• SKKN Thiết kế hoạt động khởi động trong dạy đọc hiểu các văn bản thơ phần văn học Việt Nam đọc chính thức ở chương trình ngữ văn THPT

    SKKN Thiết kế hoạt động khởi động trong dạy đọc hiểu các văn bản thơ phần văn học Việt Nam đọc chính thức ở chương trình ngữ văn THPT

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Điều kiện, hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
    Giáo dục phổ thông nước ta đang chuyển từ chương trình định hướng nội dung
    sang tiếp cận năng lực của người học. Nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học
    được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh làm được cái gì và làm như thế nào. Để đạt
    được mục đích này, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp
    dạy học nặng về truyền thụ kiến thức sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức,
    rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Đồng thời phải chuyển cách
    đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng
    lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, chú trọng kiểm tra đánh giá trong quá trình
    dạy học để có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy
    học và giáo dục. Theo tinh thần ấy, các yếu tố của quá trình giáo dục trong nhà
    trường trung học cần được đổi mới tất cả các mặt: nội dung dạy học, phương pháp
    dạy học, kiểm tra đánh giá, cách thức đánh giá bài học… Trong đó, việc thiết kế tiến
    trình dạy học của giáo viên đóng một vai trò quan trọng.
    Trong dạy học nói chung, dạy học Ngữ Văn nói riêng, tiến trình dạy học bao
    gồm nhiều hoạt động, mà khởi động chính là bước đầu tiên, có ý nghĩa mở đường.
    Hoạt động khởi động là công việc tạo tâm thế nhập cuộc cho học sinh, mục đích kích
    thích sự tò mò, khơi dậy hứng thú của học sinh với bài học. Hoạt động này nhằm giúp
    học sinh huy động những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm của bản thân về các vấn đề
    có nội dung liên quan đến bài học mới; kích thích tính tò mò, sự hứng thú, tạo tâm thế
    cho học sinh ngay từ đầu tiết học. Vậy tại sao cần phải khởi động? Bởi lẽ, việc hình
    thành kiến thức mới bao giờ cũng dựa trên những kinh nghiệm đã có trước đó của
    người học. Hoạt động khởi động giúp giáo viên tìm hiểu xem học sinh có hiểu biết
    như thế nào về những vấn đề có liên quan đến nội dung của bài học, từ đó giúp người
    học huy động vốn kiến thức và kĩ năng đã có để chuẩn bị tiếp nhận kiến thức và kĩ
    năng mới. Bên cạnh đó, như nhà khoa học vĩ đại Anh-xtanh từng nói: “Vật có giá trị
    chân chính không phải được sinh ra từ dã tâm hoặc tinh thần trách nhiệm mà được
    3
    sinh ra từ lòng đam mê và nhiệt thành đối với sự vật khách quan” hay Lê-nin cũng
    hơn một lần khẳng định: “Không có ham muốn của con người, thì trước nay chưa hề
    có và cũng không thể có sự tìm tòi của con người đối với chân lí”, bước khởi đầu của
    bài học còn có tác dụng tạo không khí và nêu lên tình huống có vấn đề cũng như
    nhiệm vụ trọng tâm của bài học, nhờ đó mà kích thích được hứng thú và ham muốn
    đi tìm chân lí của học sinh. Không chỉ có ý nghĩa với người học, việc tổ chức tốt hoạt
    động khởi động trong tiến trình dạy học cũng là cách để người dạy tạo hứng thú cho
    chính bản thân mình, để bắt vào bài mới một cách tự nhiên, sinh động, thực hiện tốt
    những mục tiêu bài học đề ra. Trong thực tế, những hình thức khởi động bài học hợp
    lí có thể cùng lúc đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau: vừa khiến học sinh hứng
    thú, vừa ổn định được lớp, kiểm tra, ôn tập bài cũ, đồng thời tạo tiền đề cần thiết cho
    bài mới… Có thể nói, trong tiến trình dạy học, khởi động là bước quan trọng, không
    muốn nói là yếu tố tiên quyết tạo nên hiệu quả của giờ học. Nó giống như khúc dạo
    đầu của một bản nhạc, có tác dụng chỉ huy, phát hiệu lệnh, nắm giữ toàn cục đối với
    các khâu giảng dạy ở phần sau.
    Xuất phát từ vai trò của hoạt động khởi động trong tiến trình dạy học nói chung
    và trong dạy học Ngữ Văn nói riêng, có thể thấy, việc thiết kế hoạt động khởi động
    cho giờ học cần được giáo viên chú ý đầu tư công phu, xứng đáng. Trong phạm vi
    của sáng kiến kinh nghiệm, chúng tôi đưa ra một số kinh nghiệm Thiết kế hoạt động
    khởi động cho các văn bản thơ phần văn học Việt Nam đọc chính thức trong
    chương trình THPT.
    II. Thực trạng
    Khởi động là một hoạt động bắt buộc, cần thiết trong tiến trình dạy học, tuy
    nhiên trong thực tế giảng dạy Ngữ Văn nói chung và giảng dạy Ngữ Văn ở bậc THPT
    nói riêng, nhiều giáo viên chưa thực hiện đúng và chưa hiệu quả. Có giáo viên hoàn
    toàn bỏ qua, thậm chí không giới thiệu, dẫn dắt vào bài mà bắt đầu ngay bằng việc
    truyền đạt kiến thức mới cho học sinh. Cũng có những trường hợp giáo viên có ý thức
    4
    xây dựng phần khởi động nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu. Đó là việc dẫn dắt bằng
    một vài câu giới thiệu tên bài học sơ sài, đơn điệu, mang tính hình thức. Việc dẫn
    nhập, giới thiệu bằng phương pháp thuyết trình như vậy đã tồn tại từ rất lâu, giáo viên
    giống như người “rót” những kiến thức cần thiết vào “chiếc bình” là học sinh và hậu
    quả là thủ tiêu sự sáng tạo, làm mất đi hứng thú khám phá chân lí của học trò. Đó là
    việc chỉ chú ý tạo không khí sôi nổi cho giờ học bằng một số hình thức như tham gia
    trò chơi, xem phim, nghe nhạc… mà không đưa ra được tình huống có vấn đề đề
    xuyên suốt giờ học đề học sinh giải quyết, khiến cho học sinh chỉ hào hứng được mấy
    phút đầu giờ học, càng về sau không khí càng trầm xuống, các hoạt động diễn ra rời
    rạc, thiếu tính chỉnh thể. Hoặc có khi nêu được tình huống có vấn đề nhưng lại chưa
    tạo được không khí cho giờ học Ngữ Văn, người dạy chỉ chăm chăm để đạt được mục
    tiêu của bản thân qua giờ học mà không quan tâm tới cảm xúc của người học khi tiếp
    nhận, dẫn tới hiện tượng học sinh bị gò ép, đối phó trong trạng thái miễn cưỡng. Tất
    cả những điều đó đều có thể dẫn đến sự thất bại của chuỗi các hoạt động dạy học tiếp
    theo.
    Có thể nói, trong thực tế giảng dạy Ngữ Văn ở bậc THPT, vẫn còn hiện tượng
    nhiều giáo viên đánh giá chưa hết, chưa đủ vai trò của hoạt động khởi động trong
    việc khơi mở, hướng dẫn học sinh tự học, tự mình khám phá và chinh phục biển cả tri
    thức mênh mông. Người dạy, do đó cũng chưa tận dụng được những ưu thế của hoạt
    động này trong việc tổ chức cho học sinh học tập để nâng cao hiệu quả dạy học.
    III. Giải pháp
    1. Giải pháp chung
    Xuất phát từ vai trò của hoạt động khởi động và thực trạng nêu trên, để thiết kế
    hoạt động khởi động cho các văn bản thơ phần văn học Việt Nam đọc chính thức
    trong chương trình THPT, người giáo viên cần phải:
    1.1. Hiểu rõ về vai trò, yêu cầu của hoạt động khởi động và một số hình thức
    khởi động hiệu quả cho giờ dạy Ngữ Văn
    5
    1.1.1. Vai trò của hoạt động khởi động (đã trình bày ở mục I)
    1.1.2. Yêu cầu của hoạt động khởi động
    Thời gian lên lớp trong một tiết học chỉ gói gọn trong vòng 45 phút, người dạy
    không thể dành quá nhiều thời gian cho hoạt động khởi động. Vậy nên, yêu cầu đầu
    tiên của phần khởi động là cần ngắn gọn, nêu ra được tình huống có vấn đề, cũng là
    nhiệm vụ xuyên suốt của giờ học để học sinh giải quyết. Theo đó, người dạy phải
    hướng người học vào bài mới bằng lời gọn ý sâu, lấy ít dẫn nhiều chứ không dài
    dòng, tùy tiện. Để đạt được yêu cầu đó, đòi hỏi sự tinh luyện của nội dung, sự tinh tế
    của ngôn ngữ, sự sáng tạo trong hình thức tổ chức. Tất cả hoà quyện thành phần khởi
    động đầy tự nhiên, cuốn hút. Bên cạnh đó, hoạt động khởi động thường được tổ chức
    thông qua hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm sẽ kích thích sự sáng tạo, giúp học
    sinh hình thành năng lực hợp tác, tinh thần học hỏi, giúp đỡ nhau khi thưc hiện nhiệm
    vụ. Chuẩn bị phần khởi động như thế nào cho hiệu quả phải dựa vào nội dung bài, đối
    tượng học sinh và cả điều kiện của giáo viên.
    1.1.3. Một số hình thức khởi động hiệu quả cho giờ dạy Ngữ Văn
    Có rất nhiều hình thức để tiến hành hoạt động khởi động cho giờ dạy Ngữ Văn,
    giáo viên có thể vận dụng linh hoạt hình thức phù hợp, hiệu quả với từng bài học và
    điều kiện cụ thể của hoạt động dạy học.
    – Khởi động bằng cách nêu câu hỏi, bài tập: Trong mỗi bài học, hoạt động khởi
    động thường gồm 1-3 câu hỏi, bài tập. Các bài tập này thường là quan sát tranh/ảnh
    để trao đổi với nhau về một vấn đề nào đó có liên quan đến bài học. Cũng có một số
    bài tập không sử dụng tranh/ảnh mà trực tiếp ôn lại kiến thức đã học ở cấp/lớp dưới,
    nhưng thiết kế dưới dạng nhiệm vụ kết nối hoặc những câu hỏi. Các câu hỏi/bài tập ở
    hoạt động khởi động không nên mang nặng tính lí thuyết mà cần huy động những
    kinh nghiệm thực tiễn có liên quan đến nội dung bài học để tạo sự hứng thú và suy
    nghĩ tích cực cho người học.
    6
    – Khởi động bằng một số cuộc thi, ví dụ thi đọc, ngâm thơ, kể chuyện, hát về chủ
    đề liên quan đến bài học. Việc làm này nhằm tạo ra không khí sôi nổi, hứng thú trước
    khi tiến hành học bài mới, đồng thời cũng tạo được màu sắc văn chương cho giờ học.
    Nhiệm vụ đặt ra nên gần gũi với đời sống mà học sinh dễ cảm nhận và đã có ít nhiều
    những hiểu biết ban đầu về chúng.
    – Khởi động bằng việc tổ chức trò chơi: Giờ học Ngữ Văn thường trầm lắng, học
    sinh ngồi nghe thụ động – đây là định kiến của không ít người khi nghĩ về một giờ
    Văn. Do đó, việc tổ chức một số trò chơi trong hoạt động khởi động sẽ giúp tạo ra sự
    sôi nổi, hào hứng cho học sinh khi vào bài học mới. Các trò chơi này cũng có nội
    dung gắn với mỗi bài học, tạo điều kiện cho học sinh có thể huy động được kiến thức
    đã học để giải quyết, qua đó giúp học sinh phát hiện vấn đề, kết nối được với nhu cầu
    học bài mới để giải quyết vấn đề đã phát hiện.
    + Trò chơi giải ô chữ: Giáo viên chuẩn bị ô chữ trống, học sinh chia ra là các
    đội, nhiệm vụ của từng đội là mở các ô chữ hàng ngang để tìm ra từ khóa hàng dọc.
    Điểm của từng đội căn cứ vào câu trả lời (đúng/sai) và thời gian đưa ra câu trả lời
    đúng.
    + Trò chơi cướp cờ: Giáo viên chuẩn bị nhiều thẻ từ khóa bày ra. Học sinh chia
    làm nhiều đội. Giáo viên đọc câu hỏi và phát hiệu lệnh. Đại diện các đội chạy lên
    cướp từ khóa là đáp án của câu hỏi. Sau một số câu hỏi nhất định đội nào có nhiều thẻ
    đáp án nhất thì đội đó thắng.
    + Trò chơi Domino: Trò chơi này lấy ý tưởng từ các thanh domino. Nhưng thay
    vì nối số chấm, giáo viên tạo ra những thanh domino nối câu hỏi – câu trả lời tương
    ứng. Thông qua việc nối các thanh Domino, học sinh có thể ôn lại kiến thức cũ đồng
    thời khám phá kiến thức mới.
    7
    + Trò chơi giải mật thư: Giáo viên giao cho học sinh tự tổ chức, chuẩn bị bài tập,
    câu đố… để làm thành mật thư. Mỗi nhóm phụ trách một chặng. Học sinh nào giải
    được tất cả các mật thư thì sẽ chiến thắng. Trò chơi này phù hợp để tổ chức tiết ôn
    tập, có thể tích hợp với phương pháp nhóm chuyên gia (mỗi nhóm phụ trách mật thư
    là một nhóm chuyên gia)
    + Chơi xác định tiến trình: Giáo viên đưa ra một danh sách tiến trình bị sắp xếp
    lộn xộn đánh số thứ tự. Giáo viên phát cho học sinh các thẻ số, trong thời gian quy
    định học sinh phải chạy lên bảng dán các thẻ số (ứng với các bước bị sắp xếp lộn
    xộn) thành trình tự đúng.
    + Trò chơi chuyền banh theo nhạc: Giáo viên đặt câu hỏi rồi mở một đoạn nhạc.
    Trong khi nhạc chơi học sinh chuyền 1 đồ vật cho nhau (banh, thú bông…). Nhạc tắt
    đồ vật ở trong tay học sinh nào thì học sinh đó trả lời. Trò chơi đơn giản nhưng cực kì
    nào động vui vẻ.
    + Trò chơi xem clip tìm thông tin: Giáo viên cho học sinh xem clip (nhạc, kịch
    ngắn…), tìm những từ khóa liên quan đến nội dung bài học. Sau trò chơi ai trả lời đủ
    hết thì chiến thắng.
    1.2. Căn cứ vào đặc trưng của thể loại thơ
    8
    Một trong những căn cứ quan trọng để thiết kế hoạt động khởi động là căn cứ
    vào đặc trưng của từng thể loại. Để thiết kế tốt hoạt động khởi động cho các văn bản
    thơ phần văn học Việt Nam đọc chính thức trong chương trình THPT, giáo viên cần
    nắm vững đặc trưng của thể loại này.
    1.2.1. Đặc trưng của thể loại thơ
    Thơ là thể tiêu biểu cho loại trữ tình, là tấm gương của tâm hồn, là tiếng nói của
    tình cảm con người, những rung động của trái tim trước cuộc đời. Nội dung trữ tình
    và ngôn ngữ giàu nhịp điệu là đặc trưng cơ bản của thơ.
    – Nội dung của thơ: phản ảnh cuộc sống nhưng chủ yếu thể hiện tâm hồn con
    người, thế giới tâm trạng của nhân vật trữ tình. Nói như Heghen: Thơ bắt đầu từ cái
    ngày mà con người cảm thấy cần phải tự biểu hiện lòng mình. Hay Ngô Thì Nhậm:
    Hãy xúc động hồn thơ cho ngòi bút có thần.
    – Ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm súc, giàu hình ảnh và nhạc điệu. Đặc biệt là nhịp
    điệu vì nhịp điệu làm nên năng lượng cơ bản của câu thơ (Maia-cốp-xki). Nhạc điệu
    được tạo bởi tiết điệu (cách ngắt nhịp), thanh điệu (bằng, trắc), vần điệu (sự lặp lại
    âm nào đó). Sự phân dòng và hiệp vần của lời thơ, cách ngắt nhịp, sử dụng thanh
    điệu… làm tăng sức âm vang và lan tỏa, thấm sâu vào ý thơ.
    1.2.1.1. Đặc trưng thơ dân gian Việt Nam
    Trong chương trình Ngữ Văn THPT, các văn bản thơ dân gian Việt Nam đều
    thuộc thể loại ca dao. Vì vậy, chúng tôi chỉ tập trung vào đặc trưng của ca dao.
    Ca dao là loại thơ trữ tình dân gian, là tiếng nói của tư tưởng, tình cảm và mơ
    ước, khát vọng của người bình dân. Qua ca dao ta cảm nhận được sâu sắc nhịp trái
    tim yêu thương của người bình dân với tất cả sự ấm áp, ngọt ngào cùng tình yêu
    thương, lòng lạc quan, nghị lực, ý chí phi thường vượt lên mọi khổ cực của cuộc
    sống.
    Ca dao cũng như các thể loại văn học dân gian khác có tính tập thể và tính
    truyền miệng. Tính tập thể trong sáng tác và tính truyền miệng trong lưu hành, giao
    9
    tiếp khiến cái tôi trữ tình của ca dao không có dấu vết cá nhân, cá thể. Khi những câu
    ca dao được ra đời và truyền đi trong cộng đồng, nó đã bị phai dần cái tôi trữ tình…
    sáng tác của một cá nhân mà được sửa đổi đôi chút và trở thành của cả cộng đồng,
    của cả những con người có cùng tình thế, ước mơ, tình cảm. Cái tôi trữ tình trong ca
    dao là người bình dân, người thi sĩ, những người sáng tác, người diễn xướng,… thống
    nhất với nhau. Nhân vật trữ tình trong ca dao không có diện mạo, hành động, lời nói,
    quan hệ cụ thể như nhân vật tự sự và kịch nhưng nhân vật trữ tình cụ thể trong giọng
    điệu, cảm xúc, trong cách cảm, cách nghĩ thể hiện được tâm hồn người, tấm lòng
    người.
    Về nghệ thuật, lời bài ca dao thường ngắn gọn, phần lớn sử dụng thể thơ lục bát,
    ngôn ngữ gần gũi với lời nói hàng ngày của người lao động nhưng cũng giàu hình
    ảnh, tinh tế. Ca dao thường được diễn đạt bằng một số công thức ngôn từ quen thuộc.
    1.2.1.2. Đặc trưng thơ trung đại Việt Nam
    Thơ trung đại Việt Nam gồm những sáng tác thơ từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX. Thơ
    trung đại thể hiện được tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc và chủ nghĩa
    anh hùng; tình yêu thương con người và đề cao phẩm chất tốt đẹp của con người.
    Đồng thời nó còn thể hiện tình yêu thiên nhiên và tinh thần lạc quan, yêu đời, niềm
    tin vào sự sống và chính nghĩa. Nói một cách khái quát, đặc điểm lớn về nội dung của
    thơ trung đại, đó là: chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo và cảm hứng thế sự. Các
    nhà thơ thể hiện rõ tư tưởng trung quân: yêu nước là trung với vua. Nước là vua, vua
    là nước. Cảm hứng thơ phong phú đa dạng: hào hùng khi chiến đấu và chiến thắng, bi
    tráng khi nước mất nhà tan, tràn đầy ý thực độc lập, tự chủ, tự cường. Từ cuối thế kỉ
    XVIII đến đầu thế kỉ XIX, thơ trung đại tập trung thể hiện lòng thương người, tố cáo
    những thế lực, chế độ tàn bạo, khát vọng chân chính về quyền sống, quyền tự do, đề
    cao quan niệm đạo đức lí tưởng tốt đẹp như: Truyện Kiều (Nguyễn Du), Bánh trôi
    nước (Hồ Xuân Hương), Qua đèo Ngang (Bà Huyện Thanh Quan). Cảm hứng thế sự
    trở thành nguồn cảm hứng lớn trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
    10
    Các nhà thơ trung đại lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp
    và cái Tôi cá nhân không được thể hiện trong tác phẩm. Đây cũng là điểm khác biệt
    giữa thơ trung đại và thơ hiện đại. Trong thơ trung đại, con người cá nhân chưa được
    quan niệm rạch ròi và xây dựng thành một hình tượng nghệ thuật. Đây là một vấn đề
    có cơ sở xã hội. Xã hội phong kiến, về phương diện kinh tế, không dựa trên nền tảng
    cá nhân. Do vậy, con người chưa được nhìn nhận như một cá nhân cá thể ý thức. Giá
    trị cá nhân không được xem xét từ bản thân phẩm chất cá nhân mà ở vai trò của cá
    nhân trong mối quan hệ giai tầng. Như vậy, thời phong kiến, con người cá nhân chưa
    được giải phóng về nhiều phương diện. Con người sống đồng trục, đồng dạng về tư
    tưởng tình cảm. Con người xuất hiện trong thơ với mối quan hệ tình và nghĩa nhưng
    không có màu sắc cá nhân.
    Đặc trưng nổi bật nhất của thơ trung đại Việt Nam là tính quy phạm và bất quy
    phạm. Tính quy phạm là những quy định chặt chẽ trong những phạm vi giới hạn đã
    được định sẵn mà người sáng tác văn học buộc phải tuân theo trong quá trình sáng
    tác. Tính quy phạm được biểu hiện ở nhiều khía cạnh như: Mục đích sáng tác phải
    hướng tới việc giáo huấn đạo đức, văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí. Thơ phải dùng để
    bày tỏ ý chí, bộc lộ lòng mình. Tư duy nghệ thuật của các nhà thơ trung đại là nghĩ
    theo kiểu mẫu nghệ thuật có từ xưa đã thành công thức. Thể loại văn học chịu sự quy
    định chặt chẽ về kết cấu, niêm luật. Thơ trung đại sử dụng nhiều điển tích điển cố từ
    văn học, lịch sử Trung Quốc và biện pháp tượng trưng, ước lệ. Bất quy phạm nghĩa là
    không chịu gò mình, tự cởi trói khỏi khuôn khổ, những quy định ràng buộc trong quá
    trình sáng tác. Trong mười thế kỉ phát triển, văn học trung đại cũng đã phá bỏ dần
    tính quy phạm, ước lệ để phát huy cá tính, sáng tạo. Một số nhà thơ vừa tuân thủ tính
    quy phạm, vừa phá vỡ, phát huy cá tính sáng tạo cả nội dung và hình thức như:
    Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương…
    Thơ trung đại được sáng tác theo khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị.
    Tính trang nhã trong thơ toát lên từ sự lựa chọn đề tài, chủ đề thường hướng tới cái
    11
    cao cả, trang trọng hơn là cái hằng thường. Hình tượng nghệ thuật mang vẻ đẹp tao
    nhã, mĩ lệ, phi thường. Ngôn ngữ thơ được diễn đạt trau chuốt, hoa mĩ hơn là thông
    tục, tự nhiên. Tuy nhiên thơ trung đại càng về sau càng gắn với hiện thực xã hội Việt
    Nam và có xu hướng bình dị hóa, tiêu biểu là các nhà thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,
    Hồ Xuân Hương.
    Thơ trung đại đã tiếp thu và dân tộc hoá tinh hoa văn học nước ngoài một cách
    khéo léo và tinh tế. Đây cũng là quy luật phát triển của văn học trung đại Việt Nam.
    Thơ trung đại tiếp thu văn học Trung Quốc ở ngôn ngữ, thể loại, thi liệu…Quá trình
    dân tộc hoá hình thức thể hiện ở việc sáng tạo và sử dụng chữ Nôm, Việt hoá thơ
    Đường luật, sáng tạo các thể thơ dân tộc và sử dụng thi liệu Việt Nam.
    1.2.1.3. Đặc trung thơ hiện đại Việt Nam
    – Thơ từ đầu TK XX đến 1945
    Xét chung trong chuyển động của tiến trình xã hội và văn học, thơ Việt Nam từ
    đầu thế kỷ XX đến 1945 đã có những nhịp đi và bước nhảy ngoạn mục tạo nên một
    cuộc cách mạng trong thơ ca. Cuộc cách mạng nằm trong dòng chảy của quá trình
    hiện đại hóa đất nước, hiện đại hóa đời sống, tư tưởng, văn hóa, văn học. Đương
    nhiên văn học dần dần vượt ra khỏi ảnh hưởng tư tưởng Trung Hoa cổ tiếp xúc với
    các trào lưu tư tưởng, văn hóa, văn học hiện đại của thế giới trên một cơ sở, một cái
    gốc chung là yêu nước, dân tộc hoặc sôi nổi, mạnh mẽ hoặc âm thầm, kín đáo và
    được thể hiện bằng nhiều dạng thức khác nhau.
    – Thơ từ đầu thế kỉ XX đến 1930
    Thơ Việt Nam thời kì này có vai trò đặt nền móng và tạo những tiền đề quan
    trọng cho quá trình hiện đại hóa nền văn học. Thành tựu tập trung ở những sáng tác
    của các nhà chí sĩ cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc
    Kháng… với sự biến đổi về nội dung tư tưởng, về ý thức hệ, nhưng hình thức vẫn
    thịnh hành là thơ lục bát, song thất lục bát, thất ngôn theo thể Đường luật, có chăng là
    từ ngữ bớt phần uyên bác, gần với tiếng nói hàng ngày hơn để dễ đi vào quần chúng
    12
    nhân dân. Đại đa số các tác phẩm có nội dung tuyên truyền, cổ động cho phong trào
    yêu nước nhưng chưa hề có báo hiệu cần đập vỡ hình thức biểu hiện cũ. Phải đến thơ
    của Tản Đà, một tnhà nho tài tử, nhà nho viết báo, viết văn để kiếm sống, xem như
    một nghề, cái tôi cá nhân mới được bộc lộ một cách rõ rệt. Chính ông là người
    chuyển các thể loại phi chính đạo vào trung tâm văn học, thị dân hóa các thể loại văn
    học truyền thống. Đó là công lao lớn của Tản Đà về mặt cách tân thể loại của văn học
    nước nhà trên con đường phát triển. Có thể Tản Đà là người tiên phong mở đường
    chuyển dịch từ câu thơ ngâm sang câu thơ nói. Với thơ cổ, người đọc thơ, thích đọc
    to lên, ngâm nga, tận hưởng âm điệu trong của ngôn ngữ văn chương. Đọc thơ là cảm
    cái tình ấy hơn là tìm cái sự của cuộc đời. Ở Tản Đà thì cái tình cũng lắm mà cái sự
    cũng nhiều. Ông nói, ông kể chuyện trên trời dưới đất, đưa vào thơ nhiều chi tiết của
    cuộc đời trần tục, đời sống thị thành đang tư sản hóa cho nên nó làm biến dạng những
    hình thức cũ và tìm đến hình thức tự do hơn hình thức dân gian với những phong thi
    (ca dao), ca khúc (dân ca) hoặc sáng tạo những vần điệu mới hợp với tâm hồn đang
    dào dạt của mình. Tản Đà chính là người khơi nguồn đầu tiên cho khuynh hướng văn
    học lãng mạn Việt Nam.
    Cùng thời với Tản Đà, cùng lãng mạn nhưng lại nghiêng về cảm hứng yêu nước
    thương nòi, thơ Trần Tuấn Khải rất phong phú về hình thức biểu hiện nhưng thành
    công nhiều là ở những bài hát theo lối dân tộc và đại chúng. Một tấm lòng với non
    sông, những vần thơ yêu nước, dù xa xôi, thầm kín ẩn vào cái giọng giao duyên tình
    đã làm nên một Trần Tuấn Khải. Có thể nói Tản Đà, Trần Tuấn Khải là bước quá độ,
    là cầu nối chuyển từ Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Khuyến, Tú Xương
    sang các nhà thơ sau này.
    – Thơ từ 1930 đến 1945
    Đây là thời kì thơ Việt Nam có những phát triển nhảy vọt, có vai trò quan trọng
    trong quá trình hiện đại hóa văn học. Phong trào Thơ mới là một cuộc cách mạng
    trong thơ ca, mang một quan niệm mới, quan niệm cá nhân, cái tôi tự biểu hiện và
    13
    tinh thần duy lí phương Tây. Con người cá nhân tự do bộc lộ, phơi trải lòng mình, nói
    cho hết, nói cho nhiều, mong một sự thông cảm, bù đắp. Âm điệu buồn tràn ngập các
    bài thơ. Cái buồn của thế hệ trí tiểu tư sản lúc bấy giờ dang loay hoay với cái bản ngã
    thấy mình bất lực. Và mặt khác buồn cũng là thi đề đắc địa của thi ca, đặc biệt là thi
    ca lãng mạn. Tất cả những điều ấy, những tư tưởng tình cảm ấy đòi hỏi phải có một
    giọng điệu mới, hình thức mới. Xét tổng thể, giọng điệu Thơ mới là giọng điệu của
    tiếng nói đời sống hằng ngày, phong phú, thoát khỏi những niêm luật của thơ cổ.
    Buổi đầu là hiện tượng văn xuôi hóa, văn xuôi biền ngẫu, câu thơ cốt giữ cái nhịp
    nhàng xóa đi những cái khô cứng mòn cũ, ghi lại kịp thời những dòng cảm xúc thoắt
    hiện, thoắt biến, những cái gần gũi và xa xôi, cụ thể và mơ hồ…
    Cùng với thơ lãng mạn, thơ ca cách mạng tiếp tục phát triển, nội dung phong
    phú hơn, tư tưởng mạnh hơn: cổ động đoàn kết, động viên quần chúng đấu tranh
    giành chính quyền về tay nhân dân. Nhà thơ Hồ Chí Minh, ngay sau khi về nước
    (tháng 2 năm 1941) đã sáng tác nhiều thơ ca tuyên truyền cách mạng, rất đa dạng về
    hình thức và thể loại. Nhiều bài hết sức giản dị, thiết thực dễ hiểu dưới hình thức ngụ
    ngôn (Hòn đá, Con cáo và tổ ong, Bài ca sợi chỉ…). Những bài thơ trữ tình ra đời ở
    Pác Bó (1941- 1945) cùng với tập thơ chữ Hán Nhật ký trong tù (1942-1943) đã thể
    hiện tư tưởng tình cảm cao đẹp vị lãnh tụ tối cao của dân tộc, một phong cách thơ độc
    đáo. Bên cạnh đó là những bài thơ của Tố Hữu, Sóng Hồng, Lê Đức Thọ… cùng
    chung một phẩm chất và chiều hướng tư tưởng.
    – Thơ Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX
    Thơ giai đọạn này vừa kế tục những đổi mới theo hướng hiện đại của thơ ở giai
    đoạn 1930-1945, đồng thời cũng tìm về nhiều yếu tố của thơ ca dân gian, thơ cổ điển;
    mặt khác, lại có những tìm tòi, cách tân về phương thức nghệ thuật để phù hợp với
    thời đại mới, với tư tưởng, cảm xúc của con người thời đại.
    Thơ từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đã mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực
    theo hướng tăng cường chất liệu đời sống, nhất là đời sống cách mạng và kháng
    14
    chiến. Thơ đã ghi lại được nhiều hình ảnh chân thực, sinh động về con người, về đất
    nước, về nhân dân trong hai cuộc kháng chiến và công cuộc xây dưng sau chiến
    tranh. Đồng thời, thơ cũng là sự biểu hiện tập trung những tình cảm, cảm xúc tiêu
    biểu và bao trùm trong đời sống tinh thần của con người Việt Nam trong một thời kì
    lịch sử đầy biến động ở chặng đường 1945-1975. Thơ tập trung thể hiện những tình
    cảm chung của dân tộc, nhân dân như tình quê hương, lòng yêu nước, ý chí chiến đấu
    giành độc lập tự do, tình đồng bào, đồng chí, tình cảm hậu phương với tiền tuyến,
    lòng kính yêu của nhân dân với lãnh tụ,… Những tình cảm riêng tư của con người
    như tình mẹ con, cha con, tình yêu đôi lứa, luôn được đặt trong sự thống nhất với tình
    cảm chung mang tính cộng đồng. Nền thơ cách mạng từ sau Cách mạng tháng Tám
    1945 đề cao xu hướng tăng cường tính hiện thực của thơ, chủ trương “mở rộng cánh
    cửa cho cuộc sống vào thơ, cho thơ đi vào cuộc sống” (Xuân Diệu), đã tạo điều kiện
    đưa ngôn ngữ của đời sống hằng ngày, khẩu ngữ, ngôn ngữ sinh hoạt, làm ăn của
    quần chúng, cả ngôn ngữ chính trị, quân sự vào thơ. Mặt khác, do nhu cầu nâng cao
    sức khái quát, triết lí, suy tưởng nên ngôn ngữ thơ cũng gia tăng chất trí tuệ, sử dụng
    nhiều biểu tượng, tượng trưng.
    Từ sau năm 1975, nhất là từ thời kì đổi mới, thơ được mở rộng biên độ cả về
    chất liệu thi ca cũng như nội dung trữ tình, đề cập tới mọi phương diện của đời sống
    cá nhân và đời sống xã hội, thức tỉnh ý thức cá nhân, nhận thức lại nhiều vấn đề của
    quá khứ và hiện tại, hướng tới những giá trị nhân văn, nhân bản bền vững. Về hình
    thức nghệ thuật, thơ từ sau năm 1945 một mặt tiếp tục khai thác những hình thức
    quen thuộc trong truyền thống thơ ca dân tộc, nhất là thơ ca dân gian, đồng thời tiếp
    tục con đường hiện đại hoá về hình thức thơ của thơ mới 1932-1945. Xu hướng tự do
    hoá hình thức thơ đã được khởi phát từ thơ mới, đến sau năm 1945 và nhất là từ sau
    năm 1975 càng được đẩy mạnh.
    Quan sát tiến trình thơ có thể thấy sự biến đổi rất rõ của ngôn ngữ thơ trong sự
    biến đổi của các thời đại thi ca, trong các loại hình thơ. Trong thơ trung đại, do sự chi
    15
    phối của cảm quan thời trung đại về vũ trụ và nhân sinh, do quan niệm mĩ học thiên
    về tính cân xứng, tính sùng cổ mà ngôn ngữ thơ đậm tính ước lệ, tượng trưng. Sự
    sáng tạo về ngôn ngữ của nhà thơ hướng vào việc lựa chọn từ ngữ cho đắt, sắp đặt
    câu thơ cho chỉnh với các quy định về niêm, luật. Thơ hiện đại giải phóng chủ thể trữ
    tình thoát khỏi những ràng buộc khắt khe, tạo điều kiện phát triển cái tôi cá nhân – cá
    thể, từ tư tưởng, tình cảm, cảm xúc và mọi cảm giác. Phù hợp với điều đó, ngôn ngữ
    thơ cũng thoát khỏi tình trạng nặng nề tính trang nhã, ước lệ, dày đặc điển cố từ
    chương sách vở để gần gũi hơn với tình cảm, cảm xúc chân thực và tự nhiên của con
    người. Tổ chức ngôn ngữ của câu thơ cũng chuyển sang hướng gần với lời nói.
    1.3. Nắm được nguyên tắc sắp xếp các đơn vị bài học trong sách giáo khoa
    Việc sắp xếp các văn bản văn học chủ yếu dựa vào 2 tiêu chí: tiêu chí về thể loại
    và tiêu chí về lịch sử văn học. Ngoài việc nắm vững đặc trưng của từng thể loại, giáo
    viên còn phải trả lời được câu hỏi: Tại sao ở thể loại đó, ở giai đoạn văn học đó lại
    chọn giảng dạy tác phẩm này? Trả lời được câu hỏi đó, giáo viên sẽ tìm ra được tình
    huống có vấn đề để học sinh giải quyết.
    Bên cạnh đó, việc sắp xếp các đơn vị bài học trong sách giáo khoa môn Ngữ văn
    THCS và THPT là dựa trên nguyên tắc đồng tâm. Có những vấn đề học sinh đã được
    tìm hiểu ở THCS, lại tiếp tục tìm hiểu ở THPT. Ví dụ, cùng một tác phẩm, ở mỗi cấp
    học học sinh lại được tìm hiểu những trích đoạn khác nhau; cùng một tác giả nhưng
    học sinh vừa được tìm hiểu ở các cấp học, lớp học khác nhau; hay cùng một đề tài,
    một thể loại, học sinh được tìm hiểu ở THCS và tiếp tục tìm hiểu ở THPT. Giáo viên
    cần dựa trên những điều học sinh đã biết mà đặt học sinh vào vấn đề mới để giải
    quyết.
    1.4. Căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng của từng bài học
    Muốn xác định mục tiêu trọng tâm, xuyên suốt giờ học, bên cạnh những vấn đề
    chung như về đặc trưng thể loại, thi pháp, người dạy cần căn cứ vào chuẩn kiến thức,
    kĩ năng của từng bài học cụ thể. Chuẩn kiến thức, kĩ năng được chi tiết hoá, tường
    16
    minh hoá bằng các yêu cầu cụ thể, rõ ràng, đó là những yêu cầu có tính tối thiểu,
    nhằm đảm bảo mọi học sinh cần phải và có thể đạt được. Kiến thức, kĩ năng: phải dựa
    trên cơ sở phát triển năng lực, trí tuệ học sinh ở các mức độ, từ đơn giản đến phức
    tạp, bao hàm các mức độ khác nhau của nhận thức.
    2. Giải pháp cụ thể
    Từ những căn cứ nói trên, chúng tôi thiết kế hoạt động khởi động cho các văn
    bản thơ phần văn học Việt Nam đọc chính thức trong chương trình THPT. Những
    phần khởi động có sử dụng video, clip âm thanh, chúng tôi tập hợp trong đĩa CD kèm
    theo sáng kiến kinh nghiệm.
    2.1. Thiết kế hoạt động khởi động cho các văn bản thơ dân gian
    2.1.1. Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa
    Cách 1.
    – Giáo viên hướng dẫn học sinh trải nghiệm một điệu hát dân ca (Bèo dạt mây
    trôi, Mời trầu, Còn duyên…)
    + Cho học sinh xem video
    + Hoặc học sinh có năng khiếu trực tiếp thể hiện
    – Giáo viên dẫn dắt và giới thiệu bài học:
    Mòn mỏi thâu đêm, suốt năm canh
    Anh ơi, em vẫn đợi mỏi mòn…
    Cành tre đu trước ngõ
    Là gió la đà em vẫn mong chờ, sao chẳng thấy anh…
    Lời bài hát là nỗi nhớ của người con gái đối với người yêu ở phương xa. Đây là
    một trong số rất nhiều những điệu hát dân ca quen thuộc trong kho tàng ca dao than
    thân, yêu thương, tình nghĩa. Ca dao được coi là “thơ của vạn nhà”, họ gửi gắm vào
    đó nỗi nhớ, niềm thương, những tâm sự khổ đau và khát vọng hạnh phúc. Hôm nay
    chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu chùm ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa để cảm
    nhận về cây đàn muôn điệu của tâm hồn quần chúng.
    17
    Cách 2.
    – Giáo viên chia lớp thành các nhóm nhỏ; mỗi nhóm 2 bàn học. Các nhóm cùng
    thực hiện nhiệm vụ trong thời gian ba phút.
    – Giáo viên cung cấp một số ngữ liệu qua phiếu bài học và yêu cầu các nhóm tìm
    lời đáp cho các bài ca dao sau:
    “–
    Gặp đây mận mới hỏi đào
    Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
    ……………………………………………….”
    “–
    Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng
    Tre non đủ lá đan sàn nên chăng?
    ……………………………………………….”
    – Lời đáp của các bài ca dao
    “ – Mận hỏi thì đào xin thưa
    Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”
    “Đan sàng thiếp cũng xin vâng
    Tre vừa đủ lá nên chăng hỡi chàng”
    – Giáo viên nhận xét và dẫn vào bài: Ca dao là cây đàn muôn điệu của tâm hồn
    quần chúng nhân dân lao động. Ở đó ta cảm nhận tiếng hát ân tình, thủy chung,
    những lời đối đáp giao duyên hay còn là câu hát than thân, những tiếng cười hài hước
    thể hiện tinh thần lạc quan của người bình dân xưa. Bài học hôm nay chúng ta sẽ
    cùng nhau tìm hiểu vẻ đẹp tâm hồn người bình dân xưa qua những bài ca dao than
    thân, yêu thương, tình nghĩa.
    Cách 3.
    – Giáo viên chia lớp thành ba đội tham gia trò chơi. Mỗi đội có 15 giây suy nghĩ
    và trả lời câu hỏi.
    – Mỗi câu trả lời đúng được tối đa 5 điểm. Kết thúc trò chơi, đội có điểm cao
    nhất sẽ là người chiến thắng.
    18
    Câu 1. Đây là vật gì?
    Có con mà chẳng có cha
    Có lưỡi không miệng, đố là vật chi?
    (Con dao)
    Câu 2.
    Đây là nhân vật nào trong lịch sử?
    Nam Quan bái biệt cha già,
    Trở về nợ nước, thù nhà lo toan.
    Lam Sơn góp lưỡi gươm vàng,
    “Bình Ngô đại cáo” giang sơn thu về.
    (Nguyễn Trãi)
    Câu 3.
    Chân đen, mình trắng, đứng nắng giữa đồng. Hỏi là con gì?
    (Con cò)
    Câu 4.
    Chọn đáp án đúng điền vào chỗ trống
    Sen xa sen khô, hồ cạn;
    Liễu xa đào, liễu ngả, đào nghiêng.
    Anh xa em như bến xa …………….. (đò, phà, thuyền) (thuyền)
    Như Thúy Kiều xa …………., biết mấy niên cho tái hồi!
    (Từ Hải, Kim Trọng, Mã Giám Sinh) (Kim Trọng)
    Câu 5. Thân em xưa ở bụi tre
    Mùa đông xếp lại, mùa hè mở ra.
    (Cái quạt giấy)
    – Sau khi các đội chơi trả lời câu hỏi, giáo viên tuyên dương đội thắng cuộc.
    – Câu hỏi: Chúng ta vừa đến với những câu đố, câu ca dao trong kho tàng văn
    học dân gian Việt Nam. Cùng có vần, nhưng điểm khác của ca dao với câu đố là gì?
    19
    (ca dao thể hiện đời sống tâm hồn phong phú của người bình dân xưa)
    – Giáo viên dẫn dắt: Đời sống tâm hồn của người lao động xưa qua ca dao vô
    cùng phong phú. Đó là tình yêu thiên nhiên, tình cảm gia đình, tình yêu đất nước, tình
    yêu đôi lứa… Bài học ngày hôm nay cô trò chúng ta sẽ cùng nhau đến với vẻ vẻ đẹp
    tâm hồn người bình dân qua chùm ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa.
    2.1.2. Ca dao hài hước
    Cách 1.
    – Học sinh tham gia trò chơi giải ô chữ: Hãy giải ô chữ bằng cách trả lời nhanh
    điền từ vào chỗ trống trong những câu sau
    1. Truyện Tam đại con gà (…) thói dốt mà còn khoe khoang, dốt mà dấu dốt.
    2. Truyện cười không chỉ phê phán mà con đem đến cho chúng ta những (…) bổ
    ích.
    3. Nghệ thuật (…) của truyện Tam đại con gà là khai thác những mâu thuẫn trái
    tự nhiên.
    4. Trong truyện Tam đại con gà có hai (…) trái tự nhiên: dốt nhưng khoe giỏi và
    dốt mà dấu dốt.
    5. Trong truyện cười Nhưng nó phải bằng hai mày, (…) được giới thiệu là người
    xử kiện giỏi.
    6. Trong truyện Nhưng nó phải bằng hai mày, yếu tố gây cười độc đáo nhất là
    nghệ thuật (…)
    7. Lý trưởng không chỉ xử kiện bằng ngôn ngữ, mà còn thể hiện bằng (…) xòe
    bàn tay trái úp lên ngón tay mặt.

    PHÊPHÁN
    BÀIHC
    GÂYCƯI

    20

    MÂUTHUN
    LÝTRƯNG
    CHƠICH
    CCH

    – Sau khi giải ô chữ, giáo viên dẫn dắt và giới thiệu bài: Sự hài hước của nhân
    dân không chỉ được thể hiện xuất sắc trong các tác phẩm tự sự. Nhiều khi để trải
    lòng, tác giả dân gian đã lựa chọn hình thức trữ tình để thể hiện mình. Cũng bật lên
    tiếng cười, nhưng ca dao lại đem đến cho người đọc, người nghe một cảm xúc mới
    mẻ. Chúng ta sẽ đi tìm kiếm cảm xúc đó qua bài học hôm nay.
    Cách 2.
    – Giáo viên chia lớp thành các nhóm. Các nhóm sẽ quan sát hình trên slide, gọi
    tên các bức tranh gắn với các tác phẩm hoặc thể loại văn học dân gian đã học. Thời
    gian thảo luận là 2 phút. Sau khi hết thời gian các nhóm trình bày kết quả.
    Tranh 1. Tranh 2.
    Tranh 3. Tranh 4.
    21
    Đáp án:
    1. Tranh 1: Truyền thuyết Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy
    2. Tranh 2: Truyện cổ tích Thạch Sanh
    3. Tranh 3: Truyện cười Lợn cưới áo mới
    4. Tranh 4: Hát đối đáp giao duyên trong ca dao dân ca
    – Giáo viên tổng kết và dẫn dắt để giới thiệu bài mới: Đó đều là các tác phẩm
    quen thuộc của văn học dân gian với nhiều thể loại khác nhau như truyền thuyết,
    truyện cổ tích, truyện cười và ca dao. Trong tiết học trước chúng ta đã cùng nhau tìm
    hiểu những bài ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa; bài học hôm nay cô sẽ giới
    thiệu cùng các em chùm ca dao hài hước. Những bài ca dao với tiếng cười châm biếm
    thể hiện tinh thần lạc quan, đầy sức sống của nhân dân lao động.
    Cách 3.
    – Học sinh tham gia trò chơi giải ô chữ
    – Giáo viên thiết kế trò chơi ô chữ với 5 ô hàng ngang tương ứng với 5 câu hỏi.
    Sau khi lần lượt trả lời các câu hỏi để tìm ra các từ hàng ngang, học sinh trả lời từ
    khóa hàng dọc. Từ khóa là một từ gồm có 12 chữ cái: Đây là một thể loại của văn học
    dân gian
    Câu 1. Đây là tên một chủ đề lớn trong thể loại ca dao của văn học dân gian Việt
    Nam? (Than thân)
    Câu 2. Đây là cụm từ mở đầu quen thuộc trong ca dao than thân? (Thân em)
    Câu 3: Đây là từ chỉ thân phận chung của những người phụ nữ trong ca dao than
    thân? (Bất hạnh)
    Câu 4. Điền từ còn thiếu vào dấu ba chấm
    Ước gì sông rộng một gang
    22
    Bắc……………………….cho chàng sang chơi (cầu dải yếm)
    Câu 5. Bài ca dao sau đây ngợi ca tình cảm của ai?
    Muối ba năm muối đang còn mặn
    Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
    Đôi ta nghĩa nặng tình dày
    Có xa nhau đi nữa ba vạn sáu ngàn ngày mới xa (Vợ chồng)
    – Ô chữ được giải như sau:
    – Sau khi tìm được từ khóa giáo viên dẫn dắt và giới thiệu bài học: Sự hài hước
    của nhân dân không chỉ được thể hiện xuất sắc trong các tác phẩm tự sự. Nhiều khi
    để trải lòng, tác giả dân gian đã lựa chọn hình thức trữ tình để thể hiện mình. Cũng
    bật lên tiếng cười, nhưng ca dao lại đem đến cho người đọc, người nghe một cảm xúc
    mới mẻ. Chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu qua chùm ca dao hài hước trong bài học
    hôm nay.

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Rèn luyện thao tác lập luận so sánh cho học sinh qua giờ đọc hiểu văn bản văn học Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12

    SKKN Rèn luyện thao tác lập luận so sánh cho học sinh qua giờ đọc hiểu văn bản văn học Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục
    Luật Giáo dục 2005, điều 5 quy định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy
    tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người
    học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”.
    Nghị quyết số 29 – Ban chấp hành TW Đảng khóa XI cũng đã đặt ra nhiệm vụ: “Đổi
    mới căn bản toàn diện giáo dục”. Nghị quyết chỉ đạo: “Chuyển mạnh quá trình giáo
    dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất
    người học”. Mục tiêu cụ thể của giáo dục phổ thông là: “ tập trung phát triển trí tuệ,
    thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng
    khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn
    diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học,
    năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng
    sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời”. Để đạt được mục tiêu trên, Nghị
    quyết đưa ra nhiệm vụ, giải pháp: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và
    học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến
    thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy
    móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học
    tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực”.
    Giáo dục Việt Nam những năm gần đây đang có những đổi mới tích cực,
    toàn diện. Bộ môn Ngữ Văn là môn một trong những môn thi bắt buộc với học sinh
    THPT cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
    2. Xuất phát từ thực tế chương trình và thi cử
    Đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn trong những năm gần đây tập trung chủ
    yếu vào kiến thức của lớp 12. Văn bản đọc hiểu trong chương trình Ngữ văn 12 tập
    trung vào các văn bản văn học Việt Nam giai đoạn 1945 hết thế kỉ XX. Số lượng kiến
    5
    Page 5
    thức về tác giả, tác phẩm của giai đoạn văn học này rất lớn, gây áp lực cho cả người
    dạy và người học. Do đó để việc ôn tập THPT Quốc gia (năm 2020 là ôn thi Tốt
    nghiệp THPT) có hiệu quả, đòi hỏi giáo viên phải dạy cho học sinh không chỉ nắm
    vững kiến thức của từng tác giả, tác phẩm mà phải biết so sánh điểm giống và khác
    nhau giữa các tác giả, tác phẩm đó để khắc sâu kiến thức.
    Khảo sát đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn những năm gần đây, ta nhận
    thấy Bộ GD&ĐT rất chú trọng đến dạng đề mở, đặc biệt là dạng bài nghị luận so sánh
    văn học.
    Ví dụ 1: Câu Nghị luận văn học 5 điểm trong đề thi THPT Quốc gia môn Ngữ
    văn chính thức của Bộ GD&ĐT năm 2018 như sau: Phân tích sự đối lập giữa vẻ đẹp
    của hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa và cảnh bạo lực của gia đình hàng chài (Chiếc
    thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu). Từ đó, anh chị hay liên hệ với sự đối lập giữa
    cảnh phố huyện lúc đêm khuya và cảnh đoàn tàu (Hai đứa trẻ – Thạch Lam) để nhận
    xét về cách nhìn hiện thực của hai tác giả.
    Dạng đề:

    Phân tích/cảm nhận
    (Chươngtrình lớp 12)
    Liên hệ
    (Chương trình lớp 11)
    Để làm rõ..; Từ đó
    chỉ ra…; so sánh…

    Để giải quyết đề bài này thì HS phải vận dụng tốt thao tác so sánh khi làm bài:
    – Trong bước phân tích vấn đề nghị luận chính: So sánh để chỉ ra sự đối lập giữa
    vẻ đẹp của hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa và cảnh bạo lực của gia đình hàng chài
    trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu.
    – Trong phần liên hệ: So sánh để chỉ ra sự đối lập cảnh phố huyện lúc đêm khuya
    và cảnh đoàn tàu trong truyện ngắn Hai đứa trẻ – Thạch Lam.
    – Khi rút ra nhận xét về cách nhìn hiện thực của hai tác giả Nguyễn Minh Châu
    và Thạch Lam thì HS phải vận dụng thao tác so sánh để chỉ ra điểm giống và khác
    nhau trong cách nhìn hiện thực của hai nhà văn.
    Ví dụ 2: Câu Nghị luận văn học 5 điểm của đề minh họa thi THPT Quốc gia
    môn Văn năm 2019 của Bộ GD&ĐT như sau: Trong truyện ngắn Vợ nhặt, nhà văn
    Kim Lân hai lần miêu tả cung cách ăn uống của người vợ nhặt. Chiều hôm trước, khi
    được Tràng đồng ý đãi bánh đúc ở ngoài chợ: “Thế là thị ngồi sà xuống, ăn thật. Thị
    6
    Page 6
    cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì.” và sáng hôm sau,
    khi nhận bát “chè khoán” từ mẹ chồng: “Người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt
    nhìn, hai con mắt thị tối lại. Thị điềm nhiên và vào miệng.”
    (Kim Lân – Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, tr.27 và tr.31)
    Phân tích hình ảnh người vợ nhặt trong hai lần miêu tả trên, từ đó làm nổi bật sự
    thay đổi của nhân vật này.
    Đây là dạng đề so sánh, kết nối hai chi tiết trong cùng một tác phẩm truyện và
    đề bài này hoàn toàn là kiến thức lớp 12. Xét về mức độ, đề nghị luận văn học trong
    đề minh họa môn Văn THPT Quốc gia năm 2019 là một đề bài tương đối khó, có tính
    phân loại HS. Học sinh muốn làm tốt không chỉ cần nắm vững những kiến thức cơ
    bản, thành thạo kĩ năng tạo lập văn bản nghị luận văn học mà còn cần phải tư duy so
    sánh, tổng hợp để bài viết chính xác và phong phú.
    Ví dụ 3: Tháng 4 năm 2020, Bộ GD&ĐT công bố đề tham khảo môn Ngữ văn
    THPT Quốc gia năm 2020 lần 1, trong đó câu nghị luận văn học 5.0 điểm như sau:
    Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Mị trong đêm xuân ở Hồng Ngài (Vợ chồng A Phủ
    – Tô Hoài).
    Tháng Tháng 5 năm 2020, Bộ GD&ĐT đã công bố đề tham khảo khảo môn
    Ngữ văn THPT Quốc gia năm 2020 lần 2 với câu Nghị luận văn học (5.0 điểm):
    Trong bài thơ Tây Tiến, Quang Dũng viết:
    Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
    Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
    Sài Khao sương lập đoàn quân mỏi
    Mường Lát hoa về trong đêm hơi
    Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
    7
    Page 7
    Heo hút cồn mây súng ngửi trời
    Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
    Anh bạn dãi dầu không bước nữa
    Gục lên sóng mũ bỏ quên đời!
    Chiều chiều oai linh thác gầm thét
    Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
    Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
    Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
    (Theo Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr.88)
    Trình bày cảm nhận của anh/chị về khung cảnh thiên nhiên và hình ảnh người
    lính trong đoạn thơ trên.
    Ta có thể thấy, câu nghị luận văn học ở cả hai đề tham khảo môn Ngữ văn năm
    2020 của Bộ GD&ĐT đều chỉ hỏi kiến thức 12, không có ý hỏi nâng cao. Tuy nhiên
    để làm tốt đề bài này thì HS vẫn cần vận dụng thao tác so sánh để nêu bật giá trị đoạn
    trích truyện/đoạn thơ với các phần khác của tác phẩm; so sánh để chỉ ra điểm mới lạ,
    độc đáo của tác giả Tô Hoài, Quang Dũng với các tác giả khác khi cùng viết về một
    đề tài người nông dân trước cách mạng/ người lính thời kì chống Pháp
    Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy đa số, các em đều cho rằng dạng đề
    so sánh hay có vận dụng thao tác so sánh là khó và quá sức đối với các em. Có nhiều
    nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Do chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn
    chưa đưa dạng bài nghị luận so sánh vào giảng dạy cho học sinh (mới chỉ có bài dạy
    về thao tác lập luận so sánh), bởi vậy học sinh rất lúng túng khi gặp dạng đề này.
    Nhưng nhiều em dù có biết các bước làm dạng đề so sánh nhưng vẫn điểm thấp vì
    8
    Page 8
    kiến thức cơ bản về các tác giả, tác phẩm của các em rất hạn chế. Một phần do trong
    các giờ dạy trên lớp, một bộ phận giáo viên không (hoặc chưa thường xuyên) sử dụng
    thao tác lập luận so sánh trong các giờ đọc- hiểu, chưa khai thác văn bản một cách
    thấu đáo, chưa tạo được hứng thú cho học sinh trong giờ học. Áp lực về thời gian,
    dung lượng kiến thức khiến cho giáo viên chủ yếu cung cấp kiến thức cơ bản của văn
    bản cho học sinh. Bởi vậy, vô hình chung, học sinh học các văn bản văn học một cách
    rời rạc mà không có sự kết nối, liên hệ với nhau. Do đó, khi các em bắt gặp các dạng
    đề so sánh hoặc liên hệ so sánh, các em không biết xử lí đề ra sao. Đây là điều mà
    chúng tôi lấy làm băn khoăn trong quá trình giảng dạy. Làm sao để người dạy tận
    dụng được tốt các tiết đọc – hiểu văn bản văn học để trang bị cho học sinh đầy đủ các
    kiến thức về các hiện tượng văn học để học sinh có thể xử lí tốt các dạng đề nghị luận
    so sánh. Vậy nên chúng tôi mạnh dạn đi nghiên cứu vấn đề này với mong muốn phần
    nào giúp cho người giáo viên bớt đi những khó khăn, lúng túng khi rèn luyện cho học
    sinh sử dụng thao tác so sánh trong giờ dạy đọc – hiểu văn bản.
    Với những lí do trên, chúng tôi đã chọn vấn đề: “Rèn luyện thao tác lập luận so
    sánh cho học sinh qua giờ đọc- hiểu văn bản văn học Việt Nam trong chương trình
    Ngữ văn 12” làm đề tài cho sáng kiến kinh nghiệm của mình.
    B. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    I. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    1. Vai trò của thao tác lập luận so sánh trong dạy học môn Ngữ văn
    1.1. So sánh là một thao tác tư duy rất cơ bản. Trong cuộc sống, khi ta tư duy, ta
    đã dùng đến thao tác này rất thường xuyên như một phần tất yếu. Văn học cũng là một
    lĩnh vực của tư duy, của nhận thức, mang tính đặc thù, cho nên việc sử dụng thao tác
    so sánh trong sáng tác và nghiên cứu văn học là một điều hết sức tự nhiên. Từ khi có
    văn học, nhất là văn học viết đến nay, các nhà nghiên cứu đã có ý thức so sánh khi tìm
    hiểu văn chương, đặc biệt là khi có những hiện tượng song hành trong văn học. Có thể
    nhắc đến những hiện tượng song hành tiêu biểu trong văn học Việt Nam: NguyễnTrãi
    và Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du và Nguyễn Đình Chiểu, Cung Oán Ngâm và
    Chinh Phụ Ngâm,…. So sánh các hiện tượng văn chương trở thành một phương pháp
    nghiên cứu văn chương. Ở đây chúng tôi không nhắc tới so sánh văn học như một bộ
    9
    Page 9
    môn khoa học mà được hiểu như một phương pháp dạy học, hướng học sinh nhận
    diện được tác giả, tác phẩm văn học.
    1.2. Khái niệm so sánh văn học cần phải được hiểu theo bốn góc nhìn khác nhau.
    Thứ nhất, so sánh văn học là “một biện pháp tu từ để tạo hình ảnh cho câu văn”. Thứ
    hai, nó được xem như một thao tác lập luận cạnh các thao tác lập luận như: phân tích,
    bác bỏ, bình luận đã được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn 11. Thứ ba, nó được xem
    như “một phương pháp, một cách thức trình bày khi viết bài nghị luận”, tức là như
    một kiểu bài nghị luận bên cạnh các kiểu bài nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm
    thơ; nghị luận về một đoạn trích, tác phẩm văn xuôi… ở sách giáo khoa Ngữ văn 12.
    Thứ tư, nó được xem như một phương pháp dạy học, hướng học sinh nhận diện được
    tác giả, tác phẩm văn học. Ở đề tài này chúng ta nghiên cứu vấn đề ở góc nhìn thứ tư.
    1.4. Thao tác so sánh trong đọc – hiểu văn bản yêu cầu thực hiện cách thức so
    sánh trên nhiều bình diện: đề tài, nhân vật, tình huống, cốt truyện, cái tôi trữ tình, chi
    tiết nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật… Quá trình so sánh có thể chỉ diễn ra ở các tác
    phẩm của cùng một tác giả, nhưng cũng có thể diễn ra ở những tác phẩm của các tác
    giả cùng hoặc không cùng một thời đại, giữa các tác phẩm của những trào lưu, trường
    phái khác nhau của một nền văn học. Mục đích cuối cùng của thao tác lập luận này là
    yêu cầu học sinh chỉ ra được chỗ giống và khác nhau giữa hai tác phẩm, hai tác giả, từ
    đó thấy được những mặt kế thừa, những điểm cách tân của từng tác giả, từng tác
    phẩm; thấy được vẻ đẹp riêng của từng tác phẩm; sự đa dạng muôn màu của phong
    cách nhà văn. Không dừng lại ở đó, kiểu bài này còn góp phần hình thành kĩ năng lí
    giải nguyên nhân của sự khác nhau giữa các hiện tượng văn học – một năng lực rất
    cần thiết góp phần tránh đi khuynh hướng “bình tán” khuôn sáo trong các bài văn của
    học sinh hiện nay. Lẽ hiển nhiên, đối với đối tượng học sinh trung học phổ thông, các
    yêu cầu về năng lực lí giải cần phải hợp lí, vừa sức. Nghĩa là các tiêu chí so sánh cần
    có mức độ khó vừa phải, khả năng lí giải sự giống và khác nhau cũngcần phải hợp lí
    với năng lực của các em.
    2. Thực trạng việc sử dụng thao tác lập luận so sánh trong giờ đọc- hiểu văn
    bản văn học của giáo viên hiện nay
    Việc vận dụng thao tác lập luận so sánh khi rèn kĩ năng làm văn nghị luận cho
    học sinh không còn là vấn đề mới mẻ. Tuy nhiên, việc vận dụng thao tác này vào quá
    10
    Page 10
    trình đọc- hiểu một tác phẩm văn học ở nhiều trường phổ thông vẫn chưa được chú ý
    đến.
    Hiện nay, ở nhiều trường phổ thông, tình trạng học sinh (đặc biệt học sinh theo
    học khối A và B) thờ ơ, lãnh đạm với môn Văn đang ngày càng trở nên phổ biến.
    Nhiều tác phẩm rất đặc sắc nhưng vẫn không thu hút được các em. Thậm chí, bút kí
    “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” đặc sắc như vậy nhưng vẫn có những em học sinh
    (thậm chí học sinh khối D) không thích nên không đọc lần nào. Trong chương trình
    Ngữ văn 12 (chương trình cơ bản), “Đàn ghi ta của Lorca” (Thanh Thảo) là một bài
    thơ hay và khó. Cái khó này có lẽ bắt nguồn từ nhiều lí do: chính tác giả Thanh Thảo
    cũng là một cái tên khá “lạ” đối với học sinh; Phê đê ri cô Garxia Lorca – nghệ sĩ,
    chiến sĩ ưu tú của đất nước Tây Ban Nha xa xôi cũng khiến các em khó đồng cảm;
    cuối cùng, thể thơ tự do, mang xu hướng tượng trưng, siêu thực với rất nhiều hình
    ảnh mang tính biểu tượng, ẩn dụ khiến các em càng khó tiếp cận hơn. Với những sáng
    tác như vậy, nếu người dạy không cung cấp cho học sinh những thông tin cần thiết về
    con người, sự nghiệp sáng tác, phong cách nghệ thuật của Thanh Thảo cũng như
    Lorca; không so sánh với nghệ thuật miêu tả tiếng đàn Thúy Kiều trong “Truyện
    Kiều” của Nguyễn Du, nghệ thuật miêu tả tiếng đàn người kĩ nữ của Bạch Cư Dị trong
    “Tì bà hành” thì không thể nhận thấy sự độc đáo, khác biệt. Trong sự liên tưởng của
    Nguyễn Du, Bạch Cư Dị, tiếng đàn là phương tiện biểu hiện nỗi lòng, còn trong liên
    tưởng của Thanh Thảo, bản thân tiếng đàn là một sự sống , một sinh thể cũng bị tổn
    thương và “chảy máu” như chính con người. Đây cũng là một cách liên tưởng rất tự
    nhiên và tất yếu từ thực tế cuộc đời Lorca (bị bắn chết tàn bạo rồi ném xác xuống
    giếng). Song quan trọng hơn, cách liên tưởng ấy của Thanh Thảo cho thấy một quan
    niệm của nhà thơ về nghệ thuật: nghệ thuật (tiếng đàn của Lorca) phản ánh cuộc sống
    và khi hấp thụ vào mình cái phong phú của cuộc sống thì bản thân nó cũng trở thành
    một sinh thể có sự sống, có linh hồn…..
    Rõ ràng tác phẩm văn học dù có hay đến đâu nhưng người GV không có
    phương pháp giúp HS tiếp cận đúng thì giá trị của tác phẩm đó sẽ mãi chỉ nằm trên
    trang giấy mà không thể nào chạm đến trái tim của người học. Chính vì vậy, những
    giáo viên dạy Văn chúng tôi rất trăn trở, luôn mong muốn tìm ra một phương cách nào
    11
    Page 11
    đó để thu hút các em, mong các em tự nguyện đồng cảm với nhà văn, với thầy cô
    trong mỗi giờ đọc- hiểu.
    Để tạo hứng thú cho học sinh khi học văn, giúp các em có cái nhìn đa chiều,
    sâu sắc hơn về một tác phẩm văn học, người dạy rất cần sử dụng thao tác lập luận so
    sánh trong giờ đọc- hiểu văn bản văn học. Với sự kết hợp thao tác lập luận này với các
    thao tác còn lại, học sinh không chỉ thấy được nội dung và hình thức nghệ thuật của
    tác phẩm, mà quan trọng hơn, học sinh còn thấy được nét riêng biệt, sự độc đáo của
    nhà thơ, nhà văn trong việc nhận thức và phản ánh cuộc sống. Trên cơ sở đó, học
    sinh sẽ biết sử dụng hợp lí và thành thạo thao tác lập luận so sánh trong quá trình tạo
    lập văn bản nghị luận.
    Để có thêm cơ sở nghiên cứu đề tài, tôi tiến hành điều tra khảo sát bằng phiếu
    khảo sát đối với giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn của trường THPT Trần Nhân
    Tông, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Kết quả thu được như sau:
    Tổng số giáo viên được lấy ý kiến: 05 người.
    Bảng 1: Thực trạng việc sử dụng thao tác lập luận so sánh trong giờ đọc- hiểu
    văn bản văn hoc của giáo viên.

    Số
    TT
    Nội dung câu hỏiPhương án
    lựa chọn
    Số
    lượng
    Tỉ lệ
    (%)
    Ghi
    chú
    1Theo thầy (cô), có cần
    thiết phải sử dụng thao
    tác lập luận so sánh
    trong giờ đọc- hiểu văn
    bản không?
    A. không cần thiết00
    B. có cần thiết360%
    C. rất cần thiết240%
    2Trong các giờ đọc
    hiểu văn bản văn học,
    thầy (cô) có sử dụng
    thao tác lập luận so
    sánh không?
    A. không sử dụng00%
    B. không thường
    xuyên sử dụng
    360%
    C. luôn luôn sử
    dụng
    240%
    3Theo thầy (cô), họcA. không hứng thú00

    12
    Page 12

    sinh có hứng thú với
    giờ đọc- hiểu văn bản
    văn học sử dụng thao
    tác lập luận so sánh
    không ?
    B. hứng thú120%
    C. rất hứng thú480%
    4Theo thầy (cô), nguyên
    nhân khiến cho nhiều
    thầy (cô) chưa (chưa
    thường xuyên) sử dụng
    thao tác lập luận so
    sánh trong giờ đọc
    hiểu văn bản văn học
    là?
    A. phải đầu tư
    nhiều trí lực, thời
    gian
    120%
    B. chương trình
    còn nặng, thiếu
    thời gian
    240%
    C. cả A và B240%
    5Thầy (cô) có thường
    xuyên kiểm tra việc sử
    dụng thao tác lập luận
    so sánh trong các bài
    tâp của học sinh
    không?
    A. không00
    B. thỉnh thoảng360%
    C. thường xuyên240%

    Kết quả điều tra trên cho thấy một thực tế trong các giờ đọc – hiểu văn bản văn
    học hiện nay: khoảng 50% giáo viên thấy việc vận dụng thao tác so sánh vào giờ đọchiểu là cần thiết ; khoảng 80% giáo viên thấy học sinh rất hứng thú với giờ học này.
    Song, rất ít giáo viên, rất ít giờ đọc-hiểu văn bản văn học sử dụng thao tác lập luận so
    sánh. Nguyên nhân khách quan là do: chương trình, kiến thức còn nặng. Đối với các
    thầy (cô) dạy học sinh các lớp khối C, D luôn phải “gồng mình”, chạy đua với thời
    gian trong mỗi tiết học. Nếu có “cảm hứng” giảng giải, luận bình sâu sắc một chút, lập
    tức thiếu thời gian, giờ hết mà bài chưa hết. Nguyên nhân thứ hai: phải đầu tư nhiều
    thời gian, công sức nên nếu thầy (cô) chưa thực sự say mê, tâm huyết với công việc
    thì rất khó có thể thực hiện. Nguyên nhân cuối cùng thuộc về phía chủ quan người
    13
    Page 13
    dạy: một số thầy (cô) chưa thường xuyên theo dõi trên các phương tiện thông tin đại
    chúng để nắm bắt kịp thời những yêu cầu đổi mới của Bộ giáo dục về phương pháp
    giảng dạy, ra đề, kiểm tra đánh giá. Vì vậy, họ vẫn chưa thấy được sự cần thiết phải
    thay đổi phương pháp giảng dạy trong các giờ đọc – hiểu văn bản văn học (cung cấp
    kiến thức và kĩ năng).
    3. Thực trạng việc sử dụng thao tác lập luận so sánh của học sinh trong quá
    trình tạo lâp văn bản nghị luận
    Về phía học sinh, chúng tôi tổ chức cho các em làm một bài kiểm tra trong
    khoảng 15 phút với yêu cầu: Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ, vận dụng kết hợp
    thao tác lập luận phân tích, bình luận và so sánh) nói lên cảm nhận của em về khổ thơ
    sau:
    “Dữ dội và dịu êm
    Ồn ào và lặng lẽ
    Sông không hiểu nổi mình
    Sóng tìm ra tận bể”
    (Sóng- Xuân Quỳnh – SGK Ngữ văn 12, NXB Giáo dục, 2009)
    Kết quả thu được như sau:
    Số lượng học sinh làm bài kiểm tra : 179 học sinh (khối 12)
    Bảng 2: Thực trạng việc sử dụng thao tác lập luận so sánh của học sinh trong
    quá trình tạo lập văn bản nghị luận (phản ánh qua điểm số):

    LớpSĩ số9-108- 76- 54- 32- 0
    SL%SL%SL%SL%SL%
    12A13200515,61856,3618,839,3
    12A228007251657,1310,727,2
    12A3320039,41753,1825412,5
    12A42800414,31553,6517,9310,7
    12A52600415,41765,4415,413,8
    12A63300515,22060,6515,239,0
    Tổng179002815,610357,53117,3179,6

    14
    Page 14
    Qua bài kiểm tra ngắn, chúng tôi thấy: đa số học sinh mới chỉ dừng lại ở việc
    phân tích cách sử dụng cặp từ trái ngược: “dữ dội”- “dịu êm”; “ồn ào”- “lặng lẽ”; hình
    ảnh ẩn dụ: “sóng”, “sông”, “bể”. Từ đó, các em đi đến bình luận: diễn biến tâm lí
    phức tạp trong tâm hồn người con gái đang yêu, khát khao tình yêu mãnh liệt, quan
    niệm tình yêu hiện đại… Có khoảng gần 14 % số lượng học sinh biết so sánh quan
    niệm tình yêu của người con gái trong thơ Xuân Quỳnh với người con gái trong xã hội
    phong kiến. Tuy nhiên, các em chưa nhấn mạnh được điều mới mẻ trong ý thơ của
    Xuân Quỳnh: khi “Sông không hiểu” thì sóng dứt khoát “tìm ra tận bể”. Đặt ý thơ vào
    bối cảnh văn hóa xã hội Việt Nam những năm 60 của thế kỉ trước, rõ ràng, Xuân
    Quỳnh là người có tư tưởng tiến bộ vượt thời đại. Bà đưa đến một tư tưởng mang giá
    trị nhân văn: trong tình yêu, người con gái có quyền và sẵn sàng vượt qua mọi giới
    hạn để đi tìm cho mình một tình yêu đích thực. Không một thế lực nào, tôn giáo, lễ
    giáo nào có thể cản được bước chân của người con gái dám sống hết mình cho tình
    yêu.
    Như vậy, rất nhiều em chưa nhận thức được một cách nghiêm túc vấn đề cần
    phải sử dụng thao tác lập luận so sánh khi viết dạng bài nghị luận về một đoạn thơ, bài
    thơ.
    Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số phương diện
    so sánh trong giờ đọc- hiểu văn bản nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy, tạo hứng thú
    cho học sinh, từ đó tạo cơ sở cho các em thói quen và sử dụng thành thạo thao tác lập
    luận so sánh trong bài văn nghị luận.
    II. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    Giải pháp 1: Một số vấn đề lí luận
    1. So sánh và thao tác lập luận so sánh
    1.1. Khái niệm về thao tác
    Trong cuốn Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) thì thao tác được
    định nghĩa như sau: “Thực hiện những động tác nhất định để làm một việc gì đó trong
    sản xuất” [ tr.917].
    Trong tâm lí học, thao tác được xem là hệ thống những hành động trong tư
    duy. Thao tác chính là cốt lõi của các cách thức hành động bị quy định và phụ thuộc
    15
    Page 15
    chặt chẽ bởi phương tiện, điều kiện cụ thể. Thao tác là một yếu tố không thể thiếu
    được trong hoạt động của con người. Nó nảy sinh từ nhu cầu hành động của con
    người. Nhu cầu ấy chi phối tới việc xác định hành động như thế nào để đạt được
    những mục đích cụ thể, hành động đó nhằm đạt được những nhiệm vụ gì. Thao tác là
    cách để làm nên nội dung hành động. Vì vậy, nó là yếu tố có tính chất cơ động, kĩ
    thuật, có thể lắp ghép trong các chuỗi hành động miễn sao nó phù hợp với mục đích
    thực hiện hành động đó.
    1.2. Cách hiểu về so sánh
    So sánh là một thao tác của hoạt động tư duy lôgíc nhằm giúp con người tìm ra
    những điểm tương đồng và khác biệt khi đưa đối tượng này ra đối chiếu với đối tượng
    khác dựa trên một tiêu chí nào đó, từ đó nhận thức sâu sắc và làm nổi bật đối tượng.
    Cuốn Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (chủ biên) đã đưa ra cách hiểu về so
    sánh là: “nhìn vào cái này để thấy cái kia, để thấy sự giống và khác nhau hoặc sự hơn
    kém” [ tr.861].
    Cuốn Phong cách học Tiếng Việt hiện đại của tác giả Hữu Đạt cũng đưa ra khái
    niệm so sánh là việc “đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng vào các mối quan hệ nhất
    định nhằm tìm ra sự giống và khác nhau giữa chúng”[ tr.294].
    Như vậy, các cách hiểu về so sánh đều có quan điểm chung về so sánh là để thấy
    sự giống và khác nhau của các sự vật, hiện tượng, từ đó thấy rõ đặc điểm và giá trị của
    mỗi sự vật, hiện tượng.
    Như vậy so sánh là thao tác lôgic dùng để rút ra các phán đoán, nhận xét để nhận
    thức đối tượng được cụ thể. Và để so sánh, người ta phải dựa trên cùng một tiêu chí,
    nếu khác tiêu chí, so sánh sẽ trở nên khập khiễng, thiếu sức thuyết phục, từ đó dễ dẫn
    đến nhận xét, đánh giá sai lệch.
    1.3. Thao tác lập luận so sánh
    Thao tác được dùng để chỉ việc thực hiện những động tác theo trình tự và yêu
    cầu kỹ thuật nhất định. Thao tác lập luận là quá trình triển khai lí lẽ một cách lô gic
    nhằm phát hiện thêm một chân lí mới từ chân lí đã có.
    Có 6 loại thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ,
    so sánh.
    16
    Page 16
    Thao tác lập luận so sánh là làm sáng tỏ đối tượng đang nghiên cứu trong mối
    tương quan với đối tượng khác. Đặt đối tượng vào cùng một bình diện, đánh giá trên
    cùng một tiêu chí, nêu rõ quan điểm, ý kiến của người viết.
    2. Đọc – hiểu văn bản văn học
    2.1. Đọc- hiểu văn bản là gì?
    Theo Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Thanh Hùng: “Đọc- hiểu là một khái niệm khoa
    học chỉ mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc hiểu đồng thời cũng chỉ năng lực
    văn của người đọc”. “Đọc- hiểu là hoạt động truy tìm và giải mã ý nghĩa văn bản”.
    Còn với Giáo sư Trần Đình Sử: “Đọc- hiểu văn bản như một khâu đột phá trong việc
    đổi mới dạy học và thi môn Ngữ văn, là yêu cầu bức thiết đối với việc đào tạo nguồn
    nhân lực mới cho đất nước tiến theo các nước tiên tiến”.
    Như vậy, đọc – hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản
    thông qua khả năng tiếp nhận của học sinh. Đọc- hiểu là tiếp xúc với văn bản, hiểu
    được nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu các thông
    điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật.
    Với quan điểm phát huy vai trò chủ thể của học sinh, xuất phát từ đặc thù của văn
    chương (nghệ thuật ngôn từ), phương pháp dạy học Văn thay bằng khái niệm “Đọchiểu văn bản”.
    Đọc- hiểu có ba khâu: một là đọc- hiểu ngôn từ (chữ, từ, câu, đoạn, văn bản);
    hai là đọc- hiểu hình tượng như là cái biểu đạt và ba là hiểu ý nghĩa như là cái được
    biểu đạt. Dạy khâu một có những phương pháp khác với dạy khâu hai và trọng tâm
    dạy đọc văn là ở khâu ba. Nhiều trường hợp đọc hiểu cả mà vẫn không hiểu được ý
    nghĩa biểu đạt của văn bản. Ba khâu này không tách rời nhau, không hiểu khâu một
    thì không có khâu hai, không có khâu hai thì không có khâu ba. Đọc- hiểu khâu ba
    phải vận dụng nhiều phương pháp đặc thù.
    2.2. Vai trò của thao tác lập luận so sánh trong giờ đọc- hiểu văn bản văn học
    Nội dung tư tưởng, tình cảm của tác phẩm văn học được thể hiện bằng một hình
    thức nghệ thuật nhất định, bằng một ngôn ngữ văn chương nhất định. Cho nên, phải
    bám sát văn bản ngôn từ, kết hợp một cách nhuần nhuyễn việc phân tích nội dung tư
    tưởng với phân tích nghệ thuật, để chỉ ra cái hay cái đẹp mà đánh giá tác phẩm.
    17
    Page 17
    Muốn chỉ ra cái hay cái đẹp để đánh giá tác phẩm cả về mặt nội dung cũng như
    hình thức, để người nghe có được cái nhìn nhiều chiều, sâu sắc hơn về một tác phẩm
    văn học, rất cần sử dụng thao tác so sánh, đối chiếu trong quá trình phân tích. Trong
    một giờ đọc- hiểu văn bản trên lớp, ngoài các kỹ năng như đọc diễn cảm, đọc để lấy
    không khí, khơi gợi hứng thú của người học kết hợp sử dụng các thao tác lập luận:
    giải thích, phân tích, bình luận….. thì một trong những thao tác đưa lại một hiệu quả
    nhất định trong quá trình giảng dạy, phân tích một tác phẩm văn học chính là thao tác
    so sánh đối chiếu.
    Giải pháp 2: Đề xuất một số phương diện so sánh trong giờ đọc – hiểu văn
    bản văn học
    1. Mục tiêu và yêu cầu khi sử dụng thao tác lập luận so sánh trong giờ đọchiểu văn bản
    1.1. Mục tiêu
    Trong giờ đọc- hiểu, tùy từng văn bản mà giáo viên nên sử dụng một cách linh
    hoạt thao tác lập luận so sánh để đưa đến những hiệu quả nhất định. So sánh để hiểu
    hơn về đối tượng đang nghiên cứu. So sánh để thấy được điểm giống và khác nhau
    giữa các tác phẩm, qua đó giúp học sinh nhận ra nét đặc sắc của mỗi tác giả trong việc
    cảm nhận và phản ánh cuộc sống. So sánh để hình thành cho học sinh thói quen và kĩ
    năng trong đọc- hiểu và giải quyết các dạng bài nghị luận so sánh văn học (hoặc xã
    hội).
    1.2. Yêu cầu
    Để đạt được những mục tiêu đã đặt ra, giáo viên và học sinh cần lưu ý một số
    vấn đề trong quá trình vận dụng thao tác so sánh trong giờ đọc – hiểu văn bản:
    – Phải so sánh các đối tượng trên cùng một tiêu chí bình diện để chỉ ra điểm
    giống, khác nhau, tránh khập khiễng.
    – Phải chỉ ra và lí giải được nguyên nhân dẫn đến sự giống và khác nhau đó.
    – So sánh trong giờ đọc – hiểu văn bản nhằm khắc sâu kiến thức văn bản cho
    học sinh, giúp học sinh thấy được sự kế thừa, đổi mới của mỗi giai đoạn văn học; nét
    riêng, sự độc đáo của mỗi tác giả trong cùng một đề tài, một giai đoạn văn học; sự
    chuyển biến về tư tưởng và quan niệm nghệ thuật của một tác giả qua các giai đoạn
    18
    Page 18
    sáng tác; nét riêng, sự mới mẻ của mỗi tác giả trong cách cảm nhận và phản ánh hiện
    thực cuộc sống; so sánh các chi tiết nghệ thuật, các câu thơ (đoạn thơ), các câu văn
    (đoạn văn), các nhân vật trong các tác phẩm khác nhau của một tác giả hoặc nhiều tác
    giả để hiểu được giá trị tư tưởng của tác phẩm, thái độ của tác giả đối với cuộc sống
    và nghệ thuật….
    1.3. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến
    Thứ nhất, do thời gian mỗi tiết học có hạn nên trong mỗi bài học, GV cần xác định
    các nội dung có thể tổ chức hoạt động tương tác tốt nhất để rèn luyện thao tác lập luận so
    sánh cho HS.
    Thứ hai, để câu trả lời của HS có chất lượng, không lãng phí thời gian trống trên lớp,
    GV có thể giao trước HS chuẩn bị các nội dung thảo luận có sử dụng thao tác lập luận so
    sán về các đơn vị kiến thức liên quan đến bài.
    Thứ 3, để thực hiện được thành công sáng kiến người giáo viên cần:
    – Có nghiệp vụ tay nghề vững vàng, kiên trì bền bỉ rèn luyện học sinh.
    – Nhiệt tình trong giảng dạy, hết lòng vì học sinh.
    – Trong giờ dạy cần phát huy hết khả năng của mỗi học sinh, tạo cơ hội cho các
    em được đứng trước tập thể để thể hiện mình, góp phần nâng cao khả năng giao tiếp,
    ứng xử.
    – Sau giờ học kiểm tra bài tập đọc hiểu kết hợp với tự luận góp phần củng cố
    kiến thức cho học sinh.
    Để có thể hướng dẫn tốt học sinh thực hiện nhuần nhuyễn thao tác so sánh trong
    giờ đọc – hiểu văn bản văn học, đòi hỏi giáo viên phải ở trên học sinh một tầm, tức là
    người dạy phải có kiến thức chuyên môn vững vàng về văn học sử, về tác phẩm,
    phong cách nghệ thuật của tác giả và phải có năng lực khái quát tổng hợp vấn đề cao.
    Trong quá trình dạy học và hướng dẫn học sinh, sẽ có những tình huống học sinh
    tranh cãi khi so sánh các hiện tượng văn học, giáo viên phải biết dẫn dắt học sinh đến
    đáp án đúng đắn nhất.
    Trong quá trình đọc – hiểu văn bản văn học, nếu chúng ta biết chọn và đưa ra các
    câu hỏi có vấn đề, biết cách khơi gợi hứng thú cho học sinh không chỉ giúp các em
    củng cố được thao tác phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát nâng cao vấn đề mà còn
    là cơ hội để các em biết xâu chuỗi và vận dụng một cách nhuẫn nhuyễn các kiến thức
    19
    Page 19
    đã học, phát huy năng lực sáng tạo của các em, góp phần nâng cao kĩ năng làm bài
    văn nghị luận văn học.
    2. Một số phương diện so sánh trong giờ đọc- hiểu văn bản văn học
    2.1. So sánh đối chiếu hai nền văn học, hai thời kỳ văn học để thấy được sự
    giống nhau, kế thừa và phát triển, đổi mới của mỗi giai đoạn văn học

    STTTên tác
    phẩm so
    sánh
    Tên tác phẩm
    được so sánh
    Sự kế thừaĐổi mới
    1Tuyên
    ngôn độc
    lập.
    (Nguyễn
    Ái Quốc)
    – Nam quốc
    sơn hà- tương
    truyền của Lí
    Thường Kiệt
    – Bình Ngô đại
    cáo- Nguyễn
    Trãi.
    – Tuyên bố độc
    lập.
    – Khẳng định chủ
    quyền dân tộc.
    – Căn cứ pháp lí.
    – Cuộc tranh luận ngầm với
    thực dân Pháp và đặc biệt
    là các nước đang chuẩn bị
    xâm lược nước ta: Anh,
    Mĩ…
    – Căn cứ pháp lí: dựa vào
    tuyên ngôn của Pháp, Mĩ.
    – Từ quyền con người, Bác
    suy rộng ra thành quyền
    dân tộc.
    2Tây Tiến
    Quang
    Dũng
    – Thuật hoài
    Phạm Ngũ
    Lão.
    – Chinh phụ
    ngâm khúc-
    Đoàn Thị
    Điểm
    – Yêu nước.
    – Hình ảnh đẹp
    và trang trọng.
    Người lính ra đi từ thủ đô
    Hà Nội: hào hùng, hào hoa,
    lãng mạn (vẻ đẹp bi tráng).
    3Đất
    Nước
    Nguyễn
    Khoa
    Điềm.
    – Nam quốc
    sơn hà- Lí
    Thường Kiệt.
    – Thuật hoài
    Phạm Ngũ
    Lòng yêu nước,
    ý chí quyết tâm
    đánh giặc để bảo
    vệ Tổ quốc.
    – Đất Nước của Nhân Dân,
    Đất Nước “nhuốm màu”
    văn hóa dân gian.
    – Đất Nước là “máu
    xương” của mỗi người nên

    20
    Page 20
    2.2. So sánh đối chiếu hai khuynh hướng văn học(Văn học trung đại – văn học hiện
    đại;văn học trước cách mạng 1945 – văn học sau cách mạng 1945,… )

    STTTên tác
    phẩm so
    sánh
    Tên tác
    phẩm được
    so sánh
    Điểm giống và khác nhau
    1Đàn ghi ta
    của Lorca-
    – Đọc Tiểu
    Thanh kí-
    – Giống nhau: tiếng nói tri âm.
    – Khác nhau:
    Lão.“anh và em” phải có trách
    nhiệm dựng, sẵn sàng hi
    sinh bảo vệ Tổ quốc.
    4Sóng
    Xuân
    Quynh
    – Một số bài
    Ca dao yêu
    thương, tình
    nghĩa.
    – Một số bài
    thơ sáng tác
    trong thời kì
    Thơ mới:
    Tương tư,
    Tương tư
    chiều, ..
    Nỗi nhớ trong
    tình yêu, da diết,
    mãnh liệt.
    – Tình yêu của người con
    gái vừa hiện đại, vừa
    truyền thống.
    – Tâm trạng của người con
    gái khi yêu hiện ra với đủ
    cung bậc, chủ động bày tỏ
    khát vọng mãnh liệt khi
    yêu. Ước ao được hóa
    thành sóng để bất tử hóa
    tình yêu.
    5Đàn ghi
    ta của
    Lorca
    Thanh
    Thảo
    – Đọc Tiểu
    Thanh kí-
    Nguyễn Du.
    – Kính gửi cụ
    Nguyễn Du
    Tố Hữu.
    Tiếng nói tri âm– Ngưỡng mộ, tri ân một
    người nghệ sĩ có tài năng,
    nhân cách mà phải chịu
    một số phận oan khuất.
    – Sự đổi mới trong cách
    diễn đạt: tự do, không viết
    hoa đầu dòng, sử dụng
    nhiều hình ảnh biểu tượng,
    ẩn dụ…

    21
    Page 21

    Thanh ThảoNguyễn Du.
    – Kính gửi
    cụ Nguyễn
    Du- Tố
    Hữu.
    + Đọc Tiểu Thanh kí: sự đồng cảm của những
    người “phong vận kì oan” trong xã hội phong
    kiến (tài tử đa cùng, hồng nhan đa truân).
    + Kính gửi cụ Nguyễn Du: cảm quan của hậu
    thế: đồng cảm với cuộc đời của Thúy Kiều;
    biết ơn, trân trọng tấm lòng và tài năng của
    Nguyễn Du.
    + Đàn ghi ta của Lorca: ảnh hưởng từ thơ siêu
    thực, tượng trưng, thơ tự do….Nỗi niềm tâm sự
    được bộc lộ kín đáo, có phần độc đáo, lạ lùng
    đối với người tiếp cận.
    2Vợ chồng A
    Phủ- Tô
    Hoài
    – Chí Phèo,
    Lão Hạc,
    Đời thừa
    Nam Cao.
    – Tắt đèn
    Ngô Tất Tố.
    – Kép Tư
    Bền
    Nguyễn
    Công Hoan.
    – Những tác phẩm viết trước Cách mạng tháng
    Tám/1945: nhà văn có cái nhìn bế tắc về cuộc
    sống.
    – Vợ chồng A Phủ: thuộc khuynh hướng
    HTXHCN: nhà văn tin tưởng vào sự lãnh đạo
    của Đảng nên có cái nhìn tích cực, lạc quan về
    cuộc sống và tương lai.
    3Vợ nhặt
    Kim Lân
    – Chí Phèo,
    Lão Hạc,
    Đời thừa
    Nam Cao.
    – Tắt đèn
    Ngô Tất Tố.
    – Kép Tư
    Bền
    Nguyễn
    Công Hoan.
    – Những tác phẩm viết trước Cách mạng tháng
    Tám/1945: nhà văn có cái nhìn bế tắc về cuộc
    sống.
    – Vợ nhặt: thuộc khuynh hướng HTXHCN:
    nhà văn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng
    nên có cái nhìn tích cực, lạc quan về cuộc sống
    và tương lai.

    22
    Page 22
    2.3. So sánh đối chiếu để thấy sự giống và khác nhau trong sự sáng tạo của mỗi
    nhà văn ở cùng một đề tài, trong một giai đoạn văn học

    STTTên tác
    phẩm so
    sánh
    Tên tác
    phẩm
    được so
    sánh
    Điểm giống và khác nhau
    1Tây Tiến –
    Quang
    Dũng
    – Đồng
    chí- Chính
    Hữu.
    – Nhớ-
    Hồng
    Nguyên.
    * Giống nhau: người lính chống Pháp qua sự
    kết hợp bút pháp hiện thực và lãng mạn.
    * Khác nhau:
    + Đồng chí, Nhớ: người lính ra đi từ nông
    thôn, vốn là người nông dân chân chất, mộc
    mạc; quê hương nghèo đói..
    + Tây Tiến: Người lính vốn là học sinh, sinh
    viên ra đi từ thủ đô Hà Nội, mang vẻ đẹp hào
    hùng, hào hoa, đậm chất bi tráng, mang dáng
    dấp của tráng sĩ thuở trước “nhất khứ hề bất
    phục phản”.
    2Đoạn trích
    Đất nước
    Nguyễn
    Khoa Điềm
    – Đất
    nước, Việt
    Nam quê
    hương ta
    Nguyễn
    Đình Thi.
    – Tổ quốc
    bao giờ
    đẹp thế
    này
    chăng?-
    Chế Lan
    Viên.
    * Giống nhau: Đề tài đất nước.
    * Khác nhau:
    + Đất nước của NĐT: viết về ĐN trong thời
    gian, không gian cụ thể (mùa thu ở Việt Bắc,
    trong kháng chiến chống Pháp), bút pháp
    tráng ca. Việt Nam quê hương ta: cảm nhận
    về đất nước qua chiều rộng của không gian…
    + Đất Nước của NKĐ: viết về ĐN (viết hoa)
    trong suốt chiều dài lịch sử 4 nghìn năm dựng
    và giữ nước; trong bề rộng không gian (Bắc,
    Trung, Nam), trong chiều sâu văn hóa dân tộc
    (văn học dân gian, phong tục tập quán, truyền
    thống yêu nước, đạo lí…); chất trữ tình- chính

    23
    Page 23

    – Ta đi tới
    – Tố Hữu.
    luận…
    + Chế Lan Viên viết về lịch sử đất nước với
    tên tuổi của các triều đại, danh nhân văn hóa;
    Nguyễn Khoa Điềm lại nhắc đến công lao của
    những con người vô danh, bình dị; Nguyễn
    Khoa Điềm nhìn nhận về công lao của Nhân
    Dân (viết hoa): đánh giặc, dẹp nội thù, truyền
    lại cho thế hệ sau mọi giá trị vật chất và tinh
    thần….
    3Vợ chồng A
    Phủ- Tô
    Hoài
    Vợ nhặt
    Kim Lân
    * Giống nhau: Nỗi khổ của người phụ nữ
    trước Cách mạng tháng Tám.
    * Khác nhau:
    + Nhân vật người vợ nhặt: không có tên, bị
    cái đói hành hạ: xấu xí từ ngoại hình đến lời
    nói, hành động; không nhà không cửa, không
    người thân thích, lang thang, phiêu dạt khắp
    nơi…
    + Mị: bị biến thành con dâu gạt nợ, bị vắt kiệt
    sức lao động, bị tiêu diệt tinh thần phản
    kháng, khát vọng sống….
    4Việt Bắc
    Tố Hữu
    – Bên kia
    sông
    Đuống
    Hoàng
    Cầm.
    – Đất
    nước
    Nguyễn
    Đình Thi.
    * Giống nhau: tình yêu quê hương đất nước.
    * Khác nhau:
    Việt Bắc mang âm hưởng của những khúc hát
    giao duyên. Giọng điệu ngọt ngào, thương
    mến. Kết hợp giữa khuynh hướng sử thi và
    cảm hứng lãng mạn. Tính dân tộc đậm đà: thể
    thơ lục bát; đạo lí uống nước nhớ nguồn; ân
    nghĩa, thủy chung…

    24
    Page 24
    2.4. So sánh đối chiếu để thấy những chuyển biến của một cây bút trong một đề tài
    nhưng viết ở nhiều thời điểm khác nhau

    STTTên tác
    phẩm so
    sánh
    Tên tác
    phẩm được
    so sánh
    Sự chuyển biến
    1Người lái đò
    sông Đà-
    Nguyễn
    Tuân
    Một số
    truyện ngắn
    trong tập
    “Vang bóng
    một thời”
    (1940)
    Nguyễn Tuân vẫn là nhà văn của chủ nghĩa
    duy mĩ. Tuy nhiên, trước Cách mạng, ông
    say sưa ca ngợi cái đẹp trong quá khứ, cái
    đẹp ở những con người phi thường, những
    nhân vật lí tưởng. Sau Cách mạng, Nguyễn
    Tuân say sưa, hồ hởi ca ngợi cái đẹp của
    quê hương, đất nước; cái đẹp có trong
    những con người bình thường, gần gũi với
    cuộc sống.
    2Đàn ghi ta
    của Lora
    Thanh Thảo
    Những sáng
    tác trước
    1975 của
    Thanh Thảo:
    Thử nói về
    hạnh phúc,
    Một người
    lính nói về
    thế hệ mình,
    Những
    người đi tới
    biển, Dấu
    chân qua
    trảng cỏ…
    Thanh Thảo vẫn là nhà thơ của “nghĩa khí,
    của “chất người” lấp lánh. Ông vẫn đam mê
    đi tìm “chất người” ở những con người có
    “nghĩa khí”. Tuy nhiên, nếu trước 1975, ông
    viết về chiến tranh và người lính thì sau
    1975, ông viết về Trương Định, Cao Bá
    Quát, Nguyễn Đình Chiểu, Lor-ca, Mai-a
    cốp- xki, A.Pus-kin….Những con người ấy.
    dù có tên hay không tên, là người của thời
    hiện tại hay quá khứ, là người Việt nam hay
    một đất nước nào trên thế giới, đều gặp nhau
    ở vẻ đẹp của “chất người nghĩa khí”, “chất
    người lấp lánh”.
    3Chiếc
    thuyền
    Mảnh trăng
    cuối rừng,
    – Nhân vật được nhìn nhận chủ yếu ở góc độ
    con người cá nhân với những thăng trầm của

    25
    Page 25

    ngoài xa
    Nguyễn
    Minh Châu
    Khách ở quê
    ra, Phiên
    chợ Giát,
    Người đàn
    bà trên
    chuyến tàu
    tốc hành…
    số phận, những diễn biến phức tạp của tính
    cách, những góc khuất bí ẩn của tâm hồn.
    – Quan niệm nghệ thuật về con người của
    NMC có sự chuyển biến rõ rệt qua hai giai
    đoạn sáng tác: từ con người sử thi đến con
    người đời thường, tăng thêm chất suy tư,
    triết lí.
    4Đò Lèn
    Nguyễn Duy
    Những sáng
    tác từ sau
    1986: Nhìn
    từ xa….Tổ
    quốc
    – Trước 1986: viết về chiến tranh, người
    lính…tinh thần lạc quan; giọng điệu trữ tình
    triết lí.
    – Sau 1986: cảm hứng đời tư, thế sự. Nhà
    thơ đau đớn và thẳng thắn chỉ ra những
    nghịch cảnh của đất nước trong thời kì
    khủng hoảng trầm trọng. Đó còn là sự thay
    đổi của lòng người, sự lãng quên với quá
    khứ đã một thời mình gắn bó.

    2.5. So sánh đối chiếu các chi tiết nghệ thuật, các nhân vật ở những tác phẩm
    khác nhau để thấy nét riêng, sự độc đáo của mỗi tác giả

    STTChi tiết,
    nhân vật
    so sánh
    Chi tiết,
    nhân vật
    được so
    sánh
    Nét riêng của mỗi tác giả
    1Tây Tiến
    Quang
    Dũng: giấc
    mơ của
    lính Tây
    Tiến
    Nỗi nhớ của
    người lính
    trong Đồng
    chí- Chính
    Hữu và
    Nhớ-Hồng
    Nguyên.
    – Đồng chí: nhớ “giếng nước, gốc đa, gian
    nhà không”…
    – Nhớ: nhớ “luống cày đất đỏ”, và những cô
    vợ trẻ “mòn chân bên cối gạo canh khuya”.
    – Tây Tiến: mơ Hà Nội với dáng kiều thơm.

    26
    Page 26

    2Việt Bắc
    Tố Hữu
    Đại từ
    “mình, ta”.
    Đại từ
    “mình, ta”
    trong Các
    khúc hát
    giao duyên
    của ca dao
    dân ca.
    Đại từ “mình, ta”:
    – Ca dao, dân ca: dành cho người yêu, vợ
    chồng.
    – Việt Bắc: dành để nói về Việt Bắc và cán bộ
    Cách mạng; sử dụng một cách linh hoạt.
    3Sóng
    Xuân
    Quỳnh.
    – Giải pháp
    của nhân
    vật trữ tình
    khi phát
    hiện ra sự
    ngắn ngủi
    của kiếp
    người và
    sự mong
    manh của
    tình yêu.
    – Nỗi nhớ.
    -Quan niệm
    nhân sinh
    trong Vội
    vàng- Xuân
    Diệu.
    – Ca dao
    yêu thương,
    tình nghĩa.
    – Tương tư-
    Nguyễn
    Bính.
    – Tương tư
    chiều- Xuân
    Diệu
    *Khi phát hiện ra sự ngắn ngủi của đời
    người:
    – Xuân Diệu chọn cách sống “Vội vàng” (ôm,
    riết, say, thâu, cắn).
    – Xuân Quỳnh: ước ao hóa thân thành sóng
    biến để vĩnh viễn hóa tình yêu của mình…
    *Nỗi nhớ:
    – Xuân Quỳnh, Xuân Diệu: mãnh liệt, chủ
    động, hiện đại…
    – Ca dao, Nguyễn Bính: kín đáo, nhẹ nhàng,
    á đông nhưng không kém phần da diết, mãnh
    liệt…
    4Vợ chồng
    A phủ- Tô
    Hoài.
    Nhân vật
    Mị
    Nhân vật
    người vợ
    nhặt trong
    Vợ nhặt
    Kim Lân và
    Người đàn
    bà hàng chài
    trong Chiếc
    thuyền
    – Chung: cả 3 người phụ nữ đều khổ, cuộc
    đời bất hạnh.
    – Riêng:
    + Mị: xinh đẹp, tài hoa nhưng phải trở thành
    con dâu gạt nợ…sự đồng cảm, tình thương
    người cùng niềm khát khao tự do đã khiến
    Mị tìm được tự do, hạnh phúc..(kết hợp với
    Đảng).
    + Người vợ nhặt: bị nạn đói đẩy vào cảnh:

    27
    Page 27

    ngoài xa
    Nguyễn
    Minh Châu.
    xấu xí từ ngoại hình cho tới lời ăn, tiếng nói,
    không nhà cửa, không người thân thích.
    Nhưng nhờ có niềm khát khao sống mãnh liệt
    mà người đàn bà này cũng đã có 1 gia đình.
    + Người đàn bà hàng chài: xấu xí, đói nghèo,
    lam lũ, thất học, đông con, chồng vũ
    phu…Nhưng ẩn sau đó là một người mẹ yêu
    thương con, giàu đức hi sinh, vị tha, thấu
    hiểu lẽ đời một cách sâu sắc…
    5Vợ nhặt
    Kim Lân.
    Chi tiết nồi
    cháo cám
    Bát cháo
    hành trong
    Chí Phèo,
    ấm nước
    đầy và vẫn
    còn nóng
    trong Đời
    thừa- Nam
    Cao
    – Cuộc sống đói nghèo.
    – Tình người.
    – Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và phong
    kiến tay sai.
    6Vợ chồng
    A phủ- Tô
    Hoài.
    Nhân vật A
    Phủ
    Nhân vật
    Tnú trong
    Rừng xà nu
    Nguyễn
    Trung
    Thành.
    Ở Tnú không có vấn đề tìm đường, nhận
    đường như nhân vật A Phủ, câu chuyện về
    Tnú được mở ra từ chính chỗ A Phủ dần
    khép lại.
    7Những đứa
    con trong
    gia đình
    Nguyễn
    Thi.
    Nhân vật
    Chiến
    Nhân vật
    Mai trong
    Rừng xà nu
    Nguyễn
    Trung
    Thành.
    * Điểm chung: Cả hai nhân vật đều mang vẻ
    đẹp tâm hồn và tinh thần cách mạng của
    người con gái Việt Nam trong kháng chiến
    chống Mĩ.
    * Điểm riêng:
    + Mai là người con gái Tây Nguyên bản lĩnh
    rắn rỏi, nhưng do Mai chưa nhận thức được

    28
    Page 28

    chân lí cách mạng mà sau này cụ Mết nói
    (Chúng nó đã cầm súng thì mình phải cầm
    giáo) nên bất lực ôm đứa con thơ chết dưới
    đòn roi của kẻ thù.
    + Chiến là người con gái Nam Bộ bộc trực,
    thẳng thắn, lớn lên trong giai đoạn chiến
    tranh ác liệt , nên nhận thức rõ mình cần phải
    làm gì để bảo vệ gia đình, dân tộc. Do vậy
    Chiến đã quyết tâm đi bộ đội như một nhận
    thức tất yếu “Nếu giặc còn thì tao mất”.
    8Những đứa
    con trong
    gia đình
    Nguyễn
    Thi.
    Nhân vật
    Việt
    Nhân vật
    Tnú trong
    Rừng xà nu
    Nguyễn
    Trung
    Thành.
    Cả hai nhân vật đều là những hình tượng
    nhân vật tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng
    cách mạng cao đẹp, cho lòng yêu nước và
    căm thù giặc sâu sắc, sức mạnh chiến đấu của
    dân tộc Việt Nam chống giặc ngoại xâm.”
    – Tnú là người con của làng Xô Man, nơi
    từng người dân đều hướng về cách mạng, bảo
    vệ cán bộ “ Đảng còn thì núi nước này còn” –
    Lời cụ Mết. (Rừng xà nu).
    – Việt sinh ra trong gia đình có truyền thống
    yêu nứơc, căm thù giặc: Cha là cán bộ cách
    mạng, má là người phụ nữ Nam bộ kiên
    cường trong đấu tranh, hai con tiếp nối lí
    tưởng của cha mẹ.
    9Rừng xà
    nu
    Nguyễn
    Trung
    Thành.
    Nhân vật
    Mai
    Nhân vật
    người đàn
    bà hàng chài
    trong Chiếc
    thuyền
    ngoài xa
    Nguyễn
    * Điểm chung: Ở hai nhân vật, Mai và người
    đàn bà hàng chài đều mang vẻ đẹp của tình
    mẫu tử .
    * Điểm riêng:
    – Nhân vật Mai là hình tượng người mẹ Tây
    Nguyên trong giai đoạn chống Mỹ ở Tây
    Nguyên. Nỗi đau của Mai là nỗi đau của cả

    29
    Page 29

    Minh Châu.dân tộc trong một thời kì đánh giặc ngoại
    xâm để bảo vệ quê hương, tổ quốc.
    – Nhân vật người đàn bà hàng chài là hình
    tượng người mẹ nghèo của đời thường vốn
    còn nhiều nhọc nhằn, vất vả. Từ cuộc đời và
    phẩm chất cao đẹp của chị, ta thấy được nỗi
    đau của bi kịch đói nghèo và bạo lực gia
    đình.
    10Vợ chồng
    A phủ- Tô
    Hoài.
    Hành động
    Mị chạy
    theo A Phủ
    Hành động
    người vợ
    nhặt theo
    không Tràng
    về làm vợ
    trong Vợ
    nhặt- Kim
    Lân .
    Mỗi nhà văn đều tìm cho mình một hướng đi
    riêng, khắc họa phẩm chất , số phận của những
    người phụ nữ trong từng cảnh ngộ khác nhau :
    Kim Lân tập trung miêu tả số phận người phụ
    nữ trong nạn đói 1945, Tô Hoài tập trung khắc
    họa số phận , vẻ đẹp của người phụ nữ miền
    núi dưới ách áp bức thống trị của chúa đất
    phong kiến…
    11Vợ chồng
    A phủ- Tô
    Hoài.
    Chi tiết
    “Mị nghe
    tiếng
    sáovọng
    lại, thiết
    tha bổi
    hổi” mà
    nhân vật
    Mị nghe
    được trong
    đêm tình
    mùaxuân
    Chí Phèo
    Nam Cao.
    Chi tiết
    “tiếngchim
    hót ngoài
    kia vui vẻ
    quá!” mà
    nhân vật Chí
    Phèo cảm
    nhận được
    sau đêm gặp
    thị Nở
    * Điểm giống nhau:
    – Âm thanh khơi dậy niềm ham sống và khát
    khao sống mãnh liệt.
    – Khẳng định giá trị nhân đạo sâu sắc, mới
    mẻ của tác phẩm.
    * Điểm khác nhau:
    – Chí Phèo: Âm thanh của niềm khát khao
    sống mãnh liệt, được làm người lương thiện
    ở 1 con người đã bị tước quyền làm người.
    – Vợ chồng A Phủ: Âm thanh giúp Mị hồi
    sinh và dẫn đến hành động cứu người và tự
    giải phóng.

    30
    Page 30

    12Kết thúc
    truyện
    ngắn Vợ
    nhặt- Kim
    Lân
    Kết thúc
    truyện ngắn
    “Chí Phèo”-
    Nam Cao
    * Điểm giống nhau:
    – Hai kết thúc truyện cùng phản ánh hiện thực
    tăm tối của con người trước Cách mạng tháng
    Tám.
    – Cùng góp phần thể hiện tư tưởng nhân đạo
    của mỗi nhà văn; cùng là những kết thúc có
    tính mở, giàu sức gợi.
    * Điểm khác nhau:
    – Kết thúc truyện Chí Phèo phản ánh hiện thực
    luẩn quẩn, bế tắc của người nông dân lao
    động, được thể hiện qua kết cấu đầu cuối
    tương ứng hàm ý tương lai sẽ chỉ là sự lặp lại
    của hiện tại.
    – Kết thúc truyện Vợ nhặt phản ánh xu hướng
    vậnn động tất yếu của số phận con người,
    được thể hiện qua kết cấu đối lập hàm ý tương
    lai sẽ mở lối cho hiện tại.

    2.6. So sánh đối chiếu để thấy mỗi tác giả có cách cảm nh

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Sử dụng phương pháp dạy học định hướng giáo dục STEAM trong tổ chức hoạt động vận dụng, mở rộng chủ đề Văn học Dân gian chương trình Ngữ văn lớp 10

    SKKN Sử dụng phương pháp dạy học định hướng giáo dục STEAM trong tổ chức hoạt động vận dụng, mở rộng chủ đề Văn học Dân gian chương trình Ngữ văn lớp 10

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Sự bùng nổ của công nghệ thông tin (sau đây viết tắt là: CNTT) từ cuối thế kỷ
    XX đã mang lại một cuộc “cách mạng” cho sự phát triển kinh tế, xã hội của loài người.
    Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của CNTT, của truyền
    thông cũng như yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong việc đào tạo nguồn nhân lực
    đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền giáo dục mở và
    hội nhập với thế giới, hướng tới nền kinh tế tri thức.
    Từ năm học 2008 – 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chọn chủ đề năm học là “Năm
    ứng dụng CNTT trong quản lý và dạy học”. Đến năm học 2020 – 2021, trong Chỉ thị ban
    hành ngày 01/9/2020, Bộ Giáo dục đã chỉ rõ 09 nhóm nhiệm vụ và 05 nhóm giải pháp
    nhằm thực hiện thắng lợi các nghị quyết, kết luận của Ðảng, Quốc hội, các văn bản chỉ đạo,
    điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về Giáo dục&Đào tạo, đặc biệt là hoàn
    thiện cơ chế, chính sách về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục&Đào tạo; triển khai Luật
    Giáo dục năm 2019 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học.
    Ngành Giáo dục tập trung triển khai Kế hoạch thực hiện Kết luận số 51-KL/TW
    ngày 30/5/2019 Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Trung
    ương về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục&Đào tạo; Kế hoạch thực hiện Kết luận số
    49-KL/TW ngày 10/5/2019 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TW của
    Bộ Chính trị khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học,
    khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; tiếp tục tập trung nguồn lực thực hiện Nghị quyết số
    88/2014/QH13 và Nghị quyết số 51/2017/QH14 của Quốc hội về đổi mới chương trình,
    sách giáo khoa giáo dục phổ thông bảo đảm chất lượng, hiệu quả, đúng lộ trình.
    Trong 09 nhóm nhiệm vụ chủ yếu và 05 nhóm giải pháp cơ bản năm học 2020 –
    2021, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu rõ: “Thực hiện đổi mới phương pháp
    dạy học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh; tinh giản nội dung dạy
    học; đẩy mạnh giáo dục STEM trong bậc phổ thông; đổi mới kiểm tra, đánh giá gắn với
    lộ trình thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới”; “Để đảm bảo chất lượng giáo
    dục, Chỉ thị cũng đặt ra nhiệm vụ quan trọng là thúc đẩy chuyển đổi số, đẩy mạnh ứng
    dụng CNTT trong Giáo dục&Đào tạo, tập trung hoàn thiện chính sách phát triển phương
    thức Giáo dục&Đào tạo trực tuyến, quản lý giáo dục trên môi trường mạng; phát triển
    kho học liệu số toàn ngành”.
    Như vậy, việc ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung và trong dạy học Ngữ văn
    nói riêng không còn xa lạ với giáo viên và học sinh cả nước; mặt khác ứng dụng CNTT
    tiếp tục được đẩy mạnh cùng với giáo dục STEM ở bậc học phổ thông trong năm học
    2020 – 2021.
    2. Giáo dục STEM (Science – Khoa học, Technology – Công nghệ, Engineering –
    Kỹ thuật và Mathematics – Toán học) không phải để học sinh trở thành những nhà toán
    học, nhà khoa học, kỹ sư tương lai mà là xây dựng cho học sinh những kỹ năng có thể
    được sử dụng để vận dụng và phát triển trong thế giới công nghệ hiện đại ngày nay.
    Song không chỉ dừng lại ở 04 lĩnh vực khoa học cơ bản: khoa học, công nghệ, kỹ
    thuật, toán học, bước chuyển mình từ giáo dục STEM sang giáo dục STEAM đem đến tín
    hiệu tích cực cho sự thích ứng của mô hình giáo dục đối với sự chuyển mình của nền
    kinh tế và công nghệ. Trong thế kỷ 21, giáo dục STEAM không chỉ phổ biến ở khối phổ
    thông mà có mặt và trở nên quen thuộc ở các cấp học. Điều đó mang lại sự sáng tạo, học
    tập chủ động và thông minh cho thế hệ tương lai của đất nước.
    3. Môn học Ngữ văn cấp THPT là hạt nhân của yếu tố “Art” trong dạy học định
    hướng giáo dục STEAM cùng với môn học tự chọn Âm nhạc, Mỹ thuật từ các bậc học
    trước. Bởi sứ mệnh của môn học là hướng học sinh đến những giá trị cốt lõi của cái Đẹp,
    của Chân – Thiện – Mỹ. Vì thế, Ngữ văn chưa bao giờ “đứng ngoài” sân chơi giáo dục
    “STEM” mà chính nó đòi hỏi “STEM” phải chuyển mình thành “STEAM” để phù hợp
    với xu thế phát triển của giáo dục hiện đại và Chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
    4. STEAM là sự kết hợp giữa STEM và Art (Nghệ thuật). STEAM là ý tưởng sáng
    tạo ban đầu của Trường Thiết Kế Rhode Island (Mỹ), sau đó được sử dụng bởi nhiều nhà
    giáo dục học và dần dần lan rộng ra cả Hoa Kỳ. STEAM là bước chuyển đổi ngoạn mục
    trong nền cách mạng giáo dục khi chuyển đổi từ mô hình học tập cũ thụ động, chỉ tập trung
    vào lý thuyết sang phương pháp học tập chủ động, đề cao thực hành và tính thực tiễn. Vì
    thế định hướng giáo dục này đặc biệt phù hợp với việc thiết kế, tổ chức hoạt động vận
    dụng và tìm tòi, mở rộng trong tiến trình dạy học “5 bước” của môn học Ngữ văn.
    Sử dụng phương pháp này sẽ đi theo được đúng tinh thần đổi mới phương pháp dạy
    học chuyển từ hệ hình dạy (tập trung vào việc dạy của người thầy) sang hệ hình học (tập
    trung vào việc học của HS) và phát huy được năng lực ICT ở cả người dạy và người học.
    5. Sáng kiến được tạo ra từ kết quả khả quan thu được sau khi chúng tôi tiến hành
    ứng dụng CNTT trong dạy học và kiểm tra đánh giá đoạn trích “Đất Nước” của Nguyễn
    Khoa Điềm và truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân ở 2 lớp độc lập (12B1 và 12D1 –
    Trường THPT Trần Hưng Đạo) trong năm học 2015 – 2016, khi viết thành sáng kiến
    kinh nghiệm được xếp loại Xuất sắc cấp ngành và Sở Khoa học – Công nghệ công nhận
    cấp tỉnh. Sân chơi “Sân khấu hóa tác phẩm văn chương” với 33 tác phẩm thơ, văn xuôi
    và đoạn trích kịch được lựa chọn trong chương trình Ngữ văn THPT, vào tháng 10 năm
    2016 của chúng tôi đã thành công rực rỡ và có sức lan tỏa lớn, cũng là gợi ý cho nhóm
    tác giả chấp bút đề tài “Sử dụng phương pháp dạy học định hướng giáo dục STEAM
    trong tổ chức hoạt động vận dụng và tìm tòi, mở rộng chủ đề Văn học Dân gian chương
    trình Ngữ văn lớp 10” lần này.
    Hy vọng, từ phạm vi hẹp – chủ đề “Văn học Dân gian”, ý tưởng sẽ được vận dụng
    linh hoạt ở mọi bài học của môn học. Chúng tôi đề xuất thành sáng kiến kinh nghiệm
    mong nhận được sự chia sẻ, trao đổi, thảo luận, góp ý của đồng nghiệp và các chuyên
    viên, lãnh đạo cấp trên để có thêm động lực và niềm tin thực hiện nhiệm vụ cũng như
    đam mê nghề nghiệp của mình.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Trong những năm gần đây, một số hình thức, phương pháp và kĩ thuật dạy học
    Ngữ văn của giáo viên tổ Ngữ văn trường THPT Trần Hưng Đạo – TP Nam Định nói
    riêng và giáo viên các tỉnh nói chung như sau:
    1.1. Sử dụng phương pháp dạy học truyền thống thiên về thuyết giảng, truyền thụ
    kiến thức một chiều. Phương pháp này “dễ làm, dễ thực hiện” do kiến thức của mỗi
    người thầy “đầy” lên và sâu thêm theo năm tháng. Giáo viên không mất nhiều thời gian
    suy nghĩ, đầu tư về cách thức tổ chức; học sinh thụ động tiếp nhận, không phải chuẩn bị
    và không được trải nghiệm các hoạt động có tính khám phá, sáng tạo cũng như các hoạt
    động thực hành mới mẻ (ngoài làm bài tập, trả lời câu hỏi SGK).
    1.2. Sử dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực (phương pháp thảo luận
    nhóm, phương pháp dạy học dự án…; kỹ thuật mảnh ghép, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật
    bể cá, kĩ thuật trạm, góc, kĩ thuật công não, kĩ thuật sơ đồ tư duy, kĩ thuật XYZ, …). Ưu
    điểm của phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực là học sinh được tham gia hoạt động,
    chủ động lĩnh hội và tiếp thu tri thức, được đánh thức và hình thành năng lực, kỹ năng,
    phẩm chất qua các hoạt động học tập; giáo viên trở thành người định hướng, đồng hành
    cùng học sinh. Hạn chế của những phương pháp và kĩ thuật này là mất nhiều thời gian
    chuẩn bị của cả thầy và trò, cần có sự hỗ trợ của thiết bị dạy học, CNTT và cơ sở vật chất
    phù hợp; bên cạnh đó, không phải bài học nào cũng có thể vận dụng phương pháp và kĩ
    thuật dạy học hiện đại hiệu quả với khung thời gian bị bó hẹp trong 45 phút/tiết học.
    1.3. Sử dụng kết hợp linh hoạt hình thức dạy học truyền thống và phương pháp, kĩ
    thuật dạy học hiện đại, tích cực. Đây là xu hướng được khuyến khích vận dụng vì nó phát
    huy được ưu điểm và khắc phục được hạn chế của các phương pháp dạy học.
    1.4. Hoạt động vận dụng và mở rộng, tìm tòi là hai hoạt động hoàn tất tiến trình
    dạy học một văn bản. Từ tên gọi, hoạt động đã thể hiện sự cần thiết trong việc “kéo” kiến
    thức văn chương đến “gần” cuộc sống. Người thầy tổ chức hoạt động này phải định
    hướng cho trò vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học vào thực tiễn và có những phát hiện,
    tìm tòi, cũng như nhu cầu khám phá và sáng tạo các vấn đề rộng hơn, xa hơn mà bài học
    gợi ra. Vì thế, đây là hoạt động vừa có tính thách thức vừa có tính thời cơ cho cả thầy và
    trò. Thách thức là sử dụng hình thức như nào để các em dễ dàng vận dụng kiến thức vừa
    học vào tình huống sinh hoạt hằng thường của chính các em – những hình thức gần gũi,
    phù hợp với tâm sinh lí của giới trẻ hiện nay. Thời cơ là thỏa sức sáng tạo trong hình thức
    tổ chức vì đây là hoạt động có tính “mở”, hoạt động giúp người thầy dạy học phân hóa,
    đánh thức tiềm năng còn ẩn tàng của học sinh.
    1.5. Học sinh ngày nay rất thông minh, nhạy bén với cái mới, đặc biệt là năng lực
    CNTT (ICT). Các em có khả năng độc lập, tự chủ trong suy nghĩ và luôn muốn khẳng
    định cái tôi của mình. Như vậy, việc ứng dụng CNTT nói riêng và kiến thức các môn
    khoa học, toán học, kĩ thuật nhiều hay ít, ở phía người học hay người dạy… là do phương
    pháp, kĩ thuật và hình thức dạy học giáo viên lựa chọn phù hợp với nội dung và mục tiêu
    bài học.
    1.6. Phương pháp dạy học theo định hướng giáo dục STEAM giúp đưa văn học
    vào đời sống, vào những tình huống cụ thể của người học với sự hỗ trợ của khoa học, kĩ
    thuật, công nghệ và toán học.
    1.7. Chủ đề Văn học dân gian quen thuộc và dễ lĩnh hội với học sinh lớp 10. Sử
    dụng phương pháp dạy học theo định hướng giáo dục STEAM – một phướng pháp mới
    trên nền văn bản quen thuộc giúp cả thầy và trò đều dễ dàng triển khai nhằm đạt được kết
    quả dự kiến.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    Sáng kiến chúng tôi đề xuất là sử dụng phương pháp dạy học định hướng giáo dục
    STEAM vào việc tổ chức 2 trong 5 hoạt động của tiến trình bài dạy học – hoạt động vận
    dụng và tìm tòi, mở rộng thuộc chủ đề Văn học dân gian Ngữ văn lớp 10.
    2.1. Xác định nội dung chủ đề dạy học
    Chủ đề văn học Dân gian trong chương trình Ngữ văn 10 chúng tôi xây dựng gồm
    các văn bản sau:

    TTThời
    lượng
    Tác phẩmThể loạiDung lượng VB
    12 tiếtChiến thắng Mtao Mxây (“Đăm Săn”)Sử thiĐoạn trích
    22 tiếtTruyện An Dương Vương và Mị Châu,
    Trọng Thủy
    Truyền
    thuyết
    Tác phẩm
    32 tiếtTấm CámCổ tíchTác phẩm
    41 tiếtTam đại con gàTruyện cườiTác phẩm
    51 tiếtNhưng nó phải bằng hai màyTruyện cườiTác phẩm
    62 tiếtCa dao than thân, yêu thương tình
    nghĩa
    Ca daoTác phẩm thuộc
    chùm bài cùng
    motip
    71 tiếtCa dao hài hướcCa daoTác phẩm thuộc
    chùm bài cùng
    motip
    81 tiếtTiễn dặn người yêu (Đọc thêm)Truyện thơĐoạn trích
    92 tiếtÔn tập Văn học Dân gianTổng hợp

    2.2. Xác định yêu cầu cần đạt
    Từ năm học 2020 – 2021, kế hoạch bài dạy chúng tôi được định hướng xây dựng
    theo chủ đề, hướng đến mục tiêu phát triển 4 năng lực đặc trưng của môn học Ngữ văn:
    Đọc – Viết – Nói và Nghe. Cụ thể như sau:

    TTThang
    nhận
    thức
    ĐọcViếtNói và nghe
    1Nhận
    biết
    – Nhận diện được một số đặc
    điểm cơ bản của thể loại sử
    thi, truyền thuyết, truyện cổ
    tích, ca dao, truyện thơ dân
    gian.
    – Học thuộc lòng một số bài ca
    dao yêu thích.
    – Tóm tắt các
    văn bản tự sự
    dân gian theo
    nhân vật chính
    hoặc tiến trình
    câu chuyện.
    – Ghi lại chi
    tiết, hình ảnh
    đặc sắc trong
    tác phẩm tự sự
    dân gian hoặc
    các bài ca dao
    cùng chủ đề.
    – Biết trình bày
    miệng / kể tóm tắt/
    đọc thuộc văn bản
    văn học dân gian
    trước tập thể.
    2Thông
    hiểu
    – Hiểu những đặc sắc về nội
    dung và nghệ thuật của các
    trích đoạn sử thi, truyện cổ
    tích, truyền thuyết của Việt
    Nam và thế giới.
    – Cảm nhận được nỗi niềm xót
    xa cay đắng, tình yêu thương
    thủy chung đằm thắm, ân tình
    của người bình dân trong xã hội
    cũ; tiếng cười lạc quan, trào
    lộng, thông minh, hóm hỉnh của
    – Trình bày được
    cách phân loại,
    những nét đặc sắc về
    nội dung và nghệ
    thuật chính của văn
    bản văn học dân
    gian theo đặc trưng
    thể loại.
    – Nắm bắt được yêu
    cầu và nội dung của
    bài giảng.
    người bình dân cho dù cuộc
    sống còn nhiều vất vả, lo toan.
    – Phân tích được những đặc sắc
    nghệ thuật theo đặc trưng thể
    loại (sử thi: nghệ thuật so sánh
    phóng đại, trì hoãn sử thi;
    truyền thuyết: hư cấu trên nền
    cốt lõi lịch sử; truyện cười: tình
    huống gây cười; ca dao: Thể
    thơ, ngôn ngữ, hình tượng,
    hình ảnh, biện pháp tu từ)
    – Biết trình bày so
    sánh, đánh giá về văn
    bản văn học dân gian
    và diễn xướng văn
    học dân gian.
    3Vận
    dụng
    – Phân tích và đánh giá được
    giá trị nhận thức, giáo dục và
    thẩm mĩ của tác phẩm; phát
    hiện được các giá trị văn hoá,
    triết lí nhân sinh từ văn bản.
    – Biết cách đọc – hiểu tác
    phẩm sử thi, truyện cổ tích,
    truyền thuyết theo đặc trưng
    thể loại.
    – Liên hệ các bài ca dao, tục
    ngữ, thành ngữ, truyện dân
    gian… với các tác phẩm thơ
    hiện đại. (DV: “Đất Nước” của
    Nguyễn Khoa Điềm; “Việt
    Bắc” của Tố Hữu; “Sóng” của
    Xuân Quỳnh; thơ Nguyễn
    Bính…)
    – Biết viết đoạn
    văn, bài văn tự
    sự có các yếu tố
    miêu tả, biểu
    cảm, nghị luận
    và chuyển đổi
    ngôi kể.
    – Viết văn nghị
    luận về một
    đoạn, bài ca
    dao, về một
    hình tượng
    hoặc chi tiết, sự
    việc tiêu biểu
    của văn bản tự
    sự dân gian.
    – Đặt được câu hỏi về
    những điểm cần làm
    rõ và trao đổi về
    những điểm có ý kiến
    khác biệt.
    – Tranh biện được
    một/các vấn đề có
    tính trái chiều; tôn
    trọng người đối thoại;
    có thái độ cầu thị khi
    thảo luận, tranh luận
    và biết điều chỉnh ý
    kiến khi cần thiết để
    tìm giải pháp trong
    các cuộc thảo luận,
    tranh luận.
    – Kể sáng tạo / diễn /
    sân khấu hóa tác
    phẩm dân gian.

    2.3. Xác định đặc điểm đối tượng dạy học và cơ sở vật chất của nhà trường
    – Đối tượng: học sinh lớp 10A9 và học sinh lớp 10 trong và ngoài trường.
    – Cơ sở vật chất: Nhà trường có phòng học đủ thiết bị công nghệ hiện đại (Lớp học
    có smart TV kết nối mạng internet; Phòng học bộ môn có máy chiếu projector, máy chiếu
    vật thể, loa, mic, wifi) đáp ứng yêu cầu dạy học. Đồng thời huy động các thiết bị CNTT
    của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học.
    2.4. Xác định phương pháp dạy học: Dạy học định hướng giáo dục STEAM
    Chữ “A” trong STEAM là thuật ngữ đại diện cho nghệ thuật tự do, nghệ thuật ngôn
    ngữ, nghiên cứu xã hội, nghệ thuật thể chất, mỹ thuật và âm nhạc. Giáo dục STEAM là áp
    dụng tư duy sáng tạo cho các dự án STEM, kích thích trí tưởng tượng và sáng tạo của
    người học thông qua nghệ thuật. Học các môn nghệ thuật góp phần vào việc phát triển các
    kỹ năng cần thiết như giao tiếp, giải quyết vấn đề và tư duy phản biện. Nó cũng tăng cường
    tính linh hoạt của học sinh, khả năng thích ứng, trách nhiệm và đổi mới. Tất cả những kỹ
    năng này là cần thiết cho sự thành công trong bất kỳ lĩnh vực học tập nào.
    Giáo dục STEAM (Science, Technology, Engineering, Arts and Mathematics)
    đang tạo động lực phát triển rất lớn trong xã hội. Giáo dục STEAM cũng giúp tư duy
    nghệ thuật được lồng ghép vào các hoạt động STEM là một bước tiếp cận gần hơn tới
    việc ứng dụng các kiến thức STEM để giải quyết những vấn đề thực tế cuộc sống
    (Nguyễn Vinh Hiển, 2019). STEAM tập trung vào yếu tố con người chứ không phải các
    môn học. Với STEAM, không có áp lực trở thành nhà khoa học hoặc kĩ sư mà có thể trở
    thành một nhà thiết kế, nghệ sĩ kĩ thuật số, người lập trình, giám đốc nghệ thuật, nhà khoa
    học và kĩ sư,…
    STEM tập trung vào việc đào tạo cho học sinh về 4 lĩnh vực trên. Tuy nhiên, chủ
    trương của nền giáo dục hiện đại ngày nay lại đánh giá cao tầm quan trọng của Nghệ
    thuật trong việc thúc đẩy sự đổi mới và sáng tạo, đó cũng chính là lý do tại sao phương
    pháp giáo dục STEAM ra đời.
    STEAM là một sự chuyển đổi từ cách thức giáo dục truyền thống, dựa vào tiêu
    chuẩn điểm số để đánh giá, sang một phương pháp giáo dục hiện đại và lý tưởng, trong
    đó quá trình học tập và kết quả cùng được xem trọng như nhau.
    Đổi mới thực sự không đến từ một phương trình toán học, công nghệ hay các loại
    hóa chất mới, nó đến từ những nơi như nghệ thuật, thiết kế, hay đơn giản hơn nó đến từ
    chính con người chúng ta. Đổi mới trong cuộc sống của mọi người nói chung và trong
    các ngành khoa học nói riêng luôn gắn liền với những trải nghiệm của con người, bằng
    một phương thức nào đó, dù trực tiếp hay gián tiếp. Những trải nghiệm của con người
    có được thôn g qua việc tương tác với những gì liên quan đến nghệ thuật như nghe
    nhạc, hay chiêm ngưỡng một tác phẩm nghệ thuật… Chính nghệ thuật giúp ta nhìn nhận
    sự việc bằng một cách thức tự nhiên, dễ tiếp nhận hơn, và trong một không gian cởi mở
    hơn. Thế giới của chúng ta được xây dựng nên bởi những nhà tư duy phân tích. Tuy
    nhiên, những nghệ sĩ hay nhà thiết kế – những nhà tư duy trực giác lại là người mở ra
    cho chúng ta vô vàn khả năng. Những sự đổi mới to lớn ra đời khi chúng ta biết kết hợp
    lối tư duy phân tích và tư duy trực giác lại với nhau.
    Tiến sĩ Jerome Kagan, Giáo sư Danh dự tại Đại học Harvard và là một trong 22
    nhà tâm lý học nổi tiếng và được trọng vọng nhất của thế kỷ 20, nói rằng: “Nghệ thuật
    và âm nhạc đòi hỏi con người ta phải sử dụng đến cả kiến thức về biểu đồ và tiến trình,
    chính vì vậy sẽ giúp cho một đứa trẻ hiểu rộng hơn và sâu hơn về một vấn đề nào đó, và
    về thế giới này”. Việc kết hợp giữa khoa học và trí tưởng tượng được xem như một sự
    pha chế hoàn hảo, khiến nền giáo dục của chúng ta có thể bước lên một giai đoạn phát
    triển mới.
    Sáng tạo sẽ luôn là loại “gia vị” bí mật của một nền giáo dục toàn diện: Thật vậy,
    chúng ta biết rằng để những thế hệ trẻ có thể đối mặt và vượt qua được những thách thức
    lớn sau này, đòi hỏi phải có những giải pháp thực sự sáng tạo, nhưng chỉ một mình
    STEM không thể mang đến điều đó. Chính STEAM và sự tham gia của nghệ thuật vào
    trong giáo dục là rất quan trọng dành cho học sinh ở cấp lớp từ Mầm non lên đến lớp 12.
    Gần đây, trong cuốn sách bán chạy nhất của Walter Issacson viết về tiểu sử Steve
    Jobs, có nhắc đến việc Jobs đã từng nói rằng nhiều kỹ sư tài năng nhất của Apple đều rất
    giỏi trong âm nhạc hay một loại hình nghệ thuật nào đó. Lisa Phillips, một tác giả, nhà
    báo, và là một nhà giáo dục về kỹ năng lãnh đạo và nghệ thuật cũng đã liệt kê ra một danh
    sách 10 kỹ năng mà những người trẻ tuổi sẽ lĩnh hội được thông qua việc học nghệ thuật,
    đó là: Sáng tạo, Tự tin, Giải quyết vấn đề, Kiên trì, Tập trung, Giao tiếp phi ngôn từ,
    Tiếp nhận phản hồi mang tính xây dựng, Hợp tác, Tận tâm, Trách nhiệm.
    Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta cần những chương trình đào tạo kết hợp hài
    hòa giữa các bộ môn Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học và Nghệ thuật để đào
    tạo ra những thế hệ trẻ toàn diện cả về học thuật, thúc đẩy sự sáng tạo bên trong của mỗi
    người. Chúng ta cần những ý tưởng mới, những giải pháp mới cho các vấn đề hiện tại
    và sau này. Chúng ta cần đánh thức những “nghệ sĩ” bên trong chính những thế hệ học
    sinh để các em có thể trở thành những công dân toàn cầu thực thụ.
    Đổi mới từ STEM sang STEAM là điều cần thiết để cải thiện nền giáo dục của
    chúng ta. Cho dù học sinh là một nghệ sĩ, nhà thiết kế, kỹ sư công nghệ, nhà khoa học,
    thì việc chuyển đổi sang STEAM là cấp thiết hiện nay; sự sáng tạo là điều kiện cần
    cho sự phát triển giáo dục của chúng ta.
    2.5. Vận dụng phương pháp dạy học định hướng STEAM tổ chức hoạt động vận
    dụng và tìm tòi, mở rộng trong dạy học các văn bản thuộc chủ đề Văn học Dân gian lớp 10

    TTVăn
    bản
    Hình thức tổ chức cũMột số hình thức tổ chức sử
    dụng phương pháp dạy học
    định hướng giáo dục STEAM
    1Chiến
    thắng
    Mtao
    Mxây
    Vận dụng
    Anh / chị hãy cảm nhận về vẻ đẹp
    của nhân vật Đăm Săn trong đoạn
    trích “Đăm Săn đi bắt Nữ thần Mặt
    trời”?
    Tìm tòi, mở rộng
    Tìm đọc các phần khác của sử thi
    “Đăm Săn”.
    – Nếu trở thành một nhà lãnh đạo
    trong tương lai, em thấy cần học từ
    Đăm Săn những phẩm chất nào?
    Viết bài luận không quá 500 chữ
    hoặc hùng biện trực tiếp trả lời câu
    hỏi đó?
    – Hãy đồ họa lại cảnh giao chiến
    giữa Đăm Săn và Mtao Mxây
    bằng tranh vẽ 3D hoặc 1 video
    dài khoảng 2 – 3 phút?
    – Sân khấu hóa đoạn trích
    + Viết kịch bản sân khấu (một số
    phân cảnh trong đoạn trích)
    + Tạo dựng sân khấu bằng cách
    tái hiện không gian văn hóa Tây
    Nguyên sử dụng Power Point
    hoặc thiết kế bằng bìa, xốp, gỗ
    dán.
    2Truyện
    An
    Dương
    Vương
    và Mị
    Châu,
    Trọng
    Thủy
    Vận dụng
    – Nhập vai nhân vật Mị Châu kể lại
    truyện An Dương Vương và Mị
    Châu, Trọng Thủy.
    – Từ câu chuyện của các nhân vật
    trong tác phẩm, em rút ra cho mình
    bài học gì trong việc giữ gìn và bảo
    vệ đất nước hiện nay?
    – Làm phóng sự ảnh hoặc video
    tìm hiểu về di tích Cổ Loa và môi
    trường diễn xướng của tác phẩm?
    – Dựng sa hình thành Cổ Loa?
    – Thử thiết kế lẫy nỏ theo trí
    tưởng tượng của mình (bằng tranh
    vẽ hoặc mô hình vật thật)?
    – Vẽ tranh về các nhân vật trong
    tác phẩm?
    – Thiết kế truyện tranh “Truyện
    An Dương Vương và Mị Châu,
    Trọng Thủy?
    – Đồ họa kỹ thuật 3D, 4D hình
    Tìm tòi, mở rộng
    Sưu tầm các truyền thuyết về các
    nhân vật trong lịch sử?
    thức hóa thân của An Dương
    Vương hoặc sự hóa thân của Mị
    Châu?
    – Dựng phim Chiến thắng Triệu
    Đà của quân dân Âu Lạc trong 2 –
    3 phút?
    3Tấm
    Cám
    Vận dụng
    Hãy chỉ ra những sự việc tiêu trong
    truyện cổ tích Tấm Cám?
    Chọn một sự việc và nêu các chi
    tiết trong sự việc đó?
    Hoàn thiện bảng sau:
    Các lần hóa thân của TấmSố lần 1 2 3 4Ý
    nghĩaTìm tòi, mở rộng
    Sưu tầm các tác phẩm có cùng
    môtip như truyện cổ tích “Tấm
    Cám”?
    – Vẽ tranh minh họa theo tiến
    trình truyện cổ tích Tấm Cám?
    – Viết lại truyện cổ tích Tấm Cám
    theo hình thức truyện tranh?
    – Sử dụng phương pháp sắm vai
    để dựng hoạt cảnh về truyện Tấm
    Cám với một kết thúc em thấy
    hợp lý và ấn tượng?
    – Ngày nay, không hiếm những
    “câu chuyện cổ tích giữa đời
    thường”. Em hãy viết/kể lại một
    chuyện như thế?
    4Truyện
    cười
    Vận dụng
    Nếu yêu cầu giới thiệu ngắn gọn về
    đặc điểm của truyện cười, anh (chị)
    sẽ giới thiệu như thế nào?
    Mở rộng, sáng tạo
    Hãy kể lại một câu chuyện cười
    cùng chủ đề mà em biết?
    – Xây dựng kịch bản và sân khấu
    hóa truyện cười “Tam đại con gà”
    và “Nhưng nó phải bằng hai
    mày”?
    – Sáng tác một câu chuyện cười để
    đăng báo tường của lớp hoặc đăng
    báo Hoa học trò?
    5Ca dao
    than
    thân,
    yêu
    thương
    tình
    nghĩa
    Vận dụng
    Đọc bài văn bản sau và trả lời câu
    hỏi:
    “Tôi mê ca dao từ những ngày còn
    nhỏ. Trước khi biết Xuân Diệu nói
    “Ca dao là máu của Tổ quốc”,
    trước khi nghe Tế Hanh nói “tôi lớn
    lên bằng ca dao và sữa mẹ”, tôi đã
    – Sáng tác bài thơ theo thể lục bát
    có vận dụng chất liệu văn học dân
    gian (VD: ca dao, tục ngữ, truyện
    cổ tích, thần thoại…)?
    – Vẽ tranh minh họa cho một số
    bài ca dao em yêu thích?
    – Phổ nhạc 1 hoặc 1 số bài ca dao?
    – Sáng tác một ca khúc mang âm
    sững sờ trước những lời ru của má
    tôi. Mỗi lần ru con, bà cầm hai tao
    nôi, hoặc một tay chụm cả bốn tao
    nôi vừa đưa vừa hát. Lạ thay, má
    tôi làm lụng suốt ngày đầu tắt mặt
    tối mà khi chạm vào tao nôi của
    con thì ca dao tuôn ra như suối, bài
    nọ nối bài kia tưởng chừng như vô
    tận. Tràn ngập trong âm thanh du
    dương huyền hoặc là cả một thế
    giới lạ lùng, thế giới của mồ hôi
    nước mắt, thế giới của tình thương,
    của tình yêu, của cái thiện, của sự
    huyền ảo mộng mơ…
    (Trích Lời ngỏ Vẻ đẹp trong ca dao
    – Nguyễn Đức Quyền)
    1. Xác định câu chủ đề của văn
    bản. Người viết sử dụng thao tác
    diễn dịch hay quy nạp?
    2. Tế Hanh nói “Tôi lớn lên bằng
    ca dao và sữa mẹ”. Ý nghĩa của câu
    nói này là gì?
    3. Xác định biện pháp tu từ về từ
    trong câu ca dao tuôn ra như suối,
    bài nọ nối bài kia tưởng chừng như
    vô tận. Nêu hiệu quả nghệ thuật của
    biện pháp tu từ đó.
    Tìm tòi, mở rộng
    Sưu tầm các bài ca dao theo chủ đề
    hưởng dân gian?
    (Giới thiệu với HS về Cao Bá
    Hưng – Cháu 7 đời của Cao Bá
    Quát trong Sing My Song, sáng
    tác ca khúc đậm âm hưởng dân
    gian trong 24h)
    6Ca dao
    hài
    hước
    Vận dụng
    Câu hoi 1: Bài ca dao Cưới nàng
    anh toan dẫn voi… có giọng điệu
    như thế nào?
    a. Hài hước, dí dỏm nhưng mang
    sự xót xa, cay đắng.
    b. Hài hước, dí dỏm, đáng yêu.
    c. Hài hước, dí dỏm, có mỉa mai.
    – Vẽ tranh biếm họa về các nhân
    vật được nhắc đến trong ca dao
    hài hước?
    – Sáng tác thơ lục bát / lời vè phê
    phán những thói hư tật xấu của
    con người trong xã hội.
    d. Hài hước, giễu nhại, vui vẻ.
    Câu hoi 2: Bài ca dao Lỗ mũi
    mười tám gánh lông … phê phán:
    a. Những người ưa nịnh.
    b. Những người chồng lười nhác.
    c. Những người phụ nữ tham ăn.
    d. Những người phụ nữ đỏng đảnh,
    vô duyên.
    Câu hoi 3: Đặc điểm nghệ thuật
    nào sau đây nói lên sự khác nhau
    giữa ca dao hài hước và ca dao yêu
    thương tình nghĩa?
    a. Dùng ẩn dụ, so sánh.
    b. Dùng cường điệu, phóng đại

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Vận dụng phương pháp dạy học dự án vào việc dạy học môn ngữ văn ở trường THPT áp dụng cụ thể vào dạy học bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ Hàn Mặc Tử

    SKKN Vận dụng phương pháp dạy học dự án vào việc dạy học môn ngữ văn ở trường THPT áp dụng cụ thể vào dạy học bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ Hàn Mặc Tử

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương
    pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng
    Đổi mới phương pháp dạy học là một trọng tâm của đổi mới giáo dục. Việc
    đổi mới giáo dục Trung học dựa trên những đường lối, quan điểm chỉ đạo giáo dục
    của nhà nước, đó là những định hướng quan trọng về chính sách và quan điểm
    trong việc phát triển và đổi mới giáo dục Trung học. Việc đổi mới phương pháp
    dạy học cần phù hợp với những định hướng đổi mới chung của chương trình giáo
    dục trung học.
    Những quan điểm và đường lối chỉ đạo của nhà nước về đổi mới giáo dục nói
    chung và giáo dục trung học nói riêng được thể hiện trong nhiều văn bản, đặc biệt
    trong các văn bản sau:
    – Luật giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28 quy định: “Phương pháp giáo
    dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học
    sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự
    học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực
    tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
    – Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI “Đổi mới chương
    trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng
    hiện đại; nâng cao chất lượng toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo
    dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng
    thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội”.
    – Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện
    giáo dục và đào tạo: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo
    hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ
    năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc.
    Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự
    cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu
    trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại
    2
    khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền
    thông trong dạy và học”; “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản
    của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người
    học”; “Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công
    dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh.
    Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền
    thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận
    dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích
    học tập suốt đời”. Theo tinh thần đó, các yếu tố của quá trình giáo dục trong nhà
    trường trung học cần được tiếp cận theo hướng đổi mới.
    – Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 ban hành kèm theo
    quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng chính phủ chỉ rõ:
    “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện
    theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học
    của người học”.
    – Nghị quyết số 44/NQ-CP, ngày 09/6/2014 ban hành Chương trình hành động
    của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013
    Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn
    diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều
    kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế xác định
    “Đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục theo
    hướng đánh giá năng lực của người học; kết hợp đánh giá cả quá trình với đánh
    giá cuối kỳ học, cuối năm học theo mô hình của các nước có nền giáo dục phát
    triển”…
    Những quan điểm, định hướng nêu trên là cơ sở thực tiễn và môi trường pháp
    lí thuận lợi cho việc đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, đổi mới phương pháp
    dạy học (viết tắt PPDH) theo định hướng năng lực người học nói riêng.
    2. Xuất phát từ vai trò quan trọng của bộ môn Ngữ văn trong nhà trường
    phổ thông
    Bản chất văn chương là sáng tạo. “Cái nghề văn, kỵ nhất cái lối thấy người ăn
    3
    khoai cũng vác mai đi đào” (Trích tác phẩm “Những truyện không muốn viết”,
    Nam Cao); “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một
    vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết
    tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có…” (Câu
    nói của nhân vật Hộ trong tác phẩm “Đời thừa”, Nam Cao); Tác phẩm chân chính
    không kết thúc ở trang cuối cùng, không bao giờ hết khả năng kể chuyện khi câu
    chuyện về các nhân vật đã kết thúc. Tác phẩm nhập vào tâm hồn và ý thức của bạn
    đọc, tiếp tục sống và hành động như một lực lượng sống nội tâm, như sự dằn vặt và
    ánh sáng của lương tâm, không bao giờ tàn tạ như thi ca của sự thật (Aimatop);
    Văn học phản ánh hiện thực nhưng không phải là chụp ảnh sao chép hiện thực một
    cách hời hợt nông cạn. Nhà văn không bê nguyên si các sự kiện, con người vào
    trong sách một cách thụ động, giản đơn. Tác phẩm nghệ thuật là kết quả của một
    quá trình nuôi dưỡng cảm hứng, thai nghén sáng tạo ra một thế giới hấp dẫn sinh
    động … thể hiện những vấn đề có ý nghĩa sâu sắc, bản chất của đời sống xã hội con
    người. Nhân vật trong tác phẩm của một thiên tài thật sự nhiều khi thật hơn cả con
    người ngoài đời bởi sức sống lâu bền, bởi ý nghĩa điển hình của nó. Qua nhân vật
    ta thấy cả một tầng lớp, một giai cấp, một thời đại, thậm chí có nhân vật vượt lên
    khỏi thời đại, có ý nghĩa nhân loại, vĩnh cửu sống mãi với thời gian (Lí luận văn
    học). Để thỏa niềm đam mê khám phá địa hạt văn chương, để tạo ra không khí,
    không gian lớp học mang đậm sắc màu văn chương, không có cách nào khác là
    phải thay đổi cách nhìn, tư duy, định kiến cho người dạy và người học mà mấu
    chốt thay đổi PPDH. Đây là vấn đề sống còn của dạy Văn – học Văn.
    3. Xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi của thời đại
    – Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo (viết tắt GD & ĐT), các nhà trường phổ
    thông: PPDH phải nhằm phát triển tối đa sự suy nghĩ độc lập của HS, kĩ năng đạt
    đến và vận dụng tri thức, góp phần định hướng nghề nghiệp. Vì vậy, phát triển
    chương trình giáo dục phổ thông dựa trên tiếp cận năng lực (viết tắt NL): NL nhận
    thức, NL giải quyết vấn đề, NL hành động, NL sáng tạo, NL làm việc nhóm, NL
    thích ứng với môi trường, … là một lựa chọn tất yếu khách quan và phù hợp với xu
    thế phát triển của xã hội.
    4
    – Theo tâm lí phụ huynh và dư luận xã hội: trông mong ở mỗi con em/ công
    dân sự hoạt bát, nhanh nhạy, tinh tường, am hiểu, không rập khuôn, không là bản
    sao hay phiên bản sẵn có.
    – Theo yêu cầu nghề nghiệp: cần thiết mỗi người lao động chân tay hay trí óc
    có khả năng tự học, tự sáng tạo, phát huy sở trường, năng khiếu, làm theo năng lực,
    trả lương theo vị trí việc làm.
    Như vậy, trong quá trình dạy – học ở trường trung học phổ thông hiện nay,
    nhiệm vụ phát triển các NL cốt lõi cho học sinh (viết tắt HS) trở thành nhiệm vụ vô
    cùng quan trọng. Nhiệm vụ đó đòi hỏi tiến hành đồng bộ ở tất cả các cấp học, các
    môn học trong đó có bộ môn Ngữ văn. Do đó, việc đổi mới PPDH trong giáo dục,
    đào tạo ở nước ta đã trở thành một yêu cầu tất yếu và cấp thiết.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    1.1. Thực trạng dạy của giáo viên môn Ngữ văn
    Giải pháp cũ thường làm – “truyền thụ một chiều” – phương pháp thuyết trình
    a. Ưu điểm
    – Giáo viên (viết tắt GV) chủ động trong giờ dạy (cung cấp kiến thức, sử dụng
    phương tiện dạy học, xử lý thời gian)
    – Tránh được thời gian “chết” hay quá mất thời gian cho một vấn đề trong giờ
    học.
    – Đẩm bảo tiến độ theo kế hoạch bài học: nội dung dạy học – thời lượng tiết
    học tương đối khớp nhau.
    – Hiệu suất giờ học, chất lượng giáo dục bình ổn đều.
    b. Nhược điểm
    – Theo lối mòn văn chương đã định sẵn trong thời gian qua, việc dạy học môn
    Ngữ Văn vẫn theo phương pháp truyền thống “truyền thụ một chiều” với PPDH
    chiếm ưu thế vẫn là các phương pháp thuyết trình tức là trong giờ học, GV giảng
    bài, HS lắng nghe, ghi chép, sau đó trả bài trong phần kiểm tra miệng hay trong
    các tiết kiểm tra và thi tập trung. Gần đây, theo yêu cầu đổi mới PPDH của Bộ GD
    & ĐT, việc dạy hộc bộ môn đã có một số thay đổi như đã chú ý đến đối tượng chủ
    5
    thể giờ học là HS, tăng cường đối thoại giữa GV và HS, tăng cường việc thảo luận
    nhóm… Tuy nhiên, “bình mới rượu cũ”, sự đổi mới ấy còn nặng nề, chiếu lệ về
    hình thức, việc hoạt động nhóm của HS chưa thực sự hiệu quả, GV vẫn vô cùng
    vất vả trong chọn, đọc tư liệu, soạn giáo án, nói nhiều, cho ghi chép dài khi đứng
    lớp; vẫn mang nặng áp lực chất lượng thi cử; chưa thực sự tin tưởng vào khả năng
    tự học và sáng tạo của HS, ít/ không trao cơ hội học tập, nghiên cứu tới HS.
    – Thiếu sự tương tác giữa giáo viên – học sinh, học sinh – học sinh: trong quá
    trình giảng dạy và học tập, giáo viên chỉ miệt mài quan tâm đến việc dạy, học sinh
    lại chăm chăm quan tâm đến việc ghi chép bài nên thiếu đi sự tương tác lẫn nhau.
    – Giờ học vì thế tẻ nhạt, thiếu sự sinh động, hấp dẫn.
    – Hiệu suất giờ học, chất lượng giáo dục thiếu bước đột phá, cải tiến.
    Để cụ thể hơn, tôi đã sử dụng Phiếu điều tra để khảo sát thực nghiệm việc
    dạy học trong chương trình Ngữ Văn 11 ở trường THPT Nguyễn Khuyến – Nam
    Định (Mẫu phiếu điềutra ở phần Phụ lục1)
    0
    20
    40
    60
    80
    100
    120
    Phương pháp
    thuyết trình
    Phương pháp
    thảo luận
    nhóm
    Phương pháp
    đóng vai
    Phương pháp
    dạy học dự án
    Phương pháp
    kích thích tư
    duy
    Phương pháp
    tình huống có
    vấn đề
    Phương pháp
    vấn đáp
    PHIẾU ĐIỀU TRA
    1.2. Thực trạng học của học sinh trong môn Ngữ văn
    a. Ưu điểm
    – HS ghi chép được, đặc biệt với HS ban A thường có tâm lí “ỷ nại” kiến thức
    thầy/ cô đã cung cấp, ngại đọc tài liệu tham khảo; đảm bảo độ an toàn kiến thức
    phục vụ thi cử.
    6
    – Theo đó, bộ môn khoa học nghệ thuật này ít/ không làm khó/ mệt HS, đặc
    biệt với HS thiếu tố chất văn chương.
    b. Nhược điểm
    – HS thụ động; thui chột/ làm mất khả năng sáng tạo; yếu các kĩ năng mềm:
    tranh biện, gieo và giải quyết vấn đề, hợp tác, …; không hình thành thói quen tự học.
    – Thiếu sự hứng thú và đam mê với việc học: học sinh không có hứng thú,
    niềm đam mê với tiết học ngữ văn, dẫn đến việc học tập không hiệu quả.
    – Thiếu đi những kỉ niệm học trò trong/ qua giờ học.
    Khi được hỏi về mức độ tích cực tham gia học tập của lớp 11A2 trường THPT
    Nguyễn Khuyến – Nam Định trong giờ học văn học Việt Nam – chương trình Ngữ
    Văn11, tôi thu được kết quả sau:
    PHIẾU ĐIỀU TRA CÁ NHÂN (Dành chohọc sinh)
    Thái độ đón nhận của anh/ chị với PPDH dự án?

    LớpSố HS
    Tỉ lệ %
    Mức độ
    Hào hứng
    tiếp nhận
    PP mới
    Bình thường,
    bản thân
    không có ý
    kiến gì
    Thờ ơ
    nhưng không làm
    ảnh hưởng đến
    lớp học
    Làm việc riêng
    11A250261752
    100%52%34%10%4%

    7
    1.3. Thực trạng khác
    – Bối cảnh của đời sống kinh tế xã hội thời kinh tế thị trường đã tác động
    mạnh mẽ đến quan niệm, nhận thức, thái độ và hành động của phụ huynh học sinh
    nói riêng và nhân dân nói chung. Cách nhìn về giáo dục, về bộ môn Ngữ văn có
    phần thực tế đến thực dụng. Họ chưa quan tâm nhiều đến chức năng mang tính
    nhân văn của việc học tập bộ môn này trong khi rất nặng nề về điểm số. Cùng với
    đó tâm lí phụ huynh HS, dư luận xã hội dành cho bộ môn cũng không mấy thiện
    cảm: giờ học Văn đọc chép, mệt mỏi, buồn ngủ, ngủ gật, nghe ù tai, chép nhừ tay,
    không đi học cũng không lo/ không mất gì cả, vẫn mượn vở bạn chép được đủ kiến
    thức, không phải động não tư duy …
    1.4. Sự cần thiết đề xuất giải pháp mới trước thực trạng dạy và học môn
    Ngữ văn hiện nay
    Xuất phát từ những thực trạng trên, để giúp GV và HS khắc phục được những
    hạn chế trong quá trình dạy – học môn Ngữ văn, tôi xin đề xuất giải pháp được
    trình bày cụ thể trong các phần sau đây.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    Đề xuất theo giải pháp mới: Dạy học dự án
    Xuất phát từ mục tiêu dạy học dự án:
    – Tất cả các nội dung của môn học đều hướng tới các vấn đề của thực tiễn,
    gắn kết nội dung học với cuộc sống thực. Có thể lí giải điều này qua
    (Sơ đồ về tỉ lệ tiếp thu trung bình)
    8
    – Rèn luyện cho người học phát triển kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề
    liên quan đến nội dung học tập và cuộc sống.
    – Rèn luyện cho người học nhiều kĩ năng khác: tổ chức kiến thức, kĩ năng
    sống, làm việc theo nhóm.
    – Giúp người học nâng cao kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình
    học tập và tạo ra sản phẩm.
    – Tích hợp liên môn, kết nối nội môn giữa các trường ở cùng địa bàn hay địa
    phương khác nhau.
    Ví dụ: Kế hoạch bài học “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử) tại trường THPT
    Nguyễn Khuyến – Nam Định
    + có thể nâng cao khả năng Hội họa, Âm nhạc, Điện ảnh, Báo chí, Tiếng Việt,
    Tin học, Địa lí, Lịch sử, Sinh học, Giáo dục công dân, …
    + có thể kết nối trường học cùng GV và HS ở Huế, đặc biệt ở Vĩ Dạ qua
    phòng máy tính được đầu tư chất lượng cao.
    Qua đó, học sinh vừa được bổ sung, làm sâu và mở rộng, phong phú hơn kiến
    thức trong sách vở, vừa có thêm kiến thức thực tiễn cuộc sống. Dạy học dự án
    không chỉ thay lời chối bỏ cho những tiết học đơn điệu, khô khan, nhàm chán,
    những bài học thuộc lòng máy móc vô nghĩa mà còn đem đến một không gian thực
    sự văn học để đánh thức cảm hứng văn chương, để những tâm hồn văn chương
    được khơi gợi và đốt cháy trong khát khao tìm hiểu cái đẹp.
    2.1. Tìm hiểu chung về phương pháp dạy học dự án
    2.1.1. Khái niệm dạy học dự án
    Thuật ngữ dự án trong tiếng Anh là “Project”, có nguồn gốc từ tiếng La tinh
    và ngày nay được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế
    hoạch.
    Dự án là một dự định, một kế hoạch cần được thực hiện trong điều kiện thời
    gian, phương tiện, tài chính, nhân lực, vật lực xác định nhằm đạt được mục đích đã
    đề ra. Dự án có tính phức hợp, tổng thể, được thực hiện trong hình thức tổ chức dự
    án chuyên biệt.
    9
    2.1.1.1. Khái niệm
    Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó HS dưới sự điều khiển
    và giúp đỡ của GV tự lực giải quyết một nhiệm vụ học tập mang tính phức hợp
    không chỉ về mặt lý thuyết mà đặc biệt về mặt thực hành, thông qua đó tạo ra các
    sản phẩm thực hành có thể giới thiệu, công bố được.
    Như vậy dạy học dự án là một phương pháp dạy học lấy hoạt động của người
    học làm trung tâm. Bản chất của dạy học dự án là người học lĩnh hội kiến thức và
    kĩ năng thông qua việc giải quyết một bài tập tình huống gắn với thực tiễn (bài tập
    dự án). Kết thúc dự án người học phải cho ra sản phẩm gắn với thực tiễn cụ thể.
    Làm việc nhóm là hình thức cơ bản của dạy học dự án.
    2.1.1.2. Phân loại
    a) Phân loại theo quĩ thời gian thực hiện dự án
    •Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 02 đến 06 giờ.
    •Dự án trung bình: thực hiện trong một số ngày (còn gọi là ngày dự án)
    nhưng giới hạn trong một tuần hoặc 40 giờ học.
    •Dự án lớn: được thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần, có thể
    kéo dài trong nhiều tuần.
    b) Phân loại theo nhiệm vụ
    •Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng.
    •Dự án nghiên cứu: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng,
    quá trình.
    •Dự án kiến tạo: tập trung vào việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực
    hiện các hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng
    bày, biểu diễn, sáng tác.
    c) Phân loại theo mức độ phức hợp của nội dung học tập
    •Dự án mang tính thực hành: là dự án có trong tâm là việc thực hiện một
    nhiệm vụ thực hành mang tính phức hợp trên cơ sở vận dụng kiến thức, kỹ năng cơ
    bản đã học nhằm tạo ra một sản phẩm vật chất
    •Dự án mang tính tích hợp: là dự án mang nội dung tích hợp nhiều nội dung
    hoạt động như tìm hiểu thực tiễn, nghiên cứu lí thuyết, giải quyết vấn đề, thực hiện
    10
    các hoạt động thực hành, thực tiễn
    Ngoài các cách phân loại trên, còn có thể phân loại theo chuyên môn (dự án
    môn học, dự án liên môn, dự án ngoài môn học); theo sự tham gia của người học
    (dự án cá nhân, dự án nhóm, dự án lớp…).
    2.1.1.3. Đặc điểm
    Trong các tài liệu về dạy học dự án có rất nhiều đặc điểm được đưa ra. Các
    nhà sư phạm Mĩ đầu thế kỉ XX khi xác lập cơ sở lí thuyết cho phương pháp dạy
    học này đã nêu ra 03 đặc điểm cốt lõi của dạy học dự án: định hướng học sinh,
    định hướng thực tiễn và định hướng sản phẩm. Có thể cụ thể hoá các đặc điểm của
    dạy học dự án như sau:
    •Định hướng thực tiễn: chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của
    thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống. Nhiệm của dự
    án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng nhận thức của
    người học. Các dự án học tập có ý nghĩa thực tiễn xã hội, góp phần gắn việc học
    tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội. Trong những trường hợp lí
    tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực.
    •Định hướng hứng thú người học: học sinh được tham gia chọn đề tài, nội
    dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân. Ngoài ra, hứng thú của
    người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án.
    •Mang tính phức hợp, liên môn: nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của
    nhiều lĩnh vực hoặc nhiều môn học khác nhau nhằm giải quyết một nhiệm vụ, vấn
    đề mang tính phức hợp.
    •Định hướng hành động: trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa
    nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực
    hành. Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn
    luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học.
    Tính tự lực của người học: trong dạy học theo dự án, người học cần tham gia
    tích cực, tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học. Điều đó cũng đòi hỏi và
    khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học. Giáo viên chủ yếu đóng
    11
    vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ. Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với kinh
    nghiệm, khả năng của học sin và mức độ khó khăn của nhiệm vụ.
    •Cộng tác làm việc: các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm,
    trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên
    trong nhóm. Dạy học theo dự án đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng
    công tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa học sinh và giáo viên cũng
    như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án. Đặc điểm này còn được
    gọi là học tập mang tính xã hội (tính cộng đồng).
    •Định hướng sản phẩm: trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được
    tạo ra không chỉ giới hạn trong những thu hoạch lí thuyết, mà trong đa số trường
    hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực
    hành. Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu.
    2.1.1.4. Lưu ý
    •Dự án học tập cần góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn
    đời sống, xã hội; có sự kết hợp giữa nghiên cứu lí thuyết và vận dụng lí thuyết vào
    hoạt động thực tiễn, thực hành.
    •Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả
    năng của HS.
    •HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và
    hứng thú cá nhân.
    •Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác
    nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp.
    •Dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác
    làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm.
    •Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết; sản
    phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu.
    •Dạy học dự án không phù hợp với các bài học đòi hỏi sự trình bày chính
    xác, chặt chẽ và hệ thống (đại lượng vật lí, định luật, thuyết vật lí).
    12
    2.1.2. Các bước tổ chức dạy học dự án

    BướcHoạt động của GVHoạt động của HS
    1. Chuẩn bị
    • Xây dựng
    ý tưởng,
    • Lựa chọn
    chủ đề, tiểu
    chủ đề
    • Lập kế
    hoạch các
    nhiệm vụ
    học tập
    • Xây dựng bộ câu hỏi định
    hướng: xuất phát từ nội dung
    học và mục tiêu cần đạt được.
    • Thiết kế dự án: xác định lĩnh
    vực thực tiễn ứng dụng nội
    dung học, ai cần, ý tưởng và tên
    dự án.
    • Thiết kế các nhiệm vụ cho
    HS: làm thế nào để HS thực
    hiện xong thì bộ câu hỏi được
    giải quyết và các mục tiêu đồng
    thời cũng đạt được.
    • Chuẩn bị các tài liệu hỗ trợ
    GV và HS cũng như các điều
    kiện thực hiện dự án trong thực
    tế.
    • Làm việc nhóm để lựa chọn chủ
    đề dự án.
    • Xây dựng kế hoạch dự án: xác
    định những công việc cần làm, thời
    gian dự kiến, vật liệu, kinh phí,
    phương pháp tiến hành và phân
    công công v iệc trong nhóm.
    • Chuẩn bị các nguồn thông tin đáng
    tin cậy để chuẩn bị thực hiện dự án.
    • Cùng GV thống nhất các tiêu chí
    đánh giá dự án.
    2. Thực
    hiện dự án
    • Thu thập
    thông tin
    • Thực hiện
    điều tra
    • Thảo luận
    với các
    thành viên
    khác
    • Tham vấn
    • Theo dõi, hướng dẫn, đánh
    giá HS trong quá trình thực
    hiện dự án
    • Liên hệ các cơ sở, khách mời
    cần thiết cho HS.
    • Chuẩn bị cơ sở vật chất, tạo
    điều kiện thuận lợi cho các em
    thực hiện dự án.
    • Bước đầu thông qua sản phẩm
    cuối của các nhóm HS.
    • Phân công nhiệm vụ các thành
    viên trong nhóm thực hiện dự án
    theo đúng kế hoạch.
    • Tiến hành thu thập, xử lý thông tin
    thu được.
    • Xây dựng sản phẩm hoặc bản báo
    cáo.
    • Liên hệ, tìm nguồn giúp đỡ khi
    cần.
    • Thường xuyên phản hồi, thông báo
    thông tin cho GV và các nhóm khác.

    13

    giáo viên
    hướng dẫn
    3. Kết thúc
    dự án
    • Tổng hợp
    các kết quả
    • Xây dựng
    sản phẩm
    • Trình bày
    kết quả
    • Phản ánh
    lại quá trình
    học tập
    • Chuẩn bị cơ sở vật chất cho
    buổi báo cáo dự án.
    • Theo dõi, đánh giá sản phẩm
    dự án của các nhóm.
    • Chuẩn bị tiến hành giới thiệu sản
    phẩm.
    • Tiến hành giới thiệu sản phẩm.
    • Tự đánh giá sản phẩm dự án của
    nhóm.
    • Đánh giá sản phẩm dự án của các
    nhóm khác theo tiêu chí đã đưa ra.

    2.2. Vận dụng phương pháp dạy học dự án vào dạy học bài thơ “Đây
    thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử)
    2.2.1. Mục tiêu cần đạt
    a. Kiến thức: Giúp học sinh
    •Hiểu:
    – Nắm được những nét cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp thơ ca (đặc biệt phong
    cách sáng tác) của Hàn Mặc Tử.
    – Cảm nhận được những nét đặc sắc của bài thơ:
    + Bài thơ là bức tranh phong cảnh và cũng là tâm cảnh:
    ++ Bức tranh phong cảnh thôn Vĩ vừa thực, vừa mộng – ảo.
    ++ Bức tranh tâm cảnh: nỗi buồn, nỗi cô đơn, sự bất lực và tuyệt vọng trong
    cảnh ngộ bất hạnh (bệnh tật, tình yêu xa xăm, vô vọng) cùng tình yêu thiên nhiên,
    yêu con người, yêu sự sống tha thiết, những khao khát mãnh liệt hướng tới cái đẹp,
    cái thánh thiện trong cuộc đời.
    14
    – Phong cách thơ Hàn Mặc Tử qua một bài thơ: một hồn thơ luôn quằn quại
    yêu, đau; trí tưởng tượng phong phú; hình ảnh thơ có sự hòa quyện giữa thực và
    ảo; sự vận động của tứ thơ, của tâm trạng chủ thể trữ tình nhanh, lạ; bút pháp thơ
    tài hoa, độc đáo.
    •Tích hợp kiến thức Văn học với kiến thức liên môn, liên lĩnh vực:
    – Văn học:
    + Đến với con người thơ, phong cách sáng tác Hàn Mặc Tử; khám phá vẻ đẹp
    bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” (lớp 11)
    + Một số tiết Văn ở THCS về các tác phẩm của các tác giả người Huế
    + Tiếng Việt: Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (lớp 10)
    – Địa lí: Vĩ Dạ – Huế – kiến trúc nhà vườn
    – Sinh học: Căn bệnh phong
    – GDCD: Tinh thần chiến thắng bệnh tật, hoàn cảnh
    – Tin học: Tra cứu tìm tài liệu, trình chiếu
    – Hội họa: Vẽ tranh Vĩ Dạ
    – Âm nhạc: Bài hát về Huế, Hàn Mặc Tử, Đây thôn Vĩ Dạ
    – Báo chí: Tiến hành phỏng vấn và trả lời phỏng vấn
    – Điện ảnh: Phim về cuộc đời Hàn Mặc Tử
    b. Kĩ năng
    – Đọc hiểu một bài thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại.
    – Phân tích, cảm nhận được vẻ đẹp ngôn ngữ, hình tượng thơ.
    c. Thái độ, phẩm chất
    – Trân trọng tài năng nghệ thuật của tác giả Hàn Mặc Tử.
    – Bồi dưỡng lòng yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước, lòng yêu đời, nghị lực
    sống mạnh mẽ trước thử thách của hoàn cảnh.
    – Động viên, trân quí tinh thần đam mê nghệ thuật và sáng tạo của HS.
    d. Năng lực
    – Năng lực chung: tự chủ và tự học; giải quyết vấn đề và sáng tạo; giao tiếp và
    hợp tác.
    – Năng lực đặc thù: Năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học
    15
    + Biết cách đọc và nắm được những thông tin chính về bài thơ (kĩ năng đọc)
    + Biết viết một đoạn văn giới thiệu về tác giả, tác phẩm, giá trị của tác phẩm (kĩ
    năng viết)
    + Biết trình bày vấn đề liên quan đến các tác giả và tác phẩm (kĩ năng nói)
    + Nghe và nắm được thông tin chính; thảo luận về những vấn đề có liên quan
    đến tác phẩm (kĩ năng nghe)
    2.2.2. Phương pháp, phương tiện
    a. Phương pháp: thuyết trình, thảo luân nhóm, sơ đồ tư duy, đóng vai, mảnh
    ghép.
    Kĩ thuật dạy học: lồng ghép trò chơi, trò chơi Tiếp sức, khăn trải bàn, “hỏi và
    trả lời”, “trình bày một phút”.
    b. Phương tiện
    – Giáo viên: sách giáo khoa, sách giáo viên, tivi thông minh, biên bản họp
    nhóm/ video của các nhóm.
    – Học sinh: giấy A0, A3, bút dạ, bút màu, chì, bảng phân công nhiệm vụ
    nhóm.
    2.2.3. Tiến trình tổ chức dạy học
    Bước 1: Lập kế hoạch
    (Thời gian: 45 phút. Thực hiện ngoài giờ lên lớp)

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Vận dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy các  bài phong cách ngôn ngữ ở chương trình Ngữ văn 11 chuẩn

    SKKN Vận dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy các  bài phong cách ngôn ngữ ở chương trình Ngữ văn 11 chuẩn

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Đất nƣớc bƣớc vào thời kỳ đổi mới, kinh tế phát triển nhanh và ổn định. Điều đó
    cũng ảnh hƣởng tích cực đến quá trình giảng dạy và học tập ở nhà trƣờng phổ thông nói
    chung, việc giảng dạy và học tập bộ môn Ngữ văn nói riêng.
    Việc đổi mới nội dung, chƣơng trình sách giáo khoa môn Ngữ Văn đã đƣợc Bộ Giáo dục
    cho áp dụng đại trà trên toàn quốc. Theo xu thế đó, nếu không muốn để mình lạc hậu với kiến
    thức khoa học đang phát triển nhƣ vũ bão trên toàn cầu, tụt hậu với chính bản thân mình, đồng
    nghiệp và thậm chí với cả học sinh – đối tƣợng mà mình đang trực tiếp giảng dạy, ngƣời giáo viên
    buộc phải đặt mình vào tƣ thế thƣờng xuyên tiếp cận cái mới, tự trau dồi vốn kiến thức; linh hoạt,
    sáng tạo trong khâu tổ chức dạy học cũng nhƣ không ngừng phát hiện những phƣơng pháp dạy
    học tiên tiến hơn.
    2. Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp và tƣ duy quan trọng nhất của con ngƣời. Trong quá
    trình sống của mỗi cá nhân, ngôn ngữ không ngừng đƣợc hoàn thiện, phát triển cùng với sự
    phát triển của trí tuệ. Học và nghiên cứu Tiếng Việt cũng là học và nghiên cứu về một ngôn
    ngữ. Vì thế, nội dung học tập tiếng Việt trong nhà trƣờng phổ thông không chỉ là trang bị kiến
    thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt một cách có ý thức và hệ thống mà đây còn là phần học có
    tính chất công cụ, liên quan và ảnh hƣởng trực tiếp đến chất lƣợng dạy học ở tất cả các môn
    học khác. Tuy nhiên hiện nay, học sinh chƣa thực sự say mê và dành thời gian đúng mức cho
    môn Ngữ văn nói chung và phân môn Tiếng Việt nói riêng. Sự thụ động mài mòn năng lực
    nhận thức và những khả năng sáng tạo tiềm tàng của các em. Một trong những biện pháp khắc
    phục tình trạng này là chú ý tới khâu tổ chức quá trình dạy học. Trong đó nhấn mạnh đến nội
    dung, phƣơng pháp cũng nhƣ vai trò điều khiển của giáo viên. Trong thực tiễn xây dựng kế
    hoạch và tiến hành dạy học, ngƣời giáo viên thƣờng xuyên phải đối diện với câu hỏi: làm thế
    nào để lựa chọn phương pháp phù hợp và có hiệu quả ? Do vậy, dạy học tiếng Việt nói chung,
    các bài phong cách ngôn ngữ nói riêng theo hƣớng tích cực là cần thiết để cải thiện tình trạng
    dạy và học chƣa tốt hiện nay.
    Trong quá trình giảng dạy và đúc rút kinh nghiệm bản thân, tôi muốn trao đổi với các
    bạn đồng nghiệp về vấn đề “Vận dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong
    giảng dạy các bài “Phong cách ngôn ngữ” ở chương trình Ngữ văn 11(chuẩn)” để nâng cao
    hơn nữa việc dạy và học phân môn Tiếng Việt trong nhà trƣờng hiện nay.
    II. THỰC TRẠNG (trƣớc khi tạo ra sáng kiến)
    1. Thực trạng dạy học của giáo viên
    Chúng tôi tiến hành khảo sát thực tiễn việc dạy học các bài “Phong cách ngôn ngữ” trong
    chƣơng trình Ngữ văn 11 của giáo viên qua phiếu số 1 (phụ lục). Các phƣơng án A,B,C,D tƣơng
    ứng với các mức độ: Tốt, Khá, Trung bình, Yếu Kém.
    6
    Phiếu điều tra chúng tôi thực hiện với 12 giáo viên Ngữ văn trƣờng THPT A Nghĩa
    Hƣng
    Kết quả thu được như sau:

    TTNội dung điều traÝ kiến của giáo viên
    TốtKháTrung bìnhYếu
    SL%SL%SL%SL%
    1Nhận thức của giáo viên về việc
    dạy học các bài phong cách
    ngôn ngữ theo hƣớng đổi mới
    325541,732518,3
    2Hứng thú của giáo viên khi dạy
    các bài phong cách ngôn ngữ
    216,7433,3541,718,3
    3Tài liệu phục vụ cho việc dạy học
    các bài phong cách ngôn ngữ
    theo hƣớng đổi mới
    18,3325650216,7
    4Các phƣơng tiện dạy học hiện đại
    khi tiến hành dạy các bài
    phong cách ngôn ngữ theo
    hƣớng đổi mới
    650541,718,300
    5Đánh giá về hứng thú của học
    sinh khi học các bài phong
    cách ngôn ngữ
    0018,3216,7975
    6Đánh giá của giáo viên về kết quả
    tiếp thu kiến thức của học
    sinh khi học các bài phong
    cách ngôn ngữ
    325541,732518,3
    7Đánh giá của giáo viên về kết quả
    rèn luyện các bài phong cách
    ngôn ngữ của học sinh
    433,3325325216,7
    8Đánh giá của giáo viên về hệ
    thống bài tập phong cách
    ngôn ngữ
    433,3650216,700

    Nhận xét: Qua bảng tổng hợp trên, chúng tôi nhận thấy:
    – Về hứng thú của giáo viên khi dạy học các bài phong cách ngôn ngữ: Đa số giáo viên
    đều không mấy hứng thú. Khi dạy học các bài phong cách ngôn ngữ, một bộ phận không nhỏ
    7
    giáo viên cho rằng, phong cách ngôn ngữ không phải là mảng kiến thức lớn nên chỉ cung cấp
    cho các em những kiến thức cơ bản là đƣợc. Hơn nữa, một trở ngại trong vấn đề nhận thức của
    giáo viên là một số giáo viên có tâm lí ngại tìm tòi, khám phá, chƣa nhiệt tình trong việc đổi
    mới phƣơng pháp giảng dạy. Chính vì vậy, chất lƣợng dạy học các bài phong cách ngôn ngữ
    vẫn còn là điều đáng lo ngại.
    – Đánh giá chất lƣợng tiếp thu kiến thức và rèn luyện kĩ năng phân tích, kĩ năng viết bài
    văn của học sinh, các thầy cô tỏ ra lo ngại về sự thờ ơ của học sinh với tiết học phong cách
    ngôn ngữ. Mặc dù các em tiếp thu tƣơng đối tốt nhƣng chƣa chịu rèn luyện kĩ năng.
    – Nhƣ vậy, khó khăn là giáo viên vẫn còn nhiều lúng túng vì phải thay đổi cách dạy
    theo hƣớng khác hẳn với phƣơng pháp truyền thống. Điều đó yêu cầu giáo viên phải có sự
    nghiên cứu, đầu tƣ về kiến thức, chuẩn bị khá kĩ càng cho tiết học. Quan trọng hơn, giáo viên
    phải là ngƣời có năng lực linh hoạt. Nhìn chung, dạy học theo hƣớng tích cực phải huy động
    nhiều kiến thức, kĩ năng tổng hợp của giáo viên. Khó khăn tiếp theo là thiếu tài liệu hƣớng
    dẫn về việc đổi mới nội dung, phƣơng pháp dạy học. Giáo viên chƣa theo kịp xu hƣớng đổi
    mới. Nhiều thầy cô loay hoay không biết truyền đạt thế nào mới là tích cực, làm thế nào để
    đổi mới đồng bộ cả nội dung và phƣơng pháp, làm thế nào để tạo đƣợc những giờ học sôi
    nổi, có chất lƣợng.
    Thực trạng ấy, rõ ràng đã và đang ảnh hƣởng đến hiệu quả của tiết dạy phong cách
    ngôn ngữ .
    2. Thực trạng học tập của học sinh lớp 11
    Chúng tôi tiến hành khảo sát 87 học sinh ở hai lớp 11A1 và 11A8 trƣờng THPT A
    Nghĩa Hƣng qua phiếu điều tra số 2 (phụ lục). Các phƣơng án A,B,C,D tƣơng ứng với các mức
    độ: Tốt, Khá, Trung bình, Yếu Kém.

    Tên trƣờngLớpSố HS
    tham
    gia
    Kết quảGhi chú
    Số phiếu
    phát ra
    Số phiếu
    thu về
    THPT A Nghĩa
    Hƣng
    Thực nghiệm
    11A1
    424242
    Đối chứng
    11A8
    454545

    Kết quả thu được như sau:

    TTNội dung đánh giáÝ kiến của học sinh
    TốtKháTrung bìnhYếu
    SL%SL%SL%SL%
    Kĩ năng phân tích và kĩ năng

    8

    1tạo lập văn bản1011,51517,22528,83742,5
    2Khả năng vận dụng sáng tạo
    của học sinh khi phân tích
    và tạo lập văn bản
    1416,13439,13034,5910,3
    3Hứng thú của học sinh khi học
    tập các bài phong cách ngôn
    ngữ
    33,420233034,53439,1
    4Yêu cầu về phƣơng pháp dạy
    học tích cực
    5563,23034,522,300

    Nhận xét: Qua bảng trên có thể thấy :
    – Học sinh không có hứng thú học tập các bài phong cách ngôn ngữ
    – Học sinh chƣa biết cách tìm hiểu tiếp thu các kiến thức về phong cách ngôn ngữ
    – Thói quen học thụ động vẫn còn khá phổ biến. Đa số các em không quan tâm đến
    hoạt động tự tìm đến tri thức mà quen nghe, chép và ghi nhớ, tái hiện một cách máy móc, rập
    khuôn những gì mà giáo viên đã giảng. Điều này làm triệt tiêu óc sáng tạo, suy nghĩ của ngƣời
    học, biến ngƣời học thành quen suy nghĩ, diễn đạt bằng ý vay mƣợn, lời sẵn có. Vì chƣa có
    hào hứng, chƣa quen bộc lộ suy nghĩ tình cảm của cá nhân trƣớc tập thể nên khi phải nói và
    viết, học sinh cảm thấy rất khó khăn.
    – Các em đều mong muốn các tiết dạy phong cách ngôn ngữ có sử dụng hiệu quả các
    phƣơng pháp dạy học tích cực.
    Trƣớc thực trạng còn nhiều tồn tại trên, vấn đề đặt ra cấp thiết là phải đổi mới phương
    pháp dạy học. Và cốt lõi của việc đổi mới này là chú trọng hơn nữa phƣơng pháp tự học cho
    học sinh, khả năng hợp tác, khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; đa dạng hóa các hình
    thức hoạt động học tập, xây dựng môi trƣờng học tập tích cực, tƣơng tác, thể hiện rõ đặc trƣng
    bộ môn; tạo động lực học tập Ngữ văn cho học sinh, giúp học sinh thực sự hứng thú, say mê
    với môn học.
    III. GIẢI PHÁP
    1. Các phƣơng pháp và kĩ thuật dạy học tích cực
    1.1. Quan niệm và đặc trưng của dạy học tích cực
    Phƣơng pháp dạy học hiện đại xuất hiện ở các nƣớc phƣơng Tây (Mỹ, Pháp…) từ đầu thế kỷ
    XX và đƣợc phát triển mạnh từ nửa sau của thế kỷ, có ảnh hƣởng sâu rộng tới các nƣớc trên
    thế giới, trong đó có Việt Nam. Đó là cách thức dạy học theo lối phát huy tính tích cực, chủ
    động của học sinh. Trên website summerschool.edu.vn có đề xuất mô hình 1.1:
    9
    Hình 1.1

    Environment: môi trƣờng
    Content: Nội dung
    Interactions: tƣơng tác
    Assessment: đánh giá
    Instructional Strategies: chiến lƣợc dạy
    học
    Engagement: tham gia
    Studen centerd learning: học sinh làm
    trung tâm

    Theo quan điểm này, quá trình dạy học là một hệ thống toàn vẹn, bao gồm nhiều yếu
    tố có mối quan hệ biện chứng với nhau. Phƣơng pháp dạy học hiện nay là phƣơng pháp dạy
    học tích cực; ở đó, giáo viên là ngƣời giữ vai trò hƣớng dẫn, gợi ý, tổ chức, giúp cho ngƣời
    học tự tìm kiếm, khám phá những tri thức mới theo kiểu tranh luận, thảo luận nhóm. Ngƣời
    thầy có vai trò là trọng tài, cố vấn, điều khiển tiến trình giờ dạy. Phƣơng pháp dạy học này
    rất chú ý đến đối tƣợng học sinh, coi trọng vị thế chủ động, tích cực của ngƣời học. Giáo viên
    là ngƣời nêu tình huống, kích thích hứng thú, suy nghĩ và phân xử các ý kiến đối lập của học
    sinh; từ đó hệ thống hoá các vấn đề, tổng kết bài giảng, khắc sâu những tri thức cần nắm
    vững. Ƣu điểm của phƣơng pháp dạy học tích cực rất chú trọng kỹ năng thực hành, vận dụng
    giải quyết các vấn đề thực tiễn, coi trọng rèn luyện và tự học. Đặc điểm của dạy học theo
    phƣơng pháp này là giảm bớt thuyết trình, diễn giải; tăng cƣờng dẫn dắt, điều khiển, tổ chức,
    xử lý tình huống.
    Nhƣ vậy, “Tích cực” trong phƣơng pháp dạy học đƣợc dùng với nghĩa là hoạt động, chủ
    động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với nghĩa tiêu
    cực. Việc dùng thuật ngữ “Dạy và học tích cực” nhằm phân biệt với “Dạy và học thụ động”.
    1.2. Các phương pháp dạy học tích cực
    1.2.1. Phương pháp dạy học nhóm
    Dạy học nhóm còn đƣợc gọi bằng những tên khác nhau nhƣ: Dạy học hợp tác, dạy
    học theo nhóm nhỏ, trong đó học sinh của một lớp học đƣợc chia thành các nhóm nhỏ, trong
    khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân
    10
    công và hợp tác làm việc. Kết quả làm việc của nhóm sau đó đƣợc trình bày và đánh giá
    trƣớc toàn lớp.
    Dạy học nhóm nếu đƣợc tổ chức tốt sẽ phát huy đƣợc tính tích cực, tính trách nhiệm;
    phát triển năng lực cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp của học sinh.
    1.2.2. Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề
    Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là phƣơng pháp dạy học đặt ra trƣớc học sinh
    các vấn đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chƣa biết, chuyển học
    sinh vào tình huống có vấn đề, kích thích họ tự lực, chủ động và có nhu cầu mong muốn giải
    quyết vấn đề.
    1.2.3. Phương pháp trò chơi
    Là một hình thức học tập kết hợp với vui chơi dƣới sự tổ chức hƣớng dẫn của ngƣời
    giáo viên.
    Mục đích: Hình thành cho học sinh một hình thức tự củng cố kiến thức, kĩ năng, thói
    quen học tập một cách hứng thú, thói quen làm việc theo nhiều quy mô (cá nhân, nhóm, lớp)
    nhằm phát triển trí thông minh, óc sáng tạo để giải quyết các vấn đề các tình huống đặt ra,
    hình thành khả năng hợp tác giữa các cá nhân với nhau. Phƣơng pháp sử dụng trò chơi học tập
    này dƣợc dùng ở tất cả các cấp học ở nhà trƣờng phổ thông và sƣ phạm.
    1.2.4. Dạy học theo dự án ( Phương pháp dự án)
    Dạy học theo dự án còn gọi là phƣơng pháp dự án, trong đó học sinh thực hiện một
    nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với thực hành.
    Nhiệm vụ này đƣợc ngƣời học thực hiện với tính tự lực cao, từ việc lập kế hoạch đến
    việc thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện dự án. Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm.
    Kết quả dự án là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu đƣợc.
    1.2.5. Phương pháp vấn đáp
    Vấn đáp là phƣơng pháp trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc học
    sinh có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên, qua đó học sinh lĩnh hội đƣợc nội dung bài
    học. Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, ngƣời ta phân biệt các loại phƣơng pháp vấn
    đáp:
    – Phương pháp vấn đáp tái hiện
    – Vấn đáp giải thích – minh họa
    – Phương pháp vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơxrixtic)
    1.2.6. Phương pháp thuyết trình
    Để thu hút sự chú ý của ngƣời học và tích cực hóa phƣơng pháp thuyết trình ngay khi
    mở đầu bài học giáo viên có thể thông báo vấn đề dƣới hình thức những câu hỏi có tính chất
    định hƣớng hoặc có tính chất “xuyên tâm”. Trong quá trình thuyết trình bài giảng, giáo viên có
    thể thực hiện một số hình thức thuyết trình thu hút sự chú ý của học sinh nhƣ sau:
    – Trình bày kiểu nêu vấn đề
    11
    – Thuyết trình kiểu thuật chuyện
    – Thuyết trình kiểu mô tả, phân tích
    – Thuyết trình kiểu nêu vấn đề có tính giả thuyết
    – Thuyết trình kiểu so sánh, tổng hợp
    1.3. Các kĩ thuật dạy học tích cực
    1.3.1. Kĩ thuật đặt câu hỏi
    Là việc giáo viên chuẩn bị một hệ thống các câu hỏi để học sinh suy nghĩ và phát hiện
    kiến thức, phát triển nội dung bài học, đồng thời khuyến khích học sinh động não tham gia
    thảo luận xoay quanh những ý tƣởng trọng tâm của bài học theo trật tự logic. Kết quả là học
    sinh vừa lĩnh hội đƣợc kiến thức mới, đồng thời biết đƣợc cách thức đi đến kiến thức đó,
    trƣởng thành thêm một bƣớc về trình độ tƣ duy.
    – Kĩ thuật đặt câu hỏi 5W1H
    Khái niệm 5W1H đƣợc cho là có nguồn gốc từ bài thơ “The Elephant’s Child” của
    Rudyard Kipling. Bài thơ này nhƣ sau:
    “I have six honest serving – men
    They taught me all I knew
    Their name are What and Where anh When
    And How and Why and Who”.
    Tạm dịch nhƣ sau:
    “Tôi có sáu ngƣời đầy tớ trai trung thực
    Họ đã dạy cho tôi biết mọi thứ
    Tên của họ là What và Where và When
    Và How và Why và Who”.
    5W1H viết tắt từ các từ sau: What? (Cái gì?), Where? (Ở đâu?), When (Khi nào?), Why
    (Tại sao?), How (Nhƣ thế nào?), Who? (Ai?).
    1.3.2. Kĩ thuật khăn phủ bàn
    Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác, kết hợp giữa hoạt động cá nhân và
    hoạt động nhóm nhằm kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực; tăng cƣờng tính độc lập học
    tập, trách nhiệm của mỗi cá nhân học sinh, phát triển mô hình có sự tƣơng tác qua lại giữa học
    sinh với học sinh.
    Sơ đồ kĩ thuật khăn phủ bàn có thể được minh họa như sau:
    12
    Sơ đồ kĩ thuật “Khăn phủ bàn”
    1.3.3. Kĩ thuật mảnh ghép
    Là hình thức học tập có sự hợp tác giữa cá nhân, nhóm và sự liên kết giữa các nhóm
    nhằm giải quyết một nhiệm vụ phức hợp (có nhiều chủ đề); kích thích sự tham gia tích cực của
    học sinh; nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (không chỉ hoàn thành nhiệm vụ
    ở vòng 1 mà còn phải truyền đạt kết quả vòng 1 và hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 2).
    1.3.4. Kĩ thuật bể cá
    Là kĩ thuật dùng cho thảo luận nhóm, trong đó một nhóm học sinh ngồi trƣớc lớp và
    thảo luận với nhau, còn những học sinh khác theo dõi cuộc thảo luận đó và sau khi kết thúc
    cuộc thảo luận thì đƣa ra những nhận xét về cách ứng xử của những học sinh tham gia thảo
    luận.
    1.3.5. Kỹ thuật động não (tiếng Anh brainstorming: sự vận dụng trí tuệ (động não) tập
    thể để giải quyết một vấn đề phức tạp)
    Động não là kỹ thuật trong dạy học nhằm giúp học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinh
    đƣợc nhiều ý tƣởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó.
    Để thực hiện kỹ thuật này, giáo viên cần đƣa ra một hệ thống các thông tin làm tiền đề cho
    buổi thảo luận.
    1.3.6. Kĩ thuật sơ đồ tư duy
    Sơ đồ tƣ duy là một hình thức ghi chép có thể sử dụng các màu sắc, hình ảnh để mở
    rộng và đào sâu các ý tƣởng. Các ý tƣởng đƣợc liên kết với nhau khiến sơ đồ tƣ duy có thể bao
    quát đƣợc các ý tƣởng trên một phạm vi rộng. Kĩ thuật này phù hợp với tâm sinh lí học sinh,
    đơn giản dễ hiểu thay cho việc ghi nhớ lí thuyết bằng ghi nhớ dƣới dạng sơ đồ hóa kiến thức.
    1.3.7. Kĩ thuật “KWL”
    Là sơ đồ liên kết các kiến thức đã biết liên quan đến bài học, các kiến thức muốn biết
    và các kiến thức học đƣợc sau bài học.
    Khái niệm “KWL” là sự viết tắt của các từ K (Know) – Những điều đã biết; W (Want
    to know) – Những điều muốn biết; L (Learned) – Những điều đã học đƣợc.
    13
    Nhƣ vậy, việc vận dụng các phƣơng pháp, kĩ thuật dạy học vào việc dạy học các bài
    phong cách ngôn ngữ là một yêu cầu của quá trình dạy học tích cực. Khi tiến hành tiết dạy,
    giáo viên cần vận dụng các phƣơng pháp và kĩ thuật dạy học tích cực một cách linh hoạt và
    sáng tạo.
    2. Vận dụng các phƣơng pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy các bài “Phong
    cách ngôn ngữ” ở chƣơng trình Ngữ văn 11 (chuẩn)
    2.1. Yêu cầu đối với giáo viên và học sinh
    2.1.1. Với giáo viên
    Nhƣ chúng tôi đã trình bày ở phần thực trạng, việc dạy học môn Ngữ văn nói chung, phân
    môn Tiếng Việt, đặc biệt các bài phong cách ngôn ngữ nói riêng rơi vào tình trạng khô khan,
    nhàm chán. Muốn khắc phục tình trạng đó, trƣớc hết yêu cầu ngƣời giáo viên phải thay đổi
    nhận thức, thói quen dạy học tiếng Việt, trong đó có các bài phong cách ngôn ngữ. Vậy thay
    đổi nhƣ thế nào? Ở bài viết này tôi xin đề xuất một số hƣớng nhƣ sau:
    a. Thứ nhất: Giáo viên phải tích cực tự học, tự đọc
    – Học cái gì? Câu hỏi này liên quan đến nội dung kiến thức mà giáo viên muốn truyền tải cho
    học sinh. Không thể đứng trên bục giảng và nói nhƣ một cái máy khi ngƣời giáo viên không
    hiểu bản chất của vấn đề. Tôi chỉ xin đi vào vấn đề mà sáng kiến muốn nghiên cứu đó là các
    bài phong cách ngôn ngữ. Vậy để có đƣợc một bài giảng tốt, trƣớc hết giáo viên cần trang bị
    các kiến thức chuyên môn liên quan đến phong cách ngôn ngữ. Ví dụ nhƣ:
    + Khái niệm “phong cách”:
    Theo “Từ điển tiếng Việt” (2002), do Hoàng Phê chủ biên, “phong cách” là “những
    lối, những cung cách sinh hoạt, làm việc, hoạt động, xử sự tạo nên cái riêng của một người
    hay một loại người nào đó”.
    Theo Tiến sĩ Trƣơng Thông Tuần (Giám đốc trung tâm Khoa học Xã hội và nhân văn –
    Trƣờng Đại học Tây Nguyên) cho rằng: “Phong cách học là một tổ chức hữu cơ của tất cả
    các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch sử, và chứa đựng một giá trị lịch sử có
    thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại, một tác phẩm hay một tác giả”.
    Từ đó có thể hiểu: Phong cách là những đặc điểm riêng của mỗi người (phong cách nói
    năng, phong cách thời trang…) những đặc điểm đó làm nên nét riêng biệt ở mỗi người, làm
    cho người này khác với người kia.
    + Phong cách ngôn ngữ
    Theo “Từ điển tiếng Việt” (2002), do Hoàng Phê chủ biên, “phong cách ngôn ngữ”
    là:“Dạng của ngôn ngữ sử dụng trong những yêu cầu chức năng điển hình nào đó, khác với
    những dạng khác về đặc điểm từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm. Phong cách ngôn ngữ khoa học.
    Phong cách ngôn ngữ chính luận. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật”.
    Cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” (2007) do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
    Phi đồng chủ biên viết: “Trong ngôn ngữ, do thực hiện những chức năng khác nhau, do được
    14
    sử dụng trong những tập đoàn xã hội hoặc những giới nghề nghiệp khác nhau, dần dần hình
    thành những “phong cách ngôn ngữ” khác nhau. Chẳng hạn phong cách ngôn ngữ khoa học,
    phong cách ngôn ngữ hành chính, phong cách ngôn ngữ văn học…”
    Từ những khái niệm trên, có thể hiểu về phong cách ngôn ngữ nhƣ sau: “Phong cách
    ngôn ngữ là một dạng của ngôn ngữ được sử dụng trong những yêu cầu và chức năng điển
    hình nhất định. Phong cách ngôn ngữ rất đa dạng, có phong cách ngôn ngữ chính luận, phong
    cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật…”
    Giáo viên cần trang bị cho mình những hiểu biết về các vấn đề liên quan tới phong
    cách, phong cách ngôn ngữ, các loại phong cách ngôn ngữ và những đặc trƣng của nó. “Biết
    mười nhưng chỉ nói một”, chỉ khi có kiến thức phong phú, ngƣời giáo viên mới có thể chọn lọc
    để truyền tải đến học sinh những kiến thức trọng tâm nhất, cốt lõi nhất.
    – Học bằng cách nào?
    + Nguồn sách chính thống theo quy định:
    Sách giáo khoa Ngữ văn 11 tập 1, 2 của Bộ GD & ĐT
    Sách giáo viên Ngữ văn 11 tập 1, 2 của Bộ GD & ĐT
    Sách bài tập Ngữ văn 11 tập 1, 2 của Bộ GD & ĐT
    + Nguồn sách tham khảo: Hiện nay trên thị trƣờng, sách tham khảo rất nhiều, nếu không
    muốn nói là tràn lan. Do vậy, lựa chọn những cuốn sách uy tín, có chất lƣợng là điều cần thiết,
    tránh tình trạng đọc ồ ạt, dễ dãi. Để giảng dạy các bài phong cách ngôn ngữ theo hƣớng đổi
    mới, các bạn đồng nghiệp có thể tìm đọc các cuốn sách nhƣ:
    “Từ điển tiếng Việt” (2002) do Hoàng Phê chủ biên
    “Từ điển thuật ngữ văn học” (2007) do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng
    chủ biên.
    Đây là những tài liệu đáng tin cậy trong quá trình tìm hiểu các khái niệm và thuật ngữ
    thƣờng sử dụng trong các bài tiếng Việt.
    Về vấn đề đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng tích cực, giáo viên có thể tìm đọc một
    số tƣ liệu nhƣ:
    Giáo trình “ Phương pháp dạy học tiếng Việt” của tác giả Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi
    Minh Toán
    Cuốn sách “Áp dụng dạy và học tích cực bộ môn Tiếng Việt”, NXB Đại học Sƣ phạm, Hà
    Nội, 2002, của các tác giả Trần Bá Hoành, Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phƣơng Nga
    Và gần đây nhất, một bộ sách quý Đổi mới phương pháp dạy học gồm các cuốn Nghệ thuật
    và khoa học dạy học – tác giả Robert J. Marzano; Những phẩm chất của người giáo viên
    hiệu quả – tác giả James H. Stronge; Tám đổi mới để trở thành người giáo viên giỏi – tác giả
    Giselle O. Martin-Kniep; Quản lí hiệu quả lớp học – tác giả Robert J. Marzano, Jana S.
    Marzano & Debra J. Pickering; Đa trí tuệ trong lớp học – tác giả Thomas Armtrong; Các
    phương pháp dạy học hiệu quả – tác giả Robert J. Marzano, Debra J. Pickering, Jane E.
    15
    Pollock;… Bộ sách này do NXB Giáo dục, Hà Nội dịch và xuất bản trong hai năm 2013 và
    2014 đã mở ra những hƣớng nghiên cứu mới và là tiền đề quan trọng cho việc vận dụng các
    phƣơng pháp dạy học tích cực vào dạy học nói chung và dạy học Tiếng Việt nói riêng.
    + Nguồn internet và các phương tiện thông tin đại chúng: Đó là một thế giới tri thức khổng lồ
    mà bất cứ ai cũng có thể tìm kiếm. Tuy nhiên, các kiến thức trên internet chỉ nên coi là sự
    tham khảo và cần có chọn lọc. Ở đây, tôi xin giới thiệu một số trang bài có thể tham khảo
    đƣợc trong quá trình dạy học các bài phong cách ngôn ngữ:
    Bài giảng về phong cách học của TS Trƣơng Thông Tuần – Đại hoc Tây Nguyên, trên trang
    web: truongthongtuan.com
    Bài giảng “phương pháp dạy học tiếng Việt cho học sinh THPT” của giáo viên Nguyễn Đăng
    Châu – Khoa Ngữ văn – Đại học sƣ phạm – Đại học Đà Nẵng trên trang web:
    nguvan.ued.udn.vn
    Bài giảng học phần “Ngữ dụng và phong cách học tiếng Việt” của Khoa Ngữ văn trƣờng Đại
    học Tây Bắc trên trang web: nguvan.utb.edu.vn
    Ngoài ra giáo viên cần tiếp cận và thu thập thông tin từ các phƣơng tiện nhƣ báo chí,
    truyền hình để có đƣợc sự hiểu biết phong phú về các vấn đề liên quan đến phong cách.
    + Nguồn từ thực tiễn đời sống
    Trong quá trình giao tiếp hàng ngày, quá trình giảng dạy trên lớp hay từ thực tiễn công
    việc cụ thể nhƣ: xin giấy tờ, chuẩn bị bài thuyết trình, viết sáng kiến…giáo viên có thể tự đúc
    rút kinh nghiệm cho bản thân về kiến thức phong cách học. Đó cũng là hình thức giáo viên tự
    học, tự bồi dƣỡng kiến thức chuyên môn. Lý thuyết chỉ có thể sâu sắc khi đƣợc áp dụng vào
    thực tiễn đời sống.
    b. Thứ hai: Giáo viên phải đổi mới cách dạy
    – Cần vận dụng các phƣơng pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong quá trình dạy học (các
    phƣơng pháp và kĩ thuật này chúng tôi đã trình bày ở trên)
    – Trong quá trình tổ chức dạy học: Giáo viên là ngƣời khơi gợi, dẫn dắt, định hƣớng để học sinh
    chủ động lĩnh hội kiến thức
    – Tổ chức dạy học thực hành: cần linh hoạt, đa dạng nhằm tạo hứng thú cho học sinh
    – Đổi mới kiểm tra đánh giá: Kiểm tra đánh giá phải theo đặc thù của phân môn tiếng Việt nói
    chung và các bài phong cách ngôn ngữ nói riêng. Hình thức kiểm tra: trắc nghiệm hoặc tự
    luận, lý thuyết kết hợp với bài tập.
    2.1.2. Với học sinh
    – Yêu cầu chuẩn bị bài ở nhà: Đọc sách giáo khoa, tìm kiếm các thông tin liên quan đến phong
    cách ngôn ngữ
    – Tích cực tham gia các hoạt động trong giờ học để chủ động lĩnh hội kiến thức
    – Biết cách sử dụng ngôn ngữ và tạo lập văn bản đúng đặc trƣng phong cách ngôn ngữ
    16
    2.2. Vận dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy các bài “Phong
    cách ngôn ngữ” ở chương trình Ngữ văn 11 (chuẩn)
    Chƣơng trình Ngữ văn 11 (chuẩn) gồm hai bài phong cách ngôn ngữ:
    – Phong cách ngôn ngữ báo chí (2 tiết), Ngữ văn 11, tập 1
    – Phong cách ngôn ngữ chính luận (2 tiết), Ngữ văn 11, tập 2
    2.2.1. Dạy học lý thuyết
    2.2.1.1.Phương pháp dạy học lí thuyết
    Trong tiết dạy học lí thuyết, chúng tôi lựa chọn các phƣơng pháp dạy học tích cực:
    * Phương pháp vấn đáp
    Khi dạy học các bài phong cách ngôn ngữ, giáo viên nên tận dụng hệ thống câu hỏi
    trong SGK, SGV và sách thiết kế bài giảng kết hợp với việc bổ sung các câu hỏi nhằm khái
    quát kiến thức. Ví dụ:
    Với bài “Phong cách ngôn ngữ chính luận”
    – Câu hỏi trong SGK: Đọc các đoạn trích trong các văn bản chính luận sau và tìm hiểu
    về: Thể loại của văn bản? Mục đích viết văn bản? Thái độ, quan điểm của ngƣời viết đối với
    những vấn đề đƣợc đề cập đến?
    – Câu hỏi trong SGV: Câu văn trong bài bình luận thời sự đƣợc sắp đặt nhƣ thế nào?
    Tìm các biện pháp tu từ trong đoạn trích Việt Nam đi tới?
    – Câu hỏi trong sách thiết kế bài giảng: Phong cách ngôn ngữ chính luận là gì? Phân
    tích các khái niệm ở mục I.1 trong SGK để làm rõ khái niệm trên? Nhận xét chung về văn bản
    chính luận và ngôn ngữ chính luận? Cho biết các phƣơng tiện diễn đạt của phong cách ngôn
    ngữ chính luận? Phong cách ngôn ngữ chính luận có mấy đặc trƣng cơ bản? Là những đặc
    trƣng nào?

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Nâng cao hiệu quả hoạt động nhóm trong dạy học môn Ngữ văn THPT

    SKKN Nâng cao hiệu quả hoạt động nhóm trong dạy học môn Ngữ văn THPT

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới “căn bản toàn diện” giáo dục và đào tạo
    Đổi mới giáo dục là một yêu cầu tất yếu đang đặt ra đối với tất cả các
    ngành học, cấp học của hệ thống giáo dục trong những thập kỉ đầu thế kỉ
    XXI.Ngày 4 tháng 11năm 2013, Ban chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị
    quyết 29-NQ/TW vềĐổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đã nêu rõ
    định hướng đổi mới giáo dục là “chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu chú
    trọng trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người
    học”, “học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường
    kết hợp với gia đình và giáo dục xã hội”, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân
    lực trong giai đoạn phát triển mới của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
    và hội nhập quốc tế của đất nước. Để thực hiện tư tưởng đó, cần “tiếp tục đổi
    mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích
    cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc
    phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học,
    cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới
    tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực”, “nội dung hình thức kiểm tra thi và đánh
    giá kết quả giáo dục phải chú trọng đánh giá việc hiểu, vận dụng kiến thức kĩ
    năng vào giải quyết các vấn đề trong học tập và thực tiễn…”.Ngày 08-10-2014,
    Bộ GD và ĐT ban hành công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH hướng dẫn sinh
    hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá, tổ chức
    và quản lí các hoạt động chuyên môn của trường trung học/ trung tâm giáo dục
    thường xuyên qua mạng. Cuối năm 2014, Quốc hội cũng đã thông qua Nghị
    quyết số 88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa GDPT, nhằm
    mục đích “tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo
    dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp
    phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát
    triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hoà trí, đức, thể, mỹ và phát huy
    tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh”. Đến cuối năm 2018, Bộ Giáo dục và đào
    tạo đã ban hành Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT về việc ban hành chương trình
    giáo dục phổ thông. Đứng trước yêu cầu đổi mới giáo dục thì đổi mới phương
    2
    pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất người học là một
    giải pháp được xem là then chốt, có tính đột phá cho việc thực hiện đổi mới căn
    bản, toàn diện giáo dục và nâng cao hiệu quả giáo dục.
    Đổi mới phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không
    chỉ chú ý tích cực hóa học sinhvề hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng
    lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp,
    đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Đổi mới
    phương pháp dạy học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người
    học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi
    chép, tìm kiếm thông tin,…), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc
    lập, sáng tạo của tư duy. Việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực phải
    đảm bảo nguyên tắc “học sinh được tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với
    sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.
    Đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn là chuyển những kết quả về
    đổi mới phương pháp dạy học cả chương trình Ngữ văn hiện hành từ “mặt bên
    ngoài” vào “mặt bên trong” để phát huy hiệu quả đổi mới phương pháp dạy học,
    đáp ứng mục tiêu hình thành và phát triển năng lực của học sinh. Các lý thuyết
    hiện đại thường được nhắc đến: lý thuyết đa trí tuệ (Howard Gardner), lý thuyết
    hoạt động (Leonchiev), lý thuyết kiến tạo (đại diện là Piagiê, Vưgốtki),… và
    quan điểm “lấy học sinh làm trung tâm” chính là cơ sở để xác định các nội dung
    đổi mới phương pháp dạy học.
    Bên cạnh những phương pháp dạy học theo đặc trưng của bộ môn Ngữ
    văn như dạy học đọc hiểu, dạy học tích hợp thì việc phát huy các phương pháp
    dạy học tích cực cũng góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn
    đạt hiệu quả, nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn. Trong đó phương pháp
    thảo luận nhóm được sử dụng phổ biến. Thảo luận nhóm là một trong những
    phương pháp dạy học tạo được sự tham gia tích cực của học sinh trong học tập.
    Trong thảo luận nhóm, học sinh được tham gia trao đổi, bàn bạc, chia sẻ ý kiến
    về một vấn đề mà cả nhóm cùng quan tâm. Phương pháp thảo luận nhóm được
    sử dụng hiệu quả sẽ hình thành những năng lực cần thiết cho người học.
    3
    2. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của cuộc sống
    Xã hội ngày càng phát triển, đòi hỏi mỗi người cần phải có nền tảng kĩ
    năng nhất định để trở thành những “công dân toàn cầu”. Mục tiêu giáo dục của
    chúng ta hiện nay đang tích cực rèn luyện kĩ năng sống, phát triển năng lực cho
    học sinh. Rời ghế nhà trường để bước vào đời, các em không phải chỉ là những
    người có trình độ, có kiến thức mà còn cần là người có kĩ năng sống, có năng
    lực giải quyết các vấn đề. Đó là “khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho
    phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc
    sống hàng ngày” (WHO). Có năng lực, kĩ năng sống giúp chúng ta giải quyết
    những nhu cầu và thách thức khi phải đối mặt một cách có hiệu quả. Sống trong
    xã hội hiện đại, người có năng lực, có kĩ năng sống sẽ cho phép họ sự tự do,
    rộng rãi trong việc lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với khả năng của cá nhân
    mình và khi đã chọn được nghề nghiệp phù hợp thì năng lực, kĩ năng của họ
    ngày càng được hoàn thiện hơn và hoạt động của họ luôn luôn có kết quả hơn.
    Hoạt động nhóm là hoạt động hình thành nhiều kĩ năng và năng lực cần thiết cho
    học để họ tự tin bước vào cuộc sống hiện đại ngày nay.
    3. Xuất phát từ thực tế dạy học hiện nay
    Thực hiện đổi mới Chương trình và SGK, trong đó có hoạt động dạy
    học Ngữ văn theo hướng hình thành và phát triển năng lực, các kĩ năng cho
    HS, tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học hình thành những kĩ năng và năng
    lực nào cho người học?
    Hoạt động nhóm kích thích lòng ham mê học tập, tìm tòi, sáng tạo của
    học sinh, tránh lối học thụ động. Giúp học sinh phát triển kĩ năng giải quuyết
    vấn đề theo nhóm, có tinh thần đoàn kết cao. Học sinh hợp tác hỗ trợ lẫn nhau
    trong quá trình học tập, tự đánh giá, tự điều chỉnh vốn tri thức của bản thân
    bằng phương pháp tự học và khám phá thêm những kiến thức liên quan từ
    thực tiễn. Khi hoạt động nhóm dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh sẽ
    phát huy được tính tích cực, chủ động của mình trong việc chiếm lĩnh tri thức
    bài học. Điều này giúp người học ghi nhớ kiến thức sâu sắc hơn. Năng lực
    giao tiếp và hợp tác được phát triển mạnh trong hoạt động nhóm.
    Tuy nhiên, hiện nay nhiều giáo viên vẫn còn lúng túng khi tổ chức hoạt
    động nhóm trong dạy học môn Ngữ văn khiến cho hoạt động này không đạt
    4
    được hiệu quả như mong muốn, không tạo được hứng thú học tập cho người
    học, không hình thành và phát triển được các kĩ năng, năng lực thiết yếu cho
    người học.
    Xuất phát từ những lí do: dạy học hiện đại là dạy học hướng đến việc phát
    triển năng lực, kĩ năng cho người học; hoạt động nhóm có nhiều lợi thế trong
    việc rèn luyện kĩ năng và phát triển năng lực cho người học. Đây là một trong
    những hình thức tổ chức dạy học phát huy cao tính tích cực, năng động, tự lực,
    sáng tạo cho học sinh đồng thời rèn luyện kĩ năng hợp tác, phân tích, lắng nghe,
    suy nghĩ, phản hồi và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả. Đây là những năng
    lực và kĩ năng cần có trong xã hội hiện đại khi các em tự mình bước đi trong
    cuộc sống với những công việc của mình. Từ những kinh nghiệm của bản thân
    sau những năm tham gia giảng dạy bộ môn Ngữ văn trong chương trình THPT,
    chúng tôi xin trình bày những điều đúc rút được từ thực tiễn qua đề tài: “Nâng
    cao hiệu quả hoạt động nhóm trong dạy học môn Ngữ vănTHPT”.Chúng tôi
    nhận thấy đây là những điều thiết thực và bổ ích có thể góp phần vào việc nâng
    cao chất lượng giảng dạy và rèn luyện kĩ năng, năng lực cần thiết cho học sinh
    THPT.
    5
    PHẦN II: MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    A. MÔ TẢ GIẢI PHÁP TRƯỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN
    Đổi mới phương pháp dạy học không còn là điều xa lạ đối với giáo viên.
    Bên cạnh các phương pháp dạy học tích cực mang tính chất đặc thù cho bộ môn
    Ngữ văn như phương pháp dạy học đọc hiểu, đóng vai,… thì phương pháp thảo
    luận nhóm cũng đem lại hiệu quả giáo dục cao và được giáo viên sử dụng nhiều
    trong giờ học. Bởi lẽ phương pháp này huy động được tất cả học sinh tham gia
    vào hoạt động học tập, nâng cao tính tương tác giữa các thành viên, người học
    có cơ hội được trao đổi, thảo luận, lắng nghe, học hỏi kiến thức của nhau, người
    học được rèn luyện và phát triển kĩ năng giao tiếp, thuyết trình… Tuy nhiên,
    trong quá trình tổ chức hoạt động nhóm vẫn còn nhiều hạn chế khiến hiệu quả
    hoạt động nhóm chưa đạt hiệu quả cao.Để có thêm cơ sở thực tiễn, chúng tôi
    tiến hành điều tra, khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học
    môn Ngữ văn cho học sinh ở trường THPT. Tôi tiến hành tìm hiểu thực tế việc
    tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học môn Ngữ văn thông qua những hình thức
    như: phỏng vấn, trao đổi với giáo viên, trò chuyện với học sinh, sử dụng phiếu
    thăm dò ý kiến đối với giáo viên và học sinh ở trường THPT Trần Văn Lan –
    Huyện Mỹ Lộc – Tỉnh Nam Định.
    1. Khảo sát tình hình tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học môn Ngữ vănở
    nhà trường phổ thông đối với giáo viên
    Như chúng tôi đã đề cập, trong nhiều năm trở lại đây, dạy học theo định
    hướng phát triển năng lực cho HS là mục tiêu trọng tâm hàng đầu của ngành
    giáo dục Việt Nam. Riêng đối với bộ môn Ngữ văn, ngoài năng lực đọc – hiểu
    văn bản thì năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực học và tự chủ,… cũng được
    các nhà sư phạm rất chú trọng. Tôi đã tiến hành khảo sát 58 GV Ngữ văn của
    một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Nam Định.
    1.1. Phiếu khảo sát giáo viên
    Hãy cho biết ý kiến của thầy (cô) bằng cách khoanh tròn vào chữ số tương
    ứng theo quy ước trong từng câu hỏi hoặc đánh dấu X vào ô tương ứng:
    6
    Câu 1: Trong quá trình dạy học môn Ngữ văn, thầy/ cô có thường xuyên tổ
    chức hoạt động nhóm cho học sinh không?

    a. Rất thường xuyênb. Thường xuyên
    c. Không thường xuyênd. Không khi nào

    Câu 2: Theo thầy/ cô hoạt động nhóm góp phần hình thành và phát triển
    những năng lực như thế nào cho học sinh không?

    a. Rất quan trọngb. Quan trọng
    c. Bình thườngd. Không quan trọng

    Câu 3: Thầy/ cô đánh giá như thế nào về kĩ năng làm việc nhóm của học
    sinh?

    a. Rất tốtb. Tốt
    c. Bình thườngd. Không tốt

    Câu 4: Trong quá trình tổ chức hoạt động nhóm, thầy/ cô gặp những khó
    khăn gì?

    Những khó khănMức độ khó khăn (%)
    Cực kì
    khó
    khăn
    Nhiều
    khó
    khăn
    Ít
    khó
    khăn
    Không
    khó
    khăn
    Quản lí lớp học (lớp học ồn ào,…)
    Thời lượng tiết học (không đủ thời gian 1 tiết
    học…)
    Cách chia nhóm
    Thu hút học sinh tham gia hoạt động nhóm một
    cách tích cực
    Giao nhiệm vụ học tập
    Đánh giá hiệu quả hoạt động nhóm
    Không gian lớp học
    Các trang thiết bị dạy học (máy tính, máy chiếu,
    hệ thống âm thanh,…)

    7
    1.2. Kết quả khảo sát

    Câu
    hỏi
    Các mức độ
    1234
    SL%SL%SL%SL%
    158,64068,91322,500
    2915,54374,1610,300
    300915,52746,62237,9

    Câu 4:

    Những khó khănMức độ khó khăn (%)
    Cực kì
    khó
    khăn
    Nhiều
    khó
    khăn
    Ít
    khó
    khăn
    Không
    khó
    khăn
    Quản lí lớp học (lớp học ồn ào,…)20,760,319,00
    Thời lượng tiết học (không đủ thời gian 1 tiết
    học…)
    43,146,610,30
    Cách chia nhóm12,18,610,369,0
    Thu hút học sinh tham gia hoạt động nhóm một
    cách tích cực
    44,836,212,16,9
    Giao nhiệm vụ học tập024,122,453,4
    Đánh giá hiệu quả hoạt động nhóm13,829,348,38,6
    Không gian lớp học31,329,322,417,0
    Các trang thiết bị dạy học (máy tính, máy chiếu,
    hệ thống âm thanh,…)
    6,920,720,751,7

    8
    1.3. Phân tích số liệu và đưa ra nhận xét
    Ở câu hỏi số 1: đa số giáo viên thường xuyên tổ chức hoạt động nhóm
    trong dạy học cho học sinh và không có giáo viên nào chưa từng ứng dụng tổ
    chức hoạt động nhóm trong dạy học. Đây là điều đáng mừng. Bởi lẽ các thầy cô
    đều tích cực đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy
    và phát triển các năng lực, kĩ năng vốn có của người học.
    Đối với câu hỏi số 2, đa số giáo viên đều khẳng định họat động nhóm góp
    phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất cho
    học sinh thông qua hoạt động nhóm. Nhưng cũng đáng buồn là có10,3% giáo
    viên chưa thấy được tầm quan trọng của hoạt động nhóm trong việc hình thành
    và phát triển các kĩ năng cần thiết cho người học đáp ứng nhu cầu của xã hội.
    Đánh giá về kĩ năng làm việc nhóm của học sinh, đã phần giáo viên đều
    đánh giá học sinh chưa có kĩ năng làm việc nhóm tốt: 37,9% giáo viên cho rằng
    học sinh có kĩ năng làm việc nhóm không tốt, 46,6% giáo viên đánh giá học sinh
    có kĩ năng làm việc nhóm ở mức bình thường. Thực tế này cho thấy việc tổ chức
    hoạt động nhóm chưa thực sự hiệu quả, học sinh chưa được hình thành những kĩ
    năng cơ bản cho việc làm việc nhóm.
    Chia sẻ về những khó khăn khi tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học
    môn Ngữ văn, tôi nhận thấy: Đa số giáo viên đều không gặp khó khăn trong việc
    chia nhóm thảo luận và giao nhiệm vụ học tập cho học sinh. Đặc biệt, trang thiết
    bị lớp học hiện nay cũng được nhà trường chú trọng đầu tư. Vì vậy giáo viên có
    điều kiện ứng dụng đa dạng các phương pháp dạy học tích cực cho học sinh.
    Tuy nhiên, việc tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học lại gặp không ít khó
    khăn. Cụ thể:
    – Hoạt động nhóm đòi hỏi học sinh phải trao đổi, thảo luận trong nhóm
    nên sẽ gay ra tiếng ồn, chưa kể có những học sinh ý thức chưa tốt sẽ lợi dụng cơ
    hội để nói chuyện riêng. Vì thế 60,3% giáo viên cảm thấy khó khăn thậm chí có
    20,7% giáo viên thấy rất khó khăn trong việc quản lí lớp học khi tổ chức hoạt
    động nhóm.
    – Để tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh đòi hỏi phải có thời gian để
    cho học sinh hoạt động nhóm, trình bày kết quả hoạt động. Nếu giáo viên chia
    thành nhiều nhóm nhỏ thì việc đánh giá kết quả của học sinh cũng gặp không ít
    9
    khó khăn. Do đó 43,1% giáo viên thấy rất khó khăn và 46,6% giáo viên tháy khó
    khăn khi điều chỉnh hoạt động cho phù hợp thời lượng của tiết dạy 45 phút.
    – Thu hút học sinh tích cực tham gia hoạt động nhóm cũng không phải là
    điều dễ dàng. Có tới 80% giáo viên gặp khó khăn khi tạo hứng thú để học sinh
    tham gia tích cực hoạt động nhóm.
    – Một khó khăn nữa trong việc tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh đó là
    không gian lớp học. 60,6% giáo viên gặp khó khăn ở vấn đề này. Hiện nay,
    nhiều trường THPT, không gian lớp học hạn hẹp khiến việc tổ chức hoạt động
    nhóm gặp nhiều khó khăn trong việc di chuyển, xếp bàn ghế ghép nhóm,…
    2. Khảo sát tình hình tham gia hoạt động nhóm trong giờ học môn Ngữ
    vănở nhà trường phổ thông đối với học sinh
    Chúng tôi sử dụng 150 phiếu điều tra cho 05 lớp 11 ban khoa học cơ bản
    trường THPT Trần Văn Lan – Huyện Mỹ Lộc – Tỉnh Nam Định.
    2.1. Phiếu khảo sát học sinh
    Hãy cho biết ý kiến của anh/ chị bằng cách khoanh tròn vào chữ số tương
    ứng theo quy ước trong từng câu hỏi hoặc đánh dấu X vào ô tương ứng:
    Câu 1: Lớp anh/ chị có thường xuyên được tham gia hoạt động nhóm trong
    giờ học môn Ngữ văn không?

    a. Rất thường xuyênb. Thường xuyên
    c. Không thường xuyênd. Không khi nào

    Câu 2: Khi học tập theo nhóm, anh/ chị tham gia hoạt động nhóm một cách:

    a. Rất tích cựcb. Tích cực
    c. Chưa tích cựcd. Không tham gia

    Câu 3: Khi học tập theo nhóm, việc phân công công việc ở nhóm anh/ chị
    thường diễn ra theo hướng nào?
    a. Tập trung vào cá nhân xuất sắc
    b. Mỗi người một việc rồi tập hợp lại
    c. Trải đều công việc cho các thành viên
    d. Cách riêng của nhóm anh/ chị:……………………………………………………………
    ………………………………………………………………………………………………………..
    10
    Câu 4: Khi tham gia hoạt động nhóm anh/ chị gặp những khó khăn nào?

    Những khó khănMức độ khó khăn (%)
    Cực kì
    khó
    khăn
    Nhiều
    khó
    khăn
    Ít
    khó
    khăn
    Không
    khó
    khăn
    Bày tỏ quan điểm của bản thân
    Lắng nghe ý kiến các thành viên trong nhóm
    Ghi chép ý kiến các thành viên trong nhóm
    Phản hồi các thành viên trong nhóm
    Thống nhất ý kiến trong nhóm
    Hợp tác để thực hiện nhiệm vụ học tập

    Câu 5: Anh/ chị có thích học tập theo nhóm trong giờ học môn Ngữ văn
    không?

    a. Cób. Không
    2.2. Kết quả khảo sát
    Câu
    hỏi
    Các mức độ
    1234
    SL%SL%SL%SL%
    13221,39865,42013,300
    2003724,77348,74026,7
    Các lựa chọn
    abcd
    39664,02818,7149,3128,0

    11
    Câu 4:

    Những khó khănMức độ khó khăn (%)
    Cực kì
    khó
    khăn
    Nhiều
    khó
    khăn
    Ít
    khó
    khăn
    Không
    khó
    khăn
    Bày tỏ quan điểm của bản thân20,057,318,74,0
    Lắng nghe ý kiến các thành viên trong nhóm10,017,345,327,3
    Ghi chép ý kiến các thành viên trong nhóm18,728,731,321,3
    Phản hồi các thành viên trong nhóm50,024,021,34,7
    Thống nhất ý kiến trong nhóm8,022,737,332,0

    Câu 5: Lựa chọn có: 56 HS – 37,3%
    Lựa chọn không: 94 HS – 62,7%
    2.3. Phân tích số liệu và đưa ra nhận xét
    Ở câu hỏi số 1: Học sinh khẳng định thường xuyên được tham gia các
    hoạt động nhóm trong giờ học môn Ngữ văn (86,7%). Mặc dù thường xuyên
    được tham gia các hoạt động nhóm trong giờ học, tuy nhiên học sinh lại chưa
    tham gia tích cực các hoạt động nhóm. Có tới 48,7% học sinh tham gia hoạt
    động nhóm với thái độ chưa tích cực. Thậm chí 26,7% học sinh không tham gia.
    Đây là điều đáng lo ngại. Bởi lẽ điều đó chứng tỏ hoạt động nhóm trong giờ học
    chưa đạt hiệu quả, giáo viên chưa tạo được hứng thú cho học sinh tham gia vào
    các hoạt động nhóm. Cũng chính vì thế, khi hoạt động nhóm, công việc được
    phân công chủ yếu vào cá nhân xuất sắc (64,0%) mà không được phân công một
    cách hợp lí cho các thành viên khác trong nhóm.
    Chia sẻ những khó khăn khi tham gia hoạt động nhóm, học sinh đều gặp
    khó khăn trong việc bày tỏ quan điểm của cá nhân (77,7% gặp nhiều và rất nhiều
    khó khăn, 18,7% gặp ít khó khăn trong việc diễn đạt suy nghĩ của bản thân). Bên
    cạnh đó việc ghi chép ý kiến của các thành viên trong nhóm khi thảo luận cũng
    là một vấn đề không hề đơn giản. 76,7% học sinh gặp khó khăn khi chưa biết
    cách ghi chép lại nội dung ý kiến của các bạn. Từ đó việc ghi nhớ kiến thức và
    12
    phản biện của học sinh không được rèn luyện và phát triển. Và học sinh không
    thích tham gia các hoạt động nhóm trong giờ học môn Ngữ văn (62,7%).
    3. Đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân hạn chế việc tổ chức hoạt
    động nhóm trong dạy học môn Ngữ văn THPT
    3.1. Ưu điểm
    – Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học môn Ngữ văn ở trường phổ
    thông được giáo viên sử dụng thường xuyên nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo
    dục, nâng cao chất lượng giảng dạy và rèn luyện, phát triển năng lực phẩm chất
    cho người học.
    – Trong cách thức tổ chức hoạt động nhóm, các thầy cô đã đa dạng hóa
    cách chia nhóm, cụ thể hóa việc giao nhiệm vụ học tập cho học sinh.
    3.2. Hạn chế
    3.2.1. Về phía học sinh
    Đa phần học sinh trường THPT Trần Văn Lan có học lực trung bình khá.
    Nhiều học sinh còn lười học, mải chơi, ý thức học tập và rèn luyện chưa tốt. Đối
    với các hoạt động học tập, các em còn ỷ lại, thụ động, chưa có ý thức chủ động
    trong việc tiếp nhân kiến thức. Vì vậy, khi giáo viên tổ chức hoạt động nhóm
    còn nhiều hạn chế. Cụ thể:
    – Trong hoạt động nhóm chỉ có một số em tham gia (chủ yếu là học sinh
    khá giỏi), số còn lại không tham gia hoặc tham gia không tích cực.
    – Các thành viên trong nhóm chưamạnh dạn bày tỏ quan điểm của bản
    thân, nhiệm vụ học tập thường chỉ do một vài cá nhân chăm chỉ thực hiện.
    – Nhóm hoạt động tự do, nhóm trưởng chưa biết điều hành hoặc còn rụt
    rè, nhút nhát.
    – Việc báo cáo kết quả thường chỉ do một học sinh thường xuyên thực
    hiện không luân phiên thay đổi.
    3.2.2. Về phía giáo viên
    – Việc dạy học theo nhóm còn mang nặng tính hình thức, chưa thực sự
    chú ý đến hiệu quả của hoạt động đến tất cả học sinh.
    – Giáo viên quy định thời lượng chưa phù hợp với dung lượng kiến thức
    và năng lực học sinh nên hiệu quả hoạt động nhóm chưa cao.
    13
    – Giáo viên ít quan tâm sâu sát đến hoạt động của nhóm, của cá nhân yếu
    kém trong nhóm.
    – Giờ học còn lộn xộn, ồn ào.
    – Việc đánh giá sản phẩm hoạt động nhóm chưa hiệu quả nên chưa thúc
    đẩy được sự tiến bộ của người học.
    3.2.3. Nguyên nhân hạn chế
    Những hạn chế trên xuất phát từ nguyên nhân khách quan và chủ quan.
    * Nguyên nhân khách quan:
    – Do không gian lớp học còn hạn hẹp mà sĩ số học sinh đông nên việc tổ
    chức hoạt động lớn gặp nhiều khó khăn.
    – Để thực hiện hoạt động nhóm cần thời gian cho mỗi cá nhân thực hiện
    và thời gian thảo luận để đưa ra ý kiến chung của nhóm nên tốn thời gian, đôi
    khi vượt quá thời gian quy định của một tiết học.
    * Nguyên nhân chủ quan
    – Về phía học sinh:
    + Kĩ năng hợp tác học sinh của học sinh chưa tốt, học sinh chưa mạnh
    dạn, tự tin.
    +Học sinh chưa biết tìm kiếm sự trợ giúp của thầy cô hoặc bè bạn khi
    gặp khó khăn.
    +Học sinh chưa biết lắng nghe ý kiến của bạn và chưa tích cực chủ
    động suy nghĩ đưa ra ý kiến của riêng mình.
    + Học sinh còn ỷ lại, thụ động, chưa có ý thức tốt trong học tập và rèn
    luyện.
    – Về phía giáo viên
    + Giáo viên giao nhiệm vụ học tập chưa cụ thể, rõ ràng, chưa phù hợp
    với đối tượng học sinh.
    +Giáo viên chưa sử dụng linh hoạt, đa dạng các kĩ thuật dạy học trong
    phương pháp thảo luận nhóm để thay đổi trạng thái người học, duy trì sự tập
    trung cao độ trong học tập.
    + Giáo viên chưa đa dạng hóa các hình thức đánh giá kết quả các hoạt
    động nhóm để ghi nhận, khích lệ, thúc đẩy sự tiến bộ của người học.
    14
    + Giáo viên chưa tạo được không khí lớp học sôi nổi, tạo cảm hứng
    học tập cho người học.
    B. MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI CÓ SÁNG KIẾN
    1. Giải pháp chung: Một số vấn đề lí luận
    Để nâng cao hiệu quả hoạt động nhóm trong dạy học môn Ngữ văn, giáo
    viên cần phải nắm được một số vấn đề chung về lí luận sau:
    1.1. Khái niệm hoạt động nhóm
    Theo Đại từ điển Tiếng Việt, nhóm là “tập hợp các cá thể lại với nhau
    theo những nguyên tắc nhất định”. Hiểu theo cách trên, nhóm là tập hợp những
    con gnười có hành vi tương tác lẫn nhau để thực hiện các mục tiêu (chung và
    riêng) và thỏa mãn các nhu cầu cá nhân.
    Hoạt động nhóm trong dạy học (hay còn gọi là dạy học hợp tác) là một
    hình thức tổ chức dạy học mà trong đó học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo
    viên làm việc cùng nhau trong những nhóm nhỏ để hoàn thành mục đích học tập
    chung của nhóm đặt ra. Trong hoạt động nhóm có nhiều mối quan hệ giao tiếp:
    giữa các học sinh với nhau, giữa giáo viên với từng học sinh.
    Hoạt động nhóm cho phép các thành viên trong nhóm chia sẻ những băn
    khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng phương pháp nhận thức
    mới.
    Trong hoạt động nhóm, quá trình học tập trở thành quá trình học hỏi lẫn
    nhau về kiến thức, kĩ năng và phương pháp học tập, kĩ năng giao tiếp và các kĩ
    năng xã hội khác.
    1.2. Những nét đặc trưng của hoạt động nhóm
    Hoạt động nhóm có 4 nét đặc trưng cơ bản:
    – Hoạt động xây dựng nhóm: luôn đòi hỏi sự nỗ lực của từng cá nhân và
    cùng chia sẻ trách nhiệm lãnh đạo nhóm, trao đổi trực diện.
    – Có sự phụ thuộc tích cực giữa các cá nhân: cá nhân phải nỗ lực hoàn
    thành phần việc của mình. Thành công của cá nhân tạo nên thành công của cả
    nhóm.
    15
    – Có sự ràng buộc trách nhiệm cá nhân – trách nhiệm nhóm: các thành
    viên cùng nhau hỗ trợ trong việc thực hiện nhiệm vụ chung của nhóm và tự đánh
    giá kết quả công việc của mình, của các thành viên khác.
    – Có kĩ năng hợp tác trong hoạt động học tập: học sinh không chỉ lĩnh hội
    kiến thức mà còn được học, được thực hành và thể hiện mình, phát triển và củng
    cố các kĩ năng xã hội như lắng nghe, đặt câu hỏi, trả lời, giảng bài cho nhau, giải
    quyết xung đột…
    1.3. Những yêu cầu cần rèn luyện cho học sinh khi tổ chức hoạt động nhóm
    Khi tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học, cần chú ý tới việc phát triển
    các kĩ năng sau cho học sinh:
    – Phát triển kĩ năng hợp tác:
    + Hoạt động nhóm là hình thức dạy học có chiến lược giáo dục mạnh
    mẽ và linh hoạt, có những nét đặc trưng cơ bản của dạy học hiện đại, làm cho
    học sinh thích ứng với xã hội hiện đại.
    + Sau khi làm việc nhóm, tình đoàn kết, ý thức tập thể sẽ được tăng lên
    nhờ sự thông hiểu nhau. Đồng thời các thành viên trong nhóm sẽ biết tuân thủ
    các quy định, trước hết là của nhóm. Đây là tiền đề để sau này học sinh là những
    công dân tuân thủ pháp luật tốt.
    – Phát triển kĩ năng giao tiếp và các kĩ năng xã hội khác:
    + Học sinh có nhiều cơ hội thảo luận, tranh luận, phát biểu bình đẳng,
    thể hiện sự hiểu biết của mình và học hỏi kinh nghiệm từ bạn. Qua đó rèn luyện
    cho học sinh cách trình bày, bảo vệ quan điểm của mình, cách thuyết phục và
    thương lượng trong việc giải quyết vấn đề và biết cách lắng nghe người khác
    cũng như phát triển kĩ năng như phê bình, phân tích, giải quyết vấn đề.
    + Qua hoạt động nhóm, bên cạnh sự hình thành và phát triển cho học
    sinh khả năng làm việc nhóm còn có các năng lực xã hội khác như năng lực lãnh
    đạo, đưa ra quyết định, xây dựng lòng tin, xử lí xung đột, cổ vũ, động viên,…
    học sinh trở nên mềm dẻo và linh hoạt hơn trong giao tiếp.
    2. Giải pháp cụ thể: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nhóm
    trong dạy học môn Ngữ văn
    16
    2.1. Giải pháp 1: Tạo không khí lớp học
    Để đạt hiệu quả cao trong giờ học và phát huy tính tích cực của học sinh,
    việc tạo không khí lớp học vui vẻ, hứng khởi là điều không thể thiếu. Trong giờ
    học, dù giáo viên sử dụng phương pháp dạy học nào đi nữa mà không tạo được
    không khí lớp học thì hoạt động dạy học cũng sẽ không đạt được kết quả như
    mong đợi và không thể thu hút học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động dạy
    học mà mình tổ chức. Bởi lẽ khi cảm xúc được khơi nguồn thì những kiến thức
    bài học sẽ được lưu giữ trong trí nhớ một cách tự nhiên. Có nhiều cách để tạo
    không khi lớp học trong đó người viết giới thiệu hai cách như sau:
    – Giáo viên sử dụng thẻ tên. Thẻ tên này được làm trong buổi đầu tiên
    của năm học mới. Giáo viên phát cho học sinh một tờ giấy nhỏ, yêu cầu học sinh
    ghi tên của mình lên đó và trang trí theo sở thích của mình. Tên trên thẻ có thể
    không phải là họ tên đầy đủ của học sinh mà có thể là nickname hay biệt danh
    thú vị của học trò. Trên thẻ tên, học sinh có thể viết thêm những câu danh ngôn,
    slogan của bản thân mình. Giáo viên sử dụng thẻ tên để gọi học sinh trả lời hoặc
    kiểm tra bài cũ. Việc sử dụng thẻ tên vừa khiến cho không khí lớp vui vẻ khi
    giáo viên đọc những biệt danh hài hước của học trò lại vừa đặt học sinh vào tâm
    thế luôn sẵn sàng trong giờ học, học sinh không thể không tập trung vào bài
    giảng của giáo viên. Thẻ tên cũng có thể được sử dụng để ghi chú quá trình học
    tập của bản thân học sinh ở mặt sau của thẻ tên. Đây là một trong số những căn
    cứ để giáo viên đánh giá kết quả học tập và quá trình tiến bộ của người học.
    17
    Ảnh: Thẻ tên của học sinh
    – Giáo viên sử dụng âm nhạc trong giờ học. Giáo viên có thể sử dụng
    các bản nhạc không lời để tạo không khí lớp học. Ví dụ: khi học sinh thảo luận
    nhóm về nội dung bài học, giáo viên có thể sử dụng bản nhạc không lời với tiết
    tấu nhẹ nhàng để kích thích tư duy người học. Hoặc khi giáo viên tổ chức cho
    học sinh hoạt động theo nhóm ghép thì sử dụng bản nhạc có tiết tấu nhanh, dồn
    dập trong quá trình học sinh di chuyển về nhóm ghép,… Việc sử dụng âm nhạc
    trong giờ học đòi hỏi giáo viên phải lựa chọn được những bản nhạc phù hợp với
    nội dung hoạt động mà mình định tổ chức cho học sinh.
    2.2. Giải pháp 2: Giao nhiệm vụ cụ thể, phù hợp và có những quy định rõ
    ràng về thời gian, âm lượng
    Để hoạt động nhóm đạt hiệu quả, việc đầu tiên người giáo viên phải làm
    là giao nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng cho các nhóm học sinh. Việc giao nhiệm vụ cụ
    thể rõ ràng này sẽ giúp cho bản thân mỗi học sinh xác định được nội dung mà
    18
    mình cần chuẩn bị hoặc nghiên cứu. Từ đó học sinh sẽ chủ động trong quá trình
    tham gia thảo luận.
    Ví dụ: Khi dạy học bài Tác giả Nguyễn Đình Chiểu, giáo viên giao nhiệm
    vụ học tập như sau:
    – Nhóm 1: Tìm hiểu những nét cơ bản về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu.
    – Nhóm 2: Tìm hiểu những đặc điểm nội dung thơ văn Nguyễn Đình
    Chiểu trước khi thực dân Pháp xâm lược.
    – Nhóm 3: Tìm hiểu những đặc điểm nội dung thơ văn Nguyễn Đình
    Chiểu sau khi thực dân Pháp xâm lược.
    – Nhóm 4: Tìm hiểu những đặc điểm nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Đình
    Chiểu.
    Một trong số các nguyên nhân khiến cho hoạt động nhóm chưa hiệu quả
    đó là do giáo viên chưa quy định chặt chẽ về thời gian. Đôi khi giáo viên cần tạo
    áp lực về thời gian thảo luận cho học sinh, buộc học sinh phải làm việc hết công
    suất. Trong hoạt động này, giáo viên có thể sử dụng bộ công cụ
    https://www.online-stopwatch.com/ để quản lý thời gian hiệu quả hơn.
    Khi tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh, nhiều giáo viên e ngại việc
    thảo luận nhóm sẽ ảnh hưởng tới các lớp khác vì gây ồn ào, lộn xộn. Đó là do
    giáo viên chưa quản lý được âm lượng của học sinh. Trước khi hoạt động thảo
    luận nhóm diễn ra, giáo viên phải có quy định rõ ràng về mức âm lượng mà HS
    phải tuân thủ. Giáo viên có thể đưa ra các mức thang âm lượng cho người học
    như sau:
    Mức 2: Âm lượng vừa đủ cho 4
    người nghe (khi HS thảo luận theo
    nhóm 4 HS)
    … Mức n: Âm lượng
    vừa đủ cho cả lớp
    nghe (khi HS tham
    gia trình bày trước
    lớp).
    Mức 1: Âm lượng vừa đủ cho 2 người nghe
    (khi HS thảo luận theo nhóm cặp đôi)
    19
    Đồng thời, giáo viên cũng phải quy địnhhọc sinh nào vi phạm thang âm
    lượng sẽ bị trừ điểm không chỉ của cá nhân học sinh vi phạm mà còn bị trừ điểm
    cả nhóm tham gia thảo luận cùng học sinh. Hình thức trừ điểm này sẽ giúp cá
    nhân học sinh tự ý thức được về thang âm lượng mà mình sử dụng đồng thời
    cũng sẽ được các bạn cùng nhóm nhắc nhở khi có dấu hiệu vi phạm thang âm
    lượng.
    2.3. Giải pháp 3: Sử dụng linh hoạt các kỹ thuật dạy học tích cực trong việc tổ
    chức hoạt động nhóm
    Hoạt động nhóm đạt hiệu quả khi mỗi thành viên trong nhóm đều được
    tham gia bàn luận, được lắng nghe và tôn trọng; mọi học sinh đều tích cực làm
    việc, cá nhân người học được rèn luyện kĩ năng cơ bản như hợp tác, lắng nghe
    tích cực, đặt câu hỏi, phản biện, thuyết trình, ghi chép,… Để đạt được điều đó
    đòi hỏi mỗi giáo viên phải luôn luôn tìm tòi và đưa ra các kĩ thuật day học tích
    cực để thu hút, lôi cuốn học sinh tham gia thảo luận nhóm hiệu quả. Trong phạm
    vi bài viết, người viết đưa ra một số kĩ thuật dạy học tích cực tạo hiệu quả hoạt
    động nhóm như sau:
    2.3.1. Kỹ thuật “Hẹn hò”
    a. Chuẩn bị
    – HS tự thiết kế cho mình một chiếc đồng hồ trên giấy học sinh, ghi rõ các
    khung giờ.
    – Trên trang giấy ghi rõ họ và tên học sinh. Đồng hồ hẹn hò này cũng
    đồng thời là phiếu học tập để học sinh ghi chép những nội dung đã trao đổi được
    với đối tác.
    20
    Ảnh: Phiếu hẹn hò của học sinh
    21
    Ảnh: Phiếu hẹn hò đồng thời là phiếu học tập,
    học sinh ghi chép những thông tin cần thiết trong quá trình hẹn hò.
    – HS được giao nhiệm vụ tìm hiểu các nội dung bài học.
    b. Thực hiện
    – Bước 1: Tìm đối tác. Học sinh có 1 phút 30 giây để tìm đối tác cho mình
    tại các khung giờ trên đồng hồ. Số lượng đối tác được tìm phải nhiều hơn số
    lượng nhiệm vụ được giao để tạo tính bất ngờ trong các cuộc hẹn.
    Ví dụ: Khi dạy học bài Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân (Ngữ văn
    11), giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh tìm hiểu 2 nội dung: Nội dung 1:
    Ngôn ngữ – tài sản chung của xã hội. Nội dung 2: Lời nói – sản phẩm riêng của
    cá nhân. Giáo viên phải yêu cầu học sinh tìm 3 đối tác.
    – Bước 2: Giáo viên yêu cầu học sinh tìm đối tác vào 1 khung giờ nhất
    định. học sinh có 10 giây để tìm đối tác hẹn hò.
    – Bước 3: Trao đổi thông tin hẹn hò. học sinh có khoảng thời gian phù hợp
    với nhiệm vụ được giao để trình bày trước đối tác. Trong khi nghe đối tác trình
    bày, học sinh phải ghi chép vào trong Phiếu học tập của mình. Có thể sử dụng
    22
    các cách ghi chú khác nhau. Ví dụ: dấu tích đồng ý khi đồng tình quan điểm với
    đối tác, dấu hỏi khi chưa hiểu nội dung đối tác trình bày,…
    c. Lưu ý
    – Khi thực hiện kỹ thuật này, giáo viên phải quy định chặt chẽ về thời gian
    di chuyển tìm đối tác, thời gian trao đổi thông tin. Đặc biệt việc học sinh quản lý
    âm lượng của mình khi di chuyển tìm đối tác. Giáo viên có thể đưa ra quy định
    tìm đối tác: “Từ ánh mắt đến trái tim”. Tức là học sinh chỉ được tìm nhau bằng
    ánh mắt chứ không được phát ra âm thanh. Cặp nào phát ra âm thanh sẽ bị trừ
    điểm.
    – Mỗi học sinh chỉ được hẹn với 1 đối tác tại 1 thời điểm.
    Ngoài việc tạo đồng hồ hẹn hò thì giáo viên có thể thay đổi bằng các địa
    điểm hẹn hò. Ví dụ địa điểm hành lang lớp học, ghế đá dưới gốc cây bàng,… để
    tăng thêm phần thú vị trong giờ dạy.
    2.3.2. Kỹ thuật “Mảnh ghép”
    a. Chuẩn bị
    Giáo viên chia lớp thành các nhóm tùy thuộc vào số nội dung giáo viên dự
    định tiến hành cho học sinh thảo luận. Số học sinh trong nhóm tương ứng với số
    nội dung thảo luận.
    Ví dụ: Khi dạy bài Tác giả Nguyễn Đình Chiểu, giáo viên xây dựng nội
    dung thảo luận gồm 4 nội dung:
    Nội dung 1: Những nét cơ bản về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu.
    Nội dung 2: Những đặc điểm nội dung thơ văn Nguyễn Đình Chiểu trước
    khi thực dân Pháp xâm lược.
    Nội dung 3: Những đặc điểm nội dung thơ văn Nguyễn Đình Chiểu sau
    khi thực dân Pháp xâm lược.
    Nội dung 4: Những đặc điểm nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu.
    Khi chia nhóm thảo luận, giáo viên chia thành các nhóm, mỗi nhóm gồm
    4 thành viên để khi thực hiện nhóm ghép thì mỗi nhóm ghép đều có một chuyên
    gia về nội dung nghiên cứu.
    b. Thực hiện
    * Vòng 1: Chuyên gia
    23
    – Các nhóm thảo luận nhiệm vụ chung của mỗi nhóm để ai cũng có thể trở
    thành “chuyên gia”. Mỗi chuyên gia mang một số thứ tự từ 1 đến hết số người
    trong nhóm.
    Ví dụ:
    * Vòng 2: Di chuyển – Nhóm ghép
    – Trong vòng 30 giây, các chuyên gia cùng số thứ tự sẽ di chuyển ghép
    với nhau tạo thành một nhóm mới. Ví dụ theo sơ đồ:
    – Các chuyên gia trong nhóm ghép tiến hành trao đổi thông tin lần lượt
    với nhau trong một khoảng thời gian quy định. Có quyền đặt câu hỏi cho chuyên
    gia nếu còn thắc mắc.
    c. Lưu ý
    – Giáo viên quy định chặt chẽ về thời gian và việc quản lý âm lượng của
    học sinh.
    – Số thành viên trong nhóm ghép bằng hoặc dư so với số nội dung thảo
    luận để khi thực hiện nhóm ghép thì mỗi nhóm ghép đều có một chuyên gia về
    nội dung nghiên cứu.
    Chuyên
    gia số 1
    (Nhóm 1)
    Chuyên
    gia số 3
    (Nhóm 3)
    Chuyên
    gia số 2
    (Nhóm 2)
    Nhóm 1
    1-2-3
    Nhóm 2
    1-2-3
    Nhóm 3
    1-2-3
    24
    – Đối với những lớp lần đầu thực hiện kỹ thuật mảnh ghép thì giáo viên có
    thể sử dụng thẻ màu phát cho học sinh để học sinh dễ nhận biết nhóm ghép của
    mình. Những học sinh có cùng thẻ màu thì về một nhóm.
    – Kỹ thuật mảnh ghép phù hợp với những bài có hệ thống kiến thức độc
    lập như văn học sử, tiếng việt.
    2.3.3. Kỹ thuật THINK – PAIR – SHARE
    THINK – PAIR – SHARE là kỹ thuật dạy học do giáo sư Frank Lyman
    trường đại học Maryland giới thiệu năm 1981.
    -Think: người học suy nghĩ độc lập về vấn đề được nêu ra từ đó tự hình
    thành nên ý tưởng của mình.
    – Pair: người học được ghép đôi với nhau để thảo luận về những ý tưởng
    của mình.
    – Share: Chia sẻ ý tưởng của mình với nhóm khác.
    Kỹ thuật THINK – PAIR – SHARE có hiệu quả cao trong việc hoạt
    động nhóm. Bởi lẽ, học sinh có thời gian suy nghĩ về câu trả lời, sau đó được
    chia sẻ với bạn. Người học có cơ hội trình bày, cụ thể hóa ý tưởng của mình.
    Nhờ đó việc nắm bắt, thấu hiểu và giải quyết vấn đề của người học được củng
    cố và trở nên tốt hơn. Do học sinhđược chia sẻ với bạn và tiếp thu được quan
    điểm khác từ bạn bè, họ sẽ sẵn sàng và ít e ngại hơn khi chia sẻ với một nhóm
    lớn hơn. Như vậy, không chỉ học hiệu quả hơn mà kĩ năng năng giao tiếp của
    người học cũng được cải thiện. Hơn nữa, khi chia sẻ ý tưởng thì người học chủ
    động hơn với việc học, biết tiếp thu, phản hồi ý tưởng từ bạn khác thay vì thụ
    động dựa vào lời giảng của giáo viên.
    Kỹ thuật THINK – PAIR – SHARE được tiến hành trong giờ học như sau:
    – Bước 1: THINK (suy nghĩ cá nhân) – học sinh suy nghĩ cá nhân giải
    quyết nhiệm vụ học tập mà giáo viên đưa ra. Thời gian tổ chức: tùy thuộc vào
    mục tiêu, độ khó, độ phức tạp của nhiệm vụ, có thể kéo dài từ 1′, 2′, 5′,…hoặc
    làm việc trước ở nhà.
    – Bước 2: PAIR (chia sẻ cặp đôi) – Giáo viên cho học sinhtrao đổi theo
    cặp đôi chia sẻ thông tin. Trong quá trình trao đổi, học sinh lần lượt trình bày
    hướng giải quyết của mình, người còn lại sử dụng kỹ năng ghi chú để ghi chép
    thông tin và đặ

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Nâng cao hiệu quả hoạt động vận dụng trong dạy học đọc hiểu văn bản Ngữ văn 10

    SKKN Nâng cao hiệu quả hoạt động vận dụng trong dạy học đọc hiểu văn bản Ngữ văn 10

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Thế giới đang bước vào thời đại 4.0, trong đó giáo dục đóng vai trò là động
    lực thúc đẩy cuộc cách mạng này đạt được mục tiêu của nó. Vì vậy, tư duy giáo
    dục hiện nay cũng phải thay đổi. Giáo dục không chỉ có sứ mệnh cung cấp kiến
    thức, rèn luyện kĩ năng mà quan trọng là phát triển tư duy và sự sáng tạo cho
    người học. Xu hướng chung của những nền giáo dục tiến bộ trên thế giới là xây
    dựng một nền giáo dục thực sự dân chủ. Giáo dục phổ thông nước ta cũng thực
    hiện bước chuyển mình từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận
    năng lực người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì
    đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được cái gì qua việc học. Hơn bao giờ hết,
    các nhà giáo dục đã tìm tòi những cách thức, phương pháp, phương tiện, kĩ thuật
    dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, hình thành và
    phát triển ở người học những kĩ năng, năng lực cần thiết, biết cách vận dụng nó
    để tự tin bước vào cuộc sống.
    Một trong những hoạt động học phát huy được vai trò chủ động, tích cực,
    sáng tạo của người học là hoạt động vận dụng. Bản chất của hoạt động học tập
    này là tạo cơ hội cho học sinh tổng kết những kiến thức, kĩ năng đã học thông
    qua việc phản hồi, chiêm nghiệm, ứng dụng những gì đã tiếp thu vào tình huống
    mới, giải quyết các vấn đề trong thực tiễn đòi hỏi vận dụng cao. Đây cũng là
    hoạt động mang tính sáng tạo nhằm phát triển cho học sinh những năng lực
    chung và năng lực chuyên biệt như: Năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng
    tạo, năng lực hợp tác, năng lực tự quản bản thân, năng lực cảm thụ thẩm mĩ,
    năng lực giao tiếp Tiếng Việt. Học sinh có thể thực hiện hoạt động vận dụng
    trên lớp, ngoài lớp, ở nhà hoặc cộng đồng. Tùy theo tính chất, giáo viên cũng có
    thể lồng ghép hoạt động vận dụng vào hoạt động luyện tập hoặc hoạt động mở
    rộng qua một số hình thức như: liên hệ với thực tế đời sống để làm rõ thông điệp
    tác giả gửi gắm trong tác phẩm, làm cho học sinh thấy gần gũi hơn và thấy rõ ý
    2
    nghĩa của tác phẩm vẫn ảnh hưởng đến đời sống hiện đại bằng cách tạo tình
    huống có vấn đề qua một video clip và hệ thống câu hỏi nêu vấn đề…
    Tuy nhiên các hoạt động vận dụng trong tiết học vẫn còn mang tính hình
    thức, qua loa, chưa được quan tâm đúng mức, nên giờ học chưa đạt được hiệu quả
    như mong muốn. Thực trạng ấy dẫn đến hệ quả lànhiều học sinh còn thụ động
    trong việc tiếp nhận văn bản; kĩ năng còn hạn chế và năng lực vận dụng tri thức đã
    học để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống chưa cao. Chúng tôi cho rằng
    cần phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc, chính xác hơn về hoạt động vận dụng vào
    dạy học nói chung, bộ môn Ngữ văn nói riêng ở trường phổ thông sao cho có
    hiệu quả.
    Từ những lí do trên, tôi lựa chọn vấn đề Nâng cao hiệu quả hoạt động vận
    dụng trong dạy học Đọc hiểu văn bản (Ngữ văn 10) làm Sáng kiến kinh nghiệm
    nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn học với mong muốn khắc phục thực
    trạng dạy học thiên về lí thuyết, “học gì biết nấy” trong trường phổ thông hiện
    nay, hướng tới mục đích “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để
    khẳng định mình” và lấy người học làm trung tâm.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    1.1. Yêu cầu của chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn
    Qua việc khảo sát yêu cầu Chương trình Ngữ văn nói chung và Ngữ văn
    10 nói riêng, tôi nhận thấy chương trình giáo dục phổ thông xác định mục tiêu
    chung của việc dạy học Đọc hiểu văn bản (Ngữ văn 10)như sau:
    – Có những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, hệ thống về những tác
    phẩm tiêu biểu cho các thể loại cơ bản của văn học Việt Nam và một số tác
    phẩm, đoạn trích của văn học nước ngoài.
    – Hình thành và phát triển các năng lực cơ bản với yêu cầu cao hơn cấp
    Trung học cơ sở, bao gồm: năng lực sử dụng tiến Việt thể hiện ở bốn kĩ năng cơ
    bản (đọc, viết, nghe, nói), năng lực tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mĩ, năng
    lực tự học và năng lực thực hành, ứng dụng.
    3
    – Có tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa; tình yêu gia đình, thiên nhiên;
    lòng tự hào dân tộc; ý chí tự lập, tự cường; tinh thần dân chủ, nhân văn ; nâng
    cao ý thức trách nhiệm công dân; ý thức tôn trọng, phát huy các giá trị văn hóa
    của dân tộc và nhân loại.
    Chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài của
    tất cả các văn bản Đọc hiểu (Ngữ văn 10). Dưới đây là một ví dụ:
    Bảng: 1.2. Hệ thống câu hỏi trong mục hướng dẫn học bài
    (Chủ đề Thơ trữ tình trung đại)

    Tỏ lòng
    (Phạm Ngũ Lão)
    Cảnh ngày hè
    (Nguyễn Trãi)
    Nhàn(Nguyễn
    Bỉnh Khiêm)
    Đọc Tiểu Thanh
    kí (Nguyễn Du)
    Câu 1: Chỉ ra
    điểm khác nhau
    giữa câu thơ đầu
    trong nguyên tác
    chữ Hán (qua
    phần dịch nghĩa)
    với câu thơ dịch.
    Có gì đáng lưu ý
    về không gian,
    thời gian trong đó
    con người xuất
    hiện? Con người
    ở đây mang tư
    thế, vóc dáng như
    thế nào?
    Câu 2: Anh (chị
    cảm nhận như thế
    nào về sức mạnh
    của quân đội nhà
    Câu 1: Trong bài
    thơ có nhiều động
    từ diễn tả trạng
    thái của cảnh
    ngày hè. Đó là
    những động từ,
    trạng thái của
    cảnh được diễn tả
    ra sao?
    Câu 2: Cảnh ở
    đây có sự hài hòa
    về âm thanh và
    Câu 1: Cách dùng
    số từ, danh từ
    trong câu thơ thứ
    nhất và nhịp điệu
    hai câu thơ đầu có
    gì đáng chú ý?
    Hai câu thơ ấy
    cho ta hiểu hoàn
    cảnh sống và tâm
    trạng tác giả như
    thế nào?
    Câu 2: Anh (chị)
    hiểu như thế nào
    là nơi vắng vẻ,
    chốn lao xao?
    Câu 1: Theo anh
    (chị) vì sao
    Nguyễn Du lại
    đồng cảm với số
    phận của nàng
    Tiểu Thanh?
    Câu 2: Câu Nỗi
    hờn kim cổ trời
    khôn hỏi có nghĩa
    gì? Nỗi hờn (hận)

    4

    Trần qua câu thơ
    ‘‘Ba quân khí
    mạnh nuốt trôi
    trâu’’)?
    Câu 3: ‘‘Nợ’’
    công danh mà tác
    giả nói tới trong
    bài thơ có thể
    hiểu theo nghĩa
    nào dưới đây:
    – Thể hiện chí
    làm trai theo tinh
    thần Nho giáo:
    lập công (để lại
    sự nghiệp), lập
    danh (để lại tiếng
    thơm)
    – Chưa hoàn
    thành nghĩa vụ
    đối với dân, với
    nước.
    – Cả hai nghĩa
    trên
    Câu 4: Phân tích
    ý nghĩa của nỗi
    màu sắc, cảnh vật
    và con người.
    Anh (chị) hãy
    phân tích và làm
    sáng tỏ.
    Câu 3: Nhà thơ
    đã cảm nhận cảnh
    vật bằng những
    giác quan nào?
    Qua sự cảm nhận
    ấy, anh (chị) thấy
    Nguyễn Trãi là
    người có tấm lòng
    như thế nào đối
    với thiên nhiên?
    Câu 4: Hai câu
    thơ cuối cho ta
    thấy tấm lòng của
    Nguyễn Trãi đối
    Quan điểm của
    tác giả về dại và
    khôn như thế
    nào? Tác dụng
    biểu đạt ý của
    nghệ thuật đối
    trong hai câu thơ
    3 và 4?
    Câu 3: Các sản
    vật và khung cảnh
    sinh hoạt trong
    hai câu 5 và 6 có
    gì đáng chú ý?
    Hai câu thơ cho
    thấy cuộc sống
    sinh hoạt của
    Nguyễn Bỉnh
    Khiêm như thế
    nào? (Quê mùa,
    khổ cực? Đạm
    bạc mà thanh
    cao? Hòa hợp với
    tự nhiên?) Phân
    tích giá trị nghệ
    thuật của hai câu
    thơ này?
    Câu 4: Đọc chú
    thích 4 để hiểu
    điển tích được
    ở đây là gì? Tại
    soa tá cgiar cho là
    không thể hỏi trời
    được?
    Câu 3: Nguyễn
    Du thương xót và
    đồng cảm với
    người phụ nữ có
    tài văn chương
    mà bất hạnh.
    Điều đó nói gì về
    tấm lòng của nhà
    thơ?
    Câu 4: Phân tích
    vai trò của mỗi
    đoạn thơ (đề,
    thực, luận kết) đối

    5

    ‘‘thẹn’’ trong hai
    câu thơ cuối
    Câu 5: Qua
    những lời thơ tỏ
    lòng, anh (chị)
    thấy trang nam
    nhi thời Trần
    mang vẻ đẹp thế
    nào? Điều đó có ý
    nghĩa gì đối với
    tuổi trẻ hôm nay
    và ngày mai
    với người dân
    như thế nào? Âm
    điệu câu thơ lục
    ngôn (sáu chữ)
    kết thúc bài thơ
    khác âm điệu
    những câu thất
    ngôn (bảy chữ)
    như thế nào? Sự
    thay đổi âm điệu
    như vậy có tác
    dụn gì trong việc
    thể hiện tình cảm
    của tác giả?
    vận dụng trong
    hai câu thơ cuối.
    Anh (chị) cảm
    nhận như thế nào
    về nhân cách
    nguyễn Bỉnh
    Khiêm?
    Câu 5:Quan niệm
    sông nhàn của
    Nguyễn Bỉnh
    Khiêm là gì?
    – Không vất vả
    cực nhọc
    – Không quan tâm
    đến xã hội, chỉ lo
    cho cuộc sống
    nhàn tản của bản
    thân.
    – Xa lánh chốn
    quyền quý để giữ
    cốt cách thanh
    với chủ đề toàn
    bài.

    6

    cao
    – Hòa hợp với tự
    nhiên
    Quan niệm sống
    đó tích cực hay
    tiêu cực? Vì sao?
    Câu hỏi phần
    luyện tập:
    Học thuộc bài thơ
    (bản phiên âm và
    bản dịch thơ)
    Câu hỏi phần
    luyện tập:
    Cảm hứng chủ
    đạo của bài thơ là
    gì?
    – Lòng yêu thiên
    nhiên.
    – Lòng yêu đời,
    yêu cuộc sống.
    – Khát vọng về
    cuộc sống thái
    bình, hạnh phúc
    cho nhân dân
    Từ việc lí giải
    cách lựa chọn của
    mình, anh (chị)
    hãy làm nổi bật
    vẻ đẹp tâm hồn
    của Nguyễn Trãi
    qua bài thơ
    Câu hỏi phần
    luyện tập:
    Nêu cảm nhận
    chung của anh
    (chị) về cuộc
    sống, nhân cách
    của nguyễn Bỉnh
    Khiêm qua bài
    thơ Nhàn
    Câu hỏi phần
    luyện tập:
    Đọc đoạn thơ sau
    đây trong Truyện
    Kiều (từ câu 107
    đến câu 110) và
    chỉ ra điểm tương
    đồng với bài
    ĐọcTiểu Thanh
    kí:
    Rằng: Hồng nhan
    tự thuở xưa,
    Cái điều bạc
    mệnh có chừa ai
    đâu.
    Nỗi niềm nghĩ
    đến mà đau,
    Thấy người nằm
    đó biết sau thế
    nào?

    Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy: chương trình đã có sự quan tâm đến
    việc “học sinh vận dụng được gì” qua mỗi tiết học Đọc hiểu văn bản. Tuy
    7
    nhiên, câu hỏi trong phần hướng dẫn học bài quan tâm nhiều tới nội dung kiến
    thức mà chưa chú ý đến việc đặt ra những tình huống có vấn đề để học sinh sáng
    tạo. Hệ thống câu hỏi, bài tập chưa đa dạng, cũng không có nhiều gợi mở cho
    học sinh về những hình thức vận dụng sau khi học Đọc hiểu văn bản. Do vậy,
    giáo viên rất vất vả để tổ chức hoạt động vận dụng trong giờ học Đọc hiểu văn
    bản (Ngữ văn 10) nhằm hướng tới mục tiêu phát triển năng lực và phẩm chất
    người học theo định hướng đổi mới giáo dục.
    1.2. Thực trạng của việc tổ chức hoạt động vận dụng trong giờ học Đọc hiểu
    văn bản
    Để có thêm cơ sở thực tiễn về việc dạy học Đọc hiểu văn bản Ngữ văn 10
    theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh thông qua các hoạt độngvận
    dụng, tôi tiến hành điều tra, khảo sát thực trạng dạy học đọc hiểu văn bản cho học
    sinh ở các trường THPT thuộc địa bàn tỉnh Nam Định thông qua hình thức sử
    dụng phiếu hỏi đối với giáo viên dạy khối 10 của các huyện Ý Yên, Vụ Bản,; dùng
    phiếu thăm dò ý kiến đối với học sinh ở các trường THPT trong huyện Ý Yên, tỉnh
    Nam Định. Đó là THPT Đại An, THPT Mỹ Tho, THPT Lý Nhân Tông.
    a. Khảo sát tình hình giảng dạy chương trình Ngữ văn 10 của GV ở
    trường THPT
    – Số GV được phỏng vấn: 135.
    – Thời gian phỏng vấn: 25/10/2019
    – Mục đích khảo sát: Tìm hiểu thực tế dạy học Đọc hiểu các văn bản trong
    chương trình Ngữ văn 10 của GV hiện nay ở các trường THPT trong địa bàn
    tỉnh Nam Định để làm cơ sở thực tiễn cho Báo cáo Nâng cao hiệu quả hoạt động
    vận dụng trong dạy học Đọc hiểu văn bản của khối học này.
    – Nội dung khảo sát:(Phụ lục 3)
    – Kết quả khảo sát:
    Bảng: 1.3. Kết quả khảo sát GV ở câu hỏi từ 1- 7

    Câu
    hỏi
    Kết quả đánh giá của GV
    ABCD

    8

    SL%SL%SL%SL%
    1000012391,1128,9
    200004533,39066,7
    33525,94029,63828,12216,3
    4128,93525,95339,24029,6
    52014,850374029,62518,5
    6004331,88059,25128,9
    7128,96044,44331,92014,8

    Qua phân tích kết quả khảo sát thực trạng dạy học đọc hiểu văn bản Ngữ
    văn 10 của 135 giáo viên Ngữ văn trên địa bàn các huyện Ý Yên, Vụ Bản, như
    trên, có thể đưa ra kết luận: Hầu hết giáo viên đều ý thức được tầm quan trọng
    của việc rèn luyện kỹ năng, tăng cường trải nghiệm cho học sinh thông qua hoạt
    động vận dụng trong mỗi giờ ngữ văn. Vấn đề này đã được các nhà trường chỉ
    đạo thực hiện song vẫn mang tính hình thức như chỉ thể hiện trên giáo án hoặc ở
    các tiết dạy thanh tra, hội giảng. Học sinh chưa được giáo viên thường xuyên
    chú trọng giao nhiệm vụ qua hoạt động vận dụng. Vì vậy các em còn nhút nhát,
    thiếu tự tin. Khi gặp các tình huống phát sinh trong thi cử, đời sống hoặc tham
    gia các hoạt động tập thể, các em bộc lộ rất rõ điểm yếu này.
    b. Khảo sát tình hình học chương trình Ngữ văn 10 của học sinh ở trường
    THPT
    Tôi sử dụng 242 phiếu điều tra cho 06 lớp 10 ban khoa học cơ bản của 03
    trường THPT trong huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Đó là trường THPT Lý Nhân
    Tông, trường THPT Mỹ Tho, trường THPT Đại An, cụ thể như sau:
    Bảng: 1.4. Đối tượng khảo sát học sinh

    STTTên trườngLớpSố học sinh
    1Trường THPT Lý Nhân Tông – Tỉnh
    Nam Định
    10 A2
    10 A6
    40
    39
    2Trường THPT Mỹ Tho – Tỉnh Nam10 A440

    9

    Định10 A741
    3Trường THPT Đại An – Tỉnh Nam
    Định
    10 A3
    10 A8
    42
    40
    4Tổng6 lớp242

    – Mục đích khảo sát: Tìm hiểu thực tế học Đọc hiểu văn bản (Ngữ văn 10)
    của học sinh ở một số trường THPT hiện nay để làm cơ sở thực tiễn cho Sáng
    kiến.
    – Nội dung khảo sát: (Phụ lục 4)
    – Kết quả điều tra khảo sát:

    Câu hỏiKhôngThỉnh thoảngThường
    xuyên
    1. Em có hiểu thế nào là
    “hoạt động vận dụng” và các
    hình thức thức tổ chức hoạt
    động vận dụng không?
    168
    (69,4%)
    52
    (21,5%)
    22
    (9,1%)
    2. Trước khi vào giờ học Đọc
    hiểu văn bản (Ngữ văn 10),
    các em có được yêu cầu
    chuẩn bị bài ở nhà không?
    18
    (7,4%)
    150
    (62%)
    74
    (30,6%)
    3. Khi chuẩn bị bài ở nhà
    (nếu có), em có tìm thêm tài
    liệu tham khảo hoặc những
    đường link về bài học không?
    120
    (49,6%)
    92
    (38%)
    30
    (12,4%)
    4. Khi học Đọc hiểu văn bản
    (Ngữ văn 10), em có chú ý
    các đến kỹ năng mình cần đạt
    được không?
    22
    (9,1%)
    89
    (36,8%)
    131
    (54,1%)
    5. Trong quá trình tổ chức
    các hoạt động học, thầy (cô)
    11
    (4,5%)
    151
    (62,4%)
    80
    (33%)

    10

    có thường đặt các câu hỏi để
    khơi gợi cảm xúc và những
    liên tưởng, tưởng tượng hoặc
    đặt ra những tình huống có
    vấn đề cho các em không?
    6. Trong quá trình học Đọc
    hiểu văn bản (Ngữ văn 10),
    em có hay đưa ra nhận xét,
    đánh giá của cá nhân về
    những vấn đề, những thông
    điệp được thể hiện trong bài
    học không?
    25
    (10,3%)
    137
    56,6%)
    88
    (36,4%)
    7. Khi học Đọc hiểu văn bản
    (Ngữ văn 10), em có được
    tham gia các hình thức như
    trải nghiệm thực tế hay diễn
    hoạt cảnh không?
    13
    (5,4%)
    177
    (73,1)
    52
    (21,5%)
    8. Khi học Đọc hiểu các văn
    bản (Ngữ văn 10) xong, em
    có làm các bài tập vận dụng
    trong SGK hoặc thầy (cô)
    giao về nhà không?
    67
    (27,7%)
    130
    (53,7%)
    45
    (18,6%)

    Có thể thấy, kết quả khảo sát đã phần nào phác hoạ được bức tranh học tập
    Đọc hiểu văn bản (Ngữ văn 10), nhất là hoạt động vận dụng của phân môn này ở
    nhà trường phổ thông. Đọc hiểu văn bản vừa cung cấp cho học sinh tri thức
    phong phú về mọi lĩnh vực của đời sống, vừa bồi dưỡng năng lực cảm thụ thẩm
    mĩ, đồng thời rèn luyện những kĩ năng viết cần thiết có thể áp dụng trong làm
    bài kiểm tra hoặc giải quyết các vấn đề thực tiễn. Song, việc học phân môn này
    đang diễn ra một cách tự nhiên, không ý thức, chưa có tính mục đích rõ ràng,
    11
    không tạo được hứng thú cho học sinh. Do đó, tôi nhận thấy việc dạy học Đọc
    hiểu văn bản (Ngữ văn 10) thông qua tổ chức hoạt động vận dụng trong khuôn
    khổ thực hiện của sáng kiến là hoàn toàn có cơ sở thuyết phục về mặt thực tiễn.
    Điều này rất cần thiết trong việc hình thành cho các em những năng lực cơ bản,
    thái độ sống nhân văn, sâu sắc của một công dân trong xã hội hiện đại.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    Việc tổ chức hoạt động vận dụng cho học sinh có ý nghĩa vô cùng quan
    trọng trong việc giải quyết những nhiệm vụ đặt ra như: yêu cầu học sinh phải kết
    nối và sắp xếp lại các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết thành công tình
    huống/vấn đề tương tự như tình huống/vấn đề đã học; vận dụng kiến thức để làm
    các bài tập luyện tập, bài kiểm tra; tiếp thu và xây dựng tri thức cho những bài
    học mới hay cao hơn là vận dụng được các kiến thức, kĩ năng để giải quyết các
    tình huống/vấn đề mới; đưa ra những phản hồi hợp lý trước một tình huống/vấn
    đề mới trong học tập hoặc trong thực tiễn đời sống. Vì vậy, để tổ chức hiệu quả
    hoạt động vận dụng trong dạy học đọc hiểu văn bản nói chung và chương trình
    Ngữ văn 10 nói riêng, trước hết giáo viên cần phải xác định rõ mục tiêu của hoạt
    động này để từ đó đề xuất các câu hỏi/bài tập và cách thức tổ chức sao cho đạt
    hiệu quả cao nhất nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện và sâu sắc nền giáo
    dục nước nhà.
    2.1. Xác định rõ mục tiêu của hoạt động vận dụng trong bài học
    Qua các tài liệu tập huấn, các lớp bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nghiệp
    vụ và thực tế dạy học tôi nhận thấy phát triển năng lực vận dụng kiến thức có thể
    giúp cho học sinh:
    – Nắm vững kiến thức đã học, trên cơ sở đó học sinh vận dụng kiến thức
    để giải quyết những bài tập hoặc xây dựng kiến thức cho bài học mới; nắm vững
    kiến thức đã học, có khả năng liên hệ, liên kết các kiến thức bởi những vấn đề
    thực tiễn liên quan
    – Vận dụng các kiến thức, kĩ năng vào trong học tập, trong cuộc sống giúp
    các em học đi đôi với hành. Giúp học sinh xây dựng thái độ học tập đúng đắn,
    12
    phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo; lòng ham học, ham hiểu biết,
    đặc biệt là năng lực tự học;…
    – Hình thành cho học sinh kĩ năng quan sát, thu thập, phân tích và xử lý
    thông tin, hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học; hình thành và phát
    triển kĩ năng nghiên cứu thực tiễn; có tâm thế luôn luôn chủ động trong việc giải
    quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn.
    – Giúp cho học sinh có được những hiểu biết về cuộc sống, những tác
    động tích cực cũng như tiêu cực đối với con người cũng như ảnh hưởng của con
    người đến cuộc sống.
    – Thông qua việc hiểu biết về thế giới quanh mình bằng việc vận dụng
    kiến thức đã học để tìm hiểu, các em sẽ ý thức được hoạt động của bản thân, có
    trách nhiệm với chính mình, với gia đình, nhà trường và xã hội ngay trong cuộc
    sống hiện tại cũng như tương lai sau này của các em.
    – Đem lại niềm vui, tạo hứng thú học tập cho học sinh, phát triển ở các em tính
    tích cực, tự lập, sáng tạo để vượt qua khó khăn trên con đường dẫn tới thành
    công.
    2.2. Xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập
    Để xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập cho hoạt động vận dụng khi dạy
    học Đọc hiểu các văn bản trong chương trình Ngữ văn 10, chúng tôi đã nghiên
    cứu kĩ đặc trưng của từng thể loại; xác định rõ mục tiêu của hoạt động vận dụng
    cho từng bài, từng chủ đề để làm căn cứ. Hệ thống câu hỏi, bài tập vận dụng
    phải đảm bảo phù hợp với mục tiêu của bài học đồng thời tạo hứng thú, phát huy
    tính tích cực chủ động của học sinh. Trên cơ sở đó, giáo viên tiến hành xây dựng
    hệ thống câu hỏi, bài tập để học sinh tổng kết và vận dụng những kiến thức, kĩ
    năng đã học thông qua việc phản hồi, chiêm nghiệm và giải quyết những tình
    huống mới. Dưới đây chúng tôi xin đề xuất một số dạng câu hỏi và bài tập minh
    họa tương ứng với mỗi chủ đề khi dạy học Đọc- hiểu văn bản Ngữ văn 10
    2.2.1. Văn học dân gian
    2.2.1.1. Tác phẩm tự sự dân gian
    a. Đặc trưng thể loại
    13
    Thể loại tự sự dân gian nổi bật với đặc điểm:
    + Các tác phẩm đều có cốt truyện, có thể kể lại hoặc tóm tắt được.
    + Tác phẩm tự sự với mức độ khái quát cao, hiện lên nhiều mặt của cuộc
    sống, chủ đề phong phú.
    + Cốt truyện nặng về hư cấu với hệ thống nhân vật được khắc họa nhiều
    mặt, chú trọng miêu tả hành động của nhân vật, nhân vật có xu hướng được xây
    dựng theo bút pháp lãng mạn, lý tưởng hóa.
    + Truyện dân gian có thời gian và không gian phiếm chỉ.
    b. Xác định rõ mục tiêu của hoạt động vận dụng khi dạy các tác phẩm tự sự
    dân gian
    Để hoạt động vận dụng mang tính định hướng, bám sát mục tiêu giáo
    dục, việc đầu tiên của mỗi giáo viên là phải xác định được mục tiêu cần phải
    hướng tới khi thiết kế hệ thống câu hỏi và bài tập vân dụng. Khi dạy các văn bản
    tự sự dân gian trong chương trình Ngữ văn 10, chúng tôi tổ chức các hoạt động
    vận dụng theo mục tiêu sau:
    + Nhớ được cốt truyện, những sự kiện, chi tiết tiêu biểu, phát hiện được
    các chi tiết nghệ thuật đặc sắc để vận dụng và kể lại một cách sáng tạo.
    + Nhận xét ý nghĩa, bài học hoặc thông điệp mà tác giả dân gian muốn
    gửi gắm
    + Vận dụng kĩ năng để đọc hiểu một văn bản cùng thể loại.
    + Từ văn bản được học, chuyển thể sang các loại hình nghệ thuật khác.
    c. Hệ thống câu hỏi, bài tập
    Dạng 1: Bài tập kể lại tác phẩm một cách sáng tạo trên cơ sở vận dụng
    cốt truyện, những sự kiện, chi tiết tiêu biểu
    14
    15
    Dạng 2: Bài tập liên hệ bản thân, rút ra bài học hoặc thông điệp ý
    nghĩa nhất
    Gợi ý:
    Nỗi đau đến hôm nay trong truyền thuyết Truyện An Dương Vương và Mị
    Châu Trọng Thủy nhắc nhở ta phải luôn đề cao tinh thần cảnh giác trước những
    16
    âm mưu thâm độc của kẻ thù đồng thời phải biết xử lí mối quan hệ giữa cái
    riêng, giữa nợ nước với tình nhà, giữa cá nhân với cộng đồng.
    Dạng 3: Bài tập nhận xét về vẻ đẹp của tác phẩm hoặc nhân vật trong
    tác phẩm đó
    Gợi ý:
    + Sức sống mãnh liệt của nhân vật Tấm trong cuộc chiến đấu không
    khoan nhượng chống lại cái xấu và cái ác.
    17
    + Tinh thần lạc quan của nhân dân lao động qua giấc mơ về công bằng
    xã hội, về chiến thắng tất yếu của cái thiện trong cuộc đấu tranh với cái xấu và
    cái ác.
    + Ý nghĩa của những yếu tố kì ảo được sử dụng trong truyện Tấm Cám.
    Dạng 4: Bài tập chuyển thể một phân cảnh, một nội dung của tác phẩm
    sang hình thức nghệ thuật khác: Vẽ tranh, đóng kịch, quay đoạn phim ngắn…
    Ví dụ 1: Em hãy đọc đoạn văn sau:
    Vua đặt Mị Châu ngồi đằng sau ngựa rồi cùng nhau chạy về phương Nam.
    Trọng Thủy nhận dấu lông ngỗng mà đuổi. Vua chạy tới bờ biển, đường cùng,
    không có thuyền qua bèn kêu lên rằng “Trời hại ta, sứ Thanh Giang ở đâu mau
    mau lại cứu”. Rùa Vàng hiện lên mặt nước, thét lớn “Kẻ nào ngồi sau ngựa
    chính là giặc đó!”
    (Trích “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”, Ngữ văn
    10, tập một, NXB Giáo dục, 2016, tr.42)
    Em hãy tưởng tượng khung cảnh được tái hiện qua đoạn văn trên và vẽ
    thành một bức tranh hoàn chỉnh.
    Ví dụ 2 : Em hãy đọc đoạn văn bản sau:
    Cả miền Ê-đê, Ê-ga ca ngợi Đăm Săn là một dũng tướng chắc chết mười
    mươi cũng không lùi bước. Ngực quấn chéo một tấm mền chiến, mình khoác một
    tấm áo chiến, tai đeo nụ, sát bên mình nghênh ngang đủ giáo gươm, đôi mắt
    long lanh như mắt chim ghếch ăn hoa tre, Chàng Đăm Săn hiện lên là một trang
    tù trưởng mới giàu lên, đang đầy sức trai, tiếng tăm lừng lẫy. Bắp chân chàng to
    bằng cây xà ngang, bắp đùi chàng to bằng ống bễ, sức chàng ngang sức voi
    đực, hơi thở chàng ầm ầm tựa sấm dậy, chàng nằm sấp thì gãy rầm sàn, chàng
    nằm ngửa thì gãy xà dọc: Đăm Săn vốn đã ngang tàng từ trong bụng mẹ.
    (Trích “Đăm Săn”, Ngữ văn 10, tập một, NXB Giáo dục, 2016, tr.35)
    Em hãy tưởng tượng vẻ đẹp của Đăm Săn qua đoạn văn trên và vẽ thành
    một bức tranh hoàn chỉnh.
    2.2.1.2. Tác phẩm thơ trữ tình dân gian
    18
    a. Đặc trưng thể loại
    – Thơ ca dân gian là một thể loại nghệ thuật ngôn từ mang tính đặc
    trưng riêng biệt. Ngôn ngữ thơ ca dân gian có nguồn gốc dân dã, thể hiện bản
    chất bình dị, chất phác, hồn nhiên của người nông dân lao động.
    – Thơ ca dân gian diến tả đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm của
    nhân dân trong các quan hệ đôi lứa, gia đình, quê hương, đất nước…Trong đó
    chủ đề chính là những khúc hát than thân, những lời ca yêu thương tình nghĩa
    cất lên từ cuộc đời còn nhiều xót xa, cay đắng nhưng đằm thắm của con người
    Việt Nam và những ca dao hài hước thể hiện tinh thần lạc quan của người lao
    động. Thơ trữ tình dân gian giống như cây đàn muôn điệu rung lên những tiếng
    tơ lòng của người dân đất Việt với âm điệu thiết tha, sâu lắng cùng lối ví von, so
    sánh đặc trưng.
    – Những tác phẩm thơ ca dân gian được sáng tác dưới nhiều hình
    thức: song thất, song thất lục bát, bốn chữ, hỗn hợp…nhưng phổ biến nhất là thể
    thơ lục bát.
    – Thơ trữ tình dân gian bộc lộ trực tiếp những tâm tình nảy sinh từ
    thực tiễn đời sống, thể hiện từ những bức tranh lao động đến suy nghĩ về cuộc
    đời, từ khoảnh khắc vô tư hồn nhiên của con người đến những diễn biến tình
    cảm trữ tình phong phú. Thơ ca dân gian nhắc nhở nhẹ nhàng mà không khô
    khan, khuyên nhủ mà không giáo huấn. Ca dao chính là tiếng lòng mang chở cả
    tư tưởng, triết lí đạo đức của nhân dân. Thơ ca dân gian đã trở thành viên ngọc
    quý trong kho tàng văn học Việt Nam.
    b. Xác định rõ mục tiêu của hoạt động vận dụng khi dạy các tác phẩm thơ
    trữ tình dân gian
    Khi dạy các văn bản thơ trữ tình dân gian trong chương trình Ngữ văn 10,
    chúng tôi tổ chức các hoạt động vận dụng theo mục tiêu sau:
    + Vận dụng kĩ năng để đọc hiểu một bài ca dao theo đặc trưng thể loại:
    Thể thơ, cấu tứ, cách diễn đạt và lập ý, ngôn ngữ, một số hình ảnh mang tính
    biểu tượng thường gặp…
    19
    + Nhận xét được tư tưởng, tình cảm hoặc rút ra thông điệp mà các tác giả
    dân gian muốn gửi gắm.
    + Có thể biểu diễn các tác phẩm thơ trữ tình dân gian trong môi trường
    diễn xướng.
    c.Hệ thống câu hỏi, bài tập
    Dạng 1: Bài tập vận dụng kĩ năng để đọc hiểu một bài ca dao theo đặc
    trưng thể loại hoặc đọc hiểu những văn bản mang “hơi thở” của ca dao.
    Ví dụ 1: Trong kho tàng ca dao vô cùng phong phú của dân tộc, ta bắt gặp
    rất nhiều những bài ca dao với chủ đề “Thân em”:
    “ Thân em như giếng giữa đàng
    Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân”
    “Thân em như hạt mưa sa
    Hạt vào đài các, hạt sa ruộng cày”
    “Thân em như miếng cau khô
    Người thanh tham mỏng, kẻ thô tham dày”
    Em hãy chỉ ra điểm giống nhau giữa các bài ca dao trên và bài ca dao
    “Thân em như tấm lụa đào” em vừa tìm hiểu?
    Gợi ý:
    + Chủ đề: Đều là những câu hát than thân, nói về số phận người phụ nữ
    trong xã hội xưa
    + Thể thơ: Lục bát
    + Cách diễn đạt và lập ý: Đều diễn ý bằng các hình ảnh so sánh.
    Những hình ảnh so sánh đều mang đậm phong vị dân dã của một xã hội nông
    nghiệp cổ truyền với những hoàn cảnh sinh hoạt giản dị và chất phác (giếng giữa
    đàng, hạt mưa, miếng cau khô, tấm lụa đào)
    + Đều lập ý bằng một hình thức quen thuộc “Thân em như…”
    + Ngôn ngữ: Gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày
    Ví dụ 2:
    20
    Gợi ý:
    Đoạn thơ của Tố Hữu phảng phất phong vị, bóng dáng những câu ca dao
    quen thuộc trong kho tàng văn học dân gian của dân tộc
    + Thể hiện truyền thống ân nghĩa, thủy chung – một đạo lí tốt đẹp của
    dân tộc thường xuất hiện rất nhiều trong ca dao.
    + Thể thơ: Lục bát.
    + Cặp đại từ “Mình – ta” (Cặp đại từ nhân xưng thường thấy trong ca
    dao).
    + Hình ảnh thơ: Quen thuộc, gần gũi, tự nhiên (Công cha như núi Thái
    Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra).
    + Diễn ý bằng những hình ảnh so sánh theo mô- típ quen thuộc “bao
    nhiêu….bấy nhiêu…” (Qua cầu ngả nón trông cầu / Cầu bao nhiêu nhịp dạ em
    sầu bấy nhiêu; Qua đình ngả nón trông đình / Đình bao nhiêu ngói thương mình
    bấy nhiêu).
    + Giọng thơ ngọt ngào tha thiết.
    21

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Một số biện pháp giúp trẻ nhà trẻ 18-24 tháng tuổi ham thích đến lớp

    SKKN Một số biện pháp giúp trẻ nhà trẻ 18-24 tháng tuổi ham thích đến lớp

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN.
    Hiện nay giáo dục mầm non là một bậc học nằm trong hệ thống giáo dục
    quốc dân, là nền móng của quá trình giáo dục. Vì vậy giáo dục mầm non có tốt
    thì sau này giáo dục các cấp mới phát triển toàn diện được. Giáo dục mầm non
    hiện nay đang được các cấp các ngành đặc biệt quan tâm. Đa số các trường
    mầm non đều đạt chuẩn quốc gia và được xây dựng cơ sở vật chất khang trang.
    Càng ngày tỷ lệ trẻ mầm non tới trường càng tăng. Bước khởi đầu khi trẻ bước
    vào trường mầm non chính là nhóm trẻ. Nhóm trẻ là lớp trẻ nhỏ tuổi nhất trong
    trường mầm non, trẻ còn rất non nớt và có những đặc điểm tâm sinh lý riêng
    biệt so với tất cả các lứa tuổi khác trong trường mầm non: Trẻ lần đầu tiên đến
    lớp, đến trường, lần đầu tiên xa gia đình để ở cả ngày với cô và các bạn mới, trẻ
    đang quen ở nhà được mọi người trong gia đình chiều chuộng, trẻ chưa có thói
    quen và nề nếp ăn ngủ, vệ sinh, tham gia hoạt động theo giờ giấc của trường,
    của lớp…. Người giáo viên phải tâm huyết mới có thể tận tâm tận lực cho công
    tác chăm sóc và giáo dục trẻ trong độ tuổi này.
    Hầu hết các bậc phụ huynh có con học ở nhóm trẻ 18-24 tháng tuổi đều rất
    thương con vì đây là thời gian mà các con bước đầu rời xa vòng tay cha mẹ,
    đến với một môi trường mới với những người mà bé chưa từng gặp. Trẻ thì có
    cảm giác không an toàn vì phải rời xa vòng tay âu yếm của gia đình. Là giáo
    viên được phân công dạy nhóm trẻ 18-24 tháng tuổi tại trường Mầm non xã
    Nghĩa Thành, tôi rất yêu công việc của mình và quý mến trẻ như con của mình,
    luôn yêu thương và chăm sóc các con hết mình. Các con lần đầu tiên đến
    trường, lớp rất hay sợ và khóc vì ở lớp toàn là các bạn lạ và cô giáo cũng lạ.
    Nên làm thế nào để phụ huynh yên tâm, vui vẻ khi trao con cho các cô và trẻ
    thích đến lớp. Tôi đã thực hiện một số biện pháp để có thể giúp phụ huynh yên
    lòng và để trẻ đến lớp mà không khóc chỉ trong thời gian ngắn đã hòa nhập
    được môi trường mới và thích đến nhóm/lớp.
    Đối với trẻ nhà trẻ, việc chăm sóc trẻ là chính, ngay từ những ngày đầu
    2
    đến trường phải là thật nhẹ nhàng, mang đến cho trẻ một tâm thế thật thoải mái,
    học mà chơi, chơi mà học, trẻ phải thật yêu thích trường lớp. Để giúp trẻ sớm
    thích nghi với trường lớp đối với giáo viên là kỹ năng vô cùng quan trọng.
    Là một giáo viên có kinh nghiệm, có lòng say mê nhiệt huyết với nghề,
    với mong muốn làm sao để trẻ thích đến nhóm/lớp, không khóc nhè khi tới
    nhóm/lớp, vui vẻ khi vào lớp. Tôi đã lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp
    trẻ nhà trẻ 18-24 tháng tuổi ham thích đến lớp”.
    *Mục tiêu nghiên cứu:
    Mục đích của đề tài: Nhằm giúp trẻ mới đi học không sợ sệt, không quấy
    khóc và trẻ thích đến nhóm/lớp để các bậc phụ huynh yên tâm làm việc trong
    những ngày con mình phải xa bố mẹ, ông bà. Tôi tìm ra các biện pháp giúp trẻ
    đến nhóm nhóm/lớp mạnh dạn tự tin hơn.
    Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp giúp trẻ nhà trẻ 18-24 tháng tuổi
    thích đến lớp.
    Phạm vi áp dụng: Nhóm trẻ 18-24 tháng tuổi trong trường mầm non của
    tôi năm học: 2019-2020
    Phương pháp nghiên cứu: Áp dụng thực tiễn và tài liệu tâm lý học trẻ
    em…
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP.
    1. Mô tả biện pháp trước khi tạo ra sáng kiến.
    Bậc học mầm non là bậc thang đầu tiên, làm nền móng cho những bậc
    thang tiếp theo của cuộc đời mỗi con người. Trong bậc học mầm non thì lứa
    tuổi nhà trẻ cần được quan tâm nhiều hơn cả: Việc tạo ham thích cho trẻ khi
    đến nhóm/lớp là rất quan trọng. Trẻ hứng thú đi học sẽ tạo cho phụ huynh có
    tâm lý thoải mái, yên tâm giao con cho cô giáo, trẻ sẽ hòa đồng nhanh với môi
    trường tập thể tham gia tích cực vào các hoạt động của nhóm/lớp, cô giáo cũng
    dễ dàng tiếp cận với trẻ để hiểu được tâm lý của từng trẻ và có biện pháp giáo
    dục phù hợp. Để tạo ra một môi trường thoải mái, vui tươi, gần gũi, thân thiện
    giúp trẻ ham thích đến nhóm/lớp, vì thế là một giáo viên có nhiều năm kinh
    3
    nghiệm trong nghề, yêu nghề, mến trẻ tôi đã rút ra một số biện pháp cần thiết
    để chuẩn bị cho trẻ như:
    – Cô giáo cần tạo sự gần gũi và thân thiện.
    – Trang trí môi trường lớp đẹp, phù hợp với môi trường giáo dục và chủ
    đề.
    – Dựa vào các thói quen cũ của trẻ để rèn cho trẻ những nề nếp mới ở lớp.
    – Cô giáo cần hết lòng yêu nghề, mến trẻ yêu trẻ như con.
    – Tận dụng môi trường thiên nhiên, đồ chơi ngoài trời.
    – Cần chuẩn bị nhiều đồ dùng, đồ chơi hấp dẫn, đồ chơi tự tạo đẹp, sáng
    tạo phù hợp với lứa tuổi cho trẻ chơi.
    – Giáo dục với hình thức lấy trẻ làm trung tâm.
    – Tuyên truyền, phối kết hợp với phụ huynh trong việc chuẩn bị cho trẻ
    đến nhóm/lớp.
    Để đáp ứng những yêu cầu trên đòi hỏi trước khi trẻ đến trường lớp các cô
    phải chuẩn bị sẵn môi trường phù hợp với trẻ 18-24 tháng tuổi. Bố mẹ của trẻ
    cũng phải tạo tâm lý cho trẻ là đến nhóm/lớp rất vui và có nhiều đồ chơi mới.
    1.1. Mô tả thực trạng.
    – Trường mầm non xã Nghĩa Thành có hai khu: Ngôi trường ở hai khu đều
    có khung cảnh sư phạm đẹp, sân chơi rộng rãi, sạch sẽ, được đầu tư nhiều đồ
    dùng, đồ chơi, các trang thiết bị và cơ sở vật chất phục vụ chăm sóc, nuôi
    dưỡng, giáo dục trẻ, được đầu tư tương đối đầy đủ.
    – Năm học 2019 – 2020 tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân công phụ
    trách nhóm/lớp nhà trẻ 18-24 tháng tuổi tại khu A. Nhóm/lớp do tôi phụ trách
    có 2 cô giáo, đều đạt chuẩn nghề nghiệp trở lên.
    – Nhóm/lớp 18- 24 tháng tuổi tôi phụ trách có tổng là 17 trẻ.
    Với tình hình thực trạng như trên trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã
    gặp một số thuận lợi và khó khăn như sau:
    1.2. Điều kiện thuận lợi.
    – Bản thân tôi là một giáo viên trẻ luôn nhiệt tình tâm huyết với nghề,
    4
    ham học hỏi, trau dồi kiến thức, có trình độ nghiệp vụ, chuyên môn vững vàng.
    – Lớp học rộng rãi, thoáng mát, đầy đủ cơ sở vật chất. Nhà trường đầu tư
    đồ dùng, đồ chơi, trang thiết bị và cơ sở vật chất phục vụ chăm sóc giáo dục trẻ
    tương đối đầy đủ.
    – Nhiều phụ huynh trẻ rất nhiệt tình quan tâm tới việc học tập của các con.
    Quan tâm ủng hộ và kết hợp chặt chẽ với giáo viên trong việc chăm sóc và giáo
    dục trẻ.
    1.3. Điều kiện khó khăn.
    – Nhóm nhà trẻ thì tuyển sinh quanh năm nên cứ trẻ cũ mới quen và thích
    đến lớp thì lại đón trẻ mới đi học.
    – Trẻ nhà trẻ thì mọi sự phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần và nhận thức
    tính theo tháng tuổi nên các con sinh đầu năm và cuối năm thì sẽ phát triển
    khác nhau.
    – Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc chăm sóc giáo dục trẻ
    được đầu tư tương đối đầy đủ tuy nhiên nhiều khi vẫn chưa đáp ứng đủ theo
    yêu cầu và điều kiện để chăm sóc và giáo dục trẻ và theo sự phát triển của trẻ.
    – Một số phụ huynh làm nghề công nhân, tiểu thương, bận nhiều công việc
    nên nhiều khi còn chưa quan tâm, chú trọng đến việc tới nhóm/lớp của trẻ. Sự
    phối hợp cùng cô giáo rèn nề nếp cho trẻ ở nhà còn hạn chế.
    Từ những thuận lợi và khó khăn trên, bản thân tôi đã trăn trở, tìm ra một
    số biện pháp giúp trẻ nhà trẻ 18-24 tháng tuổi thích đến nhóm/lớp. Bước đầu đã
    thu được những kết quả đáng khích lệ.
    Sau đây tôi xin trình bày một số biện pháp mà tôi đã áp dụng có hiệu quả đối
    với trẻ nhóm/lớp 18-24 tháng tuổi khu A tôi dạy :
    2. Mô tả biện pháp sau khi có sáng kiến.
    2.1. Biện pháp 1: Cô giáo cần tạo sự gần gũi và thân thiện với trẻ.
    Khi trẻ lần đầu đến lớp sẽ có rất nhiều cảm xúc đặc biệt vì đây là một môi
    trường mới, các cô đều lạ và các bạn cũng lạ nên cô giáo phải tạo được sự gần
    gũi và thân thiện với trẻ để trẻ dễ hòa nhập. Vì vậy bản thân tôi đã cố gắng
    5
    tạo sự gần gũi và thân thiện với tất cả trẻ.
    *Cách thực hiện:
    Khi đón trẻ vào nhóm/lớp tôi luôn đón trẻ nhẹ nhàng để trẻ thấy được cô
    giáo yêu quý mình nên mới đón mình như mẹ đón mình ở nhà và trò chuyện
    cởi mở ân cần với trẻ, khen ngợi trẻ để trẻ thấy vui vẻ vào lớp và có cảm giác
    an toàn khi ở với cô và các bạn.
    Cô đón trẻ, trò chuyện tươi cười cùng trẻ.
    Luôn cố gắng trở thành người bạn tin cậy của trẻ khi đến lớp, luôn thu hút
    trẻ vào những trò chơi vui nhộn, và cùng chơi với trẻ cho trẻ làm quen những
    câu truyện, bài thơ, ca dao, bài hát quen thuộc như trẻ đang ở nhà với mẹ và tạo
    điều kiện cho trẻ được kết bạn.
    6
    Trẻ hứng thú tham gia chơi đồ chơi
    Luôn hướng dẫn và giúp đỡ trẻ ân cần trong mọi hoạt động ở lớp.
    Giờ ngủ khi trẻ nào khó ngủ tôi ôm trẻ vào lòng vỗ về hát ru cho trẻ ngủ,
    với trẻ không muốn ngủ tôi gọi trẻ tới nằm cạnh chỗ tôi ngồi rồi vỗ về và nói
    chuyện nhẹ nhàng ân cần để trẻ yên tâm đi vào giấc ngủ dễ dàng hơn.
    Cô giáo bế và dỗ trẻ khó ngủ ở lớp.
    7
    Buổi đầu tiên đến lớp tôi tặng trẻ mỗi bạn một món đồ chơi tự tạo, chiều
    về cho các con cầm một món đồ chơi được tặng do các cô tự làm để trẻ hứng
    thú ngày mai đến lớp.
    *Kết quả:
    Trẻ lớp tôi rất yêu quý cô giáo coi cô giáo như người mẹ thứ hai, thích
    được đến lớp để chơi trò chơi cùng cô và các bạn, chỉ trong thời gian ngắn trẻ
    đã ngủ đúng giờ, thích nằm gần chỗ cô để ngủ.
    2.2. Biện pháp 2: Trang trí môi trường lớp đẹp phù hợp với môi trường
    giáo dục, chủ đề và thu hút sự chú ý của trẻ.
    Môi trường nhóm lớp là yếu tố cần thiết cho sự ham thích đi học của trẻ.
    Nhóm/lớp 18- 24 tháng tuổi khu A có không gian rộng rãi thoáng mát, có đầy
    đủ đồ dùng cá nhân cho trẻ, các góc chơi đẹp, phong phú. Để thu hút được trẻ
    cần có bàn tay của cô giáo.
    *Cách thực hiện:
    Trong lớp tôi luôn tìm tòi sáng tạo để làm thêm nhiều góc chơi đẹp: Góc
    thiên nhiên, góc vườn cổ tích, góc bé thông minh, góc bé vui múa hát, góc tài
    năng nhí, góc xếp hình, góc vận động, góc mừng sinh nhật bé yêu, góc bế em.
    Các góc tôi đều trang trí thật đẹp và ngộ nghĩnh, sáng tạo, hấp dẫn trưng bầy
    nhiều đồ chơi.
    Tôi luôn tạo môi trường đảm bảo, sạch sẽ, an toàn tuyệt đối cho trẻ, nhất
    là trẻ nhà trẻ 18-24 tháng tuổi để tạo cảm giác an toàn, trẻ được yêu thương như
    chính ở trong gia đình của mình.
    Tạo môi trường trong và ngoài lớp học luôn lấy trẻ làm trung tâm, luôn
    đặt trẻ làm trung tâm, trẻ được tìm tòi khám phá tất cả các đồ dùng, đồ chơi, cô
    không gò ép trẻ, để trẻ thỏa mãn nhu cầu vui chơi, khám phá, khuyến khích trẻ
    tích cực hoạt động, sáng tạo trong khi chơi.
    8
    Góc bé yêu văn học .
    Cô và trẻ múa hát trong góc âm nhạc. Bé chới với chai lọ cô sưu tầm
    9
    Bé hứng thú chơi trò chơi xâu hoa Bé tham quan góc sinh nhật
    Khi dắt trẻ vào lớp, tôi cùng trẻ dạo quanh lớp, gợi hỏi trẻ những đồ chơi,
    đồ dùng, các góc tên là gì để trẻ trả lời, nếu trẻ không trả lời được hoặc không
    thích trả lời, tôi sẽ gợi ý và giúp trẻ trả lời.
    Tôi trang trí nhóm/lớp theo từng chủ đề, cứ cuối chủ đề là tôi lại nghĩ ra
    những cách trang trí mới mẻ và làm các đồ chơi mới phù hợp với chủ đề đó.
    Trang trí lớp học theo chủ đề.
    10
    Mỗi khi tôi trang trí chủ đề mới trẻ lại đến xem, chạm tay vào và khám
    phá các đồ dùng đồ chơi.
    *Kết quả:
    Mỗi buổi đến trường trẻ đều vui thích vào lớp và đến ngay các góc để
    chơi, đến chủ đề mới tôi trang trí lại chủ đề trẻ ra đứng xem và khám phá các
    góc, ngắm tất cả môi trường trong lớp và đồ chơi, trẻ cầm đồ chơi để xem,
    khám phá và chơi luôn. Trẻ vui thích được đến lớp mỗi ngày để được chơi cùng
    cô và các bạn.
    2.3. Biện pháp 3: Cần chuẩn bị nhiều đồ dùng, đồ chơi hấp dẫn, đồ chơi tự
    tạo đẹp, sáng tạo phù hợp với lứa tuổi cho trẻ chơi.
    Với trẻ nhà trẻ đến lớp là chủ yếu để vui chơi. Nên để trẻ thích đến lớp cô
    giáo phải chuẩn bị thật nhiều đồ chơi hấp dẫn, tìm tòi khám phá làm đồ chơi tự
    tạo thật sáng tạo, phong phú và phù hợp với lứa tuổi của trẻ nhà trẻ cho trẻ
    chơi.
    *Cách thực hiện:
    Ngoài đồ chơi của nhà trường có sẵn tôi luôn tìm hiểu cách làm các đồ
    chơi từ nguyên liệu thiên nhiên và các nguyên phế liệu để tạo ra thật nhiều đồ
    chơi đẹp, hấp dẫn, phù hợp và tuyệt đối an toàn với trẻ nhà trẻ.
    Đồ chơi tự làm bằng nguyên vật liệu sưu tầm tại địa phương
    11
    Có đồ chơi phù hợp rồi thì tôi tổ chức cho cả lớp cùng chơi một trò chơi
    nhỏ để gây hứng thú cho trẻ và quan sát biểu hiện của trẻ khi mới vào lớp.
    Tôi trưng bày ở các góc chơi những món đồ chơi hấp dẫn đó kích thích trẻ
    chú ý và thích chơi.
    Tôi nhập vai cùng chơi với trẻ để tạo sự thân thiện và gần gũi.
    *Kết quả:
    Trẻ rất thích được đến lớp để chơi đồ chơi, chỉ cần vào đến lớp nhìn thấy
    đồ chơi là trẻ muốn chơi luôn, với những đồ chơi mới lạ là trẻ nhìn ngắm rồi
    tìm ra cách chơi riêng luôn.
    Trẻ hứng thú khi chơi đồ chơi cô giáo tự làm.
    2.4. Biện pháp 4: Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.
    Mỗi đứa trẻ là một cá thể riêng biệt, chúng khác nhau về môi trường, hoàn
    cảnh gia đình, hứng thú, kỹ năng nhận thức, giao tiếp, vận động, nhu cầu riêng
    biệt,… nên để trẻ thích đến lớp mọi hoạt động của cô giáo đều phải lấy trẻ làm
    trung tâm bao gồm: Giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục, xây dựng kế
    hoạch giáo dục lên kế hoạch cụ thể từng hoạt động xen kẽ giữa động và tĩnh
    đều phải lấy trẻ làm trung tâm.
    *Cách thực hiện:
    12
    Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm: Tôi tìm hiểu sở thích, năng lực và nhu cầu
    của từng trẻ. Tôi luôn tôn trọng sự đa dạng của từng trẻ và gia đình trẻ, chấp
    nhận sự khác biệt giữa các trẻ. Tôi luôn đánh giá cao từng trẻ, hãy tin tưởng
    rằng mỗi trẻ đều có thể thành công. Từ đó tôi rút ra những trải nghiệm trong
    những năm đầu đời nên phù hợp với mức độ phát triển của trẻ và được xây
    dựng trên cơ sở những gì trẻ đã biết và có thể làm được, không nên cố gắng dạy
    trẻ những gì quá khó và gò ép trẻ. Mỗi đứa trẻ đều có cơ hội tốt nhất để có thể
    thành công. Mỗi đứa trẻ đều có cơ hội để học bằng nhiều cách khác nhau. Đảm
    bảo trẻ hứng thú, nhu cầu, kỹ năng và thế mạnh của trẻ đều được hiểu, được
    đánh giá đúng và được tôn trọng.
    Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Hoạt động chủ đạo
    của trẻ nhà trẻ là hoạt động với đồ vật. Chính vì vậy tôi xây dựng các góc chơi
    đa dạng, phong phú và nhiều đồ chơi đẹp, sáng tạo hấp dẫn trẻ và đặc biệt là tôi
    để trẻ tự chọn góc chơi cho mình không ép buộc trẻ phải chơi ở đâu, chơi góc
    nào.
    Lập kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm: Tôi căn cứ vào việc quan sát
    nhu cầu học tập, hoạt động của trẻ xem những gì trẻ đã trải nghiệm, những gì
    trẻ muốn biết để xác định trẻ sẽ trở nên như thế nào, có thể làm được gì ở cuối
    ngày, cuối tuần, cuối chủ đề, cuối năm để tôi xác định mục tiêu và nội dung
    giáo dục. Từ đó mỗi trẻ được đảm bảo đều được hỗ trợ phát triển tốt tất cả lĩnh
    vực: Thể chất (vận động), tình cảm – xã hội và thẩm mỹ, ngôn ngữ, nhận thức.
    Ngay từ những buổi đầu trẻ đến lớp tôi luôn giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
    vào chương trình rèn nề nếp từ tháng 8 đầu năm học cho trẻ và trong cả năm
    học của trẻ nên trẻ rất thích các chương trình này, thích tham gia tất cả các hoạt
    đông ở lớp.
    *Kết quả:
    Trẻ rất thích tham gia tất cả các hoạt động trong chương trình giáo dục
    mầm non và đặc biệt là phương pháp giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, 100% trẻ
    được đánh giá xếp loại đạt ở tất cả các lĩnh vực bằng các chỉ số theo giai đoạn

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Một số biện pháp duy trì trường xanh, sạch, đẹp, an toàn

    SKKN Một số biện pháp duy trì trường xanh, sạch, đẹp, an toàn

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
    Trẻ em là những mầm sống tương lai của đất nước. Để trẻ phát triển toàn
    diện về cả thể chất và tinh thần đòi hỏi trẻ phải có một môi trường tốt đẹp. Môi
    trường ấy là môi trường sống để con người và vạn vật phát triển. Đối với trẻ em
    ngoài gia đình, làng xóm, một môi trường không thể thiếu để các con trưởng
    thành đó là trường học.
    Trường học “Xanh – sạch – đẹp – an toàn” còn có ý nghĩa thiết thực trong
    việc giáo dục học sinh ý thức, thói quen giữ gìn bảo vệ môi trường và tạo sự lan
    tỏa đến môi trường gia đình, cộng đồng nơi các con đang sống, đồng thời góp
    phần hình thành nhân cách tốt đẹp và lối sống văn minh, văn hóa cho thế hệ trẻ
    ngay từ tuổi thơ. Trường học “Xanh – sạch – đẹp – an toàn” làm cho các con ham
    thích đến trường, làm cho các con thấy được “mỗi ngày đến trường là một ngày
    vui”.
    Tuy nhiên, để duy trì được một môi trường xanh – sạch – đẹp – an toàn
    trong điều kiện một vùng nông thôn là một việc rất khó đối với cán bộ quản lý,
    công việc vừa đòi hỏi phải có kinh phí, vừa phải có sự phối hợp đồng bộ của các
    ngành, các cấp, vừa phải có tầm nhìn chiến lược, vừa đòi hỏi nhân lực thực hiện.
    Theo kế hoạch năm học 2019-2020 Trường Mầm non Hải Tân công nhận
    lại trường chuẩn quốc gia mức độ II, Trường xanh – sạch – đẹp – an toàn và
    Kiểm định chất lượng cấp độ 3. Ngay từ đầu năm học nhà trường đã có kế hoạch
    cải tạo khuôn viên nhà trường. Được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp, sự phối
    hợp chặt chẽ giữa các ban ngành đoàn thể, của cha mẹ học sinh, sự nỗ lực của
    tập thể cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên nhân viên từ một ngôi trường ít màu
    xanh, khuôn viên chưa được quy hoạch khoa học, vườn rau, vườn hoa còn ít,
    diện tích chật hẹp, chưa thật sự sạch, đẹp, an toàn, thì đến nay trường đã có
    những bước chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng trường xanh – sạch-
    đẹp – an toàn. Đúc rút từ thực tế đơn vị, bản thân mạnh dạn chia sẻ để tài: “Một
    số biện pháp duy trì trường xanh, sạch, đẹp, an toàn” nhằm cùng với các đồng
    nghiệp gần xa góp phần xây dựng vườn hoa giáo dục nhà trường ngày càng đua
    4
    hương khoe sắc xứng đáng là nơi ươm mầm cho thế hệ tương lai ngày càng hiệu
    quả.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    1.1.Thuận lợi:
    Trường mầm non Hải Tân với 2 khu nhà cao tầng với 16 nhóm lớp nằm
    trên đường trục xã rất thuận tiện đi lại đưa đón học sinh.
    Đội ngũ giáo viên đa số là người địa phương, trình độ đều đạt chuẩn và
    trên chuẩn, có tâm huyết với nghề, được phụ huynh học sinh tin yêu.
    Học sinh ngoan ngoãn, chăm chỉ ham thích hoạt động văn nghệ, thể thao,
    hoạt động bề nổi…đa số các con có ý thức tốt trong việc giữ gìn bảo vệ môi
    trường.
    Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của cấp ủy, chính
    quyền địa phương và đặc biệt là của Phòng giáo dục và đào tạo huyện Hải Hậu.
    Ngoài ra, nhà trường được cha mẹ học sinh quan tâm và phối hợp nhiệt tình
    trong các hoạt động giáo dục, trong việc hỗ trợ kinh phí để tổ chức các hoạt
    động giáo dục cũng như việc xây dựng cảnh quan sự phạm nhà trường.
    1.2. Khó khăn:
    – Thực tế trường đã có màu xanh, nhưng màu xanh còn ít, trường được
    cấp 800m2 đất ruộng, mặt bằng chưa được san sửa, hệ thống cây xanh của nhà
    trường chưa được phong phú, sân cỏ còn ít, nhiều khu đất còn bỏ trống chưa
    được trồng cây phủ xanh ( Tiêu chí xanh).
    – Sân chơi chật hẹp, sân tập thể dục chưa lát gạch, cống rãnh thoát nước
    chưa được khơi thông thường xuyên, nhà vệ sinh vẫn có mùi hôi. Một số học
    sinh vẫn còn thói quen vứt rác ra sân trường (Tiêu chí sạch)
    – Khuôn viên trường chưa được quy hoạch theo một mô hình tổng thể,
    trồng cây theo tự phát, bồn hoa, cây cảnh, cây ăn quả có nhưng chưa đủ (Tiêu
    chí đẹp)
    – Khuôn viên trường ở 2 khu có lan can, tường rào nhưng chưa chắc chắn vì
    một số thanh lan can còn thấp, một số góc tường rào lung lay ( Tiêu chí an toàn)
    5
    – Hai khu nằm sát ngay tuyến đường trục xã, trục xóm, gần đường giao
    thông và gần sông vì vậy rất dễ xảy ra tai nạn giao thông và đuối nước nếu như
    các cô giáo sơ ý hoặc các con học sinh không chấp hành tốt luật giao thông
    đường bộ.
    – Hệ thống phòng cháy chữa cháy còn chưa dễ lấy, dễ thấy, dễ sử dụng.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
    Từ thực trạng của các tiêu chí trên tôi đã suy nghĩ làm thế nào để duy trì
    trường xanh, sạch, đẹp, an toàn một cách có hiệu quả nhất, tạo sự tin tưởng đối
    với phụ huynh học sinh khi gửi con em mình vào trường và trẻ được yên tâm coi
    đây là ngôi nhà thứ hai. Tôi đã tiến hành một số biện pháp sau:
    Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch cụ thể về yêu cầu của từng nội dung
    theo các tiêu chí:
    * Tiêu chí xanh: Phải trồng thêm cây có bóng mát, cây ăn quả theo lối đi,
    phải trồng vườn rau phân theo từng loại, từng luống, phải phủ xanh những khu
    đất trống bằng những loại cỏ phù hợp theo sơ đồ quy hoạch cụ thể,…
    * Tiêu chí sạch: Sân chơi mở rộng, sân tập lát gạch sạch sẽ. Nhà vệ sinh
    phải được vệ sinh sạch sẽ hàng ngày, thùng rác phải có nắp đậy để ở vị trí thuận
    lợi cho học sinh sử dụng, hệ thống cống rãnh xung quanh khu vực trường phải
    thường xuyên được khơi thông, có tấm đậy an toàn, đảm bảo không khí trong
    lành không bị ô nhiễm trong sân trường, lớp học sạch sẽ, đủ ánh sáng thoáng
    mát, có nội quy bảo vệ trường học, nhà vệ sinh,…
    * Tiêu chí đẹp: Cảnh quan sự phạm nhà trường phải được sắp xếp, bố trí
    hài hòa hợp lý, đảm bảo sự phát triển bền vững trong mô hình quy hoạch tổng
    thể lâu dài của nhà trường, phải có bồn hoa phải được trồng nhiều loại hoa khác
    nhau, chăm sóc chu đáo, cây cảnh có nhiều màu sắc rực rỡ, phải chọn hoa nở
    được nhiều mùa trong năm. Xây dựng được những quy định, biểu bảng, áp
    phích về nếp sống văn minh, lối sống tiết kiệm để nhắc nhở học sinh thực hiện.
    * Tiêu chí an toàn: Phải tuyệt đối đảm bảo an toàn về thân thể và tình cảm
    cho trẻ trong nhà trường, cô giáo đối xử công bằng với trẻ, không xử phạt trẻ
    dưới bất cứ hình thức nào, dạy trẻ đoàn kết yêu thương, giúp đỡ bạn bè, không
    6
    được xô đẩy nhau trên lan can, không có học sinh bị tai nạn, thương tích, phải có
    hệ thống phòng cháy, chữa cháy gắn ở nơi thuận tiện nhất.
    Biện pháp 2: Xây dựng sơ đồ tổng thể về cảnh quan môi trường.
    Làm tờ trình báo cáo với cấp trên về kế hoạch tổng thể xây dựng trường
    xanh, sạch, đẹp, an toàn. Khi kế hoạch tổng thể đã được lãnh đạo cấp trên phê
    duyệt, triển khai cho toàn thể CBGV, phụ huynh học sinh biết để góp ý, xây
    dựng những bước đi thích hợp, phù hợp theo tình hình kinh phí thực tế của đơn
    vị.Tổng hợp ý kiến góp ý, lên kế hoạch sửa chữa, xây dựng từng phần việc phần
    nào làm trước, phần nào làm sau phù hợp với thực tế đơn vị.
    Bàn bạc với phụ huynh học sinh kế hoạch thực hiện từng phần việc theo
    sơ đồ, ưu tiên những việc cần thiết nhất như sân chơi, bãi tập, vườn rau, vườn
    cây ăn quả thông qua họp phụ huynh đầu năm. Cụ thể theo từng thứ tự ưu tiên
    như sau:
    – Quy hoạch sân chơi cho học sinh để các con có chỗ vui chơi, tập luyện
    sạch sẽ: lát gạch đỏ, trồng cỏ nhật…
    Trồng cây bóng mát, cây ăn quả tạo bóng mát cho các con vui chơi.
    – Xây bồn hoa trước các lớp, trang trí lớp học.
    – Trồng cỏ ở những khu đất trống đã quy hoạch.
    – Lắp đặt hệ thống tưới nước để chăm sóc.
    Biện pháp 3: Huy động nguồn lực để có kinh phí thực hiện.
    – Lên dự toán thật chi tiết kinh phí thực hiện từng công việc sau đó bàn
    bạc với đại diện Hội phụ huynh học sinh, thảo luận góp ý, nhà trường tổng hợp ý
    kiến, bổ sung chỉnh sửa phù hợp với nguyện vọng của PHHS trình UBND,
    Phòng Giáo dục và đào tạo xin chủ trương vận động kêu gọi sự ủng hộ của các
    ban ngành đoàn thể, các nhà hảo tâm, các bậc phụ huynh,….
    – Sau khi vận động được tổng hợp kinh phí báo cáo kịp thời với ban đại
    diện cha mẹ học sinh, ban vận động để phối hợp thực hiện.
    – Công khai rộng rãi kịp thời chi tiết cho toàn thể CBGV, PHHS biết trên
    bảng tin nhà trường, văn phòng nhà trường và các cuộc họp hội đồng, họp phụ
    huynh
    7
    Biện pháp 4: Thành lập ban chỉ đạo, phân công và lên kế hoạch thực
    hiện.
    Thành lập ban chỉ đạo gồm ban giám hiệu, công đoàn, các tổ chuyên môn,
    đại diện phụ huynh.
    Trong các nội dung thực hiện, chúng tôi tập trung vào ba nội dung cấp
    bách để chỉ đạo thực hiện trước đó là:
    Thứ nhất: Lát sân gạch đỏ ở 2 khu để tạo sân tập thể dục và các hoạt động
    khác cho trẻ sạch sẽ, an toàn.
    Thứ hai: Có sân cỏ chơi, giữ gìn sân chơi, lớp học, khuôn viên nhà trường
    sạch đẹp, đường đi lối lại không có rác.
    Thứ ba: Sân trường phải có bồn hoa, vườn rau, vườn cây ăn quả, thảm cỏ
    xanh, không để đất trống.
    Thứ tư: An toàn trong giờ học, giờ chơi, giờ ăn, giờ ngủ, khi tham gia
    giao thông trên đường bộ, trật tự khi đưa đón con em ở khu vực cổng trường.
    Dựa vào các nội dung trên, phân công rõ trách nhiệm cho từng bộ phận,
    từng thành viên một cách phù hợp, hiệu quả thì mọi công vệc sẽ nhanh chóng
    hoàn thiện.
    8
    Biện pháp 5: Phát động các phong trào bảo vệ cảnh quan sư phạm
    nhà trường phù hợp với lứa tuổi.
    5.1 Phong trào “Sân trường em không có rác”
    Nội dung này nhà trường giao cho khối 4, 5 tuổi trực tiếp thực hiện.
    Để thực hiện phong trào này nhà trường bố trí hợp lý các thùng đựng rác
    tại sân trường, trên các phòng học, hành lang. Ở từng thùng đựng rác được dán
    các khẩu hiệu tuyên truyền như “Hãy bỏ rác vào đúng nơi quy định”, “Cho tôi
    xin rác”, “Hãy bảo vệ môi trường”.
    Giáo viên chủ nhiệm trực tiếp tổ chức cho trẻ lao động vệ sinh theo lịch,
    chịu trách nhiệm về những công việc được giao của lớp mình. Kịp thời phát
    hiện, nhắc nhở những học sinh thực hiện chưa tốt, nhà trường theo dõi, đánh giá
    trong các đợt sinh hoạt chuyên môn, họp Hội đồng sư phạm nhà trường, phân
    loại, xếp hạng, tuyên dương những lớp điển hình, nhắc nhở kịp thời các lớp còn
    vi phạm và yêu cầu cam kết thời gian tiếp theo thực hiện.
    Học sinh nhặt lá cây và rác
    5.2 Phong trào “Trường em an toàn”
    9
    Phòng chống tai nạn thương tích cho học sinh là nghĩa vụ và trách nhiệm
    của nhà trường đối với các con học sinh và cha mẹ của các em.
    Trường mầm non Hải Tân có 2 khu, cả 2 khu đều gần sông và đường trục,
    do đó tôi xác định nội dung quan trong hàng đầu để thực hiện tốt phong trào đó
    là thực hiện an toàn khu vực cổng trường. Vì vậy tôi tập trung thực hiện các biện
    pháp cụ thể sau:
    Thứ nhất: Treo bảng “Nội quy trường lớp”, “Không tụ tập buôn bán trước
    cổng trường”, “Nơi để xe của phụ huynh” để phụ huynh học sinh thực hiện.
    Đảm bảo cổng trường không ách tắc giao thông khi tan học.
    Thứ hai: Giao cho bảo vệ trực tiếp thường trực và thực hiện công tác ổn
    định và trật tự giao thông khu vực cổng trường vào giờ đưa, đón học sinh.
    Thứ ba: Giao cho bảo vệ, giáo viên thường xuyên kiểm tra hệ thống điện,
    hệ thống cửa nếu có hư hỏng về đường dây, ổ cắm, cửa phải báo cáo hiệu trưởng
    dự trù kinh phí sửa chữa, khắc phục ngay.
    Thứ tư: Ban giám hiệu thường xuyên rà soát đồ dùng, đồ chơi trên sân
    trường, trong lớp học, lan can cạnh sông để khịp thời sửa chữa.
    Ngoài việc chú trọng nội dung trên thì nhà trường cũng thường xuyên
    hướng dẫn các con kỹ năng vui chơi, sinh hoạt, kỹ năng khi tham gia giao thông
    trên đường bộ đúng cách để không xảy ra tai nạn. Công việc này được giao cho
    giáo viên chủ nhiệm phối hợp với nhân viên y tế tuyên truyền, hướng dẫn nhắc
    nhở các con thực hiện.
    Bên cạnh đó, giáo viên chủ nhiệm thường xuyên nhắc nhở các con học
    sinh không sờ tay vào ổ cắm điện; không leo lên lan can của nhà cao tầng;
    không xô đẩy nhau khi lên xuống cầu thang; không chơi dao, kéo và các đồ vật
    sắc nhọn, không tự ý xuống ao hồ tắm khi chưa được sự cho phép của người
    lớn… Hay giáo dục học sinh một số kỹ năng xử lý tình huống thường gặp trong
    trường như: Kỹ năng xử lý tình huống khi thấy bạn bị ngã chảy máu, nếu gặp
    tình huống này thì các con phải báo ngay cho cô giáo biết. Như vậy khi gặp tình
    huống này xảy ra vì các con đã học nên các con có thể xử lý được ngay.
    5.3 Phong trào “Màu xanh sân trường, lớp học”
    10
    Một trường học, lớp học xanh mát, ngập tràn sắc màu thiên nhiên, để mỗi
    ngày đến lớp các con học sinh đều có cảm giác mình đang ở công viên quả là
    một tâm trạng tuyệt vời. Nhìn ở phương diện khoa học: cây cỏ, lá hoa được ví
    như lá phổi thanh lọc những khí chất độc hại cho cơ thể. Ở góc độ đời sống tinh
    thần, màu xanh thiên nhiên có tác dụng giúp tâm hồn thư giãn, sảng khoái…
    Để thực hiện phong trào này, sau khi lát gạch đỏ sân trường ở 2 khu, nhà
    trường tập trung huy động mọi nguồn lực để hoàn thành thảm cỏ, vườn đồi,
    vườn hoa, hút cát trồng cây ăn quả, cấy cỏ, làm thành vườn rau ở khu 8/3. Trồng
    đã khó nhưng giữ cho cây cối phát triển lại càng khó, đòi hỏi khâu chăm sóc chu
    đáo, tưới dội thường xuyên. Nhà trường giao cho mỗi lớp phụ trách một khu vực
    vườn đồi…., dưới sự tổ chức, nhắc nhở của các cô giáo, các con phấn khởi tự
    giác cùng chung tay góp sức vào việc chăm sóc, nhặt cỏ, bảo vệ khu vực của lớp
    mình mỗi ngày sạch sẽ.
    11
    Hợp đồng giao khoán cho nhân viên bảo vệ thực hiện việc tưới cây vào
    ngày thứ 7, chủ nhật hàng tuần, bón phân chăm sóc cây nhất là vào mùa nắng,
    đảm bảo các bồn hoa luôn xanh tốt.
    Vườn hoa, cây ăn quả đang phát triển tốt
    Phong trào đã giúp cho hệ thống, cây xanh của nhà trường luôn được bảo
    vệ chăm sóc xanh tốt. Tạo nên khuôn viên nhà trường xanh mát, tươi tắn quanh
    năm.
    5.4 Phong trào “Lớp em gọn gàng, sạch đẹp”
    Không chỉ trú trọng phát triển mảng xanh trong khuôn viên trường, xây
    12
    dựng môi trường học tập hiệu quả còn được đặt ra ở từng lớp học. Nhà trường
    đã triển khai tất cả các nhóm lớp thực hiện trang trí lớp học theo hướng đổi mới,
    tích hợp chủ đề, chủ điểm. Nhà trường tham mưu với cấp trên cấp phát tủ, giá đồ
    chơi cho các nhóm lớp đồ dùng, trang thiết bị dạy học, còn việc trang trí chủ đề
    năm học, tranh ảnh theo chủ đề, chủ điểm, trồng cây xanh là do giáo viên chủ
    nhiệm và học sinh hỗ trợ cùng cô.
    Hàng ngày, giáo viên chủ nhiệm rèn luyện cho học sinh thói quen quan
    tâm bảo vệ môi trường, thiên nhiên, làm sao cho các con có thể cảm nhận được
    trường có thêm chậu cây như lớp học có thêm bạn mới. Hoa lá tại các góc thiên
    nhiên trong lớp dần trở thành góc khám phá vô tận của các em, có thêm một
    mầm non, một chiếc lá sắp nhú, có chiếc là già cỗi, bắt đầu ngả vàng, thân cây
    đã già thêm được một đoạn… tất cả chan hòa cùng sắc màu thiên nhiên giúp các
    em khám phá, cảm nhận. Yêu cầu các lớp thực hiện sắp xếp bàn ghế ngay ngắn
    hàng ngày. Thứ sáu hàng tuần thực hiện lau sạch sẽ bàn ghế; định kỳ lau đồ
    dùng, đồ chơi, quét mạng nhện…
    Giao cho y tế học đường, giáo dục sức khỏe, kiểm tra việc thực hiện của
    các lớp, nhắc nhở các con ăn mặc gọn gàng, sạch đẹp, đầu tóc gọn gàng, móng
    tay, móng chân cắt ngắn, vệ sinh thân thể hàng ngày sạch sẽ. Bởi trong một môi
    trường đẹp thì con người ở đó cũng đòi hỏi phải đẹp, môi trường đẹp, học sinh
    đẹp, thì lớp mới đẹp. Phong trào đã rèn luyện tinh thần vì tập thể cho học sinh để
    các em cùng nhau xây dựng lớp học gọn gàng, sạch đẹp như chính ngôi nhà của
    các em.
    13
    Giờ chơi, giờ học của các con học sinh
    5.5. Phong trào “Nhà vệ sinh của em sạch sẽ”
    – Xây dựng nội quy sử dụng công trình vệ sinh của học sinh với các nội
    dung cụ thể như: học sinh mẫu giáo đi đúng khu vực vệ sinh dành cho nam và
    nữ, xả nước và rửa tay sạch sẽ sau khi đi vệ sinh, sử dụng giấy vệ sinh xong phải
    bỏ vào sọt đựng. Học sinh nhà trẻ do cô giáo hướng dẫn và tổ chức vệ sinh cho
    trẻ… Thao tác rửa mặt, rửa tay được dán ngay trươc các khu vệ sinh của nhóm
    lớp.
    – Chỉ đạo giáo viên tăng cường giáo dục ý thức chấp hành nội quy sử
    dụng công trình vệ sinh (tránh mang rác vào nhà vệ sinh), tạo thành thói quen có
    văn hóa khi đi vệ sinh.
    – Kiểm tra, nhắc nhờ thường xuyên việc quét dọn nhà vệ sinh của giáo
    viên phụ trách lớp, đảm bảo không để nhà vệ sinh dơ bẩn. Ít nhất một ngày phải
    thực hiện ba lượt vệ sinh, cụ thể mẫu giáo là sau giờ hoạt động góc, hoạt động
    ngoài trời buổi sáng, sau giờ ngủ dậy buổi chiều và sau khi học sinh ra về.
    Biện pháp 6: Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục ý thức của
    học sinh.
    14
    Tuyên truyền giáo dục là một phương pháp không thể thiếu trong quá
    trình
    giáo dục, nó có vai trò và tác dụng lớn góp phần thực hiện thành công nội dung
    giáo dục. Vào đầu sáng thứ 2 hàng tuần, sau khi tập thể dục buổi sáng xong, Ban
    giám hiệu cũng như giáo viên trực tiếp nhắc nhở trẻ sự cần thiết phải bảo vệ môi
    trường.
    Công tác tuyên truyền giáo dục thực hiện phong trào xây dựng: “Trường
    học xanh, sạch, đẹp, an toàn” được thực hiện với các hình thức cụ thể như:
    – Tuyên truyền vào sáng thứ 2 đầu tuần: nhận xét, đánh giá, nhắc nhở,
    khen thưởng, động viên.
    – Tuyên truyền trên bảng tin, ở trên cac giờ dạy, giờ chơi trên lớp
    – Truyên truyền thông qua các ngày lễ hội của bé.
    – Phát động cho học sinh chăm sóc cây xanh trong lớp và cùng cô giáo
    trang trí lớp học.
    – Nhà trường treo các khẩu hiệu tuyên truyền: “Xây dựng trường học thân
    thiện, học sinh tích cực”, “Trường em sạch đẹp, an toàn”, “Ngôi trường là nhà,
    cô giáo là mẹ, các cháu là con”,… giáo viên là người trực tiếp tuyên truyền cho
    các con hiểu ý nghĩa của các khẩu hiểu và hướng dẫn các con thực hiện theo.
    Việc tuyên truyền là một trong các biện pháp mang lại hiệu quả cao vì nó
    tác động vào ý thức giữ gìn môi trường, bảo vệ cây xanh, bảo vệ lớp học, của
    từng con học sinh trong mọi lúc, mọi nơi. Đa số các con học sinh thông qua
    tuyên truyền giáo dục ý thức các con sẽ thực hiện theo nội dung tuyên truyền
    một cách nghiêm túc.
    Biện pháp 7: Công tác giáo dục lồng ghép của nhà trường
    Hầu hết giáo viên đã có ý thức cao trong việc giáo dục các con thực hiện
    bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động có tích hợp giáo dục môi trường,
    thông qua các hoạt động thực tế như: quét lớp, lau cửa, chăm sóc vườn trường…
    Qua mỗi lần thực hiện, nắm bắt ưu điểm tồn tại từng hoạt động trong việc
    thực hiện nội dung duy trì trường học: “Xanh, sạch, đẹp, an toàn” đưa ra một số
    biện pháp trọng tâm nhằm thúc đẩy, phát huy hết các ưu điểm mà nhà trường đã
    15
    đạt được, và khắc phục các tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện nội dung này để
    đem lại hiệu quả cao nhất.
    Biện pháp 8. Tổ chức lao động thường xuyên, định kỳ.
    Ngay từ đầu năm học nhà trường xây dụng kế hoạch lao động, kế hoạch
    chăm sóc cây tới toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên. Phân công trách nhiệm
    cụ thể cho từng lớp phụ trách từng khu vực, giáo viên các lớp chịu trách nhiệm
    trước nhà trường về nhiệm vụ được giao.
    Các lớp vừa có trách nhiệm lao động, vệ sinh khu vực được phân công
    hàng ngày, đồng thời cũng thực hiện bảo vệ khu vực của mình. Ngoài ra mỗi
    tháng một lần các nhóm, lớp thực hiện vệ sinh toàn bộ lớp học như:
    Học sinh cùng cô giáo lau dọn đồ dùng đồ chơi, lau bàn ghế, chăm sóc
    vườn hoa, vườn rau, thực hiện tổng vệ sinh chung toàn trường. Giao cho học
    sinh khối mẫu giáo thực hiện cùng cô, nhặt cỏ trong các bồn hoa, vườn rau để
    các con giữ gìn môi trường nhà trường luôn sạch.
    Các phòng hành chính và các phòng chức năng của nhà trường cũng được
    chỉ đạo vệ sinh, bố trí sắp xếp hợp lý tủ, bàn, trang trí hoa lá để tạo môi trường
    thoải mái, sạch đẹp cho cán bộ, giáo viên, học sinh học tập, làm việc.
    Cùng với việc hướng dẫn học sinh lao động, tập thể cán bộ – giáo viện –
    nhân viên cùng ra sức đóng góp công sức vào việc cải tạo, xây dựng cảnh quan
    sư phạm nhà trường vì một số công việc học sinh mầm non không thể làm được,
    đội ngũ cán bộ – giáo viên – nhân viên của đơn vị coi nhà trường là ngôi nhà
    chung của cả tập thể sư phạm từ đó ra sức cống hiến.
    16
    Việc tổ chức lao động thường xuyên, định kỳ đảm bảo cho khuôn viên
    trường, phòng học, phòng chức năng và các phòng hành chính luôn luôn được
    giữ gìn sạch sẽ hàng ngày, vườn hoa, cây cảnh luôn được xanh tốt.
    Cô vệ sinh đồ dùng, đồ chơi
    17
    Cô sắp xếp lại đồ dùng, đồ chơi
    Biện pháp 9. Giáo dục môi trường, giáo dục kỹ năng sống trong các
    môn học và các hoạt động.
    Hiện nay việc tích hợp bảo vệ môi trường, giáo dục kỹ năng sống trong
    một số tiết học là bắt buộc. Nếu các thầy cô giáo biết cách lồng ghép thường
    xuyên vấn đề này trong các bài giảng của mình thì hiệu quả chắc chắn không
    phải là nhỏ. Sở dĩ như vậy vì thầy cô giáo vừa là những tấm gương rất thuyết
    phục, vừa là những người có sức lay động cảm hóa sâu sắc. Một lời nói của thầy
    cô có thể tác động trực tiếp và lớn lao hơn cả những chương trình truyền thống
    khô cứng.
    Để chỉ đạo thực hiện có hiệu quả nội dung trên thị nhà trường tổ chức tập
    huấn các chuyên đề bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cho giáo viên về giáo dục
    môi trường nhằm nâng cao khả năng tích hợp, lồng ghép giáo dục môi trường
    trong các giờ học chính khóa.
    18
    Tổ chức hội giảng mẫu giáo cho giáo viên toàn trường rút kinh nghiệm.
    Tổ
    chức hội giảng cho các tổ khối để giáo viên trong tổ cùng bàn bạc để đưa ra
    những phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh từng khối.
    Giờ hội giảng của các cô
    Ban giám hiệu thường xuyên dự giờ và góp ý cho giáo viên cách thực
    hiện để đạt mục tiêu đề ra. Đặc biệt chú ý giáo viên đến việc giáo dục bằng
    những tình huống cụ thể tránh nói lý thuyết suông. Qua các giờ học và các hoạt
    động giáo viên lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh.

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa