• SKKN Tăng cường hoạt động trải nghiệm, ứng dụng trong các bài học có yếu tố hình học lớp 5

    SKKN Tăng cường hoạt động trải nghiệm, ứng dụng trong các bài học có yếu tố hình học lớp 5

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Như chúng ta đã biết, trong thời đại ngày nay, Toán học ngày càng có nhiều
    ứng dụng trong cuộc sống, những kiến thức và kĩ năng toán học cơ bản đã giúp
    con người giải quyết các vấn đề trong thực tế cuộc sống một cách có hệ thống và
    chính xác, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.
    Môn toán Tiểu học có vai trò quan trọng trong việc hình thành cho học sinh
    những khái niệm khoa học đồng thời phát triển trí tuệ cùng các kĩ năng ứng dụng,
    trải nghiệm thực tế và là công cụ cần thiết cho các môn học khác.
    Trong chương trình toán lớp 5, nội dung hình học gồm 16 bài chiếm khoảng
    14 % thời lượng chương trình gồm các dạng bài hình thành khái niệm, quy tắc,
    công thức tính chu vi, diện tích, thể tích một số hình. Mảng kiến thức hình học
    được sắp xếp đan xen với các mạch kiến thức khác, là bộ phận gắn bó mật thiết
    với các kiến thức số học, đại lượng, giải toán thành môn học thống nhất phù hợp
    với sự phát triển từng giai đoạn nhận thức của học sinh. Có thể nói đây là mảng
    kiến thức tương đối trừu tượng và có tính khái quát cao, góp phần quan trọng
    trong việc phát triển tư duy cho học sinh. Yếu tố hình học góp phần phát triển
    toàn diện các năng lực tư duy, trí tưởng tượng không gian cho học sinh, giúp các
    em nhận thức và phân tích tốt hơn thế giới xung quanh.
    Hiện nay toàn ngành giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học nói riêng đang
    thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tính
    cực của học sinh làm cho hoạt động dạy trên lớp nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả.
    Mục tiêu của đổi mới chương trình Giáo dục phổ thông 2018 là góp phần chuyển
    nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức đơn thuần trả lời cho câu hỏi: “Học
    xong chương trình, học sinh BIẾT được những gì?” sang nền giáo dục phát triển
    toàn diện phẩm chất và năng lực của người học trả lời cho câu hỏi: “Học xong
    chương trình, học sinh LÀM được những gì?”.
    Những ứng dụng của hình học lớp 5 vào trong thực tiễn có ở chương trình
    và sách giáo khoa chưa thường xuyên. Mặc dù một số bài học cũng đã đưa một
    số dạng bài toán thực tiễn tuy nhiên số lượng còn ít. Giáo viên chưa thực sự đầu
    tư nghiên cứu, chưa mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy học. Học sinh còn mơ
    hồ và chưa có hứng thú trong học tập dẫn đến các em chưa thấy được vai trò quan
    trọng của Toán học trong thực tế, năng lực giải các bài toán của học sinh còn nhiều
    hạn chế. Nhiều học sinh nghĩ học Toán chỉ là để giải các bài tập. Các em chưa
    biết mục đích thực sự của Toán học là để làm gì, chúng có ứng dụng gì trong thực
    tiễn hay không. Chính vì lý do đó tôi nghiên cứu và rút ra sáng kiến: “Tăng cường
    hoạt động trải nghiệm, ứng dụng trong các bài học có yếu tố hình học lớp 5”.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    1.1. Thuận lợi
    Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao, chú trọng nâng
    cao chất lượng dạy và học, đầu tư trang thiết bị, cơ cở vật chất, đảm bảo các điều
    kiện để tổ chức các hoạt động ứng dụng, trải nghiệm của học sinh.
    Bản thân tôi là một giáo viên trẻ có trình độ chuyên môn, không ngừng học
    tập sáng tạo, bồi dưỡng chuyên môn; luôn mẫu mực, tâm huyết với nghề, gần gũi
    quan tâm học sinh; kịp thời nắm bắt được mục tiêu đổi mới Chương trình Giáo
    dục phổ thông 2018, đồng thời nhận thức được tầm quan trọng của các hoạt động
    ứng dụng, trải nghiệm đối với việc dạy – học hiện nay.
    Hầu hết học sinh trong lớp đều chăm ngoan, có ý thức học tập, ham học
    hỏi, rất hứng thú với các hoạt động trải nghiệm, thích được thực hành vận dụng
    kiến thức đã học vào thực tế và tự tìm tòi kiến tạo nên kiến thức mới.
    Đa số phụ huynh đều quan tâm, tạo điều kiện đến việc học tập của các con
    và sẵn sàng tham gia các hoạt động ứng dụng, trải nghiệm cùng con.
    1.2. Khó khăn
    Nhà trường chưa đầu tư được nhiều trang thiết bị hiện đại, cơ sở phù hợp
    với các hoạt động ứng dụng, trải nghiệm do kinh phí hạn hẹp.
    Thực tế cho thấy, giáo viên ít đưa ra các bài toán thực tiễn và học sinh
    không được trải nghiệm nhiều trong quá trình học tập. Giáo viên thường xây dựng
    công thức cho học sinh rồi yêu cầu học sinh học thuộc lòng công thức ấy. Vì thế,
    khi gặp các bài toán đơn giản cho sẵn các yếu tố có trong công thức thì học sinh
    làm được nhưng khi gặp các bài toán thực tế liên quan đến yếu tố hình học, học
    sinh lại lúng túng không biết làm thế nào. Nguyên nhân do giáo viên chưa có
    nhiều kinh nghiệm trong việc xây dựng một số phương pháp dạy học tích cực, còn
    phụ thuộc nhiều vào tài liệu hướng dẫn học. Việc tự làm đồ dùng dạy – học chưa
    phong phú, đa dạng, chưa mạnh dạn đổi mới, còn ngại tổ chức các hoạt động trải
    nghiệm, ứng dụng cho học sinh trong thực tế.
    Học sinh chưa có thói quen, kĩ năng hợp tác, chia sẻ, giải quyết các tình
    huống thực tiễn. Việc tiếp thu kiến thức hình học của học sinh rất máy móc, rập
    khuôn. Các em chưa thấy được giá trị cũng như những ứng dụng quan trọng của
    hình học vào thực tiễn đời sống do ít được trải nghiệm, ứng dụng thực tế.
    Một số phụ huynh học sinh chưa dành thời gian cùng con chia sẻ những trải
    nghiệm, ứng dụng kiến thức toán học trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày.
    1.3. Khảo sát chất lượng của 35 học sinh lớp 5A đầu năm học
    2020 – 2021 theo 3 tiêu chí.
    Trước khi áp dụng sáng kiến, tôi đã khảo sát chất lượng của 35 học sinh lớp
    5A do tôi phụ trách vào đầu tháng 9 năm học 2019-2020 theo 3 tiêu chí, kết quả
    như sau:

    Kết quả
    Tiêu chí
    ĐạtChưa đạt
    Số lượngTỉ lệSố lượngTỉ lệ
    Nắm kiến thức cơ bản
    về hình học
    3085,7 %514,3 %
    Vận dụng kiến thức
    làm bài tập
    2571,2 %1028,8 %
    Khả năng ứng dụng,
    trải nghiệm
    2057,1 %1542,9 %

    Nhìn vào bảng số liệu ta thấy còn nhiều học sinh chưa biết ứng dụng trải
    nghiệm những kiến thức đã học vận dụng kiến thức vào cuộc sống .
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    Từ những thực trạng nêu trên, ngay từ đầu năm học 2020-2021 tôi đã suy
    nghĩ và tìm ra một số biện pháp nhằm tăng cường khả năng ứng dụng, trải nghiệm
    kiến thức hình học lớp 5 vào thực tiễn, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả giáo
    dục.
    Giúp học sinh vận dụng kiến thức hình học vào giải quyết tình huống của
    cuộc sống, thúc đẩy việc gắn kết kiến thức lý thuyết và thực hành đồng thời trải
    nghiệm vốn sống của bản thân để hình thành kiến thức mới hay hoàn thành các
    bài tập vận dụng hoặc biết vận dụng làm một số dự án đơn giản theo đúng phương
    châm giáo dục hiện nay: “Mang cuộc sống vào bài học, đưa bài học vào cuộc
    sống”.
    Giúp học sinh hình thành kiến thức, kĩ năng, thói quen, khả năng vận dụng
    kiến thức hình học vào trong cuộc sống hàng ngày và học tốt các môn học khác
    đồng thời tạo cơ hội để học sinh phát triển các năng lực chung và năng lực đặc
    thù.
    Tạo môi trường giáo dục mở, thu hút các lực lượng cùng tham gia hoạt
    động giáo dục.
    Bước đầu hình thành cho học sinh có những ước mơ, định hướng nghề
    nghiệp sau này từ các ý dự án nhỏ, tăng cường tính hợp tác và làm việc theo nhóm,
    cùng nhau học tập, cùng nhau tiến bộ.
    Sáng kiến: “Tăng cường hoạt động trải nghiệm, ứng dụng trong các bài
    học có yếu tố hình học lớp 5.” được tổ chức bằng các việc làm cụ thể của học sinh,
    được thực hiện trong thực tế dưới sự định hướng, hướng dẫn của giáo viên, thông
    qua hoạt động khai thác vốn kiến thức thực tế của học sinh để hình thành khám
    phá và chiếm lĩnh tri thức mới một cách tích cực, chủ động, sáng tạo. Qua trải
    nghiệm các yếu tố hình học, học sinh biết vận dụng kiến thức đã học để giải quyết
    một số tình huống trong thực tiễn cuộc sống, qua đó hình thành phẩm chất và năng
    lực cho các em. Các hoạt động ngoại khóa hay các “dự án” toán học tạo được
    hứng thú, tinh thần làm việc tập thể, phát triển các kĩ năng thu thập xử lý thông
    tin, … tạo ra các sản phẩm phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày. Các hoạt động này
    được thực hiện trong lớp, ở trường, ở nhà hay ở bất kì nơi nào phù hợp.
    Với những nội dung của sáng kiến trên tôi tiến hành thực nghiệm các biện
    pháp như sau:
    2.1. Giúp học sinh thấy được các ứng dụng của hình học lớp 5 trong
    cuộc sống hàng ngày.
    Toán học không phải là một cái gì đó quá xa lạ, thực tế đều xuất phát từ
    cuộc sống. Khi xác định hình dạng, giáo viên có thể lấy hình ảnh cánh buồm để
    chỉ hình tam giác, cái tủ là hình hộp chữ nhật, khối rubic chính là hình lập
    phương… Bằng cách này, học sinh sẽ dễ dàng nắm bắt về hình học cùng các khái
    niệm phức tạp. Đặc biệt, còn làm cho học sinh thấy ứng thú hơn với môn học vì
    những điều các em học được đều gắn liền với cuộc sống hằng ngày của mình.
    Những yêu cầu hình học không chỉ là những công thức, những quy tắc đo
    đạc, tính toán mà gắn liền với sự phát triển của loài người. Những bài toán đặt ra
    luôn xuất phát từ nhu cầu thực tiễn từ các bài toán cho sản xuất, xây dựng, nghệ
    thuật đến các nghiên cứu khoa học tự nhiên, vũ trụ… Ngoài ra các yếu tố hình
    học môn toán còn được ứng dụng rất nhiều trong cuộc sống:
    Ví dụ: Trong xây dựng, trong nghệ thuật, trong các hoạt động đời sống
    hàng ngày ….
    (Ứng dụng của toán học trong cuộc sống hàng ngày)
    Chính vì vậy, trong quá trình dạy học nội dung hình học lớp 5, giáo viên
    luôn phải nhấn mạnh cho học sinh thấy được ứng dụng của hình học đối với cuộc
    sống cũng như trong các ngành khoa học khác.
    2.2. Khai thác kinh nghiệm sống của học sinh để hình thành kiến thức
    mới.
    Để nhận thức được về một đối tượng, một sự kiện hay một vấn đề nào đó,
    người học phải dựa trên vốn kiến thức, vốn kinh nghiệm đã có từ trước. Nếu học
    sinh không có vốn kiến thức cần thiết (có liên quan đến kiến thức mới), hoặc
    không có những trải nghiệm nhất định thì gặp khó khăn để hình thành kiến thức
    mới. Hơn nữa, trong dạy học môn Toán, kiến thức hình thành trước thường là cơ
    sở để hình thành, phát triển những kiến thức tiếp theo.
    Do đó, trong dạy học, giáo viên cần phải tìm hiểu vốn kinh nghiệm và
    những hiểu biết sẵn có của học sinh trước khi học một kiến thức mới và tổ chức
    cho học sinh trải nghiệm. Sự định hướng và tổ chức các hoạt động của giáo viên
    là quan trọng nhưng vốn kiến thức của học sinh, những trải nghiệm của học sinh
    vẫn là yếu tố quyết định trong việc hình thành kiến thức mới.
    Trong dạy học dựa trên trải nghiệm, giáo viên cần tạo ra các tình huống gợi
    vấn đề để học sinh trải nghiệm bằng cách huy động các kiến thức và kinh nghiệm
    thực tiễn để suy nghĩ, biến đổi đối tượng hoạt động, tìm ra hướng giải quyết vấn
    đề. Hoạt động trải nghiệm sẽ giúp học sinh có hứng thú học tập, thôi thúc học sinh
    khám phá, tìm hiểu kiến thức mới.
    Giáo viên cần hệ thống các bài mới có yếu tố hình học trong chương trình
    sách giáo khoa Toán 5 gồm hai nội dung:
    + Hình thành khái niệm: Hình tam giác, hình thang, hình tròn, giới thiệu
    biể đồ hình quạt, hình hộp chữ nhật, hình lập phương, thể tích của một hình, giới
    thiệu hình trụ, hình cầu.
    + Hình thành quy tắc, công thức: Diện tích hình tam giác, diện tích hình
    thang, chu vi, diện tích hình tròn, diện tích xung quanh và diện tích toàn phần của
    hình hộp chữ nhật và hình lập phương, thể tích hình hộp chữ nhật, thể tích hình
    lập phương.
    Cần hướng đích và gợi động cơ là một trong những khâu quan trọng của
    quá trình dạy học nhằm kích thích hứng thú học tập cho học sinh, làm cho việc
    học tập trở nên tự giác, tích cực, chủ động. Khi gợi động cơ giáo viên có thể đưa
    ra những thực tế gần gũi xung quanh học sinh; thực tế xã hội rộng lớn (kinh tế, kĩ
    thuật, quốc phòng,…); thực tế ở những môn học và khoa học khác.
    Ví dụ 1: Khi dạy bài: Diện tích hình tam giác, giáo viên sẽ khai thác kiến
    thức học sinh đã có trên cơ sở cách tính diện tích hình chữ nhật. Tổ chức cho học
    sinh trải nghiệm và hình thành quy tắc, công thức theo các bước:
    + Bước 1: Học sinh cắt 2 hình tam giác bằng nhau
    + Bước 2: Đặt vấn đề làm thế nào để tạo thành một hình đã học có thể tính
    được diện tích.
    + Bước 3: Học sinh thực hành ghép để tạo thành một hình chữ nhật.
    + Bước 4: Học sinh quan sát đối chiếu để nhận biết chiều cao hình tam giác
    chính là chiều rộng của hình chữ nhật, cạnh đáy là chiều dài, diện tích hình chữ
    nhật bằng tổng diện tích của hai hình tam giác ban đầu.
    + Bước 5: Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào công thức tính diện tích hình
    chữ nhật để hình thành công thức, quy tắc tính diện tích hình tam giác.
    (Học sinh thực hành ghép hình để rút ra quy tắc tính diện tích hình tam giác)
    Ví dụ 2: Dạy bài: Thể tích hình hộp chữ nhật
    Sau khi dạy học sinh hình thành quy tắc, công thức tính thể tích hình hộp
    chữ nhật thì giáo viên có thể tổ chức cho học sinh kiểm chứng lại quy tắc bằng
    một vài trải nghiệm như tính thể tích của chai nước 0,65l, 1,2l, …
    + Bước 1: Chuẩn bị một vài chai nước có ghi dung tích rõ ràng và những
    chiếc hộp trong suốt có dạng hình hộp chữ nhật.
    + Bước 2: Đổ riêng mỗi chai nước vào một hộp.
    + Bước 3: Học sinh đo chiều dài, chiều rộng và chiều cao mực nước rồi áp
    dụng quy tắc tính thể tích nước.
    + Bước 4: So sánh kết quả tìm được với dung tích thật của mỗi chai nước
    (chú ý đơn vị đo 1dm3 = 1l)
    + Bước 5: Học sinh khẳng định được công thức tính thể tích hình hộp chữ nhật
    (Học sinh thực hành kiểm chứng thể tích của hình hộp chữ nhật
    2.3. Khai thác triệt để các bài toán có nội dung thực tế trong từng tiết dạy.
    Trong chương trình sách giáo khoa Toán 5, cũng có rất nhiều bài toán, ví
    dụ thực tiễn. Đây là nguồn tài liệu để giáo viên sử dụng trong quá trình giảng dạy
    gắn nội dung bài học với thực tiễn.
    Hướng đạt được mục đích và gợi động cơ học tập là một trong những khâu
    quan trọng của quá trình dạy học nhằm kích thích hứng thú học tập cho học sinh,
    làm cho việc học tập trở nên tự giác, tích cực, chủ động. Gợi động cơ không phải
    là việc đặt vấn đề một cách hình thức mà phải giúp biến những mục tiêu sư phạm
    thành mục tiêu của cá nhân học sinh nhằm tạo ra động lực bên trong thúc đẩy học
    sinh hoạt động. Kinh nghiệm cho thấy không có động lực nào thúc đẩy mạnh mẽ
    động cơ học tập của học sinh bằng các tình huống thực tế. Rõ ràng cách gợi động
    cơ này dễ hấp dẫn, lôi cuốn học sinh, tạo điều kiện để các em thực hiện tốt các
    hoạt động kiến tạo tri thức trong quá trình học tập về sau. Giáo viên thường thực
    hiện nhiệm vụ đó ở khâu đặt vấn đề vào bài bài mới hoặc khâu chuyển ý từ mục
    trước sang mục sau trong bài học. Khi gợi động cơ giáo viên có thể đưa ra những
    yếu tố hình học thực tế gần gũi xung quanh học sinh, thực tế xã hội, thực tế ở
    những môn học khác.
    Ví dụ 1: Bài toán: Nhân dịp sinh nhật lần thứ 11 của Lan, Mai đã tự tay
    làm tặng Lan một món quà và tự bọc món quà đó vào một chiếc hộp. Hãy tính
    xem Mai đã mất bao nhiêu tiền mua giấy hoa để bọc ngoài chiếc hộp đó, biết rằng
    mỗi mét vuông giấy hoa giá là 2500 đồng.
    Đầu tiên chúng ta phải xác định chiếc hộp đó là hình hộp chữ nhật hay hình
    lập phương?
    Câu hỏi đặt ra ở đây là muốn tính xem Lan mất bao nhiêu tiền để mua giấy
    hoa bọc chiếc hộp đó thì ta phải tính được diện tích của cả chiếc hộp đó là bao
    nhiêu mét vuông. Sau đó lấy tổng diện tích các mặt của chiếc hộp nhân với giá
    tiền của một mét vuông giấy hoa. Mà tổng diện tích các mặt của chiếc hộp chính
    là diện tích 4 mặt xung quanh và diện tích của 2 mặt đáy. Giáo viên sẽ nêu tên bài
    học: “Diện tích xung quanh và diện tích toàn phần của hình hộp chữ nhật”. Sau
    khi học xong quy tắc, giáo viên có thể quay lại bài toán ban đầu. Học sinh sẽ thấy
    thú vị khi áp dụng được kiến thức đang học vào vấn đề thực tế mà các em có thể
    quan sát hàng ngày và đây cũng là dịp giáo viên có thể củng cố kiến thức cho học
    sinh.
    Khâu củng cố giúp học sinh nắm vững được hệ thống kiến thức theo mục
    tiêu dạy học. Không những thế đây còn là bước quan trọng để giáo viên cũng như
    học sinh kiểm tra và đánh giá kết quả dạy-học của mình. Trong khâu này, giáo
    viên có thể đưa ra các bài toán thực tế liên quan đến kiến thức toán học vừa xây
    dựng để học sinh nhớ lâu và hiểu sâu kiến thức. Cũng qua đó mà học sinh thấy
    được toán học thật gần gũi với cuộc sống, giúp các em hứng thú hơn trong học
    tập, ghi nhớ kiến thức một cách có chủ đích.
    Ví dụ 2: Khi dạy bài “Diện tích xung quanh và diện tích toàn phần của hình
    hộp chữ nhật”
    Giáo viên chía lớp thành các nhóm, mỗi nhóm đo một đồ vật có dạng hình
    hộp chữ nhật khác nhau để thực hành “Tính diện tích xung quanh và diện tích toàn
    phần của một số vật có dạng hình hộp chữ nhật?”.
    – Các em quan sát hình và xác định đồ vật có dạng hình gì?
    – Sau đó dựa vào số đo của từng hình và tính diện tích xung quanh, diện
    tích toàn phần?
    (Học sinh thực hành tính diện tích xung quanh và diện tích toàn phần)
    Ví dụ 3: Củng cố sau khi học xong bài “Chu vi hình tròn” và “Diện tích
    hình tròn”. Giáo viên cho học sinh các nhóm ra ngoài sân trường hay thư viện để
    thực hành đo và tính chu vi, diện tích của một số bồn cây, đồ vật có dạng hình
    tròn.
    (Học sinh thực hiện theo nhóm đo và tính chu vi, diện tích hình tròn trong thư viện)
    ( Học sinh thực hành đo và tính chu vi, diện tích vồng cây tại sân trường)
    Từ các ví dụ học sinh có thể tự xác định, đo và tính được chu vi, diện tích
    một số hình trong thực tế có hình dạng khác nhau. Trong quá trình học sinh làm
    việc nhóm thực hành giáo viên cần lưu ý học sinh: Cần giao nhiệm vụ cụ thể cho
    các thành viên, hướng dẫn cách quan sát, ghi chép, đo đạc và tính toán. Tổng hợp
    kết quả và báo cáo.
    2.4. Tăng cường tổ chức hoạt động thực hành, ngoại khóa.
    Đối tượng học sinh lớp 5 còn nhỏ tuổi, giáo viên cần và có thể tổ chức cho
    các em thực hiện các hoạt động thâm nhập vào cuộc sống, ưu tiên hơn tới việc lựa
    chọn một số nội dung liên quan đến nội dung hiện hành. Tuy nhiên, theo phân bố
    chương trình trong sách giáo khoa, phần hình học lớp 5 không có các tiết thực
    hành riêng. Vì vậy, giáo viên có thể đưa ra các bài toán thực hành khác được lồng
    ghép vào trong tiết học (đối với bài toán thực hành đơn giản) hay phân nhóm, giao
    nhiệm vụ về nhà.
    Ví dụ 1: Sau khi học xong bài “Hình hộp chữ nhật. Hình lập phương.”, giáo
    viên có thể giao cho học sinh về nhà làm một chiếc hộp để làm quà tặng bạn bè,
    đựng đồ dùng cá nhân ở nhà hay làm hộp đựng đồ dùng ở góc học tập của lớp,…
    Học sinh vận dụng các kiến thức đã học vào thực hành, biết được ứng dụng
    của toán học trong thực tế đồng thời qua đó rèn luyện các năng lực như năng lực
    tính toán, năng lực sử dụng các công cụ đo, vẽ, tính, năng lực hợp tác…, rèn luyện
    kỹ năng đo đạc trong thực tế cho học sinh. Do vậy, giáo viên cần quan tâm đến
    các tiết thực hành, có sự chuẩn bị chu đáo và có phương pháp tổ chức lớp học để
    tất cả các học sinh tham gia tích cực. Từ đó học sinh thấy được ý nghĩa thật sự
    của toán học với thực tế.
    Cùng với hoạt động thực hành, để nâng cao chất lượng học tập giáo viên
    cần quan tâm tổ chức các hoạt động ngoại khóa. Hoạt động ngoại khóa nhằm hỗ
    trợ nhiều mặt cho dạy học nội khóa, theo các mục đích khác nhau được đặt ra như:
    – Gây hứng thú cho quá trình học tập môn Toán.
    – Bổ sung, đào sâu và mở rộng kiến thức nội khóa.
    – Tạo điều kiện gắn liền nhà trường với đời sống, lí luận liên hệ với thực
    tiễn, học đi đôi với hành.
    – Rèn cách thức làm việc tập thể.
    – Tạo điều kiện phát triển và bồi dưỡng năng khiếu.
    Nội dung các buổi ngoại khóa thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau
    như nói chuyện (về lịch sử toán, các phát minh toán học, ứng dụng toán học);
    tham quan… (tính diện tích các hình phức tạp, tìm hiểu một số bài toán đang đặt
    ra trong kinh tế, trong các nhà máy, công trường, xí nghiệp); tổ chức các cuộc thi
    “Toán học vui”, thi sáng tác thơ về toán học, …
    Một trong những đặc điểm nổi bật của hoạt động ngoại khóa dễ tạo hứng
    thú cho học sinh là không quá gò bó về thời gian, cũng như chuẩn nội dung, kiến
    thức nên ta có thể đưa vào các câu hỏi với hình thức đa dạng (câu hỏi tự luận, câu
    hỏi trắc nghiệm, câu hỏi mở …) giúp tạo hứng thú, phát triển tư duy, nâng cao hiểu
    biết cho học sinh. Qua các buổi ngoại khóa, học sinh thấy môn Toán thú vị hơn,
    gần gũi hơn và toán học luôn gắn liền với cuộc sống hằng ngày.
    (Hình ảnh giao lưu CLB Toán tuổi thơ)
    Ví dụ 2: CUỘC THI ĐẦU BẾP GIỎI
    Trong cuộc thi bầu bếp giỏi, giáo viên cho học sinh làm sữa chua.
    – Mục đích: Giúp học sinh áp dụng kiến thức đã học về số tự nhiên và thể
    tích vào cuộc sống, rèn luyện tinh thần đồng đội,…
    – Chuẩn bị: Nước, sữa tươi không đường, đường, sữa đặc, bình nhựa, khay
    hình, hộp nhựa trong suốt dạng hình hộp chữ nhật làm đơn vị để đo, chai nhựa,
    cốc đựng sữa chua (thành phẩm),…
    – Cách thực hiện:
    + Giáo viên yêu cầu học sinh đo kích thước và tính thể tích của cái hộp
    nhựa đơn vị.
    + Giáo viên giới thiệu cách làm và hướng dẫn học sinh cách làm sữa chua
    bằng các dụng cụ và nguyên liệu đã chuẩn bị.
    + Sau đó, giáo viên yêu cầu học sinh tính xem có tất cả bao nhiêu lít sữa
    chua thành phẩm bằng cách dùng lọ sữa chua đựng để đo đơn vị.
    + Yêu cầu học sinh đổ sữa chua vào các lọ.
    + Có thể tính toán xem nên bán giá bao nhiêu tiền để có lãi.
    (Học sinh thực hành làm đầu bếp giỏi)
    Ví dụ 3: TẬP LÀM HỌA SĨ TÍ HON
    Tập trang trí biển báo giao thông bằng giấy màu. Trong hoạt động này, giáo
    viên liên hệ thực tiễn vào các môn học khác trong nhà trường.
    – Mục đích: Giúp học sinh áp dụng kiến thức đã học về hình học vào cuộc
    sống, rèn luyện tinh thần đồng đội,…
    – Chuẩn bị: Bìa cứng, thước, giấy màu, bút màu, kéo, keo dán ….
    – Cách thực hiện:
    + Giáo viên yêu cầu Học sinh đo kích thước bìa cứng và cắt 1 số hình đã
    học như hình tam giác, hình tròn, hình chữ nhật,…
    + Giáo viên giới thiệu cách làm và hướng dẫn học sinh cách làm bằng các
    dụng cụ và nguyên liệu đã chuẩn bị.
    + Sau đó, giáo viên yêu cầu học sinh nêu tên và ý nghĩa của biển báo đó và
    tổ chức cho học sinh tuyên truyền đến mọi người.
    ( Học sinh tuyên truyền về cổng trường an toàn giao thông )
    Ví dụ 4: TRANG TRÍ NGÔI NHÀ
    Học sinh làm sản phẩm STEM về ngôi nhà ước mơ
    – Mục đích: Giúp học sinh áp dụng kiến thức đã học về hình học vào cuộc
    sống, kích thích trí tưởng tượng và niềm đam mê sáng tạo ở học sinh.
    – Chuẩn bị: Các tấm bảng bìa cứng, thước, các tấm bìa, các khối hình chữ
    nhật, hình vuông, keo nến, giấy màu, một số ống nhựa….
    – Cách thực hiện: Học sinh thảo luận và phân công nhiệm vụ cho từng thành
    viên để thực hành (Học sinh kết hợp kiến thức Mĩ Thuật) để hoàn thành sản phẩm.
    – Các nhóm viết báo cáo thuyết trình cho ngôi nhà của nhóm.
    ( Thành phẩm về STEM ngôi nhà mơ ước của học sinh )
    3.1.5. Thường xuyên giao một số dự án cho nhóm học sinh thực hiện.
    Các “dự án” học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực
    tiễn đời sống, xã hội. Trong quá trình thực hiện “dự án” đòi hỏi sự kết hợp giữa
    kiến thức lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành.
    Thông qua đó kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện
    kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của học sinh.
    Các “dự án” học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng
    tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm nên không
    chỉ phát triển các kỹ năng tư duy khoa học, mà còn hướng tới phát triển kỹ năng
    sống cho học sinh, giúp người học phát triển toàn diện như kỹ năng hợp tác, kỹ
    năng thu thập xử lý thông tin, kỹ năng trình bày, bảo vệ ý kiến của cá nhân trước
    tập thể…
    Thông qua các “dự án” nhỏ của giáo viên và học sinh nhằm thu hút các lực
    lượng xã hội tham gia vào giáo dục như cha mẹ học sinh, các đoàn thể…
    Cách thức thực hiện cụ thể như sau:
    – Bước 1: Chọn đề tài, chia nhóm
    – Bước 2: Chuẩn bị: Giaó viên lên kế hoạch (tên dự án, mục đích, chuẩn bị
    bộ câu hỏi định hướng, tổ chức thực hiện, đánh giá kết quả,…)
    – Bước 3: Xây dựng đề cương dự án: Giaó viên hướng dẫn học sinh xác
    định mục đích, nhiệm vụ, cách tiến hành, thời gian, kinh phí,…
    – Bước 4: Thực hiện dự án
    + Các nhóm phân công nhiệm vụ cho các thành viên làm việc
    + Hs thu thập, xử lí thông tin thu được
    + Thực hiện xây dựng sản phẩm
    + Thường xuyên phản hồi, thông báo với giáo viên tiến độ
    – Bước 4: Thu thập kết quả: Học sinh giới thiệu sản phẩm
    – Bước 5: Đánh giá dự án, rút kinh nghiệm
    + Các nhóm tự đánh giá sản phẩm của mình và nhóm bạn, giáo viên đánh
    giá
    Ví dụ: Giáo viên có thể đưa ra một số dự án như sau:
    DỰ ÁN: “CHÚNG EM LÀ KĨ SƯ XÂY DỰNG”
    Để xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2, cô muốn lớp mình thực
    hiện một dự án: Hãy tính và dán xốp trang trí thư viện nhà trường. (Có sự kết hợp
    của cha mẹ học sinh)
    Nhiệm vụ của mỗi tổ:
    – Bước 1: Đo độ dài của lớp học (chiều dài, chiều rộng, chiều cao….)
    – Bước 2: Tính diện tích của lớp học (trừ diện tích của cách cửa sổ), diện
    tích của miếng xốp.
    – Bước 3: Tính xem cần bao nhiêu miếng xốp để dán các bức tườn

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số biện pháp tổ chức tiết sinh hoạt lớp nhằm tạo hứng thú cho học sinh lớp 5 theo mô hình trường tiểu học mới Việt Nam

    SKKN Một số biện pháp tổ chức tiết sinh hoạt lớp nhằm tạo hứng thú cho học sinh lớp 5 theo mô hình trường tiểu học mới Việt Nam

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Đặt vấn đề
    Trong cuộc sống hiện đại với ngành công nghiệp 4.0, việc đánh giá ưu
    nhược của quá trình, của kết quả thực hiện, từ đó xây dựng kế hoạch cần phải
    thực hiện trong thời gian tiếp theo là một việc làm vô cùng quan trọng. Việc
    nhìn nhận lại mình, nhìn nhận lại công việc mình đã làm, những việc tiếp tục
    phải làm giúp hình thành nhân cách, hình thành năng lực của tất cả mọi người
    trong mọi thời đại, đặc biệt là đối với những con người của thời đại mới, thời đại
    của những công dân toàn cầu. Để đạt được những điều trên, mỗi chúng ta đều
    phải được rèn luyện từ nhỏ, ngay từ khi biết nhận thức. Mà giáo dục Tiểu học là
    cấp học nhỏ nhất đầu tiên của quá trình nhận thức trong hệ thống giáo dục quốc
    dân, là cấp học nền móng, cấp học khởi đầu, cấp học vô cùng quan trọng trong
    việc hình thành và phát triển cách tư duy, cách lập kế hoạch, cách nhìn nhận và
    nhìn nhận lại vấn đề cho mỗi người. Do đó, việc trang bị kĩ năng đánh giá, nhận
    xét, rút kinh nghiệm, lập kế hoạch cho quá trình là một việc làm liên tục, thường
    xuyên, xuyên suốt từ tuần này sang tuần khác, từ học kì này sang học kì khác, từ
    lớp học này sang lớp học khác, từ cấp học này sang cấp học khác, giai đoạn này
    sang giai đoạn khác… Khi việc đánh giá, nhận xét, rút kinh nghiệm đã trở thành
    một kĩ năng như một thói quen, nó sẽ theo chúng ta, mang thành công đến cho
    chúng ta suốt cả cuộc đời. Mục tiêu của tiết sinh hoạt lớp là rèn luyện cho HS
    những kĩ năng nói trên do đó tiết sinh hoạt lớp là một tiết học vô cùng cần thiết.
    Nó giúp HS phát huy những ưu điểm, khắc phục nhược điểm của bản thân, giúp
    các em hoàn thiện nhân cách và phát huy hiệu quả hoạt động học tập và rèn
    luyện. Không những thế, thực hiện tốt, có hiệu quả tiết sinh hoạt lớp sẽ tác động
    tích cực đến các tiết học, các hoạt động giáo dục khác. Thế nhưng, làm thế nào
    để HS phấn khởi, hào hứng chia sẻ việc học tập và rèn luyện của mình sau một
    tuần học? Xuất phát từ những lí do trên, cộng với kinh nghiệm đứng lớp, tôi đã
    nghiên cứu và tìm tòi những phương pháp, hình thức, cách thức tổ chức các hoạt
    động của tiết sinh hoạt, sao cho tiết sinh hoạt diễn ra nhẹ nhàng, trôi chảy, HS
    vui vẻ hào hứng tiếp nhận, phát huy, sửa chữa và lập kế hoạch hoạt động nhằm
    3
    rèn luyện bản thân trong thời gian tiếp. Và tôi thấy những biện pháp tôi đã sử
    dụng thật sự có hiệu quả cao mà lại dễ tổ chức, dễ thực hiện. Vì vậy tôi đã chọn
    và nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp tổ chức tiết sinh hoạt
    lớp nhằm gây hứng thú cho học sinh lớp 5 theo mô hình Trường Tiểu học
    mới Việt Nam”.
    2. Đối tượng nghiên cứu
    Sáng kiến kinh nghiệm này được thực hiện cho học sinh lớp 5A – Trường
    Tiểu học Thị trấn Rạng Đông. Sau đó nhân rộng thực hiện trên học sinh toàn
    trường và các trường TH Nam Điền,TH Nghĩa Lợi, TH Phúc Thắng, TH Nghĩa
    Hải, TH Nghĩa Hùng (Nghĩa Hưng), TH Thịnh Long, TH Hải Xuân , TH Hải
    Cường, TH Hải Triều, TH Hải Châu (Hải Hậu).
    3. Phạm vi nghiên cứu
    Trong khuôn khổ sáng kiến kinh nghiệm này tôi tập trung nghiên cứu “Một
    số biện pháp tổ chức tiết sinh hoạt lớp nhằm gây hứng thú cho học sinh lớp 5
    theo mô hình Trường Tiểu học mới Việt Nam” tại Trường Tiểu học Thị trấn
    Rạng Đông cùng 5 trường khác thuộc huyện Nghĩa Hưng, 5 trường thuộc huyện
    Hải Hậu (như trên).
    4. Phương pháp nghiên cứu
    – Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
    – Phương pháp tìm hiểu thực tế.
    – Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê.
    – Phương pháp thực nghiệm.
    4
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1.Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    1.1. Cơ sở lý luận
    Xuất phát từ thực tiễn, đất nước Việt Nam của chúng ta đang trên con
    đường đổi mới và hội nhập, cần có những con người năng động, sáng tạo, toàn
    diện, phát huy hết tiềm năng, năng lực cá nhân, biết triển khai kế hoạch, biết lập
    kế hoạch cho bản thân, cho một tập hợp hay một tập thể người, biết phê và đặc
    biệt là biết tự phê. Vì vậy cùng với việc đổi mới nội dung chương trình giáo dục
    phổ thông thì việc đổi mới phương pháp dạy học đặc biệt là tổ chức tiết sinh
    hoạt lớp vào cuối mỗi tuần là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết. Tiết
    sinh hoạt lớp thành công sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục,
    đồng thời góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu giáo dục mà Đảng và Nhà nước,
    ngành giáo dục và đào tạo đề ra.
    Trong tiết sinh hoạt lớp, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn HS hoạt
    động. Các học sinh đều được tham gia rút kinh nghiệm, lập kế hoạch thực hiện
    cho bản thân, cho mọi người và cho tập thể. Giáo viên tổ chức hướng dẫn HS tự
    giác đánh giá ưu nhược của mình, của bạn, của nhóm, của tập thể dưới các hình
    thức khác nhau thông qua những hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân. Từ đó,
    học sinh nắm được những việc nên làm, những việc không nên làm, những việc
    đã làm, những việc sẽ làm, tạo cho học sinh thói quen tự giác, chủ động, không
    dập khuôn máy móc kiểu bắt chước, biết tự đánh giá mình, đánh giá bạn, đánh
    giá sự tương tác giữa mọi người trong nhóm, trong lớp, biết phê và tự phê sao
    cho ai cũng vui vẻ, nhẹ nhàng đón nhận những nhận xét, góp ý và mong muốn
    được sửa chữa, được tốt lên. Đặc biệt, sau những việc làm này, HS nỗ lực vươn
    lên, các em có niềm tin, niềm vui trong hoạt động học tập và hoạt động giáo dục.
    Đồng thời tạo điều kiện để học sinh phát huy năng lực, sở trường của mình, biết
    nhìn nhận mình trong các hoạt đông học tập, rèn luyện và trong cuộc sống. Tiết
    sinh hoạt lớp còn có nhiệm vụ chuyển các công việc nhà trường giao tới lớp một
    cách kịp thời. Nó giúp HS phát huy được tính tự giác, tinh thần giúp đỡ, hợp tác
    cùng nhau, phát huy năng lực điều hành, năng lực tự quản của các em. Nó còn
    5
    giúp các em được bộc lộ khả năng nhận thức về hành vi, thái độ, tình cảm của
    mình khi tự đánh giá mình và đánh giá các bạn, khả năng nhìn nhận lại bản thân,
    so sánh sự tiến bộ để từ đó có ý thức phấn đấu vươn lên, bồi dưỡng cho HS sự sẻ
    chia, thông cảm với bạn bè, mọi người xung quanh, sẵn sàng chia sẻ và gánh vác
    công việc chung của nhóm, của lớp, của trường,… hình thành nhân cách đúng
    đắn bây giờ và sau này của các em. Ngoài ra, tiết sinh hoạt lớp là nơi để thầy trò
    hiểu nhau hơn, đặc biệt là thầy cô hiểu học trò, từ đó thầy lựa chọn ra phương
    pháp giảng dạy và giáo dục đúng hướng cho từng đối tượng HS trong lớp.
    Tóm lại: Tiết sinh hoạt lớp vô cùng quan trọng trong việc giáo dục học
    sinh. Tiết sinh hoạt lớp hiệu quả nó sẽ giúp các tiết học của các môn học khác và
    các hoạt động giáo dục cũng hiệu quả, hình thành phẩm chất, nhân cách tốt ở
    HS.
    1.2. Thực trạng
    Trong một số năm gần đây do nhu cầu của xã hội, do việc nhận thức về
    giáo dục của toàn dân và nhu cầu học hỏi của HS được nâng lên đòi hỏi GV
    càng ngày càng nhận thức được vai trò của phương pháp, của hình thức dạy học,
    vai trò của việc rèn luyện HS trở thành những con người toàn diện trong việc
    nâng cao chất lượng dạy học, chất lượng giáo dục nên ngành đã liên tục phát
    động phong trào đổi mới phương pháp dạy học.
    Hơn nữa, theo Chương trình Giáo dục phổ thông mới 2018, tiết Sinh hoạt
    lớp đổi mới theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Trong tiết sinh hoạt,
    học sinh tiến hành hoạt động giáo dục, tự giáo dục và xây dựng tập thể lớp dưới
    sự cố vấn, hướng dẫn và chỉ đạo của giáo viên chủ nhiệm. Thông qua đó nhằm
    khơi dậy ở học sinh tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tinh thần hợp tác, trách
    nhiệm đối với bản thân, đối với tập thể và cộng đồng; hình thành, củng cố và
    phát triển ở học sinh kỹ năng hoạt động độc lập, tự chủ, kỹ năng giao tiếp, ứng
    xử trong các mối quan hệ tập thể lớp và ngoài xã hội; xây dựng lớp thành một
    tập thể tự quản, có nền nếp, đoàn kết, gắn bó sống có trách nhiệm cùng nhau,
    phát huy được vai trò nòng cốt, tính tiên phong của tổ chức Đội trong các hoạt
    động tập thể. Nội dung và hình thức thực hiện linh hoạt, phù hợp với chủ đề, chủ
    6
    điểm do nhà trường và giáo viên lựa chọn nhưng đảm bảo được các yêu cầu:
    Tiết sinh hoạt lớp thực hiện bám sát theo nội dung chủ đề, chủ điểm trong kế
    hoạch giáo dục năm học của nhà trường, đồng thời tích hợp giải quyết các yêu
    cầu do chính đời sống học tập và rèn luyện của học sinh đặt ra; đảm bảo phong
    phú về nội dung, đa dạng về hình thức và phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học.
    Các nội dung bao gồm về giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng
    sống, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục an toàn
    giao thông, giáo dục môi trường, giáo dục phòng chống ma túy, HIV/AIDS và tệ
    nạn xã hội,… Thông qua nhiều hình thức tổ chức như trò chơi dân gian, văn
    nghệ, đố vui để học, thể dục thể thao, hùng biện, trang trí lớp học, làm báo
    tường, tổ chức sinh nhật, tổ chức ngày hội (trung thu, hóa trang, trao đổi đồ
    dùng, đồ chơi, sách truyện,…), hoạt động khéo tay hay làm, hoạt động giao lưu.
    Học sinh thảo luận nhóm về tình huống mở của tiểu phẩm trong tiết sinh hoạt
    dưới cờ của tuần tiếp theo. Khi tổ chức tiết sinh hoạt lớp đảm bảo nguyên tắc
    học sinh tự quản toàn diện, tiết sinh hoạt lớp là của học sinh, do học sinh thực
    hiện vì những lợi ích của mỗi học sinh và của cả tập thể lớp. Giáo viên chủ
    nhiệm cần linh hoạt vai trò chủ đạo của mình trong suốt quá trình hướng dẫn học
    sinh chuẩn bị, triển khai, đánh giá kết quả,… bằng cách gợi mở, khơi dậy tiềm
    năng, tiềm lực, kết nối giữa các học sinh, động viên và khuyến khích học sinh
    thực hiện một cách tự tin và chủ động. Giáo viên chủ nhiệm thực hiện tốt một số
    nhiệm vụ chủ yếu: đó là xây dựng nội dung tiết sinh hoạt lớp bảo đảm tính thống
    nhất về chủ điểm của lớp với của khối, của trường theo nội dung kế hoạch giáo
    dục của nhà trường, đồng thời khơi dậy tính sáng tạo, chủ động của tập thể lớp
    chủ nhiệm. Giáo viên căn cứ vào các chủ đề, chủ điểm hoạt động trong tuần,
    tháng và năm học của nhà trường để xây dựng kế hoạch tiết sinh hoạt lớp. Khi
    tổ chức tiết sinh hạt lớp, giáo viên cần tổ chức các hoạt động hướng đến hình
    thành và phát triển phẩm chất, năng lực học sinh, tránh việc tập trung đánh giá
    hạn chế, yếu kém và phê bình. Ngoài ra, căn cứ vào quy mô và nội dung từng
    hoạt động, giáo viên chủ nhiệm phối hợp, liên kết với nhiều lực lượng giáo dục
    trong và ngoài nhà trường tham gia hoạt động sinh hoạt lớp. Từ đó, tiết sinh hoạt
    7
    lớp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện học sinh, học sinh học tập
    một cách chủ động, hiệu quả.
    Tuy nhiên cũng như việc dạy các môn học và tổ chức các hoạt động giáo
    dục nói chung thì khi tổ chức các tiết sinh hoạt lớp ở Trường Tiểu học Thị trấn
    Rạng Đông cùng 5 trường Tiểu học của huyện Nghĩa Hưng và 5 trường Tiểu
    học của huyện Hải Hậu vẫn còn một số thực trạng thực tế như sau:
    * Thuận lợi:
    + Các Phòng giáo dục và Ban giám hiệu các nhà trường quan tâm đến
    việc dạy và học, cha mẹ HS đồng thuận và vào cuộc.
    + Đội ngũ cán bộ quản lí của trường Tiểu học Rạng Đông, TH Nam Điền,
    TH Nghĩa Lợi, TH Phúc Thắng, TH Nghĩa Hải, TH Nghĩa Hùng (Nghĩa Hưng),
    TH Thịnh Long, TH Hải Xuân , TH Hải Cường, TH Hải Triều, TH Hải Châu
    (Hải Hậu) có năng lực chuyên môn tốt, luôn quan tâm chỉ đạo sát sao các hoạt
    động dạy học và giáo dục qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, dự giờ góp ý, xây
    dựng các nội dung, cách tổ chức tiết sinh hoạt lớp học theo sát chương trình giáo
    dục phổ thông mới. Chất lượng dạy và học của các trường đều cao. Các nhà
    trường luôn tổ chức tốt các phong trào thi đua và các hoạt động giáo dục.
    + Đội ngũ giáo viên nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, vận dụng linh hoạt các
    phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin
    tốt, tìm tòi các hình thức, các phương pháp tổ chức các hoạt động sinh hoạt sao
    cho hiệu quả. Dựa vào thời lượng, dựa vào chủ đề từng tuần, từng tháng, từng
    kỳ, GV có thể lựa chon nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức phù hợp đối
    tượng học sinh.
    + Học sinh có cơ hội chia sẻ những trải nghiệm, những kinh nghiệm, cách
    thực hiện với bạn và vận dụng những kĩ năng đó vào cuộc sống hàng ngày.
    + Học sinh được làm việc cá nhân, làm việc theo nhóm, làm việc cả lớp,
    được thảo luận, trao đổi và tự đánh giá cũng như đánh giá lẫn nhau, tự lập kế
    hoạch hay hợp tác, bàn bạc để lập kế hoạch.
    8
    + Các ban ngành, đoàn thể trong nhà trường, ngoài địa phương cũng quan
    tâm, động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện, đồng hành cùng giáo viên trong việc giáo
    dục học sinh.
    *Khó khăn:
    – Đối với giáo viên:
    + Giáo viên đôi khi chưa mạnh dạn trong việc lựa chọn nội dung và cách
    thức tổ chức, chưa làm chủ thời gian trong việc hỗ trợ từng cá nhân, từng nhóm.
    – Đối với học sinh:
    + Một số học sinh còn ỷ lại, quen chờ giáo viên hướng dẫn từng thao tác,
    từng nhiệm vụ học tập. Các em chưa đủ mạnh dạn để phê và tự phê, chưa thảo
    luận hợp tác hay tìm kiếm sự giúp đỡ để lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch
    cũng như trải nghiệm.
    + Một số em nhóm trưởng còn lúng túng khi đề nghị các bạn thực hiện
    các nhiệm vụ của nhóm.
    – Đối với phụ huynh:
    + Một số phụ huynh chưa thực sự vào cuộc, chưa quan tâm và chưa có hiểu
    biết nhiều về chương trình giáo dục phổ thông mới. Chính vì vậy phụ huynh
    chưa kích thích được việc đánh giá, nhìn nhận, chia sẻ công việc của con em.
    Với những thực trạng này bản thân tôi nhận thấy cần phải nghiên cứu để
    tổ chức các hoạt động trong giờ sinh hoạt lớp cho học sinh sao cho phù hợp và
    hiệu quả.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1 Mục tiêu của giải pháp
    Với mục tiêu lấy HS làm trung tâm, HS có kĩ năng làm việc cá nhân, biết
    nêu ý kiến, suy nghĩ cá nhân, biết hợp tác với các bạn trong nhóm, trong lớp,
    tiếp thu, tổng hợp ý kiến của các bạn, biết phân biệt biểu hiện, hành vi, việc làm
    đúng, sai, phương hướng khắc phục, phấn đấu, biết lập kế hoạch ngắn hạn, trung
    hạn và dài hạn cho công việc học tập và rèn luyện của mình dưới sự hướng dẫn
    và trợ giúp của thầy cô giáo. Từ những kĩ năng được hình thành trong tiết sinh
    hoạt ở lớp, HS vận dụng vào cuộc sống hàng ngày, tạo thành những đức tính,
    9
    thói quen tốt khi làm việc. Đó là đức tính trung thực, kỷ luật, độc lập, tự chủ, ý
    thức. Đó là thói quen biết tuân thủ quy tắc, thói quen cân nhắc lựa chọn những
    việc làm có ích phù hợp, tránh những việc làm cho hậu quả không tốt, thói quen
    làm việc theo kế hoạch, thói quen góp ý, rút kinh nghiệm cho chính bản thân
    mình, cho người thân, cho bạn bè và những người xung quanh. Cũng từ đó, hình
    thành lối sống tự giác, tích cực, chủ động, khoa học, lành mạnh, văn minh, năng
    lực trí tuệ, nhân cách của học sinh phát triển.
    2.2 Nội dung tiết sinh hoạt lớp và các cách thức thực hiện giải pháp
    2.2.1 Hoạt động 1: Khởi động
    Như tất cả các tiết học khác, để bắt đầu tiết học, trưởng ban văn nghệ
    (hoặc chủ tịch, phó chủ tịch hay trưởng ban học tập,…) tổ chức cho các bạn chơi
    trò chơi, hát, múa tùy theo nội dung từng chủ đề của tháng, của tuần. Có 2 dạng
    trò chơi tôi thường tổ chức cho HS chơi. Đó là:
    + Dạng 1: Trò chơi vận động.
    Trò chơi vận động là hình thức vui chơi, nghỉ ngơi tích cực, là phương
    tiện để giáo dục học sinh một cách toàn diện, thu hút nhiều học sinh tham gia.
    Sau một tuần học căng thẳng, trò chơi vận động khởi động của tiết sinh hoạt lớp
    sẽ mang lại tiếng cười vui vẻ, tâm trạng phấn khởi, tâm thế thoải mái để các em
    có thể hào hứng chia sẻ những việc đã làm trong tuần qua, đặc biệt là việc tự
    đánh giá những biểu hiện, hành vi, việc làm chưa tốt của chính bản thân mình và
    tự nêu ra được các việc làm tiếp theo để khắc phục các nhược điểm đó. Những
    trò chơi tôi thường tổ chức cho các em chơi: ví dụ như trò Chuyền hoa, Bắn tên,
    Thò thụt, Mẹ đi chợ, Chim bay cò bay, Alibaba, Tôi là vua, Con thỏ, Tôi
    cần,…..
    Dạng 2: Trò chơi củng cố kiến thức
    Tuy tiết sinh hoạt lớp là một tiết học mang tính giáo dục và là hoạt động
    trải nghiệm của học sinh nhưng ở tiết học này, giáo viên vẫn có thể tổ chức một
    số trò chơi đơn giản, vui nhộn giúp học sinh tái hiện, ghi nhớ hay phát hiện
    nhanh các kiến thức đã học. Trò chơi dạng này diễn ra nhẹ nhàng, vui nhộn, học
    10
    sinh hào hứng tham gia. Đặc biệt trò chơi không những giúp không khí tiết sinh
    hoạt lớp vui vẻ mà nó còn bổ trợ cho các tiết học khác.
    Ví dụ 1: Trò chơi Du lịch vòng quanh thế giới.
    + Hình thức chơi: Rung chuông vàng
    + Luật chơi: Giáo viên sẽ lần lượt đưa ra một số câu hỏi. Học sinh trả lời
    vào bảng trong một thời gian nhất định. Học sinh trả lời đúng thì được ở lại sàn
    thi đấu để trả lời câu tiếp theo, ngược lại học sinh không trả lời được phải rời
    khỏi sàn thi đấu. Thí sinh cuối cùng sẽ được vinh danh là người xuất sắc nhất.
    + Câu hỏi:
    1. Thế giới có mấy châu lục?
    2. Thế giới có mấy đại dương?
    3. Biển Đông thuộc đại dương nào?
    4. Việt Nam thuộc châu lục nào?
    5. Việt Nam thuộc khu vực nào của châu Á?
    6. Đại dương nào có độ sâu lớn nhất?
    7. Châu lục nào có diện tích lớn nhất?
    8. Quốc gia nào có số dân đông nhất?
    9. Châu lục nào có đủ 4 đới khí hậu?
    10. Quốc gia nào nằm ở 2 châu lục?
    Ví dụ 2: Em yêu toán học
    + Hình thức chơi: HS trả lời câu hỏi cá nhân, thi xem ai nhanh nhất.
    + Luật chơi: Giáo viên sẽ lần lượt đưa ra một số câu hỏi, bài toán, phép
    tính dạng tính nhanh. Học sinh tính toán nhanh. Khi đã có đáp án, học sinh phát
    nhanh tín hiệu giành quyền trả lời. Nếu HS trả lời sai sẽ nhường quyền trả lời
    cho HS khác. Kết thúc trò chơi, HS nào trả lời được nhiều câu hỏi nhất sẽ được
    tuyên dương.
    + Câu hỏi:
    1. 10% của 1000 là bao nhiêu?
    11
    2. Mẹ đổi tờ tiền có mệnh giá 100 000 đồng thành các tờ tiền có mệnh giá
    50 000 đồng, 20 000 đồng, 10 000 đồng. Hỏi mẹ đổi nhiều nhất được bao nhiêu
    tờ tiền?
    3. 2,5 x 7,8 x 4 =?
    4. Số thập phân thích hợp điền vào chỗ chấm sao cho: 0,01 < …. < 0,02?
    5. Phân số biểu thị 0,8%?
    6. Tìm x: 8,75 x x + 1,25 x x = 20
    7. 25% số học sinh khối 5 của trường em là 25 em. Số học sinh khối 5 của
    trường em là bao nhiêu?
    8. Xe ô tô xuất phát lúc 23 giờ, đến 2 giờ 15 phút sáng tới nơi. Xe ô tô đi
    trong thời gian bao lâu?
    9. Mỗi chuyến đò chở được 6 người (kể cả người lái đò). Có 24 người
    muốn sang sông thì cần ít nhất bao nhiêu chuyến?
    10. Cứ mỗi ngày lượng bèo trong một cái ao lại nở tăng lên gấp đôi. Sau
    15 ngày, số bèo ban đầu đã nở kín một nửa cái ao đó. Hỏi sau bao nhiêu ngày số
    bèo ban đầu sẽ nở kín mặt ao?
    Ngoài ra, giáo viên có thể thiết kế các trò chơi ôn lại kiến thức và phát triển trí
    thông minh của học sinh như trò chơi Ô chữ bí mật, Chiếc nón kì diệu, Chiếc
    hộp kì diệu, ….. với các hình thức chơi theo nhóm, theo tổ, hay cá nhân. Các trò
    chơi này không nặng về kiến thức, đảm bảo học sinh chơi hào hứng, tạo khí thế
    cho sự hoạt động nhận xét, sẻ chia, rút kinh nghiệm hay cho hoạt động lập kế
    hoạch trong tiết sinh hoạt lớp.
    2.2.2 Hoạt động 2: Đánh giá hoạt động tuần qua (hoặc tháng hay học kì,…)
    a. Theo trình tự thông thường, để đánh giá hoạt động của lớp sau một tuần,
    hoạt động đánh giá sau một tuần học thường diễn ra theo trình tự sau:
    + Chủ tịch hội đồng tự quản giới thiệu, điều khiển diễn biến của tiết sinh
    hoạt lớp.
    + Các nhóm trưởng báo cáo tình hình tổ mình, nhóm mình tuần qua có
    những ưu điểm, khuyết điểm gì, điển hình cá nhân tốt, chưa tốt. Các nhóm
    trưởng hoặc các thành viên khác trong lớp bổ sung nếu thấy phần báo cáo còn
    12
    thiếu, chưa đầy đủ. Khi báo cáo, tổ trưởng thường nêu các biện pháp mà tổ,
    nhóm đã hỗ trợ, đã giúp các bạn còn vi phạm như thế nào và sự chuyển biến của
    các bạn đó.
    + Học sinh phát biểu cá nhân chủ yếu là những học sinh còn vi phạm (vì
    sao vi phạm, biện pháp của bản thân để khắc phục lỗi)
    + Tổ họp nhóm bình bầu đánh giá cá nhân xuất sắc, báo cáo trước lớp kết
    quả, lớp biểu quyết.
    + Lớp công nhận bầu tổ xuất sắc. Giáo viên khen thưởng hoặc tặng cờ,…
    cho tổ, ghi tên cá nhân xuất sắc lên bảng.
    b. Tuy nhiên, theo thông tư 30 và thông tư 22 về đánh giá học sinh tiểu
    học của bộ giáo dục và Đào tạo có một số ý như sau: Giáo viên điều chỉnh, đổi
    mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học, điều chỉnh cách đánh
    giá học sinh; Giúp học sinh có khả năng tự đánh giá, tham gia đánh giá; tự học,
    tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để
    tiến bộ; đánh giá sự tiến bộ của học sinh, không so sánh học sinh này với học
    sinh khác, không tạo áp lực cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh.
    c. Vì những lí do trên, tôi đã nghiên cứu, thiết kế để đổi mới các hình thức
    báo cáo hoạt động đánh giá các hoạt động sau một tuần như sau:
    * Hình thức thứ nhất: Viết thư
    + Công cụ: Sử dụng góc Điều em muốn nói ( chia sẻ cùng cô) và Nhịp
    cầu bè bạn.
    + Mục tiêu, giúp học sinh tự đánh giá bản thân mình, tự điều chỉnh hành
    vi để tiến bộ, không tạo sự ngại ngùng, xấu hổ hay áp lực cho học sinh.
    + Nội dung: GV yêu cầu các em viết thư cho cô giáo, cho bố mẹ, cho bạn
    bè tự nói về những việc bản thân mình đã làm được, làm tốt; những việc mình
    làm chưa tốt, cách khắc phục những nhược điểm đó trong thời gian tới, những
    khó khăn bản thân học sinh cần thầy cô hay bạn bè giúp đỡ. Hay học sinh viết về
    một việc làm tốt của một bạn nào đó trong lớp, những điều học được từ bạn,…..
    + Hiệu quả: Do được giáo viên và bạn bè tôn trọng, giữ bí mật nên các em
    không ngại chia sẻ những điều các em chưa tốt, chưa ngoan và lời hứa, cách
    13
    phấn đấu để thời gian tới tốt hơn. Nhờ vậy, giáo viên hiểu, nắm được tâm tư,
    nguyện vọng, cá tính, hoàn cảnh của từng em. Từ đó, giáo viên điều chỉnh cách
    dạy dỗ, giáo dục đối với từng em sao cho phù hợp.
    *Hình thức thứ hai: Hoàn thiện bức tranh
    + Công cụ: Giáo viên thiết kế mảng chính của một bức tranh. Bức tranh
    này có thể chia thành 2 mảng ( Mảng 1: Những việc tốt em đã làm; Mảng 2:
    Những việc em đã làm nhưng cảm thấy chưa tốt, lần sau em sẽ làm tốt hơn).
    Nhiệm vụ của học sinh xé dán, tô màu,… hoàn thành bức tranh ấy.
    + Mục tiêu: GV đổi mới hình thức đánh giá bản thân, từ đó có cái nhìn
    tổng quát về những việc các em đã làm tốt, làm chưa tốt của nhóm, của tổ hay
    của lớp. HS được tham gia đánh giá, không bị so sánh và có thể tự phát huy hay
    điều chỉnh những việc mình đã hoặc sẽ làm.
    + Nội dung: HS có ghi những việc đã là tốt, những việc làm chưa tốt của
    cá nhân vào bức tranh chung hoặc ghi những việc làm đó vào các tờ giấy màu
    thủ công , sau đó vẽ hoặc xé thành các họa tiết, hình mảng rồi tô, vẽ, dán hoàn
    chỉnh bức tranh.
    + Hiệu quả: Với hình thức làm này, HS không ngại chia sẻ với các bạn
    những ưu nhược điểm của những việc em đã làm, các em tự tin chia sẻ, chắc
    chắn các em sẽ tự tin khắc phục những nhược điểm đó trong thời gian ngắn nhất.
    Hơn thế, GV nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng, tính nết của từng em để điều
    chỉnh phương pháp giáo dục cho phù hợp.
    14
    *Hình thức thứ 3: Kể tiếp kết thúc tốt đẹp cho một câu chuyện.
    + Công cụ: HS có thể dùng giấy in sẵn hoa văn hoặc các em tự tay trang
    trí tờ giấy của mình. Các em thể hiện nội dung câu chuyện giáo viên yêu cầu
    bằng cách cắt, dán, tô màu, vẽ tranh hay viết bằng lời.
    + Mục tiêu: Đổi mới hình thức nhận xét, đánh giá những việc đã làm. Kết
    thúc tốt đẹp của câu chuyện mà các em thể hiện, đó chính là mong muốn bản
    thân hoàn thiện hơn, tốt hơn và cũng là bài học các em rút ra cho bản thân mình.
    + Nội dung: Sau khi HS chia sẻ với GV về những việc em làm chưa tốt ở
    hình thức thứ nhất. GV chon một lỗi tiêu biểu của các em dưới dạng một câu
    chuyện với kết thúc mở. HS có thể viết, xé dán, vẽ hay chia sẻ bằng lời kết thúc
    tốt đẹp của câu chuyện ấy. Nội dung của các câu chuyện phụ thuộc vào cái đích
    của từng tuần, từng tháng hay từng giai đoạn mà GV cần HS đạt được cái đích
    đó trong thời gian tới.
    Ví dụ: Chuẩn bị kiểm tra định kì lần 2, nhiều HS chia sẻ rằng bản thân
    chưa chăm học, chưa ôn tập bài bài mà lại dành quá nhiều thời gian đi chơi, xem
    ti vi,….. GV kể câu chuyện có nội dung tóm tắt như sau
    15
    Sáng chủ nhật, tiết trời mát mẻ, ánh nắng vàng dịu nhẹ tỏa xuống mặt đất,
    sương long lanh đậu trên cành lá. Nam ngước nhìn bầu trời trong xanh. Chà,
    thời tiết này mà đi đá bóng thì thật là tuyệt! Cả tuần nay đi học, chưa hôm nào
    được đá bóng thỏa thích. Nhưng mà tuần sau Nam phải tham gia kì khảo sát
    cuối học kì. Kì này khảo sát nhiều môn học lắm: nào là môn toán, nào là môn
    Tiếng Việt lại còn cả môn Khoa học, môn Lịch sử, Địa lí nữa. Ôi, lại cả môn
    Tiếng Anh, Tin học. Nghĩ đến đây đầu óc nó ong ong. Đang lan man nghĩ ngợi,
    tiếng bạn Đức réo lên:
    – Nam ơi, ra sân vận động đá bóng đi!
    Nghe tiếng gọi, đôi mắt nó bừng sáng. Nó vội vã chạy vào nhà chuẩn bị
    quần áo để đi chơi. Nhưng rồi………..
    Em hãy viết tiếp (hay kể tiếp) nội dung của câu chuyện với một kết thúc
    tốt đẹp.
    HS đã viết được các ý như sau:
    – HS 1: Nam sững lại vì chợt nhớ đến nhiệm vụ ôn tập. Bạn ấy quyết định
    không đi đá bóng với Đức nữa mà hẹn Đức đến chiều mát khi đã hoàn thành
    xong các bài ôn tập. Nhờ vượt qua được chính mình nên kì khảo sát đó, Nam đạt
    điểm tốt tất cả các môn.
    – HS 2: Đang háo hức mặc quần áo, xỏ giày thể thao để đi, ý nghĩ chưa
    hoàn thành bài tập cứ cuộn lên trong đầu Nam. Nó gọi Đức vào, rủ bạn cụng ở
    lại ôn tập, khi nào học xong sẽ đi đá bóng. Và kì khảo sát ấy đôi bạn đều vui vì
    ai cũng đạt được điểm cao.
    – HS 3: Có thể vẽ bức tranh 2 bạn đang cùng nhau ôn bài.
    – HS 4: Xé dán bông hoa điểm tốt bên cạnh 1 bạn HS đang ngồi ngay
    ngắn học bài.
    …….
    + Hiệu quả: Với cách làm này, HS có rất nhiều cách giải quyết khác nhau.
    Từ đó HS nắm được những việc làm chưa tốt và cách khắc phục nhược điểm ấy
    một cách nhanh chóng. Cách làm này không chỉ hiệu quả với những HS mắc lỗi
    mà nó còn là cách làm sáng tạo cho những HS tốt phát huy ưu điểm của mình.
    16
    *Hình thức thứ tư: Thiết kế việc đánh giá ưu nhược điểm sau một tuần học
    tập và rén luyện dưới hình thức trò chơi.
    + Công cụ: Sử dụng các bài hát, bài thơ có nội dung giáo dục đạo đức gắn
    với trẻ thơ, một số vật liệu sẵn có dễ kiếm như bông hoa, cây thông,…; những
    câu hỏi, những câu còn thiếu nội dung cần phải điền thêm cho phù hợp,….
    + Mục tiêu: Thông qua trò chơi, HS hào hứng tự nêu ra những việc tốt đã
    làm khiến mình rất vui, những lỗi mà mình mắc phải cần phải sửa chữa trong
    thời gian tiếp theo. Từ trò chơi đó, HS nhận ra nhược điểm của mình một cách
    nhẹ nhàng, không bị áp lực và có động cơ nhanh chóng khắc phục nhược điểm.
    + Hiệu quả: Trò chơi diễn ra vui vẻ, không có sự chê bai, kì thị, không có
    sự so sánh, mặc cảm. Chính bản thân mỗi HS rút ra bài học cho mình, cho nhóm
    mình, tổ mình, lớp mình.
    Ví dụ 1: Trò chơi Lời nói thật
    + Đồ dùng: Lời bài hát Con chim vành khuyên hay bài Lớp chúng ta đoàn
    kết, một bông hoa nhựa.
    + Luật chơi: Cả lớp hát bài Chim vành khuyên. Khi nào chủ trò hô dừng,
    bông hoa ở tay bạn nào, bạn đấy nêu một việc làm tốt mà mình cảm thấy rất vui
    một việc làm chưa tốt mình chưa hài lòng và hướng khắc phục trong thời gian
    tới.
    + Hình thức chơi: Cả lớp.
    Ví dụ 2: Trò chơi Xì điện (nội dung, hình thức tương tự như trò chơi Chuyền
    hoa)
    + Luật chơi: HS được chỉ định (được xì điện) có thể hát một bài hát, hay
    biểu diễn một bài múa, hay kể một việc bạn đã làm tốt và một việc bạn làm chưa
    tốt trong tuần qua, phương hướng của bạn trong tuần tới.
    Ví dụ 3: Trò chơi Hái hoa dân chủ
    + Nội dung: Cây hoa treo những câu hỏi mà các bạn HS đã thảo luận
    trong việc xây dựng kế hoạch ở tuần trước. Các bạn xung phong lên hái hoa, trả
    lời câu hỏi. Nhóm nào có nhiều bạn xung phong trả lời thì nhóm đó được thưởng
    cờ, thưởng hoa, được ghi danh, …
    17
    Các bông hoa có thể ghi các nội dung hỏi như sau:
    – Việc làm nào bạn tâm đắc nhất trong tuần vừa qua? Vì sao bạn lại thực
    hiện tốt việc đó đến vậy?
    – Bạn hãy kể những việc làm mà các bạn khác đã làm khiến bạn ngưỡng
    mộ? Tại sao bạn lại ngưỡng mộ những việc làm ấy?
    – Bạn hãy kể một việc bạn đã làm mà kết quả không được như mong
    muốn? Trong thời gian tới bạn dự định sẽ thực hiện việc ấy như thế nào?
    – Có điều gì thắc mắc bạn cần chia sẻ với cô giáo và các bạn không?
    – ……………
    * Hình thức thứ năm: Đóng kịch
    + Công cụ: Bắt chước các nhân vật và hình thức báo cáo của các Táo
    trong Táo quân lên trời trong chương trình Gặp nhau cuối năm của các nghệ
    sỹ.
    + Mục tiêu: Gây hứng thú cho HS. HS nhận ra ưu nhược và cách khắc
    phục một cách vui vẻ.
    + Nội dung: Hội đồng tự quản và các thành viên trong lớp thiết kế nội
    dung báo cáo kết quả học tập vả rèn luyện trong tuần dưới hình thức một tiểu
    phẩm hài.
    + Hiệu quả: Thông qua tiểu phẩm kịch, HS hào hứng xem, không khí lớp
    vui vẻ. HS thoải mái thể hiện năng khiếu của mình. Đồng thời tất cả lớp đều rút
    được bài học cho bản thân.
    Ví dụ:
    + Các nhân vật: Ngọc Hoàng (chủ tịch HĐTQ), Nam Tào (Phó chủ tịch
    HĐTQ 1), Bắc Đẩu (Phó chủ tịch HĐTQ 2), Táo Học tập (Trưởng ban Học tập),
    Táo Nề nếp (Trưởng ban Nề nếp), Táo Môi trường (Trưởng ban Lao động vệ
    sinh), Táo Văn nghệ (Trưởng ban Văn nghệ), Táo Thư viện (Trưởng ban Thư
    viện).
    (Những lần đóng kịch, có thể 1 thành viên của ban báo cáo, không nhất
    thiết là các trưởng ban)
    18
    + Cảnh trí: Thiên Đình; Ngọc Hoàng ngồi trên ngai vàng, Nam Tào và
    Bắc Đẩu đứng hai bên, bên ngoài các Táo đang chuẩn bị vào chầu.
    + Nội dung tiểu phẩm:
    Nam Tào: Thế là đã hết một tuần học tập, vui chơi và rèn luyện. Hôm nay,
    tiết sinh hoạt lớp, Nhà trời mở cửa Thiên đình, mời các Táo vào chầu!
    Bắc Đẩu: Mời các Táo!
    Các Táo (đồng thanh): Ngọc Hoàng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!
    Ngọc Hoàng: Miễn lễ!
    Nam Tào: Sau một tuần tích cực học tập, vui chơi và rèn luyện, hôm nay,
    các Táo hãy báo cáo để Ngọc Hoàng và nhân dân nắm được tình hình tuần qua.
    Bắc Đẩu: Mời Táo Học tập!
    Táo học tập: Bẩm Ngọc Hoàng, tuần vừa qua, các bạn HS lớp 5A học tập
    chăm chỉ lắm ạ. Trong tuần, bạn nào cũng tích cực học tập. Các bạn chuẩn bị
    đầy đủ đồ dùng, sách vở và ôn tập bài rất tốt trước khi đến lớp ạ. Các tổ, rất
    nhiều bạn được thầy cô khen: đó là bạn Kiều Trang, bạn Thu Hiền, bạn Thế
    Hiển, bạn Quỳnh Giao và rất rất nhiều các bạn khác nữa ạ. Tuy nhiên, thần dân
    lớp 5A cũng còn mắc chút xíu lỗi nữa ạ!
    Ngọc Hoàng: Lỗi thế nào? Khanh hãy báo cáo ta nghe!
    Táo Học Tập: Bẩm Ngọc Hoàng, lỗi nhỏ xíu nhỏ xiu thôi ạ! Đó là có một
    vài bạn viết bài còn cẩu thả, một số bạn chưa thuộc công thức nên làm bài sai ạ!
    Bẩm Ngọc Hoàng, sang tuần sau, chúng tôi nhất định học tập chăm chỉ, không ai
    mắc phải các lỗi ở trên nữa ạ. Không những thế, số lượng các bạn được tuyên
    dương sẽ tăng thêm, ai cũng tự hứa là sẽ học thất tốt ạ!
    Ngọc Hoàng: Tốt lắm, ta tin ở các khanh và các thần dân của ta!
    Bắc Đẩu: Mời Táo Học Tập lui!
    Nam Tào: Mời Táo Nề nếp vào báo cáo!
    ……………………………………………………
    Tương tự lời thoại của các Táo do HS sáng tạo, có thể thêm một số tình
    tiết, câu nói dí dỏm, hài hước để hoạt động nhận xét, rút kinh nghiệm của tiết
    sinh hoạt lớp diễn ra sôi nổi.
    19
    2.2.3 Phổ biến kế hoạch tuần tới:
    a. Theo trình tự thông thường:
    + Chủ tịch hội đồng tự quản nêu lên cách khắc phục những việc chưa tốt ở
    tuần trước và những nội dung mới cần làm trong tuần dựa trên sự định hướng
    của giáo viên chủ nhiệm, nhiệm vụ đặt ra của nhà trường và Đội thiếu niên.
    + Tập thể lớp trao đổi và đi đến phương án thực hiện.
    b. Tuy nhiên, phần đánh giá các hoạt động tuần qua, với các cách làm đổi
    mới như trên, tự bản thân HS, nhóm, tổ, lớp đã tự rút kinh nghiệm và tìm cách
    khắc phục những điểm chưa tốt. Ở phần 2, ngoài việc chuyển tải linh hoạt nội
    dung HS cần phải thực hiện trong tuần tới, GV chú trọng hướng dẫn HS hào
    hứng hợp tác lập kế hoạch cho mình và các bạn chứ không phải thực hiện mệnh
    lệnh của giáo viên chủ nhiệm giao cho lớp thông qua chủ tịch hội đồng tự quản.
    Phần lập kế hoạch hoạt động ở tuần trước chính là hoạt động Trải nghiệm (Kĩ
    năng sống) ở tuần sau.
    Dưới đây là một số ví dụ về việc hướng dẫn HS lập chương trình cho một
    số hoạt động của các em trong năm học theo các chủ đề của tháng và kết quả.
    Ví dụ 1: HS lập kế hoạch cho ngày Vui hội trằng rằm (Tết trung thu)
    Chương trình vui hội trăng rằm
    Lớp 5A- Trường Tiểu học Thị trấn Rạng Đông
    Năm học 2020- 2021
    I. Mục tiêu: Vui Tết trung thu.
    II. Phân công chuẩn bị:
    – Chuẩn bị hoa quả, bánh kẹo: Tất cả các bạn vận động bố mẹ ủng hộ hoa
    quả, bánh kẹo tùy theo khả năng của từng gia đình.
    – Bày và trang trí mâm cỗ trung thu: Bạn Kiều Trang, Thu Hiền, Quỳnh
    Chi, Tiến Đạt, Thế Hiển.
    – Cắm hoa: Bạn Hải Yến, Thu Huyền, Hoàng Anh, Minh Tân
    – Viết lời giới thiệu, thuyết trình mâm cỗ trung thu và chuẩn bị giới thiệu:
    bạn Kiều Trang- chủ tịch HĐTQ
    20
    – Viết lời cảm ơn và phát biểu lời cảm ơn tới thầy cô và các bác phụ
    huynh: bạn Quỳnh Giao- phó chủ tịch HĐTQ
    – Tham gia các hoạt động Vui hội trăng rằm với toàn trường:
    + Tập văn nghệ và chuẩn bị biểu diễn: Bạn Hải Yến, Quỳnh Chi, Thu
    Hiền, Kiều Trang, Thế Hiển.
    + Tham gia thi làm bánh trung thu: Bạn Quỳnh Giao, Ngọc Nam
    + Tham gia tập múa lân và biểu diễn: bạn Đức Minh, Xuân Trường, Tiến
    Hưng
    III. Chương trình cụ thể

    STTThời gianNội dungNgười thực hiện
    1.7 giờ ngày 30/9
    ( tức ngày 13/8
    âm lịch)
    +Bày và trang trí mâm cỗ trung
    thu
    + Cắm hoa
    +Bạn Kiều Trang,
    Thu Hiền, Quỳnh
    Chi, Tiến Đạt, Thế
    Hiển.
    + Bạn Hải Yến,
    Thu Huyền,
    Hoàng Anh, Minh
    Tân
    27 giờ 30 phút+ Giới thiệu, thuyết trình mâm
    cỗ trung thu với đoàn đại biểu.
    + Bạn Kiều
    Trang- Chủ tịch
    HĐTQ
    37 giờ 40 phútTham gia các hoạt động Vui
    hội trăng rằm với toàn trường:
    + Biểu diễn văn nghệ
    + Xem văn nghệ
    + Thi làm bánh trung thu
    + Bạn Hải Yến,
    Quỳnh Chi, Thu
    Hiền, Kiều Trang,
    Thế Hiển.
    + Tất cả các bạn
    + Bạn Quỳnh

    21

    + Trải nghiệm làm bánh trung
    thu.
    + Tham gia Múa lân
    + Xem múa lân
    Giao, Ngọc Nam
    + Tất cả các bạn
    + Bạn Đức Minh,
    Xuân Trường,
    Tiến Hưng
    + Tất cả các bạn.
    49 giờ 30 phútPhát biểu cảm ơn các thầy cô
    giáo và các bác phụ huynh.
    Bạn Quỳnh Giao
    phó chủ tịch
    59 giờ 40 phútPhá cỗ trung thuTất cả các bạn
    610 giờ 20 phútRút kinh nghiệmHội đồng tự quản
    Tất cả các bạn

    Dưới đây là một số hoạt động Vui hội trăng rằm do các em lập kế hoạch,
    chuẩn bị và tổ chức.
    22
    Ví dụ 2: các em lập kế hoạch hoạt động tháng 11 với chủ đề của Đội: Tri
    ân thầy cô giáo.
    HS có thể thảo luận và lập kế hoạch cho lớp như sau:
    Chương trình Tri ân thầy cô giáo nhân ngày 20- 11
    Lớp 5A- Trường Tiểu học Thị trấn Rạng Đông
    Năm học 2020- 2021
    I.Mục tiêu:
    – Tri ân thầy cô; thể hiện tình cảm biết ơn, kính trọng đối với thầy cô.
    II. Phân công chuẩn bị:
    – Viết lời khai mạc, lời tri ân, lời dẫn chương trình: Bạn Kiều Trang
    – Làm báo tường
    + Vẽ đầu báo: bạn Đức Anh, bạn Thế Hiển, bạn Minh Hiếu, bạn Hoàng
    Anh
    + Viết, sưu tầm bài (Văn, thơ, truyện, truyện cười, câu đố, bài hát, tranh
    ảnh): Tất cả các bạn.
    23
    + Trang trí báo và dán các bài báo: Xuân Trường, Đức Minh, Tuấn Hưng,
    Kiều Trang, Thu Huyền.
    – Làm bưu thiếp: Tất cả các bạn.
    – Chuẩn bị lẵng hoa tặng các thầy cô giáo
    + Sưu tầm hoa: Tất cả các bạn (sưu tầm các loại hoa tươi)
    + Chuẩn bị lẵng hoa, xốp căm hoa: bạn Hải Yến, bạn Thu Hiền.
    + Cắm hoa: Tất cả các bạn nữ.
    – Chuẩn bị các tiết mục văn nghệ
    + Kể câu chuyện Chiếc áo mới: bạn Ngọc Phương
    + Múa bài Thầy cô là tất cả: Bạn Thế Hiển, Minh Điệp, Đức Hiệp, Đức
    Anh, Quỳnh Chi, Hải Yến, Thu huyền, Thu Hiền.
    + Đơn ca bài Bụi Phấn: Bạn Thu

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Dạy Toán lớp 1 theo chương trình GDPT 2018

    SKKN Dạy Toán lớp 1 theo chương trình GDPT 2018

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
    Như chúng ta đã biết, chương trình và sách giáo khoa hiện hành theo Nghị
    quyết số 40/2000/QH10 đã được triển khai trong toàn quốc từ 2002 đến nay.
    Trong đó có chương trình và sách giáo khoa Toán Lớp 1 đã dược triển khai từ
    năm học 2002 – 2003 đến năm học 2019 – 2020. Mặc dù chương trình và sách
    giáo khoa hiện hành có nhiều ưu điểm so với trước đó, nhưng trước sự phát triển
    nhanh chóng của khoa học – công nghệ và khoa học giáo dục; trước những đòi
    hỏi hội nhập quốc tế, Chương trình và Sách giáo khoa hiện hành khó đáp ứng
    yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới.
    Bên cạnh đó xu thế phát triển về nội dung chương trình và Sách giáo khoa
    của thế giới thay đổi rất nhanh; nhiều nước có nền giáo dục phát triển đã chuyển
    hướng từ chương trình coi trọng nội dung giáo dục sang chương trình coi trọng
    phát triển năng lực người học. Chương trình giáo dục Việt Nam cần đổi mới để
    đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
    Vì vậy việc phải thay đổi nội dung chương trình và sách giáo khoa, trong
    đó có nội dung chương trình và sách giáo khoa môn Toán là cấp thiết.
    Để thực hiện tốt Chương trình GDPT 2018, trong đó có chương trình
    MÔN TOÁN, chúng ta cần biết Chương trình GDPT mới khác chương trình
    GDPT hiện hành như thế nào?
    – Thứ nhất, chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo mô
    hình phát triển năng lực, phẩm chất người học, giúp học sinh hình thành và phát
    triển những phẩm chất và năng lực. Còn chương trình giáo dục phổ thông hiện
    hành được xây dựng theo định hướng nội dung, nặng về truyền thụ kiến thức,
    chưa chú trọng giúp học sinh vận dụng kiến thức học được vào thực tiễn.Vì vậy,
    học sinh phải học và ghi nhớ rất nhiều nhưng khả năng vận dụng vào đời sống
    rất hạn chế.
    – Thứ hai, chương trình giáo dục phổ thông mới phân biệt rõ hai giai
    đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản (từ lớp 1 đến lớp 9) và giai đoạn giáo dục định
    hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12). Còn chương trình giáo dục phổ thông
    hiện hành có nội dung giáo dục gần như đồng nhất cho tất cả học sinh; việc định
    hướng nghề nghiệp cho học sinh, ngay cả ở cấp trung học phổ thông chưa được
    xác định rõ ràng.
    – Thứ ba, chương trình giáo dục phổ thông mới chú ý hơn đến tính kết nối
    giữa chương trình của các lớp học, cấp học trong từng môn học và giữa chương
    trình của các môn học trong từng lớp học, cấp học. Việc xây dựng Chương trình
    tổng thể, lần đầu tiên được thực hiện tại Việt Nam. Còn trong chương trình giáo
    dục phổ thông hiện hành, sự kết nối giữa chương trình các cấp học trong một môn
    học và giữa chương trình các môn học chưa chặt chẽ; một số nội dung giáo dục bị
    trùng lặp, chồng chéo hoặc chưa thật sự cần thiết đối với học sinh phổ thông.
    3
    Thứ tư, chương trình giáo dục phổ thông mới bảo đảm định hướng thống
    nhất và những nội dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc,
    đồng thời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương và nhà trường
    trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch
    giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, góp phần
    bảo đảm kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã
    hội. Còn chương trình giáo dục phổ thông hiện hành thiếu tính mở nên hạn chế
    khả năng chủ động và sáng tạo của địa phương và nhà trường cũng như của tác
    giả sách giáo khoa và giáo viên.
    Xuất phát từ những yêu cầu về nội dung chương trình GDPT 2018,
    Chương trình môn Toán giúp học sinh đạt các mục tiêu chủ yếu sau:
    a) Hình thành và phát triển năng lực toán học bao gồm các thành tố cốt lõi
    sau: năng lực tư duy và lập luận toán học; năng lực mô hình hoá toán học; năng
    lực giải quyết vấn đề toán học; năng lực giao tiếp toán học; năng lực sử dụng
    công cụ, phương tiện học toán.
    b) Góp phần hình thành và phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và
    năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học được quy định
    tại Chương trình tổng thể.
    c) Có kiến thức, kĩ năng toán học phổ thông, cơ bản, thiết yếu; phát triển
    khả năng giải quyết vấn đề có tính tích hợp liên môn giữa môn Toán và các môn
    học khác như Vật lí, Hoá học, Sinh học, Địa lí, Tin học, Công nghệ, Lịch sử,
    Nghệ thuật,…; tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, áp dụng toán học vào
    thực tiễn.
    d) Có hiểu biết tương đối tổng quát về sự hữu ích của toán học đối với
    từng ngành nghề liên quan để làm cơ sở định hướng nghề nghiệp, cũng như
    có đủ năng lực tối thiểu để tự tìm hiểu những vấn đề liên quan đến toán học
    trong suốt cuộc đời.
    Đặc biệt trong đó Môn Toán cấp tiểu học nhằm giúp học sinh đạt các mục
    tiêu chủ yếu sau:
    a) Góp phần hình thành và phát triển năng lực toán học với yêu cầu cần
    đạt: thực hiện được các thao tác tư duy ở mức độ đơn giản; nêu và trả lời được
    câu hỏi khi lập luận, giải quyết vấn đề đơn giản; lựa chọn được các phép toán và
    công thức số học để trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) được các nội dung, ý
    tưởng, cách thức giải quyết vấn đề; sử dụng được ngôn ngữ toán học kết hợp với
    ngôn ngữ thông thường, động tác hình thể để biểu đạt các nội dung toán học ở
    những tình huống đơn giản; sử dụng được các công cụ, phương tiện học toán
    đơn giản để thực hiện các nhiệm vụ học tập toán đơn giản.
    b) Có những kiến thức và kĩ năng toán học cơ bản ban đầu, thiết yếu về:
    – Số và phép tính: Số tự nhiên, phân số, số thập phân và các phép tính
    trên những tập hợp số đó.
    – Hình học và Đo lường: Quan sát, nhận biết, mô tả hình dạng và đặc
    điểm (ở mức độ trực quan) của một số hình phẳng và hình khối trong thực tiễn;
    4
    tạo lập một số mô hình hình học đơn giản; tính toán một số đại lượng hình học;
    phát triển trí tưởng tượng không gian; giải quyết một số vấn đề thực tiễn đơn
    giản gắn với Hình học và Đo lường (với các đại lượng đo thông dụng).
    – Thống kê và Xác suất: Một số yếu tố thống kê và xác suất đơn giản; giải
    quyết một số vấn đề thực tiễn đơn giản gắn với một số yếu tố thống kê và xác suất.
    c) Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác như: Đạo đức, Tự
    nhiên và xã hội, Hoạt động trải nghiệm,… góp phần giúp học sinh có những
    hiểu biết ban đầu về một số nghề nghiệp trong xã hội.
    Đứng trước những yêu cầu về việc thực hiện Chương trình GDPT 2018,
    đặc biệt là việc giảng dạy Môn Toán Lớp 1 – năm học đầu tiên thực hiện chương
    trình và Sách giáo khoa Lớp 1 mới, tôi đã tích cực nghiên cứu, tìm hiểu và trực
    tiếp thực hiện đúc rút kinh nghiệm: “Dạy Toán lớp 1 chƣơng trình giáo dục
    phổ thông 2018” xin được chia sẻ cùng bạn bè đồng nghiệp.
    II. Mô tả giải pháp
    1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến
    1.1. Đặc điểm tình hình nhà trƣờng
    Trường Tiểu học Xuân Hồng thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường,
    tỉnh Nam Định – nơi tôi đang công tác mới được sáp nhập từ ba trường tiểu học
    trong xã từ ngày 01 tháng 7 năm 2019. Phát huy thế mạnh của các Trường tiểu
    học A Xuân Hồng, Trường Tiểu học B Xuân hồng và Tiểu học C Xuân Hồng, nhà
    trường đã nhanh chóng ổn định, xây dựng nền nếp và quy chế hoạt động. Với số
    lượng cán bộ, giáo viên, học sinh đông tương đương bằng 1/10 số lượng CBGV,
    học sính Tiểu học trong toàn huyện, song môi trường giáo dục nhà trường luôn
    đảm bảo dân chủ, thân thiện, đổi mới được các hoạt động giáo dục, đủ các điều kiện
    cho việc triển khai chủ trương thực hiện việc làm đổi mới của nhà trường. Năm học
    2019 – 2020, là năm học đầu tiên mang tên ngôi trường mới: trường Tiểu học Xuân
    Hồng, nhà trường vẫn duy trì và phát huy thành tích dạy và học. Nhà trường được
    xếp thứ 1/ 20 trường Tiểu học của huyện nhà, đạt danh hiệu Tập thể lao động Xuất
    sắc, được UBND Tỉnh Nam Định tặng Bằng khen.
    Năm học 2020- 2021, trường có 45 lớp, trong đó có 8 lớp 1; mỗi lớp có 1
    phòng học cố định.
    Để thực hiện tốt công tác chuyên môn, là một giáo viên trực tiếp giảng
    dạy lâu năm với kinh nghiệm 28 năm đứng lớp và 15 năm liên tục chủ nhiệm,
    giảng dạy lớp Một, trong quá trình đúc rút kinh nghiệm, bản thân tôi đã gặp
    những thuận lợi và khó khăn sau:
    1.2. Thuận lợi
    – Sĩ số /lớp luôn đảm bảo theo đúng quy định của điều lệ trường Tiểu học.
    Luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của ban giám hiệu thông qua các việc: Chỉ
    đạo giáo viên lập kế hoạch chủ nhiệm, duyệt và góp ý cho giáo viên về kế hoạch
    chủ nhiệm đều đặn, giao chất lượng giáo dục học sinh cho giáo viên, định ra các
    tiêu chí thi đua lớp tiên tiến, lớp xuất sắc cho tập thể học sinh, lao động tiên tiến,
    lao động xuất sắc cho giáo viên, khen thưởng cho giáo viên đạt thành tích lao
    5
    động tiên tiến, lao động xuất sắc, lớp tiên tiến, lớp xuất sắc, học sinh đạt các
    thành tích trong năm học.
    – Nhà trường luôn thực hiện nghiêm túc công tác chỉ đạo chuyên môn của
    các cấp lãnh đạo, đặc biệt là các công việc chuẩn bị và triển khai Chương trình
    GDPT 2018. Bước vào đầu năm học, được sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ của của
    các cấp lãnh đạo, BCU, BGH nhà trường, tôi đã ổn định nề nếp sinh hoạt, công
    tác. Tôi và đội ngũ GV dạy lớp 1 đã được tham gia đầy đủ các lớp tập huấn
    chuyên môn về nội dung chương trình và sử dụng SGK lớp 1 chương trình giáo
    dục phổ thông 2018.
    – Cơ sở vật chất nhà trường đảm bảo sạch sẽ, thoáng mát, tạo không khí
    hồ hởi cho học sinh và giáo viên. Lớp 1 là lớp có học sinh nhỏ tuổi nhất trường,
    nên luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của ban giám hiệu, sự cộng tác chặt
    chẽ của các giáo viên bộ môn. Lớp 1 là lớp học đầu tiên mở đầu cho việc triển
    khai nội dung chương trình và sách giáo khoa mới nên được quan tâm, tạo điều
    kiện tốt nhất. Các lớp học đều có ti vi màn hình lớn kết nối internet hỗ trợ cho
    dạy và học.
    – Đặc biệt, công nghệ thông tin phát triển, nên hầu hết phụ huynh học sinh
    đều có số điện thoại riêng, sự liên lạc giữa gia đình nhà trường và giáo viên chủ
    nhiệm dễ dàng hơn vì thế sự phối hợp giữa các bậc phụ huynh và giáo viên càng
    trở nên chặt chẽ. Đại đa số cha mẹ học sinh còn trẻ, ít con nên có điều kiện chăm
    lo cho con cái.
    1.3. Khó khăn
    – Học sinh lớp Một còn nhỏ, ở lứa tuổi này các em chưa ý thức được tầm
    quan trọng của việc học, chưa có nề nếp, cũng chưa có ý thức tự học ở nhà. Đến
    lớp, chưa chú ý vào các hoạt động học tập, còn thích chơi như ở lớp mẫu giáo,
    hay chọc ghẹo bạn, hay nói leo, nói tự do trong giờ học.
    – Là học sinh lớp đầu tiên bậc học Tiểu học, khi chuyển từ hoạt động vui
    chơi là hoạt động chủ đạo ở trường mầm non sang hoạt động học tập ở trường
    tiểu học là một bước chuyển lớn. Hơn nữa, thời gian nghỉ phòng chống dịch
    Covid 19 quá dài, các em quen với nếp ăn, chơi, nghỉ tự do ở gia đình đã ảnh
    hưởng đến ý thức tự giác tới trường của các em. Thời gian tựu trường quá muộn
    do vậy công tác tổ chức và chuẩn bị tâm thế cho học sinh bước vào năm học mới
    gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là việc xây dựng ý thức tổ chức, ý thức học tập
    cho học sinh lớp 1. Các em chưa kịp làm quen với môi trường và hoạt động ở
    trường tiểu học thì đã phải học luôn nội dung chương trình mới. Một số học sinh
    đến trường còn khóc sướt mướt, bố mẹ còn bế trên tay nên việc xây dựng nề nếp
    sinh hoạt, học tập cho các em mất nhiều thời gian.
    – Đa số phụ huynh học sinh làm nghề nông, buôn bán hoặc đi làm ăn xa
    không có thời gian quản lý, kiểm tra đôn đốc nhắc nhở việc học hành cho con
    em. Một số phụ huynh học sinh còn mang tư tưởng “khoán trắng” cho nhà
    trường. Họ coi việc giáo dục học sinh là trách nhiệm của nhà trường, của các
    thầy các cô.
    6
    – Ý thức tự giác học tập, rèn luyện của một số HS chưa tốt, còn ỷ lại.
    Nhiều học sinh tiếp xúc sớm với điện thoại, vi tính, bố mẹ bận làm ăn nên có
    một số em chưa có khả năng tập trung vào học tập, lớp nào cũng có HS chậm
    phát triển, tăng động hoặc có những biểu hiện tăng động.
    – Năm học 2020 – 2021 là năm học đầu tiên Triển khai thực hiện Chương
    trình giáo dục phổ thông 2018 đối với lớp 1, giáo viên không tránh khỏi một số
    lúng túng, thời lượng giảng dạy môn Toán Lớp 1 lại giảm chỉ còn 3 tiết/tuần; có
    nhiều nội dung gắn với thực tiễn cuộc sống, sức ép từ phụ huynh học sinh về nội
    dung chương trình và sách giáo khoa mới còn băn khoăn: Liệu với chương trình
    và sách giáo khoa mới chất lượng học tập của con em có tốt hơn không?
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    Đứng trước thực trạng đó, nhận thức được sự cần thiết cần phải thực hiện
    tốt chương trình GDPT 2018, trong đó có nội dung chương trình môn toán lớp 1,
    tôi đã mạnh dạn đề ra một số giải pháp tích cực giúp giáo viên Dạy tốt môn
    Toán lớp 1 Chương trình GDPT 2018 như sau:
    2.1. Giải pháp 1: Nắm chắc quan điểm xây dựng chương trình, mục tiêu của
    chương trình môn toán và những yêu cầu cần đạt của môn Toán lớp 1
    2.1.1. Quan điểm xây dựng chương trình GDPT 2018
    – Bảo đảm tính tinh giản, thiết thực, hiện đại
    – Bảo đảm tính thống nhất, sự nhất quán và phát triển liên tục.
    – Bảo đảm tính tích hợp và phân hoá
    – Bảo đảm tính mở.
    Việc xây dựng và triển khai chương trình môn Toán mới đã bảo đảm kế
    thừa và phát triển những ưu điểm của các chương trình GDPT đã có của Việt
    Nam, đồng thời tiếp thu kinh nghiệm của những nền giáo dục tiên tiến trên thế
    giới.
    Danh mục các khái niệm về toán của chương trình mới so với chương
    trình hiện hành không khác nhau nhiều. Tuy nhiên, sự khác nhau về các nguyên
    tắc xây dựng, cấu trúc nội dung, cũng như phương pháp tiếp cận mới trong việc
    trình bày tài liệu có thể làm cho quá trình học sâu sắc hơn, từ đó tạo điều kiện
    cho việc thực hiện các mục tiêu. Nó cũng giống như từ những cặp nhiễm sắc thể
    như nhau nhưng bằng những cách tổ hợp khác nhau chúng ta đã lai tạo ra được
    những giống lúa với chất lượng rất khác nhau. Làm tốt điều đó chính là tạo ra
    bản sắc riêng, tạo ra cái mới của chương trình và sách giáo khoa môn Toán trong
    CT GDPT mới.
    Trong quá trình phát triển chương trình môn Toán, việc tìm hiểu các
    thông tin về xây dựng CT GDPT nói chung, chương trình môn Toán nói riêng,
    của các nước có nền giáo dục phát triển cao và các nước tương đồng với Việt
    Nam. Từ đó phân tích, tổng hợp kinh nghiệm của một số quốc gia trong khu vực
    và thế giới nhằm tìm hiểu những vấn đề cơ bản nhất về xu thế phát triển chương
    trình môn Toán trên thế giới và vận dụng trong phát triển chương trình môn
    7
    Toán mới của Việt Nam.
    Chuyển một chương trình theo định hướng nội dung sang chương trình
    theo định hướng năng lực và quản lý dựa trên kết quả đầu ra chính là việc
    chuyển từ mục tiêu hướng tới nội dung dạy học sang mục tiêu hướng tới “cách
    học” của học sinh.
    So sánh Dạy học tiếp cận nội dung và dạy học phát triển phẩm chất,
    năng lực ( PC, NL)

    Tiêu chí so
    sánh
    Dạy học
    tiếp cận nội dung
    Dạy học phát triển PC, NL
    1.Mục tiêu– Chú trọng hình thành kiến
    thức, kĩ năng, thái độ.
    – Mục tiêu dạy học được mô tả
    không chi tiết và khó có thể
    quan sát, đánh giá được.
    – Lấy mục tiêu học để thi, học
    để hiểu
    – Chú trọng hình thành PC và
    NL thông qua việc hình thành
    kiến thức, kĩ năng, thái độ.
    – Mục tiêu dạy học được mô tả
    chi tiết, có thể quan sát, đánh
    giá được.
    – Lấy mục tiêu học để sống,
    học để biết để làm.
    2. Về nội
    dung
    – Nội dung được lựa chọn dựa
    vào các khoa học chuyên môn,
    được quy định chi tiết trong
    chương trình.
    – Chú trọng hệ thống kiến thức
    lý thuyết, sự phát triển tuần tự
    của các khái niệm, định luật,
    học thuyết khoa học. SGK
    được trình bày liền mạch
    thành hệ thống kiến thức
    – Việc quy định cứng nhắc
    những nội dung chi tiết trong
    chương trình dễ bị thiếu tính
    cập nhật.
    – Nội dung được lựa chọn
    nhằm đạt được kết quả đầu ra
    đã quy định; chương trình chỉ
    quy định những nội dung
    chính.
    – Chú trọng các kĩ năng thực
    hành, vận dụng lí thuyết vào
    thực tiễn. SGK không trình
    bày thành hệ thống mà phân
    nhánh, xen kẽ kiến thức với
    hoạt động.
    – Nội dung chương trình không
    quá chi tiết, có tính mở nên
    tạo điều kiện để người dạy dễ
    cập nhật tri thức mới.
    3. Về PP
    DH
    – Người dạy là người truyền
    thụ tri thức
    – Người học có phần “thụ
    – Người dạy chủ yếu là người
    tổ chức, hỗ trợ trò chiếm lĩnh
    tri thức; chú trọng khả năng
    giải quyết vấn đề của trò.
    – Coi trọng các tổ chức hoạt
    động, trò chủ động tham gia

    8

    động”, ít phản biện.
    – Giáo án thường được thiết kế
    theo trình tự đường thẳng,
    chung cho cả lớp.
    – Người học khó có điều kiện
    tìm tòi bởi kiến thức đã sẵn có
    trong sách.
    – GV sử dụng nhiều PP truyền
    thống (thuyết trình, hướng dẫn
    thực hành, trực quan,…)
    các hoạt động. Coi trọng
    hướng dẫn tự tìm tòi.
    – Giáo án được thiết kế phân
    nhánh, có sự phân hóa theo
    trình độ và năng lực.
    – Người học có nhiều cơ hội
    bày tỏ ý kiến, tham gia phản
    biện.
    – GV sử dụng nhiều PPDH tích
    cực (giải quyết vấn đề, tự phát
    hiện, trải nghiệm,…) kết hợp
    PP truyền thống
    4. Về môi
    trƣờng học
    tập
    – Thường sắp xếp cố định
    (theo các dãy bàn) người dạy
    ở vị trí trung tâm
    – Có tính linh hoạt, người dạy
    không luôn luôn ở vị trí trung
    tâm
    5. Về đánh
    giá
    – Tiêu chí đánh giá chủ yếu
    được xây dựng dựa trên kiến
    thức, kĩ năng, thái độ gắn với
    nội dung đã học, chưa quan
    tâm đầy đủ đến khả năng vận
    dụng kiến thức vào thực tiễn.
    – Người dạy thường được toàn
    quyền trong đánh giá
    – Tiêu chí đánh giá dựa vào kết
    quả “đầu ra”, quan tâm tới sự
    tiến bộ của người học, chú
    trọng khả năng vận dụng kiến
    thức đã học vào thực tiễn.
    – Người học được tham gia vào
    đánh giá lẫn nhau

    2.2.2. Nội dung cụ thể và yêu cầu cần đạt ở MÔN TOÁN LỚP 1

    Nội dungYêu cầu cần đạt
    SỐ VÀ PHÉP TÍNH
    Số tự nhiên
    Số tự nhiênĐếm, đọc, viết
    các số trong
    phạm vi 100
    – Đếm, đọc, viết được các số trong phạm vi 10;
    trong phạm vi 20; trong phạm vi 100.
    – Nhận biết được chục và đơn vị, số tròn chục.
    So sánh các số
    trong phạm vi 100
    Nhận biết được cách so sánh, xếp thứ tự các số
    trong phạm vi 100 (ở các nhóm có không quá 4 số).
    Các phép
    tính với số
    tự nhiên
    Phép cộng, phép
    trừ
    – Nhận biết được ý nghĩa của phép cộng, phép trừ.
    – Thực hiện được phép cộng, phép trừ (không
    nhớ) các số trong phạm vi 100.
    – Làm quen với việc thực hiện tính toán trong

    9

    Nội dungYêu cầu cần đạt
    trường hợp có hai dấu phép tính cộng, trừ (theo
    thứ tự từ trái sang phải).
    Tính nhẩm– Thực hiện được việc cộng, trừ nhẩm trong
    phạm vi 10.
    – Thực hiện được việc cộng, trừ nhẩm các số
    tròn chục.
    Thực hành giải
    quyết vấn đề liên
    quan đến các
    phép tính cộng,
    trừ
    – Nhận biết được ý nghĩa thực tiễn của phép
    tính (cộng, trừ) thông qua tranh ảnh, hình vẽ
    hoặc tình huống thực tiễn.
    – Nhận biết và viết được phép tính (cộng, trừ)
    phù hợp với câu trả lời của bài toán có lời văn
    và tính được kết quả đúng.
    HÌNH HỌC VÀ ĐO LƯỜNG
    Hình học trực quan
    Hình phẳng
    và hình
    khối
    Quan sát, nhận
    biết hình dạng
    của một số hình
    phẳng và hình
    khối đơn giản
    – Nhận biết được vị trí, định hướng trong không
    gian: trên – dưới, phải – trái, trước – sau, ở giữa.
    – Nhận dạng được hình vuông, hình tròn, hình
    tam giác, hình chữ nhật thông qua việc sử dụng
    bộ đồ dùng học tập cá nhân hoặc vật thật.
    – Nhận dạng được khối lập phương, khối hộp
    chữ nhật thông qua việc sử dụng bộ đồ dùng
    học tập cá nhân hoặc vật thật.
    Thực hành lắp
    ghép, xếp hình
    gắn với một số
    hình phẳng và
    hình khối đơn giản
    Nhận biết và thực hiện được việc lắp ghép, xếp
    hình gắn với sử dụng bộ đồ dùng học tập cá
    nhân hoặc vật thật.
    Đo lường
    Đo lườngBiểu tượng về
    đại lượng và
    đơn vị đo đại
    lượng
    – Nhận biết được về “dài hơn”, “ngắn hơn”.
    – Nhận biết được đơn vị đo độ dài: cm (xăng-ti
    mét); đọc và viết được số đo độ dài trong phạm
    vi 100cm.
    – Nhận biết được mỗi tuần lễ có 7 ngày và tên
    gọi, thứ tự các ngày trong tuần lễ.
    – Nhận biết được giờ đúng trên đồng hồ.
    Thực hành đo
    đại lượng
    – Thực hiện được việc đo và ước lượng độ dài
    theo đơn vị đo tự quy ước (gang tay, bước
    chân,…).

    10

    Nội dungYêu cầu cần đạt
    – Thực hiện được việc đo độ dài bằng thước
    thẳng với đơn vị đo là cm.
    – Thực hiện được việc đọc giờ đúng trên đồng hồ.
    – Xác định được thứ, ngày trong tuần khi xem
    lịch (loại lịch tờ hàng ngày).
    – Giải quyết được một số vấn đề thực tiễn đơn
    giản liên quan đến đo độ dài, đọc giờ đúng và
    xem lịch (loại lịch tờ hằng ngày).
    HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH VÀ TRẢI NGHIỆM
    Nhà trường tổ chức cho học sinh một số hoạt động sau và có thể bổ sung
    các hoạt động khác tuỳ vào điều kiện cụ thể.
    Hoạt động 1: Thực hành ứng dụng các kiến thức toán học vào thực tiễn, chẳng hạn:
    – Thực hành đếm, nhận biết số, thực hiện phép tính trong một số tình huống thực
    tiễn hằng ngày (ví dụ: đếm số bàn học và số cửa sổ trong lớp học,…).
    – Thực hành các hoạt động liên quan đến vị trí, định hướng không gian (ví dụ:
    xác định được một vật ở trên hoặc dưới mặt bàn, một vật cao hơn hoặc thấp hơn
    vật khác,…).
    – Thực hành đo và ước lượng độ dài một số đồ vật trong thực tế gắn với đơn vị
    đo cm; thực hành đọc giờ đúng trên đồng hồ, xem lịch loại lịch tờ hằng ngày.
    Hoạt động 2: Tổ chức các hoạt động ngoài giờ chính khoá (ví dụ: các trò chơi
    học toán,…) liên quan đến ôn tập, củng cố các kiến thức cơ bản.

    2.2. Giải pháp 2: Xác định nội dung, mục tiêu bài học
    Việc thiết kế một bài học hay một nội dung bài học cụ thể trong chương
    trình Toán Lớp 1 GDPT phải tuân theo các nguyên tắc: xây dựng trên cơ sở phát
    triển phẩm chất, năng lực người học, có tính đến việc lĩnh hội kiến thức, làm chủ
    các kỹ năng và ứng dụng được trong thực tế (hình thành năng lực cốt lõi) của cá
    nhân người học; biểu đạt theo hoạt động học tập chứ không phải theo hoạt động
    giảng dạy; và hướng tới kết quả học tập của đại đa số người học.
    Nội dung dạy học là sự cụ thể hoá của mục tiêu, do đó GV cần xác định
    cụ thể những tri thức, kĩ năng, năng lực cần đạt cho HS.
    – Căn cứ vào chương trình môn học: Do nội dung bài học là sự cụ thể hoá
    nội dung chương trình môn học mà chương trình ( sau đây viết tắt là CT) môn
    học có tính pháp lí nên GV cần bám sát nội dung CT, không dạy cho HS những
    nội dung ngoài CT quy định.
    – Căn cứ vào mục tiêu của bài học đã đề ra: Nội dung phải phù hợp và phục
    vụ cho việc giúp HS đạt được mục tiêu của bài. Ngược lại, nếu nội dung không phù
    hợp với mục tiêu thì năng lực tương ứng cần phát triển cho HS không đạt được.
    – Nội dung bài học cần gắn liền với thực tiễn cuộc sống của HS, thực tiễn
    11
    địa phương, điều kiện tự nhiên, xã hội của đất nước. Những kiến thức thực tiễn
    sẽ giúp HS hiểu rõ hơn bản chất của tri thức khoa học, tạo cho HS có thêm hứng
    thú học tập qua đó góp phần phát triển năng lực thực tiễn.
    – Tăng cường nội dung thực hành, nhất là qua hoạt động ứng dụng được
    HS tiến hành chủ yếu vào thời gian ngoài giờ lên lớp ở gia đình, tại cộng đồng
    dân cư. Những nội dung thực hành này gắn kiến thức, kĩ năng mà HS được hình
    thành qua các tiết học trên lớp với thực tiễn cuộc sống xung quanh mình.
    – Lựa chọn nội dung dạy học vừa sức tính đến cá nhân HS, nhóm, lớp.
    – Khai thác nội dung học tập từ nhiều nguồn thông tin khác nhau. Ngoài
    sách giáo khoa, GV cần khuyến khích HS tìm hiểu nội dung học tập từ các
    nguồn thông tin trong thực tiễn, trên mạng Internet, … Những nội dung thông
    tin này không chỉ được HS tìm kiếm phát hiện mà còn được vận dụng vào cuộc
    sống hàng ngày.
    Như vậy, ở giai đoạn hết lớp 1 HS cần đạt được các yêu cầu về: Đếm,
    đọc, viết được các số trong phạm vi 10; trong phạm vi 20; trong phạm vi 100.
    Nhận biết được chục và đơn vị, số tròn chục. Ở giai đoạn giữa học kỳ 1 HS chỉ
    cần đạt được các yêu cầu về: Đếm, đọc, viết, so sánh các số trong phạm vi 10.
    Trong từng giai đoạn cụ thể như vậy, cần xác định rõ KN tiến trình và các
    biểu hiện hành vi mà HS thể hiện qua các hoạt động học tập:
    Ví dụ: Để có năng lực đếm, đọc, viết các số trong phạm vi 100 HS cần
    phải thể hiện được năng lực thông qua các hoạt động học tập được kiểm soát ở
    các biểu hiện hành vi của hoạt động học tập như sau :
    – Đếm được số lượng các nhóm có đến 100 đồ vật
    – Biểu diễn được kết quả của việc đếm qua số đếm
    – Lấy đúng số lượng đồ vật tương ứng với số đã cho
    – Biết các cách biểu diễn số bằng nhiều cách: bằng chữ số , bằng lời đọc,
    bằng mô hình, biểu diễn qua cấu tạo thập phân,…
    Khi xác định rõ yêu cầu cần đạt về năng lực như vậy, người GV sẽ nhận
    ra nếu HS chỉ đếm vẹt mà không hiểu được nghĩa thực của phép đếm không cảm
    nhận được số lượng thì chưa đạt được yêu cầu. Hoặc nếu HS đếm được nhưng
    không biết dùng số để ghi lại số lượng là kết quả của phép đếm thì cũng chưa có
    năng lực này. Hay nếu như HS chỉ biết xác định số lượng thông qua đếm mà
    không thực hiện được thao tác lấy đúng nhóm đồ vật có số lượng tương ứng với
    một số cho trước thì HS cũng chưa có năng lực này.
    Để đạt được yêu cầu đầu ra đã xác định, GV cần tuân thủ KN tiến
    trình, nghĩa là cần chú ý quá trình HS tư duy, suy nghĩ giải quyết vấn đề để đạt
    được những kết quả mong đợi về KT, KN về hành vi, thái độ… đã xác định.
    Trong yêu cầu về Đếm các số đến 100 vừa phân tích ở trên KN tiến trình thể
    hiện ở việc HS đếm bằng cách nào, chẳng hạn: HS đếm bằng cách đếm lần lượt
    bắt đầu từ một, mỗi vật đếm tương ứng với một số đếm, hay HS đếm lần lượt
    12
    nhưng bắt đầu từ một số nào đó (đếm từ 3; đếm từ 5, đếm từ 10,…), hoặc HS
    đếm cách, đếm xuôi, đếm ngược, đếm thêm, đếm bớt. Với kỹ năng tiến trình
    như vậy thì GV sẽ tổ chức các hoạt động giúp HS học đếm: học đếm lần lượt.
    đếm xuôi, đếm ngược, đếm cách, đếm thêm, đếm bớt và dùng số để ghi lại kết
    quả đếm. GV cũng cần lựa chọn tiến trình dạy đếm phù hợp với trình độ nhận
    thức của HS phù hợp với lô gic của môn học. Chẳng hạn: Dựa trên kinh nghiệm
    trải nghiệm trong cuộc sống HS có đếm các số đến 10, các số đến 20. Bước sang
    các số từ 21 đến 100 HS cần nhận ra những điểm mốc quan trọng trong quá trình
    đếm đó là các số 10, 20,…90, 100. Khái niệm chục, đơn vị khá trừu tượng với
    HS lớp 1 cần được cân nhắc lựa chọn thời điểm và tiến trình dạy học để HS có
    thể tiếp nhận một cách tự nhiên phù hợp với nhận thức của trẻ mà không phải
    học thuộc lòng nhưng không hiểu bản chất. Như vậy, trong dạy học phát triển
    năng lực mạch kiến thức số học vấn đề xác định kết quả đầu ra và kỹ năng tiến
    trình trong mỗi giai đoạn học tập là rất cần thiết. Việc HS suy nghĩ thế nào, giải
    quyết vấn đề ra sao theo tiến trình lô gic nào sẽ giúp GV quyết định hoạt động
    học tập cần thiết phải tổ chức cho học sinh. “Các năng lực cần hình thành và
    phát triển cho người học qua dạy học môn toán trong là: năng lực tư duy; năng
    lực giải quyết vấn đề; năng lực mô hình hóa toán học; năng lực giao tiếp; năng
    lực sử dụng các công cụ Toán học. Tiếp cận về năng lực môn toán theo cách
    nghiên cứu các thành tố của nó cũng là cách tiếp cận phổ biến của các tổ chức
    và các quốc gia trên thế giới. Vì vậy, tôi quan niệm năng lực toán học bao gồm
    các thành tố cốt lõi: năng lực tư duy và lập luận toán học; năng lực mô hình hóa
    toán học; năng lực giải quyết vấn đề toán học; năng lực giao tiếp toán học; năng
    lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán. Ở bậc Tiểu học nói chung và lớp 1
    nói riêng, ta có thể hiểu các thành phần năng lực môn Toán có những biểu hiện
    như sau:
    Do việc hình thành, phát triển các năng lực đòi hỏi sự vận dụng phối hợp
    các kiến thức, kĩ năng,… nên chương trình môn Toán chú ý tới tính tổng thể,
    tính tích hợp Logic khoa học bộ môn không phải là yếu tố duy nhất chi phối việc
    tổ chức nội dung chương trình môn Toán. Chương trình liên quan chặt chẽ đến
    các bình diện văn hóa và hoạt động rộng lớn nhưng không đặt vấn đề chú trọng
    tới việc cung cấp nhiều kiến thức của khoa học toán học mà chú ý lựa chọn, tổ
    chức các nội dung học tập một cách hợp lí, tạo cơ sở cho việc phát triển các
    năng lực của học sinh.
    Như vậy, trong một số trường hợp nào đó, việc mô tả mục tiêu phải đi
    kèm với các dấu hiệu hoặc các chỉ số để làm rõ hơn sự “hiểu”, sự “phát hiện”,
    hay “thực hiện được”… của học sinh.
    13
    Bảng các thuật ngữ mô tả biểu hiện của năng lực môn toán cấp Tiểu học

    Các thành tố
    của năng lực
    môn toán
    Thuật ngữ đƣợc sử dụng
    1. Năng lực tƣ
    duy và lập luận
    toán học
    – Thực hiện được các thao tác tư duy …
    – Biết đặt và trả lời câu hỏi; biết chỉ ra chứng cứ và lập
    luận …
    2. Năng lực mô
    hình hóa toán
    học
    – Sử dụng được các phép toán và công thức số học…
    – Giải quyết được các bài toán liên quan…
    3. Năng lực
    giải quyết vấn
    đề toán học
    – Nhận biết được vấn đề…
    – Nêu được cách thức giải quyết vấn đề.
    – Thực hiện và trình bày được cách thức giải quyết vấn đề.
    – Kiểm tra giải pháp đã thực hiện.
    4. Năng lực
    giao tiếp toán
    học
    – Nghe hiểu, đọc hiểu vấn đề cần giải quyết.
    – Trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) được các nội dung, ý
    tưởng, giải pháp toán học…
    – Biết sử dụng ngôn ngữ toán học…
    5. Năng lực sử
    dụng công cụ,
    phƣơng tiện
    học toán
    – Biết tên gọi, tác dụng, quy cách sử dụng, …
    – Sử dụng các công cụ và phương tiện học toán…
    – Làm quen với máy tính cầm tay, …
    – Bước đầu nhận biết được một số ưu điểm, hạn chế của
    những công cụ, phương tiện hỗ trợ để có cách sử dụng hợp lí.

    Các năng lực toán học này không hoàn toàn độc lập mà liên quan chặt chẽ
    và có phần giao thoa với nhau. Chính vì thế trong việc lựa chọn phương pháp và
    tổ chức dạy học toán ở lớp 1 cần chú ý:
    – Năng lực được hình thành và phát triển thông qua hoạt động học tập
    và trải nghiệm cá nhân. Cần xác định các cơ hội mà môn Toán góp phần hình
    thành và phát triển năng lực cho học sinh (năng lực chung cốt lõi và các năng
    lực toán học với mức độ cần đạt phù hợp ở từng lớp, từng cấp học). Điều đó đòi
    hỏi lựa chọn hệ thống tri thức, kỹ năng đưa vào nhà trường phổ thông phải tạo
    được cơ hội thuận lợi để hình thành phát triển các năng lực cần đạt. Do đó,
    chúng phải được đối chiếu với cấu trúc của các năng lực định hình thành và phát
    triển ở học sinh và cái đích cuối cùng (kết quả đầu ra cần đạt) là phải hình thành
    được các năng lực này ở người học. Trong cấu trúc của CT(sau đây viết tắt là
    CT) môn Toán, các “mạch nội dung” và các “nhánh năng lực” cần liên kết chặt
    chẽ với nhau.
    14
    Như chúng ta đã biết, năng lực được hình thành, phát triển thông qua hoạt
    động và thể hiện ở sự thành công trong hoạt động thực tiễn. Năng lực có thể
    hiểu là sự kết hợp của các kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, thái độ và hành vi của
    một cá nhân để thực hiện một công việc có hiệu quả. Bởi vậy, để phát triển năng
    lực môn Toán cần tổ chức cho học sinh thực hành khám phá, vận dụng, luyện
    tập kiến thức, kĩ năng toán học. Thông thường, người ta cần tìm kiếm các cơ hội
    giúp học sinh phát triển các thành tố của năng lực môn Toán.
    Ví dụ về một tình huống tổ chức các hoạt động nhằm phát triển năng lực
    môn Toán cho học sinh lớp 1:

    Khi học về các phép tính cộng, trừ trong phạm vi
    10, học sinh lớp 1 có bài toán: Xem tranh, viết phép
    tính thích hợp vào ô trống:
    Học sinh thực hiện các thao tác:
    – Quan sát tranh và hình dung được tình huống:
    trên cành có 3 con chim đang đậu, sau đó có thêm 1
    con chim bay tới;
    – Liên hệ phép tính thích hợp với hình (phép
    cộng);
    Hình 1

    – Viết phép tính thích hợp vào ô trống (3 + 1 = 4)
    Từ việc phát triển năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề qua
    quan sát tranh học sinh sẽ viết phép tính thích hợp. Việc viết phép tính cộng
    thích hợp với tình huống tranh vẽ chính là hình thành và phát triển năng lực mô
    hình hóa toán học.
    Ta có thể thay thế việc viết phép tính bằng việc ghép phép tính đó trên bộ
    đồ dùng học tập nếu lớp học có đủ bộ đồ dùng sẽ giúp học sinh phát triển Năng
    lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán .
    – Kiểm tra lại kết quả.
    Qua việc thực hiện bài toán này, học sinh có cơ hội phát triển năng lực
    giải quyết vấn đề toán học.
    Hoặc khi dạy bài “Bảng cộng 1 trong phạm vi 10”, sau khi làm việc
    chung bằng việc dưới sự hướng dẫn của giáo viên, các em thao tác trên que tính
    (trong bộ đồ dùng) để lập được một số phép cộng như :

    1+ 1 = 2
    1+ 2 = 3
    1+ 3 = 4
    1+ 4 = 5

    Giáo viên có thể giao cho các nhóm đôi (2 bạn cùng bàn) thao tác trên que
    tính (phát triển năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán) để tiếp tục lập
    thêm các phép tính 1 cộng với 1 số. Với việc làm này chúng ta phát triển cho
    học sinh Năng lực giao tiếp toán học: các em nghe, hiểu yêu cầu của nhiệm vụ
    học tập, trình bày ý hiểu qua việc thao tác trên que tính để lập được 1 số phép
    cộng theo yêu cầu (khác với những phép cộng đã lập trước đó), năng lực hợp tác
    15
    với bạn để hoàn thành việc nhiệm vụ học tập, bạn thao tác trên que tính, bạn thì
    ghép phép tính,… để lập tiếp các phép cộng như:

    1 + 5 = 6
    1 + 6 = 7
    1 + 7 = 8
    1 + 8 = 9
    1 + 9 = 10

    Học sinh làm việc nhóm đôi với đồ dùng học tập môn toán
    Học sinh làm việc nhóm đôi với đồ dùng học tập môn toán
    – Hơn thế nữa, trong việc thực hiện yêu cầu, các nhóm phải thực hiện
    được các thao tác tư duy (ở mức độ đơn giản), biết quan sát, tìm kiếm sự tương
    đồng và khác biệt trong các phép tính cộng đã lập trước đó.
    Chẳng hạn, khi dạy Bài “ Bảng cộng 6 trong phạm vi 10”, giáo viên yêu
    cầu học sinh thao tác trên que tính và lập thêm các phép cộng 6 trong phạm vi
    10. Với yêu cầu này, các em phải quan sát các phép cộng đã lập trước đó có gì
    giống và khác nhau để lập tiếp phép cộng 6 với một số, biết loại trừ các phép
    cộng đã lập để thao tác lập các phép cộng 1 với một số khác có kết quả trong
    phạm vị 10. Những tình huống quen thuộc và mô tả được kết quả của việc quan
    sát. Đây chính là tạo cơ hội để phát triển cho học sinh Năng lực tư duy và lập
    luận toán học.
    16
    Học sinh lập được các phép cộng 6 trong phạm 10
    – Hoặc ở bài tập dưới đây cần tạo cơ hội phát triển năng lực tư duy và lập
    luận toán học cho học sinh thông qua các việc:
    Hình nào còn thiếu trong ô trống dưới đây?
    HS quan sát tranh, nhận dạng hình và thấy được sự tương đồng: Các hình
    trong tranh đều là hình tam giác.
    – Qua quan sát, HS nhận ra được sự khác biệt: Hình tam giác màu xanh,
    hình tam giác màu vàng, hình tam giác màu đỏ; Kích cỡ của hình tam giác ở các
    màu cũng khác nhau.
    – Từ đó HS suy nghĩ và nhận ra được: Các hình tam giác được sắp xếp
    theo một thứ tự nhất định: Hình màu xanh – hình màu vàng – hình màu đỏ.
    – Qua các thao tác tư duy trên, HS sẽ xác định được hình cần xếp vào
    trong ô trống là hình tam giác màu đỏ và đưa ra được những lí lẽ để lập luận cho
    kết quả tìm được.
    – Tăng cường tính ứng dụng, gắn kết giữa nội dung môn Toán với đời
    sống thực tế hay liên môn, gắn với xu hướng phát triển hiện đại của kinh tế,
    khoa học và đời sống xã hội, góp phần giúp học sinh hình thành, rèn luyện khả
    năng ứng dụng tri thức đã học trong thực tiễn và làm chủ các “kỹ năng sống”.
    Trong thực tế giảng dạy môn toán lớp 1 cho học sinh nhiều năm qua, tôi
    nhận thấy số lượng học sinh biết cách học Toán lớp 1 không nhiều, các em
    thường ỷ lại vào sự hướng dẫn của giáo viên, ít biết vận dụng kiến thức đã học
    vào giải quyết các vấn đề có liên quan trong thực tế cuộc sống. Những bài toán
    dù rất đơn giản nhưng mang tính thực tế thì các em rất ngại suy nghĩ, chưa liên
    hệ được với kiến thức đã học để giải quyết. Các em học sinh và kể cả một số
    phụ huynh cho đó là các nội dung khó trong chương trình toán lớp 1. Trong năm
    học này, khi dạy chương trình Toán 1 – chương trình GDPT 2018, tôi thấy có rất
    nhiều nội dung bài tập mang tính mở, có nội dung gắn với thực tế cuộc sống mà
    các em cần liên hệ kiến thức toán đã học để giải quyết.
    Chính vì thế, với mỗi đơn vị kiến thức, bên cạnh những bài tập mang tính
    17
    ứng dụng, tôi luôn tìm cách để gắn với thực tế cuộc sống, giúp các em thấy toán
    học rất gần gũi, dùng toán để giải quyết nhuwngc vấn đề có trong cuộc sống
    hằng ngày.
    Chẳng hạn khi dạy Bài 72: “So sánh các số có hai chữ số”, tôi có thể cho học
    sinh trả lời 1 số câu hỏi mở rộng liên quan đến thực tế về nội dung kiến thức này.
    + Câu hỏi 1: Lớp mình có bao nhiêu bạn nữ? (19 bạn nữ)
    + Câu hỏi 2: Em hãy cho cô biết lớp mình có bao nhiêu bạn nam? (17 bạn nam)
    + Câu hỏi 3: Số bạn nữ nhiều hơn hay ít hơn số bạn nam?
    Như vậy, để trả lời được câu hỏi số 1, số 2, các em phải có kiến thức thực
    tế: phân biệt ai là bạn nữ, ai là bạn nam trong các bạn của lớp mình; (Với nội
    dung thực tế này, ta thấy có tính liên môn giữa nội dung học tập môn toán với
    nội dung môn tự nhiên và xã hội); các em sẽ phân biệt và đếm riêng số lượng
    được biểu diễn bằng từ lớn hơn (dấu >); quan hệ ít hơn thường được biểu diễn
    bằng từ bé hơn (dấu <). Các em cần tư duy, muốn so sánh số bạn nữ với số bạn
    nam ta cần so sánh 2 số 19 (số học sinh nữ) với số 17 (số học sinh nam).
    – Nội dung dạy học môn Toán, phải đi từ cụ thể đến trừu tượng, từ dễ đến
    khó. Không chỉ coi trọng tính logic của Toán học như một khoa học suy diễn, mà
    cần chú ý cách tiếp cận dựa trên vốn kinh nghiệm và sự trải nghiệm của học sinh.
    Cũng vẫn về Dạy so sánh các số có 2 chữ số, ở Bài 72 thì có thể đưa ví dụ
    mang tính cụ thể, gần gũi, sát thực với các em. Nhưng đến Bài 93: “Ôn tập các
    số trong phạm vi 100” thì nội dung so sánh các số có 2 chữ số lại mang tính trừu
    tượng mà vẫn gắn với thực tiễn cuộc sống.
    Ví dụ: Bài 5 trang 96 sách Toán 1, tập 2 – Vì sự bình đẳng và dân chủ
    trong trường học.
    Rõ ràng với số lượng 79 cây quýt, 92 cây cam và 85 cây bưởi thì các em
    không thể đếm cụ thể từng cây được; muốn Điền Đ/ S vào từng ô trống thứ nhất
    ở phần a thì các em phải hiểu ít hơn là bé hơn khi so sánh 2 số lượng cây quýt và
    cây cam.
    18
    Tương tự như việc so sánh số lượng (92) cây cam có nhiều hơn (lớn hơn)
    số lượng (85) cây bưởi hay không?
    Hay việc so sánh số lượng (85) cây bưởi có bằng số lượng (79) cây quýt
    hay không? Nếu em so sánh 2 số đó không bằng nhau thì có ý nhận xét 2 số
    lượng cây đó không bằng nhau để điiền chữ S vào ô trồng thứ 3.
    Nếu như ở phần a, các em chỉ cần so sánh nhóm 2 số có 2 chữ số để có
    thể làm bài thì ở phần b các em phải so sánh nhóm 3 số có 2 chữ số để nhận ra
    loại cây nào có số lượng nhiều nhất (tương ứng với số lớn nhất), loại cây nào có
    số lượng ít nhất (tương ứng với số nhỏ nhất) trong nhóm 3 số đó. Rõ ràng mức
    độ khó đã được tăng dần và trừu tượng hơn so với việc so sánh số bạn nam với
    số bạn nữ của lớp.
    Tăng cường tính ứng dụng của nội dung giáo dục toán học trong nhà
    trường. Điều này có nghĩa là đảm bảo một cách hài hòa và thích hợp giữa nội
    dung giáo dục toán học mang tính hàn lâm với nội dung giáo dục toán học gắn
    với đời sống thực tế của học sinh và gắn với xu hướng phát triển hiện đại của
    kinh tế, khoa học và đời sống xã hội, gắn bó mật thiết với việc góp phần giúp
    học sinh hình thành, rèn luyện và làm chủ các “kỹ năng sống”.
    – Việc rèn luyện phương pháp học tập có ý nghĩa quan trọng. Việc kiểm
    tra đánh giá không chỉ kiểm tra khả năng tái hiện tri thức mà định hướng vào
    khả năng vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn.
    2.3 Giải pháp 3: Lựa chọn phương pháp, kĩ thuật và hình thức dạy học phát
    triển phẩm chất và năng lực học sinh
    Sau khi xác định được mục tiêu, nội dung bài học, GV cần lựa chọn và
    vận dụng phương pháp dạy học (PPDH) thích hợp sao cho giúp HS giải quyết
    được các nhiệm vụ học tập, chiếm lĩnh được nội dung tương ứng và từ đó đạt
    được mục tiêu phát triển năng lực của bản thân.
    Trong dạy học, điều quan trọng nhất là HS giải quyết được những nhiệm
    vụ học tập gì, chiếm lĩnh được nội dung đó như thế nào, tức là phát triển được
    những năng lực gì. Do đó, có thể khẳng định quá trình học tập quan trọng hơn
    kết quả học tập vì quá trình học tập phù hợp sẽ dẫn đến kết quả học tập đúng
    đắn, còn kết quả đúng chưa hẳn đã đảm bảo được phát triển năng lực HS. PPDH
    phản ánh quá trình học tập của HS. Vì vậy cần coi PPDH là yếu tố cốt lõi ảnh
    hưởng mạnh mẽ đến phát triển năng lực HS.
    Nguyên tắc khi lựa chọn PPDH phải góp phần phát triển năng lực của HS,
    đạt được mục tiêu của bài học. Do đó, khi lựa chọn PPDH cần quán triệt các
    quan điểm sau:
    – Chú trọng đến dạy HS cách học và phát triển khả năng tự học của HS.
    Về bản chất, dạy học là quá trình HS biến những giá trị xã hội thành giá
    trị cá nhân dưới sự tổ chức, điếu khiển, hướng dẫn của GV. Do đó, để bảo đảm
    học tập thành công, HS phải có phương pháp tự học đúng đắn.
    Tự học của HS phải được tổ chức theo con đường hợp lí sao cho phù hợp
    19
    với logic khoa học của môn học và logic nhận thức của các em. Việc tự học của
    HS chủ yếu được tiến hành theo hình thức nhóm và cá nhân với sự hỗ trợ của
    những tài liệu, phương tiện, đổ dùng dạy học thích hợp.
    Tự học của HS không chỉ được thực hiện trên lớp, mà còn ở thư viện, gia
    đình (qua sách, báo, tạp chí, mạng internet…), ngoài xã hội (quan sát, điều tra
    những sự vật, hiện tượng có trong thực tiễn…) để mở rộng, làm giàu kiến thức,
    kinh nghiệm của mình và phát triển các năng lực tự học.
    – Thiết kế, tổ chức một chuỗi các hoạt động học tập cho HS.
    Những hoạt động được thiết kế, tổ chức phải là của HS, dành cho HS
    (nhằm mục tiêu phát triển năng lực HS với những PPDH mang tính thực hành.
    Khi đó, HS cần sử dụng các giác quan khác nhau, trải nghiệm thực tiễn cuộc
    sống, khái quát những cảm nhận thông thường thành tri thức khoa học, đối chiếu
    tri thức được học qua các môn học với thực tiễn phong phú.
    – Coi trọng việc phát triển tư duy của HS
    Trong dạy học, việc phát triển tư duy HS là cực kì quan trọng, bởi lẽ, nhờ
    có tư duy mà HS mới có khả năng tự tìm tòi, phát hiện, tự làm giàu vốn kiến
    thức của mình, tự vận dụng vào thực tiễn cuộc sống, làm chủ được bản thân
    trong môi trường cuộc sống đa dạng, nhờ đó, các em phát triển được các năng
    lực khác. Do đó, bài học phát triển năng lực HS không cho phép GV truyền đạt
    kiến thức, đưa ra các dạng bài mẫu để HS làm theo mà đòi hỏi phải tổ chức cho
    HS phát hiện và giải quyết vấn đề.
    Quán triệt các quan điểm trên, khi thiết kế và tổ chức một bài học, GV cần
    lựa chọn và vận dụng PP trên cơ sở căn cứ vào những yếu tố sau:
    – Căn cứ vào mục tiêu bài học đã xác định: Vì mục tiêu bài học là phát
    triển năng lực HS nên những PPDH được lựa chọn cần phát huy được tính tích
    cực học tập của HS, phát huy được vai trò chủ thể của HS trong quá trình học
    tập.
    – Căn cứ vào nội dung bài học đã dự kiến: Nội dung được cụ thể hoá qua
    các hoạt động học tập của HS (khởi động (trải nghiệm), phân tích khám phá rút
    ra kiến thức, thực hành – luyện tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn).
    – Căn cứ vào khả năng, trình độ nhân thức của mỗi HS trong lớp. Ở mỗi
    lớp, HS có những kinh nghiệm, khả năng tham gia thực hiện các nhiệm vụ học
    tập liên quan đến PPDH đã từng được vận dụng, ví như trò chơi – có lớp HS đã
    quen với việc tham gia, thực hiện, có thể có lớp chưa từng biết tới. Khi đó, việc
    vận dụng PP trò chơi đối với những lớp đã có kinh nghiệm rõ ràng thuận lợi
    hơn. Hơn nữa, với những lớp có nhiều kinh nghiệm hên quan, tác động của GV
    đến HS “mờ nhạt” hơn so với những lớp thiếu kinh nghiệm đó. Khi đó, đối với
    những lớp thiếu kinh nghiệm, GV cần hướng dẫn các em một cách tỉ mỉ, chi tiết,
    cụ thể hơn…
    – Căn cứ vào phương tiện, cơ sở vật chất phục vụ cho việc tổ chức bài học:
    Việc vận dụng PPDH phát triển năng lực HS thường phải có những phương tiện,
    cơ sở vật chất nhất. Những phương tiện dạy học này chủ yếu dành cho HS (tranh
    20
    ảnh, sơ đồ, mẫu vật, đồ dùng thí nghiệm, máy tính, máy chiếu…) nhằm giúp HS
    sử dụng chúng, vận dụng các thao tác tư duy (như phân tích, tổng hợp, so sánh,
    khái quát hoá…) để phát hiện, tìm ra tri thức mới, hình thành kĩ năng, bày tỏ thái
    độ và từ đó, phát triển các năng lực.
    – Căn cứ vào thời gian thực hiện bài học: Theo quy định hiện hành, mỗi
    tiết học được thực hiện trong khoảng 35 – 40 phút và được GV phân phối hợp lí
    cho từng hoạt động của tiết. Tuỳ thuộc vào quỹ thời gian dành cho hoạt động và
    nội dung bài học, GV vận dụng PPDH tương ứng sao cho phù hợp và hiệu quà.
    – Căn cứ vào điều kiện thực tiễn cuộc sống địa phương phục vụ bài học:
    Những yếu tố liên quan đến điều kiện thực tiễn cuộc sống địa phương (các sự
    vật, sự việc, hiện tượng) cần thiết cho việc tổ chức các hoạt động khác nhau và
    nhất là hoạt động vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn cuộc sống. Khi đó,
    GV cần cân nhắc: HS sẽ tham gia và thực hiện hoạt động gì? Tổ chức hoạt động
    này, cần những điều kiện thực tiễn gì? Cần vận dụng PPDH tương ứng nào để
    thực hiện được hoạt động?
    – Lựa chọn và vận dụng hình thức tổ chức dạy học phát triển năng lực HS
    Hình thức tổ chức dạy học là biểu hiện bên ngoài của hạot động phối hợp
    giữa GV và HS. Chúng được phối hợp với nhau bởi quy mô HS tham gia dạy
    họcc cá nhân, theo nhóm, cả lớp), không gian (dạy học trong lớp, tại hiện
    trường, …), thời gian tiến hành (dạy học nội khoá, ngoại khoá), loại hình, hình
    thức hoạt động cụ thể được tổ chức (trò chơi, tham quan, câu lạc bộ,…)
    Những hình thức tổ chức dạy học cần được chú trọng vận dụng trong quá
    trình dạy học phát triển năng lực HS:
    Dạy học theo nhóm nhỏ là hình thức tổ chức dạy học, mà những HS trong
    nhóm nhỏ tương tác với nhau để thực hiện nhiệm vụ học tập chung của mình.
    GV tổ chức lớp học thành các nhóm nhỏ, giao nhiệm vụ học tập để HS
    cùng nhau thực hiện và từ đó, chiếm lĩnh được nội dung bài học và phát triển
    được năng lực. Qua hoạt động nhóm, HS tiểu học phát huy được tính tích cực,
    chủ động, sáng tạo, phát triển tư duy, trí tuệ của mình, phát triển các năng lực và
    những phẩm chất tốt đẹp phát triển những kĩ năng sống quan trọng (biết lập kế
    hoạch công việc của mình, biết hợp tác và phối hợp với những người xung
    quanh, biết đánh giá việc thực hiện sau khi hoàn thành nhiệm vụ).
    Khi vận dụng hình thức này, GV cần:
    – Xác định mục tiêu của hoạt động: Mục tiêu của hoạt động nhóm phải cụ
    thể hoá, tương ứng, phục vụ mục tiêu phát triển năng lực của bài học đã xác
    định. Cần tránh các hiện tượng: mục tiêu bài học một đằng và mục tiêu hoạt
    động nhóm một nẻo; mục tiêu hoạt động nhóm không phải là năng lực; mục tiêu
    không rõ ràng, khó đánh giá…
    – Lựa chọn nội dung phù hợp: Nội dung phải cụ thể hoá mục tiêu phát
    triển năng lực của hoạt động nhóm đã xác định. Để bảo đảm hiệu quả hoạt động,
    nội dung phải vừa sức và hấp dẫn với HS tiểu học. Cần tránh các hiện tượng
    như: mục tiêu và nội dung thiếu thống nhất với nhau.
    21
    – Vận dụng PPDH tích cực: Để giúp HS đạt được mục tiêu phát triển
    năng lực, nhất thiết phải vận dụng các PP với vai trò chủ thể tích cực của HS.
    Bên cạnh đó, GV cần tính đến những phương tiện, đồ dùng học tập cần thiết
    nhằm nâng cao hiệu quả của PPDH được vận dụng.
    – Tổ chức nhóm phù hợp: Tuỳ thuộc vào mục tiêu, nội dung và PPDH đã
    xác định, tính chất của hoạt động được tổ chức, cần tổ chức nhóm phù hợp về
    quy mô, số lượng HS trong nhóm, trình độ nhóm và trình độ HS trong nhóm,
    cách chia nhóm, nhiệm vụ nhóm trưởng, thư kí, vị trí ngồi của HS trong nhóm…
    – Giao nhiệm vụ một cách rõ ràng, bảo đảm rằng tất cả các nhóm, mọi HS
    trong các nhóm đều hiểu rõ nhiệm vụ. Sau khi giao nhiệm vụ, GV nên yêu cầu
    một hoặc vài HS nhắc lại nhiệm vụ để chắc chắn rằng HS đã hiểu. Ngoài ra, HS
    cũng cần biết hoạt động nhóm sẽ được đánh giá như thế nào? Cần tránh các hiện
    tượng: nhiệm vụ nêu ra không rõ ràng, HS không biết cách thực hiện…
    – Kiểm soát, giám sát hoạt động của các nhóm: Cần bảo đảm rằng, GV
    kiểm soát được tình hình hoạt động của các nhóm HS. Khi đó, GV cần đi vòng
    quanh, tiếp cận các nhóm, theo dõi, quan sát hoạt động diễn ra, điều chỉnh, giúp
    đỡ khi cần thiết, động viên và khuyến khích HS làm việc.
    Tổ chức cho HS trình bàỵ, báo cáo kết quả hoạt động nhóm: Việc trình
    bày, báo cáo kết quả hoạt động nhóm có thể được thực hiện qua các hình thức
    khác nhau.
    Đánh giá và tạo điều kiện cho HS tự đánh giá hoạt động của nhóm: Sau
    khi hoạt động nhóm kết thúc, GV cần đánh giá và tạo điều kiện, khuyến khích
    HS tự đánh giá quá trình làm việc nhóm của mình.
    Dạy học cá nhân là hình thức tổ chức dạy học được thực hiện trên cơ sở
    tương tác trực tiếp giữa GV và một cá nhân HS.
    Dạy học cá nhân mang lại hiệu quả cao trong việc phát triển năng lực HS vì:
    – Mỗi HS trong lớp có sự khác biệt về trình độ, trí thông minh, năng lực nhận
    thức, sự phát triển tư duy, hứng thú học tập, nhu cầu mở rộng hiểu biết, điều
    kiện học tập của riêng mình… Do đó, dạy học phát triển năng lực sẽ có hiệu quả
    hơn nếu phù hợp với tốc độ, cường độ, tiến độ, điều kiện học tập của mỗi HS.
    – DH phát triển năng lực sẽ có hiệu quả cao nếu GV xác định chính xác
    “vùng phát triển hiện tại” của mỗi HS và tác động phù hợp đến “vùng phát triển
    gần nhất” của cá nhân đó, giúp từng HS thành công trong học tập.
    – Sự tương tác trực tiếp giữa GV và cá nhân HS tiểu học giúp cho GV xác
    định được những đặc điểm riêng, nhất là học lực, trí thông minh, năng lực, tư
    duy, hứng thú…, và từ đó, GV có sự tác động riêng đến HS đó; nhờ vậy có thể
    nâng cao kết quả học tập, phát triển tư duy, năng lực của HS. Thông qua các
    hoạt động học tập, giáo viên tạo cơ hội để học sinh bộc lộ những điểm mạnh,
    điểm khác biệt ở mỗi em.
    22
    2.4 Giải pháp 4: Sử dụng hiệu quả Sách giáo khoa và Thiết bị dạy học môn
    Toán lớp 1:
    2.4.1 Sách giáo khoa
    Với quan điểm Chương trình 2018 là pháp lệnh, Sách giáo khoa là công
    cụ thực hiện mục tiêu cần đạt của chương trình vì vậy GV có thể thay thế, bổ
    sung ngữ liệu cho phù hợp đối tượng học sinh và điều kiện nhà trường.
    Trên cơ sở nắm chắc nội dung chương trình môn Toán, tôi đã tìm hiểu
    những điểm mới cơ bản trong sách giáo khoa Toán 1 năm học 2020-2021 để sử
    dụng sách có hiệu quả trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học. Đó là:
    1) Hình thức trình bày: chia thành 2 tập là Toán 1 tập một và Toán 1 tập 2.
    2) Thời lượng chỉ còn 3 tiết toán/tuần.
    3) Có hai mạch kiến thức:
    + Số và phép tính
    + Hình học và đo lường
    và Hoạt động trải nghiệm Toán học.
    Nội dung Giải toán có lời văn lồng ghép khi dạy về phép tính.
    4) Nội dung 100 bài chia thành 5 chủ đề. 5 bài còn lại dành cho ôn tập
    kiểm tra hoặc những ngày nghỉ lễ, Tết trùng hoặc nghỉ do thiên tai.
    5) Chủ đề: “Các số đến 10”
    – Hình thành theo từng nhóm 3 số: Số 1,2,3; Số 4,5,6; Số 7,8,9; Số 0, Số 10.
    – Dạy lập số theo bản số chứ không dạy theo cách thêm 1 như ở CT hiện
    hành. (cũ: số 7 dạy từ việc đã học số 6, 6 thêm 1 bằng 7)
    – Dành 1 tiết dạy tách số, 1 tiết dạy đếm đến 9.
    6) Các số có 2 chữ số trình bày ngắn gọn lại, cụ thể:
    – Các số trong phạm vi 20.
    – Các số tròn chục.
    – Các số có 2 chữ số ( có chữ số tận cùng khác chữ số 1,4,5)
    – Các số có 2 chữ số ( có chữ số tận cùng là chữ số 1,4,5)
    7) Dạy các bảng cộng theo cấu trúc bảng nhân.
    8) Dạy các bảng cộng, trừ trong bảng không yêu cầu đặt tính cột dọc. Chỉ
    yêu cầu đặt tính cột dọc khi dạy phép cộng, trừ có số có 2 chữ số.
    9) Khi dạy bài dạng tính có 2 phép tính trình bày theo hàng ngang. VD:
    1+2+1 = 3 +1= 4
    10) Khi dạy Giải bài toán bằng 1 phép tính cộng ( trừ) không nhớ trong
    phạm vi 100: HS không phải trình bày bài giải, chỉ cần viết và tính đúng kết quả
    (nêu câu trả lời)
    23
    11) Các hoạt động trải nghiệm toán học được thiết kế thành 4 chủ đề trong
    4 tiết học ở Toán 1 tập 2.
    12) Tăng cường tính tích cực của HS trong học tập: Các hình ảnh trong
    SGK Toán 1 chỉ mang tính minh họa để Gv tham khảo, không áp đặt.
    13) Hệ thống các bài toán mở. Bài toán có nhiều cách giải hoặc nhiều đáp
    án tạo cơ hội cho HS phát huy tính sáng tạo, phát triển tư duy toán học, đáp ứng
    yêu cầu dạy học phân hóa.
    14) Các bài về lắp ghép hình đều xuất phát từ Bộ con giống hình học
    trong bộ đồ dùng dạy học tạo điều kiện cho học sinh hoạt động trải nghiệm.
    15) Logo “ Em học xong bài này”Được thiết lập sau mỗi tiết học trong
    SGK
    16) Nội dung luyện tập ở SGK Toán 1 được biên soạn trong cuốn vở bài
    tập toán 1 theo từng tiết tương ứng . HS không viết, vẽ, nối vào SGK toán.
    17) Mạch Hình học: Có thêm nhận diện khối lập phương, khối hộp chữ nhật.
    18) Thay đổi về cách viết các số đo đại lượng: giữa số đo và đơn vị đo có
    1 dấu cách (không viết liền) chẳng hạn: 15 cm thay cho 15cm.
    Khi đã nắm chắc các điểm mới về chương trình và sách giáo khoa Toán
    1 chương trình GDPT 2018, tôi đã có những lưu ý khi thực hiện nội dung
    chương trình.
    Ví dụ như:
    * Với ưu điểm của sách giáo khoa Toán 1 Chương trình GDPT 2018 là có
    ghi nội dung logo “Em học xong bài này”, tôi đã tư vấn cho cha mẹ học sinh dựa
    vào đó để kiểm tra xem con mình đã đạt được yêu cầu cần đạt của bài học chưa.
    Hay với chính bản thân các em ở thời điểm cuối năm học sẽ tự đối chiếu với yêu
    cầu cần đạt để tự đánh giá hoặc đánh giá bạn.
    * Ở mạch Hình học: chương trình Toán 1 có thêm nội dung nhận diện khối
    lập phương, khối hộp chữ nhật, tôi đã sưu tầm thêm các đồ vật quen thuộc với học
    sinh có dạng khối hộp đó như con súc sắc, hộp mứt tết, hộp bánh, viên gạch xây
    nhà, hộp phấn, … cho học sinh dễ nhận diện và làm quen. Trên cơ sở đó học sinh có
    sự phân biệt cơ bản ban đầu giữa hình chữ nhật/ khối hộp chữ nhật; hình vuông /
    khối lập phương.
    * Đồng hành cùng sách giáo khoa Toán 1 là Vở bài tập toán 1. Đây là một
    tài liệu bổ trợ rất hữu ích giúp cho học sinh hoàn thành yêu cầu học tập môn
    toán. Cuốn vở này giúp giảm bớt rất nhiều thời gian phải chép lại đề bài, hơn
    nữa ở giai đoạn học kì I, học sinh chưa biết viết hoặc kẻ vẽ lại các yêu cầu của
    đề bài.
    Tuy nhiên giáo viên cần chú ý một số yêu cầu cho phù hợp (Thay yêu cầu
    ở sách giáo khoa vì học sinh không được viết vào sách mà hoàn thành nội dung
    đó trong vở bài t

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số biện pháp giúp phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1

    SKKN Một số biện pháp giúp phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
    Theo mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông 2018 thì chương trình
    giáo dục tiểu học giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản
    đặt nền móng cho sự phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, phẩm chất và
    năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng
    và những thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt.
    Bên cạnh đó, môn Tự nhiên và Xã hội là môn học bắt buộc ở các lớp 1, 2, 3
    được xây dựng dựa trên nền tảng khoa học cơ bản, ban đầu về tự nhiên và xã
    hội. Môn học cung cấp cơ sở quan trọng cho việc học tập các môn Khoa học,
    Lịch sử và Địa lí ở lớp 4, lớp 5 và các môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội ở
    các cấp học trên. Môn học coi trọng việc tổ chức cho học sinh trải nghiệm thực
    tế, tạo cho học sinh cơ hội tìm hiểu, khám phá thế giới tự nhiên và xã hội xung
    quanh; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn, học cách ứng xử phù
    hợp với tự nhiên và xã hội.
    Theo Luật giáo dục năm 2019 thì mục tiêu giáo dục là nhằm phát triển toàn
    diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hoá, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề
    nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần
    dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy
    tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn
    nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ
    quốc và hội nhập quốc tế.
    Như vậy có thể thấy môn Tự nhiên và Xã hội đóng vai trò quan trọng trong
    việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Nó góp phần hình thành và phát triển ở học
    sinh tình yêu con người, thiên nhiên; đức tính chăm chỉ; ý thức tiết kiệm, giữ
    gìn, bảo vệ tài sản; tinh thần trách nhiệm với môi trường sống; các năng lực
    chung và năng lực khoa học.
    Thực tế cho thấy, việc hình thành, phát triển năng lực và phẩm chất cho
    học sinh thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 chưa bao giờ là điều
    đơn giản. Đây luôn là vấn đề trăn trở của hầu hết các giáo viên trong quá trình
    giảng dạy môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1.
    2
    Năm học 2020 – 2021 là năm học đầu tiên thực hiện chương trình giáo dục
    phổ thông 2018 trong đó có môn Tự nhiên và Xã hội nên giáo viên sẽ gặp một
    số khó khăn ban đầu trong cách tiếp cận, triển khai chương trình.
    Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp phát triển
    năng lực và phẩm chất cho học sinh thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã
    hội lớp 1”
    II. Mô tả giải pháp kĩ thuật:
    II.1. Mô tả giải pháp kĩ thuật trƣớc khi tạo ra sáng kiến
    Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội trong chương trình giáo dục phổ
    thông 2018 nhằm góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu,
    năng lực chung và năng lực khoa học cho học sinh lớp 1.
    Môn Tự nhiên và Xã hội là môn học về các sự vật, hiện tượng của môi
    trường tự nhiên và xã hội xung quanh. Môn học cần trang bị cho học sinh những
    hiểu biết khoa học ban đầu làm cơ sở cho việc học tập các môn học khác và ở
    các lớp, cấp học trên. Đồng thời việc học tập môn học cũng giúp học sinh có
    thêm kinh nghiệm, kiến thức để áp dụng vào cuộc sống bản thân ở gia đình,
    trường học và cộng đồng. Do đó, giáo viên có thể khai thác vốn sống của học
    sinh ở các mức độ khác nhau giúp các em tham gia vào bài học và từng bước áp
    dụng được những kiến thức đã học vào cuộc sống. Giáo viên có thể khai thác
    điều kiện tự nhiên, xã hội của địa phương để tổ chức cho học sinh ở mọi vùng
    miền của đất nước được học tập thông qua chính cuộc sống của bản thân, gia
    đình và cộng đồng của mình. Để giúp phát triển năng lực và phẩm chất cho học
    sinh thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 ở trường Tiểu học Trần
    Quốc Toản bước đầu tôi gặp một số thuận lợi và khó khăn như sau:
    Thuận lợi
    Trường Tiểu học Trần Quốc Toản là một cơ sở giáo dục chất lượng cao của
    Thành phố Nam Định, được trang bị cơ sở vật chất đầy đủ, đáp ứng được nhu
    cầu dạy học theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, đặc biệt là trang bị
    đồng bộ hệ thống máy tính, máy chiếu, đường truyền mạng ổn định giúp cho tôi
    thuận lợi hơn trong việc sử dụng học liệu điện tử khi giảng dạy.
    3
    Năm học 2020 – 2021 là năm học đầu tiên áp dụng giảng dạy theo chương
    trình giáo dục phổ thông 2018 được xây dựng theo hướng mở. Chương trình
    giáo dục phổ thông mới cấp tiểu học theo định hướng vừa hình thành kiến thức,
    vừa phát triển năng lực, phẩm chất học sinh tiểu học; dạy học không chỉ cung
    cấp kiến thức mà phải phát triển hài hòa cả phẩm chất và năng lực. Trong
    chương trình Giáo dục phổ thông mới thì 3 yếu tố này được hình thành và phát
    triển hài hòa trong một đứa trẻ và vững như „kiềng 3 chân”, nếu chỉ thiếu hay
    coi nhẹ một yếu tố thì sẽ không phát triển hài hòa đối với quá trình phát triển
    nhân cách, tư duy của học sinh tiểu học.
    Năm học 2020 – 2021 là năm học nhà trường và giáo viên được chủ động
    trong việc lựa chọn sách giáo khoa. Bên cạnh đó chương trình môn Tự nhiên và
    Xã hội mới giao quyền chủ động cho nhà trường và giáo viên; cho phép giáo
    viên được lựa chọn đối tượng học tập sẵn có ở địa phương để dạy học nhưng
    vẫn đảm bảo mục tiêu chương trình. Ngoài ra, chương trình mở còn cho phép
    giáo viên có thể thay đổi thứ tự các chủ đề học tập, đặt ra các tiêu đề bài học
    trong mỗi chủ đề, xác định thời gian và điều chỉnh thời lượng học tập cho mỗi
    chủ đề cho phù hợp với thực tế địa phương, điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị của
    nhà trường. Đây cũng là năm học mà đội ngũ giáo viên được tham gia học tập
    bồi dưỡng, nâng cao năng lực tổ chức hoạt động dạy học, trong đó có bồi dưỡng
    kĩ năng sư phạm để hiểu được những yêu cầu, nội dung của chương trình mới,
    làm quen với quan điểm, cách thức, cấu trúc biên soạn sách giáo khoa mới và
    cách tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh. Giáo viên được tập huấn trực
    diện và cụ thể thông qua các hoạt động, được kết hợp sử dụng các băng hình
    minh họa cách tổ chức các hoạt động dạy học theo sách giáo khoa mới.
    Đặc biệt là trong năm học 2020 – 2021, giáo viên được hỗ trợ tiếp cận với
    việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy qua các trang học liệu điện
    tử có sẵn các hình ảnh, video, trò chơi học tập trong bài học giúp tăng hứng thú
    trong học tập của học sinh, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho giáo viên trong quá
    trình giảng dạy.
    4
    Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, môn Tự nhiên và xã hội lớp 1
    được quán triệt theo hướng phát triển năng lực cho học sinh. Môn học chú trọng
    khai thác những kiến thức, kinh nghiệm ban đầu của học sinh về cuộc sống xung
    quanh; chú trọng phát huy trí tò mò khoa học, hướng đến sự phát triển các mối
    quan hệ tích cực của học sinh với môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh;
    hướng dẫn học sinh cách đặt câu hỏi, cách thu thập thông tin và tìm kiếm các
    bằng chứng, cách vận dụng các thông tin, bằng chứng thu thập được để đưa ra
    những nhận xét, kết luận mang tính khách quan, khoa học; tăng cường tổ chức
    các hoạt động tìm tòi, khám phá, liên hệ, vận dụng gắn với thực tiễn cuộc sống
    xung quanh, qua đó học sinh học cách giải quyết một số vấn đề đơn giản thường
    gặp; ứng xử thích hợp liên quan đến sức khoẻ, sự an toàn của bản thân và những
    người xung quanh; bảo vệ môi trường sống; chú trọng thực hiện nội dung giáo
    dục thông qua các trò chơi, các hoạt động đóng vai, trao đổi, thảo luận, thực
    hành, tìm tòi, điều tra đơn giản, từ đó tăng kỹ năng hợp tác, giao tiếp, tự tin
    trong việc phát biểu các ý tưởng, trình bày các sản phẩm học tập.
    Trong những năm trở lại đây có nhiều dự án, mô hình dạy học mới được áp
    dụng và nhân rộng ở nước ta, giúp giáo viên được làm quen và áp dụng các cách
    tiếp cận, phương pháp và kĩ thuật dạy học hiện đại. Các cách tiếp cận, phương
    pháp, kĩ thuật dạy học mới đó hoàn toàn phù hợp trong việc dạy học theo chương
    trình và sách giáo khoa mới. Nói cách khác giáo viên sẽ không bỡ ngỡ với các
    phương pháp dạy học theo sách giáo khoa mới. Đặc biệt các bộ sách giáo khoa mới
    được thiết kế với các hoạt động cụ thể giáo viên có thể dễ dàng thực hiện.
    Năm học 2020 – 2021 tôi được phân công dạy học môn Tự nhiên và Xã hội
    khối 1, chính vì vậy tôi nhận thấy bản thân có nhiều cơ hội hơn để đầu tư tìm
    hiểu nghiên cứu môn học, hiểu sâu hơn về nội dung cũng như phương pháp dạy
    học môn học. Và đặc biệt cũng được dạy nhiều giờ học với nhiều đối tượng học
    sinh nên tôi được “cọ sát” nhiều hơn.
    Việc phụ huynh đang bước đầu có sự thay đổi trong việc không còn phân
    biệt môn chính, môn phụ ở cấp Tiểu học là một thuận lợi vô cùng to lớn góp
    phần giúp giáo viên đạt được hiệu quả cao hơn trong giảng dạy. Tự nhiên và Xã
    5
    hội là môn học về các sự vật, hiện tượng cụ thể gần gũi với học sinh nên học
    sinh có nhiều kinh nghiệm và vốn sống để tham gia tìm hiểu, khám phá nội dung
    bài học. Ở các giờ học môn học này, học sinh được phát huy tối đa tính tích cực,
    tính sáng tạo của mình. Vì vậy, học sinh luôn yêu thích môn học và các giờ học
    tự nhiên và xã hội.
    Qua trao đổi với đồng nghiệp, phụ huynh học sinh và học sinh, tôi nhận thấy
    cả giáo viên, phụ huynh và học sinh đều mong muốn được dạy – học môn Tự nhiên
    và Xã hội nhiều hơn. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 có quy định thời
    lượng giảng dạy môn Tự nhiên và Xã hội ở cấp tiểu học là 2 tiết/tuần, tăng 1 tiết/
    tuần so với chương trình năm 2000. Đây là một điều kiện thuận lợi giúp giáo viên
    có nhiều thời gian hơn để cung cấp kiến thức, rèn luyện năng lực và phẩm chất cho
    học sinh thông qua quá trình dạy học môn học này. Việc học tập môn học Tự nhiên
    và Xã hội theo chương trình mới sẽ dễ dàng giúp học sinh được hình thành và phát
    triển các kĩ năng sống, là tiền đề cho việc hình thành các phẩm chất và năng lực
    theo định hướng của chương trình giáo dục phổ thông 2018.
    Khó khăn
    Năm học 2020 – 2021 là năm học đầu tiên thực hiện chương trình giáo dục
    phổ thông 2018 trong đó có môn Tự nhiên và Xã hội. Bên cạnh đó chương trình
    môn Tự nhiên và Xã hội mới được xây dựng trên cơ sở định hướng tiếp cận
    năng lực, có một số nội dung kiến thức mới nên giáo viên sẽ gặp một số khó
    khăn ban đầu trong cách tiếp cận, triển khai chương trình.
    Năm học 2020 – 2021 cũng là một năm học đầy biến động với đại dịch
    Covid-19 nên việc triển khai tiếp cận chương trình cũng như tập huấn chương
    trình tới giáo viên cũng gặp một số hạn chế nhất định.
    Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học là thực thể đang hình thành và phát triển cả về
    mặt sinh lý, tâm lý, xã hội các em đang từng bước gia nhập vào xã hội thế giới
    của mọi mối quan hệ, đặc biệt là học sinh lớp 1, các em đang chuyển từ giai
    đoạn vui chơi là chủ đạo sang giai đoạn học tập là chủ đạo. Do đó, học sinh lớp
    1 chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân trong xã
    hội, mà các em luôn cần sự hướng dẫn, giúp đỡ của thầy cô, của gia đình, nhà
    6
    trường và xã hội. Học sinh lớp 1 dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới và luôn
    hướng tới tương lai. Nhưng cũng thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và
    chú ý có chủ định chưa được phát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn
    bộc lộ rõ nét. Trẻ nhớ rất nhanh và quên cũng nhanh. Đối với học sinh tiểu học,
    trí nhớ trực quan – hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ –
    logíc. Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, dựa vào những đặc
    điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể. Trong sự phát triển tư duy ở
    học sinh tiểu học, tính trực quan cụ thể còn thể hiện rõ rệt ở các em học sinh lớp
    1. Việc học tập của các em còn bị chi phối bởi yếu tố gia đình, điều kiện địa lý
    và các yếu tố xã hội khác đòi hỏi nhà trường, gia đình, xã hội cần có sự kết hợp
    chặt chẽ để tạo động lực học tập cho học sinh.
    Giai đoạn đầu năm lớp 1 học sinh đang bắt đầu học chữ và rèn nề nếp học
    tập nên việc tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh sẽ gặp nhiều khó khăn.
    Ngoài ra, việc thay đổi quan niệm về môn học chính và môn học phụ ở tiểu
    học trong phụ huynh học sinh chưa được đồng bộ tới tất cả phụ huynh nên sẽ
    đẫn đến tình trạng thiếu quan tâm, hỗ trợ động viên của phụ huynh, gây khó
    khăn cho giáo viên khi triển khai các hoạt động vận dụng. Môn Tự nhiên và Xã
    hội là môn học yêu cầu đòi hỏi vốn sống và vốn hiểu biết về các sự vật, hiện
    tượng của môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh chính vì vậy một số phụ
    huynh khó có thể giải đáp các thắc mắc của các em liên quan đến bài học nhất là
    với học sinh lớp 1 với “hàng vạn câu hỏi vì sao” vì thực tế nhiều phụ huynh còn
    hạn chế về những nội dung này.
    Kiến thức thực tế của học sinh còn hạn chế nên ảnh hưởng đến việc tiếp thu
    bài học. Vốn từ vựng của các em chưa nhiều nên cũng gây khó khăn trong quá
    trình diễn đạt, thực hành. Một số em học sinh chưa mạnh dạn, tự tin trong học
    tập; chưa có ý thức tự giác đọc sách báo, sưu tầm tài liệu phục vụ cho kiến thức
    liên quan đến môn học.
    Giáo viên chưa linh động, sáng tạo khi tổ chức các hoạt động dạy học, chưa
    phát huy hết vai trò gợi mở óc tò mò, khả năng sáng tạo, độc lập ở học sinh. Từ
    đó các em cảm thấy nhàm chán, mất hứng thú học tập.
    7
    Với những thuận lợi và khó khăn trên, tôi nhận thấy để khắc phục những
    khó khăn này, tôi nhận thấy người giáo viên phải có kinh nghiệm và sáng tạo
    trong giảng dạy, phải thật kiên trì và nhẫn nại giúp học sinh và phụ huynh nhận
    thức được tầm quan trọng của môn học. Từ đó giáo dục các em ý thức tự tìm
    hiểu khám phá thế giới xung quanh, nâng cao hiểu biết, vốn sống của chính các
    em góp phần hình thành năng lực và phẩm chất.
    Nếu vận dụng tốt một số biện pháp mà tôi đưa ra dưới đây thì việc giúp học
    sinh hình thành và phát triển năng lực và phẩm chất thông qua dạy học môn Tự
    nhiên và Xã hội lớp 1, sẽ đem lại nhiều kết quả khả quan hơn. Từ đó rèn luyện
    cho các em niềm đam mê nghiên cứu khoa học và đồng thời cũng góp phần là
    nền tảng giúp các em học tốt các môn học khác.
    II.2. Mô tả giải pháp kĩ thuật sau khi có sáng kiến
    II.2.1. Giới thiệu khái quát về chƣơng trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1
    theo chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018
    II.2.1.1. Đặc điểm của môn học
    Tự nhiên và Xã hội là môn học bắt buộc ở các lớp 1, 2, 3, được xây dựng dựa
    trên nền tảng khoa học cơ bản, ban đầu về tự nhiên và xã hội. Môn học cung cấp cơ
    sở quan trọng cho việc học tập các môn Khoa học, Lịch sử và Địa lí ở lớp 4, lớp 5
    và các môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội ở các cấp học trên. Môn học coi
    trọng việc tổ chức cho học sinh trải nghiệm thực tế, tạo cho học sinh cơ hội tìm
    hiểu, khám phá thế giới tự nhiên và xã hội xung quanh; vận dụng kiến thức, kĩ năng
    đã học vào thực tiễn, học cách ứng xử phù hợp với tự nhiên và xã hội.
    II.2.1.2. Quan điểm xây dựng chương trình môn học
    Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 quán triệt các quan điểm, mục
    tiêu, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực, kế hoạch giáo dục và các định
    hướng về nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục
    được nêu trong chương trình tổng thể. Đồng thời, xuất phát từ đặc thù của môn
    học, những quan điểm sau được nhấn mạnh trong xây dựng chương trình:
    Dạy học tích hợp: Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 được xây
    dựng dựa trên quan điểm dạy học tích hợp, coi con người, tự nhiên và xã hội là
    8
    một chỉnh thể thống nhất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó con
    người là cầu nối giữa tự nhiên và xã hội. Các nội dung giáo dục giá trị sống và
    kĩ năng sống, giáo dục sức khỏe, giáo dục môi trường, giáo dục tài chính được
    tích hợp vào môn Tự nhiên và Xã hội ở mức độ đơn giản, phù hợp với điều
    kiện của Việt Nam.
    Dạy học theo chủ đề: Nội dung giáo dục môn Tự nhiên và Xã hội được tổ
    chức theo các chủ đề: gia đình, trường học, cộng đồng địa phương, thực vật và
    động vật, con người và sức khoẻ, Trái Đất và bầu trời. Các chủ đề này được phát
    triển theo hướng mở rộng và nâng cao từ lớp 1 đến lớp 3. Mỗi chủ đề đều thể
    hiện mối liên quan, sự tương tác giữa con người với các yếu tố tự nhiên và xã
    hội. Tuỳ theo từng chủ đề, nội dung giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống; giáo
    dục các vấn đề liên quan đến việc giữ gìn sức khoẻ, bảo vệ cuộc sống an toàn
    của bản thân, gia đình và cộng đồng, bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai,…
    được thể hiện ở mức độ đơn giản và phù hợp.
    Tích cực hoá hoạt động của học sinh: Chương trình môn Tự nhiên và Xã
    hội tăng cường sự tham gia tích cực của học sinh vào quá trình học tập, nhất là
    những hoạt động trải nghiệm; tổ chức hoạt động tìm hiểu, điều tra, khám phá;
    hướng dẫn học sinh học tập cá nhân, nhóm để tạo ra các sản phẩm học tập;
    khuyến khích học sinh vận dụng được những điều đã học vào đời sống.
    II.2.1.3. Mục tiêu của chương trình môn học
    Chương trình môn Tự nhiên và Xã hội góp phần hình thành, phát triển ở học
    sinh tình yêu con người, thiên nhiên; đức tính chăm chỉ; ý thức bảo vệ sức khoẻ của
    bản thân, gia đình, cộng đồng; ý thức tiết kiệm, giữ gìn, bảo vệ tài sản; tinh thần
    trách nhiệm với môi trường sống; các năng lực chung và năng lực khoa học.
    II.2.1.4. Yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực
    a. Yêu cầu cần đạt về phẩm chất
    Cùng với các môn học khác và hoạt động giáo dục ở cấp Tiểu học, môn Tự
    nhiên và Xã hội góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu đã quy
    định trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể: yêu nước, nhân ái, chăm
    chỉ, trung thực, trách nhiệm.
    9
    b. Yêu cầu cần đạt về năng lực chung
    Môn Tự nhiên và Xã hội có nhiệm vụ hình thành và phát triển các năng lực
    chung cho học sinh là năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác,
    năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
    Những biểu hiện của năng lực chung trong môn Tự nhiên và Xã hội được
    trình bày trong bảng sau:

    Thành phần
    năng lực
    Biểu hiện
    Năng lực tự chủ
    và tự học
    – Tự phục vụ, chăm sóc sức khoẻ bản thân; nhận biết và bày
    tỏ được tình cảm, cảm xúc của bản thân với gia đình, bạn bè,
    những người xung quanh.
    – Biết đọc và thực hiện những yêu cầu, nhiệm vụ trong sách
    giáo khoa; thực hiện quan sát và ghi lại một số sự vật, hiện
    tượng trong môi trường tự nhiên và xã hội quan sát được.
    Năng lực giao
    tiếp và hợp tác
    – Biết giao tiếp ứng xử phù hợp với vị trí, vai trò và các mối
    quan hệ của bản thân với các thành viên trong gia đình,
    trường học, cộng đồng và trong môi trường tự nhiên.
    – Biết chia sẻ thông tin, giúp đỡ bạn trong học tập; biết cách
    làm việc theo nhóm, hoàn thành nhiệm vụ của mình và giúp
    đỡ các thành viên khác cùng hoàn thành nhiệm vụ của nhóm.
    Năng lực giải
    quyết vấn đề và
    sáng tạo
    – Nhận biết được một số vấn đề thường gặp trong môi trường
    tự nhiên và xã hội, đặt được câu hỏi và tìm thông tin để giải
    thích, ứng xử phù hợp.
    – Đưa ra ý kiến, bình luận theo các cách khác nhau về một số
    sự vật, hiện tượng diễn ra trong môi trường tự nhiên và xã
    hội xung quanh.

    10
    c. Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù
    Môn Tự nhiên và Xã hội hình thành và phát triển ở học sinh năng lực khoa
    học, bao gồm các thành phần: nhận thức khoa học, tìm hiểu môi trường tự nhiên
    và xã hội xung quanh, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học. Những biểu hiện của
    năng lực khoa học trong môn Tự nhiên và Xã hội được trình bày trong bảng sau:

    Thành phần
    năng lực
    Biểu hiện
    Nhận thức khoa
    học
    – Nêu, nhận biết được ở mức độ đơn giản một số sự vật,
    hiện tượng, mối quan hệ thường gặp trong môi trường tự
    nhiên và xã hội xung quanh như về sức khoẻ, an toàn trong
    cuộc sống, mối quan hệ của học sinh với gia đình, nhà
    trường, cộng đồng và thế giới tự nhiên,…
    – Mô tả được một số sự vật, hiện tượng tự nhiên và xã hội
    xung quanh bằng các hình thức biểu đạt như nói, viết, vẽ,…
    – Trình bày được một số đặc điểm, vai trò của một số sự vật,
    hiện tượng thường gặp trong môi trường tự nhiên và xã hội
    xung quanh.
    – So sánh, lựa chọn, phân loại được các sự vật, hiện tượng
    đơn giản trong tự nhiên và xã hội theo một số tiêu chí.
    Tìm hiểu môi
    trường tự nhiên
    và xã hội xung
    quanh
    – Đặt được các câu hỏi đơn giản về một số sự vật, hiện
    tượng, mối quan hệ trong tự nhiên và xã hội xung quanh.
    – Quan sát, thực hành đơn giản để tìm hiểu được về sự vật,
    hiện tượng, mối quan hệ trong tự nhiên và xã hội xung
    quanh.
    – Nhận xét được về những đặc điểm bên ngoài, so sánh sự
    giống, khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng xung quanh và
    sự thay đổi của chúng theo thời gian một cách đơn giản
    thông qua quan sát, thực hành.

    11

    Vận dụng kiến
    thức, kĩ năng đã
    học
    – Giải thích được ở mức độ đơn giản một số sự vật, hiện
    tượng, mối quan hệ trong tự nhiên và xã hội xung quanh.
    – Phân tích được tình huống liên quan đến vấn đề an toàn, sức
    khoẻ của bản thân, người khác và môi trường sống xung quanh.
    – Giải quyết được vấn đề, đưa ra được cách ứng xử phù hợp
    trong các tình huống có liên quan; trao đổi, chia sẻ với
    những người xung quanh để cùng thực hiện; nhận xét được
    cách ứng xử trong mỗi tình huống.

    II.2.2. Các biện pháp giúp phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh
    thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1
    Biện pháp 1: Giáo viên cần nghiên cứu và hiểu rõ về chương trình tiếp cận
    định hướng năng lực
    Chương trình tiếp cận định hướng năng lực hay còn gọi là định hướng kết
    quả đầu ra là cách tiếp cận rõ kết quả – những khả năng hoặc kỹ năng mà học
    sinh mong muốn đạt được ở mỗi giai đoạn học tập, trả lời cho câu hỏi: học sinh
    làm được những gì từ điều đã biết?
    Tiếp cận năng lực chủ trương giúp người học không chỉ biết học thuộc, ghi
    nhớ mà còn phải biết làm thông qua các hoạt động cụ thể, sử dụng những tri
    thức học được để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra. Nói cách khác
    phải gắn với thực tiễn đời sống. Nếu như tiếp cận nội dung chủ yếu yêu cầu
    người học trả lời câu hỏi: Biết cái gì, thì tiếp cận theo năng lực luôn đặt ra câu
    hỏi: Biết làm gì từ những điều đã biết. Nói cách khác, nói đến năng lực là phải
    nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm, chứ không chỉ biết và hiểu.
    Chính vì vậy, xây dựng, thiết kế chương trình giáo dục theo hướng tiếp
    cận năng lực người học là một xu thế tất yếu. Nó giúp người học có khả năng
    giải quyết các vấn đề thực tiễn ngay khi rời ghế nhà trường. Nói cách khác, đào
    tạo phù hợp với nhu cầu xã hội. Ngoài ra, với tiếp cận năng lực, người học sẽ
    được trang bị kỹ năng để có thể học cả đời. Đây là điều bắt buộc trong bối cảnh
    khối lượng tri thức tăng lên nhanh chóng như hiện nay.
    12
    Từ những lí do trên, tôi nhận thấy để có thể hình thành và phát triển năng
    lực, phẩm chất cho học sinh thông qua dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1
    thì giáo viên cần nghiên cứu và hiểu rõ về chương trình tiếp cận theo định
    hướng năng lực.
    Biện pháp 2: Nghiên cứu và xây dựng bài học trên mô hình dạy học 5E
    Để thực hiện mục tiêu hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực cho học
    sinh, mỗi bài học có thể áp dụng linh hoạt mô hình dạy học 5E dựa trên thuyết
    kiến tạo nhận thức của quá trình học, theo đó học sinh xây dựng các kiến thức
    mới dựa trên các kiến thức hoặc trải nghiệm đã biết trước đó. Tôi xây dựng các
    hoạt động dạy và học trong môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 theo mô hình dạy học
    5E gồm các bước: Gắn kết, khám phá, diễn giải, phát triển chi tiết, đánh giá.
    – Gắn kết là bước đầu tiên của quá trình dạy khám phá khoa học. Ở bước
    này, tôi thường tổ chức một số hoạt động sau:
    + Cho học sinh xem clip về chủ đề có liên quan bài học để học sinh có thể
    liên hệ với hiểu biết trước đây của mình hoặc hình dung ra nội dung sắp học.
    + Tổ chức trò chơi có liên quan đến vấn đề bài học để học sinh có thể liên
    hệ với kinh nghiệm đã biết.
    + Kể một câu chuyện có thông tin liên quan đến chủ đề sắp học.
    + Đưa ra một thử thách hoặc một câu đố cho học sinh liên hệ tìm giải pháp
    bằng kinh nghiệm đã có của mình để giải quyết vấn đề có liên quan đến bài học.
    – Khám phá là bước thứ hai, tôi tổ chức cho học sinh tìm tòi những kiến
    thức hoặc những trải nghiệm mang tính cơ bản, nền tảng, dựa vào đó các kiến
    thức mới của học sinh có thể được hình thành. Ở bước này, tôi thường tổ chức
    một số hoạt động sau:
    + Tổ chức một hoạt động, trò chơi, thí nghiệm…cho học sinh quan sát hoặc
    trải nghiệm để khám phá ra kiến thức chuẩn bị được kết luận trong bài.
    + Cho học sinh khám phá thông tin qua đoạn phim ngắn, poster, tranh ảnh
    chứa thông tin, kiến thức sẽ được kết luận trong bài.
    13
    – Diễn giải là bước thứ ba. Tôi tạo điều kiện cho học sinh được trình bày,
    miêu tả, phân tích các trải nghiệm hoặc những điều quan sát vừa được thực hiện
    ở bước khám phá. Ở bước này, tôi thường tổ chức một số hoạt động sau:
    + Tổ chức cho học sinh trình bày, miêu tả, phân tích các trải nghiệm hoặc
    những điều quan sát được ở bước khám phá, từ đó đưa ra kết luận theo gợi ý của
    giáo viên.
    + Giới thiệu các thuật ngữ mới, công thức mới để học sinh hiểu rõ hơn về
    các trải nghiệm hoặc quan sát được ở bước khám phá.
    + Đưa ra các kết luận chính trong bài.
    – Phát triển chi tiết là bước thứ tư, tôi giúp học sinh thực hành và vận dụng
    các kiến thức đã học được ở bước diễn giải, làm sâu sắc hơn các hiểu biết, khéo
    léo hơn các kĩ năng và có thể áp dụng được trong những tình huống, hoàn cảnh
    đa dạng khác nhau. Ở bước này, tôi thường tổ chức các hoạt động sau:
    + Tổ chức một hoạt động thực hành vận dụng kiến thức vừa chốt.
    + Cho học sinh làm việc với phiếu học tập để kiểm tra sâu hơn về kiến
    thức.
    + Có thể đưa ra những tình huống ứng dụng thực tế để kiểm tra khả năng
    vận dụng kiến thức của học sinh.
    – Đánh giá là bước thứ năm nhưng cũng được xem là bước đi đồng thời
    cùng với các bước trên. Ở đây, tôi sử dụng các kĩ thuật đánh giá đa dạng để nhận
    biết quá trình nhận thức và khả năng của từng học sinh, từ đó đưa ra các phương
    hướng điều chỉnh và hỗ trợ học sinh phù hợp, giúp học sinh đạt được các mục
    tiêu học tập như đã đề ra. “Đánh giá” giúp học sinh tổng kết lại những kiến thức
    đã học và gợi mở những vấn đề cần được khám phá trong bài học tiếp theo. Ở
    bước này, tôi thường tổ chức các hoạt động sau:
    + Câu hỏi ôn tập bài.
    + Làm việc với phiếu học tập tại lớp.
    + Yêu cầu vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào cuộc sống.
    Ví dụ: Vận dụng mô hình 5E trong dạy học chủ đề 2: Trường học – Bài 4:
    Giữ gìn lớp học sạch, đẹp (tiết 3)
    14
    Bước 1: Gắn kết
    – Học sinh xem video bài hát: “Giữ gìn vệ sinh trường lớp” sáng tác Phan
    Thiên Hương
    – Qua bài hát ta thấy các bạn nhỏ đang làm gì?
    Bước 2: Khám phá
    – Yêu cầu học sinh quan sát các hình ở trang 32 sách giáo khoa thảo luận cặp
    đôi và trả lời câu hỏi: Nêu những điểm khác nhau của lớp học trong hai hình?
    Bước 3: Diễn giải
    – Đại diện một số cặp trình bày kết quả thảo luận ở bước Khám phá trước lớp.
    – Em có nhận xét gì về lớp học ở hình 1 trang 32 sách giáo khoa?
    – Em có nhận xét gì về lớp học ở hình 2 trang 32 sách giáo khoa?
    – Em thích lớp học của em như lớp học ở hình nào? Vì sao?
    – Học sinh thực hành sắp xếp lại bàn học cho gọn gàng, sạch đẹp trong 2 phút
    – Sau khi sắp xếp lại bàn học em cảm thấy thế nào?
    – Theo em, thế nào là lớp học sạch đẹp?
    Bước 4: Phát triển chi tiết
    -Yêu cầu học sinh quan sát các hình trang 33 sách giáo khoa và làm việc
    theo cặp đôi và trả lời câu hỏi: Các bạn trong tranh đang làm gì?
    – Đại diện một số cặp trình bày kết quả làm việc trước lớp.
    – Việc làm của các bạn trong tranh giúp ích gì cho lớp học của các bạn?
    – Em có nhận xét gì về trang phục của các bạn khi tham gia vệ sinh lớp học?
    – Vì sao khi lao động chúng ta phải sử dụng đồ dùng bảo hộ và đồ dùng lao
    động phù hợp ?
    – Vì sao hàng ngày chúng ta phải giữ lớp học sạch, đẹp?
    – Hãy chia sẻ với bạn những việc em đã làm để giữ lớp học sạch đẹp?
    – Theo em, chúng ta có cần giữ sạch, đẹp môi trường xung quanh lớp học
    không?
    – Vì sao chúng ta cần phải giữ môi trường xung quanh lớp học sạch, đẹp?
    – Giáo viên chia nhóm và phân công nhóm trưởng.
    + Tổ 1: lau chậu cây, dọn vệ sinh phía hành lang lớp học.
    15
    + Tổ 2: Lau bàn ghế, cửa sổ, cửa ra vào
    + Tổ 3: Nhặt giấy rác trong lớp, kê lại bàn ghế
    + Tổ 4: Sắp xếp lại góc học tập
    – Yêu cầu các nhóm trưởng lấy đồ dùng lao động của nhóm theo sự phân
    công của giáo viên và phát cho các thành viên của nhóm mình. Nhóm trưởng
    phân chia công việc cho các thành viên dọn dẹp lớp học trong 5 phút. Hết thời
    gian học sinh bỏ đồ bảo hộ và dụng cụ lao động vào nơi quy định sau đó thực
    hiện sát khuẩn tay với dung dịch rửa tay khô.
    – Các em vừa làm gì để lớp học sạch đẹp?
    – Sau khi vệ sinh lớp học, em thấy như thế nào?
    – Khi tham gia lao động các bạn em có tích cực làm việc không?
    Bước 5: Đánh giá
    – Học sinh tự đánh giá việc giữ gìn lớp học và sử dụng đồ dùng học tập
    trong phiếu tự đánh giá.
    – Học sinh tự đánh giá nội dung trong phiếu bằng cách:
    + Tô màu vào  nếu em thường xuyên thực hiện việc đó.
    + Tô màu vào  nếu thỉnh thoảng thực hiện việc đó.
    + Tô màu vào  nếu em hiếm khi hoặc chưa thực hiện việc đó.
    PHIẾU TỰ ĐÁNH GIÁ

    Việc làmEm tự đánh giá
    Sắp xếp đồ dùng cá nhân (cặp, sách, vở, hộp bút, ..) gọn gàng.  
    Cất, đặt, để đồ dùng học tập đúng chỗ sau khi sử dụng.  
    Sử dụng đồ dùng học tập cẩn thận và đúng cách.  
    Lau chùi bàn, ghế, bảng đen, …  
    Quét dọn lớp học (quét lớp, nhặt rác, phủi bụi tranh ảnh và
    sản phẩm treo tường, …)
      
    Trang trí góc học tập, lớp học, …  

    – Nhắc nhở học sinh cần giữ vệ sinh lớp học thường xuyên, hàng ngày.
    16
    Biện pháp 3: Thực hiện tốt một số nguyên tắc trong quá tình giảng dạy môn
    Tự nhiên và Xã hội lớp 1
    a. Nguyên tắc 1: Liên hệ thực tế
    Để giúp học sinh nhận biết được ở mức độ đơn giản một số sự vật, hiện
    tượng, mối quan hệ thường gặp trong môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh
    như về sức khoẻ và sự an toàn trong cuộc sống, mối quan hệ của học sinh với
    gia đình, nhà trường, cộng đồng và thế giới tự nhiên,… từ đó hình thành và phát
    triển năng lực tự chủ và tự học, năng lực khoa học, tôi tổ chức cho học sinh
    khám phá kiến thức bắt đầu từ thực tiễn và kết thúc bằng thực tiễn. Hay nói cách
    khác là “học phải đi đôi với hành”. Những gì được dạy trên lớp phải gắn với
    cuộc sống bên ngoài, đặc biệt là với các em học sinh lớp 1, lứa tuổi đầu cấp tiểu
    học. Các em chỉ có thể khám phá được kiến thức thông qua ví dụ thực tế. Thông
    qua việc liên hệ thực tế, tôi giúp học sinh hình thành và phát triển các phẩm chất
    chủ yếu được quy định trong chương trình giáo dục phổ thông 2018.
    Vì vậy để có thể liên hệ thực tế trong quá trình giảng dạy môn Tự nhiên và
    Xã hội cho học sinh lớp 1, tôi đã nêu ra các ví dụ liên quan đến công việc hàng
    ngày của học sinh. Những ví dụ này sẽ khiến học sinh cảm thấy tò mò và nhận
    ra rằng những kiến thức mà các em tiếp thu được trong giờ học có thể ứng dụng
    vào thực tế công việc, gần gũi và hữu ích với học sinh. Qua đó, tôi có thể rút ra
    kết luận về những kiến thức mới cần khám phá trong tiết học. Đến cuối bài tôi
    lại một lần nữa thiết lập mối quan hệ giữa bài học và thực tế.
    Ví dụ 1: Khi dạy Chủ đề 5: Con người và sức khoẻ – Bài 18: Thực hành:
    Rửa tay, chải răng, rửa mặt, tôi yêu cầu học sinh thực hiện các bước sau:
    + Hãy nói về lợi ích của việc rửa tay?
    + Hằng ngày, em rửa tay khi nào?
    + Em hãy nêu 6 bước rửa tay đúng cách của Bộ y tế?
    + Cả lớp thực hành vận động theo đúng quy trình 6 bước rửa tay của Bộ y
    tế trên video
    + Cả lớp thực hành rửa tay theo quy trình 6 bước của Bộ y tế
    + Chúng ta cần rửa tay đúng cách khi nào?
    17
    Ví dụ 2: Khi dạy Chủ đề 6: Trái đất và bầu trời – Bài 21: Thời tiết, tôi yêu
    cầu học sinh lựa chọn trang phục phù hợp với thời tiết: trời nắng, trời mưa, trời
    nóng, trời lạnh:
    18
    b. Nguyên tắc 2: Tạo không khí tích cực trong giờ học
    Học và chơi không phải là hai hoạt động đối nghịch nhau. Khi học sinh tìm
    thấy niềm vui trong học tập, việc học cũng trở nên dễ dàng hơn. Trách nhiệm
    của thầy cô là giúp học sinh nhận ra được “học là niềm vui”. Thông qua đó học
    sinh sẽ tự giác, tích cực chủ động trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập
    và góp phần hình thành và phát triển phẩm chất chăm chỉ ở học sinh.
    Trong quá trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, tôi tổ chức cho các
    em tham gia các hoạt động múa, hát, vẽ, chơi trò chơi, thực hành vận động có
    liên quan đến nội dung bài học để khơi gợi niềm đam mê, yêu thích tìm hiểu nội
    dung bài.
    Ví dụ 1: Khi dạy chủ đề 5: Con người và sức khoẻ – bài 18: Thực hành rửa
    tay, chải răng, rửa mặt, tôi tổ chức cho học sinh nêu 6 bước rửa tay đúng quy
    trình của Bộ y tế sau đó tổ chức cho học sinh thực hiện vận động theo video quy
    trình 6 bước rửa tay của Bộ y tế. Đồng thời tôi cũng tổ chức cho các em thực
    hành rửa tay ngay trong tiết học cùng với dung dịch rửa tay.
    19
    Ví dụ 2: Khi dạy chủ đề 5: Con người và sức khoẻ – bài 17: Vận động và
    nghỉ ngơi, tôi tổ chức cho các em thực hiện một số động tác vận động cơ thể ở
    giữa tiết học.
    20
    Ví dụ 3: Khi dạy chủ đề 5: Con người và sức khoẻ – bài 19: Giữ an
    toàn cho cơ thể, tôi tổ chức cho các em vẽ và tô màu quần, áo lót cho vùng
    riêng tư của hình cơ thể con trai và con gái sau khi các em đã được hình
    thành kiến thức về vùng riêng tư của con trai và con gái để giúp các em
    nhớ được nội dung đã học tốt hơn, tạo bầu không khí thoải mái trong quá
    trình học tập.
    c. Nguyên tắc 3: Trực quan hoá, trình bày nội dung bằng hình ảnh
    Con người không chỉ học bằng cách nghe mà còn học được nhiều thông
    qua quan sát. Vì thế tất cả những nội dung quan trọng cần phải được trực quan
    hoá đặc biệt là đối với học sinh lớp 1, việc làm này sẽ giúp các em dễ tiếp thu
    kiến thức và nhớ lâu hơn, giúp các em nhận thấy việc học không hề áp lực, khô
    khan. Trực quan hoá, trình bày nội dung bằng hình ảnh được thực hiện thông
    qua các phương tiện giảng dạy như: bảng viết, trình chiếu bằng máy, dụng cụ
    trực quan, tranh, ảnh, hình vẽ… Việc làm này cũng góp phần nâng cao hiệu quả
    trong quá trình nhận thức khoa học, tìm hiểu môi trường tự nhiên và xã hội xung
    quanh, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học.
    21
    Ví dụ 1: Khi dạy chủ đề 3: Cộng đồng địa phương – Bài 9: An toàn trên
    đường, tôi cho học sinh quan sát các hình ảnh học sinh sử dụng các phương tiện
    giao thông (ô tô, xe máy, thuyền đò, đi bộ) để đi học. Khi học sinh chỉ ra những
    hành động không đảm bảo an toàn giao thông khi đi trên các phương tiện giao
    thông, tôi đánh dấu ngay những hình ảnh đó để học sinh khắc sâu được những
    hành vi không đảm bảo an toàn.
    22
    Ví dụ 2: Khi dạy chủ đề Gia đình – bài Ôn tập và đánh giá: chủ đề Gia
    đình, tôi đã sử dụng sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học nhưng vì là giai đoạn
    đầu năm học, học sinh mới bắt đầu học chữ nên tôi đã trực quan hoá nội dung
    bằng hình ảnh. Khi học sinh hoàn thành sơ đồ tư duy các em có thể ghi lại nội
    dung bằng cách vẽ lại bằng hình vẽ với những từ mình chưa biết viết.
    23
    d. Nguyên tắc 4: Khuyến khích ngƣời học tự làm
    “Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm”. Không
    một học sinh nào có thể học trong khoảng thời gian dài bằng cách ngồi một chỗ
    tiếp thu kiến thức với tinh thần thụ động. Khuyến khích học sinh tích cực có
    nghĩa là khuyến khích học sinh vận động suốt buổi học và chủ động tiếp thu
    kiến thức. Khi được khuyến khích học sinh sẽ trở nên chủ động học hỏi với tinh
    thần hào hứng trong suốt tiết học.
    Tôi thường tổ chức học chủ động bằng nhiều cách khác nhau như: Tạo cơ
    hội cho học sinh đóng góp ý kiến, làm việc nhóm, tham gia hỏi đáp; làm bài tập;
    thực hành; tạo điều kiện cho học sinh truyền đạt lại nôi dung vừa học cho học
    sinh khác.
    Ví dụ: Khi dạy chủ đề 2: Trường học – Bài 4: Lớp học của em, tôi luôn tạo
    cơ hội cho học sinh được hoạt động, kích thích sự tích cực chủ động của học
    sinh ở bất kì thời điểm nào.
    – Hoạt động Khởi động: Tôi tổ chức cho học sinh chơi trò chơi: Bắn tên để
    nêu tên một hoạt động ở lớp học của em
    24
    – Hoạt động Khám phá kiến thức mới: Tôi tổ chức cho học sinh thực hiện
    các hoạt động sau:
    + Quan sát hình hai lớp học (hình 1: Lớp học gọn gàng, sạch đẹp; hình 2:
    Lớp học bừa bộn, chưa sạch sẽ) rồi thảo luận cặp đôi và trả lời câu hỏi: Nêu
    những điểm khác nhau của lớp học trong hai hình?
    + Em thích lớp học của em như lớp học ở hình nào? Vì sao?
    + Theo em, chúng ta cần làm gì để lớp học ở hình 2 gọn gàng, sạch đẹp?
    + Tổ chức cho học sinh thực hành sắp xếp lại bàn học cho gọn gàng sạch
    đẹp hơn trong 2 phút
    – Hoạt động Luyện tập và vận dụng: Tôi tổ chức cho học sinh thực hiện các
    hoạt động sau:
    + Quan sát hình ảnh một số bạn học sinh đang quét dọn làm vệ sinh lớp học
    và làm việc theo cặp đôi và trả lời câu hỏi: Các bạn trong tranh đang làm gì?
    + Việc làm của các bạn trong tranh giúp ích gì cho lớp học của các bạn?
    + Em có nhận xét gì về trang phục của các bạn khi tham gia vệ sinh lớp học?
    + Vì sao khi lao động chúng ta phải sử dụng đồ dùng bảo hộ và đồ dùng lao
    động phù hợp ?
    + Vì sao hàng ngày chúng ta phải giữ lớp học sạch, đẹp?
    + Yêu cầu học sinh chia sẻ với bạn những việc em đã làm để giữ lớp học
    sạch, đẹp?
    + Theo em, chúng ta có cần giữ sạch, đẹp môi trường xung quanh lớp học
    không?
    + Vì sao chúng ta cần phải giữ môi trường xung quanh lớp học sạch, đẹp?
    + Giáo viên chia nhóm và cho học sinh thực hành làm vệ sinh lớp học
    trong 5 phút: Tổ 1: lau chậu cây, dọn vệ sinh phía hành lang lớp học; tổ 2: Lau
    bàn ghế, cửa sổ, cửa ra vào; tổ 3: Nhặt giấy rác trong lớp, kê lại bàn ghế; tổ 4:
    Sắp xếp lại góc học tập.
    + Các em vừa làm gì để lớp học sạch đẹp?
    + Sau khi vệ sinh lớp học, em thấy như thế nào?
    + Khi tham gia lao động các bạn nhóm em có tích cực làm việc không?
    25
    e. Nguyên tắc 5: Đặt câu hỏi hiệu quả để lôi cuốn học sinh
    Trong dạy học phát triển năng lực, học sinh và giáo viên cùng chủ động
    tham gia vào bài giảng. Trong đó, giáo viên đóng vai trò chủ yếu là người tổ
    chức, cố vấn, hỗ trợ học sinh lĩnh hội kiến thức. Vì vậy, tôi thường phải sử dụng
    các câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt học sinh tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức,
    kĩ năng mới… để đánh giá mức độ tiếp nhận kiến thức và kết quả học tập của
    học sinh. Học sinh của tôi cũng thường xuyên phải sử dụng các câu hỏi để tìm
    kiếm sự tư vấn, gợi ý từ giáo viên và các bạn khác trong lớp… Do đó chúng ta
    có thể thấy được vai trò quan trọng của kỹ thuật đặt câu hỏi trong hình thành và
    phát triển năng lực của học sinh.
    Việc sử dụng các câu hỏi một cách có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn
    nhau giữa học sinh với giáo viên và học sinh với học sinh. Kỹ thuật đặt câu hỏi
    càng tốt thì mức độ tham gia vào bài học của học sinh càng cao, học sinh sẽ học
    tập tích cực hơn và được kích tư duy nhiều hơn trong quá trình học.
    Trong quá trình xây dựng câu hỏi trong dạy học, tôi nhận thấy khi đặt câu
    hỏi hiệu quả trong dạy học sẽ góp phần:
    – Tạo điều kiện và kích thích học sinh tham gia vào quá trình dạy học.
    – Dẫn dắt, gợi mở và kích thích học sinh tư duy, tìm tòi, khám phá tri thức mới.
    – Kiểm tra, đánh giá mức độ làm chủ kiến thức và kỹ năng cũng như sự
    quan tâm, hứng thú của học sinh đối với nội dung học tập.
    – Định hướng, thu thập, mở rộng thông tin, kiến thức cho học sinh.
    Trong quá trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, tôi thường sử dụng
    một số dạng câu hỏi giúp hình thành và phát triển năng lực như:
    – Câu hỏi đóng: Dạng câu hỏi đơn giản chỉ có thể trả lời Đúng – Sai, Có –
    Không hoặc có thể trả lời bằng một từ hoặc một câu ngắn. Dạng câu hỏi này tôi
    thường dùng trong phần tổng kết bài học, sau phần giới thiệu bài hoặc sau khi
    giao nhiệm vụ cho học sinh.
    Ví dụ: Khi củng cố kiến thức cho học sinh ở chủ đề 5: Con người và sức
    khoẻ – Bài 14: Cơ thể em, tôi sử dụng dạng câu hỏi Đúng – Sai để khắc sâu và
    mở rộng kiến thức cho học sinh. Học sinh sẽ giơ thẻ để biểu thị câu trả lời của
    26
    mình, đúng giơ thẻ chữ Đ, sai giơ thẻ chữ S. Sau khi học sinh giơ thẻ tôi sẽ yêu
    cầu một vài học sinh nêu lí do vì sao em lựa chọn đáp án đó.
    Câu 1: Cơ thể của con trai và con gái đều có tất cả các bộ phận tương tự nhau.
    Câu 2: Chỉ có con trai mới để tóc ngắn.
    Câu 3: Chỉ có con gái mới mặc áo dài.
    Câu 4: Cả con gái và con trai đều có thể chơi đá bóng.
    – Câu hỏi mở: Dạng câu hỏi có nhiều hướng trả lời hay nhiều đáp án chấp
    nhận được thường được dùng để đánh giá và thảo luận. Dạng câu hỏi này giúp
    học sinh phát hiện, giải quyết vấn đề, đồng thời kích thích trí tưởng tượng để tìm
    tòi khám phá và tiếp nhận tri thức mới. Câu hỏi mở kích thích học sinh đào sâu
    suy nghĩ và đưa ra nhiều quan điểm. Không chỉ có một câu trả lời đúng hoặc sai.
    Câu hỏi mở giúp học sinh có cái nhìn tổng quát hoặc đưa ra những boăn khoăn,
    thắc mắc về tình huống được đưa ra. Khi đưa ra các câu hỏi mở, tôi sẽ thu được
    nhiều ý tưởng hoặc câu trả lời khác nhau từ học sinh. Điều này cũng giúp cho tôi
    định hướng được nội dung và phương pháp phù hợp đối với học sinh.
    Ví dụ: Chủ đề 5: Con người và sức khoẻ – Bài 16: Ăn uống hàng ngày, tôi yêu
    cầu học sinh nói về những thức ăn, đồ uống cần ăn để cơ thể khoẻ mạnh và an toàn.
    – Câu hỏi giả định: Dạng câu hỏi kích thích học sinh suy nghĩ vượt khỏi
    khuôn khổ của các tình huống được giáo viên đưa ra. Tôi thường sử dụng dạng
    câu hỏi này để phát triển năng lực giải quyết vấn đề sáng tạo ở học sinh.
    Ví dụ: Chủ đề 5: Con người và sức khoẻ – Bài 14: Cơ thể em, tôi yêu cầu
    học sinh thảo luận nhóm và trả lời câu hỏi: Nếu có người có chân hoặc tay
    không cử động được thì họ sẽ gặp khó khăn gì? Em có thể làm gì để giúp đỡ họ?
    – Câu hỏi hành động: Dạng câu hỏi giúp học sinh lập kế hoạch và triển khai
    các ý tưởng vào tình huống thực tế.
    Ví dụ: Chủ đề 3: Cộng đồng địa phương – Bài 6: Nơi em sống, tôi yêu cầu
    học sinh lập kế hoạch để kể những việc em có thể làm để đóng góp cho cộng
    đồng nơi em sống.
    – Câu hỏi làm rõ: Dạng câu hỏi khai thác, thu thập thêm thông tin. Câu hỏi
    này là loại được tôi sử dụng nhiều nhất trong sự tương tác trực tiếp giữa giáo viên
    27
    và học sinh. Nó có tác dụng dẫn dắt để hướng tới sự hiểu biết, thúc đẩy trạng thái
    lắng nghe tích cực, khuyến khích, tạo hứng thú và thử thách cho học sinh.
    Ví dụ: Chủ đề 5: Con người và sức khoẻ – Bài 16: Ăn uống hàng ngày, tôi
    yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi: Vì sao tất cả chúng ta đều cần ăn uống hàng ngày?
    – Câu hỏi mở rộng: Là câu hỏi khuyến khích sự trình bày, phân tích, giải
    thích, mở rộng, đào sâu suy nghĩ. Tôi sử dụng dạng câu hỏi này giúp học sinh
    nhận thức toàn diện hơn, sâu sắc hơn về một vấn đề mà giáo viên đưa ra.
    Ví dụ: Chủ đề 5: Con người và sức khoẻ – Bài 14: Cơ thể em, tôi yêu cầu
    học sinh trả lời câu hỏi: Hãy cho biết tay và chân còn làm được những việc gì
    khác ngoài những việc trên? Sau khi học sinh đã quan sát tranh và nêu những
    việc mà bộ phận tay và chân có thể làm được trong tranh.
    – Câu hỏi so sánh: Dạng câu hỏi yêu cầu so sánh, đánh giá, bình luận.
    Trong quá trình dạy học tôi sử dụng dạng câu hỏi này để khuyến khích tư duy
    phê phán, bình luận, đánh giá, thúc đẩy kỹ năng tư duy bậc cao, định hướng suy
    nghĩ vào các khái niệm và các vấn đề trọng tâm của bài học.
    Ví dụ: Chủ đề 2: Trường học – Bài 4: Lớp học của em, tôi yêu cầu học sinh
    quan sát hình ảnh hai lớp học và nêu những điểm khác nhau của hai lớp học đó.
    28
    – Câu hỏi tóm tắt: Dạng câu hỏi yêu cầu trình bày vắn tắt những nội dung
    đã học. Loại câu hỏi này khi tôi sử dụng trong quá trình dạy học đã góp phần
    giúp cho học sinh của tôi nhìn nhận nội dung học tập một cách khái quát và
    logic từ đó khắc sâu kiến thức đã học. Đồng thời giúp học sinh hình thành và
    phát triển khả năng tư duy, khái quát hóa, trừu tượng hóa.
    Ví dụ: Chủ đề 4: Thực vật và động vật – Bài 11: Các con vật quanh em, khi
    củng cố bài học tôi yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi sau để tóm tắt lại những
    nội dung đã tìm hiểu trong bài học.
    + Hãy kể tên các bộ phận bên ngoài của con vật?
    + Bộ phận nào của con vật dùng để di chuyển?
    + Chúng ta cần làm gì để chăm sóc và bảo vệ con vật?
    + Chúng ta cần làm gì để đảm bảo an toàn khi tiếp xúc?
    – Bên cạnh đó, trong quá trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1 để
    đặt câu hỏi hiệu quả, tôi nhận thấy cần phải nắm rõ quy trình để đưa ra câu hỏi
    phù hợp đúng thời điểm.
    Bƣớc 1. Chuẩn bị câu hỏi: xác định nội dung và ý chính của nội dung học
    tập, hỏi về những gì, hỏi để làm gì?
    Bƣớc 2. Đối chiếu và thích ứng các câu hỏi với đặc điểm và trình độ khác
    nhau của học sinh. Câu hỏi cần đáp ứng các yếu tố sau:
    + Tính minh bạch, rõ ràng: Câu hỏi đơn giản, ngắn gọn không đánh đố.
    + Tính thách thức. Câu hỏi không nên quá dễ mà đòi hỏi học sinh phải suy
    nghĩ và nỗ lực nhất định khi đưa ra câu trả lời. Đồng thời phải làm cho học sinh
    cảm thấy hãnh diện và thỏa mãn khi trả lời đúng.
    + Tính định hướng: Câu hỏi phải hướng đến số đông. Câu hỏi phải gây
    được phản ứng ở nhiều học sinh; ai cũng cảm thấy mình có trách nhiệm trả lời,
    phải suy nghĩ; do đó tạo được không khí học tập sôi nổi.
    + Tính vừa sức: đây là nguyên tắc quan trọng và là yêu cầu chung cho mọi
    phương pháp dạy học. Câu hỏi phải nằm trong giới hạn của khả năng tri giác
    thông tin, ngôn ngữ, ý trong câu; kinh nghiệm cảm nhận các tình huống giao
    tiếp, năng lực tư duy, tưởng tượng; khả năng diễn đạt của học sinh.
    29
    + Tính linh hoạt. Câu hỏi cần tổng hợp về kiểu loại, độ khó, tính đối tượng.
    Chọn thời điểm thích hợp để hỏi (tình huống cụ thể) để dạy học đạt hiệu quả cao.
    Bƣớc 3. Lựa chọn ngôn từ diễn đạt phù hợp khi đặt câu hỏi. Câu hỏi đưa ra
    càng ngắn gọn, ít từ, ít mệnh đề, ít cấu trúc, ít thuật ngữ mới lạ càng tốt.
    Bƣớc 4. Khích lệ học sinh tư duy để trả lời câu hỏi. Khi đặt câu hỏi, không
    nên quá dễ, không có tác dụng khích lệ học sinh. Giáo viên cũng không nên thừa
    nhận câu trả lời của học sinh một cách dễ dãi. Đối với những câu hỏi khó, giáo
    viên cần chuẩn bị kỹ để chủ động giải quyết các tình huống bất ngờ.
    Bƣớc 5. Duy trì tiến trình hỏi – đáp bằng câu hỏi bổ trợ, mở rộng.
    Bƣớc 6. Đánh giá và thu thập thông tin phản hồi về quá trình học tập. Các
    câu hỏi cần tập trung vào nội dung chính yếu, cơ bản của bài học; nhất là những
    yếu tố khái niệm và ứng dụng.
    – Kỹ thuật đặt câu hỏi là một yêu tố quan trọng, là linh hồn và là trung tâm
    của dạy học phát triển năng lực. Điều quan trọng là phải lựa chọn được loại câu
    hỏi thích hợp để kích thích tư duy của học sinh và thu hút họ vào các cuộc thảo
    luận hiệu quả.
    Khi đặt câu hỏi cho học sinh trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy cần chú
    ý các yếu tố sau:
    + Câu hỏi phải liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bài học.
    + Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu.
    + Đúng lúc, đúng chỗ.
    + Phù hợp với trình độ học sinh, thời gian thực tế.
    + Kích thích trí tưởng tượng, tư duy của học.
    + Sắp xếp theo trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.
    + Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xính, đánh đố.
    + Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc.
    g. Nguyên tắc 6: Khuyến khích, động viên kịp thời, đúng lúc, đúng chỗ
    Trong quá trình dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, tôi luôn động viên
    kịp thời, đúng lúc, đúng chỗ. Điều này giúp các em hào hứng, kích thích tinh
    thần tự giác, tích cực trong học tập. Đồng thời còn giúp cho các em có thêm
    30
    động lực khi giải quyết các vấn đề mang tính sáng tạo. Để kích thích học sinh tự
    giác, chủ động trong quá trình học tập, tôi đã sử dụng những bông hoa khen để
    khen thưởng, ghi nhận sự nỗ lực của học sinh trong quá trình học tập.
    Biện pháp 4: Tổ chức hoạt động quan sát, đọc tài liệu một cách hiệu quả
    Học sinh tiểu học “dễ nhớ – dễ quên” mức tập trung chú ý của các em còn
    thấp. Vì vậy, bản thân tôi luôn phải tạo hứng thú học tập cho các em, làm cho
    giờ học có những ấn tượng riêng biệt và phải thường xuyên được thực hành,
    luyện tập. Tâm lý trẻ lớp 1 chưa được ổn định, giàu tình cảm, dễ xúc động, bản
    tính tò mò, thích khám phá. Các em thích tiếp xúc với các sự vật – hiện tượng
    gây cảm xúc mạnh. Tuy nhiên, các em cũng chóng chán. Do vậy, trong dạy học
    tôi thường sử dụng nhiều đồ dùng dạy học, tổ chức cho học sinh đi tham quan
    thực tế, tăng cường thực hành, để củng cố, khắc sâu kiến thức. Như vậy, sử dụng
    phương pháp quan sát trong dạy học Tự nhiên và Xã hội lớp 1 tức là chúng ta đã
    tạo nền móng khởi đầu cho sự phát triển nhận thức tư duy cho các em.
    Phương pháp quan sát là hình thức dạy học giáo viên hướng dẫn học sinh
    cách sử dụng các giác quan để tri giác trực tiếp, có mục đích các đối tượng trong
    tự nhiên và xã hội nhằm tiếp nhận thông tin mà không có sự can thiệp vào quá
    trình diễn biến của các sự vật, hiện tượng đó.
    Phương pháp quan sát được tôi thường xuyên sử dụng trong dạy học môn
    Tự nhiên và Xã hội lớp 1. Thông qua quá trình quan sát, tôi giúp học sinh nhận
    biết hình dạng, đặc điểm bên ngoài của cơ thể người, cây cối, một số con vật
    và các hiện tượng đang diễn ra trong môi trường tự nhiên trong cuộc sống hàng
    ngày. Bên cạnh đó còn tạo được hứng thú học tập cho học sinh, phù hợp quá
    trình nhận thức của học sinh tiểu học. Dạy học sử dụng phương pháp quan sát
    giúp tôi tiết kiệm lời giảng, khi giảng có kèm theo ví dụ minh họa làm cho bài
    giảng sinh động, cụ thể, hấp dẫn. Khi sử dụng phương pháp quan sát tôi
    thường kết hợp với các phương pháp khác để làm cho bài giảng không nhàm
    chán như phương pháp phân tích, giảng giải; phương pháp thảo luận nhóm;
    phương pháp đàm thoạ

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm phát triển năng lực học sinh

    SKKN Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm phát triển năng lực học sinh

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Mô hình giáo dục của thế giới trong thế kỷ XXI dựa trên bốn trụ cột, đó là:
    học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để tự khẳng định
    mình. Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang hướng đến một nền giáo dục
    tiến bộ, hiện đại, ngang tầm với các nước trong khu vực và thế giới, trong đó
    “học để làm” – “làm đƣợc gì từ những điều đã học” là yếu tố trọng tâm mà
    giáo dục hướng tới.
    Để theo kịp xu hướng phát triển mạnh mẽ của thế giới, giáo dục nước nhà
    cần phải đào tạo ra những con người lao động có kiến thức, có kĩ năng nhưng
    quan trọng hơn là phải có khả năng vận dụng những hiểu biết, kĩ năng đó trong
    điều kiện cụ thể nhằm mang lại những kết quả thiết thực. Hay nói cách khác
    chương trình giáo dục hiện đại cần chú trọng phát triển năng lực người học.
    Năng lực của mỗi con người được hình thành và phát triển thông qua hoạt
    động vận dụng kiến thức, kĩ năng, thái độ… để giải quyết thành công các tình
    huống phát sinh trong thực tiễn. Dạy học phát triển năng lực, người giáo viên
    cần quan tâm đến các yếu tố:
    Dạy học thông qua việc tổ chức các hoạt động
    Tạo cơ hội để học sinh tự học
    Tạo cơ hội để học sinh trao đổi, tương tác, tranh luận…
    Tạo cơ hội để học sinh đánh giá: tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng, đánh giá
    của các lực lượng
    Tạo cơ hội để học sinh thực hành, vận dụng, giải quyết những vấn đề liên
    quan đến thực tiễn
    Chính vì thế, dạy học gắn liền với thực tiễn, tạo cơ hội cho trẻ áp dụng các
    kiến thức đã học vào đời sống trở thành xu hướng tất yếu. Bên cạnh đó, để phát
    triển năng lực người học, giáo viên cần đặc biệt quan tâm đến việc tạo ra mong
    muốn, khơi gợi hứng thú học tập.
    Chương trình môn Toán ở tiểu học có tính ứng dụng thực tiễn rất cao. Tuy
    nhiên, trong mắt trẻ Toán vẫn là một môn học khá xa rời thực tiễn nên
    Giáo viên: Nguyễn Thị Thêu Trường Tiểu học Trần Nhân Tông – TP. Nam Định
    2
    Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm phát triển năng lực học sinh
    khi giải toán các em thường mắc những lỗi sai hết sức ngô nghê như: tuổi mẹ ít hơn
    tuổi con hay số học sinh nữ trong một lớp lại nhiều hơn số học sinh cả lớp…, khả
    năng ước lượng về độ dài, chiều cao, cân nặng hay khả năng ước lượng về không
    gian, thời gian của các em còn không ít hạn chế. Chẳng hạn, có em ước lượng chiều
    dài của sân trường khoảng 60 cm; chiều cao của một cái bàn khoảng 3m hay cân
    nặng của con voi trưởng thành khoảng 80 kg, thời gian ấp trứng của gà 9 tháng…
    Nhiều học sinh có thể rất giỏi trong việc thuộc lòng các công thức, giải quyết thành
    thạo các bài tập sách giáo khoa nhưng lại khá lúng túng với những bài toán thực
    tiễn như: tính độ dài đoạn dây cần quấn vòng quanh một bồn cây, tính số tiền sau
    khi được giảm giá hay chọn lựa sản phẩm nào để có lợi nhất…
    Có thể có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trên. Nhưng chắc chắn có
    một nguyên nhân quan trọng là do trẻ chưa được tạo nhiều cơ hội để thực hành,
    ứng dụng và trải nghiệm Toán vào thực tiễn. Chính vì thế năng lực Toán học,
    năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn của trẻ còn hạn chế.
    Khả năng giải quyết thành công các tình huống phát sinh trong thực tiễn chính
    là thước đo năng lực của mỗi con người. Việc đưa Toán học gắn liền với cuộc sống
    là con đường phát triển năng lực học sinh. Không những thế, Toán học khi được áp
    dụng vào thực tiễn sẽ góp phần kiểm chứng và củng cố kiến thức mà các em đã học
    được một cách vững chắc. Giáo dục nước ta đang chuyển mình từ dạy học tiếp cận
    nội dung sang dạy học chú trọng phát triển phẩm chất và năng lực người học. Đứng
    trước định hướng của ngành, trước những khó khăn mà học sinh đang gặp phải và
    với tâm niệm làm sao để người học Tự học, Tự tin, Gắn kết thực tiễn, Định
    hƣớng tƣơng lai tôi đã tìm ra lối đi và phần nào thực hiện
    thành công sáng kiến “Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm
    phát triển năng lực học sinh”
    Giáo viên: Nguyễn Thị Thêu Trường Tiểu học Trần Nhân Tông – TP. Nam Định
    3
    Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm phát triển năng lực học sinh
    PHẦN THỨ HAI: MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    I. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DẠY VÀ HỌC TOÁN LỚP 5
    1. Ƣu điểm
    Chương trình và sách giáo khoa hiện hành đã có những đổi mới như không
    quá nhấn mạnh lý thuyết và tính hàn lâm, tinh giản nội dung, tăng hoạt động thực
    hành – vận dụng, tăng chất liệu thực tiễn như thêm những kiến thức về thống kê,
    xác suất để giúp cho học sinh có điều kiện vận dụng toán học vào cuộc sống và
    giảm những kiến thức khó về số học. Sau các chương mục, hoặc sau một khái niệm
    Toán học thường có những ví dụ, bài tập được ứng dụng vào thực tiễn…
    Chúng ta đang tích cực thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng
    tăng cường các hoạt động trải nghiệm ứng dụng. Đây là một hướng đi đúng đắn
    giúp cho học sinh bước đầu có khái niệm vận dụng những kiến thức được học
    trong nhà trường vào thực tế cuộc sống.
    Trong những năm gần đây, giáo viên đã quan tâm nhiều hơn tới các nội
    dung dạy học có yếu tố thực tiễn, nhằm mục đích giải quyết các vấn đề xung
    quanh cuộc sống của các em học sinh.
    Đây chính là những tín hiệu rất tích cực, mang lại hiệu quả rõ nét trong quá
    trình dạy và học tại các nhà trường.
    2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế
    2.1. Chương trình và sách giáo khoa hiện hành tuy có chú ý tới vấn đề vận
    dụng Toán học thực tiễn, song:
    Sách viết cho học sinh trên cả nước nên một số tình huống chưa thực sự sát và
    gần gũi với học sinh ở từng địa phương, nên chưa thu hút được các em và đặc biệt
    là khiến cho tính ứng dụng trở nên chưa thực sự rõ nét và gần gũi trong mắt các em.
    Thêm vào đó, vì cuộc sống luôn biến đổi không ngừng nên một số ngữ liệu
    cách đây gần 20 năm trong sách không còn phù hợp.
    Ví dụ như Bài tập 1, trang 77, Toán 5:
    Một lớp học có 32 học sinh, trong đó số học sinh 10 tuổi chiếm 75%,
    còn lại là học sinh 11 tuổi. Tính số học sinh 11 tuổi của lớp học đó
    Giáo viên: Nguyễn Thị Thêu Trường Tiểu học Trần Nhân Tông – TP. Nam Định
    4
    Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm phát triển năng lực học sinh
    2.2. Nhiều học sinh vẫn làm Toán một cách máy móc xa rời thực tiễn, các
    em chưa hiểu được ý nghĩa của việc học toán, và chưa nhìn thấy tính ứng dụng,
    tính thực tiễn.
    2.3. Giáo viên chưa thực sự quan tâm đúng mực đến việc giúp học sinh thấy
    được mối liên hệ giữa toán học và cuộc sống.
    Một số giáo viên ngại thay đổi, bổ sung mà vẫn sử dụng các bài tập trong
    sách giáo khoa một cách máy móc, không còn phù hợp với cuộc sống cũng như
    phù hợp với học sinh của mình.
    Một số giáo viên thường ngại thay đổi phương pháp cũng như hình thức tổ
    chức dạy học vì thấy phiền phức và mất thời gian do khối lượng kiến thức ở mỗi
    tiết học là khá nhiều… Về cơ bản, khi nhắc đến tăng cường mối liên hệ với thực
    tiễn trong môn học, giáo viên chúng ta thường đề cập đến các bài tập, các tình
    huống giả định cho học sinh thực hành. Vấn đề nằm ở chỗ tất cả các nội dung đó
    vẫn đang chỉ dừng lại ở trong sách vở. Các em vẫn chưa có nhiều cơ hội trải
    nghiệm thực tế vì thế vẫn chưa thể phát triển được năng lực.
    2.4. Về phía phụ huynh: Tất cả các bậc phụ huynh đều mong muốn con lớn
    khôn từng ngày, có kĩ năng trong cuộc sống nhưng vẫn còn một số phụ huynh
    lại chưa hiểu đúng về toán ứng dụng.
    Một số phụ huynh vẫn còn coi trọng điểm số, coi trọng các kỳ thi nên chỉ
    tập trung thời gian cho con học tập kiến thức. Trẻ không có thời gian để vui
    chơi, để ứng dụng và khám phá cuộc sống.
    Một số phụ huynh đã quan tâm tới việc phát triển năng lực cho trẻ, thường
    xuyên giao nhiệm vụ, tạo điều kiện cho con để trẻ được trải nghiệm và phát
    triển. Tuy nhiên, các nhiệm vụ đó nhiều khi chưa thực sự tương thích với kiến
    thức mà trẻ đang được học trong nhà trường vì vậy tính hiệu quả sẽ còn hạn chế.
    Có thể thấy, vấn đề ở đây phụ thuộc rất lớn ở người thầy, ở sự đầu tư thay
    đổi nội dung, phương pháp cũng như hình thức tổ chức của người thầy và sự
    phối kết hợp với các bậc phụ huynh học sinh để học sinh có cơ hội hoạt động,
    trải nghiệm và hình thành năng lực, đưa Toán học đến với thực tiễn.
    Giáo viên: Nguyễn Thị Thêu Trường Tiểu học Trần Nhân Tông – TP. Nam Định
    5
    Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm phát triển năng lực học sinh
    II. SÁNG KIẾN NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG GIẢNG DẠY MÔN
    TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 5
    1. Tên sáng kiến: Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống
    nhằm phát triển năng lực học sinh
    2. Điều kiện, hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
    Từ việc nhận thức được:
    + Xu hướng giáo dục mà ngành đang hướng tới
    + Tầm quan trọng của việc cho trẻ được ứng dụng Toán vào thực tiễn
    + Thực trạng công tác dạy học Toán 5
    + Những sai lầm trẻ đang gặp phải
    + Những khó khăn phụ huynh học sinh đang vướng mắc
    Và với mong muốn làm thế nào để trẻ có thể áp dụng hiệu quả những kiến
    thức Toán học để giải quyết thật tốt những tình huống trong chính cuộc sống của
    các em. Tôi đã áp dụng sáng kiến:
    ” Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống
    nhằm phát triển năng lực học sinh”
    Giải pháp thứ nhất Giải pháp thứ hai Giải pháp thứ ba Giải pháp thứ tƣ
    Giúp học sinh
    hiểu vai trò to lớn
    của Toán học đối
    với cuộc sống
    Điều chỉnh và bổ
    sung một số ngữ
    liệu sách giáo khoa
    theo hướng phù
    hợp với thực tế
    Lựa chọn các
    phương pháp,
    hình thức tổ chức
    dạy học tạo điều
    kiện cho học sinh
    được áp dụng kiến
    thức toán học
    trong thực tiễn.
    Phát huy vai trò
    của CMHS trong
    việc đồng hành
    cùng con mang bài
    học vào cuộc sống.
    Giáo viên: Nguyễn Thị Thêu Trường Tiểu học Trần Nhân Tông – TP. Nam Định
    6
    Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm phát triển năng lực học sinh
    3. Nội dung sáng kiến
    3.1. Giải pháp thứ nhất: Giúp học sinh hiểu vai trò to lớn của toán học
    đối với cuộc sống.
    Như chúng ta đã biết, để dạy học phát triển năng lực thành công thì bước
    khởi đầu người giáo viên phải biết tạo cảm hứng cho trẻ.
    Theo Lý thuyết vòng tròn vàng truyền cảm hứng của Simon sinek?
    Thông thường đứng trước một vấn đề được giao, chúng ta luôn đặt ra câu hỏi:
    Mình phải làm gì? (What?) Mình phải làm như thế nào (How?) mà ít ai đặt ra câu hỏi:
    Tại sao mình phải làm (Why?). Khi bạn hiểu rõ tại sao mình phải làm, tức là hiểu được
    ý nghĩa, vai trò của việc làm đó chắc chắn bạn sẽ làm trong một tâm thế chủ
    động, sẽ có động lực, bạn sẽ biết phải làm những gì và làm như thế nào.
    Học sinh lứa tuổi tiểu học vốn giàu trí tưởng tượng, nên các thể loại văn học
    dân gian như thần thoại, cổ tích, tục ngữ, ca dao luôn luôn hấp dẫn các em. Bên
    cạnh đó các câu chuyện kể dù là rất đơn giản nhưng lại tác động mạnh mẽ đến các
    em. Chính vì vậy trong quá trình dạy học môn toán, tôi đã sưu tầm các câu chuyện
    kể về toán, đặc biệt là các câu chuyện kể lí thú gắn với nội dung kiến thức bài học
    hay các câu chuyện thực tế, những tình huống vì thiếu hiểu biết về toán học mà
    đem đến những rắc rối những khó khăn cho mình… để sử dụng trong
    các tiết dạy.
    Tôi đã áp dụng các câu chuyện Toán học phù hợp với nội dung của từng
    dạng bài vào những thời điểm thích hợp như hoạt động khởi động tạo hứng thú,
    Giáo viên: Nguyễn Thị Thêu Trường Tiểu học Trần Nhân Tông – TP. Nam Định
    7
    Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm phát triển năng lực học sinh
    hoạt động luyện tập thực hành hay hoạt động ứng dụng. Bên cạnh đó các câu
    chuyện Toán học còn được sử dụng trong những hoạt động ngoại khóa, các hoạt
    động sinh hoạt câu lạc bộ…
    Sau đây là hệ thống các câu chuyện tôi đã sử dụng ở các bài dạy trong
    chương trình Toán lớp 5:

    Các câu chuyệnSử dụng trongThời điểm
    bài học
    1. Truyện Đố tuổi trên bia mộ Đi-ô-Hoạt động
    phăng là nhà toán học Hy Lạp, đượcÔn tập về phân số
    ứng dụng
    mệnh danh là “cha đẻ ngành đại số”
    2. Câu chuyện về Bài toán của Pi-ta-goÔn tập về phân sốHoạt động
    ứng dụng
    3. Truyện kể về công việc chung củaÔn tập và bổ sung vềHoạt động
    Newtongiải toánứng dụng
    4. Truyện kể về kích thước sân bóng đáĐề-ca-métvuông.Hoạt động
    chuẩn quốc tế, sân bóng chuyền chuẩn
    Héc-tô-mét vuông.ứng dụng
    quốc tế.
    5. Trạng lường Lương Thế Vinh cân voiBảngđơnvịđoHoạt động luyện
    khối lượngtập thực hành
    6. Vũ Hữu xây thành không thừa mộtBảngđơnvịđoHoạt động luyện
    viên gạchdiện tíchtập thực hành
    7. Thần đồng tính nhanh Gauss. “Tôi đãBuổingoạikhóa,Hoạt động thi tài
    học tính trước khi học nói”câu lạc bộToán học
    8. Câu chuyện về Siêu tính nhẩmBuổingoạikhóa,Hoạt động thi tài
    Anbe Anhxtanhcâu lạc bộToán học
    Giáo viên: Nguyễn Thị ThêuTrường Tiểu học Trần Nhân Tông – TP. Nam Định

    8
    Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm phát triển năng lực học sinh

    Các câu chuyệnSử dụng trongThời điểm
    bài học
    9. Câu chuyện Một vài kỷ lục của động vậtViết các số đo độ dàiHoạt động luyện
    dưới dạng số thập phântập thực hành
    10. Kích thước não bộ và sự thông minhTrừ hai số thập phânHoạt động luyện
    của con ngườitập thực hành
    11. Thần đồng chia sữaHoạt động
    Nhà toán học lỗi lạc người PhápToán thể tích
    ứng dụng
    Xi-mông Poát-xông
    12. Chú quạ thông minhThể tích của một hìnhHoạt động luyện
    tập thực hành
    13. Truyện bài toán lí thú về “Hai bà lão”Hoạt động
    Nhà toán học vĩ đại nhất của nước NgaToán chuyển động
    ứng dụng
    thế kỉ 20 Vladimir Arnold
    14. Nguồn gốc năm nhuậnBảng đơn vị đoHoạt động
    thời gianứng dụng
    15. Truyện Tìm hiểu về loài chim cắtThời gianHoạt động
    khởi động
    16. Truyện Tốc độ của ánh sáng và âm thanhVận tốcHoạt động
    ứng dụng

    Các câu chuyện Toán học không chỉ mang lại cho các em sự thích thú,
    đam mê mà nó còn là một cách để hướng các em vận dụng kiến thức Toán học
    vào cuộc sống. Các câu chuyện dù đơn giản nhưng lại có sự tác động rất lớn đến
    các em, có khi mạnh hơn các lời giảng. Thông qua các câu chuyện các em học
    hỏi được trí thông minh của các nhân vật trong truyện, biết liên hệ vận dụng để
    giải toán hoặc giải thích nhiều hiện tượng trong đời sống. Từ đó giúp các em
    hiểu được vai trò to lớn của Toán học đối với cuộc sống.
    Giáo viên: Nguyễn Thị Thêu Trường Tiểu học Trần Nhân Tông – TP. Nam Định
    9
    Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm phát triển năng lực học sinh
    Ví dụ 1:
    Cho học sinh tính thể tích của một viên đá (bài tập 3 trang 121) tôi đã kể
    cho học sinh nghe câu chuyện “Chú quạ thông minh”
    Sau câu chuyện, các em đã liên tưởng, áp dụng và tính luôn được thể tích
    của viên đá theo mực nước dâng lên mà không cần chờ đến sự hướng dẫn của
    giáo viên. Không những thế, sau câu chuyện đó, các em học sinh của tôi còn tự
    tìm ra nhiều cách để tính thể tích của vật có hình dạng bất kì (như là cho các vật
    đó vào một cái bình đã chia sẵn vạch thể tích, chỉ cần nhìn vạch mực nước dâng
    lên là biết thể tích vật đó).
    Giáo viên: Nguyễn Thị Thêu Trường Tiểu học Trần Nhân Tông – TP. Nam Định
    10
    Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm phát triển năng lực học sinh
    Như vậy, thông qua những câu chuyện giáo viên kể, các em được phát triển
    tư duy sáng tạo, khả năng ứng biến linh hoạt trước những vấn đề khác nhau
    trong cuộc sống chứ không đơn thuần là những công thức trên sách vở.
    Không chỉ có thế, các em học sinh của tôi còn biết tự tìm kiếm những câu
    chuyện liên quan đến Toán học chia sẻ với bạn bè thầy cô, như: những câu
    chuyện, những giai thoại về các nhà Toán học nổi tiếng như Eculid, Gauss,
    Terence Tao… hay những phát minh Toán học lý thú về đường thẳng song song,
    hệ đếm, số thập phân… Từ đó kĩ năng đọc sách và văn hóa đọc của các em cũng
    được nuôi dưỡng và phát triển.
    3.2. Giải pháp thứ hai: Điều chỉnh và bổ sung một số ngữ liệu sách giáo
    khoa theo hƣớng phù hợp với thực tế.
    Sách giáo khoa là tài liệu tin cậy để giáo viên và học sinh sử dụng vì vậy các
    ngữ liệu trong sách giáo khoa có vai trò vô cùng quan trọng. Đó chính là các tình
    huống giả định ban đầu để học sinh áp dụng kiến thức vào giải quyết. Muốn học
    sinh nhìn nhận Toán học gắn với thực tiễn, tránh tình trạng các em giải toán một
    cách máy móc thì bản thân các đề toán, các tình huống Toán học phải tạo hứng thú
    cho các em, phải phù hợp với thực tiễn. Tuy nhiên như chúng ta đã biết vì cuộc
    sống luôn biến đổi không ngừng nên một số ngữ liệu sách giáo khoa được viết cách
    đây gần 20 năm sẽ không còn sát thực với cuộc sống hiện nay. Vì vậy tôi đã chủ
    động điều chỉnh và bổ sung ngữ liệu sách giáo khoa theo ba hướng cơ bản:
    Hướng thứ nhất: Cập nhật và điều chỉnh số liệu cho phù hợp với thực tế.
    Hướng thứ hai: Xây dựng các bài tập điền khuyết để học sinh tự liên hệ,
    tìm tòi số liệu hoàn thành các đề toán rồi thực hiện giải toán.
    Hướng thứ ba: Xây dựng những tình huống mới, những vấn đề cấp thiết
    trong cuộc sống mà học sinh quan tâm.
    Cụ thể:
    Hướng thứ nhất: Cập nhật và điều chỉnh số liệu cho phù hợp với thực tế.
    Tôi đã chủ động rà soát sách giáo khoa, cập nhật và thay đổi lại ngữ liệu phù
    hợp với thực tế.
    Giáo viên: Nguyễn Thị Thêu Trường Tiểu học Trần Nhân Tông – TP. Nam Định
    11
    Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm phát triển năng lực học sinh
    Sau đây là hệ thống các bài tập mà tôi đã thay thế trong chương trình Toán
    5 hiện hành:

    Tên bàiNgữ liệu ban đầuNgữ liệu điều chỉnh
    Ôn tập vàBài 1: Mua 5m vải hết 80 000Bài 1: Mua 5m vải hết 350 000
    bổ sung về
    đồng. Hỏi mua 7m vải loại đó hếtđồng. Hỏi mua 7m vải loại đó hết
    giải toán
    bao nhiêu tiền?bao nhiêu tiền?
    (Trang 18)
    Bài 1: Mua 12 quyển vở hếtBài 1: Mua 12 quyển vở hết
    24 000 đồng. Hỏi mua 30 quyển96 000 đồng. Hỏi mua 30 quyển
    vở như thế hết bao nhiêu tiền?vở như thế hết bao nhiêu tiền?
    Bài 2: Bạn Hà mua 1 tá bút chì hếtBài 2: Bạn Hà mua 1 tá bút chì
    30 000 đồng. Hỏi bạn Mai muốnhết 60 000 đồng. Hỏi bạn Mai
    mua 8 cái bút chì như thế thì phảimuốn mua 8 cái bút chì như
    Luyện tập.trả người bán hàng bao nhiêu tiền?thế thì phải trả người bán hàng
    (Trang 19)bao nhiêu tiền?
    Bài 4: Một người làm trong 2 ngàyBài 4: Một người làm trong 2
    được trả 72 000 đồng tiền công.ngày được trả 300 000 đồng
    Hỏi với mức trả công như thế, nếutiền công. Hỏi với mức trả
    làm trong 5 ngày thì người đócông như thế, nếu làm trong 5
    được trả bao nhiêu tiền?ngày thì người đó được trả bao
    nhiêu tiền?
    Bài 1: Một người mua 25Bài 1: Một người mua 25
    Luyện tậpquyển vở, giá 3 000 đồng mộtquyển vở, giá 16 000 đồng một
    quyển thì vừa hết số tiền đangquyển thì vừa hết số tiền đang
    (Trang 21)
    có. Cũng với số tiền đó nếucó. Cũng với số tiền đó nếu
    mua vở với giá 1 500 đồng mộtmua vở với giá 8 000 đồng một

    Giáo viên: Nguyễn Thị Thêu Trường Tiểu học Trần Nhân Tông – TP. Nam Định
    12
    Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm phát triển năng lực học sinh

    quyển thì người đó mua đượcquyển thì người đó mua được
    bao nhiêu quyển vở?bao nhiêu quyển vở?
    Bài 2: Một gia đình gồm 3 ngườiBài 2: Một gia đình gồm 3
    (bố, mẹ và một con). Bình quânngười (bố, mẹ và một con).
    thu nhập hằng tháng là 800 000Bình quân thu nhập hằng
    đồng mỗi người. Nếu gia đình đótháng là 2 500 000 đồng mỗi
    có thêm một con nữa mà tổng thungười. Nếu gia đình đó có
    nhập của gia đình không đổi thìthêm một con nữa mà tổng thu
    bình quân thu nhập hàng thángnhập của gia đình không đổi
    của mỗi người bị giảm đi baothì bình quân thu nhập hàng
    nhiêu tiền?tháng của mỗi người bị giảm đi
    bao nhiêu tiền?
    Bài 4: Trước đây mua 5m vải phảiBài 4: Trước đây mua 5m vải
    trả 60 000 đồng. Hiện nay giá bánphải trả 300 000 đồng. Hiện nay
    Luyện tậpmỗi mét vải đã giảm 2 000 đồng.giá bán mỗi mét vải đã giảm
    chungHỏi với 60 000 đồng, hiện nay có20 000 đồng. Hỏi với 300 000
    (Trang 32)thể mua được bao nhiêu mét vảiđồng, hiện nay có thể mua được
    như thế?bao nhiêu mét vải như thế?
    Bài 3: Mua 5kg đường phải trảBài 3: Mua 5kg đường phải trả
    Luyện tập
    38 500 đồng. Hỏi mua 3,5kg đường175 000 đồng. Hỏi mua 3,5kg
    chungcùng loại phải trả ít hơn baođường cùng loại phải trả ít hơn
    (Trang 61)nhiêu tiền?bao nhiêu tiền?
    Luyện tậpBài 4: Mua 4m vải phải trả 60 000Bài 4: Mua 4m vải phải trả
    đồng. Hỏi 6,8m vải cùng loại phải240 000 đồng. Hỏi 6,8m vải
    chung
    trả nhiều hơn bao nhiêu tiền?cùng loại phải trả nhiều hơn
    (Trang 62)
    bao nhiêu tiền?

    Giáo viên: Nguyễn Thị Thêu Trường Tiểu học Trần Nhân Tông – TP. Nam Định
    13
    Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm phát triển năng lực học sinh
    Bài 1: Một lớp có 32 học sinh,
    trong đó số học sinh 10 tuổi
    Giải toán
    chiếm 75%, còn lại là học sinh
    về tỉ số
    11 tuổi. Tính số học sinh 11 tuổi
    phần trăm
    của lớp học đó?
    (Trang 76)
    Bài 1: Một lớp có 32 học sinh,
    trong đó số học sinh tham gia
    câu lạc bộ Toán chiếm 75%,
    còn lại là số học sinh tham gia
    câu lạc bộ Tiếng Việt. Tính số
    học sinh đăng ký câu lạc bộ
    Tiếng Việt?
    Hướng thứ hai: Xây dựng các bài tập điền khuyết để học sinh tự liên hệ, tìm
    tòi số liệu rồi thực hiện giải toán
    Các bài tập dưới dạng để trống thông tin, nhiệm vụ của các em là đi tìm
    hiểu thông tin thực tế hoàn thành đề toán, sau đó giải bài toán dựa trên thông tin
    mình vừa tìm được. Thông qua việc liên hệ tìm kiếm thông tin để giải toán, học
    sinh sẽ được huy động được sự hiểu biết kiến thức thực tế, được tăng cường các
    hoạt động ứng dụng và quan trọng là các em rất hứng thú khi được áp dụng
    Toán học vào giải quyết các tình huống gắn với cuộc sống của mình.
    Với dạng bài này tôi thường thiết kế các phiếu bài tập và phiếu giao việc
    cho các em khi về nhà.

    Bài dạyBài bổ sung
    Bài 1: Một gia đình gồm …. người là ……… Bình quân thu
    Luyện tậpnhập hằng tháng là ……… đồng mỗi người. Nếu gia đình đó
    (Trang 21)có thêm một con nữa mà tổng thu nhập của gia đình không
    đổi thì bình quân thu nhập hàng tháng của mỗi người bị giảm
    đi bao nhiêu tiền?
    Bảng đơn vị đo1. Chiều dài bàn học của em: ………………
    độ dài2. Phòng khách nhà em có chiều dài: ………………
    chiều rộng ………………
    3. Khoảng cách từ nhà em đến trường: ………………
    Giáo viên: Nguyễn Thị ThêuTrường Tiểu học Trần Nhân Tông – TP. Nam Định

    14
    Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm phát triển năng lực học sinh

    Bài dạyBài bổ sung
    1. Chọn một căn phòng bất kỳ trong nhà em
    + Chiều dài căn phòng là: ……………
    + Chiều rộng căn phòng là: ………………
    Bảng đơn vị đoDiện tích căn phòng: ………………
    diện tíchHãy chọn gạch hình vuông để lát nền cho căn phòng đó
    + Cạnh viên gạch: ………………

    Số viên gạch cần thiết để lát nền căn phòng đó là:
    ………………
    Bảng chi tiêu trong tuần của nhà em
    Nội dung chi tiêuSố tiềnPhần trăm so với
    (đồng)tổng số tiền chi tiêu
    Giải toán về tỉ sốMua gạo
    phần trămMua thịt
    Mua rau
    Mua hoa quả
    Chi tiêu khác
    Tổng số tiền chi tiêu trong tuần: ………………
    Bảng chi tiêu trong tháng của nhà em
    Biểu đồ hìnhNội dung chi tiêuSố tiềnPhần trăm so với
    (đồng)tổng số tiền chi tiêu
    quạt tròn
    Học hành
    Ăn uống
    Đi lại
    Giáo viên: Nguyễn Thị ThêuTrường Tiểu học Trần Nhân Tông – TP. Nam Định

    15
    Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm phát triển năng lực học sinh

    Bài dạyBài bổ sung

    Điện nước
    Mua sắm
    Tổng số tiền chi tiêu trong tháng: ………………
    Hãy biểu diễn trên biểu đồ hình quạt tròn thể hiện việc
    chi
    tiêu trong tháng của gia đình em

    Hãy chọn một căn phòng bất kỳ trong nhà em:
    1.Phòng ………………….nhà em có chiều dài ……………
    chiều rộng……………chiều cao ………………
    2.Các cửa có chiều dài …………………………………….
    Diện tích xungchiều rộng……………………………………
    quanh, diện tích3.Tổng diện tích các cửa ………………
    toàn phần hình4.Diện tích xung quanh của căn phòng là: ………………
    hộp chữ nhật5.Diện tích toàn phần của căn phòng là: ………………
    6.Dùng sơn để sơn toàn bộ không gian phía trong căn phòng.
    Diện tích cần sơn là: ………………
    7.Biết giá sơn là …………./ 2.
    Số tiền mua sơn để sơn cho cả căn phòng đó là: …………..
    1.Bồn nước nhà em có thể tích là ………………
    Thể tích2.Trung bình ……ngày sẽ dùng hết 1 bồn nước
    3. Cả tháng gia đình em dùng hết lượng nước là ……………

    Giáo viên: Nguyễn Thị Thêu Trường Tiểu học Trần Nhân Tông – TP. Nam Định
    16
    Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm phát triển năng lực học sinh

    Bài dạyBài bổ sung

    4. Giá 1 3 nước nơi em đang ở: 10m3 đầu có giá: ………………
    10m3 tiếp theo có giá: ………………
    10m3 tiếp theo có giá: ……………….
    Cả tháng gia đình em đã phải trả số tiền cho việc dùng nước
    là: ………………
    1. Quãng đường từ nhà em đến trường: ………………
    2. Thời gian em đi từ nhà đến trường ………………
    Vận tốc
    => Vận tốc đi của em: ………………
    Thời gian
    Tương tự như vậy, em hãy khảo sát thời gian đi từ nhà đến
    trường của các thành viên trong tổ.
    Hướng thứ ba: Xây dựng những tình huống mới, những vấn đề cấp thiết
    trong cuộc sống mà học sinh quan tâm
    Bên cạnh việc thay đổi các ngữ liệu trong sách giáo khoa cho cập nhật và
    phù hợp, tôi còn chủ động xây dựng và bổ sung thêm các tình huống Toán học.
    Kinh nghiệm cho thấy, không có động lực nào thúc đẩy mạnh mẽ động cơ học
    tập của học sinh bằng những tình huống thực tế gần gũi và thiết thực xung quanh
    các em. Vì vậy khi xây dựng ngữ liệu bổ sung tôi tập trung lựa chọn:
    + Những tình huống mang tính cập nhật, phù hợp với nhu cầu cấp thiết của
    cuộc sống.
    + Những tình huống thực tế ngay tại nơi các em sống, đó có thể là: trường
    học, khu dân cư, công viên, siêu thị, khu vui chơi… điều mà sách giáo khoa
    không thể đến được với từng học sinh.
    * Những vấn đề tôi lựa chọn để xây dựng tình huống thực tiễn:
    – Tính toán, so sánh số tiền khi đi chợ, siêu thị…; số tiền phải thanh toán cho
    các hóa đơn điện, nước, điện thoại… hoặc tính số tiền thu được (lãi suất, thua lỗ),
    số sản phẩm làm ra của công ty, doanh nghiệp, nhà hàng… trong quá trình sản
    Giáo viên: Nguyễn Thị Thêu Trường Tiểu học Trần Nhân Tông – TP. Nam Định
    17
    Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm phát triển năng lực học sinh
    xuất kinh doanh
    – Tính chu vi của các vật có dạng hình phẳng (tính chu vi mảnh vườn,
    khoảng sân, cánh cửa, tấm bìa, bánh xe… đi kèm với nó là tính số cây trồng
    trong vườn, số cọc để rào quanh vườn, quãng đường đi được của bánh xe…)
    – Tính diện tích của các vật hình phẳng (tính diện tích bồn hoa, vườn
    trường, nền lớp, sân… kèm theo nội dung mở rộng hoặc thu hẹp diện tích, tính
    năng suất, sản lượng, tính số gạch lát nền…)
    – Tính diện tích xung quanh và diện tích toàn phần của hình hộp chữ nhật,
    hình lập phương… ở các nội dung lát gạch, sơn tường, quét vôi, dán giấy liên
    quan tới các hình khối đã học.
    – Tính thể tích của các vật có dạng hình khối (tính thể tích khối gỗ, bể bơi,
    bể cá…).
    – Tính thời gian, vận tốc, quãng đường của các đối tượng tham gia vào
    chuyển động trong thực tế cuộc sống…
    Ví dụ: Khi dạy các bài toán về “Tỉ số phần trăm” tôi xây dựng các hệ
    thống bài bổ sung.
    Bài 1: Cuối tuần gia đình em định đi ăn pizza, cửa hàng Pizza Big One có
    giá niêm yết là 100 000 đồng/chiếc nhưng hôm nay có chương trình khuyến mại
    mua 2 tặng 1. Cửa hàng Pizza Company có giá niêm yết 130 000 đồng/chiếc và
    chương trình khuyến mại giảm giá 20%. Gia đình em sẽ chọn cửa hàng nào? Vì
    sao? (Biết kích cỡ và chất lượng của bánh là như nhau)
    Bài 2: Một nhà hàng bán phở bò ở Nam Định trung bình mỗi ngày bán 100
    bát phở. Mỗi bát phở bán với giá 30 000 đồng. Biết tiền lãi bằng 20% tiền vốn.
    Hỏi trong tháng 12 vừa qua nhà hàng đã thu về bao nhiêu tiền lãi? (Biết nhà
    hàng không nghỉ bán ngày nào)
    Bài 3: Gia đình em đi siêu thị BigC mua hàng. Chào đón dịp Tết dương
    lịch, siêu thị có chương trình giảm giá tất cả các mặt hàng lên đến 50%.
    Gia đình em mua các đồ sau:
    Giáo viên: Nguyễn Thị Thêu Trường Tiểu học Trần Nhân Tông – TP. Nam Định
    18
    Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm phát triển năng lực học sinh

    STTTên sảnSốGiá niêm yếtPhần trămSố tiền
    phẩmlƣợngđƣợc giảmphải trả
    1Dầu ăn 2 lít1 can120 000 đồng30%
    2Hạt nêm2 gói60 000 đồng /gói30%
    3Nước giặt1 can220 000 đồng30%
    4Thịt bò0,5 kg210 000 đồng/kg40%
    5Trứng gà20 quả30 000 đồng/chục40%
    6Thịt lợn2 kg170 000 đồng /kg40%
    7Cam3 kg45 000 đồng /kg50%

    Tổng
    Hỏi gia đình em phải thanh toán bao nhiêu tiền?
    Bài 4: Cửa hàng thời trang Tokyo life có chương trình
    giảm giá như trong hình
    Mẹ muốn mua một chiếc áo có giá là 500 000 đồng.
    Trong túi mẹ hiện có 375 000 đồng, liệu mẹ có đủ tiền mua
    chiếc áo đó không? Vì sao?
    Bài 5: Gia đình em cần thay chiếc ti-vi. Mẹ em đã đi tham khảo giá ở trung
    tâm Điện máy xanh. Chiếc ti-vi mẹ muốn mua có ghi giá 8 600 000 đồng và cửa
    hàng đang giảm giá 20%. Mẹ sang cửa hàng điện máy Media Mart cũng với
    chiếc ti-vi đó nhưng đang có chương trình giảm giá 30% và giá niêm yết là 9
    200 000 đồng. Mẹ nên chọn mua ở đâu cho tiết kiệm? Vì sao?
    Được áp dụng kiến thức vừa học để tập dượt với những tình huống giả định
    nhưng rất chân thật và gần gũi chính là bước đầu cho trẻ kiểm chứng kiến thức
    vừa học, cho trẻ thấy được toán học gắn bó với đời sống, thấy vai trò của Toán
    học, tạo dựng niềm tin và khơi dậy động cơ, hứng thú học tập cho các em.
    Giáo viên: Nguyễn Thị Thêu Trường Tiểu học Trần Nhân Tông – TP. Nam Định
    19
    Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm phát triển năng lực học sinh
    3.3. Giải pháp thứ ba: Lựa chọn các phƣơng pháp, hình thức tổ chức dạy
    học tạo cơ hội để học sinh đƣợc áp dụng kiến thức Toán học vào thực tiễn.
    Sau khi giáo viên đã quan tâm đến việc đổi mới nội dung thì việc đổi mới
    phương pháp, hình thức dạy học là việc làm cấp thiết để các em được trải
    nghiệm thực tế, phát huy cao nhất phẩm chất và năng lực của người học.
    Bên cạnh việc sử dụng thường xuyên các phương pháp dạy học tích cực trong
    môn Toán như: phương pháp nêu và giải quyết vấn đề thực tiễn, phương pháp trực
    quan, gợi mở vấn đáp… tôi đã chú trọng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy
    học theo hướng tăng cường các hoạt động ứng dụng trải nghiệm và dạy học
    theo dự án.
    Một trong những phương pháp dạy học có thể nói giúp giáo viên rèn luyện
    cho học sinh khả năng vận dụng kiến thức được học vào thực tiễn một cách nhanh
    nhất, hiệu quả nhất, đó chính là: dạy học trải nghiệm và dạy học theo dự án.
    Dạy học trải nghiệm và dạy học dự án là những hình thức dạy học mà học
    sinh được học dưới sự điều khiển và giúp đỡ của các giáo viên, nhưng phải tự
    giải quyết nhiệm vụ học của mình, nó đòi hỏi sự kết hợp cả về mặt lý thuyết và
    thực hành. Thông qua quá trình nó sẽ tạo ra những sản phẩm học tập.
    Dạy học trải nghiệm và dạy học theo dự án có nhiều đặc điểm riêng và
    rất rõ ràng để phân biệt với các hình thức khác. Đồng thời các đặc điểm này
    cũng rất phù hợp và tạo nên sự tích cực cho các học sinh.
    Việc trải nghiệm và thực hiện các dự án học tập giúp học sinh vận dụng
    một cách sáng tạo nhất, tổng hợp nhất các kiến thức không chỉ đối với môn Toán
    vào việc xử lý các tình huống mang tính thực tiễn cao ngay trong môi trường
    trường học và dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
    3.3.1. Hoạt động trải nghiệm ứng dụng
    Với thời lượng ít nhất 1 tiết/tuần cho việc tổ chức cho hoạt động trải
    nghiệm. Tôi thường lựa chọn các lĩnh vực mang đậm tính ứng dụng toán học
    vào thực tiễn và phù hợp với cấu trúc chương trình để giúp các em vừa được học
    tập, rèn luyện, vừa vui chơi.
    Giáo viên: Nguyễn Thị Thêu Trường Tiểu học Trần Nhân Tông – TP. Nam Định
    20
    Dạy học Toán 5 gắn liền với thực tiễn cuộc sống nhằm phát triển năng lực học sinh
    KẾ HOẠCH THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

    Các hoạt động trải nghiệmThời gian
    thực hiện
    Lĩnh vực sản xuấtBuổi 1, 2: Trải nghiệm tính toán, tính nhẩmTuần 3, 4
    mua bán, tài chínhnhanh trong mua bán
    Buổi 1: Trải nghiệm đo độ dài, chu vi, diện tíchTuần 5
    Buổi 2: Học ước lượng độ dài, chu vi, diện tíchTuần 6
    Lĩnh vựcBuổi 3: Trải nghiệm cân đo về khối lượngTuần 7
    đo lƣờngBuổi 4: Ước lượng về khối lượngTuần 8
    Buổi 5: Trải nghiệm về cách đo thể tíchTuần 24
    Buổi 6: Ước lượng về thể tíchTuần 25
    Buổi 1, 2: Trải nghiệm học tập cách quan sátTuần
    và cách thu thập thông tin.19, 20
    Lĩnh vực thống kêBuổi 3, 4: Trải nghiệm cách lập bảng biểuTuần
    và biểu diễn trên biểu đồ21, 22
    Buổi 5, 6: So sánh, phân tích, tổng hợp đưa raTuần
    các kết luận, đưa ra chứng cứ, lý lẽ giải thích.23, 24

    * Lĩnh vực tài chính
    Các bài toán về vật liệu, năng suất, sản xuất, nuôi trồng, buôn bán … luôn có
    tính ứng dụng rất cao. Có thể thấy, phần lớn các bài toán trong chương trình học kể
    từ lớp 1 đều xuất phát từ thực tế của sản xuất và kinh tế. Với dạng toán ứng dụng
    này, giáo viên không chỉ dạy được cho học sinh kiến thức toán học, tính thực tiễn.
    Cao hơn cả là qua đó có thể cho học sinh thấy nét đẹp của lao động, biết yêu lao
    động, biết chăm chỉ học tập, lao động để tự phục vụ bản thân, chăm sóc gia đình …
    Lĩnh vực mua và bán, trước nay luôn là lĩnh vực được ứng dụng nhiều trong cuộc
    sống. Đây chính là lĩnh vực rất hấp dẫn với học sinh, không chỉ bởi tính thực tế mà còn
    mang đậm yếu tố giáo dục hiện đại về quan điểm

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Xây dựng quỹ đề kiểm tra đánh giá định kì môn Toán 1 theo Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT

    SKKN Xây dựng quỹ đề kiểm tra đánh giá định kì môn Toán 1 theo Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
    Trong quá trình giáo dục nói chung, quá trình dạy học nói riêng, việc kiểm tra,
    đánh giá là khâu cuối cùng có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc nâng
    cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Trong dạy học, kiểm tra, đánh giá là hai việc khác
    nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thường được tiến hành liền kề nhau.
    Kiểm tra cung cấp các thông tin về kết quả đạt được của học sinh sau một giai đoạn
    học tập, những thuận lợi, khó khăn khi học tập… đồng thời là cơ sở không thể thiếu
    để đánh giá hiệu quả việc thực hiện mục tiêu dạy học, góp phần định hướng và thúc
    đẩy giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy, thúc đẩy học sinh đổi mới phương
    pháp học tập theo hướng tích cực, hiệu quả hơn. Đánh giá là việc đưa ra những nhận
    xét, những kết luận cần thiết về đối tượng hoặc hoạt động vừa kiểm tra, khẳng định
    lại kết quả kiểm tra. Hoạt động kiểm tra, đánh giá không chỉ phát hiện những mặt tốt,
    mặt chưa tốt, vướng mắc, khó khăn… mà còn xác định nguyên nhân để đề ra các
    giải pháp nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục. Kiểm tra, đánh giá đúng thực tế,
    chính xác và khách quan sẽ giúp người học tự tin, hăng say, nâng cao tính tích cực và
    năng lực sáng tạo trong học tập. Muốn kiểm tra, đánh giá được học sinh, giáo viên
    phải có công cụ để thực hiện công việc này. Một trong những công cụ đó chính là
    các đề kiểm tra môn học mình giảng dạy.
    Đối với các môn học trong nhà trường nói chung và môn Toán ở trường
    tiểu học nói riêng, việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh là việc
    bắt buộc phải thực hiện đầy đủ và nghiêm túc. Từ trước đến nay, ngoài việc
    kiểm tra, đánh giá thường xuyên như các môn học khác thì việc dạy học môn
    Toán đòi hỏi phải thực hiện kiểm tra, đánh giá định kì. Kết quả kiểm tra, đánh
    giá định kì sẽ phản ánh mức độ đạt được về năng lực Toán học của học sinh sau
    một giai đoạn học tập, làm cơ sở để giáo viên điều chỉnh nội dung, phương pháp
    dạy học môn Toán trong thời gian tiếp theo cho phù hợp, hiệu quả hơn.
    Nghị quyết 29 – NQ/TƯ ngày 04 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn
    diện giáo dục và đào tạo đã đang được thực hiện trong các nhà trường có nhấn mạnh
    vào việc phải đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh. Theo đó là sự
    2
    ra đời của Thông tư 30/2014/TT- BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 đã tạo ra
    những chuyển biến tích cực ban đầu trong việc kiểm tra, góp phần nâng cao chất
    lượng giáo dục tiểu học. Sau 2 năm triển khai thực hiện trên cả nước, Thông tư 30 đã
    cho thấy việc kiểm tra, đánh giá học sinh có nhiều ưu điểm được giáo viên, học sinh,
    phụ huynh và xã hội ghi nhận, tuy nhiên cũng không tránh khỏi những hạn chế.
    Chính vì vậy, Bộ GD&ĐT đã tiếp tục ban hành Thông tư 22 nhằm điều chỉnh, hoàn
    thiện hơn Thông tư 30, có hiệu lực từ ngày 6 tháng 11 năm 2016 với mục đích giúp
    cho giáo viên thực hiện việc đánh giá học sinh tiểu học thuận lợi và hiệu quả hơn.
    Năm học 2020 – 2021 là năm học đầu tiên thực hiện Chương trình giáo dục
    phổ thông 2018. Để thực hiện đánh giá học sinh tiểu học trên cơ sở kế thừa và đổi mới
    về nội dung, hình thức tổ chức triển khai đánh giá học sinh tiểu học đáp ứng yêu cầu
    thực hiện CTGDPT 2018, ngày 04/9/2020 Bộ GDĐT đã ban hành Thông tư số
    27/2020/TT-BGDĐT về việc quy định đánh giá học sinh tiểu học, trong đó khẳng
    định “Đánh giá học sinh tiểu học là quá trình thu thập, xử lý thông tin thông qua các
    hoạt động quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện
    của học sinh; tư vấn, hướng dẫn, động viên học sinh; diễn giải thông tin định tính hoặc
    định lượng về kết quả học tập, rèn luyện, sự hình thành và phát triển một số phẩm
    chất, năng lực của học sinh tiểu học.” và đảm bảo tính kế thừa, đổi mới. Điều này đòi
    hỏi người giáo viên cần có năng lực ra đề kiểm tra định kì một cách vững vàng, chắc
    chắn để thực hiện việc kiểm tra, đánh giá học sinh theo Thông tư 27 đạt hiệu quả cao.
    Trong các trường tiểu học, Thông tư 27 mới được triển khai, thực hiện từ năm
    học 2020 – 2021 nên phần lớn giáo viên chưa kịp xây dựng quỹ đề thi cho các môn
    học nói chung và môn Toán nói riêng theo những điểm mới của Thông tư này. Việc
    xây dựng quỹ đòi hỏi giáo viên phải mất nhiều thời gian nghiên cứu vận dụng nhiều
    kiến thức, kĩ năng về môn học và về chuyên môn nghiệp vụ mới có thể làm tốt được.
    Bản thân tôi là giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 1 cần thực hiện những nhiệm vụ của
    người giáo viên; trong đó có nhiệm vụ xây dựng đề kiểm tra định kì các môn học nói
    chung, môn Toán nói riêng để đánh giá kết quả học tập của học sinh.
    Với những lí do trên, tôi nhận thấy: Quỹ đề kiểm tra định kì các môn học
    nói chung và môn Toán nói riêng là rất quan trọng và cần thiết. Đây là tiền đề
    3
    giúp tôi có thêm niềm tin, mạnh dạn quyết định viết sáng kiến kinh nghiệm:
    “Xây dựng quỹ đề kiểm tra đánh giá định kì môn Toán 1 theo Thông tư
    27/2020/TT-BGDĐT ”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến
    1.1 Nghiên cứu Chƣơng trình môn Toán ở tiểu học và chƣơng trình môn
    Toán lớp 1 theo Chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018
    1.1.1 Khái quát chương trình môn Toán ở tiểu học
    1.1.1.1 Mục tiêu chương trình môn Toán ở tiểu học
    Giáo dục trong nhà trường Tiểu học hiện nay nhấn mạnh mục tiêu đào tạo
    con người phát triển toàn diện: có đức, có tài, có khả năng thích ứng với cuộc
    sống. Mục tiêu của môn Toán ở nhà trường Tiểu học được xác định trong
    CTGDPT 2018 là:
    a) Góp phần hình thành và phát triển năng lực toán học với yêu cầu cần đạt:
    • Thực hiện được các thao tác tư duy ở mức độ đơn giản;
    • Nêu và trả lời được câu hỏi khi lập luận, giải quyết vấn đề đơn giản;
    • Lựa chọn được các phép toán và công thức số học để trình bày, diễn đạt
    (nói hoặc viết) được các nội dung, ý tưởng, cách thức giải quyết vấn đề;
    • Sử dụng được ngôn ngữ toán học kết hợp với ngôn ngữ thông thường, động
    tác hình thể để biểu đạt các nội dung toán học ở những tình huống đơn giản;
    • Sử dụng được các công cụ, phương tiện học toán đơn giản để thực hiện
    các nhiệm vụ học tập toán đơn giản.
    b) Có những kiến thức và kĩ năng toán học cơ bản ban đầu, thiết yếu về:
    – Số và phép tính: Số tự nhiên, phân số, số thập phân và các phép tính trên
    những tập hợp số đó.
    – Hình học và Đo lường: Quan sát, nhận biết, mô tả hình dạng và đặc điểm
    (ở mức độ trực quan) của một số hình phẳng và hình khối trong thực tiễn; tạo lập
    một số mô hình hình học đơn giản; tính toán một số đại lượng hình học; phát
    triển trí tưởng tượng không gian; giải quyết một số vấn đề thực tiễn đơn giản
    gắn với Hình học và Đo lường (với các đại lượng đo thông dụng).
    4
    – Thống kê và Xác suất: Một số yếu tố thống kê và xác suất đơn giản; giải quyết
    một số vấn đề thực tiễn đơn giản gắn với một số yếu tố thống kê và xác suất.
    c) Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác như: Đạo đức, Tự
    nhiên và xã hội, Hoạt động trải nghiệm,… góp phần giúp học sinh có những
    hiểu biết ban đầu về một số nghề nghiệp trong xã hội.
    Môn Toán góp phần hình thành và phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ
    yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học đã được
    quy định tại Chương trình tổng thể. Đồng thời, Môn Toán góp phần hình thành
    và phát triển cho học sinh năng lực toán học đặc thù (biểu hiện tập trung nhất
    của năng lực tính toán) bao gồm các thành phần cốt lõi sau: năng lực tư duy và
    lập luận toán học; năng lực mô hình hoá toán học; năng lực giải quyết vấn đề
    toán học; năng lực giao tiếp toán học; năng lực sử dụng công cụ, phương tiện
    học toán.
    1.1.1.2. Phương pháp dạy học môn Toán ở tiểu học
    Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh để
    giúp học sinh nắm vững từng đơn vị kiến thức, hình thành cho các em những kĩ
    năng kĩ xảo nhất định. Nó cũng được coi là những cách truyền đạt tri thức có
    hiệu quả nhất, bằng con đường ngắn nhất của người này cho người khác. Các
    phương pháp dạy học rất đa dạng và cần sử dụng, kết hợp một cách khéo léo
    giữa các phương pháp để đạt được hiệu quả tốt nhất trong việc dạy học. Một số
    phương pháp chỉ vận dụng trong dạy Toán ở Tiểu học, đó là:
    + Phương pháp trực quan trong dạy học toán ở tiểu học
    + Phương pháp gợi mở – vấn đáp
    + Phương pháp thực hành luyện tập;
    + Phương pháp giảng giải minh họa;
    + Tổ chức nhóm học tập tương tác trong dạy học Toán ở Tiểu học
    + Tổ chức hoạt động học tập cá nhân bằng phiếu giao việc;
    + Tổ chức hoạt động trò chơi trong dạy học toán ở tiểu học;
    + Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề;
    5
    1.1.2. Chương trình môn Toán lớp 1
    1.1.2.1. Mục tiêu môn Toán lớp 1
    – Bước đầu hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu, các năng lực
    chung và năng lực toán học ở mức độ phù hợp với học sinh lớp 1.
    – Giúp học sinh đạt được các yêu cầu cơ bản:
    + Đếm, đọc, viết, so sánh, cộng, trừ (không nhớ) các số trong phạm vi 100.
    + Nhận dạng được (ở mức độ trực quan) một số hình phẳng và hình khối
    đơn giản.
    + Nhận biết được đơn vị đo độ dài xăng – ti – mét, tuần lễ, ngày trong tuần.
    + Thực hành đo độ dài (với đơn vị đo là cm), đọc đúng giờ trên đồng hồ,
    xem lịch (loại lịch tờ hàng ngày), lắp ghép, xếp hình (gắn với một số hình phẳng
    và hình khối đơn giản.)
    + Nhận biết được ý nghĩa và viết được phép tính (cộng, trừ) phù hợp với
    câu trả lời của bài toán có liên quan đến phép tính (cộng, trừ) trong một vài tình
    huống thực tiễn đơn giản.
    1.1.2.2. Nội dung chương trình môn Toán lớp 1 và yêu cầu cần đạt

    Nội dungYêu cầu cần đạt
    Số và phép tính
    Số tự nhiênĐếm, đọc, viết các
    số trong phạm vi
    100.
    – Đếm, đọc, viết được các số trong phạm vi
    10, trong phạm vi 20, trong phạm vi 100.
    So sánh các số trong
    phạm vi 100.
    – Nhận biết được cách so sánh, xếp thứ tự
    các số trong phạm vi 100 (ở các nhóm có
    không quá 4 số)
    Các phép
    tính với số
    tự nhiên
    Phép cộng, phép trừ– Nhận biết được ý nghĩa của phép cộng,
    phép trừ.
    – Thực hiện được phép cộng, phép trừ
    (không nhớ) các số trong phạm vi 100.
    – Làm quen với việc thực hiện tính toán
    trong trường hợp có hai dấu phép tính

    6

    cộng, trừ (theo thứ tự từ trái sang phải).
    Tính nhẩm– Thực hiện được việc cộng, trừ nhẩm các
    số trong phạm vi 10.
    – Thực hiện được việc cộng, trừ nhẩm các
    số tròn chục.
    Thực hành giải
    quyết vấn đề liên
    quan đến các phép
    tính cộng, trừ.
    – Nhận biết được ý nghĩa thực tiễn của
    phép tính (cộng, trừ) thông qua tranh ảnh,
    hình vẽ hoặc tình huống thực tiễn.
    – Nhận biết và viết được phép tính (cộng,
    trừ) phù hợp với câu trả lời của bài toán có
    lời văn và tính được kết quả đúng.
    Hình học trực quan
    Hình phẳng
    và hình khối
    Quan sát, nhận biết
    hình dạng của một
    số hình phẳng và
    hình khối đơn giản
    – Nhận biết được vị trí định hướng trong
    không gian: trên – dưới, phải – trái, trước
    sau, ở giữa.
    – Nhận biết được hình vuông, hình tròn,
    hình tam giác, hình chữ nhật thông qua
    việc sử dụng bộ đồ dùng học tập cá nhân
    hoặc vật thật.
    – Nhận dạng được khối lập phương, khối
    hộp chữ nhật thông qua việc sử dụng bộ đồ
    dùng học tập cá nhân hoặc vật thật.
    Thực hành lắp ghép,
    xếp hình gắn với
    một số hình phẳng
    và hình khối đơn
    giản
    – Nhận biết và thực hiện được việc lắp
    ghép, xếp hình gắn với sử dụng bộ đồ
    dùng học tập cá nhân hoặc vật thật.
    Đo lƣờng
    Đo lườngBiểu tượng về đại– Nhận biết được về “dài hơn”, “ngắn

    7

    lượng và đơn vị đo
    đại lượng
    hơn”.
    – Nhận biết được đơn vị đo độ dài: cm
    (Xăng-ti-mét); đọc và viết được số đo độ
    dài trong phạm vi 100 cm.
    – Nhận biết được mỗi tuần lế có 7 ngày và
    tên gọi, thứ tự các ngày trong tuần lễ.
    – Nhận biết được giờ đúng trên đồng hồ.
    Thực hành đo đại
    lượng
    – Thực hiện được việc đo và ước lượng độ
    dài theo đơn vị do tự quy ước (gang tay,
    bước chân,..)
    – Thực hiện được việc đo độ dài bằng
    thước thẳng với đơn vị đo là xăng – ti –
    mét (cm).
    – Thực hiện được việc đọc giờ đúng trên
    đồng hồ.
    – Xác định được thứ, ngày trong tuần khi
    xem lịch (loại lịch hằng ngày)
    – Giải quyết được một số vấn đề thực tiễn
    đơn giản liên quan đến đo độ dài, đọc giờ
    đúng và xem lịch (loại lịch hằng ngày)
    Hoạt động thực hành và trải nghiệm
    Hoạt động 1: Thực hành ứng dụng các kiến thức toán học vào thực tiễn, chẳng
    hạn:
    – Thực hành đếm, nhận biết số, thực hiện phép tính trong một số tình huống thực
    tiễn hằng ngày (ví dụ: đếm số bàn học và số cửa sổ trong lớp học, đếm số bạn
    nam trong tổ, …)
    – Thực hành các hoạt động liên quan đến vị trí, định hướng không gian (ví dụ:
    xác định được một vật ở trên hoặc dưới mặt bàn, một vật cao hơn hoặc thấp hơn
    vất khác, …)
    – Thực hành đo và ước lượng độ dài một số đồ vật trong thực tế gắn với đơn vị

    8

    đo xăng – ti – mét (cm), thực hành đọc giờ đúng trên đồng hồ, xem lịch loại lịch
    tờ hằng ngày.
    Hoạt động 2: Tổ chức các hoạt động ngoài giờ chính khóa (ví dụ: các trò chơi
    học toán, …) liên quan đến ôn tập, củng cố các kiến thức cơ bản.

    1.1.2.3. Thời lượng thực hiện Chương trình và thời lượng dành cho các nội
    dung giáo dục
    Thời lượng cho môn Toán lớp 1: 3 tiết/ tuần x 35 tuần = 105 tiết.
    Ước lượng thời gian (tính theo %) cho các mạch nội dung toán ở lớp 1:

    Mạch kiến thứcSố và phép tínhHình học và đo
    lường
    Hoạt động thực
    hành và trải
    nghiệm
    Thời lƣợng80%15%5%

    1.1.2.4. Phương pháp dạy học môn Toán lớp 1
    Để dạy tốt môn Toán lớp 1 người giáo viên cần phải sử dụng và kết hợp
    các phương pháp dạy học một cách linh hoạt, phù hợp và khéo léo. Đặc biệt, cần
    chú trọng việc đổi mới phương pháp dạy học vì đây chính là điểm nhấn chủ yếu
    nhất trong đổi mới chương trình môn Toán. Để đổi mới phương pháp dạy học
    tốt, đạt hiệu quả, người giáo viên cần chú ý:
    – Tổ chức quá trình dạy học theo hướng kiến tạo phù hợp với tiến trình
    nhận thức, năng lực nhận thức, cách thức học tập khác nhau của từng cá nhân
    HS, tạo điều kiện giúp người học phát huy tính tích cực, độc lập, phát triển các
    năng lực chung và năng lực toán học.
    – Linh hoạt trong việc vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích
    cực,… Kết hợp các hoạt động dạy học trong lớp học với hoạt động thực hành,
    trải nghiệm. Khuyến khích sử dụng các phương tiện nghe nhin, phương tiện kĩ
    thuật hiện đại hỗ trợ quá trình dạy học, đồng thời coi trọng việc sử dụng các
    phương tiện truyền thống.
    9
    – Sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học theo tiến trình tổ chức cho HS
    hoạt động trải nghiệm khám phá phát hiện. Tiến trình đó bao gồm các bước chủ
    yếu: Trải nghiệm – Hình thành kiến thức mới – Thực hành, luyện tập – Vận dụng.
    Bên cạnh đó, tổ chức cho HS được tham gia một số hoạt động thực hành ứng
    dụng các kiến thức toán học vào thực tiễn và các hoạt động ngoài giờ chính khoá
    liên quan đến ôn tập, củng cố các kiến thức cơ bản.
    – Quá trình dạy Toán 1 không phải là quá trình áp đặt một cách cứng nhắc
    mà là một quá trình linh hoạt và có tính “mở”. Giáo viên cần căn cứ vào đặc
    điểm của học sinh, điều kiện, hoàn cảnh của từng lớp học, từng trường để chủ
    động lựa chọ hay tiến hành những điều chỉnh hay bổ sung cụ thể về nội dung,
    phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Tuy nhiên, việc điều chỉnh phải trên
    cơ sở đảm bảo yêu cầu cần đạt của chương trình môn Toán (với những kiến
    thức, kĩ năng cơ bản, trọng tâm trong mỗi bài học), nội dung điều chỉnh phải phù
    hợp với thực tế cuộc sống, với truyền thống văn hóa của cộng đồng dân cư nơi
    HS sinh sống, phù hợp với đặc điểm và trình độ HS trong lớp học.
    1.2. Nghiên cứu Thông tƣ 27/2020/TT-BGDĐT về đánh giá kết quả học tập của
    học sinh và Hƣớng dẫn cách thiết kế đề kiểm tra định kì môn Toán theo TT27
    1.2.1. Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT về đánh giá kết quả học tập của học sinh
    Năm học 2020 – 2021 là năm học đầu tiên ngành Giáo dục triển khai
    Chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số
    32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
    (Chương trình giáo dục phổ thông 2018) đối với lớp 1; thực hiện các nội dung
    theo Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội, Chỉ thị số
    16/CT-TTg ngày 18/6/2018 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới chương trình,
    sách giáo khoa giáo dục phổ thông bảo đảm chất lượng, hiệu quả, đúng lộ trình.
    Để thực hiện đánh giá học sinh tiểu học trên cơ sở kế thừa và đổi mới về nội
    dung, hình thức tổ chức triển khai đánh giá học sinh tiểu học đáp ứng yêu cầu
    thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018, ngày 04/9/2020 Bộ GDĐT đã
    ban hành Thông tư số 27/2020/TT-BGDĐT về việc quy định đánh giá học sinh
    10
    tiểu học với mục đích giúp cho giáo viên thực hiện việc đánh giá học sinh tiểu
    học thuận lợi và hiệu quả hơn. Cụ thể như sau:
    a) Đánh giá định kỳ về nội dung học tập các môn học, hoạt động giáo dục ở bậc
    Tiểu học:
    – Vào giữa học kỳ I, cuối học kỳ I, giữa học kỳ II và cuối năm học, giáo
    viên dạy môn học căn cứ vào quá trình đánh giá thường xuyên và yêu cầu cần
    đạt, biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của từng môn học, hoạt động
    giáo dục để đánh giá học sinh đối với từng môn học, hoạt động giáo dục theo
    các mức sau:
    + Hoàn thành tốt: thực hiện tốt các yêu cầu học tập và thường xuyên có
    biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của môn học hoặc hoạt động giáo
    dục;
    + Hoàn thành: thực hiện được các yêu cầu học tập và có biểu hiện cụ thể về
    các thành phần năng lực của môn học hoặc hoạt động giáo dục;
    + Chưa hoàn thành: chưa thực hiện được một số yêu cầu học tập hoặc chưa có
    biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của môn học hoặc hoạt động giáo dục.
    – Vào cuối học kỳ I và cuối năm học, đối với các môn học bắt buộc: Tiếng
    Việt, Toán, Ngoại ngữ 1, Lịch sử và Địa lí, Khoa học, Tin học và Công nghệ có
    bài kiểm tra định kỳ;
    Đối với lớp 4, lớp 5, có thêm bài kiểm tra định kỳ môn Tiếng Việt, môn
    Toán vào giữa học kỳ I và giữa học kỳ II.
    – Đề kiểm tra định kỳ phù hợp với yêu cầu cần đạt và các biểu hiện cụ thể
    về các thành phần năng lực của môn học, gồm các câu hỏi, bài tập được thiết kế
    theo 3 mức độ. Những điểm mới về đề kiểm tra định kỳ theo TT27/2020 so với
    TT22/2016 được thể hiện cụ thể như sau:

    TT27/2020TT22/2016
    – Mức 1: Nhận biết, nhắc lại hoặc mô
    tả được nội dung đã học và áp dụng
    trực tiếp để giải quyết một số tình
    huống, vấn đề quen thuộc trong học
    – Mức 1: nhận biết, nhắc lại được kiến
    thức, kĩ năng đã học;
    – Mức 2: hiểu kiến thức, kĩ năng đã
    học, trình bày, giải thích được kiến

    11

    tập;
    – Mức 2: Kết nối, sắp xếp được một số
    nội dung đã học để giải quyết vấn đề
    có nội dung tương tự;
    – Mức 3: Vận dụng các nội dung đã
    học để giải quyết một số vấn đề mới
    hoặc đưa ra những phản hồi hợp lý
    trong học tập và cuộc sống.
    thức theo cách hiểu của cá nhân;
    – Mức 3: biết vận dụng kiến thức, kĩ
    năng đã học để giải quyết những vấn
    đề quen thuộc, tương tự trong học tập,
    cuộc sống;
    – Mức 4: vận dụng các kiến thức, kĩ
    năng đã học để giải quyết vấn đề mới
    hoặc đưa ra những phản hồi hợp lý
    trong học tập, cuộc sống một cách linh
    hoạt;

    1.2.1.1. Mục đích, nguyên tắc đánh giá
    1.2.1.1.1. Mục đích đánh giá
    Mục đích chung của việc đánh giá là để nắm bắt được quá trình thực hiện
    và kết quả thực hiện hoạt động dạy học, giáo dục học sinh, trên cơ sở đó giúp
    cho những người thực hiện điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy – học và giáo
    dục để đạt hiệu quả cao hơn. Cụ thể như sau:
    – Giúp giáo viên nắm bắt và đưa ra nhận định đúng đắn về những ưu điểm
    nổi bật và những hạn chế của mỗi học sinh về năng lực học tập, về phẩm chất,
    kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh để động viên, khích lệ
    hoặc giúp các em khắc phục khó khăn trong quá trình học tập. Đồng thời giáo
    viên sẽ điều chỉnh phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục
    trong quá trình và sau mỗi quá trình dạy học cho phù hợp, hiệu quả, góp phần
    thực hiện tốt mục tiêu giáo dục Tiểu học.
    – Giúp học sinh có khả năng tự nhận xét, tham gia nhận xét; tự học, tự điều
    chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ.
    – Giúp cha mẹ học sinh hoặc người giám hộ (sau đây gọi chung là cha mẹ
    học sinh) tham gia đánh giá quá trình và kết quả học tập, rèn luyện, quá trình
    hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh; tích cực hợp tác với
    nhà trường trong các hoạt động giáo dục học sinh.
    12
    – Giúp cán bộ quản lý giáo dục các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động giáo
    dục, đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá nhằm đạt hiệu quả
    giáo dục.
    – Giúp các tổ chức xã hội nắm thông tin chính xác, khách quan, phát huy
    nguồn lực xã hội tham gia đầu tư phát triển giáo dục.
    1.2.1.1.2. Nguyên tắc đánh giá
    – Đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh, coi trọng việc động viên, khuyến
    khích sự cố gắng trong học tập, rèn luyện của học sinh, giúp học sinh phát huy
    nhiều nhất khả năng, đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan.
    – Đánh giá toàn diện học sinh thông qua đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến
    thức, kĩ nẵng và một số biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh theo mục
    tiêu giáo dục tiểu học.
    – Đánh giá thường xuyên bằng nhận xét, đánh giá định kì bằng điểm số kết
    hợp với nhận xét, kết hợp đánh giá của giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh,
    trong đó đánh giá của giáo viên là quan trọng nhất.
    – Đánh giá sự tiến bộ của học sinh, không so sánh học sinh này với học sinh
    khác, không tạo áp lực cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh.
    1.2.1.2. Nội dung, cách thức, công cụ đánh giá.
    1.2.1.2.1. Nội dung đánh giá
    – Đánh giá quá trình học tập, sự tiến bộ và kết quả học tập của học sinh đáp
    ứng yêu cầu cần đạt và biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của từng
    môn học, hoạt động giáo dục theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đối
    với cấp tiểu học.
    – Đánh giá sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh
    thông qua những phẩm chất chủ yếu và những năng lực cốt lõi như sau:
    – Những phẩm chất chủ yếu: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách
    nhiệm.
    – Những năng lực cốt lõi:
    +) Những năng lực chung: tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết
    vấn đề và sáng tạo;
    13
    +) Những năng lực đặc thù: ngôn ngữ, tính toán, khoa học, công nghẹ , tin
    học, thẩm mĩ, thể chất.
    1.2.1.2.2. Cách thức đánh giá
    a. Đánh giá thường xuyên
    Đánh giá thường xuyên là đánh giá trong quá trình học tập, rèn luyện về
    kiến thức kĩ năng, thái độ và một số biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh,
    được thực hiện theo tiến trình nội dung của các môn học và các hoạt động giáo
    dục.
    Đánh giá thường xuyên cung cấp thông tin phản hổi cho giáo viên và học
    sinh nhằm hỗ trợ, điều chỉnh kịp thời, thúc đẩy sự tiến bộ của học sinh theo mục
    tiêu giáo dục tiểu học.
    * Đánh giá thường xuyên về học tập.
    – Giáo viên dùng lời nói chỉ ra cho học sinh biết được chỗ đúng, chưa đúng
    và cách sửa chữa, viết nhận xét vào vở hoặc sản phẩm học tập của học sinh khi
    cần thiết, có biện pháp cụ thể giúp đỡ kịp thời.
    – Học sinh tự nhận xét và tham gia nhận xét sản phẩm học tập của bạn,
    nhóm bạn trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập và làm tốt hơn.
    – Khuyến khích cha mẹ học sinh trao đổi với giáo viên về các nhận xét,
    đánh giá học sinh bằng các hình thức phù hợp và phân phối với giáo viên động
    viên, giúp đỡ học sinh học tập, rèn luyện.
    * Đánh giá thường xuyên về năng lực, phẩm chất.
    – Giáo viên căn cứ vào các biểu hiện về nhận thức, kĩ năng, thái độ của học
    sinh ở từng năng lực, phẩm chất để nhận xét và được tham gia nhận xét về bạn,
    nhóm bạn về những biểu hiện của từng năng lực, phẩm chất để hoàn thiện bản
    thân.
    – Khuyến khích cha mẹ học sinh trao đổi, phối hợp với giáo viên, động
    viên, giúp đỡ học sinh rèn luyện và phát triển năng lực, phẩm chất.
    b. Đánh giá định kì
    Đánh giá định kì là đánh giá kết quả giáo dục học sinh sau một giai đoạn
    học tập, rèn luyện, nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, rèn
    14
    luyện của học sinh theo yêu cầu cần đạt và biểu hiện cụ thể về các thành phần
    năng lực của từng môn học, hoạt động giáo dục được quy định trong chương
    trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học và sự hình thành, phát triển phẩm chất,
    năng lực học sinh.
    b1. Đánh giá định kỳ về nội dung học tập các môn học, hoạt động giáo dục:
    – Vào các thời điểm: giữa học kỳ I, cuối học kỳ I, giữa học kỳ II và cuối
    năm học, giáo viên dạy môn học căn cứ vào quá trình đánh giá thường xuyên và
    yêu cầu cần đạt, biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của từng môn học,
    hoạt động giáo dục để đánh giá học sinh đối với từng môn học, hoạt động giáo
    dục theo các mức sau:
    + Hoàn thành tốt: học sinh thực hiện tốt các yêu cầu học tập và thường
    xuyên có biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của môn học hoặc hoạt
    động giáo dục;
    + Hoàn thành: học sinh thực hiện được các yêu cầu học tập và có biểu hiện
    cụ thể về các thành phần năng lực của môn học hoặc hoạt động giáo dục;
    + Chưa hoàn thành: học sinh chưa thực hiện được một số yêu cầu học tập
    hoặc chưa có biểu hiện cụ thể về các thành phần năng lực của môn học hoặc hoạt
    động giáo dục.
    – Vào cuối học kỳ I và cuối năm học, đối với các môn học bắt buộc: Tiếng
    Việt, Toán, Ngoại ngữ 1, Lịch sử và Địa lí, Khoa học, Tin học và Công nghệ có
    bài kiểm tra định kỳ;
    Đối với lớp 4, lớp 5, có thêm bài kiểm tra định kỳ môn Tiếng Việt, môn
    Toán vào giữa học kỳ I và giữa học kỳ II.
    – Đề kiểm tra định kỳ phù hợp với yêu cầu cần đạt và các biểu hiện cụ thể
    về các thành phần năng lực của môn học, gồm các câu hỏi, bài tập được thiết kế
    theo các mức như sau:
    + Mức 1: Nhận biết, nhắc lại hoặc mô tả được nội dung đã học và áp dụng
    trực tiếp để giải quyết một số tình huống, vấn đề quen thuộc trong học tập;
    + Mức 2: Kết nối, sắp xếp được một số nội dung đã học để giải quyết vấn
    đề có nội dung tương tự;
    15
    + Mức 3: Vận dụng các nội dung đã học để giải quyết một số vấn đề mới
    hoặc đưa ra những phản hồi hợp lý trong học tập và cuộc sống.
    – Bài kiểm tra được giáo viên sửa lỗi, nhận xét, cho điểm theo thang điểm 10,
    không cho điểm thập phân và được trả lại cho học sinh. Điểm của bài kiểm tra
    định kỳ không dùng để so sánh học sinh này với học sinh khác. Nếu kết quả bài
    kiểm tra cuối học kỳ I và cuối năm học bất thường so với đánh giá thường
    xuyên, giáo viên đề xuất với nhà trường có thể cho học sinh làm bài kiểm tra
    khác để đánh giá đúng kết quả học tập của học sinh.
    b2. Đánh giá định kỳ về sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực:
    Vào giữa học kỳ I, cuối học kỳ I, giữa học kỳ II và cuối năm học, giáo viên
    chủ nhiệm phối hợp với các giáo viên dạy cùng lớp, thông qua các nhận xét, các
    biểu hiện trong quá trình đánh giá thường xuyên về sự hình thành và phát triển
    từng phẩm chất chủ yếu, năng lực cốt lõi của mỗi học sinh, đánh giá theo các mức
    sau:
    – Tốt: Đáp ứng tốt yêu cầu giáo dục, biểu hiện rõ và thường xuyên.
    – Đạt: Đáp ứng được yêu cầu giáo dục, biểu hiện nhưng chưa thường
    xuyên.
    – Cần cố gắng: Chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu giáo dục, biểu hiện chưa rõ.
    1.2.1.2.3. Công cụ đánh giá
    – Công cụ đánh giá với hình thức kiểm tra thường xuyên là bảng tham
    chiếu trong đó xác định rõ các tiêu chí và chỉ báo hành vi (biểu hiện cụ thể)
    tương ứng với các mức độ đánh giá (Hoàn thành tốt, hoàn thành, chưa hoàn
    thành)
    – Công cụ đánh giá với hình thức kiểm tra định kì chính là đề bài kiểm tra
    định kì và hướng dẫn chấm bài kiểm tra định kì.
    1.2.1.3. Quy trình thiết kế đề kiểm tra định kì: gồm 4 bước chính
    1.2.1.3.1. Bước 1: Xác định mục tiêu, mức độ, nội dung và hình thức kiểm tra
    Trước khi ra đề kiểm tra , cần đối chiếu với các mục tiêu dạy học để xác
    minh mục tiêu, mức độ, nội dung và hình thức kiểm tra nhằm đánh giá khách
    16
    quan trình độ học sinh, đồng thời thu thập các thông tin phản hồi để điều chỉnh
    quá trình dạy học và quản lí GD.
    1.2.1.3.2. Bước 2: Thiết lập bảng hai chiều (Ma trận nội dung đề kiểm tra)
    – Lập 1 bảng có hai chiều, trong đó một chiều thể hiện nội dung, một chiều
    thể hiện các mức độ nhận thức cần kiểm tra.
    – Viết các chuẩn cần kiểm tra ứng với mỗi mức độ nhận thức, mỗi nội dung
    tương ứng trong từng ô của bảng.
    – Xác định số điểm cho từng nội dung kiến thức và mức độ nhận thức cần
    KT trong đó:
    + Xác định số điểm cho từng nội dung căn cứ vào tổng số tiết quy định và
    mức độ quan trọng của nội dung đó.
    + Xác định số điểm cho từng mức độ nhận thức để đảm bảo cho phân phối
    điểm có dạng tương đối chuẩn dựa trên nguyên tắc: mức độ nhận thức cơ bản
    nên có tỉ lệ điểm số cao hơn hoặc bằng mức độ nhận thức khác.
    + Xác định số lượng, hình thức cho các câu hỏi trong mỗi ô của bảng hai
    chiều.
    + Xác định thời gian, số điểm tương ứng cho từng phần.
    + Xác định số điểm, số lượng câu hỏi cho từng ô của bảng hai chiều.
    1.2.1.3.3. Bước 3: Thiết kế câu hỏi theo bảng hai chiều (Thiết kế nội dung cụ thể
    của đề kiểm tra)
    Căn cứ vào bảng hai chiều, giáo viên thiết kế câu hỏi cho đề kiểm tra cần
    xác định rõ nội dung, hình thức, lĩnh vực kiến thức và mức độ nhận thức cần đo
    qua từng câu hỏi và toàn bộ câu hỏi trong đề. Các câu hỏi phải được biên soạn
    sao cho đánh giá được chính xác mức độ đáp ứng chuẩn kiến thức, kĩ năng và
    yêu cầu về thái độ được quy định chương trình môn học.
    1.2.1.3.4. Bước 4: Xây dựng đáp án và hướng dẫn chấm.
    Việc xây dựng đáp án và hướng dẫn chấm được thể hiện trên cơ sở bám sát
    bảng hai chiều. Điểm toàn bài kiểm tra định kì tính theo thang điểm 10.
    17
    1.2.2. Về cách thiết kế đề kiểm tra định kì môn Toán
    1.2.2.1. Yêu cầu, tiêu chí thiết kế
    1.2.2.1.1. Về yêu cầu khi thiết kế đề kiểm tra định kì môn Toán
    * Yêu cầu cơ bản:
    – Nội dung bao quát chương trình đã học.
    – Đảm bảo mục tiêu dạy học; bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu
    về thái độ ở các mức độ đã được quy định trong chương trình môn học, cấp học.
    – Đảm bảo tính chính xác, khoa học.
    – Phù hợp với thời gian kiểm tra.
    – Góp phần đánh giá khách quan trình độ học sinh.
    Từng bước đổi mới hình thức ra đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của
    từng học sinh theo tiếp cận năng lực và đảm bảo phù hợp với điều kiện cụ thể
    của từng địa phương, vùng miền. Đề kiểm tra môn Toán kết hợp hình thức kiểm
    tra tự luận với trắc nghiệm khách quan.
    Thông thường hình thức trắc nghiệm khách quan có các dạng câu hỏi sau:
    – Nhiều lựa chọn;
    – Có/Không; Đúng/Sai phức hợp;
    – Đối chiếu cặp đôi;
    – Điền khuyết – yêu cầu các HS viết tiếp vào ô trống; chỗ chấm cho thích
    hợp; viết ra ý kiến, nhận định của mình hoặc giải thích logic;
    – Câu hỏi ngắn;
    – Câu hỏi bằng hình vẽ;
    – Điền đáp án.
    * Yêu cầu cụ thể với từng dạng câu hỏi:
    – Các yêu cầu đối với câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn:
    + Câu hỏi phải đánh giá những nội dung quan trọng của chương trình;
    + Câu hỏi phải phù hợp với các tiêu chí ra đề KT về mặt trình bày và số
    điểm tương ứng;
    + Câu dẫn phải đặt ra câu hỏi trực tiếp hoặc một vấn đề cụ thể;
    18
    + Từ ngữ, cấu trúc của câu hỏi phải rõ ràng và dễ hiểu đối với mọi học
    sinh;
    + Mỗi phương án nhiễu phải hợp lý đối với những học sinh không nắm
    vững kiến thức;
    + Mỗi phương án sai nên xây dựng dựa trên các lỗi hay nhận thức sai lệch
    của học sinh;
    + Đáp án đúng của câu hỏi này phải độc lập với đáp án đúng của các câu
    hỏi khác trong bài kiểm tra;
    + Phần lựa chọn phải thống nhất và phù hợp với nội dung của câu dẫn;
    + Mỗi câu hỏi chỉ có một đáp án đúng, chính xác nhất;
    + Không đưa ra phương án “Tất cả các đáp án trên đều đúng” hoặc
    “Không có phương án nào đúng”.
    – Các yêu cầu đối với câu hỏi tự luận:
    + Câu hỏi phải đánh giá nội dung quan trọng của chương trình.
    + Câu hỏi phải phù hợp với các tiêu chí ra đề kiểm tra về mặt hình thức và
    số điểm tương ứng.
    + Câu hỏi yêu cầu học sinh phải vận dụng kiến thức vào các tình huống
    mới.
    + Câu hỏi thể hiện rõ nội dung và cấp độ tư duy cần đo;
    + Nội dung câu hỏi phải đặt ra một yêu cầu và các hướng dẫn cụ thể về
    cách thực hiện yêu cầu đó.
    + Yêu cầu của câu hỏi phù hợp với trình độ và nhận thức của học sinh.
    + Yêu cầu học sinh phải hiểu nhiều hơn là ghi nhớ những khái niệm, thông
    tin.
    + Ngôn ngữ sử dụng trong câu hỏi phải truyền tải được hết những yêu cầu
    của cán bộ ra đề đến học sinh.
    1.2.2.1.2. Về tiêu chí đề kiểm tra định kì
    – Nội dung không nằm ngoài chương trình.
    – Nội dung rải rác trong chương trình học kì.
    19
    – Có nhiều câu hỏi trong một đề. Tùy theo đặc trưng của từng bộ môn, phân
    định tỉ lệ phù hợp giữa câu trắc nghiệm khách quan và câu hỏi tự luận. Đối với
    đề kiểm tra có câu trắc nghiệm khách quan: không ít hơn 5 câu đối với thời
    lượng từ 35 – 40 phút.
    – Tỉ lệ điểm dành cho các mức độ nhận thức so với tổng số điểm phù hợp
    với chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ ở từng bộ môn; đảm bảo tỉ lệ
    chung cho cấp học. Tùy theo từng trường có thể đưa ra tỉ lệ ở các mức khác
    nhau phù hợp với yêu cầu đánh giá của từng địa phương, chẳng hạn: Đề kiểm tra
    định kì phù hợp với chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực,
    gồm các câu hỏi, bài tập được thiết kế theo các mức sau: Mức 1: Khoảng 50%;
    Mức 2: Khoảng 30%; Mức 3: Khoảng 20%.
    – Các câu hỏi của đề được diễn đạt rõ, đơn nghĩa, nêu đúng và đủ yêu cầu
    của đề.
    – Mỗi câu hỏi phải phù hợp với thời gian dự kiến trả lời và với số điểm
    dành cho nó.
    1.2.2.2. Quy trình thiết kế
    Với môn Toán, việc thiết kế đề kiểm tra định kì dựa trên 4 bước chung đã
    nêu trên để cụ thể hóa hơn thông qua 6 bước như sau:
    – Bƣớc 1: Xác định rõ mục đích đánh giá (đánh giá kết quả học tập, năng
    lực, phẩm chất nào của học sinh? Vào thời điểm nào? Đối học sinh nào? …)
    – Bƣớc 2: Xác định hình thức đánh giá: Đánh giá qua kiểm tra tự luận,
    kiểm tra trắc nghiệm khách quan hoặc kiểm tra kết hợp cả hai hình thức trên.
    – Bƣớc 3: Xây dựng nội dung đánh giá, lập bảng ma trận của đề kiểm tra.
    (dựa vào mục đích đánh giá, Chuẩn kiến thức, kĩ năng, nội dung trọng tâm cốt
    lõi….để xác định các chủ đề nội dung cần đánh giá).
    – Bƣớc 4: Biên soạn câu hỏi theo ma trận (xây dựng nội dung kiểm tra)
    Viết câu hỏi phải phù hợp với nội dung, yêu cầu kiến thức, kĩ năng và mức
    độ tư duy cần được đánh giá tương ứng với nội dung mục tiêu đo lường cụ thể.
    – Bƣớc 5: Xây dựng hướng dẫn chấm (đáp án), thời gian làm bài, điểm số.
    20
    – Bƣớc 6: Kiểm tra, rà soát hoặc thẩm định lại các câu hỏi trong đề kiểm
    tra. (Rà soát lại các câu hỏi/ bài tập, mức độ, điểm số, dựa vào các yêu cầu ở các
    bước 1, bước 2)
    2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến
    2.1. Xác định các bƣớc xây dựng quỹ đề kiểm tra định kì môn Toán lớp 1
    theo bộ sách Cánh diều
    Bƣớc 1: Xác định mục đích, nội dung kiểm tra, đánh giá
    Đánh giá định kì kết quả học tập là đánh giá kết quả của học sinh sau một
    giai đoạn học tập, rèn luyện, nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ học
    tập của học sinh so với chuẩn kiến thức, kĩ năng quy định trong chương trình
    môn Toán lớp 1.
    Nội dung đánh giá học sinh môn Toán được làm 1 bài kiểm tra nhằm kiểm
    tra, đánh giá trình độ kiến thức, kĩ năng về toán của từng HS sau mỗi HK, năm
    học.
    Bƣớc 2: Xác định hình thức đánh giá: Đánh giá qua kiểm tra bằng câu
    hỏi tự luận kết hợp với câu hỏi trắc nghiệm khách quan.
    Bƣớc 3: Xây dựng nội dung đánh giá cụ thể và ma trận đề kiểm tra
    (thông qua việc thiết lập bảng 2 chiều)
    * Đối với bài kiểm tra môn Toán 1 (10 điểm):
    + Căn cứ vào thời điểm làm bài kiểm tra đánh giá định kì, thời lượng, nội
    dung chương trình, phân phối tỉ lệ theo mạch kiến thức: Số học: khoảng 80%,
    Hình học và Đại lượng khoảng 20% ;
    + Tỉ lệ các mức: Mức 1: khoảng 50%; Mức 2: khoảng 30%; Mức 3: khoảng
    20%.
    – Thời lượng làm bài kiểm tra: khoảng 35 phút.
    Bƣớc 4: Biên soạn câu hỏi theo ma trận
    Từ ma trận đề kiểm tra người giáo viên soạn ra những câu hỏi phù hợp với
    các chủ đề, nội dung cụ thể ở bước 3.
    21
    Bƣớc 5: Xây dựng hƣớng dẫn chấm (đáp án)
    Từ những câu hỏi ở bước 4, người giáo viên xây dựng đáp án, hướng dẫn
    chấm cho từng câu hỏi cụ thể.
    Bƣớc 6: Kiểm tra, rà soát hoặc thẩm định lại các câu hỏi trong đề kiểm tra
    Rà soát lại các câu hỏi/ bài tập, mức độ, điểm số… dựa vào các yêu cầu ở
    các bước 1, bước 2 và ma trận đề.
    Sau khi cho học sinh làm bài kiểm tra và thu lại kết quả, người giáo viên sẽ
    có nhận xét, đánh giá về tính phù hợp, khả thi của đề kiểm tra do mình biên soạn
    và rút ra kết luận cần thiết.
    2.2. Thực hiện xây dựng quỹ đề kiểm tra định kì môn Toán lớp 1
    2.2.1. Các đề kiểm tra cuối học kì I
    2.2.1.1. Ma trận đề kiểm tra cuối học kì 1 năm học 2020 -2021
    MÔN: TOÁN– LỚP 1

    Chủ đềMức 1Mức 2Mức 3Tổng
    TNTLTNTLTNTL
    Số họcSố câu4131110
    Câu số1, 2, 3,
    4
    85, 6, 7912
    Số điểm222118
    Hình
    học và
    đo
    lƣờng
    Số câu112
    Câu số1011
    Số điểm112
    TổngSố câu42311112
    Số điểm23211110

    22
    2.2.1.2. Các đề kiểm tra cuối học kì I

    Đề số 1ĐỀ KIỂM TRA ĐỊNH KÌ CUỐI HỌC KÌ 1 NĂM HỌC 2020 – 2021
    MÔN: TOÁN – LỚP 1

    Em hãy khoanh vào chữ cái trước kết quả đúng hoặc làm theo yêu cầu:
    Câu 1: Số thích hợp viết tiếp vào dãy số 1, 2, 3, 4,…
    A. 1 B. 5 C. 0 D. 6
    Câu 2: Các số viết theo thứ tự từ bé đến lớn là:

    A. 0, 3, 9, 10
    Câu 3: Số ?
    B. 9, 0, 3, 10
    7 – … = 2
    C. 9, 3, 0, 10D. 10, 3, 9, 0

    A. 3 B. 4 C. 5 D. 6
    Câu 4: Phép tính có kết quả bằng 9 là :
    A. 4 + 5 B. 5 + 5 C. 4 + 6 D. 4 + 4
    Câu 5. Điền dấu >, <, =
    3 + 5 …… 7
    A. > B. < C. =
    Câu 6. Đúng ghi Đ , sai ghi S

    a) 6 + 2 = 8c) 9 – 7 = 2
    b) 5 + 2 = 3d) 8 – 3 = 4

    Câu 7. Kết quả của phép tính : 8 – 3 – 2 = ?

    A. 2
    Câu 8: Tính
    B. 3C. 4

    D. 5

    2+ 3 = …….2 + 6 = …….8 – 4 = …….7 – 2 = …….
    3 + 4 = …….5 + 4 = …….10 – 3 = …….9 – 5 = …….

    Câu 9: Điền số thích hợp vào chỗ chấm
    Câu 10: Hình vẽ bên có:
    ….. hình vuông
    …… hình chữ nhật
    …… hình tròn
    …… hình tam giác
    + 5 + 1
    43
    – 7 – 1
    2
    2
    23
    Câu 11: Hình vẽ bên có:
    ….. khối hình lập phương
    ….. khối hình hộp chữ nhật
    Câu 12: Viết phép tính thích hợp với mỗi hình vẽ dƣới đây:
    ĐÁP ÁN VÀ HƢỚNG DẪN CHẤM ĐỀ SỐ 1

    Câu123457
    Đáp ánBACAAB
    Số điểm0,50,50,50,50,50,5

    Câu 6. Mỗi ý đúng đƣợc 0,25 điểm

    a) Đ b) Sc) Đ d) S
    Câu 8: Mỗi phép tính đúng đƣợc 0,25 điểm
    2+ 3 = 52 + 6 = 88 – 4 = 47 – 2 = 5
    3 + 4 = 75 + 4 = 910 – 3 = 79 – 5 = 4

    Câu 9: Mỗi ý đúng đƣợc 0,25 điểm
    + 5
    – 4
    – 3 – 4
    5
    3
    8
    4
    8 1
    24

    Câu 10: Mỗi ý đúng đƣợc 0,25 điểm
    3 hình vuông
    2 hình chữ nhật
    4 hình tròn
    2 hình tam giác
    Câu 11: Mỗi ý đúng đƣợc 0,5 điểm
    2 khối hình lập phương
    4 khối hình hộp chữ nhật

    Câu 12: Mỗi ý đúng đƣợc 0,5 điểm

    8+2=1041=3
    Đề số 2ĐỀ KIỂM TRA ĐỊNH KÌ CUỐI HỌC KÌ 1 NĂM HỌC 2020 – 2021
    MÔN: TOÁN – LỚP 1

    Em hãy khoanh vào chữ cái trước kết quả đúng hoặc làm theo yêu cầu:
    Câu 1: Số thích hợp viết tiếp vào dãy số 9, 8, 7, 6,…
    A. 5 B. 7 C. 0 D. 6
    Câu 2: Các số 0, 3, 9, 10 viết theo thứ tự từ lớn đến bé là:

    A. 0, 3, 9, 10
    Câu 3: Số ?
    B. 9, 0, 3, 10
    8 – … = 2
    C. 9, 3, 0, 10D. 10, 9, 3, 0

    A. 3 B. 4 C. 5 D. 6
    Câu 4: Phép tính có kết quả bằng 7 là :
    A. 4 + 5 B. 5 + 5 C. 1 + 6 D. 4 + 4
    Câu 5. Điền dấu >, <, =
    5 + 4 ……..9
    A. > B. < C. =
    Câu 6. Đúng ghi Đ , sai ghi S

    a) 4 + 2 = 8c) 1 + 7 = 8
    b) 5 – 2 = 3d) 8 – 7 = 2

    Câu 7. Kết quả của phép tính : 9 – 1 – 2 = ?

    A. 2
    Câu 8: Tính
    B. 6C. 8

    D. 5

    4 + 3 = …….2 + 6 = …….9 – 4 = …….8 – 2 = …….
    3 + 4 = …….2 + 4 = …….5 – 3 = …….9 – 8 = …….

    25
    Câu 9: Điền số thích hợp vào chỗ chấm
    Câu 10: Hình vẽ bên có:
    ….. hình vuông
    …… hình chữ nhật
    …… hình tròn
    …… hình tam giác.
    Câu 11: Hình vẽ bên có:
    ….. khối hình lập phương
    ….. khối hình hộp chữ nhật
    Câu 12: Viết phép tính thích hợp với mỗi hình vẽ dƣới đây:
    + 8 + 1
    43
    – 2 – 2
    3
    0
    26
    ĐÁP ÁN VÀ HƢỚNG DẪN CHẤM ĐỀ SỐ 2

    Câu123457
    Đáp ánADDCCB
    Số điểm0,50,50,50,50,50,5

    Câu 6. Mỗi ý đúng đƣợc 0,25 điểm

    a) S b) Đc) Đ d) S

    Câu 8: Mỗi phép tính đúng đƣợc 0,25 điểm

    4 + 3 = 72 + 6 = 89 – 4 = 58 – 2 = 6
    3 + 4 = 72 + 4 = 65 – 3 = 29 – 8 = 1

    Câu 9: Mỗi ý đúng đƣợc 0,25 điểm

    Câu 10: Mỗi ý đúng đƣợc 0,25 điểm
    3 hình vuông
    2 hình chữ nhật
    6 hình tròn
    5 hình tam giác
    Câu 11: Mỗi ý đúng đƣợc 0,5 điểm
    3 khối hình lập phương
    5 khối hình hộp chữ nhật

    Câu 12: Mỗi ý đúng đƣợc 0,5 điểm

    4+3=753=2
    Đề số 3ĐỀ KIỂM TRA ĐỊNH KÌ CUỐI HỌC KÌ 1 NĂM HỌC 2020 – 2021
    MÔN: TOÁN – LỚP 1

    Em hãy khoanh vào chữ cái trước kết quả đúng hoặc làm theo yêu cầu:

    Câu 1: Số?
    A. 1
    8 – 6 = ………..
    B. 2
    C. 3D. 0

    Câu 2: Các số 3, 5, 0, 9 viết theo thứ tự từ lớn đến bé là:

    A. 0, 3, 5, 9
    Câu 3: Số ?
    B. 9, 0, 3, 5
    1 + … = 7
    C. 9, 5, 3, 0D. 5, 9, 3, 0

    A. 3 B. 4 C. 5 D. 6
    Câu 4: Phép tính có kết quả bằng 5 là :
    A. 0 + 5 B. 1 + 5 C. 1 + 6 D. 3 + 3
    + 8 + 1
    43
    – 2 – 2
    3
    0 8 9
    5
    1
    27
    Câu 5. Điền dấu >, <, =
    5 + 4 …….. 6
    A. > B. < C. =
    Câu 6. Đúng ghi Đ , sai ghi S

    a) 2 + 2 = 5c) 2 + 7 = 9
    b) 9 – 2 = 7d) 7 – 7 = 10

    Câu 7. Kết quả của phép tính : 6 – 1 + 2 = ?

    A. 7
    Câu 8: Tính
    B. 8C. 6

    D. 5

    2 + 3 = …….1 + 6 = …….9 – 8 = …….6 – 2 = …….
    5 + 4 = …….1 + 4 = …….9 – 1 = …….9 – 6 = …….

    Câu 9: Điền số thích hợp vào chỗ chấm
    Câu 10: Hình vẽ bên có:
    ….. hình vuông
    …… hình chữ nhật
    …… hình tròn
    …… hình tam giác
    Câu 11: Hình vẽ bên có:
    ….. khối hình lập phương
    ….. khối hình hộp chữ nhật
    + 8
    – 6
    + 2 – 4
    7
    1
    28
    Câu 12: Viết phép tính thích hợp với mỗi hình vẽ dƣới đây:
    ĐÁP ÁN VÀ HƢỚNG DẪN CHẤM ĐỀ SỐ 3

    Câu123457
    Đáp ánBCDAAA
    Số điểm0,50,50,50,50,50,5

    Câu 6. Mỗi ý đúng đƣợc 0,25 điểm

    a) S b) Đc) Đ d) S

    Câu 8: Mỗi phép tính đúng đƣợc 0,25 điểm

    2 + 3 = 51 + 6 = 79 – 8 = 16 – 2 = 4
    5 + 4 = 91 + 4 = 59 – 1 = 89 – 6 = 3

    Câu 9: Mỗi ý đúng đƣợc 0,25 điểm

    Câu 10: Mỗi ý đúng đƣợc 0,25 điểm
    3 hình vuông
    3 hình chữ nhật
    1 hình tròn
    5 hình tam giác
    Câu 11: Mỗi ý đúng đƣợc 0,5 điểm
    5 khối hình lập phương
    2 khối hình hộp chữ nhật

    Câu 12: Mỗi ý đúng đƣợc 0,5 điểm

    51=45+1=6

    3
    9
    + 8
    – 6
    + 2 – 4
    7
    1 5
    3
    29

    Đề số 4ĐỀ KIỂM TRA ĐỊNH KÌ CUỐI HỌC KÌ 1 NĂM HỌC 2020 – 2021
    MÔN: TOÁN – LỚP 1

    Em hãy khoanh vào chữ cái trước kết quả đúng hoặc làm theo yêu cầu:

    Câu 1: Số?
    A. 1
    6 – 6 = ………..
    B. 2
    C. 3D. 0

    Câu 2: Các số 3, 5, 0, 9 viết theo thứ tự từ bé đến lớn là:
    A. 0, 3, 5, 9 B. 9, 0, 3, 5 C. 9, 5, 3, 0 D. 5, 9, 3, 0
    Câu 3: Số lớn nhất trong các số: 6; 9; 2; 7 là số:
    A. 6 B. 9 C. 2 D. 7
    Câu 4: Phép tính có kết quả bằng 6 là :
    A. 0 + 5 B. 2 + 5 C. 1 + 6 D. 3 + 3
    Câu 5. Điền dấu >, <, =
    9 – 7 …….. 6
    A. > B. < C. =
    Câu 6. Đúng ghi Đ , sai ghi S

    a) 2 + 2 = 4c) 2 + 1 = 3
    b) 9 – 2 = 6d) 7 – 7 = 0

    Câu 7. Kết quả của phép tính : 9 – 6 + 3 = ?

    A. 7
    Câu 8: Tính
    B. 8C. 6D. 5
    7 + 3 = …….3 + 6 = …….9 – 0 = …….8 – 2 = …….
    2 + 4 = …….4 + 4 = …….9 – 9 = …….8 – 6 = …….

    Câu 9: Điền số thích hợp vào chỗ chấm
    Câu 10: Hình vẽ bên có:
    ….. hình vuông
    …… hình chữ nhật
    …… hình tròn
    …… hình tam giác
    + 4
    – 3
    + 1 – 4
    4
    1
    30
    Câu 11: Hình vẽ bên có:
    ….. khối hình lập phương
    ….. khối hình hộp chữ nhật
    Câu 12: Viết phép tính thích hợp với mỗi hình vẽ dƣới đây:
    ĐÁP ÁN VÀ HƢỚNG DẪN CHẤM ĐỀ SỐ 4

    Câu123457
    Đáp ánDABDBC
    Số điểm0,50,50,50,50,50,5

    Câu 6. Mỗi ý đúng đƣợc 0,25 điểm

    a) Đ b) Sc) Đ d) Đ

    Câu 8: Mỗi phép tính đúng đƣợc 0,25 điểm

    7 + 3 = 103 + 6 = 99 – 0 = 98 – 2 = 6
    2 + 4 = 64 + 4 = 89 – 9 = 08 – 6 = 2

    Câu 9: Mỗi ý đúng đƣợc 0,25 điểm
    5 2
    + 4
    – 3
    + 1 – 4
    4
    1 3
    3
    31

    Câu 10: Mỗi ý đúng đƣợc 0,25 điểm
    2 hình vuông
    1 hình chữ nhật
    2 hình tròn
    5 hình tam giác
    Câu 11: Mỗi ý đúng đƣợc 0,5 điểm
    3 khối hình lập phương
    4 khối hình hộp chữ nhật

    Câu 12: Mỗi ý đúng đƣợc 0,5 điểm

    83=52+1=3
    Đề số 5ĐỀ KIỂM TRA ĐỊNH KÌ CUỐI HỌC KÌ 1 NĂM HỌC 2020 – 2021
    MÔN: TOÁN – LỚP 1

    Em hãy khoanh vào chữ cái trước kết quả đúng hoặc làm theo yêu cầu:

    Câu 1: Số?
    A. 6
    5 + 3 = ………..
    B. 8
    C. 7D. 9

    Câu 2: Các số 5, 4, 8, 9 viết theo thứ tự từ bé đến lớn là:
    A. 5, 4, 8, 9 B. 9, 8, 4, 5 C. 9, 5, 8, 4 D. 4, 5, 8, 9
    Câu 3: Số bé nhất trong các số: 1 ; 9 ; 3 ; 7 là số:
    A. 1 B. 9 C. 3 D. 7
    Câu 4: Phép tính có kết quả bằng 4 là :
    A. 0 + 5 B. 5 – 1 C. 6 – 3 D. 9 – 3
    Câu 5. Điền dấu >, <, =
    3 + 2 …….. 7
    A. > B. < C. =
    Câu 6. Đúng ghi Đ , sai ghi S

    a) 7 + 2 = 9c) 3 + 1 = 3
    b) 9 – 2 = 6d) 8 – 5 = 3

    Câu 7. Kết quả của phép tính : 3 + 5 – 6 = ?

    A. 4
    Câu 8: Tính
    B. 3C. 2D. 5
    5 + 3 = …….3 + 5 = …….6 – 0 = …….7 – 2 = …….
    2 + 4 = …….4 + 4 = …….9 – 7 = …….7 – 6 = …….

    32
    Câu 9: Điền số thích hợp vào chỗ chấm
    Câu 10: Hình vẽ bên có:
    ….. hình vuông
    …… hình chữ nhật
    …… hình tròn
    …… hình tam giác
    Câu 11: Hình vẽ bên có:
    ….. khối hình lập phương
    ….. khối hình hộp chữ nhật
    Câu 12: Viết phép tính thích hợp với mỗi hình vẽ dƣới đây:
    + 5
    – 3
    + 1 – 4
    9
    1
    33
    ĐÁP ÁN VÀ HƢỚNG DẪN CHẤM ĐỀ SỐ 5

    Câu123457
    Đáp ánBDABBC
    Số điểm0,50,50,50,50,50,5

    Câu 6. Mỗi ý đúng đƣợc 0,25 điểm

    a) Đ b) Sc) S d) Đ

    Câu 8: Mỗi phép tính đúng đƣợc 0,25 điểm

    5 + 3 = 83 + 5 = 86 – 0 = 67 – 2 = 5
    2 + 4 = 64 + 4 = 89 – 7 = 27 – 6 = 1

    Câu 9: Mỗi ý đúng đƣợc 0,25 điểm

    Câu 10: Mỗi ý đúng đƣợc 0,25 điểm
    3 hình vuông
    4 hình chữ nhật
    1 hình tròn
    4 hình tam giác
    Câu 11: Mỗi ý đúng đƣợc 0,5 điểm
    4 khối hình lập phương
    3 khối hình hộp chữ nhật

    Câu 12: Mỗi ý đúng đƣợc 0,5 điểm

    74=32+3=5
    Đề số 6ĐỀ KIỂM TRA ĐỊNH KÌ CUỐI HỌC KÌ 1 NĂM HỌC 2020 – 2021
    MÔN: TOÁN – LỚP 1

    Em hãy khoanh vào chữ cái trước kết quả đúng hoặc làm theo yêu cầu:
    Câu 1: Số? 3 + 4 =…..
    A. 9 B. 8 C. 7 D. 6
    Câu 2: Số nhỏ nhất trong các số: 5 ; 9 ; 2 ; 7 là số:
    A. 5 B. 9 C. 2 D. 7
    Câu 3: Số điền vào chỗ chấm trong phép tính: 4 + ….= 9 là:

    A. 5B. 4C. 3D. 2
    Câu 4:8 ….. 1 + 7 . Dấu cần điền vào chỗ chấm là:

    A. > B. < C. =
    Câu 5: Cho dãy số 0; 2; 4; 6; ……. Số thích hợp điền vào chỗ chấm là:
    A. 7 B. 8 C. 9
    6 3
    + 5
    – 3
    + 1 – 4
    9
    1 8
    5
    34
    Câu 6: Điền dấu +; – thích hợp vào chỗ chấm:
    A. 6 …. 1 = 5 B. 7….. 3 = 10

    C. 8 …. 1 = 9D. 6 …… 4 = 2
    Câu 7:4 + 5 …… 9 – 2. Dấu cần điền vào chỗ chấm là:
    A. >
    Câu 8: Tính:
    B. <C. =
    5 + 3 = …….2 + 3 = …….9 – 4 = …….4 – 2 = …….
    6 + 4 = …….5 + 2 = …….9 – 3 = …….5 – 5 = …….
    Câu 9 : Số?

    Câu 10: Số?
    Hình bên có:
    …. hình tam giác.
    …. hình vuông.
    Câu 11: Số?
    Hình bên có:
    ……. Khối lập phương.
    ……. Khối hình hộp chữ nhật.
    Câu 12: Viết phép tính thích hợp với hình vẽ
    a. b.
    1
    0
    + 5 – 3
    – 2 + 8
    35
    ĐÁP ÁN VÀ HƢỚNG DẪN CHẤM ĐỀ SỐ 6

    Câu123457
    Đáp ánCCACBA
    Số điểm0,50,50,50,50,50,5

    Câu 6. Mỗi ý đúng đƣợc 0,25 điểm

    A. – B. +C. + D. –

    Câu 8: Mỗi phép tính đúng đƣợc 0,25 điểm

    5 + 3 = 82 + 3 = 59 – 4 = 54 – 2 = 2
    6 + 4 = 105 + 2 = 79 – 3 = 65 – 5 = 0

    Câu 9: Mỗi ý đúng đƣợc 0,25 điểm

    Câu 10: Mỗi ý đúng đƣợc 0,5 điểm
    1 hình tam giác
    2 hình vuông
    Câu 11: Mỗi ý đúng đƣợc 0,5 điểm
    2 khối hình lập phương
    2 khối hình hộp chữ nhật

    Câu 12: Mỗi ý đúng đƣợc 0,5 điểm

    5+3=851=4
    Đề số 7ĐỀ KIỂM TRA ĐỊNH KÌ CUỐI HỌC KÌ 1 NĂM HỌC 2020 – 2021
    MÔN: TOÁN – LỚP 1

    Em hãy khoanh vào chữ cái trước kết quả đúng hoặc làm theo yêu cầu:

    Câu 1: Số?
    A. 6
    8 – 2 = ………..
    B. 8
    C. 7D. 9

    Câu 2: Các số 5, 4, 0, 9 viết theo thứ tự từ bé đến lớn là:
    A. 5, 4, 0, 9 B. 9, 0, 4, 5 C. 9, 5, 0, 4 D. 0, 4, 5, 9
    Câu 3: Số lớn nhất trong các số: 1 ; 5 ; 3 ; 7 là số:
    A. 1 B. 9 C. 3 D. 7
    Câu 4: Phép tính có kết quả bằng 8 là :
    A. 2 + 5 B. 5 – 3 C. 6 + 2 D. 9 – 3
    1 6
    0 8
    3
    2
    + 5 – 3
    – 2 + 8
    36
    Câu 5. Điền dấu >, <, =
    3 + 6 …….. 7
    A. > B. < C. =
    Câu 6. Đúng ghi Đ , sai ghi S

    a) 1 + 2 = 8c) 3 + 1 = 4
    b) 9 – 2 = 7d) 8 – 7 = 3

    Câu 7. Kết quả của phép tính : 4 + 5 – 8 = ?

    A. 4
    Câu 8: Tính
    B. 3C. 2

    D. 1

    5 + 2 = …….3 + 5 = …….6 – 6 = …….7 – 4 = …….
    2 + 5 = …….5 + 3 = …….7 – 7 = …….7 – 3 = …….

    Câu 9: Điền số thích hợp vào chỗ chấm
    Câu 10: Hình vẽ bên có:
    ….. hình vuông
    …… hình chữ nhật
    …… hình tròn
    …… hình tam giác
    Câu 11: Nối ?
    + 6
    – 7
    + 0 – 4
    8
    3
    khối lập phương khối hộp chữ nhật
    37
    Câu 12: Viết phép tính thích hợp với mỗi hình vẽ dƣới đây:
    ĐÁP ÁN VÀ HƢỚNG DẪN CHẤM ĐỀ SỐ 7

    Câu123457
    Đáp ánADDCAD
    Số điểm0,50,50,50,50,50,5

    Câu 6. Mỗi ý đúng đƣợc 0,25 điểm

    a) S b) Đc) Đ d) S

    Câu 8: Mỗi phép tính đúng đƣợc 0,25 điểm

    5 + 2 = 73 + 5 = 86 – 6 = 07 – 4 = 3
    2 + 5 = 75 + 3 = 87 – 7 = 07 – 3 = 4
    Câu 9: Mỗi ý đúng đƣợc 0,25 điểm

    Câu 10: Mỗi ý đúng đƣợc 0,25 điểm
    1 hình vuông
    5 hình chữ nhật
    2 hình tròn
    2 hình tam giác
    9 2
    + 6
    – 7
    + 0 – 4
    8
    3 8
    4
    38
    Câu 11: Nối mỗi hình đúng đƣợc 0,25 điểm
    Câu 12: Mỗi ý đúng đƣợc 0,5 điểm

    75=22+3=5
    Đề số 8ĐỀ KIỂM TRA ĐỊNH KÌ CUỐI HỌC KÌ 1 NĂM HỌC 2020 – 2021
    MÔN: TOÁN – LỚP 1

    Em hãy khoanh vào chữ cái trước kết quả đúng hoặc làm theo yêu cầu:

    Câu 1: Số?
    A. 6
    8 – 1 = ………..
    B. 8
    C. 7D. 9

    Câu 2: Các số 6, 3, 0, 9 viết theo thứ tự từ lớn đến bé là:
    A. 6, 3, 0, 9 B. 9, 0, 6, 3 C. 9, 6, 3, 0 D. 0, 3, 6, 9
    Câu 3: Số bé nhất trong các số: 1 ; 5 ; 3 ; 7 là số:
    A. 1 B. 5 C. 3 D. 7
    Câu 4: Phép tính có kết quả bằng 9 là :
    A. 4 + 5 B. 5 – 3 C. 6 + 2 D. 9 – 2
    Câu 5. Điền dấu >, <, =
    0 + 6 …….. 8
    A. > B. < C. =
    Câu 6. Đúng ghi Đ, sai ghi S

    a) 6 + 2 = 8c) 3 – 1 = 4
    b) 8 – 2 = 7d) 8 – 7 = 1

    Câu 7. Kết quả của phép tính: 8 – 5 + 4 = ?
    A. 4 B. 5 C. 6 D. 7

    khối lập phương

    khối hộp chữ nhật
    39
    Câu 8: Tính

    3 + 2 = …….3 + 6 = …….6 – 5 = …….7 – 6 = …….
    2 + 3 = …….6 + 3 = …….7 – 2 = …….7 – 4 = …….

    Câu 9: Điền số thích hợp vào chỗ chấ

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Biện pháp để xây dựng lớp học hạnh phúc

    SKKN Biện pháp để xây dựng lớp học hạnh phúc

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
    Tiểu học là bậc học nền tảng đặt nền móng vững chắc cho ngành giáo dục,
    góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng
    của nhân cách con người. Bởi vậy, giáo dục Việt Nam đã và đang có nhiều
    chuyển biến tích cực để bắt kịp với sự phát triển của giáo dục thế giới. Mục tiêu
    của giáo dục là “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri
    thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc
    và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực
    của công dân đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Trích
    Luật giáo dục).
    Để làm được việc này, từ năm 2008, bộ Giáo dục – Đào tạo đã phát động
    phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện – học sinh tích cực” rộng
    khắp trong cả nước. Trường học, lớp học được các em coi như ngôi nhà thứ hai
    của mình, để “mỗi ngày đến trường là một ngày vui” thật sự chứ không chỉ dừng
    lại là câu khẩu hiệu. Xây dựng trường học hạnh phúc tạo cơ hội cho nhà giáo đổi
    mới, thực hiện phương pháp giáo dục và các tình huống sư phạm phù hợp, đảm
    bảo các quy định về đạo đức nhà giáo; đồng thời mang lại hiệu quả và ý nghĩa
    quan trọng trong việc phát triển tình cảm xã hội của trẻ. Nhưng với bản thân tôi,
    mỗi ngày đến trường là một ngày chưa thật vui của cả cô và trò. Việc dạy dỗ các
    em không hề đơn giản như tôi từng ước mơ. Tất cả mọi thứ gọi là “niềm yêu
    nghề” chỉ là lời nói suông nếu chúng ta không hiểu, không từng ngày thật sự nỗ
    lực và cố gắng. Sự cầu toàn của tôi đặt ra bắt buộc các em phải theo khuân mẫu.
    Các em đến trường như một nghĩa vụ hơn là niềm đam mê, khát khao học hỏi,
    khám phá. Liệu rằng những đứa trẻ của mình có hạnh phúc không khi cứ “ lập
    trình” các em như một con robot như thế?
    Tôi đã suy nghĩ về việc giáo dục các em như hiện tại đã đáp ứng đúng tiêu
    chí mà ngành giáo dục đã đề ra? Các em có vui vẻ, có hạnh phúc khi đến trường,
    đến lớp không? Và tôi đã thực sự thay đổi suy nghĩ của bản thân về việc dạy học
    2
    hướng tới học sinh sau khi xem các tập phát sóng của chương trình “Thầy cô
    chúng ta đã thay đổi”, bởi bản thân mỗi đứa trẻ là một thế giới quan sinh động,
    các em có quyền sáng tạo và trải nghiệm. Sẽ thật phản giáo dục nếu cứ mãi bắt ép
    các em vào những thứ rập khuôn. Đội ngũ thầy cô giáo chúng ta cần phải suy
    nghĩ, đề ra những giải pháp thích hợp giúp các em phát huy được khả năng của
    mình trước tập thể lớp, cần tránh cho các em những biểu hiện ganh đua thái quá,
    cần phải làm sao để các em có tinh thần hợp tác, tạo nên một môi trường học tập
    thân thiện, giúp các em thêm yêu lớp, khăng khít với lớp, với mái trường mà
    mình đang học, các em xem “ trường học là nhà” đúng như khẩu hiệu đã đề ra.
    Là một giáo viên, tôi rất mong muốn góp phần vào việc nâng cao năng lực
    ứng xử sư phạm, đạo đức nhà giáo vì một trường học hạnh phúc đem lại hiệu quả
    thiết thực trong hoạt động dạy và học, học sinh không có cảm giác sợ và học
    trong áp lực, nơi khiến cả cô và trò đều có cảm giác “muốn đến”. Chính những lí
    do trên đã thúc đẩy tôi nghiên cứu đồng thời tích lũy kinh nghiệm để đến với đề
    tài “ Biện pháp để xây dựng lớp học hạnh phúc” góp phần đào tạo thế hệ trẻ
    phát triển toàn diện, bắt kịp xu thế toàn cầu hóa, thị trường hóa hiện nay.
    II. Mô tả giải pháp kỹ thuật
    II.1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Nền giáo dục của nước ta đã có những thay đổi tích cực giúp học sinh chủ
    động hơn trong học tập. Qua quan sát kết hợp trao đổi với bạn bè đồng nghiệp, tôi
    nhận thấy, những năm gần đây, giáo viên đã đi sâu nghiên cứu, tìm tòi và đúc kết
    nhiều biện pháp hay trong giảng dạy nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục. Ngoài ra,
    hưởng ứng các phong trào do ngành Giáo dục phát động, giáo viên đã có nhiều
    sáng tạo trong đổi mới phương pháp, hình thức dạy học. Nhờ đó, kết quả học tập
    và rèn luyện của học sinh được nâng cao rõ rệt. Bên cạnh đó, tôi cũng nhận thấy
    vẫn còn một số giáo viên tập trung quá nhiều vào việc giảng dạy văn hóa, ít quan
    tâm đến tâm tư, nguyện vọng của học sinh, khẩu hiệu “Mỗi ngày đến trường là
    một ngày vui” bị mờ nhạt; việc phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình, các
    tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường chưa phát huy hiệu quả. Hầu hết mỗi
    3
    giáo viên đều có tấm lòng yêu thương học sinh, luôn quan tâm, chăm sóc và tôn
    trọng các em. Tuy nhiên, đôi khi do hoàn cảnh, cảm xúc của mỗi người mà trong
    quá trình giảng dạy đã có những hành vi gây tổn thương đến học sinh. Giáo viên
    không còn là động lực để các em học sinh tìm thấy niềm vui, sự sáng tạo trong
    học tập.
    Ngoài ra, xã hội luôn đặt kì vọng cao cho giáo viên và ngành Giáo dục;
    luôn quan niệm giáo viên phải là những con người chuẩn mực, vừa có tài vừa có
    tâm, là tấm gương cho học sinh noi theo. Thế nhưng thực tế cho thấy, với sự phát
    triển của báo chí, của mạng xã hội thì những hạn chế của ngành Giáo dục, của
    giáo viên dù là đúng hay sai sự thật đều được đưa lên với những tiêu đề giật gân
    làm cho giáo viên ngày càng thu mình lại, ngọn lửa đam mê với nghề cũng lụi
    dần. Bên cạnh đó, giáo viên còn bị áp lực từ kết quả thi, thành tích trong giáo dục;
    từ phụ huynh học sinh với tâm lý giao khoán con cho giáo viên. Và cuối cùng đó
    là áp lực từ chính bản thân mỗi giáo viên: luôn mong muốn học sinh hoàn thành
    tốt mọi điều mà mình lập trình sẵn, có như vậy mới là con ngoan, trò giỏi. Chính
    áp lực của giáo viên đã dồn lên đôi vai bé nhỏ của các em học sinh lúc nào không
    hay. Đến khi học sinh không đạt được như kì vọng của giáo viên khiến cho giáo
    viên chán nản, mệt mỏi, tình yêu với nghề giảm đi. Và thế là giáo viên và học sinh
    mỗi ngày đến trường không còn là một ngày vui, hạnh phúc, lớp học cũng trở nên
    tẻ nhạt, gượng ép.
    Năm học 2019 – 2020, tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân công chủ
    nhiệm và giảng dạy lớp 3C với tổng số là 34 học sinh và năm học 2020 – 2021 tôi
    chủ nhiệm và giảng dạy lớp 3D gồm 29 học sinh. Các em đi học chuyên cần đầy
    đủ. Bên cạnh những em mạnh dạn, tự tin còn không ít những em rụt rè, nhút nhát,
    không dám bày tỏ ý kiến cá nhân trước đông người hoặc không chủ động, tích cực
    tham gia việc lớp, việc trường; một vài em còn hiếu động, tự do trong các giờ tự
    quản; ích kỉ, không quan tâm đến người khác; một vài em luôn tỏ vẻ chán nản khi
    đi học hoặc không nhiệt tình với các hoạt động tập thể…
    Với mong muốn hiểu về mình, hiểu về học sinh để tạo môi trường học tập
    4
    lý tưởng, đầu năm học tôi đã phát phiếu điều tra tới từng em. Tôi hướng dẫn các
    em đánh dấu theo cảm xúc và suy nghĩ của mình. Tổng hợp phiếu của học sinh
    trong lớp và thu được kết quả như sau:

    Nội dung điều traSố học sinh mong muốn
    Lớp 3CLớp 3D
    1. Con muốn điều gì về cô giáo chủ nhiệm của con?
    – Cô cười nhiều hơn trong giờ học2725
    – Cô nhẹ nhàng dạy dỗ các con hơn2422
    – Cô không phê bình con trước lớp2926
    2. Con mong muốn điều gì về bạn bè trong lớp con?
    – Các bạn trong lớp biết yêu thương, giúp đỡ nhau2926
    – Các bạn luôn quan tâm đến nhau3024
    – Các bạn không nói tục, chửi bậy2823
    3. Con muốn lớp học của con được trang trí như thế nào?
    – Gọn gàng, sạch sẽ3327
    – Đẹp, có nhiều cây xanh3228
    4. Con muốn giờ học diễn ra như thế nào?
    – Mong được vừa học vừa chơi3429
    – Mong được cùng cô giáo và các bạn học tập vui
    vẻ.
    3328

    Từ kết quả trên cho thấy, học sinh luôn mong muốn cô giáo vui vẻ, nhẹ
    nhàng, bạn bè biết quan tâm, yêu thương nhau; lớp học trang trí sạch đẹp, khang
    trang. Đặc biệt, các em luôn muốn được tự học, tự khám phá kiến thức một cách
    vui vẻ,…
    Đánh giá lại bản thân cùng những mong muốn của học sinh, tôi thấy việc
    xây dựng một lớp học có đủ về cơ sở vật chất, không khí luôn vui vẻ là vấn đề cần
    quan tâm. Chúng ta cần làm những gì để cho học sinh luôn cảm thấy lớp học là
    ngôi nhà thứ hai của mình, cô giáo là mẹ hiền, còn các bạn là anh chị em. Tôi đã
    5
    mạnh dạn đưa ra đề tài xây dựng lớp học hạnh phúc trong 2 năm học kế tiếp nhau
    ở lớp 3C và lớp 3D và bước đầu đem lại một số kết quả nhất định.
    II.2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
    II.2.1. Xây dựng lớp học hạnh phúc:
    Theo Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Ân ( Phó Chủ tịch Công đoàn Giáo dục Việt
    Nam) đã chia sẻ: “Trường học hạnh phúc là nơi mà cả thầy cô, phụ huynh và học
    sinh đều cảm thấy hạnh phúc. Đó là nơi mà các thầy cô tìm được niềm đam mê,
    nhiệt huyết giảng dạy và tích cực đưa ra các phương pháp dạy học chủ động, sáng
    tạo, luôn hỗ trợ, giúp đỡ học trò của mình trong quá trình học tập, thiết lập được
    mối quan hệ thân thiết, gắn bó và chia sẻ với học sinh. Trường học hạnh phúc là
    nơi học sinh cảm thấy có hứng thú với những giờ học, không có áp lực, căng
    thẳng, mệt mỏi, được thỏa sức vui đùa, hòa đồng với bạn bè. Đối với phụ huynh,
    một trường học hạnh phúc là nơi họ muốn gửi gắm con em mình, để cho chúng
    được phát triển tốt nhất, nơi họ có thể tin tưởng giao phó tương lai của con em
    mình. Hơn thế nữa, trường học hạnh phúc là nơi không có bạo lực học đường,
    không có những vụ đánh nhau, xô xát giữa học sinh, không có những hành vi, lời
    lẽ vi phạm đạo đức xã hội, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của nhà giáo. Đặc biệt,
    đó là nơi phải biết tôn trọng sự khác biệt, không áp đặt một cá nhân lên cái chung
    của tập thể.”
    Với tôi, hiểu một cách đơn giản, lớp học hạnh phúc là nơi khiến cả cô và
    trò đều có cảm giác “muốn đến”, là nơi có thể cảm nhận được sự an toàn, sự nâng
    đỡ hay sự thú vị khi có nhiều điều nằm trong nhu cầu được thỏa mãn là lớp học
    được xây lên đến từ trái tim biết cho đi yêu thương và chúng ta cũng sẽ nhận lại
    được quả ngọt từ sự yêu thương đó. Xây dựng lớp học hạnh phúc là tạo ra môi
    trường học tập thân thiện, an toàn, gần gũi với học sinh. Nơi mà ở đó học sinh
    được tạo điều kiện để sống khỏe mạnh, vui vẻ, tích cực học tập và tham gia các
    hoạt động khác, được giáo viên nhiệt tình giảng dạy, yêu thương, tôn trọng, được
    gia đình và cộng đồng tạo điều kiện phát huy hết tiềm năng của mình, quyền được
    đi học của học sinh được bảo đảm.
    6
    II.2.1.1. Xây dựng mối quan hệ thân thiết giữa giáo viên và học sinh:
    Mục tiêu: Xây dựng mối quan hệ thân thiết giữa giáo viên và học sinh giúp
    mang lại nhiều lợi ích to lớn, lâu dài với kết quả các hoạt động giáo dục và cuộc
    sống của học sinh trong lớp và ngoài xã hội.
    Chuẩn bị:
    – Các kế hoạch chi tiết cho mỗi hoạt động, phù hợp trong và ngoài lớp học.
    Ví dụ: Hoạt động sinh hoạt dưới cờ, sinh hoạt lớp, “ Vui Tết Trung thu – Chào chị
    Hằng, chú Cuội”; “ Giáng sinh an lành”,…
    – Các phiếu tìm hiểu: “ Bạn có muốn biết về tớ”; “ Điều chúng mình tự hào
    về bản thân”,…
    – Một số trò chơi phù hợp trong và ngoài không gian lớp.
    – Có kế hoạch chi tiết thể hiện sự phối hợp với nhà trường, liên đội, hội phụ
    huynh học sinh trong các hoạt động của lớp.
    Biện pháp tiến hành:
    – Tổ chức tìm hiểu theo các phiếu:
    Ví dụ: Phiếu “ Bạn có muốn biết về tớ”
    Giáo viên là người mẹ thứ hai của học sinh ở trường. Vì vậy, là một giáo
    viên chủ nhiệm lớp, để tạo sự thân thiện, gần gũi với học sinh, ngay từ khi nhận
    lớp, tôi đã chủ động giới thiệu với học sinh về tên, tuổi, sở thích, mơ ước, những
    điểm mạnh và những điểm còn hạn chế. Sau đó, tôi phát cho mỗi em một phiếu
    “Bạn có muốn biết về tớ?” để ghi lại thông tin của mình, giúp các em bớt lúng
    túng khi vừa ghi nhớ, vừa phải trình bày. Lần lượt từng em mạnh dạn đứng lên để
    giới thiệu về những sở thích, ước mơ cũng như mong muốn của mình. Hoạt động
    này giúp cô trò hiểu nhau đồng thời tạo một môi trường học tập thân thiện
    “Trường học là ngôi nhà thứ hai của em, thầy cô giáo như người thân trong gia
    đình”. Đó cũng là một hoạt động quan trọng tạo niềm tin, niềm hạnh phúc cho học
    sinh.
    7
    Phiếu “ Bạn có muốn biết về tớ”
    Phiếu khảo sát học sinh
    8
    – Lựa chọn vị trí ngồi phù hợp:
    Tiếp theo, ở những tuần đầu, tôi để cho các em tự lựa chọn chỗ ngồi của
    mình để phần nào nắm được đặc điểm tính cách của trẻ: mạnh dạn hay nhút nhát,
    thụ động hay tích cực…Tôi tiếp tục quan sát những biểu hiện về hành vi, thái độ
    tại vị trí ngồi mà các em lựa chọn để bắt đầu điều chỉnh cho phù hợp. Sau 1 tuần
    nhận lớp, tôi nắm được tương đối chính xác về tính cách của từng học sinh trong
    lớp. Buổi sinh hoạt lớp đầu tiên, tôi sắp xếp lại chỗ ngồi của học sinh cho phù
    hợp: các em chậm chạp ngồi cạnh các em nhanh nhẹn, em nhút nhát ngồi bên
    những em bạo dạn tự tin. Đồng thời, tôi còn xếp các em xen kẽ theo nhóm đối
    tượng: học sinh khá giỏi ngồi kèm học sinh yếu kém. Cách sắp xếp chỗ ngồi cho
    học sinh rất quan trọng vì trong quá trình học tập và hoạt động, các em làm việc
    theo nhóm nhiều. Đây là yếu tố góp phần không nhỏ vào việc phát triển một số kĩ
    năng của trẻ “Học thầy không tày học bạn”. Đó là câu thành ngữ mà bất cứ giáo
    viên chủ nhiệm nào cũng áp dụng khi tham gia giáo dục học sinh. Bên cạnh đó,
    tôi cũng thường đến lớp sớm để trò chuyện, hỏi thăm về tâm tư, tình cảm, sở thích
    từng em, có em gửi thư vào hộp điều em muốn nói. Nhờ vậy mà tôi nắm bắt được
    từng đối tượng học sinh trong lớp. Từ đó đề ra biện pháp giáo dục phù hợp, tạo
    không khí lớp học thân thiện, gần gũi giữa cô và trò, giữa trò và trò.
    – Tổ chức trò chơi và các hoạt động trải nghiệm:
    Đối với hoạt động trò chơi: Khác với lớp học truyền thống, lớp học hạnh
    phúc không áp đặt phát triển theo khuôn mẫu mà đóng vai trò định hướng để các
    em được làm những gì mình yêu thích và say mê. Ở đó, các em không học theo
    kiểu nhồi nhét mà được học những gì có ý nghĩa, được khơi gợi niềm yêu thích để
    tiếp tục tự tìm hiểu. Từng tiết học được biến hóa thành bài học thú vị qua những
    trò chơi. Tôi cố gắng phần đầu mỗi buổi học, dành ra 3 -5 phút để “khởi động”
    cùng các em. Đó là một trò chơi trí tuệ ngắn, một vài câu hát, mẩu chuyện, hay
    bức tranh nhỏ, đoạn video mà tôi thấy ý nghĩa… với mục đích cùng các em nói
    lên tâm tư, cảm xúc của mình. Như thế sẽ giúp tôi hiểu hơn về tính cách, tâm lí và
    9
    sở trưởng ở các em. Hay những giờ giải lao, thời gian trước buổi học, tôi thường
    sử dụng các câu hỏi đại loại như:
    – Sáng nay các bạn ăn món gì đấy, ngon không?
    – Các em đi học từ lúc mấy giờ?
    – Tối qua bạn nào đi ngủ sớm ( muộn) nhất? Vì sao?
    Chắc chắn để lớp học luôn hạnh phúc thì nụ cười và sự hài hước luôn đồng
    hành và được đặt lên hàng đầu ở mọi bài học, mọi tiết học trên lớp. Vì cô muốn
    mở lòng với các em, bản thân cô phải rất chân thành.
    Tôi học được cách ứng xử thông qua một câu nói khá hay: “Trường học
    chính là sự tôn trọng”. Điều này luôn đúng, vì đã là con người thì ai ai cũng
    muốn mình được tôn trọng. Nhưng nhiều ý nghĩ sẽ là: chỉ cần người lớn tôn trọng
    nhau là đủ, trẻ con thì không cần thiết, nhất là các con học sinh cấp 1. Nhiều khi ở
    trên lớp, tôi đã có những câu nói có dạng như:
    – Trời ơi! Có thế thôi mà không biết! (coi thường)
    – Học thế này thì mai này làm gì?… ( mỉa mai)
    – Thôi! Thôi! Ngồi xuống…! ( không tin tưởng)
    – Anh làm thế mà được à?…( xưng hô thiếu tôn trọng)
    Và tất nhiên, các em thật buồn, còn tôi thì không bận tâm mấy. Vì lỗi do
    các em mà, tôi đã nhắc nhở rồi, tôi đã giảng bài rất kĩ rồi…. và còn nhiều lí do
    ngụy biện nữa. Nhưng không đâu, thưa các thầy cô, lỗi do chính chúng ta. Chúng
    ta không chịu lắng nghe các em, không cho các em cơ hội bày tỏ lúc các em ở nhà
    như thế nào, đã diễn ra điều gì?… Tôi đã học cách bình tĩnh, lắng nghe, đặt mình
    vào vị trí của người khác, sẵn sàng nói lời xin lỗi và cùng tìm ra cách giải quyết,
    kết nối,… Vì nhờ đó, tôi mới hiểu các học trò của mình, nuôi dưỡng và truyền
    cảm xúc, truyền cảm hứng trong cuộc sống mới có thể giúp các em một cách hiệu
    quả. Và tôi đã thay đổi cách ứng xử của mình đó là:
    – Không sao đâu, thế em nhớ được điều gì thì nói cho cô nghe (muốn lắng
    nghe).
    10
    – Ồ, em thật thông minh, ý kiến chưa hợp với bài học nhưng rất hay trong
    thực tế… em cố gắng nêu ý kiến tiếp theo nào! ( hi vọng, tin tưởng)
    Kết quả tôi đạt được, học sinh rất thoải mái, tự tin, giáo viên cũng chẳng
    căng thẳng và áp lực. Tôi và các em đã được tôn trọng! Tôn trọng cảm xúc là một
    trong những yếu tố tạo nên lớp học hạnh phúc. Bởi dù ở lứa tuổi nào, các em cũng
    có những cảm xúc như người lớn: cần được lắng nghe, tôn trọng và được yêu
    thương, giúp các em tìm và phát huy thế mạnh của riêng mình.
    Vì chất lượng giáo dục của lớp, tôi cố gắng thường xuyên quan tâm bài vở
    của học sinh trên lớp, đi lại, kiểm tra, chấm và chữa bài…., để rồi đổi lấy là sự
    nóng giận liên tiếp. “Trời! Đơn vị diện tích viết thế này hả A?”; “Dạng toán đơn
    giản này mà em không nhớ gì chứ?”; Em bỏ bảng cửu chương đi, tự nhẩm xem
    nào!”…. Nghe những điều đó ai mà không căng thẳng, ai mà không dám sợ cô?
    Và việc làm tiếp sau đó có thể là: Cô phạt em chép lại 5 lần, 100 lần, thậm chí
    hơn nữa. Cô phạt trực nhật lớp, phạt đứng, phạt viết bản kiểm điểm…Chính điều
    này làm cho các em muốn hỏi nhưng không dám hỏi, lo lắng, sợ hãi cô, vì kiểu gì
    cô cũng “moi” cái sai của mình cho cả lớp biết. Nhưng cứ đổ lỗi cho áp lực thành
    tích thì lớp học sẽ có thể hạnh phúc hay sao? Lớp học hạnh phúc phải là lớp học
    không có sự bắt nạt, không có bất công và áp lực. Và tôi đã tìm ra cách giải quyết.
    Lúc này, tôi cần là sự bình tĩnh để đặt mình vào tâm thế của các em, trở thành
    người bạn biết hỗ trợ và giúp đỡ. Tôi đã học cách chấp nhận những lỗi sai của học
    trò và sẽ kiên nhẫn, tận tình hướng dẫn các em cách sửa sai thay vì cáu giận như
    trước kia. Điều đấy sẽ giúp các em tiếp thu tốt hơn, tự tin và hòa đồng hơn. Đặc
    biệt, biết cười nhiều hơn với các em. Điều này thật quan trọng thưa các thầy cô,
    chỉ cần một tiếng cười của cô giáo thôi cũng sẽ làm xóa tan mọi nỗi sợ hãi mà
    thay vào đó lại nhận được sự tin tưởng, sự biết ơn và yêu quý của các em. Tiếng
    cười giúp học sinh dễ đón nhận lỗi sai và tìm cách sửa chữa hơn là nghe lời chê
    bai từ cô. Từ đó, rèn luyện ý thức và khả năng tập trung từ chính nhận thức của
    bản thân.
    11
    Đối với các hoạt động trải nghiệm: Để cảm nhận được sự hạnh phúc, các
    em phải được tích lũy kiến thức thông qua những hoạt động trải nghiệm. Các hoạt
    động không chỉ nằm trong khuôn khổ lớp học mà còn được tổ chức ngoài khuôn
    viên trường lớp, giúp các em cảm nhận sâu sắc về thế giới tự nhiên xung quanh.
    Bên cạnh những hoạt động học tập, để tạo sự gần gũi, thân thiện giữa cô và trò,
    vào các ngày lễ lớn trong năm tôi thường kết hợp với Ban đại diện cha mẹ học
    sinh của lớp tổ chức giao lưu cho các em, tổ chức các trò chơi. Mỗi ngày lễ gắn
    với nhiều hoạt động có ý nghĩa.
    Ví dụ: Hoạt động “Vui Tết trung thu – Chào chị Hằng, chú Cuội”: cô, trò
    cùng nhau bày mâm cỗ và chia sẻ về nghĩa của ngày Tết; trải nghiệm hoạt động
    múa lân, múa sư tử của đoàn nghệ thuật tại địa phương.
    Các em học sinh vui Trung thu tại lớp
    12
    Tham gia hoạt động tập thể “ Vui Tết Trung thu”
    Đoàn múa lân, múa sƣ tử của địa phƣơng
    13
    Hoạt động “ Giáng sinh an lành” : Tôi thay bằng nhiều hình thức khác
    nhau, phối hợp cùng phụ huynh đóng vai ông già Noel đến phát quà cho mỗi em
    nhân ngày Noel, tổ chức các trò chơi phù hợp…
    Phụ huynh đóng ông già Noel đến phát quà
    Ông già Noel múa hát cùng các em
    14
    Hoạt động sinh hoạt lớp: Tôi tổ chức sinh hoạt theo chủ đề, chủ điểm. Các
    em được tự tin thể hiện khả năng hội họa, dẫn chương trình,… thông qua mỗi giờ
    sinh hoạt lớp.
    Các em học sinh lớp 3B trang trí bảng lớp
    Hoạt động sinh hoạt dưới cờ: các em được thỏa sức sáng tạo với những
    điệu múa đẹp, vở kịch hay,…
    Học sinh lớp 3C, 3D sinh hoạt dƣới cờ
    15
    Hoạt động tập thể: Các em được thể hiện tinh thần đoàn kết, cùng nhau
    hoạt động, giải quyết vấn đề, điều đó tạo nên một không khí sôi nổi, một lớp học
    hạnh phúc trong quá trình trải nghiệm cùng nhau,…
    Học sinh hào hứng tham gia hoạt động tập thể
    Qua các hoạt động đó, học sinh nào cũng hồ hởi, hào hứng thể hiện bản
    thân mình về năng khiếu cũng như mạnh dạn tặng quà cho bạn và cô, phấn khởi
    khi nhận quà và tự hứa sẽ cố gắng học tập tốt hơn.
    Về cách xưng hô giao tiếp giữa thầy và trò, có ý kiến cho rằng kiểu xưng
    hộ “cô mời con, cô mời con ngồi xuống, cảm ơn con, cho phép cô kiểm tra…” sẽ
    chiếm nhiều thời gian và làm mất đi sự nghiêm khắc của thầy, làm cho học sinh
    không sợ, không học. Trong nhiều năm qua, tôi thường sử dụng cách xưng hô nói
    trên đã mang lại hiệu quả rõ rệt: học sinh hăng hái phát biểu bài hơn vì các em
    thấy được sự gần gũi với mình hơn; các em trở nên tự tin hơn và sẽ không sợ khi
    phát biểu sai. Cách xưng hô đó không những càng làm tăng thêm tính nghiêm túc,
    tôn trọng mà còn giáo dục học sinh biết lễ phép và tạo nên mối quan hệ thân thiện
    trong lớp hơn.
    Đặc biệt hơn trong đợt học sinh nghỉ học vì dịch Covid-19, tôi vẫn thường
    xuyên trao đổi với phụ huynh, với học sinh thông qua điện thoại. Tôi giao bài cho
    16
    học sinh, động viên các con ôn bài nhưng không quên những lời nhắc nhở nhẹ
    nhàng: “Các con nhớ làm bài cô giao cẩn thận, thường xuyên giúp bố mẹ, ông bà
    việc nhẹ nhàng, vừa sức với con.” hay “Các con nhớ giữ vệ sinh nhé!.”
    Để xây dựng được lớp học hạnh phúc, bản thân tôi luôn tự nhủ cố gắng
    từng ngày để thật sự thay đổi, mong muốn cởi bỏ tất cả mọi thứ bên ngoài lớp
    học, hoàn toàn vui vẻ khi đến với các em, tạo cơ hội để gần gũi các em, xoá bỏ
    mọi ngăn cách về tuổi tác và tâm lý, trở thành người bạn thực sự của học sinh. Hy
    vọng rằng đến với các em bằng tình thương, sự tôn trọng, bằng cả tâm trí, sự sáng
    tạo thì các em sẽ hạnh phúc.
    II.2.1.2. Xây dựng mối quan hệ thân thiết giữa học sinh với học sinh:
    Mục tiêu: Xây dựng mối quan hệ thân thiết giữa học sinh với học sinh giúp
    các em hiểu được sự tôn trọng lịch sự với nhau trong giao tiếp, có cách ứng xử
    hợp lí với bạn, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
    Chuẩn bị: Xây dựng nội dung hoạt động của nhóm năng khiếu, nhóm cùng
    sở thích; một số trò chơi tăng cường vốn từ trong giao tiếp.
    Biện pháp tiến hành:
    – Hướng dẫn học sinh sử dụng ngôn ngữ phù hợp:
    Quan tâm tới sự phát triển nhân cách của học sinh bằng cách cư xử lịch sự,
    lễ phép khi giao tiếp là điều không thể thiếu. Con người giao tiếp thân thiện với
    nhau bằng nhiều phương tiện khác nhau như cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt nhưng giao
    tiếp bằng ngôn ngữ vẫn là quan trọng hơn cả. Để học sinh có được mối quan hệ
    thân thiện với bạn trong lớp, giáo viên cần hướng dẫn học sinh sử dụng lời nói với
    bạn sao cho thể hiện sự tôn trọng, tế nhị, lịch sự trong giao tiếp.
    Nhận thức việc dạy cho học sinh cách thể hiện lời nói thân thiện cùng bạn
    là cần thiết. Trong những năm qua cũng như đầu năm học này, thông qua tiết dạy,
    tôi đã cố gắng uốn nắn, sửa chữa lời nói cho học sinh. Ví dụ: Trong tiết học, khi
    trao đổi nội dung với bạn, tôi thường hướng học sinh sử dụng đại từ xưng hộ tôi
    và bạn cũng như: “Xin mời bạn, bạn cho tôi biết…, cảm ơn bạn…” Hay trong tiết
    17
    sinh hoạt lớp, khi nhận xét bạn, tôi hướng các em nhận xét bằng từ ngữ tế nhị, lịch
    sự. Chẳng hạn: “Tôi thấy bạn A còn quên đồ dùng, bạn cố gắng sắp đầy đủ để học
    tốt hơn nhé!”.
    Không chỉ có trong giờ học mà vào giờ ra chơi, tôi cũng thường xuyên gần
    gũi, theo dõi học sinh của mình chơi đùa cùng nhau. Đôi khi, có những học sinh
    nói chuyện với nhau bằng từ ngữ chưa hay như gọi nhau bằng “mày, tao”, “ông,
    bà”. Có những khi tôi còn nghe thấy tiếng nói tục, chửi nhau…. Với học sinh lớp
    3, nhiều khi các em không biết đó là những từ ngữ chưa hay, cũng có khi học sinh
    biết mà vẫn sử dụng, tôi lại gần mỉm cười và nhẹ nhàng nhắc nhở và giải thích
    cho học sinh hiểu. Nếu học sinh đó còn lặp lại ở những lần sau tôi nghiêm mặt,
    thậm chí phạt em đó.
    – Tăng cường sự gắn kết giữa học sinh với học sinh thông qua các hình
    thức hoạt động nhóm:
    Ngoài việc hướng dẫn học sinh sử dụng ngôn ngữ tế nhị, thiện cảm, tôi
    cũng đã sử dụng hình thức đôi bạn cùng tiến, các nhóm năng khiếu, nhóm cùng sở
    thích. Trong mỗi giờ học, tôi chia lớp thành các nhóm nhỏ để các em thảo luận,
    chia sẻ ý kiến giúp các em hợp tác với nhau và mạnh dạn trình bày ý kiến của
    mình. Thông qua các đội, nhóm, các em hiểu nhau hơn, có trách nhiệm giúp đỡ
    nhau cùng tiến bộ. Khi có chuyện xích mích giữa em này với em kia, tôi kịp thời
    can thiệp, không để mâu thuẫn kéo dài gây ảnh hưởng xấu đến tình bạn. Tôi gặp
    gỡ trao đổi riêng với từng học sinh hoặc nhóm học sinh để biết rõ sự việc; phân
    tích ai đúng, ai sai; ai sai thì phải nhận lỗi và xin lỗi bạn, sau đó giảng hòa và bắt
    tay nhau vui vẻ trở lại. Từ đó, các em trở nên thân thiện với nhau hơn và đã hạn
    chế sự gây gổ, cãi nhau trong lớp học.
    II. 2.2. Xây dựng không gian lớp học:
    II. 2.2.1. Trang trí lớp
    Mục tiêu: Trang trí lớp giúp học sinh có không gian học tập thân thiện, tạo
    hứng thú và hiệu quả các hoạt động cho học sinh thông qua các góc.
    18
    Chuẩn bị:
    – Phối hợp cùng với Phụ huynh và học sinh trang trí lớp.
    – Lên kế hoạch xây dựng mô hình và nội dung các góc phù hợp với lớp học.
    – Vận động phụ huynh, học sinh ủng hộ, bổ sung trang thiết bị, đồ dùng,
    cây xanh cho các góc
    Biện pháp
    – Trang trí lớp theo góc, tạo hiệu quả trong các hoạt động giáo dục
    Không gian lớp học ảnh hưởng lớn đến tâm lý thoải mái của giáo viên và
    học sinh. Vì vậy, tôi luôn chú trọng để mang đến cho các em không gian học tập
    thân thiện và gần gũi với thiên nhiên. Thực hiện tích cực phong trào “Trường học
    xanh- sạch- đẹp -an toàn” mà cấp trên phát động, ngay từ đầu năm học, tôi đã
    phối hợp cùng phụ huynh trang trí lớp học bằng nhiều góc theo chủ điểm khác
    nhau như: Thư viện của em, thiên nhiên quanh em…Tủ đồ dùng luôn gọn gàng
    sắp xếp khoa học, sạch đẹp, để thuận tiện khi sử dụng.
    Phụ huynh và giáo viên trang trí không gian lớp học
    Với góc thư viện: Để tạo điều kiện cho các em ham đọc sách, mở rộng hiểu
    biết, phát triển khả năng đọc, rèn kĩ năng và trách nhiệm bảo quản tài sản chung,
    19
    tôi đã huy động học sinh và cha mẹ các em cùng tham gia xây dựng “Góc thư
    viện”. Thông qua công tác tuyên truyền, các em đã ủng hộ thêm được rất nhiều
    đầu sách vào thư viện lớp. Các loại sách được phân ra từng mảng như: sách giáo
    khoa, sách bài tập, sách bổ trợ nâng cao, sách an toàn giao thông và các loại
    truyện như truyện cổ tích, truyện tranh, truyện cười, truyện giáo dục đạo đức
    chuyện Bác Hồ, truyện khoa học viễn tưởng,… Chỉ trong khoảng thời gian ngắn
    sau khi phát động, góc thư viện lớp tôi đã rất phong phú với những cuốn sách,
    truyện hay để các em sử dụng vào giờ ra chơi, giờ nghỉ hay giờ đọc sách, hoạt
    động tập thể. Tự tay lựa chọn, sắp xếp; tự quản lí, sử dụng và bổ sung đầu sách
    thường xuyên giúp các em thêm yêu những giờ đọc sách.
    Góc thƣ viện sau khi học sinh sắp xếp
    Với góc môi trường: Chúng ta hiểu rằng hoạt động thần kinh căng thẳng sẽ
    dịu đi khi mắt ta bắt gặp màu xanh của cây lá, sắc hoa thiên nhiên. Trong các gia
    đình cũng vì lợi ích đó mà người ta hay trang trí cây xanh hay cây cảnh. Do vậy,
    cũng giống như mỗi căn nhà, tôi đã sử dụng “Góc môi t

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số giải pháp giúp học sinh lớp 4 yêu thích và học tốt phân môn lịch sử

    SKKN Một số giải pháp giúp học sinh lớp 4 yêu thích và học tốt phân môn lịch sử

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
    I.1. Lí do chọn sáng kiến
    Mỗi lần đọc những câu thơ của Người – vị Cha già vĩ đại của dân tộc mà tôi
    thấy xúc động vô cùng:
    “Dân ta phải biết sử ta
    Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
    Kể năm hơn bốn nghìn năm,
    Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà…”
    Đó là những câu thơ mở đầu trong bài “Nên học sử ta” được Bác Hồ viết vào
    tháng 2 năm 1942 trên báo Việt Nam độc lập. Đúng vậy, đã là người Việt Nam thì
    ai ai cũng phải nắm được lịch sử nước nhà, từ người già đến người trẻ, từ người
    thuộc tầng lớp trí thức đến nông dân,….. để biết được những việc đã diễn ra, có thật
    và tồn tại khách quan trong quá khứ. Đó là niềm rất đáng tự hào của cả dân tộc ta.
    Nó là truyền thống của một quốc gia. Do đó, mọi người dân đều phải có nghĩa vụ,
    trách nhiệm học tập, noi gương và phát huy những gì tốt đẹp trong quá khứ- những
    điều quý báu mà cha ông đã phải đổ biết bao mồ hôi và xương máu để gìn giữ đến
    ngày hôm nay.
    Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng đặt nền móng cho việc hình thành nhân cách
    học sinh, trên cơ sở cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về tự nhiên và xã
    hội, phát triển các năng lực nhận thức, trang bị cho các em phương pháp kỹ năng
    sống về hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Trong chương trình Tiểu học,
    học sinh được học rất nhiều môn với nhiều kiến thức, nội dung phong phú nhằm
    giúp học sinh hình thành những năng lực, phẩm chất đặc thù cần có ở người học
    sinh.
    Có thể nói Lịch sử là một môn học giúp trẻ em bước đầu nhận biết được về
    từng giai đoạn, thời kì lịch sử khác nhau của đất nước, từ đó còn bồi dưỡng thêm
    tình yêu thương, niềm biết ơn và lòng tự hào sâu sắc của con cháu đối với lớp lớp
    cha ông trong công cuộc đấu tranh, bảo vệ giữ nước. Nó không chỉ hướng các em
    biết về những thành quả ở hiện tại, biết kết nối hiện tại với quá khứ, mà còn tạo
    nền tảng cho sự phát triển trong tương lai. Và đây cũng là một môn học này không
    2
    thể thiếu trong chương trình giảng dạy nào ở hầu hết các nước trên thế giới bởi mỗi
    một nước đều có một trang sử hào hùng riêng đáng tự hào.
    Môn Lịch sử được đưa vào chương trình học bắt đầu từ lớp 4- nơi bước đầu
    hình thành cho học sinh các kĩ năng, tri thức, một cái nhìn đầy tự hào về sử ta. Các
    kiến thức trọng tâm của phân môn Lịch sử lớp 4 cung cấp cho các em học sinh
    những kiến thức cơ bản về các nhân vật lịch sử, các mốc sự kiện đánh dấu sự phát
    triển của đất nước theo từng giai đoạn, thời kì, đặc biệt là từ buổi đầu dựng nước
    cho tới nửa đầu thế kỉ XIX. Bên cạnh đó bước đầu rèn luyện và hình thành cho học
    sinh các kĩ năng: biết quan sát sự vật, hiện tượng, thu nhập, tìm kiếm tư liệu lịch sử
    từ các nguồn thông tin khác nhau, biết nêu thắc mắc và đặt câu hỏi trong quá trình
    học tập và chọn thông tin để giải đáp, nhận biết đúng các sự vật, sự kiện, hiện
    tượng lịch sử, biết trình bày lại kết quả học tập bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ
    đồ,…Vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn đời sống, góp phần bồi dưỡng thêm
    sự yêu thích môn học, tính ham học hỏi, tình yêu con người, quê hương, đất nước
    và sự tôn trọng, biết bảo vệ những cảnh quan thiên nhiên mà cha ông cha đã tạo
    dựng nên qua các thời kì, niềm tự hào về truyền thống dựng nước và giữ nước của
    cha ông. Từ đó biết nâng cao tinh thần, trách nhiệm của mỗi cá nhân: giữ gìn và
    tiếp tục phát huy những truyền thống tốt đẹp của cha ông.
    Tuy vậy, hiện nay vẫn còn một số giáo viên tiểu học vẫn còn coi nhẹ, chưa
    quan tâm xứng đáng cho tiết dạy Lịch sử và một số học sinh thì lại không có hứng
    thú khi học môn này dẫn đến chất lượng giờ của môn Lịch sử còn hạn chế. Do đó
    việc nâng cao chất lượng giờ học Lịch sử ở trường Tiểu học hiện nay là vấn đề bức
    thiết.
    Tại sao việc dạy học môn Lịch sử nói chung và ở bậc Tiểu học nói riêng lại
    chưa hiệu quả? Tại sao học sinh lại chưa thích học dù các kiến thức lịch sử ở nhiều
    bài đã được xây dựng như một câu chuyện? Tại sao học sinh chưa chăm? Phải
    chăng là do giáo viên dạy nhàm chán hay do học sinh hình thành suy nghĩ môn học
    không quan trọng? Tôi hi vọng rằng tất cả đều có giải pháp nếu ta hướng tới mục
    tiêu giảng dạy của mình trong môn học.
    Chính vì lẽ đó, trong quá trình giảng dạy và giáo dục học sinh tại trường Tiểu
    học Nghĩa Hùng tôi tiến hành tìm hiểu và có được một số kinh nghiệm mong được
    chia sẻ cùng quý đồng nghiệp qua đề tài: “Một số giải pháp giúp học sinh lớp 4 yêu
    thích và học tốt phân môn Lịch sử.”
    3
    I.2. Mục đích nghiên cứu:
    Trước hết tạo cho các con một niềm yêu thích môn học, hứng thú tìm hiểu
    Lịch sử khi cảm nhận được giá trị của nó. Điều đó là trách nhiệm của mỗi giáo
    viên chúng tôi. Vì vậy muốn học sinh yêu thích, học tốt môn Lịch sử thì giáo viên
    phải là người truyền cảm hứng, hứng thú học tập cho học sinh ngay từ đầu năm
    học.
    Thông qua sáng kiến kinh nghiệm này, tôi mong muốn góp một phần nhỏ của
    mình vào mục tiêu chung, nhằm:
    – Góp phần bồi dưỡng và phát triển ở học sinh những thái độ và thói quen
    ham học hỏi, thích tìm hiểu lịch sử.
    – Giúp học sinh thêm yêu thiên nhiên, con người, quê hương, đất nước, biết
    tôn trọng và bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và văn hóa.
    – Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Lịch sử ở tiểu học.
    Với việc áp dụng sáng kiến này cho học sinh lớp 4A tôi chủ nhiệm năm học
    2021- 2022, gồm 25 học sinh, tôi cảm nhận được sự thay đổi về phương pháp, cách
    tiếp cận kiến thức đã bược đầu thành công trong việc dạy và học môn Lịch sử.
    I.3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
    I.3.1. Phạm vi nghiên cứu.
    Thực hiện biện pháp “Một số giải pháp giúp học sinh lớp 4 yêu thích và học
    tốt phân môn Lịch sử” đối với lớp 4A trong các tiết học trong lớp và ngoài giờ lên
    lớp tại trường Tiểu học xã Nghĩa Hùng năm học 2020- 2021.
    I.3.2. Đối tượng nghiên cứu.
    – Điều kiện:
    + Phòng học: rộng rãi, đủ tiêu chuẩn.
    + Đồ dùng dạy học: Sách giáo khoa Lịch sử, Vở bài tập, phương tiện dạy học
    hiện đại có ti vi kết nối wifi đảm bảo chất lượng, đồ dùng dạy học tự làm, đồ dùng
    dạy học phục vụ cho giảng dạy.
    – Thời gian: Lần đầu áp dụng sáng kiến vào tháng 9/2020.
    – Đối tượng áp dụng sáng kiến:
    4
    + Lớp nghiên cứu: Học sinh lớp 4A trường Tiểu học xã Nghĩa Hùng năm học
    2020 – 2021.
    + Phạm vi áp dụng: Môn Lịch sử lớp 4.
    – Trong quá trình lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp giúp học sinh lớp 4 yêu
    thích và học tốt phân môn Lịch sử”.
    I.4. Nội dung sáng kiến:
    I.4.1. Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến:
    + Thay đổi các kĩ thuật, phương pháp dạy học và vận dụng linh hoạt, sáng tạo
    các hình thức tổ chức dạy học để học sinh được thoải mái, vui vẻ, phát huy được
    tính tích cực của học sinh và giờ học có chất lượng cao.
    + Giáo viên khai thác triệt để tính năng ưu việt của đồ dùng dạy học tự làm,
    của công nghệ thông tin, việc lĩnh hội tri thức đúng với thông điệp “học mà chơi,
    chơi mà học” thông qua các trò chơi lí thú, bổ ích, các hoạt động trải nghiệm ngoài
    giờ lên lớp, tuy nhiên không lạm dụng chúng quá mức mà cần linh hoạt áp dụng
    chúng, đem lại hiệu quả ở mức tối ưu nhất. Không chỉ vậy, học sinh còn được làm
    quen với phương tiện dạy học hiện đại là các video giới thiệu về các nhân vật lịch
    sử, các địa danh hay diễn biến của những cuộc đấy tranh đầy gay go, ác liệt nhưng
    cũng đầy tính táo bạo, bất ngờ của quân và dân ta trong mạng Internet. Mỗi bài
    học, tiết dạy đều được giáo viên xây xựng như những cuộc chơi kì thú, giúp các
    em khám phá những điều bổ ích, lý thú trong tâm thế hồ hởi, hứng khởi đầy say
    mê.
    I.4.2. Khả năng áp dụng của sáng kiến
    Khi viết sáng kiến này, tôi tập trung nghiên cứu một số biện pháp có nội dung
    trọng tâm sau:
    – Sự chuẩn bị về cơ sở vật chất.
    – Sự chuẩn bị của giáo viên.
    – Các biện pháp giúp học sinh yêu thích và hứng thú đối với phân môn lịch sử
    + Giải pháp 1: Sử dụng linh hoạt và sáng tạo các kĩ thuật dạy học, các phương
    pháp, hình thức dạy học
    + Giải pháp 2: Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy
    5
    + Giải pháp 3: Tổ chức linh hoạt và sáng tạo các trò chơi
    + Giải pháp 4: Giáo viên cần mở rộng kiến thức cho học sinh sau mỗi bài học.
    + Giải pháp 5: Học lịch sử kết hợp với tham gia các hoạt động ngoại khóa.
    + Giải pháp 6: Khơi gợi hứng thú học tập của học sinh qua các góc học tập,
    thư viện lớp, trường học.
    I.4.3. Lợi ích thiết thực của sáng kiến:
    Học sinh yêu thích, có niềm say mê với môn học, qua đó biết được công cuộc
    dựng nước và giữ nước của cha ông ta vất vả như thế nào, hình thành tình yêu quyê
    hương, đất nước, niềm tự hào đối với những trang sử hào hung của dân tộc ta.
    Thành quả các em đạt được sẽ giúp các em hiểu giá trị của lao động và biết trân
    trọng thành quả của người xưa. Sự cảm nhận đó là động lực thúc đẩy học sinh học
    tập tốt hơn. Đó cũng chính là sự động viên đối với giáo viên, học sinh và cha mẹ
    các em.
    II. Mô tả giải pháp kỹ thuật
    II.1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    II.1.1. Cơ sở lí luận và thực tiễn
    Ở các lớp thuộc giai đoạn đầu của tiểu học: lớp 1, lớp 2, lớp 3 các em chưa
    được học môn Lịch sử do đó Lịch sử là môn học rất mới mẻ với các em khi đặt
    chân lên lớp 4. Có lẽ đó mà cách các em tiếp thu bài ở lớp 4 cũng lạ lẫm hơn với
    các lớp dưới rất nhiều. Hơn nữa phân môn lịch sử là phân môn đặc trưng, các em
    bước đâu phải làm quen với nhiều điều mới lạ như: bản đồ, lược đồ, bảng số liệu,
    sử liệu… Từ những điều nêu trên nếu người giáo viên không yêu thích, tâm huyết
    với môn học này, không biết vận dụng các hình thức dạy học cũng như không có
    phương pháp dạy học phù hợp, không biết khai thác triệt để các kênh thông tin,
    những học liệu hay không có những gợi mở để học sinh tự tìm tòi thì rất dễ làm
    cho các em không có hứng thú hoặc sợ học phân môn này.
    Từ tâm lý thích thú, háo hức khi lên lớp 4 được học thêm môn học mới, các
    em bị “vỡ mộng”, thực tế khi học môn này không giống như các em tưởng tượng.
    Khi đó vai trò của nhà trường, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm lớp thực sự rất quan
    trọng. Phải làm sao để đồng hành cùng với học sinh, chia sẻ với học sinh trong giai
    đoạn chuyển giao hoạt động học tập của các môn học từ lớp 1, 2, 3 lên lớp 4? Làm
    6
    cách nào để học sinh luôn duy trì được sự hào hứng, thích thú đến trường, cùng
    bạn bè, thầy cô học tập, tiếp thu những kiến thức thú vị, bổ ích mà các em chưa
    được biết đến, chưa được trải nghiệm từ môn Lịch sử? Đây cũng chính là vấn đề
    rất cần sự quan tâm kịp thời mà đôi khi các nhà trường và chính bản thân giáo viên
    chủ nhiệm lớp Bốn cũng chưa thực sự để tâm đến.
    II.1.2. Thực trạng của vấn đề khi áp dụng giải pháp mới
    * Về phía nhà trường:
    – Thiết bị dạy học trong môn Lịch sử còn hạn chế, thiếu tranh ảnh, bản đồ, mô
    hình,….nên trong quá trình dạy chưa được giáo viên đầu tư khai thác triệt để.
    – Công tác phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường
    thiếu sự đồng bộ, không chặt chẽ. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, các tiết
    sinh hoạt tập thể, ngoại khóa, trải nghiệm…chưa được chú trọng đúng mức, chưa
    lồng ghép được nội dung giáo dục lịch sử cho học sinh.
    * Về phía giáo viên:
    Với tâm huyết của một nhà giáo đồng thời bản thân cũng được phân công
    giảng dạy lớp 4- đây cũng là khối lớp bắt đầu các em được làm quen với lịch sử,
    tôi cũng cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, linh hoạt trong phương pháp giảng dạy để
    đưa lịch sử trở nên gần gũi hơn với các em học sinh, kích thích cho các em có
    hứng thú học và để các em cảm thấy học lịch sử không còn là một môn học quá
    khô khan, khó nhớ với rất nhiều các mốc lịch sử, sự kiện, nhân vật… đặc biệt là các
    em học sinh vùng nông thôn.
    Từ trước đến nay tôi hầu như chỉ quan tâm và nghiên cứu về vấn đề dạy và
    học Lịch sử nhưng các đề tài đó chỉ đi sâu vào một khía cạnh nhất định như: truyền
    dạy đủ tri thức cho học sinh khi học phân môn Lịch sử hoặc sử dụng một vài trò
    chơi trong dạy phân môn Lịch sử để thay đổi không khí lớp học,…mà chưa thực sự
    bỏ ra một chút tâm huyết nào để nghiên cứu sâu về vấn đề này.
    Trong quá trình dạy giáo viên ít sử dụng đồ dùng, đặc biệt là ngại áp dụng
    công nghệ thông tin vào dạy học, nếu có cũng chỉ trong các giờ thao giảng hoặc thi
    giáo viên giỏi. Vì vậy, tiết học thiếu trực quan sinh động, chưa gây hứng thú cho
    học sinh.
    7
    Là một giáo viên trẻ nên tôi cũng tự nhận thức được rằng kiến thức lịch sử
    của mình còn hạn chế vô cùng, chưa biết cách khai thác hết nội dung bài dạy, chưa
    mở rộng được kiến thức cho học sinh nên dẫn đến học sinh ghi nhớ một cách sách
    vở mà không có sự đọng lại trong tâm trí các em, chưa biết lồng ghép giáo dục lịch
    sử địa phương, đặc biệt là chưa vận dụng được vai trò của góc học tập, thư viện lớp
    học vào việc khơi dậy niềm đam mê học lịch sử của học sinh. Tất cả những nguyên
    do trên một phần đã khiến cho học sinh của tôi có kết quả môn Lịch sử chưa cao.
    * Về phía phụ huynh học sinh:
    Hầu hết các bậc phụ huynh có thái độ chưa coi trọng, chưa hỗ trợ các em
    trong môn học này. Họ thường xuyên chú ý hơn về các môn: Toán, Tiếng Việt,
    Tiếng Anh bởi lẽ đối với họ các em chỉ cần học tốt các môn đó là đã đủ rồi. Không
    cần học giỏi, không cần biết nhiều về môn Lịch sử thì có sao, các em vẫn trở thành
    những người có khả năng phát triển về kinh tế. Từ đó góp phần hình thành trong
    suy nghĩ của các em môn Lịch sử là môn học không quan trọng, không phải là môn
    để ưu tiên đầu tư thời gian cho việc phát triển trí tuệ. Đây là một trong nhưng suy
    nghĩ vô cùng lệch lạc của các bậc phụ huynh vì như thế họ đã gián tiếp giáo dục
    con em của mình trở thành một con người phát triển chưa hoàn thiện, chưa có tình
    yêu quê hương, đất nước: không biết được nhờ đâu mà chúng ta có ngày hôm nay?
    Chính vì thế mà kết quả của môn học chưa thực sự cao.
    II.1.3. Phân tích ưu, nhược điểm của giải pháp cũ
    – Ưu điểm: Trường tôi đã chỉ đạo việc dạy và học theo đúng chương trình.
    Bên cạnh các buổi sinh hoạt chuyên môn nghiệp vụ theo hướng nghiên cứu bài
    học, trường còn tổ chức các buổi giao lưu giữa giáo viên với giáo viên để trao đổi
    kinh nghiệm trong việc dạy học, đưa ra những phương pháp, những chương trình
    hành động phù hợp, thiết thực trong các hoạt động của trường, lớp; gặp gỡ giữa
    giáo viên với học sinh để kịp thời nắm bắt những tâm tư, nguyện vọng của các em
    với nhiều hình thức khác nhau. Về phía học sinh, các em ngoan ngoãn, vâng lời
    thầy cô, hòa đồng với bạn bè.
    – Hạn chế:
    + Để tạo ra một mối quan hệ tích cực giữa giáo viên và học sinh giúp cho quá
    trình học tập phát triển một cách hiệu quả đem lại lợi ích lâu dài cả về mặt học tập
    trong trường lớp và ngoài xã hội thì giáo viên phải vừa là một người thầy vừa là
    8
    một một người thầy, chưa để tâm đến học sinh với vai trò của một người bạn. Vì
    giáo người bạn đồng hành cùng học sinh. Tuy nhiên một số giáo viên mới chỉ dừng
    ở vai trò của viên còn đang đặt nặng vấn đề về thành tích, điểm số học tập mà bỏ
    quên mất chỉ số hạnh phúc và đời sống xã hội của các em. Cho nên khi tiếp xúc với
    các thầy cô, nhiều em học sinh còn rụt rè, ngại ngùng, chưa nói lên được những
    điều mìnhmong muốn.
    + Nhà trường còn đang gặp một số khó khăn về cơ sở vật chất, các trang biết
    bị hiện đại chưa đầy đủ khiến cho việc đổi mới và nâng cao chất lượng dạy học
    cũng như các hoạt động tập thể chưa đạt hiệu quả cao.
    Theo dõi qua đánh giá thường xuyên, các biểu hiện hành vi của học sinh và
    dựa trên kết quả khảo sát mức độ hứng thú học tập cũng như mức độ tiếp thu về
    kiến thức kĩ năng của học sinh thông qua một số bài tập, đến giữa học kì I năm học
    2020-2021, tôi nhận được kết quả như sau:

    Tổng
    số học
    sinh
    Mức độ hứng thú
    Rất hứng thúHứng thúBình thườngKhông hứng
    thú
    25SLTLSLTLSLTLSLTL
    416%832%1352%00

    Bảng: Đánh giá mức độ hứng thú của học sinh

    Tổng số
    học sinh
    Mức độ nhận biết về kiến thức và kĩ năng
    Hoàn thành tốtHoàn thànhChưa hoàn thành
    25SLTLSLTLSLTL
    520%2080%00

    Bảng: Đánh giá mức độ nhận biết về kiến thức và kĩ năng của học sinh
    Từ thực trạng nói trên, tôi băn khoăn, trăn trở làm thế nào để học lịch sử trở
    thành niềm đam mê đối với học sinh, để các em hiểu hơn về truyền thống dân tộc,
    tự hào về những gì mà cha ông ta đã mang lại, qua đó góp phần nâng cao chất
    lượng của phân môn Lịch sử nói riêng và các môn học khác nói chung trong
    chương trình tiểu học.
    II.2. MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI CÓ SÁNG KIẾN
    9
    II.2.1. Những vấn đề cần giải quyết
    – Sự chuẩn bị về cơ sở vật chất: Muốn giờ học đạt hiệu quả thì cần phải chuẩn
    bị tốt các điều kiện dạy học như:
    + Phòng học có đầy đủ ánh sáng, đảm bảo cho việc ngồi học của các em.
    + Nhà trường trang bị các thiết bị dạy học, sẵn sàng phục vụ việc học tập
    nhằm gây hứng thú cho các em học sinh: máy chiếu, ti vi có kết nối wifi,…
    – Sự chuẩn bị của giáo viên:
    + Trước hết, để giờ học đạt được hiệu quả cao, bản thân tôi luôn xác định
    rằng muốn các em học tốt môn Lịch sử thì giáo viên phải là người tâm huyết với
    nghề, yêu thích phân môn Lịch sử, nên tự trang bị cho mình kho tàng kiến thức về
    lịch sử là điều vô cùng cần thiết. Việc bồi dưỡng kho tàng này không bao giờ là đủ
    mà phải được thực hiện thường xuyên, liên tục suốt cuộc đời. Bởi vậy tôi luôn tìm
    đọc những cuốn sách về lịch sử, những câu chuyện, bộ phim lịch sử, em các tài
    liệu trên mạng internet để hiểu hơn về lịch sử dân tộc cũng như thế giới. Học sinh
    tiểu học vô cùng đáng yêu, các em xem giáo viên như là thần tượng, như là một
    chuẩn mực để hướng đến, các em bắt chước và làm theo giống như giáo viên. Lời
    giảng của giáo viên càng rõ ràng, càng truyền cảm sẽ gây được sự chú ý cao ở học
    sinh.
    + Bản thân tôi luôn nghiên cứu kĩ sách giáo khoa, tìm tòi tài liệu, nắm vững
    mục tiêu các kiến thức cần truyền đạt, để từ đó có phương pháp giảng dạy thích
    hợp tới học sinh lớp mình. Trước khi lên lớp tôi nghiên cứu kĩ hoạt động dạy của
    môn Lịch sử để xác định rõ trọng tâm của bài, từ đó soạn bài, chuẩn bị đồ dùng
    cho tiết dạy một cách chi tiết, cụ thể phù hợp với nội dung bài học. Khi soạn bài
    cần soạn chi tiết, cụ thể, phân phối thời gian tiết dạy hợp lí, không để các em làm
    một việc quá lâu, tránh sự chán nản. Trong giảng dạy giáo viên vận dụng linh hoạt
    các kĩ thuật dạy học tích cực: kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật
    các mảnh ghép, kĩ thuật sơ đồ tư duy,…hay các phương pháp dạy học: phương
    pháp thảo luận nhóm, phương pháp đóng vai, …để tạo sự tò mò, gây được sự hứng
    thú, phấn khởi ở các em, từ đó nâng cao được hiệu quả của giờ dạy. Bên cạnh đó
    giáo viên linh hoạt, tinh tế trong việc động viên, khen thưởng kịp thời để tạo sự
    hứng thú học tập cho các em.
    10
    – Sự chuẩn bị của học sinh: Giáo viên, học sinh là hai đối tượng luôn song
    hành với nhau trong một tiết dạy. Ngoài sự chuẩn bị tiết dạy, khi lên lớp giáo viên
    chỉ thiết giảng mà không quan tâm đến sự chán nản, mệt mỏi của học sinh. Làm
    sao để khắc phục tình trạng trên? Không có cách nào khác, cần phải có sự hòa hợp,
    hợp tác nhịp nhàng giữa giáo viên và học sinh, học sinh cũng cần phải có sự chuẩn
    bị bài ở nhà trước khi đến lớp, tích cực sưu tầm tài liệu, sử liệu có liên quan đến
    bài học để việc học tập được tốt hơn. Đọc thêm sách báo, sách lịch sử, truyện kể
    lịch sử, em phim lịch sử để bổ sung, tích lũy kiến thức về môn học. Khi vào lớp
    chú ý nghe giảng, nghe theo sự hướng dẫn của giáo viên, biết hợp tác với các bạn
    trong nhóm, trong lớp để tập trung và hoàn thành tốt nội dung bài học. Có như thế
    mới thể hiện được sự hợp tác nhịp nhàng giữa người dạy- người học, tạo ra không
    khí vui tươi, phấn khởi, đem lại hiệu quả cao của giờ học.
    II.2.2. Các giải pháp giúp học sinh yêu thích và học tốt phân môn Lịch sử
    Giải pháp 1: Sử dụng linh hoạt và sáng tạo các kĩ thuật dạy học, các
    phương pháp, hình thức dạy học
    Thứ nhất: Sử dụng linh hoạt và sáng tạo các kĩ thuật dạy học
    Có rất nhiều các kĩ thuật dạy học khác nhau, giáo viên phải chọn lựa những
    kĩ thuật dạy học tích cực, phù hợp với đối tượng học sinh của mình, phù hợp với
    điều kiện thực tế của lớp học. Khi dạy học có kết hợp với các kĩ thuật dạy học này,
    các em có cơ hội được thực hành, trải nghiệm, tích cực, chủ động, làm cho các em
    thích thú, giờ học nhẹ nhàng, thiết thực, bổ ích. Cụ thể, đối với học sinh lớp 4A, tôi
    thường sử dụng những kĩ thuật dạy học sau:
    * Kĩ thuật khăn trải bàn
    Cả lớp được chia thành các nhóm nhỏ gồm 4 người. Mỗi nhóm sẽ có một tờ
    giấy đặt trên bàn, như là một chiếc khăn trải bàn. Chia tờ giấy thành phần chính
    giữa và phần xung quanh, tiếp tục chia phần xung quanh thành 4 phần tuỳ theo số
    thành viên của nhóm mình chia. Mỗi thành viên sẽ suy nghĩ và viết những suy nghĩ
    của mình (về một vấn đề nào đó mà giáo viên yêu cầu) vào phần cạnh “khăn trải
    bàn” phía trước mặt. Sau đó các bạn sẽ cùng nhau thảo luận nhóm, tìm ra những ý
    tưởng chung và viết vào phần chính giữa “khăn trải bàn”.
    11
    Ảnh: Mô phỏng kĩ thuật khăn trải bàn- Nguồn Internet
    Ví dụ : Bài 15: “Nước ta cuối thời Trần”
    Hoạt động 1: Tìm hiểu tình hình nước ta cuối thời Trần
    Ảnh: Nước ta cuối thời Trần- Nguồn Internet
    12
    Tôi yêu cầu học sinh đọc thông tin, kết hợp với tư liệu sưu tầm làm việc theo
    nhóm 4: Nêu tình hình nước ta cuối thời Trần bằng kĩ thuật khăn trải bàn. Sau đó
    cử đại diện trình bày trước lớp.
    Các em được làm việc, được ghi lại những ý kiến của bản thân rồi tổng hợp
    thành ý kiến chung của nhóm. Học sinh rất tích cực, hào hứng học tập với kĩ thuật
    dạy học này.
    Ảnh: Các em học sinh hoạt động nhóm bằng kỹ thuật khăn trải bàn
    13
    * Kĩ thuật các mảnh ghép
    Đây là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa
    các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vụ phức hợp (có nhiều chủ đề); Kích thích
    sự tham gia tích cực của học sinh và nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình
    hợp tác.
    Kĩ thuật dạy học này giúp tạo ra những hoạt động đa dạng và phong phú. Khi
    giáo viên tổ chức hoạt động này, người học sẽ được tham gia vào các hoạt động
    với nhiệm vụ khác nhau và đương nhiên các mức độ yêu cầu cũng sẽ khác nhau. Ở
    đây đòi hỏi người học phải tích cực, nỗ lực tham gia và bị cuốn hút vào các hoạt
    động để hoàn thành vai trò, trách nhiệm của mỗi cá nhân. Thông qua hoạt động
    này góp phần hình thành ở người học tính chủ động, năng động, linh hoạt, sáng tạo
    và tinh thần trách nhiệm cao trong học tập đối với chính mình và các bạn trong lớp.
    Đồng thời cũng hình thành ở người học các kĩ năngnhư: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng
    trình bày, kĩ năng hợp tác- giải quyết các vấn đề…Đặc biệt người học có thể giải
    quyết các vấn đề học tập, trải nghiệm các tình huống thực tế từ “tự nghiên cứu”
    đến “hợp tác với bạn và thầy” và quay trở về “tự nghiên cứu” ở những tình huống
    mới dần dần sẽ tạo cho bản thân người học trình độ và năng lực tự học, tự nghiên
    cứu, năng lực tư duy, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong cuộc sống.
    Ảnh: Sơ đồ dạy học kỹ thuật các mảnh ghép- Nguồn Internet
    Ví dụ: Bài Trường học thời Hậu Lê
    14
    Tôi chia HS thành các nhóm, sau đó phân công cho mỗi nhóm thảo luận, tìm
    hiểu về một nội dung: Nhóm 1,2: Cách tổ chức trường học thời Hậu Lê; Nhóm 3,4:
    Dưới thời Lê, những ai được chọn vào học trong trường Quốc Tử Giám; Nhóm
    5,6: Nội dung học tập và thi cử dưới thời Hậu Lê; Nhóm 7,8: Nề nếp thi cử dưới
    thời Hậu Lê.
    Sau khi thảo luận nhóm về vấn đề đã được phân công, mỗi thành viên của các
    nhóm này sẽ tập hợp lại thành các nhóm mới, như vậy trong mỗi nhóm mới sẽ có
    đủ các HS đã tìm hiểu về vấn đề đã nêu ở trên và HS đã được tìm hiểu sâu vấn
    trong nhóm cũ sẽ có trách nhiệm trao đổi lại với cả nhóm về vấn đề mà mình có cơ
    hội tìm hiểu sâu.
    * Kĩ thuật sử dụng sơ đồ tư duy
    Việc sử dụng sơ đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy
    động tối đa tiềm năng của bộ não, giúp hình thành và phát triển ở học sinh một số
    năng lực đặc thù như: năng lực tìm kiếm thông tin, năng lực khái quát hóa, trừu
    tượng hóa, năng lực giao tiếp- hợp tác- giải quyết các vấn đề,… Học sinh trở nên
    sáng tạo, tự tin hơn.
    Để các em có thể vẽ được sơ đồ tuy duy, tôi đã hướng dẫn các em thông qua
    các bước như sau:
    – Bước 1: Chủ đề (từ khóa gốc) nằm ở chính giữa (có thể là tên một đề mục,
    một bài học).
    – Bước 2: Từ trung tâm của sơ đồ tư duy vẽ các nhánh chính, mỗi nhánh thể
    hiện 1 nội dung chính của chủ đề (Tôi khuyến khích các em nên dùng các đường
    cong với các màu sắc khác nhau để dễ nhớ các nội dung bài học).
    – Bước 3: Cuối cùng, từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ thể hiện các
    đặc điểm của nhánh chính.
    Ví dụ: Bài: Nước Văn Lang
    15
    Ảnh: Bài: “Nhà nước Văn Lang”- Nguồn: Sách giáo khoa
    Để vẽ được sơ đồ tư duy thể hiện cơ cấu, bộ máy nhà nước, tình hình kinh tế-
    văn hóa- xã hội của nhà nước Văn Lang, tôi đã hướng dẫn học sinh như sau:
    – Chọn từ khóa chủ đề: Nước Văn Lang
    – Chọn các từ khóa nhánh chính: Hoàn cảnh ra đời, Thành lập, Tổ chức…
    – Chọn các từ khóa nhánh phụ: Học sinh tự tìm hiểu thông tin để viết vào
    16
    Ảnh: Học sinh vẽ sơ đồ tư duy về “Nhà nước Văn Lang”
    Thứ hai: Sử dụng linh hoạt và sáng tạo các phương pháp, hình thức dạy
    học
    * Phương pháp quan sát
    Tranh, ảnh, lược đồ,…là phương tiện dạy học rất đặc trưng của môn Lịch sử,
    giúp cho học sinh tái hiện lại những sự kiện, nhân vật lịch sử trong quá khứ, giúp
    học sinh có những hiểu biết sâu sắc về các sự kiện lịch sử đã học, tạo ra được biểu
    tượng lịch sử chân thực, chính xác, thông qua đó khơi dậy những xúc cảm nhất
    định.
    Thông qua các tranh ảnh về kinh thành, chùa chiền, lăng tẩm hay các hiện vật,
    chứng tích giáo viên cần giúp học sinh thấy được nét đặc trưng về văn hóa, xã hội,
    tín ngưỡng hay sự phát triển về kinh tế của từng triều đại, của một giai đoạn lịch sử
    nhất định.
    Ví dụ 1: Khi dạy bài: “Nhà Lý dời đô ra Thăng Long” ở hoạt động: Tìm hiểu
    việc dời đô và ý nghĩa của nó, tôi tổ chức cho học sinh khai thác ảnh như sau:
    17
    Ảnh: Một số hiện vật của kinh đô Thăng Long (thời Lý)- Nguồn Internet
    Bước 1: Cho học sinh quan sát hình ảnh ở SGK theo nhóm bàn
    Bước 2: Các nhóm thảo luận câu hỏi trong phiếu bài tập:
    + Em có nhận xét gì về các hiện vật có trong hình?
    + Những hiện vật đó chứng tỏ Thăng Long dưới triều nhà Lý được xây dựng
    như thế nào?
    Bước 3: Đại diện các nhóm chia sẻ trước lớp, bổ sung.
    Bước 4: Sau đó, tôi chốt lại: Trong quá trình đào móng để tiến hành xây dựng
    nhà quốc hội và Hội trường Ba Đình mới, đã lộ ra di tích của Hoàng thành Thăng
    Long xưa. Di tích đã được khai quật từ tháng 12- 2002 đến tháng 12-2003, với
    hàng triệu hiện vật về đồ gốm, đồ sứ, vật dụng, vật liệu xây dựng. Trong các hiện
    vật đó có các hiện vật bằng đất nung như lá đề, chim phượng và tượng đất nung
    chim uyên ương được chạm trổ tinh vi, uyển chuyển rất đẹp. Nhưng hiện vật độc
    đáo nhất là đầu rồng bằng đất nung thời Lý, điều đó chứng tỏ sự tài hoa của nhân
    dân ta.
    Ngoài ra, trong chương trình phân môn lịch sử lớp 4 có rất nhiều các tranh
    ảnh về các nhân vật lịch sử như Hai Bà Trưng, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lý Thái
    Tổ, Quang Trung,…. Mỗi nhân vật lịch sử gắn liền với một sự kiện hay giai đoạn
    18
    lịch sử nhất định. Qua việc khai thác sử dụng lược đồ, bản đồ, tôi thấy học sinh của
    mình rất hứng thú theo dõi bài giảng, ghi nhớ bền lâu, nhất là các mốc thời gian
    kèm theo những sự kiện tiêu biểu, những biến động kinh tế – xã hội thông qua biểu
    đồ, bảng thống kê.
    * Phương pháp thảo luận nhóm
    Dạy học theo nhóm là chia lớp ra thành các nhóm nhỏ. Giáo viên nêu ra vấn
    đề cần giải quyết và giao cho các nhóm thảo luận. Phương pháp này yêu cầu học
    sinh phải có tính hợp tác cao thì hiệu quả của nhóm mới đạt hiệu quả. Những vấn
    đề có nhiều cách hiểu hoặc phức tạp cần tranh luận hoặc những phần kết luận,
    nhận xét mà tác giả sách giáo khoa đã khéo léo “để dành”, không viết sẵn thì giáo
    viên cho học sinh thảo luận nhóm. Giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn, chỉ
    đạo, điều khiển; còn học sinh tích cực, tự giác, chủ động làm việc với các nguồn tri
    thức dưới sự chỉ đạo của giáo viên.
    Ví dụ: Nước ta dưới ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc
    Giáo viên hỏi: Sau khi thôn tính được nước ta, các triều đại phong kiến
    phương Bắc đã thi hành những chính sách áp bức bóc lột nào đối với nhân dân ta?
    Với câu hỏi này, mỗi học sinh đều có thể dựa vào sách giáo khoa và trả lời
    được dễ dàng: Chúng chia nước ta thành nhiều quận, huyện do chính quyền người
    Hán cai quản, chúng bắt nhân dân ta lên rừng săn voi, tê giác, bắt chim quý, đẵn gỗ
    trầm, xuống biển mò ngọc trai. giáo viên hỏi câu tiếp theo: Tìm sự khác biệt về
    tình hình nước ta về chủ quyền, về kinh tế, về văn hóa trước và sau khi bị các triều
    đại phong kiến phương Bắc đô hộ. Với câu hỏi này đòi hỏi học sinh phải hoàn
    thành bảng so sánh, mỗi cá nhân phải phân tích, tổng hợp kiến thức bởi vậy giáo
    viên sẽ cho học sinh làm việc nhóm 4 hoặc nhóm 6. Qua làm việc trong nhóm dưới
    sự điều khiển của nhóm trưởng, học sinh được tự do nêu ý kiến của mình và thống
    nhất ý kiến đi đến kết quả chung. Làm việc như vậy, học sinh thấy rất thích thú và
    đem lại hiệu quả cao.
    19
    Ảnh: Các bạn học sinh tham gia thảo luận nhóm
    Áp dụng phương pháp này trong dạy học, tôi nhận thấy nó đem lại cho học
    sinh cơ hội được sử dụng các kiến thức và kỹ năng mà các em được lĩnh hội và rèn
    luyện, cho phép diễn đạt những ý tưởng, những khám phá của mình và mở rộng
    suy nghĩ và thực hành các kỹ năng tư duy như: so sánh, phân tích, tổng hợp, đánh
    giá, góp phần thực hiện các kĩ thuật dạy học. Ngoài ra phương pháp này còn giúp
    các em rèn luyện và phát triển kỹ năng làm việc, kỹ năng giao tiếp, tạo điều kiện
    cho học sinh giao lưu, học hỏi lẫn nhau, phát huy vai trò trách nhiệm, tính tích cực
    xã hội trên cơ sở làm việc hợp tác.
    * Phương pháp kể chuyện, đóng vai
    Có thể nói đây là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành “làm thử” một
    số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. Việc “diễn” không phải là
    phần chính của phương pháp này mà điều quan trọng nhất là sự thảo luận sau phần
    diễn ấy. Học sinh cùng nhau tham gia giải quyết một tình huống của nội dung học
    tập gắn liền với thực tế cuộc sống bằng cách tự mình cùng với các bạn diễn xuất
    một cách ngẫu hứng mà không cần kịch bản hoặc luyện tập trước. Đồng thời, học
    sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi
    20
    trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn. Phương pháp này có rất nhiều
    ưu điểm như: kích thích thảo luận, tạo điều kiện làm phát triển óc sáng tạo, học
    sinh tham gia có thức vào việc học tập tích cực, khích lệ sự thay đổi thái độ, hành
    vi của học sinh theo hướng tích cực.
    Ảnh: Học sinh giơ tay lên tham gia đóng vai
    21
    Ảnh: Học sinh tham gia đóng tiểu phẩm
    Giải pháp 2: Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy
    Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy và học lịch sử là giải pháp mà tôi
    thường xuyên sử dụng và chú trọng nhằm gây hứng thú cho học sinh. Đây là một
    cách làm rất tốt cho cả cô và trò vì tính trực quan sinh động của phương pháp này
    sẽ giúp quá khứ lịch sử được tái hiện một cách chân thực trong đời sống hiện tại,
    giống như một thước phim ngắn, giúp học sinh được trở về thời điểm hào hùng đầy
    khí thế, đáng tự hào ấy của cha ông. Từ đó giúp các em học tập một cách tích cực,
    chủ động, sáng tạo hơn.
    Tôi thường sử dụng ti vi để hỗ trợ cho việc tường thuật, miêu tả các sự kiện,
    hiện tượng lịch sử hoặc chiếu một đoạn phim tài liệu hay những mẩu chuyện về
    các nhân vật lịch sử, các trận đanh để các em được xem..
    Ví dụ 1: Khi dạy bài 25: “Quang Trung đại phá quân Thanh năm 1789”, tôi
    thực hiện như sau:
    Sau khi cho học sinh tìm hiểu diễn biến trong sách giáo khoa thì tôi cho các
    em chia sẻ trước lớp bằng ngôn ngữ nói và khả năng ghi nhớ của mình. Sau đó, tôi
    cho các em xem lại diễn biến của các cuộc khởi nghĩa đó trên máy chiếu, giúp các
    em hứng thú, muốn được tìm hiểu hơn và đặc biệt khắc sâu được kiến thức.
    22
    Ảnh: Lược đồ Quang Trung đại phá quân Thanh- Nguồn Internet
    Ví dụ 2: Hay khi dạy bài 28: “Kinh Thành Huế” tôi cho học sinh đọc thông
    tin trong sách giáo khoa sau đó tôi cho các em xem các slides giới thiệu về Kinh
    thành Huế.
    23
    Kinh thành Huế được xây dựng theo kiến trúc của phương Tây kết hợp kiến
    trúc thành quách phương Đông. Kinh thành gồm ba vòng thành: Phòng thành,
    Hoàng thành và Tử cấm thành. Phòng thành là vòng ngoài cùng có chu vi 9950m
    24
    Hoàng thành là vòng thứ hai có tên là Đại nội, có chu vi 2450m. Cửa chính
    của Hoàng thành là Ngọ môn, cửa này xưa chỉ dùng cho vua đi.
    Tử cấm thành là vòng trong cùng có chu vi 1225m.Đây là nơi ở, làm việc
    của vua và gia đình.
    25
    Thành có 10 cổng chính ra vào. Bên trên cửa thành xây các vọng gác có mái
    uốn cong hình chim phượng.
    Cửa Nam tòa thành có cột cờ cao 37m. Từ đỉnh cột cờ có thể nhìn thấy cửa
    biển Thuận An.
    Ngọ môn là cửa chính vào Hoàng thành. Cửa này chỉ dành cho vua đi.
    26
    Được đọc các thông tin kết hợp xem các hình ảnh và lời giới thiệu của giáo
    viên thì học sinh rất hào hứng, thích thú và học tập một cách hăng say và đạt kết
    quả tốt.
    Với việc sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ cho việc học, tôi thấy học sinh
    như bị lôi cuốn vào tiết học, các em hăng hái, sôi nổi tích cực hẳn lên. Tiết học lịch
    sử vốn khô khan vì thế mà trở nên nhẹ nhàng, hiệu quả hơn.
    Giải pháp 3: Tổ chức linh hoạt và sáng tạo các trò chơi
    Việc tổ chức trò chơi trong các giờ dạy Lịch sử không nhằm mục đích
    giải trí cho học sinh mà điều quan trọng là thông qua các trò chơi sẽ tạo nên một
    không khí hăng say học tập, một không khí làm việc nghiêm túc để đi tìm cái phải
    hướng đến, đó là kiến thức lịch sử. Qua các trò chơi, các em có thể độc lập suy
    nghĩ, tìm tòi đồng thời vừa rèn luyện kĩ năng hoạt động nhóm cho các em để có
    đáp án vừa nhanh vừa chính xác. Vì vậy, khi các em học lịch sử thông qua các trò
    chơi sẽ tạo sự thoải mái hơn, hứng thú hơn. Từ đó, các em ghi nhớ những kiến thức
    cơ bản cần đạt.
    Với giải pháp này, tôi thường áp dụng trong những dạng bài ôn tập hoặc
    lồng ghép trong một số hoạt động giáo dục: Hoạt động trải nghiệm, Ngoài giờ lên
    lớp.
    Ví dụ 1: Trò chơi: “Ô chữ kì diệu”
    a. Chuẩn bị: Ô chữ được kẻ sẵn trên giấy A0 có dán giấy bóng kính để có thể
    dùng được nhiều lần, bút viết, bảng con.
    b. Cách tổ chức:
    Bước 1: Giáo viên giới thiệu tên, mục đích của trò chơi.
    Bước 2: Hướng dẫn chơi: GV lần lượt đưa ra các câu hỏi theo ô hàng ngang
    để học sinh đoán. Để nhiều em được tham gia, tôi cho các em ghi nhanh đáp án
    vào bảng con, mỗi câu trả lời đúng sẽ tính một điểm, nếu ai đoán ra được chữ ở
    hàng dọc có thể giơ tay để nêu trước và được cộng thêm 10 điểm, nếu sai sẽ bị loại
    luôn. Nếu ô nào không ai giải được thì sẽ có câu hỏi gợi ý và đưa ra sau cùng.
    Bước 3: Thực hiện trò chơ

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 học tốt môn địa lý

    SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 học tốt môn địa lý

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Hiện nay đất nước chúng ta đang trong quá trình đổi mới kinh tế xã hội, đẩy
    mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đặc biệt là cuộc
    cách mạng công nghiệp 4.0. Hòa chung trong không khí đổi mới đó, ngành giáo
    dục cũng đã và đang có sự đổi mới đáng kể. Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới
    căn bản, toàn diện GDĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong
    điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã
    nêu rõ mục tiêu: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo
    dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và
    nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện
    và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình,
    yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả. Xây dựng nền giáo dục
    mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức
    giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao
    chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế
    hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc
    dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến
    trong khu vực”.
    Địa lí là khoa học chú trọng đến nghiên cứu các quy luật, các mối liên hệ
    giữa các thành phần, các hiện tượng cũng như các mối quan hệ giữa con người và
    tự nhiên. Trong trường Tiểu học, Địa lí là phân môn của môn Lịch sử và Địa lí, có
    mục tiêu cung cấp cho học sinh các biểu tượng địa lí, bước đầu hình thành một số
    khái niệm, xây dựng một số quan hệ địa lí đơn giản và rèn luyện các kỹ năng địa lí
    như: kỹ năng sử dụng bản đồ, kỹ năng nhận xét, so sánh, phân tích các mối quan
    hệ địa lí đơn giản. Do đặc điểm kiến thức của từng bài, từng chương có mối quan
    hệ chặt chẽ, lôgic, nên việc sử dụng bản đồ tư duy sẽ giúp các em nắm tri thức một
    cách hệ thống, dễ nhớ, hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn
    đề một cách khoa học, sâu sắc. Các em không chỉ học tốt các kiến thức trong sách
    vở mà còn nắm bắt được các kiến thức từ thực tế cuộc sống.
    Thực tiễn những năm gần đây cho thấy giáo viên đã nhận thức được sự cần
    thiết phải tiến hành đổi mới phương pháp dạy học, có ý thức cải tiến phương pháp
    dạy học. Tuy nhiên việc dạy và học các môn học nói chung và Địa lí nói riêng vẫn
    chưa vượt qua quỹ đạo cũ. Đó là phương pháp dạy học theo kiểu truyền thống, học
    sinh tiếp thu kiến thức một cách bị động mà kiến thức trong chương trình Địa lí 4
    đã được đưa vào dạy học với nhiều phương pháp khác như phương pháp trực quan,
    phương pháp dùng lời… Là một giáo viên đã nhiều năm giảng dạy lớp 4, tôi nhận
    4
    thấy, phần đông giáo viên chưa chú trọng đổi mới phương pháp dạy học môn Địa
    lí. Hơn nữa, một phần tư tưởng của phụ huynh vẫn chưa nhận thức được vai trò
    quan trọng của môn học này nên không quan tâm đôn đốc, nhắc nhở, không giúp
    con trong việc tìm hiểu kiến thức ở nhà. Trong những năm học vừa qua, nhằm
    tiếp cận với chương trình GDPT 2018 mà Bộ GD&ĐT đã ban hành, tôi đã tìm
    hiểu, nghiên cứu sâu hơn về môn Địa lí để tìm ra phương pháp dạy học phù hợp
    nhất đối với học sinh. Làm thế nào để lôi cuốn các em vào tiết học Địa lí? Dạy
    học thế nào để khơi dậy và nuôi dưỡng trí tò mò, sự ham hiểu biết khám phá của
    học sinh đối với thiên nhiên và đời sống xã hội, từ đó hình thành năng lực tự
    học và khả năng vận dụng tri thức địa lý vào thực tiễn? Phải đưa ra phương
    pháp học như thế nào để phụ huynh có thể tham gia vào việc dạy con học môn
    học này? … ..
    Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã tập trung nghiên cứu “Một số biện
    pháp giúp học sinh lớp 4 học tốt môn Địa lí”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Thực trạng công tác dạy và học môn Địa lí
    1.1.Ƣu điểm
    *Học sinh: Học sinh đang ở lứa tuổi tiểu học nên rất ham thích, tò mò,
    muốn khám phá những điều mới lạ. Nhiều học sinh tích cực học tập, tham gia nhiệt
    tình vào các hoạt động trong tiết học.
    *Giáo viên: Giáo viên say mê, nhiệt tình trong công tác giảng dạy, luôn tìm
    tòi, nghiên cứu và tích cực đổi mới phương pháp dạy học.
    Thực hiện đúng chương trình thời khóa biểu nhà trường xây dựng, đánh giá
    học sinh theo quy định.
    Giáo viên kết hợp cùng tổ chuyên môn tích cực làm đồ dùng dạy học để
    phục vụ cho tiết dạy.
    * Nhà trường: Tạo điều kiện cho đội ngũ giáo viên tích cực sinh hoạt chuyên
    môn, học tập nâng cao trình độ đào tạo.
    Nhà trường kết cùng phụ huynh học sinh đầu tư mua sắm trang thiết bị cần
    thiết cho việc dạy học các môn như: Tivi, máy chiếu, máy tính, máy in,….
    1.2. Hạn chế:
    *Học sinh: Ở lớp 4, học sinh mới được tiếp cận môn Địa lí nên các em
    chưa có nhiều hiểu biết, chưa có kiến thức về địa lí đất nước. Trong quá trình
    5
    học tập, một số học sinh còn gặp khó khăn trong việc sử dụng bản đồ, tìm kiếm
    thông tin liên quan đến kiến thức môn học,…..Khả năng tự học của các em còn
    hạn chế, việc tìm hiểu khám phá kiến thức còn ít nên việc lĩnh hội kiến thức đạt
    kết quả chưa cao.
    Vì đây là một trong những môn học mới đối với học sinh nên học sinh chưa
    biết cách nắm bắt kiến thức trọng tâm của bài học, học sinh học nhanh, nhớ nhanh
    nhưng cũng nhanh quên.
    *Giáo viên: Hình thức và phương pháp dạy học của giáo viên chưa thật sự
    phong phú. Phần lớn là giáo viên chỉ vận dụng giảng dạy đúng như sách hướng dẫn
    học (chủ yếu giảng dạy bằng lời theo phương pháp truyền thống) chưa có sự sáng
    tạo, mở rộng thêm kiến thức cuộc sống nên tiết học có sự nhàm chán.
    Việc làm và sử dụng đồ dùng dạy học của giáo viên còn hạn chế. Đôi khi
    giáo viên chỉ sử dụng nững đồ dùng có sẵn một cách qua loa, dẫn đến học sinh
    tiếp nhận kiến thức một cách thụ động. Vì thời lượng của môn Địa lí rất ít (1
    tiết/ tuần) nên giáo viên ngại đầu tư đồ dùng cho tiết dạy, dẫn đến hiệu quả môn
    học không cao.
    * Phụ huynh: Phụ huynh quan tâm nhiều hơn đến các môn học chính là
    Toán, Tiếng Việt, Ngọai ngữ. Rất ít các bậc phụ huynh tham gia, quan tâm đến
    việc giúp con em mình tìm hiểu, khám phá nguồn kiến thức ở nhà, mà phần lớn chỉ
    là đôn đốc các con học thuộc phần ghi nhớ trong sách. Chính vì thế, bản thân học
    sinh không có sự sáng tạo mà chỉ tiếp nhận kiến thức một cách thụ động.
    * Về điều kiện ngoại cảnh: Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 diễn
    biến phức tạp nên một số hoạt động trải nghiệm của học sinh không được diễn ra.
    2. Biện pháp nâng cao chất lƣợng giảng dạy môn Địa lí
    Để đạt được mục tiêu dạy học Địa lí ở tiểu học, cần có cách thức dạy học
    thích hợp nhằm làm cho học sinh không những nắm vững kiến thức Địa lí, mà còn
    phải rèn luyện cho các em kỹ năng, năng lực tự học địa lí đáp ứng yêu cầu ngày
    càng cao của đất nước, phù hợp xu thế thời đại “Học để biết, học để làm, học để tự
    khẳng định mình, học để cùng chung sống” (UNESCO). Vì vậy mọi hoạt động dạy
    và học đều hướng tập trung vào học sinh, hướng vào việc tổ chức phương pháp dạy
    học mang tính tích cực, chủ động, sáng tạo và triệt để khai thác mọi tiềm năng trí
    tuệ của học sinh. Trước những thực trạng như trên, ngay từ đầu năm học 2020 –
    2021, khi nhận lớp, tôi đã chú trọng không dạy lệch mà thực hiện theo đúng
    chương trình và thời khóa biểu của nhà trường đối với các môn học nói chung và
    môn Địa lí nói riêng. Trong quá trình giảng dạy, tôi đã thực hiện một số biện pháp
    như sau:
    6
    Biện pháp 1: Giúp học sinh học tốt bằng sự chuẩn bị của giáo viên và
    học sinh
    Để tổ chức tốt quá trình dạy và học trên lớp thì một trong những yếu tố quan
    trọng của quá trình dạy học là khâu chuẩn bị bài dạy. Nếu giáo viên và học sinh
    chuẩn bị bài tốt trước khi lên lớp thì sẽ mở đường cho quá trình dạy và học đạt chất
    lượng cao và đặc biệt tạo tâm thế tự tin, chủ động ở mỗi người giáo viên trong mọi
    tình huống phát sinh. Cụ thể:
    *Về phía giáo viên:
    Giáo viên cần có nhận thức đúng đắn về ý nghĩa tầm quan trọng của công
    tác chuẩn bị bài dạy trước khi lên lớp; coi đây là một khâu không thể thiếu được để
    có một giờ dạy hiệu quả, biến thế bị động thành thế chủ động, làm chủ được mọi
    tình huống phát sinh.
    Giáo viên phải tìm hiểu kĩ về đặc trưng môn Địa lí, mục tiêu, nội dung
    chương trình môn Địa lí. Trước mỗi bài dạy, tôi thường nghiên cứu kĩ mục tiêu,
    nội dung trọng tâm của bài, lựa chọn đồ dùng, phương pháp dạy cho hiệu quả, hình
    thức tổ chức dạy học với từng bài, từng đối tượng học sinh.
    Ngoài kiến thức cơ bản trong Tài liệu hướng dẫn học, tôi thường xuyên đọc
    sách báo, tìm hiểu trên mạng Internet, sưu tầm thêm các tư liệu dạy học như tranh
    ảnh, video….để có thêm vốn kiến thức sâu rộng khi giảng dạy cho học sinh.
    Những kiến thức mới mang tính thời sự, sinh động sẽ thu hút được sự tập trung,
    chú ý, kích thích trí tò mò ở học sinh. Tôi cũng thường xuyên trao đổi kiến thức
    từng bài trong tổ chuyên môn để học hỏi kinh nghiệm từ những đồng nghiệp đã có
    nhiều kinh nghiệm trong dạy học.
    Việc học tập theo nhóm giúp học sinh phát huy tính tích cực trong học
    tập, tạo cho các em thói quen làm việc nhóm, hợp tác, thảo luận một vấn đề.
    Chính vậy, từ những tiết học đầu tiên, tôi đã hướng dẫn học sinh phương pháp
    học tập làm việc theo nhóm, tập huấn kĩ cho nhóm trưởng, thư kí và có sự thay
    đổi luân phiên trong các tuần học, đảm bảo sao cho tất cả học sinh trong lớp đều
    có thể tham gia vào tiết học.
    *Về phía học sinh:
    Để một tiết học thành công, hiệu quả thì sự chuẩn bị của học sinh giữ một
    vai trò hết sức quan trọng. Xác định được điều này nên ngay từ đầu năm học, trong
    cuộc họp phụ huynh học sinh, tôi cũng đưa ra một số yêu cầu, quy định mỗi học
    sinh phải có đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập. Các bậc phụ huynh cần hướng cho
    cho con tìm đọc sách truyện về địa lí, địa danh Việt Nam. Học sinh phải có sự
    chuẩn bị bài trước ở nhà, sưu tầm tranh ảnh, tư liệu có liên quan đến bài học.
    7
    Trong quá trình học tập trên lớp, mỗi cá nhân học sinh cần tham gia tích cực
    vào tiết học dưới sự hướng dẫn của cô giáo, sự điều hành của nhóm trưởng khi
    tham gia các hoạt động nhóm.
    Biện pháp 2: Tạo cho học sinh hứng thú học tập, tính tò mò, khám phá,
    hào hứng trước khi bắt đầu tiết học
    Học tập cũng như làm việc muốn có hiệu quả thì phải có sự hứng thú, say
    mê. Kinh nghiệm thực tế cho thấy bất kì học sinh nào, từ học sinh có lực học trung
    bình đến học sinh khá, giỏi, muốn học tốt môn Địa lí thì trước hết phải ham thích,
    say mê Địa lí. Có hứng thú, say mê với môn học thì mới có tiền đề để học giỏi
    phân môn Địa lí, đồng thời, các em sẽ tự tin, mạnh dạn hơn. Chính vì vậy, tôi rất
    quan tâm đến việc nuôi dưỡng hứng thú học tập của học sinh.
    Bước vào đầu mỗi tiết học Địa lí, tùy từng nội dung bài, tôi thường kết hợp
    cùng Ban học tập áp dụng những hình thức dẫn dắt vào nội dung bài như: Sử dụng
    những câu hỏi mở, khơi gợi vấn đề; Đặt câu đố hay, thú vị để học sinh đoán ra tên
    bài học; Hay khởi động bằng một bài hát liên quan đến bài học; Sử dụng các trò
    chơi khởi động….
    2.1. Khởi động tiết học dưới dạng các trò chơi
    Để mở đầu tiết học Địa lí, tạo cho học sinh hứng thú khi bắt đầu tiết học, tôi
    thường tổ chức các trò chơi nhanh như: Đuổi hình bắt chữ, Giải ô chữ, Ong tìm
    mật, Vòng quay kì diệu,…. Các trò chơi này giúp cho tiết học trở nên sôi nổi, cuôn
    hút, giúp học sinh rèn luyện sự mạnh dạn, tự tin, khả năng phản xạ nhanh, sự sáng
    tạo, nâng cao tinh thần đoàn kết và sự tương tác giữ học sinh với học sinh, học ính
    với giáo viên,… Mở đầu tiết học Địa lí, các trò chơi thường được tôi tổ chức liên
    quan đến kiến thức của các tiết học trước như học sinh sẽ được tái hiện kiến thức
    về các vùng miền đã học hay tìm ra từ khóa liên quan đến nội dung bài học mới,
    làm tiền đề để giáo viên dẫn vào bài học một cách hấp dẫn.
    2.2. Khởi động tiết học bằng các câu hỏi gợi mở, khơi gợi vấn đề
    Các câu hỏi trong phần khởi động có thể là những câu hỏi gợi mợ, liên quan
    đến nội dung bài mới để cho học sinh phát hiện hay huy động vốn hiểu biết của
    mình để trả lời các câu hỏi ấy.. Các vấn đề hay câu hỏi được đưa ra sẽ giúp học
    sinh phát triển tư duy, xâu chuỗi vấn đề một cách mạch lạc đồng thời tạo hứng thú
    cho học sinh vào tiết học mới để khám phá vấn đề vừa được gợi mở.
    Ví dụ 1: Khi dạy bài Dãy Hoàng Liên Sơn (Hướng dẫn học Lịch sử và Địa
    lí lớp 4, tập 1)
    Để dẫn dắt vào nội dung bài học, tôi đặt ra câu hỏi cho học sinh: Em hãy nói
    về một dãy núi mà em biết? Đó là dãy núi nào? Dãy núi đó ở đâu? Học sinh sẽ trả
    8
    lời các câu hỏi theo hiểu biết của mình. Từ đó, tôi sẽ liên kết với nội dung bài học
    của ngày hôm đó là tìm hiểu về dãy núi Hoàng Liên Sơn.
    2.3. Khởi động bằng một bài hát hay một câu đố
    Khi khởi động tiết học bằng một bài hát hay một câu đố giúp cho tiết học trở
    nên vui vẻ. Qua việc múa hát hay giải câu đố, học sinh sẽ có tinh thần thoải mái hơn
    khi vào tiết học, phát huy óc sáng tạo nghệ thuật và tư duy khi giải câu đố.
    Ví dụ : Khi dạy bài Thủ đô Hà Nội (Hướng dẫn học Lịch sử và Địa lí lớp 4,
    tập 2)
    Trước khi bắt đầu vào tiết học, tôi kết hợp cùng Ban văn nghệ của lớp tổ chức
    cho cả lớp hát bài “Em yêu Hà Nội” để tạo không khí vui tươi, sôi nổi và nối kết vào
    bài học ngày hôm đó.
    Ví dụ 3: Để dẫn dắt vào bài Đồng bằng Nam Bộ (Hướng dẫn học Lịch sử
    và Địa lí lớp 4, tập 2)
    Tôi đưa ra câu đố cho học sinh:
    Sông nào chảy xuống Nam phần
    Đổ ra chín nhánh cửa sông như rồng
    Phun nước vào đến biển Đông
    Phù sa bồi đắp cho đồng lúa xanh?
    (Sông Cửu Long)
    Sau đó tôi dẫn dắt vào bài học: Sông Cửu Long là một con sông lớn thuộc
    Đồng bằng Nam Bộ của đất nước ta. Vì sao sông lại có tên là Cửu Long? Và con
    sông này có vai trò quan trọng gì đối với đời sống sinh hoạt và sản xuất của người
    dân Nam Bộ. Hôm nay, cô trò mình sẽ cùng tìm hiểu điều đó trong bài “Đồng bằng
    Nam Bộ”.
    9
    Biện pháp 3: Xây dựng bài giảng sinh động, sáng tạo
    Giáo viên là yếu tố quan trọng để có thể khơi gợi niềm yêu thích môn học
    đối với học sinh Tiểu học. Một bài giảng không có điểm nhấn hay sáng tạo thì khả
    năng tiếp thu của học sinh bị ảnh hưởng rất nhiều. Chính vì thế, tôi luôn tìm tòi,
    đổi mới trong từng tiết giảng. Cụ thể:
    3.1.Sử dụng các hình ảnh, video có liên quan đến nội dung bài học
    Đối với học sinh tiểu học, các em luôn bị lôi cuốn, hấp dẫn với những hình
    ảnh sinh động, màu sắc. Với phân môn Địa lí thì kiến thức thực tế là rất cần thiết
    với các em. Vì qua thực tế, qua những hình ảnh trực quan các em dễ dàng hình
    dung và hiểu được các nội dung trong sách. Chính vì thế, để tiết học thêm sinh
    động, tôi thường tìm hiểu và chọn lọc những hình ảnh, những đoạn video đan xen
    vào các bài giảng Địa lí của mình.
    Với kho tư liệu phong phú có sẵn trên mạng internet, mỗi giáo viên đều dễ
    dàng tìm cho mình nhiều hình ảnh đa dạng, đặc sắc minh họa cho bài học, như:
    hình ảnh các dãy núi, vùng đồng bằng Bắc Bộ, vùng Trung du Bắc Bộ , Tây
    Nguyên hay các hoạt động của các vùng miền….. sinh động hơn nữa là các đoạn
    video mô tả, như: video mô tả hoạt động của người dân Tây Nguyên, video về thủ
    đô Hà Nội, video về các làng nghề của địa phương…… Để thực hiện tốt biện pháp
    này, người giáo viên cần học hỏi các kĩ năng soạn bài trên các phần mềm: MS
    PowerPoint, Word, MindMaps,… Khi dạy học cần có các phương tiện: máy tính,
    maý chiếu, tivi, loa,…. Các hình ảnh rõ nét, đẹp, sinh động còn có thể thay thế bản
    đồ, lược đồ trong sách. Sử dụng những phương tiện này sẽ gây được sự hứng thú
    và tập trung chú ý của học sinh.
    Ví dụ: Khi dạy bài Tây Nguyên (Hướng dẫn học Lịch sử và Địa lí lớp 4,
    tập 21
    Khi nhắc tới các dân tộc, hoạt động sản xuất của người dân ở Tây Nguyên,
    sách Hướng dẫn học đưa ra ít các tranh ảnh về Tây Nguyên. Nên tôi tìm kiếm thêm
    hình ảnh về các dân tộc ở Tây Nguyên, hình ảnh thành phố Đà Lạt, video về các
    hoạt động sản xuất của người dân Tây Nguyên,…Qua quan sát các hình ảnh về các
    dân tộc ở Tây Nguyên, hoạt động sản xuất ở Tây Nguyên học sinh rất thích thú,
    nhiều học sinh thấy lạ, tò mò và muốn hiểu rõ hơn về đời sống của người dân ở
    Tây Nguyên.
    10
    Ví dụ: Khi dạy Bài Đồng bằng Bắc Bộ (Hướng dẫn học Lịch sử và Địa lí
    lớp 4, tập 1)
    Khi nhắc tới các làng nghề thủ công truyền thống ở đồng bằng Bắc Bộ, để
    các em hiểu rõ hơn về làng gốm Bát Tràng – một làng nghề nổi tiếng ở Hà Nội , tôi
    tổ chức cho học sinh xem video, để tìm hiểu kĩ hơn về làng nghề thủ công này với
    các công đoạn : Nhào đất và tạo dáng gốm, phơi gốm, vẽ hoa văn, tráng men, nung
    gốm, các sản phẩm gốm. Các công đoạn để tạo ra một sản phẩm gốm đẹp mắt, học
    sinh chưa bao giờ được chứng kiến tận mắt. Khi được trực quan bằng video, học
    sinh sẽ hiểu rõ hơn về nghề thủ công truyền thống này. Học sinh nắm được các
    bước tạo ra sản phẩm gốm. Học sinh cũng có thể nhận biết được các sản phẩm
    bằng gốm có xung quanh mình. Qua đó, biết trân trọng, giữ gìn những thành quả
    mà những nghệ nhân gốm đã dày công tạo ra.
    11
    3.2.Tổ chức các trò chơi học tập để khám phá, củng cố kiến thức trong
    tiết học
    Trò chơi học tập bên cạnh chức năng giải trí còn giúp học sinh tự củng cố
    kiến thức, kĩ thuật, thói quen học tập một cách hứng thú, thói quen làm việc theo
    nhiều quy mô (cá nhân, nhóm, lớp). Các tiết học có trò chơi sẽ thu hút mức
    độ tập trung của học sinh mà không một phương pháp nào sánh được.
    Những kiến thức khô khan và cứng nhắc sẽ sinh động, hấp dẫn nếu được tổ
    chức dưới hình thức trò chơi và nhờ đó kết quả học tập của học sinh sẽ tăng lên.
    Như vậy, việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy học nói chung và trong dạy học
    môn Địa lí nói riêng là một trong những biện pháp tăng cường tích cực hoá hoạt
    đọng học tập của học sinh. Hơn thế nữa, mối quan tâm và hoạt động của học sinh
    thể hiện qua các tiết học có trò chơi làm tăng thêm cảm tình của các em đối với
    môn học và thầy cô giáo. Trò chơi là chiếc cầu nối môn Địa lí với thực tiễn, bởi vì
    thông qua trò chơi các em thấy ứng dụng quan trọng của môn Địa lí trong thực
    tiễn. Và như vậy là đã phát huy được tính tích cực nhận thức của các em. Thông
    qua các trò chơi, học sinh ghi nhớ kiến thức rất nhanh. Chính vì thế, để tổ chức
    các trò chơi học tập củng cố kiến thức, tôi đã thực hiện các bước như sau:
    Bước 1: Giáo viên giới thiệu tên, mục đích của trò chơi.
    Bước 2: Hướng dẫn chơi. Bước này bao gồm những việc làm sau:
    – Tổ chức người tham gia trò chơi: Có thể tổ chức chơi cả lớp hoặc chơi theo
    nhóm, số người tham gia, số đội tham gia (mấy đội chơi), quản trò, trọng tài.
    – Các dụng cụ dùng để chơi (giấy khổ to, thẻ từ, thẻ a,b,c,d, Đ,S, cờ…)
    – Giáo viên công bố luật chơi: Từng việc làm cụ thể của người chơi hoặc đội
    chơi, thời gian chơi, những điều người chơi không được làm…
    – Cách xác nhận kết quả và cách tính điểm chơi, cách giải của cuộc chơi.
    (nếu có)
    Bước 3: Tổ chức trò chơi
    Bước 4: Nhận xét sau cuộc chơi. Bước này bao gồm những việc làm sau:
    – Giáo viên hoặc trọng tài là HS nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của
    từng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm.
    + Trọng tài công bố kết quả chơi của từng đội, cá nhân và trao phần thưởng
    cho đội đoạt giải.
    + Một số học sinh nêu kiến thức, kỹ năng trong bài học mà trò chơi đã thể
    hiện.
    Dưới đây là một số trò chơi tôi đã lựa chọn và tổ chức cho học sinh chơi:
    12
    a.Trò chơi: Ai nhanh, ai đúng
    Ví dụ: Khi dạy Hoạt động thực hành 4 bài Dãy Hoàng Liên Sơn, tôi sẽ chia
    học sinh trong lớp thành các nhóm, mỗi nhóm 6 học sinh.
    – Dụng cụ: Giáo viên và học sinh chuẩn bị bộ thẻ chữ ghi 4 cụm từ: Khai
    thác quặng a-pa-tít; Làm giàu quặng; Sản xuất phân lân; Phân lân
    – Cách chơi: Đại diện các nhóm lấy bộ thẻ chữ về cho nhóm mình. Khi giáo
    viên hô “Bắt đầu” các nhóm sẽ xếp thẻ vào đúng sơ đồ theo quy trình sản xuất.
    Nhóm nào xếp nhanh nhất sẽ giành chiến thắng.
    b.Trò chơi: Rung chuông vàng
    Đây là một trò chơi rất phổ biến và được sử dụng nhiều ở các tiết ôn tập hay
    để củng cố bài học. Hầu hết các bài Địa lí đều có thể sử dụng trò chơi này.
    Ví dụ: Khi học xong bài Trung du Bắc Bộ, tôi sẽ cho các nhóm cử ra một
    đại diện nhóm để tham gia chơi.
    – Hình thức: Đại diện các nhóm.
    – Dụng cụ: Thẻ hoa có các đáp án a, b, c, d, Đ, S. Màn hình tivi.
    – Cách chơi: Ban học tập đọc các câu hỏi và các đáp án. Sau thời gian 5s,
    đại diện các nhóm giơ thẻ chọn đáp án đúng. Mỗi câu trả lời đúng được 10 điểm.
    Ai trả lời sai, sẽ không được tham gia trả lời các câu hỏi nữa. Các câu hỏi bao gồm:
    Câu 1. Đặc điểm của vùng đồi ở trung du Bắc Bộ là:
    A. Đỉnh nhọn, sườn dốc
    B.Đỉnh tròn, sườn thoải
    C. Đỉnh cao, sắc nhọn
    Câu 2. Trung du Bắc Bộ nằm ở đâu?
    A.Nằm ở vùng núi
    B. Nằm ở đồng bằng
    C. Nằm giữa miền núi và đồng bằng
    Câu 3: Các tỉnh có vùng trung du là:
    A.Hà Nội, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Nam
    B.Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ, Bắc Giang
    C.Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang
    Câu 4: Để phủ xanh đất trống, đồi trọc, người dân ở đây đã làm gì?
    A. Di dân tự do
    13
    B. Khai thác rừng
    C. Trồng rừng
    Câu 5: Trong các loại cây sau đây, cây nào không trồng được ở trung du Bắc Bộ?
    A.Cây ăn quả
    B. Rau xứ lạnh
    C. Cây công nghiệp
    Câu 6: Loại cây nào được coi là biểu tượng của trung du Bắc Bộ?
    A. Rừng cọ đồi chè
    B. Cây thông
    C. Câu ăn quả
    Câu 7: Cây trồng nổi tiếng ở Thái Nguyên là:
    A.Vải thiều
    B. Chè
    C. Nhãn lồng
    c. Trò chơi Chiếc hộp bí mật
    Trò chơi này huy động được cả lớp cùng tham gia chơi, mục đích cũng là
    củng cố kiến thức đã học, giúp học sinh thêm mạnh dạn, tự tin khi trả lời câu hỏi.
    Ví dụ: Khi dạy bài Tây Nguyên, tôi tổ chức cho cả lớp tham gia chơi
    14
    – Dụng cụ: Chiếc hộp được trang trí đẹp, trong đó có chứa các câu hỏi liên
    quan đến nội dung bài
    – Cách chơi: Học sinh sẽ đứng thành vòng tròn, quản trò sẽ bắt nhịp một bài
    hát vui nhộn, học sinh vừa hát vừa truyền cho nhau chiếc hộp. Khi quản trò hô
    “Dừng”, chiếc hộp đang trên tay ai, người đó sẽ bốc một câu hỏi có trong hộp và
    trả lời. Nếu Học sinh trả lời sai thì các bạn khác được xung phong trả lời lại.
    d. Trò chơi Tập làm hƣớng dẫn viên du lịch
    Trò chơi này có thể dử dụng trong các bài liên qua đến địa danh như khi dạy
    bài Tây Nguyên (Học sinh tìm hiểu và giới thiệu về đặc điểm về các cao nguyên ở
    Tây Nguyên); Bài Thủ đô Hà Nội (học sinh giới thiệu về các địa điểm tham quan du
    lịch tại Hà Nội) ….Nhưng để tổ chức được trò chơi này, đòi hỏi học sinh phải có sự
    chuẩn bị trước ở nhà, chính vì thế, khi muốn tổ chức trò chơi này, tôi thường giao việc
    trước cho học sinh 1 tuần, đồng thời qua nhóm Zalo của lớp, tôi cũng thông tin cho
    phụ huynh và yêu cầu phụ huynh hỗ trợ con em mình trong việc chuẩn bị.
    Học sinh tập làm Hướng dẫn viên du lịch
    15
    e. Trò chơi Mảnh ghép bí ẩn
    Thông qua việc tìm thông tin và ghép những mảnh ghép lại với nhau, học
    sinh sẽ biết được nội dung kiến thức mà giáo viên muốn truyền tải.
    Ví dụ : Khi dạy bài “Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ”
    Sau khi học sinh đã tìm hiểu và nắm được các kiến về hai thành phố Hồ chí
    Minh và thành phố Cần Thơ, tôi tổ chức cho học sinh chơi trò chơi này để nhằm
    củng cố kiến thức cảu bài cho học sinh.
    Chuẩn bị: 12 thẻ, mỗi thẻ có một mặt hình và một mặt chữ. Mặt hình của
    mỗi thẻ là một phần của lược đồ, còn mặt chữ là thông tin về một trong hai thành
    phố: Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ.
    Cách chơi như sau: Nhóm trưởng sẽ lên lấy một bộ gồm 12 thẻ. Sau đó úp
    mặt hình của các thẻ xuống mặt bàn. Học sinh sẽ đọc thông tin ở mặt chữ rồi chia
    các tấm thẻ thành hai nhóm theo đặc điểm của Thành phố Hồ Chí Minh và Thành
    phố Cần Thơ. Sau đó lật mặt hính lên và xếp các thẻ trong mỗi nhóm thành một
    lược đồ lớn. Nhóm nào xếp được thành hia lược đồ hoàn chỉnh cảu hai thành phố
    là nhóm thắng cuộc.
    g. Các trò chơi khác
    Ngoài những trò chơi trên, tôi còn hay sử dụng các trò chơi như: Tiếp sức, Ô
    chữ bí mật, hay Chỉ nhanh chỉ đúng, Hái hoa dân chủ… Mỗi trò chơi có một đặc
    điểm khác nhau, nhưng đều có mục đích chung là nhằm giúp học sinh khám phá,
    củng cố kiến thức. Thông qua hoạt động trò chơi, học sinh sinh thêm mạnh dạn, tự
    tin hơn đồng thời tạo không khí lớp thêm sôi nôi hơn, tiết học diễn ra thoải mái,
    nhẹ nhàng, vui vẻ.
    Trò chơi Hái hoa dân chủ
    16
    Thông qua tổ chức trò chơi cho học sinh, tôi nhận thấy:
    – Trò chơi học tập là một hình thức học tập bằng hoạt động, hấp dẫn HS do
    đó duy trì tốt hơn sự chú ý của các em với bài học.
    – Trò chơi làm thay đổi hình thức học tập chỉ bằng hoạt động trí tuệ, đo đó
    giảm tính chất căng thẳng của giờ học, nhất là các giờ học kiến thức lý thuyết mới.
    – Trò chơi có nhiều học sinh tham gia sẽ tạo cơ hội rèn luyện kỹ năng học
    tập hợp tác cho HS.
    Tuy nhiên, khi tổ chức trò chơi học tập trong môn Địa lí , cũng có
    những tồn tại ngƣời giáo viên cần khắc phục nhƣ:
    – Học sinh dễ sa đà vào việc chơi mà ít chú ý đến tính chất học tập của các
    trò chơi. Vì vậy, giáo viên cần làm chủ các trò chơi, định hướng khéo léo giúp học
    sinh thực hiện đúng mục đích của trò chơi.
    – Đồ dùng của một số trò chơi cần chuẩn bị kĩ nên cần có sự phối kết hợp
    trong tổ chuyên môn khi chuẩn bị, như: giáo viên trong tổ cùng nhau làm đồ dùng,
    hay có thể tạo đồ dùng chung cho cả khối sử dụng để tránh lãng phí.
    3.3. Sử dụng hiệu ứng trình chiếu để khắc sâu kiến thức cho học sinh
    Khi thiết kế các tiết dạy Địa lí, tôi sử dụng hiệu ứng trình chiếu với 2 mục
    địch chính sau:
    a. Tạo hiệu ứng khi trình chiếu bản đồ, lược đồ:
    Nói tới Địa lí là nói tới bản đồ, lược đồ. Tuy nhiên, lược đồ, bản đồ là các yếu
    tố mới đối với học sinh lớp 4. Mặc dù trong chương trình lớp 4, theo Tài liệu Hướng
    dẫn học môn Lịch sử và Địa lí 4, có một bài hướng dẫn học sinh làm quen với bản đồ.
    Tuy nhiên, giáo viên thường dạy qua loa, khiến cho học sinh nắm kiến thức về lược
    đồ, bản đồ không chắc, nhiều học sinh không phân biệt được hướng Đông, Tây, Nam,
    Bắc của bản đồ hay không phân biệt được các đối tượng trên bản đồ. Vì vậy, để học
    sinh có ấn tượng sâu sắc với bản đồ, lược đồ, tôi xây dựng và cho học sinh quan sát
    trên bản đồ động. Khi học sinh được tri giác trực tiếp trên bản đồ động, học sinh sẽ
    nắm rõ hơn vị trí các đối tượng mà bản đồ đang hướng tới.
    17
    Lược đồ các cao nguyên ở Tây Nguyên
    b.Tạo hiệu ứng trình chiếu khắc sâu kiến thức cho học sinh
    Biện pháp này tôi áp dụng chủ yếu ở các bài ôn tập kiến thức cho học sinh.
    Giúp học sinh có thể khái quát kiến thức đã học, phân biệt được vị trí, đặc điểm tự
    nhiên giữa các vùng miền. Khi giáo viên thao tác kết hợp chạy hiệu ứng với kiến
    thức cần chốt cho học sinh trên giáo án điện tử sẽ vô cùng hiệu quả khi hệ thống
    kiến thức ôn tập cho học sinh. Bởi đây đều là các hình ảnh sống động, cụ thể hóa
    giúp các em ghi nhớ lâu kiến thức.
    18
    Biện pháp 4: Giúp học sinh nắm bắt, khám phá, ghi nhớ kiến thức bằng
    phương pháp sơ đồ tư duy
    Yếu tố khiến hầu hết học sinh tiểu học sợ môn Địa lí đó chính là kiến thức
    mang tính lí thuyết nhiều và khó học thuộc. Tuy nhiên chỉ cần trẻ có phương pháp
    học tập đúng thì những rắc rối đó sẽ được khắc phục hoàn toàn. Nắm bắt được tâm
    lí của học sinh tiểu học là “nhanh nhớ, nhanh quên” . Tôi thường ít cho học sinh
    học thuộc lòng, vì nhiều khi học thuộc lòng các em không nắm chắc kiến thức, học
    xong lại quên ngay nên trong mỗi tiết học. Chính vì vậy, để phát huy được tính tích
    cực trong nhận thức của học sinh, tôi dạy cho các em khám phá kiến thức, cách ghi
    nhớ bằng sơ đồ tư duy. Cụ thể:
    1.Vận dụng sơ đồ tư duy trong khám phá, hình thành kiến thức mới
    Sau khi giới thiệu xong nội dung kiến thức cần nắm trong bài học hôm nay,
    tôi tổ chức cho học sinh làm việc theo cá nhân hoặc theo nhóm nhỏ, dựa vào nội
    dung trong tài liệu hướng dẫn học, bản đồ trong sách, bản đồ treo tường để hoàn
    thành bài tập. Cuối cùng, GV cùng HS hoàn thiện được một bản đồ tư duy kiến
    thức theo ý muốn của mình.Có thể tiến hành theo hai cách sau:
    Cách 1:
    Bước 1: GV hướng dẫn HS đọc nội dung trong tài liệu hướng dẫn học, đưa
    ra tình huống có vấn đề trước khi cho HS đọc.
    Bước 2: GV và HS tìm hiểu, phân tích đặt tên các chủ đề(hoặc GVchọn
    trước tên chủ đề cần nghiên cứu cho HS thiết lập BĐTD với các từ khóa đó).
    19
    Bước 3: GV hướng dẫn HS vẽ BĐTD theo các nội dung chính.
    Bước 4: Chia nhóm, giao việc khai triển các nhánh của BĐTD theo ý của
    HS. (có thể tất cả các nhóm cùng chung nội dung hoặc mỗi nhóm có nội dung khác
    nhau tùy theo mục tiêu, nội dung bài và đối tượng HS).
    Bước 5: HS báo cáo, trình bày BĐTD của nhóm mình .
    Bước 6: Nhận xét, đánh giá, bổ sung thêm cho bạn.
    Bước 7: GV chốt lại nội dung chính cần ghi nhớ, có thể đưa ra BĐTD đã
    chuẩn bị, gọi HS đọc lại.
    Tuy nhiên GV cũng có thể thiết kế sẵn BĐTD theo mục tiêu bài học nhưng
    còn thiếu nhánh, thiếu nội dung. Sau đó, GV giao việc cho HS dưới dạng phiếu
    học tập để HS vẽ hoặc viết tiếp …Từ đó, các em rút ra kiến thức khoa học cần ghi
    nhớ của bài học.
    Cách 2: Giáo viên có thể đặt câu hỏi gợi mở rồi từ từ hình thành một BĐTD.
    Ví dụ : Khi dạy bài 5 : Đồng bằng Bắc Bộ – Trang 82, Hướng dẫn học
    Lịch sử và Địa lí 4 tập 1.
    Tôi tổ chức cho học sinh lĩnh hội kiến thức mới theo sơ đồ tư duy dưới đây:
    Bước 1: Khi vào nội dung bài, giáo viên đưa ra các tình huống có vấn đề.
    Ví dụ : Giáo viên cho học sinh quan sát Lược đồ đồng bằng Bắc Bộ (Hình 1
    – Hướng dẫn học Lịch sử và Địa lí 4, tập 1, trang 83), sau đó gọi học sinh lên chỉ
    vị trí địa lí của đồng bằng Bắc Bộ trên lược đồ
    – Giáo viên phát phiếu giao việc cho từng nhóm trong đó có các câu hỏi gợi
    mở: Từ vị trí địa lí đó, các em hãy tìm hiểu xem, đồng bằng Bắc Bộ có những đặc
    điểm gì nổi bật ? Đồng bằng Bắc bộ nằm ở miền nào của đất nước ta ? ĐBBB do
    20
    hệ thống phù sa của con sông nào bồi đắp lên ? Đây là đồng bằng lớn thứ mấy cả
    nước ? Nêu đặc điểm nước sông ở đồng bằng Bắc Bộ vào mùa mưa ? …..
    – GV cho cả lớp đọc thầm các nội dung trong tài liệu hướng dẫn học. Sau đó
    hướng dẫn học sinh tìm hiểu, phân tích, đặt tên cho từng chủ đề.
    Ví dụ : Bài học hôm nay chúng ta tìm hiểu là bài gì? (Đồng bằng Bắc Bộ).
    Vậy tên chủ đề chính các em có thể đặt là gì? (Đồng bằng Bắc Bộ…). GV vừa hỏi
    vừa vẽ trên bảng lớp, trực tiếp trên phần mềm hoặc giấy tooky, bảng lớp…
    Giáo viên hỏi : Đồng bằng Bắc Bộ có những đặc điểm nào nổi bật? (Học
    sinh dựa vào nội dung đã chuẩn bị và kiến thức từ việc đọc thầm để trả lời từng
    câu hỏi khám phá nội dung bài.)
    Bước 2: Sau khi hướng dẫn đặt tên các chủ đề xong giáo viên yêu cầu tiếp:
    – Bây giờ cô chia lớp mình thành các nhóm 4 ( có thể là nhóm ngẫu nhiên,
    cũng có thể chia nhóm theo đối tượng tùy theo mục đích của giáo viên), các em
    đọc thầm các nội dung trong sách kết hợp vốn hiểu biết của mình làm rõ những đặc
    điểm nổi bật của đồng bằng Bắc Bộ bằng sơ đồ tư duy ứng với tên mỗi chủ đề các
    em vừa đặt. Trong thời gian 10 – 15 phút. Hết thời gian, đại diện các nhóm sẽ báo
    cáo kết quả trước lớp. (Giáo viên có thể giao việc cho mỗi nhóm một nội dung, sau
    đó các nhóm báo cáo để ghép lại thành bản đồ tư duy có nội dung hoàn chỉnh của
    cả bài.)
    – Học sinh thực hành theo nhóm. Giáo viên theo dõi, giúp đỡ nhóm còn gặp
    khó khăn.
    – Từng nhóm báo cáo kết quả trước lớp. Các nhóm khác bổ sung. Trưng bày
    sản phẩm của nhóm. Giáo viên có thể đặt câu hỏi theo nội dung bài để làm rõ và
    sâu hơn kiến thức trọng tâm hoặc để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, kỹ năng
    sống cho các em thông qua môn học.
    Sau đó, giáo viên đưa ra sơ đồ tư duy chuẩn của mình đã thiết kế trước, đưa ra
    điều bỡ ngỡ mong muốn học sinh tìm hiểu thêm.
    2. Vận dụng sơ đồ tư duy trong củng cố kiến thức
    Để củng cố kiến thức cho học sinh, tôi thường cho học sinh lên trình bày,
    thuyết minh về kiến thức bài học thông qua một sơ đồ tư duy do tôi đã chuẩn bị
    sẵn (vẽ ở bảng phụ hoặc giấy bìa), hoặc sơ dồ tư duy mà các em vừa thiết kế và cả
    lớp đã chỉnh sửa, hoàn thiện. Tuy nhiên, giáo viên chỉ nên chỉnh sửa cho HS về
    mặt kiến thức và góp ý thêm về đường nét vẽ và hình thức nếu cần.
    21
    Phù hợp với việc củng cố kiến thức cho học sinh sau bài học thì dạng bài tập
    thích hợp là cho HS tự thiết kế cho mình một bản đồ theo ý muốn sáng tạo của
    mình với màu sắc tùy ý, có thể bản đồ thiếu nội dung kiến thức cụ thể hoặc đầy đủ
    lượng kiến thức của bài học như vừa tiếp thu trong bài học, hoạt động cá nhân hoặc
    nhóm. Tuy nhiên các thông tin còn thiếu này sẽ bao trùm nội dung toàn bài để một
    lần nữa nhằm khắc sâu kiến thức và lưu ý đến trọng tâm của bài học. Mỗi em có
    một cuốn sổ tay địa lí, trong đó là những sơ đồ do chính tay các em thiết kế. Việc
    này, không chỉ giúp các em ghi nhớ kiến thức bài học ngày hôm đó mà còn giúp
    các em có tài liệu ôn tập trong mỗi lần kiểm tra cuối kì hoặc cuối năm học.
    Hình ảnh một số sơ đồ tư duy của học sinh
    Biện pháp 5: Tổ chức tốt các Hoạt động trải nghiệm để nâng cao vốn kiến
    thức cho học sinh.
    Những năm học trước, song song với việc nâng cao chất lượng, trường tiểu
    học thị trấn Xuân Trường luôn quan tâm đến các hoạt động trải nghiệm của học
    sinh. Để cung cấp thêm vốn kiến thức thực tế cho học sinh, nhà trường đã phối
    hợp với giáo viên chủ nhiệm các lớp, phụ huynh học sinh xây dựng kế hoạch ngay
    từ đầu năm học về các chuyến trải nghiệm cho học sinh từng khối lớp. Đây là một
    22
    hoạt động rất thiết thực với học sinh tiểu học. Bới vì thông qua các hoạt động thực
    tế, các em được tham quan, tìm hiểu, khám phá những địa danh, những nét văn hóa
    của một số vùng miền trên đất nước. Học sinh đã được tham quan nhiề

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education