• SKKN Một số biện pháp hướng dẫn trẻ làm đồ dùng, đồ chơi nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo cho trẻ 4 – 5 tuổi

    SKKN Một số biện pháp hướng dẫn trẻ làm đồ dùng, đồ chơi nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo cho trẻ 4 – 5 tuổi

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Maksim Gorky – một nhà văn nổi tiếng người Nga đã từng nói: “Sách mở
    ra trước mắt tôi những chân trời mới”, có thể nói sách mang lại cho chúng ta
    những kho tàng kiến thức phong phú và mới mẻ về thế giới xung quanh. Với trẻ
    mẫu giáo, vui chơi là hoạt động chủ đạo, khi mà trẻ chưa thể nhận thức được ý
    nghĩa của những cuốn sách thì chính những đồ dùng đồ chơi mà trẻ tiếp xúc
    hằng ngày lại được coi là bộ “sách giáo khoa” giúp trẻ mở ra những nhận thức
    mới mẻ về thế giới tự nhiên và xã hội. Đặc biệt là trong sự phát triển trí tuệ,
    nhân cách, thể chất cho trẻ.
    Hoạt động cho trẻ Mầm non làm đồ dùng đồ chơi cũng đóng một vai trò
    hết sức quan trọng trong việc giáo dục trẻ. Đối với trẻ em, đồ chơi cũng giống
    như cuốc cày đối với người nông dân, máy móc đối với người công nhân, là
    phòng thí nghiệm đối với nhà khoa học. Đồ chơi giúp trẻ em tìm hiểu, khám
    phá thế giới xung quanh, nó giúp các em làm quen với những đặc điểm, tính
    chất của nhiều đồ vật, biết được công dụng của chúng trong sinh hoạt và trong
    lao động của con người. Đồ chơi khiến trẻ nhập vào hành động chơi giống như
    thực, đáp ứng nhu cầu bắt chước hành động của người lớn từ đó giúp trẻ phát
    hiện ra những mối quan hệ của người với người trong xã hội dần dần biết gia
    nhập vào các mối quan hệ đó. Hoạt động với đồ chơi vừa làm thỏa mãn nhu cầu
    vui chơi, vừa làm cho đôi bàn tay khéo léo, đôi chân dẻo dai cơ thể mềm mại,
    hình dáng phát triển cân đối hài hòa, vừa chuẩn bị cho trẻ vào học tiểu học vừa
    có thể tham gia tốt vào cuộc sống xã hội sau này.
    Đồ chơi do tự tay mình làm ra, trẻ sẽ cảm thấy yêu quý, hứng thú hơn.
    Đây cũng chính là một hình thức dạy trẻ cách chia sẻ trong quá trình lao động,
    biết yêu quý sức lao động ngay khi còn bé từ đó hình thành những cảm xúc tích
    cực cho trẻ “ Làm đồ chơi rất thích đấy bạn biết không? Và tớ có thể làm được
    những đồ chơi mà tớ thích.” Đây là một trong những câu nói của trẻ trong quá
    trình tôi quan sát và ghi lại được một cách ngẫu nhiên sau khi trẻ mang sản
    2
    phẩm do tự tay mình làm lên trưng bày. Quả thực, khi đồ chơi do tự tay mình
    làm ra trẻ sẽ thấy thú vị, tự hào và rất trân trọng.
    Trên thực tế, tôi thấy rằng hiện nay đồ chơi dành cho trẻ được bày bán rất
    nhiều trên thị trường tuy vậy những đồ chơi đó không thể đáp ứng được đầy đủ
    các mục đích của chương trình giáo dục mầm non. Việc mua quá nhiều đồ chơi
    cho trẻ sẽ làm ảnh hưởng đến tiền bạc của phụ huynh trong khi các phụ phế
    phẩm từ gia đình luôn sẵn có như: vỏ hộp, lon bia, vỏ sò, lõi giấy vệ sinh,… hay
    đơn giản là các loại lá cây khô,…v..v… Đây là nguồn vật liệu phong phú và dễ
    tìm mà mỗi giáo viên hay phụ huynh có thể tận dụng cho trẻ sáng tạo các món
    đồ chơi trẻ thích. Mặt khác, trong các trường mầm non việc hướng dẫn trẻ làm
    đồ dùng đồ chơi nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của trẻ còn rất nhiều hạn
    chế, trẻ tiếp thu kiến thức ở hoạt động này còn chưa sâu, giáo viên chưa có nhiều
    sáng tạo trong việc dạy trẻ làm đồ dùng đồ chơi nên trẻ chưa phát huy hết được
    tính sáng tạo và tự lập, đây là điều mà tôi băn khoăn. Chính vì vậy tôi đã mạnh
    dạn lựa chọn đề tài:
    “Một số biện pháp hướng dẫn trẻ làm đồ dùng, đồ chơi nhằm phát huy tính
    tích cực, sáng tạo cho trẻ 4 – 5 tuổi”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT
    1. Mô tả giải pháp kỹ thuật trước khi tạo ra sáng kiến
    Được sự quan tâm của Phòng Giáo dục đào tạo thành phố Nam Định cùng
    với sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường đã thường xuyên quan tâm bồi
    dưỡng, nâng cao nghiệp vụ cho giáo viên và tổ chức các buổi thi đua làm đồ
    dùng, đồ chơi tự tạo trong trường. Kết hợp với đội ngũ giáo viên đứng lớp có
    trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn; Yêu nghề, mến trẻ, năng động,
    sáng tạo trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ.
    Mặt khác, đa số trẻ đều thích thú tham gia hoạt động làm đồ dùng, đồ chơi
    với những nguyên vật liệu phong phú, dễ tìm. Trẻ được tự do phát huy ý tưởng
    của mình, kỹ năng tạo hình được rèn luyện nhiều hơn, nuôi dưỡng ý tưởng nghệ
    thuật của trẻ. Bên cạnh đó, phụ huynh luôn nhiệt tình ủng hộ, phối kết hợp với
    nhà trường trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ.
    3
    Tuy nhiên, do kinh phí của nhà trường còn hạn hẹp nên việc đầu tư, mua
    sắm đồ dùng, đồ chơi còn hạn chế; Diện tích lớp học chật hẹp trong khi đó học
    sinh đông nên còn gặp khó khăn trong việc cho trẻ tham gia hoạt động.
    Những hoạt động hướng dẫn trẻ làm đồ dùng, đồ chơi cũng được giáo viên
    trên lớp đưa vào chương trình giảng dạy, tuy vậy không phải bất cứ giáo viên
    nào cũng tìm ra được phương pháp và hình thức tổ chức cho trẻ làm đồ dùng, đồ
    chơi đạt hiệu quả cao. Bản thân tôi qua thực tế giảng dạy và được tiếp cận với
    phụ huynh tôi nhận thấy một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến hoạt động
    làm đồ dùng, đồ chơi cùng trẻ, hơn nữa trẻ cũng chưa có nhiều cơ hội được tiếp
    cận với hoạt động này. Nhận thức và kĩ năng của các trẻ trong lớp chưa đồng
    đều: một số trẻ còn nhút nhát, rụt rè, một số thì lại quá hiếu động, chưa tự tin,
    chưa thực sự hứng thú và thể hiện sự sáng tạo trước cô và các bạn. Vốn kinh
    nghiệm của trẻ quá nghèo nàn, điều này trực tiếp gây cản trở đến quá trình phát
    huy tính sáng tạo của trẻ, hơn thế nữa trẻ cũng không có nhiều kĩ năng tự làm đồ
    dùng, đồ chơi do trẻ chưa được trải nghiệm nhiều hơn nữa trong các hoạt động
    học, chưa đủ để trẻ được thỏa sức sáng tạo.
    Nhà tâm lý học người Mỹ E.P.Torrance đã đưa ra 4 tiêu chí của sáng tạo
    đó là: tính nhanh nhạy, tính linh hoạt, tính chi tiết và tính độc đáo. Dựa vào các
    tiêu chí ấy, có thể thấy sự sáng tạo của trẻ MG 4 – 5 tuổi khi tham gia hoạt động
    làm đồ dùng, đồ chơi được thể hiện như sau:
    Thang đánh giá về tính sáng tạo của trẻ MG 4 – 5 tuổi khi tham gia hoạt
    động làm đồ dùng, đồ chơi:
    – Mức độ 3: CAO (3 điểm)
    + Trẻ có thể nêu lên ý tưởng và thể hiện sản phẩm theo ý tưởng của mình.
    + Đưa ra ý tưởng độc đáo và biết cách sử dụng nhiều nguyên vật liệu (NVL)
    khác nhau để tạo nên sự mới lạ cho sản phẩm.
    + Có khả năng tạo ra nhiều sản phẩm khác nhau cho một ý tưởng.
    + Có tinh thần hứng thú tham gia hoạt động.
    + Có kỹ năng tạo hình thành thạo.
    4
    + Trẻ tỉ mỉ, cẩn thận trong việc lựa chọn kiểu dáng, màu sắc và chất liệu của
    NVL, tập trung chú ý cao trong công việc.
    + Sản phẩm tạo hình đẹp, hài hòa, thể hiện sự cẩn thận, công phu của trẻ.
    + Có sáng kiến đưa sản phẩm tạo hình vào phục vụ các trò chơi khác.
    – Mức độ 2: TRUNG BÌNH (2 điểm)
    + Trẻ có thể nêu lên ý tưởng nhưng chưa tạo hình theo ý tưởng được.
    + Nội dung ý tưởng đưa ra thiếu tính độc đáo, các NVL lựa chọn đơn thuần nên
    chưa tạo sự mới lạ trong sản phẩm.
    + Có ý tưởng nhưng tạo ra ít sản phẩm.
    + Còn chậm chạp trong khi chơi.
    + Kỹ năng tạo làm đồ dùng, đồ chơi còn lúng túng.
    + Trẻ chưa tỉ mỉ, cẩn thận trong việc lựa chọn kiểu dáng, màu sắc và chất liệu
    của NVL, chưa tập trung chú ý vào công việc.
    + Các sản phẩm chưa đẹp, chưa hài hòa, chưa thể hiện sự cẩn thận, công phu của trẻ.
    + Còn lúng túng khi đưa đồ dùng, đồ chơi mình làm vào phục vụ các trò chơi
    khác.
    – Mức độ 1: THẤP (1 điểm)
    + Trẻ không nêu lên ý tưởng.
    + Không biết lựa chọn các NVL nên chưa tạo sự mới lạ cho sản phẩm.
    + Ý tưởng đã được gợi ý nhưng chỉ tạo ra được một sản phẩm.
    + Trẻ thờ ơ trong khi hoạt động.
    + Kỹ năng còn yếu.
    + Cẩu thả trong việc lựa chọn kiểu dáng, màu sắc và chất liệu của NVL, không
    tập trung chú ý vào công việc.
    + Sản phẩm chưa hoàn thiện còn sơ sài.
    + Không biết đưa đồ dùng, đồ chơi vào các trò chơi khác.
    5
    Bảng 1: Kết quả thực trạng tính tích cực sáng tạo của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi
    thông qua hoạt động làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo ở trường mầm non
    qua từng tiêu chí

    CaoTrung bìnhThấpMức độ
    Tiêu chí
    Số
    lượng
    Tỉ lệ
    (%)
    Số
    lượng
    Tỉ lệ
    (%)
    Số
    lượng
    Tỉ lệ
    (%)
    Trẻ thể hiện tính
    nhanh nhạy
    15/4037,515/4037,510/4025
    Trẻ thể hiện tính
    linh hoạt
    12/403016/404012/4030
    Trẻ tạo ra được
    ĐD- ĐC có tính chi
    tiết
    16/404017/4042,57/4017,5
    Trẻ tạo ra được
    ĐD- ĐC có tính độc
    đáo
    8/402015/4037,517/4042,5

    Kết quả điều tra cho thấy, thực trạng tính tích cực, sáng tạo của trẻ mẫu giáo
    4-5 tuổi thông qua hoạt động làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo ở trường mầm non
    thông qua các tiêu chí phần lớn đạt ở mức độ trung bình: trẻ thể hiện tính nhanh
    nhạy chiếm 37,5%, trẻ thể hiện tính linh hoạt chiếm 40%, trẻ tạo ra được ĐD-
    ĐC có tính chi tiết chiếm 42,5%. Đối với tiêu chí trẻ tạo ra được ĐD- ĐC có
    tính độc đáo chủ yếu đạt ở mức độ thấp (42,5%), đạt ở mức độ cao chỉ chiếm
    20%. Như vậy, thực trạng tính tích cực, sáng tạo của trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi thông
    qua hoạt động làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo ở trường mầm non như trên đã cho
    thấy sự cần thiết phải đề ra các biện pháp hướng dẫn trẻ làm đồ dùng đồ chơi để

    6
    có thể khắc phục một số hạn chế trong quá trình giáo dục phát huy tính tích cực,
    sáng tạo cho trẻ ở những độ tuổi sau.
    Từ những thực trạng trên và sau quá trình tìm hiểu và nghiên cứu kĩ lưỡng,
    tôi xin đưa ra “Một số biện pháp hướng dẫn trẻ làm đồ dùng, đồ chơi nhằm
    phát huy tính tích cực, sáng tạo cho trẻ 4 – 5 tuổi” như sau:
    2. Mô tả giải pháp kỹ thuật sau khi có sáng kiến:
    Để có thể tổ chức tốt hoạt động dạy trẻ làm đồ dùng, đồ chơi đòi hỏi giáo
    viên phải có một kế hoạch chi tiết và cô thể theo một hệ thống bài tập, giáo viên
    cũng cần phải chú ý đến phương pháp truyền đạt, thời điểm truyền đạt… Chính
    vì vậy, để dạy trẻ làm đồ dùng, đồ chơi nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo
    cho trẻ 4-5 tuổi tôi đã đưa ra một số biện pháp như sau:
    * Biện pháp 1: Không ngừng bồi dưỡng, trau dồi kiến thức, kĩ năng cho bản thân
    Đối với trẻ mầm non giáo viên đóng vai trò là thang đỡ, điểm tựa cho trẻ
    được phát triển một cách chủ động và linh hoạt. Để làm được điều đó mỗi giáo
    viên phải luôn cố gắng không ngừng tự trau dồi những kiến thức và kĩ năng cần
    thiết cho bản thân để có thể giúp trẻ trong các hoạt động trên lớp một cách tốt
    nhất, đặc biệt là hoạt động cho trẻ làm đồ dùng, đồ chơi.
    Bản thân là một giáo viên mầm non, tôi và các đồng nghiệp trong lớp luôn
    ý thức được vai trò của việc nâng cao tay nghề chuyên môn. Chúng tôi không
    chỉ nghiên cứu nắm vững mục đích yêu cầu của hoạt động mà còn phải nắm
    chắc được các phương pháp và biện pháp thực hiện giúp trẻ lĩnh hội kiến thức
    một cách nhẹ nhàng, không bị gò bó, áp đặt giúp trẻ hiểu bài sâu và vận dụng
    những điều đã học vào thực tế hàng ngày của trẻ. Sự sáng tạo và khả năng ứng
    dụng các đồ dùng đồ chơi do trẻ tự tạo đó cũng được chúng tôi cân nhắc và lựa
    chọn kĩ càng trước khi đưa ra yêu cầu cho trẻ. Vì vậy, để giúp trẻ 4 – 5 tuổi lớp
    tôi làm được một số đồ dùng, đồ chơi nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của
    trẻ thì tôi đã: Đọc và nghiên cứu kỹ chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ mầm
    non 4 – 5 tuổi. Giáo viên tìm hiểu để nắm vững đặc điểm tâm lí của trẻ từ đó có
    thể lưu ý đến kinh nghiệm của trẻ, đặc điểm cá nhân của từng trẻ, nhu cầu hoạt
    động của trẻ, sự năng động, linh hoạt trong hoạt động làm đồ dùng đồ chơi tự
    7
    tạo. Qua đó, giáo viên đưa ra được kế hoạch tổ chức góc tạo hình một cách hợp
    lý, linh hoạt, xuất phát từ nhu cầu của trẻ; Tham gia các đợt kiến tập và các
    chương trình chuyên đề do phòng và do trường tổ chức; Tìm đọc tham khảo
    những cách làm đồ dùng đồ chơi đơn giản trên sách báo, tạp chí mầm non; Xem
    các chương trình truyền hình về chăm sóc giáo dục trẻ mầm non trên các kênh
    truyền hình như VTC11 với chương trình “ Những tờ giấy diệu kỳ” dạy trẻ cách
    làm một số đồ dùng đồ chơi cho trẻ mầm non, vào mạng xem các chương trình
    “Hướng dẫn làm đồ dùng đồ chơi cho trẻ mầm non”, đặc biệt là các trang web
    giáo dục cho trẻ mầm non bên nước ngoài.
    Như vậy, qua tự bồi dưỡng bản thân, học hỏi đồng nghiệp cũng như xem
    các phương tiện thông tin hiện đại tôi đã nắm vững được các phương pháp để
    dạy trẻ làm dược một số đồ dùng đồ chơi nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo
    của trẻ.
    Giáo viên trong lớp trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm
    * Biện pháp 2: Thường xuyên thay đổi không gian, cách sắp xếp các nguyên
    vật liệu tại các góc cho trẻ được thỏa sức sáng tạo.
    8
    Tiến sĩ Edward RoyKrishnan (Mission College – Thailand) trong một bài
    báo về giáo dục đại học cũng đã nói: “… Đứa trẻ học rất nhanh trong những
    năm thơ ấu của cuộc đời, bởi vì thực tế không có ai thực sự dạy các em mà
    chính bản thân các em đóng vai trò tích cực trong việc học tập của bản thân…
    Hãy suy nghĩ về các môi trường quanh đứa trẻ… trong hầu hết các trường hợp,
    trẻ em học cách tư duy trong những môi trường không theo khuôn phép, không
    nghiêm ngặt và rất linh hoạt ở nhà, ở sân chơi, ở cửa hiệu, trong gia đình…; để
    phát triển tư duy cảm giác và hình thành kỹ năng tư duy phân tích cho trẻ, cần
    tạo ra những môi trường học tập tự do hơn cho các em”
    Một trong những điều kiện quan trọng để nảy sinh và phát huy tính sáng
    tạo đó là không gian, môi trường để sáng tạo. Do đó, tạo nên một không gian
    chơi rộng rãi, thoáng mát, vệ sinh với các nguyên vật liệu đa dạng, mới lạ và hấp
    dẫn là một việc làm rất quan trọng và cần thiết tại góc chơi đặc biệt là góc tạo
    hình. Vì thế, giáo viên mầm non cần phải thường xuyên thay đổi để làm mới
    không gian chơi, bổ sung nguyên vật liệu mới ở góc tạo hình cho trẻ để tạo điều
    kiện giúp trẻ bộc lộ và thể hiện khả năng sáng tạo của mình.
    Ở trên lớp tôi và các giáo viên khác luôn bổ sung, thay đổi nguyên vật liệu
    cho trẻ theo chủ đề, thường xuyên cải tạo không gian chơi luôn sạch sẽ, đủ rộng
    và thoáng để trẻ chơi hàng ngày. Với những nguyên vật liệu mới lạ, phù hợp với
    yêu cầu của hoạt động làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo sẽ giúp cho trẻ có điều kiện
    tiếp xúc, làm quen với thế giới nguyên vật liệu kì diệu, tạo cơ hội cho trẻ được
    tạo hình, được tìm tòi và biến đổi các nguyên vật liệu đó thành sản phẩm, đồ
    chơi cho riêng mình và cho nhóm. Như vậy, không gian chơi sẽ trở nên ngăn
    nắp, gọn gàng, hấp dẫn, mới lạ hơn. Bên cạnh đó, theo tôi góc tạo hình cũng cần
    bố trí gần nguồn nước sẽ tạo cho trẻ có hứng thú chơi, giúp trẻ tích cực chủ động
    tham gia lấy và cất nguyên vật liệu hay lấy nước, vệ sinh đồ dùng khi cần thiết
    cũng trở nên thuận tiện hơn, trẻ cố gắng nổ lực thực hiện ý đồ tạo hình của
    mình. Đây cũng là môi trường, là điều kiện thuận lợi để tính sáng tạo của trẻ
    được bộc lộ và phát huy. Do đó, giáo viên không chỉ quan tâm đến việc cung
    cấp nguyên vật liệu cho trẻ mà còn phải đặc biệt chú ý đến không gian cho trẻ
    9
    chơi. Không gian ấy luôn luôn vận động, biến đổi cho phù hợp với chủ đề, nội
    dung của góc chơi một cách an toàn, sinh động, hấp dẫn đảm bảo khuyến khích
    tính sáng tạo của trẻ được nảy sinh và phát triển trong hoạt động này.
    Ví dụ: Ở trên lớp tôi và các giáo viên trong lớp tạo môi trường cho trẻ
    được hoạt động một cách tích cực nhất. Các góc chơi được chúng tôi bày biện và
    bổ sung các nguyên vật liệu khác nhau để trẻ có thể thỏa sức sáng tạo theo chủ
    đề. Như góc sách truyện, với chủ đề sách là “ Côn trùng và chim” chúng tôi để
    những chiếc lá cây để trẻ có thể sáng tạo những trang sách sinh động về thế giới
    loài vật mà trẻ biết.
    Hình ảnh trẻ sáng tạo các con vật từ những chiếc lá để làm ra cuốn sách
    “Côn trùng và chim”
    Hay góc tạo hình được bổ sung thêm những vỏ chai nhựa, những lõi giấy
    vệ sinh,… để trẻ có thể thỏa sức sáng tạo.
    10
    Hình ảnh góc tạo hình được bổ sung thêm những nguyên vật liệu
    * Biện pháp 3: Hướng dẫn, gợi ý trẻ sưu tầm các nguyên vật liệu thiên
    nhiên và phế thải để làm đồ dùng, đồ chơi; đồng thời khuyến khích trẻ đưa
    ra ý tưởng và cách thức thực hiện sản phẩm.
    Trên thực tế cho thấy trẻ mầm non chưa được giáo viên tạo điều kiện được
    sử dụng đa dạng các nguyên vật liệu, hay sưu tầm và sắp xếp các nguyên vật
    liệu cùng cô nên trẻ thường chọn hoạt động tạo hình vẽ là chủ yếu. Đây là một
    trong những hoạt động tạo hình khá quen thuộc đối với trẻ nên đa số trẻ có kỹ
    năng tạo hình thành thạo. Ví dụ: trẻ vẽ rất nhanh, tranh vẽ được tô màu đều và
    đẹp, bố cục hài hòa, ý tưởng độc đáo… Chính vì thế, trẻ ít có khả năng tạo ra
    nhiều sản phẩm khác nhau cho một ý tưởng. Ví dụ như: thay vì vẽ một bức tranh
    “Bó hoa tặng mẹ” thì giáo viên có thể gợi ý cho trẻ có thể sử dụng các cách khác
    như cắt hay xé dán bó hoa, in bó hoa từ các loại của quả, xếp hoa, tạo hình bó
    hoa từ ống hút hay từ khay giấy bánh bông lan…. Tức là cùng tạo ra bó hoa để
    tặng mẹ nhưng có nhiều cách làm khác nhau, điều này tùy thuộc vào việc chuẩn
    bị nguyên vật liệu của cô và trẻ. Qua đó, trẻ sẽ có thêm nhiều kinh nghiệm trong
    việc sử dụng các nguyên vật liệu.
    11
    Sự sáng tạo của trẻ được thể hiện trên rất nhiều mặt. Với hoạt động cho trẻ
    làm đồ dùng đồ chơi để có thể giúp trẻ phát huy được khả năng sáng tạo tôi vẫn
    luôn khuyến khích trẻ sưu tầm những nguyên vật liệu mà trẻ nghĩ có thể sử dụng
    và sáng tạo được từ chúng. Hơn thế nữa trẻ mầm non rất thích được tự mình tìm
    tòi khám phá, thích tự tay mình làm ra một cái gì đó, và việc tự tay mình làm ra
    một đồ chơi là điều mà theo tôi nghĩ trẻ sẽ rất hứng thú và tích cực, và sẽ thích
    thú hơn nếu những đồ chơi đó lại được trẻ làm ra từ chính những nguyên vật liệu
    đơn giản dễ tìm ngay trong gia đình trẻ. Hàng ngày khi trẻ ăn quà bánh, uống
    sữa, ăn kem… trẻ có thể để ý và lựa chọn chính những vỏ hộp, que kem đó để
    tạo ra nhiều sản phẩm khác nhau. Hoặc những loại vỏ cây, hoa, lá, hạt quả, vỏ
    sò… sau khi ăn xong trẻ cũng có thể sưu tầm để tạo hình được.
    Bên cạnh đó để thúc đẩy tinh thần tìm tòi khám phá ở trẻ tôi biến sự tìm
    kiếm này thành một cuộc đua. Tôi thường hướng dẫn trẻ, sau khi đã lựa chọn
    cần phải giữ sạch, cất kỹ các nguyên vật liệu đó cứ sau một tuần thì mang đến
    lớp thi đua xem nhóm nào, bạn nào sưu tầm được nhiều nguyên vật liệu và đưa
    ra ý tưởng mới lạ hơn về cách tạo hình với các nguyên vật liệu đó. Yêu cầu trẻ
    khi tìm được các nguyên vật liệu, trẻ cần sử dụng các nguyên vật liệu đó để thử
    tạo hình một sản phẩm nào đó. Khuyến khích trẻ nghĩ ra cách tạo hình mới lạ và
    độc đáo. GVMN đưa ra những “phần thưởng” để kích thích tính sáng tạo của trẻ.
    Với cách làm như vậy, trẻ được trực tiếp tìm kiếm, lựa chọn, cất giữ và chuẩn bị
    những dự định với các nguyên vật liệu đó. Đây tuy là một cách làm đơn giản
    nhưng lại có hiệu quả giáo dục cao. Làm như vậy chúng ta sẽ tiết kiệm được tiền
    mua sắm vật liệu, tạo ra nhiều đồ chơi mang tính sáng tạo phong phú cho lớp
    học của mình. Những đồ chơi này vừa dễ làm vừa dễ sử dụng trong các giờ học
    và trong các hoạt động. Vì qua việc tìm kiếm và chọn lọc các nguyên vật liệu
    khác nhau, trẻ có thể thỏa sức để tưởng tượng và chuẩn bị cho mình những ý
    tưởng độc đáo với các sản phẩm đó. Do đó, đây cũng là một trong những biện
    pháp góp phần tích cực trong việc giáo dục tính sáng tạo cho trẻ mẫu giáo 4 – 5
    tuổi trước khi bước vào hoạt động làm đồ dùng đồ chơi.
    12

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN Một số giải pháp chỉ đạo đổi mới hình thức tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ mẫu giáo trong trường mầm non

    SKKN Một số giải pháp chỉ đạo đổi mới hình thức tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ mẫu giáo trong trường mầm non

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Bậc học mầm non là bậc học đầu tiên của nền giáo dục quốc dân. Việc chăm
    sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ ngày từ tuổi ấu thơ là vô cùng quan trọng cho sự
    hình thành và phát triển toàn diện của trẻ.
    Để đạt được mục tiêu giúp trẻ phát triển toàn diện thì ta cần
    phải kết hợp hài hoà giữa nuôi dưỡng chăm sóc sức khoẻ và giáo
    dục đó là điều tất yếu. Chính vì vậy việc chăm sóc nuôi dưỡng như
    thế nào là đúng để cơ thể trẻ khoẻ mạnh, học tốt phát triển cân
    đối thì trước tiên ta phải có một chế độ ăn uống hợp lý và có những
    bữa ăn hấp dẫn, đẹp mắt lôi cuốn trẻ.
    Đổi mới hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ không chỉ đơn thuần là việc tổ
    chức các bữa ăn đầy đủ chất dinh dưỡng cho trẻ mà còn nhằm nâng cao chất lượng
    chăm sóc trẻ, hình thành ở trẻ những kỹ năng cơ bản trong văn hóa ẩm thực nơi
    công cộng, biết sử dụng nhiều loại đồ dùng ăn uống, biết sắp xếp đồ dùng và cất
    dọn đồ dùng cùng cô. Đặc biệt là ý thức về văn hóa ẩm thực, lịch sự trong ăn uống
    như: không vừa nói vừa ăn, biết lấy thức ăn vừa đủ, không bỏ thừa đồ ăn. Đi lại nhẹ
    nhàng, không tranh giành, không đùa nghịch…
    Ở trường mầm non Thống Nhất, chế độ ăn của trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ ăn 2 bữa
    chính, 1 bữa phụ; trẻ mẫu giáo 1 bữa chính, 1 bữa phụ. Thông qua bữa ăn trưa, trẻ
    được bù đắp những năng lượng đã tiêu hao và cung cấp năng lượng để tham gia
    vào các hoạt động mới. Vì vậy, việc tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ ở trường mầm non
    là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ.
    3
    Trên thực tế trong các nhà trường mới dừng ở việc tổ chức cho trẻ ăn cơm xuất chia
    vào bát và giáo viên động viên khuyến khích trẻ hay xúc cho trẻ ăn hết xuất nhưng
    chưa chú ý đến việc tổ chức các hình thức ăn đa dạng, tổ chức cho trẻ ăn ngon
    miệng, trẻ vui vẻ, yêu thích và hứng thú với các bữa ăn của mình… Đa phần, trẻ ăn
    như đang thực hiện nhiệm vụ chứ không phải ăn do nhu cầu. Đây là điều khiến
    người hiệu trưởng như tôi luôn trăn trở và suy nghĩ làm thế nào để giúp trẻ bước
    vào bữa ăn với một tâm lý thoải mái và ăn ngon miệng nhất và hình thành ở trẻ
    những kỹ năng cơ bản trong văn hóa ẩm thực nơi công cộng và các kỹ năng sử
    dụng các dụng cụ khi ăn… Vì vậy, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp
    chỉ đạo đổi mới hình thức tổ chức bữa ăn trưa cho trẻ mẫu giáo trong trường
    mầm non” nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ trong nhà trường.

    II.MÔ TẢ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT
    II.1. Mô tả giải pháp kỹ thuật trước khi tạo ra sáng kiến

    1. Thuận lợi
    Trường Mầm Non Thống Nhất – Thành phố Nam Định tọa lạc trên khuôn
    viên sân vườn thoáng mát, xanh, sạch, đẹp và an toàn, là nơi hội tụ đủ điều kiện để
    mang đến cho trẻ một môi trường học tập đảm bảo tất cả các yếu tố thích hợp nhất.
    Trường mầm non Thống Nhất được đầu tư xây dựng khang trang và hiện đại
    với 15 nhóm lớp và 13 phòng chức năng và 2 khu dinh dưỡng rộng. Sân chơi rộng
    rãi, thoáng mát có đầy đủ các thiết bị đồ dùng đồ chơi cho trẻ hoạt động.
    Nhà trường luôn được sự quan tâm và chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo,
    UBND thành phố Nam Định, phòng GD & ĐT, tổ mầm non.
    Là trường mầm non đạt Kiểm định chất lượng Giáo dục cấp độ 3, chuẩn
    Quốc gia mức độ 2, trường xanh – sạch – đẹp – an toàn, và là trường được đánh giá
    cao về chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. Nhà trường nhiều năm liền đạt “Tập thể
    lao động xuất sắc” được tặng là đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua của Tỉnh…
    Có đội ngũ giáo viên, nhân viên nhiệt tình tâm huyết với nghề và có trình độ
    năng lực cao và đồng đều.
    4
    2. Khó khăn
    – Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong hoạt động đổi mới các hình
    thức tổ chức bữa ăn cho trẻ còn hạn chế.
    – Xây dựng thực đơn chưa phong phú, đa dạng.
    – Đồ dùng để tổ chức đổi mới chưa có, mới chỉ đầy đủ ở hình thức ăn cơm
    phần.
    – Giáo viên và nhân viên chưa chú trọng đến các hình thức tổ chức bữa ăn
    cho trẻ, chỉ mới tập trung ở hình thức ăn cơm phần.
    – Ý thức về văn hóa ẩm thực, lịch sự trong ăn uống, hứng thú với bữa ăn, ăn
    ngon miệng và có kỹ năng sử dụng nhiều dụng cụ đồ dùng trong ăn uống… của trẻ
    còn hạn chế.
    3. Thực trạng của vấn đề đổi mới hình thức bữa ăn trưa cho trẻ tại
    trường mầm non
    Bảng 1: Kết quả khảo sát trên giáo viên và nhân viên – Khảo sát 40 người.

    STTNội dung khảo sátMức độÝ kiến
    khác
    Rất
    quan
    trọng
    Quan
    trọng
    Bình
    thường
    1Phối hợp giữa nhà trường và gia đình
    trong hoạt động đổi mới các hình
    thức tổ chức bữa ăn cho trẻ mầm non
    52510
    2Xây dựng thực đơn151510
    3Chuẩn bị đồ dùng cho bữa ăn theo
    các hình thức khác nhau
    101515
    4Lập kế hoạch tổ chức bữa ăn15187

    * Qua bảng khảo sát trên tôi rút ra một số vấn đề sau:
    + Tiêu chí phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong hoạt động đổi mới các
    hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ mầm non mức độ rất quan trọng đạt là 12,5%, ở
    mức độ quan trọng đạt là 62,5% và ở mức độ bình thường đạt 25%.
    5
    + Tiêu chí xây dựng thực đơn mức độ rất quan trọng đạt là 37,5%, ở mức độ
    quan trọng đạt là 37,5% và ở mức độ bình thường đạt 8%, ý kiến khác đạt 25%.
    + Tiêu chí chuẩn bị đồ dùng cho bữa ăn theo các hình thức khác nhau mức độ
    rất quan trọng đạt là 25%, ở mức độ quan trọng đạt là 37,5% và ở mức độ bình
    thường đạt 37,5%.
    + Tiêu chí lập kế hoạch tổ chức bữa ăn mức độ rất quan trọng đạt là 37,5%, ở
    mức độ quan trọng đạt là 45% và ở mức độ bình thường đạt 17,5%.
    Bảng 2: Kết quả khảo sát trên trẻ – 100 trẻ

    STTNội dung khảo sátMức độ
    TốtKháTrung
    bình
    Yếu
    1Trẻ hứng thú với bữa ăn, ăn ngon
    miệng
    20304010
    2Trẻ có kỹ ăn ăn uống văn minh, lịch
    sự nơi công cộng
    21283021
    2Trẻ tích cực tham gia chuẩn bị đồ
    dùng cho bữa ăn cùng cô giáo
    15352030
    3Trẻ có kỹ năng sử dụng nhiều đồ
    dùng trong ăn uống
    18223525

    * Nhận xét: Tiêu chí “Trẻ hứng thú với bữa ăn, ăn ngon miệng” mức độ tốt
    đạt 20%, khá 30%, trung bình 30%, yếu 10%. Tiêu chí “Trẻ có kỹ ăn ăn uống văn
    minh, lịch sự nơi công cộng” mức độ tốt đạt 21%, khá 28%, trung bình 30%, yếu
    21%. Tiêu chí “Trẻ tích cực tham gia chuẩn bị đồ dùng cho bữa ăn cùng cô giáo”
    mức độ tốt đạt 15%, khá 35%, trung bình 20%, yếu 30%. Tiêu chí “Trẻ có kỹ năng
    sử dụng nhiều đồ dùng trong ăn uống” mức độ tốt đạt 18%, khá 22%, trung bình
    35%, yếu 25%.
    => Như vậy: Để trẻ có ý thức về văn hóa ẩm thực, lịch sự trong ăn uống,
    hứng thú với bữa ăn, ăn ngon miệng và có kỹ năng sử dụng nhiều dụng cụ đồ dùng
    trong ăn uống… Bản thân tôi cũng không ngừng học hỏi và mạnh dạn đưa ra một số
    biện pháp chỉ đạo nhằm đổi mới hình thức bữa ăn chính cho trẻ mẫu giáo ở trường.
    6
    II.2. Mô tả giải pháp kỹ thuật sau khi có sáng kiến
    1. Giải pháp 1: Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa nhà trường và gia
    đình trong hoạt động đổi mới các hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ mầm non.
    – Hoạt động tổ chức các bữa ăn cho trẻ mầm non đạt hiệu quả tốt nhất khi có
    sự phối hợp của cha mẹ học sinh. Nhận thức được điều đó tôi luôn nhắc nhở giáo
    viên giao lưu và xây dựng mối liên hệ gần gũi với phụ huynh tại nhóm lớp.
    – Thông tin đến phụ huynh tình hình sức khoẻ, sự phát triển ( chiều cao, cân
    nặng, sở thích của trẻ về các món ăn và hình thức ăn…) của các con thông qua sổ
    liên lạc điện tử, nhóm zalo, góc tuyên truyền…. Chính bằng cách này phụ huynh
    luôn nắm bắt được các hoạt động mà con cái mình tham gia, cảm nhận sâu sắc thấy
    con đã được giáo viên và nhà trường quan tâm – chăm sóc rất tốt, nhà trường đã
    luôn nhận được sự ủng hộ của phụ huynh trong mọi hoạt động trải nghiệm như: Tổ
    chức tiệc Buffel, bữa ăn tự chọn và các hình thức khác nhau để tổ chức bữa ăn
    ngon, đẹp và hấp dẫn đối với trẻ.
    – Thường xuyên cung cấp các bài viết có chất lượng cao và nội dung tuyên truyền
    sát với tình hình thực tế của trẻ tại nhà trường trên các nhóm lớp. Từ đó giúp phụ
    huynh hiểu hơn về vai trò, tầm quan trọng của việc tổ chức các bữa ăn cho trẻ như:
    Bài viết: “Những chiếc áo kỳ diệu giúp các con yêu khỏe mạnh phòng chống
    dịch bệnh Covid -19” Sức khỏe là tài sản quý giá quan trọng nhất của con người.
    Đặc biệt đối với trẻ nhỏ sức khỏe đóng vai trò vô cùng quan trọng cho sự hình
    thành và phát triển toàn diện của trẻ. Vậy trong thời gian trẻ nghỉ học để phòng
    chống dịch Covid – 19 phụ huynh cần làm gì để giúp các con có cơ thể trẻ khoẻ
    mạnh, phát triển cân đối? Để trả lời câu hỏi đó tôi xin gửi tới các bậc phụ huynh
    những “chiếc áo kỳ diệu” giúp cho các con yêu khỏe mạnh để phòng chống dịch
    bệnh Covid – 19.
    – Chiếc áo kỳ diệu thứ nhất: Cùng con yêu xây dựng và duy trì lịch sinh hoạt
    trong ngày như thời gian trẻ đi học ở trường.Giờ thức giấc, giờ ăn sáng, giờ vận
    động, giờ học, giờ vui chơi, giờ vệ sinh, giờ ăn trưa, giờ ngủ trưa, giờ ăn phụ bữa
    chiều, giờ vui chơi chiều…
    7
    Giấc ngủ có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của não và năng lực học
    tập cũng như các hoạt động của các cơ quan bên trong cơ thể trẻ. Vì vậy, cha mẹ
    đặc biệt cần quan tâm đến giờ ăn, giờ ngủ của các con.Tránh cho các con ngồi
    thời gian dài trên máy vi tính, điện thoại và tivi…
    Đặc biệt rèn cho trẻ thường xuyên rửa tay bằng xà phòng diệt khuẩn sau khi
    chơi đồ chơi, trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và khi ra ngoài về… Cho các con đeo
    khẩu trang khi đi ra ngoài.
    – Chiếc áo kỳ diệu thứ 2: Dành cho con thời gian nhiều nhất có thể
    Khi ở bên cạnh các con cha mẹ nên bố trí sắp xếp công việc một cách khoa học và
    hợp lý. Dành thời gian chơi, học cùng với con và chăm sóc con nhiều nhất có thể.
    Nên dành thời gian toàn tâm toàn ý cho con. Sự quan tâm đó sẽ tạo cho trẻ bầu
    không khí yêu thương ấm áp và sẽ mang lại cho trẻ cảm giác bình an và xoa dịu
    cảm xúc tiêu cực của trẻ.
    – Chiếc áo kỳ diệu thứ 3: Những bữa ăn ngon, ăn đẹp của con yêu
    Cùng con yêu xây dựng thực đơn đa dạng, phong phú: Cha mẹ tổ chức bữa
    ăn cho con không chỉ đơn thuần là việc các bữa ăn đầy đủ chất dinh dưỡng mà còn
    nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc con, hình thành cho con những kỹ năng cơ
    bản trong văn hóa ẩm thực nơi công cộng. Trong các bữa ăn, các con biết ý thức về
    văn hóa ẩm thực, lịch sự trong ăn uống như: không vừa nói vừa ăn, biết lấy thức
    ăn vừa đủ, không bỏ thừa đồ ăn. Nói nhẹ nhàng, không cười đùa, không vừa xem
    tivi vừa ăn hay vừa chơi
    điện thoại vừa ăn…
    Các hình thức tổ chức bữa ăn cho các con:
    Ngoài ăn cơn bằng bát, thìa cha mẹ nên chuẩn bị các đồ dùng ăn uống phong phú
    để các con yêu có thêm các kỹ năng ăn uống với dĩa, đũa, khay… và tạo sự hào
    hứng mỗi khi đến giờ ăn, các con sẽ rất vui và tỏ ra thích thú với việc được sử
    dụng nhiều loại đồ dùng trong ăn uống. Đồng thời, các con dường như chững chạc
    8
    hơn, trưởng thành hơn, tự chủ tự giác hơn, lịch sự và văn minh hơn trong ăn
    uống…
    +Hình thức: Bé ăn khay
    + Hình thức: Bé ăn đĩa với dĩa và thìa
    + Hình thức; Bé ăn cơm phần
    Bên cạnh đó, yếu tố thẩm mỹ của đồ dùng ăn uống phục vụ cho các con cũng
    là tiêu chí để cha mẹ cần quan tâm. Vì trẻ nhỏ có tư duy trực quan hình ảnh, rất dễ
    lôi cuốn bởi vẻ đẹp bên ngoài nên tôi đã chọn tông màu trắng tinh khôi với họa tiết
    hoa văn hình dợn sóng hay chiếc lá, vỏ sò…. cho khay, chén, dĩa để làm nổi bật các
    món ăn vốn dĩ có màu sắc rất đẹp mắt của trẻ, kích thích vị giác cho trẻ ăn ngon
    miệng hơn
    Luôn động viên, khuyến khích trẻ tham gia tổ chức bữa ăn cùng cha mẹ
    + Khuyến khích các con sắp xếp bàn ăn, rèn cho các con có kỹ năng tự phục
    vụ trẻ biết phối hợp và phân công khi nhận nhiệm vụ cho trẻ ( Sắp xếp bàn ghế,
    trải khăn bàn, đồ dùng phục vụ ăn uống…)
    + Duy trì thực hiện xuyên suốt các bữa ăn của các con để tạo nề nếp, thói
    quen, từ đó hình thành kỹ năng, văn hóa trong bữa ăn của các con.
    Tạo không khí vui tươi thoải mái khi các con bước vào bữa ăn. Chú ý bao
    quát, trò chuyện với các con trong giờ ăn để nắm bắt nhu cầu, sở thích của trẻ qua
    từng món ăn,t ừ đó có hướng điều chỉnh kịp thời.
    Cha mẹ thường xuyên cập nhật kiến thức ẩm thực, văn hóa ăn uống công
    công để giáo dục và hình thành ở trẻ kỹ năng, hành vi văn minh trong ăn uống .
    Việc tổ chức các bữa ăn cho trẻ bằng nhiều hình thức, các con được tham
    gia trực tiếp trong quá trình tổ chức bữa ăn: trẻ tự sắp xếp bàn ăn, trưng bày các
    món ăn và tham gia vào các bữa tiệc ẩm thực một cách hào hứng. Điều này không
    chỉ giúp các con ăn ngon miệng hơn, hấp thu tốt hơn các dưỡng chất mà còn có ý
    nghĩa rất lớn trong việc giáo dục và hình thành các kỹ năng trong văn hóa ẩm thực
    cho trẻ. Tạo dựng cho trẻ có thói quen tự lập trong bữa ăn là điều cần thiết để trẻ
    9
    có thể làm những việc mà mình yêu thích. Hãy để các con tự ăn theo ý của mình,
    nhiều hay ít, nhanh hay chậm, ăn bằng đũa hay ăn bằng thìa…. Hãy tỏ ra thoải
    mái, vui vẻ trong lúc các con ăn, nói chuyện và làm bạn đồng hành với các con.
    Làm được như vậy tôi tin rằng, chúng ta đã mang đến cho các con một “ bữa ăn
    vui, một bữa ăn ngon miệng”.
    Chúng ta là những người làm cha làm mẹ bằng những suy nghĩ, lời lẽ, hành
    động và những ảnh hưởng có thể giúp trẻ phát triển toàn diện nhất, xây dựng cá
    tính mạnh mẽ và sự hứa hẹn một tương lai tuyệt vời cho các con yêu. Chăm sóc
    giáo dục các con nhỏ là một cái gì đó hơn cả một nghề. Nó là sự tin cậy, lòng kiên
    trì và tình yêu thương bao la…
    – Để phát triển một cách toàn diện cho trẻ cần có một chế độ ăn uống và sinh
    hoạt điều độ. Tôi đã chỉ đạo giáo viên xây dựng và lên kế hoạch thực hiện chế độ
    sinh hoạt và dinh dưỡng khoa học cho trẻ. Tuy nhiên nếu trẻ chỉ thực hiện chế độ
    sinh hoạt và hoạt động này tại trường mà không có kế hoạch sinh hoạt hợp lý khi
    về nhà thì kết quả của trẻ sẽ không cao. Vì vậy tôi luôn nhắc nhở giáo viên trao đổi,
    cung cấp cho phụ huynh những thông tin cụ thể về: chế độ sinh hoạt ( thời gian ăn,
    ngủ, vui chơi…), chế độ dinh dưỡng( các thực đơn món ăn hàng ngày, cách tổ chức
    các bữa ăn ).
    – Thường xuyên tổ chức các hoạt động trải nghiệm có sự giao lưu của phụ
    huynh. Ban đầu các bậc phụ huynh còn rất e dè và ngại ngùng khi tham gia các
    hoạt động ngoại khoá này, nhưng sau một thời gian được tiếp xúc và tham gia các
    hoạt động do nhà trường tổ chức, phụ huynh cảm nhận được mối quan hệ gần gũi
    và gắn kết với nhà trường, từ đó mỗi khi có các hoạt động phụ huynh đều tự
    nguyện tham gia và đóng góp công sức để cùng tổ chức cho các con những hoạt
    động có hiệu quả cao.
    Ngoài ra để phát triển con người khỏe mạnh bên cạnh các hoạt động giáo dục
    phát triển vận động nhà trường còn chú trọng bổ sung các chất dinh dưỡng phù hợp với từng
    trẻ qua các bữa ăn tự chọn hay tiệc Buffet, bữa ăn tự chọn, ăn cơm phần… do nhà trường phối
    hợp với các bậc phụ huynh tổ chức ở cuối mỗi chủ đề.
    10
    Tiệc Buffe, bữa ăn tự chọn, ăn cơm phần của các bé yêu
    * Tuyên truyền tầm quan trọng của việc xây dựng thực đơn và các hình thức tổ
    chức bữa ăn cho trẻ với phụ huynh
    11
    * Huy động sự tham gia phối hợp của các bậc cha mẹ, cộng đồng nhằm tạo sự
    thống nhất giữa nhà trường, gia đình và xã hội cùng chăm lo cho trẻ tuổi mầm non.
    2. Giải pháp 2: Xây dựng thực đơn đa dạng, phong phú.
    Để việc thực hiện đổi mới hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ có hiệu quả, tôi
    đã xây dựng một kế hoạch thực hiện thật chi tiết, cụ thể. Sau đó, tôi tiến hành tìm
    hiểu thêm về các món ăn và cách chế biến món ăn cho trẻ qua sách dạy nấu ăn, báo,
    mạng để thực đơn của trẻ luôn ngon, phong phú và hấp dẫn trẻ. Ví dụ như sau:
    a. Thực đơn mùa đông: ( Bữa ăn trưa)
    * Tuần 1 + 3

    ThứThực đơnHình thức ăn
    2Thức ăn mặnThịt bò + thịt lợn sốt cà chuaĂn cơm phần
    CanhCanh cá quả rau cải xanh
    CơmCơm trắng
    Tráng miệngTráng miệng Caramen
    3Thức ăn mặnTrứng đúc thịt lợnĂn cơm khay
    CanhCanh riêu cua
    CơmCơm trắng
    Tráng miệngChuối tiêu
    4Thức ăn mặnTôm nõn + thịt lợn rimCơm gia đình
    CanhCanh cải ngọt nấu tôm
    CơmCơm trắng
    Tráng miệngTráng miệng dưa hấu
    5Thức ăn mặnNui ống xào bòĂn đĩa, dĩa + thìa
    CanhCủ quả luộc, canh thịt gà nấu bí
    xanh
    CơmCơm chiên
    Tráng miệngTráng miệng Thanh long
    6Thức ăn mặnCá trắm sốt cà chuaCơm gia đình
    CanhCanh rau cải chíp nấu thịt
    CơmCơm trắng
    Tráng miệngSữa chua Yakult
    7Thức ăn mặnThịt gà sốt nấmĂn cơm phần
    CanhCanh khoai tây + thịt bò
    CơmCơm trắng
    Tráng miệngChuối ngự

    * Tuần 2 + 4:
    12

    ThứThực đơnHình thức ăn
    2Thức ăn mặnTrứng đúc tôm, thịt lợnĂn cơm khay
    CanhCanh cải chíp nấu cua
    CơmCơm trắng
    Tráng miệngTráng miệng Chuối ngự
    3Thức ăn mặnThịt bò, thịt lợn kho dứaĂn cơm phần
    CanhCanh cá nấu chua
    CơmCơm trắng
    Tráng miệngTráng miệng Caramen
    4BUFFELXúc xích chiên, thịt xiên, trứng
    chim cút…
    Ăn dĩa, thìa…
    Cơn rang thập cẩm, bánh bao
    chiên, súp gà ngô non, xôi gấc, mỳ
    xào bò…
    Tráng miệng sữa chua, nước cam,
    dưa hấu, chuối, thanh long,
    thạch…
    5Thức ăn mặnThịt gà xào nấm rơmCơm gia đình
    CanhCanh bí đỏ nấu tôm
    CơmCơm trắng
    Tráng miệngDưa hấu
    6Thức ăn mặnCá chép sốt xì dầuĂn cơm phần
    CanhCanh thịt gà bắp cải
    CơmCơm trắng
    Tráng miệngSữa chua Yakult
    7Thức ăn mặnTrứng chim cút thịt băm rimĂn cơm khay
    CanhCanh ngao cà chua
    CơmCơm trắng
    Tráng miệngSữa chua

    b. Thực đơn mùa hè
    * Tuần 1 + 3 ( Bữa ăn trưa)

    ThứThực đơnHình thức ăn
    2Thức ăn mặnTôm xào thập cẩmĂn cơm phần
    CanhRiêu cua cà chua
    CơmCơm trắng
    Tráng miệngTráng miệng sữa chua Nutifut

    13

    3Thức ăn mặnTrứng chiên + thịt lợn xào giá đỗĂn cơm khay
    CanhCanh ngao mồng tơi
    CơmCơm trắng
    Tráng miệngChuối
    4Thức ăn mặnThịt lợn + thịt bò sốt chua ngọt,
    trứng rán
    Ăn cơm gia đình
    CanhCanh cua rau đay
    CơmCơm trắng
    Tráng miệngTráng miệng sữa chua Nutifood
    5Thức ăn mặnCá trắm rim xì dầuĂn rĩa + thìa
    CanhCanh bầu nấu tôm
    CơmCơm trắng
    Tráng miệngTráng miệng thanh long
    6Thức ăn mặnThịt lợn + Thịt bò xào củ quảĂn cơm khay
    CanhCanh cà chua trứng
    CơmCơm trắng
    Tráng miệngSữa chua Yakult
    7Thức ăn mặnThịt gà hầm củ quảĂn cơm phần
    CanhCanh thịt sườn su su
    CơmCơm trắng
    Tráng miệngChuối ngự

    * Tuần 2 + 4 ( Bữa ăn trưa)

    ThứThực đơnHình thức ăn
    2Thức ăn mặnThịt lợn, tôm rimĂn cơm phần
    CanhCanh ngao giá, dứa nấu chua.
    CơmCơm trắng
    Tráng miệngTráng miệng Dưa hấu
    3Thức ăn mặnCá sốt cà chuaĂn cơm khay
    CanhCanh thịt, cà chua nấu chua
    CơmCơm trắng
    Tráng miệngChuối
    4Thức ăn mặnTrứng chim cút chao dầu rim thịt
    lợn
    Cơm gia đình
    CanhCanh bầu nấu tép
    CơmCơm trắng
    Tráng miệngTráng miệng Caramen
    5Thức ăn mặnThịt lợn kho tàuĂn dĩa + thìa
    CanhCanh rau rền nấu thịt
    CơmCơm trắng

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • SKKN nâng cao hiệu quả dạy học bằng việc lồng ghép các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học trong hóa học phổ thông

    SKKN nâng cao hiệu quả dạy học bằng việc lồng ghép các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học trong hóa học phổ thông

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    MÔ TẢ BẢNG CHẤT SÁNG KIẾN
    3.1. Trình trạng giải pháp đã biết
    Định hướng chương trình giáo dục phổ thông với mục tiêu là giúp học sinh
    phát triển toàn diện về đạo đức, trí lực, thể lực, thẫm mĩ và các kĩ năng cơ bản,
    phát triển năng lực cá nhân, tính năng động, sáng tạo, hình thành nhân cách con
    người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân;
    ….(Luật giáo dục 2005). Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006 của
    Bộ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nêu: Phải phát huy tính tích cực, tự giác,
    chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng môn học, đặc điểm đối tượng
    học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự
    học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác
    động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học
    sinh.
    Để đạt các mục tiêu đó thì khâu đột phá là đổi mới phương pháp giáo dục
    từ lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy học
    Trang 2/40
    tích cực”. Làm cho “học” là quá trình kiến tạo: tìm tòi, khám phá, phát hiện, khai
    thác và xử lí thông tin,…Học sinh tự mình hình thành hiểu biết, năng lực và
    phẩm chất. “Dạy” là quá trình tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh: cách tự
    học, sáng tạo, hợp tác,…dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa học, dạy
    cách học. Học để đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai
    giúp học sinh nhận thức được những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân
    và cho sự phát triển xã hội.
    Đối với môn Hóa học: các khái niệm, định luật, các hiện tượng, bản chất hóa
    học nhiều khi rất trừu tượng, khó hiểu, khô cứng làm học sinh khó tiếp thu, dễ
    nhàm chán, đặc biệt với các học sinh có tư duy không tốt sẽ có xu hướng dẫn đến
    sợ bộ môn Hóa học.
    Việc lồng ghép các bài tập thực tiễn vào trong quá trình dạy và học, trước hết
    tạo điều kiện cho việc học và hành gắn liền với thực tế, tạo cho học sinh sự hứng
    thú, hăng say trong học tập; xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương pháp
    học tập chủ động, tích cực, sáng tạo; lòng ham học, ham hiểu biết, năng lực tự
    học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống. Bên cạnh đó, còn giúp cho học
    sinh có được những hiểu biết về hệ tự nhiên và hoạt động của nó, tác động của
    nó đối với cuộc sống của con người, học sinh nắm được những ảnh hưởng của
    những hoạt động của con người lên hệ tự nhiên. Từ đó, học sinh ý thức được
    hoạt động của bản thân trong cuộc sống, đặc biệt là đối với vấn đề môi trường.
    Và qua đó, xây dựng cho học sinh những kĩ năng quan sát, thu nhận thông tin và
    phân tích thông tin, dần hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học, phát triển
    kĩ năng nghiên cứu thực tiễn và kĩ năng tư duy để giải thích các hiện tượng thực
    tiễn, luôn chủ động trong cuộc sống. Bài tập về các hiện tượng tự nhiên giúp cho
    học sinh thấy các quá trình hóa học luôn xảy ra xung quanh ta và khi giải thích
    được các hiện tượng tự nhiên, học sinh sẽ yêu thích môn hóa học hơn.
    Trang 3/40
    Xuất phát từ những thực tế đó và với kinh nghiệm trong giảng dạy bộ
    môn hóa học, tôi nhận thấy để nâng cao hứng thú học bộ môn Hóa học của học
    sinh, từ đó dần nâng cao chất lượng bộ môn Hóa học ở trường phổ thông hiện
    nay, người giáo viên ngoài phát huy tốt các phương pháp dạy học tích cực cần
    khai thác thêm các hiện tượng hóa học thực tiễn trong đời sống đưa vào bài
    giảng bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của
    học sinh, tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập bộ môn. Đó là lí do đó
    tôi chọn đề tài: NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC BẰNG VIỆC LỒNG
    GHÉP CÁC HIỆN TƯỢNG THỰC TIỄN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN BÀI HỌC
    TRONG HÓA HỌC PHỔ THÔNG
    3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến
    3.2.1. Mục đích của giải pháp
    Vận dụng hệ thống các hiện tượng đã xây dựng để dạy học chương trình
    hóa học phổ thông nhằm giáo dục ý thức và tăng hứng thú học tập bộ môn cho
    học sinh.
    3.2.2. Điểm mới trong giải pháp
    Một số hình thức áp dụng vào bài.
    Xây dựng hệ thống một số hiện tượng hóa học thực tiễn cho các bài giảng
    trong chương trình hóa học phổ thông.
    Giải thích cụ thể từng hiện tượng thực tiễn.
    Áp dụng cụ thể vào từng bài dạy.
    3.2.3. Nội dung giải pháp:
    Học sinh thấy hứng thú và dễ ghi nhớ bài hơn nếu trong quá trình dạy và
    học giáo viên luôn có định hướng liên hệ thực tế giữa các kiến thức sách giáo
    khoa với thực tiễn đời sống hàng ngày. Rất nhiều kiến thức hóa học có thể liên
    hệ được với các hiện tượng tự nhiên xung quanh chúng ta.
    Trang 4/40
    Ví dụ: Vì sao ta để muối thô trong lọ không có nắp khi sử dụng lại dễ bị
    chảy nước?
    Giải thích: Muối ăn có thành phần chính là natri clorua ngoài ra còn có một số
    muối khác như magie clorua. Chính MgCl2 rất ưa nước, nó hấp thụ nước trong
    không khí và cũng rất dễ tan trong nước.
    Trong quá trình dạy học nếu ta chỉ áp dụng một kiểu dạy thì học sinh sẽ
    nhàm chán. Giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp dạy học lồng ghép vào
    nhau, trong đó hình thức giảng dạy bằng cách đưa ra các tình huống giả định
    kèm vào các phương pháp dạy để học sinh tranh luận vừa phát huy tính chủ
    động, sáng tạo của học sinh vừa tạo được môi trường thoải mái để các em trao
    đổi từ đó giúp học sinh thêm yêu thích môn học hơn.
    Ví dụ: Khi học về axetilen (bài Ankin-11) GV có thể đưa ra tình huống:
    Vì sao ném đất đèn xuống ao làm cá chết ? HS sẽ nhanh chóng trả lời đó là đất
    đèn có thành phần chính là canxi cacbua CaC2, khi tác dụng với nước sinh ra
    khí axetilen và canxi hiđroxit:
    CaC2 + 2H2O → C2H2 + Ca(OH)2
    Tuy nhiên nếu hỏi chất nào làm cá chết thì học sinh không dễ giải thích
    được: Axetilen có thể tác dụng với nước tạo ra anđehit axetic, chính chất này
    làm tổn thương đến hoạt động hô hấp của cá vì vậy có thể làm cá chết.
    Tình huống mang tính thách đố như vậy sẽ kích thích học sinh học tập và thi đua
    nhau tìm câu trả lời. Các em sẽ nhớ kiến thức lâu hơn.
    3.2.3.1. Một số hình thức áp dụng các hiện tượng thực tiễn trong tiết
    dạy
    * Đặt tình huống vào bài mới
    Tiết dạy có gây sự chú ý của học sinh hay không nhờ vào người hướng
    dẫn (giáo viên) rất nhiều. Trong đó phần mở đầu đặc biệt quan trọng, nếu ta biết
    đặt ra một tình huống thực tiễn hoặc một tình huống giả định yêu cầu học sinh
    Trang 5/40
    cùng tìm hiểu, giải thích qua bài học sẽ cuốn hút được sự chú ý của học sinh
    trong tiết dạy.
    * Lồng ghép tích hợp môi trường trong bài dạy
    Vấn đề môi trường: nước, không khí, đất,…đang được con người nhắc đến
    rất nhiều. Trong cuộc sống hằng ngày các hiện tượng thường xuyên bắt gặp như:
    nước thải của ao cá, chuồng heo, chuồng vịt…; khói bụi của các nhà máy xay lúa,
    các lò gạch, các cánh đồng sau thu hoạch,… có liên quan gì đến những diễn biến
    bất thường của thời tiết hiện nay không. Giáo viên dạy học bộ môn hóa có thể
    lồng ghép các hiện tượng đó vào phần sản xuất các chất, hay ứng dụng của một
    số chất… Ngoài việc gây sự chú ý của học sinh trong tiết dạy còn giáo dục ý
    thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường cho từng học sinh. Tùy vào thực trạng của
    từng địa phương mà ta lấy các hiện tượng cho cụ thể và gần gủi với các em.
    * Liên hệ thực tế trong bài dạy
    Khi học xong vấn đề gì học sinh thấy có ứng dụng thực tiễn cho cuộc sống
    thì các em sẽ chú ý hơn, tìm tòi, chủ động tư duy để tìm hiểu, để nhớ hơn. Do đó
    mỗi bài học giáo viên đưa ra được một số ứng dụng thực tiễn sẽ lôi cuốn được sự
    chú ý của học sinh.
    * Sử dụng trong giờ bài tập và kiểm tra đánh giá
    Trong các giờ bài tập, giáo viên có thể đưa vào các bài tập có nội dung
    thực tiễn mà học sinh có thể vận dụng được những kiến thức trong nội dung
    luyện tập để giải quyết hoạc thông qua một bài tập có nội dung lý thuyết, sau khi
    giải quyết xong giáo viên thông tin thêm những kiến thức thực tiễn có liên quan.
    Một số câu hỏi hoặc bài tập mang tính thực tiễn nhưng nội dung trả lời
    ngắn gọn và chỉ vận dụng thuần tuý các kiến thức lý thuyết trong các chương,
    bài mà học sinh đã được cung cấp có thể đưa vào các đề kiểm tra 15 phút, 1 tiết,
    học kỳ,..
    Trang 6/40
    Kiểm tra bài cũ có thể linh hoạt, phong phú hơn với bất kỳ nội dung nào
    có liên quan đến kiến thức bài học như vì sao khí CO lại gây ngộ độc, vì sao
    người ta lại trồng xen kẽ cây sắn với cây họ đậu…
    3.2.3.2. Hệ thống các hiện tượng hóa học thực tiễn dùng cho các bài
    giảng trong hóa học phổ thông
    *CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC 10
    Ví dụ 1. Axit clohiđric có vai trò như thế nào đối với cơ thể ?
    Giải thích: Axit clohiđric có vai trò rất quan trọng trong quá trình trao đổi chất
    của cơ thể. Trong dịch dạ dày của người có axit clohiđric với nồng độ khoảng
    chừng 0,0001 đến 0,001 mol/l (có độ pH tương ứng với là 4 và 3). Ngoài việc
    hòa tan các muối khó tan, nó còn là chất xúc tác cho các phản ứng phân hủy các
    chất gluxit (chất đường, bột) và chất protein (đạm) thành các chất đơn giản hơn
    để cơ thể có thể hấp thụ được.
    Lượng axit trong dịch dạ dày nhỏ hơn hay lớn hơn mức bình thường đều gây
    bệnh cho người. Khi trong dịch dạ dày có nồng độ axit nhỏ hơn 0,0001 mol/l
    (pH>4,5) người ta mắc bệnh khó tiêu, ngược lại nồng độ axit lớn hơn 0,001
    mol/l (pH<3,5) người ta mắc bệnh ợ chua. Một số thuốc chữa đau dạ dày chứa
    muối hiđrocacbonat NaHCO3 (còn gọi là thuốc muối) có tác dụng trung hòa bớt
    lượng axit trong dạ dày.
    NaHCO3 + HCl → NaCl + CO2 + H2O
    Áp dụng: Nhu cầu ngày càng cao của con người kéo theo nhu cầu ăn uống ngày
    càng đa dạng, phong phú. Vấn đề ăn uống ảnh hưởng dạ dày ngày càng tăng.
    Giáo viên có thể đưa vấn đề này trong phần mở bài hoặc ứng dụng của axit
    clohiđric trong bài HIDROCLORUA-AXIT CLOHRIDRIC – HÓA 10.
    Ví dụ 2. Tại sao nước máy thường dùng ở các thành phố lại có mùi khí clo ?
    Trang 7/40
    Giải thích: Trong hệ thống nước máy ở thành phố, người ta cho vào một lượng
    nhỏ khí clo vào để có tác dụng diệt khuẩn. Một phần khí clo gây mùi và một
    phần tác dụng với nước:
    Cl2 + H2O HCl + HClO
    Axit hipoclorơ HClO sinh ra có tính oxi hóa rất mạnh nên có tác dụng khử trùng,
    sát khuẩn nước. Phản ứng thuận nghịch nên clo rất dễ sinh ra do đó khi ta sử
    dụng nước ngửi được mùi clo.
    Tuy nhiên, giáo viên cũng nên đưa ra vấn đề cần chú ý khi sử dụng nước máy:
    “Clo là một khí độc, vì vậy, buổi sáng trước khi sử dụng nước máy chúng ta nên
    xả nước khoảng 2-3 phút để cho lượng Clo bị giữ lại trong ống dẫn nước máy
    sau một đêm có thể thoát hết ra ngoài, như vậy sẽ không gây độc cho người sử
    dụng.”
    Áp dụng: Vấn đề này đang được sử dụng làm sạch nước hiện nay ở các nhà máy
    nước cung cấp nước cho các thành phố, thị xã, thị trấn. Giải thích được hiện
    tượng này giúp học sinh hiểu được vai trò và ứng dụng của clo trong cuộc sống
    mà học sinh có thể kiểm nghiệm thật dể dàng. Giáo viên có thể đặt câu hỏi cho
    học sinh suy nghĩ để trả lời trong phần ứng dụng của clo trong b ài CLO – HÓA
    10
    Ví dụ 3. Vì sao trước khi luộc rau muống cân cho thêm một ít muối ăn NaCl
    ?
    Giải thích: Dưới áp suất khí quyển 1atm thì nước sôi ở 100C. Nếu cho thêm
    một ít muối ăn vào nước thì nhiệt độ sôi cao hơn 100C. Khi đó luộc rau sẽ mau
    mềm, xanh và chín nhanh hơn là luộc bằng nước không. Thời gian rau chín
    nhanh nên ít bị mất vitamin.
    Áp dụng: Đây là một vấn đề rất quen thuộc mà nếu không chú ý thì học sinh sẽ
    không biết. Học sinh dễ dàng làm thí nghiệm ngay khi nấu ăn. Từ đó góp phần
    tạo nên kinh nghiệm nấu ăn cho học sinh, rất thiết thực trong cuộc sống. Giáo
    Trang 8/40
    viên có thể nêu vấn đề trên trong phần Một số muối clorua trong bài
    HIDROCLORUA-AXIT CLOHRIDRIC- MUỐI CLORUA- HÓA 10.
    Ví dụ 4. Làm thế nào có thể khắc được thủy tinh?
    Giải thích: Muốn khắc thủy tinh người ta nhúng thủy tinh vào sáp nóng chảy,
    nhắc ra cho nguội, dùng vật nhọn khắc hình ảnh cần khắc nhờ lớp sáp mất đi, rồi
    nhỏ dung dịch HF vào thì thủy tinh sẽ bị ăn mòn ở những chổ lớp sáp bị cào đi :
    SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O
    Nếu không có dung dịch HF thì thay bằng dung dịch H2SO4 đặc và bột CaF2.
    Làm tương tự như trên nhưng ta cho bột CaF2 vào chổ cần khắc, sau đó cho thêm
    H2SO4 đặc vào và lấy tấm kính khác đặt trên chổ cần khắc. Sau một thời gian,
    thủy tinh cũng sẽ bị ăn mòn ở những nơi cạo sáp.
    CaF2 + 2H2SO4 → CaSO4 + 2HF↑ ( dùng tấm kính che lại)
    Sau đó SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O
    Áp dụng: Đây là một vấn đề rất thực tế khi mà nghề khắc thủy tinh đang phát
    triển ở nước ta. Sau bài học học sinh không những biết được phương pháp khắc
    thủy tinh mà còn có thể giải thích được vấn đề này. Thậm chí đây là cơ sở cho
    việc học nghề, khơi gợi niềm đam mê học tập, học sinh có thể tự làm thí nghiệm
    này trong tiết thực hành. Giáo viên có thể nêu vấn đề trên để dẫn dắt vào bài
    giảng bài FLO, BROM, IOT – HÓA 10.
    Ví dụ 5. Vi sao chât Florua lại bao vê đươc răng ?
    Răng được bảo vệ bởi lớp men cứng, dày khoảng 2mm. Lớp men này là hợp chất
    Ca5(PO4)3OH và được tạo thành bằng phản ứng:
    5Ca2+ + 3PO43- + OH- ⎯⎯ ⎯⎯→ Ca5(PO4)3OH (1)
    Quá trình tạo lớp men này là sự bảo vệ tự nhiên của con người chống lại bệnh
    sâu răng.
    Trang 9/40
    Sau các bửa ăn, vi khuẩn trong miệng tấn công các thức ăn còn lưu lại trên răng
    tạo thành các axit hữu cơ như axit axetic và axit lactic. Thức ăn với hàm lượng
    đường cao tạo điều kiện tốt cho việc sản sinh ra các axit đó.
    Lượng axit trong miệng tăng làm cho pH giảm, làm cho phản ứng sau xảy ra:
    H+ + OH- → H2O
    Khi nồng độ OH- giảm, theo nguyên lí Lơ-Sa-tơ-li-ê, cân bằng (1) chuyển dịch
    theo chiều nghịch và men răng bị mòn, tạo điều kiện cho sâu răng phát triển.
    Biện pháp tốt nhất phòng sâu răng là ăn thức ăn ít chua, ít đường và đánh răng
    sau khi ăn.
    Người ta thường trộn vào thuốc đánh răng NaF hay SnF2, vì ion F- tạo điều kiện
    cho phản ứng sau xảy ra:
    5Ca2+ + 3PO43- + F- → Ca5(PO4)3F
    Hợp chất Ca5(PO4)3F là men răng thay thế một phần Ca5(PO4)3OH
    Ơ nước ta, một số người có thói quen ăn trầu, việc này rất tốt cho việc tạo men
    răng theo phản ứng (1), vì trong trầu có vôi tôi Ca(OH)2, chứa các ion Ca2+ và
    OH- làm cho cân bằng (1) chuyển dịch theo chiều thuận.
    Áp dụng: Vấn đề sâu răng và phòng ngừa sâu răng được mọi người quan tâm.
    Nhưng ít ai biết rằng vì sao răng bị sâu và cơ chế phòng ngừa như thế nào. Học
    sinh sẽ rất tò mò về vấn đề này. Giáo viên có thể đề cập vấn đề này ở phần khái
    niệm về pH trong bài AXIT- BAZƠ- MUỐI. pH. CHẤT CHỈ THỊ AXITBAZƠ – HÓA 11 hay ứng dụng của flo trong bài FLO – HÓA 10 nhằm giúp
    cho học sinh có thói quen bảo vệ răng bằng cách đánh răng sau các bữa ăn.
    Ví dụ 6. Tại sao phai ăn muối iot ?
    Giải thích: Trong cơ thể con người có tồn tại một lượng iot tập trung ở tuyến
    giáp trạng. Ơ người trưởng thành lượng iot này khoảng 20-50mg. Hàng ngày ta
    phải bổ sung lượng iot cần thiết cho cơ thể bằng cách ăn muối iot. Iôt có trong
    muối ăn dạng KI và KIO3. Nếu lượng iot không cung cấp đủ thì sẽ dẫn đến tuyến
    Trang 10/40
    giáp trạng sưng to thành bướu cổ, nặng hơn là đần độn, vô sinh và các chứng
    bệnh khác.
    Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên khi kết thúc bài IOT-HÓA 10 nhằm
    giúp cho học sinh hiểu được ích lợi của việc ăn muối iot và tuyên truyền cho
    cộng đồng.
    Lĩnh vực áp dụng: Điều này đề cập trong bài giảng về Iôt( tiết 44 lớp 10) giúp
    học sinh hiểu được vai trò tại sao toàn dân phải ăn muối iôt. Giúp các em tự nhận
    thấy tầm quan trọng của muối iôt, tăng tính hiểu biết hơn.
    * Ví dụ 7. Vi sao tay một người dính cồn iot cầm bánh mi thi có châm xanh
    trên bánh mì?
    Giải thích: Do cồn iot là hỗn hợp tan của Iot và ancol etylic (C2H5OH), Iot gặp
    tinh bột tạo ra phức màu xanh dương. Điều này cũng có thể giải thích khi bôi cồn
    iot lên phía trong quả chuối xanh lại cũng có hiện tượng tương tự (do trong chuối
    xanh có tinh bột (C6H10O5)n). Nhưng nếu là chuối chín thì không thấy hiện tượng
    này (do chuối chín chuyển tinh bột thành đường Glucozo (C6H12O6). Người ta sử
    dụng tinh bột để nhận biết iot và ngược lại.
    Áp dụng: Điều này được đề cập khi dạy về Iot (ở lớp 10) và Tinh bột (ở lớp 12),
    giúp học sinh có thể giải thích 1 hiện tượng trong đời sống vì thực tế cồn iot có
    rất đại trà trong đời sống đặc biệt là trị ghẻ thú y, cung cấp cách nhận biết tinh
    bột.
    * Ví dụ 8. Vi sao khi sư dụng máy photocopy phai chu y đến viêc thông gió ?
    Chúng ta đều biết khi máy photocopy làm việc thường xảy ra hiện tượng phóng
    điện cao áp do đó có thể sinh ra khí ozon theo phản ứng:
    tia
    3O 2O 2 3 ⎯⎯⎯⎯→ löûa ñieän
    Với một lượng ít ozon trong không khí thì có tác dụng diệt khuẩn, diệt vi trùng.
    Nhưng nếu lượng ozon lại vượt qua giới hạn cho phép sẽ gây tổn hại cho đại
    não, phá hoại khả năng miễn dịch bệnh, gây mất trí nhớ, biến đổi nhiễm sắc thể,
    Trang 11/40
    gây quái thai ở phụ nữ mang thai, v.v..Thậm chí ozon còn là chất gây ung thư
    nên tác hại của ozon không thể kể hết được.
    Hiển nhiên là lượng ozon do máy photocopy sinh ra rất bé nên nếu ngẫu nhiên
    mà tiếp xúc với nó cũng chưa có thể gây nguy hại cho cơ thể. Nhưng nếu tiếp
    xúc với ozon trong thời gian dài và nếu không chú ý làm thông gió căn phòng thì
    do ozon tập hợp nhiều trong phòng đến mức vượt tiêu chuẩn an toàn thì sẽ có
    ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Cho nên khi sử dụng máy photocopy cần
    chú ý đến việc thông gió cho phòng máy.
    Áp dụng: Giáo viên có thể đề cập vấn đề trên khi nói về tác hại của ozon trong
    bài OXI – OZON – HÓA 10. Sau bài học học sinh sẽ biết được sự nguy hiểm
    khi photocopy tài liệu và biết cách tránh được sự nguy hại này.
    Ví dụ 9. Vi sao sau nhưng cơn giông, không khí trở nên trong lành, mát me
    hơn ?
    Sau những cơn mưa, nếu dạo bước trên đường phố, đồng ruộng, người ta cảm
    thấy không khí trong lành, sạch sẽ. Sở dĩ như vậy là có hai nguyên nhân:
    Nước mưa đã gội sạch bụi bẩn làm bầu không khí được trong sạch.
    Trong cơn giông đã xảy ra phản ứng tạo thành ozon từ oxi:
    tia
    3O 2O 2 3 ⎯⎯⎯⎯→ löûa ñieän
    Ozon sinh ra là chất khí màu xanh nhạt, mùi nồng, có tính oxi hóa mạnh. Ozon
    có tác dụng tẩy trắng và diệt khuẩn mạnh. Khi nồng độ ozon nhỏ, người ta cảm
    giác trong sạch, tươi mát.
    Do vậy sau cơn mưa giông trong không khí có lẫn ít ozon làm cho không khí
    trong sạch, tươi mát.
    Áp dụng: Đây là một hiện tượng tự nhiên không xa lạ với học sinh. Một số học
    sinh cho rằng đây là điều hiển nhiên vì “ sau cơn mưa trời lại sáng”. Tuy nhiên
    nhìn dưới góc độ hóa học thì ta có thể giải thích được rõ ràng vấn đề này. Giáo
    Trang 12/40
    viên có thể đề cập trong phần ứng dụng của ozon hay đặt câu hỏi trên để dẫn dắt
    vào bài mới trong bài OXI – OZON – HÓA 10.
    Ví dụ 10. Vi sao ta hay dùng bạc để “đánh gió” khi bị bênh cam ?
    Giải thích: Khi bị bệnh cảm, trong cơ thể con người sẽ tích tụ một lượng khí H2S
    tương đối cao. Chính lượng H2S sẽ làm cho cơ thể mệt mỏi. Khi ta dùng Ag để
    đánh gió thì Ag sẽ tác dụng với khí H2S. Do đó, lượng H2S trong cơ thể giảm và
    dần sẽ hết bệnh. Miếng Ag sau khi đánh gió sẽ có màu đen xám:
    4Ag + 2H2S + O2 → 2Ag2S↓ + 2H2O
    (đen)
    Áp dụng: Hiện tượng “đánh gió” đã được ông bà ta sử dụng từ rất xa xưa cho
    đến tận bây giờ để chữa bệnh cảm. Cách làm này rất có cơ sở khoa học mà mọi
    người cần phải biết. Giáo viên có thể nêu hiện tượng trên để dẫn dắt vào bài mới
    khi dạy bài HIDROSUNFUA – HÓA 10.
    * Ví dụ 11. Tại sai hiđro sunfua lại độc hại đối với người?
    Giải thích: Hiđro sunfua độc hại với người vì khi vào máu, máu hóa đen do tạo
    ra FeS làm hemoglobin của máu chứa Fe2+ bị phá huỷ:
    H2S + Fe2+ (hemoglobin) → FeS + 2H+
    Áp dụng: Giáo viên có thể nêu hiện tượng trên trong phần tính chất vật lý của
    hiđro sunfua hoặc có thể nêu hiện tượng trên để dẫn dắt vào bài mới khi dạy bài
    HIDROSUNFUA – HÓA 10.
    * Ví dụ 12. Loại đá nào có thể ăn?
    Giải thích: Khi bạn bị bệnh đau dạ dày cần phải chụp X quang. Trước khi chụp
    phim thì bác sy thường cho bạn ăn một thứ thức ăn ở dạng hồ trắng. Thành phần
    chủ yếu của thức ăn là một loại đá BaSO4.
    Nguyên do là thầy thuốc chẩn đoán bệnh đau dạ dày cho người bệnh thường phải
    chụp X quang. Chụp X quang đối với dạ dày không dễ như với các bộ phận
    xương cốt, bởi vì tỷ trọng của xương lớn, tia X khó xuyên qua, trên phim chụp
    Trang 13/40
    có thể lưu lại những hình ảnh đậm còn tỷ trọng của dạ dày và các tổ chức xung
    quanh tương đối mềm nên ảnh chụp không rõ nét.
    Khi bệnh nhân ăn xong, BaSO4 đã vào tới dạ dày thì tiến hành chụp X quang bởi
    vì BaSO4 ngăn cản tia X rất tốt. Từ đó bác sy có thể chẩn đoán chính xác tình
    trạng dạ dày.
    Áp dụng: giáo viên có thể đưa vào phần bài giảng muối sunfat trong bài AXIT
    SUNFURIC-MUỐI SUNFAT -HOÁ 10 khi kể cho học sinh biết thêm một số
    ứng dụng của muối sunfat.
    * CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC 11
    Ví dụ 13. “Hiên tương mưa axit” là gi ? Tác hại như thế nào ?
    Giải thích: Khí thải công nghiệp và khí thải của các động cơ đốt trong (ô tô, xe
    máy) có chứa các khí SO2, NO, NO2,…Các khí này tác dụng với oxi O2 và hơi
    nước trong không khí nhờ xúc tác oxit kim loại (có trong khói, bụi nhà máy)
    hoặc ozon tạo ra axit sunfuric H2SO4 và axit nitric HNO3.
    2SO2 + O2 + 2H2O → 2H2SO4
    2NO + O2 → 2NO2
    4NO2 + O2 + 2H2 O → 4HNO3
    Axit H2SO4 và HNO3 tan vào nước mưa tạo ra mưa axit. Vai trò chính của mưa
    axit là H2SO4 còn HNO3 đóng vai trị thứ hai.
    – Hiện nay mưa axit là nguồn ô nhiễm chính ở một số nơi trên thế giới. Mưa axit
    làm mùa màng thất thu và phá hủy các công trình xây dựng, các tượng đài làm từ
    đá cẩm thạch, đá vôi, đá phiến (các loại đá này thành phần chính là CaCO3):
    CaCO3 + H2SO4 → CaSO4 + CO2↑ + H2O
    CaCO3 + 2HNO3 → Ca(NO3)2 + CO2↑ + H2O
    Áp dụng: Ngày nay hiện tượng mưa axit và những tác hại của nó đã gây nên
    những hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt là ở những nước công nghiệp phát triển.
    Vấn đề ô nhiễm môi trường luôn được cả thế giới quan tâm. Việt Nam chúng ta
    Trang 14/40
    đang rất chú trọng đến vấn đề này. Do vậy mà giáo viên phải cung cấp cho học
    sinh những hiểu biết về hiện tượng mưa axit cũng như tác hại của nó nhằm nâng
    cao ý thức bảo vệ môi trường. Cụ thể giáo viên có thể đặt câu hỏi trên liên hệ
    tích hợp môi trường sau khi học xong bài HIDROSUNFUA – LƯU HUỲNH
    ĐIOXIT – LƯU HUỲNH TRIOXIT- HÓA 10 hoặc bài NITƠ – HÓA 11.
    Ví dụ 14. Vi sao không nên đổ nước vào axit sunfuric đậm đặc mà chỉ có thể
    đổ axit sunfuric đậm đặc vào nước ?
    Giải thích: Khi axit sunfuric gặp nước thì lập tức sẽ có phản ứng hóa học xảy ra,
    đồng thời sẽ tỏa ra một nhiệt lượng lớn. Axit sunfuric đặc giống như dầu và nặng
    hơn trong nước. Nếu bạn cho nước vào axit, nước sẽ nổi trên bề mặt axit. Khi
    xảy ra phản ứng hóa học, nước sôi mãnh liệt và bắn tung tóe gây nguy hiểm.
    Trái lại khi bạn cho axit sunfuric vào nước thì tình hình sẽ khác: axit sunfuric
    đặc nặng hơn nước, nếu cho từ từ axit vào nước, nó sẽ chìm xuống đáy nước, sau
    đó phân bố đều trong toàn bộ dung dịch. Như vậy khi có phản ứng xảy ra, nhiệt
    lượng sinh ra được phân bố đều trong dung dịch, nhiệt độ sẽ tăng từ từ không
    làm cho nước sôi lên một cách quá nhanh.
    Một chú ý thêm là khi pha loãng axit sunfuric bạn luôn luôn nhớ là “ phải đổ từ
    từ ” axit vào nước và không nên pha trong các bình thủy tinh. Bởi vì thủy tinh sẽ
    dễ vở khi tăng nhiệt độ khi pha.
    Áp dụng: Vấn đề an toàn khi làm thí nghiệm được đặt lên hàng đầu trong những
    tiết dạy có sử dụng hóa chất. Đặc biệt khi tiếp xúc với axit H2SO4 đặc thì rất
    nguy hiểm. Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho học sinh trả lời về cách pha
    loãng axit H2SO4 khi dạy phần tính chất vật lí của bài AXIT SUNFURICMUỐI SUNFAT – HÓA 10.
    Ví dụ 15. Vi sao khi ăn trái cây không nên đánh răng ngay ?
    Giải thích: Vì chất chua (tức axit hữu cơ) có trong trái cây sẽ kết hợp với những
    thành phần trong thuốc đánh răng theo bàn chảy sẽ tấn công các kẽ răng và gây
    Trang 15/40
    tổn thương cho lợi. Bởi vậy người ta đợi đến khi nước bọt trung hòa lượng axit
    trong trái cây nhất là táo, cam, nho, chanh…
    Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần mở rộng tính chất hóa học
    của axit, bazơ trong bài AXIT-BAZƠ-MUỐI – HÓA 11 nhằm giáo dục học
    sinh nhận thức được những thói quen hằng ngày phản khoa học trong việc bảo vệ
    răng miệng.
    Ví dụ 16. Vi sao nước rau muống đang xanh khi vắt chanh vào thi chuyển
    sang màu đỏ ?
    Giải thích: Có một số chất hóa học gọi là chất chỉ thị màu, chúng làm cho dung
    dịch thay đổi khi độ axit thay đổi. Trong rau muống (và vài loại rau khác) có
    chất chỉ thị màu này, trong chanh có 7% axit xitric. Khi chưa vắt chanh nước rau
    muống màu xanh lét là chứa chất kiềm. Vắt chanh vào nước rau làm thay đổi độ
    axit, do đó làm thay đổi màu của nước rau sang đỏ.
    Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần chất chỉ thị axit-bazơ trong
    bài SỰ ĐIỆN LI CỦA NƯỚC. pH. CHẤT CHỈ THỊ AXIT-BAZƠ – HÓA 11,
    giáo dục học sinh tìm tòi những chất chỉ thị thường gặp hằng ngày.
    Ví dụ 17. Bột nở là chât gi mà có thể làm cho bánh to ra và xốp đươc ?
    Giải thích: (NH4)2CO3 được dùng làm bột nở vì khi trộn thêm bột mì hoặc các
    bột khác, lúc nướng bánh (NH4)2CO3 phân hủy thành các chất khí và hơi làm cho
    bánh xốp và nở.

    (NH4)2CO32NH3 + CO2 + H2O

    ⎯⎯→ t0   
    Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần nhiệt phân muối amoni
    trong bài AMONIAC VÀ MUỐI AMONI – HÓA 11
    Ví dụ 18. Ca dao Việt Nam có câu:
    “Lua chim lâp ló ngoài bờ
    Hễ nghe tiếng sâm phât cờ mà lên”
    Mang ý nghĩa hóa học gì ?
    Trang 16/40
    Giải thích: Câu ca dao có nghĩa là: Khi vụ lúa chiêm đang trổ đồng mà có trận
    mưa rào kèm theo sấm chớp thì rất tốt và cho năng suất cao. Vì sao vậy ?
    Do trong không khí có khoảng 80% Nitơ và 20 % oxi. Khi có sấm chớp (tia lửa
    điện) thì:
    Sau đó: 2NO + O2 → 2NO2
    Khí NO2 hòa tan trong nước: 4NO2 + O2 + H2O → 4HNO3
    HNO3 hòa tan trong đất được trung hòa bởi một số muối tạo muối nitrat cung cấp
    N cho cây. Nhờ có sấm chớp ở các cơn mưa giông, mỗi năm trung bình mỗi mẫu
    đất được cung cấp khoảng 6-7 kg nitơ.
    Áp dụng: Đây là một câu ca dao mang ý nghĩa thực tiễn rất thường gặp trong đời
    sống. Đây quả là một kinh nghiệm được ông cha ta rút ra qua những tháng năm
    canh tác nông nghiệp. Học sinh cũng dễ dàng quan sát để kiểm nghiệm và giải
    thích được một cách khoa học về vấn đề trên. Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên
    để dẫn dắt vào bài mới khi dạy bài AXIT NITRIC HOẶC PHÂN BÓN HÓA
    HỌC – HÓA 11
    Ví dụ 19. “Thuốc chuột” là chât gi mà có thể làm chuột chết ?
    Tại sao những con chuột sau khi ăn thuốc chuột lại đi tìm nước uống. Vậy thuốc
    chuột là gì? Cái gì đã làm cho chuột chết? Nếu sau khi ăn thuốc mà không có
    nước uống thì chuột chết mau hay lâu hơn ?
    Thành phần thuốc chuột là kẽm photphua Zn3P2. Sau khi ăn, Zn3P2 bị thủy phân
    rất mạnh, hàm lượng nước trong cơ thể chuột giảm, nó khát và đi tìm nước:
    Zn3P2 + 6H2O → 3Zn(OH)2 + 2PH3↑
    Chính PH3 (photphin) đã giết chết chuột.
    Càng nhiều nước đưa vào cơ thể chuột → PH3 thoát ra nhiều → chuột càng
    nhanh chết. Nếu không có nước chuột sẽ chết lâu hơn.
    Áp dụng: Vấn đề diệt chuột đang được mọi người quan tâm vì chuột là con vật
    mang nhiều mầm bệnh truyền nhiễm cho con người và hay phá hoại mùa màng.
    Trang 17/40
    “Thuốc chuột” đang được dùng với mục đích trên. Nhưng đây là loại thuốc rất
    độc nên dể ảnh hưởng đến sức khỏe con người, vì vậy giáo viên nên hướng dẫn
    cho học sinh biết cơ chế diệt chuột của thuốc chuột nhằm biết cách sử dụng an
    toàn. Giáo viên có thể đề cập vấn đề này trong phần nêu ứng dụng của photpho
    hoặc khi lấy ví dụ để chứng minh tính oxi hóa của photpho thì giáo viên nên viết
    phương trình photpho tác dụng của với kẽm, sau đó nêu ứng dụng của sản phẩm
    ( Zn3P2) trong bài PHOTPHO – HÓA 11.
    Ví dụ 20. “Ma trơi” là gi ? Ma trơi thường xuât hiên ở đâu ?
    Giải thích: Trong xương của động vật luôn có chứa một hàm lượng photpho. Khi
    cơ thể động vật chết đi, nó sẽ phân hủy một phần thành photphin PH3 và lẫn một
    ít điphotphin P2H4. Photphin không tự bốc cháy ở nhiệt độ thường. Khi đun nóng
    đến 150oC thì nó mới cháy được. Còn điphotphin P2H4 thì tự bốc cháy trong
    không khí và tỏa nhiệt. Chính lượng nhiệt tỏa ra trong quá trình này làm cho
    photphin bốc cháy:
    2PH3 + 4O2 → P2O5 + 3H2O
    Quá trình trên xảy ra cả ngày lẫn đêm nhưng do ban ngày có các tia sáng của mặt
    trời nên ta không quan sát rõ như vào ban đêm.
    Hiện tượng ma trơi chỉ là một quá trình hóa học xảy ra trong tự nhiên. Thường
    gặp ma trơi ở các nghĩa địa vào ban đêm.
    Áp dụng: Đây là một hiện tượng tự nhiên chứ không phải là một hiện tượng
    “thần bí ” nào đó, tránh tình trạng mê tín dị đoan, làm cho cuộc sống thêm lành
    mạnh. Vấn đề này có thể được đề cập ở phần trạng thái tự nhiên trong bài
    PHOTPHO – HÓA 11
    Ví dụ 21. Người ta biết chât diêp lục trong cây xanh có công thức phân tư
    C55H70O5N4Mg. Cây xanh tạo chât này nhờ CO2 (trong không khí), hiđro (từ
    nước trong đât) và các chât vô cơ là nitơ, magie (từ đât lên). Khi cây bị vàng lá
    Trang 18/40
    người ta nghi là không đủ chât diêp lục. Vậy theo em nên bón loại phân nào
    giup cây tạo chât diêp lục hiêu qua nhât ?
    Giải thích: Nên dùng phân đạm như phân magie nitrat và amoni sunfat vì 2 loại
    phân này có Mg và N cung cấp cho cây.
    Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề vào bài hoặc liên
    hệ thực tế ở phần phân đạm trong bài PHÂN BÓN HÓA HỌC – HÓA 11.
    Ví dụ 22. Tại sao khi đi gần các sông, hồ bẩn vào ngày nắng nóng, người ta
    ngưi thây mùi khai ?
    Giải thích: Khi nước sông, hồ bị ô nhiễm nặng bởi các chất hữu cơ giàu đạm như
    nước tiểu, phân hữu cơ, rác thải hữu cơ… thì lượng urê trong các chất hữu cơ
    này sinh ra nhiều. Dưới tác dụng của men ureaza của các vi sinh vật, urê bị phân
    hủy tiếp thành CO2 và amoniac NH3 theo phản ứng:
    (NH2)2CO + H2O CO2 + 2NH3
    NH3 sinh ra hòa tan trong nước sông, hồ dưới dạng một cân bằng động. Như vậy
    khi trời nắng (nhiệt độ cao), NH3 sinh ra do các phản ứng phân hủy urê chứa
    trong nước sẽ không hòa tan vào nước mà bị tách ra bay vào không khí làm cho
    không khí xung quanh sông, hồ có mùi khai khó chịu.
    Áp dụng: Đây là hiện tượng thường gặp quanh hồ, ao, nhất là vào mùa khô, nắng
    nóng. Giáo viên có thể nêu vấn đề ở phần phân ure trong bài PHÂN BÓN HÓA
    HỌC – HÓA 11.
    Ví dụ 23. Vi sao người ta dùng tro bếp để bón cho cây ?
    Giải thích: Trong tro bếp có chứa muối K2CO3 cung cấp nguyên tố kali cho cây.
    Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần đặt vấn đề vào bài hoặc liên
    hệ thực tế ở phần phân kali trong bài PHÂN BÓN HÓA HỌC – HÓA 11.
    Ví dụ 24. Tại sao để cai tạo đât ở một số ruộng chua người ta thường bón bột
    vôi ?
    Trang 19/40
    Giải thích: Thành phần của bột vôi gồm CaO và Ca(OH)2 và một số ít CaCO3.
    Ơ ruộng chua có chứa axit, pH < 7, nên sẽ có phản ứng giữa axit với CaO,
    Ca(OH)2 và một ít CaCO3 làm giảm tính axit nên ruộng sẽ hết chua.
    Áp dụng: Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức các bài đã học
    để trả lời khi kết thúc bài PHÂN BÓN HÓA HỌC – HÓA 11.
    Ví dụ 25. Làm thế nào để biết dưới giếng có khí độc (CO) hoặc nhiều khí
    thiên nhiên (CH4…) và không có oxi, để tránh khi xuống giếng bị ngạt?
    Giải thích: Trong các giếng đào đặc biệt nhiều ở vùng đồng bằng thường có khí
    độc CO, CH4… và không có O2. Mà người dân chúng ta hay có thói quen xuống
    giếng thau giếng hoặc vì lấy gầu múc nước… Đã có nhiều trường hợp bị tử vong
    một lúc nhiều mạng người vì gặp phải giếng có khí độc (CO) gây đông máu,
    CH4… và không có O2 gây ngạt trong tíc tắc, làm người xuống cứu cũng chết.
    Để tránh, tốt nhất không nên xuống các giếng đào, nếu có xuống phải đeo bình
    oxi. Còn muốn biết có khí độc(CO), hoặc nhiều khí thiên nhiên(CH4…) và
    không có O2 chỉ cần lấy dây buộc một con gà, vịt … thả xuống nếu nó chết thì
    chứng tỏ có khí độc.
    Áp dụng: Đây là một hiện tượng hay xảy ra, giáo viên nên đưa vào bài giảng để
    nhắc nhở học sinh, cộng đồng …tránh những cái chết thương tâm. Vấn đề này có
    thể xen vào bài dạy CACBON LỚP 11.
    Ví dụ 26. Tại sao khi cơm bị khê, ông bà ta thường cho vào nồi cơm một mẫu
    than củi ?
    Do than củi xốp, có tính hấp phụ nên hấp phụ hơi khét của cơm làm cho cơm đỡ
    mùi khê.
    Áp dụng: Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho phần liên hệ thực tế trong bài :
    CACBON – HÓA 11.
    Ví dụ 27. Vi sao khi mở binh nước ngọt có ga lại có nhiều bọt khí thoát ra ?
    Trang 20/40
    Giải thích: Nước ngọt không khác nước đường mấy chỉ có khác là có thêm khí
    cacbonic CO2. Ơ các nhà máy sản xuất nước ngọt, người ta dùng áp lực lớn để ép
    CO2 hòa tan vào nước. Sau đó nạp vào bình và đóng kín lại thì thu được nước
    ngọt.
    Khi bạn mở nắp bình, áp suất bên ngoài thấp nên CO2 lập tức bay vào không
    khí. Vì vậy các bọt khí thoát ra giống như lúc ta đun nước sôi. Về mùa hè người
    ta thường thích uống nước ngọt ướp lạnh.

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • Sử dụng bài tập thực tiễn dạy học phần kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm phát triển năng lực vận dụng kiến thức của học sinh

    Sử dụng bài tập thực tiễn dạy học phần kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm phát triển năng lực vận dụng kiến thức của học sinh

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    1. Lí do chọn đề tài
    Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW – ngày
    4/11/2013) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi
    mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực,
    chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối
    truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ,
    khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ
    năng, phát triển năng lực… Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành ph m
    chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề
    nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý
    tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực
    hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn…”
    Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo
    dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan
    tâm đến việc học sinh học được những gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng được
    những gì vào thực tiễn sau quá trình học tập. Để đạt được điều đó, việc dạy học ở
    trường phổ thông phải được đổi mới đồng bộ cả về nội dung, phương pháp, hình
    thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá. Trong quá trình dạy học nói chung và dạy
    học bộ môn Hóa học nói riêng, việc sử dụng bài tập là không thể thiếu. Bài tập vừa
    là mục đích vừa là nội dung và cũng là phương pháp dạy học hiệu quả. Bài tập
    không chỉ cung cấp cho học sinh kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và còn
    mang lại niềm vui của sự phát hiện, của sự tìm ra đáp số. Nếu thông qua việc giải
    một bài tập mà học sinh có thể giải đáp được những tình huống có vấn đề nảy sinh
    trong đời sống, trong lao động, sản xuất thì sẽ làm tăng lòng say mê học hỏi, phát
    triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề. Tăng cường sử dụng bài tập thực
    tiễn trong dạy và học hoá học sẽ góp phần thực hiện nguyên lí giáo dục: học đi đôi
    với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn.
    Tuy nhiên, trong chương trình sách giáo khoa và sách bài tập hoá học THPT
    hiện nay, số lượng các bài tập thực tiễn còn rất hạn chế (khoảng 17,5%). Vì vậy học
    sinh có thể giải thành thạo các bài tập hoá học định tính, định lượng về cấu tạo chất,
    2
    về sự biến đổi các chất rất phức tạp nhưng khi cần phải dùng kiến thức hoá học để
    giải quyết một tình huống cụ thể trong thực tiễn thì lại rất lúng túng. Điều này khiến
    cho việc phát triển NLVDKT vào thực tiễn của học sinh bị hạn chế, chưa đáp ứng
    được yêu cầu đổi mới giáo dục theo định hướng phát triển năng lực.
    Chính vì những lí do trên tôi chọn đề tài: “Sử dụng bài tập thực tiễn dạy học
    phần kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm (Hoá học 12) phát triển năng lực
    vận dụng kiến thức của học sinh”.
    2. Lịch sử nghiên cứu
    Hiện nay, theo định hướng đổi mới giáo dục, nhiều tác giả đã quan tâm nghiên
    cứu tới vấn đề sử dụng bài tập thực tiễn nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến
    thức của học sinh như:
    – Đỗ Công Mỹ, 2005, Xây dựng, lựa chọn hệ thống câu hỏi lý thuyết và bài tập thực
    tiễn môn hóa học trung học phổ thông (phần hóa đại cương và vô cơ), Luận văn
    thạc sĩ giáo dục học, trường Đại học sư phạm Hà Nội.
    – Nguyễn Thị Hằng, 2007, Xây dựng, lựa chọn hệ thống bài tập thực tiễn THPT
    (phần hóa hữu cơ), luận văn thạc sĩ khoa học, trường Đại học sư phạm Hà Nội.
    – Đặng thị Thanh Giang, 2009, Phát triển năng lực nhận thức và tư duy của học sinh
    thông qua hệ thống bài tập hóa học có liên quan đến thực tiễn và môi trường (phần
    vô cơ – hóa học THPT), luận văn thạc sĩ giáo dục học, trường Đại học Giáo dục, Đại
    học Quốc Gia Hà Nội.
    – Đậu Thị Thịnh, 2011, Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức hóa
    học vào thực tiễn cho học sinh THPT phần hữu cơ lớp 12 nâng cao, Luận văn Thạc
    sĩ sư phạm, trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội.
    – Lê Thị Kim Thoa, 2012, Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập hóa học gắn
    với thực tiễn dùng trong dạy học hóa học ở trường phổ thông, Luận văn Thạc sĩ
    Giáo dục, trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh…
    Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào tập trung xây dựng và đề xuất biện pháp sử
    dụng bài tập thực tiễn phần kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm (Hóa học 12) để
    phát triển năng lực vận dụng kiến thức của học sinh trung học phổ thông. Đây là
    một trong những phần kiến thức trọng tâm của hóa học 12, đồng thời cũng có nhiều
    3
    kiến thức gắn liền với thực tế đời sống và sản xuất của con người. Vì vậy tôi chọn
    đề tài này với hi vọng đóng góp một phần vào kho tài liệu dạy – học Hóa học.
    3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
    3.1.Mục đích nghiên cứu
    Xây dựng, sử dụng hệ thống câu hỏi lý thuyết và bài tập thực tiễn phần kim loại
    kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm (hóa học 12) nhằm góp phần nâng cao chất lượng
    dạy và học hoá học.
    3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
    – Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học phát triển năng lực vận dụng
    kiến thức, mối quan hệ giữa hoá học và các vấn đề thực tiễn.
    – Xây dựng, lựa chọn hệ thống câu hỏi lý thuyết và bài tập thực tiễn phần kim loại
    kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm – Hóa 12.
    – Đề xuất việc sử dụng hệ thống bài tập thực tiễn trong dạy học hoá học nhằm phát
    triển năng lực vận dụng kiến thức của học sinh.
    – Thiết kế kế hoạch, giáo án bài dạy và thiết kế công cụ đánh giá sự phát triển năng
    lực vận dụng kiến thức của học sinh.
    – Thực nghiệm sư phạm nhằm xác định tính hiệu quả của đề tài.
    4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
    4.1. Câu hỏi nghiên cứu
    Dạy học sử dụng các bài tập thực tiễn giúp học sinh rèn luyện và phát triển năng lực
    vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn như thế nào?
    4.2. Giả thuyết nghiên cứu
    Nếu giáo viên xây dựng được hệ thống bài tập thực tiễn đảm bảo chất lượng và sử
    dụng chúng một cách hợp lý thì sẽ phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực
    tiễn của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
    5. Phương pháp nghiên cứu
    – Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến bài tập hóa
    học thực tiễn, năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn của HS phổ thông.
    – Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: trao đổi, tiếp thu ý kiến đóng góp của các giáo
    viên giàu kinh nghiệm. Kiểm nghiệm các biện pháp đã đề ra qua một số giờ dạy
    4
    thực nghiệm ở một số lớp đã chọn. Trên cơ sở đó kiểm tra, đánh giá, bổ sung và
    chỉnh sửa để tăng thêm tính khả thi của các biện pháp đó.
    – Phương pháp thống kê xử lí thông tin: Thống kê, xử lý các dữ liệu thu thập được
    qua quá trình thực nghiệm sư phạm bằng các phần mềm hỗ trợ như excel,…
    6. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
    6.1. Khách thể nghiên cứu
    Quá trình dạy học ở trường phổ thông.
    6.2. Đối tượng nghiên cứu
    – Bài tập hóa học gắn với thực tiễn trong phần Kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ,
    nhôm, chương trình Hóa học 12.
    – Các biện pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức của HS trung học phổ thông.
    7. Phạm vi nghiên cứu
    Tập trung nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập hóa học gắn với thực tiễn
    trong phần kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm (Hóa học 12) và biện pháp sử
    dụng chúng nhằm phát triển NLVDKT của HS.
    8. Đóng góp của luận văn
    Luận văn nghiên cứu tổng quan các vấn đề lí thuyết liên quan đến NLVDKT và
    BTTT, góp phần làm sáng tỏ các nội dung về NLVDKT.
    Tuyển chọn và xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập thực tiễn phần kim loại kiềm,
    kim loại kiềm thổ, nhôm (Hóa học 12), đồng thời đề xuất biện pháp sử dụng hệ
    thống BTTT trong quá trình dạy học nhằm phát triển NLVDKT của HS.
    Thiết kế bộ công cụ đánh giá NLVDKT của HS.
    9. Cấu trúc luận văn
    Luận văn gồm các phần:
    MỞ ĐẦU
    Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài.
    Chương 2: Sử dụng hệ thống bài tập thực tiễn trong dạy học phần kim loại
    kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm – hóa 12.
    Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
    KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    5
    CHƯƠNG 1
    CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
    1.1. Quan điểm giáo dục phổ thông, mục tiêu giáo dục Việt Nam hiện nay
    1.1.1. Quan điểm giáo dục phổ thông Việt Nam hiện nay
    Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết
    số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu
    CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc
    tế đã chỉ rõ quan điểm: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo
    nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị
    kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và ph m chất người học. Học đi đôi
    với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia
    đình và giáo dục xã hội”.
    Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2015 cũng xác định rõ:
    “Chương trình giáo dục cấp trung học phổ thông nhằm giúp học sinh hình thành
    ph m chất và năng lực của người lao động, nhân cách công dân, ý thức quyền và
    nghĩa vụ đối với Tổ quốc trên cơ sở duy trì, nâng cao và định hình các ph m chất,
    năng lực đã hình thành ở cấp trung học cơ sở; có khả năng tự học và ý thức học tập
    suốt đời, có những hiểu biết và khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng
    lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề
    hoặc bước vào cuộc sống lao động”.
    Như vậy có thể thấy rõ, quan điểm giáo dục phổ thông của nước ta hiện nay chú
    trọng tới:
    – Bồi dưỡng năng lực tự học, học suốt đời, học để nâng cao trình độ chuyên môn,
    học để chuyển đổi nghề nghiệp….
    – Rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề nảy sinh
    trong đời sống, lao động và sản xuất.
    – Khích lệ học sinh phát huy tính chủ động trong việc chiếm lĩnh tri thức, phát huy
    tính sáng tạo trong việc vận dụng kiến thức để giải quyết tình huống có vấn đề nảy
    sinh trong học tập và trong thực tiễn.
    1.1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ giảng dạy môn hoá học ở bậc THPT
    1.1.2.1. Mục tiêu
    6
    Môn hoá học trường phổ thông cung cấp cho học sinh hệ thống kiến thức, kĩ
    năng phổ thông, cơ bản, hiện đại, thiết thực và gắn với đời sống. Nội dung chủ yếu
    bao gồm cấu tạo chất, sự biến đổi của các chất, những ứng dụng và tác hại của các
    chất trong đời sống, sản xuất, môi trường. Những nội dung này góp phần giúp học
    sinh có học vấn phổ thông tương đối toàn diện để có thể tiếp tục học lên đồng thời
    có thể giải quyết một số vấn đề có liên quan đến hoá học trong đời sống và sản xuất,
    mặt khác góp phần phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề cho học
    sinh.
    1.1.2.2. Nhiệm vụ
    a. Kiến thức: Phát triển và hoàn chỉnh những kiến thức hoá học ở cấp trung học cơ
    sở, cung cấp một hệ thống kiến thức hoá học phổ thông, cơ bản, hiện đại, thiết thực
    gồm:
    – Hoá đại cương: Bao gồm hệ thống lí thuyết chủ đạo, làm cơ sở để nghiên cứu các
    chất hoá học cụ thể. Mức độ lí thuyết đề cập chủ yếu ở mức định tính, một phần ở
    mức định lượng hoặc bán định lượng, giúp học sinh vận dụng để xem xét các đối
    tượng hoá học cụ thể.
    – Hoá vô cơ: Vận dụng lí thuyết chủ đạo nghiên cứu các đối tượng cụ thể như nhóm
    nguyên tố, những nguyên tố điển hình và các hợp chất có nhiều ứng dụng quan
    trọng, gần gũi trong đời sống, sản xuất hoá học.
    – Hoá hữu cơ: Vận dụng lí thuyết chủ đạo nghiên cứu các hợp chất hữu cơ cụ thể,
    một số dãy đồng đẳng hoặc loại chất hữu cơ tiêu biểu, có nhiều ứng dụng, gần gũi
    trong đời sống sản xuất.
    – Trong chương trình còn có thêm một số vấn đề:
    + Phân tích hoá học: phương pháp phân biệt và tách các chất thông dụng.
    + Hoá học về vấn đề kinh tế: vai trò của sản xuất hoá học trong việc nâng cao chất
    lượng cuộc sống (các vật liệu mới, chất mới, sản ph m mới, năng lượng mới…)
    + Hoá học và vấn đề xã hội: vai trò của hoá học đối với sự phát triển của xã hội.
    + Hoá học và vấn đề môi trường: mối liên quan giữa các hoạt động của con người,
    giữa sản xuất hoá học với sự ô nhiễm môi trường, phương pháp xử lí chất thải.
    7
    Những vấn đề trên vừa được lồng ghép trong khi học về các chất cụ thể vừa
    được tách ra thành chương trình riêng nhằm tăng thêm tính thiết thực của chương
    trình.
    b. Kĩ năng: Phát triển các kĩ năng hoá học, kĩ năng giải quyết vấn đề nhằm phát
    triển năng lực nhận thức và năng lực hành động cho học sinh như:
    – Quan sát thí nghiệm, phân tích, dự đoán, kết luận và kiểm tra kết quả….
    – Làm việc với tài liệu giáo khoa và các tài liệu tham khảo: tóm tắt nội dung chính,
    thu thập tài liệu, phân tích và kết luận…
    – Thực hiện một số thí nghiệm hoá học độc lập và theo nhóm.
    – Cách làm việc hợp tác với các học sinh khác trong nhóm nhỏ để hoàn thành một
    nhiệm vụ nghiên cứu.
    – Vận dụng kiến thức để giải quyết một số vấn đề đơn giản của cuộc sống hàng ngày
    có liên quan đến hoá học.
    – Lập kế hoạch giải một bài tập hoá học, thực hiện một vấn đề thực tế, một thí
    nghiệm, một đề tài nhỏ có liên đến hoá học….
    c. Thái độ: Tiếp tục hình thành và phát triển thái độ tích cực ở học sinh như:
    – Hứng thú học tập môn hoá học.
    – Có ý thức trách nhiệm đối với một vấn đề của cá nhân, tập thể, cộng đồng có liên
    quan đến hoá học.
    – Nhìn nhận và giải quyết vấn đề một cách khách quan, trung thực trên cơ sở phân
    tích khoa học.
    – Có ý thức vận dụng những điều đã biết về hoá học vào cuộc sống và vận động
    người khác cùng thực hiện.
    1.2. Năng lực và dạy học theo định hướng phát triển năng lực
    1.2.1. Khái niệm và cấu trúc năng lực [4]
    1.2.1.1. Khái niệm
    Theo Từ điển Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân, “Năng lực là khả năng đảm
    nhận công việc và thực hiện tốt công việc đó nhờ có ph m chất đạo đức và trình
    độ chuyên môn.”
    Ngoài ra, khái niệm năng lực được tiếp cận theo nhiều quan điểm khác như:
    8
    – Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc như là
    các khả năng, hình thành qua trải nghiệm/củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa
    qua ý chí (John Erpenbeck – 1998).
    – Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành
    công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” (OECD, 2002).
    – Năng lực là các khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học
    được… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Năng lực cũng hàm chứa
    trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử
    dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp… trong những tình
    huống thay đổi (Weinert, 2001).
    Như vậy, có thể nhìn nhận một cách tổng quát, năng lực luôn gắn với khả năng
    thực hiện, nghĩa là phải biết làm chứ không dừng lại ở hiểu. Hành động “làm”
    ở đây lại gắn với những yêu cầu cụ thể về kiến thức, kĩ năng, thái độ để đạt được
    kết quả.
    1.2.1.2. Cấu trúc
    Hình 1.1. Mô hình cấu trúc năng lực thực hiện
    Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc
    của chúng. Có nhiều loại năng lực khác nhau. Việc mô tả cấu trúc và các thành
    phần năng lực cũng khác nhau. Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả
    là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phương
    pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể.
    9
    – Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm
    vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có
    phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung
    chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động.
    – Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với
    những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các
    nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp
    chung và phương pháp chuyên môn. Trung tâm của phương pháp nhận thức là
    những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Nó được
    tiếp nhận qua việc học phương pháp luận – giải quyết vấn đề.
    – Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những
    tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong
    sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác. Nó được tiếp nhận qua việc học
    giao tiếp.
    – Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được
    những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu,
    xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chu n giá trị
    đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử. Nó được tiếp nhận qua
    việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm.
    Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh
    vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau. Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp
    người ta cũng mô tả các loại năng lực khác nhau. Ví dụ năng lực của GV bao gồm
    những nhóm cơ bản sau: Năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực ch n đoán
    và tư vấn, năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học.
    Từ cấu trúc của khái niệm NL cho thấy giáo dục định hướng phát triển NL
    không chỉ nhằm mục tiêu phát triển NL chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng
    chuyên môn mà còn phát triển NL phương pháp, NL xã hội và NL cá thể. Những
    NL này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ. Năng lực hành động được
    hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các NL này.
    10
    1.2.2. Các năng lực cơ bản của học sinh trung học phổ thông [2]
    Năng lực của học sinh là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng,
    thái độ… phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực
    hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho
    chính các em trong cuộc sống.
    Theo quan điểm đổi mới giáo dục, năng lực chung là những năng lực cơ bản,
    thiết yếu hoặc cốt lõi làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong
    cuộc sống và lao động nghề nghiệp, bao gồm:
    – Năng lực tự học
    – Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
    – Năng lực th m mỹ
    – Năng lực thể chất
    – Năng lực giao tiếp
    – Năng lực hợp tác
    – Năng lực tính toán
    – Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông
    Từ các ph m chất và năng lực chung, mỗi môn học xác định những ph m chất, và
    năng lực cá biệt và những yêu cầu đặt ra cho từng môn học, từng hoạt động giáo dục.
    Đối với môn Hóa học, cần hình thành và phát triển ở HS một số năng lực đặc thù như:
    – Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học
    – Năng lực thực hành hóa học
    – Năng lực tính toán hóa học
    – Năng lực giải quyết vấn đề
    – Năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống.
    Trong các NL trên, NLVDKT là một trong các NL đặc thù, cần thiết phải phát triển
    cho HS trong quá trình học tập.
    1.3. Vai trò của việc vận dụng kiến thức trong quá trình học tập và nhận thức
    [9]
    Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích
    cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết
    11
    vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt
    động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn.
    Việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh có ý nghĩa quan trọng
    trong việc giải quyết những nhiệm vụ đặt ra của học sinh như: vận dụng kiến thức
    để giải bài tập, tiếp thu và xây dựng tri thức cho những bài học mới hay cao nhất là
    vận dụng để giải quyết những vấn đề trong thực tiễn cuộc sống của các em. Phát
    triển năng lực vận dụng kiến thức có thể giúp cho học sinh:
    – Nắm vững kiến thức đã học để vận dụng những kiến thức giải quyết những bài tập
    hay xây dựng kiến thức cho bài học mới; nắm vững kiến thức đã học, có khả năng
    liên hệ, liên kết các kiến thức bởi những vấn đề thực tiễn liên quan đến kiến thức
    khoa học.
    – Vận dụng các kiến thức, kĩ năng vào trong học tập, trong cuộc sống giúp các em
    HS xây dựng được thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích
    cực, sáng tạo; lòng ham học, ham hiểu biết; năng lực tự học.
    – Hình thành cho học sinh kĩ năng quan sát, thu thập, phân tích và xử lý thông tin,
    hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học; hình thành và phát triển kĩ năng
    nghiên cứu thực tiễn; có tâm thế luôn luôn chủ động trong việc giải quyết những
    vấn đề đặt ra trong thực tiễn.
    – Giúp cho học sinh có được những hiểu biết về thế giới tự nhiên, chu kỳ hoạt động
    và tác động tích cực cũng như tiêu cực đối với cuộc sống con người cũng như ảnh
    hưởng của con người đến thế giới tự nhiên.
    – Thông qua việc hiểu biết về thế giới tự nhiên bằng việc vận dụng kiến thức đã học
    để tìm hiểu giúp các em ý thức được hoạt động của bản thân, có trách nhiệm với
    chính mình, với gia đình, nhà trường và xã hội ngay trong cuộc sống hiện tại cũng
    như tương lai sau này của các em.
    – Đem lại niềm vui, tạo hứng thú học tập cho học sinh. Phát triển ở các em tính tích
    cực, tự lập, sáng tạo để vượt qua khó khăn, tạo hứng thú trong học tập.
    1.4. Dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức của học sinh phổ thông
    1.4.1. Khái niệm năng lực vận dụng kiến thức [10]
    Năng lực vận dụng kiến thức là khả năng của bản thân người học tự giải quyết
    được những vấn đề đặt ra một cách nhanh chóng và hiệu quả bằng cách sử dụng các
    12
    kiến thức đã được lĩnh hội vào những tình huống, hoạt động thực tiễn để tìm hiểu
    thế giới xung quanh và có khả năng biến đổi nó. NLVDKT thể hiện ph m chất nhân
    cách của con người trong quá trình hoạt động để thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri
    thức.
    1.4.2. Cấu trúc của năng lực vận dụng kiến thức
    Cấu trúc NLVDKT thể hiện:
    – Năng lực hệ thống hóa kiến thức, phân loại kiến thức đã học.
    – Năng lực phân tích tổng hợp các kiến thức hóa học vận dụng vào cuộc sống thực
    tiễn.
    – Năng lực phát hiện các nội dung kiến thức hóa học được ứng dụng trong các vấn
    đề thuộc các lĩnh vực khác nhau.
    – Năng lực phát hiện các vấn đề trong thực tiễn và sử dụng kiến thức hóa học để giải
    thích.
    – Năng lực độc lập sáng tạo trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn.
    1.4.3. Những biểu hiện của năng lực vận dụng kiến thức
    Theo tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng
    phát triển NL HS các biểu hiện NLVDKT của HS bao gồm [3, tr. 52-53]:
    NL hệ thống hóa kiến thức: Có NL hệ thống hóa kiến thức, phân loại kiến thức
    hóa học, hiểu rõ đặc điểm, nội dung, thuộc tính của loại kiến thức hóa học đó. Khi
    vận dụng kiến thức chính là việc lựa chọn kiến thức một cách phù hợp với mỗi hiện
    tượng, tình huống cụ thể xảy ra trong cuộc sống, tự nhiên và xã hội.
    NL phân tích tổng hợp các kiến thức hóa học vận dụng vào cuộc sống thực
    tiễn: Định hướng được các kiến thức hóa học một cách tổng hợp và khi vận dụng
    kiến thức hóa học có ý thức rõ ràng về loại kiến thức hóa học đó được ứng dụng
    trong các lĩnh vực gì, ngành nghề gì, trong cuộc sống, tự nhiên và xã hội.
    NL phát hiện các nội dung kiến thức hóa học được ứng dụng trong các vấn
    đề thuộc các lĩnh vực khác nhau: Phát hiện và hiểu rõ được các ứng dụng của hóa
    học trong các vấn đề thực ph m, sinh hoạt, y học, sức khỏe, khoa học thường thức, sản
    xuất công nghiệp, nông nghiệp và môi trường.
    NL phát hiện các vấn đề trong thực tiễn và sử dụng kiến thức hóa học để giải
    thích: Tìm mối liên hệ và giải thích được các hiện tượng trong tự nhiên và các ứng
    13
    dụng của hóa học trong cuộc sống và trong các lĩnh vực đã nêu trên dựa vào các
    kiến thức hóa học và các kiến thức liên môn khác.
    NL độc lập sáng tạo trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn: Chủ động sáng tạo
    lựa chọn phương pháp, cách thức GQVĐ. Có NL hiểu biết và tham gia thảo luận
    về các vấn đề hóa học liên quan đến cuộc sống thực tiễn và bước đầu biết tham gia
    nghiên cứu khoa học để giải quyết các vấn đề đó.
    1.4.4. Biện pháp rèn luyện và phát triển năng lực vận dụng kiến thức
    – Hình thành cho HS hệ thống kiến thức cơ bản vững vàng sâu sắc về các khái niệm,
    các định luật, các tính chất, các quy luật…
    – Rèn luyện cho HS năng lực tư duy logic chính xác thông qua các thao tác: quan
    sát, phân tích, tổng hợp, và dựa vào bản chất của vấn đề để tìm ra cách giải quyết
    ngắn gọn, sáng tạo.
    – Rèn luyện năng lực tư duy khái quát về các môn học: Năng lực khái quát cao là
    khả năng phát hiện những nét chung, bản chất của các vấn đề, các đối tượng để đưa
    vấn đề đó về một kiểu nhất định. Trong giải bài tập hóa học, khả năng khái quát thể
    hiện ở năng lực của HS biết phân dạng bài tập hóa học và biết tìm phương pháp giải
    chung cho từng dạng bài.
    – Rèn khả năng độc lập suy nghĩ: là khả năng biết tự đặt ra vấn đề, giải quyết vấn
    đề, kiểm tra cách giải quyết vấn đề, không thỏa mãn với những cái có sẵn, luôn luôn
    tìm ra cách giải quyết mới trong cả những dạng bài tập quen thuộc.
    – Rèn năng lực vận dụng kiến thức thông qua việc tìm các cách giải của một bài tập.
    – Phát triển năng lực vận dụng kiến thức của HS thông qua việc hướng dẫn HS ra
    đề, tự giải và tự kiểm định kết quả. Tích cực liên hệ giữa các kiến thức lý thuyết với
    các hiện tượng thực tiễn, các vấn đề liên quan trong thực tiễn đời sống và sản xuất.
    – Phát triển năng lực vận dụng kiến thức của HS gắn liền với việc rèn luyện phong
    cách làm việc khoa học.
    1.4.5. Đánh giá năng lực vận dụng kiến thức [1]
    1.4.5.1. Tiêu chí đánh giá năng lực vận dụng kiến thức
    Để đánh giá được NLVDKT của HS, ta phải xác định được các biểu hiện của
    năng lực này và xây dựng bộ tiêu chí, công cụ đánh giá. Sau đây là một số tiêu chí
    chúng tôi đề nghị để đánh giá các mức độ khác nhau của NLVDKT:
    14
    Bảng 1.1. Tiêu chí đánh giá năng lực vận dụng kiến thức

    Tiêu chíChưa đạt
    (0-4 điểm)
    Đạt
    (5-6 điểm)
    Khá
    (7-8 điểm)
    Tốt
    (9-10 điểm)
    1. Hệ thống
    hóa kiến thức,
    phân loại kiến
    thức hóa học.
    Chưa hệ thống
    và chưa phân
    loại được các
    kiến thức hóa
    học.
    Hệ thống hóa
    và phân loại
    được kiến
    thức nhưng
    chưa rõ ràng,
    chưa đầy đủ.
    Hệ thống hóa
    và phân loại
    được kiến
    thức hóa học
    rõ ràng, đầy
    đủ.
    Hệ thống hóa
    và phân loại
    được kiến
    thức hóa học
    một cách rõ
    ràng, đầy đủ
    một cách logic
    và khoa học.
    2. Phân tích,
    tổng hợp các
    kiến thức hóa
    học.
    Chưa phân
    tích, tổng hợp
    các kiến thức
    hóa học.
    Biết phân tích,
    tổng hợp các
    kiến thức hóa
    học nhưng
    còn sơ sài.
    Phân tích,
    tổng hợp các
    kiến thức hóa
    học một cách
    rõ ràng.
    Phân tích,
    tổng hợp các
    kiến thức hóa
    học một cách
    rõ ràng, khoa
    học, logic.
    3. Phát hiện
    các nội dung
    kiến thức hóa
    học được ứng
    dụng trong
    thực tiễn.
    Không phát
    hiện các nội
    dung kiến
    thức hóa học
    được ứng
    dụng trong
    thực tiễn.
    Phát hiện các
    nội dung kiến
    thức hóa học
    được ứng
    dụng trong
    thực tiễn
    nhưng chưa rõ
    ràng.
    Phát hiện các
    nội dung kiến
    thức hóa học
    được ứng
    dụng trong
    thực tiễn rõ
    ràng.
    Phát hiện các
    nội dung kiến
    thức hóa học
    được ứng
    dụng trong
    thực tiễn rõ
    ràng, cụ thể,
    chính xác.
    4. Phát hiện
    các vấn đề
    trong thực tiễn
    và sử dụng
    kiến thức hóa
    học để giải
    Không phát
    hiện được các
    vấn đề trong
    thực tiễn.
    Phát hiện
    được các vấn
    đề trong thực
    tiễn nhưng
    giải thích
    chưa rõ ràng.
    Phát hiện
    được các vấn
    đề trong thực
    tiễn và giải
    thích được các
    vấn đề rõ ràng
    Phát hiện
    được các vấn
    đề trong thực
    tiễn và giải
    thích được các
    vấn đề rõ

    15

    thíchnhưng chưa
    khoa học.
    ràng, khoa
    học.
    5. Độc lập
    sáng tạo trong
    việc xử lí các
    vấn đề thực
    tiễn.
    Chưa xử lí
    được các vấn
    đề thực tiễn.
    Xử lí các vấn
    đề thực tiễn
    thông qua gợi
    ý.
    Xử lí các vấn
    đề thực tiễn
    một cách độc
    lập.
    Xử lí các vấn
    đề thực tiễn
    một cách độc
    lập, đưa ra
    được các
    phương án xử
    lí khác nhau.

    1.4.5.2. Các phương pháp đánh giá năng lực [3, tr.97-99]
    a. Đánh giá thông qua bài kiểm tra
    GV có thể đánh giá HS thông qua các bài kiểm tra 15 phút hay 45 phút. Có
    thể sử dụng hình thức trắc nghiệm tự luận hay trắc nghiệm khách quan hoặc kết hợp
    cả hai để đánh giá xem người học đang ở đâu trong quá trình dạy học, từ đó giúp
    đỡ, định hướng cho người học hoặc người dạy có thể thay đổi cách dạy để đáp ứng
    với trình độ lĩnh hội của HS.
    b. Đánh giá thông qua quan sát
    Đánh giá thông qua quan sát trong giờ như: quan sát thái độ trong giờ học;
    quan sát tinh thần xây dựng bài; quan sát thái độ trong hoạt động nhóm, quan sát kĩ
    năng trình diễn của HS… giúp cho người dạy có cái nhìn tổng quan về thái độ, hành
    vi, sự tiến bộ của các kĩ năng học tập của người học suốt cả quá trình dạy học để từ đó
    có thể giúp cho người học có thái độ học tập tích cực và các kĩ năng học tập.
    c. Đánh giá thông qua vấn đáp, thảo luận nhóm
    GV có thể vấn đáp về nội dung bài cũ để kiểm tra việc học bài ở nhà của HS
    hoặc có thể đặt những câu hỏi cho HS trả lời cá nhân hay hoạt động nhóm trong quá
    trình dạy bài mới nhằm đánh giá mức độ đạt được mục tiêu bài học hoặc ch n đoán
    những khó khăn mà người học mắc phải nhằm cải thiện quá trình dạy, giúp người
    học cải thiện việc học tập của mình.
    d. Học sinh tự đánh giá
    HS có thể đánh giá kiến thức, thái độ lẫn nhau trong các giờ học.
    16
    – Đối với các bài kiểm tra trên lớp: cho HS tự đánh giá bài của mình hoặc đánh
    giá bài của bạn thông qua việc cung cấp cho các em đáp án của bài kiểm tra.
    – Đối với tự đánh giá thông qua bài tập, báo cáo/ dự án: GV yêu cầu HS thực hiện
    các bài tập, báo cáo/ dự án, sau đó các em tự đánh giá bài làm của mình thông qua
    bảng kiểm.
    e. Đánh giá dựa vào một số kỹ thuật thu nhận thông tin phản hồi khác
    – Yêu cầu HS thiết kế SĐTD hoặc bản đồ khái niệm về nội dung bài học trước
    hoặc sau khi học. Qua đó, GV có thể biết được HS đã có kiến thức gì và HS biết
    cách hệ thống hóa kiến thức.
    – Yêu cầu HS tóm tắt các kiến thức vừa học bằng một số ít câu giới hạn.
    1.5. Bài tập hóa học
    1.5.1. Khái niệm bài tập hóa học
    Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông: “Bài tập là bài ra cho HS làm để tập vận
    dụng những điều đã học”.
    BTHH là một vấn đề không lớn mà trong trường hợp tổng quát được
    giải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và những thí nghiệm trên
    cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết và phương pháp hóa học.
    BTHH là phương tiện chính và hết sức quan trọng dùng để rèn luyện khả
    năng vận dụng kiến thức cho HS. Là nhiệm vụ học tập mà GV đặt ra cho
    người học, buộc người học vận dụng các kiến thức, năng lực của mình để giải
    quyết các nhiệm vụ đó nhằm chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng một cách tích cực,
    hứng thú và sáng tạo.
    BTHH là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng
    thời cả bài toán và câu hỏi thuộc về hóa học mà trong khi hoàn thành chúng, HS
    nắm được một tri thức hay kĩ năng nhất định.
    1.5.2. Nguyên tắc xây dựng và tuyển chọn hệ thống bài tập hóa học
    – Nguyên tắc 1: Hệ thống bài tập phải góp phần thực hiện mục tiêu môn học
    Mục tiêu của hóa học ở trường THPT là cung cấp cho HS hệ thống kiến thức,
    kỹ năng cơ bản, thiết thực, gắn với đời sống thực tiễn. Nội dung chủ yếu bao gồm
    cấu tạo chất, sự biến đổi các chất trong đời sống, sản xuất và môi trường. Những
    nội dung này giúp HS có kiến thức tương đối toàn diện để có thể giải quyết một số
    17
    vấn đề hóa học có liên quan đến đời sống và sản xuất.
    -Nguyên tắc 2: Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính chính xác và khoa học
    Khi xây dựng, nội dung của bài tập phải có sự chính xác về kiến thức hóa học,
    đầy đủ các dữ kiện, diễn đạt logic, chính xác.
    – Nguyên tắc 3: Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính hệ thống và tính đa dạng
    + Mọi sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới khách quan luôn có mối quan
    hệ mật thiết với nhau, tồn tại trong một hệ thống.
    + Vận dụng quan điểm hệ thống – cấu trúc vào việc xây dựng bài tập cho HS.
    Mỗi bài tương ứng với một kỹ năng cơ bản nhất định. Toàn bộ hệ thống gồm nhiều
    bài tập sẽ hình thành hệ thống kỹ năng toàn diện cho HS.
    + Hệ thống bài tập được xây dựng một cách đa dạng và phong phú, giúp hình
    thành và phát triển các kỹ năng cụ thể và chuyên biệt một cách hiệu quả.
    -Nguyên tắc 4: Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính phân hóa và tính vừa sức
    + Hệ thống bài tập này được chia thành từng dạng, trong mỗi dạng sắp xếp theo thứ
    tự từ dễ đến khó. Các bài tập phải có đủ loại điển hình và tính mục đích rõ ràng,
    có bài tập chung cho cả lớp nhưng cũng có bài tập riêng cho từng đối tượng, tạo
    được hứng thú cho HS. Hệ thống bài tập được xây dựng dựa trên nguyên tắc này
    giúp cho các HS có học lực khác nhau có thể tham gia vào việc giải bài tập.
    + Lựa chọn những bài tập điển hình làm mẫu. Biên soạn hệ thống bài tập bao
    quát hết các kiến thức cơ bản. Những bài tập tương tự chỉ cho khác bài mẫu một ít,
    nâng cao trình độ từng bước.
    -Nguyên tắc 5: Hệ thống bài tập phải góp phần củng cố kiến thức cho HS
    + Sự nắm vững kiến thức có thể phân biệt ở 3 mức độ: biết, hiểu, vận dụng. HS
    nắm vững kiến thức hóa học một cách chắc chắn khi được hình thành kỹ năng, kỹ
    xảo.
    + Sử dụng bài tập nhằm mục đích luyện tập cho HS vận dụng kiến thức để giải
    những bài toán dưới các hình thức khác nhau, nhờ đó kiến thức được củng cố vững
    chắc hơn.
    – Nguyên tắc 6: Hệ thống bài tập phải phát huy tính tích cực nhận thức, năng lực
    sáng tạo của HS

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • Luận văn dạy học theo định hướng giáo dục STEM phần Hóa học hữu cơ lớp 12 nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học sinh 

    Luận văn dạy học theo định hướng giáo dục STEM phần Hóa học hữu cơ lớp 12 nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học sinh 

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Lí do chọn đề tài
    Hiện nay, thế giới đang hướng đến cách mạng công nghiệp 4.0 bao gồm một
    số công nghệ chính nhu trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, Big Data, công nghẹ in
    3D, và công nghệ nano trên nền tảng của các cuộc cách mạng công nghiệp trước
    nhằm mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng cuộc sống. Con người là
    yếu tố quan trọng nhất và cũng là động lực của mọi cuộc cách mạng. Trong cách
    mạng công nghiệp nói chung và cách mạng công nghiệp 4.0 nói riêng, việc đào tạo
    nguồn nhân lực để thực hiện cuộc cách mạng đóng một vai trò then chốt. Với sự
    thay đổi nhanh chóng của công nghệ, đòi hỏi giáo dục phải đem lại cho người học
    cả tư duy những kiến thức kỹ năng mới, khả năng sáng tạo, thích ứng với thách thức
    và những yêu cầu mới mà các phương pháp giáo dục truyền thống không thể đáp
    ứng. Giáo dục STEM có thể giúp học sinh chiếm lĩnh các năng lực STEM và các kĩ
    năng thiết yếu để theo đuổi các ngành nghề STEM cũng như giải quyết những thách
    thức lớn mà thế kỉ 21 đặt ra – Kỉ nguyên của khoa học công nghệ – CMCN 4.0.
    Giáo dục STEM đào tạo nguồn nhân lực cho tương lai, là cơ hội để tiến hành cải
    cách xã hội, xây dựng xã hội học thực làm thực. Giáo dục STEM trang bị cho người
    học: Kỹ năng giả quyết vấn đề, vấn đề phức tạp, kỹ năng tư duy hệ thống, hợp tác
    giao tiếp, tư duy điện toán, kỹ năng nghiên cứuvà tư duy khoa học. Trong đó, năng
    lực hợp tác làm việc nhóm là cách thức nhiều người cũng thực hiện tốt một nhiệm
    vụ và hướng đến mục tiêu chung, qua đó giúp đỡ mỗi cá nhân nhận ra thiếu sót của
    mình để khắc phục, trở nên hoàn thiện hơn.
    Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ giáo dục và Đào
    tạovề việc ban hành Chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định giáo dục
    STEM là một trong những hướng giáo dục đang được quan tâm phát triển trên thế
    giới cũng như ở Việt Nam, góp phần đáp ứng yêu cầu cung cấp nguồn nhân lực trẻ
    cho giai đoạn công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, đồng thời nhấn mạnh vai
    trò thúc đẩy STEM trong nhà trường của các môn Toán, Công nghệ, Tin học, Khoa
    học tự nhiên. Từ năm học 2020-2021, Chương trình giáo dục phổ thông chính thức
    2
    được áp dụng, giáo dục STEM trong trường cũng được triển khai rộng và sâu hơn
    trong các trường phổ thông trên cả nước.
    Chúng ta đang sống trong thời đại diễn ra hòa nhập cao giữa các quốc gia có
    nền văn hóa khác nhau, nhu cầu trao đổi công việc và nhân lực cũng ngày một cao,
    đòi hỏi ngành giáo dục phải đào tạo ra các công dân đáp ứng chuẩn toàn cầu. Giáo
    dục STEM là một mô hình giáo dục mới đã được triển khai tại các nước châu Âu,
    châu Mỹ và được chứng minh là một mô hình giáo dục tiên tiến, hiện đại. Dạy học
    theo định hướng STEM là giảng dạy tích hợp bốn lĩnh vực: khoa học, công nghệ, kỹ
    thuật và toán học, theo nguyên tắc giảng dạy thông qua thực hành, trên những thí
    nghiệm thiết thực và sinh động có thể ứng dụng ngay trong thực tiễn hàng ngày.
    Tuy vậy, ở mô hình giáo dục STEM còn khá mới mẻ nên cần được quan tâm và
    nhận thức của toàn xã hôi, công nghẹ, kỹ thuạt và toán học, theo nguyên tắc giảng
    dạy thông qua thực hành, trên những thí nghiẹm thiết thực và sinh đọng có thể ứng
    dụng ngay trong thực tiễn hàng ngày.
    Giáo dục STEM xuất hiện ở Việt Nam trong vài năm trở lại đây tuy chưa
    thực sự trở thành một hoạt động chính thức trong trường phổ thông. Nhưng giáo
    dục STEM với nhiệm vụ cung cấp các kiến thức và kĩ năng cần thiết cho HS thế kỉ
    21 sẽ là mô hình giáo dục diện rộng trong tương lai gần của cả thế giới. Gần đây ở
    Việt Nam, STEM và giáo dục STEM nói riêng đã bắt đầu được nghiên cứu, tuy
    nhiên trong môn Hóa học còn chưa nhiều. Ngoài ra, Hóa học là môn học liên quan
    nhiều đến những hiện tượng, sự vật trong cuộc sống hằng ngày. Tuy nhiên, hiện nay
    việc giảng dạy vẫn còn đặt nặng mặt lí thuyết, dạy học theo chủ đề STEM trong dạy
    học Hóa học là một phương pháp mới giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách dễ
    dàng và thú vị nhất, không khô khan và khó hiểu như cách học lí thuyết cũ. Xuất
    phát từ những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “Dạy học theo định hƣớng
    giáo dục STEM phần Hóa học hữu cơ lớp 12 nhằm phát triển năng lực hợp tác
    cho học sinh” với mong muốn giúp học sinh không chỉ lĩnh hội tốt kiến thức mà
    còn tích cực say mê tự tìm kiếm và chọn lọc kiến thức, vận dụng kiến thức vào đời
    sống thực tế, phát triển các NL của người học, nâng cao chất lượng dạy và học ở
    trường phổ thông nói chung và bộ môn Hóa học nói riêng.
    3
    1.1. Tổng quan nghiên cứu giáo dục STEM
    1.1.1. Giáo dục STEM trên thế giới
    Giáo dục STEM trên bình diện quốc tế đã đuợc quan tâm và triển khai ở
    nhiều quốc gia trên thế giới với sự đa dạng về quan điểm, mục tiêu, phuong pháp và
    hình thức triển khai. Tại nh, mục tiêu giáo dục STEM là tạo ra nguồn nhân lực
    nghiên cứu khoa học chất luợng cao. Còn tại Mỹ, ba mục tiêu co bản cho giáo dục
    STEM là: 1 . trang bị cho tất cả các công dân những kĩ nang về STEM; 2 . mở
    rọng lực luợng lao đọng trong lĩnh vực STEM; 3 tang cuờng số luợng HS sẽ theo
    đuổi và nghiên cứu chuyên sâu về các lĩnh vực STEM. Tại c, mục tiêu của giáo
    dục STEM là xây dựng kiến thức nền tảng của quốc gia nhằm đáp ứng các thách
    thức đang nổi lên của viẹc phát triển mọt nền kinh tế cho thế kỉ 21. Đề cạp tới giáo
    dục STEM, Tổng thống Barack Obama phát biểu tại Hội chợ Khoa học Nhà Trắng
    hàng năm lần thứ ba, tháng 4 năm 2013: “Một trong những điều mà tôi tập trung khi
    làm Tổng thống là làm thế nào chúng ta tạo ra một phương pháp tiếp cận toàn diện
    cho khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM)… Chúng ta cần phải ưu tiên
    đào tạo đội ngũ giáo viên mới trong các lĩnh vực chủ đề này và để đảm bảo rằng tất
    cả chúng ta là một quốc gia ngày càng dành cho các giáo viên sự tôn trọng cao hơn
    mà họ xứng đáng. Bill Gates, trong mọt bài phát biểu truớc thuợng nghị viẹn Mỹ đã
    từng nói: Chúng ta không thể duy trì mọt nền kinh tế trên nền tảng của sự đổi mới
    trừ khi tạo ra đuợc những công dân đuợc giáo dục tốt về toán học, khoa học và kỹ
    thuạt. Nếu không làm đuợc điều này chúng ta không thể cạnh tranh đuợc trong nền
    kinh tế toàn cầu . Tuy các phát biểu về mục tiêu giáo dục STEM có những điểm
    khác biẹt nhung các Quốc gia đều coi giáo dục STEM nhu là mọt giải pháp trong
    cải cách giáo dục nhằm huớng tới phát triển nguồn nhân lực đáp ứng các mục tiêu
    phát triển kinh tế, phát triển quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa đầy cạnh tranh.
    i ụ i
    Giáo dục STEM ở Việt Nam đuợc đề cạp tới khoảng nam 2010 thông qua
    các công ty về Công nghẹ và Giáo dục trong và ngoài nuớc. Nhiều hoạt đọng truyền
    thông về STEM cũng nhu tổ chức giáo dục STEM cho HS thông qua các hoạt đọng
    4
    trải nghiẹm với Robotics, khám phá khoa học đã đuợc triển khai. Tuy nhiên, các
    hoạt đọng giáo dục STEM này mới chỉ dừng lại ở những hoạt đọng đon lẻ, thiếu
    tính kết nối và đồng bọ. Gần đây, Bọ Giáo dục và Đào tạo đang phối hợp với Họi
    Đồng nh triển khai chuong trình thí điểm về giáo dục STEM cho mọt số truờng
    Trung học tại mọt số tỉnh thành nhu Hà Nọi, Hải Duong, Hải Phòng, Quảng Ninh
    và Nam Định. Đây là những buớc đi quan trọng nhằm phát triển mọt chuong trình
    giáo dục theo định huớng STEM mang tầm quốc gia.
    Nghị quyết Số: 29-NQ T “về đổi mới can bản, toàn diẹn giáo dục và đào
    tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiẹp hóa, hiẹn đại hóa trong điều kiẹn kinh tế thị
    truờng định huớng xã họi chủ nghĩa và họi nhạp quốc tế họi nghị trung uong 8
    (khóa XI) nêu rõ:
    “Đối với giáo dục phổ thông, tạp trung phát triển trí tuẹ, thể chất, hình thành
    phẩm chất, nang lực công dân, phát hiẹn và bồi duỡng nang khiếu, định huớng nghề
    nghiẹp cho học sinh. Nâng cao chất luợng giáo dục toàn diẹn, chú trọng giáo dục lý
    tuởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, nang lực và kỹ nang thực
    hành, vạn dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả nang sáng tạo, tự học,
    khuyến khích học tạp suốt đời. Hoàn thành viẹc xây dựng chuong trình giáo dục
    phổ thông giai đoạn sau nam 2015. Bảo đảm cho học sinh có trình đọ trung học co
    sở hết lớp 9 có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau
    trung học co sở; trung học phổ thông phải tiếp cạn nghề nghiẹp và chuẩn bị cho giai
    đoạn học sau phổ thông có chất luợng. Nâng cao chất luợng phổ cạp giáo dục, thực
    hiẹn giáo dục bắt buọc 9 nam từ sau nam 2020.
    Nghị quyết số 88 2014 QH13 ngày 28 11 2014 của Quốc họi về đổi mới
    chuong trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; Quyết định số 404 QĐ- TTg ngày
    27 3 2015 của Thủ tuớng Chính phủ về phê duyẹt Đề án đổi mới chuong trình, sách
    giáo khoa giáo dục phổ thông nêu r : “Chuong trình mới, sách giáo khoa mới đuợc
    xây dựng theo huớng coi trọng dạy nguời với dạy chữ, rèn luyẹn, phát triển cả về
    phẩm chất và nang lực; chú trọng giáo dục tinh thần yêu nuớc, lòng tự hào dân tọc,
    đạo đức, nhân cách, lối sống; phát hiẹn, bồi duỡng nang khiếu và định huớng nghề
    5
    nghiẹp cho mỗi học sinh; tang cuờng nang lực ngoại ngữ, tin học và các kỹ nang
    sống, làm viẹc trong điều kiẹn họi nhạp quốc tế; đẩy mạnh ứng dụng, phát huy
    thành quả khoa học công nghẹ thế giới, nhất là công nghẹ giáo dục và công nghẹ
    thông tin.”
    Chỉ thị số 16 CT-TT ngày 4 5 2017 của Thủ tuớng chính phủ về viẹc tang
    cuờng tiếp cạn cuọc cách mạng công nghiẹp lần thứ 4 trong đó có nọi dung:
    Thay đổi mạnh mẽ các chính sách, nọi dung, phuong pháp giáo dục và dạy
    nghề nhằm tạo ra nguồn nhân lực có khả nang tiếp nhạn các xu thế công nghẹ sản
    xuất mới, trong đó cần tạp trung vào thúc đẩy đào tạo về khoa học, công nghẹ, kỹ
    thuạt và toán học STEM , ngoại ngữ, tin học trong chuong trình giáo dục phổ
    thông; đẩy mạnh tự chủ đại học, dạy nghề; thí điểm quy định về đào tạo nghề, đào
    tạo đại học đối với mọt số ngành đạc thù. Biến thách thức dân số cùng giá trị dân số
    vàng thành lợi thế trong họi nhạp và phân công lao đọng quốc tế.
    Bọ Giáo dục và Đào tạo thúc đẩy triển khai giáo dục về khoa học, công nghẹ,
    kỹ thuạt và toán học STEM trong chuong trình giáo dục phổ thông; tổ chức thí
    điểm tại mọt số truờng phổ thông ngay từ nam học 2017 – 2018. Nâng cao nang lực
    nghiên cứu, giảng dạy trong các co sở giáo dục đại học; tang cuờng giáo dục những
    kỹ nang, kiến thức co bản, tu duy sáng tạo, khả nang thích nghi với những yêu cầu
    của cuọc Cách mạng công nghiẹp lần thứ 4.
    Chuong trình giáo dục phổ thông tổng thể chính thức đuợc thông qua ngày
    17 8 2017 nêu r : Giáo dục công nghẹ đuợc thực hiẹn thông qua nhiều môn học,
    trong đó cốt l i là các môn Thế giới công nghẹ lớp 1, lớp 2 và lớp 3 và Tìm hiểu
    công nghẹ lớp 4 và lớp 5 ; Công nghẹ và Huớng nghiẹp trung học co sở ; Thiết kế
    và Công nghẹ trung học phổ thông . Cùng với Toán học, Khoa học tự nhiên và Tin
    học, các môn học về công nghẹ góp phần thúc đẩy giáo dục STEM, mọt trong
    những xu huớng giáo dục đang đuợc coi trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới.
    Văn bản số 4228 BGDĐT-GDTrH ngày 18/9/2019 của Bộ GD&ĐT về việc
    hướng dẫn triển khai hoạt động NCKH và tổ chức cuộc thi KHKT cấp quốc gia học
    sinh trung học năm học 2019-2020
    6
    Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ
    trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
    Trong nội dung 5 có đề cập đến Chính sách phát triển nguồn nhân lực STEM cho
    cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 liên quan đến giáo dục STEM.
    Cho đến nay có nhiều đề tài nghiên cứu về những phương pháp dạy học mới
    có tính hiệu quả và khả năng áp dụng rộng rãi, phù hợp với điều kiện của giáo dục
    Việt Nam. Xây dựng các chủ đề STEM trong dạy học cũng là một hướng nghiên
    cứu mới và có tính thực tiễn cao. Tuy nhiên, hiện nay số lượng công trình nghiên
    cứu về vấn đề này chưa nhiều. Một số đề tài nghiên cứu về sử dụng các chủ đề
    STEM trong dạy học Hóa học như:
    – Luận văn Thạc sĩ khoa học Giáo dục của Lê Thị Ánh Tuyết [24] đã thiết kế
    và tổ chức được các chủ đề dạy học STEM trong chương trình hóa vô cơ lớp 11
    nhằm phát triển NL cho HS.
    – Luận văn Thạc sĩ khoa học Giáo dục của Nông Thủy Kiều [10] Tác giả đã
    vận dụng mô hình STEM qua dạy học phần dẫn xuất hiđrocacbon, hóa học 11 nhằm
    phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
    – Luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục của Trần Thế Sang [19] đã xây dựng
    và sử dụng một số chủ đề STEM nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng
    tạo cho HS lớp 10.
    Còn một số công trình nghiên cứu khác về STEM và việc phát triển NLHT
    cho HS. Tuy nhiên, chưa có đề tài sử dụng mô hình STEM để phát triển NLHT cho
    HS thông qua dạy học phần Hóa học hữu cơ 12. Như vậy đề tài tác giả nghiên cứu
    có sự kế thừa và phát triển của các nghiên cứu trước đây, phù hợp với định hướng
    về đổi mới giáo dục phổ thông và rất cần thiết.
    2 Mục đ ch nghiên cứu
    Xây dựng và tổ chức dạy họccác chủ đề STEM trong dạy học Hóa học hữu
    cơ lớp 12 nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học sinh.
    3 Nhiệ vụ nghiên cứu
    – Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài:
    7
    Tổng quan về các vấn đề: định hướng đổi mới giáo dục, xây dựng chủ đề
    dạy học STEM, năng lực và năng lực hợp tác.
    Điều tra, đánh giá thực trạng việc sử dụng dạy học STEM và việc phát
    triển năng lực hợp tác cho HS ở một số trường THPT.
    – Phân tích chương trình Hóa học lớp 12 THPT.
    – Đề xuất nguyên tắc và quy trình lựa chọn, xây dựng chủ đề STEM.
    – Xây dựng một số chủ đề dạy học STEM và nghiên cứu phương pháp tổ
    chức dạy học các chủ đề này.
    – Thiết kế bộ công cụ đánh giá năng lực hợp tác cho HS thông qua dạy học
    STEM.
    – Thực nghiệm sư phạm:
    Đánh giá tính hiệu quả và khả thi của các đề xuất trong luận văn.
    Đánh giá tính phù hợp của các chủ đề dạy học STEM đã đưa ra.
    4 hách thể đối tƣợng phạ vi nghiên cứu
    h h h ghi
    Dạy học Hóa học hữu cơ lớp 12 ở trường THPT.
    i g ghi
    Tổ chức dạy học chủ đề STEM trong dạy học Hóa học hữu cơ lớp 12 THPT
    nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học sinh.
    h i ghi
    Nội dung: Nghiên cứu và xây dựng chủ đề STEM và sử dụng chúng trong
    dạy học Hóa học hữu cơ lớp 12 THPT
    Địa bàn thực nghiệm: trường THPT Nguyễn Gia Thiều, trường THPT ên
    Viên trên địa bàn thành phố Hà Nội.
    Thời gian thực hiện: Từ tháng 01 2020 đến tháng 11 2020.
    5 C u h i nghiên cứu
    Xây dựng và tổ chức dạy học chủ đề STEM Hóa học hữu cơ lớp 12 như thế
    nào để phát triển được năng lực hợp tác cho học sinh
    8
    6 Giả thuyết hoa học
    Nếu giáo viên xây dựng và tổ chức dạy học các chủ đề STEM một cách khoa
    học, hiệu quả thì sẽ phát triển được năng lực hợp tác cho HS và nâng cao chất
    lượng học tập Hóa học ở trường THPT.
    7 Phƣơng pháp nghiên cứu
    h h g h ghi
    Thu thập tài liệu và sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích, đánh giá, hệ
    thống hóa,… các tài liệu có liên quan đến đề tài.
    h h g h ghi h i
    – Sử dụng phiếu điều tra, thu thập thông tin, để đánh giá sự hiểu biết về STEM
    của giáo viên, thực trạng sự dụng STEM trong dạy học; đánh giá nhận thức của giáo
    viên về vài trò dạy học STEM nhằm phát triển năng lực hợp tác của học sinh.
    – Hỏi ý kiến các chuyên gia, các giảng viên khoa sư phạm và các giáo viên
    Hóa học ở trường THPT.
    – Thực nghiệm sư phạm để đánh giá, kiểm chứng giả thiết khoa học của đề tài.
    h g h h g i
    Sử dụng phương pháp thống kê toán học áp dụng trong nghiên cứu khoa học
    Giáo dục để xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm.
    8. Đ ng g p ới của đề tài
    – Tổng quan và làm r cơ sở lý luận dạy học STEM và đánh giá sự phát triển
    năng lực hợp tác thông qua dạy học STEM.
    – Xây dựng được một số các chủ đề dạy học STEM trong chương trình Hóa
    học lớp 12 THPT.
    – Đề xuất một số phương pháp tổ chức dạy học các chủ đề STEM.
    – Thiết kế bộ công cụ đánh giá năng lực hợp tác trong dạy học STEM.
    Cấu tr c của lu n văn
    Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục nội dung
    của luận văn gồm có 3 chương:
    Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của phát triển năng lực hợp tác cho học
    sinh thông qua dạy học theo định hướng giáo dục STEM.
    9
    Chương 2: Xây dựng và tổ chức dạy học các chủ đề STEM nhằm phát triển
    năng lực hợp tác cho học sinh.
    Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
    10
    CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LU N VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN NĂNG
    LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC THEO ĐỊNH
    HƢỚNG GIÁO DỤC STEM
    1 1 Định hƣớng đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay
    Đổi mới giáo dục đang được toàn xã hội quan tâm. Đổi mới phương pháp dạy học
    trong đổi mới giáo dục phổ thông theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ
    động, sáng tạo và vận dụng kiến thức; tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến
    khích tự học, tạo cơ sở để người học cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển
    năng lực.
    Để phát triển toàn diện hệ thống phẩm chất, năng lực cho HS THPT, người
    GV phải đổi mới từ phương pháp dạy học tới cách kiểm tra, đánh giá HS theo cách
    tiếp cận năng lực. Người GV không thể sử dụng cách dạy như trước đây là chủ yếu
    tổ chức cho HS ghi nhớ khối kiến thức hàn lâm, rời rạc mà thay vào đó là các kế
    hoạch bài dạy theo các chủ đề học tập được kết cấu lại từ các bài học sẵn có trong
    chương trình và sách giáo khoa hiện hành theo hướng cho HS được trải nghiệm,
    được tiếp cận với thế giới tự nhiên sống động bằng các hoạt động đóng vai, trải
    nghiệm, được làm dự án học tập tích hợp liên môn với thực tiễn… đổi mới cách
    đánh giá theo hướng đánh giá quá trình, đánh giá qua quan sát, qua bảng hỏi, các
    tình huống thực, qua phiếu nhìn lại quá trình… để hướng đến đánh giá năng lực HS.
    Theo công văn số : 3089 BGDĐT-GDTrH V/v triển khai thực hiện giáo dục
    STEM trong giáo dục trung học: Tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg
    ngày 04/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận
    cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; nhằm hỗ trợ các trường phổ thông triển
    khai thực hiện có hiệu quả giáo dục Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học
    (STEM), Bộ Giáo dục và Đào tạo GDĐT hướng dẫn một số nội dung thực hiện
    giáo dục STEM và tổ chức, quản lý hoạt động giáo dục STEM trong trường trung
    học
    Từ các lí do trên tác giả đã chọn đề tài: “Dạy học theo định hƣơng giáo dục
    STEM phần Hóa học hữu cơ lớp 12 nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học
    11
    sinh”nhằm phát triển các NL của người học, nâng cao chất lượng dạy và học ở
    trường phổ thông nói chung và bộ môn Hóa học nói riêng.
    1.2. Năng lực và phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông
    1.2.1. Khái ni ă g c
    Khái niệm năng lực (NL) có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy
    thuộc vào cách tiếp cận và bối cảnh cụ thể khác nhau.
    Theo Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể của Bộ
    GD&ĐT: “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có
    và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến
    thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí , thực
    hiện thành công một loạt hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những
    điều kiện cụ thể”. [5]
    Theo einert 2001 : “Năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc
    sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về
    động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các giải quyết vấn đề một cách có trách
    nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”[12, tr.4].
    Có thể thấy dù cách phát biểu khác nhau, nhưng các tác giả đều nhấn mạnh
    đến tính hiệu quả trong thực hiện một hành động/ nhiệm vụ của cá nhân, trên cơ sở
    là các kiến thức, kĩ năng, thái độ của họ đối với nhiệm vụ.
    Do đó, trong đề tài này, chúng tôi hiểu ngắn gọn: NL là khả năng thực hiện
    thành công, có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ,
    tình huống thực tế dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng
    như sự sẵn sàng hành động.
    1.2.2. Cấu trúc và phân lo i ă g c
    Có nhiều phát biểu về NL khác nhau, do vậy việc mô tả cấu trúc và các thành
    phần NL cũng khác nhau. Trên cơ sở sự phân tích các tài liệu [5, [12], [16], [20]
    chúng tôi xác định cấu trúc của NL hành động gồm:
    – Năng lực chuyên môn: Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ về chuyên môn
    cũng như đánh giá kết quả một cách độc lập, có phương pháp và đảm bảo chính xác
    về mặt chuyên môn (bao gồm khả năng tư duy logic, phân tích, tổng hợp và trừu
    12
    tượng; khả năng nhận biết các mối quan hệ thống nhất trong quá trình).
    – Năng lực phương pháp: Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch,
    định hướng mục đích trong công việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề đặt ra. Trung
    tâm của năng lực PP là những PP nhận thức, xử lý, đánh giá, chia sẻ và giới thiệu.
    – Năng lực xã hội: Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã
    hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau với sự phối hợp chặt chẽ với những
    thành viên khác. Trọng tâm của NL xã hội là ý thức được trách nhiệm của bản thân
    cũng như của những người khác, tự chịu trách nhiệm, tự tổ chức, có khả năng thực
    hiện các hành động xã hội, khả năng cộng tác và giải quyết xung đột.
    – Năng lực cá thể: Là khả năng suy nghĩ và đánh giá được những cơ hội phát
    triển cũng như những giới hạn của mình; phát triển được năng khiếu cá nhân cũng
    như xây dựng và thực hiện kế hoạch cho cuộc sống riêng; những quan điểm, chuẩn
    giá trị đạo đức và động cơ chi phối các hành vi ứng xử.
    Các NL này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ, kết hợp tạo
    thành NL hành động.
    C ă g c đặc thù
    Theo [5, [16], [20] ngoài các phẩm chất và NL chung, môn Hoá học góp phần
    hình thành và phát triển ở HS năng lực tìm hiểu tự nhiên, cụ thể là NL Hoá học, bao
    gồm các thành phần sau: NL nhận thức kiến thức hoá học; NL tìm tòi, khám phá thế
    giới tự nhiên dưới góc độ hoá học; NL vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học, cụ thể:
    a Năng lực nhận thức kiến thức hoá học
    – Nhận thức được các kiến thức phổ thông cốt lõi của môn Hoá học: Cơ sở
    kiến thức về cấu tạo chất; Sự chuyển hoá hoá học, các dạng năng lượng và bảo toàn
    năng lượng; Một số chất hoá học cơ bản và chuyển hoá hoá học; Một số ứng dụng
    của hoá học trong đời sống và sản xuất; Nhận biết được một số ngành, nghề liên
    quan đến hoá học. Năng lực nhận thức đã được nghiên cứu kĩ theo thang Bloom.
    b Năng lực tìm tòi và khám phá thế giới tự nhiên dưới góc độ Hoá học
    – Thực hiện được một số kỹ năng tìm tòi, khám phá một số sự vật, hiện tượng
    trong thế giới tự nhiên và đời sống theo tiến trình;Thực hiện được việc phân tích, so
    13
    sánh, rút ra những dấu hiệu chung và riêng của một số sự vật, hiện tượng đơn giản
    trong thế giới tự nhiên; Sử dụng được các chứng cứ khoa học để kiểm tra các dự
    đoán, lí giải các chứng cứ, rút ra kết luận.
    c Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học
    – Vận dụng được kiến thức hoá học vào một số tình huống cụ thể trong thực
    tiễn; mô tả, dự đoán, giải thích hiện tượng, giải quyết các vấn đề một cách khoa
    học; Ứng xử thích hợp trong các tình huống có liên quan đến vấn đề sức khoẻ của
    bản thân, gia đình và cộng đồng; Ứng xử với tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát
    triển bền vững xã hội và bảo vệ môi trường.
    1 3 Năng lực hợp tác
    1.3.1. Khái ni ă g c h p tác
    Là khả năng tương tác lẫn nhau, trong đó mỗi cá nhân thể hiện sự tích cực, sự
    tương tác trực diện và trách nhiệm cao trên cơ sở huy động những tri thức, kĩ năng
    và bản thân nhằm giải quyết có hiệu quả nhiệm vụ chung.
    Theo nhà tâm lí học David và Roger Johnson [30]: Học tập hợp tác là một loại
    hình cụ thể của học tập tích cực, là một phương pháp giảng dạy chính thức, trong đó
    HS làm việc cùng nhau trong các nhóm nhỏ để đạt được một mục tiêu học tập chung.
    Trong môn Hóa học, NLHT thể hiện ở việc HS cùng chia sẻ, phối hợp với
    nhau trong các hoạt động học tập qua việc thực hiện các nhiệm vụ học tập diễn ra
    trong giờ học. Thông qua các hoạt động nhóm, cặp, HS thể hiện suy nghĩ của cá
    nhân về những vấn đề đặt ra, đồng thời lắng nghe những ý kiến trao đổi thảo luận
    của nhóm để tự điều chỉnh mình. Đây là yếu tố rất quan trọng góp phần hình thành
    nhân cách của người HS trong bối cảnh mới.
    1.3.2. Bi u hi n củ ă g c h p tác
    – Xác định mục đích và phương thức hợp tác: Chủ động đề xuất mục đích
    hợp tác khi được giao các nhiệm vụ, xác định được loại công việc nào có thể hoàn
    thành tốt nhất bằng hợp tác theo nhóm với quy mô phù hợp.
    – Xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân: Biết trách nhiệm, vai trò
    của mình trong nhóm ứng với công việc cụ thể. Phân tích nhiệm vụ của cả nhóm để
    14
    nêu được các hoạt động phải thực hiện, trong đó tự đánh giá được hoạt động mình
    có thể đảm nhiệm tốt nhất để tự đề xuất cho nhóm phân công.
    – Xác định được nhu cầu, khả năng của người hợp tác: Nhận biết được đặc
    điểm, khả năng của tùng thành viên cũng như kết quả làm việc nhóm. Dự kiến phân
    công từng thành viên trong nhóm các công việc phù hợp.
    – Tổ chức và thuyết phục người khác: Chủ động và gương mẫu hoàn thành
    phần việc được giao, góp ý điều chỉnh thúc đẩy họat động chung. Chia sẻ học hỏi
    các thành viên trong nhóm.
    – Đánh giá hoạt động hợp tác: Biết dựa vào mục đích đặt ra để tổng kết hoạt
    động chung của nhóm. Nêu mặt được, mặt thiếu sót của cá nhân và của cả nhóm.
    C h g h đ h gi ă g c h p tác cho học sinh trung học
    phổ thông
    Đánh giá NLHT của HS là quá trình GV thu thập thông tin, tìm minh chứng;
    phân tích các thông tin, minh chứng đã thu thập được; nhận biết mức độ NLHT của
    HS thông qua việc trao đổi, hợp tác của HS trong quá trình học tập nhóm, cùng tạo
    ra các sản phẩm học tập. Từ đó, GV có những nhận xét, quyết định về NLHT, phản
    hồi cho HS, nhà trường, gia đình và kết quả đánh giá; có biện pháp bồi dưỡng, rèn
    luyện NLHT cho HS. Có các phương pháp đánh giá NLHT cho HS như sau:
    – Phương pháp đánh giá NLHT của HS thông qua quan sát, phỏng vấn.
    – Phương pháp đánh giá NLHT của HS thông qua phiếu tự đánh giá và đánh
    giá thành viên của nhóm.
    – Đánh giá NLHT thông qua các phiếu đánh giá hoạt động (do HS tự đánh
    giá và nhóm đưa ra nhận xét đánh giá trên tiêu chí về NLHT để giúp GV đánh giá
    được NLHT của HS.
    1.4. Dạy học theo định hƣớng giáo dục STEM
    1.4.1. Khái ni m STEM
    – STEM là thuạt ngữ viết tắt của các từ Science Khoa học , Technology
    (Công nghẹ , Engineering Kĩ thuạt) và Mathematic Toán học [15].
    – Giáo dục STEM là mô hình giáo dục dựa trên cách tiếp cạn liên môn, giúp
    học sinh áp dụng các kiến thức khoa học, công nghẹ, kỹ thuạt và toán học vào giải
    15
    quyết mọt số vấn đề thực tiễn trong bối cảnh cụ thể. Định huớng giáo dục STEM
    đang đuợc triển khai nhu mọt huớng đi quan trọng trong giáo dục và đào tạo tại
    nhiều nuớc trên thế giới và đuợc nhấn mạnh trong chuong trình giáo dục phổ thông
    mới của nuớc ta ban hành ngày 27 12 2018 , đạc biẹt trong các môn học nhu: Toán
    học, Tin học, Công nghẹ, Khoa học.
    – Những kiến thức và kỹ nang về các lĩnh vực trên đuợc tích hợp, lồng ghép
    và bổ trợ cho nhau giúp học sinh không chỉ hiểu biết về nguyên lý mà còn có thể áp
    dụng để thực hành và tạo ra đuợc những sản phẩm trong cuọc sống hằng ngày.
    Trong đó:
    Kỹ nang khoa học: học sinh đuợc trang bị kiến thức về các khái niẹm, các
    nguyên lý, các định luạt và các co sở lý thuyết của giáo dục khoa học. Mục tiêu
    quan trọng nhất là thông qua giáo dục khoa học, học sinh có khả nang liên kết các
    kiến thức này để thực hành và có tu duy để sử dụng kiến thức vào thực tiễn để giải
    quyết các vấn đề trong thực tế.
    Kỹ nang công nghẹ: học sinh có khả nang sử dụng, quản lý, hiểu biết, và
    truy cạp đuợc công nghẹ, từ những vạt dụng đon giản nhu cái bút, chiếc quạt đến
    những hẹ thống phức tạp nhu mạng Internet, máy móc.
    Kỹ nang kỹ thuạt: học sinh đuợc trang bị kỹ nang sản xuất ra đối tuợng và
    hiểu đuợc quy trình để làm ra nó. Vấn đề này đòi hỏi học sinh phải có khả nang
    tổng hợp và kết hợp để biết cách làm thế nào để cân bằng các yếu tố liên quan nhu
    khoa học, nghẹ thuạt, công nghẹ, kỹ thuạt để có đuợc mọt giải pháp tốt nhất trong
    thiết kế và xây dựng quy trình. Ngoài ra học sinh còn có khả nang nhìn nhạn ra nhu
    cầu và phản ứng của xã họi trong những vấn đề liên quan đến kỹ thuạt.
    Kỹ nang toán học là khả nang nhìn nhạn và nắm bắt đuợc vai trò của toán
    học trong mọi khía cạnh tồn tại trên thế giới. Học sinh có kỹ nang toán học sẽ có
    khả nang thể hiẹn các ý tuởng mọt cách chính xác, có khả nang áp dụng các khái
    niẹm và kỹ nang toán học vào cuọc sống hằng ngày.
    – Những học sinh học theo cách tiếp cạn giáo dục STEM đều có những uu
    thế nổi bạt nhu: kiến thức khoa học, kỹ thuạt, công nghẹ và toán học chắc chắn; khả
    16
    nang sáng tạo, tu duy logic; hiẹu suất học tạp và làm viẹc vuợt trọi; và có co họi
    phát triển các kỹ nang mềm toàn diẹn hon trong khi không hề gây cảm giác nạng nề,
    quá tải đối với học sinh.
    – Giáo dục STEM vạn dụng phuong pháp học tạp chủ yếu dựa trên thực hành
    và các hoạt đọng trải nghiẹm sáng tạo, các phuong pháp giáo dục tiến bọ, linh hoạt
    nhất nhu Học qua dự án – chủ đề, Học qua trò choi và đạc biẹt phuong pháp Học
    qua hành luôn đuợc áp dụng triẹt để cho các môn học tích hợp STEM.
    – Giáo dục STEM chú trọng đến viẹc hình thành và phát triển nang lực Giải
    quyết vấn đề cho nguời học. Trong mỗi bài học theo chủ đề STEM học sinh đuợc
    đạt truớc mọt tình huống có vấn đề thực tiễn cần giải quyết liên quan đến các kiến
    thức khoa học. Để giải quyết vấn đề đó, học sinh phải tìm tòi nghiên cứu những
    kiến thức thuọc các môn học có liên quan đến vấn đề Sách giáo khoa, học liẹu,
    Thiết bị thí nghiẹm, Thiết bị công nghẹ , phải biết cách mở rọng kiến thức, biết
    cách sửa chữa, chế biến lại chúng cho phù hợp với tình huống có vấn đề mà nguời
    học đang phải giải quyết.
    1.4.2. Nhữ g đặ đi bản của d y học theo định h ớng giáo dục STEM
    Dựa trên việc nghiên cứu các tài liệu [6], [7], [13] có 5 đặc điểm chính của
    giáo dục STEM như sau:
    – Tập trung vào sự tích hợp: Giáo dục STEM có đặc điểm là tập trung vào sự
    tích hợp hai hay nhiều môn học, trong đó đặc biệt nhấn mạnh Khoa học và Toán
    học, sự sáng tạo bổ sung thêm các yếu tố Nghệ thuật, Xã hội, Văn học là tùy
    thuộc vào từng GV, từng bối cảnh cụ thể.
    – Liên hệ với cuộc sống thực tế: Do thuộc tính tích hợp và đa ngành nên
    chương trình học STEM không nặng tính lí thuyết mà thiên về vận dụng và giải
    quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống, từ các vấn đề mang tính địa phương đến
    các vấn đề có tính toàn cầu. HS phải vận dụng kiến thức đa ngành để giải quyết một
    vấn đề cụ thể.
    – Hướng đến phát triển các kỹ năng của thế kỷ 21: Các chương trình học
    STEM đều tạo cơ hội để HS rèn luyện và phát triển các nhóm kỹ năng mục tiêu cần
    thiết cho công việc của thế kỷ 21. Các kỹ năng được lồng ghép trong các hoạt động
    17
    học tập trong lớp hoặc ngoài lớp học, được xây dựng có tính hệ thống, liên tục và kế
    thừa lẫn nhau.
    – Thách thức HS vượt lên chính mình: Các bài tập, dự án học tập hoặc các
    chuyến đi thực địa đều đòi hỏi HSphải nỗ lực bản thân, phối hợp với làm việc nhóm,
    khai thác các nguồn lực sẵn có để đạt đến những cột mốc mới về kiến thức, kinh
    nghiệm cũng như năng lực mới của mình. Sẽ không có những bài tập chỉ là học thuộc
    lòng, ghi nhớ và trả bài như cách học truyền thống, mà thay vào đó, HS phải vận
    dụng kiến thức để hướng đến giải quyết các vấn đề, sáng tạo và đổi mới.
    – Có tính hệ thống và gắn kết giữa đa dạng các bài học: Đây là một đặc điểm
    rất quan trọng giúp quá trình giáo dục đạt được hiệu quả cao đối với HS. Nếu HSchỉ
    tham gia rất nhiều bài học trải nghiệm khác nhau, tham gia các hoạt động thực hành
    khác nhau, nhưng các bài học đó lại thiếu sự gắn kết, kế thừa và liên tục, thì HS sẽ
    bị rơi vào lỗ hổng kiến thức và rời rạc về mặt thông tin.
    Thông qua cách tiếp cận giáo dục tích hợp, HSnhận thức được sự giao thoa
    giữa các ngành Khoa học và Toán học, thấy được sự cần thiết của các kiến thức
    khoa học để có thể giải quyết một vấn đề hay tạo nên một sản phẩm. Đồng thời, nhờ
    được tạo cơ hội khuyến khích sáng tạo dựa trên sở thích riêng của bản thân, nên các
    em HS tự tin hơn trong quá trình học tập và làm việc.
    1.4.3. Các hình th c d y họ he đị h h ớng giáo dục STEM
    1.4.3.1. Dạy học theo chủ đề
    Dạy học theo chủ đề là sự kết hợp giữa mô hình dạy học truyền thống và hiện
    đại, ở đó giáo viên không dạy học chỉ bằng cách truyền thụ kiến thức mà chủ yếu là
    hướng dẫn học sinh tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức vào giải quyết các
    nhiệm vụ có ý nghĩa thực tiễn.
    Với dạy học theo chủ đề, học sinh được học tập theo từng chủ đề và nghiên
    cứu sâu các chủ đề dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Các em được giao bài tập hoặc
    bài thực nghiệm làm việc theo từng nhóm với từng đề án riêng của môn học. Với
    phương pháp học này, việc thảo luận và hợp tác tìm ra giải pháp cho vấn đề giúp
    các em phát triển khả năng học độc lập rất nhiều. Chính quá trình tự khám phá và
    thực hành, các em hiểu biết vấn đề sâu hơn là chỉ nghe giảng và chép bài.
    18
    1.4.3.2. Dạy học trải nghiệm
    Trải nghiệm là quá trình nhận thức, khám phá đối tượng bằng việc tương tác
    với đối tượng thông qua các thao tác vật chất bên ngoài (nhìn, sờ, nếm, ngửi…) và
    các quá trình tâm lý bên trong (chú ý, ghi nhớ, tư duy, tưởng tượng). Thông qua
    đó,chủ thể có thể học hỏi, tìm tòi, sáng tạo, tiếp thu, tích lũy được những kinh
    nghiệm cho bản thân và hoàn thiện các kĩ năng trong cuộc sống.
    Dạy học trải nghiệm là giáo viên khuyến khích người học tham gia trải
    nghiệm thực tế, sau đó phản ánh, tổng kết lại để tăng cường hiểu biết, phát triển kỹ
    năng, định hình các giá trị sống và phát triển tiềm năng bản thân, tiến tới đóng góp
    tích cực cho cộng đồng và xã hội.
    1.4.3.3. Nghiên cứu khoa học
    Nghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử
    nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức, đạt được từ các thí nghiệm
    NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã
    hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn.
    Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lãnh vực nghiên cứu và
    cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên
    ghế nhà trường.
    1.4.4. Chủ đề STEM
    Để từng bước đưa Giáo dục STEM vào trường phổ thông làm tiền đề, cơ sở
    để thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới, theo chúng tôi cần phải xây
    dựng theo các chủ đề từng môn hoặc tích hợp liên môn ở các môn học STEM. Các
    chủ đề STEM cần theo hướng rất linh hoạt và có thể triển khai dưới nhiều hình
    thức. Để xây dựng một chủ đề STEM theo định hướng phát triển năng lực cho học
    sinh, nên thực hiện theo các bước sau [17], [19]:
    – Bước 1. Xác định đối tượng, thời gian, hình thức tổ chức chủ đề STEM
    * Đối tượng: cần xác định đối tượng phù hợp với chủ đề trên cơ sở nội dung
    bám sát với chương trình phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đối tượng học
    sinh nên theo lớp từ lớp 1 đến lớp 12.
    19
    * Thời gian: cần xác định thời gian phù hợp gồm cả thời gian chuẩn bị,
    thời gian thực hiện. Mỗi chủ đề nên xây dựng thời gian thực hiện trên lớp từ 60
    đến 90 phút.
    * Hình thức tổ chức: có thể tổ chức trong giờ học chính khóa tại các phòng
    STEM của nhà trường hoặc tại các cơ sở sản xuất, phòng STEM các doanh ngiệp,
    các trường đào tạo nghề …
    – Bước 2. Nêu vấn đề thực tiễn
    Giáo viên nêu vấn đề thực tiễn bằng nhiều hình thức như: một câu chuyện,
    một tình huống thực tiễn, bài tập thực tiễn, dự án học tập giải quyết các vấn đề thực
    tiễn, hoạt động trải nghiệm sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học làm cho
    học sinh xuất hiện nhu cầu giải quyết vấn đề thực tiễn.
    – Bước 3. Đặt câu hỏi định hướng, hình thành ý tưởng của chủ đề, hệ thống
    kiến thức STEM trong chủ đề
    Các câu hỏi tập trung vào các nội dung: Chủ đề nhằm mục đích gì Nhiệm
    vụ chính trong chủ đề là gì Chủ đề có ý nghĩa gì trong thực tiễn Kiến thức môn
    học STEM nào liên quan
    Ý tưởng chủ đề hướng tới các vấn đề thực tiễn gì liên quan để giải quyết
    được vấn đề thực tiễn.
    Xây dựng hệ thống kiến thức thuộc lĩnh vực STEM trong chủ đề. Các kiến
    thức các môn STEM liên quan cần xác định trọng tâm, liên quan trực tiếp chủ đề,
    do đó khi xây dựng chủ đề STEM cần thiết phải hợp tác giữa giáo viên các bộ môn.
    – Bước 4. Xác định mục tiêu của chủ đề
    Cần xác định mục tiêu về kiến thức, kĩ năng và thái độ cần đạt được sau khi
    thực hiện chủ đề STEM cho học sinh. Mục tiêu cần r ràng, có tính khả thi phù hợp
    với năng lực học sinh và điều kiện địa phương.
    – Bước 5. Chuẩn bị các mẫu vật, hóa chất, dụng cụ, vị trí để thực hiện chủ
    đề STEM.
    Trên cơ sở nội dung, mục tiêu chủ đề, giáo viên chuẩn bị hoặc hướng dẫn
    học sinh chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất, dụng cụ cần thiết để tổ chức thực hiện
    chủ đề.
    20
    – Bước 6. Xác định được quy trình các hoạt động hoặc chuỗi hoạt động kĩ
    thuật giải quyết vấn đề thực tiễn bằng ứng dụng STEM và thực hiện được các hoạt
    động giải quyết vấn đề thực tiễn.
    Giáo viên xây dựng quy trình tổ chức, thực hiện chủ đề STEM theo các hoạt
    động một cách rành mạch, r ràng, dễ thực hiện.
    Tuy nhiên, ở mức độ cao hơn, giáo viên chỉ nêu mục tiêu chủ đề, yêu cầu
    đạt được, cung cấp cơ sở vật chất cần thiết yêu cầu học sinh tự xây dựng các bước
    và thực hiện chủ đề. Một trong những giá trị cốt l i chương trình thực hiện chủ đề
    STEM là truyền cảm hứng về khả năng sáng tạo của cá nhân, giúp phát triển các
    đặc điểm của cá nhân sáng tạo: tính trôi chảy, tính linh hoạt, tính độc đáo, tính tỉ mỉ.
    – Bước 7. Báo cáo kết quả, nêu các kiến nghị, đề xuất mới.
    Sau khi thực hiện chủ đề, học sinh báo cáo kết quả quá trình ứng dụng
    STEM giải quyết vấn đề thực tiễn, có thể đề xuất một số vấn đề mới phát sinh, ý
    tưởng mới liên quan đến chủ đề. Giáo viên kết luận vấn đề, tổng kết.
    i ủ họ g i h i ă g họ i h
    iáo dục S E mang lại lợi ch g cho học sinh?
    – Giáo dục STEM là cách tiếp cận giáo dục hàng đầu đang được các quốc gia
    phát triển áp dụng trong hoạt động giáo dục – đào tạo. Giáo dục STEM không nhằm
    mục đích hướng người học trở thành nhà toán học, khoa học hay kỹ sư phần mềm
    mà tạo dựng cho người học kỹ năng tự học, tư duy ngôn ngữ – những kỹ năng thiết
    yếu để đáp ứng công việc của thời đại 4.0.
    – Viẹc đua giáo dục STEM vào truờng trung học mang lại nhiều ý nghĩa, phù
    hợp với định huớng đổi mới giáo dục phổ thông. Cụ thể là:
    + ảm ảo giáo dục toàn diẹn: Triển khai giáo dục STEM ở nhà truờng, bên
    cạnh các môn học đang đuợc quan tâm nhu Toán, Khoa học, các lĩnh vực Công
    nghẹ, Kỹ thuạt cũng sẽ đuợc quan tâm, đầu tu trên tất cả các phuong diẹn về đọi ngũ
    giáo viên, chuong trình, co sở vạt chất.

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • Luận văn xác định hàm lượng chì, kẽm trong đất và nước khu vực mỏ sắt Thuận Hòa – Hà Giang bằng phương pháp phổ hấp thụ và phát xạ nguyên tử

    Luận văn xác định hàm lượng chì, kẽm trong đất và nước khu vực mỏ sắt Thuận Hòa – Hà Giang bằng phương pháp phổ hấp thụ và phát xạ nguyên tử

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    MỞ ĐẦU

    Môi trường và bảo vệ môi trường ngày nay đang là mối quan tâm chung của toàn xã hội. Hiện nay, đất nước ta đang trên con đường Công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên, trong đó có tài nguyên khoáng sản kim loại phục vụ xây dựng và phát triển đất nước là rất cần thiết. Tuy nhiên, quá trình khai thác và chế biến các loại quặng này sẽ tác động nhiều mặt đến môi trường, vì vậy việc nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình khai thác và chế biến các loại quặng sắt tới môi trường ngày càng được quan tâm.

    Hà Giang là tỉnh miền núi có tiềm năng về tài nguyên khoáng sản hết sức đa dạng và phong  phú. Trong đó có những loại khoáng sản có giá trị kinh tế cao là sắt, chì, kẽm, Mangan, Antimon…Theo tài liệu địa chất và khoáng sản, đến nay trên địa bàn tỉnh Hà Giang đã xác định được 215 mỏ, điểm quặng, điểm khoáng sản với 28 loại khoáng sản khác nhau. Trong đó mỏ Quặng sắt (21 mỏ, điểm mỏ). Mỏ sắt ở Thuận Hòa có trữ lượng khoảng 19,8 – 22,0 triệu tấn đây được xem là nơi có trữ lượng sắt lớn nhất trong tỉnh [1].

    Để khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên khoáng sản này cần phải có công nghệ khai thác chế biến phù hợp với điều kiện địa chất khu vực và các điều kiện thực tế khác. Song song với việc khai thác chế biến loại khoáng sản này, công tác bảo vệ môi trường cần phải hết sức quan tâm vì nước thải của quá trình khai thác và chế biến có chứa các ion kim loại nặng (như Pb và Zn) gây ô nhiễm nguồn nước và đất, các ion kim loại này thể hiện độc tính cao đối với sức khỏe của con người khi hàm lượng của chúng vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Vì vậy cần phải phân tích đánh giá mức độ ô nhiễm ảnh hưởng đến nguồn nước và đất ở khu vực khai thác khoảng sản từ đó tìm biện pháp thích hợp để loại trừ và hạn chế ô nhiễm lan rộng là vấn đề cấp bách.

    Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: Xác định hàm lượng chì, kẽm trong đất và nước khu vực mỏ sắt Thuận Hòa – Hà Giang bằng phương pháp phổ hấp thụ và phát xạ nguyên tử”.

    Với mục tiêu:

    – Phân tích xác định hàm lượng chì, kẽm trong mẫu đất và nước.

    – Đánh giá so sánh với tiêu chuẩn Việt Nam để đánh giá mức độ ô nhiễm.

    CHƯƠNG 1

    TỔNG QUAN TÀI LIỆU

    1.1. GIỚI THIỆU VỀ NGUYÊN TỐ CHÌ, KẼM

    1.1.1. Chì

    1.1.1.1. Trạng thái tự nhiên

    Chì trong tự nhiên chiếm khoảng 0,0016 % khối lượng vỏ Trái đất, phân bố trong 170 khoáng vật khác nhau nhưng quan trọng nhất là galena (PbS), anglesite ( PbSO4 ) và cerussite ( PbCO3), hàm lượng chì trong các khoáng lần lượt là 88 %, 68% và 77%. [1, 2, 3]

    1.1.1.2. Tính chất vật lí

    Chì  là kim loại nặng, có ánh kim. Chì kim loại có màu xanh xám, mềm, bề mặt chì thường mờ đục do bị oxi hóa. Một số hằng số vật lí của chì: [1, 2]

    Cấu hình electron[Xe]4f145d106s26p2
    Năng lượng ion hóa thứ nhất (eV)7,42
    Bán kính nguyên tử (A0)1,75
    Thế điện cực chuẩn (V)-0,126
    Khối lượng nguyên tử (đvC)207,21
    Nhiệt độ nóng chảy (oC)327
    Nhiệt độ sôi (oC)1737
    Cấu trúc tinh thểLập phương tâm diện

    1.1.1.3. Tính chất hóa học

    Nhìn chung, chì là kim loại tương đối hoạt động về mặt hoá học. Ở điều kiện thường, chì bị oxi hoá tạo thành lớp oxit màu xám xanh bao bọc bên trên mặt bảo vệ cho chì không tiếp xúc bị oxi hoá nữa:

    2Pb + O2 → 2PbO

    Khi gặp nước, nước sẽ tách dần màng oxit bao bọc ngoài và tiếp tục bị tác dụng.

    Chì tương tác với halogen và nhiều nguyên tố không kim loại khác:

    Pb + X2 → PbX2

    Chì có thế điện cực âm nên về nguyên tắc nó tan được trong các axit. Nhưng thực tế chì chỉ tương tác ở trên bề mặt với dung dịch axit clohiđric loãng và axit sunfuric dưới 80% vì bị bao bọc bởi lớp muối khó tan (PbCl2; PbSO4). Với dung dịch đậm đặc hơn của các axit đó, chì có thể tan vì muối khó tan của lớp bảo vệ đã chuyển thành hợp chất tan: [1, 2, 3]

    PbCl2 + 2HCl → H2PbCl4

    PbSO4 + H2SO4 → Pb(HSO4)2

    Với axit nitric ở bất kỳ nồng độ nào, chì tương tác như một kim loại:

    3Pb + 8HNO3loãng → 3Pb(NO3)2 + 2NO + 4H2O

    Khi có mặt oxi, chì có thể tương tác với nước:

    2Pb + 2H2O + O2 → 2Pb(OH)2

    có thể tan trong axit axetic và các axit hữu cơ khác:

    2Pb + 4CH3COOH + O2 → 2Pb(CH3COO)2 + 2H2O

    Với dung dịch kiềm, chì có tương tác khi đun nóng, giải phóng hiđro:

    Pb + 2KOH + 2H2O → K2[Pb(OH)4] + H2

    1.1.1.4. Tác dụng sinh hóa

    Chì là một nguyên tố không cần thiết cho cơ thể sinh vật. Không khí, nước và thực phẩm bị ô nhiễm chì đều rất nguy hiểm cho con người, nhất là trẻ em đang phát triển. Chì có tác dụng âm tính lên sự phát triển của bộ não trẻ em, chì ức chế mọi hoạt động của các enzim, không chỉ ở não mà còn ở các bộ phận tạo máu, nó là tác nhân phá hủy hồng cầu.       

    Chì có thể thâm nhập vào cơ thể con người qua thức ăn, nước uống, hít thở hoặc thông qua da nhưng chủ yếu lượng chì đi vào cơ thể con người là do khẩu phần ăn uống, chúng được tích tụ trong xương, ít gây độc cấp tính trừ liều lượng cao, nguy hiểm hơn là sự tích luỹ lâu dài trong cơ thể ở liều lượng thấp nhưng với thời gian dài. Triệu chứng thể hiện nhiễm độc chì là mệt mỏi, ăn không ngon, đau đầu, nó tác dụng lên hệ thần kinh trung ương và ngoại vi, hiệu ứng sinh hoá quan trọng của chì là can thiệp vào hồng cầu, nó can thiệp vào quá trình tạo hợp chất trung gian trong quá trình hình thành Hemoglobin. Khi nồng độ chì trong máu đạt 0,3 ppm thì nó ngăn cản quá trình sử dụng oxi để oxi hóa glucoza tạo a năng lượng cho quá trình sống, do đó làm cho cơ thể mệt mỏi và khi nồng độ lớn hơn 0,8 ppm thì hụt hẳn Hemoglobin gây thiếu máu và làm rối loạn chức năng thận.

    Ngoài ra Pb2+ đồng hình với Ca2+ nên có thể thay thế Ca2+ tạo phức trong xương (làm xương đen), nếu lượng Ca2+ cao lại đẩy Pb2+ ra và Pb2+ được tích luỹ ở mô mềm. [4]

    1.1.2. Kẽm

    1.1.2.1. Trạng Thái tự nhiên

    Kẽm là nguyên tố tương đối phổ biến. Trong vỏ Trái Đất kẽm chiếm khoảng 75 ppm. Đất chứa 5-77 ppm kẽm với giá trị trung bình là 64 ppm. Nước biển chứa 30 ppb và trong khí quyển chứa 0.1-4 µg/m. Ngoài ra kẽm có trong tất cả các loài vật sống, cơ thể con người chứa đến 0.001 % kẽm ở răng và hệ thần kinh và tuyến sinh dục

    Kẽm (tiếng la tinh là zinc) nằm ở vị trí thứ 30 trong bảng tuần hoàn thuộc phân nhóm IIB.  Kẽm là nguyên tố phổ biến thứ 24 trong lớp vỏ Trái Đất và có 5 đồng vị bền. Quặng kẽm phổ biến nhất là quặng sphalerit, một loại kẽm sulfua. [5, 6]

    1.1.2.2. Trạng thái vật lý

    Kẽm là kim loại có màu trắng bạc nhưng ở trong không khí ẩm nó dần bị bao phủ bởi màng oxit nên mất ánh kim. Là kim loại mềm dễ nóng chảy, dễ bay hơi tương đối cứng và giòn..

    Màu sắcÁnh kim bạc xám
    Trạng thái vật chấtChất rắn
    Nhiệt độ nóng chảy692,68 K ​(419,53 °C, ​787,15 °F)
    Nhiệt độ sôi1.180 K ​(907 °C, ​1.665 °F)
    Mật độ7,14 g·cm−3 (ở 0 °C, 101.325 kPa)
    Mật độ ở thể lỏngở nhiệt độ nóng chảy: 6,57 g·cm−3
    Nhiệt lượng nóng chảy7,32 kJ·mol−1
    Nhiệt lượng bay hơi123,6 kJ·mol−1
    Nhiệt dung25,470 J·mol−1·K−1

    Kẽm là kim loại có màu trắng bạc nhưng ở trong không khí ẩm nó dần bị bao phủ bởi màng oxit nên mất ánh kim. Là kim loại mềm dễ nóng chảy, dễ bay hơi tương đối cứng và giòn. [5, 6]

    1.1.2.3. Tính chất hóa học

    Kẽm là kim loại tương đối hoạt động. Trong không khí ẩm, kẽm bền ở nhiệt độ thường do có màng oxit bảo vệ. Nhưng ở nhiệt độ cao, kẽm cháy mãnh liệt tạo thành ngọn lửa màu lam và sáng chói.

    Kẽm tác dụng với halogen, lưu huỳnh và các nguyên tố không kim loại khác như photpho, selen…

    Ở nhiệt độ thường, Zn bền với nóng nước vì có màng oxit bảo vệ, ở nhiệt độ cao khử hơi nước thành oxit:

    Zn + H2O  →  ZnO  + H2

    Có thế điện cực âm, kẽm dễ dàng tác dụng với axit không phải là chất oxi hoá giải phống khí hidro.

    Kẽm có thể tan trong dung dịch kiềm giải phóng hidro giống như nhôm:

    Zn + 2H2O + 2 OH → [ Zn(OH)42-]  + H2

    1.1.2.4. Tác dụng sinh hóa

    Kẽm tham gia hoạt hoá khoảng 70 enzym của nhiều hoạt đông sinh lý, sinh hoá của cây. Nó là một nguyên tố có ảnh hưởng to lớn đối với năng suất cây trồng. Thực vật hấp thụ kẽm ở dạng ion Zn2+. Tác dụng sinh lý của kẽm:

    1. Zn cần cho sự hoạt động của nhiều enzym đường phân (hexokinase, andolase…)

    2. Zn hoạt hoá enzym hô hấp cacboanhydrase, xúc tác phản ứng loại nước của hydrat oxit cacbon. Phản ứng này cung cấp CO2 cho quá trình quang hợp.

    3. Zn xúc tác quá trình tổng hợp triptophan, protein, axit indolilaxetic và cần cho quá trình sử dụng P vô cơ thành P hữu cơ trong thành phần của axit nucleic, các nucleotit.

    Mặc dù kẽm là vi chất cần thiết cho sức khỏe, tuy nhiên nếu hàm lượng kẽm vượt quá mức cần thiết sẽ có hại cho sức khỏe. Hấp thụ quá nhiều kẽm làm ngăn chặn sự hấp thu đồng và sắt. Ion kẽm tự do trong dung dịch là chất có độc tính cao đối với thực vật, động vật và đặc biệt là đối với người. [3, 7]

    1.2. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH KẼM VÀ CHÌ

    Hiện nay có rất nhiều phương pháp khác nhau để xác định Kẽm và Chì như phương pháp phân tích khối lượng, phân tích thể tích, điện hoá, phổ phân tử UV – VIS, phổ phát xạ nguyên tử (AES), phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa (F-AAS) và không ngọn lửa (GF-AAS), phương pháp ICP – OES,.… Dưới đây là một số phương pháp xác định Zn, Pb.

    1.2.1. Các phương pháp hoá học

    1.2.1.1. Phương pháp phân tích khối lượng

    Phương pháp phân tích khối lượng là phương pháp cổ điển, độ chính xác có thể đạt tới 0,1%. Cơ sở của phương pháp là sự kết tủa định lượng của chất phân tích với một thuốc thử thích hợp. [7]

    1.2.1.2. Phương pháp phân tích thể tích

    Phương pháp phân tích thể tích dựa trên sự đo thể tích dung dịch thuốc thử để biết nồng độ chính xác (dung dịch chuẩn) được thêm vào dung dịch chất định phân để tác dụng đủ toàn bộ lượng chất định phân đó. Thời điểm thêm lượng thuốc thử tác dụng với toàn bộ chất định phân gọi là điểm tương đương. Để nhận biết điểm tương đương, người ta dùng các chất gây ra hiện tượng có thể quan sát bằng mắt gọi là các chất chỉ thị. [7]

    1.2.1.3. Phương pháp phân tích công cụ.

    1. Phương pháp phổ hấp thụ phân tử UV – VIS

    Phương pháp này chính là phương pháp phổ hấp thụ phân tử trong vùng UV – VIS. Ở điều kiện thường, các phân tử, nhóm phân tử của chất bền vững và nghèo năng lượng. Đây là trạng thái cơ bản. Nhưng khi có một chùm sáng với năng lượng thích hợp chiếu vào thì các điện tử hoá trị trong các liên kết (л, ∂ , n) sẽ hấp thụ năng lượng chùm sáng, chuyển lên trạng thái kích thích với năng lượng cao hơn. Hiệu số giữa hai mức năng lượng (cơ bản Eo và kích thích Em) chính là năng lượng mà phân tử hấp thụ từ nguồn sáng để tạo ra phổ hấp thụ phân tử của chất.

    Nguyên tắc: Phương pháp xác định dựa trên việc đo độ hấp thụ ánh sáng của một dung dịch phức tạo thành giữa ion cần xác định với một thuốc thử vô cơ hay hữu cơ trong môi trường thích hợp khi được chiếu bởi chùm sáng. Phương pháp định lượng phép đo:

    A = K.C

    Trong đó:       A: độ hấp thụ quang

    K: hằng số thực nghiệm

    C: nồng độ nguyên tố phân tích

    Phương pháp này cho phép xác định nồng độ chất ở khoảng 10-5 – 10-7M và là một trong các phương pháp được sử dụng khá phổ biến.

    Phương pháp trắc quang có độ nhạy, độ ổn định và độ chính xác khá cao, được sử dụng nhiều trong phân tích vi lượng. Tuy nhiên với việc xác định Zn, Pb thì lại gặp rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của một số ion kim loại tương tự. Khi đó phải thực hiện các công đoạn che, tách phức tạp. [7]

    2. Phương pháp cực phổ

    Nguyên tắc: Người ta thay đổi liên tục và tuyến tính điện áp đặt vào 2 cực để khử các ion kim loại, do mỗi kim loại có thế khử khác nhau. Thông qua chiều cao của đường cong Von-Ampe có thể định lượng được ion kim loại trong dung dịch ghi cực phổ. Vì dòng giới hạn Igh ở các điều kiện xác định tỉ lệ thuận với nồng độ ion trong dung dịch ghi cực phổ theo phương trình:

    I = k.C

    Phương pháp này sử dụng điện cực giọt thuỷ ngân rơi làm cực làm việc, trong đó thế được quét tuyến tính rất chậm theo thời gian (thường 1 – 5 mV/s) đồng thời ghi dòng là hàm của thế trên cực giọt thuỷ ngân rơi. Sóng cực phổ thu được có dạng bậc thang, dựa vào chiều cao có thể định lượng được chất phân tích.

    Phương pháp này có khá nhiều ưu điểm: Nó cho phép xác định cả chất vô cơ và hữu cơ với nồng độ 10-5 ÷ 10-6M tuỳ thuộc vào cường độ và độ lặp lại của dòng dư. Sai số của phương pháp thường là 2 ÷ 3% với nồng độ 10-3 ÷ 10-4M, là 5% với nồng độ 10-5  M (ở điều kiện nhiệt độ không đổi). Tuy nhiên phương pháp cực phổ bị ảnh hưởng rất lớn của dòng tụ điện, dòng cực đại, lượng oxi hoà tan hay bề mặt điện cực nên giới hạn phát hiện kém khoảng 10-5 – 10-6 M.

    Nhằm loại trừ ảnh hưởng trên đồng thời tăng độ nhạy, hiện nay đã có các phương pháp cực phổ hiện đại: cực phổ xung vi phân (DPP), cực phổ sóng vuông (SQWP)… chúng cho phép xác định lượng vết của nhiều nguyên tố. [8]

    3. Phương pháp Von-Ampe hoà tan

    Về bản chất, phương pháp Von-Ampe hoà tan cũng giống như phương pháp cực phổ là dựa trên việc đo cường độ dòng để xác định nồng độ các chất trong dung dịch. Nguyên tắc gồm hai bước:

    Bước 1: Điện hoá làm giàu chất cần phân tích trên bề mặt điện cực làm việc trong khoảng thời gian xác định, tại thế điện cực xác định.

    Bước 2: Hoà tan kết tủa đã được làm giàu bằng cách phân cực ngược cực làm việc, đo và ghi dòng hoà tan. Trên đường Von-Ampe hoà tan xuất hiện pic của nguyên tố cần phân tích. Chiều cao pic tỉ lệ thuận với nồng độ. [8]

    4. Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử

    Nguyên tắc: Khi nguyên tử tồn tại tự do ở thể khí và ở trạng thái năng lượng cơ bản, thì nguyên tử không thu hay không phát ra năng lượng. Tức là nguyên tử ở trạng thái cơ bản. Song, nếu chiếu vào đám hơi nguyên tử tự do một chùm tia sáng đơn sắc có bước sóng phù hợp, trùng với bước sóng vạch phổ phát xạ đặc trưng của nguyên tố phân tích, chúng sẽ hấp thụ tia sáng đó sinh ra một loại phổ của nguyên tử. Phổ này được gọi là phổ hấp thụ của nguyên tử. Với hai kỹ thuật nguyên tử hóa, nên chúng ta cũng có hai phép đo tương ứng. Đó là phép đo phổ hấp thụ nguyên tử trong ngọn lửa (F- AAS có độ nhạy cỡ 0,1 ppm) và phép đo phổ hấp thụ nguyên tử không ngọ n lửa (GF – AAS có độ nhạy cao hơn kỹ thuật ngọn lửa 50- 1000 lần, cỡ 0,1- 1 ppb).

    Cơ sở của phân tích định lượng theo AAS là dựa vào mối quan hệ giữa cường độ vạch phổ và nồng độ nguyên tố cần phân tích theo biểu thức:

    Aλ = a.CX

    Có 2 phương pháp định lượng theo phép đo AAS là : phương pháp đường chuẩn và phương pháp thêm tiêu chuẩn.

    Thực tế cho thấy phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử có nhiều ưu việt như:

    Độ nhạy, độ chính xác cao, lượng mẫu tiêu thụ ít, tốc độ phân tích nhanh. Với ưu điểm này, AAS được thế giới dùng làm phương pháp tiêu chuẩn để xác định lượng nhỏ và lượng vết các kim loại trong nhiều đối tượng khác nhau.

    Phép đo phổ AAS có thể phân tích được hàm lượng vết của hầu hết các kim loại và cả những hợp chất hữu cơ hay anion không có phổ hấp thụ nguyên tử. Nó được sử dụng rộng rãi trong các ngành: địa chất, công nghiệp hóa học, hóa dầu, y học, sinh học, dược phẩm. [9]

    4.1.  Phép đo phổ F-AAS

    Kỹ thuật F-AAS dùng năng lượng nhiệt của ngọn lửa đèn khí để hoá hơi và

    nguyên tử hoá mẫu phân tích. Do đó mọi quá trình xảy ra trong khi nguyên tử hoá mẫu phụ thuộc vào đặc trưng và tính chất của ngọn lửa đèn khí nhưng chủ yếu là nhiệt độ ngọn lửa. Đây là yếu tố quyết định hiệu suất nguyên tử hoá mẫu phân tích, mọi yếu tố ảnh hưởng đến nhiệt độ ngọn lửa đèn khí đều ảnh hưởng đến kết quả của phương pháp phân tích. [9]

    4.2. Phép đo phổ GF-AAS

    Kỹ thuật GF-AAS ra đời sau kỹ thuật F-AAS nhưng đã được phát triển rất nhanh, nó đã nâng cao độ nhạy của phép xác định lên gấp hàng trăm lần so với kỹ thuật F-AAS. Mẫu phân tích bằng kỹ thuật này không cần làm giàu sơ bộ và lượng mẫu tiêu tốn ít.

    Kỹ thuật GF-AAS là quá trình nguyên tử hoá tức khắc trong thời gian rất ngắn nhờ năng lượng nhiệt của dòng điện có công suất lớn và trong môi trường khí trơ (Argon). Quá trình nguyên tử hoá xảy ra theo các giai đoạn kế tiếp nhau: sấy khô, tro hoá luyện mẫu, nguyên tử hoá để đo phổ hấp thụ nguyên tử và cuối cùng là làm sạch cuvet. Nhiệt độ trong cuvet graphit là yếu tố quyết định mọi diễn biến của quá trình nguyên tử hoá mẫu. Trong đó hai giai đoạn đầu là chuẩn bị cho giai đoạn nguyên tử hóa để đạt kết quả tốt. Nhiệt độ trong cuvet graphit là yếu tố chính quyết định mọi sự diễn biến của quá trình nguyên tử hóa mẫu.

    * Những ưu nhược điểm của phép đo:

    Cũng như các phương pháp phân tích khác, phương pháp phân tích phổ hấp thụ nguyên tử cũng có những ưu, nhược điểm nhất định đó là:

    – Ưu điểm: Đây là phép đo có độ nhạy cao và độ chọn lọc tương đối cao. Gần 60 nguyên tố hoá học có thể xác định bằng phương pháp này với độ nhạy từ 1.10-4 – 1.10-5 %. Đặc biệt, nếu sử dụng kỹ thuật nguyên tử hoá không ngọn lửa thì có thể đạt tới độ nhạy n.10-7 %. Chính vì có độ nhạy cao nên phương pháp phân tích này đã được sử dụng rất rộng rãi trong nhiều lĩnh vực để xác định lượng vết các kim loại. Một ưu điểm lớn của phép đo là: trong nhiều trường hợp không phải làm giàu nguyên tố cần xác định trước khi phân tích. Do đó, tốn ít mẫu, ít thời gian cũng như hoá chất tinh khiết để làm giàu mẫu. Tránh được sự nhiễm bẩn khi xử lý mẫu qua các giai đoạn phức tạp. Đặc biệt, phương pháp này cho phép phân tích hàng loạt mẫu với thời gian ngắn, kết quả phân tích lại rất ổn định, sai số nhỏ.

    – Nhược điểm: Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm phép đo AAS cũng có nhược điểm là chỉ cho biết thành phần nguyên tố của chất ở trong mẫu phân tích mà không chỉ ra trạng thái liên kết của nguyên tố ở trong mẫu. [9]

    5. Phương pháp phổ phát xạ nguyên tử (ICP – OES)

    Khi ở điều kiện thường, nguyên tử không thu hay phát ra năng lượng nhưng nếu bị kích thích thì các điện tử hoá trị sẽ nhận năng lượng chuyển lên trạng thái có năng lượng cao hơn (trạng thái kích thích). Trạng thái này không bền, chúng có xu hướng giải phóng năng lượng để trở về trạng thái ban đầu bền vững dưới dạng các bức xạ. Các bức xạ này được gọi là phổ phát xạ của nguyên tử.

    Phương pháp ICP – OES dựa trên sự xuất hiện phổ phát xạ của nguyên tử tự do của nguyên tố phân tích ở trạng thái khí khi có sự tương tác với nguồn năng lượng phù hợp. Hiện nay, người ta dùng một số nguồn năng lượng để kích thích phổ AES như ngọn lửa đèn khí, hồ quang điện, tia lửa điện, plasma cao tần cảm ứng (ICP)…

    Nhìn chung, phương pháp AES đạt độ nhạy rất cao (thường từ n.10-3 đến n.10-4%), lại tốn ít mẫu, có thể phân tích đồng thời nhiều nguyên tố trong cùng một mẫu. Vì vậy, đây là phương pháp dùng để kiểm tra đánh giá hoá chất, nguyên liệu tinh khiết, phân tích lượng vết ion kim loại độc trong nước, lương thực, thực phẩm. Tuy nhiên, phương pháp này lại chỉ cho biết thành phần nguyên tố trong mẫu mà không chỉ ra được trạng thái liên kết của nó trong mẫu. [9]

    Hình 1.1. Nguyên tắc cấu tạo hệ thống máy phổ phát xạ nhiều kênh

    HF-Nguồn cao tần RF. Pm-Hệ NTH mẫu. S-Tâm ngọn lửa ICP.  T-Khe sáng.

    L-Hệ thấu kính. G-Cách tử. M1-Hệ chuẩn trực. M2-Hệ hội tụ. PM-Nhân quang (detectror), >>-Hệ điện tử. Sig-Bộ hiện thị kết quả. Mr-Hệ máy tính

    1.3. GIỚI THIỆU CÁC MỎ QUẶNG SẮT VÀ CÔNG NGHỆ KHAI THÁC QUẶNG SẮT THUẬN HÒA HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG

    Hà Giang là tỉnh có tiềm năng về tài nguyên khoáng sản hết sức đa dạng và phong  phú cả về kim loại và phi kim loại. Trong đó có những loại khoáng sản có giá trị kinh tế cao là chì, kẽm, Mangan, Antimon…Theo tài liệu địa chất và khoáng sản, đến nay trên địa bàn tỉnh Hà Giang đã xác định được 215 mỏ, điểm quặng, điểm khoáng sản với 28 loại khoáng sản khác nhau. Trong đó 4 loại khoáng sản trọng điểm là: Quặng sắt (21 mỏ, điểm mỏ); quặng chì, kẽm (16 mỏ, điểm mỏ); quặng Mangan (27 mỏ, điểm mỏ) và quặng Antimon.

    Mỏ sắt Tùng Bá có trữ lượng 22 triệu tấn

    Mỏ sắt Thuận Hòa có trữ lượng 725,525 tấn công suất 100.000 ngìn tấn/năm

    Mỏ sắt Sàng Thần (huyện Bắc Mê) trữ lượng 31,86 triệu tấn. [1]

     

    Hình 1.2. Toàn cảnh khu khai thác mỏ sắt Thuận hòa

    * Quy trình khai thác quạng sắt tại mỏ sắt Thuận Hòa

    Quặng đầu được máy xúc tải cấp lên bun ke cấp liệu. Quặng từ bun ke cấp liệu được máy cấp liệu cấp lên máy đập hàm để giảm kích thước cỡ hạt xuống còn -100mm, sau đó quặng được băng tải vận chuyển lên máy đập trung  là máy đập nón để tiếp tục giảm kích thước cỡ hạt xuống còn -35mm rồi được băng tải vận chuyển tới sàng sơ bộ và kiểm tra có kích thước lỗ lưới 8mm. Sản phẩm trên sàng qua máng dẫn đổ trực tiếp vào máy đập nhỏ  là máy đập nón, sản phẩm của máy đập được băng tải  cấp trở lại sàng phân loại S1 theo một chu trình. Sản phẩm dưới sàng được băng tải  vận chuyển lên hai bun ke trung chuyển

    Quặng có cấp hạt 0÷8mm từ bun ke qua máy cấp liệu qua băng tải (B5) cấp cho máy nghiền bi giai đoạn 1được nghiền đến cấp hạt -0,5mm. Sản phẩm của máy nghiền được kiểm tra lại qua phân cấp ruột xoắn, cát của phân cấp ruột xoắn được cấp trở lại máy nghiền, bùn tràn của phân cấp ruột xoắn được chảy xuống thùng  qua bơm  cấp lên thiết bị tuyển vít đứng. Qua hệ thống tuyển vít đứng quặng được chia thành 03 sản phẩm. Sản phẩm tinh quặng (tinh quặng 1) được chảy xuống thùng bơm bơm ra bể lắng quặng tinh, sản phẩm đuôi được tự chảy qua đường ống vào thùng chứa bùn quặng ; còn sản phẩn trung gian của vít đứng tự chảy vào máy nghiền giai đoạn 2.

    Sản phẩm của máy nghiền giai đoạn 2 với độ mịn nghiền là -0,1mm tức tỷ lệ của cấp hạt -0,074mm chiếm khoảng 70%. Sản phẩm của máy nghiền được kiểm tra lại qua phân cấp ruột xoắn. Cát của phân cấp ruột xoắn được cấp trở lại máy nghiền, bùn tràn của phân cấp được chảy xuống thùng bơm  và qua bơm  cấp lên thiết bị tuyển vít đứng .

    Qua vít xoắn, quặng được phân chia thành 02 sản phẩm: sản phẩm tinh quặng (tinh quặng 2) chảy xuống bể lắng quặng tinh, quăng đuôi của vít đứng kết hợp với quặng đuôi của vít đứng trước gộp chảy xuống thùng bơm bùn .

    Qua bơm bùn quặng lên máy tuyển từ chính, bùn thải của máy tuyển từ chính lại được tuyển lại trên máy tuyển từ vét, tinh quặng của máy tuyển từ chính và máy tuyển từ vét (tinh quặng 3) được bơm về bể lắng quặng tinh. Bùn thải của máy tuyển từ vét chảy về thùng bơm bùn và được bơm  bơm ra hồ lắng bùn. Tại hồ lắng bùn nước trong được cấp trở lại dây chuyền xưởng tuyển.

    Tinh quặng 1, tinh quặng 2, tinh quặng 3 được bơm về bể lắng quặng tinh theo từng ô một và luôn phiên tháo khô được máy bốc lên ô tô vận chuyển về kho chứa sản phẩm trước khi cấp cho nhà máy luyện gang.

    Đập hàm
    Đập côn trung
    Sàng phân loại 8mm
    Quặng nguyên khai
    Đập côn nhỏ
    Nghiền -0,5mm
    Phân cấp ruột xoắn 1
    Tuyển vít đứng 1
    Nghiền -0,1mm
    Phân cấp ruột xoắn 2
    Tuyển vít đứng 2
    Tuyển từ 2 cấp
    Bể lắng quặng tinh
    Hồ lắng quặng tinh
    Tinh quặng
    Nước tuần hoàn
    Bùn thải
     

    Hình 1.3. Sơ đồ công nghệ tuyển quặng sắt Thuận Hòa

    CHƯƠNG 2

    THỰC NGHIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    2.1. THIẾT BỊ, HÓA CHẤT, DỤNG CỤ

    2.1.1. Thiết bị

    – Máy quang phổ hấp thụ nguyên tử Shimadzu AA – 6300 của Nhật Bản tại Trung tâm y tế Dự phòng Thái Nguyên.

    – Máy quang phổ phát xạ nguyên tử Agilent ICP- OES 5100 của Mỹ tại phòng phân tích SGS Núi Pháo – Thái Nguyên.

    – Máy cất nước hai lần Aquatron A4000D  của Mỹ .

    – Cân phân tích  CPA2245 của Đức (  0,1 mg).

    – Tủ lạnh, bếp điện.

    2.1.2. Dụng cụ

     – Bình định mức các loại: 10, 25, 50, 100, 250 ml.

     – Pipet man.             

     – Pipet bầu 1, 2, 5, 10 ml

     – Cốc thuỷ tinh, ống đong, phễu các loại.

    2.1.3. Hoá chất

    – Các dung dịch chuẩn của Pb, Zn được pha từ dung dịch chuẩn có nồng độ 1000mg/l của hãng Meck (Đức) sản xuất.

    – Dung dịch HCl, HNO3, Mg(NO3)2 (Merk).

    Các dung dịch hóa chất đều được pha chế bằng nước cất 2 lần.

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • Luận văn xác định hàm lượng Chì và Asen trong một số mẫu đất và nước khu vực mỏ Trại Cau – Thái Nguyên bằng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử và phổ phát xạ nguyên tử

    Luận văn xác định hàm lượng Chì và Asen trong một số mẫu đất và nước khu vực mỏ Trại Cau – Thái Nguyên bằng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử và phổ phát xạ nguyên tử

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    MỞ ĐẦU

              Những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của cả nước, các hoạt động khai thác khoáng sản đã và đang góp phần to lớn vào công cuộc đổi mới đất nước. Ngành công nghiệp khai thác mỏ đã và đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của Việt Nam. Trong những năm qua, hoạt động khai khoáng sản đã đóng góp tới 5,6% GDP. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đạt được, chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề về môi trường. Quá trình khai thác mỏ phục vụ cho lợi ích của mình, con người đã làm thay đổi môi trường xung quanh. Yếu tố chính gây tác động đến môi trường là khai trường của các mỏ, bãi thải, khí độc hại, bụi và nước thải… Làm phá vỡ cân bằng điều kiện sinh thái, đã được hình thành từ hàng chục triệu năm, gây ra sự ô nhiễm nặng nề đối với môi trường và là vấn đề cấp bách mang tính chất xã hội và chính trị của cộng đồng [1].

              Ô nhiễm không khí, nước: Các hoạt động khai thác khoáng sản thường sinh ra bụi, nước thải với khối lượng lớn, gây ô nhiễm không khí và nước. Tác động hoá học của hoạt động khai thác khoáng sản tới nguồn nước: Sự phá vỡ cấu trúc của đất đá chứa quặng khi tiến hành đào bới và khoan nổ sẽ thúc đẩy các quá trình hoà tan, rửa lũa các thành phần chứa trong quặng và đất đá, quá trình tháo khô mỏ, đổ các chất thải vào nguồn nước, chất thải rắn, bụi thải không được quản lý, xử lý chặt chẽ, tham gia vào thành phần nước mưa, nước chảy tràn cung cấp cho nguồn nước tự nhiên,… là những tác động hoá học làm thay đổi tính chất vật lý và thành phần hoá học của nguồn nước xung quanh các khu mỏ [1].

    Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Đồng Hỷ nói riêng, tài nguyên rất phong phú và đa dạng: nhiều mỏ kim loại màu, kim loại đen, mỏ sắt đang và sẽ được khai thác trong tương lai. Trong quá trình khai thác, các hợp chất của một số kim loại nặng như: Chì, Kẽm, Thủy ngân, Cadimi, Asen…sẽ được giải phóng có thể đi vào trong môi trường đất hay nước gây ô nhiễm môi trường và khu vực xung quanh. Mỏ sắt Trại Cau là một trong những mỏ sắt lớn ở Thái Nguyên, vì vậy nó cũng tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm các kim loại nặng đối với môi trường xung quanh.

    Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài:

    “Xác định hàm lượng Chì và Asen trong một số mẫu đất và nước khu vực mỏ Trại Cau – Thái Nguyên bằng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử và phổ phát xạ nguyên tử” với các mục tiêu là:

    1. Nghiên cứu, khảo sát các điều kiện tối ưu để xác định hàm lượng Chì và Asen trong một số mẫu đất và mẫu nước khu vực mỏ Trại Cau – Thái Nguyên bằng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử và phổ phát xạ nguyên tử.

    2. Áp dụng các kết quả nghiên cứu để đánh giá khả năng ô nhiễm Chì và Asen trong mẫu đất và mẫu nước khu vực mỏ Trại Cau – Thái Nguyên.

    CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

    1. Nguyên tố Chì (Pb) và Asen (As)

    1.1.1. Giới thiệu về nguyên tố Chì (Pb)

    1.1.1.1. Trạng thái tự nhiên

    Chì trong tự nhiên chiếm khoảng 0,0016 % khối lượng vỏ Trái đất, phân bố trong 170 khoáng vật khác nhau nhưng quan trọng nhất là galena (PbS), anglesite ( PbSO4 ) và cerussite ( PbCO3), hàm lượng chì trong các khoáng lần lượt là 88 %, 68% và 77% [2].

    1.1.1.2. Tính chất vật lí

    Chì  là kim loại nặng, có ánh kim. Chì kim loại có màu xanh xám, mềm, bề mặt chì thường mờ đục do bị oxi hóa. Một số hằng số vật lí của chì [2]:

    Cấu hình electron[Xe]4f145d106s26p2
    Năng lượng ion hóa thứ nhất (eV)7,42
    Bán kính nguyên tử (A0)1,75
    Thế điện cực chuẩn (V)-0,126
    Khối lượng nguyên tử (đvC)207,21
    Nhiệt độ nóng chảy (oC)327
    Nhiệt độ sôi (oC)1737
    Cấu trúc tinh thểLập phương tâm diện

    1.1.1.3. Tính chất hóa học

    Nhìn chung, chì là kim loại tương đối hoạt động về mặt hoá học. Ở điều kiện thường, chì bị oxi hoá tạo thành lớp oxit màu xám xanh bao bọc bên trên mặt bảo vệ cho chì không tiếp xúc bị oxi hoá nữa [2]:

    2Pb + O2 → 2PbO

    Khi gặp nước, nước sẽ tách dần màng oxit bao bọc ngoài và tiếp tục bị tác dụng.

              Chì tương tác với halogen và nhiều nguyên tố không kim loại khác:

    Pb + X2 → PbX2

              Chì có thế điện cực âm nên về nguyên tắc nó tan được trong các axit. Nhưng thực tế chì chỉ tương tác ở trên bề mặt với dung dịch axit clohiđric loãng và axit sunfuric dưới 80% vì bị bao bọc bởi lớp muối khó tan (PbCl2; PbSO4). Với dung dịch đậm đặc hơn củacác axit đó, chì có thể tan vì muối khó tan của lớp bảo vệ đã chuyển thành hợp chất tan:

    PbCl2 + 2HCl → H2PbCl4

    PbSO4 + H2SO4 → Pb(HSO4)2

    Với axit nitric ở bất kỳ nồng độ nào, chì tương tác như một kim loại:

    3Pb + 8HNO3loãng → 3Pb(NO3)2 + 2NO + 4H2O

    Khi có mặt oxi, chì có thể tương tác với nước:

    2Pb + 2H2O + O2 → 2Pb(OH)2

    có thể tan trong axit axetic và các axit hữu cơ khác:

    2Pb + 4CH3COOH + O2 → 2Pb(CH3COO)2 + 2H2O

    Với dung dịch kiềm, chì có tương tác khi đun nóng, giải phóng hiđro:

    Pb + 2KOH + 2H2O → K2[Pb(OH)4] + H2

    1.1.1.4. Độc tính của Chì

              Chì là một nguyên tố không cần thiết cho cơ thể sinh vật. Không khí, nước và thực phẩm bị ô nhiễm chì đều rất nguy hiểm cho con người, nhất là trẻ em đang phát triển. Chì có tác dụng âm tính lên sự phát triển của bộ não trẻ em, chì ức chế mọi hoạt động của các enzim, không chỉ ở não mà còn ở các bộ phận tạo máu, nó là tác nhân phá hủy hồng cầu.

    Chì có thể thâm nhập vào cơ thể con người qua thức ăn, nước uống, hít thở hoặc thông qua da nhưng chủ yếu lượng chì đi vào cơ thể con người là do khẩu phần ăn uống, chúng được tích tụ trong xương, ít gây độc cấp tính trừ liều lượng cao, nguy hiểm hơn là sự tích luỹ lâu dài trong cơ thể ở liều lượng thấp nhưng với thời gian dài. Triệu chứng thể hiện nhiễm độc chì là mệt mỏi, ăn không ngon, đau đầu, nó tác dụng lên hệ thần kinh trung ương và ngoại vi, hiệu ứng sinh hoá quan trọng của chì là can thiệp vào hồng cầu, nó can thiệp vào quá trình tạo hợp chất trung gian trong quá trình hình thành Hemoglobin. Khi nồng độ chì trong máu đạt 0,3 ppm thì nó ngăn cản quá trình sử dụng oxi để oxi hóa glucoza tạo ra năng lượng cho quá trình sống, do đó làm cho cơ thể mệt mỏi và khi nồng độ lớn hơn 0,8 ppm thì hụt hẳn Hemoglobin gây thiếu máu và làm rối loạn chức năng thận.

              Ngoài ra Pb2+ đồng hình với Ca2+ nên có thể thay thế Ca2+ tạo phức trong xương (làm xương đen), nếu lượng Ca2+ cao lại đẩy Pb2+ ra và Pb2+ được tích luỹ ở mô mềm[3].

    1.1.2. Giới thiệu về nguyên tố Asen (As)

    1.1.2.1.Trạng thái tự nhiên của Asen

    As chiếm khoảng 10-4 % tổng số nguyên tử trong vỏ trái đất là các nguyên tố giàu thứ 20 sau các nguyên tố khác, nhưng ít tồn tại ở dạng nguyên chất trong tự nhiên. Người ta tìm thấy As tồn tại ở dạng hợp chất với một hay một số nguyên tố khác. Thường thì các các dạng hợp chất hữu cơ của Asen ít độc hơn hợp chất Asen vô cơ.

    Asen phân bố rộng rãi trên vỏ trái đất với nồng độ trung bình khoảng 2mg/kg. Nó có mặt trong đá đất nước không khí, và một số sinh vật. Asen có thể tồn tại với 4 trạng thái oxi hóa: -3, 0, +3, +5.

    Asen là nguyên tố cancofil dễ tạo sunfua với lưu huỳnh, tạo hợp chất với selen, telua và đặc biệt với đồng, niken, sắt, bạc,… Có khoảng gần 140 khoáng vật độc lập của Asen, trong đó 60% là Asenat và 35% là Sunfua. Các khoáng vật quan trọng nhất của Asen là: Asenopirit (FeAsS), Ocpirmen(As2S3), Rialga (AsS)… Asen còn kết hợp các nguyên tố khác, thay thế lưu huỳnh trong các hợp chất như: Lơlingit ( FeAs2), Smartina (As2Co), các loại hợp chất này thường tạo thành ở nhiệt độ thấp[4].

    1.1.2.2. Tính chất vật lí

    Asen hay còn gọi là thạch tín, là một á kim có màu xám kim loại, rất giòn, kết tinh dạng tinh thể. Asen lần đầu tiên được Albertus Magnus (Đức) viết về nó vào năm 1250. Asen là một á kim gây ngộ độc mạnh.

    Asen có một vài dạng thù hình, dạng kim loại và dạng không kim loại. Ở dạng không kim loại Asen được tạo nên khi ngưng tụ hơi của nó. Đó là chất rắn mầu vàng, ở nhiệt độ thường dưới tác dụng của ánh sáng nó chuyển nhanh thành bột. Ở dạng kim loại: Asen có màu xám và là dạng bền nhất, dễ nghiền nhỏ thành bột, dẫn nhiệt và dẫn điện tốt, hơi Asen có mùi tỏi rất độc[4].

    Dưới đây là một số hằng số vật lí của Asen:

    Cấu hình electron[Ar]3d104s24p3
    Năng lượng ion hóa thứ nhất (eV)10,5
    Bán kính nguyên tử (A0)1,25
    Khối lượng nguyên tử (đvC)74,92
    Nhiệt độ nóng chảy (oC)817
    Nhiệt độ sôi (oC)610

    1.1.2.3. Tính chất hóa học

    Asen là nguyên tố vừa có tính kim loại vừa có tính phi kim. Về lí tính nó có tính chất giống kim loại nhưng hóa tính lại giống các phi kim. Khi đun nóng trong không khí nó cháy tạo thành As2O3 màu trắng [4].

    As + 3O2 → As2O3

    Ở dạng bột nhỏ As có thể bốc cháy trong khí clo tạo thành triclorua.

    2As + 3Cl2 → 2AsCl3

    Khi đun nóng As tương tác với Br, S, kim loại kiềm, kiềm thổ và một số kim loại khác tạo nên Asenua.

    2As + 3M → M3As2 (đun nóng, M = Mg, Ca, Cu)

    2As + M → MAs2 (đun nóng, M = Zn, Ca, Fe)

    As + M → MAs ( đun nóng, M = Al, Ga, In, La)

    Asen không phản ứng với nước, axit loãng nhưng tan trong HNO3 đặc, cường thủy, kiềm, chất ôxi hóa điển hình.

    As + 3HClđ + HNO → AsCl3 + NO↑ + H2O

    As + 5 HNO3 + 2 H2O → 3 H3AsO4 + 5 NO↑

    As + 6 NaOH → 2NaAsO3 + 2H2

    1.1.2.4. Độc tính của Asen

    Về mặt hoá học As là một á kim, về mặt sinh học As nằm trong danh mục các hoá chất độc hại cần được kiểm soát. As được xếp cùng hàng với các kim loại nặng, As là chất độc có thể gây nên 19 bệnh khác nhau trong đó có ung thư da và phổi, bàng quang, ruột. Các triệu chứng cổ điển của nhiễm độc As là sậm màu da, tăng sừng hóa và ung thư, tác động đến hệ thần kinh ngoại biên và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe như chứng to chướng gan, bệnh đái tháo đường, cao huyết áp, bệnh tim, viêm cuống phổi, các bệnh về đường hô hấp…. As ở dạng vô cơ có độc tính cao gấp nhiều lần As ở dạng hữu cơ, trong đó các hợp chất có chứa As thì hợp chất chứa As (III) độc tính cao hơn As (V), tuy nhiên trong cơ thể As (V) có thể bị khử về As (III); As(III) tác động vào nhóm – SH của các enzim do vậy ức chế hoạt động của men[3].

    1.2. Một số phương pháp xác định Chì và Asen

    Hiện nay có rất nhiều phương pháp khác nhau để xác định Chì và Asen như phương pháp phân tích khối lượng, phân tích thể tích, điện hoá, phổ phân tử UV – VIS, phổ phát xạ nguyên tử (ICP-OES), phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa (F-AAS) và không ngọn lửa (ETA-AAS), phương pháp ICP – MS,… Dưới đây là một số phương pháp xác định Chì và Asen.

    1.2.1. Các phương pháp hoá học

    1.2.1.1. Phương pháp phân tích khối lượng

    Phương pháp phân tích khối lượng là phương pháp cổ điển, độ chính xác có thể đạt tới 0,1%. Cơ sở của phương pháp là sự kết tủa định lượng của chất phân tích với một thuốc thử thích hợp.

    Asen thường được kết tủa dưới dạng Ag3AsO4, As2S3, Mg(NH4)AsO4 hay Ag2HAsO4, sau đó kết tủa được lọc, rửa, sấy rồi đem cân từ đó xác định hàm lượng chất phân tích[5].

    Chì được kết tủa dưới dạng PbSO4, PbCrO4 hay PbMoO4 sau đó được kết tủa được lọc, rửa, sấy hoặc nung rồi cân và từ đó xác định được hàm lượng chất phân tích.

    Phương pháp này không đòi hỏi dụng cụ đắt tiền nhưng quá trình phân tích lâu, nhiều giai đoạn phức tạp đặc biệt khi phân tích lượng vết các chất. Vì vậy phương pháp này không được dùng phổ biến trong thực tế để xác định lượng vết các chất mà chỉ dùng trong phân tích hàm lượng lớn.

    1.2.1.2. Phương pháp phân tích thể tích

    Phương pháp phân tích thể tích dựa trên sự đo thể tích dung dịch thuốc thử để biết nồng độ chính xác (dung dịch chuẩn) được thêm vào dung dịch chất định phân để tác dụng đủ toàn bộ lượng chất định phân đó. Thời điểm thêm lượng thuốc thử tác dụng với toàn bộ chất định phân gọi là điểm tương đương. Để nhận biết điểm tương đương, người ta dùng các chất gây ra hiện tượng có thể quan sát bằng mắt gọi là các chất chỉ thị.

    Asen có thể được xác định bằng phương pháp chuẩn độ iot, chuẩn độ bicromat hay phương pháp chuẩn độ Brom.

    Xác định Asen bằng chuẩn độ iot người ta chuyển Asen về dạng AsO33- bằng K2CO3, NaHCO3 và H2SO4 loãng, sau đó chuẩn độ bằng iot với chỉ thị hồ tinh bột cho tới khi dung dịch xuất hiện màu xanh. Phương pháp này xác định được hàm lượng As trong khoảng từ 0,1% đến vài chục %.

    Với Chì, ta có thể dùng các phép chuẩn độ như chuẩn độ phức chất, chuẩn độ ôxi hoá – khử với các chất chỉ thị khác nhau.

    Để xác định chì ta có thể chuẩn độ trực tiếp bằng EDTA hay chuẩn độ ngược bằng Zn2+ hoặc chuẩn độ thay thế với ZnY2- với chất chỉ thị ET-OO.

    – Cách 1: Chuẩn độ trực tiếp Pb2+ bằng EDTA ở pH trung tính hoặc kiềm (pH khoảng 8 – 12), với chỉ thị ET-OO.

    Pb2+ + H2Y2- → PbY2- + 2H+

              Tuy nhiên, chì rất dễ thuỷ phân nên trước khi tăng pH phải cho Pb2+ tạo phức kém bền với tactrat hoặc trietanolamin.

    – Cách 2: Chuẩn độ ngược Pb2+ bằng Zn2+: cho Pb2+ tác dụng với một lượng dư chính xác EDTA đã biết nồng độ ở pH = 10. Sau đó chuẩn độ EDTA dư bằng Zn2+ với chỉ thị là ET-OO.

    Pb2+ + H2Y2- = PbY2- + 2H+

    H2Y2- (dư) + Zn2+ = ZnY2- + 2H+

    ZnInd + H2Y2- = ZnY2- + HInd

     (đỏ nho)             (xanh)

    – Cách 3: Chuẩn độ thay thế dùng ZnY2-, chỉ thị ET-OO.

    Do phức PbY2- bền hơn ZnY2- ở pH = 10 nên Pb2+ sẽ đẩy Zn2+ ra khỏi phức ZnY2-. Sau đó, chuẩn Zn2+ sẽ xác định được Pb2+:

    Pb2- + ZnY2- = Zn2+ + PbY2-

    ZnInd + H2Y2- = ZnY2- + HInd

       (đỏ nho)            (xanh)

    1.2.2.Phương pháp phân tích công cụ.

    1.2.2.1. Các phương pháp quang phổ.

    a. Phương pháp phổ hấp thụ phân tử UV – VIS

    Phương pháp này chính là phương pháp phổ hấp thụ phân tử trong vùng UV – VIS. Ở điều kiện thường, các phân tử, nhóm phân tử của chất bền vững và nghèo năng lượng. Đây là trạng thái cơ bản. Nhưng khi có một chùm sáng với năng lượng thích hợp chiếu vào thì các điện tử hoá trị trong các liên kết (л, ∂, n) sẽ hấp thụ năng lượng chùm sáng, chuyển lên trạng thái kích thích với năng lượng cao hơn. Hiệu số giữa hai mức năng lượng (cơ bản Eo và kích thích Em) chính là năng lượng mà phân tử hấp thụ từ nguồn sáng để tạo ra phổ hấp thụ phân tử của chất [5,7].

    Nguyên tắc: Phương pháp xác định dựa trên việc đo độ hấp thụ ánh sáng của một dung dịch phức tạo thành giữa ion cần xác định với một thuốc thử vô cơ hay hữu cơ trong môi trường thích hợp khi được chiếu bởi chùm sáng. Phương pháp định lượng phép đo:

    A = K.C

    Trong đó:    A: độ hấp thụ quang

    K: hằng số thực nghiệm

    C: nồng độ nguyên tố phân tích

    Phương pháp này cho phép xác định nồng độ chất ở khoảng 10-5 – 10-7 M và là một trong các phương pháp được sử dụng khá phổ biến.

    Phương pháp trắc quang có độ nhạy, độ ổn định và độ chính xác khá cao, được sử dụng nhiều trong phân tích vi lượng. Tuy nhiên với việc xác định Pb thì lại gặp rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của một số ion kim loại tương tự. Khi đó phải thực hiện các công đoạn che, tách phức tạp[6].

    b. Phương pháp phổ phát xạ nguyên tử (ICP-OES)

    Khi ở điều kiện thường, nguyên tử không thu hay phát ra năng lượng nhưng nếu bị kích thích thì các điện tử hoá trị sẽ nhận năng lượng chuyển lên trạng thái có năng lượng cao hơn (trạng thái kích thích). Trạng thái này không bền, chúng có xu hướng giải phóng năng lượng để trở về trạng thái ban đầu bền vững dưới dạng các bức xạ. Các bức xạ này được gọi là phổ phát xạ của nguyên tử.

    Phương pháp ICP-OES dựa trên sự xuất hiện phổ phát xạ của nguyên tử tự do của nguyên tố phân tích ở trạng thái khí khi có sự tương tác với nguồn năng lượng phù hợp. Hiện nay, người ta dùng một số nguồn năng lượng để kích thích phổ AES như ngọn lửa đèn khí, hồ quang điện, tia lửa điện, plasma cao tần cảm ứng (ICP)…

    Nhìn chung, phương pháp ICP-OES đạt độ nhạy rất cao (thường từ n.10-3 đến n.10-4%), lại tốn ít mẫu, có thể phân tích đồng thời nhiều nguyên tố trong cùng một mẫu. Vì vậy, đây là phương pháp dùng để kiểm tra đánh giá hoá chất, nguyên liệu tinh khiết, phân tích lượng vết ion kim loại độc trong nước, lương thực, thực phẩm. Tuy nhiên, phương pháp này lại chỉ cho biết thành phần nguyên tố trong mẫu mà không chỉ ra được trạng thái liên kết của nó trong mẫu[7].

    1.2.2.2 Phương pháp điện hoá

    a. Phương pháp cực phổ

    Nguyên tắc: Người ta thay đổi liên tục và tuyến tính điện áp đặt vào 2 cực để khử các ion kim loại, do mỗi kim loại có thế khử khác nhau. Thông qua chiều cao của đường cong Von-Ampe có thể định lượng được ion kim loại trong dung dịch ghi cực phổ. Vì dòng giới hạn Igh ở các điều kiện xác định tỉ lệ thuận với nồng độ ion trong dung dịch ghi cực phổ theo phương trình:

    I = k.C

    Phương pháp này sử dụng điện cực giọt thuỷ ngân rơi làm cực làm việc, trong đó thế được quét tuyến tính rất chậm theo thời gian (thường 1 – 5 mV/s) đồng thời ghi dòng là hàm của thế trên cực giọt thuỷ ngân rơi. Sóng cực phổ thu được có dạng bậc thang, dựa vào chiều cao có thể định lượng được chất phân tích.

    Phương pháp này có khá nhiều ưu điểm: Nó cho phép xác định cả chất vô cơ và hữu cơ với nồng độ 10-5 – 10-6 M tuỳ thuộc vào cường độ và độ lặp lại của dòng dư. Sai số của phương pháp thường là 2 – 3% với nồng độ 10-3 – 10-4 M, là 5% với nồng độ 10-5 M (ở điều kiện nhiệt độ không đổi). Tuy nhiên phương pháp cực phổ bị ảnh hưởng rất lớn của dòng tụ điện, dòng cực đại, lượng oxi hoà tan hay bề mặt điện cực nên giới hạn phát hiện kém khoảng 10-5 – 10-6 M.

    Nhằm loại trừ ảnh hưởng trên đồng thời tăng độ nhạy, hiện nay đã có các phương pháp cực phổ hiện đại: cực phổ xung vi phân (DPP), cực phổ sóng vuông (SQWP)… chúng cho phép xác định lượng vết của nhiều nguyên tố[8].

    b. Phương pháp Von-Ampe hoà tan

    Về bản chất, phương pháp Von-Ampe hoà tan cũng giống như phương pháp cực phổ là dựa trên việc đo cường độ dòng để xác định nồng độ các chất trong dung dịch. Nguyên tắc gồm hai bước:

    Bước 1: Điện hoá làm giàu chất cần phân tích trên bề mặt điện cực làm việc trong khoảng thời gian xác định, tại thế điện cực xác định.

    Bước 2: Hoà tan kết tủa đã được làm giàu bằng cách phân cực ngược cực làm việc, đo và ghi dòng hoà tan. Trên đường Von-Ampe hoà tan xuất hiện pic của nguyên tố cần phân tích. Chiều cao pic tỉ lệ thuận với nồng độ[8].

    1.2.2.3. Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử

    Nguyên tắc: Khi nguyên tử tồn tại tự do ở thể khí và ở trạng thái năng lượng cơ bản, thì nguyên tử không thu hay không phát ra năng lượng. Tức là nguyên tử ở trạng thái cơ bản. Song, nếu chiếu vào đám hơi nguyên tử tự do một chùm tia sáng đơn sắc có bước sóng phù hợp, trùng với bước sóng vạch phổ phát xạ đặc trưng của nguyên tố phân tích, chúng sẽ hấp thụ tia sáng đó sinh ra một loại phổ của nguyên tử. Phổ này được gọi là phổ hấp thụ của nguyên tử. Với hai kỹ thuật nguyên tử hóa, nên chúng ta cũng có hai phép đo tương ứng. Đó là phép đo phổ hấp thụ nguyên tử trong ngọn lửa (F – AAS có độ nhạy cỡ 0,1 ppm) và phép đo phổ hấp thụ nguyên tử không ngọn lửa (GF – AAS có độ nhạy cao hơn kỹ thuật ngọn lửa 50 – 1000 lần, cỡ 0,1 – 1 ppb).

    Cơ sở của phân tích định lượng theo AAS là dựa vào mối quan hệ giữa cường độ vạch phổ và nồng độ nguyên tố cần phân tích theo biểu thức:

    Aλ = a.CX

    Có 2 phương pháp định lượng theo phép đo AAS là : phương pháp đường chuẩn và phương pháp thêm tiêu chuẩn.

    Thực tế cho thấy phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử có nhiều ưu việt như:

    Độ nhạy, độ chính xác cao, lượng mẫu tiêu thụ ít, tốc độ phân tích nhanh. Với ưu điểm này, AAS được thế giới dùng làm phương pháp tiêu chuẩn để xác định lượng nhỏ và lượng vết các kim loại trong nhiều đối tượng khác nhau.

    Phép đo phổ AAS có thể phân tích được hàm lượng vết của hầu hết các kim loại và cả những hợp chất hữu cơ hay anion không có phổ hấp thụ nguyên tử. Nó được sử dụng rộng rãi trong các ngành: địa chất, công nghiệp hóa học, hóa dầu, y học, sinh học, dược phẩm…

    a.  Phép đo phổ F-AAS

    Kỹ thuật F-AAS dùng năng lượng nhiệt của ngọn lửa đèn khí để hoá hơi và nguyên tử hoá mẫu phân tích. Do đó mọi quá trình xảy ra trong khi nguyên tử hoá mẫu phụ thuộc vào đặc trưng và tính chất của ngọn lửa đèn khí nhưng chủ yếu là nhiệt độ ngọn lửa. Đây là yếu tố quyết định hiệu suất nguyên tử hoá mẫu phân tích, mọi yếu tố ảnh hưởng đến nhiệt độ ngọn lửa đèn khí đều ảnh hưởng đến kết quả của phương pháp phân tích.

              b. Phép đo phổ GF-AAS

    Kỹ thuật GF-AAS ra đời sau kỹ thuật F-AAS nhưng đã được phát triển rất nhanh, nó đã nâng cao độ nhạy của phép xác định lên gấp hàng trăm lần so với kỹ thuật F-AAS. Mẫu phân tích bằng kỹ thuật này không cần làm giàu sơ bộ và lượng mẫu tiêu tốn ít.

    Kỹ thuật GF-AAS là quá trình nguyên tử hoá tức khắc trong thời gian rất ngắn nhờ năng lượng nhiệt của dòng điện có công suất lớn và trong môi trường khí trơ (Argon). Quá trình nguyên tử hoá xảy ra theo các giai đoạn kế tiếp nhau: sấy khô, tro hoá luyện mẫu, nguyên tử hoá để đo phổ hấp thụ nguyên tử và cuối cùng là làm sạch cuvet. Nhiệt độ trong cuvet graphit là yếu tố quyết định mọi diễn biến của quá trình nguyên tử hoá mẫu. Trong đó hai giai đoạn đầu là chuẩn bị cho giai đoạn nguyên tử hóa để đạt kết quả tốt. Nhiệt độ trong cuvet graphit là yếu tố chính quyết định mọi sự diễn biến của quá trình nguyên tử hóa mẫu.

    * Những ưu nhược điểm của phép đo:

    Cũng như các phương pháp phân tích khác, phương pháp phân tích phổ hấp thụ nguyên tử cũng có những ưu, nhược điểm nhất định đó là:

    – Ưu điểm: Đây là phép đo có độ nhạy cao và độ chọn lọc tương đối cao. Gần 60 nguyên tố hoá học có thể xác định bằng phương pháp này với độ nhạy từ 1.10-4 – 1.10-5 %. Đặc biệt, nếu sử dụng kỹ thuật nguyên tử hoá không ngọn lửa thì có thể đạt tới độ nhạy n.10-7 %. Chính vì có độ nhạy cao nên phương pháp phân tích này đã được sử dụng rất rộng rãi trong nhiều lĩnh vực để xác định lượng vết các kim loại. Một ưu điểm lớn của phép đo là: trong nhiều trường hợp không phải làm giàu nguyên tố cần xác định trước khi phân tích. Do đó, tốn ít mẫu, ít thời gian cũng như hoá chất tinh khiết để làm giàu mẫu. Tránh được sự nhiễm bẩn khi xử lý mẫu qua các giai đoạn phức tạp. Đặc biệt, phương pháp này cho phép phân tích hàng loạt mẫu với thời gian ngắn, kết quả phân tích lại rất ổn định, sai số nhỏ.

    – Nhược điểm: Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm phép đo AAS cũng có nhược điểm là chỉ cho biết thành phần nguyên tố của chất ở trong mẫu phân tích mà không chỉ ra trạng thái liên kết của nguyên tố ở trong mẫu[7].

    1.3. Giới thiệu một số vấn đề cơ bản về phổ hấp thụ nguyên tử (AAS)

    1.3.1. Nguyên tắc của phép đo phổ hấp thụ nguyên tử (AAS)

    Hình 1.1: Máy Quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS)

    Muốn thực hiện được phép đo phổ hấp thụ nguyên tử của một nguyên tố cần phải thực hiện các quá trình sau đây:

    1. Chọn các điều kiện và loại trang bị phù hợp để chuyển mẫu phân tích từ trạng thái ban đầu (rắn hay dung dịch) thành trạng thái hơi của các nguyên tử tự do. Đó là quá trình hóa hơi và nguyên tử hóa mẫu.

    2. Chiếu chùm tia sáng bức xạ đặc trưng của nguyên tố cần phân tích qua đám hơi nguyên tử vừa sinh ra. Các nguyên tử ở trạng thái hơi sẽ hấp thụ những tia bức xạ nhất định và tạo ra phổ hấp thụ của nó. Ở đây phần cường độ của chùm tia sáng đã bị một loại nguyên tử hấp thụ là phụ thuộc vào nồng độ của nó trong môi trường hấp thụ. Nguồn cung cấp chùm tia sáng phát xạ của nguyên tố cần nghiên cứu được gọi là nguồn bức xạ đơn sắc hay bức xạ cộng hưởng.

    3. Tiếp đó, nhờ một hệ thống máy quang phổ, người ta thu toàn bộ chùm sáng, phân ly và chọn 1 vạch hấp thụ của nguyên tố cần nghiên cứu để đo cường độ của nó. Cường độ đó chính là tín hiệu hấp thụ của vạch phổ hấp thụ nguyên tử. Trong một thời gian nhất định của nồng độ C, giá trị cường độ này là phụ thuộc tuyến tính vào nồng độ C của nguyên tố trong mẫu phân tích.

    Ba quá trình trên chính là nguyên tắc của phép đo AAS. Vì vậy, muốn thực hiện phép đo phổ hấp thụ nguyên tử hệ thống máy đo phổ hấp thụ  phải bao gồm các phần cơ bản sau :

    Phần 1: Nguồn phát tia cộng hưởng. Đó chính là các đèn catôt rỗng (HCL), các đèn phóng điện không điện cực hay nguồn phát bức xạ liên tục đã được biến điện.

    Phần 2: Hệ thống nguyên tử hóa mẫu. Hệ thống này được chế tạo theo 2 loại kỹ thuật, đó là kỹ thuật nguyên tử hóa mẫu bằng ngọn lửa đèn khí và kỹ thuật nguyên tử hóa không ngọn lửa.

    Phần 3 : Là máy quang phổ, nó là bộ phận đơn sắc, có nhiệm vụ thu, phân ly và chọn tia sáng (vạch phổ) cần đo hướng vào nhân quang điện để phát hiện tín hiệu hấp thụ AAS của vạch phổ.

    Luận văn xác định hàm lượng Chì và Asen trong một số mẫu đất và nước khu vực mỏ Trại Cau - Thái Nguyên bằng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử và phổ phát xạ nguyên tử 1Phần 4 : Là hệ thống chỉ thị tín hiệu hấp thụ của vạch phổ (tức là cường độ của vạch phổ hấp thụ hay nồng độ nguyên tố phân tích.

    Hình 1.2: Sơ đồ khối thiết bị AAS

    Trong đó : (1) là nguồn phát tia bức xạ đơn sắc, (2) hệ thống nguyên tử hóa, (3) hệ thống đơn sắc, (4) detector, (5) bộ khuếch đại tín hiệu [7].

    1.3.2. Những ưu, nhược điểm của phép đo AAS

    Cũng như các phương pháp phân tích khác, phương pháp phân tích phổ hấp thụ nguyên tử cũng có những ưu, nhược điểm nhất định. Đó là :

    – Phép đo AAS có độ nhạy và độ chọn lọc tương đối cao. Khoảng 65 nguyên tố hóa học có thể được xác định bằng phương pháp này với độ nhạy từ 1.10-4 đến 1.10-5%. Đặc biệt, nếu sử dụng kỹ thuật nguyên tử hóa không ngọn lửa thì độ nhạy đạt 10-7%. Chính vì có độ nhạy cao, nên phương pháp phân tích này đã được sử dụng rất rộng rãi trong nhiều lĩnh vực để xác định lượng vết các kim loại. Nhất là trong phân tích các nguyên tố vi lượng trong các đối tượng mẫu y học, sinh học, nông nghiệp, kiểm tra hóa chất có độ tinh khiết cao.

    – Đồng thời cũng do độ nhạy cao nên trong nhiều trường hợp không phải làm giàu nguyên tố cần xác định trước khi phân tích. Do đó tốn ít nguyên liệu mẫu, tốn ít thời gian không cần phải dùng nhiều hóa chất tinh khiết cao khi làm giàu mẫu. Mặt khác cũng tránh được sự nhiễm bẩn mẫu khi xử lý qua các giai đoạn phức tạp. Đó cũng là một ưu điểm lớn của phép đo AAS.

    Bảng 1.1: Độ nhạy của các nguyên tố theo phép đo AAS

    STTNguyên tốF-AASETA-AAS
    Luận văn xác định hàm lượng Chì và Asen trong một số mẫu đất và nước khu vực mỏ Trại Cau - Thái Nguyên bằng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử và phổ phát xạ nguyên tử 2Ngọn lửaĐộ nhạy (Luận văn xác định hàm lượng Chì và Asen trong một số mẫu đất và nước khu vực mỏ Trại Cau - Thái Nguyên bằng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử và phổ phát xạ nguyên tử 3)Độ nhạy (Luận văn xác định hàm lượng Chì và Asen trong một số mẫu đất và nước khu vực mỏ Trại Cau - Thái Nguyên bằng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử và phổ phát xạ nguyên tử 3)
    1Ag – 328,10AA0.050.10
    2Al – 309.30NA0.100.50
    3Au – 242.80AA0.050.05
    4Ba – 553.50NA0.100.50
    5Be – 234.90NA0.100.30
    6Bi – 223.10AA0.101.00
    7Ca – 422.70AA0.050.05
    8Cd – 228.80AA0.030.04
    9Co – 240.70AA0.101.00
    10Cr – 357.50AA0.100.80
    11Cu – 324.70AA0.040.05
    12Fe – 248.30AA0.080.10
    13K – 766.50AA0.050.10
    14Mg – 285.20AA0.030.10
    15Mn – 279.50AA0.050.06
    16Na – 589.60AA0.030.05
    17Ni – 232.00AA0.100.10
    18Pb – 283.30AA0.100.20
    19Sr – 466.70AA0.080.20
    20Si – 251.60NA0.301.00
    21Zn – 213.90AA0.030.10

    Ghi chú : AA ngọn lửa ( không khí + Acetilen)

                    NA ngọn lửa (khí N2O + Acetilen)

    – Ưu điểm thứ 3 của phương pháp này là các động tác thực hiện nhẹ nhàng. Các kết quả phân tích lại có thể ghi lại trên băng giấy hay giản đồ để lưu trữ lại sau này. Đồng thời với các trang bị hiện nay, người ta có thể xác định đồng thời hay liên tiếp nhiều nguyên tố trong một mẫu. Các kết quả phân tích lại rất ổn định, sai số nhỏ. Trong nhiều trường hợp sai số không quá 15% với vùng nồng độ cỡ 1-2 ppm. Hơn nữa bằng sự ghép với máy tính cá nhân và các phần mềm thích hợp quá trình đo và xử lý kết quả sẽ nhanh và dễ dàng, lưu lại đường chuẩn cho các lần sau.

    Bên cạnh những ưu điểm đã nêu, phép đo AAS cũng có một số hạn chế nhất định. Điều hạn chế trước hết là muốn thực hiện phép đo này cần phải có một hệ thống máy AAS tương đối đắt tiền. Do đó nhiều cơ sở nhỏ không đủ điều kiện để xây dựng phòng thí nghiệm và mua sắm máy móc.

    – Mặt khác cũng chính do phép đo có độ nhạy cao, cho nên sự nhiễm bẩn có ý nghĩa đối với kết quả phân tích hàm lượng vết. Vì thế môi trường không khí phòng thí nghiệm phải không có bụi. Các dụng cụ, hóa chất dùng trong phép đo có độ tinh khiết cao. Đó cũng là một khó khăn khi ứng dụng phân tích này. Mặt khác cũng vì phép đo có độ nhạy cao nên các thiết bị máy móc là khá tinh vi và phức tạp. Do đó cần phải có kỹ sư trình độ cao để bảo dưỡng và chăm sóc. Cần cán bộ làm phân tích công cụ thành thạo để vận hành máy. Những yếu tố này có thể khắc phục được qua công tác chuẩn bị và đào tạo cán bộ.

    Nhược điểm chính của phương pháp phân tích này là chỉ cho ta biết thành phần nguyên tố của chất ở trong mẫu phân tích, mà không chỉ ra trạng thái liên kết của nguyên tố trong mẫu. Vì thế, nó chỉ là phương pháp phân tích thành phần hóa học của nguyên tố mà thôi [7].

    1.3.3. Đối tượng và phạm vi ứng dụng của AAS

    Đối tượng chính của phương pháp phân tích theo phổ hấp thụ nguyên tử là phân tích lượng nhỏ (lượng vết) các kim loại trong các loại mẫu khác nhau của các chất vô cơ và hữu cơ. Với các trang bị kỹ thuật hiện nay, bằng phương pháp phân tích này người ta có thể định lượng được hầu hết các kim loại (khoảng 65 nguyên tố) và một số á kim đến giới hạn nồng độ cỡ ppm bằng kỹ thuật F-AAS, và đến nồng độ cỡ ppb bằng kỹ thuật ETA-AAS với sai số không lớn hơn 15%. Trong khoảng 10 năm nay, phương pháp phân tích phổ hấp thụ nguyên tử đã được sử dụng khá phổ biến để xác định các kim loại trong mẫu quặng, đất, đá,…

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • Luận văn xác định hàm lượng cadimi, chì có trong chè Shan tuyết, Bằng Phúc – Bắc Kạn bằng phương pháp phổ hấp thụ và phát xạ nguyên tử

    Luận văn xác định hàm lượng cadimi, chì có trong chè Shan tuyết, Bằng Phúc – Bắc Kạn bằng phương pháp phổ hấp thụ và phát xạ nguyên tử

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    MỞ ĐẦU

    Cây trà (miền Bắc gọi là chè) dùng để lấy búp non pha nước uống, còn có tên khoa học là trà Trung Quốc hay trà tàu (Camellia sinensis). Chè tuyết là một biến thể hiếm của loài trà tàu, tên khoa học là Camellia sinensis sanon, được trồng nhiều ở miền Bắc Ấn Độ và Tây Tạng (Trung Quốc).

    Chè tuyết (còn gọi là chè Shan tuyết)  là tên thông dụng nhất, vì búp non của chè phủ đầy lông tơ trắng như tuyết. Chè tuyết là cây rừng thân gỗ, đường kính 30-40 cm, cao đến 10m. Chúng ưa vùng núi có độ cao từ 1000 đến 1700m, khí hậu lạnh ẩm, nhiều sương gió. Ở xứ Bắc nước ta, chè tuyết gặp ở một số vùng thuộc các tỉnh Hà Giang, Bắc Kạn, phía tây dãy Hoàng Liên Sơn thuộc các tỉnh Lai Châu, Nghĩa Lộ, Sơn La và phần lớn là mọc hoang, tạo thành những thảm cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi.

    Chè Shan tuyết nếu được sử dụng mỗi ngày sẽđem lại rất nhiều lợi ích cho sức khỏe con người như: Xua tan cảm giác mệt mỏi, giúp tinh thần sảng khoái, tỉnh táo; giảm lượng cholesterol trong máu, giúp ngăn ngừa bệnh tim mạch, đặc biệt tốt cho sức khỏe của người già, người mắc bệnh tim mạch; giúp làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường bởi nó làm giảm lượng đường trong máu; hạn chế nguy cơ mắc các bệnh về gan; tốt cho răng miệng, phòng chống dị ứng [1].

    Nhưng cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì vấn đề ô nhiễm môi trường ảnh hưởng có hại đến chất lượng chè là một vấn đề cần kiểm tra và xem xét. Do việc sử dụng các loại hoá chất như thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu… cùng với các chất thải của nền công nghiệp, đã dẫn đến các nguồn đất, nước và không khí bị ô nhiễm, đặc biệt do nghành công nghiệp đang ngày càng phát triển thì sự ô nhiễm môi trường bởi các kim loại nặng như As, Pb, Cd, Hg …. ngày càng nghiêm trọng. Chè có thể bị nhiễm một số kim loại nặng từ đất, nước, và không khí. Vì vậy chúng ta không chỉ quan tâm nghiên cứu các chất có tác dụng sinh lý tốt với sức khoẻ con người mà cần phải quan tâm nghiên cứu và kiểm tra khống chế các chất có hại đặc biệt là các kim loại nặng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ người sử dụng. Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu để xác định hàm lượng các kim loại nặng trong chè ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Tuy nhiên đối với chè Shan tuyết, Bằng Phúc – Bắc Kạn thì chưa có đề tài nào nghiên cứu. Do vậy cần phải phân tích đề đánh giá hàm lượng kim loại nặng có trong chè Shan Tuyết Bằng, Phúc – Bắc Kạn trên các tiêu chuẩn cho phép.

    Với những lý do như trên tôi đã chọn đề tài “ Xác định hàm lượng cadimi, chì có trong chè Shan tuyết, Bằng Phúc – Bắc Kạn bằng phương pháp phổ hấp thụ và phát xạ nguyên tử”.

    Để thực hiện đề tài này, tôi tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

    1. Nghiên cứu, xây dựng quy trình phân tích xác định hàm lượng kim loại cađimi, chì trong sản phẩm chè Shan tuyết Bằng Phúc – Bắc Kạn bằng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử không ngọn lửa (GF – AAS) và phát xạ nguyên tử (ICP-OES).

    2. Khảo sát các điều kiện tối ưu cho phép đo của kim loại cađimi và chì.

    3. Khảo sát khoảng nồng độ tuyến tính của cađimi, chì.

    4. Đánh giá sai số, độ lặp, khoảng tin cậy của phép đo, xác định LOD, LOQ.

    5. Xác định hàm lượng cađimi, chì trong các mẫu chè Shan tuyết bằng phương pháp đường chuẩn.

    6. Kiểm tra độ chính xác của kết quả phân tích bằng phương pháp thêm chuẩn.

    7. So sánh kết quả phân tích hàm lượng cađimi và chì trong mẫu chè giữa phương pháp GF – AAS và ICP-OES với tiêu chuẩn Việt Nam.

    CHƯƠNG 1

    TỔNG QUAN TÀI LIỆU

    1. GIỚI THIỆU VỀ NGUYÊN TỐ CAĐIMI VÀ CHÌ CađimiTrạng thái tự nhiên của cađimi

    Trong thiên nhiên, cađimi tồn tại ở dạng bền vững là Cd(II). Trữ lượng của cađimi trong vỏ Trái đất là 7,6.10-6% tổng số nguyên tử tương ứng. Khoáng vật chính của cađimi là grenokit (CdS), khoáng vật này hiếm khi tồn tại riêng mà thường ở lẫn với khoáng vật của kẽm và thủy ngân là xinaba hay thần sa (HgS) [2 ,3].

    1. Tính chất vật lí của cađimi

    Cađimi là kim loại màu trắng bạc, mềm, dễ nóng chảy, ở trong không khí ấm cađimi dần bị bao phủ bởi lớp màng oxit nên mất ánh kim.

    Bảng 1.1. Một số hằng số vật lí của cađimi [2, 3].

    Cấu hình electron[Kr]4d105s2
    Năng lượng ion hóa thứ nhất (eV)8,99
    Bán kính nguyên tử (A0)1,56
    Thế điện cực chuẩn (V)-0,402
    Khối lượng nguyên tử (đvC)112,411
    Nhiệt độ nóng chảy (oC)321,07
    Nhiệt độ sôi (oC)767
    Cấu trúc tinh thểLục giác bó chặt
    1. Tính chất hóa học của cađimi

    Cađimi là nguyên tố tương đối hoạt động hóa học. Trong không khí ẩm, cađimi bền ở nhiệt độ thường nhờ màng oxit bảo vệ. Nhưng ở nhiệt độ cao cađimi cháy mãnh liệt cho ngọn lửa mầu sẫm.

    2Cd + O2 → 2CdO

    Tác dụng với halogen tạo thành đihalogenua, tác dụng với lưu huỳnh và các nguyên tố không kim loại khác như photpho, selen….

    Cd + S → CdS

    Ở nhiệt độ thường cađimi bền với nước vì có màng oxit bảo vệ, nhưng ở nhiệt độ cao cađimi khử hơi nước biến thành oxit.

    Cd + H2O → CdO + H2

    Cađimi tác dụng dễ dàng với axit không phải là chất oxi hoá, giải phóng khí hiđro [2, 3].

    Ví dụ với axit  HCl

    Cd + 2HCl → CdCl2 + H2

    Trong dung dịch thì:

    Cd + H3O+ + H2O → [Cd(H2O)2]]2+ + 1/2H2

    1. Tác dụng sinh hóa cađimi

    Cađimi là nguyên tố rất độc. Cađimi thâm nhập vào cơ thể bằng nhiều cách khác nhau và được tích tụ lại chủ yếu trong thận và có thời gian bán huỷ sinh học rất dài từ 20 – 30 năm. Nhiễm độc cađimi gây nên chứng bệnh giòn xương. Ở nồng độ cao, cađimi gây đau thận, thiếu máu và phá huỷ tuỷ xương. Phần lớn cađimi thâm nhập vào cơ thể con người được giữ lại ở thận và được đào thải, còn một phần ít (khoảng 1%) được giữ lại trong thận, do cađimi liên kết với protein tạo thành metallotionein có ở thận. Phần còn lại được giữ lại trong cơ thể và dần dần được tích luỹ cùng với tuổi tác.

    Cađimi thường gắn liền với kẽm nên có khả năng thay thế kẽm. Trong cơ thể, kẽm là thành phần thiết yếu của một số hệ thống enzim nên khi bị cađimi thay thế sẽ gây ra rối loạn tiêu hoá và các chứng bệnh rối loạn chức năng thận, thiếu máu, tăng huyết áp, phá huỷ tuỷ sống, gây ung thư [4].

    1.1.2. Nguyên tố chì

    1.1.2.1. Trạng thái tự nhiên của chì

    Chì chiếm khoảng 1,6.10-3 % khối lượng vỏ trái đất tương ứng với 1,6.10-4%  tổng số nguyên tử. Chì trong tự nhiên tồn tại trong 170 khoáng vật nhưng chủ yếu là: Galen (PbS), Cerndute (PbCO3), Anglesite (PbSO4) và Pyromophite [Pb5Cl(PO4)3]. Chì có 18 đồng vị trong đó có 4 đồng vị bền 208Pb (52,3%), 207Pb (22,6%), 206Pb (23,6%), 204Pb (1,48%). [3, 5].

    1.1.2.2. Tính chất vật lí của chì

    Chì là kim loại nặng, có ánh kim. Chì kim loại có màu xanh xám, mềm, bề mặt chì thường mờ đục do bị oxi hóa.

    Bảng 1.2. Một số hằng số vật lí của chì [3, 5].

    Cấu hình electron[Xe]4f145d106s26p2
    Năng lượng ion hóa thứ nhất (eV)7,42
    Bán kính nguyên tử (A0)1,75
    Thế điện cực chuẩn (V)-0,126
    Khối lượng nguyên tử (đvC)207,21
    Nhiệt độ nóng chảy (oC)327
    Nhiệt độ sôi (oC)1737
    Cấu trúc tinh thểLập phương tâm diện

    1.1.2.3. Tính chất hóa học của chì

    Nhìn chung, chì là kim loại tương đối hoạt động về mặt hoá học [3, 5].

    Ở điều kiện thường, chì bị oxi hoá tạo thành lớp oxit màu xám xanh bao bọc bên trên mặt bảo vệ cho chì không tiếp xúc bị oxi hoá nữa.

    2Pb + O2 → 2PbO

    Khi gặp nước, nước sẽ tách dần màng oxit bao bọc ngoài và tiếp tục bị tác dụng.

              Chì tác dụng với halogen và nhiều nguyên tố không kim loại khác:

    Pb + X2 → PbX2

              Chì có thế điện cực âm nên về nguyên tắc nó tan được trong các axit. Nhưng thực tế chì chỉ tương tác ở trên bề mặt với dung dịch axit clohiđric loãng và axit sunfuric dưới 80% vì bị bao bọc bởi lớp muối khó tan (PbCl2; PbSO4). Với dung dịch đậm đặc hơn của các axit đó, chì có thể tan vì muối khó tan của lớp bảo vệ đã chuyển thành hợp chất tan.

    PbCl2 + 2HCl → H2PbCl4

    PbSO4 + H2SO4 → Pb(HSO4)2

    Với axit nitric ở bất kỳ nồng độ nào, chì tác dụng như một kim loại:

    3Pb + 8HNO3loãng → 3Pb(NO3)2 + 2NO + 4H2O

    Khi có mặt oxi, chì có thể tác dụng với nước:

    2Pb + 2H2O + O2 → 2Pb(OH)2

    Chì có thể tan trong axit axetic và các axit hữu cơ khác:

    2Pb + 4CH3COOH + O2 → 2Pb(CH3COO)2 + 2H2O

    Với dung dịch kiềm, chì có tác dụng khi đun nóng, giải phóng hiđro:

    Pb + 2KOH + 2H2O → K2[Pb(OH)4] + H2

    1.1.2.4. Tác dụng sinh hóa của chì

     Chì được con người phát hiện từ trước công nguyên và được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau. Ngày nay, chì chủ yếu được sử dụng trong công nghiệp năng lượng, luyện kim như sản xuất acquy ướt, pin, các loại cầu chì, mạch điện, phụ gia cho sản xuất xăng, dầu bôi trơn, chế tạo hợp kim. Nguồn nước thải từ các nhà máy công nghiệp này cùng với các nguồn nước thải của công nghiệp khai thác khoáng sản, và nước có tiếp xúc với các thiết bị chì, rác thải công nghiệp, … đã đưa một lượng chì đáng kể vào môi trường nước và đất.

    Chì tồn tại trong nước dưới dạng chì hóa trị +2, tính năng của hợp chất chì được đánh giá chủ yếu thông qua độ tan của nó. Độ tan của hợp chất chì chủ yếu phụ thuộc vào pH (pH tăng thì độ tan giảm). Ngoài ra độ tan của hợp chất chì còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như độ muối (hàm lượng các ion khác) của dung dịch, điều kiện oxi hóa – khử.

    Chì thâm nhập vào cơ thể con người qua thức ăn, nước uống, hít thở và cả thông qua da. Triệu chứng thể hiện khi nhiễm độc chì của cơ thể là sự mệt mỏi, chán ăn, đau đầu, chóng mặt, sưng khớp…. Các dấu hiệu trên có thể xuất hiện khi nồng độ chì trong máu khoảng 0,3 ppm. Ở các nồng độ cao hơn 0,3ppm thì chì có thể gây nên hiện tượng thiếu máu do thiếu hemoglobin. Ở các nồng độ 0,5 ppm đến 0,8 ppm thì chì có thể gây ra sự rối loạn chức năng của thận và phá hủy não.

    Xương là nơi tàng trữ, tích lũy chì trong cơ thể, ở đó chì tương tác với photphat trong xương rồi truyền vào các mô mềm của cơ thể rồi thể hiện độc tính của nó.. Tác dụng hóa sinh chủ yếu của chì là ảnh hưởng tới quá trình tổng hợp máu dẫn đến phá vỡ hồng cầu, ức chế mọi hoạt động của các enzym. Chì cản trở việc sử dụng oxi và glucoza để sản xuất năng lượng cho quá trình sống.

    Dấu hiệu của ngộ độc chì thường thường xuất hiện rất âm thầm, khó sớm phát hiện chỉ khi nào chì tích tụ tới mức độ cao, bệnh mới rõ rệt nhưng các triệu chứng cũng không có gì đặc biệt. Ở trẻ em, nhiễm độc cấp tính khiến cho các em trở nên cáu kỉnh, kém tập trung, ói mửa, dáng đi không vững, lên cơn kinh phong. Trường hợp mãn tính, các em có dấu hiệu chậm trí, hay gây gổ, lên kinh thường xuyên, đau bụng, thiếu máu, suy nhược cơ bắp, suy thận, đôi khi có thể đưa tới tử vong.

    Thường thường, trẻ em bị tác hại của chì trầm trọng hơn ở người trưởng thành, đặc biệt là dưới 6 tuổi vì hệ thần kinh còn non yếu và khả năng thải độc chất của cơ thể chưa hoàn chỉnh. Một số em có thể bị nhiễm ngay từ khi còn ở trong lòng mẹ hoặc bú sữa mẹ có hàm lượng chì cao. Tới khi lớn, các em tiêu thụ thực phẩm có chì, nuốt chì lẫn trong đất, bụi khi bò chơi trên mặt đất hoặc ăn các mảnh vụn sơn tường nhà cũ.

    Khi ngộ độc chì, người lớn hay than phiền đau tê ở đầu ngón chân, tay; bắp thịt mỏi yếu; nhức đầu, đau bụng, tăng huyết áp, thiếu máu, giảm trí nhớ, thay đổi tâm trạng, sẩy thai, kém sản xuất tinh trùng…Lâu ngày, bệnh trở thành mãn tính, đưa tới suy thận, tổn thương thần kinh ngoại vi, giảm chức năng não bộ          [4].

    1.2. GIỚI THIỆU  VỀ CHÈ SHAN TUYẾT BẰNG PHÚC – BẮC KẠN, VAI TRÒ VÀ CÔNG DỤNG CHÈ

    1.2.1. Giới thiệu về chè, chè Shan tuyết

    Chè xanh (hay trà xanh) là loại trà được chế biến từ lá của cây chè nó được ôxy hóa ở mức tối thiểu trong quá trình chế biến. Chè xanh có nguồn gốc từ Trung Quốc và trở thành thức uống phổ biến tại nhiều nền văn hóa trên khắp châu Á. Gần đây, chè xanh đã trở nên phổ biến hơn tại phương Tây, khu vực vốn có truyền thống tiêu thụ chè đen. Chè xanh đã trở thành nguyên liệu để chiết xuất nhằm sử dụng trong các loại đồ uống, thực phẩm chức năng, bổ sung trong chế độ ăn uống, và các mặt hàng mỹ phẩm. 

    Chè Shan tuyết Bằng Phúc đã có từ lâu đời. Cả xã hiện còn trên 1000 gốc chè cổ thụ trên 100 năm tuổi vẫn đang cho thu hoạch, trong đó có cả những cây 300 năm tuổi, đường kính thân cây to cỡ người ôm, chiều cao hơn chục mét, tán rộng che kín vài chục mét vuông Nước chè Shan tuyết có sắc vàng, sóng sánh, hương thơm dịu . Khác với các giống chè khác, búp chè Shan tuyết to như búp đa có phủ một lớp lông tơ trắng trông như những bông hoa tuyết; sau khi sao, búp chè không có hình móc câu mà to ngẫy như chiếc cúc áo nhỏ nhưng vẫn phủ một lớp tuyết trắng đục nên gọi là chè Shan tuyết. Chè Shan tuyết sinh trưởng khỏe, chịu ẩm, chịu lạnh, không bị sâu bệnh hại, năng suất, búp tươi cao, chất lượng tốt, có hương vị đặc biệt làm nên sản vật của địa phương, góp phần

    xóa đói, làm giàu cho bà con người Tày ở Bằng Phúc – Bắc Kạn [1].

    Hình 1.1 Cây chè Shan tuyết ở Bằng Phúc – Bắc Kạn

    1.2.2. Đặc điểm, vai trò và công dụng của chè xanh

    Trong vài thập kỉ gần đây, chè xanh đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học nhằm xác định mức độ có lợi cho sức khỏe của chè, là một điều đã nổi tiếng từ lâu, theo đó đã có một số bằng chứng cho thấy rằng thường xuyên uống chè xanh có thể làm giảm nguy cơ tiến triển bệnh tim mạch và một số bệnh ung thư nhất định. Mặc dù chè xanh không làm tăng tỷ lệ trao đổi chất trong cơ thể đủ để giảm cân ngay lập tức, song chiết xuất từ chè xanh có chứa polyphenol và caffein để gây sinh nhiệt và kích thích quá trình ôxy hóa chất béo, làm tăng tỉ lệ trao đổi chất 4% mà không làm tăng nhịp tim [6].

    Theo kết quả một cuộc khảo sát do Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đưa ra vào năm 2007, giá trị của flavonoid trong một tách chè xanh cao hơn so với một khối lượng tương đương các mặt hàng thực phẩm và đồ uống truyền thống khác vốn được xem là tăng cường sức khỏe có nguồn gốc thiên nhiên, bao gồm hoa quả tươi, nước ép rau quả hay rượu vang. Flavonoid là một nhóm thành phần hóa học thực vật có trong hầu hết các sản phẩm thực vật, gây nên các tác động đến sức khỏe như chống ôxy hóa và chống ung thư. Tuy nhiên, cũng dựa trên nghiên cứu này, lượng flavonoid có thể khác biệt đáng kể giữa các sản phẩm chè khác nhau [6].

    Ở Việt Nam có nhiều vùng chè ngon nổi tiếng như: Chè Mộc Châu Sơn La, chè Lâm Đồng, chè Thái Nguyên, chè Shan tuyết – Phúc Bằng – Bắc Kạn.

    1.3. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CAĐIMI VÀ CHÌ

    Hiện nay có rất nhiều phương pháp khác nhau để xác định asen, cađimi và chì như phương pháp phân tích khối lượng, phân tích thể tích, điện hoá, phổ phân tử UV – VIS, phổ phát xạ nguyên tử (ICP-OES), phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa (F-AAS) và không ngọn lửa (GF-AAS),.… Dưới đây là một số phương pháp xác định cađimi và chì.

    1.3.1. Các phương pháp phân tích

    1.3.1.1. Phương pháp phân tích khối lượng

    Phương pháp phân tích khối lượng là phương pháp cổ điển, độ chính xác có thể đạt tới 0,1%. Cơ sở của phương pháp là sự kết tủa định lượng của chất phân tích với một thuốc thử thích hợp.

    Cađimi thường được kết tủa dưới dạng CdS, CdSO4, CdNH4PO4 sau đó kết tủa được lọc, rửa, sấy (hoặc nung) rồi đem cân từ đó xác định hàm lượng chất phân tích.

    Chì được kết tủa dưới dạng PbSO4, PbCrO4 hay PbMoO4 sau đó được kết tủa được lọc, rửa, sấy hoặc nung rồi cân và từ đó xác định được hàm lượng chất phân tích.

    Phương pháp này không đòi hỏi dụng cụ đắt tiền nhưng quá trình phân tích lâu, nhiều giai đoạn phức tạp đặc biệt khi phân tích lượng vết các chất. Vì vậy phương pháp này không được dùng phổ biến trong thực tế để xác định lượng vết các chất mà chỉ dùng trong phân tích hàm lượng lớn [7].

    1.3.1.2. Phương pháp phân tích thể tích

    Phương pháp phân tích thể tích dựa trên sự đo thể tích dung dịch thuốc thử để biết nồng độ chính xác (dung dịch chuẩn) được thêm vào dung dịch chất định phân để tác dụng đủ toàn bộ lượng chất định phân đó. Thời điểm thêm lượng thuốc thử tác dụng với toàn bộ chất định phân gọi là điểm tương đương. Để nhận biết điểm tương đương, người ta dùng các chất gây ra hiện tượng có thể quan sát bằng mắt gọi là các chất chỉ thị [7].

    Với cađimi và chì, ta có thể dùng các phép chuẩn độ như chuẩn độ phức chất, chuẩn độ ôxi hoá – khử với các chất chỉ thị khác nhau.

    Ta có thể xác định cađimi bằng EDTA ở môi trường pH = 9 đến 10 với chỉ thị ET-OO hoặc môi trường pH = 6 với chỉ thị xylendacam. Khi đó chất chỉ thị chuyển từ màu đỏ sang màu vàng :

    H6F + Cd2+  →  H4FCd + 2H+

    H4FCd + H2Y2-  → CdY2- + H6F

                                              (đỏ)               (vàng)

    Đối với chì ta có thể chuẩn độ trực tiếp bằng EDTA hay chuẩn độ ngược bằng Zn2+ hoặc chuẩn độ thay thế với ZnY2- với chất chỉ thị ET-OO.

    – Cách 1: Chuẩn độ trực tiếp Pb2+ bằng EDTA ở pH trung tính hoặc kiềm (pH khoảng 8 đến 12), với chỉ thị ET-OO.

    Pb2+ + H2Y2- → PbY2- + 2H+

    Tuy nhiên, chì rất dễ thuỷ phân nên trước khi tăng pH phải cho Pb2+ tạo phức kém bền với tactrat hoặc trietanolamin.

    – Cách 2: Chuẩn độ ngược Pb2+ bằng Zn2+: cho Pb2+ tác dụng với một lượng dư chính xác EDTA đã biết nồng độ ở pH = 10. Sau đó chuẩn độ EDTA dư bằng Zn2+ với chỉ thị là ET-OO.

    Pb2+ + H2Y2- = PbY2- + 2H+

    H2Y2- (dư) + Zn2+ = ZnY2- + 2H+

    ZnInd + H2Y2- = ZnY2- + HInd

     (đỏ nho)             (xanh)

    – Cách 3: Chuẩn độ thay thế dùng ZnY2-, chỉ thị ET-OO.

    Do phức PbY2- bền hơn ZnY2- ở pH = 10 nên Pb2+ sẽ đẩy Zn2+ ra khỏi phức ZnY2. Sau đó, chuẩn Zn2+ sẽ xác định được Pb2+:

    Pb2- + ZnY2- = Zn2+ + PbY2-

    ZnInd + H2Y2- = ZnY2- + HInd

       (đỏ nho)            (xanh)

    1. Phương pháp phân tích công cụPhương pháp phổ hấp thụ phân tử UV – VIS

    Phương pháp này chính là phương pháp phổ hấp thụ phân tử trong vùng UV – VIS. Ở điều kiện thường, các phân tử, nhóm phân tử của chất bền vững và nghèo năng lượng. Đây là trạng thái cơ bản. Nhưng khi có một chùm sáng với năng lượng thích hợp chiếu vào thì các điện tử hoá trị trong các liên kết (л, ∂ , n) sẽ hấp thụ năng lượng chùm sáng, chuyển lên trạng thái kích thích với năng lượng cao hơn. Hiệu số giữa hai mức năng lượng (cơ bản Eo và kích thích Em) chính là năng lượng mà phân tử hấp thụ từ

    nguồn sáng để tạo ra phổ hấp thụ phân tử của chất.

    Nguyên tắc: Phương pháp xác định dựa trên việc đo độ hấp thụ ánh sáng của một dung dịch phức tạo thành giữa ion cần xác định với một thuốc thử vô cơ hay hữu cơ trong môi trường thích hợp khi được chiếu bởi chùm sáng. Phương pháp định lượng phép đo:

    A = K.C

    Trong đó:    A: độ hấp thụ quang

    K: hằng số thực nghiệm

    C: nồng độ nguyên tố phân tích

    Phương pháp này cho phép xác định nồng độ chất ở khoảng 10-5 đến

    10-7M và là một trong các phương pháp được sử dụng khá phổ biến.

    Phương pháp trắc quang có độ nhạy, độ ổn định và độ chính xác khá cao, được sử dụng nhiều trong phân tích vi lượng. Tuy nhiên với việc xác định cađimi, chì thì lại gặp rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của một số ion kim loại tương tự. Khi đó phải thực hiện các công đoạn che, tách phức tạp [8, 9].

    1.3.2.2 Phương pháp điện hoá

    a. Phương pháp cực phổ

    Nguyên tắc: Người ta thay đổi liên tục và tuyến tính điện áp đặt vào 2 cực để khử các ion kim loại, do mỗi kim loại có thế khử khác nhau. Thông qua chiều cao của đường cong Von-Ampe có thể định lượng được ion kim loại trong dung dịch ghi cực phổ. Vì dòng giới hạn Igh ở các điều kiện xác định tỉ lệ thuận với nồng độ ion trong dung dịch ghi cực phổ theo phương trình:

    I = k.C

    Phương pháp này sử dụng điện cực giọt thuỷ ngân rơi làm cực làm việc, trong đó thế được quét tuyến tính rất chậm theo thời gian (thường 1 – 5 mV/s) đồng thời ghi dòng là hàm của thế trên cực giọt thuỷ ngân rơi. Sóng cực phổ thu được có dạng bậc thang, dựa vào chiều cao có thể định lượng được chất phân tích.

    Phương pháp này có khá nhiều ưu điểm: Nó cho phép xác định cả chất vô cơ và hữu cơ với nồng độ 10-5 ÷ 10-6M tuỳ thuộc vào cường độ và độ lặp lại của dòng dư. Sai số của phương pháp thường là 2 ÷ 3% với nồng độ 10-3 ÷ 10-4M, là 5% với nồng độ 10-5  M (ở điều kiện nhiệt độ không đổi). Tuy nhiên phương pháp cực phổ bị ảnh hưởng rất lớn của dòng tụ điện, dòng cực đại, lượng oxi hoà tan hay bề mặt điện cực nên giới hạn phát hiện kém khoảng

    10-5 đến 10-6 M.

    Nhằm loại trừ ảnh hưởng trên đồng thời tăng độ nhạy, hiện nay đã có các phương pháp cực phổ hiện đại: cực phổ xung vi phân (DPP), cực phổ sóng vuông (SQWP)… chúng cho phép xác định lượng vết của nhiều nguyên tố [9, 10].

    b. Phương pháp Von-Ampe hoà tan

    Về bản chất, phương pháp Von-Ampe hoà tan cũng giống như phương pháp cực phổ là dựa trên việc đo cường độ dòng để xác định nồng độ các chất trong dung dịch. Nguyên tắc gồm hai bước:

    Bước 1: Điện hoá làm giàu chất cần phân tích trên bề mặt điện cực làm việc trong khoảng thời gian xác định, tại thế điện cực xác định.

    Bước 2: Hoà tan kết tủa đã được làm giàu bằng cách phân cực ngược cực làm việc, đo và ghi dòng hoà tan. Trên đường Von-Ampe hoà tan xuất hiện pic của nguyên tố cần phân tích. Chiều cao pic tỉ lệ thuận với nồng độ [9, 10].

    1.3.2.3. Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử

    Nguyên tắc: Khi nguyên tử tồn tại tự do ở thể khí và ở trạng thái năng lượng cơ bản, thì nguyên tử không thu hay không phát ra năng lượng. Tức là nguyên tử ở trạng thái cơ bản. Song, nếu chiếu vào đám hơi nguyên tử tự do một chùm tia sáng đơn sắc có bước sóng phù hợp, trùng với bước sóng vạch phổ phát xạ đặc trưng của nguyên tố phân tích, chúng sẽ hấp thụ tia sáng đó sinh ra một loại phổ của nguyên tử. Phổ này được gọi là phổ hấp thụ của nguyên tử. Với hai kỹ thuật nguyên tử hóa, nên chúng ta cũng có hai phép đo tương ứng. Đó là phép đo phổ hấp thụ nguyên tử trong ngọn lửa (F- AAS có độ nhạy cỡ 0,1 ppm) và phép đo phổ hấp thụ nguyên tử không ngọn lửa (GF – AAS có độ nhạy cao hơn kỹ thuật ngọn lửa 50- 1000 lần, cỡ 0,1- 1 ppb).

    Cơ sở của phân tích định lượng theo AAS là dựa vào mối quan hệ giữa cường độ vạch phổ và nồng độ nguyên tố cần phân tích theo biểu thức:

    Aλ = a.CX

    Có 2 phương pháp định lượng theo phép đo AAS là : phương pháp đường chuẩn và phương pháp thêm tiêu chuẩn.

    Thực tế cho thấy phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử có nhiều ưu việt như:

    Độ nhạy, độ chính xác cao, lượng mẫu tiêu thụ ít, tốc độ phân tích nhanh. Với ưu điểm này, AAS được thế giới dùng làm phương pháp tiêu chuẩn để xác định lượng nhỏ và lượng vết các kim loại trong nhiều đối tượng khác nhau.

    Phép đo phổ AAS có thể phân tích được hàm lượng vết của hầu hết các kim loại và cả những hợp chất hữu cơ hay anion không có phổ hấp thụ nguyên tử. Nó được sử dụng rộng rãi trong các ngành: địa chất, công nghiệp hóa học, hóa dầu, y học, sinh học, dược phẩm…[8, 9].

    a.  Phép đo phổ F-AAS

    Kỹ thuật F-AAS dùng năng lượng nhiệt của ngọn lửa đèn khí để hoá hơi và nguyên tử hoá mẫu phân tích. Do đó mọi quá trình xảy ra trong khi nguyên tử hoá mẫu phụ thuộc vào đặc trưng và tính chất của ngọn lửa đèn khí nhưng chủ yếu là nhiệt độ ngọn lửa. Đây là yếu tố quyết định hiệu suất nguyên tử hoá mẫu phân tích, mọi yếu tố ảnh hưởng đến nhiệt độ ngọn lửa đèn khí đều ảnh hưởng đến kết quả của phương pháp phân tích. [8, 9].

              b. Phép đo phổ GF-AAS

    Kỹ thuật GF-AAS ra đời sau kỹ thuật F-AAS nhưng đã được phát triển rất nhanh, nó đã nâng cao độ nhạy của phép xác định lên gấp hàng trăm lần so với kỹ thuật F-AAS. Mẫu phân tích bằng kỹ thuật này không cần làm giàu sơ bộ và lượng mẫu tiêu tốn ít.

    Kỹ thuật GF-AAS là quá trình nguyên tử hoá tức khắc trong thời gian rất ngắn nhờ năng lượng nhiệt của dòng điện có công suất lớn và trong môi trường khí trơ (Argon). Quá trình nguyên tử hoá xảy ra theo các giai đoạn kế tiếp nhau: sấy khô, tro hoá luyện mẫu, nguyên tử hoá để đo phổ hấp thụ nguyên tử và cuối cùng là làm sạch cuvet. Nhiệt độ trong cuvet graphit là yếu tố quyết định mọi diễn biến của quá trình nguyên tử hoá mẫu. Trong đó hai giai đoạn đầu là chuẩn bị cho giai đoạn nguyên tử hóa để đạt kết quả tốt. Nhiệt độ trong cuvet graphit là yếu tố chính quyết định mọi sự diễn biến của quá trình nguyên tử hóa mẫu.

    * Những ưu nhược điểm của phép đo:

    Cũng như các phương pháp phân tích khác, phương pháp phân tích phổ hấp thụ nguyên tử cũng có những ưu, nhược điểm nhất định đó là:

    – Ưu điểm: Đây là phép đo có độ nhạy cao và độ chọn lọc tương đối cao. Gần 60 nguyên tố hoá học có thể xác định bằng phương pháp này với độ nhạy từ 1.10-4 – 1.10-5 %. Đặc biệt, nếu sử dụng kỹ thuật nguyên tử hoá không ngọn lửa thì có thể đạt tới độ nhạy n.10-7 %. Chính vì có độ nhạy cao nên phương pháp phân tích này đã được sử dụng rất rộng rãi trong nhiều lĩnh vực để xác định lượng vết các kim loại. Một ưu điểm lớn của phép đo là: trong nhiều trường hợp không phải làm giàu nguyên tố cần xác định trước khi phân tích. Do đó, tốn ít mẫu, ít thời gian cũng như hoá chất tinh khiết để làm giàu mẫu. Tránh được sự nhiễm bẩn khi xử lý mẫu qua các giai đoạn phức tạp. Đặc biệt, phương pháp này cho phép phân tích hàng loạt mẫu với thời gian ngắn, kết quả phân tích lại rất ổn định, sai số nhỏ.

    – Nhược điểm: Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm phép đo AAS cũng có nhược điểm là chỉ cho biết thành phần nguyên tố của chất ở trong mẫu phân tích mà không chỉ ra trạng thái liên kết của nguyên tố ở trong mẫu [8, 9].

    1.3.2.4.  Phương pháp phổ phát xạ nguyên tử (ICP-OES)

    Khi ở điều kiện thường, nguyên tử không thu hay phát ra năng lượng nhưng nếu bị kích thích thì các điện tử hoá trị sẽ nhận năng lượng chuyển lên trạng thái có năng lượng cao hơn (trạng thái kích thích). Trạng thái này không bền, chúng có xu hướng giải phóng năng lượng để trở về trạng thái ban đầu bền vững dưới dạng các bức xạ. Các bức xạ này được gọi là phổ phát xạ của nguyên tử.

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • Luận văn phát triển năng lực tự học thông qua dạy học tích hợp thực tiễn phần cacbohiđrat hóa học 12

    Luận văn phát triển năng lực tự học thông qua dạy học tích hợp thực tiễn phần cacbohiđrat hóa học 12

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    1. Lý do chọn đề tài

    Trong hệ thống giáo dục Việt Nam giáo dục phổ thông có vai trò vô cùng quan trọng, nó là nền tảng cho hoạt động nhận thức của con người ở thời kì trưởng thành. Giáo dục không chỉ có chức năng chuyển tải những kinh nghiệm lịch sử xã hội của thế hệ trước cho thế hệ sau mà còn trang bị cho mỗi người phương pháp học tập. Phương pháp dạy cho người học biết cách tự học, tự nghiên cứu đã được nhiều nhà giáo dục chú trọng để giúp họ có khả năng học tập suốt đời, đáp ứng một xã hội luôn vận động và lượng tri thức tăng lên không ngừng. Điều này được thể hiện trong Nghị quyết số 29 − NQ/TƯ Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp Hành Trung ương Đảng khóa XI “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc.Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.”

    Dạy học chủ đề tích hợp là hình thức dạy học đáp ứng với định hướng đổi mới giáo dục hiện nay. Trong dạy học chủ đề tích hợp thường có những nội dung giáo dục liên quan đến môn học vào quá trình dạy học như: tích hợp giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật; an toàn giao thông; giáo dục môi trường; tích hợp thực tiễn vào dạy học các nội dung của bài học…nhằm phát triển năng lực cho học sinh (HS). Các vấn đề thực tiễn được đưa vào tích hợp sẽ kích thích khả năng tìm tòi, hứng thú học tập của người học. Khi giải thích được những hiện tượng thực tiễn liên quan đến hóa học xảy ra trong cuộc sống sẽ giúp người học phát triển những năng lực của bản thân đặc biệt năng lực tự học (NLTH).

    Với đặc thù là một môn khoa học tự nhiên, trong đó có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực nghiệm đòi hỏi người học phải có khả năng tự tìm tòi, khám phá, tự nghiên cứu để lĩnh hội tri thức. Trong quá trình dạy học, người giáo viên (GV) sử dụng các phương pháp dạy học (PPDH) tích cực một cách hợp lý sẽ tạo hứng thú học tập cho HS. Đồng thời xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương  pháp (PP) học tập chủ động, tích cực sáng tạo; ham hiểu biết; phát triển năng lực tự học cho HS. Hơn nữa hóa học là ngành khoa học có vai trò quan trọng trong trong đời sống và nền kinh tế quốc dân. Trong quá trình học tập, thông qua các bài học có tính thực tiễn, HS được kiểm chứng mối liên hệ giữa lý thuyết và thực tiễn. Tuy nhiên, nhiều năm qua nội dung sách giáo khoa (SGK) còn nặng về lý thuyết, hệ thống bài tập liên quan đến bối cảnh thực tiễn cuộc sống để phát triển năng lực tự học chưa đa dạng. Ngoài ra qui trình thiết kế hoạt động tích hợp nội dung liên quan đến thực tiễn trong một giờ giảng hoặc trong một chủ đề để định hướng NLTH của HS chưa được nghiên cứu sâu và phổ biến rộng rãi.

    Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi chọn đề tài “Phát triển năng lực tự học thông qua dạy học tích hợp thực tiễn phần cacbohiđrat − Hóa học 12” để nghiên cứu

    2. Mục đích nghiên cứu

    Xây dựng và tổ chức dạy học các chủ đề tích hợp thực tiễn phần Cacbohiđrat nhằm phát triển năng lực tự học cho HS lớp 12 THPT chương trình cơ bản.

    3. Nhiệm vụ nghiên cứu

    Để đạt được những mục đích trên, luận văn đã nghiên cứu, thực hiện những nhiệm vụ sau:

    –  Nghiên cứu khái niệm về năng lực, năng lực tự học, các vấn đề khác liên quan đến NLTH. Nghiên cứu các vấn đề về tự học và phát triển NLTH.

    –  Nghiên cứu dạy học tích hợp và dạy học chủ đề tích hợp. Nghiên cứu các qui tắc và qui trình thiết kế chủ đề dạy học tích hợp

    – Nghiên cứu một số phương pháp và kỹ thuật DH tích cực phù hợp để phát triển NLTH cho HS.

    – Nghiên cứu một số biện pháp nhằm phát triển NLTH cho HS thông qua DH phần cacbohiđrat lớp 12.

    – Nghiên cứu nguyên tắc thiết kế và cấu trúc của “Tài liệu tự học có hướng dẫn với nội dung lý thuyết phần cacbohiđrat”.

    – Nghiên cứu mục tiêu, cấu trúc nội dung, đặc điểm và PPDH phần Cacbohiđrat hóa học 12 THPT.

    –  Nghiên cứu các tiêu chí thành phần của NLTH từ đó đề xuất bộ công cụ đánh giá NLTH khi dạy học tích hợp các vấn đề thực tiễn.

    – Điều tra thực trạng việc sử dụng các PPDH tích cực nhằm phát triển NLTH cho HS trường THPT.

    –  Thực nghiệm sư phạm (TNSP) nhằm đánh giá tính khả thi của các biện pháp phát triển NLTH cho HS ở trường THPT.

    4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

    4.1. Khách thể nghiên cứu

    Quá trình dạy học hóa học ở trường phổ thông.

    4.2. Đối tượng nghiên cứu

     Dạy học theo chủ đề tích hợp thực tiễn phần cacbohiđrat nhằm phát triển NLTH cho học sinh THPT.

    5. Phạm vi nghiên cứu

    Dạy học các chủ đề tích hợp thực tiễn phần Cacbohiđrat lớp 12 tại trường THPT Ngô Quyền – Ba Vì và THPT Quảng Oai trên địa bàn huyện Ba Vì.

    6. Câu hỏi nghiên cứu

     Dạy học tích hợp thực tiễn phần Cacbohiđrat như thế nào để phát triển  năng lực tự học cho học sinh lớp 12 ở trường THPT?

    7. Giả thuyết khoa học

    Sự phát triển năng lực tự học của HS phụ thuộc vào tính tự giác, tích cực của người học. Nếu xây dựng được các chủ đề tích hợp thực tiễn có chất lượng và vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp trong dạy học ở phần Cacbohiđrat sẽ góp phần phát triển NL cho HS đặc biệt là NLTH. Đồng thời nâng cao chất lượng DH .

    8. Phương pháp nghiên cứu

    8.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận

    − Nghiên cứu tổng quan các vấn đề có liên quan đến đề tài

    + Khái niệm về năng lực, tự học và năng lực tự học

    + Các loại năng lực

    + Các biểu hiện của NLTH

    + Công cụ đánh giá NLTH

    − Một số phương pháp dạy học

    + Dạy học dự án

    + Dạy học giải quyết vấn đề

        8.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

    * Điều tra:

    − Thực trạng: Sử dụng các phương pháp dạy học hiện nay

    − Hỏi ý kiến chuyên gia

    * Thực nghiệm sư phạm.

      − Trước thực nghiệm

        − Sau thực nghiệm

    8.3. Các phương pháp thống kê xử lí số liệu và nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng để đánh giá kết quả của đề tài

    9. Đóng góp mới của luận văn

    Xác định được thực trạng vận dụng dạy học tích hợp thực tiễn trong dạy học môn Hóa học hướng tới phát triển NLTH ở một số trường THPT được giáo viên ưu tiên để nâng cao chất lượng dạy học.

    Xác định được nội dung phần Cacbohiđrat thuận lợi cho việc xây dựng các chủ đề tích hợp có thể triển khai trong thực tiễn dạy học và đảm bảo tính khả thi.

    Xác định được nguyên tắc qui trình xây dựng CĐTH các vấn đề thực tiễn. Trên cơ sở đó đề xuất và xây dựng được 3 chủ đề phần Cacbohiđrat.

    Tổ chức được các hoạt động trong dạy học chủ đề tích hợp theo qui trình đã xây dựng, khi triển khai thực nghiệm để phát triển NLTH của HS.

    Đề xuất 4 biện pháp phát triển NLTH cho HS THPT.

    Đề xuất được bộ công cụ đánh giá sự phát triển của NLTH.

    10. Cấu trúc của luận văn

    Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương    

    Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT

    Chương 2: Dạy học chủ đề tích hợp thực tiễn nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT

    Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

    Chương 1

    CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC

    PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THPT

    1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

    Tổ chức dạy học tích hợp đang trở thành xu thế của dạy học hiện đại, nó đang được nhiều quốc gia trên thế giới nghiên cứu và áp dụng vào trường học.

    Trên thế giới tư tưởng DHTH bắt đầu có từ thập niên 60 của thế kỉ XX như Hội nghị tích hợp về giảng dạy các môn khoa học tổ chức tại Varna (Bungari tháng 9/1968) với sự bảo trợ của UNESCO.

    Đã có nhiều nhà giáo dục nghiên cứu về quan điểm DHTH điển hình là :

    Năm 1996 tác giả Xavier Roegiers đã công bố công trình nghiên cứu “ Khoa học sư phạm tích hợp hay cần làm như thế nào để phát triển năng lực ở các trường học”. Trong công trình nghiên cứu này, ông đã nhấn mạnh rằng toàn bộ quá trình học tập cần đặt vào một tình huống có ý nghĩa đối với HS.

     Ở Việt Nam, tư tưởng dạy học tích hợp bắt đầu nghiên cứu và áp dụng từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỉ XX. Cho đến nay đã có nhiều nhà giáo dục nghiên cứu cơ sở lí luận về tích hợp và các biện pháp vận dụng giảng dạy tích hợp vào thực tiễn như:

    – Tác giả Đào Trọng Quang (1997), “Biên soạn sách giáo khoa theo quan điểm tích hợp – Cơ sở lý luận và một số kinh nghiệm”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 11, tr. 24. Tác giả đã đề cập tới bản chất của sư phạm, quan điểm, một số nguyên tắc, kỹ thuật của tích hợp.

    – Tác giả Trần Viết Thụ (1997) trong công trình “Vận dụng nguyên tắc liên môn khi dạy các vấn đề văn hóa trong sách giáo khoa lịch sử trung học phổ thông” đã vận dụng kiến thức văn học, địa lý, chính trị vào giảng dạy bộ môn Lịch sử theo quan điểm liên môn. Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 12, tr. 13. 37.

    – Luận văn thạc sĩ giáo dục học của tác giả Đoàn Thị Thùy Dương (2008), với đề tài “Rèn luyện thao tác lập luận và so sánh cho học sinh lớp 11 theo quan điểm tích hợp và tích cực” đã nhấn mạnh việc xây dựng cơ sở lí luận và thực tiễn của thao tác lập luận so sánh để đề xuất cách thức tổ chức dạy học theo hướng tích hợp, tích cực trong dạy văn nghị luận, Trường Đại học Giáo dục – ĐHQGHN.

    – Luận văn thạc sĩ giáo dục họccủa tác giả Trần Thị Tú Anh (2009) với đề tài “Tích hợp các vấn đề về Kinh tế xã hội và Môi trường vào dạy học hóa học hữu cơ lớp12”,Trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh.

    – Luận văn thạc sĩ giáo dục học của tác giả Đinh Xuân Giang (2009) với đề tài: “Vận dụng tư tưởng sư phạm tích hợp trong dạy học một số kiến thức về “chất khí” và “cơ sở của nhiệt động lực học” (Vật lý 10 − cơ bản) nhằm phát triển hứng thú và năng lực vận dụng kiến thức của học sinh,”, Đại học Sư phạm Thái Nguyên.

    – Luận văn thạc sĩ giáo dục học của tác giả Nguyễn Thị Hường (2012) với đề tài “ Vận dụng biện pháp tích hợp vào dạy học loại bài thực hành kĩ năng sử dụng tiếng Việt lớp 10”, Trường Đại học Giáo dục − ĐHQG HN.

    – Luận văn thạc sĩ giáo dục học của tác giả Phạm Minh Hải (2013) với đề tài “Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học Vật lí 12” đã nhấn mạnh việc nghiên cứu lí luận về bảo vệ môi trường và việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học vật lí lớp12 nhằm thiết kế phương án dạy vật lí lớp 12 có tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường, Trường Đại học Giáo dục – ĐHQG HN. 

    – Luận văn thạc sĩ giáo dục học của tác giả Ngọc Châu Vân (2014) với đề tài: “Xây dựng một số chủ đề dạy học tích hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở cấp Trung học cơ sở”, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

    – Luận văn thạc sĩ giáo dục học của tác giả Vũ Thị Thủy (2016), với đề tài“Dạy học chủ đề tích hợp phần Cacbohiđrat và Polime Hóa học 12 nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông”, Trường Đại học Giáo dục – ĐHQG HN.

    – v.v.v…

    Như vậy việc vận dụng quan điểm tích hợp vào giảng dạy đã và đang 
    thu hút sự quan tâm của nhiều nhà giáo dục cũng như nhiều GV. Những công 
    trình nghiên cứu của các nhà giáo dục và GV đã khẳng định việc vận dụng 
    quan điểm tích hợp vào dạy học là một trong những xu hướng dạy học tất yếu 
    hiện nay. 

    Dạy học gắn nội dung bài học với thực tiễn là mong muốn của rất nhiều GV và HS. Đã có nhiều đề tài nghiên cứu theo hướng tích hợp liên môn còn dạy học chủ đề tích hợp thực tiễn nhằm phát triển NLTH còn chưa được quan tâm đúng mức. Do đó tôi thấy việc lựa chọn đề tài của mình là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn trong việc đổi mới PPDH để nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường THPT.  

    1.2. Đổi mới chương trình giáo dục theo định hướng năng lực

    1.2.1. Định hướng chung [7, 11, 12, 35]

    Trong những năm gần đây giáo dục phổ thông đang chuyển dần từ chương trình tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm tới HS học được gì đến chỗ quan tâm HS làm được gì qua việc học. Vì vậy xu hướng đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) từ việc chỉ dạy kiến thức sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức vào thực tiễn, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất; đồng thời thay đổi đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra theo định hướng nội dung thay bằng kiểm tra theo định hướng năng lực.

    Ngày 28/07/2017 Bộ giáo dục và  Đào tạo đã công bố Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể với định hướng về nội dung giáo dục, định hướng phương pháp giáo dục, định hướng về đánh giá kết quả giáo dục. Tất cả các định hướng giáo dục nêu trên đều nhằm mục đích phát triển năng lực cho người học. Theo những định hướng đó, các yếu tố của quá trình giáo dục trong nhà trường THPT cần được tiếp cận theo hướng đổi mới để tạo một diện mạo mới cho giáo dục Việt Nam, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội hiện đại.

    1.2.2. Khái quát chung về năng lực

    1.2.1.1. Khái niệm về năng lực

    Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc từ tiếng Latinh “competentia”. Năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm và thái độ, trách nhiệm. Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về năng lực nhưng năng lực đều được hiểu là sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với công việc.

    Theo tài liệu [21], năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,…để thành công một loại công việc trong bối cảnh nhất định.

    Theo tài liệu [30], “ Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong các tình huống thay đổithuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động

    Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể [8], “Năng lực  là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”.

    Trong luận văn này chúng tôi sử dụng khái niệm: Năng lực là khả năng đáp ứng yêu cầu của những hoạt động và đảm bảo cho những hoạt động đó nhanh đạt kết quả của con người.

    1.2.2.2. Các loại năng lực của học sinh trung học phổ thông        

    Theo tài liệu [8], NL bao gồm năng lực cốt lõi (năng lực chung, năng lực chuyên môn) và năng lực đặc biệt của môn học. Cụ thể:

    • ăng lc cốt lõi

    – Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu giúp cá nhân có thể sống, làm việc và tham gia hiệu quả trong nhiều hoạt động ở các bối cảnh khác nhau của đời sống xã hội. Những năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển, đó là: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

    – Năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định, đó là: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất.

    • biệt (năng khiếu) của môn học

    – Năng  lực đặc biệt của môn học là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của các lĩnh vực học tập.

     – “Hóa học là một môn khoa học vừa lý thuyết vừa thực nghiệm” nên nó có những năng lực đặc biệt. Các năng lực đặc biệt của môn Hóa học là: Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học; Năng lực thực hành hóa học; Năng lực vận dụng kiến thức hoá học vào cuộc sống; ……

     Như vậy, trong dạy học hóa học ở trường phổ thông  GV cần chú trọng phát triển những năng lực cốt lõi và các năng lực đặc biệt môn học trên giúp HS có thể đáp ứng sự phát triển của thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng, thích ứng với bối cảnh  thay đổi  của xã hội hiện nay.

    1.2.2.3. Đánh giá năng lực của học sinh trung học phổ thông [3],

    Việc đánh giá năng lực của HS đã và đang được nhiều tác giả quan tâm, có nhiều hình thức và phương pháp đánh giá. Tuy nhiên trong dạy học ở trường THPT thường sử dụng một số biện pháp đánh giá sau:

    + Đánh giá qua quan sát

    +  Đánh giá qua bảng kiểm

    + Đánh giá qua các bài kiểm tra  

    + Hồ sơ học tập, đánh giá quá trình

    + Tự đánh giá

    + Đánh giá đồng đẳng

    ………….

    1.3. Tự học và phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông

    1.3.1.Tự học

    1.3.1.1. Khái niệm về tự học

    Khi còn sống chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan niệm về tự học: “Tự học là cách học tự động” và “phải biết tự động học tập”. Theo Người: “tự động học tập” tức là tự học một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ động vạch kế hoạch học tập cho mình, rồi tự mình triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểm tra đánh giá việc học của mình”.

    GS Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp và các phẩm chất khác của người học, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một tri thức nào đó của nhân loại, biến tri thức đó thành sở hữu của chính mình” [17,18,19]. 

    GS.TSKH Thái Duy Tuyên khẳng định: “Tự học là một hoạt động độc lập chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học” [24, 25]

    Theo quan điểm dạy học tích cực, bản chất của học là tự học, nghĩa là chủ thể tác động vào nội dung học một cách tích cực, tự lực, chủ động sáng tạo để đạt được mục tiêu học tập. Như vậy tự học là mức độ cao của học, là sự tích cực, tự lực, chủ động của chủ thể nhận thức trong hoạt động học.

    Từ những quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi sử dụng định nghĩa về tự học như sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định.

    1.3.1.2. Vai trò của tự học

    Nghị quyết số 29 − NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương khóa 8 về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo có nêu lên mục tiêu cụ thể, trong đó có đề cập tới việc:” Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời“. Trong các giải pháp có nêu:” Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức,kĩ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” [35].

    Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học: Các nhà sư phạm đã nhận thức rõ ý nghĩa của phương pháp dạy tự học. Trong hoạt động dạy học giáo viên không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ tri thức có sẵn, chỉ yêu cầu HS ghi nhớ mà quan trọng hơn là phải định hướng, tổ chức cho HS tự mình khám phá ra những qui luật, thuộc tính mới của các vấn đề khoa học.

    Bồi dưỡng năng lực tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực mạnh mẽ cho quá trình học tập: Một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá nhân là tính tích cực, sự chủ động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là hình thành phẩm chất cho người học. Từ đó mới có thể đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với mọi thị trường lao động, góp phần phát triển cộng đồng. [34]

    Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để khẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến. Bằng con đường tự học mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt kịp nhanh với thách thức trong cuộc sống, kể cả trong môi trường nghề nghiệp. [33]

    1.3.1.3. Các yếu tố của tự học

    *  Động cơ tự học

    Từ điển Tiếng Việt đưa ra định nghĩa: “Động cơ là những gì thôi thúc con người có những ứng xử nhất định một cách vô thức hay hữu ý và thường gắn liền với những nhu cầu”. Từ điển trực tuyến Wikipedia định nghĩa: “Động cơ là một chuỗi các lý do khiến chủ thể quyết định tham gia một hành vi cụ thể”.

    Động cơ học tập là: “ Động lực thúc đẩy học sinh học tập, trên cơ sở nhu cầu hoàn thiện tri thức, mong muốn nắm vững tiến tới làm chủ tri thức mà mình được học tập, làm chủ nghề nghiệp đang theo đuổi” [17].

    Trong rất nhiều động cơ học tập của HS, có thể tách thành hai nhóm cơ bản là: Động cơ hứng thú nhận thức, động cơ trách nhiệm trong học tập. Sự nảy sinh động cơ TH lúc đầu xuất phát từ ý thức trách nhiệm buộc phải hoàn thành các nhiệm vụ học tập đã thúc đẩy hoạt động TH của HS.

    Khi bắt tay vào giải quyết các nhiệm vụ TH, mục đích tự học xuất hiện dưới hình thức một biểu tượng chung về sự hoàn thành nhiệm vụ đó. Xét về nội dung, biểu tượng đó còn nghèo nàn, thô sơ và có nguồn gốc từ động cơ học tập. Quá trình giải quyết các nhiệm vụ tự học, biểu tượng ban đầu ngày càng được cụ thể hoá, những mục đích bộ phận tiếp theo được hình thành, dẫn HS tới mục đích cuối cùng là chiếm lĩnh được tri thức khoa học.

    Động cơ tự học của HS được hình thành bởi sự tác động của các yếu tố bên ngoài như: sự bất cập giữa trình độ bản thân với yêu cầu của công việc, nhu cầu

    thăng tiến, do tự ái bạn bè, đồng nghiệp, thoả mãn nhu cầu hiểu biết, lòng khao khát tri thức…và cả những khó khăn về thời gian, trường lớp nếu đi học tập trung…Chính những mâu thuẫn giữa yêu cầu của công việc, cuộc sống với khả năng của HS làm xuất hiện nhu cầu tự học để nâng cao trình độ học vấn của họ

    Động cơ tự học của HS xuất phát từ sự nhận thức, về yêu cầu nâng cao trình độ, từ sự thúc bách của nhu cầu thực tiễn…nên động cơ TH bền vững và do vậy trong hoạt động TH họ thực sự tích cực, tự giác hướng tới sự tự giáo dục, tự đào tạo bản thân. Khi động cơ đủ mạnh, tuỳ vào điều kiện của bản thân để lựa chọn hình thức, nội dung và xây dựng kế hoạch tự học thích hợp cho mình.

    Như vậy, động cơ tự học hoàn toàn không xuất hiện một cách ngẫu nhiên hay do người khác mang đến mà chỉ có thể nảy sinh một cách có ý thức trong từng cá nhân nhờ các tác động phù hợp từ bên ngoài và chỉ có thể được nâng cao khi quá trình tự học có hiệu quả.

    *Thái độ tự học

    Thái độ tự học được hình thành trải qua 5 cấp độ trong đó cấp độ thấp nhất là HS có được “nhu cầu tự học” và cao nhất là tự bản thân có được “tính tự giác”. Việc hình thành này trải qua nhiều giai đoạn, trong thời gian dài và cần phải có sự kiên trì [37]. Thông thường thái độ tự học thể hiện qua một số mặt như dưới đây:

    (1) Tự giác hoàn thành các nhiệm vụ học tập được giao và đạt kết quả cao.

    (2) Nghiêm túc hoàn thành bài kiểm tra và thi cử … 

    (3) Đảm bảo chuyên cần trong học tập.

    (4) Tích cực thường xuyên tham khảo tìm hiểu thông qua các kênh thông tin tư liệu.

    (5) Tận dụng thời gian tự học ở nhà khi rảnh.

    * Chu trình tự học

        Chu trình tự học của học sinh là một chu trình gồm 4 quá trình [20] (hình 1.1)

    Hình 1.1. Chu trình tự học của HS

     (2) Tự thể hiện: HS tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân của mình, tự thể hiện qua sự đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học.

    (3) Tự kiểm tra: Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm của mình         

    (4) Tự điều chỉnh: Sau khi thảo luận, hoàn thiện sản phẩm, người học tự sửa chữa, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học. Qua giai đoạn 4 này học sinh sẽ có những kinh nghiệm mới được rút ra từ quá trình học và tự hoàn thiện mình hơn, đạt được kết quả tốt hơn.

    Chu trình tự nghiên cứu, tự thể hiện tự kiểm tra, tự điều chỉnh “thực chất cũng là con đường” phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết, và giải quyết vấn đề của nghiên cứu khoa học.

    1.3.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tự học

    Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tự học được tóm tắt bằng sơ đồ sau:

    Hình 1.2. Sơ đồ các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tự học

    Nhóm nhân tố bên trong:  Được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động sống, trải nghiệm của mỗi cá nhân và bị chi phối bởi yếu tố tâm lí. Trong nhóm nhân tố bên trong năng lực học tập là nhân tố quan trọng bậc nhất, mang sắc thái cá nhân, vì người học là chủ thể chiếm lĩnh tri thức, chân lí bằng hành động của chính mình, tự mình thấy là hiệu quả nhất. Đồng thời động cơ, hứng thú tự học quyết định kết quả tự học của HS [18]

    Nhóm nhân tố bên ngoài: Phương pháp dạy học của GV đóng vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, phương pháp làm việc độc lập ngay cả khi đang học ở nhà trường và khi tiếp tục học ở bậc cao hơn. Ngoài ra điều kiện cơ sở vật chất, yêu cầu của gia đình, nhà trường và xã hội cũng là yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc đầu tư vào học tập của HS. Yếu tố cuối cùng là thời gian, HS phải biết sắp xếp thời gian phù hợp với điều kiện để tự học. [18]

    1.3.1.5. Các hình thức tự học

    Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn [18] có 5 hình thức tự học dưới đây:

    Tự học hoàn toàn (không có sự giúp đỡ của GV): thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực tế, học kinh nghiệm của người khác. HS gặp nhiều khó khăn do có nhiều lổ hổng kiến thức, HS khó thu xếp tiến độ, kế hoạch TH, không tự đánh giá được kết quả TH của mình. Từ đó HS dễ chán nản và không tiếp tục TH.

    – Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: thí dụ như học bài hay làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổ thông. Để giúp HS có thể TH ở nhà, GV cần tăng cường KT− ĐG kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của họ.

    – Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được nghe GV giảng giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn. Với hình thức TH này, HS cũng không đánh giá được kết quả học tập của mình.

    – Tự học qua tài liệu hướng dẫn: trong tài liệu trình bày cả ND, cách xây dựng kiến thức, cách KT kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được. Song nếu chỉ dùng tài liệu TH, HS cũng có thể gặp khó khăn và không biết hỏi ai.

    – Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn của GV ở lớp: với hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định, song nếu HS vẫn sử dụng SGK hóa học như hiện nay thì họ cũng gặp khó khăn khi tiến hành TH vì thiếu sự hướng dẫn về PP học.

     Qua việc nghiên cứu các hình thức TH ở trên thấy rằng mỗi hình thức TH có những mặt ưu điểm và nhược điểm nhất định. Để nhằm khắc phục được những nhược điểm của các hình thức TH đã có này và xét đặc điểm của HS học môn Hoá học chúng tôi gợi ý một hình thức TH mới: Tự học theo tài liệu hướng dẫn và có sự hướng dẫn một phần của GV gọi tắt là “tự học có hướng dẫn”.

    1.3.2. Năng lực tự học của học sinh trung học phổ thông

    1.3.2.1. Khái niệm về năng lực tự học

    Theo tác giả Lê Khánh Bằng: Tự học là tự mình suy nghĩ sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lí để chiếm lĩnh một số lĩnh vực khoa học nhất định. [1, 23]

    Trong các tài liệu nghiên cứu của một số tác giả như: Linda Leach, Candy, Taylor, Nguyễn Cảnh toàn, Thái Duy Tuyên, Trần Bá Hoành… thì quan niệm về NLTH có thể được hiểu: là năng lực sử dụng được các phương pháp, thủ thuật học tập để đạt được mục đích học tập. Cũng có tác giả cho rằng: Năng lực tự học là hệ thống các năng lực thành tố có mặt ở đối tượng người học nhằm giúp người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định .

    Dù khái niệm có thể khác nhau nhưng đặc điểm chung khi nói đến năng lực tự học của cá nhân (HS) đều nhấn mạnh đó là sự tự giác, tích cực tự lực chiếm lĩnh tri thức để đạt được mục tiêu học tập. Về NLTH thì khái niệm NLTH mà các tác giả đưa ra không chỉ dừng lại ở mức độ chủ động tiếp thu kiến thức mà còn nhấn mạnh vào khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

    Theo các tác giả:  NLTH là những khả năng và kỹ xảo học được của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định. NLTH của mỗi cá nhân có được không dựa hoàn toàn vào chương trình giáo dục mà nó được hình thành từ nhiều lĩnh vực học tập và sự phát triển về mặt xã hội của con người.

    M.A.Rubakin: Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ. [31]

    Theo thời gian và bối cảnh nghiên cứu định nghĩa về tự học cũng được thay đổi ngoài ra nó còn phụ thuộc vào nghiên cứu của từng tác giả. Nhưng định nghĩa về tự học (self− directed learning) của Malcolm Shepherd Knowles [30, trang 18] được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu về giáo dục học, Theo ông “Tự học là một quá trình mà người học tự thực hiện các hoạt động học tập, có thể cần hoặc không cần sự hỗ trợ của người khác, dự đoán được nhu cầu học tập của bản thân, xác định được mục tiêu học tập, phát hiện ra nguồn tài liệu, con người giúp ích được cho quá trình học tập, biết lựa chọn và thực hiện chiến lược học tập và đánh giá được kết quả thực hiện”.

    Qua các nghiên cứu về NLTH của một số tác giả nêu trên chúng tôi đưa ra khái niệm về NLTH như sau: NLTH là khả năng của mỗi cá nhân tự thực hiện các hoạt động học tập.

    1.3.2.2. Các biểu hiện của năng lực tự học

    Tác giả Candy [31], ông đã liệt kê NLTH có 12 biểu hiện và phân chia thành 2 nhóm, mỗi nhóm biểu hiện của NLTH sẽ bị ảnh hưởng của tác động bên ngoài là khác nhau, dựa vào đó người dạy sẽ tác động chính vào nhóm nào để phát triển

    NLTH cho người học một cách phù hợp.

    Sơ đồ sau mô tả các biểu hiện về NLTH theo Candy :

    Hình 1.3. Biểu hiện của NLTH

    Nhóm đặc điểm bên ngoài (là phương pháp học) chủ yếu được hình thành và phát triển trong quá trình tiếp thu tri thức, vì vậy PPDH  của GV sẽ tác động mạnh mẽ đến phương phương pháp học tập của HS và tạo điều kiện để HS hình thành, phát triển NLTH.

    Nhóm đặc điểm bên trong (tính cách) được hình thành và phát triển chủ yếu thông qua các hoạt động sống, trải nghiệm của mỗi cá nhân và bị chi phối nhiều bởi yếu tố tâm lí. Chính vì điều đó người dạy nên tạo môi trường học tập đa dạng để người học được trải nghiệm và kiểm chứng, đôi khi chỉ cần phản ứng đúng sai trong nhận thức hoặc nhận được lời động viên, khích lệ cũng góp phần tạo động lực để người học phấn đấu, cố gắng tự học.

    Khi tìm hiểu và phân tích về NLTH mà các tác giả đã nêu và quan sát từ thực tiễn và rút ra những kĩ năng của NLTH như sau:

    – Kĩ năng lập kế hoạch: Dự kiến thời gian hoàn thành một hoạt động; Lập thời gian biểu chi tiết; Phân chia công việc trong nhóm

    – Kĩ năng giao tiếp xã hội: Sự kiên trì lắng nghe; Quan sát và phản biện đúng thời điểm;

    – Kĩ năng tự điều chỉnh trong học tập: Xác định được nội dung cần học và nội dung chưa hiểu; Tự kiểm tra việc ghi nhớ được kiến thức học trên lớp; Hoàn thành công việc được giao; So sánh kết quả học tập ở nhiều thời điểm khác nhau và lên kế hoạch  học tập tiếp theo.

    Đây là một trong những cơ sở để chúng tôi thiết kế bảng tiêu chí và mức độ đánh giá sự phát triển NLTH cho HS.

    1.3.2.3. Một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh

    Căn cứ vào những biểu hiện của NLTH, các kỹ năng tự học chúng tôi nhận thấy, GV có thể can thiệp vào hoạt động học tập của HS để nâng cao NLTH cho người học theo những biện pháp sau:

    -Tác động vào tâm lí lứa tuổi: Đối với HS THPT, tư duy phát triển mạnh, hoạt động trí tuệ linh hoạt và nhạy bén vì vậy vậy GV cần hướng dẫn, giúp đỡ các em tư duy một cách tích cực độc lập để phân tích đánh giá sự việc và tự rút ra kết luận cuối cùng. Việc khen chê kịp thời giúp HS hứng thú hơn trong học tập.

    – Tạo môi trường học tập tích cực: Trong quá trình dạy học sự thay đổi không gian học tập phù hợp với mục tiêu giáo dục sẽ làm tăng hứng thú học tập cho HS.Vì vậy GV và cán bộ quản lý nhà trường nên tạo điều kiện cho HS có những môi trường học tập tốt thân thiện, an toàn, đủ nguồn tài liệu để  tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lĩnh hội tri thức.

    – Phương pháp dạy học của giáo viên: PPDH rất quan trong trong việc phát triểnNL nói chung, NLTH nói riêng của người học. GV có thể sử dụng nhiều PPDH tích cực như: dạy học giải quyết vấn đề, dạy học dự án,…để rèn luyện và nâng cao NLTH. Nhưng cần phải chú ý đến các hoạt động như nâng cao nhận thức, vai trò của người học; tăng cường làm việc theo nhóm để rèn luyện một số kĩ năng cho HS; xây dựng các chủ đề học tập phong phú, gần gũi với thực tiễn và vừa sức với người học; tổ chức các hoạt động học tập thông qua một bộ câu hỏi được thiết kế chu đáo và thông báo trước với HS để các em chủ động định hướng các hoạt động học tập của mình…

    – Thiết kế tài liệu tự học có hướng dẫn.  

    Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi sử dụng tài liệu tự học có hướng dẫn (phần lí thuyết) để phát triển NLTH cho HS ở trường THPT.

    1.3.3. Tổ chức cho HS học tập theo tài liệu tự học có hướng dẫn

    1.3.3.1. Khái niệm về tài liệu tự học có hướng dẫn

    Tự học có hướng dẫn có thể được thực hiện trực tiếp giữa thầy và trò: Thực hiện trong bài lên lớp (PP đàm thoại, PP dạy học nêu vấn đề, PP tích cực hoá hoạt động của HS…); thực hiện bằng hình thức giao nhiệm vụ, cũng có thể thực hiện gián tiếp giữa GV và HS thông qua “Tài liệu TH có hướng dẫn”. Tài liệu TH có hướng dẫn là tài liệu được biên soạn theo những đặc trưng và cấu trúc của một bài dạy. Tài liệu có thể được phân thành nhiều loại: theo nội dung lí thuyết hoặc theo nội dung bài tập[20, 24]

    1.3.3.2. Tài liệu tự học có hướng dẫn với nội dung lý thuyết

    Sách giáo khoa hóa học được coi là một trong những nguồn cung cấp tri thức cơ bản cho HS và là phương tiện để GV tổ chức các hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng kiến thức, rèn luyện khả năng TH, tự lĩnh hội kiến thức cho HS. SGK hóa học ở nước ta hiện nay là tài liệu được văn bản hóa có chứa đựng: mục tiêu, ND và PP dạy học, tuy nhiên SGK thường chỉ trình bày kiến thức mà không có những chỉ dẫn về phương pháp hoạt động để dẫn đến kiến thức, để hình thành kĩ năng  bởi vậy HS rất bị động. Để khắc phục tình trạng đó tài liệu hướng dẫn tự học ngoài việc trình bày nội dung kiến thức, còn hướng dẫn cả cách thức hoạt động để phát hiện vấn đề, thu thập và xử lí thông tin, rút ra kết luận, kiểm tra và đánh giá kết quả.

    Với tài liệu TH có hướng dẫn trong đề tài này, ngoài những nguyên tắc chung về việc xây dựng ND, cấu trúc chương trình hoá học THPT, việc thiết kế tài liệu cho HS chúng tôi đã đặc biệt chú ý các nguyên tắc sau: Đảm bảo tính chính xác, khoa học, phù hợp về nội dung kiến thức với đối

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa