• SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên trong trường mầm non

    SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên trong trường mầm non

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Như chúng ta đã biết bậc học Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống
    giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, hình thành cho
    trẻ cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu của
    giáo dục Mầm non là chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ từ 0- 6 tuổi, tạo cơ sở ban đầu để
    trẻ phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ. Những kỹ năng mà
    trẻ được tiếp thu qua chương trình chăm sóc giáo dục mầm non sẽ là nền tảng cho
    việc học tập và thành công sau này của trẻ.
    Để quá trình giáo dục mầm non đạt hiệu quả đòi hỏi phải có đội ngũ giáo
    viên mầm non có đầy đủ phẩm chất đạo đức, năng lực sư phạm và trình độ chuyên
    môn nghiệp vụ vững vàng đáp ứng với yêu cầu đổi mới hiện nay của ngành học đó
    là nỗi trăn trở, suy nghĩ của nhiều cấp quản lý giáo dục bởi đội ngũ giáo viên chính
    là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục.
    Muốn có được đội ngũ giáo viên vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ,
    người cán bộ quản lý phải luôn luôn có kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ giáo viên. Bên
    cạnh đó tính đa dạng, phức tạp đặc trưng của ngành học mầm non đó là: Vai trò
    của người giáo viên mầm non rất quan trọng, là người đặt nền móng cho sự phát
    triển toàn diện của trẻ và là người mẹ thứ 2 của các cháu. Lao động của giáo viên
    mầm non là lao động mang tính khoa học và nghệ thuật đòi hỏi công phu vì cô
    giáo là tấm gương cho trẻ học và bắt chước. Chính vì thể mà cô giáo mầm non phải
    hội tụ đầy đủ những yêu cầu về phẩm chất và năng lực chuyên môn để thực hiện
    mục tiêu chương trình giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay.
    Qua thực trạng về đội ngũ giáo viên ở trường mầm non thị trấn Rạng Đông
    nơi tôi đang công tác, tôi thấy rằng 100% viên mầm non đều được đào tạo theo
    đúng chuyên môn của ngành học, song do chưa đồng đều về trình độ chuyên môn,
    còn nhiều giáo viên có tuổi đời, tuổi nghề cao có nhiều kinh nghiệm nhưng việc
    đổi mới phương pháp giáo dục và vận dụng các kiến thức mới trong các hoạt động
    2
    giáo dục trẻ còn hạn chế, một số giáo viên trẻ mới ra trường kinh nghiệm còn non
    trẻ lại có con nhỏ nên việc thích ứng với chương trình mới còn chậm chạp, qua loa,
    chưa đồng bộ, chưa chủ động, mạnh dạn, tự tin trong các hoạt động chăm sóc giáo
    dục trẻ; một số giáo viên theo học các lớp đào tạo của hệ liên kết, tại chức nên
    phương pháp dạy trẻ còn nhiều hạn chế, nghệ thuật và kinh nghiệm giảng dạy chưa
    thực sự đáp ứng được yêu cầu đổi mới, dẫn đến chất lượng giáo dục chưa đồng đều
    do đó chưa đáp ứng kịp thời với yêu cầu giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện
    nay.
    Nhận thức của giáo viên mầm non về công tác bồi dưỡng chuyên môn còn
    hạn chế, nhiều giáo viên chưa tích cực trong công tác tự học, tự bồi dưỡng chuyên
    môn, nội dung của công tác bồi dưỡng chuyên môn của nhà trường nhiều khi thực
    hiện chưa đầy đủ, thiếu kế hoạch, còn chung chung, nặng về lý thuyết; biện pháp
    chỉ đạo triển khai công tác bồi dưỡng chuyên môn chưa thực sự khoa học, bên
    cạnh đó thời lượng làm việc trên lớp của giáo viên quá nhiều … Đó là nguyên
    nhân thực tiễn dẫn đến kết quả công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo
    viên trong trường còn hạn chế.
    Bên cạnh đó một số phụ huynh thiếu quan tâm đến sự phát triển toàn diện
    của trẻ do điều kiện kinh tế khó khăn hoặc không có nhiều thời gian để chăm sóc
    giáo dục con. Mặt khác cơ sở vật chất của nhà trường còn hạn chế do diện tích
    điểm trường khu trung tâm chặt hẹp, chưa đáp ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục.
    Vì vậy việc nâng cao chất lượng giáo dục trẻ nhằm thực hiện tốt chất lượng giáo
    dục, tiếp cận đổi mới giáo dục mầm non, giúp trẻ phát triển một cách toàn diện là
    hết sức cần thiết.
    Đứng trước yêu cầu nội dung chương trình giáo dục mầm non, đòi hỏi mỗi
    giáo viên phải thực sự say mê với công việc, luôn luôn tìm tòi khám phá cái mới để
    phù hợp với chủ đề, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của từng lứa tuổi, với đặc
    điểm tỉnh hình của trường, lớp… vì đây chỉ là chương trình khung. Trong thời đại
    công nghệ 4.0, yêu cầu giáo dục mầm non phải luôn luôn đổi mới, đòi hỏi đội ngũ
    giáo viên phải được bồi dưỡng thường xuyên về mọi mặt để đáp ứng thực tiễn. Đội
    ngũ giáo viên Mầm non là lực lượng chăm sóc giáo dục trẻ, mọi thành công hay
    3
    thất bại phụ thuộc hoàn toàn vào chất lượng của đội ngũ giáo viên. Do vậy việc bồi
    dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đòi hỏi người quản lý phải chủ động
    xây dựng kế hoạch từng năm, bồi dưỡng định kì, bồi dưỡng thường xuyên… làm
    thế nào để người giáo viên thấy được nhu cầu cần thiết phải tự bồi dưỡng chuyên
    môn nghiệp vụ.
    Vậy làm thế nào để giúp giáo viên đội ngũ giáo viên có phẩm chất đạo đức
    tốt, có năng lực chuyên môn vững vàng, có lòng nhân ái và có lý tưởng nghề
    nghiệp, chủ động, sáng tạo, linh hoạt, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức
    trong các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn
    nghiệp vụ? Chính vì thế bản thân tôi là phó hiệu trưởng phụ trách chỉ đạo chuyên
    môn toàn trường nên tôi mạnh dạn chọn đề tài SKKN “ Một số biện pháp nâng
    cao chất lượng bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên trong trường mầm
    non”. Làm đề tài nghiên cứu và áp dụng vào đơn vị trường mầm non thị trấn Rạng
    Đông năm học 2019- 2020.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến.
    Trường mầm non thị trấn Rạng Đông có 3 điểm trường, các phòng học, phòng
    chức năng đều cao tầng kiên cố hóa, năm học 2019- 2020 toàn trường có 22 nhóm
    lớp với tổng số học sinh là 757 trẻ.
    Trường có tổng số 44 CBGV, NV: trong đó có 3 cán bộ quản lý và 1 nhân viên
    kế toán và 40 giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy, chăm sóc, giáo dục trẻ.
    – Sè CBGV có trình độ đại học: 7/44= 15,9%
    – Số CBGV có trình độ cao đẳng: 26/48= 59,1%
    – Số CBGV, nhân viên có trình độ đạt chuẩn: 11/44= 25%
    Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên trường mầm non thị trấn Rạng Đông
    nhiệt tình, yêu nghề, luôn đoàn kết, đồng lòng, hăng say trong công việc, có ý
    thức trách nhiệm cao, có trình độ chuyên môn vững vàng, tích cực học hỏi, tự bồi
    dưỡng để làm tốt việc chăm sóc giáo dục trẻ.
    4
    Nhà trường có chi bộ Đảng gồm 24 đảng viên luôn đoàn kết, gương mẫu đi
    đầu trong các phong trào thi đua của nhà trường. Chi bộ luôn được Đảng ủy thị
    trấn Rạng Đông công nhận và đánh giá là chi bộ trong sạch – vững mạnh xuất sắc.
    Chi đoàn thanh niên có 22 đoàn viên, các đoàn viên đều tham gia tích cực,
    sôi nổi, luôn là lực lượng xung kích đi đầu trong các phong trào thi đua của ngành,
    trường và địa phương là nhân tố quyết định tiên phong trong các hoạt động của nhà
    trường. Tổ trưởng, tổ phó chuyên môn là bí thư, phó bí thư chi đoàn. Chi đoàn
    thanh niên nhiều năm liền được Đoàn thị trấn công nhận là chi đoàn vững mạnh.
    Căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trường tôi nhận thấy có những thuận
    lợi, khó khăn sau:
    1.1 Thuận lợi:
    Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện của các cấp lãnh đạo
    địa phương cũng như sự chỉ đạo sát sao về chuyên môn của Phòng Giáo dục và
    Đào tạo huyện Nghĩa Hưng
    Ban giám hiệu nhà trường đoàn kết, tích cực, chủ động tham mưu với các
    cấp lãnh đạo đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tạo nguồn kinh phí cho hoạt động
    chuyên môn, thúc đẩy nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ.
    Đội ngũ tổ trưởng, tổ phó chuyên môn có trình độ chuyên môn khá vững
    vàng, tích cực chịu khó học hỏi để hoàn thành tốt nhiệm vụ đựơc giao. Đội ngũ
    giáo viên trong nhà trường “yêu nghề, mến trẻ”, nhiệt tình, trách nhiệm, chịu khó
    học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
    Bản thân tôi nhiệt tình, tâm huyết với nghề, có trình độ chuyên môn đạt trên
    chuẩn, biết lắng nghe ý kiến đóng góp của đồng nghiệp để xây dựng kế hoạch
    chuyên môn kịp thời, phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường.
    Năm học 2019- 2020 là một năm học đặc biệt đối với các cấp học ngành học
    do bệnh dịch Covid 19 bùng phát nên học sinh phải nghỉ học ở nhà, Mặc dù trẻ
    không đến trường nhưng đội ngũ giáo viên vẫn ngày đêm miệt mài sinh hoạt tổ
    nhóm chuyên môn để xây dựng các nội dung tuyên truyền về bệnh dịch, xây dựng
    các bài giảng theo từng độ tuổi chuyển tải tới các bậc phụ huynh ôn luyện cho con
    5
    ở nhà trên kệ thống, Zalo nhóm lớp, Facebook ,….và đây cũng là thời gian thích
    hợp để nhà trường tập trung bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ giáo viên
    1.2 Khó khăn: Bên cạnh những mặt thuận lợi nhà trường cũng gặp không
    ít những khó khăn như:
    Trường còn thiếu phòng chức năng và trang thiết bị các phòng chức năng,
    các phòng học xây dựng lâu nên đã xuống cấp chưa đáp ứng về CSVC trong giai
    đoạn hiện nay.
    Trường có 3 điểm trường nằm cách xa nhau ảnh hưởng đến công tác quản lý
    và trao đổi học tập chuyên môn của giáo viên. Số học sinh trên lớp đông, thiếu
    giáo viên nên cường độ lao động của giáo viên cao, thời gian bố trí cho giáo viên
    học tập trao đổi chuyên môn còn gặp nhiều khó khăn.
    Đội ngũ giáo viên tuổi đời không đồng đều: một bộ phận giáo viên có tuổi
    đời cao, một bộ phận giáo viên mới tuyển chưa có nhiều kinh nghiệm, năng lực
    còn hạn chế nên việc tiếp thu về cải tiến, đổi mới phương pháp còn chậm.
    Nhận thức về vị trí, vai trò và nhiệm vụ của công tác tự bồi dưỡng chuyên
    môn của đội ngũ giáo viên chưa đầy đủ, chưa thực sự phấn khích tham gia hoạt
    động chuyên môn, chưa thấy rõ vai trò của bồi dưỡng chuyên môn đối với công tác
    của mình
    Nhiều giáo viên việc cập nhật, ứng dụng các thiết bị dạy học, ứng dụng công
    nghệ thông tin còn hạn chế, số lượng phụ huynh học sinh kết nối với nhà trường,
    nhóm lớp trên các kênh thông tin như Zalo, Facebook, trường xanh… còn ít do vậy
    việc chuyển tải các thông tin trao đổi với phụ huynh trong mùa dịch Corona còn
    gặp nhiều khó khăn.
    Bài soạn đưa ra mục đích yêu cầu còn chung chung, hệ thống câu hỏi đóng,
    thiếu tính gợi mở, hình thức tổ chức bị khô cứng, xử lý tình huống sư phạm chưa
    thật sự linh hoạt, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong các hoạt động còn
    hạn chế.
    Nội dung sinh hoạt chuyên môn của tổ chuyên môn chưa phong phú, đa
    dạng về hình thức sinh hoạt, khi tham gia sinh hoạt chuyên môn giáo viên trong tổ
    còn chưa mạnh dạn tham gia đóng góp ý kiến riêng của mình.
    6
    Để thực hiện tốt công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên mầm
    non, tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng trình độ chuyên môn nghiệp vụ của giáo
    viên thông qua việc đánh giá năng lực sư phạm thực tiễn và theo chuẩn nghề
    nghiệp giáo viện mầm non, kết quả khảo sát cụ thể như sau:
    KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ CMNV CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
    NĂM HỌC 2018- 2019
    Biểu 1: Đánh giá trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên theo
    chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non .

    STTTiêu chuẩnĐánh giá, xếp loại
    TốtKháTB
    1Đạo đức nhà giáo44//
    2Phong cách làm việc395/
    3Phát triển chuyên môn bản thân26144
    4Xây dựng kế hoạch CSGD trẻ theo hướng phát
    triển toàn diện trẻ em
    2816
    5Kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục.27143
    6Kỹ năng quản lý lớp học.18197
    7Quan sát và đánh giá sự phát triển của trẻ em22175
    8Xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành
    mạnh, thân thiện
    3212
    9Ứng dụng công nghệ thông tin42812
    10Thể hiện khả năng nghệ thuật trong hoạt động
    chăm sóc giáo dục trẻ.
    122210
    11Kỹ năng giao tiếp, ứng xử với trẻ, đồng nghiệp,
    phụ huynh và cộng đồng.
    3212

    7
    Biểu 2: Trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên thông qua các hoạt động
    chăm sóc giáo dục trẻ tại trường.

    STTNội dungSố giáo viên đạt /tỷ lệ %
    TốtKhá
    1Xây dựng kế hoạch giáo dục trẻ theo
    quan điểm “lấy trẻ làm trung tâm”.
    33/44=75%11/44=25%
    2Kết quả tham gia Hội giảng cấp
    trường
    32/44=72,7%12/44=27,3%
    3Kết qủa kiểm tra chuyên đề, kiểm tra
    toàn diện
    KTTD:10/10=100%
    KTCĐ:24/33=72,7%
    KTTD: 0
    KTCĐ:9/33=27,3%
    4Trang trí đổi mới không gian lớp học,
    tạo môi trường học tập cho trẻ.
    32/44=72,7%12/44=27,2%
    5Làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo bằng các
    nguyên vật liệu sẵn có.
    29/44=65,9%15/44=34,1%

    1.3. Nguyên nhân của thực trạng:
    – Do năng lực, trình độ nhận thức, tuổi đời, của giáo viên trong nhà trường
    chưa đồng đều, giáo viên còn rập khuân, máy móc, cứng nhắc trong việc thực hiện
    giảng dạy. Số giáo viên trẻ phần đa là giáo viên mới tuyển dụng nên phần nào ảnh
    hưởng đến chất lượng giảng dạy. Nhà trường chưa chú trọng đầu tư nhiều thời gian
    cho việc tổ chức tập huấn chuyên môn cho đội ngũ giáo viên. Giáo viên chưa chủ
    động trong công tác tự bồi dưỡng chuyên môn, đang mang tính ỷ lại phụ thuộc vào
    nhà trường. Giáo viên chưa chịu khó nghiên cứu các tài liệu liên quan đến công tác
    chuyên môn, chỉ thực hiện theo quán tính… sợ khó, sợ sai nên chưa có tính sáng
    tạo trong tổ chức các hoạt động.
    Thực tế trên đã đặt ra yêu cầu cấp thiết cho cán bộ quản lý nhà trường: Phải
    tích cực tổ chức bồi dưỡng chuyên môn ngay và lâu dài để có đội ngũ giáo viên
    8
    vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng với yêu cầu chăm sóc giáo dục trẻ
    hiện nay.
    2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến:
    Đứng trước thực trạng của nhà trường và căn cứ vào yêu cầu của ngành học
    đề ra, bản thân là một cán bộ quản lý chuyên môn trường mầm non có nhiệm vụ
    bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên trong trường. Để thực hiện được
    nhiệm vụ đó tôi thường xuyên theo dõi, giám sát, nhắc nhở việc thực hiện nền nếp
    chuyên môn trong nhà trường để nắm bắt được giáo viên nào giỏi về năng lực
    chuyên môn nghiệp vụ và giáo viên nào còn hạn chế về năng lực để có kế hoạch
    tham mưu với Đ/c Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên sao cho
    phù hợp với tình hình thực tế và tận dụng mọi điều kiện, cơ hội để giáo viên tham
    gia học tập bồi dưỡng chuyên môn mọi lúc, mọi nơi và đạt hiệu quả. Tôi luôn ý
    thức được rằng muốn xây dựng đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn nghiệp
    vụ vững vàng để nâng cao hơn nữa chất lượng thực hiện chương trình chăm sóc
    giáo dục trẻ thì trước hết nhà trường phải có một cơ sở vật chất tương đối, toàn
    diện về mọi mặt. Để bồi dưỡng tốt chuyên môn cho đội ngũ giáo viên trong nhà
    trường tôi đã mạnh dạn đưa ra một số biện pháp sau:
    3. Các biện pháp bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên
    Đối với giáo viên mầm non, bồi dưỡng là phải bám sát mục tiêu cơ bản của
    giáo dục mầm non hiện nay và hướng tới những đổi mới của giáo dục mầm
    non. Để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, là Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên
    môn, bản thân tôi đã nghiên cứu tài liệu, bám sát thực tế của nhà trường, học hỏi
    kinh nghiệm quản lý trường bạn để đưa ra một số biện pháp bồi dưỡng chuyên
    môn cho đội ngũ giáo viên trong trường mầm non cụ thể như sau:
    3.1.Biện pháp 1: Bồi dưỡng nâng cao nhận thức về phẩm chất chính trị và
    đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ giáo viên:
    – Ngay từ đầu năm học tôi đã tham mưu cho đồng chí Hiệu trưởng tổ chức
    cho giáo viên học tập, trao đổi, thảo luận nội quy, quy chế của nhà trường trong đó
    chú trọng đến quy chế chuyên môn, quy chế dân chủ, bộ quy tắc ứng xử…, nội quy
    đón trẻ trẻ của nhà trường…Mọi thành viên trong nhà trường đều nắm được một số
    9
    văn bản cơ bản, chủ yếu như: Điều lệ trường mầm non, Luật giáo dục sửa đổi…,
    các quy định về nền nếp chuyên môn, sinh hoạt tổ nhóm, mục tiêu, kế hoạch đào
    tạo, mục tiêu, nội dung chương trình, kết quả mong đợi của từng độ tuổi, chế độ
    sinh hoạt một ngày ở trường mầm non, các quy tắc ứng xử giữa đồng nghiệp với
    đồng nghiệp, giữa cô với trẻ, giáo viên với phụ huynh, trẻ với trẻ, trao đổi thảo
    luận các tiêu chí đánh giá trẻ, tiêu chí đánh giá thi đua nhóm lớp… để mọi giáo
    viên nắm bắt được và thực hiện.
    Ngoài việc phổ biến trực tiếp trên các hội nghị, in tài liệu cho giáo nghiên
    cứu nhà trường còn khuyến cáo giáo viên tìm hiểu trên các phương tiện thông tin
    đại chúng. Hình thức tổ chức bồi dưỡng như sau:
    Thứ nhất: Vào đầu năm học nhà trường đã tổ chức cho các cán bộ giáo viên
    được tham gia học tập lớp bồi dưỡng chính trị hè, tổ chức hội nghị công chức, viên
    chức cho giáo viên ký cam kết với nhà trường đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ,
    không vi phạm đạo đức nhà giáo, tuyên truyền đến 100% cán bộ giáo viên, nhân
    viên thực hiện tốt các cuộc vận động và các phong trào thi đua do ngành phát
    động. Xây dựng kế hoạch phát động phong trào thi đua chào mừng các ngày lễ lớn
    trong năm như: 20/10, 15-8 âm lịch, 20/11, 22/12, 3/2, 8/3, 30/4, 1/5, 19/5, 01/6…
    Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức trường mầm non thị trấn Rạng Đông
    10
    Năm học 2019- 2020
    Thứ hai: Trong các cuộc họp hội đồng định kỳ vào thứ 7 tuần 4 hàng tháng
    nhà trường luôn tổ chức học tập, triển khai đầy đủ mọi thông tư, chỉ thị, quyết định
    của ngành và cấp trên. Triển khai các yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp giáo viên
    mầm non, điều lệ giáo viên mầm non, nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của người
    giáo viên mầm non, những điều giáo viên được làm và không được làm, đặc biệt
    chú ý đến vấn đề vi phạm đạo đức nhà giáo….thông qua đó nhằm nâng cao nhận
    thức chính trị cho đội ngũ cán bộ giáo viên.
    Một buổi học tập bồi dưỡng chuyên môn
    của cán bộ giáo viên nhà trường đầu năm học2019- 2020
    Thứ ba: Tổ chức cho toàn thể đội ngũ cán bộ giáo viên tham gia các cuộc thi
    tìm hiểu 90 năm ngày thành lập Đảng, thi tìm hiểu về pháp luật, những đổi mới
    trong ngành giáo dục, thi tìm hiểu 90 ngành truyền thống tuyên giáo.. . Xây dựng
    tủ sách pháp luật tại trường, khuyến khích giáo viên thường xuyên đọc báo, chú
    trọng tới báo Đảng, báo giáo dục thời đại, các tạp chí giáo dục mầm non…
    11
    Tổng kết thực hiện chuyên đề: “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức,
    phong cách Hồ Chí Minh”, Nhà trường tổ chức cho cán bộ giáo viên,
    nhân viên đi thăm và viếng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
    Thứ tư: Tổ chức tốt các ngày hội, ngày lễ trong năm (5/9, tết trung thu,
    20/10, 20/11, 22/12, 8/3, 1/6…), chú trọng các hoạt động ngoại khóa của cô và trò,
    như tổ chức cho trẻ 4, 5 tuổi đi thăm quan nghĩa trang liệt sỹ…thông qua đó giáo
    dục nâng cao phẩm chất đạo đức, tác phong nghề nghiệp cho giáo viên.
    Thứ năm: Thực hiện nghiêm túc, công khai công tác kiểm tra, đánh giá, tổ
    chức xét thi đua dựa theo các yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non,
    đưa lĩnh vực phẫm chất chính trị, đạo đức, lối sống là một trong những lĩnh vực
    quan trọng để xét thi đua hàng tháng, học kỳ và năm học.
    – Bản thân tôi luôn đi đầu trong việc thực hiện kỷ cương, nền nếp, nội quy,
    quy chế cũng như học tập bồi dưỡng chuyên môn, cùng các đ/c chí trong ban giám
    hiệu nhà trường phát động phong trào thi đua và thực hiện cuộc vận động: Thực
    hiện chỉ thị số 05- CT/TW của Bộ Chính trị về về “ Đẩy mạnh học tập và làm theo
    tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; các cuộc vận động lớn của ngành:
    12
    “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”; Các phong trào
    thi đua như: “ Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực”: “ Xây dựng
    trường mầm non lấy trẻ là trung tâm”; Xây dựng trường học hạnh phúc, Xây dựng
    mô hình trường học văn minh, học sinh thân thiện, không có ma túy và bạo lực học
    đường…
    – Bản thân tôi thường xuyên kiểm tra theo dõi và giám sát chặt chẽ việc thực
    hiện nền nếp chuyên môn của giáo viên và của trẻ trong nhà trường. Tích cực thăm
    lớp, dự giờ để rút kinh nghiệm, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc cho giáo viên
    trong quá trình thực hiện chuyên môn, đồng thời phát hiện giáo viên đầu mạnh,
    đầu yếu để có kế hoạch bồi dưỡng.
    – Chỉ đạo các nhóm lớp tổ chức họp phụ huynh học sinh, mời phụ huynh dự
    giờ, thảo luận, tìm hiểu nền nếp học tập của trẻ ở trường đồng thời tuyên truyền
    cho các phụ huynh nắm bắt được và phối kết hợp với nhà trường trong công tác
    chăm sóc giáo dục trẻ qua đó giúp giáo viên mạnh dạn, tự tin khi lên lớp.
    3.2.Biện pháp 2: Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch chuyên môn:
    Việc xây dựng kế hoạch hoạt động của tổ nhóm chuyên môn và cá nhân mỗi
    giáo viên là không thể thiếu trong quá trình giáo dục trẻ của mỗi giáo viên trong
    trường mầm non. Song việc xây dựng kế hoạch như thế nào cho phù hợp với trình
    độ chuyên môn chung của giáo viên trong trường để đạt kết quả cao là việc làm
    không đơn giản.
    Xác định được nhiệm vụ trọng tâm của năm học 2019-2020 là tiếp tục xây
    dựng “trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm”, “ Xây dựng trường học hạnh
    phúc”, “ Xây dựng mô hình trường học văn minh, học sinh thân thiện, không có
    matúy và bạo lực học đường”, gắn với việc nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo
    dục trẻ nhằm thực hiện tốt Chỉ thị 05/CT-TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy
    mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
    Trên cơ sở kế hoạch nhiệm vụ năm học các cấp đã chỉ đạo và hướng dẫn từ
    đó tôi đã xây dựng kế hoạch chuyên môn: kế hoạch tháng; kế hoạch tuần, cụ thể
    hóa kế hoạch chuyên môn sát với tình hình của trường.
    * VD: Xây dựng lịch trình hoạt động ngoài trời, tổ chức các ngày hội, ngày lễ:
    13
    Do diện tích điểm trường khu trung tâm nhỏ hẹp, học sinh đông nhưng
    không vì thế mà chúng tôi cắt xén bớt các hoạt động của trẻ, để khắc phục khó
    khăn này. Tôi đã cùng các đồng chí trong tổ chuyên môn thông nhất thời gian biểu
    hoạt động của nhà trường hợp lý. Tôi sắp xếp thời khoá biểu của các tổ, lớp so le
    nhau, chỉ đạo các lớp chia lớp khi tổ chức hoạt động học, hoạt động ngoài trời.
    Làm như thế sẽ giảm tải được số học sinh tham gia hoạt động ngoài trời cùng một
    lúc mà vẫn đảm bảo hoạt động.
    Có thể nói, việc xây dựng kế hoạch chuyên môn tốt cho ta được nhiều kết
    quả cao trong việc nâng cáo chất lượng giảng dạy cũng như kết quả giáo dục trẻ
    mầm non. Giúp cho giáo viên không bị gò bó trong quá trình dạy trẻ lĩnh hội kiến
    thức. Khi thực hiện việc “đổi mới” sinh hoạt chuyên môn của trường, tôi đã đúc
    kết được một số kinh nghiệm nhỏ như sau:
    Một là: Xây dựng kế hoạch chuyên môn sát với nhiệm vụ trọng tâm năm học
    của ngành, nhà trường và địa phương. Kế hoạch chuyên môn phải cụ thể chi tiết
    theo từng tuần, từng tháng, từng giai đoạn hoạt động.
    Hai là:Tổ trưởng chuyên môn phải xác định rõ vai trò trách nhiệm của
    mình trong việc chỉ đạo tổ chuyên môn hoạt động một cách toàn diện trên tất cả
    mọi lĩnh vực nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ năm học.
    Ba là: Căn cứ vào nhiệm vụ năm học phân công trách nhiệm một cách hợp
    lý theo năng lực, sở trường của từng thành viên trong tổ, phát huy tối đa năng lực
    của giáo viên.
    Bốn là: Xây dựng nội dung và hình thức sinh hoạt chuyên môn đa dạng và
    phong phú, đáp ứng được những vấn đề đổi mới trong giáo dục hiện nay cũng như
    phương pháp dạy học tích cực trong giáo dục mầm non.
    3.3.Biện pháp 3: Nâng cao trình độ trên chuẩn của giáo viên.
    Thực tế nhà trường vẫn còn 10 giáo viên trình độ đạt chuẩn trong đó phần
    đa là giáo viên mới tuyển và một số giáo viên có tuổi đời cao không có nhu cầu
    học tập. Do đó nhà trường phải xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên dài hạn,
    mỗi năm học tạo điều kiện cho mấy giáo viên đi học, ưu tiên các giáo viên có tuổi
    đời cao đi học trước, đồng thời vận động, động viên giáo viên đi học nâng cao
    14
    trình độ. Tham mưu với hiệu trưởng tạo mọi điều kiện thuận lợi cho giáo viên đi
    học nâng, cung cấp các tài liệu cần thiết cho giáo viên. Có như vậy mới đảm bảo
    nhà trường có một đội ngũ giáo viên, có đủ năng lực, trình độ chuyên môn đáp ứng
    nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ trong giai đoạn hiện nay.
    Tập thể cán bộ giáo viên nhà trường năm học 2019- 2020. Có 44 cán bộ
    giáo viên, nhân viên: Trình độ Đại học SP: 07Đ/c; Trình dộ CĐ SP: 26đ/c; Trình
    độ TC SP là 11
    Hiện nay số giáo viên có trình độ CĐSP, TCSP của nhà trường đang theo
    học các lớp Cao đẳng Đại học SP là 10 giáo viên, vẫn còn 1 giáo viên có trình độ
    trung cấp sư phạm do tuổi đời cao không có nhu cầu đi học và một nhân viên kế
    toán
    3.4.Biện pháp 4: Bồi dưỡng nâng cao kĩ năng sư phạm cho giáo viên mầm
    non:
    Dạy học là hoạt động đặc thù cần nhiều kỹ năng. Chính vì vậy, người giáo
    viên mầm non cần trang bị cho mình nhiều kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng sư phạm
    để đáp ứng với thực tế đổi mới ngày càng cao trong công tác chăm sóc giáo dục
    15
    trẻ. Một giáo viên giỏi phải có hệ thống kỹ năng sư phạm được chuyên môn hóa
    cao, sâu sắc và luôn thích ứng với nhiều hoàn cảnh khác nhau. Khi tiến hành bồi
    dưỡng kỹ năng sư phạm cần thiết cho đội ngũ giáo viên tại trường, tôi đã thực hiện
    việc tách rời, cụ thể hóa từng kỹ năng sư phạm để bồi dưỡng cho giáo viên đạt hiệu
    quả cao nhất.
    Kỹ năng sư phạm bắt buộc: Lợi thế của cô giáo mầm non chính là biết hát,
    biết múa và đọc truyện, biết cách sử dụng biến tấu nhạc cụ, biết cách làm đồ
    chơi… Đây là những kỹ năng bắt buộc các cô giáo tương lai cần nắm một cách
    thành thạo nếu muốn duy trì con đường “cô nuôi dạy trẻ”. Trong các cuộc thi do
    ngành phát động nhà trường luôn tham gia và có giải cao, bên cạnh đó còn thường
    xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ, tổ chức thi đua giữa các tổ chuyên
    môn, hội giảng chào mừng các ngày lễ lớn trong năm như: 20/10, 20/11, 8/3…vừa
    tạo được không khí vui vẻ, vừa là dịp để mỗi giáo viên rèn luyện năng khiếu, trau
    dồi chuyên môn của mỗi giáo viên trong nhà trường.
    Màn chào hỏi của giáo viên tham gia hội thi giáo viên tài năng duyên dáng
    Trau dồi kỹ năng giao tiếp và ứng xử với trẻ nhỏ: Một cô giáo mầm non dạy
    tốt là người luôn có trình độ chuyên môn và lòng yêu nghề. Là người yêu thương
    con trẻ giống như người mẹ thứ 2 của chúng. Chính bởi vậy, tôi luôn yêu cầu đội
    16
    ngũ giáo viên cần thường xuyên trau dồi nhiều hơn để hoàn thiện bản thân mình
    trong cách ứng xử với trẻ nhỏ, học được cách giao tiếp với trẻ, thực sự hiểu trẻ,
    luôn là tấm gương cho trẻ noi theo. Đây là một trong những kỹ năng quan trọnnhất
    và thường xuyên được sử dụng xuyên suốt quá trình dạy học.
    Kỹ năng giao tiếp với đồng nghiệp, phụ huynh của trẻ: Thiết lập mối quan
    hệ thân thiện cùng đồng nghiệp, phụ huynh học sinh rất quan trọng đối với giáo
    viên mầm non. Những mối quan hệ với đồng nghiệp, phụ huynh tốt đẹp sẽ giúp
    cho công việc trở nên nhẹ nhàng, sẽ làm cho bản thân họ thấy yêu nơi mà mình
    công tác gắn bó hơn, làm việc hiệu quả hơn và hơn tất cả là bạn sẽ thấy yêu con trẻ
    hơn. Do vậy chúng tôi có biện pháp kiểm tra, giám sát chéo lẫn nhau giữa các giáo
    viên trong lớp, cạnh lớp, bên cạnh đó Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên
    kiểm tra đột xuất, định kỳ.
    Kỹ năng soạn giáo án và tổ chức các trò chơi: Với nghề sư phạm mầm
    non không chỉ là sáng đến lớp rồi tối đi về mà còn đòi hỏi những giáo viên mầm
    non phải soạn trước giáo án kỹ càng, lựa chọn trò chơi, hoạt động cụ thể cho các
    con từng ngày để trẻ không thấy nhàm chán và giúp trẻ phát triển tốt một cách toàn
    diện. Là một giáo viên sư phạm giỏi cần phải biết cách đổi mới phương pháp giảng
    dạy mỗi ngày. Ban giám hiệu nhà trường lên lịch duyệt giáo án hàng tháng cho
    giáo viên theo tổ chuyên môn vào ngày mùng1, 15 của tuần 1 và tuần 3 hàng
    tháng, đưa nội dung soạn giáo án vào sinh hoạt chuyên môn hàng tháng, bồi dưỡng
    kỹ năng soạn giáo án và tổ chức trò chơi vào các đợt thi giáo viên dạy giỏi cấp
    trường, cấp huyện.
    Kỹ năng sơ cứu và hướng dẫn trẻ khi có những tai nạn xảy ra: Để chỉ đạo
    tốt công tác phòng chống tai nạn thương tích trong nhà trường, bản thân tôi đã
    cùng BGH đưa việc rèn kỹ năng sống cho trẻ vào các hoạt động, yêu cầu giáo viên
    cần trợ giúp các em biết cách xử lý những tình huống thường gặp trong cuộc sống
    như làm sao khi bị đứt tay, bị lạc đường…dùng những trò chơi đóng giả y tá để trẻ
    có thể hình dung được sự việc xảy ra và cách giải quyết, từ đó nâng dần ý thức tự
    lập cho trẻ.
    17
    Kỹ năng sử dụng thành thạo máy vi tính: Nhà trường động viên, tạo điều
    kiện cho giáo viên trong nhà trường tự học để có chứng chỉ về tin học, mở các lớp
    bồi dưỡng tại trường để những giáo viên biết sử dụng thành thạo hướng dẫn những
    giáo viên chưa thành thạo CNTT. Đến nay 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên
    trong nhà trường có chứng chỉ về tin học, khai thác thông tin trên mạng internet, sử
    dụng thành thạo CNTT trong các hoạt động giảng dạy.
    Đội ngũ giáo viên đang tích cực học ứng dụng công nghệ thông tin vào
    trong các hoạt động giáo dục trẻ
    Chỉ đạo đội ngũ giáo viên tích cực tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ
    nhận thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt là nâng cao trình độ ứng dụng
    công nghệ thông tin, liên hệ chặt chẽ và trao đổi thường xuyên với phụ huynh học
    sinh về chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ của nhà trường, của nhóm lớp qua hệ
    thống Zalo nhóm lớp, trường xanh… , không ngừng nghiên cứu học hỏi để từng
    bước đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao nhất lượng giáo dục đáp ứng
    với yêu cầu đổi mới của chương trình giáo dục mầm non mới và sự nghiệp “Trồng
    người” trong giai đoạn hiện nay./.
    Trong thời gian học sinh nghỉ dịch Covid 19, tôi đã chỉ đạo các tổ khối
    chuyên môn xây dựng các tiết dạy tập trung vào rèn các kỹ năng sống, kyỹ năng

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng xây dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm

    SKKN Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng xây dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Khi triển khai thực hiện chuyên đề: “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ
    làm trung tâm”, là cán bộ quản lý bản thân tôi xác định để thực hiện tốt chuyên
    đề thì việc chỉ đạo xây dựng môi trường giáo dục có vai trò hết sức quan trọng.
    Tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định 80/2017/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2017 của
    Chính phủ có hiệu lực ngày 05 tháng 9 năm 2017 nêu rõ: “Môi trường giáo dục
    là tất cả các điều kiện về vật chất và tinh thần có ảnh hưởng đến hoạt động giáo
    dục, học tập, rèn luyện và phát triển của người học”. Môi trường trong giáo dục
    không chỉ góp phần quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách con
    người mà quan trọng hơn là yếu tố môi trường thực tế đã kích thích chủ thể (con
    người) hoạt động năng động và sáng tạo hơn. Việc tạo lập, xây dựng và phát
    triển môi trường giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng của các nhà giáo dục
    trong thời kỳ đổi mới hiện nay.
    Có thể nói việc xây dựng môi trường giáo dục trong trường mầm non là
    thực sự cần thiết và quan trọng. Nó giúp giáo viên trong công tác tổ chức, hướng
    dẫn cho trẻ nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi và hoạt động của trẻ, thông qua đó
    nhân cách của trẻ được hình thành và phát triển toàn diện. Một môi trường sạch
    sẽ, an toàn, có sự bố trí khu vực chơi và học trong lớp và ngoài trời phù hợp,
    thuận tiện có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với sự phát triển thể chất của trẻ, mà
    còn thỏa mãn nhu cầu nhận thức, mở rộng hiểu biết của trẻ, kích thích trẻ hoạt
    động tích cực, sáng tạo. Môi trường giao tiếp cởi mở, thân thiện giữa cô với trẻ,
    giữa trẻ với trẻ và giữa trẻ với môi trường xung quanh sẽ tạo cơ hội cho trẻ được
    chia sẻ, giãi bày tâm sự, nguyện vọng, mong ước của trẻ với cô, với bạn bè, nhờ
    vậy mà cô hiểu trẻ hơn, trẻ hiểu nhau hơn, hoạt động phối hợp nhịp nhàng hơn
    nên hiệu quả hoạt động cũng cao hơn, trẻ yêu trường, yêu lớp, yêu cô giáo và
    bạn bè hơn. Đối với mỗi giáo viên mầm non, việc xây dựng môi trường giáo dục
    phù hợp sẽ là phương tiện, là điều kiện để họ phát triển phù hợp với từng trẻ và
    từng lứa tuổi. Đối với phụ huynh học sinh và cộng đồng xã hội, quá trình xây
    2
    dựng môi trường giáo dục sẽ thu hút được sự tham gia của các phụ huynh và sự
    đóng góp của cộng đồng xã hội để thỏa mãn mong đợi của họ đối với sự phát
    triển của trẻ trong từng giai đoạn, trong từng thời kì.
    Thực tế trong công tác chỉ đạo thực hiện chuyên đề: “Xây dựng trường
    mầm non lấy trẻ làm trung tâm” của trường mầm non thị trấn Rạng Đông trong
    nhiều năm qua đã có những thành công đáng kể. Môi trường giáo dục trong nhà
    trường được cải thiện, môi trường đã thực sự là yếu tố tham gia trực tiếp đến quá
    trình chăm sóc giáo dục chứ không đơn thuần chỉ là nơi diễn ra hoạt động học.
    Với trăn trở, làm thế nào để công tác xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm
    trung tâm ngày càng phát triển bền vững tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp
    chỉ đạo nâmg cao chất lượng xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung
    tâm” để đúc rút kinh nghiệm với mục đích đóng góp một số biện pháp, nhằm
    thực hiện tốt công tác xây dựng môi trường giáo dục tại đơn vị tôi công tác và
    góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến
    1.1. Thuận lợi:
    đạo của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Nghĩa Hưng, của Đảng uỷ, Hội đồng
    nhân dân, Uỷ ban nhân dân thị trấn Rạng Đông, sự phối kết hợp chặt chẽ của các
    ban ngành đoàn thể, sự đồng thuận tin tưởng của nhân dân thị trấn và sự ủng hộ
    nhiệt tình trách nhiệm của phụ huynh học sinh.
    Trường có 44 cán bộ giáo viên và nhân viên, 100% cán bộ giáo viên và
    nhân viên có trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn, có 24 cán bộ giáo
    viên là đảng viên. Đội ngũ cán bộ giáo viên luôn đoàn kết, có tinh thần trách
    nhiệm cao và có trình độ, kinh nghiệm chuyên môn vững vàng; có sức khỏe tốt,
    có khả năng tiếp cận khoa học công nghệ thông tin nhanh.
    Cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi được đầu tư đồng bộ, tương
    đối đầy đủ, có sự quan tâm ưu tiên cho chuyên đề “Xây dựng trường mầm non
    Trường Mầm non thị trấn Rạng Đông luôn nhận được sự quan tâm chỉ
    3
    lấy trẻ làm trung tâm”, trường là đơn vị trọng điểm thực hiện chuyên đề của
    giáo dục mầm non huyện Nghĩa Hưng.
    Trường có 3 điểm trường gồm 22 nhóm lớp với tổng số 757 trẻ. Trẻ luôn
    đi học chuyên cần, mạnh dạn, tự tin. Chất lượng giáo dục của nhà trường luôn
    dẫn đầu phong trào giáo dục mầm non của huyện. Nhà trường giữ vững danh
    hiệu “Tập thể lao động xuất sắc” 15 năm liên tục.
    1.2. Khó khăn:
    Trường thuộc địa bàn nông thôn, cách xa trung tâm văn hóa, dân cư sống
    thưa, kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Các hoạt
    động giao lưu văn hóa chủ yếu mang tính chất thuần nông ảnh hưởng đến việc
    tiếp cận khoa học công nghiệp mới.
    Nhận thức của một số phụ huynh về công tác phối kết hợp giữa nhà
    trường – gia đình – xã hội trong việc xây dựng môi trường xã hội cho trẻ ở mọi
    lúc mọi nơi còn hạn chế.
    Diện tích điểm trường khu trung tâm còn chật hẹp, số học sinh trên lớp
    đông ảnh hưởng không nhỏ đến công tác xây dựng môi trường ngoài lớp học và
    việc tổ chức hoạt động tại các góc chơi trong lớp học.
    Một số giáo viên cao tuổi tiếp cận thiết kế môi trường cho trẻ hoạt động
    chưa phong phú, bố trí các góc hoạt động chưa linh hoạt, chưa khai thác triệt để
    hiệu quả môi trường trong lớp học.
    Mặt khác, trong quá trình thực hiện chuyên đề một số giáo viên tiếp cận
    việc xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm vẫn tồn tại nhiều khó
    khăn, bất cập. Mỗi giáo viên thực hện theo cách thức quan điểm riêng, chưa có
    chiều sâu.
    Môi trường cho trẻ hoạt động chưa phong phú, còn mang tính áp đặt, cách
    bố trí các góc hoạt động đôi lúc chưa linh hoạt, chưa khai thác hiệu quả của các
    góc, các mảng tường, đồ dùng đồ chơi; chưa đầu tư suy nghĩ, tìm tòi, ngại đổi
    mới, ngại sáng tạo nên thực hiện xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung
    tâm chưa chưa đáp ứng được so với yêu cầu phát triển của giáo dục mầm non
    hiện nay.
    4
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1. Xây dựng kế hoạch chỉ đạo nâng cao chất lượng xây dựng môi
    trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
    Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của người hiệu trưởng là xây
    dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch. Kế hoạch cụ thể giúp việc điều hành công
    việc khoa học theo đúng kế hoạch đề ra và có hiệu quả cao. Mặt khác, khi triển
    khai thực hiện kế hoạch giúp người hiệu trưởng có những điều chỉnh linh hoạt.
    Trước khi xây dựng kế hoạch, tôi đã dựa trên kết quả trong công tác xây dựng
    môi trường lấy trẻ làm trung tâm của những năm học trước, phân tích ưu điểm,
    tồn tại cần khắc phục. Phân tích đánh giá thực trạng nhà trường để tìm ra điểm
    mạnh, điểm yếu và các nguồn lực cần huy động hỗ trợ nâng cao hơn nữa chất
    lượng của công tác xây dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm. Phân tích tình
    hình nhà trường, xã hội để biết được cơ hội cần tận dụng và các nguy cơ thách
    thức cần tránh.
    BẢNG TỔNG HỢP ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI XÂY DỰNG MÔI TRƢỜNG
    TRONG 3 NĂM THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ

    TTNội dung tiêu chí2016-20172017-20182018-2019
    Số
    nhóm
    lớp
    đạt
    Tỷ lệ
    %
    Số
    nhóm
    lớp
    đạt
    Tỷ lệ
    %
    Số
    nhóm
    lớp
    đạt
    Tỷ lệ
    %
    1Môi trường cơ sở vật chất an
    toàn
    15/2268,1817/2277,2719/2286,36
    2Môi trường giáo viên22/2210022/2210022/22100
    3Môi trường số lượng, chủng
    loại đồ dùng đồ chơi
    15/2268,1817/2277,2718/2281,81
    4Quy hoạch, trang trí, sắp xếp
    môi trường
    14/2263,6316/2272,7217/2277,27
    5Tính năng sử dụng môi
    trường cho trẻ
    13/2259,0915/2268,1817/2277,27
    6Tân dụng sử dụng tối đa môi
    trường hiện có
    13/2259,0915/2268,1817/2277,27

    5
    Căn cứ vào kế hoạch chỉ đạo chuyên đề của phòng Giáo dục và Đào tạo,
    căn cứ vào kết quả khảo sát thực tế và chất lượng việc xây dựng môi trường lấy
    trẻ làm trung tâm từ năm học trước, tôi nhận thấy đa số giáo viên đã biết cách
    xây dựng môi trường học tập cho trẻ phù hợp theo chủ đề, nhưng cách tạo các
    góc mở và cách khai thác các góc mở cho trẻ hoạt động còn hạn chế. Việc làm
    đồ dùng đồ chơi sáng tạo và khai thác có hiệu quả các đồ dùng, đồ chơi đã làm
    được đưa vào cho trẻ hoạt động còn lúng túng. Việc tận dụng triệt để sản phẩm
    của trẻ để trang trí môi trường chưa hiệu quả.
    Từ thực tế trên, tôi đã lồng ghép kế hoạch chỉ đạo xây dựng môi trường
    lấy trẻ làm trung tâm vào kế hoạch năm học, kế hoạch chuyên môn của nhà
    trường. Trong kế hoạch chỉ rõ những biệp pháp thực hiện nhằm nâng cao chất
    lượng công tác xây dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm. Chỉ đạo giáo viên
    căn cứ kế hoạch của nhà trường xây dựng kế hoạch cá nhân về nội dung xây
    dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm.
    Trong công tác chỉ đạo các bộ phận, tổ nhóm chuyên môn và giáo viên
    xây dựng kế hoạch, tôi chú trọng, quan tâm chỉ đạo sát sao, tỷ mỉ ngay từ việc
    cung cấp số liệu, chỉ tiêu cụ thể cho đồng chí phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên
    môn đến các đồng chí giáo viên, nhằm giúp họ xây dựng kế hoạch một cách cụ
    thể đúng hướng hơn. Đặc biệt là kế hoạch chỉ đạo chuyên môn của hiệu phó, tổ
    trưởng chuyên môn đây là nòng cốt quyết định đến chất lượng và hiệu quả công
    tác xây dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm của nhà trường cũng như thúc
    đẩy phong trào chung trong nhà trường.
    Trong công tác xây dựng kế hoạch và chỉ đạo xây dựng kế hoạch, tôi luôn
    quan tâm và coi trọng những giải pháp, số liệu, những chỉ tiêu nhiệm vụ theo
    từng thời kỳ, từng giai đoạn, tỷ mỉ đến từng tuần từ đó giúp từng thành viên xác
    định rõ mục tiêu cần đạt được của từng giai đoạn để phấn đấu, xác định các
    bước xây dựng kế hoạch có tính khả thi cao. Bên cạnh đó, tôi luôn động viên
    khích lệ mọi thành viên nêu cao tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm trong công
    việc thực hiện nhiệm vụ một cách tích cực, sáng tạo để tìm ra những biện pháp
    6
    hữu hiệu mang tính đột phá, để thực hiện kế hoạch mà tổ khối đề ra trên cơ sở
    kế hoạch năm học của nhà trường.
    Chỉ đạo hai đồng chí phó hiệu trưởng phối hợp với các đồng chí tổ trưởng
    chuyên môn xây dựng kế hoạch cụ thể cả hình thức tổ chức cũng như chỉ đạo về
    nội dung trong các buổi sinh hoạt chuyên môn theo quy định. Buổi sinh hoạt
    phải thực sự phong phú và bổ ích, có tác dụng thúc đẩy phong trào xây dựng
    trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm của nhà trường, đặc biệt chú trọng giúp
    đỡ nhau nhận thức sâu sắc về việc đổi mới phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ.
    Phân công nhiệm vụ một cách rõ ràng do đó đã giúp cho mọi thành viên trong tổ
    nâng cao tinh thần làm chủ, ý thức trách nhiệm trong công tác nâng cao chất
    lượng chăm sóc giáo dục trẻ đạt hiệu quả cao.
    2.2. Chỉ đạo sinh hoạt chuyên môn tổ nhóm, bồi dưỡng kỹ năng xây
    dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm
    Chỉ đạo duy trì nền nếp sinh hoạt chuyên môn tổ nhóm nhằm thực hiện
    mục tiêu kế hoạch xây dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm đạt hiệu quả cao
    là một trong nhiệm vụ quyết định quan trọng khi thực hiện chuyên đề. Điều lệ
    trường mầm non (Ban hành kèm theo Quyết định số 04/VBHN-BGDĐT ngày 24
    tháng 12 năm 2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo), tại điều 14 mục 2 khoản b nêu
    rõ nhiệm vụ của tổ chuyên môn là: “Thực hiện bồi bưỡng chuyên môn, nghiệp
    vụ, kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
    dục trẻ và quản lý sử dụng tài liệu, đồ dùng, đồ chơi, thiết bị giáo dục của các
    thành viên trong tổ theo kế hoạch của nhà trường”. Với nhiệm vụ đó, bản thân
    tôi đã xác định rõ vai trò của người hiệu trưởng trong việc giúp họ hành động
    theo mục tiêu thống nhất, tạo điều kiện cho họ hoàn thành nhiệm vụ của mình
    trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Thông qua tổ chuyên môn,
    hiệu trưởng sẽ nắm được hoạt động của giáo viên, phát huy cao độ sự thống nhất
    giữa hiệu trưởng với các thành viên trong nhà trường. Do đó, để quản lý tốt các
    hoạt động của tổ chuyên môn, người hiệu trưởng phải làm tốt chức năng của
    mình nhất là công tác chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, đánh giá; tập trung làm tốt
    7
    công tác bồi dưỡng nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn tổ nhóm để hoàn
    thành thắng lợi mục tiêu giáo dục đề ra.
    (Hình ảnh buổi sinh hoạt chuyên môn tổ nhóm)
    Ngay từ năm đầu thực hiện chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ
    làm trung tâm”, tôi luôn chú ý đến việc tổ chức tập huấn chuyên đề để giáo viên
    nắm chắc quan điểm chỉ đạo, mục đích, ý nghĩa, nội dung của chuyên đề. Để
    giúp giáo viên nắm chắc nội dung chuyên đề, tôi đã chỉ đạo tổ nhóm chuyên
    môn lựa chọn nội dung sinh hoạt, lồng ghép nội dung của chuyên đề. Tạo điều
    kiện tổ chức các lớp học tập chuyên môn toàn trường triển khai đầy đủ các văn
    bản chỉ đạo của các cấp về nội dung chuyên đề như: Mục tiêu tổng quát của
    chuyên đề là “Xây dựng trường mầm non bảo đảm các yêu cầu về môi trường giáo
    dục; đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo; đổi mới hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ theo
    quan điểm giáo dục lấy người học làm trung tâm”; Kế hoạch số 56/KHBGDĐT ngày 25 tháng 01 năm 2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành về
    triển khai chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” giai
    đoạn 2016-2020; Kế hoạch 166/SGDĐT ngày 22/02/2017 của Sở Giáo dục –
    Đào tạo Nam Định về triển khai chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ
    làm trung tâm”, giai đoạn 2016-2020; Kế hoạch số 72/KH-PGDĐT ngày
    01/3/2017 của phòng GD&ĐT Nghĩa Hưng về việc hướng dẫn xây dựng kế
    hoạch thực hiện chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm”,
    giai đoạn 2016-2020; Kế hoạch số 02/KH-TrMN ngày 10/3/2017 của trường
    8
    mầm non thị trấn Rạng Đông về thực hiện chuyên đề “Xây dựng trường mầm
    non lấy trẻ làm trung tâm” giai đoạn 2016-2020.
    Hình thức tổ chức bồi dưỡng trong sinh hoạt chuyên môn thường xuyên
    được thay đổi, phong phú về nội dung và hình thức:
    – Tổ chức cho giáo viên thảo luận, trao đổi, đưa ý tưởng xây dựng môi
    trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong từng nhóm lớp, phù hợp với cảnh
    quan khuôn viên lớp học mình phụ trách nhằm trao đổi kinh nghiệm.
    – Tổ chức cho giáo viên trình bày đề xuất, kiến nghị khó khăn trong thực
    hiện xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm của nhóm lớp mình
    chia sẻ cùng đồng nghiệp, cùng thảo luận tìm giải pháp khắc phục khó khăn
    trong tổ nhóm.
    – Tổ chức cho giáo viên tham gia đầy đủ các buổi tập huấn chuyên môn về
    chuyên đề do Phòng, cụm chuyên môn, nhà trường tổ chức.
    – Tổ chức các hoạt động thực hành, tiết dạy mẫu, tham quan mô hình
    điểm trong trường, cụm trường và trong huyện về công tác xây dựng môi trường
    lấy trẻ làm trung tâm.
    – Bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, tự khai thác tìm hiểu
    trên mạng internet, qua sách báo, tự nghiên cứu 6 nội dung, 56 tiêu chí của
    chuyên đề và đề ra mục tiêu phấn đấu của nhóm lớp. Sau mỗi đợt học tập bồi
    dưỡng và tự bồi dưỡng tôi thường tổ chức cho giáo viên viết bài thu hoạch, đúc
    rút kinh nghiệm và áp dụng thực hành tại nhóm lớp mình phụ trách.
    (Hình ảnh CBGV tham gia học tập bồi dưỡng chuyên môn cấp cụm trường)
    9
    2.2.2. Bồi dưỡng về kỹ năng thực hành xây dựng môi trường lấy trẻ làm
    trung tâm
    * Bồi dưỡng kỹ năng xây dựng môi trường trong lớp học
    Môi trường trong lớp học là nơi gần gũi nhất với trẻ trong các hoạt động
    theo thời gian biểu một ngày của trẻ. Việc xây dựng môi trường vật chất trong
    lớp học cho trẻ hoạt động phải đáp ứng nhu cầu, hứng thú chơi của trẻ, tạo điều
    kiện cho trẻ chơi mà học, học bằng chơi.
    Xác định được vị trí vai trò của môi trường trong lớp học, tôi đã chỉ đạo
    bộ phận chuyên môn, giáo viên nhóm lớp bám sát các tiêu chí, chỉ số về xây
    dựng môi trường trong lớp học để thực hiện. Bồi dưỡng cho giáo viên kỹ năng
    tạo không gian lớp học với những màu sắc sinh động, cách sắp xếp phù hợp, gần
    gũi, quen thuộc với cuộc sống thực hàng ngày của trẻ, thể hiện các nét văn hoá
    riêng của cộng đồng và của địa phương; luôn thay đổi để tạo ra sự hấp dẫn mới
    lạ đối với trẻ. Xây dựng môi trường trong lớp học đặc biệt chú ý đến điều kiện
    đảm bảo yêu cầu an toàn, hệ thống vệ sinh, hệ thống điện, nước, thiết bị phòng
    chống cháy nổ. Chỉ đạo giáo viên phân chia không gian và vị trí các khu vực
    phải phù hợp với diện tích, vị trí cửa ra vào, cửa sổ, các góc hoạt động trong lớp
    được xác định rõ ràng, có không gian riêng để cất giữ đồ đạc cá nhân của cô và
    trẻ. Việc sắp xếp các góc chơi đòi hỏi giáo viên cần cân nhắc kỹ càng, cẩn thận
    và phải rất linh hoạt. Trong bố trí góc chơi phải kết hợp hài hòa giữa hoạt động
    góc tĩnh và góc động, giữa việc tận dụng không gian trong nội dung các hoạt
    động chơi khi thay đổi.
    Khi chỉ đạo bồi dưỡng các kỹ năng bố trí các góc chơi trong lớp, tôi đã tổ
    chức cho tổ nhóm thiết kế mẫu trên nhóm lớp theo tổ chuyên môn để cùng nhau
    trao đổi thảo luận rút kinh nghiệm và vận dụng vào thực tế vào lớp mình, theo
    khả năng của mỗi giáo viên. Việc thiết kế bố trí các góc trên nguyên tắc: góc
    chơi cho trẻ và để trẻ hoạt động được, đặc biệt lưu ý một số nguyên tắc cơ bản
    các góc hoạt động được bố trí hợp lí, thuận tiện, linh hoạt như:
    – Góc hoạt động cần yên tĩnh bố trí xa góc hoạt động ồn ào, góc thư viện,
    sử dụng sách, tranh bố trí ở những nơi nhiều ánh sáng.
    10
    – Các góc hoạt động có “ranh giới” rõ ràng, có lối đi cho trẻ di chuyển
    thuận tiện khi liên kết giữa các góc chơi.
    – Các góc dễ dàng sắp xếp lại tùy theo yêu cầu hoạt động của trẻ và thiết
    kế hoạt động của giáo viên.
    – Tên hoặc ký hiệu các góc đơn giản, gần gũi với trẻ, được viết theo đúng
    quy định mẫu chữ hiện hành mà trẻ đang được làm quen.
    – Sắp xếp các góc để giáo viên có thể dễ dàng quan sát, giám sát được
    toàn bộ hoạt động của trẻ.
    Với trẻ mầm non, hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi. Môi trường
    vui chơi của trẻ trong lớp học ở trường mầm non là các mảng tường, các góc
    chơi, đồ chơi được sắp xếp, trang trí nổi bật nhằm thu hút sự chú ý của trẻ; là
    không gian lớp học gần gũi thân thiện, là bầu không khí lớp học vui tươi tràn
    ngập tiếng cười nói, chan hòa, cởi mở giữa cô và trẻ, giữa trẻ và trẻ. Vì vậy việc
    chỉ đạo giáo viên trang trí trong lớp học, chuẩn bị đồ dùng đồ chơi cho trẻ phù
    hợp với độ tuổi, đúng với mục tiêu của chuyên đề đóng vai trò không nhỏ trong
    quá trình học và chơi của trẻ. Bản thân tôi đã cùng giáo viên tìm tòi nguyên vật
    liệu, cách trang trí mảng tường có tính chất mở, phù hợp với lứa tuổi. Và ở đó là
    nơi trẻ mẫu giáo có thể thỏa thích trang trí theo ý tưởng, theo chủ đề, theo hoạt
    động học. Cách trang trí, sắp xếp đồ dùng đồ chơi hướng tới tạo cơ hội cho trẻ
    tìm tòi, khám phá, phát hiện nhiều điều mới lạ, hấp dẫn trong mỗi buổi học, trẻ
    tự lựa chọn hoạt động cá nhân hoặc theo nhóm một cách tích cực, không gò bó
    qua đó kiến thức và kỹ năng ở trẻ dần được hình thành.
    Giáo viên thường xuyên được hỗ trợ việc lập kế hoạch học tập cho trẻ,
    kích thích trẻ tham gia và làm phong phú hoạt động học, hoạt động chơi của trẻ.
    Đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu, học liệu có giá đựng ngăn nắp, gọn gàng, để
    ở nơi trẻ dễ thấy, dễ lấy, dễ dùng, dễ cất.
    Khi trang trí môi trường trong lớp học cần phù hợp với tính chất của các
    hoạt động, phù hợp với từng lứa tuổi. Trong lớp cần bố trí không gian phù hợp
    dành cho hoạt động chung của lớp và hoạt động theo sở thích, khả năng của
    nhóm nhỏ hoặc cá nhân. Chú ý đến sự phong phú của các loại đồ chơi đặc biệt là
    11
    những nguyên vật liệu mở và phương tiện cho trẻ được sáng tạo, tự làm đồ chơi
    phục vụ cho ý tưởng chơi của trẻ.
    (Hình ảnh trang trí mảng tường, góc lớp)
    Đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu được thay đổi và bổ sung phù hợp với
    mục tiêu chủ đề, của hoạt động và hứng thú của trẻ. Có nguyên vật liệu mang
    tính mở (lá cây, hột hạt…), sản phẩm hoàn thiện, sản phẩm chưa hoàn thiện…
    Có sản phẩm mua sẵn, sản phẩm cô và trẻ tự làm, sản phẩm của địa phương đặc
    trưng văn hóa vùng miền (trang phục, dụng cụ lao động…). Đồ dùng, đồ chơi,
    nguyên vật liệu phải đảm bảo an toàn, vệ sinh, phù hợp với thể chất và tâm lí
    của trẻ mầm non. Có thể thay đổi tùy theo giáo viên dự định và tùy vào hứng
    thú, khả năng của trẻ; phong phú, đa dạng và được bổ sung khi cần.
    Tôi đã chỉ đạo giáo viên chú ý đến đến độ tuổi để tạo môi trường, mỗi lớp
    có cách trang trí tạo môi trường với những nét riêng, cần đảm bảo tính mục đích:
    môi trường giáo dục phải hướng vào việc phát triển toàn diện của trẻ nhằm đạt
    được mục tiêu giáo dục mầm non nói chung và mục tiêu cuối độ tuổi nói riêng.
    Muốn đạt được điều đó thì khi thiết kế môi trường phải phù hợp với mục đích tổ
    chức các hoạt động; cần thu hút sự tham gia của trẻ vào việc xây dựng môi
    trường giáo dục càng nhiều càng tốt. Đây là những cơ hội quý báu để trẻ ứng
    12
    dụng kiến thức và kỹ năng trẻ đã được học theo cách của mình mà không bị gò
    bó, đặc biệt vào các thời điểm như chơi và hoạt động ở các góc vào buổi sáng và
    vào giờ hoạt động chiều.
    (Hình ảnh bé sử dụng nguyên liệu phế thải làm đồ chơi sáng tạo)
    (Hình ảnh hoạt động với đồ vật của các bé nhà trẻ)
    13
    (Hoạt động biểu diễn văn nghệ của các bé lớp mẫu giáo 4 tuổi)
    Trong việc trang trí xây dựng môi trường giáo viên luôn phải điều chỉnh
    kế hoạch giáo dục. Kế hoạch đảm bảo không áp đặt, không cung cấp cho trẻ
    những kiến thức kĩ năng đơn lẻ mà cung cấp kiến thức theo hướng tích hợp, rèn
    luyện hình thành và phát triển các năng lực, kĩ năng sống cho trẻ, tạo sự gắn kết,
    tác động một cách thống nhất đồng bộ đến sự phát triển của trẻ, khuyến khích trẻ
    tham gia tích cực vào các hoạt động giáo dục bằng nhiều hình thức khác nhau.
    Kế hoạch trước khi thực hiện được góp ý của tổ nhóm và ký duyệt của Ban giám
    hiệu nhà trường.
    (Hoạt động giao lưu ngôn ngữ, chơi bán hàng tại góc chơi lớp MG 5 tuổi)
    14
    Bên cạnh công tác chỉ đạo bồi dưỡng trang trí môi trường trong lớp học,
    tôi đã quan tâm và chỉ rõ cho giáo viên thiết kế môi trường giáo dục hoạt động
    trong lớp và ngoài trời phù hợp, thuận tiện cho việc sử dụng của cô và trẻ. Quan
    tâm đến điều kiện thực tế không gian từng điểm trường để cân đối diện tích và
    các khu vực chơi.
    * Bồi dưỡng kỹ năng xây dựng môi trường ngoài lớp học

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học trong trường mầm non

    SKKN Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học trong trường mầm non

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN ẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
    Nhà khoa hoc Deodatta V. Shenai-Khatkhate người không chỉ có những
    công trình nghiên cứu mà ông còn có một kho tàng danh ngôn đời sống sâu sắc
    đầy ý nghĩa . Ông từng nói: “Một lời bất cẩn có thể nhóm lên xung đột. Một lời
    tàn nhẫn có thể phá hỏng một cuộc đời. Một lời đúng lúc có thể xua đi căng
    thẳng. Nhưng một lời yêu thương có thể chữa lành và chúc phúc”.
    Đúng vậy! Ngôn ngữ thực sự rất quan trọng đối với đời sống con người.
    Nó chính là phương thức biểu đạt ý muốn cho người khác hiểu được những suy
    nghĩ, nhu cầu, mong muốn của bản thân thông qua lời nói. Con người từ khi sinh
    ra mất 3 năm để học nói và cả đời để học cách sống làm người. Ngôn ngữ khi
    được nói ra đã thể hiện tính cách và đạo đức của con người đó. Phát triển ngôn
    ngữ cho trẻ là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục mầm non.
    Vì ngôn ngữ sẽ giúp trẻ bày tỏ, trao đổi và giao tiếp với nhau trong học tập cũng
    như vui chơi. Đặc biệt hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học sẽ thu
    hút sự chú ý của trẻ hơn. Các tác phẩm văn học, nhân cách, ngôn ngữ của trẻ
    được hình thành, phát triển và dần hoàn thiện. Hoạt động làm quen văn học làm
    phong phú thêm vốn từ của trẻ, trẻ biết dùng từ chính xác, có biểu cảm phù hợp
    với lời nói, từ đó giúp cho ngôn ngữ của trẻ phát triển. Văn học còn giúp cho trẻ
    nhận biết được cái hay, cái đẹp, cái thiện, cái ác. Thông qua các bài thơ, câu
    chuyện trẻ đã học tập được những điều hay lẽ phải và có những hành vi đúng
    đắn trong giao tiếp với mọi người.
    Ngày nay cuộc sống con người ngày càng hiện đại hơn, trẻ tiếp xúc nhiều
    với tivi, điện thoại, máy tính…Trẻ nhanh chóng bắt chước học theo ngôn ngữ
    trên mạng cả tốt và xấu mà trẻ chưa biết phân biệt được. Trong quá trình dạy
    học, tiếp xúc nhiều với các bậc phụ huynh tôi nhận thấy nhận thức của một số
    3
    bậc phụ huynh học sinh về việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ còn hạn chế chưa
    quan tâm đến việc rèn rũa, dạy con mình nói năng chuẩn mực, lễ phép. Một bộ
    phận phụ huynh quan niệm rằng: Trẻ 5-6 tuổi đến trường phải được học viết,
    học đọc, học tính toán…để chuẩn bị vào lớp 1. Vì vậy vốn từ của trẻ chưa nhiều,
    khả năng giao tiếp còn kém…Đa số trẻ còn lúng túng chưa biết dùng từ phù hợp
    để diễn đạt ý muốn của mình trong các hoàn cảnh giao tiếp.
    Ở trường mầm non phát triển ngôn ngữ cho trẻ là nhiệm vụ hết sức quan
    trọng, nó giúp trẻ dần hình thành cả 3 thành phần của ngôn ngữ: Phát âm, vốn
    từ, ngôn ngữ. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi mầm non chính là giúp trẻ nói
    mạch lạc, nói đủ câu có chủ ngữ vị ngữ, nói đủ từ. Người giáo viên mầm non có
    vai trò chủ đạo trong việc giúp trẻ phát âm đúng bởi ngay từ khi đi học trẻ được
    cô chăm sóc, nuôi dưỡng dạy dỗ cả ngày. Cô chính là người dạy cho trẻ tập nói
    và hiểu được nói như thế nào là đúng. Việc ghi nhớ này diễn ra một cách tự phát
    trong quá trình bắt trước lời nói của ông bà, bố mẹ, cô giáo…Kết quả là ngôn
    ngữ của trẻ được hình thành. Do đó nhiệm vụ của người giáo viên là tổ chức xây
    dựng môi trường thuận lợi cho việc phát triển ngôn ngữ để góp phần thúc đẩy
    quá trình hình thành nhân cách cho trẻ.
    Trong quá trình nhiều năm phụ trách lớp 5 tuổi, tôi nhận thấy được đặc
    điểm của bộ môn văn học rất phù hợp với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Văn
    học giúp trẻ tích lũy được vốn từ ngữ phong phú, đa dạng, giúp trẻ nói dễ dàng,
    nói chuẩn tiếng Việt, diễn đạt ngôn ngữ mạch lạc rõ ràng hơn. Chính vì vậy mà
    tôi đã mạnh dạn đi sâu vào nghiên cứu “ Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ
    cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học ở
    trường mầm non” để phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách tốt nhất tạo tiền đề
    cho trẻ bước vào lớp 1.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP:
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
    Phát triển ngôn ngữ là một trong những mục tiêu quan trọng nhất
    của giáo dục mầm non. Ngôn ngữ là công cụ để trẻ giao tiếp, học tập và vui
    4
    chơi, ngôn ngữ giữ vai trò quyết định sự phát triển tâm lí của trẻ. Bên cạnh đó,
    ngôn ngữ còn là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện bao gồm sự phát
    triển về đạo đức và chuẩn mực văn hóa. Như Usinxkin cũng đã từng nói: “ Ngôn
    ngữ là cơ sở của mọi sự phát triển trí tuệ và là kho tàng của mọi kiến thức. Tất
    cả mọi sự hiểu biết đều bắt đầu từ ngôn ngữ, thông qua ngôn ngữ và trở lại
    cũng bằng ngôn ngữ.”
    Thông qua hoạt động cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học giúp trẻ 5-
    6 tuổi phát triển ngôn ngữ một cách tốt nhất. Bởi vì qua câu truyện có hình ảnh,
    nội dung đối thoại giữa các nhân vật trong truyện gây ấn tượng, thu hút trẻ và
    phù hợp với chủ đề giảng dạy. Trong thơ ca, ca dao tục ngữ, vè có giai điệu ấm
    áp, vui tươi, dí dỏm, có hình tượng các nhân vật, phản ánh chân thực đời sống
    xung quanh trẻ. Hàng ngày, trẻ được cô giáo kể chuyện, đọc thơ…trong các hoạt
    động trong ngày của trẻ ở trường mầm non. Chính vì vậy thông qua các tác
    phẩm văn học phong phú trẻ học tập được những đức tính tốt đẹp của con người
    như: Yêu quê hương đất nước, yêu quí những người thân trong gia đình, sự
    trung thực, lòng dũng cảm, lòng biết ơn… và mở rộng thêm kiến thức về môi
    trường xung quanh. Đồng thời cung cấp thêm vốn từ vựng, rèn luyện trẻ phát âm
    đúng và diễn đạt câu từ rõ ràng mạch lạc hơn. Vai trò của người giáo viên mầm
    non đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các tác phẩm văn học là
    rất quan trọng. Tôi nhận thấy cần phải tìm tòi, học tập thêm, phát huy hơn nữa
    để nâng cao hoạt động giảng dạy, giúp trẻ phát triển toàn diện cả về ngôn ngữ và
    thể lực.
    Đối với trẻ mầm non, khả năng hoàn chỉnh về ngôn ngữ được tăng dần
    theo từng độ tuổi. Thông qua việc dạy trẻ đóng kịch sẽ giúp trẻ phát triển khả
    năng tư duy, óc tưởng tượng sáng tạo, biết yêu quí cái đẹp, hướng tới cái đẹp.
    Khi trẻ kể chuyện, ngôn ngữ của trẻ phát triển, trẻ phát âm rõ ràng, mạch lạc,
    vốn từ phong phú. Trẻ biết bày tỏ ý kiến, suy nghĩ, kể về một sự việc hay sự
    kiện nào đó bằng chính ngôn ngữ của trẻ. Qua đó giúp trẻ phát triển ngôn ngữ
    mạch lạc hơn, nói rõ ràng và đầy đủ câu hơn, tạo tiền đề cho trẻ bước vào tiểu
    học được thuận lợi hơn.
    5
    Đồ dùng đồ chơi tự tạo đã được quan tâm nhưng chủ yếu là ở hoạt động
    góc. Các đồ dùng cho trẻ đóng kịch, diễn rối, kể chuyện, đọc thơ… còn nghèo
    nàn và chưa đẹp mắt, chưa tăng được sự hứng thú trong hoạt động của trẻ dẫn
    đến giờ học chưa đạt kết quả cao.
    Trường mầm non 8-3 là đơn vị được công nhận là trường mầm non đạt
    chuẩn quốc gia, luôn luôn đề cao việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ giữ vai trò
    hàng đầu trong việc giúp trẻ phát triển toàn diện . Do đó là một giáo viên trẻ dạy
    trẻ 5-6 tuổi, tôi luôn xác định rõ việc thực hiện các hoạt động cho trẻ, đặc biệt là
    hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ, luôn đề cao việc đưa các hoạt động lấy
    trẻ làm trung tâm. Tôi đã nhận thức được rõ tầm quan trọng của việc phát triển
    ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động dạy trẻ làm quen với các tác phẩm văn
    học. Với điều kiện cơ sở vật chất tương đối đầy đủ cùng sự quan tâm sát sao của
    ban giám hiệu nhà trường, sự giúp đỡ của tổ chuyên môn, của đồng nghiệp tôi
    đã luôn cố gắng để tìm ra những biện pháp hiệu quả nhất trong việc phát triển
    ngôn ngữ cho trẻ thong qua hoạt động làm quen với các tác phẩm văn học.
    Trước khi thực hiện đề tài này tôi đã điều tra, khảo sát khả năng phát âm,
    khả năng diễn đạt ngôn ngữ, khả năng sử dụng ngôn ngữ của trẻ trong cuộc sống
    trên 47 trẻ với 5 nội dung có kết quả như sau:
    Bảng theo dõi, đánh giá 47 trẻ đầu năm

    TTNội dungTổng
    số
    trẻ
    Kết quả được khảo sát
    ĐạtChưa
    đạt
    TốtKháTrung
    bình
    Số
    trẻ
    Tỉ
    lệ
    %
    Số
    trẻ
    Tỉ
    lệ
    %
    Số
    trẻ
    Tỉ
    lệ
    %
    Số
    trẻ
    Tỉ
    lệ
    %
    1Trẻ phát âm đúng,
    to, rõ ràng.
    47510,61838,32246,824,3
    Trẻ sử dụng từ ngữ

    6

    2phong phú, linh
    hoạt trong giao
    tiếp
    47617.11528.62245.748.6
    3Trẻ tự tin giao tiếp
    với mọi người
    xung quanh.
    47138.617201560211.4
    4Trẻ biết đọc thơ
    diễn cảm
    471514.317201354.3211.4
    5Trẻ biết thể hiện
    ngôn ngữ, giọng
    điệu trong kể
    chuyện sáng tạo và
    kể chuyện theo trí
    nhớ.
    47125.81411.41851.4331.4

    Dựa vào bảng khảo sát trên tôi nhận thấy:
    Kết quả cho thấy số trẻ khá giỏi về ngôn ngữ còn thấp. Vốn từ vựng của
    trẻ còn hạn chế. Vì thế dẫn đến việc khi giao tiếp trẻ còn ít nói, không biết diễn
    đạt ý của mình như thế nào. Đặc biệt là trẻ nói còn chưa rõ ràng, mạch lạc dẫn
    đến việc người nghe khó hiểu và phải suy luận thì mới hiểu ra ý định của trẻ.
    Sau khi đánh giá thực trạng trẻ lớp mình, thông qua các tư liệu tham khảo
    cùng những kinh nghiệm của bản thân, tôi đã nghiên cứu và đưa ra một số biện
    pháp sau:
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
    Biện pháp 1: Tìm hiểu đặc điểm tâm lý của trẻ
    Để giúp trẻ phát triển ngữ tốt, đầu tiên tôi phải tìm hiểu thật kĩ tâm sinh lý
    của trẻ ở lứa tuổi này để lên kế hoạch có các biện pháp phù hợp. Qua quá trình
    tìm hiểu tôi thấy: Trẻ ở độ tuổi này rất thích nghe các câu chuyện cổ tích, thần
    thoại, thích các bài thơ, ca dao, vè gần gũi vui tươi, thích được thể hiện theo
    7
    tính cách cũng như ngôn từ của những nhân vật trong các câu chuyện mà trẻ
    được nghe, được xem, thích biểu diễn những bài thơ, ca dao, vè hay, diễn cảm
    giống cô giáo… Vì vậy, tôi luôn lựa chọn những câu chuyện, bài thơ, ca dao, vè
    phù hợp với tâm lý của trẻ để đưa vào hoạt động nhằm thu hút sự chú ý của trẻ.
    Ví dụ: Với chủ đề “ Gia đình”tôi đã lựa chọn các tác phẩm văn học như:
    Truyện “ Quả bầu tiên”, “ Bông hoa cúc trắng”, “Quà tặng mẹ”, “Kiến trinh
    sát kể chuyện”, bài thơ “ Em yêu nhà em”, “ Giữa vòng gió thơm”, “ Mẹ ốm”,
    “ Giúp mẹ”, “Bữa ăn của bé”, đồng dao “ Chú cuội”, “ Chữ hiếu”, “ Gia
    đình”.
    Các tác phẩm văn học nêu trên đều được tôi lên kế hoạch cho trẻ làm quen
    một số tác phẩm vào hoạt động làm quen với văn học và lồng ghép các tác
    phẩm còn lại vào các hoạt động khác trong ngày như: Đón trẻ, hoạt động ngoài
    trời, hoạt động góc, trả trẻ…Các truyện: “ Quả bầu tiên”, “ Bông hoa cúc
    trắng” có các tình tiết: Vợ chồng người anh giàu có tham lam, vợ chồng người
    em siêng năng, quả bầu tiên, bà tiên hiện ra chỉ đường cho bạn nhỏ tìm bông
    hoa cúc trắng cứu mẹ…rất li kỳ, kịch tính, hấp dẫn, thu hút trẻ. Bên cạnh đó
    còn có các câu truyện, bài thơ, ca dao khác: “ Quà tặng mẹ”,
    “ Kiến trinh sát kể chuyện”, “ Giúp mẹ”, “ Bữa ăn của bé”, “ Gia đình”có
    nội dung bố và bạn nhỏ chuẩn bị quà sinh nhật tặng mẹ, em biếng ăn nên cả
    nhà cùng dỗ dành đóng kịch để em bé ăn ngoan hơn, gia đình có ông, bà, bố,
    mẹ… giai điệu , lời ca nhịp nhàng, thân quen, gần gũi với cuộc sống gia đình
    thực tại của trẻ. Trẻ lớp tôi rất thích thú, nhanh chóng thuộc được tên tác giả,
    nội dung, lời thoại của các nhân vật trong các tác phẩm, lời ca của bài thơ, ca
    dao. Thông qua các tác phẩm trên, trẻ học được tình thương yêu gia đình, kính
    yêu với ông bà cha mẹ, các bác, anh chị em…Trẻ biết nhường nhịn, đùm bọc
    anh em, biết thể hiện tình yêu của mình: Tặng quà cho mẹ nhân ngày sinh nhật,
    lấy tăm cho ông bà, nói những từ ngữ thể hiện sự kính trọng biết ơn. Từ đó vốn
    từ của trẻ được tăng lên. Trẻ biết dùng nhiều câu từ trong việc giao tiếp với
    những người xung quanh, thể hiện được ý nói và tình thương yêu với mọi
    người.
    8
    Bé làm quen với các câu chuyện chủ đề “ Gia Đình”
    Là người gần gũi với trẻ trong các hoạt động vui chơi cũng như học ở
    trên lớp, ngay từ đầu năm học tôi luôn theo dõi quan sát từng trẻ để nắm bắt đặc
    điểm tâm sinh lý và khả năng ngôn ngữ của từng cháu: như cháu nào hoạt bát,
    nhanh nhẹn, cháu nào còn nhút nhát, rụt rè; cháu nào nõi rõ, nói chuẩn, cháu
    nào còn hạn chế về ngôn ngữ… Bởi vì vấn đề tâm lý có ảnh hưởng lớn đến sự
    phát triển ngôn ngữ của trẻ. Từ đó sẽ có những biện pháp tích cực nhất và hiệu
    quả nhất để phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
    Ví dụ: Đầu năm học theo điều tra tôi nhận thấy trẻ lớp mình đa số các
    con đều nhanh nhẹn, phát âm tương đối chuẩn còn hạn chế về giao tiếp với mọi
    người xung quanh. Lớp tôi có một số bạn rất nổi trội, nói rõ ràng, lưu loát,
    dùng được nhiều loại câu thể hiện được tình cảm, tâm tư nguyện vọng của mình
    khi giao tiếp với mọi người. Bên cạnh đó còn một số bạn còn rụt rè, ít nói, ít
    giao lưu giao tiếp với các bạn trong lớp. Nhiều lúc các con không biết nói lên ý
    muốn của mình đến lúc cô hỏi han thì lại khóc.Vì vậy với chủ đề đầu tiên “
    Trường mầm non” tôi đã lựa chọn các tác phẩm hay, có nội dung thật gần gũi
    với trường lớp mình, có độ dài vừa phải như: Bài thơ “ Cô dạy”, “ Cô giáo của
    em”, “Em vẽ”, “ Bé tập đếm”, “Làm quen chữ số”, truyện “ Anh chàng mèo
    9
    mướp”, “ Món quà của cô giáo”, “ Thỏ trắng đi học”, ca dao “ Nghé ọ, nghé
    ơ!”. Khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học, tôi chú ý bao quát cả lớp, đến
    phần đàm thoại và cho trẻ lên đọc thơ hay kể chuyện cùng cô giáo, tôi động
    viên những trẻ nhút nhát lên trả lời các câu hỏi dễ sau đó tôi và cả lớp cùng
    khen trẻ để trẻ thấy vui vẻ, hứng thú hơn, tiếp thu bài nhanh hơn. Còn các câu
    hỏi khó mang tính sáng tạo tôi dành cho những trẻ thông minh, nhanh nhẹn hơn.
    Khi đọc thơ, kể chuyện tôi lồng ghép trẻ nhút nhát và trẻ mạnh dạn cùng lên thể
    hiện, tôi luôn động viên, giúp đỡ và sửa sai cho trẻ kịp thời. Sau quá trình thực
    hiện như vậy, tôi thấy trẻ luôn được học vừa sức, phù hợp với đặc điểm tâm lý
    của mình. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ trong lớp đồng đều hơn, không còn
    bạn nhút nhát, trẻ vui chơi, học tập vui vẻ, hồn nhiên giao tiếp ngày càng linh
    hoạt hơn.
    Trẻ hứng thú đọc thơ “ Quà tặng mẹ”
    10
    Cô và cả lớp khen ngợi bạn
    Trẻ ở độ tuổi 5-6 tuổi vốn từ của trẻ chưa nhiều. Câu trẻ dùng đã chính
    xác và dài hơn trẻ ở độ tuổi 3-4 tuổi, 4-5 tuổi. Tuy nhiên tôi nhận thấy, ở độ tuổi
    này mặc dù trẻ đã phát âm tốt hơn, rõ hơn, ít ê a, ậm ừ, nhưng trẻ phát âm chưa
    chuẩn như là các từ láy: chiêm chiếp, liêm-liếp…; trẻ vẫn nói tiếng địa phương
    và phát âm sai những âm khó, những từ có 2-3 âm tiết như: hiếu-híu, hươu- hiu,
    sách – xách; một số trẻ vẫn nói ngọng âm “ l” thành “ n” ví dụ như “ lá non”
    thành “ ná non”…Trẻ sử dụng chủ yếu là các loại danh từ và động từ, thể loại từ
    khác trẻ có sử dụng nhưng không chiếm ưu thế. Tôi thấy rằng: Khi trẻ đọc thơ,
    hay kể chuyện, trả lời câu hỏi của cô là lúc trẻ sẽ hay thể hiện các lỗi sai về ngôn
    ngữ như nói ngọng, nói sai từ khó. Lúc này tôi sẽ giải thích cho con hiểu về ý
    nghĩa của từ khó và sửa sai cho trẻ. Trong quá trình thực hiện tôi thấy biện pháp
    này rất hiệu quả. Trẻ rất nhanh hiểu và sau vài lần đã sửa sai được . Từ đó mà
    vốn từ của trẻ được tăng lên, trẻ giao tiếp rõ ràng, mạnh dạn, nói chuẩn câu từ
    hơn.
    Ví dụ: Khi cho cả lớp làm quen với câu chuyện “ Vịt con đi học” Chủ đề
    trường mầm non. Các con rất thích thú lắng nghe và kể chuyện cùng cô. Bỗng
    bạn Quốc Bảo giơ tay phát biểu: Con thưa cô! “ Các bạn phải đoàn kết, ngoan
    ngoãn” Là như thế nào ạ? Lúc đó tôi nhẹ nhàng giải thích cho các con hiểu:
    11
    Các con ạ! “ Đoàn kết” là các con cùng học tập, vui chơi, cùng làm việc giúp cô
    giáo như lau dọn đồ chơi trong lớp này, kê bàn ăn, phơi khăn…Trong quá trình
    làm các con không tranh dành, không cãi nhau, không đánh nhau giúp đỡ nhau
    cùng hoàn thành tốt công việc mà cô đã phân công. Các con luôn vui vẻ với các
    bạn trong lớp. Các con đã hiểu chưa nào!
    Ví dụ: Khi cho cả lớp làm quen với bài thơ “ Cánh đồng lúa vàng”. Tôi
    thấy có một số bạn : Quốc Bảo, Ngọc Nhi, Hiền Mai, Bảo Ngọc còn nói ngọng
    từ “ lúa chín” thành “ núa chín”, từ “ làn hương” thành “ nàn hương”, từ “
    lững thững” thành “ nững thững”. Tôi đã mời các con lên đọc lại bài thơ cho cả
    lớp nghe và sửa luôn lỗi ngọng cho trẻ. Tôi hướng dẫn trẻ: “ Con hãy cong lưỡi
    và nói bật ra lúa chín, làn hương, lững thững”. Tôi cho trẻ nói hai ba lần từ
    ngọng và cho trẻ đọc lại bài thơ một lần nữa.
    Với biện pháp này chỉ sau ba tháng tôi thấy ngôn ngữ của trẻ phát triển rõ
    rệt. Trẻ nói được nhiều câu nhiều từ và rất ít khi trẻ nói ngọng nữa.
    Trong qua trình chăm sóc nuôi dưỡng, và giáo dục trẻ tôi đã nắm rõ tâm sinh
    lý của trẻ hơn, qua đó tôi đã có những biện pháp tích cực nhất và hiệu quả nhất
    để phát triển ngôn ngữ cho trẻ như: phân luồng học sinh, rút ngắn khoảng cách
    tâm lý giữa các trẻ trong lớp, hay tạo các tình huống để trẻ được nói nhiều hơn.
    Ví dụ: Trong giờ hoạt động góc, tôi luôn tạo không khí vui tươi, hào
    hứng kích thích các bạn trong lớp giao tiếp với nhau.Tôi khuyến khích, tạo tình
    huống để các con giao tiếp với nhau như người mua hàng phải hỏi, người bán
    hàng phải chào khách giới thiệu hàng bán, khi chơi tổ chức sinh nhật thì gửi lời
    chúc sinh nhật tới bạn, hay hát tặng bạn và khi được bạn chúc mừng hay tặng
    quà thì dạy các con nói lời cảm ơn với bạn.
    12
    Bé 5E chơi góc phân vai
    Bé 5E chơi góc phân vai
    Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch phát triển ngôn ngữ.
    Sau khi tìm hiểu kĩ và nắm rõ về đặc điểm tâm lý trẻ. Tôi đã tiến hành xây
    dựng kế hoạch phát triển ngôn ngữ vào các hoạt động theo từng chủ đề như sau:
    Chủ đề “ Trường mầm non” và “ Bản thân” Tôi rèn luyện tai nghe cho trẻ
    nhằm phát triển thính giác âm vị ( Cho trẻ nghe những bài hát , câu chuyện, ca
    13
    dao..) tôi tạo điều kiện cho trẻ tập trung chú ý luyện khả năng thính giác thông
    qua các bài tập trò chơi: (Tai ai tinh, ai đoán giỏi) sửa sai cho trẻ về lỗi phát âm.
    Ví dụ: Ở chủ đề “ Bản thân”, trước đây tôi cho trẻ làm quen với các tác
    phẩm: Truyện “ Mỗi người một việc”, thơ “ Vì con”, “ Mười em bé ngoan”,
    đồng dao “ Nu na nu nống”. Các tác phẩm này đã có từ lâu nên trẻ cũng đã
    phần nào được làm quen ở các lớp trước hoặc qua sách truyện, tivi. Năm nay tôi
    mạnh dạn lược bỏ bớt những tác phẩm cũ, bổ xung thêm các tác phẩm mới lạ,
    phù hợp hơn như: Truyện “ Giấc mơ kỳ lạ”, “ Ngôi nhà ngọt ngào”, thơ “ Tập
    thể dục”, “ Bàn tay của bé”. Trong các hoạt động đón, trả trẻ, hoạt động góc, tôi
    cho trẻ làm quen, lắng nghe những bài hát câu truyện đó trước qua tivi hoặc cô
    kể, hát cho trẻ nghe.sau đó trong quá trình giảng dạy tôi lồng ghép cho trẻ chơi
    các trò chơi “ tai ai tinh”, “ ai đoán giỏi”.
    * Trò chơi “ tai ai tinh”
    Cách chơi: Cô mời cá nhân, nhóm, tổ lên biểu diễn đọc thơ, ca dao, đồng dao,
    kể chuyện cho cả lớp nghe.
    Luật chơi: Những bạn ở dưới chú ý lắng nghe nhận xét và phát hiện được lỗi
    sai của bạn sẽ được thưởng quà.
    Thông qua các hoạt động trên tôi thấy trẻ tập trung chú ý hơn, biết phân biệt
    được phát âm sai- đúng. Từ đó trẻ phát âm chuẩn hơn, giao tiếp rõ ràng, mạch
    lạc hơn.
    14
    Trẻ chơi trò chơi “ Tai ai tinh”
    Các chủ đề “ Gia đình”, “ Ngành nghề” tôi tập trung vào tăng vốn từ nói
    diễn cảm, rõ ràng ,giải thích nghĩa của từ khó , cho trẻ các bài tập luyện cơ quan
    phát âm thích hợp: Bà bế bé đi bộ, bé búp bê, bé hồng, bé bé, búp bê ngoan nào.
    Phát triển vốn từ cho trẻ thông qua trò chơi: đố con gì kêu, đố ai kể được nhiều
    nhất, đố ai nhanh, đố ai đoán giỏi, đố ai nói ngược.
    Ví dụ: Ở chủ đề “ Ngành nghề”tôi cho trẻ làm quen với các tác phẩm:
    Truyện “ Hai anh em”, “ Ngôi nhà tránh rét”, thơ “ Bố em làm thợ mộc”, “ Đi
    cày”, “ Làm nghề như bố”, “ Ước mơ của bé”.
    Khi tôi cho trẻ làm quen với bài thơ “ Bố em làm thợ mộc”giúp cho trẻ hiểu
    được bác thợ mộc làm rất nhiều việc như cưa gỗ, bào gỗ, đục gỗ để đóng thành
    bàn, ghế, giường, tủ, bàn cho mọi người sử dụng. Các con phải biết biết ơn, trân
    trọng và phải giữ gìn đồ đạc trong nhà nhé.Trẻ biết thêm và hiểu được ý nghĩa
    các từ nói về nghề thợ mộc như “ Lưỡi bào”, “ Đục đẽo”, “ Lách cách lách
    cách”, “ Xoèn xoẹt”, “ Miệt mài”, “ Say sưa”, “ Lưỡi cưa”, “ Đều đặn”… Tôi
    giảng giải thêm cho trẻ hiểu từ “ Lách cách lách cách” là từ láy mô phỏng tiếng
    dùi đục rất nhanh , gọn của bác thợ mộc khi đục gỗ. “ Say sưa”, “ Miệt mài” là
    từ chỉ sự ham mê làm việc của bác thợ mộc, làm mà không mệt mỏi. Khi cho
    nhóm trẻ đọc thơ, tôi lồng ghép cho trẻ vừa đọc và chơi trò chơi “ Vuốt ve” cùng
    15
    với tiếng nhạc, trẻ rất thích thú, nhanh chóng thuộc thơ và biết mô phỏng lại
    công việc của bác thợ mộc. Từ đó vốn từ của trẻ được tăng lên rõ rệt.
    Chủ đề “ Động vật” và “ Thực vật” tôi đào sâu vấn đề luyện trí nhớ thông
    qua các bài thơ, đồng dao,đặc biệt về những câu chuyện kể nôi cuốn và hấp dẫn
    gợi cho trẻ sử dụng câu đơn giản, đủ nghĩa.
    Ví dụ: Ở chủ đề “ Thế giới thực vật” tôi cho trẻ làm quen những tác
    phẩm hay, dễ thuộc, có nhiều hình ảnh, biểu cảm như: “ Quả”, “ Hoa đào hoa
    mai”,
    “ Mùa xuân”, “ Tết đang vào nhà”, “ Đồng dao về củ”, đồng dao “ Mười hai
    tháng gió”, “ Nhà tôi có một cây rau”, “ Đi cầu đi quán”, “ Trồng đậu trồng
    cà” truyện “ Sự tích cây nêu ngày tết”, “ Sự tích bánh chưng bánh giày” , “
    Truyền thuyết về trái đào”, “ Cây lúa mạch”. Tôi tổ chức nhiều cuộc thi như
    “ Bé yêu thơ”, “ Bé kể chuyện hay”, trẻ được biểu diễn kể chuyện, đọc thơ, ca
    dao diễn cảm nhiều hơn và tôi luôn tặng một món quà nhỏ để động viên khuyến
    khích trẻ. Qua các cuộc thi như vậy khả năng ghi nhớ của trẻ được rèn luyện và
    tăng lên. Tất cả trẻ trong lớp đều thuộc được các bài thơ, đồng dao nêu trên.
    Trẻ còn biết sử dụng các câu đơn giản kể lại câu chuyện đã học. Truyện “ Sự
    tích cây nêu ngày tết” trong chuyện “ Ngày ấy, không biết từ bao giờ và cũng
    không biết bằng cách gì quỷ chiếm đoạt tất cả đất nước. Người chỉ ở đậu và làm
    rẽ ruộng đất cho quỷ. Quỷ đối với người ngày càng quá tay…”. Khi kể lại trẻ lại
    dùng các câu đơn giản để diễn đạt lại câu chuyện : “ Ngày trước, lũ quỷ chiếm
    đoạt tất cả đất nước. Con người chỉ ở nhờ và làm thuê cho quỷ. Lũ quỷ đối xử
    với người ngày càng quá tay hơn…”. Tôi nhận thấy trẻ bắt đầu biết tóm tắt, sử
    dụng các câu đơn giản để kể lại câu chuyện theo cách hiểu của mình. Qua đó
    góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
    Các chủ đề còn lại của năm học tôi xây dựng những trò chơi giúp cho trẻ
    nói đúng ngữ pháp, nói mạch lạc. Tôi lưu ý thay đổi mẫu câu khác nhau từ câu
    đơn giản đến câu phức tạp, đặt câu từ kết nối truyện để trẻ có khả năng nói đúng
    ngữ pháp, phát triển trí tưởng tượng, sáng tạo của trẻ. Một khi đã có một số vốn
    từ phong phú trẻ sẽ tự tin kể chuyện, đóng kịch một cách hứng thú hơn.
    16
    Ví dụ: Trò chơi “ Bé kể chuyện theo tranh vẽ”
    Khi cho trẻ làm quen với tác phẩm “ Vì sao thỏ cụt đuôi” tôi chuẩn bị một
    cuốn truyện tranh thể hiện nội dung của câu chuyện.
    Cách chơi: Tôi tổ chức cho nhóm trẻ( 3-4 trẻ) chơi. Một bạn sẽ kể lại câu
    chuyện theo ngôn ngữ của mình. Các bạn khác cùng lắng nghe và hỏi thêm bạn
    về câu chuyện vừa kể. Trong quá trình chơi tôi luôn chú ý, bao quát giúp đỡ trẻ.
    Trẻ tập nói những câu đơn giản: “ Thỏ và Nhím là một đôi bạn thân”, “ Một
    hôm, Thỏ rủ Nhím ra ven rừng chơi”đến các câu phức nhiều vế hơn: “ Cạnh
    rừng có một con đường đất đỏ chạy qua, có nhiều hoa thơm bướm lượn rất
    thích…Vừa lúc ấy có một chiếc ô tô chạy đến, ô tô vội phanh đánh két, chú Thỏ
    bé nhỏ chui tọt vào gầm xe.Tôi cho trẻ lần lượt thay nhau kể chuyện để rèn
    luyện cho trẻ nói lưu loát, đúng ngữ pháp hơn.
    *Trò chơi “ Bé điền từ”
    Khi cho trẻ làm quen với tác phẩm “Cô dạy con”
    Cách chơi: Cô có thể tổ chức cả lớp chơi hoặc nhóm trẻ chơi. Cô đọc trước
    đoạn đầu và dừng lại cho trẻ đọc những từ cuối chẳng hạn, cô đọc:
    Mẹ! Mẹ ơi! …( Trẻ đáp “ Cô dạy”).
    Bài…( Trẻ đáp “ Bài phương tiện giao thông”). Cứ như vậy đến hết.
    *Trò chơi “ Đối đáp”
    Cách chơi: Cô chọn các bài thơ, bài ca dao có đối đáp hay. Cô có thể tổ chức
    cho cả lớp đối đáp lại với cô hoặc cho trẻ đối đáp với trẻ như:
    Cô: Cốc cốc cốc
    Trẻ: Ai gọi đó?
    Cô: Tôi là thỏ
    Trẻ: Nếu là thỏ cho xem tai… Cứ như vậy đến hết bài.

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Một số biện pháp rèn kĩ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

    SKKN Một số biện pháp rèn kĩ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Sinh ra không phải trẻ đã có kỹ năng tự phục vụ mà đó là kết quả của quá
    trình giáo dục. Như chúng ta đã biết, tự phục vụ bản thân là một trong những
    kỹ năng được rèn ngay từ khi còn nhỏ. Mặc dù đây là một công việc khó khăn
    nhưng rất quan trọng. Ông cha ta đã từng nói “Dạy con từ thuở còn thơ” là vậy.
    Trong những năm đầu tiên của cuộc đời (năm thứ 2, thứ 3) nếu có sự hướng
    dẫn của người lớn, trẻ đã có thể nắm được một số kỹ năng tự phục vụ đơn giản
    (Tự xúc cơm, tự rửa tay, rửa mặt và biết giữ gìn quần áo gọn gàng sạch sẽ, biết
    cất đồ chơi vào đúng nơi quy định….). Chính vì vậy người lớn cần phải uốn
    nắn kỹ năng và thói quen của trẻ ngay từ nhỏ, tránh để những lệch lạc ấy trở
    thành thói quen khó sửa khó uốn. Cổ nhân đã dạy: “Tre non dễ uốn, tre già nổ
    đốt”, “Bé chẳng vin, cả gẫy cành”. Phải chăng những câu nói đó của người đời
    để khẳng định ý nghĩa to lớn của việc giáo dục trẻ cũng như rèn kỹ năng tự
    phục vụ cho trẻ ngay từ thuở còn thơ. Kỹ năng tự phục vụ bản thân rất quan
    trọng, giúp trẻ hoàn thiện mình một cách tốt nhất. Nó còn là cơ hội vàng giúp
    trẻ trưởng thành và khôn lớn trong cuộc sống.
    Tính tự phục vụ được hình thành rất sớm và là một trong những biểu hiện
    tâm lý có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành các phẩm chất nhân cách
    của trẻ. Một số dấu hiệu đáng tin cậy của sự bắt đầu hình thành tính tự phục vụ,
    đó là nhu cầu tự khẳng định mình xuất hiện, trẻ muốn tự làm một số công việc
    trong sinh hoạt hàng ngày của trẻ qua đó giúp trẻ có kỹ năng chăm sóc cho bản
    thân mình như (tự cởi – mặc quần áo, thu dọn giường ngủ, đi giầy dép, tự xúc
    cơm, tự uống nước, cất đồ chơi đúng nơi qui định.vv…) và trong lời nói của trẻ
    như (con tự ăn, con tự chơi, con tự làm ….). Mặc dù tính tự phục vụ của trẻ ở lứa
    tuổi này còn mờ nhạt, chưa đầy đủ, rõ ràng nhưng nó là cơ sở, là nền tảng rất
    quan trọng đối với sự phát triển của trẻ. Do hành động được lặp đi lặp lại hàng
    ngày, các kỹ năng, kỹ xảo tự phục vụ được trẻ lĩnh hội vững chắc, tạo điều kiện
    thuận lợi cho trẻ nắm kinh nghiệm thực tế và độc lập hành động. Đồng thời trẻ ý
    thức được mọi người đều có trách nhiệm lao động liên quan đến những nhu cầu
    3
    sống hàng ngày của mình, ý thức được sự cần thiết của việc tự phục vụ bản thân,
    trẻ biết cách tự chăm sóc bản thân tăng cường tính độc lập. Trẻ tự tin vào bản
    thân khi thành công trong công việc tự phục vụ bản thân. Mặt khác trẻ hiểu được
    sự chăm sóc của cha mẹ nhiều hơn. Qua đó hướng tới sự phát triển toàn diện
    nhân cách trẻ.
    Theo góc độ tâm lý học, tính tự phục vụ vừa được coi là tính cách, vừa là
    phẩm chất ý chí của hoạt động cá nhân. Kỹ năng tự phục vụ được hình thành
    trong quá trình hoạt động và thể hiện mối quan hệ cá nhân với các sự vật hiện
    tượng, với người khác và với bản thân. Nó đặc trưng cho thái độ tự giác, tự tin,
    thể hiện khả năng tự đặt mục đích, nhiệm vụ, kế hoạch hành động, tự điều khiển
    bản thân với sự nỗ lực cao về trí tuệ, thể lực trong quá trình hoạt động nhằm
    thoả mãn nhu cầu bản thân và xã hội.
    Thực tế việc giáo dục, rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ở trường đã được
    giáo viên thực hiện, nhưng chưa đi sâu, đi sát nên kết quả chưa cao, trẻ thường
    ỷ lại vào cô giáo không muốn lao động, trẻ chưa có tính tự giác lao động. Ở
    nhà, chủ yếu là các bậc cha mẹ có nhiều sai lầm về giáo dục nói chung và giáo
    dục tính tự phục vụ nói riêng. Thứ nhất là nuông chiều con quá mức khiến trẻ
    chỉ biết hưởng thụ, thứ hai là không tin vào khả năng của trẻ, trẻ muốn làm
    nhưng thấy trẻ vụng về, lóng ngóng chậm chạp thì tỏ ra khó chịu, nên người
    lớn thường sốt ruột và làm thay trẻ, dần dần tạo ra sự ỉ lại, lười biếng và mất tự
    tin ở trẻ.
    Nhận thức được tầm quan trọng, lợi ích của việc rèn kỹ năng tự phục vụ
    cho trẻ tôi luôn suy nghĩ và băn khoăn làm thế nào để trẻ hứng thú làm những
    công việc tự phục vụ một cách tự nhiên không gò ép, tạo niềm hứng khởi say
    mê, hồn nhiên nơi trẻ.
    Xuất phát từ những lý do trên đã giúp tôi mạnh dạn, đưa ra sáng kiến:
    “Một số biện pháp rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi’’
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KĨ THUẬT
    1. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KĨ THUẬT TRƯỚC KHI CÓ SÁNG KIẾN
    4
    Năm học 2019 -2020 tôi được phân công dạy lớp Mẫu giáo bé, sĩ số 40
    cháu. Trong quá trình làm quen với trẻ tôi thấy một số trẻ đã có kĩ năng tự phục
    vụ bản thân như cầm thìa xúc cơm ăn, tự cất ghế khi ngồi xong và chơi xong
    biết cất dọn đồ chơi đúng nơi qui định. Tuy nhiên vẫn còn có trẻ kĩ năng tự phục
    vụ bản thân còn hạn chế các bé chưa biết cầm thìa xúc cơm ăn, chưa biết cất đồ
    chơi khi chơi xong, chưa biết tự cởi – kéo quần khi đi vệ sinh…. Bên cạnh đó
    lớp Mẫu giáo bé của tôi thường xuyên đón các cháu mới nhập học nên các cháu
    còn chưa quen nền nếp của lớp, rụt rè, nhút nhát chưa tự tin thể hiện hiểu biết
    của mình.
    Vì vậy, trong quá trình triển khai nghiên cứu để thực hiện đề tài này, tôi có
    gặp một số thuận lợi và khó khăn sau:
    * Thuận lợi
    – Được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, đầu tư cơ sở vật chất trường lớp
    sạch sẽ, thoáng mát tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên tổ chức các hoạt động
    trong ngày của trẻ.
    – 100% học sinh ở lớp được đầu tư đầy đủ đồ dùng học tập, đồ dùng cá
    nhân cho mỗi trẻ.
    Giáo viên luôn gương mẫu cho trẻ làm theo. Giáo viên trong lớp kết hợp
    chặt chẽ việc rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ. Đơn giản nhất là biết cất đồ dùng
    cá nhân của mình vào đúng tủ, đúng ngăn.
    – Môi trường sư phạm sạch đẹp khang trang, có đủ đồ dùng đồ chơi phù
    hợp với trẻ.
    – Phụ huynh luôn quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình trong mọi hoạt động.
    * Khó khăn
    – Lớp học chỉ có một phòng chung cho tất cả các hoạt động.
    – 30% phụ huynh không có thời gian chăm sóc trẻ vào buổi sáng, nhiều trẻ
    đến lớp với quần áo, đầu tóc không gọn gàng, sạch sẽ.
    – 25% phụ huynh ít đưa đón con đi học thường nhờ ông, bà, anh chị hàng
    xóm vì thế giáo viên không có cơ hội trao đổi về tình hình của trẻ ở lớp để cùng
    phối hợp.
    5
    – Nhận thức của phụ huynh về ngành học, về trẻ còn hạn chế, nuông chiều
    con quá mức luôn làm mọi công việc hộ con từ bé, không muốn con phải lao
    động dẫn đến trẻ không có tính tự giác, không có kỹ năng, ý thức tự phục vụ. Mặt
    khác nhiều phụ huynh không muốn cho con em mình phải lao động sợ con mệt,
    sợ con bị bẩn quần áo, phụ huynh thường làm hết việc hộ cho trẻ, vì thế nhiều trẻ
    không biết làm những việc phục vụ cho bản thân. Thiếu kỹ năng tự phục vụ sẽ
    dẫn đến lười biếng, thụ động và khó khăn khi tham gia vào các hoạt động của tập
    thể. Dẫn đến hay dỗi hờn làm nũng hay ỷ lại không có kỹ năng, ý thức tự phục vụ
    một số trẻ sống trong môi trường không lành mạnh từ gia đình. Do đó việc đưa
    trẻ vào nề nếp rất khó khăn.
    – Thực tế khảo sát trên 40 trẻ 3-4 tuổi (lớp Sóc Nâu 2) trường mầm non
    Thống Nhất vào đầu năm học 2019 -2020, kết quả như sau :

    Nội dungTrẻ thường
    xuyên thực
    hiện
    Trẻ thỉnh thoảng
    thực hiện
    Trẻ không thực
    hiện
    – Rửa tay, rửa mặt, vệ
    sinh răng miệng.
    16 trẻ đạt 40%18 trẻđạt 45%6 trẻ đạt 15%
    – Mặc quần áo phù hợp
    với thời tiết, gấp quần
    áo.
    16 trẻđạt 40%20 trẻđạt 50%4 trẻđạt 10%
    – Cất đồ dùng cá nhân
    gọn gàng, cất đồ chơi
    đúng nơi quy định.
    20 trẻđạt 50%15 trẻđạt 37.5%5 trẻđạt 12.5%
    – Chuẩn bị cho giờ ăn giờ
    học, chia màu, chia thìa,
    kê và cất ghế.
    20 trẻđạt 50%15 trẻđạt 37.5%5 trẻđạt 12.5%

    Việc bồi dưỡng kinh nghiệm sống, rèn luyện thói quen tốt giúp trẻ hình
    thành kỹ năng cần thiết trong cuộc sống, biết hợp tác cùng bạn, xây dựng tính
    6
    độc lập, kích thích óc tò mò, khả năng sáng tạo, biết yêu thương chia sẻ, biết
    lắng nghe người khác nói. Để bồi dưỡng, hình thành thói quen tốt cho trẻ ngay
    từ lứa tuổi mầm non, tôi đưa ra một số biện pháp sau đây.
    2. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KĨ THUẬT SAU KHI TẠO RA SÁNG KIẾN
    Giải pháp 1: Lựa chọn những kỹ năng tự phục vụ phù hợp và xây dựng kế
    hoạch tự phục vụ cho trẻ ở lứa tuổi 3 – 4 tuổi.
    a. Lựa chọn những kĩ năng tự phục vụ phù hợp với trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi.
    Lựa chọn những kỹ năng tự phục vụ cần dạy trẻ ở lứa tuổi này rất quan
    trọng. Nếu cô lựa chọn những nội dung đúng phù hợp để rèn cho trẻ thì sẽ mang
    lại hiệu quả cao và giúp cho trẻ có những kỹ năng tự phục vụ phù hợp với lứa
    tuổi. Nếu nội dung không phù hợp với lứa tuổi của trẻ như yêu cầu cao quá thì
    sẽ dẫn đến trẻ làm việc quá sức ảnh hưởng đến sự phát triển thể lực ở trẻ. Chính
    vì vậy tôi đã nghiên cứu rất kỹ khi lựa chọn những kỹ năng tự phục vụ phù hợp
    với lứa tuổi của trẻ. Tôi đã căn cứ vào: chương trình giáo dục trẻ mầm non, sách
    giáo dục thường xuyên đặc biệt là chương trình hướng dẫn thực hiện chăm sóc
    giáo dục trẻ 3-4 tuổi. Đối với tâm sinh lý trẻ 3 tuổi thì có rất nhiều kỹ năng mà
    trẻ cần phải biết trước khi bước sang 4 tuổi. Thực tế nhiều nhà nghiên cứu cho
    thấy kỹ năng tự phục vụ là một trong những kỹ năng rất quan trọng nó đòi hỏi
    người lớn cần phải tạo cơ hội cho trẻ để trẻ rèn luyện những kỹ năng này. Trẻ có
    thể tự làm được những việc tự phục vụ bản thân phù hợp với khả năng của trẻ.
    Do đó tôi đã lựa chọn những nội dung sau:
    – Trẻ biết tự vệ sinh cá nhân của trẻ khi được nhắc nhở như: rửa tay, rửa
    mặt, vệ sinh răng miệng, đi giày dép.
    – Trẻ biết tự chăm sóc bản thân: tự mặc, cởi quần áo, mặc quần áo phù hợp
    với thời tiết, gấp quần áo, gập chăn gối khi ngủ dậy
    – Trẻ biết cất đồ dùng cá nhân gọn gàng, cất đồ chơi đúng nơi quy định
    – Trẻ biết chuẩn bị cho giờ học như: lấy và chia đồ dùng học. Kê bàn ghế
    chuẩn bị cho giờ ăn, chia thìa, cất ghế.
    Sau khi xác định được những kỹ năng tự phục vụ cần dạy trẻ ở lứa tuổi này
    tôi sẽ tiến hành khảo sát xem trẻ đã làm được những việc gì và đạt ở mức độ
    7
    nào. Từ đó tôi sẽ đưa ra một số biện pháp để rèn trẻ một số kỹ năng tự phục vụ
    cho trẻ. Tôi nhận thấy cần chọn ra những việc dễ nhất để trẻ thực hiện từ dễ đến
    khó. Việc rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ cần có kế hoạch rèn từ từ không nóng
    vội. Bên cạnh đó cần tỏ ra tôn trọng trẻ và động viên khuyến khích những gì trẻ
    làm được.
    b. Xây dựng kế hoạch rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ.
    Việc xây dựng kế hoạch giúp tôi định hướng đúng, chính xác những nội
    dung rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ trong cả năm học, giúp tôi chủ động
    trong từng thời gian cụ thể, tránh việc làm tự phát theo hứng, gặp đâu làm đấy
    dẫn đến tình trạng trùng lặp, bỏ sót. Xây dựng kế hoạch còn giúp tôi kết hợp
    lựa chọn các nội dung, phương pháp và hình thức rèn luyện cho trẻ một cách
    hợp lý khoa học và có hiệu quả. Khi xây dựng kế hoạch tôi dựa vào kế hoạch
    chung của trường, dựa vào đặc điểm tình hình thực tế của trẻ trong lớp và xây
    dựng có hệ thống đảm bảo nguyên tắc từ dễ đến khó, phù hợp với khả năng
    nhận thức của trẻ.

    ThángNội dungBiện pháp
    Tháng
    8/ 2019
    – Rèn trẻ đi vệ sinh đúng nơi
    quy định, rèn kỹ năng nhận
    đúng ký hiệu: cốc, khăn mặt
    Tham mưu với ban giám hiệu mua
    đầy đủ ca cốc, khăn mặt. Cô cắt đề
    can dán ký hiệu cho trẻ. Thêu khăn
    mặt cho trẻ
    Tháng
    9/2019
    – Tiếp tục rèn kỹ năng tháng
    8. Bổ xung rèn kỹ năng ngồi
    đúng chỗ ngồi học, nhận biết
    vở học tập tên của trẻ.
    – Rèn lấy cất đồ chơi đúng
    nơi quy định
    – Cô bổ xung thêu khăn mặt cho
    những trẻ mới ra lớp. Phân trẻ ngồi
    theo tổ. Khi ngồi cô rèn trẻ ngồi
    đúng tư thế.
    – Cô dạy trẻ trong giờ hoạt động
    góc, nhắc nhở trẻ thường xuyên.
    Tháng
    10/2019
    – Tiếp tục rèn kỹ năng tháng
    9. Đi sâu rèn kỹ năng rửa
    mặt, rửa tay đúng cách.
    – Cô rèn kỹ năng cho trẻ vào chiều
    thứ 3 hàng tuần
    – Quan sát trẻ thực hiện hàng ngày

    8

    và rèn trực tiếp cho trẻ.
    Tháng
    11/2019
    -Tiếp tục rèn kỹ năng rửa
    mặt rửa tay. Rèn kỹ năng xúc
    miệng nước muối sau khi ăn.
    – Cung cấp cho trẻ biết tác dụng
    của việc xúc miệng bằng nước
    muối. Sau khi ăn cô cho trẻ xúc
    miệng nước muối. Cô hướng dẫn
    trẻ cách xúc miệng
    Tháng
    12/2019
    – Tiếp tục rèn kỹ năng xúc
    miệng nước muối. Rèn kỹ
    năng mặc quần áo.
    – Cung cấp kiến thức cho trẻ về kĩ
    năng bảo vệ sức khoẻ. Hướng dẫn
    cho trẻ cách tự cởi, mặc quần áo…
    Tháng
    01/2020
    – Lấy cất đồ dùng đúng nơi
    qui định.
    – Hướng dẫn trẻ cách lấy, cất đồ
    dùng đúng nơi qui định, sắp xếp
    gọn gàng ngăn nắp.
    Tháng
    02/2020
    – Tiếp tục rèn kỹ năng gấp
    quần áo. Rèn kĩ năng lao
    động tự phục vụ: Tự lấy ghế
    ngồi vào bàn.
    – Hướng dẫn trẻ các kĩ năng thao
    tác lao động tự phục vụ: ghế, phục
    vụ cho hoạt động học tập và vui
    chơi trong ngày.
    Tháng
    03/2020
    – Rèn kĩ năng mặc quần áo
    phù hợp với thời tiết.
    Tiếp tục rèn kỹ năng gấp
    quần áo.
    – Trò chuyện với trẻ về sự thay đổi
    của thời tiết và việc mặc trang phục
    phù hợp với thời tiết.
    Tháng
    04/2020
    – Rèn kĩ năng lao động tự
    phục vụ: Tự lấy ghế ngồi vào
    bàn, ăn xong biết cất bát, cất
    ghế khi ngồi xong.
    – Hướng dẫn trẻ các kĩ năng thao
    tác lao động tự phục vụ: ghế, phục
    vụ cho hoạt động học tập và vui
    chơi trong ngày.
    Tháng
    05/2020
    – Rèn kỹ năng lao động tự
    phục vụ: Ngủ dậy biết cất
    gối, biết gấp chăn nhẹ giúp
    cô, biết gấp chiếu.
    – Cung cấp cho trẻ kiến thức về ý
    nghĩa của việc lao động. Rèn cho
    trẻ những kĩ năng cơ bản khi tham
    gia lao động: cất gối vào đúng tủ
    gối, biết cách gấp chăn, gấp chiếu

    9
    Kế hoạch đã được xây dựng cho cả năm học nhưng do năm nay dịch covid
    các con phải nghỉ học từ tháng 2 – > tháng 4/2020 để phòng chống dịch. Nhưng
    việc rèn kĩ năng tự phục vụ của các con tưởng rằng bị gián đoạn. Do lớp tôi có
    nhóm zalo nên việc học tập cũng như việc rèn kĩ năng của con không hề bị dán
    đoạn. Tôi đã đưa các bài học của các con lên nhóm zalo của lớp cũng như việc
    rèn kĩ năng tự phục vụ của các con vẫn được tiến hành nhờ có sự phối kết hợp
    của các bậc phụ huynh trong việc rèn kĩ năng tự phục vụ của các con ở nhà.
    Tuy rằng các con nghỉ học do dịch bệnh virut corona nhưng tháng năm các
    con đi học trở lại tôi đã kiểm tra các kĩ năng phục vụ của các con đã được tôi lên
    kế hoạch từ đầu năm học đã được các con thực hiện khá thuần thục như kĩ năng
    rửa tay với xà phòng, kĩ năng rửa mặt, tự mặc quần áo, tự đi dép…
    Ảnh trẻ tự rửa tay với xà phòng trước khi ăn cơm
    10
    Ảnh các con tự xúc cơm ăn buổi đầu tiên sau khi đi học trở lại tháng 5
    Giải pháp 2: Tạo môi trường rèn kỹ năng tự phục vụ.
    Tính tự phục vụ của trẻ được trẻtrải nghiệm trong hoạt động, trong sinh
    hoạt hàng ngày. Đối với trẻ 3 tuổi đã bắt đầu có khả năng làm một số việc đơn
    giản, trẻ đã có ý thức được điều đó và luôn muốn chính tỏ, thử thách năng lực
    của mình. Vì vậy, cần tạo ra môi trường vật chất cũng như môi trường tinh thần
    thật phong phú, hấp dẫn để tạo sự hứng khởi, niềm vui thích khi được tự làm
    những việc phục vụ bản thân, như: dọn đồ chơi, tự xúc cơm, tự cất ghế, tự dọn
    bàn ăn…dần dần sẽ hình thành cho trẻ tính tự giác, tính tự quyết định khả năng
    tự xoay sở của mình, giúp trẻ hình thành “kỹ năng tự phục vụ”.
    * Môi trường vật chất
    Ngay từ đầu năm học tôi đã căn cứ vào diện tích phòng học của lớp
    mình, đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 3 – 4 tuổi để tạo môi trường vật chất vừa
    mang tính thẩm mĩ đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ thực hiện các kĩ
    11
    năng tự phục vụ. Xây dựng môi trường trong lớp cho trẻ chính là “xây dựng
    các góc” cho trẻ hoạt động.
    Góc hoạt động là một trong những thành viên quan trọng của môi trường
    giáo dục. Góc hoạt động là nơi riêng biệt trong lớp, nơi trẻ có thể tự làm việc
    một mình hoặc trong nhóm nhỏ theo hứng thú và nhu cầu cá nhân để xem xét,
    tìm hiểu, khám phá cái mới và rèn luyện kĩ năng. Nói cách khác, góc hoạt
    động là nơi được thiết kế, che chắn, trang trí để thực hiện cách tiếp cận theo
    chủ đề nhằm mục đích giúp trẻ thỏa mãn nhu cầu chơi cũng như rèn các kĩ
    năng tự phục vụ.
    Xây dựng góc hoạt động khác nhau trong lớp nhằm tạo điều kiện cho trẻ
    hoạt động cá nhân hoặc theo nhóm nhỏ nhiều hơn, hình thức hoạt động phong
    phú hơn, đa dạng hơn, qua đó hình thành ở trẻ tính hợp tác và chia sẻ với
    nhau trong hoạt động.
    Để góc hoạt động thực sự có hiệu quả, giúp trẻ tự khám phá và phát triển
    các kĩ năng tụ phục vụ của bản thân nên khi xây dựng tôi luôn chú trọng đến
    các nguyên tắc nhất định:
    + Góc hoạt động phù hợp với mục tiêu và yêu cầu giáo dục theo chủ đề.
    + Ví trí góc phải hợp lí, thuận tiện cho trẻ hoạt động. Góc yên tĩnh xa góc
    hoạt động ồn ào. Vì vậy khi bố trí các góc hoạt động của lớp mình tôi thường
    bố trí những góc ồn ào cạnh nhau và cách xa góc tĩnh như góc xây dựng và
    góc phân vai là hai góc ồn ào nên thường được tôi bố trí cạnh nhau và cách xa
    góc học tập và góc nghệ thuật.
    + Có chỗ hoạt động chung và chỗ cho hoạt động cá nhân cho trẻ.
    + Tôi tạo ranh giới giữa các góc hoạt động (sử dụng tủ, giá nhỏ..) để giúp
    trẻ nhận dạng được phạm vi góc từ đâu đến đâu. Ranh giới giữa các góc
    không che tầm nhìn của trẻ và không cản trở việc quan sát của tôi cùng các
    đồng nghiệp đối với hoạt động của trẻ.
    + Đặc biệt tôi luôn chú trọng thay đổi, bố trí, sắp xếp lại một số góc sau
    mỗi chủ đề để tạo cảm giác mới lạ, kích thích hứng thú của trẻ, “làm mới cảm
    giác” về lớp học, môi trường đang sống.
    12
    + Đồ chơi ở các góc được sắp xếp gọn gàng ngăn nắp, dễ lấy dễ cất, đồ
    chơi phong phú, màu sắc bắt mắt thu hút sự hứng thú hoạt động của trẻ. Tủ để
    đồ chơi có ký hiệu rõ ràng để thuận tiện cho trẻ có thể cất đồ chơi đúng nơi qui
    định.
    Ngoài ra tôi còn làm bổ sung một số đồ chơi tự tạo để cho trẻ vui chơi và
    rèn kĩ năng tự phục vụ.
    Ví dụ như bổ sung thêm đồ chơi cho góc thực hành kĩ năng cuộc sống tôi
    đã may 10 bộ quần áo để cho trẻ tập mặc quần áo mùa hè, tập cài cúc, kéo khóa,
    10 bộ quần áo mùa thu đông vừa được vui chơi cũng như rèn cho trẻ biết chọn
    quần áo phù hợp với thời tiết… … May 5 bộ váy, 5 bộ quần áo cho búp bê để trẻ
    được chơi mặc quần áo cho búp bê. Qua trò chơi cũng rèn được cho trẻ các kĩ
    năng tự mặc quần áo, tự cài cúc, kéo khóa.. chọn trang phục phù hợp với thời
    tiết..
    Tôi xinđược 40 chiếc bàn chải đánh răng có hình các con vật ngộ nghĩnh
    như con chim cánh cụt, con cá ngựa, con rùa về cho các con thực hành tập đánh
    răng với mô hình hàm răng.
    Làm một số đồ ăn bằng mút xốp cắt vụn cho trẻ chơi đút cơm cho em búp
    bê qua đó cũng rèn được cho trẻ kĩ năng tự cầm thìa..
    Làm 10 giá để sách – truyện để thuận tiện cho việc cất sách truyện con rối
    của trẻ qua đó rèn kĩ năng cất đồ dùng đúng nơi qui định.
    Thiết kế 10 hộp để đựng con rối tay…
    Làm thêm 10 cây xanh có thể tháo lắp tán lá để cho trẻ chơi ở góc xây
    dựng.

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Một số biện pháp ứng dụng phương pháp Glenn Doman nhằm mở rộng vốn từ cho trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non

    SKKN Một số biện pháp ứng dụng phương pháp Glenn Doman nhằm mở rộng vốn từ cho trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân.
    Việc chăm sóc tốt cho trẻ lứa tuổi mầm non sẽ góp phần tạo nền móng vững chắc
    cho sự phát triển toàn diện của trẻ. Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục mầm
    non ngày càng khẳng định được vai trò to lớn của mình trong xã hội. Ý thức được
    tầm quan trọng của giáo dục mầm non đối với sự phát triển trong những năm đầu
    đời của trẻ nhà nước ta ngày càng chú trọng và đẩy mạnh phát triển giáo dục mầm
    non.
    Ngôn ngữ là thành tựu lớn nhất của con người nó là phương tiện giao tiếp
    quan trọng của con người trong xã hội. Hơn thế ngôn ngữ là công cụ để chúng ta tư
    duy, là chìa khóa vạn năng thông minh nhất để chúng ta mở kho tàng tri thức.Nhờ
    có ngôn ngữ con người có thể trao đổi cho nhau những kinh nghiệm, hiểu biết; chia
    sẻ với nhau những nguyện vọng, tình cảm. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non tạo
    điều kiện cơ hội cho trẻ lĩnh hội những bài học kinh nghiệm lịch sử – xã hội của xã
    hội loài người. Giúp trẻ tích lũy kiến thức, phát triển tư duy, giúp trẻ giao tiếp với
    mọi người xung quanh, giúp trẻ lĩnh hội, điều chỉnh những giá trị đạo đức chuẩn
    mực. Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong cuộc sống của con người. Nhờ có ngôn ngữ
    mà con người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những kinh
    nghiệm, tâm sự với nhau những điều thầm kín.
    Vốn từ là nền móng để phát triển ngôn ngữ, mà ngôn ngữ đóng vai trò quan
    trọng cho sự phát triển trí tuệ của trẻ. Mở rộng vốn từ cho trẻ là một trong những nội
    dung của phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non. Vốn từ của trẻ Mẫu
    giáo lớn thì đã phát triển hơn các lứa tuổi trước, số lượng từ loại đã tăng lên, trẻ có
    thể hiểu và sử dụng được một số từ cơ bản vào trong giao tiếp, trẻ đã có thể hiểu
    4
    được những câu chuyện dài và phức tạp hơn, thậm chí còn kể lại được vài mẩu
    chuyện theo đúng trình tự câu chuyện. Vốn từ ngữ của trẻ phát triển không ngừng cả
    về số lượng lẫn chất lượng và trẻ biết cách sử dụng tốt vốn từ ngữ của mình trong
    giao tiếp tuy nhiên vẫn chưa hoàn thiện. Việc mở rộng vốn từ cho trẻ nhằm làm tăng
    số lượng từ trong trường nghĩa tạo điều kiện cho trẻ lựa chọn. Nếu vốn từ ít thì khả
    năng lựa chọn sẽ bị hạn hẹp, hiệu quả dùng từ sẽ giảm, ảnh hưởng đến chất lượng
    giao tiếp của trẻ. Vốn từ của trẻ mẫu giáo bé trẻ nói được khoảng 1200 từ, mẫu giáo
    nhỡ khoảng 2000 từ nhưng đối với trẻ mẫu giáo lớn thì vốn từ của trẻ phong phú
    hơn là khoảng 3000 từ. Đối với trẻ mấu giáo lớn, vốn từ của trẻ rất đa dạng, trẻ nghe
    và nói được rất nhiều từ, hiểu được nhiều từ ngữ, những câu chuyện, câu dố, thuộc
    các bài thơ, câu chuyện. Ở lứa tuổi này, ngôn ngữ của trẻ có tốc độ phát triển nhanh
    cả về số lượng lẫn chất lượng, ngôn ngữ phát triển giúp trẻ biết tự hướng sự chú ý
    của mình vào đối tượng nhất định. Tuy nhiên vốn từ của trẻ vẫn còn hạn chế, trẻ
    chưa hiểu được các nghĩa khác nhau của từ như từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, biểu
    cảm của từ và trẻ phát âm chưa mạch lạc nhất là các từ khó, có những trẻ hiểu được
    nghĩa của từ nhưng cũng có nhiều trẻ chưa nắm bắt được hết nghĩa của từ cũng như
    cách dùng từ ngữ chưa chính xác và không phù hợp với hoàn cảnh khiến giữa các
    trẻ có sự chênh lệch phát triển không đồng đều. Do đó, việc mở rộng vốn từ cho trẻ
    Mẫu giáo lớn là rất cần thiết để giúp trẻ giao tiếp tốt hơn. Ngày nay, có rất nhiều
    phương pháp giáo dục mới cho trẻ trong đó có phương pháp Glenn Doman, phương
    pháp này giúp sẽ phát triển toàn diện về cả thể chất, kích thích trí thông minh, trí tuệ
    cảm xúc và cả năng lực thông qua những bài học về vận động, ngôn ngữ, lượng số
    và cả thế giới xung quanh. Từ đó, vốn từ của trẻ được mở rộng, ngôn ngữ của trẻ
    phong phú và đa dạng là những kiến thức cần thiết, những hành trang quan trọng
    cho trẻ trong suốt chặng đường phía trước
    5
    Nhận thức được rõ về ý nghĩa và vai trò to lớn của nội dung nghiên cứu,
    tôi đã lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp ứng dụng phương pháp Glenn
    Doman nhằm mở rộng vốn từ cho trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT
    1. Mô tả giải pháp kỹ thuật trước khi tạo ra sáng kiến
    * Thực trạng
    Trong quá trình triển khai nghiên cứu thực hiện đề tài này, tôi luôn được sự
    quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường và tổ chuyên môn đã có kế hoạch giáo
    dục từng chủ đề và tôi đã xây dựng kế hoạch với những biện pháp cụ thể để mở
    rộng vốn từ cho trẻ tại lớp tôi, đây chính là những định hướng giúp tôi thực hiện
    như: Nhà trường đã trang bị cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi đầy đủ cho trẻ trong
    mọi hoạt động và giáo viên trong nhà trường đã được tiếp cận và làm quen với
    phương pháp Glenn Doman
    Nhưng bên cạnh đó, tôi cũng gặp một số những vấn đề sau:
    Về phía trẻ: Khả năng sử dụng ngôn ngữ mạch lạc, tự tin của trẻ còn hạn chế,
    trẻ chưa biết diễn đạt ngôn ngữ bằng lời một cách linh hoạt, khéo léo. Trẻ chưa hiểu
    được những từ đồng nghĩa, trái nghĩa, từ khó, ý nghĩa của tu từ do đó khi trả lời trẻ
    còn bị vấp chưa biểu đạt được ý của các từ, sử dụng từ sai ngữ cảnh. Vốn từ trẻ còn
    hạn chế, nghèo nàn chưa phong phú
    Về phía giáo viên: Một số giáo viên trẻ tuổi chưa có nhiều kinh nghiệm, vốn
    từ chưa phong phú và việc nắm nghĩa các từ của giáo viên còn hạn chế nên giải
    nghĩa cho trẻ còn chưa sâu. Giáo viên sử dụng phương pháp truyền thống, không
    có phương pháp đổi mới trong các tiết học, các hình thức dạy học chưa phong
    phú, chưa chú ý đến sự phát triển vốn từ cho trẻ
    Về phía các bậc cha mẹ: Do cha mẹ bị công việc lôi cuốn nên ít có thời gian
    quan tâm đến con và chưa nắm được đặc điểm phát triển vốn từ của con, nhiều trẻ
    6
    còn phát âm sai do ảnh hưởng của người lớn xung quanh
    Để đạt được kết quả cao thì việc điều tra thực trạng và việc nhìn lại để đánh giá
    kết quả của năm trước là vô cùng quan trọng . Vì đó là thước đo, từ đó giúp ta điều
    chỉnh và định hướng được việc làm cần thiết cho năm tới sao cho đạt kết quả tốt
    hơn.
    Để làm rõ những khó khăn trên tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng tổ chức
    hoạt động tại trường mầm non Thống Nhất và nhận thấy như sau:
    Bảng 2.1. Khảo sát 15 giáo viên mẫu giáo về những năng lực tổ chức hoạt
    động cho trẻ tại nhóm lớp theo phương pháp GD Glenn Doman của giáo viên

    STTNội dungKết quả trên giáo viên
    TôtTỷ
    lệ%
    KháTỷ
    lệ%
    Trung
    bình
    Tỷ lệ%
    1Lựa chọn nội dung
    và lập kế hoạch tổ
    chức các hoạt động
    320533747
    2Thực hiện hoạt
    động dựa trên
    phương pháp GD
    Glenn Doman
    173201173

    Nhận xét: Qua bảng khảo sát trên ta thấy
    Ở tiêu chí 1: Khả năng lựa chọn nội dung và lập kế hoạch tổ chức các hoạt
    động của giáo viên có 20% đạt loại Tốt, 33% đạt loại khá, 47% đạt loại trung bình
    Ở tiêu chí 2: Khả năng Thực hiện hoạt động dựa trên phương pháp GD Glenn
    Doman có 7% đạt loại Tốt, 20% đạt loại khá, 73% đạt loại trung bình
    -> Như vậy có thể thấy năng lực tổ chức các hoạt động cho trẻ tại nhóm lớp
    theo phương pháp giáo dục Glenn Doman của giáo viên hiện nay còn rất thấp
    7
    Bảng 2.2. Khảo sát 35 trẻ tại trường Mầm non Thống Nhất
    TP Nam Định
    Kết quả khảo sát tại trường Mầm Non Thống Nhất

    Nội dungTốtKháTrung
    bình
    KémGhi
    chú
    Trẻ biết sử dụng vốn từ
    một cách phong phú,
    đa dạng và phù hợp
    3
    trẻ
    9%7
    trẻ
    20%10
    trẻ
    28%15
    trẻ
    43%
    Trẻ hiểu được các từ
    mang tính chất biểu cảm,
    các từ đồng nghĩa,
    trái nghĩa, từ khó
    3
    trẻ
    9%5
    trẻ
    14%8
    trẻ
    23%19
    trẻ
    54%

    * Nhận xét:
    – Tiêu chí 1: Trẻ biết sử dụng vốn từ một cách phong phú, đa dạng và phù hợp
    ở mức tốt rất thấp là 9%, mức khá là 20%, mức trung bình là 28%, còn mức kém là
    43%
    – Tiêu chí 2: Trẻ hiểu được các từ mang tính chất biểu cảm, các từ đồng nghĩa,
    trái nghĩa, từ khó ở mức tốt rất thấp là 9%, mức khá là 14%, mức trung bình là 23%,
    còn mức kém là 54%
    => Vì vậy, để mở rộng vốn từ cho trẻ thì phải có nhiều giải pháp hay lôi cuốn
    và thu hút trẻ.
    2. Mô tả biện pháp kỹ thuật sau khi tạo ra sáng kiến
    Từ những khó khăn trên tôi đã đưa ra các biện pháp sau:
    2.1. Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động nhằm mở rộng vốn
    từ cho trẻ thông qua phương pháp Glenn Doman
    Để trẻ phát triển vốn từ phong phú và đa dạng, ngay từ đầu năm học Tổ
    chuyên môn và các đồng chí giáo viên đã xây dựng kế hoạch về việc tổ chức các
    8
    hoạt động ứng dụng phương pháp Glenn Doman của các khối cho cả năm học. Sau
    các buổi họp về chuyên môn tôi định được các vẫn đề cốt lõi trong tổ chức thực hiện
    hoạt động này trong cả năm học như sau:
    + Gợi ý nội dung các bài dạy về các bài học cho trẻ tại nhóm
    + Thời gian thực hiện các hoạt động phân chia theo thời gian trong từng tuần,
    từng chủ đề
    + Hình thức tổ chức hoạt động sử dụng phương pháp Glenn Doman cho trẻ
    thông qua các hoạt động hàng ngày
    Nhờ có định hướng về các nội dung tổ chức hoạt động ứng dụng phương pháp
    Glenn Doman trong cả năm học nên tôi có thể luôn chủ động xây dựng được kế
    hoạch cho từng hoạt động cụ thể để tôi chuẩn bị tốt các bài học cho trẻ
    Sau khi xây dựng kế hoạch hoạt động ứng dụng phương pháp Glenn Doman,
    tôi tiếp tục tổ chức hoạt động học cho trẻ tại lớp của mình. Chính việc làm này đã
    giúp đỡ cho tôi không gặp khó khăn trong việc lựa chọn nội dung bài học cũng như
    dễ dàng tích hợp, lồng ghép nội dung của phương pháp Glenn Doman vào các hoạt
    động trong ngày của trẻ, đồng thời giúp trẻ linh hoạt hơn và phát triển vốn từ cho trẻ
    Ví dụ: Kế hoạch tổ chức hoạt động bằng phương pháp Glenn Doman
    năm học 2018- 2019
    KHUNG CHƯƠNG TRÌNH ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP GLENN DOMAN
    Lứa tuổi: Khối mẫu giáo 5-6 tuổi

    Thời gianNội dung hoạt độngChủ đề dự
    kiến
    Dự kiến địa
    điểm tổ
    chức
    Tháng
    9/2018
    – Tìm hiểu về các loại hoa qua thẻ chữ
    – Trẻ chơi với các thẻ chữ để gọi tên các
    loại hoa
    Các loại hoa

    9

    Tháng
    10/2018
    – Sự phong phú của các loại quả
    – Khám phá các loại quả thông qua thẻ
    chữ
    Các loại quả– Ngoài trời
    – Trong lớp
    học
    – Trong các
    góc hoạt
    động
    Tháng
    11/2018
    – Động vật nuôi trong gia đình
    – Động vật sống dưới nước
    – Động vật sống trong rừng
    – Các loại côn trùng
    Động vật
    Tháng
    12/2018
    – Tìm hiểu về một số nghềNghề nghiệp
    Tháng
    1/2019
    – Đặc điểm của các loại cờ của các nướcCờ các nước
    Tháng
    2/2019
    – Phương tiện giao thông đường bộ
    – Phương tiện giao thông đường thủy
    – Phương tiện giao thông đường sắt
    – Phương tiện giao thông đường hàng
    không
    Phương tiện
    giao thông
    Tháng
    03/2019
    – Đặc điểm của các hình khốiHình khối
    Tháng
    04/2019
    – Khám phá điều kì diệu của màu sắcMàu sắc

    2.2. Biện pháp 2: Ứng dụng phương pháp Glenn Doman trong việc cung cấp
    vốn từ cho trẻ
    Glen Doman là phương pháp dạy con theo cách giáo dục sớm. Nhờ phương
    pháp này, trẻ phát triển trí thông minh tốt, kích thích tiềm năng của mỗi đứa trẻ ngay
    từ khi còn nhỏ. Cô hãy tạo cho trẻ sự thích thú trong mỗi “giờ học”. Với không khí
    vui vẻ, những tấm thẻ chứa đầy sự mới mẻ, hấp dẫn đối với trẻ và tình yêu thương
    của cô, trẻ sẽ có tâm lý thoải mái nhất và ghi nhớ một cách tốt nhất.
    10
    Tôi đã ứng dựng phương pháp Glenn Doman lồng ghép vào các hoạt động học
    cho các con. Phương pháp này tạo hứng khởi và định hướng giúp trẻ thông minh
    vừa học, vừa chơi, vừa mở trí thông minh, óc sáng tạo, tài năng cho trẻ. Trẻ được
    phát triển một cách tự nhiên “Học mà chơi, chơi mà học”. Tôi đã thường xuyên lồng
    ghép bài học cho các con, trẻ phát triển vốn từ rất nhiều và mang lại hiệu quả cao.
    Cô cần chuẩn bị các loại thẻ Dot Card (giúp trẻ làm quen với số lượng và phép
    toán), thẻ Flash Card (giúp trẻ làm quen với mặt chữ và từ vựng), thẻ theo chủ đề
    (cây cối, con vật, danh xưng, …) giúp bé làm quen với thế giới xung quanh.
    Để dạy trẻ theo phương pháp này thì cần những nguyên tắc nhất định. Cô phải
    gây hứng thú cho trẻ như bắt đầu 1 trò chơi và học khi trẻ thoải mái nhất và luôn
    dừng trước khi trẻ muốn dừng. Cô cho trẻ học đủ số lần rồi thì trẻ có muốn học
    thêm cũng không được, hãy để sự hứng thú sang ngày mai. Giọng điệu cô phải
    truyền cảm. Cô thực hiện thao tác đưa trẻ thật nhanh để duy trì sự hứng thú, nhưng
    phải chú ý giữ giọng điệu tự nhiên, truyền cảm, đừng biến thành 1 cái máy và mỗi
    thẻ chỉ đưa ra dưới một giây. Cô thao tác với 5 từ 1, sau khi hết 5 từ, hãy ôm hôn
    con và khen con thông minh, thật hứng khởi. Sau mỗi lần tráo phải thay đổi thứ tự
    thẻ.
    Để duy trì hứng thú, tính phù hợp, tôi luôn thiết kế chương trình phù hợp và vui
    nhộn, không được quá tải và chứa đầy kỳ vọng của cô, nên là những kiến thức gần
    gũi trong thực tế, nên dạy hàng ngày, lượng tài liệu mới phù hợp nhu cầu của trẻ.
    Cách thức tương tác phải thu hút. Cô thường xuyên để ý thái độ và tâm trạng của trẻ
    khi học. Khi tráo thẻ, cô đưa thẻ cao hơn tầm với của trẻ, không mô tả, không tỉ mỉ
    và nên chuẩn bị 200 từ đơn trước khi bắt đầu, phải chuẩn bị thẻ thật nhanhCô cần
    thành thạo thao tác: Cầm thẻ tay trái, đỡ thẻ bằng tay trái và dùng ngón cái giữ 1
    bên, 1 ngón còn lại giữ 1 bên, tráo bằng tay phải, tráo từ sau ra trước để nhìn thẻ.
    Nguyên tắc tiếp cận: Bắt đầu từ từ đơn -> từ ghép -> cụm từ -> câu -> sách. Khi
    11
    tăng từ thì nên dựa vào những từ đã học (từ từ đơn sang từ ghép). Bắt đầu từ các
    nhóm từ quen thuộc, trong nhóm cũng dạy các từ quen thuộc trước
    Ảnh minh họa: Bộ thẻ chữ
    Khi trẻ đã học được 200 thẻ từ đơn trở lên thì cô cho trẻ học từ ghép, cô cho
    ghép các từ đã học với nhau thành các từ ghép, có thể lồng ghép thêm các từ mới.
    Ghép các từ chỉ màu sắc với danh tư như: bưởi vàng, bưởi xanh v.v… Màu sắc: đỏ,
    tím, xanh da trời, cam, vàng, đen, hồng, trắng, xám, xanh lá cây, nâu, tím nhạt…
    Các từ trái nghĩa: to – nhỏ, dài – ngắn, béo – gầy, phải – trái, sạch – bẩn, vui vẻ -buồn,
    bằng phẳng – gồ ghề, rỗng – đầy, đẹp – xấu, tối – sáng… Sau đó, cô cho trẻ đọc các
    cụm từ (Có 3 cách, nên dùng cả 3): 5 thẻ tên người hoặc động vật + từ đơn + hành
    động, dùng 1 bảng 15×40 cm để tạo 1 cụm 5 từ, giảm cỡ chữ xuống 5cm, cho xem 3
    lần / ngày liên tục trong 5 ngày, sau đó bỏ đi 2, thêm mới 2. Chuyển nhanh vì trẻ sẽ
    học rất nhanh. Làm quyển các cụm từ đơn giản, 5 cụm từ, có hình minh họa ( hình
    của bé càng tốt), có thể làm cỡ 25cm x 60cm, gấp đôi, chữ cao 5m.
    Khi trẻ đọc được các cụm từ rồi thì cô nên chuyển ch trẻ đọc các câu. Câu hoàn
    chỉnh hơn: bổ sung trạng từ và tính từ vào các cụm từ bước thứ 3, ví dụ bước 3 là:
    “mẹ đang ăn”, thì giờ là “mẹ đang ăn một quả chuối màu vàng”. Cỡ chữ bây giờ còn
    12
    5 cm. Học xong câu có thể cho trẻ chuyển qua đọc sách.Có thể tạo ra các câu lạ. Ví
    dụ: bố đang ôm quả dâu… Việc ghép thành câu sẽ là 1 trò chơi thú vị, đôi khi nghe
    thật lạ nhưng thật vui. Sẽ rất hay nếu từ 50 từ ghép thành thật nhiều câu. Có thể
    dùng thẻ nhỏ hơn, giảm cỡ chữ (2,5cm), tăng số từ, chuyển sang chữ màu đen. Cỡ
    chữ giảm từ từ để trẻ quen.
    Mỗi ngày tôi cho trẻ xem 5 thẻ bất cứ theo chủ đề. Ngày hôm sau tôi bỏ 1 thẻ cũ đi
    và thêm 1 thẻ mới vào. Với cách dạy này tôi không cần mất nhiều thời gian để soạn
    thẻ theo chủ đề. Khi tôi vận dụng phương pháp này, trẻ hứng thú và học rất nhanh.
    Qua đó, vốn từ của trẻ được mở rộng, ngôn ngữ của trẻ phong phú và đa dạng hơn
    Phương pháp Glenn Doman khuyến khích trẻ hoạt động học một cách tự nhiên
    bằng phương pháp áp dụng lồng ghép những từ ngữ như khi trẻ học đọc, học viết,
    học nhìn nhận và ghi nhớ sự vật thông qua những hình ảnh, hoặc những mảnh bìa
    hết sức đơn giản. Điều này có thể cho thấy rằng vốn từ mà trẻ học được rất quan
    trọng, nhưng quan trọng hơn nữa đó chính là hiểu được tâm tư tình cảm của trẻ và
    giúp trẻ yêu thích nó một cách tự nguyện chứ không mang tính chất ép buộc. Giáo
    dục trẻ cần có thời gian cũng như phương pháp hiệu quả và hợp lý, luôn đặt trẻ lên
    trước tiên để mang đến những điều tốt nhất cho trẻ. Bài học này không chỉ giúp trẻ
    khỏe – thông minh – nhanh nhạy – vui vẻ mà còn rèn luyện cho bé kỹ năng tự học
    suốt đời, tự thích nghi, phát triển một cách tích cực và nổi trội nhất, giúp trẻ mở
    rộng vốn từ nhiều hơn.
    13
    Ảnh minh họa: Trẻ được học tráo thẻ bằng phương pháp Glenn Doman
    2.3. Biện pháp 3: Phát triển khả năng nói mạch lạc và sử dụng vốn từ một cách
    phong phú thông qua hoạt động làm quen với văn học
    Phương pháp Glenn Doman được ứng dụng thông qua hoạt động làm quen với
    văn học. Qua hoạt động này trẻ có thê biết lồng ghép các thẻ chữ thành những câu
    thơ, đoạn hội thoại trong câu chuyện hoặc trẻ có thể đọc những đoạn truyện ngắn.
    Hoạt động làm quen với văn học gồm các nội dung:
    – Đàm thoại
    Trò chuyện với trẻ theo câu hỏi: Đây là biện pháp chính hướng dẫn trẻ làm
    quen với đối tượng nhận thức. Giáo viên chuẩn bị một hệ thống câu hỏi để trẻ trả
    lời. Các câu hỏi có tác dụng hướng sự chú ý của trẻ tới đối tượng cần nhận thức, dạy
    trẻ biết quan sát đối tượng một cách tổng thể cũng như quan sát tỉ mỉ các đặc điểm,
    tính chất và các mối quan hệ của sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên. Các câu hỏi
    cũng đồng thời kích thích trẻ nói, gọi tên hoặc mô tả đối tượng đang quan sát. Qua
    đó vốn từ của trẻ ngày càng được mở rộng hơn. Giáo viên cần chú ý sao cho câu hỏi
    đa dạng, buộc trẻ trả lời bằng các từ loại khác nhau như hỏi về tên gọi, đặc điểm tính
    chất, công dụng, hoạt động,…
    14
    Ví dụ: Cô có con vật gì đây?
    Con gà mái có những bộ phận nào?
    Tiếng kêu của con gà mái như thế nào nhỉ?
    Thức ăn của gà mái là gì?
    Con gà mái có lợi ích gì?
    Khi trò chuyện, tôi cũng có thể sử dụng phối hợp một số thủ thuật như nói
    mẫu, nhắc lại, giảng giải, khen ngợi, cho trẻ sử dụng các thao tác sờ mó, cầm nắm
    (đối với các vật thật).
    Biện pháp sử dụng lời kể của cô giáo: Lời kể của cô giáo dễ gây hứng thú cho
    trẻ khi quan sát và giúp trẻ tri giác toàn bộ đối tượng, thấy được mối quan hệ giữa
    các sự vật, hiện tượng; điều này làm cho trẻ dần dần hiểu đầy đủ hơn ý nghĩa của từ.
    Lời kể của cô giáo còn tạo ra mẫu mực ngôn ngữ cho trẻ noi theo về giọng nói, ngữ
    âm, ngữ điệu, điệu bộ,… Yêu cầu lời kể của giáo viên phải rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu
    đối với trẻ, chủ yếu là mô tả các đặc điểm, tính chất các hành động của đối tượng.
    Lời kể cần logic đầy đủ các phần: mở đầu, mô tả, kết thúc. Mở đầu của lời kể là giới
    thiệu về đối tượng cho trẻ làm quen và sau đó mô tả các chi tiết, các đặc điểm, tính
    chất của đối tượng. Kết thúc lời kể là những nhận xét, đánh giá lời kể của trẻ. Giáo
    viên có thể tiến hành kể trước hoặc sau khi trò chuyện, nó tùy thuộc vào khả năng
    nhận thức của trẻ và mức độ phức tạp của chủ đề cho trẻ làm quen. Để trẻ hứng thú
    trong bài học tôi đã sử dụng mô hình kết hợp với lời kể giúp trẻ dễ hiểu bài và hăng
    hái trả lời các câu hỏi của cô, từ đó giúp trẻ nói nhiều hơn phát triển khả năng nói
    mạch lạc, rèn tính tự tin cho trẻ.
    15
    Ảnh minh họa: Trẻ quan sát mô hình thông qua truyện “Chú đỗ con”
    Cô cho trẻ tự kể những gì trẻ đã được làm quen: Đây là một biện pháp tích
    cực hóa vốn từ của trẻ. Khi trẻ tự kể chuyện, trẻ sẽ gọi tên, kể ra các đặc điểm của
    các loại hoa quả, con vật và đó là điều kiện để các từ ngữ ở trạng thái bị động
    chuyển thành chủ động, tích cực.
    Khi cho trẻ tiếp xúc với các tác phẩm văn học, tôi cần chú ý vận dụng các biện
    pháp phù hợp để giúp trẻ hiểu nghĩa của từ, nhất là những từ ngữ nghệ thuật. Có thể
    phối hợp vận dụng biện pháp dùng lời kết hợp với biện pháp quan sát. Để giải thích
    cho trẻ hiểu từ trong tác phẩm văn học bằng biện pháp này thì trước hết cần phải chọn
    từ có nghĩa cụ thể. Có như vậy thì việc sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với lời giải
    thích mới đạt hiệu quả cao.
    Ví dụ: Trong bài thơ Hoa kết trái có thể lựa chọn một số từ có nghĩa cụ thể
    sau để giải thích:
    “Chói chang” trong câu “Hoa lựu chói chang”
    “Rung rinh” trong câu “Rung rinh trong gió”
    16
    Khi giải thích từ tôi phải đọc cả câu một đến hai lần hay đọc cả đoạn, như vậy từ
    mới không bị tách khỏi ngữ cảnh và trẻ sẽ cảm nhận tốt hơn. Sau đó, tôi phải lựa chọn
    đồ dùng trực quan phù hợp với từ đó, kết hợp với lời giải thích để giúp trẻ hiểu nghĩa
    của từ mà tác giả dùng trong tác phẩm ấy. Lời giảng giải của tôi cần phải ngắn gọn, cô
    đọng, dễ hiểu, hấp dẫn trẻ.
    Ví dụ: Trong bài thơ Giữa vòng gió thơm
    Tôi giải thích từ “khép rủ” trong câu “Cánh màn khép rủ”. Tôi cho trẻ quan
    sát bức tranh vẽ một căn nhà nhỏ có chiếc giường, có người nằm bên trong, màn
    buông xuống, hai cánh màn khép lại. Sau đó cô chỉ vào bức tranh và dùng lời để giải
    thích cho trẻ hiểu. Tác giả đưa từ “khép rủ” vào câu thơ ý muốn nói tới cảnh bà bị
    ốm nằm trên giường, không gian cũng trở nên ảm đạm, buồn bã.
    Việc sử dụng biện pháp này yêu cầu giáo viên phải sử dụng đồ dùng trực
    quan một cách linh hoạt, sáng tạo, kết hợp với lời giảng giải diễn tả về nghĩa của từ
    trong văn cảnh đó sẽ giúp trẻ hiểu và cảm nhận từ ngữ nghệ thuật một cách sâu sắc,
    tạo cho trẻ niềm say mê, hứng thú, tích cực, tìm tòi khám phá thế giới xung quanh.
    – Giải nghĩa từ bằng cách so sánh, đối chiếu
    Giáo viên giải nghĩa của từ mới này bằng cách so sánh với từ khác để thấy
    được điểm khác nhau về nghĩa của hai từ. Từ đó trẻ sẽ khắc sâu hơn nghĩa của các
    từ được giáo viên cung cấp
    Ví dụ: + Giải nghĩa từ “đồi” bằng cách so sánh “đồi” với “núi”

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Sáng tạo từ nguyên liệu tái chế, tre, nứa, ống nhựa, làm đồ dùng cho trẻ trải nghiệm với nước trong trường mầm non

    SKKN Sáng tạo từ nguyên liệu tái chế, tre, nứa, ống nhựa, làm đồ dùng cho trẻ trải nghiệm với nước trong trường mầm non

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN.
    Trong trường mầm non, vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ và đồ chơi là
    phương tiện giúp trẻ thực hiện hoạt động đó, đồng thời là phương pháp phát
    triển nhân cách toàn diện tốt nhất cho trẻ.
    Đối với trẻ nhỏ, đồ chơi là một nhu cầu thiết yếu, không thể thiếu được trong
    cuộc sống. Nó cần cho sự phát triển tư duy, nhân cách toàn diện của một đứa trẻ,
    đồ dùng tự tạo giúp phát triển nhận thức phát triển tư duy khả năng ghi nhớ có
    chủ đích, kích thích sự sáng tạo, tính độc lập của trẻ.
    Hiện nay khi thực hiện chương trình mầm non mới điều khó khăn nhất đối
    với chúng ta là làm thế nào để hoạt động thật đơn giản, tiết kiệm, nhưng lại đạt
    hiệu quả cao. Một trong những yếu tố để làm được điều đó là biết tận dụng
    nguyên vật liệu mở có sẵn ở địa phương gần gũi an toàn đối với trẻ. Đây cũng
    chính là hình thức dạy trẻ biết yêu quý sức lao động ngay từ khi còn bé.
    Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển và kỹ thuật điện tử xâm nhập
    đến từng mái trường, từng gia đình, từng trẻ em. Chúng ta không thể yên tâm
    với con em mình khi từng ngày, từng giờ những mặt trái của thời đại công nghệ
    đang ảnh hưởng không mấy tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách
    trẻ. Vậy làm thế nào để trẻ vừa chơi, vừa học, lại vừa sáng tạo là mối quan tâm
    và cũng là nhu cầu thiết yếu của các bậc phụ huynh và giáo viên mầm non. Để
    thỏa mãn được nhu cầu đó của trẻ đòi hỏi giáo viên mầm non phải luôn sáng tạo,
    tạo ra nhiều đồ dùng, đồ chơi phù hợp với nội dung bài dạy, phù hợp với tình
    huống giáo dục trong các hoạt động. Đồ dùng sáng tạo giúp trẻ dễ dàng hòa
    nhập vào hành động chơi giống như đáp ứng nhu cầu bắt chước hành động của
    người lớn và làm quen thế giới xung quanh. Chính đồ dùng, đồ chơi là sợi dây
    bền chắc nhất liên kết trẻ với nhau để cùng chơi, cùng hành động và để duy trì
    hứng thú của trẻ với trò chơi đồng thời đồ chơi còn giúp trẻ hình thành sự chú ý
    và ghi nhớ có chủ định, góp phần phát triển trí tuệ, tích luỹ các biểu tượng làm
    cơ sở cho hoạt động phát triển tư duy của trẻ.
    2
    Việc làm đồ dùng đồ chơi cho trẻ mầm non cũng đóng một vai trò hết sức quan
    trọng trong việc giáo dục trẻ. Trong quá trình làm đồ dùng cô giáo cũng phải
    xem xét mọi điều kiện, khía cạnh thực tế để phù hợp với điều kiện của địa
    phương, tình hình của lớp học mình, nhận thức của trẻ. Trẻ nhận thức ở mức độ
    như thế nào để cô tìm hướng, cách làm đồ dùng sao cho phù hợp với sự tiếp thu
    của trẻ. Với những đồ dùng do tự tay mình làm ra bản thân giáo viên sẽ rất dễ
    dàng trong việc hướng dẫn trẻ trong quá trình thực hiện, trẻ sẽ lĩnh hội được
    những kinh nghiệm, dễ dàng tiếp thu kiến thức, có thể sẽ đưa ra những sáng kiến
    riêng, dần dần kỹ năng kỹ xảo sẽ ngày một hoàn thiện hơn. Ngoài ra, trẻ sẽ học
    được cách chia sẻ trong quá trình lao động. Điều này sẽ giúp trẻ tích cực, tự chủ
    trong hoạt động liên quan.
    Là một giáo viên mầm non, tôi nhận thức được vấn đề này trong chăm sóc
    và giáo dục trẻ. Bên cạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại trong
    giảng dạy tôi luôn tìm tòi học hỏi và sáng tạo ra các hình thức, phương pháp
    giáo dục trẻ. Từ đó tôi đã tìm ra cho mình một phương pháp dạy học khá hay,
    rất tiết kiệm mà lôi cuốn trẻ vào các hoạt động giúp trẻ học tập tốt hơn, tôi đã sử
    dụng phương pháp sáng tạo từ các vật liệu tái sử dụng, nguyên liệu sẵn có tại địa
    phương để làm đồ dùng đồ chơi cho trẻ bằng nhiều nguyên liệu khác nhau. Năm
    2018 tôi đã nghiên cứu và làm thành công một số mẫu đồ dùng cho trẻ trải
    nghiệm trong trường mầm non. Tôi đã kết hợp với một số giáo viên đang trực
    tiếp giảng dạy ở một số trường mầm non trên toàn quốc ứng dụng đồ dùng cho
    trẻ mầm non vui chơi với nước do chính bản thân tôi làm ra. Sau khi đưa vào
    ứng dụng thực hành tại một số trường tôi nhận được phản hồi tích cực từ các
    thầy cô giáo. Trẻ tiếp thu kiến thức nhẹ nhàng hơn, hứng thú, sáng tạo hơn trong
    các hoạt động. Từ những lí do đó năm học 2019- 2020 tôi đã ứng dụng đồ dùng
    này tại trường Mầm Non xã Nghĩa Thành với đề tài: “ Sáng tạo từ nguyên liệu
    tái chế, tre nứa, ống nhựa làm đồ dùng cho trẻ trải nghiệm với nước trong
    trường mầm non”. Mục đích giúp cho lớp học của tôi có được nhiều đồ dùng
    sáng tạo cho trẻ hoạt động với nước ngày một nhiều hơn, sáng tạo hơn. Đồng
    3
    thời cũng chia sẻ với đồng nghiệp cách làm những đồ dùng sáng tạo để phục vụ
    chính cho lớp học của mình, nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả giảng dạy cho
    trẻ mầm non với mong muốn mang những thành công của mình đến với những
    đồng nghiệp, những người luôn quan tâm đến công tác chăm sóc sáo dục trẻ.
    Đồng thời mong muốn đào tạo ra những thế hệ tương lai năng động, sáng tạo
    luôn biết giữ gìn bản sắc dân tộc nhưng lại thích ứng nhanh với sự tiến bộ của xã
    hội, góp một phần nhỏ bé vào công cuộc xây dựng đất nước văn minh giàu đẹp.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP.
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến.
    Việc làm đồ dùng tự tạo là trách nhiệm của mỗi giáo viên, ngoài giờ lên lớp
    giáo viên còn tự lựa chọn thời gian hợp lí để tìm tòi cách làm đồ dùng phục vụ
    cho chính tiết dạy của mình, nhằm phục vụ cho việc dạy và học đồng thời nâng
    cao sự tìm tòi, ham hiểu biết của trẻ giúp trẻ phát triển toàn diện nhân cách. Tuy
    nhiên trên thực tế cho thấy việc làm đồ dùng sáng tạo cho trẻ chiếm khá nhiều
    thời gian làm ảnh hưởng đến các nhiệm vụ khác của giáo viên, giáo viên đôi khi
    không có nhiều thời gian cho việc chuẩn bị giáo án, đồ dùng lên lớp để đạt kết
    quả cao. Chính vì vậy, năm học 2019 – 2020 tôi được nhà trường phân công
    giảng dạy nhóm trẻ 24- 36 tháng với tổng số học sinh là 25 cháu, với nhận thức
    của trẻ chưa đồng đều, bản thân tôi trong quá trình thực hiện việc làm đồ dùng
    sáng tạo cho trẻ về đề tài này tôi còn gặp những thuận lợi và khó khăn như sau:
    a) Thuận lợi.
    – Được sự chỉ đạo của Phòng Giáo dục đào tạo huyện Nghĩa Hưng cùng với
    sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường về đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết
    bị nhóm lớp, lớp tôi đã đạt 83% danh mục đồ dùng, trang thiết bị theo thông tư
    01.
    – Ban giám hiệu thường xuyên tạo điều kiện cho tôi được tham gia các lớp
    tập huấn bồi dưỡng và nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ dành cho giáo viên
    cũng như tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu và ứng dụng sáng kiến kinh nghiệm
    trong thực tiễn giảng dạy.
    4
    – Trẻ đi học chuyên cần, khỏe mạnh nhanh nhẹn, tích cực tham gia vào các
    hoạt động của lớp.
    – Bản thân là một giáo viên được đào tạo Cao đẳng sư phạm, nắm vững
    chuyên môn, luôn nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ, tâm huyết với nghề, ham học hỏi
    nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Tôi thường xuyên tìm tòi, nghiên cứu
    cách làm đồ dùng, đồ chơi sáng tạo cho trẻ mầm non, luôn tìm cách làm đồ dùng
    với nước cho trẻ với nhiều đồ dùng, vật liệu khác nhau.
    – Hai giáo viên đứng lớp luôn kết hợp thống nhất phương pháp, biện pháp
    giáo dục trẻ, thường xuyên tổ chức các hoạt động chơi, dành thời gian trao đổi
    với phụ huynh để phụ huynh thu lượm giúp những vật liệu sẵn có tại địa phương
    phục vụ cho việc làm đồ dùng.
    b) Khó khăn.
    – Kinh phí nhà trường còn hạn hẹp chưa thể bổ sung trang thiết bị, cở sở
    vật chất đầy đủ cho nhà trường, cho nhóm lớp.
    – Bản thân tôi gặp không ít khó khăn trong việc tìm tòi đồ dùng, vật liệu
    sẵn có tại địa phương, đồ dùng cho trẻ với nước còn thiếu trong quá trình cho trẻ
    chơi, lao động hoạt động tập thể.
    – Thời gian dành cho việc làm đồ dùng sáng tạo chưa nhiều do vậy khi
    thực hiện làm một số đồ dùng sáng tạo cho trẻ chơi với nước cần rất nhiều thời
    gian.
    – Trẻ được sống trong môi trường quá bao bọc khiến trẻ quen dựa dẫm,
    không có tính tự lập, ích kỷ, ít được tiếp xúc với môi trường xung quanh.
    – Nhiều phụ huynh chưa có hành vi đúng đắn và lời nói mẫu mực.
    – Mỗi trẻ lại có đặc điểm cá tính riêng biệt vì thế việc quan tâm, sát sao tất
    cả trẻ trong các hoạt động là điều hết sức khó khăn.
    – Môi trường xã hội nơi trẻ sống bên cạnh nhiều mặt tích cực còn có mặt
    tiêu cực làm ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách ở trẻ. Nhiều trẻ bị ảnh
    hưởng bởi cuộc sống hiện đại như: Internet, tivi, các trò chơi điện tử… nên trẻ
    không quan tâm nhiều đến các hoạt động khác.
    5
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến.
    Dựa vào những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện tìm tòi và khám phá
    trước đó, bản thân tôi đã áp dụng những biện pháp mới và sau đây là những biện
    pháp mà tôi mạnh dạn đưa ra để áp dụng trong đề tài này như sau:
    a) Giải pháp1: Tham mưu với ban giám hiệu nhà trường về vấn đề đầu
    tư cơ sở vật chất.
    – Như chúng ta đã biết mua sắm trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học
    cho giáo viên và học sinh là một việc làm vô cùng cần thiết. Ngay từ đầu năm
    học khi thực hiện đề tài sáng kiến bản thân tôi đã xây dựng kế hoạch, tham mưu
    với ban giám hiệu nhà trường về cơ sở vật chất phục vụ cho năm học dựa trên
    nhóm đồ dùng phục vụ cho trẻ chơi với nước có trong danh mục đồ chơi theo
    thông tư 01.
    + Ca cốc bằng inoc đảm bảo an toàn vệ sinh, có quai cầm chắc chắn.
    + Bát ăn cơm, thìa xúc cơm chất liệu bằng inoc.
    + Bình nước có vòi: Đảm bảo chắc chắn, đảm bảo vệ sinh, tiện lợi cho trẻ
    khi mở vòi, khóa vòi.
    + Chậu đựng nước bằng inoc.
    + Bộ đồ chơi đong nước: Để trẻ chơi đong nước trong các học động chơi
    và học đảm bảo khoa học và sáng tạo.
    + Thùng đựng nước có vòi phục vụ cho rửa tay vệ sinh cho trẻ.
    + Khăn lau tay để trẻ lau khô tay khi chơi với nước.
    + Khăn mặt, khăn lau khô cho trẻ.
    + Xô đựng nước chất liệu bằng nhựa.
    + Bình ủ nước: Sử dụng cho mùa đông đựng nước nóng cho học sinh.
    + Nhà vệ sinh có lắp hệ thống nóng lạnh phục vụ vệ sinh cho trẻ theo
    mùa.
    Trong quá trình tham mưu và đề xuất bản thân tôi đã chắt lọc những đồ
    dùng chính phục vụ cần thiết nhất, ngoài ra còn đưa thêm một số đề xuất đồ
    dùng sáng tạo cho trẻ chơi với nước trong các giờ chơi, giờ học của trẻ để trẻ
    6
    tham gia đầy đủ và đảm bảo tính sáng tạo giúp trẻ hứng thú, say mê, sáng tạo
    trong các hoạt động hàng ngày góp phần cho sự phát triển toàn diện nhân cách
    của trẻ.
    Cô giáo hướng dẫn trẻ lấy nước uống
    b) Giải pháp 2: Tuyên truyền với các bậc phụ huynh về việc thu gom
    phế liệu để làm đồ dùng cho trẻ chơi với nước.
    Để thực hiện tốt việc làm đồ dùng sáng tạo cho trẻ chơi với nước thì
    7
    chuẩn bị phế liệu, đồ dùng là rất quan trọng. Dựa trên các chủ đề, tôi đã xây
    dựng những tiết học có sử dụng đồ dùng chơi với nước sau đó tôi đã tích cực
    tuyên truyền với các bậc phụ huynh về việc ủng hộ những phế liệu để làm đồ
    dùng phục vụ cho các cháu tại lớp. Trong giờ đón trẻ tôi trao đổi với phụ huynh
    một cách thân thiện. Luôn lắng nghe tâm tư nguyện vọng của phụ huynh, trao
    đổi với phụ huynh về công tác chăm sóc giáo trẻ. Phụ huynh thấy được tầm quan
    trọng của việc học của con em mình nên rất đồng tình trong quá trình thu gom
    phế liệu.
    Sau khi đã có kế hoạch hoạt động trong một năm học của nhà trường, bản
    thân tôi đã xây dựng kế hoạch tháng, tuần của lớp dựa trên kế hoạch năm học tôi
    lên kế hoạch thu gom nguyên liệu tái chế làm đồ dùng theo các chủ đề.
    Để làm tốt việc làm đồ dùng tự tạo bản thân tôi đã luôn suy nghĩ và tìm ra
    những phế liệu có thể tái chế hiệu quả và an toàn để phục vụ cho việc làm đồ
    dùng cho trẻ.
    Tôi thường xuyên trao đổi trực tiếp với phụ huynh một số kiến thức về việc
    làm đồ dùng, đồ chơi, khuyến khích phụ huynh cho trẻ tự làm đồ dùng, đồ chơi
    và đóng góp những nguyên vật liệu thiên nhiên đã qua sử dụng cho lớp. Tôi nghĩ
    đây cũng là một hình thức khá hay trong việc giúp cô giáo làm được nhiều đồ
    dùng không chỉ là những đồ dùng cho trẻ chơi với nước mà còn làm được nhiều
    đồ chơi khác giúp phát huy ở trẻ tính tích cực sáng tạo trong các hoạt động học,
    đồng thời đây cũng hình thức tuyên truyền khá hay về công tác chăm sóc giáo
    dục trẻ giữa giáo viên và gia đình.
    Bên cạnh đó tôi thường xuyên mời phụ huynh tham quan góc học tập, xem
    các đồ dùng đồ chơi do chính tay tôi làm để phục vụ trẻ, ghi lại video để phụ
    huynh thấy được con em mình được học, được chơi gì ở trường.
    Tổ chức các buổi họp phụ huynh tuyên truyền về công tác chăm sóc giáo
    dục trẻ. Hướng dẫn phụ huynh làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ tại nhà.
    Mời phụ huynh tham dự một số hoạt động vui chơi trải nghiệm của trẻ với
    đồ dùng tự làm từ nguyên liệu tái chế do phụ huynh ủng hộ.
    8
    Cô giáo hướng dẫn phụ huynh làm đồ chơi cho trẻ tại nhà

    Phụ huynh ủng hộ băng đĩa DVDPhụ huynh ủng hộ chai lọ tái chế

    9
    c) Giải pháp 3: Thực hiện làm đồ dùng sáng tạo cho trẻ chơi với nước
    Đối với trẻ mầm non, đồ dùng đồ chơi là thứ không thể thiếu trong cuộc
    sống của trẻ. Thông qua đồ dùng đồ chơi trẻ có thể tìm tòi, khám phá, trẻ được
    thao tác với các đồ vật… qua đó giúp trẻ phát triển một cách toàn diện. Khi trẻ
    được tìm hiểu, khám phá các đồ dùng đồ chơi giúp trẻ hiểu biết về tên gọi, đặc
    điểm, công dụng…về thế giới xung quanh, giúp trẻ biết được cách sử dụng của
    các đồ dùng, đồ vật, qua đó giúp trẻ phát triển về nhận thức. Khi được thao tác
    với đồ dùng đồ chơi: cầm, nắn, sờ, mó… giúp trẻ được phát triển thể chất về các
    vận động tinh. Bên cạnh đó, khi được tiếp xúc với các đồ dùng đồ chơi, trẻ cảm
    nhận được cái đẹp, tạo cho trẻ yêu thích và mong muốn tạo ra cái đẹp qua đó
    giúp trẻ phát triển thẩm mĩ một cách tốt nhất. Không những thế, khi được chơi
    với các đồ dùng đồ chơi, vốn từ của trẻ được phát triển một cách nhanh nhất
    giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, rèn luyện cho trẻ sự tự tin, mạnh dạn khi chơi với
    bạn, với cô qua đồ dùng đồ chơi, qua đó trẻ được phát triển ngôn ngữ và tình
    cảm kĩ năng xã hội. Đồ dùng đồ chơi mua sẵn không phải lúc nào cũng đẹp, lúc
    nào cũng tốt, chúng không đủ về chủng loại và phong phú về chất liệu. Hơn nữa
    không phải trường mầm non nào cũng có đủ điều kiện để mua tất cả các đồ dùng
    đồ chơi có sẵn, đủ để phục vụ nhu cầu chơi cho trẻ.
    Trẻ mầm non hiểu và tiếp thu mọi điều về thế giới xung quanh thông qua
    việc tìm hiểu, khám phá các sự vật, hiện tượng; học cách làm người qua việc
    thể hiện tình cảm, thái độ đối với các đồ vật, đồ dùng đồ chơi.
    Trong thực tế, qua nhiều năm giảng dạy, hàng ngày được tiếp xúc với trẻ,
    được xem trẻ chơi, được trò truyện cùng trẻ tôi nhận thấy được rằng trẻ nhỏ rất
    thích được chơi với những đồ chơi mới lạ, đặc biệt là những đồ chơi tự tạo.
    Được chơi, khám phá với đồ dùng tự tay mình làm ra trẻ sẽ phát huy được hết
    tính tích cực và khả năng tư duy sáng tạo của trẻ. Từ những lý do trên, bản thân
    tôi là một giáo viên trực tiêp giảng dạy, tôi đã dựa vào kinh nghiệm của bản thân
    và những ý kiến đóng góp từ các đồng nghiệp, dựa vào sách báo…tôi xin đưa ra
    ý tưởng từ tre nứa, vỏ chai nước, ống nhựa, ống nước cũ dư thừa của gia đình
    10
    lắp ghép lại để tạo ra đồ chơi cho trẻ chơi và qua đó giúp trẻ khám phá ra nhiều
    trò chơi từ ống nhựa, ống nước này.
    Sau đây là những đồ dùng sáng tạo làm cho trẻ chơi với nước mà bản thân
    tôi thực sự tâm đắc:
    * Đồ dùng chơi với nước làm bằng ống nhựa.
    – Chất liệu: Đồ dùng làm từ ống nhựa, nguyên liệu tái chế.
    – Lựa chọn đồ dùng bằng ống nhựa làm đồ dùng cho trẻ chơi với nước là
    tiêu chí của bản thân tôi vì:
    Thứ nhất: Đồ dùng khi ứng dụng hoạt động bằng nước không sử dụng điện.
    An toàn tuyệt đối với trẻ.
    Thứ hai: Bản thân tôi thấy đồ dùng dễ dàng tìm kiếm, phù hợp với độ tuổi
    mầm non.
    Thứ ba: Chất liệu nhựa nhẹ, dễ cắt, khoan, đục.
    Thứ tư: Bản thân tôi rất dễ lắp ghép. Ngoài việc làm cho cô sử dụng, mục
    đích còn để trẻ có thể tự tháo lắp được không cần sự giúp đỡ của giáo viên trong
    suốt quá trình chơi.
    – Công dụng:
    + Từ ống nhựa trên đầu tiên bản thân tôi cho trẻ chơi với ống nhựa trong
    tiết hoạt động góc, hoạt động với đồ vật nhằm tạo giúp ra cho trẻ kích thích sự
    khám phá, tìm tòi.
    + Sau khi đã cho trẻ trải nghiệm và khám phá tôi đã ghép cho trẻ nhìn thấy
    để trẻ hứng thú chơi, để thấy được sự phát huy của đồ dùng tôi đã chuẩn bị
    những chậu nước to để giữa lớp (Trẻ ngồi xung quanh để quan sát). Sau đó dùng
    nước đổ từ trên ống cao nhất xuống nước chảy vào ống và thoát ra đều đều kích
    thích trẻ khám phá vì sao? Có những trẻ hỏi: Cô ơi nước chảy nhiều thế? Cô ơi
    sao nước chảy ở đâu ra cái vòi này? Sao cái kia lại quay được ạ? … Ôi thích quá.
    Từ những khám phá trên giúp trẻ kích thích tư duy, quan sát có chủ định và
    hứng thú tìm tòi, sáng tạo.
    + Ngoài việc cho khám phá trong tiết học, đồ dùng này còn được phục vụ
    11
    trong các hoạt động chơi với nước ở ngoài trời, các hoạt động trải nghiệm của
    trẻ với nước.
    +Ngoài những trò chơi trên, từ ống nhựa nhỏ trẻ còn chơi được với các trò
    chơi khác: Xâu ống vào trụ, xâu ống vào dây kéo đi chơi, chơi xếp cạnh, xếp
    chồng, lắp ghép, làm ống nghe khám bệnh cho búp bê…
    +Tôi nhận thấy, khi trẻ chơi với đồ chơi này còn giúp cho trẻ phát triển rất
    nhiều mặt:
    + Phát triển các giác quan: Trẻ biết cầm, nắm, lăn xoay; biết phối hợp tay
    và mắt: xâu, xếp, lắp ghép…
    + Phát triển trí tuệ: Trẻ phân biệt được kích thước to – nhỏ, dài- ngắn, tính
    chất cứng – mềm…
    + Phát triển ngôn ngữ: Trẻ nói được rất nhiều và phát triển hơn so với yêu
    cầu thực: trong quá trình trẻ chơi, trẻ được tiếp xúc với nhau kích thích trẻ giao
    tiếp nhiều hơn qua đó sẽ giúp trẻ phát triển được ngôn ngữ của trẻ.
    + Phát triển cảm xúc, tình cảm: Trẻ vui, thích thú, vui cười nói chuyện với
    nhau trong quá trình chơi.
    Cô giáo hướng dẫn trẻ lắp ghép thác nước
    12

    Cô và trò đang vui chơi với thác nướcTrẻ đang tự mình trải nghiệm với thác nước
    Trẻ thích thú vui chơi với guồng quay nướcTrẻ khám phá trải nghiệm với guồng quay
    nước

    13
    * Đồ dùng chơi với nước làm bằng cây tre.
    Trong cuộc sống có muôn vàn vạn vật. Vật chất, đồ dùng xung quanh được
    làm ra không chỉ mang tính chất thẩm mỹ, dùng để trưng bày được thể hiện qua
    sự khéo léo của con người. Ngoài ra, chúng còn dùng phục vụ rất nhiều trong
    công việc, trong học tập, trong cuộc sống hàng ngày… đặc biệt thông qua những
    đồ dùng, vật liệu sẵn có tại địa phương đã giúp cho mọi người sáng tạo ra nhiều
    đồ dùng phục vụ cho học tập và giảng dạy.
    – Cách làm:
    Tận dụng những phế liệu sẵn có tại địa phương, tôi đã lựa chọn những đoạn
    tre dài ngắn, to nhỏ khác nhau, sau đó cắt, khoan, lắp ghép để tạo thành đồ chơi
    sáng tạo cho trẻ vui chơi và trải nghiệm.

    Bước 1. Cắt tre thành nhiều đoạn dài ngắnBước 2. Lắp ghép guồng
    Bước 3. Lắp khungBước 4. Lắp chi tiết phụ và trang trí

    1

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Kinh nghiệm xây dựng bảng tính khẩu phần ăn cho trẻ trong trường mầm non thông qua ứng dụng EXCEL

    SKKN Kinh nghiệm xây dựng bảng tính khẩu phần ăn cho trẻ trong trường mầm non thông qua ứng dụng EXCEL

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
    [TÊN TÁC GIẢ] 2
    Con người là một thực thể sống, nhưng sự sống không thể có được nếu
    không ăn uống. Tất cả chúng ta đều thấy rõ tầm quan trọng của việc ăn uống,
    đây là nhu cầu hàng ngày, cấp bách và bức thiết không thể không có. Không
    chỉ giải quyết chống lại cảm giác đói, ăn uống là để cung cấp năng lượng cho
    cơ thể hoạt động. Ngoài ra thức ăn còn cung cấp các axitamin, vitamin,chất
    khoáng là những chất cần thiết cho sự phát triển của cơ thể, duy trì các tế bào,
    tổ chức…
    Thật vậy, nếu thiếu hoặc thừa các chất dinh dưỡng đều có thể gây bệnh
    hoặc ảnh hưởng bất lợi cho sức khoẻ. Nhờ có sự phát triển của khoa học dinh
    dưỡng, nhiều loại bệnh đã từng một thời là mối nguy hiểm với tính mạng của
    con người như bệnh scocbút do thiếu Vitamin C đối với các thuỷ thủ, bệnh tê
    phù do thiếu Vitamin B1 ở các vùng do ăn gạo xay xát quá kỹ, bệnh pellagrơ
    do thiếu niaxin ở những vùng do ăn toàn ngô; những bệnh này đã lùi vào quá
    khứ. Tuy vậy hiện nay trong thời kì của nền kinh tế thị trường các vấn đề nảy
    sinh do chế độ dinh dưỡng không đầy đủ và không hợp lí vẫn còn là điều phải
    quan tâm xem xét. Chúng ta biết rằng tình trạng dinh dưỡng tốt của mọi người
    phụ thuộc vào khẩu phần dinh dưỡng thích hợp, được chăm sóc sức khoẻ đầy
    đủ, có môi trường sống hợp vệ sinh. Ngoài ra, tình trạng dinh dưỡng còn phụ
    thuộc vào các kiến thức ăn uống khoa học của mỗi người, các thói quen và tập
    quán ăn uống của địa phương. Muốn khoẻ mạnh cần ăn uống hợp hợp lí và
    được chăm sóc sức khoẻ đầy đủ. Vì vậy vấn đề đặt ra là chúng ta phải ăn
    uống như thế nào cho hợp lí, cơ cấu bữa ăn nên như thế nào cho phù hợp với
    lứa tuổi, phù hợp với quá trình lao động… nhằm giúp con người phát triển
    khoẻ mạnh và phòng tránh được bệnh tật.
    Nếu chế độ ăn của mỗi người thiếu về số lượng và không cân đối về chất
    lượng sẽ bị giảm cân, thiếu máu, giảm khả năng lao động, tăng khả năng mắc
    bệnh, bệnh tật sẽ nhiều hơn, nặng hơn và kéo dài hơn. Ngược lại, ăn quá
    nhiều, ăn không cân đối hoặc cơ thể ốm yếu, khả năng tiêu hoá, hấp thu, sử
    dụng các chất dinh dưỡng không tốt sẽ dẫn đến rối loạn các chức phận, thay
    đổi các chỉ số hoá sinh, diễn ra các biểu hiện lâm sàng về các bệnh suy dinh
    dưỡng và các bệnh không lây truyền như bệnh huyết áp cao, tim mạch, đái
    đường và một số loại ung thư.
    [TÊN TÁC GIẢ] 3
    Ở trẻ em, tuổi cơ thể đang phát triển mạnh, nhu cầu dinh dưỡng rất lớn.
    Nếu thiếu ăn, trẻ em sẽ là đối tượng đầu tiên chịu hậu quả của các bệnh về
    dinh dưỡng như: suy dinh dưỡng protein-năng lượng, các bệnh do thiếu vi
    chất dinh dưỡng (đần độn do thiếu iốt, hỏng mắt do thiếu viatmin A…), ở
    nước ta vấn đề thiếu dinh dưỡng hiện nay vẫn còn là vấn đề nghiêm trọng ở
    các vùng nghèo và tầng lớp nghèo. Bên cạnh đó, căn bệnh béo phì ở trẻ em có
    xu hướng gia tăng ở một số đô thị lớn (như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh
    và một số thành phố khác).
    Việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ đúng cách ngay từ những năm đầu đời có
    ý nghĩa vô cùng quan trọng, quyết định đến tương lai phát triển lâu dài của
    trẻ. Chế độ dinh dưỡng hợp lý không chỉ giúp trẻ em tăng trưởng tốt về thể
    chất, sức khỏe mà còn cả về trí tuệ. Chế độ dinh dưỡng của trẻ ở trường mầm
    non góp phần quan trọng trong sự phát triển đó vì thời gian trẻ hoạt động, ăn,
    ngủ ở trường chiếm tỷ lệ khá lớn so với thời gian trong ngày. Nếu có chế độ
    dinh dưỡng ở trường mầm non khoa học, hợp lý sẽ giúp trẻ phát triển hài hòa
    về thể chất, tinh thần.
    [TÊN TÁC GIẢ] 4
    * Xây dựng khẩu phần cân đối, hợp lý cho trẻ tại trường mầm non cần
    phải đảm bảo các nguyên tắc:
    – Bữa ăn cần đảm bảo nhu cầu của cơ thể không chỉ về số lượng, năng
    lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết mà các chất đó còn tồn tại trong mối
    tương quan cân đối và hợp lý. Nhu cầu năng lượng đủ và tỷ lệ giữa các chất
    dinh dưỡng cân đối.
    – Xây dựng thực đơn trong thời gian dài, ít nhất 7-10 ngày giúp cho việc
    điều hòa khối lượng thực phẩm (mua, bảo quản…) cũng như để tổ chức công
    việc chế biến, chi tiêu. Thực đơn sắp xếp trong thời gian dài giúp ổn định
    công tác nuôi ăn.
    – Số bữa ăn và giá trị năng lượng của từng bữa phù hợp với nhu cầu của
    trẻ, loại hình vận động, tình trạng sinh lý và các điều kiện khác để phân chia
    và áp dụng các bữa ăn cho hợp lý.
    – Đảm bảo tính đa dạng về giá trị dinh dưỡng của mỗi bữa ăn. Để thực
    hiện mục đích đó mỗi bữa không chỉ cần có đủ các nhóm thực phẩm mà ngay
    trong cùng nhóm thực phẩm cũng nên thay thế nhiều loại khác nhau kể cả
    thịt, ngũ cốc hay rau quả. Một phần rau quả nên ăn tươi. Các món ăn cần
    phong phú về màu sắc, mùi vị, nấu nướng ngon lành, nhiệt độ thích hợp.
    * Một khẩu phần cân đối và hợp lý đối với trẻ cần hội đủ các yếu tố sau
    – Đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng cho chuyển hóa cơ bản, tăng trưởng và
    vận động. Cân bằng giữa năng lượng tiêu thụ và năng lượng tiêu hao chính là
    nguyên tắc dinh dưỡng hợp lý.
    – Đáp ứng đủ nhu cầu các chất dinh dưỡng: chất đạm, chất béo, đường
    bột, vitamin và muối khoáng theo tuổi, tình trạng sinh lý và vận động. Nhu
    cầu một số dưỡng chất thường tỷ lệ với năng lượng khẩu phần.
    – Phân bổ bữa ăn hợp lý ra các bữa ăn trong ngày và đảm bảo tính cân
    đối giữa các chất đạm-béo-bột đường.
    – Phân chia thực phẩm theo nhóm – Thay thế thực phẩm
    + Nhóm 1: Chất đạm bao gồm sữa thịt, cá, trứng, đậu đỗ và chế phẩm
    của chúng (đậu phụ, sữa đậu nành…).
    + Nhóm 2: Các chất béo bao gồm chất béo động vật (mỡ, bơ…) và chất
    béo thực vật (dầu, lạc vừng, dừa…).
    + Nhóm 3: Nhóm ngũ cốc cung cấp nhiều tinh bột (gạo, ngô, khoai,
    sắn…). Là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu của bữa ăn (50-60%).
    [TÊN TÁC GIẢ] 5
    + Nhóm 4: Nhóm rau quả cung cấp chất khoáng, vitamin.
    * Trong đó cần chú ý: Không có loại thức ăn nào là không có chất dinh
    dưỡng, tuy nhiên cũng không có thực phẩm nào chứa đầy đủ tất cả các chất
    dinh dưỡng. Khẩu phần có giá trị cao chỉ khi trong thành phần có đủ mặt các
    nhóm ở tỷ lệ thích hợp. Đó là nguyên tắc cơ bản của dinh dưỡng hợp lý.
    * Khi xây dựng khẩu phần, không phải các thực phẩm luôn luôn có mặt
    đầy đủ để tùy ý ta lựa chọn mà khác nhau tùy theo điều kiện cung cấp, thời
    tiết. Mặt khác, tùy theo tập quán dinh dưỡng, món ăn cần được thay đổi, ngon
    miệng, hợp khẩu vị. Do đó cần thay đổi thực phẩm này bằng thực phẩm khác.
    Tuy nhiên để thành phần và giá trị dinh dưỡng của khẩu phần không bị thay
    đổi, cần tôn trọng nguyên tắc:
    – Chỉ thay thế thực phẩm trong cùng một nhóm. Ví dụ có thể thay thế thịt
    bằng cá hay đậu phụ, thay gạo bằng ngô hay bột mỳ…
    – Trong trường hợp cần thiết có thể thay thế các thực phẩm thuộc nhóm
    có tính chất tương tự ví dụ thay thế một phần thịt bằng pho-mát hay đậu đỗ.
    [TÊN TÁC GIẢ] 6
    – Khi thay thế cần chú ý tính lượng tương đương thế nào để cho giá trị
    dinh dưỡng của khẩu phần không bị thay đổi.
    Vậy làm cách nào để các nhà trường xây dựng được khẩu phần ăn hợp lý
    cho trẻ trong điều kiện thiếu nhân lực, nhân viên kế toán chủ yếu là kiêm
    nhiệm. Bên cạnh đó, việc một khẩu phần ăn hợp lý để trẻ phát triển tốt còn
    phụ thuộc vào thu nhập của phụ huynh ở từng khu vực và mức đóng góp cho
    nhà trường để phục vụ công tác tổ chức bữa ăn cho trẻ cho trẻ. Với trăn trở
    phải làm sao để có khẩu phần ăn hợp lý, đủ các yêu cầu năng lượng, cân đối
    về ding dưỡng và phù hợp về giá thành, đồng thời giảm tiện cho công tác tính
    toán của Giám hiệu và kế toán, tôi đã nghiên cứu và áp dụng đề tài “Xây
    dựng bảng tính khẩu phần ăn cho trẻ trong trường mầm non thông qua
    ứng dụng EXCEL”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT.
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
    Công tác tổ chức nuôi ăn bán trú trong trường mầm non là một nhiệm vụ
    vô cùng quan trọng. Nếu như việc không đảm bảo an toàn vệ sinh gây hậu
    quả tức thì thì việc cung cấp cho trẻ một khẩu phần ăn không hợp lý sẽ có tác
    hại lâu dài hơn như: trẻ còi xương suy dinh dưỡng, trẻ béo phì, trẻ phát triển
    không cân đối…..Với cách tính cũ, các nhà trường chỉ xây dựng thực đơn, sau
    khi tổ chức cho trẻ ăn rồi mới ngẫu nhiên tính khẩu phần ăn để kiểm tra điều
    chỉnh nếu không cân đối. Quy trình này ngược và mất thời gian, không cho ra
    một thực đơn với khẩu phần ăn hợp lý ngay từ đầu.
    Việc tính khẩu phần ăn nhằm cung cấp cho trẻ bữa ăn hợp lý, cân đối
    luôn được các nhà trường chú trọng và được các cấp quản lý thường xuyên
    kiểm tra, rà soát, cải tiến. Việc tính khẩu phần ăn cũng đã được một số công
    ty phần mềm xây dựng và đưa vào ứng dụng tại một số đơn vị nhưng đều gặp
    phải một số hạn chế và không hiệu quả với lý do; các nhà trường không chủ
    động thực hiện và thường xuyên điều chỉnh nếu không hợp lý; các nhà trường
    không chủ động sửa chữa nếu phần mềm bị lỗi; không phù hợp thực tế, nảy
    [TÊN TÁC GIẢ] 7
    sinh nhiều vấn đề cần giải quyết khi triển khai nhưng việc giải quyết phải chờ
    công ty phần mềm xử lý; tốn kém tiền bạc.
    Để thực hiện đề tài, tôi đã tiến hành khảo sát về việc tính khẩu phần ăn
    theo cách cũ đối với 20 người gồm; cán bộ, giáo viên, nhân viên dinh dưỡng,
    nhân viên kế toán với nội dung như sau:

    Nội dung khảo sát.Không
    Việc xây dựng thực đơn có đảm bảo cung
    cấp tỉ lệ dinh dưỡng phù hợp và đủ năng lượng
    không?
    20/20
    Một số vi chất dinh dưỡng có được đánh
    giá trong bảng tính khẩu phần ăn không?
    20/20
    Cách tính khẩu phần ăn có đảm bảo việc
    điều chỉnh phù hợp tối đa không?
    20/20
    Cách tính khẩu phần ăn có tiết kiệm thời
    gian và thuận tiện cho nhân viên kế toán, thay
    thế được nhiều loại sổ không?
    20/20
    Tổng hợp:0%100%

    Đánh giá: 100% cá nhân được khảo sát đều nhận định không hiệu quả.
    – Việc xây dựng thực đơn trước khi tính khẩu phần ăn chỉ đáp ứng được
    yêu cầu đảm bảo đủ các nhóm thực phẩm, tương đối cân đối. Các món ăn
    không lặp lại trong tuần.
    – Không đảm bảo việc cung cấp đủ năng lượng, cân đối giũa các bữa ăn
    và cân đối giữa các chất. Không xác định tỉ lệ cung cấp vi chất, muối, Ca, B1.
    – Việc tính khẩu phần ăn chỉ mang tính kiểm tra về độ phù hợp, nếu
    không phù hợp thì điều chỉnh nhưng không xác định được rõ kết quả điều
    chỉnh có tối ưu không?
    – Các xây dựng thực đơn và cách tính khẩu phần ăn cũ mất nhiều thời
    gian và không thuận tiện cho nhân viên kế toán
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến.
    [TÊN TÁC GIẢ] 8
    Thực hiện việc “Xây dựng bảng tính khẩu phần ăn cho trẻ trong trường
    mầm non thông qua ứng dụng EXCEL” tôi muốn đạt được các mục đích sau.
    – Việc xây dựng thực đơn và tính khẩu phần ăn phải đi đồng thời và cùng
    điều chỉnh cho nhau.
    – Thực đơn được kiểm chứng bằng bảng tính khẩu phần ăn trước khi tiến
    hành tổ chức cho trẻ ăn phải đảm bảo về các yêu cầu:
    + Đủ lượng năng lượng cần cung cấp cho trẻ trong một ngày đến trường.
    Đáp ứng tỉ lệ năng lượng trong các bữa ăn.
    + Đủ các nhóm chất cần cung cấp cho trẻ, tỉ lệ giữa các chấtcân đối .
    + Cung cấp phù hợp các vi lượng theo khuyến nghị như muối, Ca, B1.
    – Đơn vị chủ động trong việc xây dựng thực đơn và khẩu phần ăn, đảm
    bảo linh hoạt, phù hợp với mức thu và tận dụng được nguồn thực phẩm của
    địa phương.
    – Xác định được giá tiền của các bữa ăn để đảm bảo công tác chi tài chính
    ổn định, phù hợp với kế hoạch thu chi.
    – Tiết kiệm thời gian cho nhân viên kế toán và thay thế được 3 loại sổ
    quản lý nuôi ăn.
    Để thực hiện đề tài “Xây dựng bảng tính khẩu phần ăn cho trẻ trong
    trường mầm non thông qua ứng dụng EXCEL” đảm bảo các yêu cầu đặt ra,
    tôi đã thực hiện các giải pháp sau:
    2.1 Nghiên cứu các văn bản chỉ đạo về tổ chức các bữa ăn cho trẻ tại
    trường mầm non.
    a. Các văn bản chỉ đạo về việc tổ chức nuôi ăn cho trẻ của Bộ GD – ĐT.
    Theo chương trình Giáo dục mầm non ban hành theo Thông tư số
    17/2009/TT – BGD ĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng bộ GD –
    ĐT và thông tư số 28/2016/TT – BGD ĐT ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
    Bộ trưởng Bộ GD – ĐT sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Chương trình
    GD MN ban hành kèm theo thông tư số 17/2009/TT – BGD – ĐT. Việc tổ
    chức nuôi ăn cho trẻ phải đảm bảo những yêu cầu sau.
    * Đối với trẻ nhà trẻ từ 12 – 36 tháng;
    [TÊN TÁC GIẢ] 9
    – Nhu cầu khuyến nghị năng lượng/ngày/trẻ trong khoảng 930 –
    1000Kcal
    – Nhu cầu khuyến nghị năng lượng tại cơ sở giáo dục mầm non/ngày/trẻ
    chiếm 60 – 70% nhu cầu cả ngày.
    – Số bữa ăn tại cơ sở giáo dục mầm non: Gồm 3 bữa (Hai bữa ăn chính
    và một bữa ăn phụ)
    + Năng lượng phân phối cho các bữa ăn
    -> Bữa ăn 1: Bữa ăn trưa, cung cấp từ 30 – 35% năng lượng cả ngày.
    -> Bữa phụ cung cấp từ 5 – 10% năng lượng cả ngày.
    -> Bữa ăn buổi chiều cung cấp từ 25 – 30% năng lượng cả ngày
    + Tỉ lệ các chất cung cấp năng lượng được khuyến nghị theo cơ cấu:
    -> Chất đạm (Protit) cung cấp khoảng 13 – 20% năng lượng khẩu phần.
    -> Chất béo (Lipit) cung cấp khoảng 30 – 40% năng lượng khẩu phần.
    -> Chất bột (Glxit) cung cấp khoảng 47 – 50% năng lượng khẩu phần.
    – Nước uống: khoảng 0,8 – 1,6 lít/trẻ/ngày (kể cả nước trong thức ăn)
    – Xây dựng thực đơn hằng ngày theo tuần, theo mùa.
    * Đối với trẻ mẫu giáo (Từ 3 – 6 tuổi)
    – Nhu cầu khuyến nghị năng lượng/ngày/trẻ trong khoảng 1230Kcal –
    1320Kcal
    – Nhu cầu khuyến nghị năng lượng tại cơ sở giáo dục mầm non/ngày/trẻ
    chiếm 50-55% nhu cầu cả ngày.
    – Số bữa ăn tại cơ sở giáo dục mầm non: Một bữa chính và một bữa phụ
    + Năng lượng phân phối cho các bữa ăn
    -> Bữa ăn buổi trưa, cung cấp từ 30 – 35% năng lượng cả ngày.
    -> Bữa phụ cung cấp từ 15 – 25% năng lượng cả ngày.
    + Tỉ lệ các chất cung cấp năng lượng được khuyến nghị theo cơ cấu:
    -> Chất đạm (Protit) cung cấp khoảng 13 – 20% năng lượng khẩu phần.
    -> Chất béo (Lipit) cung cấp khoảng 25 – 35% năng lượng khẩu phần.
    -> Chất bột (Glxit) cung cấp khoảng 52 – 60% năng lượng khẩu phần.
    – Nước uống: khoảng 1,6 – 2,0 lít/trẻ/ngày (kể cả nước trong thức ăn)
    – Xây dựng thực đơn hằng ngày theo tuần, theo mùa.
    b. Chuẩn bị các tài liệu tham khảo khác.
    [TÊN TÁC GIẢ] 1
    0
    – Bảng thành phần thực phẩm Việt Nam do bộ y tế làm chủ biên và được
    nhà xuất bản y học xuất bản. Trong đó có 567 trang, cung cấp về thành phần
    dinh dưỡng và vi chất của 554 loại thực phẩm.
    – Khuyến nghị về lượng muối, Ca, B1 của viên dinh dưỡng quốc gia.
    – Bài viết “Xây dựng khẩu phần cân đối và hợp lý cho trẻ tại trường
    mầm non” của BS. Nguyễn Minh Huyền chuyên viên Vụ Giáo dục Mầm
    non, được đăng trên Tạp chí Giáo dục Mầm non.- Số 1/2014.- Tr.: 32 – 33
    – “Giáo trình dinh dưỡng trẻ em” của tác giả Lê Thị Mai Hoa – Lê Trọng
    Sơn – Trường Đại học sư phạm Hà Nội chủ biên và xuất bản.
    2.2 Xây dựng yêu cầu cần thực hiện trong bảng tính khẩu phần ăn
    Để có một bảng tính khẩu phần ăn hiệu quả tôi đã tự xác định các yêu
    cầu cần thể hiện trong bảng tính.
    – Có số liệu thể hiện số trẻ ăn trong ngày, cụ thể cả nhà trẻ và mẫu giáo.
    – Số liệu về tỉ lệ % năng lượng cung cấp cho trẻ 01 ngày ở trường. Tỉ lệ
    này cố định, được nhà trường xác định dựa trên quy định tại các văn bản, đặc
    điểm vùng miền và mức thu nhập của phụ huynh.
    Trong đó chú ý: Vì trẻ mẫu giáo và nhà trẻ đóng góp tiền ăn như nhau ở
    trường, vì vậy cần lựa chọn% năng lượng để đảm bảo công bằng cho trẻ (1).
    Ví dụ:

    Nhà trẻMẫu giáo
    -Nhu cầu khuyến nghị năng
    lượng/ngày/trẻ trong khoảng 930
    – 1000Kcal
    – Nhu cầu khuyến nghị năng
    lượng tại cơ sở giáo dục mầm
    non/ngày/trẻ chiếm 60 – 70% nhu
    cầu cả ngày.
    => Khi lựa chọn cung cấp cho
    trẻ 1000Kcal trong ngày và 65%
    khi ở trường thì sẽ bằng 650kcal.
    -Nhu cầu khuyến nghị năng
    lượng/ngày/trẻ trong khoảng
    1230Kcal – 1320Kcal
    – Nhu cầu khuyến nghị năng lượng
    tại cơ sở giáo dục mầm non/ngày/trẻ
    chiếm 50 – 55% nhu cầu cả ngày.
    => Khi lựa chọn cung cấp cho trẻ
    Mẫu giáo 1300Kcal trong ngày và
    50% khi ở trường thì sẽ bằng
    650kcal.

    – Số liệu về tỉ lệ năng lượng cung cấp cho trẻ 01 ngày ở trường được
    phân chia thành các bữa ăn. Tỉ lệ này cố định, được nhà trường lựa chọn phân
    [TÊN TÁC GIẢ] 1
    1
    phối vào các bữa ăn trong ngày sao cho phù hợp, đảm bảo trẻ ăn hết suất và
    khoảng cách thời gian giữa các bữa đủ để tiêu hóa.
    – Số liệu về tỉ lệ các chất (Prootein, Lipit, Gluxit để) có tổng số là 100%.
    Các bữa ăn có thể cân đối về tỉ lệ các chất hoặc cân đối trong 01 ngày ăn tại
    trường về tỉ lệ các chất.
    Ví dụ: Nếu bữa phụ trẻ chỉ uống sữa sẽ không cân đổi được tỉ lệ các chất
    ở bữa đó. Vì vậy có thể chỉ cần tính tổng các chất trong 1 ngày ăn ở trường có
    tỉ lệ cân đối là đảm bảo yêu cầu.
    – Thực đơn trong ngày đảm bảo đủ 03 bữa với nhà trẻ và 02 bữa với mẫu
    giáo. không lặp lại trong 1 tuần, thực đơn có đủ 3 nhóm chất, trong 1 ngày
    không quá nhiều loại thực phẩm. Quan tâm đến giá thành và các loại thực
    phẩm theo mùa, thực phẩm có sẵn tại địa phương. Quan tâm đến các món ăn
    mà trẻ đang hào hứng để đưa vào thực đơn.
    – Tên, số lượng, số gam thực phẩm để nấu các món có trong thực đơn,
    trong đó phải thể hiện được; Số gam thực phẩm còn sau khi sơ chế; số các
    chất có trong thực phẩm; số Kcalo năng lượng có được sau khi tiêu thụ thực
    phẩm; số g Ca, B1 có trong thực phẩm và đơn giá các loại thực phẩm để nấu
    thành món có trong thực đơn dành cho 01 bữa của 01 trẻ, dành cho 01 bữa
    của toàn bộ trẻ mẫu giáo, nhà trẻ và cả trường trong 01 ngày
    – Đơn giá các loại thực phẩm. Trong đó: đơn giá phải ổn định ít nhất
    trong 1 tháng.
    – Lượng muối ăn cả 1 ngày của trẻ khuyến nghị 1g/10kg trọng lượng.
    Với mức quy đổi 1g muối tương đương 5ml mắm.
    – Quan tâm đến tỉ lệ thức ăn có Vitamin B1, và Ca, tuy nhiên không phải
    ngày nào cũng cần cung cấp đủ nguồn đến thực phẩm có chứa vi chất.
    – Nếu mức thu tiền ăn không đủ để đảm bảo các yêu cầu: Trẻ ăn ngon,
    đủ năng lượng, cân đối các chất, thì phải lựa chọn phương án trẻ ăn no, đủ
    năng lượng, cố gắng cân đối các chất ở mức có thể.
    – Lựa chọn thực phẩm giàu Protein và lipit có cả nguồn gốc thực vật,
    động vật.
    – Năng lượng được tạo ra khi tiêu thụ các chất được tính theo công thức.
    Năng lượng = số g Prôtein x 4,1+ số g Lipit x 9 + số g Gluxit x 4,1
    [TÊN TÁC GIẢ] 1
    2
    2.3. Chuyển đổi tài liệu Bảng thành phần thực phẩm Việt Nam do bộ y tế
    làm chủ biên.
    Trong đó có 567 trang, cung cấp về thành phần dinh dưỡng và vi chất
    của 554 loại thực phẩm thành 554 dòng trên định dạng EXCEL để chuẩn bị
    cho việc lập bảng tính khẩu phần ăn. Trong đó quan tâm đến 05 chỉ số:
    – Lượng Protein
    – Lượng Lipit
    – Lượng Gluxit
    – Lượng Vitamin B1
    – Lượng Ca.
    * Bên cạnh đó chú ý đến ô tỉ lệ sử dụng: Tỉ lệ này không cố định mà do
    chính nhà trường xác định tùy thuộc loại thực phẩm lựa chọn.
    Ví dụ: Tỉ sử lệ dụng của rau = khối lượng ban đầu của rau – khối lượng
    đã thải bỏ. Nếu như nhà trường nhập rau đã sơ chế thì khối lượng thải bỏ = 0.
    Tỉ lệ sử dụng = 100%.
    [TÊN TÁC GIẢ] 1
    3
    2.4. Xây dựng bảng tính.
    a. Việc đầu tiên khi xây dựng bảng tính, tôi phải lựa chọn các thông tin
    mình cần có để xây dựng các cột dòng. Các thông tin được liệt kê như sau:
    + Ngày tháng áp dụng bảng tính.
    + Thực đơn sử dụng trong ngày.
    + Năng lượng trong ngày.
    + Tỉ lệ năng lượng giữa các bữa.
    + Tỉ lệ các chất.
    + Các loại thực phẩm trong ngày theo thực đơn, trong đó có thông tin:
    -> Số gam thực phẩm chia theo các bữa ăn. Tổng số gam thực phẩm
    trong 1 ngày cho riêng trẻ nhà trẻ và mẫu giáo. Tỉ lệ sử dụng của từng loại
    thực phẩm.
    -> Số gam các chất có trong từng loại thực phẩm với nguồn gốc động vật
    và thực vật.
    -> Thành tiền số gam thực phẩm của từng trẻ, thành tiền số gam thực
    phẩm cho riêng trẻ nhà trẻ và mẫu giáo, thành tiền số gam thực phẩm của cả
    trường trong 1 ngày trẻ ở trường.
    + Năng lượng được tạo từ việc tiêu thụ các chất thể hiện theo từng bữa
    ăn và tổng số bữa ăn trong ngày.
    + Tổng số gam Prôtein, Lipit, Gluxit cần đạt trong ngày.
    + Tổng số gam Prôtein, Lipit, Gluxit đã ăn trong ngày.
    + Tỉ lệ các chất đã đạt được trong 1 ngày ăn của trẻ ở trường.
    b. Xây dựng bảng tính:
    [TÊN TÁC GIẢ] 1
    4
    – Sau khi xác định các yêu cầu, tôi tiến hành xây dựng bảng tính trên ứng
    dụng EXCEL với hình thức được gói trọn trong 02 trang A4 (Tại phụ lục 1)
    c. Thuyết minh bảng tính khẩu phần ăn đã xây dựng.

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Một số giải pháp ứng dụng phương pháp Montessori trong hoạt động làm quen với chữ cái cho trẻ 5-6 tuổi

    SKKN Một số giải pháp ứng dụng phương pháp Montessori trong hoạt động làm quen với chữ cái cho trẻ 5-6 tuổi

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Trong cuộc sống chúng ta ai cũng phải sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp với mọi
    người và để nhận thức thế giới xung quanh. Ngôn ngữ chính là phương tiện giao
    tiếp giữa con người với con người, là phương tiện cho việc dạy và học. Ngôn ngữ
    nói, đọc, viết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát triển nhân cách của trẻ
    mầm non nói riêng, của con người và xã hội nói chung. Lứa tuổi mầm non là thời
    kỳ phát triển ngôn ngữ tốt nhất. Là giai đoạn có nhiều điều kiện thuận lợi nhất cho
    sự lĩnh hội ngôn ngữ nói và các kỹ năng nghe, hiểu, trả lời câu hỏi của trẻ. Phát
    triển ngôn ngữ và giao tiếp có ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực phát triển khác của
    trẻ. Ngôn ngữ chính là công cụ để tư duy vì thế ngôn ngữ có ý nghĩa quan trọng đến
    việc phát triển nhận thức giải quyết vấn đề của trẻ. Đối với trẻ mẫu giáo lớn thì
    ngôn ngữ, nhận thức của trẻ đã rất phong phú và đa dạng, nhưng để chuẩn bị cho trẻ
    một hành trang vững trãi, cơ bản và cần thiết cho trẻ bước vào lớp 1thì kỹ năng
    nghe hiểu, trả lời câu hỏi,…là chưa đủ. Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài: “ Một số
    giải pháp ứng dụng phương pháp Montessori trong hoạt động làm quen với chữ cái
    cho trẻ 5-6 tuổi”.
    Qua quá trình dạy trẻ hoạt động làm quen với chữ cái tôi nhận thấy trẻ chưa
    thực sự yêu thích “ Hoạt động làm quen với chữ cái”, các kỹ năng còn hạn chế nên
    trẻ hoạt động làm quen với chữ cái chưa hứng thú, chưa thể hiện hết khả năng về
    đọc và viết của mình. Làm quen với chữ cái theo phương pháp truyền thống vẫn là
    lấy người thầy làm trung tâm, là truyền tải kiến thức từ cô giáo sang trẻ, trẻ thụ
    động tiếp thu kiến thức, hoạt động học dễ đơn điệu, buồn tẻ, kỹ năng vận dụng
    những gì đã học vào đời sống thực tế bị hạn chế. Với thời đại “ Cách mạng công
    nghiệp 4.0” đang diễn ra trên toàn thế giới, các phương pháp giáo dục cũng phải
    được phát huy theo hướng tích cực, chủ động của trẻ, mà ở đó giáo viên chỉ là
    người giữ vai trò hướng dẫn, gợi ý, tổ chức, giúp cho trẻ tự học, tự tìm kiếm, khám
    phá. Là một người giáo viên, với mong muốn tìm ra phương pháp học đạt hiệu quả
    4
    }
    tốt nhất cho học sinh của mình luôn thôi thúc trong tâm trí tôi, cho nên tôi luôn tìm
    kiếm, tham khảo, nghiên cứu tất cả các phương pháp dậy và học đang được áp dụng
    trên các nước tiên tiến trên thế giới cho tới khi tôi được biết về “ Phương pháp
    Montessori”.
    Phương pháp Giáo dục Montessori là một phương pháp sư phạm giáo dục trẻ
    em dựa trên nghiên cứu và kinh nghiệm của bác sĩ và nhà giáo dục Ý Maria
    Montessori (1870–1952). Đây là phương pháp với tiến trình giáo dục đặc biệt dựa vào
    việc học qua cảm giác. Phương pháp Montessori chấp nhận sự duy nhất của mỗi trẻ và
    cho phép trẻ phát triển tuỳ theo những khả năng riêng của mình và thời gian riêng của
    mình. Phương pháp chủ yếu được áp dụng cho trẻ nhỏ từ 2-6 tuổi do các bản năng và
    sự nhạy cảm duy nhất của trẻ nhỏ đối với các điều kiện trong môi trường. Đặc điểm
    nổi trội ở phương pháp Montessori là nhấn mạnh đến vai trò của tính tự lập, tự
    do (trong khuôn khổ cho phép) trong việc hình thành nhân cách trẻ. Ngoài ra, phương
    pháp này rất tôn trọng sự phát triển tâm sinh lí tự nhiên của trẻ. Trẻ có thể tự lựa chọn
    hoạt động (với điều kiện là các hoạt động này đã được giáo viên lên kế hoạch sắp xếp
    trước), trẻ không bị ngắt quãng hay làm phiền trong quá trình hoạt động, trẻ học hỏi
    khái niệm, kiến thức thông qua trải nghiệm thực tế với các học cụ, mô hình mang tính
    chất khám phá, xây dựng, hơn là học theo chỉ dẫn trực tiếp từ phía giáo viên.
    Phương pháp Montessori được cộng đồng quốc tế công nhận và đã được áp dụng
    ở trên 110 quốc gia trên thế giới, đặc biệt có 22.000 trường đặt tên là Montessori. Tất
    cả các trường ở các nước Tây Âu đều đã chuyển đổi theo tinh thần của phương pháp
    Montessori. Hiện nay rất nhiều Quốc gia trên thế giới đã thành lập Hiệp hội
    Montessori để trao đổi thông tin và đảm bảo các trường Montessori giữ được đúng
    tinh thần của phương pháp giáo dục Montessori. Năm 1967, Ủy Ban Kiểm Tra Cấp
    Bằng Sáng Chế Mỹ đã công nhận phương pháp giáo dục Montessori và cho phép các
    trường ở Mỹ và các nước khác được được sử dụng rộng rãi, nếu đảm bảo nó ứng dụng
    5
    }
    đúng tinh thần của phương pháp Montessori. Có rất nhiều người nổi tiếng theo học
    phương pháp Montessori ở giai đoạn đầu trong cuộc đời của họ, họ ca ngợi rằng với
    những nền tảng mà họ đã tiếp nhận từ phương pháp này chính là yếu tố quan trọng
    quyết định đến những thành công trong cuộc đời họ. Như ca sĩ Beyonce Knowless –
    Ca sĩ nhạc Pop, nhạc sĩ, diễn viên và nhà thiết kế thời trang, 16 lần chiến thắng giành
    giải Grammy, nhiều hơn bất cứ ai trong lịch sử hay Jacqueline Kennedy OnassisCựu đệ nhất phu nhân tổng thống Kennedy,…
    Phương pháp Montessori được biết đến tại Việt Nam trong khoảng 10 năm trở lại
    đây và đang ngày càng phổ biến tại Việt Nam. Một số trường mầm non Montessori
    tiêu biểu ở Việt Nam: Hệ thống trường mầm non song ngữ Shakura Montessori,
    trường mầm non American Montessori, trường mầm non Sunrise Kids… Các bậc phụ
    huynh thực sự cảm thấy rất yên tâm và hài lòng khi trẻ chủ động, tự lập hơn trong tất
    cả các hoạt động không chỉ riêng hoạt động học.
    Phương pháp dạy học này rất chú ý đến đối tượng học sinh, coi trọng việc nâng cao
    khả năng của người học. Giáo viên có thể là người nêu lên tình huống, kích thích sự tò
    mò của trẻ, để trẻ có thể đưa ra hướng giải quyết, từ đó giáo viên sẽ là người hệ thống,
    tổng kết lại vấn đề, khắc sâu những tri thức cần nắm vững. Đây còn là phương pháp
    liên quan đến cách quản lý lớp học, thiết kế đồ dùng dạy học phục vụ nội dung mà
    giáo viên muốn dạy cho trẻ. Với việc ứng dụng phương pháp này vào trương trình học
    tại nhóm lớp của mình, tôi đã nghiên cứu và mạnh dạn thử nghiệm ứng dụng trong
    hoạt động cho trẻ làm quen với chữ cái. Sau khi trẻ đã được học kiến thức mới trong
    giờ hoạt động chung, tôi có thể cho trẻ hoạt động góc, hoạt động ngoài trời, dạy trẻ
    làm quen với toán mọi lúc mọi nơi theo hình thức Montessori. Những trẻ không nắm
    vững kiến thức trong hoạt động chung sẽ được hướng dẫn lại từng cá nhân trong hoạt
    động góc hay những trẻ đã nắm vững kiến thức cơ bản trong hoạt động chung sẽ có
    những bài tập nâng cao hơn để trẻ có thể trải nghiệm thêm về hoạt động học.
    6
    }
    Độ tuổi từ 3-6 tuổi là giai đoạn vàng trong phát triển tư duy và ngôn ngữ đặc biệt
    là ngôn ngữ, để chuẩn bị tốt nhất nền tảng ngôn ngữ cho trẻ giai đoạn này nên đưa vào
    các hoạt động làm quen với chữ cái thường xuyên, mọi lúc mọi nơi. Việc kết hợp học
    hoạt động phát triển ngôn ngữ chung trên lớp với thực hành phương pháp Montessori
    sẽ giúp cho các con có thể thẩm thấu được bài học, hiểu rõ bản chất của ngôn ngữ, có
    kỹ năng cơ bản về chữ cái, âm, từ và tiếng để từ đó sẽ hững thú trong các hoạt động
    và kiến thức đó sẽ là hành trang cho các con sau này bước vào các cấp học sau này. Vì
    vậy tôi đã chọn đề tài “ Một số giải pháp ứngdụng phương pháp Montessori trong
    hoạt động làm quen với chữ cái cho trẻ 5-6 tuổi”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT
    II.1. Mô tả giải pháp kỹ thuật trước khi tạo ra sáng kiến:
    Năm học 2018-2020 tôi được phân công dạy lớp mẫu giáo lớn, sĩ số 35 cháu.
    Qua những năm trực tiếp giảng dạy tôi nhận thấy rằng trẻ làm quen với chữ cái
    không phải là việc dễ làm, nó đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì, chịu khó biết
    vận dụng những biện pháp linh hoạt, sáng tạo trong quá trình lên lớp để trẻ lĩnh hội
    đầy đủ kiến thức của bộ môn, để từ đó trẻ có sự tập trung chú ý và thực sự có hứng
    thú, có tính kỷ luật trong học tập. Đặc biệt, hoạt động học “ Làm quen chữ cái” ở
    trẻ 5 – 6 tuổi là môn học giúp trẻ hình thành, phát triển năng lực và thái độ cần thiết
    cho việc học tiếng việt lớp 1. Song việc dạy trẻ làm quen với chữ cái cần phải thể
    hiện phương pháp đặc trưng của giáo dục mầm non. Theo quan niệm của riêng tôi,
    dạy trẻ làm quen với chữ cái chứ không phải đưa chương trình tiếng việt lớp 1
    xuống dạy trước ở mẫu giáo lớn, mà phương pháp dạy trẻ làm quen với chữ cái
    phải dựa trên cơ sở sử dụng các yếu tố vui chơi, các nhiệm vụ sáng tạo cũng như
    hoạt động học tập của trẻ. Dựa trên những kế hoạch, sự chỉ đạo của nhà trường là
    giáo viên mầm non trực tiếp giáo dục chăm sóc trẻ qua những năm thực hiện
    chuyên đề mầm non mới người giáo viên phải làm gì để đạt được các yêu cầu cao
    7
    }
    hơn nữa, nắm vững nội dung nâng cao kiến thức trong hoạt động cho trẻ làm quen
    với chữ cái một cách nhẹ nhàng thoải mái và có hiệu quả chuẩn bị cho trẻ tâm thế
    vững vàng để bước vào lớp một.
    Ở trường mầm non, trẻ được làm quen với 29 chữ cái của tiếng việt. Từ đó
    trẻ nhận biết mặt chữ, phát âm đúng chữ cái, nghe phát âm tìm được chữ cái, nhìn
    vào chữ cái đọc được âm tương ứng. Ngoài ra, trẻ còn được đọc một số câu thơ, ca
    dao, đồng dao có chứa âm của chữ cái nhằm hoàn thiện bộ máy phát âm và khả
    năng ngôn ngữ mạch lạc, nói đúng ngữ âm tiếng việt. Ngoài ra hoạt động làm quen
    với chữ cái còn giúp trẻ biết cầm bút, ngồi đúng tư thế khi tô, viết. Do đó việc cho
    trẻ làm quen với chữ cái là một hoạt động rất quan trọng trong chương trình giáo
    dục trẻ 5 – 6 tuổi. Hoạt động này không chỉ giúp hình thành những cơ sở ban đầu
    của kĩ năng nói tiếng mẹ đẻ còn giúp trẻ có những hiểu biết và kĩ năng cơ bản, hỗ
    trợ trực tiếp và tích cực cho bộ môn tiếng Việt ở trường Tiểu học. Vì vậy, có thể
    nói, việc hướng dẫn trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi làm quen với chữ cái là cơ hội tốt để
    chuẩn bị hành trang vững chắc giúp trẻ bước vào lớp một thuận lợi.
    – Phương pháp Montessori là một phương pháp du nhập từ nước ngoài, vì vậy tôi đã
    phải tìm tòi, nghiên cứu và chuyển thể trương trình học sao cho phù với môi trường
    xã hội, đặc điểm vùng miền và khả năng nhận thức của trẻ. ( VD: Hoạt động làm
    quen với cữ cái, các nước phương Tây có 24 chữ cái, còn Việt Nam có 29 chữ,
    chưa kể các chữ ghép, thanh và dấu,…) Cho nên việc nắm chắc kiến thức cơ bản
    để có thể ứng dụng và kết hợp được phương pháp Montessori là điều cực kỳ
    quan trọng. Và tôi là giáo viên đã được đào taọ chuyên ngành giáo dục mầm non
    và cấp chứng chỉ hoàn thành khoá đào tạo về phương pháp Montessori.
    – Tôi còn được nhà trường tạo điều kiện về thời gian để tìm tòi, nghiên cứu, tìm
    hiểu sâu hơn về ứng dụng phương pháp Montessori trong hoạt động làm quen với
    ngôn ngữ cho trẻ, tham khảo tài liệu, tìm hiểu thêm về các trang thiệt bị, đồ dùng
    8
    }
    đồ chơi, cũng như trao đổi thảo luận nhóm đóng góp ý kiến để hiểu sâu vấn đề, qua
    đó mang tới cho trẻ những trải nghiệm bổ ích, để trẻ có thể “học mà chơi, chơi mà
    học” đạt hiệu quả cao nhất. Ban giám hiệu còn luôn luôn tạo điều kiện, quan tâm,
    chỉ đạo sát sao trong việc nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, cho tôi
    được tham dự vào những lớp học bồi dưỡng, tập huấn nâng cao về phương pháp
    Montessori.
    – Được sự tin tưởng, tín nhiệm của Ban giám hiệu, lớp học do tôi phụ trách đã được
    thí điểm làm lớp học ứng dụng một số phương pháp Montessori trong hoạt động
    làm quen với chữ cái cho trẻ ( Tôi đã có kinh nghiệm ứng dụng phương pháp
    Montessori trong hoạt động làm quen với chữ cái được 2 năm)
    – Trẻ đồng đều về lứa tuổi, ngoan ngoãn, trẻ có nề nếp thói quen học tập tốt. Trẻ rất
    hứng thú khi được tiếp xúc với phương pháp học tập mới và giáo cụ trực quan mới.
    – Đa số phụ huynh học sinh trên địa bàn khu dân cư đều là những phụ huynh thuộc
    tầng lớp tri thức, hiểu biết sâu rộng nên các bậc phụ huynh luôn quan tâm ủng hộ về
    vật chất, tinh thần. Đặc biệt, các bậc phụ huynh luôn quan tâm và mong muốn cho con
    cái được tiếp cận với phương pháp giáo dục mới.
    – Cơ sở vật chất: Ứng dụng phương pháp Montessori yêu cầu môi trường học tập
    phong phú, tạo sự thoải mái cho học sinh, nội thất của nhóm lớp được thiết kế riêng
    theo kích thước trẻ em và theo chuẩn của Montessori, chi phí sẽ không hề rẻ. Các bộ
    giáo cụ dành cho phương pháp này nói chung hay bộ giáo cụ phát triển ngôn ngữ nói
    riêng, hiện nay được bán không đại trà tại Việt Nam, trong khi một bộ giáo cụ như
    vậy ở Mỹ bán với giá trên 2.500 đô la( khoảng trên 50 triệu đồng Việt Nam) và chỉ
    dùng cho 1 lớp học duy nhất, không thể chia ra cho nhiều lớp hoặc dùng chung.
    – Về phía giáo viên: Giáo viên hiện tại chưa được tiếp xúc nhiều với phương pháp
    Montessori, hay muốn tìm hiểu, học hỏi để làm việc trong môi trường Montessori
    cũng rất khó, bởi nếu muốn trở thành một giáo viên Montessori phải tham dự một
    9
    }
    khóa đào tạo bao gồm 10 tuần học lý thuyết, 1 năm thực hành dưới sự hướng dẫn của
    các giáo viên đã có chứng chỉ, chi phí của các khóa học có thể lên tới 4.000- 10.000
    đô la mỹ phụ thuộc vào trung tâm đào tạo. Cho nên, với mức đầu tư về cơ sở vật chất
    hay chất lượng giáo viên như trên, học phí của các trường Montessori rơi vào mức cao
    ngay cả đối với người Mỹ.
    – Về phía phụ huynh:
    + Phụ huynh tuy có quan tâm tới con , luôn có tinh thần hỗ trợ, ủng hộ giáo viên cũng
    như nhà trường về cả vật chất, đồ dùng cho các con học tập nhưng do phương pháp
    Montessori còn khá mới mẻ, lạ lẫm, nhiều phụ huynh chưa biết đến nên không tránh
    khỏi có một số phụ huynh chưa thực sự ủng hộ giáo viên, nhà trường, thậm chí còn
    hoài nghi về phương pháp giáo dục này.
    + Ngoài ra, một số phụ huynh lại nôn nóng trong việc học chữ của trẻ nên đã dạy
    trước, tập viết trước, hoặc cho con đi học thêm trước nên dẫn đến việc tiếp thu bài
    giữa các trẻ không đồng đều, trẻ tỏ ra kiêu căng vì mình đã biết rồi nên không chú ý
    đến tiết học.
    + Thêm đó khi viết do phụ huynh dạy trước ở nhà không đúng cách dẫn đến trẻ viết
    sai nét chữ cho trẻ, gây khó khăn trong việc truyền thụ kiến thức của cô và khả năng
    tiếp thu của trẻ tạo nên sự bất cập giữa gia đình và nhà trường.
    – Về phía trẻ:
    + Trẻ nhận biết, ghi nhớ đúng 29 mặt chữ cái
    + Trẻ phát âm chính xác 29 chữ cái
    + Trẻ tô viết trùng khít lên chấm mờ hoàn thành vở tập tô sạch sẽ
    + Trẻ biết cầm bút, biết tô viết, tư thế ngồi đúng tư thế.
    Để đạt được kết quả cao thì việc điều tra thực trạng và việc nhìn lại để đánh giá
    kết quả của năm trước vô cùng quan trọng. Vì đó là thước đo, từ đó giúp ta điều chỉnh
    và định hướng làm cần thiết cho năm tới sao cho đạt kết quả tốt hơn. Qua thực tế khảo
    10
    }
    sát của tôi tại trường mầm non Thống Nhất, trên 35 trẻ ở khối mẫu giáo lớn, tôi đã có
    được bảng kết quả như sau:
    Kết quả khảo sát tại trường Mầm non Thống Nhất
    Tháng 9- Năm 2018

    Số trẻNội dungMức độ
    ĐạtTỉ lệ %Chưa
    đạt
    Tỉ lệ
    %
    35Trẻ nhận biết, ghi nhớ
    đúng 29 mặt chữ cái
    2057,14%1440%
    35Trẻ phát âm chính xác 29
    chữ cái
    1954,2%1542,8%
    35Trẻ tô viết trùng khít lên
    chấm mờ hoàn thành vở
    tập tô sạch sẽ
    2160%1440%
    35Tô viết, tư thế ngồi, cách
    cầm bút đúng tư thế.
    2057,14%1440%

    Nhận xét:
    Tháng 9 năm 2018 tôi khảo sát tại khối mẫu giáo lớn trường mầm non Thống
    Nhất,Tp Nam Định tôi có được kết quả như sau:
    – Tiêu chí trẻ nhận biết, ghi nhớ đúng 29 mặt chữ cái ở mức độ đạt là57,14 %, mức
    độ% chưa đạt là 40%
    – Tiêu chí trẻ phát âm được 29 chữ cái ở mức độ đạt là 54,2%, mức độ chưa đạt là
    42,8%
    – Tiêu chí trẻ tô viết trùng khít lên chấm mờ hoàn thành vở tập tô sạch sẽ ở mức độ đạt
    là 60%, mức độ chưa đạt là 40%
    11
    }
    – Tiêu chí trẻ cầm bút, tô viết, tư thế ngồi đúng tư thế ở mức độ đạt là 57,14%, mức độ
    chưa đạt là 40%
    => Như vậy khả năng ghi nhớ mặt chữ, cách phát âm của trẻ ở mức độ đạt còn chưa
    cao, cho nên để đạt được các kết quả cao hơn trong làm quen với chữ cái thì phải có
    nhiều giải pháp hay, lôi cuốn và thu hút trẻ.
    II.2. Mô tả giải pháp kỹ thuật sau khi tạo ra sáng kiến:
    Từ những khó khăn trên đồng thời căn cứ vào kết quả khảo sát kiến thức trên
    trẻ tôi đã đưa ra các giải pháp sau:
    2.1. Giải pháp 1: Thiết kế một số đồ dùng ứng dụng phương pháp Montessori
    trong hoạt động làm quen với Ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi:
    – Do giáo cụ Montessori cho lĩnh vực làm quen với ngôn ngữ cực kì đa dạng và
    phong phú, nhiều chủng loại lại còn có giá thành rất cao cho nên tôi đã tìm hiểu và lựa
    chọn những giáo cụ phù hợp, cần thiết, có khả năng ứng dụng cao trong làm quen với
    chữ cái trong chương trình và lứa tuổi mẫu giáo. Ngoài ra, yêu cầu về độ chính xác,
    chất lượng, hạn sử dụng,… của đồ dùng Montessori phải rất chuẩn mực và độ sai số
    hầu như là không có, nên tôi đã suy nghĩ và tạo ra các bộ giáo cụ, đồ dùng từ nguyên
    vật liệu có chi phí và giá thành thấp để có thể nhân rộng ra toàn khối cũng như trong
    toàn trường nhằm giúp cho trẻ có thể khắc sâu, lĩnh hội các kiến thức, có kỹ năng cần
    thiết để phát triển trí tuệ.
    – Tôi đã sử dụng những nguyên vật liệu dễ tìm, nguyên liệu có thể tái sử dụng, hoặc
    nguyên liệu có giá thành thấp hơn… để làm nên những bộ đồ dùng như trên với kích
    thước phù hợp với trẻ mà cách sử dụng cũng như giá trị sử dụng vẫn đạt hiệu quả so
    với bộ giáo cụ gốc.
    12
    }
    Nguyên liệu thay thế rất đơn giản, giá thành rẻ, dễ kiếm
    – Ngoài ra để có được nguồn nguyên liệu phong phú, đa dạng cho việc thiết kế đồ
    dùng, tôi còn kêu gọi, huy động sự ủng hộ, đóng góp về nguyên vật liệu từ phía phụ
    huynh học sinh như gỗ, đề can màu, giấy nhám, thùng bìa các tông, keo nến,…
    – Để có thể thiết kế đồ dùng, giáo cụ phục vụ cho việc ứng dụng phương pháp
    Montessori trong hoạt động làm quen với chữ cái, tôi phải tuân thủ theo những
    nguyên tắc lựa chọn thiết kế như
    + Dễ tìm: Các nguyên vật liệu phải là những nguyên liệu dễ tìm, dễ kiếm, dễ thay thế
    mà không làm thay đổi tính chất cũng như thiết kế của bộ giáo cụ gốc.
    + Đảm bảo tính chính xác: Giáo cụ gốc của phương pháp Montessori tuân thủ rất
    nghiêm ngặt về độ chính xác, các bộ giáo cụ đều được làm rất chính xác về kích
    thước, màu sắc, sai số hầu như là không có ( để phục vụ cho các bài học về so sánh,
    cảm quan, kiểm tra lại kết quả,…) nên khi làm đồ dùng thay thế, tôi cũng phải thiết kế
    sao cho sai số của các bộ giáo cụ là thấp nhất.
    13
    }
    + Đảm bảo tính thẩm mỹ, màu sắc, công dụng: Các bộ giáo cụ không những phải đảm
    bảo tính thầm mỹ để thu hút sự tập trung, chú ý, hứng thú của trẻ mà còn phải đảm
    bảo được công dụng, cách sử dụng như với bộ giáo cụ gốc.
    + Đảm bảo độ bền, an toàn cho trẻ trong khi sử dụng: Đây là một nguyên tắc rất quan
    trọng, một bộ giáo cụ được thiết kế trước tiên phải đảm bảo được sự an toàn,
    tránh và hạn chế thấp nhất việc gây thương tích đến cho trẻ. Vì vậy tôi lựa chọn những
    nguyên vật liệu an toàn, thẩm mỹ cao, không độc hại.
    – Từ những nguyên tắc trên tôi đã thiết kế ra được một số bộ đồ dùng như sau:
    1. Bộ chữ cái di động tiếng việt 29 chữ rời:
    a. Mô tả giáo cụ:
    – Bộ giáo cụ có kích thước tổng thể là 4xmx40cmx60cm được chia thành các ô nhỏ,
    làm bằng tấm fooc-make. Bên trong hộp gồm có 29 chữ cái tiếng việt, nguyên âm có
    12 chữ cái ( Mỗi chữ được làm thêm 10 chữ rời) được sơn màu đỏ, phụ âm gồm 17
    chữ ( Mỗi chữ được làm thêm 5 chữ cái rời) được sơn màu xanh da trời cùng với 5
    thanh dấu cơ bản được sơn màu đỏ.
    – Bộ giáo cụ có các chữ cái được sơn màu sắc xanh, đỏ để giúp trẻ dễ dàng nhận biết
    và phân biệt được chữ cái nào là nguyên âm và chữ cái nào là phụ âm.
    14
    }
    b. Mục đích sử dụng:
    – Giúp trẻ nhận diện mặt chữ, phân biệt được các nguyên âm, phụ âm
    Ví dụ: Chữ cái: “ a, ă, â,…” ( màu đỏ) là nguyên âm
    Chữ cái: “ b, c, d,…” ( màu xanh) là phụ
    – Qua việc hoạt động cùng bộ giáo cụ có khả năng ghi nhớ, phát âm chính xác được 29
    chữ cái.
    – Trẻ có thể dùng các chữ cái rời để sắp xếp thành 1 câu văn, câu thơ, đoạn văn cô
    giáo cho trước.
    2. Bộ chữ nhám:
    a. Mô tả giáo cụ:
    – Bộ chữ nhám có 3 bộ chữ cái:
    + Bộ chữ nhám in thường
    15
    }
    29 thẻ chữ nhám in thường
    + Bộ chữ nhám in hoa:
    16

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Một số biện pháp xây dựng góc thư viện thân thiện góp phần hình thành thói quen đọc sách cho trẻ ngay từ nhỏ

    SKKN Một số biện pháp xây dựng góc thư viện thân thiện góp phần hình thành thói quen đọc sách cho trẻ ngay từ nhỏ

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
    Đã từ lâu, rất nhiều nhà khoa học và các nghiên cứu đã chỉ ra rằng “Đọc
    sách cùng trẻ sẽ cung cấp một trong những cơ hội tốt để tiến hành hội thoại,
    qua đó giúp trẻ phát triển ngôn ngữ đặc biệt là khi trẻ tham gia vào việc trả lời
    câu hỏi, cùng thảo luận nội dung cuốn sách. Và cũng thông qua đọc sách nhất
    là thói quen được hình thành trước 6 tuổi sẽ tác động trực tiếp lên não bộ từ
    đó hình thành kĩ năng xã hội, cảm xúc thẩm mỹ, tình cảm và phát triển nhận
    thức”. Bởi lẽ, sách- với nhiều hình ảnh minh hoạ thú vị là văn bản đơn giản
    nhưng lại bắt mắt, tạo hứng thú, tạo cơ hội tốt khuyến khích trẻ nói về những
    gì đang xảy ra. Khi trẻ lớn dần lên, cuốn sách rất quan trọng trong việc giúp
    trẻ bộc lộ những ý tưởng mới, từ mới, thế giới mới… và sách chính là nền
    tảng cho kĩ năng xã hội và tư duy của trẻ.
    Ở thời đại công nghệ thông tin, hầu hết tất cả các gia đình đều có điện
    thoại thông minh, máy tính bảng hay ti vi, máy tính bàn nên càng ngày việc
    giao tiếp giữa các thành viên trong gia đình cũng đang ít dần, thay vào đó thì
    trẻ hàng giờ với điện thoại tỷ lệ trẻ cận thị, nguy cơ hội chứng tự kỷ càng
    nặng và tăng cao… Thói quen đọc sách cùng con mất dần, mất dần.
    Bản thân tôi là một giáo viên, cũng là một người mẹ, tôi tự nhận thấy
    những tác dụng to lớn của sách đối với con trẻ và những tác động, ảnh hưởng
    của điện thoại thông minh, tôi thấy rất cần thiết xây dựng góc thư viện thân
    thiện gắn kết giữa nhà trường- gia đình- giáo viên- trẻ thơ. Tôi đã trăn trở và
    suy nghĩ làm thế nào để phát huy tác dụng của góc thư viện nhưng lại gắn kết
    được gia đình các bé tham gia và có tác dụng tốt trực tiếp tới các bé.
    Là một giáo viên Mầm non hàng ngày đang trực tiếp giáo dục những thế
    hệ tương lai của đất nước tôi nhận ra một điều thật quan trọng trong công việc
    của mình là phải tuyên truyên hướng dẫn phụ huynh, hướng trẻ nhận thức
    việc sư dụng sách ngay từ nhỏ là điều hết sức cần thiết và cấp bách.
    Đây là một kỹ năng vô cùng quan trọng cần được hình thành từ khi còn
    rất nhỏ bởi Theo UNESCO, 8 tuổi đã là quá trễ để giáo dục và hình thành thói
    4
    quen đọc sách cho trẻ vì đến độ tuổi này trẻ đã hình thành cho mình phần lớn
    các giá trị, trừ khi có sự thay đổi sâu sắc về trải nghiệm trong đời nếu không
    khó mà kĩnh hội các giá trị sau độ tuổi này. Hơn nữa, trẻ tuổi càng nhỏ khả
    năng tiếp thu càng nhanh và dễ hình thành ý thức từ những thói quen và trẻ
    chính là những nhà tuyên truyền , tư vấn giỏi đến bất ngờ về các thói quen
    hơn bất cứ người lớn nào. Vì vậy việc hình thành cho trẻ ý thức đọc sách từ
    nhỏ sẽ góp phần tạo ra một lớp người có sự hiểu biết. Xuất phát từ những
    nhận thức trên tôi đã lựa chọn đề tài: “ Một số biện pháp xây dựng góc thư
    viện thân thiện góp phần hình thành thói quen đọc sách cho trẻ ngay từ
    nhỏ” để thực hiện trong năm học 2018 – 2019, 2019- 2020 và các năm học
    tiếp theo với mong muốn góp một phần nhỏ bé của mình vào việc giáo dục,
    hình thành thói quen đọc sách cho trẻ giúp trẻ có hành vi đúng đắn ngay từ
    nhỏ.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP:
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
    1.1. Khảo sát thực tế:
    1.1.1. Địa điểm:
    Tên trường: Trường Mầm non Giao Phong
    Địa chỉ: Xã Giao Phong – Huyện Giao Thủy – Tỉnh Nam Định
    1.1.2. Công tác chăm sóc – Giáo dục trẻ:
    – Trường thực hiện chương trình chăm sóc – giáo dục trẻ theo quy định
    của Bộ Giáo dục và đào tạo.
    – Thực hiện “Quy chế nuôi dạy trẻ” và “Điều lệ trường mầm non” do
    Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành.
    – Thực hiện mọi hoạt động chăm sóc – giáo dục dưới sự quản lý, chỉ
    đạo, thanh tra, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ của Phòng Giáo dục – Đào
    tạo huyện Giao Thủy – Tỉnh Nam Định.
    1.1.3. Tổ chức hoạt động:
    5
    Tại nhóm lớp mọi công việc sẽ được chủ nhóm lớp lên kế hoạch theo
    tháng, sau đó sẽ họp các giáo viên và phổ biến vào đầu tháng. Dựa vào
    chương trình của bộ với 10 chủ đề trong 1 năm học mà phân chia vào các
    tháng. Tuy nhiên theo từng tháng sẽ có các hoạt động cụ thể khác nhau. Hiện
    tại trường có 15 lớp trong đó có 4 lớp Mẫu giáo lớn, 4 lớp Mẫu giáo nhỡ, 4
    lớp Mẫu giáo bé và 3 lớp Nhà trẻ. Nhà trường luôn quan tâm đến chất lượng
    chăm sóc giáo dục trẻ. Bản thân tôi được phân công dạy lớp Mẫu giáo lớn 5
    tuổi với 30 trẻ. Trong quá trình thực hiện đề tài này tôi đã gặp những thuận
    lợi, khó khăn sau:
    1.1.4.Thuận lợi:
    *) Về cơ sở vật chất:
    – Với phòng học đủ diện tích cùng với sự quan tâm của chính quyền
    địa phương trường đã trang bị đầy đủ các đồ dùng đồ chơi đảm bảo tốt cho
    hoạt động học tập, vui chơi của các cháu.
    – Trường có khuôn viên đẹp gây được hứng thú cho trẻ khi tham gia vào
    hoạt động vui chơi ngoài trời tăng hiệu quả khi cho trẻ đọc sách ở mọi chỗ.
    *) Về đội ngũ giáo viên : Lớp có 2 giáo viên: 1 giáo viên trình độ ThS.
    Khoa học giáo dục học giáo dục mầm non và 1 giáo viên trình độ Cao đẳng
    Sư phạm mầm non nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ, bản thân nắm vững phương
    pháp dạy học, luôn trau dồi kinh nghiệm và tự rèn luyện bản thân để giáo dục
    cho trẻ. Đồng thời lên kế hoạch và sắp xếp các hoạt động theo từng chủ đề
    phù hợp với khả năng và sự hứng thú của trẻ.
    * Về phía học sinh: Lớp tôi đang dạy là lớp Mẫu giáo lớn với 30 trẻ ,
    100% các cháu đúng độ tuổi, tất cả các trẻ đều có nhận thức tốt, chỉ có một trẻ
    suy dinh dưỡng hồi đầu năm học và đến quý III tháng 5 trẻ đã thoát suy dinh
    dưỡng.
    * Về phía phụ huynh: Phụ huynh học sinh luôn quan tâm đến các hoạt
    động của cô và trò tại lớp, ở gia đình thường xuyên giáo dục trẻ yêu sách, đọc
    sách thông qua các hoạt động hàng ngày. Đặc biệt luôn ủng hộ các loiaj sách,
    truyện để phục vụ cho hoạt động học tập, vui chơi của trẻ.
    6
    1.1.5. Khó khăn:
    *) Về cơ sở vật chất: Lớphọc nhiều đồ dùng, đồ chơi tuy nhiên còn
    sắp xếp chưa hợp lí.
    *) Về phía giáo viên: Bản thân giáo viên đôi khi còn chưa thực sự nghiêm
    túc trong việc đọc sách tại trường và về nhà.
    *) Về phía học sinh : Đa số trẻ chưa ý thức được hành động đọc sách. Trẻ
    chưa quan tâm, chưa có ý thức trong việc đọc sách.
    *)Về phía phụ huynh: Một số phụ huynh chưa phối hợp với giáo viên
    trong việc cùng con đọc sách ở nhà, tìm mua các loại sách phù hợp với con
    trẻ.
    *) Dịch COVID-19: Do ảnh hưởng của dịch bệnh covid kéo dài, trẻ
    nghỉ học ở nhà gần 3 tháng, việc sư dụng góc thư viện ở trường chưa thực sự
    phát huy được tác dụng. Tuy nhiên trẻ lại được ở nhà vui học cùng bố mẹ
    nhưng có một số gia đình vì bận công việc nên cũng thường để con cho ông
    bà trông giúp.
    1.2. Số liệu điều tra trước khi thực hiện:
    Qua khảo sát đầu năm dựa vào phiếu điều tra, bảng hỏi, và một số bài
    tập trắc nghiệm cho trẻ trong lớp tôi thu được kết quả sau:

    Số trẻKhi chưa áp dụ ng bie ̣n pháp
    Số trẻ%
    Trẻ biết về các loại sách1343,3%
    Biết được tác dụng của sách826,7%
    Biết cách sư dụng sách đúng
    cách
    723,3%
    Biết giữ gìn sách1240%
    Có ý thức đọc sách ngay khi ở
    nhà
    723,3%
    Biết nhắc nhở người khác yêu
    sách, giữ gìn sách
    826,7%

    7
    Căn cứ vào kết quả trên tôi thấy nhận thức của trẻ về sách, yêu thích sách
    còn thấp, cần có biện pháp thực hiện để năng cao hiệu quả cho trẻ với sách và
    yêu thích sách, yêu góc thư viện hơn nữa.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
    * Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm:
    Nghiên cứu và ứng dụng “ Một số biện pháp xây dựng góc thư viện thân
    thiện góp phần hình thành thói quen đọc sách cho trẻ ngay từ nhỏ” để giúp
    giáo viên hiểu rõ hơn về cách xây dựng, sư dụng phát huy tính tích cực của
    góc thư viện thân thiện.
    – Giúp giáo viên và cả phụ huynh ý thức được tầm quan trọng của việc
    đọc sách đối với trẻ ngay từ bậc học mầm non, hạn chế việc trẻ hay đòi bố mẹ
    cho dùng điện thoại.
    – Giúp cha mẹ và các bé giao lưu cả về tình cảm, hành vi, biểu đạt, ngôn
    ngữ và cả nhận thức về các sự vật hiện tượng nhiều hơn góp phần cho trẻ có
    cơ hội phát triển toàn diện.
    – Trẻ tham gia các hoạt động với tâm thế thoải mái, vui vẻ, hào hứng và
    luôn chờ đón được hoạt động góc thư viện trong khoảng thời gian trẻ ở
    trường, lớp. Rồi mỗi khi trẻ về nhà được cha mẹ đọc sách cho nghe.. Trẻ cảm
    thấy mỗi ngày đến trường của trẻ thực sự là một ngày vui. Mỗi khi về nhà bên
    cha mẹ là một ngày đầy ý nghĩa…
    * Tính mới của sáng kiến kinh nghiệm:
    Thực hiện xây dựng góc thư viện thân thiện hiện nay không chỉ là phong
    trào mà còn là một yêu cầu bắt buộc với mọi lớp học, mọi bậc học. Thông
    thường, xưa nay góc thư viện được chú trọng nhất là ở các bậc học cao như
    Cao đẳng, Đại học; rồi đến THPT, THCS ,Tiểu học.. Gần đây góc thư viện
    thân thiện được quan tâm, chú trọng ở bậc học gốc rễ là bậc học mầm non.
    Tuy nhiên không phải giáo viên nào, trường nào cũng thực hiện thành công
    như mong muốn. Trên thực tế, thực hiện góc thư viện thân thiện ở một số lớp,
    số trường còn mang tính hình thức. Thực hiện và ứng dụng bản sáng kiến: “
    Một số biện pháp xây dựng góc thư viện thân thiện góp phần hình thành thói
    8
    quen đọc sách cho trẻ ngay từ nhỏ” sẽ mở ra một hướng đi mới cho giáo viên
    trong việc đổi mới phương pháp, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và
    tạo cho trẻ có nhiều cơ hội để làm quen với sách, yêu thích sách nhiều hơn…
    Góp phần tạo cơ hội gắn kết cô- trẻ- nhà trường và cả xã hội… Trẻ được giao
    lưu, được học hỏi, được thể hiện tình cảm với cha mẹ, với cô gíao và các
    bạn…
    Trong quá trình thực hiện tôi đã áp dụng các biện pháp sau để nâng cao
    kết quả giáo dục trẻ sư dụng năng lượng tiết kiệm:
    * Biện pháp 1: Tìm hiểu về góc thư viện thân thiện ở trường như thế nào
    để đảm bảo cho trẻ đọc sách mà vẫn vui vẻ, thích thú
    * Biện pháp 2: Cho trẻ làm quen với việc đọc sách
    * Biện pháp 3: Làm phong phú góc thư viện thân thiện với nhiều đầu
    sách bằng các cách khác nhau
    * Biện pháp 4: Tự làm các loại sách vải để tăng sự hứng thú, kích thích
    trẻ thọc hỏi, yêu thích sách hơn
    * Biện pháp 5: Tổ chức tuyên truyền với phụ huynh và các bạn đồng
    nghiệp về cách khơi gợi hứng thú đọc sách cho con
    Cụ thể các biện pháp thực hiện:
    2.1. Biện pháp 1: Tìm hiểu về góc thư viện thân thiện ở trường như
    thế nào để đảm bảo cho trẻ đọc sách mà vẫn vui vẻ, thích thú
    a, Thư viện thân thiện ở trường mầm non
    Ở trường mầm non “Thư viện thân thiện” có thể là phòng riêng hoặc góc
    chơi ở từng lớp, ngoài sân trường hay dưới tán cây (có thể di chuyển được)…
    được sắp xếp theo hướng “mở” nhằm khuyến khích trẻ em đến với thư viện,
    tạo điều kiện cho trẻ em tiếp cận những quyển sách phù hợp với sở thích và
    khả năng đọc của mình, phù hợp với sự phát triển tâm lý trẻ mầm non.
    Kệ sách được thiết kế phù hợp với chiều cao của trẻ em ở độ tuổi mẫu
    giáo, màu sắc phù hợp; nơi đó sách được phân loại, sắp xếp, thay đổi linh hoạt
    tạo hứng thú cho trẻ. Các đồ vật khác như: thảm xốp, bàn, ghế… cũng được
    trang bị và sắp xếp một cách khoa học nhằm tạo ra môi trường đọc thân thiện,
    9
    cuốn hút trẻ;
    Có đủ không gian để mọi trẻ được tham gia vào các hoạt động: cá nhân,
    cặp đôi hay nhóm. Ở đó bố trí các hoạt động khác nhau như: Chơi trò chơi
    phát triển ngôn ngữ, tra cứu, sáng tạo để khuyến khích các cháu đọc nhiều
    loại sách khác nhau, dễ dàng tìm sách phù hợp với câu chuyện yêu thích đã
    được nghe, tự lấy được sách để “đọc” truyện tranh và phát huy tính sáng tạo
    của mình.
    Điểm khác biệt lớn nhất ở thư viện thân thiện thể hiện ở đặc điểm về thái
    độ ứng xư. Cán bộ thư viện/giáo viên giúp các cháu tìm sách phù hợp với
    trình độ đọc, làm mẫu thế nào là đọc tốt/đọc hay và thể hiện sự thích thú khi
    đọc sách, còn các cháu được khuyến khích phô diễn tài năng, khả năng cảm
    thụ của mình.
    Thư viện thực sự khích lệ tất cả các cháu ở mọi trình độ đọc, giúp các cháu
    cảm thấy thư viện là một nơi thoải mái, hấp dẫn, có nhiều điều thú vị.
    10
    Ảnh 1: Giá để sách vừa tầm với cho trẻ dễ lấy, dễ cất
    Ảnh 2: Giá góc thư viện của bé
    b, Bố trí, sắp xếp góc thư viện thân thiện ở trường mầm non
    Việc bố trí, sắp xếp góc thư viện thân thiện ở trường mầm non được thực
    hiện hết sức linh hoạt, sáng tạo.Tùy theo điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị,
    nhân lực của nhà trường có thể bố trí phòng thư viện riêng. Tuy nhiên, các lớp
    có góc thư viện thân thiện riêng của lớp là điều kiện thuận lợi cho trẻ tiếp cận
    sách truyện, tạo nên sự phong phú, thể hiện sự sáng tạo riêng của trẻ và giáo
    viên các lớp.
    Trong lớp học, giáo viên xây dựng thư viện lớp học hoặc góc sách của bé.
    Mỗi lớp có cách bài trí và sắp xếp riêng, phù hợp và tiện lợi cho trẻ sư dụng.
    Thư viện trong lớp học nên có nội quy ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện.
    11
    Ảnh 3: Góc thư viện được sắp xếp trong lớp
    Ảnh 4: Góc thư viện được sắp xếp trong lớp
    12
    Ảnh 5: Góc thư viện được sắp xếp trong lớp
    Tại khu vực chơi ở sân trường, vườn cây hay khu vui chơi, hay khu vực
    cầu thang… đảm bảo điều kiện an toàn, vệ sinh, ánh sáng, không gian thoáng
    mát và giáo viên có thể dễ dàng bao quát hoạt động của trẻ là có thể thiết kế
    các góc thư viện thân thiện để trẻ sư dụng và phụ huynh có thể đọc sách cùng
    con trong giờ đón trẻ, trả trẻ.
    Ảnh 6: Cô đọc sách cho trẻ ở khu vực vườn cổ tích
    13
    Ảnh 7: Góc thư viện ở một góc chơi của khối
    Ảnh 8: Góc thư viện ở một góc chơi của khối
    14
    Để xây dựng các góc “Thư viện thân thiện”, nhà trường và giáo viên còn
    phải huy động sự đồng tình, hỗ trợ, phối hợp của phụ huynh và nhân dân trên
    địa bàn, đưa các nét văn hóa đặc sắc của địa phương, góp phần giữ gìn bản
    sắc văn hóa địa phương và tạo nên môi trường giáo dục gần gũi với đời sống
    thực tế hàng ngày của trẻ;
    Ảnh 9: Phụ huynh trao tặng sách, truyện cho góc thư viện của lớp
    c, Tổ chức hoạt động giáo dục trẻ tại “Thư viện thân thiện”
    Giáo viên cần có kế hoạch cụ thể cho các giờ trẻ tham gia hoạt động tại
    thư viện thân thiện theo ngày, tuần và theo chủ đề giáo dục tại lớp sao cho
    phong phú, đa dạng, linh hoạt và phù hợp với nhu cầu, sở thích của trẻ.
    Giáo viên hướng dẫn trẻ cách sư dụng sách có hiệu quả và bảo quản sách,
    truyện; khuyến khích trẻ tự chủ động lấy sách, tranh, truyện… để xem; vận
    động cha, mẹ trẻ em đọc sách cho trẻ nghe trong các giờ trả trẻ và đón trẻ.
    Để thu hút trẻ, phụ huynh đến với “Thư viện thân thiện” nhà trường, giáo
    viên các lớp thường xuyên thay đổi sách truyện mới, phù hợp với chủ đề giáo
    dục của từng lớp đặc biệt là giáo viên thường xuyên quan tâm đến việc tuyên
    15
    truyền, giới thiệu, tạo hứng thú cho trẻ, phụ huynh đến với thư viện.
    Để tránh sự nhàm chán, việc trưng bày sách, truyện và trang trí góc thư
    viện nên tránh trùng lặp giữa các lớp, với góc chung của trường.
    Nếu là phòng thư viện riêng, nhà trường có thời khóa biểu giờ đọc tại thư
    viện của tất cả các nhóm lớp. Giờ đọc đó được triển khai đúng thời khóa biểu.
    Có lịch mượn, trả sách cho tất cả các lớp. Việc này do giáo viên chủ nhiệm ở
    các lớp thục hiện. các đầu sách thường xuyên được thay đổi sẽ tạo hứng thú
    cho trẻ nhiều hơn. Ngoài ra, có cán bộ thư viện kiêm nhiệm (nếu có) được tập
    huấn kỹ thuật để quản lý thư viện và đội ngũ giáo viên cũng được tập huấn về
    kỹ thuật tổ chức giờ đọc tại thư viện trước khi triển khai hoạt động này.
    Việc xây dựng và tổ chức tốt hoạt động của các “Thư viện thân thiện”
    đảm bảo cho việc duy trì thói quen đọc sách, yêu thích sách, giáo dục trẻ giữ
    gìn sách thong qua việc đọc.. và vì thế môi trường tiếng Việt được phát triển,
    các văn hóa địa phương được chú ý tại các trường, góp phần tích cực hướng
    tới đạt mục tiêu cơ bản nhất của Đề án đối với cấp học Mầm non.
    Ảnh 10: Tên sách truyện và Lịch hoạt động của các lớp
    16
    2.2. Biệp pháp 2: Cho trẻ làm quen với việc đọc sách
    Văn hoá đọc, với tư cách văn hoá hành vi của mỗi cá nhân con người,
    biểu hiện ở khả năng lựa chọn sách, kỹ năng đọc và lĩnh hội sách cũng như
    cách thức ứng xư với sách báo, là sự thể hiện rõ ràng nhất đặc điểm tâm lý và
    nhân cách của mỗi cá nhân, được hình thành từ lứa tuổi ấu thơ và phát triển
    trong suốt cuộc đời con người.
    Ảnh 11: Cô đọc sách, truyện cho trẻ nghe
    Ảnh 12: Cô đọc sách, truyện cho trẻ nghe
    17
    Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân
    có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc hình thành và
    phát triển nhân cách con người. Các hoạt động học tập và vui chơi ở trường
    mầm non có tác động rất lớn đến quá trình phát triển của trẻ nhỏ. Việc tạo
    dựng thói quen tốt cho trẻ mầm non là một việc làm quan trọng để từ đó hình
    thành nhân cách cho trẻ em. Một trong những thói quen có ảnh hưởng sâu sắc
    đối với sự phát triển tư duy, đạo đức, lối sống của trẻ em đó là thói quen đọc
    sách. Đọc sách giúp trẻ hoàn thiện ngôn ngữ, tăng cường vốn giao tiếp, trau
    dồi tình yêu thương,… Đây không chỉ là việc làm quan trọng của gia đình mà
    còn là việc đặc biệt là quan trọng trong các trường mầm non.
    Đọc sách giúp ngôn ngữ linh hoạt, vốn từ phong phú. Bé sẽ tự tin giao
    tiếp. Được nghe nhiều về các câu chuyện trong các câu chuyện sẽ khiến bé
    học được các bài học kỹ năng giao tiếp và xư lý tình huống thực tế. Bé chủ
    động bộc lộ bản thân và nói lên những điều mình nghĩ. Đọc sách giúp bé thư
    giãn, giảm căng thẳng, mệt mỏi. Bé hào hứng đón nhận kiến thức mới, mong
    mỏi được khám phá điều hay. Nếu bé được nghe những câu chuyện phù hợp
    trong các tình huống cụ thể thì việc lĩnh hội kiến thức và nhận rõ vấn đề sẽ trở
    nên đơn giản hơn. Ở giai đoạn mầm non, các bé thường khá hiếu động. Việc
    đọc sách, nghe đọc sách sẽ khiến bé tập trung, học hỏi điều hay lẽ phải thông
    qua các câu chuyện, tình huống cần bé tự mình trải nghiệm. Bé được rèn
    luyện tính kỷ luật, tăng cường khả năng ghi nhớ.
    2.3. Biện pháp 3: Làm phong phú góc thư viện thân thiện với nhiều
    đầu sách bằng các cách khác nhau
    Tôi đã tìm hiểu về các loại sách, truyện có tác dụng tốt tới sự phát triển
    ngôn ngữ , kĩ năng xã hội và tư duy cho trẻ, có hình ảnh đẹp, rõ ràng, bắt mắt.
    Tôi tìm cách mua những cuốn sách này bằng các cách khác nhau:
    – Thứ nhất: Tôi xin nguồn quỹ của nhà trường, tuy nhiên như vậy chưa đủ
    để làm phong phú nguồn sách.
    – Thứ hai: Tôi đầu tư một số kinh phí của mình cho góc thư viện này,
    nhưng như vậy chưa đủ sự liên kết nếu chỉ có nhà trường và giáo viên.
    18
    – Thứ ba: tôi chủ động trao đổi và chia sẻ với các phụ huynh cùng tìm đầu
    sách về để dành thời gian từ 30- 40 phút mỗi ngày đọc sách, truyện và trao
    đổi cùng các con nội dung trong cuốn sách.
    Sau đó khi các cuốn sách các bé được bố mẹ nhiều lần đọc ở nhà sẽ được
    trẻ mang tới lớp cô đọc cho các bạn trong lớp cùng nghe hoặc trẻ có sách
    truyện tự kể lại cho các bạn để các bạn cùng thảo luận.
    Hàng ngày ngoài các hoạt động chính của trẻ tại trường, lớp theo chương
    trình, tôi cũng đều tranh thủ dành ra 15- 20 phút để đọc những cuốn sách đó
    cho trẻ cùng trẻ và cùng trao đổi nội dung của cuốn sách.
    Tương tự như vậy với các cuốn sách của các bé khác trong lớp. Các gia
    đình cũng sẵn sàng cho bé tặng tại lớp tôi những cuốn sách trẻ đã nghe đọc
    nhiều lần tại gia đình, chính điều này làm cho góc thư viện của lớp tôi ngày
    càng đa dạng, phong phú.
    2.4. Biện pháp 4: Làm sách vải để tăng sự hứng thú, kích thích trẻ
    thọc hỏi, yêu thích sách hơn
    Để trẻ yêu thích sách, thích tìm hiểu các nội dung của sách và từ đó hình
    thành thói quen đọc sách, trau dồi kiến thức cho trẻ tôi đã nghĩ rằng ngoài
    những cuốn sách truyện mua sẵn, mình cần tự làm thêm sách bằng vải dạ để
    trẻ hứng thú hơn nữa, kích thích trí tò mò, ham học hỏi của trẻ… Và việc sư
    dụng sách vải cũng tăng cường cho trẻ nhiều kĩ năng vì sách tôi làm có thể để
    trẻ tháo ra, ghép vào một cách dễ dàng…
    Ngay từ các trang sách tôi đã dùng các móc tháo ra lắp vào được, còn
    trong các trang sách các chi tiết tôi cũng dùng nhám hai mặt để trẻ có thể tự
    ghép chứ không hề dính chết… điều này càng làm tăng hứng thú cho trẻ, tạo
    cho trẻ thích sách truyện nhiều hơn và trẻ có kĩ năng, trẻ được tự trải nghiệm
    các kiến thức. Như vậy trẻ sẽ nhớ rất lâu, trẻ dần hình thành thói quen đọc
    sách, yêu thích sách, và có kĩ năng với các quyển sách trẻ được trải nghiệm…

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa