầy tớ trung thành của dân”, “bao nhiêu quyền hạn đều của dân”,
    “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”; gắn bó với dân, gần dân, tin dân, dựa vào dân, lấy
    dân làm gốc. Phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, quan tâm cải thiện dân sinh,
    nâng cao dân trí, làm cho dân hiểu rõ trách nhiệm và quyền lợi của người làm chủ
    đất nước.
    Thứ hai, trong tư tưởng đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đối với con
    người, hay nói chính xác chính là ”yêu thương con người”. Yêu thương con người
    là làm mọi việc vì con người; dám hy sinh, dám dấn thân để đấu tranh giải phóng
    con người. Yêu thương con người tin vào con người. Với mình thì nghiêm khắc;
    với người thì độ lượng, vị tha, kể cả với người lầm đường, lạc lối, mắc sai lầm,
    khuyết điểm. Yêu thương con người phải thực hiện tự phê bình, phê bình chân
    thành, giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, giúp cho mỗi người ngày càng tiến bộ, tốt
    đẹp hơn.
    Tiếp theo là đối với mình phải thực sự “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
    tư”. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính cần có
    của con người, mang một lẽ tự nhiên, như trời có bốn mùa, đất có bốn phương. Cần,
    kiệm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với nhau và với chí công vô tư. Cần, kiệm,
    liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư. Ngược lại, đã chí công vô tư, một lòng vì
    nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính.
    Đối với toàn nhân loại, người cách mạng phải có ”tinh thần quốc tế trong
    sáng”. Đoàn kết quốc tế trong sáng theo Hồ Chí Minh trước hết là đoàn kết với
    nhân dân lao động các nước vì mục tiêu chung: đấu tranh giải phóng con người
    khỏi ách áp bức, bóc lột; là đoàn kết với các dân tộc vì hoà bình, công lý và tiến bộ
    xã hội. Đoàn kết quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước chân
    chính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng.
    7
    Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự hội tụ đẹp nhất, tuyệt vời nhất và trọn
    vẹn nhất về phẩm chất đạo đức cách mạng. Đó là “cần, kiệm, liêm, chính, chí công
    vô tư”, là cả đời phấn đấu hy sinh, tất cả vì dân, vì nước, vì hạnh phúc con người.
    Dù ở đâu, làm bất cứ việc gì dù nhỏ hay lớn đều thể hiện phẩm chất cao đẹp của
    người cách mạng.
    Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho
    quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi ẩn nấp nơi núi non,
    hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo – là vì mục đích đó. Đến lúc nhờ
    quốc dân đoàn kết, tranh được chính quyền, ủy thác cho tôi gánh việc Chính phủ,
    tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng – cũng vì mục đích đó… Bất kỳ bao giờ,
    bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ đeo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân.
    Về các đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, Chủ tịch Hồ Chí
    Minh đã thực hành triệt để tất cả những gì Người quan niệm, thậm chí Người còn
    làm nhiều hơn những gì Người nói. Người là tấm gương sáng về thực hành tiết
    kiệm trong ăn, mặc, ở, đi lại… Giữ mình liêm khiết, trong sạch, Hồ Chí Minh sống
    trung thực, chân thành với chính mình và với người khác. Người biết nâng con
    người lên, khuyến khích, động viên để con người thấy rõ giá trị đích thực của cuộc
    sống, có khát vọng sống.
    Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là một tấm gương đấu tranh không mệt mỏi chống
    lại cái ác, cái xấu trong xã hội, trong mỗi con người, những biểu hiện tiêu cực, nhất
    là căn bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu trong bộ máy tổ chức của Đảng, Nhà nước.
    Người đã trực tiếp chỉ đạo xét xử những vụ án lớn; phân tích thấu tình đạt lý những
    nguyên nhân dẫn đến lỗi lầm của cán bộ, đảng viên, trong đó có đảng viên có chức
    có quyền, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân vào cán cân công lý của luật pháp,
    vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và bản chất tốt đẹp của chế độ…
    Đã có hàng nghìn trang sách, hàng nghìn câu chuyện cảm động về cuộc đời
    và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tên gọi Hồ Chí Minh đã trở thành một hình
    mẫu về đạo đức. Đạo đức ấy không chỉ tỏa sáng trong lòng nhân dân Việt Nam mà
    còn được thế giới ca ngợi bằng những lời đẹp đẽ và cao quý – Người Anh hùng giải
    8
    phóng dân tộc Việt Nam, Danh nhân văn hóa kiệt xuất. Đồng chí Phiđen Caxtơrô
    từng viết: cuộc đời của Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng chói những phẩm chất
    cách mạng và cao cả nhất… Đồng chí Hồ Chí Minh thuộc lớp những người đặc biệt
    mà cái chết là mầm mống của sự sống và là nguồn cổ vũ đời đời bất diệt…
    1.1.2. Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam
    Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Lịch
    sử của dân tộc Việt Nam đã được viết bằng máu và mồ hôi của nhiều thế hệ ông
    cha đã làm nên biết bao kỳ tích anh hùng, những trang sử vẻ vang đầy khí thế.
    Chính những điều đó đã tạo nên truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam
    mà trong đó nổi bật nhất là lòng yêu nước – một truyền thống cao quý vừa được
    hun đúc và phát huy suốt trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt
    Nam. Mỗi người Việt Nam đều có quyền tự hào về những trang sử hào hùng của
    dân tộc, những người đã hy sinh để bảo vệ mảnh đất quê hương. Những người đã
    viết nên thiên sử của dân tộc và sẽ luôn là hành trang của các thế hệ người Việt
    Nam.
    V.I.Lênin từng nói “Lòng yêu nước là một trong những tình cảm sâu sắc
    nhất được củng cố hàng trăm năm, hàng nghìn năm tồn tại của các tổ quốc biệt
    lập”. Lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam được hình thành từ đó và đã trở thành
    điểm cốt lõi của bản sắc văn hóa Việt Nam, là sợ dây bền chặt gắn bó, cố kết con
    người Việt Nam tạo thành sức mạnh chống giặc ngoại xâm, giữ gìn bảo vệ non
    sông bờ cõi, đó chính là nét đặc trưng của truyền thống dân tộc Việt Nam. Chính
    nhờ sức mạnh diệu kỳ ấy mà dưới ách đô hộ hơn một nghìn năm của phong kiến
    phương Bắc, dân tộc ta đã không bị khuất phục, không bị đồng hóa mà liên tiếp
    dựng cờ khởi nghĩa chống quân xâm lược. Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã mở
    ra thời kỳ độc lập thật sự cho dân tộc, với tinh thần bất khuất và ý chí kiên cường
    ông cha ta đã nhiều lần đánh thắng những kẻ thù xâm lược lớn mạnh hơn nhiều lần
    như: nhà Tiền Lê, nhà Lý chống quân xâm lược Tống, nhà Trần ba lần chống quân
    Mông – Nguyên,… thông qua các cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm, lòng
    9
    yêu nước đã trở thành sợ dây kết nối toàn dân tộc, gắn bó cộng đồng để cùng nhau
    bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ nền độc lập của dân tộc, không chịu khuất phục trước quân
    thù. Trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh có đoạn
    “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không
    chịu làm nô lệ”.
    Lịch sử thành văn của dân tộc Việt Nam rất hiếm hoi, nhưng không vì thế
    mà các vua Hùng, Hai Bà Trưng, Bà Triệu, các triều đại: Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý,
    Trần… bị lãng quên trong mỗi người dân Việt Nam. Trái lại, càng ít sử liệu thì
    những quá khứ hào hùng ấy càng bám sâu vào tâm trí của các thế hệ người Việt
    Nam và được truyền từ đời này sang đời khác. Trong mỗi thời kỳ lịch sử, lòng yêu
    nước luôn có những biểu hiện riêng, do điều kiện lịch sử cụ thể và hệ tư tưởng quy
    định nhưng mục đích duy nhất là bảo vệ và gìn giữ bờ cõi non sông đất nước, bảo
    vệ nền độc lập dân tộc.
    Trong công cuộc đổi mới hiện nay, để giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ,
    chúng ta không chỉ ghi lại những trang sử hào hùng của dân tộc để biết những
    chuyện đời xưa một cách máy móc, mà thông qua những sự kiện, hiện tượng lịch
    sử để làm nổi bật thêm phẩm chất, đạo đức, tình cảm của dân tộc Việt Nam. Giáo
    dục lòng yêu nước như một vũ khí sắc bén trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước
    trong giai đoạn hiện nay. Giáo dục cho thế hệ trẻ lòng yêu nước cũng chính là giáo
    dục thái độ đúng đắn đối với các bậc ông cha đã đi trước. Giáo dục lòng yêu nước
    là một hoạt động mang tính nguyên lý, đạo đức của người Việt Nam qua các thời
    kỳ lịch sử, các thời đại. Lòng yêu nước cũng là những nguyên lý đạo đức tìm ẩn
    trong tâm trí sâu xa của mọi người dân Việt Nam, khiến cho họ tự nhiên phản ứng
    đúng với lẽ phải, đúng với quyền lợi và danh dự của dân tộc, khi đụng chạm đến sự
    cố nào đó. Lòng yêu nước không có sẵn khi dân tộc xuất hiện, đó là tất cả những
    giá trị tinh thần được hình thành và phát triển cùng với lịch sử của dân tộc. Ngày
    nay giáo dục lòng yêu nước là phải giáo dục niềm tự hào chính đáng về dân tộc và
    10
    truyền thống dân tộc, giáo dục lòng trung thành và đức hy sinh vì Đảng, vì Tổ
    quốc, dân tộc và Nhân dân.
    V.I.Lênin đã từng cảnh báo: “quên quá khứ là phản bội”, nhân thức sâu sắc
    đều đó, chúng ta luôn coi trọng việc đưa tuổi trẻ quay về với lịch sử dân tộc, với
    những gì cao đẹp và hào hùng của ông cha ta, đó là quá khứ của một dân tộc anh
    hùng với những chiến công hiển hách, những trang sử chói ngời ấy sẽ không bao
    giờ phai theo thời gian. Nó sẽ được sống mãi trong lòng mỗi người dân Việt Nam.
    Phải làm cho quá khứ ấy được khơi dậy trong lòng mỗi người – Chúng ta khơi dậy
    lịch sử, quay lại quá khứ không phải để tự mãn về những gì ông cha ta đã làm
    được, không phải để khoét sâu thêm mâu thuẫn và thù hằn dân tộc, mà chính qua
    đó để giáo dục cho thế hệ trẻ biết được thế nào là lòng yêu nước, tình yêu Tổ quốc.
    Nếu chúng ta không hiểu đúng về quá khứ, cội nguồn của dân tộc thì khó có thể có
    lòng yêu nước, một tình yêu Tổ quốc đúng nghĩa.
    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn
    yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ
    quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sống vô cùng
    mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ
    bán nước và lũ cướp nước”[1]. Biểu hiện cao nhất của lòng yêu nước là có ý thức
    rõ ràng, sâu sắc về nền độc lập dân tộc, coi độc lập dân tộc là thiêng liêng bất khả
    xâm phạm. Yêu nước là phải giữ gìn nền độc lập, tự do của dân tộc.
    1.1.3. Tầm quan trọng của việc tích hợp tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
    để giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ thanh niên
    Hiện nay ở nước ta đời sống xã hội có những biểu hiện coi nhẹ những giá trị
    truyền thống, chạy theo thị hiếu không lành mạnh. Đáng chú ý là, “tệ sùng bái”
    nước ngoài, coi thường những giá trị văn hoá dân tộc, chạy theo lối sống th

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Vận dụng linh hoạt bài tập tình huống vào giảng dạy môn GDCD ở trường THPT

    SKKN Vận dụng linh hoạt bài tập tình huống vào giảng dạy môn GDCD ở trường THPT

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN.
    Hiện nay, Giáo dục nước ta đang trong giai đoạn chuyển mình, Bộ giáo dục
    và đào tạo đang tiến hành đổi mới toàn diện để hướng tới xây dựng một chương
    trình chuẩn nhất, hiện đại và phù hợp với thực tiễn đất nước. Nội dung các
    chương trình học đang hướng tới đưa người học giữ vai trò trung tâm, xây dựng
    trường học thân thiện, học sinh tích cực, sản phẩm cuối cùng là những con
    người phát triển toàn diện, những công dân toàn cầu.
    Cùng với các môn học khác thì môn Giáo dục công dân (GDCD) giữ vai
    trò chủ đạo trong việc giúp học sinh hình thành, phát triển ý thức và hành vi của
    người công dân. Thông qua các bài học về lối sống, đạo đức, pháp luật, kinh tế,
    môn GDCD góp phần bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất chủ yếu là yêu
    nước, nhân ái, trách nhiệm, trung thực và chăm chỉ. Môn học này còn bồi dưỡng
    cho học sinh những năng lực đặc thù là: Năng lực điều chỉnh hành vi, năng lực
    phát triển bản thân và năng lực tìm hiểu tham gia các vấn đề kinh tế xã hội. Từ
    đó giúp học sinh có niềm tin, nhận thức, cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực
    đạo đức và quy định của pháp luật, có kĩ năng sống và bản lĩnh để học tập, làm
    việc và sẵn sàng thực hiện trách nhiệm của công dân trong sự nghiệp xây dựng
    và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập kinh tế quốc tế.
    Nhận thức rõ tầm quan trọng của môn học nên từ năm 2017, Bộ GD-ĐT
    đã lựa chọn môn GDCD vào tổ hợp môn thi khoa học xã hội trong kỳ thi trung
    học phổ thông quốc gia. Việc này thực sự là niềm vui của các thầy cô giáo dạy
    bộ môn GDCD, bởi nó góp phần to lớn trong việc nâng tầm vị thế môn học
    trong hệ thống giáo dục quốc dân. Đồng thời vị thế thầy cô giáo dạy bộ môn
    GDCD cũng được xã hội nhìn nhận một cách tích cực hơn. Vậy làm thế nào để
    dạy và học tốt môn GDCD?
    Là giáo viên dạy bộ môn Giáo dục công dân trong trường THPT, chúng
    tôi luôn suy nghĩ, trăn trở trước các bài dạy của mình, làm thế nào để học sinh
    có thể hứng thú học tập tiếp thu, lĩnh hội được kiến thức cơ bản cũng như mở
    rộng. Từ những yêu cầu thực tiễn trên thì mục tiêu của môn GDCD hiện nay
    6
    không chỉ tập trung vào việc hình thành và rèn luyện cho học sinh các phẩm
    chất và năng lực cần thiết, mà còn phải trang bị cho các em kĩ năng giải quyết
    các tình huống từ thực tiễn. Với đề tài: “Vận dụng linh hoạt bài tập tình
    huống vào giảng dạy môn Giáo dục công dân ở trƣờng trung học phổ
    thông” nhằm một phần thực hiện theo các mục tiêu trên.
    Thực tế, sự hào hứng của một bộ phận học sinh trong môn học GDCD còn
    chưa cao. Các em học thụ động những kiến thức hàn lâm trong sách vở quá
    nhiều nhưng thiếu kinh nghiệm sống, không khéo léo trong đối nhân xử thế hay
    xử lí tình huống, đặc biệt là những tình huống bất ngờ, phức tạp. Việc dạy của
    giáo viên còn tình trạng nặng về lý thuyết là chủ yếu. Nói về học, ông cha ta từ
    xưa có câu: “học và hành, học phải đi đôi với hành” hay “trăm nghe không
    bằng một thấy”. Ngày nay, các nghiên cứu về năng lực nhận thức của con
    người cũng chỉ ra quan hệ mật thiết giữa thực hành và khả năng ghi nhớ

    Khả năng thu nhận tri thứcKhả năng ghi nhớ
    Vị giác1%Nghe20%
    Xúc giác1.5%Nhìn30%
    Khứu giác3.5%Nghe và nhìn50%
    Thính giác11%Tự trình bày80%
    Thị giác83%Tự trình bày và làm90%

    So với nhiều nước trong khu vực, Giáo dục và đào tạo nước ta theo hướng
    tiếp cận cũ, học sinh chủ yếu chỉ NGHE mà không được LÀM. Điều này dẫn
    đến năng lực người học yếu kém, đào tạo không đáp ứng nhu cầu xã hội. Thống
    kê cho thấy năng suất lao động của nước ta thấp hơn nhiều các nước trong khu
    vực và châu Á : thấp hơn Indonesia 10 lần, Thái Lan gần 30 lần và Nhật Bản
    135 lần. Thay đổi và đổi mới căn bản , toàn diện giáo dục và đào tạo đang trở
    thành một yêu cầu khách quan , cấp bách trong giai đoạn hội nhập quốc tế mạnh
    mẽ hiện nay.
    Đổi mới căn bản toàn diện trước hết cần đổi mới hình thức tổ chức dạy
    học, chuyển dần hình thức dạy học từ NGHE, NHÌN sang TỰ TRÌNH BÀY và
    7
    LÀM. Chính Khổng Tử (551 – 479 TCN) – một người thầy lỗi lạc của Trung
    Hoa và thế giới đã nói cách đây hơn 2000 năm: Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên;
    những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ; những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu. Nếu giáo viên cứ
    mải mê thuyết trình thì học sinh nhớ được rất ít còn để học sinh tăng cường tính
    thực hành, hoạt động tương tác, hoạt động nhóm, giải quyết vấn đề, đánh giá
    chính xác, học tập thực địa, tự đọc, tự mổ xẻ vấn đề thì các em sẽ nhớ lâu hơn.
    Nếu giáo viên tạo điều kiện cho các em đóng vai để xử lí tình huống thì hiệu
    quả càng tuyệt vời hơn. Các em sẽ hiểu sâu sắc vấn đề và sẽ biết cách giải quyết
    khi gặp phải tình huống đó ngoài đời. Giờ học sẽ trở nên thú vị, có nhiều tiếng
    cười và học sinh phát huy được hết năng lực, sở trường, tăng thêm tính bạo dạn
    tự tin.
    Nhà tâm lí học Ba Lan Kryna Skarzyska đã nói: “Chất lượng cuộc sống
    của chúng ta phụ thuộc rất nhiều vào việc xung quanh chúng ta có nhiều
    người thấu hiểu chúng ta hay không” và học giả Mỹ – Kinixti cũng nói : “Sự
    thành công của mỗi người chỉ có 15% là dựa vào kĩ thuật chuyên ngành, còn
    85% là dựa vào những quan hệ giao tiếp và tài năng xử thế của người đó”.
    S.B. Robisohl 1967: “Giáo dục là việc chuẩn bị cho người học vào việc giải
    quyết các tình huống của cuộc sống”
    Môn GDCD trong nhà trường trung học phổ thông có rất nhiều kiến thức
    thực tế liên quan đến đời sống hàng ngày như: vấn đề đạo đức, kinh tế, chính trị,
    xã hội và pháp luật. Học sinh có thể đặt nhiều câu hỏi, gặp nhiều tình huống
    trong cuộc sống nhưng chưa biết cách ứng xử và giải quyết như thế nào cho
    thấu tình đạt lý, thế nào là không vi phạm pháp luật. Các em chưa chủ động vận
    dụng kiến thức môn GDCD để giải quyết các tình huống trong thực tế cuộc
    sống. Dạy học tình huống là một hình thức dạy học gây hứng thú và có tính
    thực tiễn cao. Đây là phương pháp dạy học hữu hiệu nhằm mang lại niềm vui,
    hứng thú, thắp lên ngọn lửa say mê, tìm tòi chiếm lĩnh kiến thức, phát triển tư
    duy, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề; từ đó hình thành ở học sinh nhân
    cách của người lao động mới: tự chủ, sáng tạo, có khả năng giải quyết tốt các
    tình huống do cuộc sống đặt ra. Để tăng thêm giá trị của bộ môn GDCD, bồi
    8
    dưỡng các kiến thức và kĩ năng xử lí tình huống cho các em, đồng thời tăng
    thêm sự thú vị hấp dẫn trong các giờ học GDCD, chúng tôi xin mạnh dạn chia
    sẻ kinh nghiệm của mình về việc “Vận dụng linh hoạt bài tập tình huống vào
    giảng dạy môn Giáo dục công dân ở trƣờng trung học phổ thông”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT
    II.1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến
    Môn GDCD từ lớp 10 đến lớp 12 có nội dung kiến thức đa dạng, phong
    phú và khoa học nhằm cung cấp cho các em thế giới quan đúng đắn, những
    phẩm chất cao đẹp, những hiểu biết nhất định về nền kinh tế thị trường định
    hướng xã hội chủ nghĩa, về nền chính trị và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
    Việt Nam. Và đặc biệt, toàn bộ nội dung lớp 12 sẽ trang bị cho các em các kiến
    thức cơ bản về pháp luật, các quyền tự do, dân chủ cơ bản của công dân giúp
    các em biết sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, biết cách thực hiện
    và tự bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Mục đích của môn GDCD
    bên cạnh việc trang bị tri thức về đạo đức, pháp luật, kinh tế, chính trị … còn
    góp phần quan trọng trong việc giáo dục thái độ, ý thức, hành vi cho học sinh.
    Vai trò của môn GDCD là rất quan trọng, rất hữu ích. Kiến thức trong bộ
    môn có tính tích hợp cao nhưng hiện nay ở phần lớn các trường trung học phổ
    thông thì môn học này chưa thực sự được xem trọng.
    Bộ môn này mang tính khoa học, tích hợp cao, chủ đề rất rộng, có nhiều
    vấn đề nhạy cảm nên đòi hỏi giáo viên dạy phải có một kiến thức phong phú, có
    hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực. Đồng thời mỗi giáo viên phải luôn cập
    nhật thông tin thời sự, các điều luật được sửa đổi bổ sung hoặc xây dựng mới để
    minh hoạ cho bài giảng và giải đáp kịp thời các thắc mắc của học sinh chứ
    không phải chỉ cần dạy qua loa, đến cuối kì thì cho học sinh một vài bài tập về
    nhà, kiểm tra lý thuyết chép trong sách, chép của nhau là xong.
    Nếu chỉ dùng phương pháp truyền thống vấn đáp và thuyết trình các khái
    niệm đạo đức, kinh tế, pháp luật thì các em sẽ rất khó hiểu được sâu sắc vấn đề
    và dễ dẫn đến tình trạng học vẹt, rất mau quên. Còn khi giảng dạy và có bài
    kiểm tra bằng việc sử dụng bài tập tình huống, lại in cả hình ảnh hoặc trình
    9
    chiếu sẽ giúp các em dễ hiểu, ghi nhớ lâu, các kiến thức phức tạp sẽ trở nên đơn
    giản và hữu ích hơn. Sự sáng tạo, óc tư duy của các em sẽ được khơi dậy và
    phát huy cùng với trí tuệ của nhóm học sinh sẽ làm cho bài học có sức hấp dẫn
    hơn rất nhiều.
    Mặc dù vậy trên thực tế dạy và học, không phải ai cũng thành công trong
    việc xây dựng các bài tập tình huống để đạt được các mục tiêu về kiến thức, kĩ
    năng, thái độ. Khi nào thì áp dụng, nội dung cần chọn lọc như thế nào, câu hỏi
    ra sao để phù hợp với từng đối tượng học sinh, đồng thời lồng ghép giáo dục tư
    tưởng đạo đức, kĩ năng sống cho học sinh luôn là điều mà bản thân chúng tôi
    luôn trăn trở. Đề tài này sẽ góp phần gợi mở, chia sẻ kinh nghiệm của chúng tôi
    trong việc xây dựng, áp dụng các bài tập tình huống một cách có hiệu quả vào
    việc dạy học môn GDCD.
    II.2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1. Khái niệm về bài tập tình huống
    Tình huống là toàn thể những sự việc xảy ra tại một nơi, trong một thời
    gian hoặc một thời điểm.
    Bản chất của dạy học có bài tập tình huống là dạy học gắn liền với thực
    tiễn, dạy học trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể và luôn biến động. Học đi
    đôi với hành, khi chúng ta thực hành càng nhiều thì kiến thức được học sẽ được
    vận dụng ngay vào thực tiễn.
    Trong môn GDCD, những tình huống được đưa ra có thể là tình huống giả
    định hay cũng có thể là tình huống thực tế đã xảy ra trong thực tiễn. Học sinh
    phân tích, tìm ra lời giải cho tình huống sẽ tự mình hiểu ra vấn đề, sẽ rút ra kinh
    nghiệm cho bản thân và khi gặp phải tình huống đó sẽ biết cách xử lí nhanh
    hoặc tư vấn cho người khác hỗ trợ mình. Mục đích lớn nhất của xây dựng các
    bài tập tình huống là giúp các em được trải nghiệm cuộc sống muôn màu trong
    và ngoài nhà trường, biết cách bình tĩnh chủ động ứng xử trong mọi tình huống
    có thể xảy ra ở độ tuổi các em; giúp các em tự tin, trưởng thành và trở thành
    những công dân gương mẫu, tôn trọng và thực hiện tốt pháp luật. Câu hỏi cần
    10
    phải được diễn đạt đúng văn phạm, ngắn gọn, rõ ràng, chính xác, khoa học. Câu
    hỏi phù hợp trình độ người học, không quá đơn giản hay quá phức tạp
    có thể gây hứng thú nhận thức, kích thích người học tư duy, tìm câu trả lời.
    2.2. Cấu trúc của một bài tập tình huống
    Một bài tập tình huống thường có 2 phần: nội dung tình huống và những
    yêu cầu đưa ra để giải quyết tình huống. Một số yêu cầu cần chú ý trong xây
    dựng cấu trúc bài tập tình huống là:
    – Tình huống phải có độ dài vừa phải, không quá dài và phức tạp, phù hợp
    với nhận thức của học sinh.
    – Giữa tình huống và câu hỏi phải ăn khớp với nhau và cùng hướng vào nội
    dung bài học.
    Muốn làm việc có hiệu quả, người dạy phải hiểu được nhu cầu, nguyện
    vọng, hoàn cảnh, điều kiện học tập của học sinh, phải theo dõi sự chú ý và hứng
    thú của các em. Lớp nào học sinh tích cực, năng động, có nhu cầu học hỏi trải
    nghiệm thực tế, có sự tập trung chú ý thì đưa ra tình huống khó hơn, nhiều hơn
    các lớp khác để các em phát huy được năng lực sở trường của mình. Để khắc
    sâu kiến thức hơn sẽ phân vai cho các em đóng kịch để dựng lại tình huống và
    tự giải quyết tình huống đó. Lời thoại các em có thể sáng tạo mới, hoặc dựa trên
    sự gợi ý của giáo viên, các em có thể thêm bớt tuỳ theo sự hiểu biết và tính cách
    của các em. Khi các em học sinh được tham gia vào đóng vai trong các tình
    huống như các diễn viên, được trải nghiệm, được thể hiện quan điểm cá nhân,
    được bạn bè ngưỡng mộ, chắc chắn học sinh sẽ rất hăng hái tham gia. Giờ học
    không còn nặng về kiến thức hàn lâm, khô khan, gò bó nhàm chán mà trở nên
    hấp dẫn sôi nổi, vui vẻ, các em luôn mong chờ được học tiết học GDCD.
    Ngược lại, đối với những lớp hơi trầm thì không nên đưa nhiều tình huống
    vì các em hay ngại phát biểu ý kiến, giáo viên đưa ra lại phải tự mình giải đáp
    thì hiệu quả không cao. Lớp có nhiều học sinh cá biệt, ý thức chưa tốt thì phải
    hết sức cẩn trọng khi đưa tình huống vào bài giảng vì các em hay lấy đề tài tình
    huống, gán ghép các bạn trong lớp vào nhân vật trong tình huống để trêu chọc
    nhau, rồi có những phát ngôn chưa chuẩn, hướng đến các vấn đề tiêu cực trong
    11
    xã hội, có khi lại phản tác dụng. Những lớp này cũng cần thận trọng cân nhắc,
    có những quy định thật rõ ràng khi cho các em đóng vai xử lí tình huống, bởi
    nếu quản lí lớp không tốt, học sinh đùa nghịch, nô đùa quá trớn sẽ ảnh hưởng
    đến các lớp khác.
    Việc xây dựng bài tập tình huống có thể diễn ra trước giờ lên lớp, trong khi
    dạy hoặc sau khi kết thúc bài giảng dành ra một vài phút để cho học sinh làm
    bài tập về nhà. Việc đưa ra các tình huống trong giờ học cùng với sự tâm huyết,
    nhiệt tình, giọng nói lên bổng xuống trầm, phong thái thay đổi linh hoạt của
    người thầy sẽ có tác dụng lớn nhất.
    Ví dụ: Khi dạy bài 10, lớp 10: “Quan niệm về đạo đức”, có một tình
    huống được đưa ra như sau:
    Trên đường đi học về, cách nhà 1 km thì H nhìn thấy mấy viên gạch vỡ
    nằm lăn lóc ngay ở lòng đường, có viên còn rơi ra giữa đường mà mọi người
    vẫn vô tư qua lại. Có lẽ là gạch rơi ra từ xe chở vật liệu xây dựng của một ai
    đó. H trộm nghĩ: trên đoạn đường này có rất nhiều xe thường xuyên qua lại,
    có cả xe đạp và xe máy, học sinh tiểu học đi về cũng đông, nếu để gạch nằm ở
    đó sẽ không an toàn vì dễ bị ngã xe khi xô vào gạch. Nhiều đứa học sinh nhỏ
    cứ cắm cổ đạp xe không nhìn đường thì rất dễ bị ngã đau. H nói với mấy bạn
    cùng đi dừng lại để nhặt gạch thì các bạn đều bảo không phải chuyện của
    mình và đạp xe đi thẳng. Có đứa bảo H là con dở hơi, dỗi việc. H không nói
    gì, lặng lẽ dừng lại, dựng xe bên lề đường rồi nhặt mấy viên gạch vỡ xếp gọn
    vào ven đường. Xong việc, H nóng quá liền tìm quán nước ven đường uống
    cốc nước trà đá rồi mới về. Dù muộn một chút nhưng trong lòng H rất vui vì
    đã giúp được người khác.
    Câu hỏi:
    Câu 1: Nhặt gạch rơi trong khi có nhiều người qua lại trên đường có nguy hiểm
    gì cho H không?
    Câu 2: H vui vì lý do gì? Tại sao các bạn không dừng lại nhặt gạch cùng H?
    Các bạn có đạo đức tốt không?
    12
    Bài tập trên có nhiều vấn đề chưa hợp lí. Nội dung chính còn nhiều chi tiết
    thừa, không thật sự cần thiết. Câu hỏi thứ nhất đi hơi xa với nội dung cần giáo
    dục. Câu hỏi thứ hai còn khó giải thích với học sinh, các em ít giơ tay để trả lời.
    Bài tập có thể đƣợc sửa lại như sau:
    Trên đường đi học về gần đến nhà thì H nhìn thấy mấy viên gạch vỡ
    nằm ngổn ngang trên đường. Có lẽ gạch rơi ra từ xe chở vật liệu xây dựng. H
    chợt nghĩ: trên đoạn đường này rất đông người qua lại, đặc biệt là trẻ em tan
    học hay phóng nhanh không nhìn đường, va vào gạch rất dễ bị ngã.
    H nói với mấy bạn đi cùng dừng lại để nhặt gạch cho an toàn thì đều
    nhận được những cái lắc đầu và nói rằng đó không phải nghĩa vụ cuả các
    bạn và đi thẳng. H dừng lại, lặng lẽ nhặt từng viên gạch và xếp gọn vào lề
    đường. Xong việc, H đạp xe về mà thấy trong lòng thật vui.
    Câu hỏi:
    Câu 1: Tại sao H thấy vui khi nhặt xong những viên gạch vỡ xếp vào ven
    đường?
    Câu 2: Mấy bạn trong lớp không hưởng ứng lời đề nghị của H vì lý do gì?
    Câu 3: Nếu có mặt ở đó, em sẽ xử sự như thế nào?
    Đây là tình huống có thể xảy ra nhiều trong thực tế. Có thể gợi ý trả
    lời nhƣ sau:
    Câu 1: H vui vì nghĩ rằng mình làm được một việc nhỏ nhưng có thể giúp đỡ
    được người khác, đảm bảo an toàn cho những người đi đường. Việc làm xuất
    phát từ lòng thương người, long nhân ái của một người có tư cách đạo đức tốt,
    tự nguyện làm việc tốt không hề tính toán thiệt hơn.
    Câu 2: Mấy bạn trong lớp không hưởng ứng lời đề nghị của H vì các bạn nghĩ
    đi học về phải về nhà cho nhanh, đang đói, đang khát thì không muốn làm gì.
    Việc nhặt gạch là việc của mấy bác lao công. Đường đang đông mà ra giữa
    đường nhặt gạch sợ sẽ nguy hiểm cho mình,… Và còn rất nhiều lý do khác. Nói
    chung mấy bạn đó khá tính toán thiệt hơn, chưa thật sự là người có đạo đức tốt.
    13
    Câu 3: Giả định em có mặt ở đó thì em sẽ làm gì? Có hưởng ứng lời đề nghị
    của H hay không? Tuỳ theo cách giải thích và suy nghĩ của các em, để các em
    thoải mái phát biểu ý kiến.
    2. 3. Nội dung của tình huống
    2.3.1.Tình huống nêu ra phải là một tình huống có vấn đề
    Vấn đề là điều cần phải xem xét, nghiên cứu, giải quyết.
    Tình huống có vấn đề là tình huống trong đó có điều gì đó được đặt ra
    nhưng chưa sáng tỏ, không xác định được trước đó mà chỉ đặt ra mối quan hệ
    của nó tới những gì có trong tình huống. Tình huống có vấn đề là một tình
    huống gợi cho học sinh những khó khăn về lí luận hay thực tiễn mà họ thấy cần
    thiết và có khả năng vượt qua. Điều đó có nghĩa là các em phải vận dụng các
    thao tác tư duy để phân tích, mổ xẻ, thảo luận và thống nhất ý kiến; nghĩa là
    phải trải qua một quá trình suy nghĩ tích cực mới có thể giải quyết được vấn đề
    chứ không đơn giản, dễ dàng.
    2.3.2. Tình huống phải gắn với thực tế của đời sống.
    Các tình huống phải mang tính thời sự, là những tin tức nóng được cập
    nhật nhiều lần trong ngày, có sự quan tâm chú ý đặc biệt của nhiều người. Nhờ
    đó mà các em quan tâm hơn tới các chương trình thời sự, đến đời sống chính trị
    – kinh tế – xã hội của đất nước, đến đời sống muôn màu. Giá trị đích thực của
    tình huống là ở nội dung tình huống. Tình huống phải đảm bảo tính khoa học,
    bám sát kiến thức chuẩn sách giáo khoa, có tính thực tế, gắn với các sự kiện liên
    quan đến đời sống hàng ngày, càng gần gũi với học sinh càng tốt.
    Khi dạy bài 12 lớp 11: “Chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng”
    có thể đưa ra tình huống như sau:
    Công ty gang thép Fomosa ( do người Đài Loan làm chủ) kinh doanh ở
    tỉnh Hà Tĩnh đã xả thải trái phép ra môi trường. Chất độc mà công ty thải ra
    đã làm cá chết hàng loạt, lên tới hàng trăm tấn trên địa bàn 4 tỉnh miền
    Trung là Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Công ty này
    đã bị xử phạt hành chính, buộc phải bồi thường cho dân 500 triệu USD và đã
    khắc phục được 53 trên tổng số
    14
    56 lỗi vi phạm.
    Hình ảnh cá chết hàng loạt ở bờ biển tại Hà Tĩnh
    Câu hỏi:
    Câu 1: Suy nghĩ của em như thế nào về việc xả thải trái phép của công ty
    Fomosa? Việc làm đó có tác động xấu như thế nào đến môi trường và cuộc sống
    của người dân xung quanh khu vực đó?
    Câu 2: Cách xử lí và khắc phục sự cố này của chính phủ Việt Nam đã thoả đáng
    chưa?
    Câu 3: Em có thể nêu một số giải pháp để bảo vệ môi trường biển an toàn một
    cách bền vững?
    Gợi ý trả lời:
    Câu 1: Việc xả thải trái phép của công ty là xâm hại nghiêm trọng môi trường
    biển Việt Nam. Chỉ vì lợi ích kinh tế trước mắt của công ty mà làm ảnh hưởng
    đến cuộc sống của nhiều người: việc đánh bắt cá của ngư dân bị ngưng trệ;
    ngành du lịch vắng khách, nhiều người thất nghiệp, nguồn nước bị nhiễm độc
    nặng nề, …Đây là hành vi vô đạo đức và vi phạm pháp luật Việt Nam.
    Câu 2: Cách xử lí của chính phủ Việt Nam đã phần nào giúp người dân vơi bớt
    khó khăn. Người dân được trả tiền đền bù để chuyển đổi nghề nghiệp, vượt qua
    nỗi đau, ổn định tâm lí.
    15
    Công ty Fomosa đã cố gắng trả tiền đền bù đầy đủ và nhanh chóng khắc
    phục các sự cố. Điều đó thể hiện thiện chí hợp tác với chính phủ Việt Nam để
    giải quyết vấn đề, muốn tiếp tục kinh doanh ở Việt Nam.
    Câu 3: Việc cần làm để bảo vệ môi trường biển bền vững:
    + kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc cho các doanh nghiệp thuê đất, việc cấp
    giấy phép kinh doanh cho doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm dễ gây ô nhiễm
    môi trường.;
    + thường xuyên kiểm tra hệ thống xử lí nước thải xem họ có vận hành
    không, có tốt thật không, nhất quyết không đổi lợi ích kinh tế trước mắt với môi
    trường;
    + xử lí thật nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật về phá hoại môi
    trường;
    + tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức của mọi người dân về bảo vệ
    tài nguyên và môi trường.
    Khi dạy hoặc ôn tập thi tốt nghiệp về các loại vi phạm pháp luật và
    trách nhiệm pháp lí tại bài 2: Thực hiện pháp luật (GDCD 12), có thể đƣa
    ra tình huống và cho học sinh đóng vai tình huống: Người phụ nữ F1 lấy lí
    do phải ở nhà cầu nguyện đã cố thủ nhiều giờ trên tầng 3 không đi cách li
    tập trung để phòng chống COVID 19 tại Bắc Giang khiến cho lực lượng
    chức năng phải dùng xe thang đột nhập, phá cửa, cưỡng chế người phụ nữ
    đi cách li.
    Câu hỏi:
    Câu 1. Hành vi chống đối việc cách li của người phụ nữ này có vi phạm pháp
    luật không? Nếu có vi phạm sẽ bị xử lí như thế nào?
    Câu 2. Thái độ của em như thế nào đối với hành vi chống đối của người phụ nữ
    này? Nếu là một tuyên truyền viên, em sẽ nêu thông điệp gì để nâng cao ý thức
    của mọi người trong cuộc chiến với đại dịch COVID 19?
    Gợi ý trả lời:
    Câu 1: Hành vi chống đối của người phụ nữ trên có vi phạm pháp luật, vì có thể
    làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm. Hành vi này sẽ bị xử phạt hành chính ( cụ thể
    16
    Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Bắc Giang đã quyết định xử phạt hành
    chính đối với bà Phạm Thị Q ( 44 tuổi, ở tổ 6, phường Trần Nguyên Hãn) 10
    triệu đồng về hành vi trốn tránh áp dụng biện pháp cách li y tế, quy định tại
    điểm b, khoản 1, điều 11 Nghị định 117.
    Câu 2: Thái độ lên án, không đồng tình với hành vi trên.
    Nếu là tuyên truyền viên em sẽ giải thích cho mọi người biết về sự nguy
    hiểm của dịch bệnh, hậu quả của việc thiếu ý thức sẽ làm tăng thêm nguy cơ lây
    lan dịch bệnh. Mỗi người cần phải đặt lợi ích của cộng đồng lên trên lợi ích cá
    nhân, nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật, khuyến cáo của Bộ
    Y tế để bảo vệ sức khỏe cho chính mình, gia đình và mọi người xung quanh….
    2.3.3. Tình huống phải phù hợp với chủ đề bài học ngày hôm đó, tránh sáo
    rỗng hoặc lạc đề. Nội dung tình huống xoáy sâu vào các kiến thức trọng
    tâm cần làm rõ
    2.3.3.1. Giảng dạy kiến thức về triết học
    Khi dạy bài 1 Giáo dục công dân 10: Thế giới quan duy vật và phương
    pháp luận biện chứng, có thể đưa ra tình huống sau.
    Có nhà khoa học đang đi trên một con tàu. Ông ta hỏi người lái tàu:
    – “Anh có học ngữ pháp không”?
    Người lái tàu đáp:

    “Không”.
    Nhà khoa học nói:

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Nâng cao hiệu quả hoạt động khởi động trong chương trình Giáo dục công dân lớp 11

    SKKN Nâng cao hiệu quả hoạt động khởi động trong chương trình Giáo dục công dân lớp 11

    Điều kiện, hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
    3
    Trong dạy học nói chung, dạy học môn Giáo dục công dân nói riêng, tiến
    trình dạy học bao gồm nhiều hoạt động, mà khởi động chính là bước đầu tiên, có
    ý nghĩa mở đường. Hoạt động khởi động là công việc tạo tâm thế nhập cuộc cho
    học sinh, mục đích kích thích sự tò mò, khơi dậy hứng thú của học sinh với bài
    học. Hoạt động này nhằm giúp học sinh huy động những kiến thức, kĩ năng,
    kinh nghiệm của bản thân về các vấn đề có nội dung liên quan đến bài học mới;
    kích thích tính tò mò, sự hứng thú, tạo tâm thế cho học sinh ngay từ đầu tiết học.
    Vậy tại sao cần phải khởi động? Bởi lẽ, việc hình thành kiến thức mới bao giờ
    cũng dựa trên những kinh nghiệm đã có trước đó của người học. Hoạt động khởi
    động giúp giáo viên tìm hiểu xem học sinh có hiểu biết như thế nào về những
    vấn đề có liên quan đến nội dung của bài học, từ đó giúp người học huy động
    vốn kiến thức và kĩ năng đã có để chuẩn bị tiếp nhận kiến thức và kĩ năng mới.
    Bước khởi đầu của bài học còn có tác dụng tạo không khí và nêu lên tình huống
    có vấn đề cũng như nhiệm vụ trọng tâm của bài học, nhờ đó mà kích thích được
    hứng thú và ham muốn đi tìm chân lí của học sinh. Không chỉ có ý nghĩa với
    người học, việc tổ chức tốt hoạt động khởi động trong tiến trình dạy học cũng là
    cách để người dạy tạo hứng thú cho chính bản thân mình, để bắt vào bài mới
    một cách tự nhiên, sinh động, thực hiện tốt những mục tiêu bài học đề ra. Trong
    thực tế, những hình thức khởi động bài học hợp lí có thể cùng lúc đáp ứng được
    nhiều mục đích khác nhau: vừa khiến học sinh hứng thú, vừa ổn định được lớp,
    kiểm tra, ôn tập bài cũ, đồng thời tạo tiền đề cần thiết cho bài mới.
    Xuất phát từ vai trò của hoạt động khởi động trong tiến trình dạy học nói
    chung và trong dạy học môn Giáo dục công dân nói riêng, có thể thấy, việc thiết
    kế hoạt động khởi động cho giờ học cần được giáo viên chú ý đầu tư công phu.
    Trong phạm vi của sáng kiến kinh nghiệm, tôi đưa ra một số kinh nghiệm
    “Nâng cao hiệu quả hoạt động khởi động trong chương trình Giáo dục công
    dân lớp 11.”
    Phần II. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động khởi động trong
    chương trình Giáo dục công dân lớp 11.
    4
    2.1. Thực trạng về hoạt động khởi động trong các bài học của môn
    Giáo dục công dân lớp 11.
    Khởi động là một hoạt động bắt buộc, cần thiết trong tiến trình dạy học, tuy
    nhiên trong thực tế giảng dạy môn Giáo dục công dân nói chung và môn Giáo
    dục công dân lớp 11 nói riêng, nhiều giáo viên chưa thực hiện đúng và chưa hiệu
    quả. Có giáo viên hoàn toàn bỏ qua, thậm chí không giới thiệu, dẫn dắt vào bài
    mà bắt đầu ngay bằng việc truyền đạt kiến thức mới cho học sinh. Cũng có
    những trường hợp giáo viên có ý thức xây dựng phần khởi động nhưng chưa đáp
    ứng được yêu cầu. Đó là việc dẫn dắt bằng một vài câu giới thiệu tên bài học sơ
    sài, đơn điệu, mang tính hình thức. Việc dẫn nhập, giới thiệu bằng phương pháp
    thuyết trình như vậy đã tồn tại từ rất lâu, giáo viên giống như người “rót” những
    kiến thức cần thiết vào “chiếc bình” là học sinh và hậu quả là thủ tiêu sự sáng
    tạo, làm mất đi hứng thú khám phá chân lí của học trò. Đó là việc chỉ chú ý tạo
    không khí sôi nổi cho giờ học bằng một số hình thức như tham gia trò chơi, xem
    phim, nghe nhạc… mà không đưa ra được tình huống có vấn đề đề xuyên suốt
    giờ học đề học sinh giải quyết, khiến cho học sinh chỉ hào hứng được mấy phút
    đầu giờ học, càng về sau không khí càng trầm xuống, các hoạt động diễn ra rời
    rạc, thiếu tính chỉnh thể. Hoặc có khi nêu được tình huống có vấn đề nhưng lại
    chưa tạo được không khí cho giờ học, người dạy chỉ chăm chăm để đạt được
    mục tiêu của bản thân qua giờ học mà không quan tâm tới cảm xúc của người
    học khi tiếp nhận, dẫn tới hiện tượng học sinh bị gò ép, đối phó trong trạng thái
    miễn cưỡng. Tất cả những điều đó đều có thể dẫn đến sự thất bại của chuỗi các
    hoạt động dạy học tiếp theo.
    Có thể nói, trong thực tế giảng dạy môn Giáo dục công dân ở bậc THPT,
    vẫn còn hiện tượng nhiều giáo viên đánh giá chưa hết, chưa đủ vai trò của hoạt
    động khởi động trong việc khơi mở, hướng dẫn học sinh tự học, tự mình khám
    phá và chinh phục tri thức. Người dạy, do đó cũng chưa tận dụng được những
    ưu thế của hoạt động này trong việc tổ chức cho học sinh học tập để nâng cao
    hiệu quả dạy học.
    2.2. Giải pháp chung
    5
    Xuất phát từ vai trò của hoạt động khởi động và thực trạng nêu trên, để thiết
    kế hoạt động khởi động cho chương trình Giáo dục công dân lớp 11, người giáo
    viên cần phải:
    2.2.1. Sự cần thiết của hoạt động khởi động và một số hình thức khởi
    động hiệu quả cho môn Giáo dục công dân
    2.2.1.1. Yêu cầu của hoạt động khởi động
    Trong một tiết học người dạy không thể dành quá nhiều thời gian cho hoạt
    động khởi động. Vậy nên, yêu cầu đầu tiên của phần khởi động là cần ngắn gọn,
    nêu ra được tình huống có vấn đề, cũng là nhiệm vụ xuyên suốt của giờ học để
    học sinh giải quyết. Theo đó, người dạy phải hướng người học vào bài mới bằng
    lời gọn ý sâu, lấy ít dẫn nhiều chứ không dài dòng, tùy tiện. Để đạt được yêu cầu
    đó, đòi hỏi sự tinh luyện của nội dung, sự tinh tế của ngôn ngữ, sự sáng tạo
    trong hình thức tổ chức. Tất cả hoà quyện thành phần khởi động đầy tự nhiên,
    cuốn hút. Bên cạnh đó, hoạt động khởi động thường được tổ chức thông qua
    hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm sẽ kích thích sự sáng tạo, giúp học sinh
    hình thành năng lực hợp tác, tinh thần học hỏi, giúp đỡ nhau khi thưc hiện
    nhiệm vụ. Chuẩn bị phần khởi động như thế nào cho hiệu quả phải dựa vào nội
    dung bài, đối tượng học sinh và cả điều kiện của giáo viên.
    2.2.1.2. Một số hình thức khởi động hiệu quả cho giờ dạy môn Giáo dục
    công dân
    Có rất nhiều hình thức để tiến hành hoạt động khởi động cho giờ dạy môn
    Giáo dục công dân, giáo viên có thể vận dụng linh hoạt hình thức phù hợp, hiệu
    quả với từng bài học và điều kiện cụ thể của hoạt động dạy học.
    – Khởi động bằng cách nêu câu hỏi, bài tập: Trong mỗi bài học, hoạt động
    khởi động thường gồm 1-3 câu hỏi, bài tập. Các bài tập này thường là quan sát
    tranh/ảnh để trao đổi với nhau về một vấn đề nào đó có liên quan đến bài học.
    Cũng có một số bài tập không sử dụng tranh/ảnh mà trực tiếp ôn lại kiến thức đã
    học ở cấp/lớp dưới, nhưng thiết kế dưới dạng nhiệm vụ kết nối hoặc những câu
    hỏi. Các câu hỏi/bài tập ở hoạt động khởi động không nên mang nặng tính lí
    6
    thuyết mà cần huy động những kinh nghiệm thực tiễn có liên quan đến nội dung
    bài học để tạo sự hứng thú và suy nghĩ tích cực cho người học.
    – Khởi động bằng một số cuộc thi, ví dụ thi kể chuyện, hát về chủ đề liên
    quan đến bài học. Việc làm này nhằm tạo ra không khí sôi nổi, hứng thú trước
    khi tiến hành học bài mới. Nhiệm vụ đặt ra nên gần gũi với đời sống mà học
    sinh dễ cảm nhận và đã có ít nhiều những hiểu biết ban đầu về chúng.
    – Khởi động bằng việc tổ chức trò chơi: Giờ học môn Giáo dục công dân
    thường trầm lắng, học sinh ngồi nghe thụ động – đây là định kiến của không ít
    người khi nghĩ về một giờ Giáo dục công dân. Do đó, việc tổ chức một số trò
    chơi trong hoạt động khởi động sẽ giúp tạo ra sự sôi nổi, hào hứng cho học sinh
    khi vào bài học mới. Các trò chơi này cũng có nội dung gắn với mỗi bài học, tạo
    điều kiện cho học sinh có thể huy động được kiến thức đã học để giải quyết, qua
    đó giúp học sinh phát hiện vấn đề, kết nối được với nhu cầu học bài mới để giải
    quyết vấn đề đã phát hiện.
    + Trò chơi giải ô chữ: Giáo viên chuẩn bị ô chữ trống, học sinh chia ra là
    các đội, nhiệm vụ của từng đội là mở các ô chữ hàng ngang để tìm ra từ khóa
    hàng dọc. Điểm của từng đội căn cứ vào câu trả lời (đúng/sai) và thời gian đưa
    ra câu trả lời đúng.
    + Trò chơi cướp cờ: Giáo viên chuẩn bị nhiều thẻ từ khóa bày ra. Học sinh
    chia làm nhiều đội. Giáo viên đọc câu hỏi và phát hiệu lệnh. Đại diện các đội
    chạy lên cướp từ khóa là đáp án của câu hỏi. Sau một số câu hỏi nhất định đội
    nào có nhiều thẻ đáp án nhất thì đội đó thắng.
    + Trò chơi Domino: Trò chơi này lấy ý tưởng từ các thanh domino. Nhưng
    thay vì nối số chấm, giáo viên tạo ra những thanh domino nối câu hỏi – câu trả
    lời tương ứng. Thông qua việc nối các thanh Domino, học sinh có thể ôn lại kiến
    thức cũ đồng thời khám phá kiến thức mới.
    + Trò chơi giải mật thư: Giáo viên giao cho học sinh tự tổ chức, chuẩn bị
    bài tập, câu đố… để làm thành mật thư. Mỗi nhóm phụ trách một chặng. Học
    sinh nào giải được tất cả các mật thư thì sẽ chiến thắng. Trò chơi này phù hợp để
    7
    tổ chức tiết ôn tập, có thể tích hợp với phương pháp nhóm chuyên gia (mỗi
    nhóm phụ trách mật thư là một nhóm chuyên gia)
    + Chơi xác định tiến trình: Giáo viên đưa ra một danh sách tiến trình bị sắp
    xếp lộn xộn đánh số thứ tự. Giáo viên phát cho học sinh các thẻ số, trong thời
    gian quy định học sinh phải chạy lên bảng dán các thẻ số (ứng với các bước bị
    sắp xếp lộn xộn) thành trình tự đúng.
    + Trò chơi chuyền banh theo nhạc: Giáo viên đặt câu hỏi rồi mở một đoạn
    nhạc. Trong khi nhạc chơi học sinh chuyền 1 đồ vật cho nhau (banh, thú
    bông…). Nhạc tắt đồ vật ở trong tay học sinh nào thì học sinh đó trả lời. Trò
    chơi đơn giản nhưng cực kì nào động vui vẻ.
    + Trò chơi xem clip tìm thông tin: Giáo viên cho học sinh xem clip (nhạc,
    kịch ngắn…), tìm những từ khóa liên quan đến nội dung bài học. Sau trò chơi ai
    trả lời đủ hết thì chiến thắng.
    2.2.2. Căn cứ vào đặc trưng của môn Giáo dục công dân lớp 11
    Một trong những căn cứ quan trọng để thiết kế hoạt động khởi động là căn
    cứ vào đặc trưng của từng chủ đề trong môn học là Công dân với kinh tế và chủ
    đề Công dân với các vấn đề chính trị -xã hội. Để thiết kế tốt hoạt động khởi
    động cho giáo viên cần nắm vững đặc trưng của hai chủ đề này.
    Chủ đề Công dân với kinh tế cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản
    về một số phạm trù, quy luật kinh tế và phương hướng phát triển kinh tế ở nước
    ta. Trên cơ sở đó giúp học sinh xác định phương hướng học tập, lựa chọn ngành
    nghề hoặc các lĩnh vực hoạt động khác khi ra trường.
    Chủ đề Công dân với các vấn đề chính trị xã hội giúp học sinh có những
    hiểu biết cơ bản về chủ nghĩa xã hội và một số chính sách quan trọng của Đảng
    và Nhà nước để học sinh có thể xác định được trách nhiêm công dân đối với xây
    dựng và bảo vệ tổ quốc.
    2.2.3. Nắm được nguyên tắc sắp xếp các bài học trong sách giáo khoa
    8
    Ngoài việc nắm vững đặc trưng của từng chủ đề, giáo viên còn phải trả lời
    được câu hỏi: Yêu cầu, mục tiêu của chủ đề đó. Trả lời được câu hỏi, giáo viên
    sẽ tìm ra được tình huống có vấn đề để học sinh giải quyết.
    Bên cạnh đó, việc sắp xếp các đơn vị bài học trong sách giáo khoa môn
    Giáo dục công dân lớp 11. Có những vấn đề học sinh đã được tìm hiểu ở các
    môn học khác, lại tiếp tục tìm hiểu ở môn Giáo dục công dân. Giáo viên cần dựa
    trên những điều học sinh đã biết mà đặt học sinh vào vấn đề mới để giải quyết.
    2.2.4. Căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng của từng bài học
    Muốn xác định mục tiêu trọng tâm, xuyên suốt giờ học, người dạy cần căn
    cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng của từng bài học cụ thể. Chuẩn kiến thức, kĩ
    năng được chi tiết hoá, tường minh hoá bằng các yêu cầu cụ thể, rõ ràng, đó là
    những yêu cầu có tính tối thiểu, nhằm đảm bảo mọi học sinh cần phải và có thể
    đạt được. Kiến thức, kĩ năng: phải dựa trên cơ sở phát triển năng lực, trí tuệ học
    sinh ở các mức độ, từ đơn giản đến phức tạp, bao hàm các mức độ khác nhau
    của nhận thức.
    2.3. Giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả của hoạt động khởi động trong
    môn Giáo dục công dân lớp 11
    Từ những căn cứ nói trên, chúng tôi thiết kế hoạt động khởi động cho các
    chủ đề trong chương trình môn Giáo dục công dân lớp 11. Những phần khởi
    động có sử dụng video, clip âm thanh, chúng tôi tập hợp trong đĩa CD kèm theo
    sáng kiến kinh nghiệm.
    2.3.1. Thiết kế hoạt động khởi động cho chủ đề Công dân với kinh tế.
    Bài 1. Công dân với sự phát triển kinh tế
    Xuất phát từ mục tiêu của bài học, học sinh phải nắm được khái niệm sản
    xuất của cải vật chất; vai trò quyết định của sản xuất của cải vật chất đối với đời
    sống xã hội; các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và mối quan hệ giữa
    chúng. Hiểu được phát triển kinh tế và ý nghĩa của phát triển kinh tế. Từ đó, các
    em tích cực tham gia xây dựng kinh tế gia đình, địa phương. Đồng thời nỗ lực
    học tập để nâng cao chất lượng lao động của bản thân, góp phần xây dựng kinh
    tế đất nước.
    9
    Đây là bài học đầu tiên trong chương trình Giáo dục công dân lớp 11 nên
    tôi lựa chọn các câu ca dao, tục ngữ, câu đố về sản xuất dễ hiểu, dễ nhớ để tạo
    không khí nhẹ nhàng, thoải mái cho học sinh khi bước vào bài học. Qua đó, tôi
    muốn khơi gợi tình yêu của học sinh đối với kho tàng ca dao tục ngữ của nước
    ta. Vì thế tôi đã lựa chọn hình thức khởi động bằng trò chơi: ”Nông trại vui vẻ”.
    Câu 1: Điền vào dấu ba chấm: “Nuôi ….ăn cơm nằm, nuôi … ăn cơm
    đứng”
    Đáp án: lợn, tằm
    Câu 2: Câu tục ngữ nói về các yếu tố quan trọng trong trồng lúa nước?
    Đáp án: Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống.
    Câu 3: Điền vào dấu ba chấm: … ruộng lạ, … ruộng quen
    Đáp án: Khoai – mạ.
    Câu 4: Câu tục ngữ nói về độ dài, ngắn của các ngày trong năm?

    Đáp án:“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
    Ngày tháng mười chưa cười đã tối”

    Câu 5: Con gì có cánh
    Mà lại biết bơi
    10
    Ngày tắm ao sâu
    Đêm về nằm ngủ?”
    Đáp án: Con vịt
    Câu 6: Câu tục ngữ nào nói lên vai trò của lương thực
    Đáp án: “Có thực mới vực được đạo”
    Bài 2: Hàng hóa- Tiền tệ- Thị trường
    Thông qua khái niệm hàng hoá và hai thuộc tính của hàng hoá; nguồn gốc,
    bản chất, chức năng của tiền tệ; khái niệm và chức năng của thị trường. Từ đó,
    các em biết phân biệt giá trị với giả cả hàng hoá; nhận xét tình hình sản xuất và
    tiêu thụ một số sản phẩm hàng hóa ở địa phương; coi trọng đúng mức vai trò của
    hàng hoá, tiền tệ và sản xuất hàng hóa nên tôi đã chọn hai cách khởi động, Cách
    1: Trò chơi “Ai là triệu phú” và cách 2 là trò chơi đoán ô chữ. Với hình thức
    này, học sinh vô cùng hào hứng tham gia tạo không khí sôi nổi. Các em củng cố
    lại kiến thức của bài trước với tâm thế chủ động chứ không phải bị động hay ép
    buộc.
    Cách 1: Dựa theo phiên bản chương trình “Ai là triệu phú” trên sóng
    truyền hình tôi đã sử dụng phần mềm cắt ghép và tạo video, rồi lồng vào nội
    dung là những câu hỏi của bài 1. Công dân với sự phát triển kinh tế. Hệ thống
    câu hỏi có số lượng 15 câu hỏi về những nội dung liên quan đến kinh tế, sản
    xuất của cải vật chất…đều là kiến thức các em đã được học.
    Câu 1: Sự tác động của con người vào tự nhiên, biến đổi các yếu tố của tự nhiên
    để tạo ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu của mình là
    A. quá trình độc quyền. B. phương thức cạnh tranh
    C. sản xuất của cải vật chất D. hoạt động thúc đẩy đầu cơ.
    Câu 2: Toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần của con người được
    vận dụng vào quá trình sản xuất là
    A. vốn đầu tư. B. bối cảnh xã hội

    C. tư liệu sản xuất.
    Câu 3: Tư liệu lao động được chia thành
    D. sức lao động.

    A. 2 loại. B. 5 loại. C. 4 loại. D. 3 loại
    11

    Câu 4:“ Trâu ơi ta bảo trâu này.
    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.”
    Con trâu trong câu ca dao tục ngữ nói đến yếu tố nào trong quá trình sản xuất ?
    A. sức lao động.C. đối tượng lao động.

    C. hệ thống bình chứa. D. tư liệu lao động.
    Câu 5: Một vật hay hệ thống những vật làm nhiệm vụ truyền dẫn sự tác động
    của con người lên đối tượng lao động, nhằm biến đổi đối tượng lao động thành
    sản phẩm thoả mãn nhu cầu của con người là khái niệm
    A. Tư liệu lao động. B. Công cụ lao động.
    C. Đối tượng lao động. D. Sản xuất vật chất.
    Câu 6: Xét đến cùng, toàn bộ sự vận động và phát triển của đời sống xã hội là
    do yếu tố nào dưới đây quyết định?
    A. Chế độ chính trị. B. Sản xuất vật chất.
    C. Tư tưởng tôn giáo. D. Chính sách pháp luật.
    Câu 7: Một trong những căn cứ cơ bản để phân biệt các thời đại kinh tế là
    A. kết cấu hạ tầng. B. công cụ lao động.
    C. đối tượng lao động. D. hệ thống bình chứa.
    Câu 8: Quá trình lao động sản xuất là sự kết hợp giữa sức lao động với
    A. cơ cấu kinh tế. B. đội ngũ nhân công.
    C. kiến trúc thượng tầng. D. tư liệu sản xuất.
    Câu 9: Khẳng định nào dưới đây không đúng về ý nghĩa của phát triển kinh tế
    đối với cá nhân?
    A. có điều kiện chăm sóc sức khỏe.
    B. chắc chắn có việc làm và thu nhập ổn định.
    C. khẳng định vị trí, tầm quan trọng của mình.
    D. được đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần.
    Câu 10: Trong sản xuất của cải vật chất, yếu tố quan trọng nhất của tư liệu lao
    động là
    A. sức lao động. B. đối tượng lao động.
    C. công cụ lao động. D. người lao động
    12
    Câu 11: Yếu tố giữ vai trò quan trọng và quyết định nhất trong quá trình sản
    xuất của cải vật chất là
    A. tư liệu lao động. B. đối tượng lao động.
    C. công cụ lao động. D. sức lao động.
    Câu 12: Vật nào dưới đây là đối tượng lao động của ngành công nghiệp dệt?
    A. Máy dệt vải. B. Tủ đựng vải.
    C. Kéo cắt vải. D. Sợi để dệt vải.
    Câu 13: Sự tăng lên về số lượng, chất lượng sản phẩm và các yếu tố của quá
    trình sản xuất ra nó được gọi là
    A. ổn định xã hội. B. tăng trưởng kinh tế.
    C. ổn định sản xuất. D. phát triển kinh tế.
    Câu 14: Đối tượng lao động được chia thành mấy loại?
    A. 2 loại. B. 3 loại. C. 4 loại. D. 5 loại.
    Câu 15: Hoạt động có mục đích, có ý thức của con người làm biến đổi những
    yếu tố của tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người là khái niệm
    A. sản xuất của cải vật chất. B. hoạt động.
    C. tác động. D. lao động.
    Cách 2: Trò chơi ô chữ với 7 từ hàng ngang, tương ứng với 7 câu hỏi.
    13
    Câu 1: Sản xuất của cải vật chất là sự tác động của con người vào tự nhiên làm
    biến đổi những yếu tố của tự nhiên tạo ra… phù hợp với nhu cầu của mình.
    Đáp án: Sản phẩm
    Câu 2: Số lượng tiền niêm yết trên hàng hóa gọi là gì?
    Đáp án: giá cả
    Câu 3: Hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho các hàng
    hóa khác gọi là hình thái gì?
    Đáp án: Tiền tệ
    Câu 4: Số lượng hàng hóa được bày bán trên thị trường được gọi là …
    Đáp án: Cung
    Câu 5: Nhà sản xuất cần phải đăng ký … để bảo vệ bản quyền của mình?
    Đáp án: Nhãn hiệu
    Câu 6: Hoạt động bản chất nhất của con người phân biệt với con vật là hoạt
    động nào?
    Đáp án: Lao động
    Câu 7: Trong nền kinh tế của một nước xảy ra tình trạng đồng tiện bị mất giá
    gọi là gì?
    Đáp án: Lạm phát
    Đáp án từ chìa khóa: Hàng hóa

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số giải pháp giúp học sinh thực hiện chuyển đổi số qua việc sử dụng điện thoại thông minh trong giờ học đạt hiệu quả theo Thông tư 32/2020/BGDĐT

    SKKN Một số giải pháp giúp học sinh thực hiện chuyển đổi số qua việc sử dụng điện thoại thông minh trong giờ học đạt hiệu quả theo Thông tư 32/2020/BGDĐT

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Từ cuộc tranh luận trên truyền hình, báo chí, cuộc tranh luận của giáo viên,
    cha mẹ học sinh và các em học sinh về Thông tư 32/2020/TT – BGDĐT được ban
    hành ngày 15/9/2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (gọi tắt là Thông tư 32)
    về việc cho phép hay không cho phép học sinh sử dụng điện thoại trong giờ học,
    chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu về cơ sở pháp lý và yêu cầu thực tiễn của vấn đề
    này.
    Tại Điều 2 của Luật Giáo dục năm 2019 đã chỉ rõ: “Mục tiêu giáo dục nhằm
    phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe,
    thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng
    yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
    xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí,
    phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây
    dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế”.
    Để thực hiện mục tiêu trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều văn
    bản nhằm không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học phù hợp với điều kiện mới:
    Thông tư số 26/2020/TT –BGDĐT ban hành ngày 26/8/2020 về sửa đổi, bổ sung
    một số điều của Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh THCS và học sinh THPT ban
    hành kèm theo Thông tư số 58/2011/TT –BGDĐT, trong đó tại khoản 1.a điều 7 cho
    phép kiểm tra thường xuyên theo hình thức trực tuyến; Thông tư 32/2020/TT –
    BGDĐT ban hành Điều lệ trường THCS và trường THPT và trường THPT có nhiều
    cấp học thay thế cho Thông tư số12/2011/TT-BGDĐT. Điều 37 thuộc Thông tư 32
    đã quy định các hành vi học sinh không được làm, tại khoản 4 quy định “sử dụng
    điện thoại di động và các thiết bị khác không phục vụ cho việc học tập và không
    được giáo viên cho phép”. Quy định này đã “cởi trói” cho việc cấm sử dụng cấm
    hoàn toàn việc học sinh sử dụng điện thoại trong nhà trường kể cả phục vụ mục đích
    học tập.
    Bước sang thế kỷ XXI với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa
    học công nghệ (Cách mạng 4.0) với những bước tiến nhảy vọt đã tác động mạnh mẽ
    đến mọi mặt của đời sống xã hội của từng quốc gia và trên phạm vi toàn cầu trong
    đó có giáo dục đào tạo. Công nghệ thông tin được ứng dụng nhanh và rộng rãi trong
    mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội, trong đó có giáo dục: Máy vi tính, thiết bị
    video và các thiết bị truyền dẫn thông tin khác, những nghiên cứu về trí thông minh
    2
    nhân tạo dựa vào máy tính đã tạo ra được những hệ thống có thể nhận ra được giọng
    nói, đọc được nét chữ và chẩn đoán được bệnh tật… đã làm thay đổi không
    những cách chúng ta học, cái chúng ta phải học mà nó còn buộc chúng ta phải nhận
    ra rằng tương lai sẽ đòi hỏi tất cả chúng ta phải là những người học liên tục và suốt
    đời. Năng lực học suốt đời và biết cách học là những năng lực cốt lõi trong nền kinh
    tế tri thức. Đổi mới giáo dục trở thành một xu thế tất yếu mang tính chất toàn cầu.
    Hiện nay dịch bệnh Covid – 19 đang diễn biến phức tạp, ở Nam Định và nhiều địa
    phương trong cả nước đã kịp thời ứng dụng công nghệ thông tin (viết tắt là CNTT)
    vào việc quản lý, dạy và học. Các lực lượng giáo dục đã phát huy thiết bị thông minh
    (máy tính, điện thoại thông minh; Ipad…) và các phần mềm hỗ trợ cho việc dạy và
    học trực tuyến theo tinh thần “Tạm dừng đến trường nhưng không ngừng học”.
    Thông qua các hoạt động đó đã giúp giáo viên và học sinh ứng dụng CNTT vào việc
    thực hiện các nhiệm vụ học tập và rèn luyện. Tuy nhiên việc sử dụng các thiết bị
    thông minh và các phần mềm dạy và học chưa được sử dụng một cách thường xuyên.
    Kỹ năng khai thác CNTT của học sinh và giáo viên để đạt hiệu quả còn chưa cao.
    Hiện nay, phần lớn học sinh THPT đã được trang bị điện thoại thông minh
    nhưng chủ yếu chỉ phục vụ cho nhu cầu giải trí, liên lạc gia đình, kết nối bạn bè. Chỉ
    có một số ít học sinh biết khai thác thế mạnh của điện thoại thông minh cho việc
    học tập, nâng cao trình độ. Điều này gây lãng phí lớn về tài nguyên (thiết bị công
    nghệ, thời gian, sức khỏe, nguồn tri thức vô tận của nhân loại…). Vấn đề hiện nay
    là, gần như không một gia đình nào hạn chế được tối đa việc sử dụng điện thoại của
    con em mình; ở nhiều trường học, lớp học – học sinh vẫn lén lút mang điện thoại
    đến trường sử dụng không nhằm mục đích học tập (điều đó được minh chứng bằng
    rất nhiều các hình ảnh phản cảm học đường đã nhanh chóng được lan truyền trên
    mạng, ngay trong giờ học). Vì vậy, cần thiết phải có cách thức để sử dụng thiết bị
    thông minh một cách “thông minh”, biến điện thoại thông minh trở thành một
    phương tiện học tập hiệu quả, giúp thế hệ trẻ chúng em được tiếp cận với một phương
    thức giáo dục thông minh hơn, hiện đại hơn chứ không phải chỉ dùng điện thoại
    thông minh với mục đích cá nhân đơn thuần.
    Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn trình bày sáng kiến kinh
    nghiệm “Một số giải pháp giúp học sinh thực hiện chuyển đổi số qua việc sử
    dụng điện thoại thông minh trong giờ học đạt hiệu quả theo Thông tư
    32/2020/BGDĐT” với mong muốn được chia sẻ những kinh nghiệm trong quá trình
    thực hiện dạy học bộ môn có sử dụng điện thoại thông minh tới bạn bè, đồng nghiệp.
    3
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Ứng dụng CNTT (sử dụng các phần mềm dạy học, sử dụng các thiết bị hiện
    đại như máy chiếu, máy chiếu hắt, ti vi thông minh, các ngữ liệu khoa học từ trên
    mạng Internet) vào quá trình dạy và học là một vấn đề không mới tuy nhiên việc sử
    dụng trong nhà trường mới chỉ dừng lại chủ yếu từ phía giáo viên. Việc ứng dụng
    CNTT trong nhà trường đã bước đầu đáp ứng được một phần yêu cầu của đổi mới
    dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất của
    người học. Tuy nhiên, phần lớn giáo viên chỉ đào tạo về mặt chuyên môn, nên năng
    lực sử dụng các phần mềm tiện ích phục vụ cho quá trình dạy học là rất hạn chế.
    Hiện nay, có một số lượng lớn học sinh THPT được cha mẹ trang bị cho điện
    thoại thông minh để liên lạc, giải trí, học tập. Tuy nhiên thời lượng học sinh sử dụng
    điện thoại cho việc học tập còn chưa thường xuyên và chưa nhiều. Đồng thời ý thức
    sử dụng điện thoại đúng mục đích của học sinh còn hạn chế. Đây là sự lãng phí lớn
    về tài nguyên (thiết bị, thời gian, con người).
    Sau khi Thông tư 32/2020/TT –BGDĐT ngày 15 tháng 9 năm 2020 được ban
    hành, có nhiều bài viết trên các báo Giáo dục thời đại, Tuổi trẻ, Nhân dân, Lao động,
    Pháp luật… đề cập đến vấn đề về học sinh sử dụng điện thoại phục vụ mục đích học
    tập ở trường phổ thông: Có hay không cho phép học sinh sử dụng điện thoại trong
    giờ học để phục vụ mục đích học tập; lợi ích và hạn chế trong việc cho phép học
    sinh sử dụng điện thoại trong giờ học để phục vụ mục đích học tập; các nguy cơ khi
    cho phép học sinh mang điện thoại đến trường; cho học sinh sử dụng điện thoại
    thông minh là phương tiện học tập phù hợp với xu thế của thời đại.
    Tất cả các đề tài và bài viết chưa đi sâu nghiên cứu, phân tích, đánh giá, kết
    luận về thực trạng về việc sử dụng điện thoại thông minh của học sinh, quan điểm
    và cách thức quản lý của các cấp, hướng dẫn kỹ năng sử dụng điện thoại thông minh
    một cách hiệu quả cho học sinh. Đồng thời, các đề tài, các bài viết chưa chỉ ra các
    giải pháp đồng bộ để sử dụng hiệu quả điện thoại thông minh trong giờ học của học
    sinh khi giáo viên cho phép phục vụ mục đích học tập.
    Xuất phát từ yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá
    theo định hướng phát triển các năng lực và phẩm chất của học sinh, tăng cường giáo
    dục kỹ năng sống cho học sinh để đáp ứng được các đòi hỏi cần thiết cho cuộc sống,
    thích ứng với quá trình chuyển đổi số trong ngành giáo dục, chúng tôi đã mạnh dạn
    lựa chọn vấn đề này để nghiên cứu và ứng dụng trong quá trình dạy và học bộ môn.
    4
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1. Cơ sở lý luận của việc cho phép học sinh sử dụng điện thoại thông
    minh trong giờ học phục vụ mục đích học tập
    2.1.1. Quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào
    tạo
    Hội nghị lần thứ VIII Ban chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI
    năm 2013 đã thông qua Nghị quyết về Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào
    tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường
    định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Nghị quyết đã chỉ rõ: Giáo dục và đào tạo
    là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư
    cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế
    hoạch phát triển kinh tế-xã hội. Phát triển Giáo dục và Đào tạo là nâng cao dân trí,
    đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu
    trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học
    đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục
    gia đình và giáo dục xã hội. Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát
    triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp
    quy luật khách quan.
    Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành
    phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề
    nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý
    tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực
    hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến
    khích học tập suốt đời. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo
    hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức,
    kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc.
    Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự
    cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Đẩy mạnh ứng dụng công
    nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học. Khuyến khích xã hội hóa để đầu tư
    xây dựng và phát triển các trường chất lượng cao ở tất cả các cấp học và trình độ
    đào tạo.
    Thực hiện Nghị quyết 29- NQ/TW (2013) của Đảng, nước ta đã từng bước
    thực hiện quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Đến năm 2019,
    Quốc hội nước ta đã ban hành Luật giáo dục. Tại Điều 2 đã xác định mục tiêu giáo
    dục là “phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức
    khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng
    yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
    5
    xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí,
    phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây
    dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế”; tại Điều 4 chỉ rõ “Phát triển giáo dục
    phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, tiến bộ khoa học, công nghệ, xây
    dựng xã hội học tập nhằm tạo cơ hội để mọi người được tiếp cận giáo dục, được học
    tập ở mọi trình độ, mọi hình thức, học tập suốt đời”; Tại Điều 7 nhấn mạnh “Phương
    pháp giáo dục phải khoa học, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng
    tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học và hợp tác, khả năng
    thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”; tại Điều 16 quy định “Tổ chức,
    gia đình và cá nhân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với cơ sở
    giáo dục thực hiện mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành
    mạnh”.
    Đến năm 2020, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành các thông tư nhằm triển
    khai Luật Giáo dục 2019 một cách hiệu quả. Trong đó, Thông tư 26/2020/TTBGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 15/8/2020 về việc sửa đổi, bổ
    sung một số điều của Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học
    sinh trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT ngày
    12 tháng 12 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, tại Điều 1, khoản 3
    đã sửa đổi, bổ sung Điều 7 của Thông tư 58/2011, cho phép việc “kiểm tra, đánh giá
    thường xuyên được thực hiện theo hình thức trực tiếp hoặc trực tuyến thông qua: hỏi
    – đáp, viết, thuyết trình, thực hành, thí nghiệm, sản phẩm học tập”; việc “kiểm tra,
    đánh giá định kì, gồm kiểm tra, đánh giá giữa kì và kiểm tra, đánh giá cuối kì, được
    thực hiện thông qua: bài kiểm tra (trên giấy hoặc trên máy tính), bài thực hành, dự
    án học tập”. Tại Thông tư 32/2020/ TT –BGDĐT ngày 15 tháng 9 năm 2020, Điều
    37. Những điều học sinh không được làm, khoản 4 đã quy định học sinh không được
    “Sử dụng điện thoại di động, các thiết bị khác khi đang học tập trên lớp không phục
    vụ cho việc học tập và không được giáo viên cho phép”. Với quy định này đồng
    nghĩa với việc học sinh có quyền sử dụng điện thoại di động và các thiết bị thông
    minh khác trong giờ học phục vụ mục đích học tập nếu được giáo viên cho phép.
    Ngày 9/12, tại Hà Nội, Bộ GDĐT tổ chức hội thảo “Chuyển đổi số trong giáo
    dục và đào tạo”. Hội thảo đã nhấn mạnh yêu cầu cần thiết phải tích cực phải chuyển
    đổi số trong giáo dục nhằm hướng tới việc đào tạo những công dân Việt Nam có
    kiến thức, kỹ năng chuyển đổi số để trở thành công dân toàn cầu.
    Trong bối cảnh của dịch bệnh Cocvid – 19, đã tạo ra áp lực lớn cho các hoạt
    động giáo dục đồng thời đồng thời cũng tạo ra động lực để chuyển đổi số trở nên
    mạnh mẽ hơn; tạo cơ hội và động lực để giáo viên, học sinh thích ứng, áp dụng
    phương thức dạy học trực tuyến, khai thác tối đa các phần tiện ích của giáo dục.
    Hàng năm, một trong những nhiệm vụ của người giáo viên là thực hiện bồi dưỡng
    thường xuyên (thông qua các đợt tập huấn tập trung do Sở, nhà trường tổ chức và
    6
    quá trình tự bồi dưỡng của giáo viên trong suốt năm học) để đáp ứng những đòi hỏi
    của Ngành, của đất nước đặc biệt là góp phần tiếp cận với chương trình Giáo dục
    phổ thông 2018.
    Như vậy, Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện lộ trình đổi
    mới toàn diện, liên tục, đồng bộ hệ thống giáo dục và đào tạo nhằm phát huy năng
    lực của người học đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước và hội nhập
    quốc tế trong tình hình mới. Trong đó, chú trọng đổi mới phương pháp dạy học và
    kiểm tra đánh giá nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
    thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy
    móc; gắn đổi mới giáo dục với tiến bộ khoa học công nghệ, phát triển khả năng sáng
    tạo, tự học của học sinh, khuyến khích học tập suốt đời, tạo cơ hội để mọi người
    được tiếp cận giáo dục, được học tập ở mọi trình độ, mọi hình thức, học tập suốt đời.
    Có thể thấy, việc quy định học sinh có quyền sử dụng điện thoại di động và
    các thiết bị thông minh khác trong giờ học phục vụ mục đích học tập nếu được giáo
    viên cho phép là phù hợp với xu thế tất yếu của thời đại, yêu cầu đổi mới căn bản và
    toàn diện giáo dục.
    2.1.2. Một số quan niệm về chuyển đổi số trong giáo dục
    2.1.2.1. Khái niệm về chuyển đổi số
    Chuyển đổi số là quá trình chuyển đổi hoạt động xã hội từ không gian truyền
    thống sang không gian số thông qua công nghệ mới, thay đổi phương thức điều hành,
    lãnh đạo, quy trình làm việc.
    2.1.2.2. Mục đích chuyển đổi số
    Thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục nhằm đáp ứng đòi hỏi của chương
    trình giáo dục phổ thông 2018.
    Đồng thời trong tình hình dịch bệnh Covid-19 đang bùng phát trên toàn cầu
    mà con người chưa thể kiểm soát được khiến cho học sinh, sinh viên tạm dừng đến
    trường, việc chuyển đổi số trong giáo dục càng trở nên cấp thiết với việc đa dạng
    các hình thức dạy học trên cơ sở tận dụng sự phát triển của công nghệ thông tin.
    Việc thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục sẽ làm thay đổi diện mạo giáo
    dục hoàn toàn mới phương thức, cách thức, phương pháp, kĩ thuật, công cụ và
    phương tiện mới nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo công dân toàn cầu, nâng cao chất
    lượng giáo dục, tạo cơ hội để hội nhấp quốc tế.
    2.1.2.3. Điều kiện cần thiết để chuyển đổi số
    7
    Để thực hiện chuyển đổi số cần phải chuẩn bị những điều kiện cần thiết, trong
    đó:
    – Sự thay đổi trong nhận thức của lãnh đạo về tầm quan trọng của chuyển đổi
    số trong giáo dục.
    – Sự chuẩn bị đầy đủ đồng bộ về cơ sở hạ tầng ICT: Internet tốc độ cao, thiết
    bị kĩ thuật số
    – Sự phát triển công nghệ công nghệ: Dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật
    (IoT), điện toán đám mây (Cloud), Trí tuệ nhân tạo (AI)….
    – Con người với kĩ năng chuyển đổi và Năng lực số sẽ là yếu tố cốt lõi để thực
    sự thay đổi và thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục một cách thực chất và hiệu
    quả.
    2.1.2.4. Khung năng lực số của học sinh
    Chuyển đổi số trong giáo dục học sinh cần đạt được các năng lực sau đây:

    0. Sử dụng các thiết bị
    kĩ thuật số
    Xác định, quản lý và sử dụng được công cụ phần mền và
    công nghệ một cách hợp lí trong môi trường số
    1. Xử lý thông tin và dữ
    kiện
    – Xác định rõ những, thuộc tính (từ khóa, định dạng, hình
    ảnh, video…) thông tin cần thiết, địa chỉ nguồn dữ liệu,
    thông tin và nội dung số, sử dụng chúng hiệu quả
    – Tìm kiếm và đánh giá sự phù hợp của nguồn thông tin
    và nội dung của nó. Sử dụng hiệu quả công cụ và thông
    tin tìm được để đưa ra những quyết định sáng suốt.
    – Lưu trữ, quản lý và tổ chức được dữ liệu thông tin và
    nội dung số.
    2. Giao tiếp và hợp tác– Tương tác, giao tiếp và hợp tác thông qua công nghệ số
    trong khi chú ý đến sựu đa dạng về văn hóa và sự khác
    biệt thế hệ.
    – Tham gia vào xã hội thông qua các dịch vụ số và quyền
    công dân được tham gia.
    – Quản ;lí thông tin cá nhân
    – Tạo ra và biên tập nội dung số.

    8

    3. Tạo nội dung kĩ thuật
    số
    – Cải tiến và tích hợp nội dung số vào nội dung đã có sẵn
    khi ý thức được bàn quyền.
    – Biết cách đưa ra hướng dẫn có thể hiểu được.
    4. An toàn kĩ thuật số– Bảo vệ được thiết bị, nội dung, dữ liệu cá nhân và quyền
    riêng tư trong môi trường số, bảo vệ thể chất và sức khỏe
    tâm lý và nhận thức về các công nghệ kỹ thuật số cho
    hạnh phúc xã hội và hòa nhập xã hội.
    – Nhận thức được về tác động môi trường của công nghệ
    kỹ thuật số và việc sử dụng chúng.
    5. Giải quyết vấn đề– Xác định được các nhu cầu và vấn đề trong môi trường
    số.
    – Giải quyết các tình huống có vấn đề trong môi trường
    số.
    – Sử dụng được các công cụ số cải tiến quy trình và sản
    phẩm, cập nhập được sự phát triển của công nghệ số mới.
    6. Năng lực định hướng
    nghề nghiệp
    -Vận hành được các công nghệ kỹ thuật số chuyên biệt
    và hiểu, phân tích và đánh giá dữ liệu chuyên ngành,
    thông tin và nội dung số cho một lĩnh vực cụ thể.

    Tất cả năng lực số của học sinh trong chuyển đổi số trong giáo dục đều phù
    hợp và góp phần hình thành phẩm chất năng lực của người học theo chương trình
    giáo dục phổ thông 2018.
    2.1.3. Một số quan niệm về điện thoại thông minh
    Xã hội ngày một phát triển và Công nghệ đang chiếm một phần quan trọng và
    ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của chúng ta. Trong đó điện thoại thông minh đang
    dần trở thành một thiết bị không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta và điện thoại
    thông minh ngày một ảnh hưởng đến đời sống của con người.
    2.1.3.1. Khái niệm về điện thoại thông minh
    Điện thoại thông minh (tiếng Anh: smartphone) là khái niệm để chỉ loại điện
    thoại di động tích hợp một nền tảng hệ điều hành di động với nhiều tính năng hỗ trợ
    tiên tiến về điện toán và có khả năng kết nối với nhiều thiết bị điện tử hiện đại
    như TV thông minh, máy tính, robot, nhà thông minh hoặc trí thông minh nhân tạo,
    dựa trên nền tảng cơ bản của điện thoại di động thông thường.
    9
    2.1.3.2. Tác dụng khi sử dụng điện thoại thông minh đối với con người
    Với khả năng di động cao, phần cứng mạnh mẽ, cùng hàng trăm ngàn ứng
    dụng trên nhiều lĩnh vực, điện thoại thông minh ngày nay đã trở thành một thiết bị
    “all in one” (tất cả trong một) nhỏ gọn luôn sẵn sàng phục vụ mọi người mọi lúc mọi
    nơi.
    Trong kỉ nguyên công nghệ ngày nay, điện thoại thông minh không chỉ ngày
    càng phổ biến mà còn đem đến cho con người hàng loại khả năng mới trên mọi lĩnh
    vực: trao đổi thông tin, làm việc di động, giải trí mọi lúc mọi nơi,…Điện thoại thông
    minh đã giúp thay đổi toàn diện cuộc sống theo hướng tích cực hơn.
    – Thay đổi phương thức liên lạc truyền thống: Điện thoại thông minh là
    bước tiến vượt bậc trong phương thức liên lạc của con người, có thể mang theo trên
    mọi hành trình. Điện thoại thông minh không chỉ cho phép người dùng truyền đi
    những dữ liệu âm thanh (gọi điện), ký tự (nhắn tin), mà còn là cả dữ liệu âm thanh,
    hình ảnh, video, ghi âm, file điện tử… Không những vậy, với kết nối mạng, chúng
    ta còn có thể nhìn thấy đối phương, trực tiếp quan sát và chia sẻ nhiều thông tin đa
    phương tiện chỉ với một chiếc điện thoại di động.
    – Thay đổi cách con người làm việc: Con người có thể làm việc không bị
    hạn chế về không gian và thời gian; kịp thời xử lý mọi công việc; sử dụng điện thoại
    như một chiếc máy tính (gửi email, chuyển bài tập, học tập trực tuyến; họp trực
    tuyến, soạn thảo văn bản, hình ảnh, video, trình chiếu…), thẻ ngân hàng, cuốn sổ tay
    ghi chú các công việc cần thiết (thông qua văn bản, âm thanh, hình ảnh); phương
    tiện lưu trữ và truyền tải thông tin cần thiết; công cụ để chấm bài trắc nghiệm nhanh
    chóng, chính xác; thay đổi một phần của một số lĩnh vực, một số ngành truyền
    thống.
    – Thay đổi cách giải trí: Điện thoại thông minh là một thiết bị lấp đầy thời
    gian chết của mỗi ngày bằng những khoảnh khắc thư giãn thật giá trị; là kho giải trí
    khổng lồ giành cho bạn trên mọi lĩnh vực như nghe nhạc, xem phim, đọc sách, chơi
    game, vào trang các trang mạng xã hội; tiết kiệm về thời gian, chi phí cho việc giải
    trí.
    – Là phương tiện học tập hiệu quả đối với học sinh: Trong thời đại công
    nghệ số, vai trò của điện thoại thông minh có rất nhiều ưu điểm để trở thành phương
    tiện dạy và học hiệu quả.
    Điện thoại thông minh như một cuốn sách mở (có văn bản, hình ảnh, âm
    thanh,…) mà người học có thể nhanh chóng truy cập và tìm kiếm tri thức mình cần;
    điện thoại thông minh trở thành phương tiện kết nối với giáo viên, bạn học trong lớp
    10
    và kết nối cộng đồng ngay trong giờ học khi sử dụng phần mềm hỗ trợ; điện thoại
    thông minh có thể kịp thời lưu trữ toàn bộ quá trình học tập trong giờ (nhất là khi
    học sinh chưa kịp lĩnh hội toàn bộ nội dung bài học); điện thoại thông minh là công
    cụ hiệu quả để giáo viên thực hiện việc kiểm tra, đánh giá quá trình học tập của học
    sinh một cách toàn diện bằng nhiều cách thức khác nhau.
    Điện thoại thông minh có thể phát huy tối đa các năng lực của học sinh thông
    qua các hoạt động học.
    2.1.3.3. Một số tác hại của việc sử dụng điện thoại thông minh không đúng
    cách.
    Thứ nhất ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người:
    Thị lực con người bị suy giảm, gây tình trạng căng thẳng, mất ngủ, ảnh hưởng
    đến xương khớp,da, giảm miễn dịch cơ thể, trầm cảm, béo phì, rối loạn hành vi, suy
    giảm trí nhớ, có nguy cơ mắc một số bệnh ung thư, …. Điện thoại thông minh là một
    chiếc cầu nối vô hình để lây truyền các vi khuẩn, vi rút làm ảnh hưởng sức khỏe con
    người.
    Thứ hai, ảnh hưởng xấu đến các mối quan hệ xã hội:
    – Con người lệ thuộc quá nhiều vào điện thoại thông minh sẽ dẫn đến các suy
    nghĩ tiêu cực, giảm sút khả năng tư duy logic
    – Cản trở các giao tiếp trực tiếp trong gia đình và xã hội, đặc biệt với trẻ em
    hạn chế kỹ năng giao tiếp và hòa nhập xã hội.
    – Làm cho cuộc sống của con người trở nên kém an toàn.
    – Bùng nổ các mâu thuẫn, các tệ nạn xã hội do tác động từ mạng xã hội khi sử
    dụng điện thoại thông minh.
    – Nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc nhất là giới trẻ có văn hóa “thần
    tượng”.
    Thứ ba, một số tác hại khác từ việc sử dụng điện thoại thông minh:
    – Con người có khả năng tiếp cận các thông tin không chính thống dẫn đến
    nguy cơ hoang mang, mất niềm tin hoặc là dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật.
    – Gia tăng nguy cơ tai nạn giao thông.
    – Xuất hiện ngày càng nhiều rác thải công nghệ gây ảnh hưởng nghiêm trọng
    đến môi trường sống.
    11
    – Xuất hiện nguy cơ tai nạn từ việc sử dụng điện thoại trong thời gian dài hoặc
    khi đang nạp pin.
    Có thể thấy điện thoại thông minh ngày nay là một phần thiết yếu trong cuộc
    sống của con người. Điện thoại thông minh có rất nhiều điểm tích cực góp phần làm
    nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên việc sử dụng không đúng cách, đúng mục
    đích sẽ gây ra những hậu quả khôn lường mà chính người sử dụng phải gánh chịu.
    Tác động tích cực hay tiêu cực của việc sử dụng điện thoại thông minh là do cách
    con người khai thác và điều chỉnh hành vi của chính bản thân mình.
    2.2. Thực trạng của việc sử dụng điện thoại thông minh của học sinh
    một số trường THPT trên địa bàn huyện Mỹ Lộc và các trường lân cận.
    2.2.1. Thực trạng của việc sử dụng điện thoại thông minh trước khi có
    Thông tư 32/2020/TT- BGDĐT
    Về việc trang bị và sử dụng điện thoại thông minh của học sinh
    Có tới 97,8% học sinh trên địa bàn huyện Mỹ Lộc được trang bị và sử dụng
    điện thoại thông minh. Đây là điều kiện thuận lợi đầu tiên trong việc trang bị phương
    tiện học tập hiện đại cho học sinh, từ đó có thể dễ dàng triển khai việc cho phép học
    sinh sử dụng điện thoại thông minh trong giờ học nhằm mục đích học tập theo Thông
    tư 32.
    Về mục đích cho phép học sinh sử dụng điện thoại thông minh
    Đối với cha mẹ học sinh:
    Qua điều tra, chúng tôi nhận thấy việc cha mẹ trang bị và cho phép con mình
    sử dụng điện thoại thông minh nhằm các mục đích được cụ thể hóa như sau:
    Bảng điều tra về mục đích trang bị điện thoại thông minh cho học sinh THPT
    của cha mẹ học sinh.

    Nội dung
    điều tra
    Nội dungSố lượt người
    lựa chọn
    Mục đích
    của cha
    mẹ học
    sinh
    Học tập502
    Giải trí204
    Kết hợp giữa học tập và giải trí332
    Theo dõi, quản lý con ngoài thời gian ở nhà32

    12
    Đối với bản thân học sinh:
    Theo điều tra xã hội học, phần lớn học sinh khi sử dụng điện thoại chủ yếu
    nhằm nhiều mục đích khác nhau, trong đó có mục đích học tập. Với học tập, học
    sinh chủ yếu dùng điện thoại để tìm kiếm lời giải cho các bài tập về nhà; học online,
    tìm kiếm đề tham khảo, tra cứu thông tin hoàn thành nhiệm vụ học tập mà giáo viên
    giao cho. Như vậy, việc sử dụng điện thoại thông minh vào mục đích học tập của
    học sinh đã có, tuy nhiên chỉ dừng lại trong thời gian ngoài giờ lên lớp (mà thực tế
    phần lớn thời gian của học sinh là học tập ở trường và tham gia các lớp học thêm),
    nên thời gian sử dụng điện thoại thông minh vì mục đích học tập chưa nhiều. Không
    phải học sinh nào cũng có ý thức sử dụng điện thoại thông minh với ưu tiên hàng
    đầu cho việc học tập. Phần lớn học sinh đều mở ứng dụng mạng xã hội hoặc ứng
    dụng giải trí (chiếm 53,3%), chỉ có 27,2% học sinh mở ứng dụng học tập đầu tiên
    khi sử dụng điện thoại. Điều này cho thấy, học sinh chưa khai thác một cách tối ưu
    các hiệu quả của điện thoại thông minh cho việc học tập. Trong khi đó, việc sử dụng
    các ứng dụng mạng xã hội hoặc ứng dụng giải trí ngoài tác động tích cực, có khả
    năng gây ra tác hại nhiều mặt.
    Đối với giáo viên:
    Trước khi Thông tư 32 được ban hành, có 68% số thầy cô được hỏi đã từng
    hướng dẫn học sinh sử dụng điện thoại thông minh phục vụ mục đích học tập (như
    tổ chức dạy học trực tuyến, hướng dẫn học sinh tự học, làm bài tập hoặc hoàn thành
    dự án học tập ở một số bộ môn: Toán, Ngữ văn, Tiếng Anh, Vật Lý, Hóa học, Sinh
    học, Lịch sử, Địa Lý, Giáo dục công dân…), 38% số thầy cô được hỏi chưa từng
    hướng dẫn HS sử dụng điện thoại thông minh để học tập vì theo các thầy cô, một số
    bộ môn mà thầy cô phụ trách chưa thực sự cần thiết.
    53,3%
    27,2%
    13,9%
    5,6%
    Biểu đồ 3: Ứng dụng đầu tiên khi học sinh
    sử dụng ĐTTM
    Mạng xã hội Ứng dụng học tập Kênh giải trí Ứng dụng khác
    13
    Qua kết quả thống kê trên đã chứng tỏ rất nhiều thầy cô đã tiếp cận và bước
    đầu có kỹ năng khai thác và ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức, hướng dẫn
    học sinh học tập. Đây là điều kiện thuận lợi để nhóm tác giả mạnh dạn đề xuất các
    giải pháp cho phép học sinh sử dụng điện thoại thông minh trong giờ học theo Thông
    tư 32 một cách hiệu quả.
    Về nhận thức đối với lợi ích và tác hại trong việc sử dụng điện thoại thông
    minh của cha mẹ học sinh và học sinh
    Hầu hết các bậc cha mẹ học sinh và học sinh đều nhận thức được lợi ích của
    việc sử dụng điện thoại thông minh trong việc quản lý và liên lạc khi cần thiết hoặc
    tạo điều kiện mở rộng mối quan hệ xã hội, nắm bắt kịp thời các thông tin về kinh tế
    xã hội cần thiết, nâng cao hiệu quả học tập. Đây là nhận thức đúng đắn, là điều kiện
    thuận lợi cho việc triển khai Thông tư 32 trong việc cho phép học sinh sử dụng điện
    thoại thông minh trong giờ học phục vụ mục đích học tập trong nhà trường.
    Ngoài ra, nhiều bậc cha mẹ học sinh và học sinh đã nhận thức được tác hại
    của việc sử dụng điện thoại thông minh nếu không được quản lý chặt chẽ đối với
    sức khỏe và các mối quan hệ xã hội, là nguyên nhân gây ra các mâu thuẫn học đường.
    Từ thực tế trên, một vấn đề đặt ra là cần phải có biện pháp hiệu quả để phát
    huy các lợi ích đồng thời hạn chế các tác hại của việc cho phép học sinh sử dụng
    điện thoại thông minh. Chỉ có như vậy cha mẹ học sinh, thầy cô giáo mới có thể yên
    tâm cho phép học sinh sử dụng điện thoại thông minh trong giờ học vì mục đích học
    tập.
    2.2.2. Quan điểm về việc sử dụng điện thoại thông minh sau khi Thông tư
    32/2020/TT- BGDĐT được ban hành
    Về mức độ cần thiết cho phép học sinh sử dụng điện thoại thông minh trong
    giờ học phục vụ mục đích học tập
    Biểu đồ khảo sát về thực trạng giáo viên hướng dẫn học sinh sử
    dụng điện thoại phục vụ mục đích học tập trước khi có Thông tư 32
    Có Không
    68%
    32%
    14
    Bên cạnh một bộ phận giáo viên, cha mẹ học sinh và học sinh chưa nhận thức
    được đầy đủ yêu cầu cần thiết cho phép học sinh sử dụng điện thoại thông minh
    trong giờ học phục vụ mục đích học tập, thì đa số đối tượng trên được hỏi đã xác
    định được tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin nói chung và việc
    sử dụng điện thoại trong giờ học để nâng cao hiệu quả học tập, tạo hứng thú và rèn
    kỹ năng, năng lực số cho chọ sinh.
    Về lợi ích và tác hại của việc cho phép học sinh sử dụng điện thoại thông minh
    trong giờ học theo Thông tư 32.
    Hầu hết giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh đã nhận thức được lợi ích của
    việc sử dụng điện thoại thông minh trong giờ học. Đó là: học sinh được tích cực,
    chủ động hơn trong lĩnh hội kiến thức khoa học, hình thành và phát huy được năng
    lực ứng dụng công nghệ thông tin ; mở rộng được không gian học tập cho học sinh
    (không bị bó hẹp trong không gian lớp học với những trang sách khô cứng, đang
    thiếu nhiều vấn đề thực tiễn hiện nay); phù hợp với phương pháp dạy học hiện nay
    là lấy học sinh làm trung tâm; thúc đẩy được năng lực tự chủ và tự học, giải quyết
    vấn đề và sáng tạo của học sinh, kết nối với các lớp học toàn cầu; tạo cơ hội để học
    sinh và giáo viên giao lưu trong nước và quốc tế, hội nhập toàn cầu, giáo viên “nhàn”
    hơn và chủ động hơn trong tổ chức các hoạt động học cho học sinh. Sự nhận thức
    đó chính là nền tảng vô cùng quan trọng cho việc xây dựng kế hoạch và triển khai
    các giờ
    Bên cạnh đó, các đối tượng được hỏi cũng đã nhận thức tương đối đầy đủ về
    hạn chế khi cho phép học sinh sử dụng điện thoại trong giờ học: nếu không có biện
    pháp quản lý hiệu quả, nhất là việc lo sợ học sinh sẽ càng ngày càng “nghiện” điện
    thoại, lơ là việc học tập dẫn đến chất lượng giảm sút; ;lan truyền các văn hóa phẩm
    đồi trụy, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, thụ động tìm kiếm lời giải có sẵn, giảm sút
    tình cảm gia đình, bạn bè, thầy cô.
    Tuy nhiên, theo nhóm tác giả nghiên cứu, việc dùng điện thoại và thiết bị
    thông minh để phục vụ học tập, nghiên cứu đã là xu hướng trên thế giới bởi vậy các
    lực lượng giáo dục trong và ngoài xã hội cần phải bắt kịp xu hướng đó. Thông tư 32
    là một trong những biểu hiện của sự bắt kịp xu thế đó của lực lượng giáo dục. Điều
    quan trọng là phải có chế tài để phát huy điểm tích cực đồng thời khắc phục các mặt
    trái của việc sử dụng điện thoại thông minh không đúng cách. Thiết bị thông minh
    là thông minh hay ngược lại hoàn toàn phụ thuộc vào người sử dụng nó

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Xây dựng dự án thu gom pin rác nhằm giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh

    SKKN Xây dựng dự án thu gom pin rác nhằm giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Căn cứ pháp lý
    – Căn cứ vào Quyết định số 16/2015/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ
    về việc quy định thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ.
    – Căn cứ vàoThông tư số 34/2017/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi
    trường quy định thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ.
    – Căn cứ vào Luật Giáo dục 2019.
    – Theo thông tư 42/2012/TT-BGDĐT, tại điều 14 Quy định tiêu chuẩn
    đánh giá chất lượng giáo dục. Với 12 tiêu chuẩn thì có các tiêu chuẩn số 2,7,8.
    2. Hoàn cảnh thực tiễn
    Dạy học tích hợp bảo vệ môi trường là một chủ chương lớn của ngành
    giáo dục của Nhà trường và là sự chăn trở của giáo viên bộ môn. Dạy như thế
    nào, học như thế nào, hiệu quả việc dạy đó đến đâu, học sinh tiếp thu kiến thức
    này như thế nào…là câu hỏi luôn được đặt ra. Để tạo ra được hiệu quả bằng việc
    đánh giá được lượng, nhìn thấy được, cầm nắm được là việc khó. Thay đổi thói
    quen, ý thức bảo vệ môi trường của con em còn khó hơn.
    Đổi mới phương pháp dạy học nhằm khuyến khích sự chuyên cần, tích
    cực, chủ động, sáng tạo và ý thức vươn lên, rèn luyện khả năng tự học của
    HS. Giáo dục, rèn luyện kỹ năng sống thông qua các hoạt động học tập, hoạt
    động tập thể và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho HS. Đặc biệt đối với
    kiến thức liên quan đến bảo vệ môi trường cần thường xuyên và gắn thực tiễn
    với giáo dục.
    Ô nhiễm môi trường là một trong những chủ đề nóng trên toàn cầu, việc
    khắc phục ô nhiễm môi trường đang là một trong những vấn đề cấp bách. Môi
    trường bị ô nhiễm đã làm biến đổi khí hậu và đang đe dọa đến đa dạng sinh học,
    ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người và các sinh vật trên thế giới
    cùng nhiều hệ lụy khác đến môi trường sống. Bảo vệ môi trường không chỉ là
    trách nhiệm của nhà nước, của những người làm về môi trường mà còn là trách
    nhiệm của toàn nhân loại.
    Việc thu hồi và tái chế không đúng quy cách là mối họa lớn khi các chất
    độc hại và kim loại nặng như chì, thủy ngân rò rỉ ra bên ngoài. Pin được liệt kê
    vào danh mục rác thải độc hại, lượng thủy ngân có trong một cục pin có thể làm
    ô nhiễm 500 lít nước hoặc một mét khối đất trong 50 năm, khi các nguồn ô
    nhiễm từ pin xâm nhập vào cơ thể sẽ gây ra nhiều bệnh nguy hiểm cho con
    người như: tổn thương não, gây còi xương, chậm lớn ở trẻ, huyết áp cao đối với
    người lớn, tổn hại máu và xương, thậm chí là vô sinh và giảm đi các chức năng
    của thận… Vì vậy, việc thu gom pin đúng cách sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc
    giữ gìn môi trường sống.
    3
    Giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh được coi là giải pháp bảo vệ
    môi trường hữu hiệu trong hiện tại và tương lai. Ở lứa tuổi của các em học sinh
    THCS và THPT có khả năng cập nhật công nghệ thông tin nhanh nhạy, thích
    khám phá và tìm kiếm cái mới; phương tiện truyền thông thì hiện đại …. Việc
    đưa các em tiếp cận công nghệ một cách lành mạnh và giáo dục các em ý thức
    sống có trách nhiệm, có lý tưởng, có hoài bão là việc làm rất cần thiết hiện nay.
    Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong nhà trường là một trong những
    biện pháp quan trọng, giúp các em học sinh thêm yêu thiên nhiên, hiểu được tầm
    quan trọng của môi trường sống với cuộc sống …. Hơn nữa giáo dục cho các em
    biết cách chăm sóc và giữ gìn hành tinh xanh, qua đó giáo dục cho các em phải
    có ý thức trách nhiệm với chính bản thân mình, trách nhiệm với chính gia đình,
    cộng đồng và xã hội của mình qua từng hành động nhỏ.
    Dạy học bảo vệ môi trường đã được tích hợp vào trong các môn học. Tuy
    nhiên nếu chỉ dạy đơn thuần các tiết học thì việc giáo dục chỉ như muối bỏ bể.
    Để ý thức bảo vệ môi trường đi sâu vào từ suy nghĩ đến việc làm hàng ngày cần
    thiết phải có một chương trình hành động xuyên suốt, thường xuyên, gắn trách
    nhiệm gia đình, nhà trường trong bản thân mỗi học sinh.
    Bên cạnh dịch Covi hoành hành mang tính thời sự suốt hai năm qua thì có
    một thực tế là nhiều năm qua vấn nạn ô nhiễm môi trường vẫn đang đe dọa sức
    khỏe của con người và các loài sinh vật. Việc giáo dục ý thức về môi trường, vệ
    sinh thân thể cho HS là việc làm thường xuyên liên tục, không thể chủ quan.
    Là một lãnh đạo trẻ, là một giáo viên Sinh học còn đang trong độ tuổi
    cống hiến và đã có một số năm gắn bó với học sinh, tìm hiểu và nắm bắt tâm lý
    lứa tuổi muốn khẳng định mình của các em. Đặc biệt, với mong muốn đưa kiến
    thức bảo vệ môi trường thành ý thức, cách sống song hành cùng hoạt động sống
    của các em học sinh. Làm cho các em học sinh không bị nhàm chán trong môn
    học. Với những thực tiễn nêu trên nhóm tác giả đã đưa ra giải pháp “Xây dựng
    dự án thu gom pin rác nhằm giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh”
    với mong muốn gải quyết khó khăn và phát huy tính tích cực của học sinh trong
    học tập kiến thức bảo vệ môi trường.
    4
    II. Mô tả giải pháp:
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
    1.1. Hoạt động dạy kiến thức bảo vệ môi trường trong môn học Sinh
    học và môn học khác
    Trong chương trình giáo dục THPT các môn học đều có nhiều bài gắn
    liền với ý thức bảo vệ môi trường như bài 42,43 SGK Hóa Học 10; bài 41 Địa
    Lý 10; bài 12 GDCD 11; bài 9 Tiếng Anh 10 và bài 9 Tiếng Anh 11; bài 19
    Công Nghệ 11; bài 13,18,19,20 Kỹ Thuật Nông Nghiệp 10; phần Sinh Thái Học
    của Sinh Học 12 và 1 số bài được lồng ghép trong Sinh Học 10, 11. Nhưng mỗi
    môn, mỗi bài hay phần kiến thức khi dạy độc lập giáo viên đều cho HS vấn đáp
    hay tự viết bài thuyết trình mà chưa có vận dụng thực tế cũng như chưa có tính
    sâu chuỗi và liên môn, liên tục.
    1.2. Hoạt động trải nghiệm của các em học sinh trong năm học
    2017 – 2018:
    * Mục đích: Thăm quan, học tập, trải nghiệm thực địa: tìm hiểu về
    lịch sử, danh lam, thắng cảnh, môi trường tại địa điểm lịch sử
    * Địa điểm: K9- Ba Vì- Hà Nội.
    * Thành phần: học sinh, giáo viên tự nguyện của các lớp trong trường
    THPT Mỹ Tho.
    * Kết quả: các em đã thu nhận được:
    Các em có được sự hào hứng, tích cực và nâng cao tinh thần trách nhiệm
    do được trải nghiệm ngoài không gian lớp học cùng thầy cô và các bạn.
    Được rèn luyện năng lực ngôn ngữ, hoạt động nhóm và khả năng thuyết
    trình trước tập thể.
    Đặc biệt các em được giải quyết các vấn đề phát sinh khác trong quá
    trình trải nghiệm mà trên ghế nhà trường ít khi các em vấp phải như tư trang
    phù hợp, phương tiện cần thiết, an toàn giao thông, an toàn hoạt động và an
    toàn thực phẩm…
    Các em được tham gia một số hoạt động dân gian dưới sự tổ chức của
    người phụ trách như: người thừa thứ 3. Các em được thực tế về cảnh quan, văn
    hóaViệt Nam và được giáo dục về truyền thống lịch sử của Đất nước.
    * Rút kinh nghiệm:
    Cần có kế hoạch trước khi tiến hành. Giáo viên và học sinh kết hợp với
    phụ huynh cần xây dựng kế hoạch ngoại khóa. Coi học tập ngoại khóa là hoạt
    động hàng năm, bắt buộc. Đặt ra mục tiêu cho học sinh và nội dung trước khi
    thăm quan. Tránh tình trạng các em coi đây là một chuyến tham quan nhiều hơn
    là học tập trải nghiệm.
    Kinh phí thực hiện: Số tiền các bậc PHHS phải chi trả tuy không phải là
    quá cao nhưng nó cũng là cả một vấn đề đối với mức thu nhập bình quân của
    5
    người nông dân nuôi con ăn học và so với những kỹ năng các em đạt được có lẽ
    còn hạn chế.
    Trong một lần đi có đủ HS của các lớp trong một hoặc hai khối nên việc
    tất cả các em cùng hoạt động, cùng khẳng định mình là khó khăn. Các em chỉ có
    tâm thế của một chuyến du lịch ít tài chính trong ngày không hơn! Nó không có
    sự lan tỏa, đốt cháy, háo hức, lòng đam mê cũng như lòng nhiệt huyết tham gia
    cùng những người thân khác. Cùng số tiền và quĩ thời gian đó chúng ta hãy tìm
    cách nào để các em được tham gia được trải nghiệm và học tập cũng như lòng
    hướng thiện và ý trí quyết tâm làm chủ tương lai là mong muốn của tất cả các
    giáo viên hiện nay!
    1.3. Đề xuất giải pháp mới:
    Lan tỏa rộng, vận động các em học sinh, giáo viên kết hợp với phụ huynh
    thu gom phân loại rác thải thành rác tái chế, rác thải điện tử (pin, rác điện tử)
    trong Nhà trường và gia đình.
    Đối với rác thải hữu cơ dễ phân hủy, hướng dẫn học sinh xử lý thành
    phân bón để bón cho cây trồng ngay tại gia đình.
    Đối với rác thải có khả năng tái chế như giấy, nilon, kim loại …thu
    gom tại lớp và bán cho đồng nát lấy kinh phí làm quỹ Môi trường của lớp.
    Đối với pin và rác điện tử thu gom và nộp về điểm tập kết tại văn
    phòng bộ môn Sinh học.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
    2.1 Những vấn đề trọng tâm cần giải quyết:
    Có ba vấn đề lớn cần giải quyết trong sáng kiến:
    Củng cố kiến thức bảo vệ môi trường trong chương trình phổ thông.
    Giáo dục cho các em biết cách phân loại rác thải, phân biệt được rác thải
    nào có thể là nguồn tài nguyên – tái sử dụng được và rác thải nào không tận
    dụng được mới thực sự là rác và phương pháp xử lý rác thải nguy hại.
    Rèn luyện cho các em học sinh, giáo viên ….ý thức yêu môi trường. Sống
    có trách nhiệm với môi trường với bản thân và những người xung quanh.
    Nếu sau thí điểm mà thành công, có thể kêu gọi các trường học THCS
    và THPT trong toàn tỉnh, toàn Quốc cùng tham gia để nâng cao ý thức bảo vệ
    môi trường.
    2.2 Tính mới của sáng kiến:
    Tạo cho học sinh thói quen bảo vệ môi trường và có khả năng lan tỏa ý
    thức bảo vệ môi trường tới mọi người xung quanh.
    Huy động đông đảo các em học sinh, các thầy giáo cô giáo và những
    người thân cùng tham gia trong suốt thời gian dài.
    6
    Rèn luyện ý thức bảo vệ môi trường một cách thường xuyên và liên tục,
    tự nhiên sinh động mà không gò bó áp đặt.
    Gắn việc học tập đi đôi với thực hành. Giúp cho học sinh thêm yêu môn
    học, trân trọng môi trường sống, quý trọng bản thân.
    Phát huy năng lực sáng tạo của học sinh trong quá trình xây dựng kế
    hoạch để học sinh tự mình chủ động vạch ra những yêu cầu cần thiết cho hoạt
    động trải nghiệm để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.
    Kêu gọi các em HS các trường học THCS và THPT trong toàn tỉnh, toàn
    Quốc cũng như người dân cùng tham gia.
    2.3. Sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ: giải pháp mới
    khắc phục những nhược điểm của giải pháp cũ.

    Nhược điểm của giải pháp cũGiải pháp mới khắc phục
    Dạy kiến thức bảo vệ môi trường trong
    tích hợp môn học.
    Song song với dạy kiến thức bảo vệ
    môi trường trong môn học còn củng
    cố kiến thức bằng hoạt động thu
    gom phân loại rác thải.
    Kiến thức rời rạc từng môn học, bài
    học, tiết học.
    Hoạt động thường xuyên diễn ra
    hàng ngày, hàng tuần, mọi nơi.
    Kết quả: Học sinh biết được kiến thức,
    một số kỹ năng….
    Học sinh không chỉ có được kiến
    thức, kỹ năng mà biến kiến thức đó
    thành hành động cụ thể và ý nghĩa.
    Hiệu quả: mới chỉ tồn tại trong ý thức.Không chỉ tồn tại trong ý thức mà
    việc làm còn tạo hiệu quả nhìn thấy
    được, lượng hóa được.
    Đánh giá thông qua kiểm tra kiến thức,
    kỹ năng.
    Đánh giá được bằng đo lường cụ thể
    qua lượng rác thu gom được và
    lượng pin nộp về Chi Cục bảo vệ
    môi trường Hà Nội.
    Học sinh lĩnh hội kiến thức bị động.Kiến thức được củng cố tạo hứng
    thú cho học sinh và tạo sự gắn kết
    giữa nhà trường và gia đình.

    2.4. Cách thức và các bước thực hiện:
    2.4.1. Năm học 2018 – 2019
    Bước 1: tìm hiểu chung:
    Tìm hiểu kiến thức về bảo vệ môi trường trong các môn học.
    Tìm hiểu các phương pháp phân loại rác thải.
    7
    Tìm hiểu phương thức thu gom pin, địa điểm thu gom pin và rác thải điện
    tử để tránh gây ô nhiễm môi trường.
    Bước 2: lập kế hoạch cho hoạt động:
    * Thời gian: Tháng 6, 7, 8, 9 năm 2018
    * Nội dung:
    + Tại trường THPT Mỹ Tho:
    Họp nhóm chuyên môn cùng bí thư đoàn thanh niên để đưa ra ý tưởng
    sáng kiến, kết hợp các giáo viên chủ nhiệm và đoàn thanh niên lập kế hoạch cho
    hoạt động thu gom phân loại rác thải.
    Xây dựng kế hoạch và phân công trách nhiệm đến từng thành viên trong
    tổ, người phụ trách. Xây dựng tài liệu phân loại rác thải. Nội dung hướng dẫn
    phân loại rác thải.
    Phát động hành động:
    1) Phát tờ rơi, hướng dẫn thu gom, phân loại rác thải
    2) Thu gom phân loại rác tái chế tại gia đình: rác hữu cơ dễ phân hủy
    chôn lấp làm phân bón cây, rác tái chế như giấy, túi ni-lông, sắt vụn, đồng nát…
    không dùng đến nữa bán đồng nat, giấy và túi ni – lôn ở trường ở lớp thì thu gom
    rồi bán hình thành quỹ môi trường của lớp.
    3) Thu gom phân loại pin rác, rác thải điện tử.
    Rác thải là pin, rác điện tử lớp trưởng các lớp nộp tại phòng bộ môn
    Sinh học vào tiết 5 ngày thứ 7 hàng tuần và chốt sổ bàn giao cho lớp trực
    tuần tiếp theo.
    Cộng điểm khuyến khích cho các lớp ở mỗi khối vào điểm thi đua hết học
    kỳ I và hết năm học. Phát thưởng động viên các lớp thu gom được nhiều pin
    nhất, nhì, ba của trường vào buổi tổng kết năm học.
    Kế hoạch trải nghiệm thử nghiệm cho lớp 12A9 vào ngày 31 tháng 3 và
    11A2 vào ngày 26 tháng 5 năm 2019. (nội dung kế hoạch trình Hiệu trưởng và xin
    ý kiến phụ huynh có trong phần phụ lục trang 29,30,31).
    Tuyên truyền tới các em học sinh vào tiết chào cờ của tuần đầu tiên của
    tháng 9 trong mỗi năm học về tác hại của pin rác cũng như các hiệu quả của các
    hoạt động trên. (nội dung tuyên truyền có trong phần phụ lục trang 23, 24).
    Đưa ra phương pháp thu gom và việc cộng điểm khuyến khích cho thi đua
    của lớp khi các em tích cực tham gia. Trao thưởng cho các lớp thu gom được
    nhiều pin nhất, nhì, ba của trường. (hình ảnh phát thưởng có trong phần phụ lục
    trang 19).
    + Tại địa phương nơi cư trú:
    Lập thông điệp kêu gọi người dân bảo vệ môi trường thông qua việc thu
    gom pin và túi ni-long, gặp lãnh đạo thôn, xã nơi cư trú xin ý kiến để thực hiện
    8
    tuyên truyền tới từng đội trong cuộc họp đại đoàn kết dân tộc (nội dung thông
    điệp có trong phần phụ lục trang 25).
    Tại địa phương sau khi đã được sự nhất trí, cho phép và ủng hộ của cán
    bộ xã, cán bộ thôn và hội trưởng hội phụ nữ các đội:
    Tiến hành gửi tờ rơi tới mỗi trưởng thôn của các đội về:
    Tác hại của pin rác, vỏ lon vỏ chai và giấy vụn, túi nilon mà mỗi người
    vẫn gặp.
    Kế hoạch thu gom pin rác, túi nilon tại nhà hội trưởng hội phụ nữ vào
    sáng ngày chủ nhật hàng tuần để bản thân tôi sẽ đến từng nhà hội trưởng hội phụ
    nữ thu gom tập kết tại nhà tôi.
    Bước 3: hoạt động thu gom phân loại pin rác, giấy nháp, nilon, vỏ
    chai…và hoạt động trải nghiệm cho học sinh:
    + Ngày 31 tháng 3 năm 2019 lớp 12A9 diễn ra hoạt động trải nghiệm:
    Mang pin rác, túi nilon, vỏ lon, vỏ chai và giấy, sách đến Green Life số 33
    – ngõ 67 – Lê Thanh Nghị – Hà Nội để đổi lấy cây mang về nhà và trường phát
    cho các lớp. Hướng dẫn các lớp chăm sóc cây để tạo không gian lớp học không
    chỉ sạch mà còn xanh và thân thiện.(hình ảnh làm minh trứng có trong phần phụ
    lục trang 16).
    Đến trường Đại học Bách khoa – đường Đại Cồ Việt – Hà Nội để tham
    gia Trải Nghiệm Đại Học, Định hướng tương lai. Ở đây các em được các trường
    Đại Học tư vấn giải đáp thắc mắc về các trường.
    Đến Học Viện Nông Nghiệp – Trâu Quỳ – Gia Lâm – Hà Nội. Chỉ với
    70000 các em được nghe chia sẻ về khởi nghiệp nông nghiệp gắn với du lịch;
    trung tâm sản suất nấm, Ong, vi tảo, mô hình khí canh, thủy canh, vườn thực vật.
    Sáng ngày 26 tháng 5 năm 2019 đại diện Ban liên tịch của trường, đại
    diện đoàn thanh niên, học sinh lớp 11A2 mang pin rác, giấy, sách đến Green Life
    được tổ chức tại trường mầm non 8/3, số 85 phố 8/3 Quỳnh Mai, hai Bà Trưng
    Hà Nội để đổi lấy cây. (hình ảnh làm minh trứng có trong phần phụ lục trang 16,
    17, 18).
    Đánh giá hoạt động trải nghiệm thử nghiệm trên cùng các thầy cô, bậc
    PHHS và các em. Đưa ra kế họach trải nghiệm cho các khối lớp nếu PHHS và
    các em có nhu cầu. (nội dung đánh giá có trong phần phụ lục trang 22).
    Nếu không đưa học sinh đi trải nghiệm được chúng ta vẫn cho các em
    triển khai các hoạt động 1,2,3 rồi gửi xe đến 1 trong 5 địa chỉ thu gom pin trên
    hoặc gửi cả pin và giấy tới Green Life để đổi giấy lấy cây. Hoặc liên hệ với học
    sinh cũ đã ra trường đang học tập hay công tác tại Hà Nội để những học sinh này
    có thể tự đổi cho chúng ta. Như ở trường THPT Mỹ Tho chúng tôi đã nhờ em
    Nguyễn Thơ sinh viên Đại Học Bách Khoa Hà Nội có nick facebook Nguyễn
    Thơ để đổi giúp.
    2.4.2. Năm học 2019 – 2020
    9
    * Đặc điểm: Năm học 2019 – 2020 là năm có nhiều khó khăn do sự diễn
    biến phức tạp của dịch Covid 19 nên chúng ta không thể tiến hành các hoạt động
    tập chung đông người.
    * Các bước tiến hành:
    Bước 1: Nhóm tác giả sáng kiến quyết định vẫn thu gom pin rác trong
    khu vực trường THPT Mỹ Tho bằng đồng thời cả hai cách:
    Cách một đưa nội dung tuyên truyền lên trang page của trường . Với nội
    dung này đã thu được gần 2000 lượt tương tác và chia sẻ từ các bậc PHHS và các
    cựu HS của trường. (nội dung đánh giá có trong phần phụ lục trang 35, 36, 37).
    Cách hai gửi tờ rơi tới các giáo viên chủ nhiệm về cách thức thu gom pin
    rác của dự án . (nội dung đánh giá có trong phần phụ lục trang 37).
    Xin ý kiến chỉ đạo của Ban giám hiệu trường THPT Mỹ Tho về 2 cách đã
    đề ra ở trên.
    Bước 2: Cắt cử người đồng hành cùng 2 hoạt động trên
    Đồng chí Quang trực tiếp thu gom pin rác tại phòng Sinh học của trường
    vào tiết 5 ngày thứ 7 của tuần cuối cùng trong mỗi tháng.
    Đồng chí Đỗ Thị Thủy cập nhật trả lời các tương tác trên trang page.
    Bước 3: Tổng kết đánh giá, rút kinh nghiệm:
    Thống kê, cộng số pin rác mà các lớp đã thu gom được trong năm học
    2019 – 2020 (kết quả thống kê có trong phần phụ lục trang 34, 35)
    Kế hoạch và hoạt động tốt, nhận được sự ủng hộ của các thầy cô giáo và
    các em học sinh cũng như phụ huynh học sinh.
    Thống nhất năm sau sẽ đề nghị thêm một số trường trong huyện Ý Yên
    cùng triển khai.
    2.4.3 Năm học 2020 – 2021
    Giai đoạn 1: Phát triển xây dựng và thực thi dự án:
    Bước 1: Đánh giá hoạt động thu gom pin rác của trường trong 2 năm qua và
    đề xuất kế hoạch hoạt động cho năm học 2020 – 2021:

    Nội
    dung
    Điều đạt đượcVấn đề cần phát triển
    Đối
    tượng
    tuyên
    truyền
    – Phụ nữ của các thôn xã
    Yên Phú đã rất nhiệt
    tình và cẩn thận trong
    hoạt động thu gom pin
    rác.
    – Giáo viên và các em
    học sinh trường THPT
    – Mở rộng hoạt động sang các xã khác
    của huyện Ý Yên. Cần sự chung tay của
    không chỉ các chị em phụ nữ mà là của
    toàn thể các công dân.
    – Với mục đích đã đạt được, chúng ta
    nên mở rộng hoạt động này tới giáo viên
    và HS các trường THPT, THCS trong

    10

    Nội
    dung
    Điều đạt đượcVấn đề cần phát triển
    Mỹ Tho tham gia tích
    cực và đều đặn, có tính
    khoa học và thường
    xuyên trong công tác
    tuyên truyền, thu gom
    pin rác.
    toàn huyện, tỉnh. Liên hệ với ban ngành
    của các trường khác ngoài tỉnh
    Cách
    thức
    tuyên
    truyền
    – Đọc trước toàn trường
    vào tiết chào cờ của đầu
    năm học các nội dung:
    1. Tác hại của pin rác.
    2. Đề nghị các giáo viên
    chủ nhiệm phối kết hợp
    lớp trưởng thu gom pin
    rác từ các thành viên và
    nộp về cho đoàn trường.
    3. Đưa ra kế hoạch cộng
    điểm thưởng cho các
    lớp thu gom pin rác.
    Nhân rộng hoạt động tuyên truyền thu
    gom pin rác ra các trường THPT và
    THCS ra toàn huyện Ý Yên:
    1. Chủ động xây dựng kế hoạch trình hiệu
    trưởng trường Mỹ Tho, Ngô Thị Nhậm,
    Phủ Lý A, Phòng Giáo Dục, các trường
    TH khác trong huyện. Xin giấy giới thiệu
    của Phòng Giáo dục Ý Yên để liên hệ Ban
    Giám Hiệu và người tổng phụ trách Đoàn,
    Đội của các trường THCS, THPT huyện
    Ý Yên báo cáo về hoạt động thu gom pin
    rác của trường THPT Mỹ Tho trong 2
    năm qua, từ đó đề nghị các trường cùng
    tham gia để thực hiện xây dựng dự án….
    2. Tổ chức cho HS tự nguyện chủ động
    tham gia tìm hiểu tác hại của pin rác và
    các em tự mình trình bày trước toàn
    trường vào tiết chào cờ của tuần đầu của
    năm học.
    3. Cộng điểm khuyến khích cho các tập
    thể lớp thu gom được pin rác.
    Nội
    dung
    tuyên
    truyền
    1. Tác hại của pin rác.
    2. Cách thu gom pin rác
    1. Cách phân loại rác thải.
    2. Cách xử lý rác hữu cơ làm phân bón.
    3. Tác hại của pin rác.
    4. Cách thu gom pin rác.
    Cách
    thức thu
    gom pin
    rác
    Mỗi HS có pin rác sẽ
    mang tới lớp và bỏ vào
    can nhựa để ở cuối lớp
    rồi nắp chặt. Tiết 5 ngày
    thứ 7 của tuần cuối cùng
    của mỗi tháng lớp
    Tại trường THPT Mỹ Tho mỗi lớp có
    GVCN và 2 tình nguyện viên thu gom
    pin rác, phân loại và gửi về nơi tập kết
    pin của cả trường vào tiết 5 tuần cuối
    cùng của mỗi tháng. Tại các trường
    THCS và THPT khác có 1 giáo viên

    11

    Nội
    dung
    Điều đạt đượcVấn đề cần phát triển
    trưởng mang đến phòng
    thực hành Sinh học của
    trường để nộp.
    (thuộc đoàn thanh niên hoặc đội thiếu
    niên) thu gom và mang về trường THPT
    Mỹ Tho sau buổi sơ kết học kỳ I và tổng
    kết năm học.
    Cách
    vận
    chuyển
    pin rác
    tới nơi
    tiêu hủy
    Cựu HS Nguyễn Đức
    Mạnh là sinh viên Đại
    học Bách Khoa Hà Nội
    đến phòng bộ môn Sinh
    học của trường THPT
    Mỹ Tho và nhà cô Đỗ
    Thủy lấy, rồi mang đến
    nơi tiêu hủy pin rác đảm
    bảo vào dịp nghỉ tết và
    nghỉ hè lên học.
    I. Cựu HS Nguyễn Đức Mạnh là sinh
    viên Đại học Bách Khoa Hà Nội đến
    phòng bộ môn Sinh học của trường
    THPT Mỹ Tho và mang đến nơi tiêu hủy
    pin rác đảm bảo vào dịp nghỉ tết và nghỉ
    hè lên học.
    2. Tuyên truyền và tìm HS đang học tại
    các trường THPT sẽ tình nguyện vận
    chuyển đến một trong các nơi tiêu hủy
    pin rác tại Hà Nội khi các em học đại
    học vào những năm sau.
    3. Vì lí do nào đó mà chưa vận chuyển
    kịp lượng pin rác tới nơi tiêu hủy thì sẽ
    nắp chặt can pin rồi chôn xuống đất đợi
    khi có điều kiện sẽ vận chuyển tới nơi
    tiêu hủy.
    Nơi
    nhận và
    tiêu hủy
    pin rác
    1. Nhà văn hóa phường Nghĩa Tân – Quận Cầu Giấy
    2. UBND phường Thành Công, số 9, đường Thành Công,
    Phường Thành Công, Quận Ba Đình.
    3. UBND phường Quán Thánh 12 – 14 Phan Đình Phùng,
    Phường Quán Thánh, Quận Ba Đình.
    4. Chi Cục bảo vệ môi trường Hà Nội 17 Trung Yên 3, Trung
    Hòa, Cầu Giấy.
    5. UBND phường Tràng Tiền, Số 02 Cổ Tân, Phường Tràng
    Tiền, Quận Hoàn Kiếm.
    6. Công ty Hanel Traning số 2 Chùa Bộc, Láng Hạ, Đống
    Đa, Hà Nội.
    7. Công ty bảo hành Canong Lê Báo Minh, 130A, Giảng Võ,
    Ba Đình.
    8. Công ty HearLIFE, 198 Trường Chinh, Đống Đa.

    12
    Được sự đồng tình ủng hộ của Ban giám hiệu, tổ chức Đoàn, Đội dự
    ánvẫn song hành 2 cách làm như năm học 2019 – 2020 đã bước đầu thành công
    trong hoạt động phân loại rác, thu gom pin rác.
    Giai đoạn 2: Kết quả dự án:
    Thống kê, cộng số pin rác mà các trường đã thu gom được trong năm học
    2020 – 2021 (kết quả thống kê có trong phần phụ lục trang 38). Riêng trường
    THPT Ngô Thị Nhậm đã thu gom được 5kg pin rác và THPT Phủ Lý A thu gom
    được 6kg pin rác đã trực tiếp nhờ cựu HS gửi tới nơi tiêu hủy.
    Giai đoạn 3: Đánh giá, phát triển:
    Xây dựng phiếu đánh giá về hoạt động phân loại rác, thu gom pin rác đối với
    giáo viên và học sinh. (nội dung phiếu đánh giá có trong phần phụ lục trang 47).
    Phát phiếu tới giáo viên và học sinh trường THCS Yên Nghĩa và THPT
    Mỹ Tho (2 nơi này có lượng thu gom pin lớn nhất trong các trường đã thực
    hiện). Kết quả thống kê phiếu điều tra có trong phần phụ lục trang 48).
    Qua phân tích kết quả phiếu điều tra chúng tôi thấy Giáo viên, phụ
    huynh và các em HS cũng như người thân của các em đều ủng hộ và tích cực
    tham gia hoạt động này. Việc thực hiện không tốn công sức mà đem lại ý
    nghĩa lớn cho cả cộng động và môi trường nên chúng tôi quyết định năm học
    2021 – 2022 tiếp tục lan tỏa, nhân rộng dự án tới các trường khác trong và
    ngoài tỉnh nhiều hơn nữa.
    2.5 Điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
    * Năm học 2018 – 2019
    + Về ý thức:
    (1) Mỗi người tham gia phải có ý thức bảo vệ môi trường và đam mê
    nghiên cứu, thực nghiệm, trải nghiệm…
    (2) Có ý thức tích cực, chủ động, xây dựng hoạt động tập thể.
    (3) Tìm được một số giáo viên và em HS tự nguyện tham gia tuyên truyền
    và thu gom, vận chuyển pin rác.
    + Về cơ sở vật chất:
    (4) Phải liên hệ được nơi thu nhận pin rác, vỏ chai, vỏ lon, túi nilon,
    giấy, sách.
    (5) Phải liên hệ được nơi trải nghiệm phù hợp với lứa tuổi, sở thích, phần
    kiến thức cần học để tác động tích cực cho việc học tập và rèn luyện, hướng
    nghiệp của các em nếu chúng ta cho các em đi trải nghiệm ngoài nhà trường.
    (6) Phải có kế hoạch rõ ràng, chính xác và tỷ mỉ để thuyết phục được các
    cấp lãnh đạo nhà trường, phụ huynh học sinh và các em học sinh.
    (7) Cần có hòm đựng pin rác, cân pin và sổ ghi chép. Phải có nơi tập kết
    pin, túi, vỏ và giấy, sách…từ khi thu gom đến khi mang tới nơi nhận .
    13
    (8) Cần có tài chính cho chuyến trải nghiệm của các em học sinh (xe, ăn,
    chi phí cho các hoạt động trải nghiệm khác) nếu chúng ta cho các em đi trải
    nghiệm ngoài nhà trường.
    * Năm học 2019 – 2020
    Vẫn cần có các điều kiện từ (1) đến (7) như mục 2.5 ở trên. Riêng điều
    kiện (8) không cần vì đã có HS Nguyễn Đức Mạnh chủ động mang giao pin tới
    Chi Cục bảo vệ môi trường Hà Nội. Cũng do dịch Covid nên các em cũng không
    tham gia các hoạt động trải nghiệm.
    * Năm học 2020 – 2021
    Vẫn cần có các điều kiện từ (1) đến (4) như mục 2.5 ở trên, thay hòm
    đựng pin bằng can hoặc thùng nhựa đã qua sử dụng. Không cần tới các điều kiện
    (6), (7), (8) bởi:
    Do tình hình dịch Covid phức tạp.
    Đã có sự liên kết với Ban chấp hành Đoàn, Đội giữa các trường phía Bắc
    huyện Ý Yên để cùng tuyên truyền và phân loại rác, thu gom pin rác.
    2.6. Khả năng áp dụng giải pháp vào thực tế:
    – Giải pháp mang tính thiết thực ứng dụng là 100% cho học sinh trung học
    cơ sở trở lên ở mọi vùng miền của Tổ Quốc. Giải pháp cũng áp dụng được cho
    tất cả các khu dân cư từ thành thị đến nông thôn.
    III. Hiệu quả do sáng kiến đem lại:
    1. Giá trị kinh tế:
    Năm học 2018 – 2019 đã đạt được một số hiệu quả:
    (1) Với hơn 50 kg giấy vụn thu nhặt được từ các kỳ thi và những lần vệ
    sinh lớp của các em học sinh chúng ta hãy nhân với 3000 đồng và nhân với số
    trường cùng tham gia thì chúng ta đã mang lại giá trị lớn về kinh tế, càng giá trị
    hơn khi chúng ta đem đổi giấy lấy cây.
    (2) Sáng kiến mang tính tiết kiệm rất nhiều cho người tham gia cũng như
    chi phí trải nghiệm học tập:
    So với hoạt động trải nghiệm năm học 2017 – 2018 thì mỗi học sinh tham
    gia trải nghiệm ngoài nhà trường đã tiết kiệm được 270.000 đồng (một học sinh
    phải đóng góp cho hoạt động trải nghiệm năm học 2017 – 2018 học sinh lớp 11
    A1 là 570.000 đồng, năm học 2018 – 2019 là 300.000 đồng ).
    Còn các em có hay không đi trải nghiệm ngoài nhà trường đều mang về
    một lượng lớn cây, tổng số cây các em đổi được là 35 cây. Trong tỉnh Nam Định
    chúng ta có 58 trường THPT mà cùng có hoạt động 1,2,3 thì chúng ta đã có
    được một lượng cây khổng lồ, giá trị của 1 cây là 35000 đến 50.000 đồng.
    Năm học 2020 – 2021 chỉ đơn thuần là phân loại rác: rác hữu cơ dễ phân
    hủy, xử lý thành phân bón cây trồng tại gia đình. Rác có khả năng tái chế như
    14
    giấy, ni – lon, kim loại,…thu gom bán đồng nát tại nhà; ở lớp các em cũng bán
    đồng nát làm quỹ môi trường của lớp mà vẫn thu hút được đông đảo đối tượng
    người tham gia.
    2. Hiệu quả về mặt xã hội:
    2.1. Về phía con người:
    * Đối với học sinh:
    Với hoạt động thu gom pin rác, giấy vụn đã giáo dục ý thức bảo vệ môi
    trường một cách thường xuyên, liên tục ở mọi lúc, mọi nơi: Trung bình 50 kg
    giấy nhân với 58 trường THPT được đem đi đổi lấy cây thì chúng ta đã có một
    không gian xanh thật là xanh. Như vậy cùng với việc thu gom pin rác và đổi
    giấy lấy cây thì chúng ta đã góp phần giảm thải ô nhiễm môi trường và tăng
    cường sự điều hòa khí hậu trong điều kiện khí hậu đang bị biến đổi mạnh mẽ
    như hiện nay.
    Sau trải nghiệm sẽ làm tăng ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân với việc
    trồng cây xanh, tăng lòng nhiệt tình và sáng tạo trong việc học tập và rèn luyện
    để giúp ích cho xã hội sau này.
    Cùng nhau trải nghiệm đã giúp các em chủ động trong các hoạt động cá
    nhân và hoạt động tập thể để rèn luyện các kỹ năng sống. Gắn liền việc học đi
    đôi với hành để sáng tạo cho các hoạt động sống sau này. Đặc biệt tuyên truyền
    sâu rộng đến những người thân xung quanh cùng có ý thức bảo vệ môi trường.
    Chúng tôi đã trao đổi với 1 số học sinh trong việc thu gom pin của lớp đã nhận
    được nhiều phương pháp tích cực sáng tạo và đầy nhiệt huyết mà các em đã
    làm như: Tuyên truyền tới phụ huynh của mình để thu giữ lại pin rác; tới các gia
    đình hàng xóm xin thu gom lại pin rác của họ, các em thu được nhiều nhất ở gia
    đình có karaoke, có đồ chơi trẻ em…
    Việc phát phiếu điều tra không chỉ giúp cho nhóm tác giả rút kinh
    nghiệm cho hoạt động của mình mà còn là một động thái khích lệ các em học
    sinh chưa thật nhiệt tình với hoạt động phân loại rác, thu gom pin rác có ý thức
    tham gia thường xuyên hơn.
    * Đối với địa phương nơi các em và các giáo viên cư trú:
    Mọi người cùng có ý thức bảo vệ môi trường và tuyên truyền sâu rộng tới
    những người khác cùng bảo vệ môi trường.
    Các bậc PHHS ủng hộ về tinh thần và vật chất cho bốn hoạt động trên
    cũng như hoạt động trải nghiệm của cô trò.
    Tạo thói quen thường xuyên phân loại rác, hạn chế dùng túi ni-lông mà
    địa phương cùng xây dựng nông thôn mới.
    2.2 Về phía môi trường:
    Mỗi người khi phân loại rác là là đã bảo vệ môi trường; giảm nguồn rác
    thải, tiết kiệm chi phí thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải.
    15
    Khi thu gom 1 viên pin rác bằng cúc áo thôi là bạn đã giúp cho 500 lít
    nước (hoặc 1m3 đất) tránh ô nhiễm kim loại trong 50 năm. Như vậy với 58
    trường THPT trong cả tỉnh mà cùng thu gom pin rác thì giá trị bảo vệ môi
    trường sẽ càng lớn biết bao! Từ đó bảo vệ sức khỏe cho chính thế hệ chúng ta
    và các thế hệ sau này.
    Khi thu gom giấy làm giấy tái chế đã không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế
    mà còn góp phần giảm khai thác cây xanh, tiết kiệm nước, điện, giảm lượng rác
    thải …Đổi giấy lấy cây là chúng ta đã góp phần điều hòa khí hậu.
    Ô nhiễm nhựa đã trở thành một vấn nạn của thế giới, từ vùng biển đến
    đồng bằng đều đang bị ô nhiễm, hậu quả là nó làm hại cả người và các động vật
    khác. Với việc làm rất nhỏ của bạn khi thu gom vỏ chai hay vỏ lon để tái chế là
    bạn đang bảo vệ môi trường sống của chính bản thân bạn và con em bạn!
    3. Khả năng áp dụng và nhân rộng
    Sáng kiến có khả năng áp dụng cho mọi công dân từ thành thị đến nông ở
    độ tuổi từ 10 tuổi trở lên. Áp dụng cho tất

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Đổi mới tiết sinh hoạt dưới cờ và sinh hoạt lớp theo định hướng phát triển năng lực học sinh tại trường THPT

    SKKN Đổi mới tiết sinh hoạt dưới cờ và sinh hoạt lớp theo định hướng phát triển năng lực học sinh tại trường THPT

    Điều kiện, hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
    1. “Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có
    đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập
    dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất năng lực
    của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Luật Giáo
    dục – 2005). Việc tổ chức các tiết sinh hoạt dưới cờ (SHDC), nói rộng ra là việc tổ
    chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa (HĐ GDNGLL,
    HĐNK) chuyển mạnh sang hướng hoạt động trải nghiệm sáng tạo (HĐ TNST) tiếp cận
    chương trình giáo dục phổ thông (CT GDPT) mới là rất cần thiết phù hợp với mục tiêu
    giáo dục, nhằm góp phần đào tạo con người mới với đầy đủ các mặt đức, trí, thể, mĩ để
    học sinh (HS) được phát triển toàn diện đáp ứng những yêu cầu mới của xã hội.
    2. Trong các hoạt động tập thể, tiết sinh hoạt dưới cờ (SHDC) và sinh hoạt lớp
    (SHL) có vị trí vô cùng quan trọng trong các trường học. Đây là những tiết học đặc
    biệt, giáo dục học sinh thái độ trân trọng Quốc Kỳ, nâng cao tình yêu quê hương đất
    nước, củng cố và nâng cao kiến thức; rèn luyện kĩ năng sống, giúp cho học sinh gắn bó
    với trường lớp, phát huy những gương sáng trong học tập và rèn luyện, nâng cao tinh
    thần hiếu học, tính tích cực hoạt động của học sinh; phát huy được mặt mạnh, sở thích
    của mỗi cá nhân trong khoa học và xã hội, văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao… vì thế
    tiết SHDC và tiết SHL có nhiều ưu thế trong việc giáo dục toàn diện cho học sinh.
    Tổ chức hiệu quả tiết SHDC và tiết SHL là một hình thức hoạt động thể hiện trí
    tuệ của Ban chấp hành Đoàn trường, của các giáo viên chủ nhiệm. Thực tế hiện nay
    Ban giám hiệu, giáo viên (GV), học sinh (HS) vẫn còn chưa ý thức được tầm quan
    trọng của tiết SHDC và tiết SHL, nội dung sinh hoạt còn đơn điệu, nhàm chán; HS thụ
    động xuống dưới sân tham gia tiết SHDC mục đích chỉ dừng lại ở việc nghe nhận xét
    thi đua của tuần trước, nội dung công việc tuần kế tiếp nên tâm lí không tránh khỏi
    nhàm chán. Nếu không tổ chức tốt tiết SHDC thì sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu giáo
    dụctoàn diện của nhà trường, nề nếp ý thức HS không được nâng cao, chất lượng hoạt
    động đoàn đi xuống dẫn đến chất lượng của nhà trường cũng đi xuống. Vậy nên ngoài
    việc nhận xét kết quả tuần trước, phổ biến công việc tuần tiếp theo, tiết SHDC phải trở
    thành những tiết học bổ ích, tạo ra được những sân chơi lý thú, mang tính giáo dục
    cao, thu hút sự tập trung của các em.
    3. Báo cáo sáng kiến “Đổi mới tiết sinh hoạt dưới cờ và sinh hoạt lớp theo định
    hướng phát triển năng lực học sinh tại trường THPT Ngô Quyền, TP Nam Định” còn
    được chúng tôi lựa chọn còn xuất phát từ chính lòng yêu nghề và sự say mê với hoạt
    động trải nghiệm. Thực hiện đề tài này chúng tôi thực sự mong muốn được trao đổi
    với đồng nghiệp để được học hỏi và trau dồi về chuyên môn, về công tác tổ chức các
    hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa, hoạt động trải nghiệm sáng tạo,
    hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp.
    2
    II. Mô tả giải pháp:
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
    Để tìm hiểu thực trạng của việc tổ chức các tiết SHDC và tiết SHL trong nhà
    trường chúng tôi đã đặt câu hỏi yêu cầu đối tượng được khảo sát trình bày ý kiến nhận
    xét đánh giá của cá nhân (Xem Phiếu phỏng vấn số 01 – Phụ lục 2)
    Kết quả thu được như sau:
    SHL, SHDC được thường xuyên tiến hành trong nhà trường; đã có một số tiết
    SHDC và SHL thực sự bổ ích khi được tổ chức thành chuỗi hoạt động trải nghiệm
    sáng tạo (HĐ TNST) phát huy năng lực HS; tuy nhiên chủ yếu trong các tiết SHDC và
    SHL, GV dành thời gian để giáo dục HS vi phạm, nhắc nhở chung chung những lớp/cá
    nhân chưa hoàn thành các nhiệm vụ được giao, thông báo kế hoạch của nhà trường
    một cách khô khan; thời gian dành cho HS thực hiện các nội dung trải nghiệm, hoạt
    động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao,…chưa nhiều; vì thế chưa tạo ra sân chơi bổ
    ích cho HS, thiếu sự đối thoại giữa HS và nhà trường, HS chủ yếu là tiếp nhận thông
    tin một cách thụ động, các em không còn hứng thú và mất đi sự sáng tạo cũng như vai
    trò chủ thể của mình trong mỗi hoạt động; việc hình thành và phát triển các năng lực,
    phẩm chất cho HS theo Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT là rất hạn chế. Do đó, tiết
    SHDC và SHL trở thành một tiết học nặng nề, nhàm chán, ít hứng thú đối với HS.
    Việc bồi dưỡng năng lực chuyên môn và năng lực tổ chức cho GV, HS chưa
    được đầu tư; do đó kỹ năng tổ chức của GV bị hạn chế, HS ở trạng thái bị động, không
    có cơ hội tự mình thiết kế, điều khiển hoạt động theo ý tưởng của cá nhân.
    Sự phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường rất thấp; nhà trường
    chưa phát huy được sức mạnh của PHHS, chưa mở rộng phạm vi hoạt động và giao
    lưu với các lực lượng bên ngoài nhà trường.
    Việc tổ chức các HĐ TNST trong các tiết SHDC và SHL chưa có chiều sâu đặc
    biệt là việc lồng ghép giáo dục kĩ năng sống (KNS) thông qua HĐTN chưa đạt được
    hiệu quả mong muốn; kỹ năng thực hành của một bộ phận HS trong các hoạt động
    thường ngày chưa tốt; một số GV và một bộ phận HS còn lơ là, xem nhẹ vai trò của
    nội dung giáo dục này dẫn đến chưa nhiệt tình, năng nổ trong việc phối hợp thực hiện;
    sự phối kết hợp của một số bậc PHHS trong việc tổ chức các HĐ TNST, giáo dục
    KNS cho con em tại gia đình chưa được quan tâm đúng mức ….vì thế cần phải tiếp tục
    tăng cường công tác giáo dục, chỉ đạo để phát huy những mặt đã làm được và khắc
    phục những hạn chế trên.
    * Nguyên nhân của hạn chế
    – Nguyên nhân chủ quan
    Nhận thức của một số GV, HS, PHHS về vai trò của HĐTN chưa cao; một số
    GV và HS còn bị áp lực về thi cử và chất lượng của các bộ môn văn hóa nên chưa đầu
    tư đúng mức và chưa tổ chức các HĐTN cho hiệu quả.
    HS phải tập trung học văn hóa, tiếp thu lượng kiến thức khá lớn ở các bộ môn
    trong học chính khóa, học ôn luyện thi, chịu sức ép về điểm số trong kiểm tra, thi cử
    còn khá nặng nề. Bởi vậy đã có không ít HS khi học THPT chỉ quan tâm đến học để
    thi nên chỉ học các môn theo khối thi. Hiện tượng HS học lệch, học xa rời thực tiễn và
    3
    thiếu KNS đang tồn tại ở nhiều trường học, đặc biệt là các trường ở thành phố, trong
    đó có THPT Ngô Quyền. Việc thay đổi nhận thức ở HS về HĐ GDNGLL, HĐTN phải
    có sự tác động từ gia đình – nhà trường – xã hội; có như thế, HS mới thực sự là những
    nhân tố luôn tích cực, năng động, thích được tham gia và thể hiện khả năng.
    Đội ngũ cán bộ, GV được bồi dưỡng về công tác tổ chức, thực hiện HĐ
    GDNGLL, HĐTN là GV các bộ môn kiêm nhiệm, mới chỉ được bồi dưỡng chuyên đề
    nên kỹ năng tổ chức hoạt động còn hạn chế; bởi vậy lực lượng nòng cốt trong công
    tác HĐGDNGLL, HĐTN còn mỏng, thiếu GV có năng khiếu tổ chức, am hiểu nhiều
    lĩnh vực như: văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, hiểu biết xã hội,..
    Sự phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường chưa chặt chẽ, chưa
    phát huy được hết tiềm năng của các lực lượng giáo dục.
    Hình thức hoạt động chưa phong phú, nội dung nghèo nàn, chưa phù hợp với
    nguyện vọng nên chưa lôi cuốn, tạo sức hấp dẫn đối với HS.
    Tổ chức quản lý chưa chặt chẽ, việc kiểm tra đánh giá chưa thường xuyên, công
    tác tổng kết, rút kinh nghiệm chưa được quan tâm đúng mức.
    Đầu tư kinh phí cho HĐ GDNGLL, HĐTN chưa nhiều, còn quá eo hẹp và chưa
    kịp thời. Cơ sở vật chất, cảnh quan môi trường của các nhà trường tuy đã được đầu tư,
    nâng cấp nhưng vẫn còn chưa đảm bảo theo yêu cầu; vì thế, việc tổ chức HĐ
    GDNGLL, HĐNK theo hình thức tập trung và chuyên sâu rất khó khăn.
    – Nguyên nhân khách quan:
    HĐTN là một yếu tố quan trọng trong việc hình thành, phát triển các phẩm chất
    và năng lực thực tiễn của HS, góp phần giáo dục toàn diện nhưng trên thực tế chưa
    thực sự là một tiêu chuẩn quan trọng trong đánh giá thi đua. Việc đánh giá nhà trường,
    đánh giá GV, HS chủ yếu căn cứ vào kết quả của hoạt động dạy – học nên nhà trường
    chỉ quan tâm đến chất lượng dạy học mà ít quan tâm đến HĐTN. Chuẩn kiểm tra đánh
    giá, khen thưởng cho hoạt động này chưa rõ ràng, chưa có tác dụng thúc đẩy hoạt động
    đi vào chiều sâu. Thời gian của GV và HS dành cho hoạt động này chưa nhiều, dẫn
    đến hình thức hoạt động chưa phong phú, nội dung chưa hấp dẫn. PHHS chưa quan
    tâm đến HĐ TNST nên không tạo điều kiện để các em hoạt động mà chỉ ép các em học
    các môn văn hóa.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến: “Đổi mới tiết sinh hoạt dưới cờ và sinh
    hoạt lớp theo định hướng phát triển năng lực học sinh tại trường THPT Ngô
    Quyền, TP Nam Định”
    Hiện tại, trường THPT Ngô Quyền nói riêng, các trường THPT trong cả nước
    nói chung vẫn thực hiện chương trình giáo dục hiện hành; dù chưa triển khai chương
    trình giáo dục phổ thông mới, nhưng đã tiếp cận những đổi mới trong chương trình
    giáo dục phổ thông mới: chú trọng đổi mới hình thức tổ chức các hoạt động giáo
    dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa chuyển mạnh sang hướng hoạt động
    trải nghiệm sáng tạo tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông mới.
    Để thực hiện mục tiêu đổi mới hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài
    giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa chuyển mạnh sang hướng hoạt động trải nghiệm
    sáng tạo tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông mới tại trường THPT Ngô Quyền,
    4
    TP Nam Định, chúng tôi đề xuất đổi mới tiết sinh hoạt dưới cờ và tiết sinh hoạt lớp
    theo định hướng phát triển năng lực học sinh; biến mỗi tiết sinh hoạt dưới cờ và
    sinh hoạt lớp thành tiết học bổ ích; bởi hai giờ sinh hoạt này là không thể thiếu được
    trong quản lý nhà trường và quản lý lớp học.
    Phương pháp tổ chức tiết SHDC và SHL theo định hướng phát triển năng
    lực học sinh: thiết kế thành chuỗi các HĐ TNST hoặc sinh hoạt theo chủ đề và
    hướng dẫn HS thực hiện.
    Chúng tôi đã tiến hành khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của việc tổ chức các
    tiết SHDC, SHL theo hướng tăng cường HĐ TNST; khảo sát khả năng của GV và HS
    trong việc tổ chức các HĐ TNST (Xem Phiếu phỏng vấn số 2,3,4 – Phụ lục 2) và
    thấy rằng hoàn toàn có thể tiến hành được việc đổi mới tiết sinh hoạt dưới cờ và tiết
    sinh hoạt lớp theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
    Việc thiết kế các hoạt động trải nghiệm sáng tạo được tiến hành theo 8 bước:
    Bước 1: Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo;
    Bước 2: Đặt tên cho hoạt động;
    Bước 3: Xác định mục tiêu của hoạt động;
    Bước 4: Xác định nội dung và phương pháp, phương tiện, hình thức của hoạt động;
    Bước 5: Lập kế hoạch;
    Bước 6: Thiết kế chi tiết hoạt động trên bản giấy;
    Bước 7: Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình hoạt động;
    Bước 8: Lưu trữ kết quả hoạt động vào hồ sơ của học sinh.
    2.1. Đổi mới tiết Sinh hoạt dưới cờ theo định hướng phát triển năng lực học sinh
    * Thời gian thực hiện mỗi tuần 1 tiết vào sáng thứ hai hàng tuần với thời lượng
    45 phút. Đối tượng tham gia bao gồm toàn bộ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và
    học sinh nhà trường. Quy mô tổ chức: toàn trường.
    * Quy trình tổ chức tiết SHDC là quy trình phối hợp, đảm bảo tính logic giữa
    hoạt động của GV và HS. Quy trình này gồm 3 bước: Bước chuẩn bị, Bước tiến hành,
    Bước đánh giá kết quả. Mỗi bước có nội dung hoạt động cụ thể cho đối tượng tham
    gia, giữa các bước có mối liên hệ mật thiết với nhau tạo nên sự thống nhất trong việc
    tổ chức tiết SHDC sao cho mỗi tiết SHDC trở thành một tiết học bổ ích.
    * Về hình thức: Tổ chức một cách linh hoạt các hoạt động như văn nghệ, biểu
    diễn tiểu phẩm, trò chơi dân gian, diễn thuyết, thể dục thể thao, hoạt động trải nghiệm
    sáng tạo, hội thi, diễn đàn, tranh biện… Để đạt được mục tiêu phát triển năng lực học
    sinh, nhà trường tạo mọi điều kiện và khuyến khích tối đa HS tham gia từ khâu xây
    dựng kế hoạch, chuẩn bị điều kiện đến việc triển khai thực hiện, đánh giá kết quả và
    bày tỏ quan điểm của mình trong các hoạt động, GV chỉ gợi mở vấn đề hoặc chia sẻ
    khi cần thiết.
    * Về nội dung:
    Nội dung 1: Chào cờ
    Chào cờ đối với GV và HS là một hoạt động có ý nghĩa cao đẹp; đây là một
    nghi thức trang trọng thể hiện lòng yêu nước, tự hào dân tộc và sự biết ơn đối với các
    thế hệ cha anh đã hi sinh xương máu để đổi lấy độc lập, tự do cho Tổ quốc.
    5
    Lễ chào cờ của các em học sinh trong tiết SHDC
    Nội dung 2: SHDC theo chủ đề hoặc Kết nối HĐTN theo chủ đề với SHDC
    Ngoài nghi thức chào cờ, mỗi tiết SHDC có lồng ghép với tổ chức các HĐ
    TNST được nhà trường quan tâm chỉ đạo, thực hiện. Dưới sự hướng dẫn của Đoàn
    thanh niên, GV chủ nhiệm và những GV bộ môn có liên quan, những GV có năng lực
    thiết kế, dàn dựng, tổ chức hoạt động; HS lớp trực tuần thực hiện chủ điểm tuần lồng
    ghép với các HĐ TNST nhằm tuyên truyền, giáo dục về pháp luật, đạo đức, lối sống,
    kỹ năng sống, giá trị sống…
    Sinh hoạt dưới cờ theo chủ đề
    Một số mô hình tổ chức tiết SHDC theo chủ đề:
    Chào cờ – Nhận xét thi đua tuần qua – Biểu diễn các tiểu phẩm về ATGT, tệ nạn
    xã hội, bạo lực học đường… – Phát biểu của BGH đúc kết thật ngắn gọn một số nội
    dung chính và khuyến khích tinh thần nỗ lực của HS toàn trường. Đại diện BGH hoặc
    BCH Đoàn trường thông báo phát động phong trào tuần tiếp theo
    Chào cờ – Nhận xét thi đua tuần qua – Giáo dục về tình bạn, tình yêu, hôn nhân
    và gia đình…- Phát biểu của BGH đúc kết thật ngắn gọn một số nội dung chính và
    khuyến khích tinh thần nỗ lực của HS toàn trường. Đại diện BGH hoặc BCH Đoàn
    trường thông báo phát động phong trào tuần tiếp theo
    Chào cờ – Nhận xét thi đua tuần qua – Thi đố vui tìm hiểu về truyền thống nhà
    trường, về ngày nhà giáo Việt Nam – Phát biểu của BGH đúc kết thật ngắn gọn một số
    nội dung chính và khuyến khích tinh thần nỗ lực của HS toàn trường. Đại diện BGH
    hoặc BCH Đoàn trường thông báo phát động phong trào tuần tiếp theo
    Chào cờ – Nhận xét thi đua tuần qua – Nghe nói chuyện truyền thống nhân dịp
    22-12 – Phát biểu của BGH đúc kết thật ngắn gọn một số nội dung chính và khuyến
    khích tinh thần nỗ lực của HS toàn trường. Đại diện BGH hoặc BCH Đoàn trường
    thông báo phát động phong trào tuần tiếp theo
    Chào cờ – Nhận xét thi đua tuần qua – Trao đổi, trò chuyện về tệ nạn ma túy,
    HIV/AIDS – Phát biểu của BGH đúc kết thật ngắn gọn một số nội dung chính và
    khuyến khích tinh thần nỗ lực của HS toàn trường. Đại diện BGH hoặc BCH Đoàn
    trường thông báo phát động phong trào tuần tiếp theo
    Chào cờ – Nhận xét thi đua tuần qua – Tìm hiểu về người phụ nữ Việt Nam xưa
    6
    và nay – Phát biểu của BGH đúc kết thật ngắn gọn một số nội dung chính và khuyến
    khích tinh thần nỗ lực của HS toàn trường. Đại diện BGH hoặc BCH Đoàn trường
    thông báo phát động phong trào tuần tiếp theo
    Chào cờ – Nhận xét thi đua tuần qua – Kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí
    Minh…- Phát biểu của BGH đúc kết thật ngắn gọn một số nội dung chính và khuyến
    khích tinh thần nỗ lực của HS toàn trường. Đại diện BGH hoặc BCH Đoàn trường
    thông báo phát động phong trào tuần tiếp theo
    Chào cờ – Nhận xét thi đua tuần qua – Thi tìm hiểu kiến thức các môn học –
    Phát biểu của BGH đúc kết thật ngắn gọn một số nội dung chính và khuyến khích tinh
    thần nỗ lực của HS toàn trường. Đại diện BGH hoặc BCH Đoàn trường thông báo phát
    động phong trào tuần tiếp theo
    Minh chứng 1: SINH HOẠT DƯỚI CỜ VỚI CHỦ ĐỀ “AN TOÀN GIAO THÔNG”
    Hình thức 1: Tổ chức kí cam kết
    Ảnh: Buổi lễ kí cam kết thực hiện nền nếp học tập, an toàn giao thông, an toàn trường
    học giữa Công an phường Văn Miếu, Đoàn trường, giáo viên chủ nhiệm và đại diện
    các lớp trong nhà trường – FB Câu lạc bộ sáng tạo trẻ Ngô Quyền
    Hình thức 2: Dựng tiểu phẩm, hoạt cảnh, hội thi.
    Ảnh: Tiết SHDC lồng ghép tiểu phẩm kịch tuyên truyền an toàn giao thông do
    HS chi đoàn 11A2 thực hiện dưới sự hướng dẫn của Đoàn trường, Ban tư vấn tâm lí nhà
    trường kết hợp với giáo viên chủ nhiệm 11A2 – Fb Câu lạc bộ sáng tạo trẻ Ngô Quyền
    7
    Minh chứng 2: SINH HOẠT DƯỚI CỜ VỚI CHỦ ĐỀ HƯỚNG NGHIỆP
    Hình thức: Nói chuyện chuyên đề, tọa đàm “Nhu câu nguôn nhân lưc và định
    hươ!ng tương lai” (phôXi hơYp vơXi Học viện Nông nghiệp Việt Nam)
    Nguồn: Fb Câu lạc bộ sáng tạo trẻ Ngô Quyền
    Minh chứng 3: SINH HOẠT DƯỚI CỜ KẾT HỢP TUYÊN DƯƠNG KHEN THƯỞNG
    Trước tất cả con mắt của thầy cô, bạn bè, thật hãnh diện nếu được động viên,
    khen thưởng, vì thế, trong các tiết SHDC, Đoàn trường đã kết hợp chặt chẽ giữa tuyên
    dương khen thưởng và tuyên truyền giáo dục.
    Ảnh: Tiết SHDC lồng ghép tuyên dương khen thưởng trong cuộc thi sáng tác
    video sách và covid-19 (Fb CLB Sáng tạo trẻ Ngô Quyền)
    Minh chứng 4: SINH HOẠT DƯỚI CỜ KẾT HỢP HỘI THI SÂN KHẤU HÓA
    TÁC PHẨM VĂN HỌC
    Ảnh: Tổ chức Hội thi sân khấu hóa tác phẩm văn học – chủ đề “Sắc màu dân gian”
    trong giờ chào cờ đầu tuần các tuần 6,7,8,9,10,11,12 năm học 2020-2021. Một vài tiết
    mục trong Hội thi
    https://www.youtube.com/watch?v=zsZ6Jzny0Os
    https://www.youtube.com/watch?v=F7lIxFcyFyk&t=1s
    https://www.youtube.com/watch?v=tv8pWvGT-Pc&feature=emb_logo
    8
    Minh chứng 5: SINH HOẠT DƯỚI CỜ: CHU@O@NG TRÌNH WELCOME
    2021 DO TRUNG TÂM ANH NGỮ SYDNEY KẾT HỢP TỔ TIẾNG ANH
    THỰC HIỆN (Fb Câu lạc bộ sáng tạo trẻ Ngô Quyền)
    Kết nối HĐTN theo chủ đề với SHDC
    HĐTN Tuân thủ theo chu trình sau: Khám phá – Chiêm nghiệm – Thực hành – Vận
    dụng và mở rộng.
    Minh chứng 1: HĐTN THÁNG 12 – TỔ QUỐC GỌI TÊN MÌNH (Fb Câu lạc bộ
    sáng tạo trẻ Ngô Quyền)
    Thực hiện: HS chi đoàn 11A5,11A6 K48 năm học 2020-2021
    Sau đây là một sôX hình ảnh nôZi bật cho sưY kiện trên
    9
    10
    Minh chứng 2: HĐTN THÁNG 3
    CHỦ ĐỀ: MỪNG ĐẢNG QUANG VINH, MỪNG XUÂN CANH TÝ
    Thực hiện: HS chi đoàn 10I K48 THPTNQ 2019-2020 (Xem PHỤ LỤC 3)
    Tóm lại: SHDC là một hình thức mang lại hiệu quả giáo dục cao của Đoàn. Phải
    làm cho HS háo hức, chờ đợi tiết SHDC, muốn vậy phải biến tiết SHDC thành sân
    chơi cho các các em. Để thực hiện được điều này ngoài sự sáng tạo, chủ động của Bí
    thư Đoàn trường thì phải cần có sự phối hợp chặt chẽ, nhiệt tình của các giáo viên chủ
    nhiệm, các giáo viên bộ môn, vì thế nhà trường phải thường xuyên quan tâm, chỉ đạo,
    tạo mọi điều kiện thì Bí thư đoàn trường có thể thực hiện tốt nội dung này.
    Mẫu kịch bản chương trình tiết SHDC

    TRƯỜNG THPT NGÔ QUYỀN
    ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
    CHI ĐOÀN:
    CHƯƠNG TRÌNH SINH HOẠT DƯỚI CỜ
    CHỦ ĐIỂM:
    THÁNG/TUẦN:
    STTNội dung thực hiệnNgười thực hiệnĐịnh lượ
    thời gian
    thực hiện
    1Ổn định tổ chứcHS lớp trực tuần2 phút
    2Nghi lế Chào cờ, Hát quốc ca; Tuyên bố lí
    do – Giới thiệu đại biểu
    Thầy Phạm Văn Bắc
    – Bí thư Đoàn trường.
    HS lớp trực tuần
    5 phút
    3Sơ kết ngắn gọn các hoạt động tuần vừa qua
    Nhận xét, tuyên dương tập thể/cá nhân,
    nêu gương người tốt việc tốt
    Đại diện nhà
    trường/HS lớp trực
    tuần
    5 phút
    4Phát triển chủ điểm tháng/tuần
    Hình thức tự chọn:
    – Sân khấu hóa: hát, múa, nhảy dân vũ,
    dựng tiểu phẩm kịch, hoạt cảnh, hóa trang,
    sắm vai tình huống, kể chuyện
    – Hội thi/cuộc thi (liên quan đến chủ điểm)
    – Tổ chức trò chơi
    – Tổ chức diễn đàn
    – Sân khấu tương tác
    – Tổ chức sự kiện
    – Hoạt động giao lưu
    – Mời chuyên gian đến nói chuyện chuyên đề
    – Báo cáo thực hiện các dự án trải nghiệm
    liên quan đến chủ đề, chủ điểm
    ….(KÈM KỊCH BẢN CHI TIẾT)
    HS lớp trực tuần28 phút
    5Phát biểu của BGH đúc kết thật ngắn gọn
    một số nội dung chính và khuyến khích tinh
    thần nỗ lực của HS toàn trường
    Đại diện BGH hoặc BCH Đoàn trường thông
    báo phát động phong trào tuần tiếp theo
    Đại diện BGH,
    BCH Đoàn trường
    5 phút
    6

    ng

    11
    * Đổi mới hình thức SHDC để mỗi tiết SHDC trở thành một tiết học bổ ích,
    cần chủ động, linh hoạt trong triển khai thực hiện tránh dập khuôn, máy móc, đồng
    thời cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ chủ yếu sau:
    Một là, làm tốt công tác xây dựng kế hoach: Xây dựng kế hoạch hoạt động của
    tiết SHDC theo các chủ đề, chủ điểm cho cả năm học, lựa chọn những nội dung mang
    tính giáo dục cao, hình thức đa dạng hấp dẫn, phù hợp lứa tuổi HS
    Hai là, Ban giám hiệu chịu trách nhiệm phê duyệt kế hoạch tổ chức tiết SHDC
    đảm bảo yêu cầu về nội dung, hình thức theo định hướng phát triển năng lực, phẩm
    chất học sinh.
    Ba là, mỗi tiết SHDC phân công lớp trực tuần, giáo viên chủ nhiệm, Đoàn
    thanh niên chịu trách nhiệm chuẩn bị và tổ chức thực hiện trên tinh thần lấy HS làm
    trung tâm, phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS trong giải quyết vấn
    đề, tạo ra sân chơi bổ ích, thiết thực cho HS, tránh việc GV làm thay, làm hộ HS.
    2.2. Đổi mới tiết Sinh hoạt lớp theo định hướng phát triển năng lực học sinh
    * Tiết SHL là tiết học ở đó HS tiến hành hoạt động giáo dục, tự giáo dục và xây
    dựng tập thể lớp dưới sự cố vấn, hướng dẫn và chỉ đạo của GVCN; thông qua đó nhằm
    khơi dậy ở HS tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tinh thần hợp tác, trách nhiệm đối với
    bản thân, đối với tập thể và cộng đồng; hình thành, củng cố và phát triển ở HS kỹ năng
    hoạt động độc lập, tự chủ, kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong các mối quan hệ tập thể lớp
    và ngoài xã hội; xây dựng lớp thành một tập thể tự quản, có nền nếp, đoàn kết, gắn bó
    sống có trách nhiệm cùng nhau, phát huy được vai trò nòng cốt, tính tiên phong của tổ
    chức Đoàn trong các hoạt động tập thể.
    * Thời gian thực hiện mỗi tuần 1 tiết vào thứ bảy hàng tuần với thời lượng 45
    phút. Đối tượng tham gia là tất cả học sinh mỗi lớp và giáo viên chủ nhiệm. Quy mô tổ
    chức theo lớp.
    * Về nội dung:
    Nội dung và hình thức thực hiện linh hoạt, phù hợp với chủ đề, chủ điểm do nhà
    trường và giáo viên lựa chọn nhưng đảm bảo được các yêu cầu sau:
    Tiết SHL cần thực hiện bám sát theo nội dung chủ đề, chủ điểm trong kế hoạch
    giáo dục năm học của nhà trường, đồng thời tích hợp giải quyết các yêu cầu do chính
    đời sống học tập và rèn luyện của HS đặt ra.
    Tiết SHL đảm bảo phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức và phù hợp với
    lứa tuổi học sinh trung học phổ thông. Các nội dung bao gồm về giáo dục đạo đức,
    giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục
    lao động, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục môi trường, giáo dục phòng chống ma
    túy, HIV/AIDS và tệ nạn xã hội,…
    * Về hình thức: Thông qua nhiều hình thức tổ chức như trò chơi dân gian, văn
    nghệ, đố vui để học, thể dục thể thao, hùng biện, trang trí lớp học, làm báo tường, tổ
    chức sinh nhật, tổ chức ngày hội (trung thu, hóa trang, trao đổi đồ dùng, đồ chơi, sách
    12
    truyện,…), hoạt động khéo tay hay làm, hoạt động giao lưu (giao lưu kết nghĩa giữa
    các lớp, các trường, các địa phương, các nhà hoạt động xã hội).
    Khi tổ chức tiết SHL đảm bảo nguyên tắc học sinh tự quản toàn diện, tiết SHL
    là của học sinh, do HS thực hiện vì những lợi ích của mỗi HS và của cả tập thể lớp.
    GVCN cần linh hoạt vai trò chủ đạo của mình trong suốt quá trình hướng dẫn HS
    chuẩn bị, triển khai, đánh giá kết quả,… bằng cách gợi mở, khơi dậy tiềm năng, tiềm
    lực, kết nối giữa các HS, động viên và khuyến khích HS thực hiện một cách tự tin và
    chủ động.
    Mô hình tổ chức tiết SHL theo chủ đề: HS nhận xét thi đua tuần qua – HS
    sinh hoạt theo chủ đề – Phát biểu của GVCN đúc kết thật ngắn gọn một số nội dung
    chính, khuyến khích tinh thần nỗ lực của HS lớp chủ nhiệm; thông báo ngắn gọn hoạt
    động tuần tiếp theo
    Ảnh: Tiết SHL theo chủ đề “Trao gửi yêu thương” (nhân ngày 20/10) của lớp 12A5
    năm học 2020-2021 (cô giáo Phạm Thị Thu Huyền chủ nhiệm)
    13
    Ảnh: Tiết SHL theo chủ đề “Vui Trung thu” của lớp 11A6 năm học 2020-2021 (cô
    giáo Nguyễn Thị Thúy chủ nhiệm)
    Ảnh: Tiết SHL theo chủ đề “Lớp 12A2 đã gửi cho bạn một tệp kí ức đặc biệt” (trước
    ngày thi TN THPT 2021) của lớp 12A2 năm học 2020-2021 (cô giáo Nguyễn Thị Thúy
    chủ nhiệm)
    Ảnh: Tiết SHL lồng ghép hướng nghiệp, Trần Tiến Dũng – cựu HS 12H THPT Ngô
    Quyền (2008 -2009) hiện đang là giảng viên khoa CNTT ĐH Mở Hà Nội – đã về
    hướng dẫn, hỗ trợ, chia sẻ kinh nghiệm với các em 12A2 trong giai đoạn tăng tốc,
    chuẩn bị hồ sơ và vượt vũ môn! (Fb Nguyen Thuy)
    14
    Tiết SHL thực hiện những nội dung, hình thức tư vấn học đường phù hợp và
    hiệu quả. GVCN tiến hành xây dựng các chuyên đề tư vấn, có thể chính GVCN, có thể
    mời cán bộ thuộc Ban Tư vấn tâm lí học đường xuống lớp tư vấn cho cho HS lớp chủ
    nhiệm thông qua các tiết SHL, sinh hoạt chi đoàn và các hoạt động tập thể theo đơn vị
    lớp. Nội dung tư vấn và đối tượng tư vấn: tất cả học sinh đều có nhu cầu và cần được
    tư vấn về những vấn đề cần thiết như hoạt động học tập, hình ảnh bản thân, kỹ năng
    giao tiếp, sự phát triển thể chất, tâm lí và sức khỏa sinh sản, tư vấn hướng nghiệp,..
    Đặc biệt, năm học 2019-2020, 2020-2021 GVCN đã làm tốt công tác tư vấn cho HS
    phòng chống dịch bệnh, khai báo y tế và cách ly để phòng dịch bệnh theo yêu cầu.
    Tiết SHL thực hiện theo chủ đề giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
    (với các nội dung về tình bạn, tình yêu trong sáng, tình dục an toàn). Hình thức đa
    dạng: Kết hợp với phụ huynh, mời chuyên gia thuyết trình, giảng giải những kiến thức
    liên quan; diễn đàn để HS trao đổi thảo luận về “Tuổi dậy thì và các khó khăn gặp
    phải”, “Tình dục và các vấn đề của tình dục không an toàn”, “Quyền của vị thành
    niên”…Các phương pháp có thể lựa chọn trong buổi SHL: phương pháp sắm vai,
    phương pháp trò chơi, phương pháp làm việc nhóm,…
    Tiết SHL thực hiện theo chủ đề Coronavirus. Hơn hai năm qua, cả thế giới bị
    ảnh hưởng nghiêm trọng vì đại dịch Covid-19; trong đó giáo dục bị tác động rất lớn.
    Vậy “cơ” nào cho chúng ta trong mối “nguy” dịch bệnh? Khi chính phủ ra lệnh giãn
    cách xã hội, trường học phải tạm đóng cửa, việc học hành của học sinh được chuyển
    sang hình thức học online nhanh chóng; giải pháp công nghệ đã giúp vượt qua được
    giai đoạn thử thách khó khăn do tác động của đại dịch; GV và HS THPT Ngô Quyền
    đã linh hoạt, sáng tạo, đổi mới không chỉ trong công tác dạy và học mà còn trong việc
    tổ chức các hoạt động
    Tiết SHL báo cáo sản phẩm thực hiện dự án trải nghiệm sáng tạo nghệ thuật với
    chủ đề Coronavirus
    Tập thể 10I K48 trường Ngô (cô giáo
    Đinh Thị Doanh chủ nhiệm)
    Tập thể 12M – K46 trường Ngô (cô giáo
    Đoàn Thị Phương Thanh chủ nhiệm)
    15
    Sản phẩm âm nhạc tự sáng tác và biểu diễn: “Kì nghỉ tết đặc biệt” – HS Trần
    Tuấn Dũng Lớp 12B K46. (Fb Câu lạc bộ Sáng tạo trẻ Ngô Quyền)
    Sản phẩm hội họa: của các lớp 12C, 12D, 12M, 11A, 11B, 11I, 10I, 10D
    16

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education