• SKKN Ứng dụng công nghệ thông tin thiết kế trò chơi gây hứng thú cho học sinh trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5

    SKKN Ứng dụng công nghệ thông tin thiết kế trò chơi gây hứng thú cho học sinh trong phân môn Luyện từ và câu lớp 5

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    BÁO CÁO SÁNG KIẾN
    I. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
    Ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy học là
    một trong những giải pháp hữu hiệu nhằm phát huy tính tích cực, hiệu quả và
    sáng tạo của cả giáo viên và học sinh; nâng cao tính tự học, tự tìm tòi thông
    tin qua mạng internet của học sinh, tạo điều kiện để học sinh có thể học ở mọi
    nơi, mọi lúc, tìm được nội dung học phù hợp; khuyến khích giáo viên thiết kế
    bài dạy với sự hỗ trợ của các thiết bị công nghệ và thông tin để đem lại cho
    học sinh những hứng thú học tập cao nhất. Để làm được điều này thì người
    giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học sao cho phát huy tối đa tính tích
    cực của học sinh.
    Việc dạy học phát huy tính tích cực của học sinh nhằm phát triển cho
    trẻ một con người toàn diện, có tố chất năng động, sáng tạo, có năng lực giải
    quyết vấn đề, có khả năng đáp ứng yêu cầu của dòng tri thức không ngừng gia
    tăng trong xã hội hiện nay. Do vậy việc tích lũy phương pháp và hình thức
    dạy học đạt hiệu quả cao chính là việc làm cần thiết và thường xuyên của mỗi
    giáo viên.
    Do đặc điểm học sinh Tiểu học “Tiềm tàng khả năng phát triển” nên
    người giáo viên cần sáng tạo, sử dụng linh hoạt nhiều phương pháp, hình
    thức dạy học khác nhau để giúp học sinh lĩnh hội kiến thức, giúp học sinh có
    điều kiện “Trải nghiệm và thử thách”. Qua trải nghiệm và thử thách cộng với
    việc học tập tích cực, chủ động, tự giác dựa trên nhu cầu hứng thú, sự tương
    tác lẫn nhau trong học tập. Từ đó học sinh hình thành kĩ năng, kĩ xảo, các em
    được phát triển nhiều mặt nhằm vận dụng vào cuộc sống hằng ngày. Trò chơi
    học tập là một trong các biện pháp đó giúp học sinh trải nghiệm trong học tập.
    Phát triển trí tuệ cho học sinh tiểu học là một trong những vấn đề được
    quan tâm hàng đầu của hầu hết các quốc gia, của những bậc phụ huynh và các
    thầy cô giáo. Cùng với tất cả các môn học khác trong chiến lược phát triển
    toàn diện, có thể nói rằng môn Tiếng Việt là một trong những môn học cơ bản
    – môn học công cụ của chương trình giáo dục phổ thông hiện nay. Tuy nhiên,
    tôi nhận thấy hầu hết học sinh khối 4 chưa thực sự có hứng thú (hay chưa ham
    thích) khi học phân môn Luyện từ và câu. Điều đó dẫn đến các em chưa phát
    huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập các môn
    học trên.
    Trên tinh thần “học mà chơi, chơi mà học”, “chơi vui học càng vui”
    nhằm thỏa mãn được nhiều loại nhu cầu trong khi chơi. Với ưu thế như vậy
    4
    trò chơi thực sự là một phương tiện hữu hiệu để tạo ra sự hài hoà, thoải mái,
    không rập khuôn, khô cứng, đảm bảo tính tự nhiên cho cuộc sống cũng như
    trong học tập của học sinh.
    Ngày nay do sự phát triển mạnh mẽ về công nghệ thông tin. Khi sử
    dụng trò chơi bằng hình thức thủ công mang tính truyền thống tôi thấy học
    sinh đã rất hứng thú. Song áp dụng công nghệ thông tin sẽ đưa các trò chơi
    học tập lên một tầm cao mới làm cho học sinh thực sự bị thu hút và lôi cuốn
    bởi hình thức trực quan đẹp, hữu hiệu, có nội dung và hình thức phong phú
    gây sự tò mò, ham học hỏi đối với học sinh.
    Mặt khác, trò chơi khi xây dựng bằng các phần mềm ứng dụng công
    nghệ thông tin có nhiều ưu điểm:
    + Trong cùng một khoảng thời gian như nhau nếu tổ chức trò chơi bằng
    hình thức thủ công sẽ tốn nhiều công, nhiều kinh phí cho việc chuẩn bị đồ
    dùng, nhưng nếu thiết kế bằng phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin sẽ
    tốn ít thời gian, chuyển tải được nhiều nội dung cùng một lúc.
    + Trò chơi bằng phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin có thể một
    lúc kiểm tra được nhiều học sinh, nhiều đối tượng học sinh tham gia cùng một
    lúc.
    + Khi chơi các trò chơi được xây dựng bằng phần mềm ứng dụng công
    nghệ thông tin học sinh sẽ được tương tác nhiều hơn giữa trò với trò, giữa trò
    với thầy. Tiện lợi nhất là câu trả lời trắc nghiệm đúng/ sai.
    + Trò chơi bằng phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin có những
    hình ảnh đẹp, mới lạ, sống động, nhiều trường hợp có cả âm thanh. Nên kiến
    thức trở nên sống động, gần gũi, học sinh dễ hiểu và thực tế hơn.
    Từ những cơ sở đã nêu trên, việc ứng dụng công nghệ thông tin tạo
    hứng thú học tập và phát huy tính tích cực, sáng tạo thông qua trò chơi học
    tập của học sinh khi học phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4 là hết sức cần
    thiết và cấp bách. Nó giúp cho học sinh phát triển toàn diện các năng lực một
    cách tự nhiên, giúp cho các em trao đổi kinh nghiệm, tương tác lẫn nhau, từ
    đó các em tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng.
    Xuất phát từ những lí do trên tôi mạnh dạn chọn sáng kiến Ứng dụng
    công nghệ thông tin thiết kế trò chơi gây hứng thú cho học sinh trong phân
    môn Luyện từ và câu lớp 4 để nghiên cứu và thực hiện.
    II. Mô tả giải pháp kỹ thuật
    II.1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến :
    II.1. 1. Thuận lợi :
    5
    – Nhà trường có đủ các phòng học đảm bảo cho học sinh học 2 buổi/
    ngày.
    – Nhà trường có hệ thống điện đầy đủ trang bị cho từng lớp, có 03 bộ đầu
    chiếu projector dùng lưu động và 7 ti vi thông minh có kết nối mạng internet
    tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên đổi mới phương pháp dạy và học.
    – Trong thực tế giảng dạy hiện nay, giáo viên đã có những chuyển biến
    rất tích cực trong công tác đổi mới phương pháp giảng dạy với định hướng lấy
    học sinh làm trung tâm.
    – Hoạt động của tổ chuyên môn. Tham gia các buổi tập huấn chuyên môn
    do phòng, sở tổ chức. Tổ chuyên môn tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo
    nghiên cứu bài học, từng bước nâng cao chất lượng dạy và học.
    – Qua thời gian công tác, bản thân đã đúc rút được những kinh nghiệm,
    tổ chức nhịp nhàng các hoạt động học, đổi mới phương pháp giảng dạy với
    định hướng lấy học sinh làm trung tâm.
    II.1. 2. Khó khăn :
    – Phân môn “Luyện từ và câu” là phần kiến thức khó nên trong quá trình
    dạy học dẫn đến tâm lý giáo viên e ngại, dạy cho qua đủ, bởi chính việc vận
    dụng của giáo viên còn lúng túng gặp khó khăn. Giáo viên một số ít đầu tư
    thời gian cho việc nghiên cứu để khai thác kiến thức chính vì thế phương
    pháp dạy học trở nên đơn điệu, lệ thuộc sách giáo khoa, hầu như ít sáng tạo,
    chưa thu hút lôi cuốn học sinh, dẫn đến cũng không nắm được kiến thức tạo
    ra tâm lí học sinh ngại học phân môn này.
    – Việc dạy học ứng dụng công nghệ thông tin của giáo viên chưa được
    thực hiện thường xuyên. Đồ dùng dạy học môn Luyện từ và câu ở lớp 4 chưa
    thực sự phù hợp, cho nên việc tạo ra một môi trường dạy học đạt hiệu quả là
    điều không dễ dàng.
    – Học sinh đa phần là con em các gia đình nông dân ở vùng nông thôn,
    cách tiếp cận các hoạt động vui chơi cũng như trong học tập còn hạn chế, sự
    nhút nhát, rụt rè, thụ động cũng ảnh hưởng đến quá trình học tập của các em.
    Học sinh vốn từ rất hạn chế, việc hiểu nghĩa của từ còn mờ nhạt, nên các em
    khá thờ ơ với môn học, xa rời vận dụng nội dung bài học với thực tế.
    Để đánh giá được khách quan tôi đã tiến hành khảo sát về chất lượng và
    hứng thú học tập phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4 trong năm học 2020 –
    2021 với 2 lớp 4A (lớp đối chứng) và 4C (lớp thực nghiệm) thu được kết quả
    như sau:
    Kết quả thống kê chất lượng đầu năm học:
    6

    LớpTSHSĐiểm 10Điểm 9Điểm 8Điểm 7Điểm 6Điểm 5
    SL%SL%SL%SL%SL%SL%
    4A3600411,138,31130,51027,7822,4
    4C360038,3513,81027,71027,7822,4

    * Kết quả điều tra hứng thú của học sinh đầu năm học:

    LỚPTSHSThích họcHọc thụ độngKhông thích học
    Số
    lượng
    Tỉ lệSố lượngTỉ lệlượng SốTỉ lệ
    4A363391,638,400
    4C362055,51027,8616,7

    II.2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến.
    Giải pháp 1: Xây dựng trò chơi học tập trong phân môn Luyện từ và câu
    lớp 4.
    Trò chơi trong tiết học sẽ tạo được hứng thú cho học sinh với môn học,
    giúp các em học tập tốt, yêu thích, hứng thú với phân môn Luyện từ và câu.
    Từ đó duy trì tốt hơn sự chú ý của các em đối với mỗi bài học.
    Để xây dựng được một hệ thống trò chơi phục vụ cho phân môn Luyện
    từ và câu lớp 4, tôi đã tiến hành nghiên cứu và thực hiện theo các bước sau:
    Bước 1. Khảo sát chương trình và lựa chọn các trò chơi phù hợp.
    Đây là bước quan trọng nhất trong giải pháp bởi vì trong chương trình
    Luyện từ và câu lớp 4 có rất nhiều dạng bài như : Mở rộng vốn từ, từ loại,
    câu,… mỗi dạng bài có những đặc điểm riêng của nó. Trong mỗi dạng bài thì
    các phần Khởi động, Khám phá, Luyện tập, Vận dụng cũng rất khác nhau đòi
    hỏi mỗi dạng trò chơi phù hợp khác nhau.
    Tôi đã tiến hành khảo sát và hệ thống được một số dạng trò chơi có thể
    vận dụng yếu tố công nghệ để thiết kế trò chơi nhằm gây hứng thú cho học
    sinh như sau:
    1. Trò chơi ô chữ bí mật:
    Với trò chơi này giáo viên có thể áp dụng hiệu quả vào các dạng bài
    tìm từ khóa hoặc tìm chủ đề, chủ điểm của bài học đó. Giáo viên có thể dễ
    dàng đưa các câu hỏi tích hợp môn Lịch sử, các nhân vật trong các tác phẩm
    văn học học sinh đã được học hoặc đã biết cùng thuộc chủ đề từ khóa đó hoặc
    sử dụng các câu hỏi gợi mở để nảy ra từ liên quan tới chủ điểm đó. Từ khóa
    không nên quá dài tránh sự nhàm chán khi tham gia.
    7
    Một số bài học có thể áp dụng:
    + Mở rộng vốn từ Trung thực – Tự trọng( tuần 5);
    + Mở rộng vốn từ Ý chí-nghị lực (tuần 12);
    + Mở rộng vốn từ Tài năng (tuần 19);
    + Mở rộng vốn từ Sức khỏe (tuần 20),
    + Mở rộng vốn từ Cái đẹp (tuần 23);
    + Mở rộng vốn từ Dũng cảm (tuần 25);…
    2. Trò chơi Rung chuông vàng:
    Trò chơi này giáo viên có thể thiết kế cho học sinh chơi vào đầu tiết
    hoặc cuối tiết học, nhằm mục đích khắc sâu, củng cố, mở rộng, vận dụng từ
    thuộc chủ điểm vào trong câu từ, và khả năng phản ứng nhanh của học sinh.
    Có thể vận dụng vào nhiều tiết ôn luyện, củng cố kiến thức bài học như:
    + Bài Từ đơn và từ phức (tuần 3);
    + Mở rộng vốn từ Nhân hậu – Đoàn kết (tuần 3);…
    3. Trò chơi Ai là triệu phú:
    Đây là trò chơi phù hợp với những tiết nhiều nội dung kiến thức, hoặc
    kiến thức tổng hợp, để khắc sâu thêm kiến thức tránh để học sinh nhầm lẫn
    + Từ ghép và từ láy (tuần 4);
    + Danh từ chung, danh từ riêng (tuần 18);
    + Ôn tập (Tiết 6) (tuần 18);
    + Luyện tập về câu hỏi (tuần 15);
    + Ôn tập (Tiết 7) (tuần 18);
    + Mở rộng vốn từ Sức khỏe (tuần 20);…
    4. Trò chơi Nối ô chữ:
    Vận dụng với những dạng bài nhỏ trong một tiết học, tránh được sự
    đơn điệu trong một tiết Luyện từ và câu.
    + Mở rộng vốn từ Trung thực – Tự trọng (Bài tập 2) (tuần 6) ;
    + Ôn tập (Bài tập 2) (Tiết 2) (tuần 18);
    + Ôn tập (Bài tập 2) (Tiết 5) (tuần 18);
    + Mở rộng vốn từ : Cái đẹp (Bài tập 2) (tuần 23);
    + Vị ngữ trong câu kể Ai là gì? (Bài tập 2, 3) (Tuần 23);…
    5. Trò chơi Đuổi hình bắt chữ:
    Giáo viên có thể cho học sinh chơi vào phần Khởi động hoặc Ứng dụng
    của tiết học. Tăng khả năng ghi nhớ từ vựng cho học sinh, rèn tư duy, phản
    ứng nhanh. Áp dụng được với các dạng bài tổng hợp kiến thức sau mỗi chủ
    đề, chủ điểm.
    + Chủ điểm Thương người như thể thương thân.(tuần 1+2+3)
    8
    +Chủ điểm Trên đôi cánh ước mơ (tuần 7+8+9)
    +Chủ điểm Vẻ đẹp muôn màu (tuần 22+23+24
    +Ôn tập (Tiết 4 – tuần 28)
    +Tiết Mở rộng vốn từ Du lịch – Thám hiểm (tuần 30)…
    6. Trò chơi Hái hoa quả:
    Trò chơi sẽ chia học sinh theo đội, nhóm. Số lượng đội, nhóm có thể do
    giáo viên tự thiết kế sao cho phù hợp với đặc điểm, tình hình của lớp. Trò
    chơi theo đội, nhóm hình thành cho các em kĩ năng làm việc nhóm, đồng đội,
    kĩ năng phân công nhiệm vụ, giải quyết vấn đề, đề cao tinh thần đoàn kết; hợp
    tác trong công việc chung. Áp dụng ở các dạng bài ôn tập hoặc tổng hợp
    nhiều dạng kiến thức. Cách thực hiện này đòi hỏi giáo viên phải có sự nghiên
    cứu, chuẩn bị bài kĩ lưỡng, có sự tổng hợp kiến thức của các tiết ôn tập, sao
    cho nội dung câu hỏi đưa ra cho các đội ngắn gọn, phù hợp nhưng vẫn đám
    bảo được lượng kiến thức cần chuyển tải tới học sinh. Áp dụng trong các tiết:
    + Ôn tập (tuần 10)…
    + Ôn tập (tuần 18)…
    + Ôn tập (tuần 28)…
    + Ôn tập (tuần 35)
    Bước 2. Lựa chọn và thiết kế trò chơi:
    Mỗi trò chơi học tập nói chung khi tôi xây dựng đều nhằm mục đích
    như : Khởi động một tiết học, xây dựng kiến thức bài mới hoặc củng cố kiến
    thức, kĩ năng cụ thể, hoặc có những kiến thức tổng hợp. Trò chơi mang tính
    logic, đảm bảo tính khoa học liên môn. Căn cứ vào vốn từ ngữ của học sinh,
    nét văn hóa khác biệt của địa phương trong đời sống sinh hoạt của học sinh
    với nội dung kiến thức cần chuyển tải. Sao cho trò chơi đem lại những kết quả
    tốt nhất, hiệu quả và thân thiện nhất với các em. Và chỉ có như vậy mới kích
    thích được hứng thú học tập của các em.
    Từ những căn cứ về mục đích của trò chơi và các yếu tố ảnh hưởng đã
    nêu ở trên, tôi đã nghiên cứu kĩ từng dạng bài, từng chủ đề trong chương trình
    phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4 để xây dựng các trò chơi sao cho thích hợp
    nhất. Nhưng tất cả đều tuân thủ theo cấu trúc như sau:
    Cấu trúc chung của mỗi trò chơi Luyện từ và câu lớp 4 được xây dựng
    như sau:
    + Mục đích của trò chơi.
    + Luật chơi: chỉ rõ các quy định đối với người chơi, quy định thắng
    thua trong trò chơi.
    9
    + Đồ dùng, đồ chơi: Mô tả đồ dùng, đồ chơi được sử dụng trong khi
    chơi.
    + Số người tham gia chơi: chỉ rõ số người tham gia chơi, những trò
    chơi có thể tổ chức một cách linh hoạt tạo nhiều trò chơi phù hợp với đối
    tượng học sinh, phù hợp với khả năng và nội dung kiến thức cần chuyển tải.
    + Xác định tác dụng của trò chơi.
    Giải pháp 2: Ứng dụng công nghệ thông tin thiết kế trò chơi trong
    phân môn Luyện từ và câu lớp 4 :
    * Thực hiện trò chơi:
    1. Giáo viên giới thiệu tên, mục đích của trò chơi.
    2. Hướng dẫn chơi. Bước này bao gồm những việc làm sau:
    – Tổ chức người tham gia trò chơi: Số người tham gia, số đội tham gia
    (mấy đội chơi), quản trò, trọng tài.
    – Các dụng cụ dùng để chơi (chuông, bảng, thẻ từ, cờ…)
    – Cách chơi: Từng việc làm cụ thể của người chơi hoặc đội chơi, thời
    gian chơi, những điều người chơi không được làm…
    – Cách xác nhận kết quả và cách tính điểm chơi, cách giải của cuộc
    chơi. (nếu có)
    3. Thực hiện trò chơi.
    4. Nhận xét sau cuộc chơi. Bước này bao gồm những việc làm sau:
    – Giáo viên hoặc trọng tài là HS nhận xét về thái độ tham gia trò chơi
    của từng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm.
    – Trọng tài công bố kết quả chơi của từng đội, cá nhân và trao phần
    thưởng cho đội đoạt giải (nếu có).
    – Một số học sinh nêu kiến thức, kỹ năng trong bài học mà trò chơi đã
    thể hiện.
    a. Dạng trò chơi Ô chữ bí mật:
    Theo tôi, trò chơi ô chữ bí mật là trò chơi sử dụng các từ, các cụm từ là
    nội dung trọng tâm, mấu chốt của bài, chương ghép lên các ô vuông kẻ sẵn.
    Sau khi học sinh trả lời được câu hỏi thì các ô chữ được mở ra.
    * Các bước xây dựng bảng trò chơi Ô chữ bí mật tôi thực hiện như sau:
    – Trong một bảng trò chơi ô chữ có nhiều hàng ngang và có thể có một
    hàng dọc. Một hàng ngang có chứa một hoặc vài chữ cái của từ / cụm từ trong
    hàng dọc (hoặc từ / cụm từ trung tâm). Nội dung của từ / cụm từ trong hàng
    dọc ( hoặc từ / cụm từ trung tâm) thường là những nội dung trọng tâm, mang
    tính khái quát cao và có mối liên quan nhất định với từ / cụm từ trong hàng
    ngang.
    10
    – Bảng trò chơi Ô chữ bí mật được xây dựng theo các bước sau:
    Bước 1: Xác định mục tiêu của bài, chương, phần.
    Bước 2: Xác định nội dung trọng tâm để từ đó tìm từ / cụm từ hàng dọc
    (trung tâm), hàng ngang.
    Bước 3: Viết các câu hỏi cho các từ / cụm từ hàng ngang, hàng dọc
    (trung tâm).
    Bước 4: Sắp xếp, kiểm tra các từ / cụm từ, câu hỏi và chỉnh sửa (nếu
    cần).
    Bước 5: Sử dụng ứng dụng POWER POINT để nhập thông tin về bảng
    trò chơi ô chữ.
    Trò chơi Ô chữ bí mật được tôi xây dựng và vận dụng vào các dạng bài
    : Mở rộng vốn từ ở các chủ đề trong cả năm học như : Nhân hậu – Đoàn kết;
    Trung thực – Tự trọng; Ước mơ; Ý chí – Nghị lực; Đồ chơi – Trò chơi; Đồ
    chơi – Trò chơi; Tài năng; Sức khỏe; Cái đẹp; Dũng cảm; Du lịch – Thám
    hiểm; Lạc quan – Yêu đời;…
    Ví dụ: Trò chơi giải ô chữ: Bài mở rộng vốn từ : Dũng cảm
    Các từ hàng ngang:
    Câu hỏi 1: Hoàn thành câu thành ngữ sau: “Dám nghĩ, ….”
    Câu hỏi 2: Chàng trai đan sọt sau này trở thành tướng thời nhà Trần là ai?
    Câu hỏi 3: Ai là người lãnh đạo nhân dân chống quân Tống xâm lược lần thứ
    nhất?
    Câu hỏi 4: Vào thời Hùng Vương, cậu bé nhỏ tuổi đánh thắng giặc Ân là ai ?
    Câu hỏi 5: Vị tướng được nhân dân thờ tại đình Đồng, làng Mai, Mỹ Thắng là
    ai?
    Câu hỏi 6: Điền từ còn thiếu trong câu thành ngữ sau: “Chớ thấy ……….mà
    ngã tay chèo”
    Câu hỏi 7: Tên thật của anh hùng Nông Văn Dèn là ai?
    Viết từ xuất hiện ở hàng dọc (được in màu đậm):…
    11
    Trò chơi Ô chữ bí mật sau khi được vận dụng vào các bài học đã thu
    được những kết quả hết sức khích lệ. Học sinh học tập với tất cả hứng thú tích
    cực, các em chủ động huy động tất cả các vốn sống của mình, tìm mọi cách
    phát hiện các tri thức thuộc chủ đề, vận dụng kiến thức vào thực tế hết sức tự
    nhiên. Lớp học sôi nổi, tích cực.
    b. Dạng trò chơi Ai là triệu phú.
    Đây là trò chơi được xây dựng trên cơ sở trò chơi của kênh truyền hình
    VTV3 nhưng là phiên bản học sinh.
    Trò chơi này tôi xây dựng dành cho các dạng bài Luyện tập, Ôn tập
    giữa kì và cuối học kì với mục đích củng cố, ôn tập cho các em. Bởi vì, các
    dạng bài này thường có khối lượng kiến thức lớn tổng hợp của một vài tiết
    hay cả một nửa, thậm chí cả một học kì.
    Bảng câu hỏi trong trò chơi này được thiết kế đa dạng về nội dung kiến
    thức. Để có nhiều học sinh tham gia trò chơi, tôi thiết kế thêm một số câu hỏi
    dành cho khán giả. Nếu người chơi trả lời sai thì khán giả có quyền được trả
    lời câu hỏi đó. Như vậy sẽ kết nối được người chơi với khán giả.
    Cách chơi:
    Bước 1. Giáo viên cho học sinh cả lớp ai trả lời một câu hỏi về kiến
    thức cần được ôn tập, luyện tập. Ai trả lời nhanh nhất thì được ngồi lên “ghế
    nóng”.
    12
    Bước 2. Học sinh được chọn sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi xuất hiện
    trên màn hình trong thời gian 20 giây cho mỗi câu hỏi cho đến khi nào hết gói
    câu hỏi hoặc trả lời sai thì dừng lại.
    Và vòng chơi khác lại lặp lại với các câu hỏi khác.
    Ở đây các em cũng có quyền trợ giúp 50/50 và hỏi ý kiến khán giả.
    Ví dụ: Bài Luyện tập về từ ghép và từ láy:
    Tôi đã tiến hành cho các em chơi trò chơi trong phần Thực hành –
    Luyện tập. Trò chơi giúp các em củng cố và vận dụng tối đa những kiến thức
    về từ ghép và từ láy:
    Ở trò chơi này các em cũng có đầy đủ các sự trợ giúp từ bạn bè,
    50/50,… khiến không khí học tập trở nên rất sôi nổi, tích cực, nhiều học sinh
    được tham gia trò chơi khi ngồi lên “Ghế nóng”.
    c. Dạng trò chơi Rung chuông vàng.
    Đây là trò chơi được biến tấu của một trò chơi đã xuất hiện trên sóng
    truyền hình. Trò chơi này tôi xây dựng dành cho các dạng bài Luyện tập, Ôn
    tập giữa kì và cuối học kì với mục đích củng cố, ôn tập cho các em. Bởi vì, trò
    chơi này sẽ truyền tải được một khối lượng kiến thức vô cùng lớn mà không
    làm việc học căng thẳng mà ngược lại khiến cho các em càng thêm hào hứng
    với các màn cứu nguy, hỗ trợ của giáo viên.
    Cách chơi :
    Trò chơi được tiến hành ngay trong lớp học, mỗi học sinh được trang bị
    một bảng con và 1 viên phấn để viết đáp án.
    13
    Giáo viên trình chiếu các câu hỏi với các đáp án A, B, C hoặc dạng câu
    hỏi điền khuyết lên màn hình. Học sinh có nhiệm vụ xác định đáp án hoặc từ
    cần điền rồi viết vào bảng với thời gian 10 giây suy nghĩ. Hết thời gian, học
    sinh giơ bảng ghi đáp án của mình. Những học sinh nào có đáp án sai sẽ rời
    sân chơi.
    Màn cứu trợ: Trò chơi tiếp tục cho đến khi số người tham gia trò chơi
    còn khoảng 30% sẽ có màn cứu trợ. Những bạn đang còn tham gia chơi sẽ
    phải trả lời một câu hỏi của Ban tổ chức trò chơi. Số người bị loại sẽ được
    tham gia trở lại bằng đáp án đúng câu hỏi này nhân với 2.
    Trò chơi được tiếp tục cho đến khi đến câu hỏi cuối cùng và những
    người chiến thắng sẽ được nhận phần thưởng cao nhất đó là rung chiếc
    chuông vàng huyền thoại mơ ước hoặc sẽ dừng lại khi không còn bạn nào có
    đáp án đúng nữa.
    Ví dụ : Bài Luyện tập về câu hỏi.
    Trong bài này, tôi đã thiết kế các câu hỏi trắc nghiệm nhiều đáp án và
    trắc nghiệm điền khuyết với nhiều mức độ từ dễ đến khó cho toàn bộ 35 phút
    của bài.
    Tiết học diễn ra vô cùng sôi nổi và hứng thú, các em tham gia trải
    nghiệm với nhiều cung bậc cảm xúc: có bạn tiếc nuối khi bị loại, có bạn vỡ òa
    khi câu trả lời của mình đúng đáp án.
    Trò chơi này có ưu điểm là tất cả học sinh đều được tham gia trò chơi,
    đều được tư duy tích cực với sự hào hứng cao nhất. Học sinh sẽ phải tái hiện,
    vận dụng kiến thức trong thời gian ngắn nhất để đưa ra đáp án cho đúng thời
    14
    gian. Điều này sẽ rèn các phản xạ, tổng huy động và xử lí thông tin một cách
    nhanh nhất, chính xác nhất.
    d. Dạng trò chơi Nối ô chữ.
    Dạng trò chơi học tập này, tôi thiết kế dùng cho các hoạt động luyện
    tập.
    Trong trò chơi này các em có nhiệm vụ nối các mệnh đề, nhận định
    tương ứng với nhau. Dạng trò chơi này có ưu điểm là kiểm tra được khá
    nhanh và toàn diện các kiến thức các em vừa học. Giúp cho học sinh hệ thống
    hóa toàn bộ kiến thức một cách có hệ thống và giúp các em vận dụng kiến
    thức vào thực tế.
    Ví dụ: Bài Ôn tập cuối học kì I (Tiết 2)
    Trong bài này, tôi đã thiết kế các slide nhằm mục đích hệ thống các
    thành ngữ tục ngữ mà các em đã được học trong cả học kì I. Tổ chức cho học
    sinh chơi trò chơi theo 2 đội thi đua, mỗi đội 6 bạn. Học sinh tham gia chơi
    mỗi người lần lượt lên nối rồi đi xuống cuối hàng. Sau đó người kế tiếp mới
    được lên nối tiếp. Đội nào hoàn thành và chính xác hơn thì đội đó chiến
    thắng.
    d. Dạng trò chơi Đuổi hình bắt chữ.
    Đây là dạng trò chơi vô cùng sôi động, luôn được các em mong chờ
    nhất. Cách chơi của game trò chơi này tương tự như game show Đuổi hình bắt
    chữ trên truyền hình.Những hình ảnh lần lượt xuất hiện, đó có thể là hình ảnh
    các loài động vật, thực vật, các môn thể thao, các dụng cụ thường ngày các
    15
    em vẫn thấy. Tưởng như không liên quan nhưng tất cả được lồng ghép một
    cách đầy dụng ý để người chơi phán đoán ra được câu, từ kì thú, dí dỏm.
    Ngoài hình ảnh còn có các ô chữ cái để gợi ý thêm cho người chơi. Trò chơi
    Đuổi hình bắt chữ luôn thúc đẩy người chơi phải tiếp tục chơi để chinh phục
    thử thách, luôn tạo được những tiếng cười giòn giã. Trò chơi giúp các em tăng
    cường khả năng tư duy, phát triển kĩ năng phán đoán và ra quyết định.
    Ví dụ :Chủ điểm tuần 1+2+3: Thương người như thể thương thân. Bài
    Mở rộng vốn từ Đoàn kết – Nhân hậu (tuần 3).
    16
    e. Trò chơi Hái hoa quả:
    Cách chơi :
    Trò chơi chia học sinh thành 4 đội chơi (hoặc 3 đội, 2 đội) tùy cơ sở vật
    chất, diện tích phòng học.
    Giáo viên trình chiếu các câu hỏi với các đáp án A, B, C hoặc dạng câu
    hỏi điền khuyết lên màn hình. Lần lượt từng đội chơi sẽ nhận câu trả hỏi, suy
    nghĩ trả lời. Đội chơi nào trả lời nhiều đáp án nhất, đội đó giành chiến thắng.
    Ví dụ : Bài Ôn tập (tiết 4+5 – tuần 28).
    17
    III. Hiệu quả do sáng kiến đem lại :
    Qua việc đưa các trò chơi vào dạy học Luyện từ và câu trong năm học
    này, tôi nhận thấy không khí trong các tiết học thay đổi hẳn lên. Các em học
    sinh học tập với tâm trạng hồ hởi, thích thú, các em say mê hơn và tích cực
    chủ động nắm vững kiến thức. Chất lượng học tập có sự tiến bộ rõ rệt, số học
    sinh nắm được nội dung bài tăng lên. Không những việc học tập có tiến bộ mà
    các em còn rèn thêm về tính nhanh nhạy, biết đoàn kết thân ái với nhau, biết
    phân công công việc cụ thể,…
    Các em học sinh ngày càng năng động hơn, tư duy phát triển hơn. Học
    sinh thấy vui hơn, thư thái dễ chịu và khoẻ mạnh hơn. Giao lưu giữa cô và trò
    gần gũi, cởi mở và tình cảm hơn.
    Các trò chơi học tập luôn thu hút được các em tham gia một cách hào
    hứng và tự nguyện, không có một áp lực tâm lí nào đối với học sinh, luôn có
    sự khám phá và nảy sinh nhiều sáng kiến hay.
    Các em học được cách điều khiển hành vi, cách bắt hành vi tuân theo
    một nhiệm vụ nhất định. Giúp học sinh rèn luyện, củng cố tiếp thu tri thức
    đồng thời phát triển vốn kinh nghiệm mà các em đã được tích luỹ thông qua
    hoạt động chơi.
    18
    Rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thúc đẩy hoạt động trí tuệ. Nhờ sử dụng trò
    chơi học tập mà quá trình dạy và học trở thành một hoạt động vui và hấp dẫn
    hơn.
    Qua trò chơi, các em biết tự kiềm chế, tham gia hoạt động tích cực.
    Trò chơi không chỉ là phương tiện mà còn là phương pháp giáo dục.
    Dưới đây là bảng minh chứng khảo sát chất lượn

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Đổi mới, sáng tạo trong các hoạt động dạy học Tiếng Việt 1 theo chương trình Giáo dục phổ thông 2018

    SKKN Đổi mới, sáng tạo trong các hoạt động dạy học Tiếng Việt 1 theo chương trình Giáo dục phổ thông 2018

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Năm học 2020 – 2021 là năm học đầu tiên thực hiện Chương trình giáo dục
    phổ thông 2018 (GDPT 2018) bắt đầu từ lớp 1. Chương trình GDPT được xây
    dựng trên quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nhằm mục
    tiêu phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học thông qua nội dung
    giáo dục với những kiến thức kĩ năng cơ bản, thiết thực, hiện đại; hài hòa đức,
    trí, thể, mĩ; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải
    quyết vấn đề trong học tập và đời sống. Chương trình giáo dục phổ thông được
    xây dựng theo hướng mở- một chương trình nhiều bộ sách giáo khoa (SGK) tạo
    điều kiện cho giáo viên phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện chương
    trình. SGK được xem là ngữ liệu quan trọng, là công cụ hỗ trợ nhằm giúp người
    dạy và người học đạt được mục tiêu của chương trình. Bên cạnh đó, người giáo
    viên cũng được giao quyền chủ động nhiều hơn, được thỏa sức sáng tạo trong
    việc xây dựng kế hoạch, tổ chức các hoạt động, tăng cường kết nối với thực tiễn
    theo triết lí “đưa bài học vào cuộc sống, mang cuộc sống vào bài học”
    Lớp 1 là lớp học đầu cấp tiểu học, là giai đoạn vô cùng quan trọng, là nền
    tảng, là tiền đề cho tất cả các cấp học. Nếu các em được học tập vui chơi trong
    một môi trường khoa học, lành mạnh, có tri thức thì đó là cơ sở vững chắc để
    tạo ra một thế hệ khỏe về thể chất, mạnh về tinh thần. Bước vào lớp 1, học sinh
    được làm quen với nhiều kiến thức mới – những kiến thức cơ bản ban đầu của
    chương trình học phổ thông.
    Môn Tiếng Việt giúp học sinh sử dụng Tiếng Việt thành thạo để giao tiếp
    hiệu quả trong cuộc sống và học tập tốt các môn học và hoạt động giáo dục
    khác. Môn Tiếng Việt lớp 1 có vai trò vô cùng quan trọng giúp hình thành các
    phẩm chất, năng lực chung, phát triển năng lực ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng
    đọc, viết, nói và nghe với mức độ căn bản.
    Trong những năm trở lại đây, giáo dục Nam Định đang thực hiện dạy học
    Tiếng Việt lớp 1 theo chương trình Công nghệ của giáo sư Hồ Ngọc Đại. Có thể
    nói đây là một chương trình có nhiều ưu thế trong việc phát triển khả năng tự
    4
    học cũng như giúp học sinh nắm vững luật chính tả, ít mắc lỗi, không bị tái mù
    ngay cả với những học sinh vùng khó khăn. Giáo viên lớp 1 cũng đã rất quen và
    thành thạo với chương trình Công nghệ. Chính vì thế, khi bước sang giai đoạn
    mới, giai đoạn thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018 – với cách tiếp
    cận mới, nội dung mới, phương pháp mới, chúng tôi vô cùng trăn trở. Làm thế
    nào để thực hiện hiệu quả chương trình GDPT 2018, làm thế nào để giáo viên
    nhanh chóng thích ứng với cái mới, làm thế nào để học sinh hứng thú với
    chương trình mới và học tập hiệu quả môn Tiếng Việt 1- môn học nền tảng cho
    mọi môn học, chúng tôi chọn đề tài: “Đổi mới, sáng tạo trong các hoạt động
    dạy học Tiếng Việt 1 theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018”
    5
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Năm học 2020-2021 là năm đầu tiên thực hiện Chương trình giáo dục phổ
    thông 2018 đối với lớp 1. Một năm học rất đặc biệt với nhiều bỡ ngỡ, khó khăn
    từ phía nhà trường, giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh.
    a. Về phía nhà trường:
    Năm học 2019- 2020 là năm học đầu tiên Trường Tiểu học Trần Nhân Tông
    chính thức đi vào hoạt động, đồng thời cũng là năm học cuối thực hiện dạy học
    Tiếng Việt theo chương trình công nghệ 1. Chính vì thế, để tạo tiền đề cho năm
    học tiếp theo, nhà trường đã chủ động đổi mới một số nội dung, phương pháp,
    hình thức tổ chức dạy học cũng như thay đổi, sáng tạo điều chỉnh một số học
    liệu, đồ dùng dạy học cho phù hợp với mục tiêu giáo dục của trường. Theo đó,
    chương trình Tiếng Việt 1 ở trường không rập khuôn máy móc theo quy trình
    công nghệ; học sinh được thao tác nhiều hơn với những đồ dùng trực quan; tăng
    cường sử dụng tranh ảnh, video clip để bổ sung vốn từ, vốn kinh nghiệm cho
    học sinh, yếu tố công nghệ được khai thác tối đa.
    Việc dạy học các môn học dựa trên nguyên tắc: kế thừa tính ưu việt của
    chương trình hiện hành, hạn chế những bất cập của chương trình công nghệ
    (chân không về nghĩa, hạn chế khả năng giao tiếp, mở rộng vốn từ). Tăng cường
    tổ chức các hoạt động dạy học theo hướng tăng cường hoạt động thực hành, ứng
    dụng vào thực tiễn cuộc sống, tăng cường các hoạt động trải nghiệm sáng tạo,
    các hoạt động phát triển thể chất, học thông qua chơi – chơi mà học; dạy học
    theo hướng mở, không máy móc coi SGK là pháp lệnh… Bên cạnh đó, nhà
    trường phát huy vai trò của học sinh trong hoạt động nhóm… Với cách làm đó đã
    đem lại hiệu quả thiết thực, học sinh cảm nhận được sự gắn kết giữa môn học
    với thực tiễn, hứng thú hơn, tiếp thu nhanh hơn, quá trình học đọc, học viết cũng
    hiệu quả hơn.
    Tuy nhiên, nhà trường cũng còn có những trăn trở là làm thế nào để thổi
    lửa cho đội ngũ giáo viên trẻ luôn đam mê, nhiệt huyết; luôn sẵn sàng đổi mới,
    thử nghiệm cái mới và có niềm tin vào những giá trị tốt đẹp mà chương trình
    6
    GDPT 2018 mang lại cho những thế hệ công dân tương lại. Làm thế nào để học
    sinh có nề nếp tốt, học tập hiệu quả, phụ huynh tin tưởng đồng hành cùng nhà
    trường, cùng cộng đồng trách nhiệm trong việc nuôi dạy trẻ thành công
    b. Về phía giáo viên:
    Giáo viên được tiếp cận với chương trình giáo dục phổ thông 2018 thông
    qua việc tập huấn tìm hiểu chương trình, SGK và tài liệu bổ trợ để dạy học theo
    hướng. Tuy nhiên, giáo viên còn đang khá quen với chương trình cũ, với nếp cũ
    với chương trình công nghệ, việc tiếp cận với chương trình mới gặp không ít
    khó khăn. Việc xây dựng kế hoạch giáo dục, xác định nội dung trọng tâm, phân
    chia nội dung theo lộ trình từng giai đoạn là một nhiệm vụ mới khiến nhiều giáo
    viên tỏ ra lúng túng. Bên cạnh đó, giáo viên còn đang có tư duy coi SGK là pháp
    lệnh, vì vậy nhiều thầy cô chưa thực sự mạnh dạn trong việc thay đổi, điều chỉnh
    ngữ liệu hay sử dụng tài liệu bổ trợ để tiết học thực sự hiệu quả. Bên cạnh đó, để
    chuyển đổi từ dạy học tiếp cận nội dung sang dạy học phát triển năng lực, giáo
    viên cũng cần được trang bị nhiều hơn kiến thức, kĩ năng tổ chức hoạt động theo
    hướng dạy học chú trọng phát triển năng lực; việc tăng cường các hoạt động ứng
    dụng, trải nghiệm, gắn kết với cuộc sống cũng cần được trang bị, tích lũy và đúc
    rút kinh nghiệm…
    c. Về phía học sinh:
    Do những diễn biến phức tạp của dịch Covid, học sinh chưa được trang bị
    chu đáo hành trang vào lớp 1. Nhiều em khi bước chân vào trường tiểu học
    nhưng chưa biết chữ và các con số, chưa biết cầm bút và chưa biết cách tự phục
    vụ bản thân (vệ sinh, chải tóc, mặc quần áo…), chưa quen nề nếp học tập ở tiểu
    học.
    Tiếng Việt lớp 1 tiếp cận theo quan điểm giao tiếp, lấy học sinh làm trung
    tâm. Tuy nhiên kinh nghiệm sống, vốn hiểu biết, vốn từ và kĩ năng giao tiếp của
    học sinh lớp 1 còn nhiều hạn chế.
    Từ mầm non chuyển lên lớp 1 là các em chuyển từ môi trường được chăm
    sóc, vui chơi sang môi trường với hoạt động học là chính, học sinh có thể còn bỡ
    ngỡ hoặc mất tập trung, thậm chí sợ hãi nếu bị ép buộc phải ngồi học quá lâu.
    7
    Một số em còn nhút nhát, chưa tự tin khi nói, khi trao đổi với cô hay tương tác
    với các bạn. Một số em lại ham chơi, thiếu tập trung và chưa chủ động trong học
    tập.
    d. Về phía phụ huynh:
    Một bộ phận cha mẹ học sinh và cộng đồng xã hội chưa nhận thức đầy đủ
    và đúng đắn về chủ trương, mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018
    nên có nhiều băn khoăn, lo lắng, dễ bị dao động theo dư luận đám đông. Một bộ
    phận cha mẹ còn thiếu kĩ năng để đồng hành cùng con trong giai đoạn đầu tiểu
    học; Một số cha mẹ đặt quá nhiều kì vọng vào con nên càng cố gắng trang bị
    thật nhiều kiến thức cho trẻ: cho con học trước biết đọc, biết viết, đếm số trước
    khi vào lớp 1 khiến các em chủ quan và nhàm chán trong quá trình học tập.
    8
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến: (trọng tâm)
    Giải pháp 1: Chuẩn bị hành trang vững vàng cho trẻ vào lớp 1.
    Bước vào lớp 1 là các con bước vào một môi trường hoàn toàn mới, khác
    với môi trường mầm non. Môi trường tiểu học, hoạt động học tập là hoạt động
    chủ đạo. Song song với đó là hoạt động vui chơi và các hoạt động giaod dục
    khác. Học sinh bước đầu phải làm quen với nhiều quy tắc và buộc phải tuân theo
    các quy tắc theo một trật tự chung để đảm bảo các hoạt động của tập thể diễn ra
    một cách thuận lợi. Vì vậy để các con học tốt chương trình lớp 1 cũng như môn
    Tiếng Việt 1, nhà trường và gia đình cần chuẩn bị tốt cho các con hành trang
    vững vàng bước vào lớp 1.
    Bước vào lớp 1, trẻ cần trang bị những gì? Theo chúng tôi khi trẻ bước
    vào lớp 1 cần:
     Về mặt kiến thức:
    – Biết và thuộc bảng chữ cái Tiếng Việt.
    – Thuộc bảng số, biết đếm các số từ 1 đến 10.
    – Cầm bút đúng cách, ngồi học đúng tư thế.
    – Bước đầu các con tập tô và biết tên các nét cơ bản.
     Về kĩ năng:
    – Kĩ năng giao tiếp: Biết nói năng lễ phép với các thầy cô giáo, người lớn
    tuổi hơn; cư xử thân thiện với bạn bè; biết lắng nghe khi người khác nói và biết
    trả lời những câu hỏi đơn giản; biết tự giới thiệu về bản thân mình (tên là gì? bao
    nhiêu tuổi? sở thích là gì?)
    – Kĩ năng tự phục vụ: Các con tự đi vệ sinh và vệ sinh đúng cách, đúng
    nơi quy định; tự rửa mặt, chải đầu, buộc tóc, tự mặc quần áo; tự ăn uống; nhận
    biết và tự sắp xếp sách vở, giữ gìn, bảo quản đồ dùng học tập, đồ dùng của cá
    nhân mình như: bút, thước, tẩy, mũ, bình nước, quần áo…; có thói quen sinh
    hoạt đúng giờ: học đúng giờ, đi ngủ trước 22 giờ và thức đậy trước 6 giờ sáng.
    – Kĩ năng giải quyết vấn đề: Biết tìm kiếm sự giúp đỡ của thầy cô, người
    lớn hoặc bạn khi cần thiết; Ghi nhớ thông tin cá nhân như tên, số điện thoại…
    của bố mẹ, ông bà, anh chị.
    9
    Để các con có hành trang bước vào lớp 1, ngay từ khâu tiếp cận phụ
    huynh, tiếp cận phụ huynh, nhà trường đã chủ động chia sẻ những điều này. Bên
    cạnh đó, nhà trường cũng mạnh dạn chia sẻ trên fanpage, website những kiến
    thức, kinh nghiệm cần thiết để giúp phụ huynh đồng hành cùng con trong những
    bước đi đầu tiên vào môi trường tiểu học.
    “Hành trang vào lớp 1” còn có giá trị như một bản quy ước ngầm giữa
    nhà trường với gia đình. Phụ huynh khi cầm trên tay bản Hành trang vào lớp 1
    sẽ soi chiếu vào con mình: con đã thực hiện tốt những kiến thức, kĩ năng nào;
    con còn thiếu hụt những gì để từ đó bù đắp cho con. Từ đó, phụ huynh hiểu hơn
    về trách nhiệm của gia đình, quyền và trách nhiệm của đứa trẻ khi bước vào tiểu
    học. Từ đó, phụ huynh không còn tư tưởng giao phó, phó mặc hết cho nhà
    trường, giao phó hết cho cô giáo. Quá trình giáo dục phải là sự kết hợp chặt chẽ
    của hai môi trường: gia đình- nhà trường cùng với cộng đồng, xã hội.
    10
    – Bên cạnh đó, nhà trường còn liên kết với một số trường mầm non, xây
    dựng Câu lạc bộ Giáo dục tiền tiểu học để tạo cơ hội cho trẻ mầm non làm quen
    với môi trường mới, giúp các con bớt bỡ ngỡ, tự tin hơn khi bước chân vào lớp
    1.
    Ví dụ:
    11
    Từ những việc làm đó, nhà trường, các thầy cô cũng về cơ bản nắm bắt
    được thực trạng học sinh, về những thuận lợi, những khó khăn để chủ động hơn
    trong việc xây dựng những kế hoạch tiếp theo trong năm học.
    Giải pháp 2: Xây dựng lộ trình môn học theo từng giai đoạn:
    Là năm đầu tiên đổi mới giáo dục, với một chương trình nhiều bộ sách giáo
    khoa chính vì vậy giáo viên cần nắm chắc nội dung chương trình học. Giáo viên
    cần nghiên cứu nội dung chương trình và nội dung sách giáo khoa Tiếng Việt 1.
    Từ đó giáo viên xây dựng lộ trình môn Tiếng Việt theo từng giai đoạn, cụ thể:
    Với mỗi môn học, tổ chuyên môn phải cùng nhau nghiên cứu, chia tách nội
    dung theo từng giai đoạn: 8 tuần kì 1; cuối kì 1; 8 tuần kì 2; cuối năm học… Từ
    đó, giáo viên xác định được nhiệm vụ trọng tâm của từng giai đoạn, nhanh
    chóng nắm bắt được những nội dung cốt lõi, chủ động hơn trong các nội dung
    dạy học và chủ động điều chỉnh nội dung, chương trình khi cần thiết.
    12
    13
    14
    15
    Lộ trình kiến thức này ngoài việc giúp giáo viên xác định được nội dung,
    nhiệm vụ trọng tâm trong từng giai đoạn thì còn được chia sẻ với PHHS để phụ
    huynh nắm bắt được tình hình học tập của con ở trường. Thông qua đó, phụ
    huynh biết cách để hỗ trợ con một cách phù hợp.
    16
    Giải pháp 3: Sáng tạo trong sử dụng đồ dùng dạy học giúp học sinh đọc
    viết nhanh hơn.
    Trong nhiều năm dạy học lớp 1, bản thân tôi và nhiều đồng nghiệp nhận
    thấy rằng: Khi dạy viết, học sinh phải học viết chữ qua 2 giai đoạn: Chữ cỡ nhỡ
    (2 ô li) ở kì I và chữ cỡ nhỏ (1 ô li) ở kì II. Học sinh học viết chữ 2 ô li một học
    kì, còn sau này chủ yếu chỉ thực hành và sử dụng chữ 1 li. Mục đích của việc
    viết chữ 2 ô li trong giai đoạn đầu tiên là phóng to con chữ cho dễ nhìn, dễ quan
    sát. Tuy nhiên, cách viết chữ 2 li khác hoàn toàn với chữ một li về chấm tọa độ.
    Nhiều học sinh chưa kịp nhớ cách chấm tọa độ chữ 2 li đã phải chuyển xuống
    chữ một li. Việc hạ cỡ chữ gặp rất nhiều xáo trộn. Chính vì thế, để giảm khó
    khăn cho học sinh trong việc viết chữ, nhà trường và đội ngũ chuyên môn đã
    chủ động thiết kế Mẫu chữ, vở ô li, bảng, vở luyện viết để học sinh làm quen
    với chữ 1 li phóng to ngay từ những buổi học đầu tiên.
    Cụ thể:
    17
    Để thống nhất với vở viết ô li to chúng tôi sử dụng bảng con ô li to.
    Bảng con
    Vở ô li
    18
    Vở tập viết
    Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm như thẻ trống
    (viết chữ cái, vần, tiếng, từ cho từng tiết) sử dụng trong trò chơi nhằm đổi mới
    phương pháp dạy học giúp học sinh hứng thú, tích cực trong học tập.
    Với cách làm này, học sinh không cần phải học lại cách viết hạ cỡ chữ.
    Việc viết chữ rất nhanh chóng, hiệu quả.
    Việc làm này đã được phụ huynh rất đồng thuận, bản thân mỗi thầy cô giáo
    chúng tôi cũng cảm thấy tự hào vì đã góp phần nhỏ bé vào quá trình cải tiến kĩ
    thuật, làm cho việc học, việc viết của học trò trở nên thuận lợi, dễ dàng và hiệu
    quả hơn. Đồng thời đây cũng là những nét riêng biệt, giúp chúng tôi thêm tự hào
    về nhà trường, có thêm động lực, niềm tin để thỏa sức sáng tạo với những điều
    mới mẻ, nhằm đem lại những giá trị thiết thực cho học sinh.
    19
    Giải pháp 4: Đổi mới phương pháp dạy học tăng cường ứng dụng trải
    nghiệm gắn với thực tiễn cuộc sống.
    Con đường để phát triển năng lực cho người học là thông qua quá
    trình tổ chức các hoạt động, đặc biệt là khi những hoạt động đó được vận
    dụng, ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống. Vì vậy, để phát triển năng lực cho
    HS, người GV phải chú trọng:
    4.1 Khai thác, sử dụng tối đa các yếu tố trực quan, yếu tố thực
    tiễn.
    Ví dụ: học sinh bước vào lớp 1 rất khó phân biệt dấu sắc (/), dấu
    huyền (`). Nếu GV chỉ mô tả một cách thông thường dấu sắc là nét xiên
    kéo từ bên phải sang bên trái, dấu huyền là nét xiên kéo từ bên trái sang
    bên phải… sẽ rất khó đi vào đầu các em. Tuy nhiên, nếu GV biết biến
    những dấu thanh đó thành những hình ảnh gắn liền với thực tiễn cuộc sống
    thì HS chỉ cần nghe một lần có thể nhớ luôn được.
    Để giúp trẻ phân biệt dấu sắc, dấu huyền, chúng ta có thể hỏi:: “Chú công
    an chào như thế nào?” Các em sẽ giơ tay phải lên và chào. Tiếp đó cô giáo yêu
    cầu hạ tay xuống, viết dấu huyền (giống như tay chào). Giáo viên cho học sinh
    thực hiện nhiều lần để ghi nhớ. Còn dấu sắc thì ngược lại.
    Ngoài ra, giáo viên có thể sử dụng biểu tượng mái nhà, đặt tay bên
    trái là dấu sắc, tay bên phải là dấu huyền. Với những quy tắc trực quan,
    20
    gắn liền với thực tiễn, gắn liền với cuộc sống của HS, các em sẽ vui vẻ tiếp
    nhận và ghi nhớ rất nhanh.
    Đối với dấu ngã ( ): GV có thể mô tả hình chữ S đang đứng thẳng bị ngã
    ngửa ra… từ đó hình như thế này gọi là dấu ngã. Hay dấu nặng (.) vì nặng quá
    nên bị rơi tụt xuống dưới. Vì thế trong cả 5 dấu thanh, có mỗi dấu nặng được đặt
    ở phía dưới nguyên âm; những dấu còn lại đặt trên đầu nguyên âm.
    Những ví dụ như vậy vừa làm tăng sự liên tưởng thú vị cho trẻ, vừa tăng
    cường yếu tố thực tiễn, giúp trẻ dễ nhớ, nhớ lâu và quan trọng các em cảm thấy
    hứng thú, thú vị hơn với các con chữ và dấu.
    Tương tự như vậy, khi dạy chữ, giáo viên có thể sử dụng trò chơi tương tự
    trò chơi tìm dấu bên trên. Ví dụ dạy bài chữ ư giáo viên yêu cầu học sinh tìm và
    đếm trong bài sau có bao nhiêu chữ ư:
    Ngoài ra, giáo viên đưa thêm các câu đố về con vật, đồ vật có chứa âm vần
    đã học cho các em thêm hứng thú.
    21
    Dưới dạng các câu đó học sinh được khơi gợi những hiểu biết, trải nghiệm
    cá nhân của mình về sự vật để biết đó là vật gì, con gì… Thông qua đó học sinh
    được rèn luyện trí tưởng tượng, tư duy logic. Những kiến thức này giúp các em
    học tốt môn tự nhiên và xã hội.
    Kết thúc mỗi bài, mỗi con chữ, mỗi vần, học sinh được giao nhiệm vụ tìm
    từ ứng dụng – đó là những sự vật hiện tượng gần gũi xung quanh các em. Các
    bạn trên lớp thi nhau theo nhóm, theo tổ khối.
    Hoạt động ứng dụng này, bố mẹ và người thân trong gia đình cũng có thể
    22
    tham gia hoạt động này.
    Ví dụ, tìm những đồ vật trong gia đình bắt đầu bằng âm x như: xoong nồi,
    xô chậu, xà phòng hay các món ăn như xúc xích, xôi xíu, xoài dầm…
    Cứ như thế, sinh hoạt trong gia đình mỗi buổi tối sẽ như một buổi hội thảo
    nhỏ về ngôn ngữ. Học sinh tự tin giao nhiệm vụ cho người thân trong gia đình,
    được gia đình hỗ trợ, làm giàu ngôn ngữ, nuôi dưỡng tình yêu với Tiếng Việt…
    4.2. Sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên công nghệ thông tin
    Bên cạnh việc khai thác học liệu điện tử trong SGK thì việc khai thác và
    ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt khai thác Game là điều không thể thiếu
    đối với GV trong thời đại 4.0. Các trò chơi trên Powerpoint hay trò chơi trực
    tuyến trên Quizziz là một kho tư liệu vô cùng phong phú. Trò chơi Powerpoint
    hấp dẫn, dễ sử dụng, điều chỉnh nội dung dễ dàng; linh hoạt khi sử dụng có thể
    dùng để khởi động, kiểm tra bài cũ, giới thiệu bài mới, luyện tập thực hành hay
    củng cố kiến thức. Dưới cách dẫn dắt của cô giáo, của game, các nội dung học
    tập trở nên nhẹ nhàng, nhân văn, trở thành động lực để thôi thúc các em học tập.
    Ví dụ trò chơi: Giúp ong tìm mật, Sóc nhặt hạt dẻ, Vòng quay kì diệu…
    23
    Bên cạnh đó việc sử dụng phần mềm trực tuyến Quizziz cũng rất hiệu quả
    khi tổ chức khởi động hoặc muốn kiểm tra học sinh học xong một mảng kiến
    thức hoặc vào cuối tuần hoặc cuối tháng.
    24
    Ưu điểm: HS có thể làm bài nhiều lần. HS biết được kết quả làm bài ngay
    sau khi trò chơi kết thúc. Thứ tự xếp hạng của học sinh thay đổi liên tục trong
    quá trình các con chơi nên rất kích thích ý chí cố gắng nỗ lực.
    Bố mẹ biết được con đang học đến nội dung kiến thức nào và con còn chưa
    nắm chắc kiến thức nào để cùng cô giúp con nắm vững kiến thức.
    Đối với giáo viên biết được nội dung kiến thức nào HS đã nắm vững, kiến
    thức nào cần ôn tập củng cố…
    4.3 Học Tiếng Việt thông qua tích hợp liên môn:
    Học Tiếng Việt giúp học sinh phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ.
    Thông qua các môn học, hoạt động giáo dục năng lực ngôn ngữ và văn học của
    các em được phát triển. Giáo viên lựa chọn ngữ liệu dạy học Tiếng Việt tích hợp
    với nội dung các môn học khác như môn Toán, Đạo đức, Tự nhiên và xã hội,
    Âm nhạc, hoạt động trải nghiệm, kĩ năng sống…
    Môn Tự nhiên và xã hội:
    25
    (Tranh ảnh sưu tầm)
    Giáo dục kĩ năng sống
    26
    (Tranh ảnh sưu tầm)
    Việc cập nhật thông tin thời sự, đặc biệt là tình hình dịch bệnh covid 19, tuyên
    truyền các biện pháp phòng chống dịch covid 19 đến các em khi được giáo viên
    làm mới cũng sẽ vô cùng hiểu quả.
    Ví dụ, GV có thể chuyển từ 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng thành 5 điều
    Bác sĩ dặn để chống giặc Covid:
    1. Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào
    2. Ai ở nơi nào thì ở yên nơi đó
    3. Vệ sinh tốt, rửa tay thật tốt
    4. Đoàn kết tốt, kỉ luật tố
    5. Thật thà, dũng cảm khai báo bệnh
    Chỉ một thao tác nhỏ là làm tươi mới những cãi cũ, đưa những cái xa lạ
    thành những cái gần gũi hơn bằng cách liên hệ với thực tiễn, so sánh và liên
    tưởng, GV nhất định sẽ làm cho HS cảm thấy hứng thú và dễ dàng tiếp nhận
    những kiến thức mới, kĩ năng mới.
    Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp
    dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, vấn đáp, làm mẫu, luyện
    tập…mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược
    điểm của chúng. Để nâng cao hiệu quả của các biệ

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số biện pháp nâng cao phát triển ngôn ngữ cho học sinh thông qua dạy văn miêu tả lớp 4

    SKKN Một số biện pháp nâng cao phát triển ngôn ngữ cho học sinh thông qua dạy văn miêu tả lớp 4

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
    Năm học 2020 – 2021 là năm học tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29 của
    Trung ương Đảng về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam. Một trong các
    nội dung của chương trình giáo dục đó là: Giáo dục theo định hướng phát triển
    năng lực học sinh, phù hợp với tình hình thực tế của trường thông qua việc tăng
    cường các hoạt động thực hành, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, Vì vậy
    mục tiêu của giáo dục Tiểu học đặc biệt nhấn mạnh đến việc hình thành và phát
    triển cho học sinh những tri thức, kĩ năng cần thiết cho cuộc sống.
    Vì vậy qua quá trình dạy học tôi đã mạnh dạn để đưa ra một số ý kiến, suy nghĩ
    của mình qua sáng kiến:
    “MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO HỌC
    SINH THÔNG QUA DẠY VĂN MIÊU TẢ LỚP 4”
    Từ năm học 2018 – 2019 đến năm học 2020 – 2021, tôi được phân công
    giảng dạy môn Tiếng Việt khối lớp 4. Trong quá trình dạy học tôi thấy rằng một
    trong những đặc trưng cơ bản của dạy học môn Tiếng Việt và đặc biệt là dạy phân
    môn Tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp nhằm rèn luyện kĩ năng tạo ra
    ngôn ngữ nói đồng thời là ngôn ngữ viết cho học sinh. Mỗi một quy trình dạy học
    đều có các hình thức tổ chức hoạt động khác nhau nhưng có điểm chung là: học
    sinh được khám phá, tìm tòi, sáng tạo để hoàn thành các bài thực hành đúng theo
    yêu cầu của giáo viên.
    Trong chương trình giáo dục đặc biệt là giáo dục tiểu học (bậc học nền
    tảng) theo hướng đổi mới thì hình thành và phát triển ngôn ngữ cho học sinh là một
    mục tiêu rất quan trọng, vì trong hoạt động này phù hợp với tâm lí của học sinh
    tiểu học “từ tự bản thân sẽ nghe, nói, đọc ,viết một cách độc lập đến hiểu, từ thích
    thú đến tự giác và vận dụng vào bài làm của mình”. Hoạt động này giúp cho học
    sinh có nhiều cách để vận dụng những kiến thức học được vào thực tiễn. Từ đó,
    các em có thể phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân.
    Trong các môn học ở tiểu học thì Tập làm văn là một phân môn rất quan
    trọng vì nó góp phần rèn luyện cho HS năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ, tạo điều kiện
    cho các em giao tiếp trong cuộc sống hằng ngày và học tốt các môn học khác. Ở
    phân môn này, các kiểu bài miêu tả được học nhiều nhất, nó giúp HS tái hiện lại
    5
    cuộc sống con người, phong cảnh thiên nhiên một cách vừa chân thực vừa sinh
    động. Chương trình Tập làm văn lớp 4 gồm nhiều nội dung, một trong những nội
    dung chính là văn miêu tả đồ vật, con vật, cây cối…Văn miêu tả là kiểu bài là khi
    đọc những gì chúng ta viết, người đọc như thấy được những thứ đó hiện ra trước mắt
    mình: một con vật ngộ nghĩnh thân thương, hay một cái cây đầy kỉ niệm…Người
    đọc có thể nghe được cả tiếng nói, tiếng kêu hay thậm chí là cả mùi thơm nồng nàn
    của một loài hoa… Văn miêu tả giúp chúng ta nhìn r những gì mình muốn tả, tưởng
    tượng như mình đang được xem tận mắt. Tuy nhiên hình ảnh tạo nên không phải là
    bản sao ch p từ sự việc có sẵn mà nó được đúc kết từ những nhận x t tinh tế, những
    xúc cảm sâu sắc mà người viết góp nhặt được khi quan sát thực tế cuộc sống. Vì
    vậy, việc phát triển ngôn ngữ và vốn từ cho HS là việc làm rất cần thiết.
    Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy các em HS chưa thực sự thích thú với các tiết học
    tập làm văn đặc biệt là các tiết học văn miêu tả, vốn sống thực tế còn nghèo nàn,
    cảm xúc trong bài viết chưa chân thực. Các con đã tư duy nói ra được các điều cần
    viết nhưng khi đặt bút để viết bài thì các con lại chưa làm thoát được ra ý mình cần
    viết do vốn từ của mình còn hạn hẹp. Nên các giải pháp mà tôi đưa ra sẽ góp phần
    khắc phục các thực trạng trên, giúp HS có nhiều cơ hội để vận dụng những kiến
    thức học được vào thực tiễn cuộc sống. Từ đó, các em có thể phát huy tốt tiềm
    năng sáng tạo của bản thân. Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã nghiên cứu và áp dụng
    sáng kiến: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
    CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY VĂN MIÊU TẢ LỚP 4”
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến
    1.1. Sách giáo khoa
    Theo phân phối chương trình trong Tài liệu hướng dẫn (dạy học theo mô hình
    VNEN), tổng số tiết tập làm văn lớp 4 là 67 tiết. Cùng với kiểu bài kể chuyện thì
    bài văn miêu tả chiếm thời lượng lớn (có 19 tiết là văn miêu tả, trong đó có 13 tiết
    lý thuyết kết hợp thực hành, còn lại là kiểm tra và trả bài).
    Nội dung văn miêu tả tập trung vào các dạng: Miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối,
    miêu tả con vật. Có thể nói, kiểu bài văn miêu tả là một trong những kiểu bài cơ
    bản, quan trọng trong chương trình tập làm văn ở Tiểu học. Tuy nhiên, với thời
    lượng ít ỏi như thế ở trên lớp để đạt được mục tiêu các tiết học đã khó, để viết một
    bài văn hay, cảm xúc đối với HS lại càng khó khăn hơn.
    6
    1.2. Về phía giáo viên
    – Một số GV thường hình thành hiểu biết về lí thuyết, thể loại văn, kĩ năng làm
    văn… qua việc phân tích các bài văn mẫu với lý thuyết khô khan, khó hiểu. Một số
    GV khác đã có sáng tạo trong dạy học như sử dụng hình ảnh, những đoạn video để
    học sinh quan sát, cho học sinh trực tiếp ra ngoài không gian lớp học để quan sát
    thực tế. Tuy nhiên, biện pháp đó vẫn chưa tạo hứng thú cho học sinh khi học văn
    miêu tả. Hiệu quả của việc dạy tập làm văn miêu tả chưa cao.
    – Quan sát trong văn miêu tả có vai trò vô cùng quan trọng nhằm cung cấp cho
    học sinh vốn sống thực tế phong phú. Học sinh có phương pháp quan sát sẽ viết
    được những bài văn hay, chân thực, giàu cảm xúc. Tuy nhiên để tổ chức cho học
    sinh ra ngoài thực tế quan sát cảnh đòi hỏi giáo viên có sự chuẩn bị chu đáo, kĩ
    lưỡng, mất nhiều thời gian. Vì vậy mà một số giáo viên ngại thực hiện.
    – Đối với một số HS học k m, ngại học tập làm văn, một số GV nôn nóng muốn
    nhìn thấy ngay kết quả nên đã cho học sinh học thuộc một số bài văn mẫu để các
    em khi gặp đầu bài tương tự cứ thế mà ch p ra. Điều đó đã khiến các em không
    nắm được phương pháp làm văn, không có sáng tạo khi làm bài.
    – Một số giáo viên ra đề bài chưa thích hợp với địa phương khiến học sinh vô
    cùng lúng túng khi miêu tả.
    Ví dụ: Đề bài yêu cầu em hãy tả lại một chú trâu đang thong dong gặm cỏ,
    thực tế học sinh ít hoặc chưa được nhìn thấy thực tế về con trâu.
    1.3. Về phía HS
    Để tìm hiểu vướng mắc của HS khi học Tập làm văn, tôi đã tiến hành khảo sát
    bằng đề bài cụ thể với hai lớp. Lớp 4A5 đối chứng, lớp 4A6 thực nghiệm để làm
    kiểm chứng sau này.
    Đề bài 1: Em hãy tả lại một cây bóng mát trong sân trường em.

    Năng lực
    viết văn
    Xác định đối tượngQuan sát, ghi chépNgôn ngữ, diễn đạt
    TốtChưa tốtTốtChưa tốtTốtChưa tốt
    4A535/5015/5018/5032/509/5041/50
    4A620/4222/4210/4232/426/4236/42

    7
    Đề bài 2: Em hãy tả một cây ăn quả trong vườn trường.

    Năng lực
    viết văn
    Xác định đối tượngQuan sát, ghi chépNgôn ngữ, diễn đạt
    TốtChưa tốtTốtChưa tốtTốtChưa tốt
    4A520/5030/5016/5034/5012/5038/50
    4A613/4229/4210/4232/409/4233/42

    Căn cứ vào bảng khảo sát kết hợp với thực tế giảng dạy, tôi thấy thực trạng
    của việc học phân môn tập làm văn đối với học sinh như sau:
    – Còn lúng túng khi xác định đối tƣợng miêu tả.
    Khi viết văn các em thường sao ch p những bài văn mẫu thành bài văn của
    mình không quan tâm đầu bài quy định như thế nào. Vì thế, các em thường xác
    định sai đối tượng miêu tả.
    – Chƣa biết cách quan sát và ghi chép đối tƣợng mình tả
    Phần lớn các em quan sát đối tượng bằng mắt làm đối tượng miêu tả hiện nên
    mờ nhạt. Bên cạnh đó khi quan sát các em chưa chưa biết cách quan sát để tìm ra
    được những đặc điểm tiêu biểu của sự vật, sự thay đổi của cảnh theo thời gian của
    sự vật trong năm. Một số em học sinh đã biết cách quan sát nhưng lại lúng túng khi
    ghi ch p những điều quan sát được một cách hệ thống, khoa học.
    – Diễn đạt lủng củng, rời rạc chƣa linh hoạt, ngôn ngữ chƣa phong phú.
    Một số HS ghi ch p đối tượng miêu tả chỉ liệt kê một cách chung chung, khô
    khan, cứng nhắc, chưa làm thoát được cái ý hay,đẹp của sự vật được miêu tả đến.
    Một số em kĩ năng diễn đạt còn k m; khi vận dụng những từ ngữ gợi tả, gợi cảm,
    các biện pháp tu từ để viết văn còn gặp nhiều lúng túng. Do đó bài văn chưa hấp dẫn
    được người đọc người nghe.
    Ví dụ:
    Trích bài làm của bạn Trần Quỳnh Anh khi tả cây bóng mát
    8
    Trích bài làm của bạn Nguyễn Thị An An khi tả chi tiết về cây bóng mát
    Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến các thực trạng trên. Nhưng nguyên nhân cơ
    bản là do các em HS có vốn sống thực tế chưa phong phú, các em còn chưa có ý
    thức tìm hiểu và đọc sách nhiều để tích lũy vốn từ cho bản thân. Do đó, bài viết
    k m chân thực, ít cảm xúc, khó có thể truyền cảm hứng cho người đọc.
    1.4. Đối với nhà trường và phụ huynh
    – Đối với nhà trƣờng: Không đủ đối tượng miêu tả để học sinh quan sát đáp
    ứng với từng dạng bài và với từng đề bài cụ thể: như bài tả các con vật nuôi như
    trâu, bò… tả các loại cây ăn quả…
    – Đối với cha mẹ HS: Một n t tâm lí khá phổ biến của cha mẹ học sinh là muốn
    con giỏi toán và các môn tự nhiên; không nhiều cha mẹ muốn con học Tập làm văn nếu
    không có yêu cầu của giáo viên. Chính vì vậy, một số bậc phụ huynh ít quan tâm đến
    việc bồi dưỡng, hình thành kĩ năng quan sát, phát hiện cái hay, cái mới, cái riêng của sự
    vật trong quan sát. Điều này đã tác động không nhỏ đến việc học văn của học sinh.
    * Qua việc nghiên cứu và phân tích thực trạng, tôi thấy hiệu quả của việc tập
    làm văn đặc biệt là tập làm văn miêu tả chưa cao. Có rất nhiều nguyên nhân nhưng
    nguyên nhân cơ bản, chủ yếu là do các em chưa có hứng thú khi học các tiết tập
    làm văn. Đặc biệt là phần lớn học sinh thiếu vốn sống thực tế và chưa có kĩ năng
    quan sát ghi chép.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    Từ thực trạng và nguyên nhân trên, qua quá trình thực hiện, tôi đã ra 6 giải
    pháp nhằm giúp hoạc sinh phát triển ngôn ngữ và vốn từ cho học sinh lớp 4 khi
    làm văn miêu tả.
    Giải pháp 1: Thống kê và xây dựng các hình thức phát triển ngôn ngữ phù
    hợp với đặc thù của kiểu bài văn miêu tả lớp 4
    9
    Giải pháp 2: Chú trọng rèn các kĩ năng cần thiết và xây dựng các công cụ
    phục vụ cho phát triển ngôn ngữ sáng tạo có hiệu quả
    Giải pháp 3: Hướng dẫn HS vận dụng một cách linh hoạt , có hiệu quả các
    kiến thức thu được từ thực tế để sáng tạo để viết văn
    Giải pháp 4: Tổ chức các hoạt động học tập giúp học sinh phát triển ngôn
    ngữ sáng tạo một cách linh hoạt hiệu quả
    Giải pháp 5: Sử dụng hiệu quả các công cụ trong lớp học của mô hình
    VNEN hỗ trợ các hoạt động học tập
    Giải pháp 6: Huy động các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường
    tham gia tích cực, hiệu quả các tiết học của học sinh
    2.1.Giải pháp 1: Xây dựng các hình thức phát triển ngôn ngữ phù hợp với
    đặc thù của kiểu bài văn miêu tả lớp 4
    Nắm vững nội dung chương trình kiểu bài văn miêu tả chọn các hình thức
    phát triển ngôn ngữ là điều then chốt giúp cho học sinh trình bày, diễn đạt được
    suy nghĩ của mình trong quá trình học để phát huy được thế mạnh của nó. Vì thế,
    ngay từ đầu năm học, tôi nghiên cứu để tìm ra các hình thức học cho phù hợp với
    nội dung của các tiết học. Từ đó, xây dựng các hoạt động học sáng tạo phù hợp với
    nội dung của từng hoạt động, ứng với từng tiết học tập làm văn miêu tả; lựa chọn
    những nội dung phù hợp từ nhiều kênh khác nhau để cung cấp thông tin cho học
    sinh. Dựa vào các kênh thông tin do giáo viên cung cấp với từng hoạt động cụ thể
    của tiết học, GV có thể thiết kế chi tiết các hoạt động phù hợp với đối tượng học
    sinh của lớp mình và tổ chức các hoạt động ấy một cách chủ động, sáng tạo, mang
    tính hiệu quả cao mà không phải mất nhiều thời gian.
    2.2. Giải pháp 2: Chú trọng rèn các kĩ năng cần thiết và xây dựng các công
    cụ phục vụ cho phát triển ngôn ngữ sáng tạo có hiệu quả
    2.2.1. Rèn kĩ năng quan sát và ghi chép
    Khi bắt đầu viết văn miêu tả học sinh cần nhiều kĩ năng. Trong đó kĩ năng
    quan sát là quan trọng nhất. Vì vậy, trước khi tổ chức cho học sinh bắt tay vào làm
    bài tôi đã rèn kĩ năng đó cho các em.
    2.2.1.1.Rèn kĩ năng quan sát
    a . Hướng dẫn các em kĩ năng quan sát đối tượng bằng nhiều bước như sau:
    Bước 1: Tái hiện đối tượng miêu tả một cách khái quát
    10
    Bước 2: Liệt kê những đặc điểm của sự vật cần miêu tả
    Bước 3: Lựa chọn những đặc điểm chính của sự vật cần miêu tả
    Các bước trên giúp các em biết quan sát từ khái quát đến cụ thể đối tượng cần
    miêu tả để lựa chọn những đặc điểm quan trọng, chủ chốt của đối tượng.
    b. Xác định trình tự quan sát, vị trí quan sát
    Trước khi HS quan sát, tôi thường hướng dẫn các em tự lựa chọn trình tự
    quan sát phù hợp với đối tượng miêu tả:
    Các trình tự quan sát các em có thể tiến hành là :
    – Trình tự không gian: Từ quan sát toàn bộ đến quan sát từng bộ phận hoặc
    ngược lại; từ trái sang phải, trên xuống dưới, ngoài vào trong hoặc ngược lại …
    – Trình tự thời gian: Quan sát theo diễn biến của thời gian từ lúc bắt đầu đến
    khi kết thúc, từ mùa này sang mùa khác, tuần này sang tuần khác, ngày này sang
    ngày khác …
    – Trình tự tâm lí : Thấy nét gì nổi bật, gây cảm xúc mạnh cho bản thân (hứng thú,
    khó chịu, yêu hay ghét …) thì quan sát trước, các bộ phận khác thì quan sát sau.
    Trình tự quan sát sẽ giúp bài viết của các em có hệ thống, mạch lạc và các ý sẽ
    không bị xếp lộn xộn. Tuy nhiên, dù quan sát ở trình tự nào cũng cần biết dừng lại
    ở bộ phận chủ yếu, trọng tâm để quan sát kĩ lưỡng hơn.
    Như vậy là muốn miêu tả hay nhất định học sinh phải tập quan sát, phải có công
    quan sát. Công việc này đối với mỗi người có thể làm một cách khác nhau.Có người chỉ
    im lặng quan sát rồi ghi nhớ ở trong đầu, còn có người lại ghi ch p rất tỉ mỉ và công
    phu… Vì thế nên tôi còn hướng dẫn HS chọn vị trí quan sát tốt, góc quan sát phù hợp
    (xa hay gần, trong hay ngoài, ban ngày hay ban đêm), việc quan sát tỉ mỉ, kĩ lưỡng sẽ
    giúp ta nắm được cái thần của đối tượng miêu tả, cảm nhận được đối tượng miêu tả một
    cách r ràng, cụ thể và tinh tế hơn.
    c. Hướng dẫn HS quan sát bằng nhiều giác quan để phát hiện ra cái riêng,
    những nét đặc s c về đối tượng miêu tả
    11
    Quan sát đối tượng không chỉ bằng thị giác như các em vẫn nghĩ, mà phải biết
    huy động mọi giác quan: Thính giác (nghe), khứu giác (ngửi), xúc giác (sờ, nắm),
    vị giác (nếm). Khi làm văn miêu tả, chúng ta vẫn sử dụng thị giác là chủ yếu.
    Nhưng những đoạn văn hay và hấp dẫn là những đoạn văn mà tác giả đã thành
    công trong việc dùng nhiều giác quan để quan sát.
    Ví dụ: Tôi đã hướng dẫn HS tìm hiểu bài văn sau trong giờ tự học nhằm làm tăng
    khả năng quan sát trong văn miêu tả:
    Phân tích: Ở đây, tác giả đã cho ta như được sống với cây gạo qua bốn mùa
    của mỗi năm, lúc cây ra hoa, lúc cây kết quả, lúc cây cho bông tung bay vào trong
    gió, lúc cành cây chỉ còn lại trơ trụi một mình…Ta còn có thể cảm nhận thấy thêm,
    cây gạo không chỉ sống với trời với đất, với chim muông, với gió mà nó còn gắn
    liền cả với con người: “ Cây gạo đứng im, cao lớn, hiền lành, làm tiêu cho những
    con đò cập bến và cho những đứa con về thăm quê mẹ”. Lời văn miêu tả thật đẹp,
    trong sáng và thật có tình. Cây gạo không chỉ được nhân hóa mà nó thật sự đã trở
    Cây gạo
    Cây gạo già mỗi năm lại trở lại tuổi xuân, cành nặng trĩu những hoa đỏ
    mọng và đầy tiếng chim hót. Lũ chim no mồi chạm vào đâu cũng kiếm được
    những con sâu xám b o nhũn hoặc những anh chị bọ gạo mình cũng đỏ
    như hoa.Chỉ cần một làn gió nhẹ hay một đôi chim mới đến là có ngay mấy bông
    hoa gạo lìa cành. Những bông hoa rơi từ trên cao, đài hoa nặng chúi xuống,
    những cánh hoa đỏ rực quay tít như chong chóng nom thật đẹp.
    Hết mùa hoa, chim chóc cũng vãn. Cây gạo chấm dứt những ngày tưng bừng
    ồn ã, lại trở về với dáng vẻ xanh mát, trầm tư. Cây đứng im cao lớn, hiền lành,
    làm tiêu cho những con đò cập bến và cho những đứa con về thăm quê mẹ.
    Ngày tháng qua đi thật chậm mà cũng thật nhanh. Những bông hoa đỏ ngày
    nào đã trở thành những quả gạo múp míp, hai đầu thon vút như con thoi. Sợi
    bông trong quả đầy dần, căng lên; những mảnh vỏ tách ra cho các múi bông nở
    đều, chín như nồi cơm chín đội vung mà cười, trắng loá. Cây gạo như treo rung
    rinh hàng ngàn nồi cơm gạo mới.
    Vũ Tú Nam
    Đã sẵn sàng cả rồi. Cơn giông như được báo trước rào rào
    kéo đến. Hàng vạn lá gạo reo lên, múa lên. Chúng chào anh
    em của chúng lên đường. Từng loạt, từng loạt một, những
    bông gạo bay tung vào trong gió tuyết mịt
    12
    thành một con người nhất là ở những câu văn: “ Ngàn vạn lá gạo reo lên, múa lên,
    chúng chào anh em của chúng lên đường…” hay “ Cây gạo xơ xác hẳn đi, nom
    thương lắm…”
    Dưới con mắt quan sát đầy tinh tế, kèm theo những rung động của tác giả, lúc
    nào cũng làm hấp dẫn cho người đọc và tạo được cho người đọc sự thích thú.
    2.2.1.2. Hướng dẫn học sinh ghi chép những điều quan sát được một cách
    khoa học
    Quan sát luôn gắn liền với ghi chép. Ghi chép làm giàu thêm trí nhớ, chi chép
    giúp học sinh lựa chọn những chi tiết những hình ảnh đặc sắc để đưa vào bài viết.
    Tôi đã hướng dẫn học sinh ghi chép dựa trên một số những yêu cầu sau:
    + Ngắn gọn, dễ hiểu
    + Đảm bảo tính khoa học
    + Có thể sử dụng kí hiệu, chữ viết tắt…
    Ở đây, tôi còn hướng dẫn học sinh vận dụng sơ đồ tư duy để ghi chép. Điều
    đó đã mang lại hiệu quả cao cho việc ghi chép. Tạo hứng thú, phát triển tư duy
    logic, trí nhớ…cho học sinh. Ngoài ra, tôi khuyến khích các con học sinh trong
    lớp nên có một cuốn sổ tay để ghi chép những điều mình quan sát và tích luỹ được
    làm tư liệu phục vụ cho quá trình học tập.
    Ví dụ:
    Ghi chép bằng sổ tay văn học
    13
    Ghi chép bằng phiếu quan sát
    Ghi chép bằng sử dụng sơ đồ tƣ duy
    2.2.2.Rèn các kĩ năng sống cần thiết để đảm bảo cho việc dạy văn miêu tả
    đạt hiệu quả tốt
    Để đảm bảo việc tổ chức các hoạt khi dạy văn miêu tả đạt hiệu quả, tôi chú ý
    rèn cho các em những kĩ năng sống cần thiết như sau: Kỹ năng ứng xử thân thiện
    trong mọi tình huống, kỹ năng làm việc theo nhóm; Giáo dục cho học sinh thói
    quen rèn luyện sức khỏe, ý thức tự bảo vệ bản thân, cách sơ cứu vết thương.
    Những kĩ năng sống này được tôi rèn tích hợp thông qua môn học, các tiết
    học kĩ năng sống buổi chiều thứ sáu, những buổi hoạt động ngoại khi, những tiết
    chào cờ đầu tuần hay có sự phối hợp với phụ huynh học sinh.
    14
    2.2.3. Thiết kế các công cụ phục vụ cho hoạt động phát triển ngôn ngữ vốn
    từ khi làm văn miêu tả
    2.2.3.1. Thiết kế trò chơi
    a. Mục đích: Trò chơi là một loại hình hoạt động giải trí, thư giãn; là món ăn tinh
    thần bổ ích và không thể thiếu được đối với học sinh.Trò chơi giúp học sinh nắm vững
    một số kĩ năng cơ bản khi làm văn miêu tả, có tinh thần thoải mái, phát huy tính sáng tạo,
    hấp dẫn và tạo hứng thú cho học sinh. Đồng thời trò chơi còn giúp học sinh dễ tiếp thu
    kiến thức mới, tạo được bầu không khí thân thiện đồng thời còn giúp các em hình thành
    và phát triển phẩm chất như: Tự tin, hợp tác, đoàn kết…
    b. Phân loại trò chơi
    Căn cứ vào việc xây dựng kế hoạch thực hiện mà tôi phân loại trò chơi như
    sau:- Trò chơi trong không gian lớp học
    – Trò chơi ngoài không gian lớp học
    c. Yêu cầu với từng loại trò chơi
    + Trò chơi trong không gian lớp học: Đảm bảo mục đích của hoạt động, phù
    hợp với đối tượng và không gian lớp học .
    + Trò chơi ngoài không gian lớp học: Đảm bảo mục đích của hoạt động, sử
    dụng tối đa các điều kiện ngoài không gian lớp học để phát huy được tính sáng tạo
    của học sinh khi học văn miêu tả.
    d. Tiến hành thiết kế trò chơi
    Tôi đã thiết kế và tổ chức hoạt động trò chơi ở nhiều khâu khác nhau trong
    quá trình dạy văn miêu tả như: củng cố kĩ năng quan sát, khởi động dẫn nhập vào
    nội dung học tập.
    d.1. Trò chơi trong không gian lớp học
    *Ví dụ:

    Trò chơi 1: Dấu ấn thời gian
    – Mục đích: Giúp học sinh nhận biết được một số đặc điểm của sự vật vào
    các thời điểm trong ngày. Miêu tả lại một hoặc một vài đặc điểm của sự vật vào
    thời điểm đó bằng những câu văn có hình ảnh. Qua đó, biết cách quan sát kết hợp
    với sử dụng phương tiện để diễn đạt.
    – Luật chơi: Xếp tranh vào các nhóm theo yêu cầu và viết được những câu
    văn miêu tả phù hợp với đặc điểm của sự vật.
    – Chuẩn bị: Tranh (ảnh) cảnh các thời điểm trong ngày .
    – Cách chơi: Giáo viên làm quản trò chia thành các đội (tùy theo sĩ số của

    15

    lớp). Mỗi đội nhận một tập tranh(ảnh) ở góc học tập. Sau thời gian 7 phút nhóm
    nào xếp tranh vào các nhóm theo yêu cầu và viết được những câu văn miêu tả
    giàu hình ảnh phù hợp với đặc điểm của các sựu vật trong các tranh nhất thì đội
    đó là đội chiến thắng.

    – Chú ý: Trò chơi này có thể được sử dụng để phân biệt đặc điểm của cây cối
    theo các mùa trong năm…

    Trò chơi 2: Tiếng gọi thiên nhiên
    – Mục đích: Giúp học sinh nêu được đặc điểm của các hiện tượng thiên nhiên
    (màu sắc, hình dáng, âm thanh,…) diễn tả chúng bằng những từ ngữ gợi tả, gợi cảm.
    – Luật chơi: Nêu đặc điểm của các hiện tượng tự nhiên theo yêu cầu của
    quản trò bằng những từ ngữ gợi tả, gợi cảm.
    – Cách chơi: Mỗi nhóm sẽ cử một bạn là quản trò. Khi quản trò gọi tên một
    hiện tượng thiên nhiên và nêu tên bạn nào thì bạn ấy sẽ đứng lên và tìm một từ
    gợi tả, gợi cảm để miêu tả đặc điểm của hiện tượng tự nhiên đó.Nếu tìm đúng
    bạn đó sẽ được chỉ định một bạn khác chơi tiếp. Nếu sai thì bạn đó bị loại khỏi
    cuộc chơi.

    – Chú ý: Trò chơi này có thể được sử dụng để mở rộng vốn từ miêu tả đặc điểm
    của sự vật và rèn kĩ năng sử dụng từ gợi tả, gợi cảm khi viết văn miêu tả.
    d.2. Trò chơi ngoài không gian lớp học
    *Ví dụ:

    Trò chơi: Bịt m t đi theo sơ đồ
    – Mục đích
    + Khơi gợi sự tò mò, thích khám phá của học sinh
    + Củng cố kĩ năng quan sát bằng tổng hợp các giác quan
    – Chuẩn bị : Dây thừng buộc được buộc vào gốc cây, đưa qua (cây cổ
    thụ, những vạt cỏ, những chiếc ghế đá…)
    – Cách chơi:
    Các bạn học sinh tham gia trò cho sẽ bám vào sợ dây thừng đi qua những
    vật mà giáo viên đã lựa chọn để tìm phần quà bí mật. Bạn nào tìm được phần
    quà bí mật nhanh nhất, bạn đó là người chiến thắng.

    16
    – Chú ý: Trò chơi này có thể giúp học sinh mở rộng vốn từ trong văn miêu tả .

    2.2.3.2. Thiết kế phiếu quan sát
    a. Mục đích:
    Thiết kế phiếu quan sát định hướng cho học sinh trình tự miêu tả và bố cục của
    phần thân bài trong bài văn miêu tả. Giúp các em tìm ra màu sắc, âm thanh hình ảnh
    tiêu biểu của các sự vật trong sự vật được miêu tả, thấy được sự thay đổi của sự vật
    tại các thời điểm khác nhau. Giúp các em có thể tự học. Bên cạnh đó cũng tạo điều
    kiện để các em thể hiện cái riêng, cái sáng tạo của mình khi làm văn miêu tả. Không
    những thế thông qua phiếu quan sát còn định hướng cho học sinh về nhân cách.
    Huy động được cả phụ huynh tham gia vào quá trình dạy học đồng thời cũng giúp
    phụ huynh kiểm tra kết quả học tập và rèn luyện của con em mình, giúp cha mẹ có
    điều kiện gần gũi con hơn. Vì vậy, tôi rất chú trọng thiết kế phiếu quan sát một cách
    đa dạng và đưa ra yêu cầu cụ thể cho riêng từng loại phiếu.
    b. Phân loại: Tôi chia phiếu quan sát làm 3 loại
    – Phiếu dành cho HS mới biếtquan sát
    – Phiếu dành cho HS quan sát tốt
    – Phiếu đánh giá sau khi quan sát
    c. Đặc điểm và yêu cầu đối với từng loại phiếu
    c.1. Phiếu cho học sinh mới biết quan sát
    + Ngắn gọn, dễ hiểu
    + Có những định hướng cụ thể tỉ mỉ để học sinh biết cách quan sát,ghi chép
    (chú ý quan sát trọng tâm sự vật được miêu tả )
    + Thông qua phiếu học sinh nắm được trình tự miêu tả, bố cục của phần thân
    bài trong bài văn miêu tả , cách tìm ý, diễn đạt ý, liên kết câu và liên kết đoạn.
    + Các phiếu có câu hỏi đưa ra phải rành mạch, chính xác, dễ hiểu, dễ thực hiện.
    c.2. Phiếu cho học sinh quan sát thuần thục
    + Không gợi ý nhiều để học sinh bộc lộ được cái tôi, cái sáng tạo riêng của
    cá nhân mình.
    + Không có gợi ý, tạo điều kiện cho HS chủ động lựa chọn trình tự miêu tả,
    các mảng cảnh mà mình yêu thích, sáng tạo trong cách ghi chép kết quả quan sát.

    c.3. Phiếu đánh giá sau khi quan sát
    + Với gợi ý ngắn gọn, định hướng cho HS có thể kiểm tra đánh giá kết quả
    quan sát của bạn.
    c.4. Cách sử dụng phiếu
    + Sử dụng trong quá tình dạy học (chủ yếu là khi trải nghiệm ngoài không
    gian lớp học)
    + Sử dụng khi thực hiện hoạt động ứng dụng
    + Sử dụng để đánh giá kết quả sau trải nghiệm thực tế ngoài lớp học.
    17
    d.Ví dụ về các loại phiếu quan sát:
    *Phiếu quan sát cho HS mới biết quan sát
    Đề bài : Viết bài văn tả cây cối.
    2.3. Giải pháp 3: Hướng dẫn HS vận dụng một cách linh hoạt , có hiệu quả
    các kiến thức thu được từ thực tế để sáng tạo để viết văn
    Ta thấy, hầu như kết quả của các bài văn mà các con học sinh viết là các
    kiến thức đơn lẻ về kiểu bài, những từ ngữ, hình ảnh, các ý xung quanh các đối
    tượng miêu tả. Vậy làm thế nào để sử dụng các kết quả này vào viết văn một cách
    có hiệu quả là điều mà giáo viên cần lưu tâm.
    Qua thực tế giảng dạy, tôi đã đúc rút được một số phương pháp nhằm sử dụng
    có hiệu quả những “vốn” mà các em thu được vốn từ cho bản thân mình như sau:
    2.3.1. Hướng dẫn học sinh cách tìm ý, lập dàn ý cho bài văn miêu tả
    Quá trình tìm ý gắn với lập dàn ý là một kĩ năng cực kì quan trọng. Trên thực
    tế trong khi làm bài, học sinh đã xác định được yêu cầu của đề, xác định được đối
    tượng, có vốn kiến thức thực tế, có vốn từ phong phú nhưng có thể các em chưa
    định hình được hướng đi cho bài viết. Nhiều em chưa có kĩ năng lập dàn ý. Các
    mảng cảnh sắp xếp lộn xộn, viết tràn lan, lạc đề, miêu tả không đúng trọng tâm. Vì
    PHIẾU QUAN SÁT
    Chủ đề: Viết đoạn mở bài cho bài văn tả cây cối
    1.Viết mở bài theo cách thông thường ta cần tả những gì?
    ………………………………………………………………………………………………………………….
    2.Ghi lại những gì bạn quan sát bằng các giác quan theo trình tự không gian.
    + Cây ta miêu tả là cây gì:………………………………………………………..
    + Trồng ở đâu:………………………………………………………………………..
    + Cây có từ bao giờ…………………………………………………………..……
    + Cảm nghĩ của mình dành cho cây:……………………………………………
    3. Trong những sự vật bạn quan sát được ở cây, bạn thích nhất đặc điểm nào? Bạn hãy
    miêu tả đặc điểm ấy bằng một câu văn có sử sụng các từ ngữ gợi tả hoặc sử dụng nghệ thuật
    so sánh hoặc nhân hóa.
    ………………………………………………………………………………………………………………………
    4. Hãy ghi lại cảm xúc của bạn khi được trực tiếp quan sát những đặc điểm của cái cây mà bạn sẽ
    miêu tả:
    …………………………………………………………………………………………………………………………….
    18
    thế, để giúp cho học sinh định hình được hướng đi của bài viết văn miêu tả, tôi đã
    hướng dẫn học sinh các bước tìm ý như sau:
    – Từ thực tế hướng dẫn học sinh tìm ý cho phù hợp với đối tượng miêu tả.
    – Sắp xếp các ý đó theo một trình tự hợp lí: trình tự không gian, trình tự thời
    gian, trình tự cảm xúc (đối với những học sinh có năng khiếu).
    – Hướng dẫn học sinh cách vận dụng dàn bài chung của bài văn miêu tả vào dàn
    bài riêng cho từng đối tượng miêu tả.
    – Giáo viên hướng dẫn học sinh xác định những mảng cảnh chính, dàn ý cơ bản
    của bài văn khi miêu tả một số đối tượng miêu tả tiêu biểu để HS có thể …
    Trong văn miêu tả ta thấy có một số đối tượng miêu tả cơ bản mà học sinh
    thường gặp đó là: các đồ dùng thân quen trong cuộc sống, những cây cối trong sân
    trường, trên dường đi học, hay những con vật nuôi gần gũi…Đề bài có thể yêu cầu
    các em miêu tả các đối tượng này ở những thời điểm khác nhau. Tuy nhiên, trên
    thực tế không phải bất cứ lúc nào giáo viên cũng có thể tổ chức cho học sinh quan
    sát đối tượng đó ở những thời điểm khác nhau và hướng dẫn học sinh làm bài cho
    phù hợp với các thời điểm đó. Vì vậy, việc hướng dẫn học sinh xác định được các
    mảng cảnh chính, quy luật biến đổi của các mảng cảnh từ đó có thể chủ động, sáng
    tạo, linh hoạt khi viết văn.
    Ví dụ: Tả cây phượng vào các thời điểm khác nhau trong năm. Tôi đã hướng dẫn
    HS các làm như sau:
    – Dựa vào kiến thức thu được sau trải nghiệm các em sẽ lập dàn ý cơ bản (dàn
    ý gồm các mảng cảnh chính )

    Dàn ý cơ bản
    1. Mở bài
    Nếu như ai hỏi em loài cây nào gắn liền với lứa tuổi học trò thì em không
    cần phải suy nghĩ nhiều mà có thể trả lời được luôn đó chính là cây hoa
    phượng. Những năm học qua cây giống như một người bạn đầy ấm áp và tin
    cậy đối với em.
    2. Thân bài

    19

    a. Tả bao quát :Từ xa nhìn lại cây phượng như một chiếc ô khổng lồ.
    b. Tả chi tiết:
    – Rễ cây : ăn sâu xuống lòng đất hút chất dinh dưỡng nuôi cây.
    – Gốc cây: Đến gần hơn ta dễ dàng có thể nhận thấy phần gốc cây to nổi lên
    trên mặt đất như một con trăn già nua. Trông xù xì vậy nó lại cùng với rễ vận
    chuyển chất dinh dường để nuôi cây lớn.
    – Thân cây: Thân cây với lớp vỏ xù xì, tay ta sờ vào ram ráp.Và nếu bạn
    vòng tay ôm thì có lẽ cả vòng tay của bạn chưa ôm xuể.
    – Lá cây: lá cây màu xanh non, mỗi chiếc lá chỉ nhỏ xíu như móng tay bé ơi
    là bé.
    – Hoa: mỗi cách hoa đỏ như những đốm lửa thắp sáng cả bầu trời. Khi hoa
    nở rộ người ta dường như quên đi rằng phượng đã từng có lá xanh.
    3. Kết bài
    Thật tuyệt vời khi được nhìn ngắm nhìn cây hoa phượng nở đỏ rực rỡ.
    Phượng làm cho các cô cậu học sinh lại náo nức đón chờ một mùa thi – một kì
    nghỉ sẽ bắt đầu.

    – Từ dàn ý cơ bản, tôi hướng dẫn HS quy luật biến đổi của các mảng cảnh đó
    :một số đặc điểm của các mảng cảnh chính không thây đổi nhưng một số đặc điểm
    của chúng lại thay đổi theo thời gian. VD: Phượng mùa hè lặng lẽ, khoe ra những
    chiếc tán to tròn, chào các cô cậu học trò bằng một màu hoa đỏ rực, mùa thu lá
    phượng chuyển dần sang màu vàng đỏ, lá phượng khẽ rơi hòa mình vào trong
    gió…Khi biết được quy luật thay đổi đó các em sẽ vận dụng được linh hoạt những
    kiến thức thu được từ trải nghiệm vào thực hiện các yêu cầu khác nhau của đề bài
    khi viết văn mà không phụ thuộc vào văn mẫu.
    2.3.2. Lựa chọn cách diễn đạt phù hợp với đối tượng miêu tả đồng thời bộc
    lộ được cái “tôi” của người viết
    – Trên cơ sở việc ghi ch p một cách vắn tắt, những từ cụm từ mang tính ngẫu
    hứng mà học sinh thu được , tôi đã hướng dẫn học sinh sử dụng các biện pháp tu từ
    như: sử dụng từ gợi tả, gợi cảm, so sánh, nhân hóa, điệp từ, đảo ngữ…. để viết
    những câu văn giàu hình ảnh, giàu cảm.
    20
    Ví dụ: Người ta có thể đứng lặng trong đêm để hít đến no nê mùi thơm nồng
    nàn quyến rũ của hoa giẻ.
    Những tia nắng ban mai tinh nghịch nô đùa trên nhứng tán lá cây.
    – Trên thực tế các bài viết của HS thường diễn đạt xuôi, sử dụng chủ yếu là
    kiểu câu kể nên việc diễn đạt đơn điệu, không gây bất ngờ hay tạo hứng thú cho
    người đọc. Vì vậy, tôi đã hướng dẫn HS cách phối hợp giữa các kiểu câu (câu kể
    với câu hỏi, câu khiến, câu cảm…) để làm phong phú trong cách diễn đạt, tạo sự
    mới lạ, đem lại cảm xúc cho người đọc.
    Ví dụ: Bạn Nguyễn Minh Châu khi miêu tả cây phượng đã viết:
    Hãy nhìn kìa! Trên vòm cây, một đóa hoa phượng thắm đang rung rinh trong
    nắng sớm.
    Hay khi miêu tả vườn hoa vào buổi sớm bạn Trần Hà Vy đã viết:
    Bạn hãy tiến lại gần, hãy gửi mùi hương dịu dàng, ngọt ngào ấy! Bạn sẽ cảm
    nhận được quyến rũ đến kì lạ của hoa hồng nhung.
    2.3.3. Rèn kĩ năng viết lời văn chuyển ý, liên kết đoạn khi làm bài
    Lời văn chuyển ý không nhiều nhưng có tác dụng rất lớn trong việc liên kết,
    liên hoàn mạch văn. Nó đánh giá sự kh o l o của các em khi miêu tả sự vật. Đồng
    thời tránh được việc liệt kê, kể lể. Tôi đã hướng dẫn học sinh những thủ thuật
    chuyển cảnh như sau:
    Các sự việc nhỏ được nối tiếp nhau một cách tự nhiên theo mô típ liên tục
    (các sự vật kề gần nhau theo tầm quan sát).
    Ví dụ: Cây bàng đứng ngay trước của lớp em. Mỗi buổi sớm đến lớp, nhìn
    thấy cây bàng, lòng ai cũng thấy ấm áp, thân thương.
    Chuyển ý nhờ những hình ảnh trung gian.
    Ví dụ: Bờ đê cao to vạm vỡ. Chân đê cỏ mọc thành thảm xanh tốt. Trâu bò
    thung thăng gặm cỏ, vểnh đôi tai nghe tiếng sáo trở về.
    Âm thanh ấy lúc trầm lúc bổng, hòa nhịp với tiếng chim họa mi lảnh lót rắc đều
    xuống mặt sông. Con sông quê tôi nằm uốn khúc giữa làng rồi chạy dài bất tận”…
    Chuyển ý bằng cách liên tưởng theo sự quan sát qua các giác quan khác nhau:
    Thính giác, thị giác, khứu giác, vị giác và bằng cả cảm giác nữa.
    21
    Ví dụ: Người ta có thể đứng lặng trong đêm hít hà đến no nê mùi hương quyến rũ
    ấy và cảm tạ đất trời đã tích tụ tinh hoa tạo nên những loài hoa kì diệu đến thế. Khẽ
    chạm vào cánh hoa vàng thẫm dịu dàng, ta như lạc vào một khung trời cổ tích…
    Với các phương pháp này, tôi cho học sinh tập viết, kết hợp với học tập tư liệu
    để có nhiều cách chuyển cuốn hút.
    2.3.4. Hướng dẫn học sinh viết những đoạn văn theo đề tài nhỏ
    Việc hướng dẫn học sinh viết những đoạn văn theo đề tài nhỏ là một việc làm
    cần thiết .Điều này giúp cho HS vận dụng những kiến thức mà mình đã thu được
    saumỗi tiết học để tạo thành những sản phẩm c

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Phát triển năng lực phân tích và đánh giá thẩm mỹ trong môn mĩ thuật lớp 5

    SKKN Phát triển năng lực phân tích và đánh giá thẩm mỹ trong môn mĩ thuật lớp 5

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Cơ sở lí luận:
    Trong cuộc sống của chúng ta, cái đẹp luôn tồn tại và là nhu cầu rất tự nhiên
    của con người. Trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Mĩ thuật (thuộc lĩnh
    vực giáo dục nghệ thuật) hình thành, phát triển cho học sinh năng lực thẩm mĩ,
    đồng thời góp phần cùng các môn học và hoạt động giáo dục khác hình thành, phát
    triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung, đặc biệt là giáo dục ý
    thức kế thừa, phát huy văn hoá nghệ thuật dân tộc phù hợp với sự phát triển của
    thời đại. Học Mĩ thuật sẽ giúp học sinh biết cảm thụ cái đẹp và biết làm ra cái đẹp
    thông qua các hoạt động trải nghiệm để khơi gợi và phát huy khiếu thẩm mĩ vốn có
    ở các em, tiến tới hình thành thị hiếu thẩm mĩ của riêng mình trong cuộc sống hàng
    ngày.
    2. Cơ sở t c t n
    Trong những năm gần đây, dạy học Mĩ thuật theo định hướng phát triển
    năng lực được áp dụng vào giảng dạy ở trường Tiểu học đã chứng tỏ tính ưu việt
    và hiệu quả, phù hợp với nhu cầu đổi mới về phương pháp dạy – học Mĩ thuật tiểu
    học ở Việt Nam hiện nay.
    Năm học 2020 – 2021 là năm học thứ sáu tiếp tục thực hiện dạy học Mĩ thuật
    theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh. Những quy trình mĩ thuật theo
    phương pháp mới đều hướng tới mục tiêu: lấy học sinh làm trung tâm; kích thích
    sự tương tác, tư duy sáng tạo và phát triển nhận thức, phát triển phẩm chất, năng
    lực người học. Nghiên cứu chương trình giáo dục phổ thông 2018 tôi thấy: Mục
    tiêu môn Mĩ thuật cấp Tiểu học là giúp học sinh bước đầu hình thành, phát triển
    năng lực mĩ thuật thông qua các hoạt động trải nghiệm; biết thể hiện cảm xúc, trí
    tưởng tượng về thế giới xung quanh, từ đó hình thành năng lực giao tiếp, hợp tác,
    giải quyết vấn đề và sáng tạo; bước đầu làm quen, tìm hiểu và cảm nhận vẻ đẹp
    của sản phẩm, tác phẩm nghệ thuật, hình thành năng lực tự chủ và tự học; góp
    phần hình thành các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách
    nhiệm. Bên cạnh yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực chung thì
    chương trình môn Mĩ thuật giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực đặc thù
    với các thành phần: quan sát và nhận thức thẩm mĩ, sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ,
    phân tích và đánh giá thẩm mĩ. Trong đó năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ là
    một phần quan trọng trong việc phát huy khiếu thẩm mĩ vốn có của học sinh.
    Thông qua hoạt động này, các em phát huy được khả năng tư duy sáng tạo độc lập
    theo cách nhìn, cách nghĩ bằng cảm xúc riêng của mình về đường nét, hình mảng,
    cách sắp xếp hình ảnh và màu sắc trong không gian. Có được năng lực phân tích
    đánh giá thẩm mĩ tốt học sinh sẽ dễ dàng nhận ra cái đẹp ở xung quanh.
    2
    Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy khả năng tương tác, sự chia sẻ, đánh giá
    sản phẩm học tập của học sinh còn hạn chế, ảnh hưởng tới sự hình thành các năng
    lực, phẩm chất của người học. Để khắc phục tình trạng đó và nâng cao chất lượng
    môn học, tôi đã thực hiện biện pháp: “Phát triển năng lực phân tích và đánh giá
    thẩm mĩ cho học sinh lớp 5”.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giả p áp trước khi tạo ra sáng kiến
    1.1. Th c trạng công tác dạy và học môn Mĩ t uật
    Thực hiện sự chỉ đạo của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Giao Thủy, từ
    ngày 01/10/2015, trường Tiểu học Giao Thanh tiến hành triển khai dạy học Mĩ
    thuật theo phương pháp Đan Mạch (Công văn 386/PGD&ĐT-TH). Năm học này,
    khối lớp 1 thực hiện dạy Mĩ thuật theo chương trình giáo dục phổ thông 2018, các
    khối 2, 3, 4 ,5 tiếp tục thực hiện theo phương pháp Đan Mạch. Phương pháp dạy
    học phát huy khả năng sáng tạo cao của học sinh, tiết học thoải mái, sinh động hơn,
    tạo cơ hội cho học sinh thực hành, ứng dụng trong học tập và cuộc sống. Với
    phương pháp dạy học phát triển năng lực, học sinh có hứng thú học tập tốt, mong
    chờ đến tiết học Mĩ Thuật để được tự do sáng tạo, khám phá những điều mới mẻ.
    Đối với những em học sinh chưa yêu thích môn Mĩ thuật, chưa tích cực trong các
    hoạt động sẽ có hứng thú hơn. Đối với học sinh có năng khiếu thì được bộc lộ khả
    năng của mình, qua đó tinh thần hợp tác nhóm trong môn Mĩ thuật và các môn học
    khác được nâng cao. Không những thế nó còn mang lại niềm vui, sự sáng tạo, lòng
    đam mê trong từng sản phẩm do chính tay các em và bạn làm ra.
    1.2. Khảo sát năng l c học sinh
    Tiến hành khảo sát mức độ hình thành ba năng lực đặc thù môn Mĩ Thuật
    của học sinh khối 5 cuối năm học 2018-2019. Kết quả như sau:

    Nội dung khảo sátTổng số học
    sinh Khối 5
    TốtĐạtCần cố gắng
    SL%SL%SL%SL%
    Năng lực quan sát và
    nhận thức thẩm mĩ
    901003033,36066,700
    Năng lực sáng tạo và
    ứng dụng thẩm mĩ
    901002831,16268,900
    Năng lực phân tích
    và đánh giá thẩm mĩ
    901001516,7728033,3

    Kết quả khảo sát năng lực đặc thù môn Mĩ thuật cuối năm học 2018-2019
    3
    * Ưu đ ểm:
    Bảng khảo sát trên cho thấy ưu điểm là: năng lực quan sát và nhận thức thẩm
    mĩ; năng lực sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ có 100% số học sinh được đánh giá ở
    mức Tốt và Đạt. Các em đều hiểu về các yếu tố tạo hình và biết tạo ra được sản
    phẩm đẹp.
    * Hạn c ế
    Bảng khảo sát trên cho thấy trong 3 năng lực đặc thù của môn Mĩ thuật thì
    năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ tỉ lệ học sinh đạt mức tốt còn thấp, chỉ
    chiếm 16,7%, vẫn còn có học sinh chưa hoàn thành.
    * Nguyên nhân ạn c ế:
    – Về học sinh: chưa xác định được nội dung đánh giá sản phẩm; chưa biết tự
    đánh giá sản phẩm của mình. Các em có thể biết thể hiện ý tưởng, chủ đề của mình
    qua sản phẩm bằng ngôn ngữ hội họa nhưng do năng lực ngôn ngữ còn hạn chế, kỹ
    năng thuyết trình chưa tốt nên còn lúng túng trong việc chia sẻ với bạn, nhóm bạn
    hoặc chưa nêu được cảm nhận về đối tượng thẩm mĩ ở mức độ đơn giản; chưa mô
    tả được một số yếu tố, dấu hiệu của nguyên lí tạo hình ở sản phẩm, màu sắc, bố
    cục, nội dung tranh, … Các em chỉ biết đánh giá bài của bạn đẹp hoặc chưa đẹp mà
    chưa biết được đẹp như thế nào, màu sắc, đường nét, cách sắp xếp có cân đối hợp
    lý không? Hoặc chưa đẹp vì sao? Nhiều em nhút nhát, tự ti ngại phân tích, đánh
    giá. Bên cạnh đó, học sinh lớp 5 trường tôi sống ở vùng nông thôn, ít được tiếp cận
    với triển lãm hội họa. Các em ít được tham gia trải nghiệm, chưa được quan sát vẻ
    đẹp thực tế của các tác phẩm hội họa nổi tiếng, sản phẩm thực của các nghệ nhân,
    nghệ sĩ điều đó cũng ảnh hưởng đến việc hình thành năng lực phân tích và đánh giá
    thẩm mĩ.
    – Về phía giáo viên: giai đoạn đầu, giáo viên tập trung việc hình thành năng
    lực quan sát và nhận thức thẩm mĩ, sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ. Giáo viên chưa
    phân bố được thời gian hợp lý giữa các hoạt động, còn chú ý nhiều đến việc hướng
    dẫn học sinh cách tạo ra và thực hành làm sản phẩm, thời gian dành cho hoạt động
    trưng bày và giới thiệu sản phẩm còn ít, do đó chưa phát triển năng lực phân tích
    và đánh giá thẩm mĩ cho học sinh. Giáo viên chưa xây dựng được bộ tiêu chí đánh
    giá cho từng chủ đề, bài học; chưa tạo động lực và cơ hội để học sinh tự đánh giá
    sản phẩm của mình, đánh giá sản phẩm của bạn, nhóm bạn. Giáo viên chưa rèn kĩ
    năng chia sẻ về ý tưởng sản phẩm cũng như kĩ năng thuyết trình về sản phẩm của
    cá nhân, sản phẩm của nhóm.
    – Về phía nhà trường: chưa có nhiều những buổi giao lưu để cho học sinh tự
    lên diễn đàn tự nói chuyện, tự thuyết minh, thuyết trình, chưa tạo nhiều cơ hội cho
    học sinh đi trải nghiệm tham quan thực tế.
    4
    – Về phía phụ huynh: nhiều phụ huynh chỉ quan tâm đến các môn văn hóa,
    chưa hiểu được tầm quan trọng của giáo dục nghệ thuật nói chung, mĩ thuật nói
    riêng trong thực tiễn cuộc sống. Họ cho rằng đây là môn phụ, không cần thiết nên
    chưa tham gia đánh giá sản phẩm cùng con, chưa phối hợp với giáo viên để hình
    thành năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ cho các em.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1. Tên giải pháp: “Phát triển năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ
    trong môn Mĩ thuật lớp 5”.
    2.2. Mục đíc , ý ng ĩa, s cần t ết của g ả p áp
    2.2.1. Mục đích:
    – Về phân tích thẩm mĩ: Giúp học sinh:
    + Biết chia sẻ, cảm nhận về đối tượng thẩm mĩ ở mức độ đơn giản.
    + Biết tìm hiểu tác giả, sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật.
    + Mô tả được một số yếu tố, dấu hiệu của nguyên lí tạo hình ở sản phẩm, tác
    phẩm mĩ thuật trong thực hành, thảo luận và liên hệ thực tiễn.
    – Về đánh giá thẩm mĩ: Giúp học sinh bước đầu:
    + Đánh giá được đối tượng thẩm mĩ thông qua một số yếu tố tạo hình.
    + Học hỏi được kinh nghiệm thực hành sáng tạo thông qua đánh giá đối
    tượng thẩm mĩ.
    2.2.2. Ý nghĩa:
    Phát triển năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ cho học sinh lớp 5 có ý
    nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển năng lực của người học theo mục tiêu
    môn Mĩ thuật chương trình giáo dục phổ thông mới.
    2.2.3. Sự cần thiết của biện pháp trong công tác giảng dạy môn Mĩ thuật:
    Năm học 2021 – 2022, học sinh lớp 6 sẽ học theo CT GDPT 2018. Do đó,
    chúng ta cần chuẩn bị tâm thế và phẩm chất, năng lực cần thiết khác để học sinh
    lớp 5 sẽ được làm quen và đáp ứng được chuẩn đầu vào của lớp 6 theo CT GDPT
    2018. Để chất lượng đầu ra của lớp 5 phù hợp với chương trình lớp 6 CT GDPT
    2018 thì biện pháp phát triển năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ là trong môn
    mĩ thuật lớp 5 là vô cùng cần thiết thể hiện tính kết nối phù hợp, “đi trước đón
    đầu” hiệu quả.
    2.3. Nội dung giải pháp:
    2.3.1. Giải pháp 1: Rèn kĩ năng xác định nội dung đánh giá cho học sinh.
    5
    2.3.1.1. Mục tiêu: Giúp học sinh xác định nội dung đánh giá (các yếu tố và
    nguyên lí tạo hình).
    2.3.1.2. Cách tiến hành:
    – Hướng dẫn học sinh nắm chắc cách đánh giá sản phẩm mĩ thuật bằng cách
    vẽ sơ đồ theo sở thích, dán ở góc học tập, ở nhà, ở lớp để học sinh nhớ, sử dụng
    trong tất cả các tiết trưng bày, giới thiệu sản phẩm. Nội dung sơ đồ thể hiện được:
    Hình ảnh (Đa dạng, phong phú…; Đường nét, hình khối..; Phù hợp chủ đề…)
    Bố cục (cách sắp xếp hình mảng, tạo ra sự tương quan, hòa hợp cả về màu
    sắc, nhịp điệu và sự cân bằng, nhấn mạnh trọng tâm của sản phẩm).
    Màu sắc (tương quan đậm nhạt, cách tô màu).
    2.3.2. Giải pháp 2: Rèn kĩ năng phân tích, đánh giá sản phẩm:
    2.3.2.1. Mục tiêu:
    Giúp học sinh nắm được phương pháp đánh giá, có kỹ năng tự đánh giá về
    sản phẩm của mình, biết nhận xét cách thể hiện các yếu tố, nguyên lý tạo hình trên
    sản phẩm của bạn, nhóm bạn.
    2.3.2.2. Cách tiến hành:
    * Rèn kĩ năng t đán g á
    – Giáo viên dựa vào mục tiêu và yêu cầu cần đạt của mỗi chủ đề, lập bản
    “hợp đồng học tập môn Mĩ thuật”, phát cho tất cả học sinh ngay từ đầu tiết học.
    – Học sinh tự đánh giá, ghi dấu x vào ô tương ứng trong bản hợp đồng sau
    khi hoàn thành sản phẩm.
    HỢP ĐỒNG HỌC TẬP MÔN MĨ THUẬT
    HS:……………………………………………… Lớp: ……………………………
    Thời gian: tiết học……., ngày………. tháng………………. năm ……………………………………..

    Nhiệm vụ bắt buộc
    Nội dungTự đánh giá sau khi hoàn thành nhiệm vụ bằng các
    đánh dấu (x) vào ô tương ứng
    GV
    đánh
    giá
    Sự
    hỗ
    trợ
    Cùng bạn
    để hoàn
    thành
    Vượt thời
    gian cho
    nhiệm vụ
    Hứng thú
    với nhiệm
    vụ
    Hoàn
    thành tốt
    nhiệm vụ
    Theo mục tiêu và yêu
    cầu cần đạt của mỗi
    chủ đề.

    6

    Nhiệm vụ t chọn
    1. Bố cục … (tiêu chí
    giáo viên đưa ra phù
    hợp với từng chủ đề)
    2. Màu sắc ….. (tiêu
    chí giáo viên đưa ra
    phù hợp với từng chủ
    đề)
    3. Đường nét…(tiêu
    chí giáo viên đưa ra
    phù hợp với từng chủ
    đề)

    * Rèn kĩ năng c a sẻ ý tưởng về sản p ẩm.
    – Giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi gợi ý để học sinh chia sẻ nhóm đôi,
    nhóm bốn, chia sẻ trước lớp:
    + Đây là sản phẩm của mình, mình đã dùng chất liệu … để tạo ra nó.
    + Với chủ đề …, mình chọn hình ảnh chính của sản phẩm là….
    + Để sản phẩm đẹp, mình thêm hình ảnh phụ là …
    + Mình đã dùng màu … để vẽ các chi tiết.
    + Bạn thấy sản phẩm của mình như thế nào?
    + Theo bạn mình cần làm gì để sản phẩm của mình đẹp hơn?
    – Giáo viên yêu cầu học sinh về nhà chia sẻ về sản phẩm của mình với người
    thân, mọi người xung quanh.
    – Phối hợp với phụ huynh học sinh, phụ huynh sẽ đồng hành cùng nhà
    trường trong việc đánh giá sản phẩm của con mình: Những học sinh chưa làm xong
    sản phẩm ở lớp giáo viên cho các em về nhà hoàn thiện tự đánh giá vào phiếu đánh
    giá ở nhà. Giờ học sau, báo cáo với trưởng ban học tập.
    – Giáo viên động viên kịp thời khi học sinh mạnh dạn chia sẻ bằng nhiều
    hình thức khác nhau như tặng sao hoặc những bông hoa…
    * Rèn kĩ năng t uyết trìn
    – Hướng dẫn học xác định nội dung thuyết trình bằng hệ thống câu hỏi gợi ý:
    + Nội dung chủ đề là gì?
    + Nhóm em đã sử dụng chất liệu gì để thể hiện sản phẩm?
    + Sản phẩm của nhóm em có những hình ảnh gì?
    + Hình ảnh nào là chính, hình ảnh nào là phụ?
    + Nhóm em đã sắp xếp như thế nào để thể hiện nội dung chủ đề?
    + Thông điệp mà nhóm muốn truyền đạt là gì?
    7
    – Học sinh chia sẻ nhóm đôi, nhóm lớn về nội dung thuyết trình
    – Rèn luyện phong thái tự tin, thái độ biểu cảm: Giáo viên yêu cầu học sinh
    tập thuyết trình nhóm đôi, nhóm lớn. Giáo viên động viên, khuyến khích, hướng
    dẫn các em thể hiện ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ, giọng nói khi thuyết trình.
    – Thường xuyên gọi những học sinh rụt rè, nhút nhát lên thuyết trình để các
    em quen dần.
    2.3.3. Giải pháp 3: Tạo động lực và cơ hội đánh giá cho học sinh.
    2.3.3.1. Mục tiêu:
    – Giúp học sinh có thái độ đúng đắn khi tham gia phân tích đánh giá sản
    phẩm để tạo hứng thú cho cho các em.
    – Giúp giáo viên phân bố thời gian hợp lý; tổ chức đa dạng các hình thức
    trưng bày để học sinh thường xuyên được tham gia phân tích, đánh giá sản phẩm.
    – Tạo cơ hội cho học sinh được tham gia phân tích đánh giá thẩm mĩ thông
    qua các hoạt động trải nghiệm trong và ngoài nhà trường.
    2.3.3.2. Cách thực hiện:
    * Tạo động l c và hứng thú k trưng bày và g ới thiệu sản phẩm
    – Đối với học sinh:
    + Đề cao thành quả lao động sáng tạo của bạn. Tìm ra ưu điểm trong sản
    phẩm của cá nhân bạn, nhóm bạn để bày tỏ sự thích thú.
    + Không chê bai hoặc so sánh sản phẩm của cá nhân này với sản phẩm cá
    nhân khác; sản phẩm nhóm này với sản phẩm nhóm khác.
    + Chia sẻ ý tưởng góp ý của mình để sản phẩm đẹp hơn, khi đánh giá nên
    dùng từ ngữ có tính động viên thúc đẩy bạn cố gắng.
    + Thể hiện thái độ cởi mở, vui vẻ khi chia sẻ trước lớp.
    – Đối với giáo viên:
    + Hướng dẫn học sinh cách giới thiệu sản phẩm
    + Dành thời gian hợp lý cho hoạt động trưng bày sản phẩm
    + Hình thức thuyết trình sản phẩm đa dạng, phong phú:
    + Khen thưởng động viên học sinh kịp thời:
    Những học sinh giới thiệu sản phẩm hấp dẫn, độc đáo được giáo viên thưởng
    sao (*). Khi đánh giá định kì giữa kì I, cuối kì I, giữa kì II… giáo viên sẽ biểu
    dương những học sinh đạt nhiều sao (*).
    8
    * Tạo cơ ội cho học sinh giới thiệu sản phẩm, đán g á thẩm mĩ
    – Giáo viên phối hợp với ban giám hiệu nhà trường, tổ chức “Ngày hội Triển
    lãm các sản phẩm mĩ thuật”; “Ngày hội STEM”; “Biểu diễn thời trang”…. tạo cơ
    hội cho học sinh tham gia tích cực vào hoạt động giơi thiệu và đánh giá sản phẩm.
    Với giải pháp này, học sinh có cơ hội được vận dụng kiến thức đã học vào thực tế,
    rèn luyện thêm khả năng cảm thụ thẩm mĩ.
    – Sưu tầm các tác phẩm nổi tiếng trên mạng Internet để học sinh phân tích,
    đánh giá.
    2.4. Th c nghiệm sư p ạm
    Để tiến hành thực nghiệm kiểm chứng lại tính khả thi và hiệu quả của việc
    vận dụng biện pháp “Phát triển năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ cho học
    sinh lớp 5”, tôi chọn ra hai lớp: lớp 5A (gồm 30 học sinh) để thực nghiệm; lớp 5B
    (gồm 30 học sinh) để đối chứng.
    Hai lớp này cùng do tôi dạy. Ở lớp thực nghiệm, tôi vận dụng các biện pháp
    phát triển năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ, còn lớp đối chứng thì không.
    Hình thức thực nghiệm: thông qua hoạt động tổ chức trưng bày, giới thiệu và
    đánh giá sản phẩm.
    – Thời gian thực nghiệm: từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 7 năm 2020.
    – Địa điểm thực nghiệm: tại lớp 5A trường Tiểu học Giao Thanh.
    – Việc tổ chức thực nghiệm được tiến hành theo 3 giai đoạn: chuẩn bị thực
    nghiệm, tiến hành thực nghiệm, đánh giá kết quả sau thực nghiệm.
    * Giai đoạn 1: Chuẩn bị thực nghiệm
    Trước khi thực nghiệm, tôi tiến hành khảo sát về năng lực phân tích và đánh
    giá thẩm mĩ của học sinh lớp 5A (lớp thực nghiệm) và lớp 5B (lớp đối chứng), kết
    quả khảo sát như sau:

    Lớp
    Mức độ
    Lớp thực nghiệm (5A: 30 HS)Lớp đối chứng (5B: 30 HS)
    SL%SL%
    Tốt9301033.4
    Đạt2066.71963.3
    Cần cố gắng13.313.3

    Bảng 1: Thống kê về năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ của học sinh
    lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (thời điểm tháng 9 năm 2019)
    9
    Theo thống kê bảng 1 cho thấy về năng lực phân tích và đánh giá sản phẩm
    của 2 lớp là tương đương nhau.
    Sau khi khảo sát về năng lực phân tích và đánh giá sản phẩm của 2 lớp trên,
    tôi bắt đầu áp dụng các biện pháp đã nêu vào các tiết dạy mĩ thuật của lớp 5A.
    * Giai đoạn 2: Tiến hành thực nghiệm:
    Thực nghiệm giải pháp 1:
    Cho học sinh ghi nhớ nội dung đánh giá sản phẩm bằng cách cho các em tự
    vẽ sơ đồ theo sở thích.
    Ví dụ: Sơ đồ cây về nội dung đánh giá
    Với sơ đồ này, học sinh cùng nhau trang trí trong lớp để quan sát hàng ngày,
    giúp các em hình thành thành thói quen sử dụng trong nhiều tiết học, hình thành
    thói quen đánh giá trước một sản phẩm, tác phẩm.
    10
    Ví dụ 2: Các mẫu sơ đồ nội dung đánh giá học sinh treo ở góc học tập ở nhà
    11
    Thực nghiệm giải pháp 2:
    – Chủ đề 1: Chân dung tự họa – Mĩ thuật 5 (Trang 29):
    Sau khi học sinh đã hoàn thiện sản phẩm, tôi yêu cầu các em làm theo các
    bước sau:
    Bước 1: Học sinh tự đánh giá về sản phẩm của mình
    Bước 2: Chia sẻ ý tưởng về sản phẩm theo khung câu hỏi gợi ý:
    + Đây là sản phẩm của mình. Mình vẽ về …
    + Mình vẽ phác hình khuôn mặt … và các bộ phận như: mắt…, mũi,…
    + Mình dùng màu … để vẽ mái tóc, màu… để vẽ môi,…
    + Bạn thấy nhân vật trong tranh có giống với…?
    + Nhân vật trong tranh đang thể hiện cảm xúc gì?
    + Bạn thích nhất điều gì ở sản phẩm của mình?
    + Mình phải làm gì để sản phẩm của mình tuyệt vời hơn?
    Bước 3: Thuyết trình trước lớp:
    Gọi một vài học sinh xung phong lên thuyết trình về sản phẩm của mình.
    Sau đó, tạo cơ hội cho 01 học sinh có năng lực ở mức cần cố gắng trong lần khảo
    sát trước khi thực nghiệm lên trình bày. Nếu học sinh này không trình bày được,
    giáo viên đưa khung câu hỏi gợi ý thuyết trình và yêu cầu học sinh về nhà dựa vào
    những câu hỏi này tập thuyết trình cho người thân nghe. Giờ sau, các em sẽ báo
    cáo với cô giáo.
    Bước 4: Học sinh đánh giá sản phẩm của bạn:
    Nếu học sinh gặp khó khăn trong quá trình phân tích, nhận xét đánh giá sản
    phẩm của bạn thì tôi cho các em tham khảo gợi ý “sơ đồ cây”
    – Với các chủ đề tiếp theo, tôi thực hiện tương tự và cứ sau 3 chủ đề, tôi lại
    khảo sát lại để kiểm chứng kết quả nhằm khẳng định tính đúng

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Biện pháp tổ chức các hoạt động trải nghiệm nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong môn Mĩ thuật

    SKKN Biện pháp tổ chức các hoạt động trải nghiệm nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong môn Mĩ thuật

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
    Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có
    đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng
    độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm
    chất và năng lực của công dân; phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo
    của mỗi cá nhân đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và
    yêu cầu hội nhập quốc tế. Để thực hiện mục tiêu đó, Đảng và nhà nước ta luôn
    coi trọng đầu tư cho giáo dục, xem giáo dục là “quốc sách hàng đầu” cho sự
    phát triển bền vững và lâu dài của đất nước.
    Đối với môn học Mĩ thuật ở trường tiểu học, mục tiêu của dạy – học chính
    là giáo dục thẩm mĩ, tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc làm quen, cảm nhận
    được vẻ đẹp của thiên nhiên, đời sống và của các sản phẩm Mĩ thuật; cung cấp
    cho học sinh những hiểu biết ban đầu về môn Mĩ thuật, hình thành và củng cố
    các kĩ năng cần thiết để học sinh hoàn thành bài tập trong chương trình; bồi
    dưỡng năng lực quan sát, phân tích, phát triển trí tuệ, phát huy trí tưởng tượng,
    sáng tạo, góp phần hình thành nhân cách người lao động mới; phát hiện và bồi
    dưỡng năng khiếu Mĩ thuật của học sinh; góp phần tạo dựng môi trường thẩm
    mĩ cho xã hội.
    Bên cạnh đó, chương trình giáo dục phổ thông mới chính thức đưa hoạt
    động trải nghiệm trở thành hoạt động giáo dục bắt buộc của cấp tiểu học, giúp
    các em tiếp cận thực tế, khai thác kinh nghiệm đã có, huy động kiến thức, kĩ
    năng để giải quyết các vấn đề thực tiễn của bản thân. Vưgốtxki – Nhà tâm lí học
    nổi tiếng thế giới từng nói: “Tâm lí hình thành thông qua hoạt động”. Điều này
    có nghĩa là: chỉ thông qua hoạt động của chính bản thân con người thì bản chất
    người và nhân cách người đó mới hình thành và phát triển. Con người tự lực
    hoạt động mới biết kiến thức, kinh nghiệm xã hội tích lũy thành tri thức bản
    thân. Mục tiêu của nhà trường chính là giúp người học tự lực học tập, giáo dục
    cho học sinh biết tự giáo dục. Điều đó cho thấy mối quan hệ mật thiết giữa hoạt
    động trải nghiệm và hoạt động giáo dục các lĩnh vực khác, đặc biệt là đối với
    giáo dục Mĩ thuật trong trường tiểu học hiện nay.
    Đó cũng chính là động lực lớn để tôi tìm tòi và viết “Biện pháp tổ chức
    các hoạt động trải nghiệm nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong môn Mĩ
    thuật”.
    2
    II- MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    II.1. MÔ TẢ GIẢI PHÁP TRƯỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN
    1.1. Thực trạng
    1.1.1. Thuận lợi
    * Về phía giáo viên:
    – Giáo viên Mĩ thuật luôn được sự quan tâm, tạo điều kiện của các ngành
    cấp trên khi tham gia các buổi tập huấn dạy Mĩ thuật theo định hướng phát triển
    năng lực, vận dụng phương pháp mới của Dự án Hỗ trợ Giáo dục Mĩ thuật Tiểu
    học do Vương quốc Đan Mạch tài trợ.
    – Cơ sở vật chất và thiết bị phục vụ cho việc học tập của nhà trường khang
    trang, sạch đẹp, tương đối đầy đủ.
    – Ban giám hiệu nhà trường năng động, sáng tạo trong công tác chuyên
    môn và đặc biệt cũng rất quan tâm tới bộ môn Mĩ thuật Đan Mạch, thường
    xuyên động viên, khuyến khích giáo viên áp dụng phương pháp mới vào giảng
    dạy, luôn tạo mọi điều kiện để giáo viên an tâm công tác và thực hiện tốt nhiệm
    vụ được giao.
    – Đã nhiều năm thực hiện dạy và học Mĩ thuật theo định hướng phát triển
    năng lực, vận dụng phương pháp mới của Dự án Hỗ trợ Giáo dục Mĩ thuật Tiểu
    học do Vương quốc Đan Mạch tài trợ nên nhận thức của giáo viên, phụ huynh
    học sinh và cộng đồng đã thay đổi theo chiều hướng tích cực.
    – Nhà trường có một số đồ dùng cần thiết cho việc giảng dạy Mĩ thuật cho
    học sinh như: bộ đồ dùng dạy học các phân môn từ lớp 1 đến lớp 5, sách tham
    khảo, một số tranh ảnh có liên quan đến bài học, …
    – Đội ngũ giáo viên trường có tay nghề vững, lâu năm trong công tác, có
    nhiều kinh nghiệm, có ý thức tốt về trách nhiệm người giáo viên và sẵn sàng
    giúp đỡ đồng nghiệp về chuyên môn cũng như giúp nhau tháo gỡ những khó
    khăn.
    * Về phía học sinh:
    – Các em đa số ngoan và rất yêu thích môn học vì Mĩ thuật là một môn
    học không gò bó, không có nhiều áp lực, dễ khích lệ động viên, khen thưởng.
    – Có được sự quan tâm về việc học tập của con em mình của một số phụ
    huynh có ý thức trách nhiệm. Đã phối hợp với giáo viên bộ môn chuẩn bị đầy đủ
    sách vở, đồ dùng học tập, thường xuyên nhắc nhở và tạo điều kiện tốt cho con
    em mình học tập Mĩ thuật ở trên lớp cũng như ở nhà.
    – Trong các hoạt động Mĩ thuật, mỗi chủ đề thường nối tiếp liền mạch
    nhau, làm cho học sinh luôn cảm thấy hào hứng khi được khám phá, sáng tạo
    3
    với nhiều trải nghiệm. Mặt khác, các em được thỏa thích với những sáng tạo,
    được trao đổi, học hỏi từ bạn rất nhiều. Thông qua hoạt động Mĩ thuật thực tế,
    học sinh tự mình làm tích lũy được cách biểu đạt, phân tích, đánh giá, tự lựa
    chọn và nhận thức để hình thành, phát triển những năng lực cá nhân. Chính bản
    thân các em sẽ tự tin trình bày những ý kiến cá nhân trước tập thể.
    1.1.2. Khó khăn:
    * Về nhận thức:
    – Từ phía cộng đồng: Mặc dù đã tương đối nhiều năm nhà trường triển
    khai thực hiện phương pháp dạy học Mĩ thuật theo định hướng phát triển năng
    lực, vận dụng phương pháp mới của Dự án Hỗ trợ Giáo dục Mĩ thuật Tiểu học
    do Vương quốc Đan Mạch tài trợ, nhiều phụ huynh đã nhận thấy mặt tích cực
    của bộ môn này nhưng vẫn còn một số bậc phụ huynh thiếu sự quan tâm học tập
    cho học sinh, còn chưa coi trọng môn học Mĩ thuật… Điều đó ảnh hưởng trực
    tiếp đến chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh gây cho học sinh cảm
    giác chán nản, chưa tự tin khi học bài.
    – Phụ huynh của các em chưa quen với phương pháp mới nên còn lúng
    túng trong việc giúp đỡ con em thực hành ứng dụng sáng tạo ở nhà. Nhiều học
    sinh có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, phụ huynh đi làm ăn xa không có
    điều kiện chăm sóc và dạy bảo các em, không mua đủ đồ dùng học tập nên ảnh
    hưởng không nhỏ tới kết quả học tập của các em.
    * Về phía giáo viên:
    – Trường tiểu học Phúc Thắng có số học sinh đông nên trang thiết bị, cơ
    sở vật chất phục vụ môn học chưa đủ đáp ứng nhu cầu cho dạy – học bộ môn Mĩ
    thuật.
    – Đối với phương pháp mới này đồ dùng dạy học cho giáo viên là không
    có sẵn, hầu hết giáo viên phải tự chuẩn bị vật mẫu cho giáo viên và học sinh,
    phương tiện, đồ dùng trực quan… vì thế cũng phần nào ảnh hưởng đến kết quả
    học tập và giảng dạy của giáo viên và học sinh.
    – Số buổi do Phòng Giáo dục và Đào tạo Huyện tổ chức tập huấn để giáo
    viên Mĩ thuật thực hiện dạy chuyên đề, trao đổi chuyên môn, rút kinh nghiệm để
    giáo viên nắm vững thêm về phương pháp mới chưa được nhiều nên hiệu quả
    dạy – học chưa cao.
    – Sự kết nối và chia sẻ giữa các giáo viên chuyên Mĩ thuật trong toàn
    huyện chưa nhiều nên hoạt động Mĩ thuật chưa thật sự nổi bật.
    * Về phía học sinh:
    4
    – Còn một số học sinh tỏ thái độ thờ ơ với môn học vì thực tế đời sống
    còn khó khăn, hầu hết là con em nông thôn, cha mẹ làm nghề tự do không ổn
    định nên điều kiện để phụ huynh tập trung đầu tư cho học tập của các em còn
    hạn chế, điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến tinh thần học tập của các em.
    – Khả năng giao tiếp giữa học sinh với giáo viên, giữa học sinh với học
    sinh còn hạn chế, chỉ có một số học sinh khá giỏi mạnh dạn tham gia còn học
    sinh nhút nhát thì thu mình ngại tham gia vào các hoạt động nhóm, hoạt động
    thuyết trình, chia sẻ bài vẽ của mình trước lớp.
    – Trình độ học sinh trong các lớp, các khối lớp không đồng đều. Bên cạnh
    những em phát triển, học tốt, tiếp thu nhanh vẫn còn một số em nhận thức chậm,
    hoạt động chậm hơn.
    – Trong chương trình học Mĩ thuật theo dự án Đan Mạch gồm nhiều quy
    trình học khác nhau. Các chủ đề bài học chủ yếu phát huy khả năng tự học, tự
    tìm tòi, sáng tạo của học sinh. Các em phải chuẩn bị rất nhiều đồ dùng học tập
    như: giấy A0, A4, giấy bồi, kẽm, băng keo, hộp giấy, vật dụng tìm được để tái
    chế. Điều này rất khó khăn cho cả giáo viên và học sinh, vì bản thân các em
    chưa thể tự chuẩn bị được mà phải có sự hỗ trợ từ phía phụ huynh.
    Trước tình trạng chung của các em học sinh, tôi rất băn khoăn trăn trở làm
    thế nào để việc dạy và học Mĩ thuật theo định hướng phát triển năng lực, vận
    dụng phương pháp mới của Dự án Hỗ trợ Giáo dục Mĩ thuật Tiểu học do Vương
    quốc Đan Mạch tài trợ được triển khai, áp dụng và đạt được kết quả tốt nhất. Vì
    vậy tôi thấy rằng, cần phải có những biện pháp để nâng cao hiệu quả dạy và học
    môn Mĩ thuật ở Tiểu học theo phương pháp Đan Mạch nhằm cải thiện tình trạng
    đã nêu trên.
    II.2. MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI TẠO RA SÁNG KIẾN
    Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà
    nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi
    trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.
    Sự phát triển kinh tế – xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu
    cầu mới đối với tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục bởi giáo dục là
    đào tạo con người, là phát triển nhân cách học sinh một cách toàn diện. Một
    trong những môn học góp phần không nhỏ đến việc phát triển toàn diện học sinh
    trong trường tiểu học đó là môn Mĩ Thuật.
    Môn học Mĩ Thuật trong nhà trường tiểu học không nhằm đào tạo các em
    trở thành hoạ sĩ mà nhằm phát huy khiếu thẩm mĩ vốn có ở trẻ, gây hứng thú cho
    các em trước cái đẹp tiến tới hình thành thị hiếu thẩm mĩ của riêng mình trong
    cuộc sống hằng ngày.
    5
    Như chúng ta đã biết, hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục do giáo
    viên định hướng thiết kế và hướng dẫn thực hiện; tạo cơ hội cho học sinh tiếp
    cận thực tế, thể hiện những cảm xúc tích cực về thế giới xung quanh. Trong môn
    Mĩ thuật các em sẽ được phát triển phẩm chất, năng lực cần đạt; đồng thời phát
    huy tư duy sáng tạo, trí tưởng tượng và có cơ hội chia sẻ về sở thích, ước mơ
    của bản thân. Dạy học Mĩ Thuật trong nhà trường giúp học sinh có những kiến
    thức, kĩ năng cơ bản về vẽ hình, vẽ màu, tạo hình, điêu khắc và nghệ thuật
    không gian. Thông qua các hoạt động trải nghiệm, học sinh học cách sáng tạo,
    biểu đạt bản thân, có những hiểu biết cơ bản, cảm nhận được vẻ đẹp, đánh giá
    được sản phẩm Mĩ Thuật. Bên cạnh đó, một trong những quan điểm đổi mới của
    các môn học trong chương trình giáo dục tổng thể là tích cực hóa hoạt động của
    người học, trong đó giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động cho
    học sinh, tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn để để
    khuyến khích học sinh tích cực, tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát
    triển năng lực, nguyện vọng của bản thân, rèn luyện thói quen và khả năng tự
    học, phát huy tiềm năng và những kiến thức, kĩ năng đã tích lũy được để phát
    triển. Các hoạt động học tập nói trên được tổ chức trong và ngoài khuôn viên
    nhà trường, trong và ngoài lớp thông qua một số hình thức như: trò chơi, thực
    hiện bài tập, đóng vai, tham quan, sinh hoạt tập thể, hoạt động phục vụ cộng
    đồng,… Mỗi một giây phút các em trải nghiệm trong các hoạt động như vậy
    chính là những khoảnh khắc đáng nhớ và hữu ích, theo suốt cuộc đời các e. Đối
    với các hoạt động của bộ môn Mĩ thuật trong trường tiểu học cũng vậy. Thông
    qua việc dạy và học Mĩ thuật theo chương trình trường tiểu học mới Việt Nam,
    các em cảm nhận được cái hay, cái đẹp thể hiện từ nội dung cho đến hình thức
    mỗi khi các em thực hiện một chủ đề; thể hiện những gì mình mơ ước, mình yêu
    thích, biết vận dụng bài học vào thực tế như: trang trí những vật dụng cá nhân:
    sách, vở và cả góc học tập của mình,… góp phần rèn luyện cho học sinh các thao
    tác tư duy, cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về Mĩ thuật, ngoài ra,
    giúp các em hào hứng hơn trong môn học, giảm căng thẳng trong các buổi học.
    Bản thân giáo viên cũng ngày một thoải mái và phát huy tính sáng tạo hơn.
    Chính vì vậy, ngay từ đầu năm học, tôi đã đề ra “Biện pháp tổ chức các
    hoạt động trải nghiệm nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong môn Mĩ
    thuật” ở trường tiểu học với các nội dung cụ thể như sau:
    2.1. Thứ nhất: Tăng cường trải nghiệm môn học với các tiết học trong và
    ngoài không gian lớp.
    2.1.1 Các hoạt động trải nghiệm trong không gian lớp học.
    Hiện nay, trong hệ thống các môn học ở trường phổ thông nói chung, ở
    tiểu học nói riêng, môn Mĩ thuật giúp các em sử dụng ngôn ngữ tạo hình thông
    qua hoạt động trải nghiệm để biểu đạt thái độ, cảm xúc, sự tưởng tượng và kiến
    thức của bản thân về thế giới xung quanh. Các năng lực của học sinh được hình
    thành qua các kênh học tập, các giác quan khác nhau như: Nói chuyện, nghe,
    thảo luận (qua thính giác); thông qua quan sát đồ vật, hình ảnh (qua thị giác);
    6
    thông qua hoạt động và làm việc bằng tay trong những hoạt động thực tế (qua
    xúc giác); thông qua hoạt động sử dụng các động tác cơ thể trong những tình
    huống cụ thể (qua ngôn ngữ hình thể). Thời gian dành cho các hoạt động của
    môn học được tổ chức trong lớp học lại chiếm thời lượng tương đối nhiều nên
    bản thân tôi đã tích cực tăng cường và đổi mới các trải nghiệm mĩ thuật trong
    lớp học nhằm kích thích hứng thú và sự hiệu quả, sáng tạo ở các chủ đề, trong
    từng hoạt động của các chủ đề.
    * Hoạt động khởi động:
    Đây là hoạt động quan trọng nhằm tạo hứng thú cho các em trong mỗi giờ
    học. Nhưng hoạt động khởi động sẽ trở nên ý nghĩa hơn khi được kết hợp với
    những “thông điệp” kiến thức được khéo léo gửi gắm vào các trò chơi.
     Ví dụ:
    Chủ đề “Em sáng tạo cùng những con chữ” – Mĩ thuật lớp 4, tôi tổ chức
    trò chơi “Sáng tạo cùng con chữ” (Sử dụng sản phẩm thực hành của học sinh
    lớp 3: chủ đề “Những chữ cái đáng yêu”).
    – Mục tiêu: Giúp học sinh sử dụng vốn kiến thức học sinh đã hiểu về bảng
    chữ cái với các kiểu chữ: chữ thường, chữ in hoa, chữ in thường, chữ nét đều,
    chữ nét thanh, chữ nét đậm,… để ghép thành từ có nghĩa.
    – Chuẩn bị: Giáo viên chuẩn bị các con chữ, dấu thanh, tranh nền hình ảnh
    như: chiếc lá, ngôi sao, đám mây, trái tim,…
    – Luật chơi: Học sinh chọn chữ cái ghép thành tên nhóm của mình (được
    trang trí trên nền có sẵn).
    – Cách tiến hành:
    + Học sinh thảo luận, tìm con chữ cấu tạo nên tên nhóm.
    + Học sinh lựa chọn các con chữ, ghép từ tạo thành tên nhóm.
    + Trưng bày chia sẻ nhanh về tên nhóm vừa ghép được.
    Khi kết thúc trò chơi, tôi đánh giá nhận xét kết quả của các nhóm, đồng
    thời giới thiệu cho học sinh xem một số mẫu từ mà tôi đã ghép sẵn bằng các con
    chữ được trang trí để giới thiệu bài học mới.
    * Kết quả tổ chức trải nghiệm thông qua trò chơi trong hoạt động
    khởi động.
    Trò chơi không chỉ rèn cho các em kĩ năng tương tác, sáng tạo trong học
    tập, kĩ năng tự tìm hiểu kiến thức, thu hút các em tham gia sôi nổi, hào hứng mà
    còn giúp các em tiếp thu bài một cách chủ động, linh hoạt hơn rất nhiều trong
    việc hoàn thiện sản phẩm. Điều đặc biệt hơn là học sinh có thể tận dụng các sản
    phẩm liên kết từ khối lớp này đến khối lớp khác, tăng thêm tính liền mạch, hệ
    thống và hiệu quả trong chương trình chung của môn Mĩ thuật Tiểu học.
    7
    Sản phẩm sau hoạt động của trò chơi.
    Sản phẩm sau hoạt động của trò chơi.
    8
    Sản phẩm của học sinh với chủ đề “ Em sáng tạo cùng những con chữ”.
    * Hoạt động tìm hiểu:
    Hướng dẫn học sinh tìm hiểu là một hoạt động vô cùng quan trọng, tác
    động không nhỏ đến chất lượng của giờ học. Giáo viên thường sử dụng những
    câu hỏi đơn giản, ngắn gọn hoặc đưa ra các giáo cụ trực quan gắn với bài học để
    dẫn dắt các em tìm hiểu. Thay vì thực hiện như thế, tôi lựa chọn một số chủ đề
    phù hợp để các em trải nghiệm hoạt động tìm hiểu mới: tự mình thực hiện, tự
    mình khám phá, diễn giải và chia sẻ với nhau cách thực hiện.
     Ví dụ: Chủ đề 14: “Em tưởng tượng từ bàn tay” – Mĩ thuật lớp 2.
    – Mục tiêu: Học sinh nhận ra được đặc điểm cấu tạo, hình dạng của đôi bàn
    tay; từ đôi bàn tay có thể tưởng tượng được nhiều hình ảnh đẹp và thú vị.
    – Chuẩn bị:
    + Giáo viên: Máy chiếu; sản phẩm tưởng tượng từ bàn tay.
    + Học sinh: Đồ dùng học tập, đèn pin.
    – Cách tiến hành:
    + Hướng dẫn học sinh trải nghiệm với máy chiếu.
    + Tổ chức cho học sinh lần lượt lên thử nghiệm với bàn tay được chiếu
    trên bảng hoặc sử dụng với đèn pin mà học sinh đã chuẩn bị.
    + Cả lớp quan sát, gọi tên hình ảnh các bạn thực hiện với máy chiếu.
    + Học sinh tự chia sẻ về cách thực hiện tưởng tượng từ bàn tay.
    * Kết quả tổ chức trải nghiệm trong hoạt động tìm hiểu.
    9
    Thay vì hướng dẫn tìm hiểu theo cách thông thường như: đặt ra một hệ
    thống câu hỏi (Bàn tay có cấu tạo như thế nào? So sánh hai bàn tay, em rút ra
    nhận xét gì? Em tưởng tượng được hình ảnh gì từ bàn tay đặt nằm ngang, bàn
    tay thẳng đứng? Sự chuyển động của bàn tay và các ngón tay có tạo ra các hình
    khác nhau không? Em nhận ra những hình ảnh gì được tạo ra từ đôi bàn tay?) thì
    giáo viên chỉ là người điều hành, giúp các em cùng nhau trải nghiệm, khám phá
    và lĩnh hội kiến thức. Hoạt động tìm hiểu chủ đề bài học sẽ diễn ra nhẹ nhàng và
    hiệu quả hơn rất nhiều.
    Học sinh trong hoạt động thực hiện tìm hiểu cùng máy chiếu.
    10
    Học sinh thích thú trong hoạt động thực hiện tìm hiểu.
    11
    * Hoạt động thực hành:
    Thực hành là hoạt động chiếm phần lớn thời gian của chủ đề, là hoạt động
    quết định đến chất lượng sau cùng của sản phẩm. Chính vì thế, trong những năm
    gần đây, chương trình Mĩ thuật cũng đã có thêm nhiều hình thức tổ chức thực
    hành khác nhau nhằm tăng hiệu quả cho các chủ đề nhưng nhận thấy một số chất
    liệu vẫn còn có thể mở rộng hoặc sáng tạo được thêm các cách thức thực hiện
    khác nhau với các tiết dạy trong lớp học, tôi đã mạnh dạn đưa tranh in ứng dụng
    vào một số chủ đề như: Chủ đề 12: Trang phục của em – Lớp 3; chủ đề 9: Trang
    phục em yêu thích – Lớp 5.
     Ví dụ: Chủ đề 12: Trang phục của em – Mĩ thuật lớp 3.
    – Mục tiêu: Học sinh tạo dáng trang phục cho mình hoặc người thân bằng
    cách kết hợp vẽ, in, hoặc xé, cắt, dán.
    – Chuẩn bị:
    + Giáo viên: lá cây, một số đồ vật có họa tiết nổi, một số sản phẩm mẫu.
    + Học sinh: đồ dùng học tập, lá cây, một số đồ vật có họa tiết nổi.
    – Cách thực hiện:
    + Nhắc nhở học sinh chuẩn bị trước một số lá cây hoặc đồ vật có bề mặt
    nổi để in…
    + Hướng dẫn học sinh in họa tiết trong tiết thực hành.
    + Học sinh in họa tiết, thiết kế trang phục phù hợp với họa tiết đã in.
    + Kết hợp với các cách thức, chất liệu khác để hoàn thiện sản phẩm.
    Thay vì học sinh thực hành vẽ, xé, cắt dán ,… tôi áp dụng hình thức tranh
    in mà các em chưa đc thực hiện trong chương trình mĩ thuật tiểu học từ trước tới
    giờ. Đây là trải nghiệm mới mẻ, dễ chuẩn bị, dễ thực hiện với các vật liệu sẵn có
    ở xung quanh nên đã tác động rất tích cực đến hoạt động dạy và học môn Mĩ
    thuật.
    * Kết quả tổ chức trải nghiệm trong hoạt động thực hành.
    Qua quá trình cho các em trải nghiệm trong hoạt động thực hành bằng
    cách in họa tiết vào trang trí sản phẩm, các em đã tạo ra được những sản phẩm
    đẹp và mang tính thẩm mĩ, các em tích cực và hứng thú hơn trong học tập.
    12
    Trải nghiệm in họa tiết vào trang trí cho trang phục.
    *Hoạt động trưng bày, giới thiệu và đánh giá sản phẩm:
    Trên thực tế, hoạt động trưng bày sản phẩm trong môn Mĩ thuật dù đã
    được thay đổi bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng vẫn còn một vài học sinh
    chưa mạnh dạn trong chia sẻ. Chính vì thế tôi cố gắng đưa các em đến với
    những trải nghiệm mới hơn như: phân vai chia sẻ, sáng tác câu chuyện học
    đường, gieo vần thơ cho những sản phẩm phù hợp,…
     Ví dụ: Chủ đề 4: “Em sáng tạo cùng những con chữ” – Mĩ thuật lớp 4
    – Mục tiêu:
    + Học sinh trưng bày được sản phẩm trang trí tên của bản thân.
    + Giúp học sinh tự tin, thoải mái hơn với hoạt động trưng bày, chia sẻ;
    tăng hứng thú trong các hoạt động học tập.
    – Chuẩn bị:
    + Giáo viên: một số hình thức thơ, gieo vần, vè…
    + Học sinh: sản phẩm để trưng bày
    – Cách thực hiện:
    + Giáo viên làm mẫu với tên bất kì.
    + Học sinh suy nghĩ: gieo vần thơ hoặc vè,… gắn liền với tên mà mình đã
    trang trí.
    + Đưa nhiều hình thức khen thưởng để học sinh bình bầu như: sản phẩm
    ấn tượng nhất, bài thơ ngộ nghĩnh nhất, bài thơ dài nhất,…
    13
    Phần nhiều chủ đề, học sinh bị hạn chế cách chia sẻ theo hình thức giới
    thiệu chất liệu, màu sắc, đường nét, hình mảng,… đơn thuần nên việc thay đổi
    hoạt động đánh giá ở một số nội dung tôi thấy học sinh thật sự thích thú và tự tin
    hơn rất nhiều.
    Ví dụ: Với tên Ngân: học sinh gieo vần: “Mình tên là Ngân
    Rất nhiều bạn thân
    Chăm học chuyên cần
    Bạn nào cũng thích”.
    * Kết quả tổ chức trải nghiệm trong hoạt động trưng bày, giới thiệu
    và đánh giá sản phẩm.
    Sự sáng tạo, dí dỏm trong những câu thơ, câu vè đã giúp cho thời gian bên
    nhau của cô trò tôi trong những trải nghiệm Mĩ thuật ngày một đáng nhớ hơn.
    Trải nghiệm “gieo vần thơ” với chủ đề:
    Em sáng tạo cùng những con chữ.(Lớp 4)
    14
    Một số bài vẽ “Sáng tạo cùng những con chữ” của học sinh.
    Một số bài vẽ “Sáng tạo cùng những con chữ” của học sinh.
    2.1.2 Tăng cường trải nghiệm môn học với các tiết học ngoài không gian
    lớp.
    Mĩ thuật là cái đẹp, còn gì tuyệt vời hơn khi được hòa mình và trải
    nghiệm cùng với thiên nhiên. Chúng ta không thể dạy hiệu quả bài “Sáng tạo
    với những chiếc lá” mà chỉ ngồi trong lớp và tưởng tượng ra chiếc lá; hay trong
    quá trình vẽ theo nhạc, thay vì thực hiện trong không gian lớp chật hẹp, gò bó,
    tôi đã thực hiện di chuyển ra ngoài không gian lớp để các em thay đổi không
    khí, được nhảy múa, vẽ hòa mình cùng âm nhạc và thiên nhiên. Tương tự như
    vậy, tùy vào từng chủ đề mà tôi lên kế hoạch thực hiện với từng khối lớp để các
    15
    em được trải nghiệm với các tiết học ngoài không gian lớp, giúp các em có ý
    thức bảo vệ môi trường, phát triển phẩm chất và nhân cách một cách tự nhiên.
    Ngoài ra, Nam Định là địa phương có di tích lịch sử lâu đời, phong cảnh
    đẹp, có nhiều nghề truyền thống. Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho cô trò
    chúng tôi có những tiết học chép họa tiết cổ, vẽ tranh phong cảnh để áp dụng
    vào trong các chủ đề bài học.
    Với trải nghiệm ngoài không gian lớp, bên cạnh việc thay đổi không gian
    học tập ra ngoài môi trường, tôi còn có thể tận dụng những chất liệu từ cuộc
    sống vào trong giảng dạy. Thay vì sử dụng giá vẽ để vẽ, tôi đã cho các em sử
    dụng những gốc cây được ốp lát sạch sẽ để làm giá vẽ, hay có khi sử dụng
    những thân cây, cành cây làm nơi trưng bày sản phẩm. Từ đó tạo nên sự mới mẻ
    nhưng chứa đựng sự gần gũi, thân thương trong mỗi “giờ học Mĩ thuật hạnh
    phúc” của cô trò chúng tôi.
    Chúng ta có thể thấy chất liệu ngoài thiên nhiên cuộc sống chính là giáo
    cụ trực quan, là phương tiện dạy học mà bản thân người giáo viên cần phải phát
    huy.
    – Mục tiêu:
    + Giúp học sinh có tâm thế thoải mái, thư giãn trong các giờ học.
    + Học sinh có cảm xúc thực tế khi tiếp cận bài học theo hướng mở ngoài
    không gian lớp.
    + Sử dụng chất liệu từ thiên nhiên cuộc sống làm giáo cụ trực quan,
    phương tiện dạy học.
    + Cách thể hiện sản phẩm gần gũi, chân thật hơn; hình thành tình yêu với
    thiên nhiên, bồi dưỡng thêm tình yêu quê hương, đất nước.
    – Phương pháp: Quan sát, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề.
    – Chuẩn bị:
    + Giáo viên: Kế hoạch chi tiết, phù hợp với các chủ đề; đồ dùng trực
    quan,…
    + Học sinh: Đồ dùng học tập phù hợp với chủ đề.
    – Biện pháp tiến hành:
    + Nghiên cứu các chủ đề có thể trải nghiệm ngoài không gian lớp và đặc
    thù địa phương.
    + Xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng chủ đề.
    + Tiến hành trải nghiệm theo kế hoạch.
    + Rút kinh nghiệm sau quá trình thực nghiệm.
    16
    Kế hoạch dạy học ngoài không gian lớp học.
     Ví dụ:
    + Đối với chủ đề “Sáng tạo với những chiếc lá” – Mĩ thuật lớp 5 và một số
    chủ đề khác: Tôi đã hướng dẫn các em tìm hiểu trong không gian lớp, sau đó di
    chuyển ra ngoài không gian lớp thực hiện tìm hiểu về những chiếc lá có trong tự
    nhiên. Hiệu quả từ việc quan sát, tiếp xúc thực tế bằng các giác quan khác nhau
    đã giúp các em tạo hình được những sản phẩm sáng tạo hơn cả mong đợi.
    17
    Tiết dạy ngoài không gian lớp học.
    Chủ đề 6: Khu vườn kì diệu – Lớp 2.
    Tiết dạy ngoài không gian lớp học
    Chủ đề 4: Sáng tạo với những chiếc lá – Lớp 5.
    18
    Tiết dạy ngoài không gian lớp học
    Chủ đề 9: Sắc màu thiên nhiên – Lớp 2.
    Tiết dạy ngoài không gian lớp học
    Sản phẩm chủ đề 2, bài: “Những chiếc lá kì diệu” – Lớp 1.
    19
    Tiết dạy ngoài không gian lớp học
    Chủ đề 7: Vũ điệu của sắc màu – Lớp 4
    Tiết dạy ngoài không gian lớp
    Chủ đề 5: Sự chuyển động của dáng người – Lớp 4.
    20
    Thay vì sử dụng giá vẽ các em tận dụng những gốc cây được lát đá sạch sẽ.
    + Đối với chủ đề “Sáng tạo họa tiết, tạo dáng và trang trí đồ vật” – Mĩ thuật
    lớp 4.
    Tôi đã tìm hiểu một số di tích lịch sử của địa phương và lên kế hoạch thực
    hiện trải nghiệm cụ thể: Đền Bình Lãng được công nhận là di tích lịch sử cấp
    21
    tỉnh với nhiều họa tiết cổ tinh xảo. Các em được lắng nghe những câu chuyện
    gắn với ngôi đền và người anh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc
    Tuấn và thực hành chép họa tiết cổ. Từ những bản kí họa, bản in họa tiết, các em
    đã vận dụng sáng tạo vào trang trí các đồ vật gần gũi như: lọ hoa, khăn tay, mũ
    nón, trang phục… Thông qua trải nghiệm này, các em bước đầu được tiếp xúc
    với đồ họa tranh in và có thêm nhiều kiến thức hữu ích cho bản thân.
    Trải nghiệm kí họa, in họa tiết tại Đền Bình Lãng.
    22
    Trải nghiệm kí họa, in họa tiết tại Đền Bình Lãng.
    Sản phẩm chủ đề được áp dụng khi trải nghiệm tại đền Bình Lãng.
    23
    2.2. Thứ hai: Trải nghiệm sáng tạo trong câu lạc bộ trường học.
    Qua thực tiễn cho thấy, việc học sinh tham gia các câu lạc bộ là một hình
    thức trải nghiệm sáng tạo hấp dẫn, phù hợp tâm lí lứa tuổi. Khi tham gia câu lạc
    bộ, học sinh có cơ hội thể hiện tài năng và niềm đam mê của bản thân đồng thời
    là môi trường để học sinh tự học hỏi, là nơi vun đắp cho những ước mơ, đam mê
    của các em. Tham gia câu lạc bộ, các em được làm quen và trải nghiệm với
    nhiều cách thức sáng tạo hơn, chủ đề mở rộng hơn và chất liệu có thể coi là vô
    tận. Từ những chất liệu quen thuộc, gần gũi trong cuộc sống hàng ngày như rau,
    củ, quả cho đến những sợi len, xốp giấy,… cũng giúp các em có được những
    bức họa nên thơ; từ vẽ cho đến vảy màu, xé dán, gắn dính chất liệu,… cũng giúp
    các em được luyện rèn đôi tay khéo léo. Hơn hết, bản thân các em sẽ nhận ra giá
    trị đoàn kết thông qua việc sinh hoạt tập thể, sinh hoạt nhóm và cảm nhận thật
    sự: “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”!
    – Mục tiêu: Câu lạc bộ Mĩ thuật là môi trường để các em học sinh bộc lộ
    và phát huy năng khiếu của mình. Bên cạnh đó còn cung cấp cho các em những
    kiến thức cơ bản về hội họa, đặc biệt các em được nâng cao khả năng cảm nhận
    nghệ thuật, tư duy thẩm mỹ và sáng tạo nghệ thuật.
    – Phương pháp: Quan sát, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề.
    – Chuẩn bị:
    + Giáo viên: Kế hoạch chi tiết, phù hợp với các chủ đề; đồ dùng trực
    quan,…
    + Học sinh: Đồ dùng học tập phù hợp với chủ đề.
    – Biện pháp tiến hành:
    + Xây dựng kế hoạch thành lập câu lạc bộ.
    + Tuyên truyền tới toàn thể Liên đội về mục đích, lợi ích và nội quy của
    câu lạc bộ.
    + Hướng dẫn các em học sinh có nguyện vọng tham gia câu lạc bộ viết
    đơn xin tham gia.
    + Giáo viên chuyên trách câu lạc bộ lên kế hoạch thực hiện các chủ đề
    học của câu lạc bộ.
     Ví dụ: Đối với chủ đề “Bàn tay yêu thương”.
    – Mục tiêu:
    + Giúp học sinh biết thực hiện kĩ thuật in bàn tay.
    + Giúp học sinh có tinh thần đoàn kết thông qua hoạt động học tập.
    + Giúp học sinh biết tận dụng các vật liệu đã qua sử dụng để tạo hình sản
    phẩm.
    24
    – Phương pháp: Quan sát, làm việc cá nhân, làm việc nhóm, giải quyết
    vấn đề.
    – Chuẩn bị:
    + Giáo viên: Một số vật liệu đã qua sử dụng, sản phẩm mẫu.
    + Học sinh: Một số vật liệu đã qua sử dụng, đồ dùng học tập.
    – Biện pháp tiến hành:
    + Thời gian sinh hoạt câu lạc bộ: chiều thứ 4.
    + Nhắc nhở học sinh chuẩn bị đồ dùng cần thiết trước mỗi chủ đề.
    + Giáo viên chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng phù hợp với
    chủ đề.
    + Tiến hành thực hiện chủ đề “Bàn tay yêu thương” theo kế hoạch của
    câu lạc bộ.
    Từ những bàn tay đơn lẻ của mỗi cá nhân được in trên giấy bìa, giấy báo,
    giấy thủ công, các em đã cùng nhau tạo hình những “Tay yêu thương, cây
    đoàn kết” bằng nhiều cách thức khác nhau như: vò giấy, xé dán giấy, kết hợp
    với một số chất liệu khác (ống hút, sợi len…).
    Sản phẩm của chủ đề “Bàn tay yêu thương”.
    Khi hoàn thành một chủ đề của câu lạc bộ, tôi thường cho học sinh mang
    sản phẩm về nhà để trưng bày thành góc Mĩ thuật ở gia đình; ngoài ra trong các
    buổi sinh hoạt dưới cờ đầu tuần tôi thường lựa chọn những bài vẽ đặc sắc của
    25
    các hội viên trong câu lạc bộ để các em giới thiệu, chia sẻ trước toàn trường hay
    tổ chức các buổi triển lãm tranh vẽ, trưng bày sản phẩm của học sinh trong câu
    lạc bộ vào các ngày sinh hoạt tập thể. Điều này cũng giúp khích lệ, động viên
    các em phấn đấu hơn, yêu thích môn học hơn. Sau một thời gian hoạt động tôi
    nhận thấy câu lạc bộ rất phù hợp với khả năng của các em, các em thích thú và
    say mê với môn học hơn; số lượng hội viên xin tham gia vào câu lạc bộ tăng
    nhiều so với ngày đầu thành lập.
    Hình ảnh sản phẩm trong câu lạc bộ.
    26
    Một số hình ảnh sản phẩm trong câu lạc bộ.
    2.3. Thứ ba: Trải nghiệm sáng tạo trong các hoạt động tập thể.
    Trong quá trình giảng dạy, tôi đã tích hợp hoạt động trải nghiệm theo kế
    hoạch của liên đội vào dạy học môn Mĩ thuật, thực hiện điều chỉnh một số chủ
    đề ở các khối lớp sao cho phù hợp với kế hoạch của Liên đội để các em được
    tham gia trải nghiệm theo chủ đề bài học.
    27
    – Mục tiêu: Hoạt động tổ chức trải nghiệm sáng tạo trong các hoạt động
    tập thể sẽ giúp học sinh có nhiều cơ hội được giao lưu, trải nghiệm, học hỏi,
    thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn đời sống đồng thời phát
    huy tiềm năng sáng tạo của bản thân.
    – Phương pháp: Quan sát, làm việc cá nhân, nhóm, giải quyết vấn đề.
    – Chuẩn bị:
    + Giáo viên: Kế hoạch chi tiết, phù hợp với các chủ đề; đồ dùng trực
    quan,…
    + Học sinh: Đồ dùng học tập phù hợp với chủ đề.
    – Biện pháp tiến hành:
    + Nghiên cứu điều chỉnh lại một số các chủ đề sao cho phù hợp với kế
    hoạch trải nghiệm của liên đội.
    + Xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng chủ đề.
    + Tiến hành trải nghiệm theo kế hoạch.
    + Rút kinh nghiệm sau quá trình thực nghiệm.
     Ví dụ: Đối với chủ đề “Chú bộ đội của chúng em” – lớp 5.
    – Mục tiêu của chủ đề:
    + Biết được một số hoạt động cơ bản của bộ đội và đặc điểm về trang phục
    của một số quân chủng trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
    + Thể hiện được hình ảnh chú bộ đội.
    + Giới thiệu cá nhân được về sản phẩm của nhóm mình, nhóm bạn.
    – Chuẩn bị:
    + Giáo viên: Kế hoạch cụ thể.
    + Học sinh: Sổ bút ghi chép.
    – Phương pháp: Quan sát, làm việc cá nhân, làm việc nhóm, giải quyết
    vấn đề.
    – Biện pháp tiến hành:
    + Trước tiên tôi nghiên cứu trải nghiệm của Liên đội để nắm rõ nội dung,
    hoạt động của trải nghiệm.
    + Tôi định hướng trước cho các em quan sát, ghi nhớ một số hoạt động cơ
    bản của bộ đội và cảnh quan xung quanh đơn vị.
    + Trải nghiệm cùng Liên đội. Giáo viên quan sát, hỗ trợ, nhắc nhở các em
    ghi nhớ, ghi chép.
    + Triển khai chủ đề bài học.
    Sản phẩm Mĩ thuật được tạo hình sau quá trình quan sát, ghi nhớ tại trải
    nghiệm “Một ngày làm chiến sĩ” trở nên ch

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Vận dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học mỹ thuật tiểu học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh

    SKKN Vận dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học mỹ thuật tiểu học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Lý do chọn báo cáo sáng kiến
    Qua thực tế nhiều năm giảng dạy chƣơng trình môn Mĩ thuật, tôi nhận thấy
    nhiều giáo viên và học sinh còn cho rằng môn Mĩ thuật là môn phụ, với phƣơng pháp
    truyền thống, bó gọn trong không gian lớp học yên tĩnh, bàn ghế thẳng hàng thì những
    phƣơng pháp cũng nhƣ kĩ thuật dạy học tích cực mang lại sự hứng khởi học tập cho
    học sinh đƣợc ƣa chuộng và dần dần chiếm ƣu thế. Đặc biệt là bộ môn Mĩ thuật tiểu
    học những năm gần đây có sự thay đổi không hề nhỏ. Chúng ta đã thử nghiệm và đƣa
    vào giảng dạy thành công chƣơng trình Mĩ thuật phối kết hợp giữa chƣơng trình
    truyền thống đƣợc thổi vào luồng gió mới: Học Mĩ thuật theo định hướng phát triển
    năng lực (Vận dụng phƣơng pháp mới của Dự án Hỗ trợ Giáo dục Mĩ thuật tiểu học
    do Vƣơng quốc Đan Mạch tài trợ). Trong chƣơng trình Mĩ thuật mới này, các em sẽ
    không học Mĩ thuật theo các phân môn riêng biệt, mang tính đặc trƣng cao nhƣ: vẽ
    tranh đề tài, vẽ trang trí, vẽ theo mẫu (phải vẽ chì, giống hệt mẫu), tập nặn tạo dáng,
    thƣờng thức mĩ thuật mà các em đƣợc thoải mái nghiên cứu theo các chủ đề gần gũi
    trong cuộc sống nhƣ: Chân dung tự họa, sáng tạo với những chiếc lá, cuộc sống quanh
    em, thử nghiệm và sáng tạo với các chất liệu…Ở mỗi chủ đề bài học, các em đƣợc
    thoải mái chọn lựa nội dung và hình thức tiếp cận, thực hành bài học, cho ra những
    sản phẩm rất phong phú, sáng tạo, đẹp mắt. Đó thực sự là một không gian rất rộng mở
    cho các giáo viên Mĩ thuật tiểu học nghiên cứu, tìm tòi, ứng dụng các phƣơng pháp
    dạy học tích cực theo hƣớng phát triển năng lực học sinh nhƣ: phƣơng pháp hoạt động
    nhóm, phƣơng pháp tổ chức trò chơi trong học tập, phƣơng pháp dạy học đặt và giải
    quyết vấn đề, phƣơng pháp học theo hợp đồng, phƣơng pháp học theo dự án, phƣơng
    pháp học theo góc…Tôi rất thích và cảm thấy ấn tƣợng với phƣơng pháp học theo góc
    nhất vì ƣu điểm nó có thể áp dụng ở hầu hết các dạng bài học và các bài tập tích hợp
    kiến thức nhiều môn học trong chƣơng trình Mĩ thuật tiểu học hiện hành. Đó là lý do
    5
    tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Vận dụng phương pháp dạy học theo góc trong dạy học
    Mĩ thuật tiểu học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh” làm sáng kiến. Từ
    sáng kiến này tôi muốn tìm hiểu thêm về việc vận dụng phƣơng pháp dạy học theo
    góc để nâng cao chất lƣợng dạy học môn Mĩ thuật.
    2. Mục đích nghiên cứu
    – Đổi mới PPDH và nâng cao chất lƣợng dạy học môn Mĩ thuật nhằm phát huy
    tính tích cực của học sinh.
    – Tìm hiểu thực trạng về việc vận dụng PPDH theo góc trong môn Mĩ thuật tiểu
    học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh.
    – Tổ chức dạy học theo góc vào dạy học môn Mĩ thuật.
    3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
    – Đối tƣợng nghiên cứu là vận dụng phƣơng pháp dạy học theo góc trong môn
    Mĩ thuật tiểu học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh.
    – Thời gian nghiên cứu: Năm học 2020-2021.
    – Phƣơng pháp dạy học theo góc.
    – Học sinh tiểu học và giáo viên Mĩ thuật Trƣờng xã Tiểu học Nghĩa Thái –
    Nghĩa Hƣng – Nam Định.
    4. Phƣơng pháp nghiên cứu
    4.1 Phƣơng pháp nghiên cứu lí luận
    – Dựng sáng kiến dựa vào sách giáo khoa Mĩ thuật, tiểu luận, internet, tài liệu
    để xây dựng cơ sở lí luận.
    4.2 Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
    – Phƣơng pháp quan sát.
    – Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu.
    – Phƣơng pháp vấn đáp.
    – Phƣơng pháp phân tích.
    – Phƣơng pháp tổng hợp.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP SÁNG KIẾN
    6
    1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến
    Học sinh tiểu học là lứa tuổi 6 đến 10 tuổi rất thông minh, nhạy cảm. Từ thực tế
    giảng dạy, tôi mạnh dạn đƣa ra giải pháp: “Vận dụng phương pháp dạy học theo góc
    trong môn Mĩ thuật tiểu học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh”. Giải pháp
    đặc trƣng của môn Mĩ thuật: Phƣơng pháp quan sát, phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu,
    phƣơng pháp vấn đáp, phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp tổng hợp…Chính vì thế
    giáo viên cần đổi mới phƣơng pháp, đặt biệt là phƣơng pháp dạy học theo góc. Để vận
    dụng phƣơng pháp dạy học theo góc tốt thì GV cần hiểu rõ những vấn đề sau:
    1.1 Cơ sở lý luận
    Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học.
    Đặc điểm về mặt cơ thể: Đây là thời kỳ hệ xƣơng của trẻ đang phát triển. Hệ cơ
    cũng đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vận động
    nhƣ chạy, nhảy, nô đùa. Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do
    vậy tƣ duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tƣ duy hình tƣợng, tƣ
    duy trừu tƣợng. Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ nhƣ đố vui trí tuệ,
    các cuộc thi trí tuệ,…
    Đặc điểm về hoạt động và môi trƣờng sống: Nếu nhƣ lứa tuổi mầm non hoạt
    động chủ đạo của trẻ là vui chơi thì đến lứa tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã
    có sự thay đổi về chất, đó là chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập.
    Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập các em còn tham gia các hoạt động khác
    nhƣ: vui chơi, lao động, hoạt động xã hội,…
    Đặc điểm về sự phát triển trí tuệ:
    – Nhận thức cảm tính: Lứa tuổi này, các cơ quan cảm giác đều phát triển và
    đang trong quá trình hoàn thiện. Tri giác của học sinh lứa tuổi tiểu học mang tính đại
    thể, ít đi vào chi tiết và mang tính không ổn định. Cụ thể ở đầu tuổi tiểu học tri giác
    thƣờng gắn với các hành động trực quan, nhƣng đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu
    mang tính xúc cảm. Trẻ thích quan sát các sự vật, hiện tƣợng có màu sắc sặc sỡ, hấp
    7
    dẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích, có phƣơng hƣớng rõ ràng – tức là tri giác
    có chủ định.
    – Nhận thức lý tính: Tƣ duy trẻ em tiểu học mang đậm màu sắc xúc cảm và
    chiếm ƣu thế ở tƣ duy trực quan hành động. Các phẩm chất tƣ duy chuyển dần từ tính
    cụ thể sang tƣ duy trừu tƣợng khái quát. Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo
    lứa tuổi. Lớp 4, lớp 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận, tuy nhiên phần lớn hoạt động
    phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng.
    Chính vì những đặc điểm tâm sinh lý nhƣ vậy nên ngƣời giáo viên giảng dạy
    môn Mĩ thuật tiểu học phải tìm tòi và định hƣớng cho học sinh nghiên cứu một chủ đề
    bài học theo một phƣơng pháp phù hợp nhất với từng nội dung chủ đề để gây hứng
    thú cho học sinh, đem lại hiệu quả học tập tốt nhất, giúp các em vừa học vừa chơi,
    phát triển tƣ duy một cách toàn diện.
    Đặc biệt vận dụng phƣơng pháp dạy học theo góc trong môn Mĩ thuật giải
    quyết hết vấn đề trên.
    1.2 Cơ sở thực tiễn
    Qua nhiều năm giảng dạy môn Mĩ thuật, tôi nhận thấy kĩ năng trong môn Mĩ
    thuật của học sinh còn hạn chế. Trong giảng dạy và học môn Mĩ thuật của GV và HS
    trƣờng tiểu học, việc phát huy tính tích cực chủ động của HS trong việc sử dụng các
    phƣơng pháp dạy học tính tích cực chƣa cao. HS chƣa phát hiện ra năng khiếu, sở
    trƣờng, tính tích cực, sáng tạo của mình. Nên GV hạn chế phân hóa đối tƣợng học
    sinh.
    GV coi môn Mĩ thuật là môn phụ trong chƣơng trình tiểu học. Việc nghiên cứu
    đổi mới phƣơng pháp này chƣa đƣợc chú trọng. Còn sử dụng phƣơng pháp truyền
    thống làm cho một số HS nhàm chán không tích cực trong giờ học Mĩ thuật.
    GV chƣa khai thác hết thế mạnh của phƣơng pháp dạy học tích cực, kĩ năng
    dạy học mới vào từng chủ đề, chƣa chú ý sự kết nối giữa thầy và trò, giữa HS với HS.
    Đồ dùng dạy học chƣa đầu tƣ nhƣ: tivi, máy chiếu,…đồ dùng từng góc còn hạn
    chế mất nhiều thời gian.
    8
    Một số học sinh còn lƣời học, ỷ lại, sự tƣơng tác giữa trò và thầy, trò với trò
    còn yếu. Phần lớn các em là con gia đình lao động đi làm công ty may, công ty da
    giày, đi làm ăn xa, chƣa có sự quan tâm về đồ dùng học tập.
    1.2.1 Khái niệm phƣơng pháp dạy học tích cực
    Phƣơng pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút gọn, đƣợc
    dùng ở nhiều nƣớc để chỉ những phƣơng pháp giáo dục, dạy học theo hƣớng phát huy
    tính tích cực, chủ động, sáng tạo của ngƣời học.
    “Tích cực” trong PPDH – tích cực đƣợc dùng với nghĩa là hoạt động, chủ
    động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với
    tiêu cực.
    PPDH tích cực hƣớng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức
    của ngƣời học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của ngƣời học chứ không
    phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của ngƣời dạy, tuy nhiên để dạy học theo
    phƣơng pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phƣơng pháp thụ
    động.
    Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy chỉ đạo cách học,
    nhƣng ngƣợc lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hƣởng tới cách dạy của thầy.
    Chẳng hạn, có trƣờng hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhƣng giáo
    viên chƣa đáp ứng đƣợc, hoặc có trƣờng hợp giáo viên hăng hái áp dụng PPDH tích
    cực nhƣng không thành công vì học sinh chƣa thích ứng, vẫn quen với lối học tập thụ
    động. Vì vậy, giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng
    cho học sinh phƣơng pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao. Trong
    đổi mới phƣơng pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịp
    nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công. Nhƣ vậy, việc dùng thuật
    ngữ “Dạy và học tích cực” để phân biệt với “Dạy và học thụ động”.
    1.2.2 Định hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học môn Mĩ thuật
    Đổi mới PPDH là đƣa ra các PPDH mới vào nhà trƣờng trên cơ sở phát huy
    mặt tích cực của các PPDH truyền thống nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học. Dựa vào
    9
    chƣơng trình và SGK môn Mĩ thuật từ đó đổi mới PPDH ở tiểu học, việc sử dụng
    PPDH môn Mĩ thuật cần dựa vào các định hƣớng cơ bản sau:
    – Dựa vào PPDH dạy học truyền thống đƣa các PPDH mới vào quá trình dạy
    học môn Mĩ thuật để phát huy những ƣu điểm của các PPDH truyền thống nhầm nâng
    cao chất lƣợng dạy học.
    – Đề cao vai trò chủ thể của ngƣời học: Đó là cách dạy học hƣớng tập trung vào
    HS, HS chính là chủ thể rèn luyện kĩ năng, nắm tri thức.
    – Việc đổi mới PPDH đòi hỏi phải đổi mới các hình thức tổ thức dạy học, đổi
    mới cách đánh giá nhận xét môn Mĩ thuật, đổi mới cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy
    học.
    1.3 Phƣơng pháp dạy học theo góc
    1.3.1 Khái niệm
    Học “theo góc” còn đƣợc gọi là “trạm học tập” hay “trung tâm học tập”.
    Dạy học theo góc là phƣơng pháp dạy học đáp ứng các phong cách khác nhau
    của HS, khi học theo góc, HS đƣợc thực hiện các nhiệm vụ khác nhau ở các vị trí cụ
    thể trong lớp để hoàn thành nội dung học tập theo mục tiêu đặt ra.
    Mỗi học sinh có một phong cách học khác nhau, có nghĩa là nếu đƣợc học theo
    đúng sở trƣờng của mình thì kết quả học tập sẽ là tối ƣu nhất đối với học sinh.
    Dạy học theo góc có những điểm tƣơng đồng với dạy học theo nhóm, theo cặp
    và một số phƣơng pháp, kỹ thuật, thủ thuật dạy học khác.
    Học sinh lớp 5A đang học theo góc
    10
    Học theo góc là một môi trƣờng học tập với cấu trúc đƣợc xác định cụ thể, kích
    thích học sinh tích cực chủ động thông qua hoạt động đa dạng về nội dung và hình
    thức hoạt động.
    Góc : Quan sát – thực hành tích cực chủ động sáng tạo.
    1.3.2 Phong cách học tập của phƣơng pháp dạy học theo góc
    Mỗi HS có một phong cách học khác nhau, có nghĩa là nếu đƣợc học theo đúng
    sở trƣờng của mình thì kết quả học tập sẽ là tối ƣu nhất đối với HS.
    Một số phong cách học tập:
    – Học qua phân tích: HS thích có sở trƣờng nghiên cứu tài liệu, đọc sách để thu
    nhận kiến thức.
    – Học qua quan sát: HS sẽ tiếp thu kiến thức nhanh nếu đƣợc quan sát qua
    ngƣời khác làm hoặc quan sát qua hình ảnh trực quan.
    – Học qua trải nghiệm: HS sẽ tiếp thu và khắc sâu kiến thức tốt hơn nếu tự mình
    đƣợc thực hành, đƣợc khám phá thực từ thực tiễn…
    – Học qua áp dụng: Qua áp dụng cụ thể, HS sẽ tiếp thu kiến thức và rèn kĩ năng
    tốt hơn.
    Học theo góc thể hiện sự đa dạng học tập, do đó HS có sở thích và năng lực
    khác nhau, nhịp độ và phong cách học tập khác nhau đều có cơ hội tìm đƣợc vị trí
    thích ứng để học. Khi việc học tập phù hợp với sở trƣờng, phong cách của mình, cá
    nhân HS sẽ bị cuốn hút và học tập một cách say sƣa tích cực, không mang tâm trạng
    bị gò ép, bắt buộc. Từ đó các em nhớ kiến thức sâu hơn, rèn kĩ năng thuần thục hơn,
    học tập đạt đến sự thoải mái.
    11
    Mỗi góc học tập ứng với phong cách học tập khác nhau, do đó, các dụng cụ,
    thiết bị, đồ dùng học tập cũng khác nhau:
    – Góc phân tích với các tài liệu sách vở liên quan đến nội dung bài học.
    – Góc quan sát với các hình ảnh trực quan (video, tranh ảnh…) liên quan đến
    nội dung bài học.
    – Góc trải nghiệm với các đồ dùng, thiết bị cho phép HS thử nghiệm các nội
    dung liên quan đến bài học.
    – Góc áp dụng với các điệu kiện để HS áp dụng kiến thức, kĩ năng mà yêu cầu
    bài học đã đặt ra.
    1.3.3 Các bƣớc tổ chức dạy học theo góc
    Chuẩn bị:
    Sắp xếp góc học tập trƣớc khi vào giờ học phù hợp với không gian lớp học.
    Mỗi góc đảm bảo có đủ tài liệu, đồ dùng, phƣơng tiện học tập phù hợp với nhiệm vụ
    học tập tại mỗi góc.
    Tổ chức các hoạt động dạy học:
    Giáo viên giới thiệu bài học, phƣơng pháp học theo góc, nhiệm vụ tại các góc,
    thời gian tối đa để thực hiện nhiệm vụ tại các góc và cho phép học sinh đƣợc lựa
    chọn góc xuất phát. Học sinh lắng nghe, tìm hiểu và quyết định chọn góc theo sở
    thích của mình. Tuy nhiên, giáo viên sẽ phải điều chỉnh nếu nhƣ có số học sinh quá
    đông chọn cùng một góc. Khi học sinh thực hiện nhiệm vụ tại các góc, giáo viên yêu
    cầu học sinh luân chuyển sang góc khác. Kết thúc giờ học tại các góc, giáo viên yêu
    cầu đại diện các góc trình bày kết quả, các học sinh khác nhận xét, đánh giá. Giáo
    viên đánh giá và nhận xét về kết quả học tập của học sinh, chốt lại kiến thức trọng
    tâm của bài học.
    Bƣớc 1: Lựa chọn nội dung chủ đề, không gian lớp học.
    12
    Dạy học theo góc thƣờng áp dụng tích hợp kiến thức liên môn để giải quyết
    một nội dung chủ đề. Vì đƣợc lần lƣợt học qua các góc với các cách tiếp cận chủ đề
    khác nhau nên hầu hết các chủ đề quy định trong chƣơng trình giáo dục phổ thông đều
    có thể triển khai dạy học theo góc. Tuy nhiên, vì mỗi góc đều phải có các thiết bị, đồ
    dùng để phục vụ HS nên GV có thể chọn chủ đề mà trong điều kiện của nhà trƣờng,
    của bản thân có thể đảm bảo đƣợc các thiết bị đồ dùng DH đó.
    Dạy học theo góc cần có không gian đủ rộng để HS có thể chủ động đến trải
    nghiệm ở mỗi góc. GV bố trí các góc học tập trong lớp sao cho HS dễ di chuyển, các
    thiết bị, sách vở, đồ dùng trong mỗi góc đƣợc sắp xếp khoa học, phát huy tối đã công
    năng của mỗi thiết bị, đồ dùng trong các góc học tập.
    Bƣớc 2: Thiết lập các góc học tập.
    Căn cứ nội dung và mục tiêu bài học, GV có thể bố trí số lƣợng các góc học tập
    tùy ý. Mỗi góc học tập có thể đặt tên của góc đó.
    Ví dụ: Góc nghiên cứu; Góc quan sát; Góc trải nghiệm…để HS dễ hình dung
    nhiệm vụ khi đến các góc đó để học tập.
    Ví dụ: Dạy học chủ đề 12: “Tìm hiểu tranh dân gian Việt Nam” trong chƣơng
    trình mĩ thuật lớp 4 với nội dung: Lý luận và lịch sử mĩ thuật. GV sẽ cho học sinh học
    tập cụ thể: Tranh dân gian Việt Nam. GV sẽ chuẩn bị cho HS trải nghiệm 4 góc: Góc
    nghe nhìn; Góc nghiên cứu; Góc trải nghiệm và góc vận dụng. Trong đó:
    – Góc nghe nhìn: GV sẽ treo một số tranh dân gian Việt Nam với đa dạng về thể
    loại của một số dòng tranh tiêu biểu. Hoặc có thể có cả máy phát băng hình giới thiệu
    về tranh dân gian Việt Nam. HS có phong cách học qua quan sát sẽ chọn đây là góc
    xuất phát.
    – Góc nghiên cứu: GV sẽ sắp xếp một số tài liệu viết về tranh dân gian Việt
    Nam phù hợp với HS lớp 4 để các em đọc, nghiên cứu, suy ngẫm về xuất sứ, nội dung
    13
    và giá trị nghệ thuật của tranh dân gian Việt Nam. HS có phong cách học nghiên cứu
    sẽ chọn đây là góc xuất phát.
    – Góc trải nghiệm: GV bố trí một số bức tranh dân gian chỉ in nét và một số bức
    tranh dân gian mẫu để HS đƣợc trải nghiệm tô mà tranh dân gian. Nếu có điều kiện
    GV có thể sƣu tầm một số bản khắc, giấy dó và màu để HS đƣợc trải nghiệm in tranh.
    HS có phong cách học qua trải nghiệm sẽ chọn đây là góc xuất phát.
    – Góc vận dụng: GV giao bài tập cho HS tại góc vận dụng này để HS thực hiện.
    Bài tập có thể bao gồm các câu hỏi/ các mệnh đề trắc nghiệm về: Nội dung, xuất sứ,
    giá trị nghệ thuật…của tranh dân gian Việt Nam. Có thể yêu cầu HS viết một đoạn
    văn ngắn về cảm xúc đối với tranh dân gian Việt Nam qua bài học. HS hoàn toàn có
    thể chọn đây là góc xuất phát cho hành trình học tập của mình.
    Bƣớc 3: Tổ chức DH theo góc.
    GV nêu nội dung bài học, cách thức học và yêu cầu cần đạt của bài học.
    GV hƣớng dẫn cụ thể các góc học tập, cách thực hiện việc học tập tại góc đó để
    HS hình dung cách làm việc tại mỗi góc để các em chủ động chọn góc học đầu tiên
    của mình. Góc mà HS đến đầu tiên chính là góc phù hợp nhất với phong cách học của
    các em. HS có thể học cá nhân hoặc học nhóm ở các góc học tập.
    GV yêu cầu trong một khoảng thời gian nhất định, HS phải lần lƣợt đến đủ các
    góc học tập và hoàn thành bài tập ở góc vận dụng. Sau khi trải nghiệm tại 1 góc học
    tập, HS di chuyển đến góc học tập khác để trải nghiệm tiếp và có thể kiểm chứng cho
    phần kiến thức đã đƣợc trải nghiệm ở góc học tập khác. Việc di chuyển đến các góc
    học tập không nhất thiết phải theo thứ tự cố định mà tùy HS có thể đến và đi nhiều lần
    ở mỗi góc để khẳng định và khắc sâu hơn kiến thức mà mình thu nhận đƣợc. Khi thực
    hiện nhiệm vụ ở góc vận dụng, nếu chƣa chắc chắn vấn đề gì, HS có thể quay trở lại
    các góc mà mình đã đi qua để kiểm chứng lại và xác định phƣơng án hợp lý nhất.
    14
    Trong quá trình HS học tập ở các góc, GV quan sát, hỗ trợ nếu HS còn lúng
    túng trong cách sử dụng thiết bị, đồ dùng học tập, hoặc mất thời gian quá nhiều cho
    một vấn đề ở một góc nào đó…
    Cũng sẽ có những học sinh không xác định đƣợc góc xuất phát của mình hoặc
    chọn góc xuất phát không đúng với phong cách học tập của mình. GV sẽ giúp đỡ để
    thúc đẩy hứng thú của các em lên cao nhất và bài học đạt kết quả cao nhất.
    Qua quan sát và theo dõi học sinh thao tác ở các góc, GV xác định rõ rang
    phong cách học tập của từng em. Điều này sẽ giúp GV có thông tin về HS một cách
    đầy đủ và có căn cứ, không chỉ giúp học sinh học tập môn Mĩ thuật mà còn hỗ trợ các
    em học tốt các môn học khác nhau qua sự phát hiện phong cách học tập của chính em
    đó.
    Bƣớc 4: Hoàn thành bài học.
    GV nhận xét, đánh giá quá trình học tập theo góc của các em học sinh thông
    qua quan sát riêng của mình. GV nhận xét kết quả học tập của các em ở từng góc,
    hƣớng dẫn HS học tập khác nhau.
    GV cũng có thể nói về ƣu thế của mỗi góc học tập để HS hiểu rõ và có thể thử
    nghiệm thay đổi góc xuất phát ở những giờ học sau nhằm mục đích khẳng định đúng
    nhất về phong cách học tập cá nhân.
    Phong cách học tập cá nhân quyết định đến kết quả học tập, làm việc. Dạy học
    theo góc giúp ngƣời học thỏa mãn việc học theo sở trƣờng, hạn chế cách học tập ép
    buộc, tạo áp lực không cần thiết. Học theo góc đáp ứng yêu cầu học tập mang tính đặc
    thù của mỗi ngƣời, hƣớng học sinh biết cách lựa chọn cách học tối ƣu cho mình.
    * Ƣu điểm và hạn chế:
    – Ƣu điểm:
    15
    Học theo góc tăng cƣờng sự tham gia, nâng cao hứng thú học tập và cảm giác
    thoải mái của học sinh trong quá trình học tập.
    Học theo góc giúp học sinh học sâu và hiệu quả bền vững. Học sinh đƣợc tìm
    hiểu một nội dung theo các cách khác nhau: nghiên cứu lý thuyết, trải nghiệm thực
    tiễn, quan sát hình ảnh và áp dụng…qua đó học sinh sẽ hiểu sâu, nhớ lâu hơn việc
    giáo viên sử dụng phƣơng pháp thuyết trình, học sinh chỉ duy nhất nghe một cách thụ
    động.
    Học theo góc sẽ tạo nhiều không gian hơn cho những thời điểm học tập mang
    tính tích cực nhất của học sinh. Các nhiệm vụ và hình thức học tập đƣợc thay đổi tại
    các góc tạo hứng thú và kích thích tính tích cực của học sinh.
    Học theo góc tạo điều kiện cho GV có nhiều thời gian hỗ trợ cá nhân từng học
    sinh. Học sinh có nhiều cơ hội đƣợc trợ giúp do đó tạo ra sự tƣơng tác tích cực giữa
    giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh.
    – Hạn chế:
    Không gian lớp học chật hẹp.
    Đồ dùng thiết bị học tập hạn chế là một hạn chế cho dạy học theo góc. Sẽ phù
    hợp cho việc dạy học theo góc hơn nếu các nhà trƣờng bố trí đƣợc phòng học chuyên
    cho môn Mĩ thuật với các thiệt bị dụng cụ, phƣơng tiện học tập đầy đủ, ổn định,
    không phải di chuyển nhiều đến các lớp.
    Thời gian để học sinh lựa chọn góc học tập thƣờng nhiều, ảnh hƣởng tới các
    hoạt động học tập khác. Thời gian học tập ở mỗi góc thƣờng trôi đi và lấn sang thời
    gian làm việc ở các góc tiếp theo.
    GV cần nhiều thời gian chuẩn bị và thiết kế các góc học tập.
    * Khi dạy học theo góc, các năng lực cốt lõi đƣợc hình thành và phát triển tối
    đa:
    16
    – Năng lực tự chủ và tự học sẽ đƣợc kích hoạt tối đa khi học sinh học tập ở góc
    nghiên cứu.
    – Năng lực giao tiếp và hợp tác sẽ đƣợc ứng dụng hiệu quả khi học sinh tham
    gia vào quá trình học tập ở góc quan sát.
    – Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo đƣợc trải nghiệm và phát triển khi học
    sinh tham gia vào các góc thực hành và góc vận dụng.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1 Thuận lợi:
    Trƣờng Tiểu học xã Nghĩa Thái thuộc địa bàn xã Nghĩa Thái – Nghĩa Hƣng –
    Nam Định nằm trên trục đƣờng lớn của xã, có đầy đủ các phòng chức năng, có cơ sở
    vật chất khang trang, đầy đủ đảm bảo dạy và học tại trƣờng.
    Bản thân tôi là giáo viên có trình độ chuyên môn trên chuẩn, chuyên môn vững
    vàng, yêu nghề yêu trẻ. Luôn học hỏi và tiếp thu những kinh nghiệm quý giá và vận
    dụng những phƣơng pháp dạy học mới vào môn Mĩ thuật để nâng cao chất lƣợng giáo
    dục trong nhà trƣờng đó là một thuận lợi trong việc thực hiện đề tài này.
    Năm học 2020 – 2021 tôi đƣợc phân công dạy môn Mĩ thuật lớp 1, 2, 3, 4, 5 tại
    Trƣờng Tiểu học xã Nghĩa Thái. Bản thân tôi luôn tích cực học hỏi, học tập, tìm hiểu,
    ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy. Từ những thuận lợi trên tôi áp dụng
    phƣơng pháp dạy học theo góc vào môn Mĩ thuật có kết quả sau:
    – Tăng cƣờng sự tham gia, nâng cao hứng thú và cảm giác thoải mái học tập
    của học sinh.
    – Học sinh đƣợc học sâu và có hiệu quả bền vững.
    – Phƣơng pháp dạy học theo góc tạo nhiều không gian hơn cho những thời điểm
    học tập mang tính tích cực.
    – Giáo viên có nhiều thời gian để hỗ trợ cá nhân học sinh, đồng thời học sinh
    cũng có nhiều cơ hội đƣợc trợ giúp, tạo ra sự tƣơng tác tích cực giữa giáo viên và học
    sinh.
    17
    – Trong dạy học Mĩ thuật, phƣơng pháp dạy học theo góc có thể áp dụng ở hầu
    hết các dạng bài học và các bài tập tích hợp kiến thức nhiều môn học.
    Ví dụ: Chủ đề: Chân dung – Mĩ thuật lớp 5
    Có thể chia thành 4 góc với các nhiệm vụ cụ thể nhƣ sau:
    Góc 1: Quan sát: Tìm hiểu điểm giống và khác nhau trên khuôn mặt ngƣời qua
    các lứa tuổi.
    Góc 2: Trải nghiệm: Nhận xét đƣợc đặc điểm trên khuôn mặt bạn.
    Góc 3: Phân tích: Tìm hiểu tỷ lệ khuôn mặt ngƣời theo chiều cao và chiều
    ngang.
    Góc 4: Áp dụng: Thực hành quan sát và vẽ phác khuôn mặt bạn.
    2.2 Những hạn chế của hoạt động đổi mới phƣơng pháp dạy học theo góc
    trong môn Mĩ thuật.
    Bên cạnh những thuận lợi bƣớc đầu đạt đƣợc khi áp dụng theo phƣơng pháp
    học theo góc trong dạy học môn Mĩ thuật tại Trƣờng Tiểu học xã Nghĩa Thái còn
    nhiều hạn chế cần khắc phục:
    18
    – Hoạt động đổi mới phƣơng pháp dạy theo góc đối với các giáo viên ở Trƣờng
    Tiểu học xã Nghĩa Thái chƣa đạt kết quả cao, vẫn áp dụng phƣơng pháp truyền thống,
    truyền tri thức theo một chiều là chính.
    – Một số giáo viên áp dụng phƣơng pháp dạy học phát huy tính tích cực còn ít.
    – Áp dụng công nghệ thông tin vào dạy học chƣa nhiều.
    2.2.1 Nguyên nhân.
    Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên:
    – Phòng học Mĩ thuật không gian lớp học chật hẹp, đồ dùng thiết bị học tập hạn
    chế là một hạn chế cho dạy học theo góc.
    – Giáo viên cần nhiều thời gian cho chuẩn bị và thiết kế các góc học tập.
    – Thời gian dành cho việc làm đồ dùng ở các góc còn ít, hơn nữa đồ dùng hoạt
    động góc luôn thay đổi theo từng chủ đề.
    – Cần nhiều thời gian cho hoạt động học tập.
    2.2.2 Kết quả khi chƣa áp dụng sáng kiến.
    Trong năm học 2020 – 2021, tôi đƣợc phân công giảng dạy môn Mĩ thuật tại
    Trƣờng Tiểu học xã Nghĩa Thái, qua quan sát thái độ, tinh thần các em trong giờ học
    và đánh giá, nhận xét các bài vẽ của học sinh.Tôi phân loại các nhóm học sinh nhƣ
    sau:
    Kết quả đầu năm học khi chưa áp dụng phương pháp dạy học theo góc ở khối
    5.

    LớpSĩ sốTự tin thể hiện
    xúc, thể hiện
    đƣợc cảm xúc
    Vẽ dập khuôn,
    thiếu tự tin
    Hoàn thành
    bài tại lớp
    Chƣa hoàn thành
    bài tại lớp
    SL%SL%SL%SL%
    5A341132.42367.61235.32264.7
    5B34926.52573.51029.42470.6
    5C34823.52676.5926.42573.6

    19
    2.3 Các giải pháp thực hiện.
    Bản thân tôi trong quá trình giảng dạy môn Mĩ thuật, khi nghiêm cứu chƣơng
    trình tôi thấy có rất nhiều chủ đề có thể áp dụng phƣơng pháp dạy học theo góc,
    không riêng gì môn Mĩ thuật mà áp dụng tất cả các môn học khác có hiệu quả nhằm
    phát huy tính tích cực của học sinh. Trong phạm vi của sáng kiến này tôi xin giới
    thiệu giáo án tiết dạy minh họa sau:
    2.3.1 Giải pháp 1
    GIÁO ÁN MĨ THUẬT LỚP 5
    CHỦ ĐỀ 1: CHÂN DUNG TỰ HỌA
    * Những kiến thức HS đã nắm đƣợc:
    – Phƣơng pháp góc.
    – Các loại nét và cách phối kết hợp các loại nét khác nhau tạo thành tranh vẽ.
    – Màu sắc và cách sử dụng màu sắc trong tranh.
    – Quy trình vẽ biểu cảm.
    – Quy trình tạo hình ba chiều – tiếp cận theo chủ đề.
    – Quy trình điêu khắc – nghệ thuật tạo hình không gian.
    I. Mục tiêu của bài học:
    Trong và sau khi học xong bài này học sinh học đạt đựợc.
    – HS nhận ra đặc điểm riêng, sự cân đối của các bộ phận trên khuôn mặt.
    – Học sinh thể hiện đƣợc tranh chân dung tự họa bằng nhiều hình thức và các
    chất liệu khác nhau.
    – Giới thiệu nhận xét và nêu đƣợc cảm nhận về sản phẩm của mình, của bạn.
    II. Phƣơng pháp và hình thức tổ chức
    – Phƣơng pháp góc, trực quan, vấn đáp, gợi mở, thực hành…
    – Hình thức tổ chức: Hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm.
    III. Đồ dùng và phƣơng tiện
    Giáo viên chuẩn bị:
    – Máy chiếu, sách giáo khoa, màu vẽ, giấy vẽ, kéo, hồ…
    20
    – Hình ảnh sƣu tầm tranh chân dung phù hợp với nội dung chủ đề.
    – Sản phẩm của học sinh về tranh chân dung tự họa.
    – Phiếu học tập và thẻ hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ học tập.
    Học sinh chuẩn bị:
    – SGK MT 5.
    – Giấy, bút, màu, dụng cụ vẽ, keo dán, bìa, gƣơng, ảnh chân dung, vật liệu tìm
    đƣợc…
    – Sƣu tầm hình ảnh chân dung trên sách báo, tạp chí…
    IV. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ YẾU
    Khởi động
    – Tổ chức trò chơi: “Đoán tâm trạng qua biểu hiện trên khuôn mặt”.
    – Cách tổ chức: Giáo viên mời 4 – 5 học sinh lên chơi trò chơi. Mỗi học sinh tự
    thể hiện các tâm trạng, cảm xúc của cá nhân: vui, buồn, tức giận,…
    + Những học sinh khác quan sát và nêu tên biểu cảm trên khuôn mặt mà bạn
    vừa biểu hiện.
    – HS khác nhận xét, đánh giá.
    – GV chốt và dẫn vào bài mới.
    Hoạt động 1: Giới thiệu bài mới.
    Hoạt động 2: Giới thiệu nội dung bài học, phƣơng pháp và nhiệm vụ học
    tập.

    Hoạt động của GVHoạt động của HSThiết bị,
    đồ dùng
    dạy học
    – GV giới thiệu nội dung bài học (mục tiêu,
    nhiệm vụ của các góc, thời gian mỗi góc:
    10 phút – 12 phút) chiếu trên màn hình và
    dán ở các góc, cho học sinh tự lựa chọn
    – Lắng nghe để biết cách
    học tập.
    Máy chiếu

    21

    góc theo phong cách học của bản thân.
    – GV nêu nội dung và yêu cầu của bài học
    thông qua nhiệm vụ, phƣơng tiện, đồ dùng
    học tập tại các góc:
    * Góc 1: Trải nghiệm.
    Nhiệm vụ: Bằng sự hiểu biết và quan sát
    chân dung thông qua thực tế, em hãy thể
    hiện một bức tranh chân dung tự họa bằng
    hình thức, chất liệu em yêu thích.
    * Góc 2: Phân tích – Áp dụng.
    Nhiệm vụ: + Quan sát một số hình ảnh sƣu
    tầm và sơ đồ các bƣớc tạo hình (vẽ/nặn/xé
    dán/cắt dán) chân dung tự họa trên trực
    quan.
    + Phân tích đặc điểm tranh chân dung tự
    họa, các bƣớc tạo hình tranh chân dung tự
    họa trên sơ đồ và tranh minh họa trong
    sách giáo khoa để nắm đƣợc cách tạo hình
    tranh chân dung.
    + Áp dụng các bƣớc tạo hình trên sơ đồ và
    tự tạo hình một chân dung theo ý thích.
    Lƣu ý: Không tạo hình giống với hình ảnh
    các chân dung ở trực quan.
    * Góc 3: Quan sát – Thực hành.
    Nhiệm vụ: Quan sát chân dung trƣớc mặt
    và nhận xét về hình dạng khuôn mặt, cấu
    trúc, kích thƣớc, sự cân đối, đối xứng qua
    – Quan sát và nêu nội
    dung nhiệm vụ tại mỗi
    góc.

    22

    trục dọc của các bộ phận trên khuôn mặt và
    nhận xét về hình thức vẽ, chất liệu vẽ, bố
    cục, màu sắc đƣợc thể hiện trong tranh;
    đồng thời suy nghĩ về tác dụng của chân
    dung trong cuộc sống.
    + Hãy tự tạo hình một tranh chân dung
    biểu cảm.
    – GV vận động học sinh ngồi vào các góc
    cho cân đối về số lƣợng.
    – GV quan sát.
    – GV hƣớng dẫn học sinh luân chuyển đến
    góc 4.
    * Góc 4: Góc tạm nghỉ. Dành cho những
    học sinh hoàn thành xong nhiệm vụ của
    mình ở các góc 1, 2, 3 trƣớc thời gian cho
    phép. Các em có thể di chuyển đến góc 4 để
    vừa học vừa chơi.
    – HS chọn góc phù hợp
    phong cách học và ngồi
    vào vị trí góc đã chọn.
    – HS thực hành.
    – HS nào làm xong nhiệm
    vụ ở góc 1, 2, 3. HS luân
    chuyển đến góc 4 để sáng
    tạo sản phẩm của mình.

    Hoạt động 3: Tổ chức học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập các góc.
    Góc 1: trải nghiệm.
    Nhiệm vụ: Bằng sự hiểu biết và quan sát chân dung thông qua thực tế, em hãy
    thể hiện một bức tranh chân dung tự họa bằng hình thức, chất liệu em yêu thích.
    – Thời gian: 10 phút – 12 phút.

    Hoạt động của giáo viênHoạt động của học sinhThiết bị,
    đồ dùng

    23

    DH
    – GV giới thiệu các thẻ hỗ
    trợ.
    – Phần tạo hình chân dung:
    + Thẻ màu đỏ: Gợi ý cách
    tạo hình chân dung.
    + Thẻ màu vàng: Gợi ý hình
    minh họa các bƣớc tạo hình
    chân dung.
    – Phần tô màu:
    + Thẻ màu hồng: Gợi ý lựa
    chọn màu sắc.
    + Thẻ màu xanh: Một số
    tranh chân dung.
    – GV quan sát, trợ giúp, gợi
    ý trực tiếp khi học sinh cần.
    – HS nhớ lại những hình ảnh chân dung
    và các chân dung đã đƣợc nhìn thấy.
    – HS quan sát chân dung trƣớc mặt.
    – HS hãy quan sát mẫu vẽ và vẽ bức tranh
    chân dung theo sự hiểu biết và ý thích
    của bản thân.
    – HS sử dụng thẻ hỗ trợ khi cần.
    – Giấy
    A5, bút
    chì, màu,
    kéo, hồ.
    – Thẻ hỗ
    trợ.

    Góc 2: Phân tích –áp dụng
    Nhiệm vụ:
    – Quan sát một số hình ảnh sƣu tầm và sơ đồ các bƣớc tạo hình (vẽ/nặn/xé
    dán/cắt dán) chân dung tự họa trên trực quan.
    – Phân tích đặc điểm tranh chân dung tự họa, các bƣớc tạo hình tranh chân dung
    tự họa và tranh minh họa trong sách giáo khoa để nắm đƣợc cách tạo hình tranh chân
    dung.
    – Áp dụng các bƣớc tạo hình và tự tạo hình một chân dung theo ý thích.
    Lƣu ý: Không tạo hình giống với hình ảnh các chân dung ở trực quan.
    – Thời gian: 10 phút – 12 phút.
    24

    Hoạt động của giáo viênHoạt động của học sinhThiết bị,
    đồ dùng
    DH
    – GV quan sát HS thực hiện
    nhiệm vụ và hỗ trợ, gợi mở
    kịp thời.
    – HS quan sát hình ảnh trực quan và
    các bƣớc tạo hình chân dung.
    Hình ảnh các bƣớc tạo hình chân dung
    – HS hãy phân tích đặc điểm tranh chân
    dung tự họa, các bƣớc tạo hình tranh
    chân dung tự họa và tranh minh họa
    trong sách giáo khoa để nắm đƣợc cách
    tạo hình tranh chân dung.
    – HS hãy áp dụng các bƣớc tạo hình và
    tự tạo hình một chân dung theo ý thích.
    – HS sử dụng thẻ hỗ trợ khi cần.
    – Hình ảnh
    chân dung
    sƣu tầm.
    – Sơ đồ
    các bƣớc
    tạo hình
    chân
    dung.
    – Giấy A5,
    bút chì,
    màu vẽ,
    kéo, hồ…
    – Thẻ hỗ
    trợ.

    Góc 3: Quan sát –thực hành
    Nhiệm vụ: Quan sát một số chân dung trƣớc mặt và nhận xét về hình dạng
    khuôn mặt, cấu trúc, kích thƣớc, sự cân đối, đối xứng qua trục dọc của các bộ phận
    trên khuôn mặt và nhận xét về hình thức vẽ, chất liệu vẽ, bố cục, màu sắc đƣợc thể
    hiện trong tranh; đồng thời suy nghĩ về tác dụng của chân dung trong cuộc sống.
    – Hãy tự tạo hình một tranh chân dung theo ý thích.
    – Thời gian: 10 phút – 12 phút.
    25

    Hoạt động của giáo
    viên
    Hoạt động của học sinhThiết bị, đồ
    dùng dạy học
    – GV tổ chức học sinh
    thực hiện nhiệm vụ.
    – GV quan sát, gợi
    mở, phát hiện khó
    khăn để hƣớng dẫn,
    hỗ trợ HS kịp thời.
    Nhắc nhở thời gian
    để HS hoàn thành
    nhiệm vụ và chuẩn bị
    luân chuyển góc.
    – HS quan sát chân dung trƣớc mặt.
    – HS nhận xét về hình dạng khuôn mặt, bố
    cục, đối xứng qua trục dọc của bộ phận trên
    khuôn mặt của mẫu.
    – HS nhận xét về hình thức vẽ, chất liệu , bố
    cục, màu sắc đƣợc thể hiện trong tranh.
    – Suy nghĩ tác dụng của tranh chân dung
    trong cuộc sống.
    – HS sử dụng thẻ hỗ trợ khi cần.
    – HS hãy tạo hình một bức tranh chân dung
    theo ý thích.
    – HS sử dụng thẻ hỗ trợ khi cần.
    – Một số chân
    dung khác
    nhau về hình
    dáng, kích
    thƣớc, cách sử
    dụng họa tiết
    màu sắc. Giấy
    A5, bút chì,
    màu vẽ. Thẻ
    hỗ trợ.

    Góc 4: Tạm nghỉ
    26
    Nhiệm vụ: HS xem một số kiểu dáng chân dung bằng bìa cứng. Hãy chọn các
    bộ phận trên khuôn mặt đã cắt sẵn để gắn vào những “chân dung” đã cắt bằng bìa
    cứng trên bàn thể hiện các biểu cảm khác nhau, tô màu theo ý thích. Sau đó làm
    khung tranh bằng bìa cứng cho sản phẩm của mình.

    Hoạt động của giáo
    viên
    Hoạt động của học sinhThiết bị,
    đồ dùng
    DH
    – GV tổ chức học sinh
    “tạm nghỉ” thông qua
    hoạt động gắn bộ phận
    trên khuôn mặt và tô
    màu vào hình chân
    dung bằng bìa cứng.
    Làm khung tranh cho
    sản phẩm.
    – HS xem một số kiểu dáng chân dung bằng
    bìa cứng.
    – HS lựa chọn hình chân dung bằng bìa cứng
    cho trƣớc. HS lựa chọn thêm các bộ phận trên
    khuôn mặt bằng bìa cứng, thể hiện các cảm
    xúc của con ngƣời dán vào khuôn mặt bằng
    bìa cứng và tô màu theo ý thích vào mô hình
    chân dung bằng bìa trên bàn. Sau đó HS cắt
    bìa cứng làm khung tranh cho sản phẩm của
    mình.
    – Một số
    kiểu dáng
    chân dung
    bằng bìa
    cứng.

    Hoạt động 4 : Củng cố bài học

    Hoạt động của giáo viênHoạt động của học sinhThiết bị,
    đồ dùng
    DH

    27

    – GV tổ chức Hs đánh giá trƣớc
    lớp:
    + Đặc điểm của tranh chân dung.
    Đặc điểm riêng và sự cân đối của
    các bộ phận trên khuôn mặt.
    + Cách vẽ, cắt hoặc xé dán chân
    dung.
    – GV hƣớng dẫn Hs đánh giá, nhận
    xét, nêu cảm nhận của bản thân về
    bài vẽ của các nhóm và một số cá
    nhân ở mức độ hoàn thành và chƣa
    hoàn thành, theo các yếu tố: bố cục,
    sắp xếp họa tiết, màu sắc, đậm
    nhạt.
    – Tổng kết trên cơ sở đánh giá và
    trình bày của HS. Kết thúc bài học.
    – HS trình bày những kiến thức
    học đƣợc từ các góc và hiểu
    biết về chân dung trong cuộc
    sống theo gợi mở của GV.
    – HS nhận xét kết quả tạo hình
    tranh chân dung của các nhóm
    và một số cá nhân theo hƣớng
    dẫn của GV.
    – Kết quả
    học tập của
    các nhóm
    tại góc cuối
    cùng.

    * So sánh:
    Sau khi ứng dụng giải pháp 1 vào chủ đề 1: Chân dung tự họa – Lớp 5.
    Thành quả sản phẩm khi chƣa ứng dụng dạy học theo góc và sau khi ứng dụng
    dạy học theo góc:
    Sản phẩm chƣa ứng dụng theo góc
    28
    Sản phẩm ứng dụng theo góc
    Học sinh học theo phƣơng pháp truyền thống khi chƣa ứng dụng dạy học theo
    góc sản phẩm của học sinh chỉ vẽ trên giấy chƣa có sự sáng tạo, tìm tòi, bài vẽ chƣa
    đƣợc đẹp, gò bó, sao chép nhiều, thƣờng xuyên tẩy xóa.
    Sản phẩm học theo ứng dụng theo góc đa dạng về chất liệu, nổi trội, bố cục
    đẹp, rất sáng tạo.
    Từ kết quả trên cho thấy ứng dụng dạy học theo góc ở môn Mĩ thuật học sinh
    biết nhận xét cái đẹp và chƣa đẹp một cách rõ ràng trên bài vẽ. Biết tạo ra sản phẩm
    đẹp trang trí lớp. Đặt biệt học sinh rất yêu thích môn Mĩ thuật hơn, vẽ một cách say
    sƣa hơn, hứng thú hơn tạo ra nhiều sản phẩm tạo hình sáng tạo, khiến cho tiết học trở
    nên thoải mái, nhẹ nhàng. Quan trọng hơn cả là các em thấy tự tin khi vẽ, tạo hình
    mang hiệu quả bất ngờ.
    2.3.2 Giải pháp 2
    GIÁO ÁN MĨ THUẬT LỚP 3
    CHỦ ĐỀ 8: TRÁI CÂY BỐN MÙA
    * Những kiến thức HS đã nắm đƣợc:
    – Phƣơng pháp góc.
    – Nhận biết đƣợc đặc điểm về hình dáng và vẻ đẹp của một số loại trái cây quen
    thuộc.
    – Sáng tạo các hình tƣợng khác nhau từ các hình khối cơ bản.
    – Vẽ, nặn hoặc xé dán, tạo hình một vài loại trái cây theo ý thích.
    29
    I. Mục tiêu của bài học:
    Trong và sau khi học xong bài này học sinh học đạt đựợc.
    – HS nắm đƣợc đặc điểm, vẻ đẹp và sự cân đối về hình dáng, sự phong phú về
    cấu trúc, màu sắc của trái cây.
    – HS vẽ, cắt, hoặc xé dán, tạo hình đƣợc trái cây theo ý thích.
    – Giới thiệu nhận xét và nêu đƣợc cảm nhận về sản phẩm của mình, của bạn.
    II. Phƣơng pháp và hình thức tổ chức
    – Phƣơng pháp góc, trực quan, vấn đáp, gợi mở, thực hành ….
    – Hình thức tổ chức: Hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm.
    III. Đồ dùng và phƣơng tiện
    Giáo viên chuẩn bị:
    – Sách giáo khoa, màu vẽ, giấy vẽ, kéo, hồ…
    – Hình ảnh sƣu tầm tranh trái cây.
    – Một vài loại trái cây thật có hình dáng, kích thƣớc, màu sắc khác nhau.
    – Sản phẩm của học sinh về trái cây.
    – Phiếu học tập và thẻ hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ học tập.
    – Máy chiếu.
    Học sinh chuẩn bị:
    – SGK MT 3.
    – Giấy, bút, màu, keo dán, đất nặn, cốc, thìa nhựa,…
    – Sƣu tầm hình ảnh trái cây trên sách báo, tạp chí,…
    IV. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ YẾU
    Khởi động
    – Tổ chức cho HS chơi trò chơi: “chiếc hộp bí mật”
    – Chuẩn bị: GV chuẩn bị một hộp kín đựng một số trái cây quen thuộc. Trên
    nắp hộp khoét một ô nhỏ để lấy quả ra ngoài. (Số trái cây phải nhiều hơn số nhóm
    trong lớp)
    30
    – Tiến hành: Đại diện HS của từng nhóm dùng tay cảm nhận, đoán tên trái cây
    mà HS nắm đƣợc, sau đó lấy quả ra khỏi hộp. Nếu đoán đúng sẽ đƣợc mang trái cây
    đó về để làm mẫu cho nhóm của mình.
    – Sau khi tổ chức cho HS tham gia trò chơi, GV khuyến khích HS đoán tên bài
    học và giới thiệu chủ đề: “Trái cây bốn mùa”.
    Hoạt động 1: Giới thiệu bài mới.
    Hoạt động 2: Giới thiệu nội dung bài học, phƣơng pháp và nhiệm vụ học
    tập.

    Hoạt động của GVHoạt động của HSThiết bị,
    đồ dùng
    DH
    – GV tổ chức cho HS thành lập nhóm học
    tập.
    – GV giới thiệu nội dung bài học (mục tiêu,
    nhiệm vụ của các góc, thời gian mỗi góc:
    10 phút – 12 phút) chiếu trên màn hình và
    dán ở các góc, cho học sinh tự lựa chọn
    góc theo phong cách học của bản thân.
    – GV nêu nội dung và yêu cầu của bài học
    thông qua nhiệm vụ, phƣơng tiện, đồ dùng
    học tập tại các góc:
    * Góc 1: Trải nghiệm.
    Nhiệm vụ: Bằng sự hiểu biết và quan sát
    trái cây thông qua thực tế, em hãy tập tạo
    dáng bằng cách vẽ, cắt hoặc xé dán, nặn
    một vài trái cây theo ý thích.
    * Góc 2: Phân tích – Áp dụng.
    – HS tạo nhóm học tập
    theo ngẫu nhiên.
    – Lắng nghe để biết cách
    học tập.
    – Quan sát và nêu nội
    dung nhiệm vụ tại mỗi
    góc.
    Máy chiếu

    31

    Nhiệm vụ: + Quan sát một số hình ảnh sƣu
    tầm và sơ đồ các bƣớc tạo hình trái cây
    trên trực quan.
    + Phân tích đặc điểm hình dáng, cấu trúc,
    kích thƣớc một vài trái cây trên trực quan
    và nhận xét đặc điểm, màu sắc trái cây.
    + Áp dụng các bƣớc tạo dáng, trang trí trên
    sơ đồ và các em hãy tự tạo dáng trái cây
    theo ý thích.
    Lƣu ý: Không tạo dáng và trang trí hình
    ảnh các loại quả ở trực quan.
    * Góc 3: Quan sát – Thực hành.
    Nhiệm vụ: Quan sát một vài trái cây trƣớc
    mặt và nhận xét về hình dáng, kích thƣớc,
    cấu trúc, màu sắc trái cây, đồng thời suy
    nghĩ về tác dụng của trái cây trong cuộc
    sống.
    + HS hãy tự nặn trái cây theo ý thích.
    – GV vận động học sinh lựa chọn góc xuất
    phát. Hƣớng dẫn HS luân chuyển góc.
    – GV giới thiệu luôn góc 4 cho HS biết.
    * Góc 4: Góc tạm nghỉ. Dành cho những
    học sinh hoàn thành xong nhiệm vụ của
    mình ở các góc 1, 2, 3 trƣớc thời gian cho
    phép. Các em có thể di chuyển đến góc 4
    để vừa học vừa chơi.
    – HS chọn góc phù hợp
    phong cách học và ngồi
    vào vị trí góc đã chọn.
    – HS lắng nghe.

    32
    Hoạt động 3: Tổ chức học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập các góc.
    Góc 1: trải nghiệm.
    Nhiệm vụ: Bằng sự hiểu biết và quan sát chân dung thông qua thực tế, em hãy
    tập tạo dáng bằng cách vẽ, cắt hoặc xé dán, nặn một vài trái cây theo ý thích.
    – Thời gian: 10 phút – 12 phút.

    Hoạt động của giáo viênHoạt động của học sinhThiết bị,
    đồ dùng
    DH
    – GV giới thiệu các thẻ hỗ
    trợ.
    – Phần tạo hình trái cây:
    + Thẻ màu đỏ: Gợi ý cách
    tạo hình trái cây.
    + Thẻ màu vàng: Gợi ý
    hình minh họa các bƣớc
    tạo hình trái cây.
    – Phần tô màu:
    + Thẻ màu hồng: Gợi ý
    lựa chọn màu sắc.
    + Thẻ màu xanh: Một số
    tranh các loại quả.
    – GV quan sát, trợ giúp,
    gợi ý trực tiếp khi học sinh
    cần.
    – HS nhớ lại những hình ảnh các loại trái
    cây và các loại trái cây đã đƣợc nhìn thấy.
    – HS quan sát hình ảnh trái cây trƣớc mặt.
    Hình ảnh các loại trái cây
    – HS hãy quan sát hình ảnh các loại quả và
    vẽ bức tranh trái cây theo ý thích của bản
    thân.
    – HS sử dụng thẻ hỗ trợ khi cần.
    – Giấy
    A4, bút
    chì, màu,
    kéo, hồ.
    – Thẻ hỗ
    trợ.

    Góc 2: Phân tích – áp dụng
    Nhiệm vụ: Quan sát một số hình ảnh sƣu tầm và các bƣớc tạo dáng trái cây trên
    trực quan.
    33
    – Phân tích đặc điểm hình dáng, cấu trúc, kích thƣớc một vài trái cây trên trực
    quan và nhận xét đặc điểm, màu sắc trái cây.
    – Áp dụng các bƣớc tạo dáng và các em hãy tự tạo dáng trái cây theo ý thích.
    Lƣu ý: Không tạo dáng và trang trí hình ảnh các loại quả ở trực quan.
    – Thời gian: 10 phút – 12 phút.

    Hoạt động của
    giáo viên
    Hoạt động của học sinhThiết bị,
    đồ dùng
    DH
    – GV quan sát
    HS thực hiện
    nhiệm vụ và hỗ
    trợ, gợi mở kịp
    thời.
    – HS quan sát một số sản phẩm một số các loại quả.
    – Sau đó các em quan sát các bƣớc tạo hình vẽ quả
    xoài.
    Các bƣớc vẽ quả xoài
    – HS hãy phân tích đặc điểm hình dáng, cấu trúc, kích
    thƣớc một vài trái cây trên trực quan và nhận xét đặc
    điểm, màu sắc trái cây.
    – HS hãy áp dụng các bƣớc tạo hình trên sơ đồ vẽ quả
    xoài và các em hãy tự tạo hình một bức tranh trái cây
    – Hình ảnh
    một số sản
    phẩm các
    loại quả.
    – Sơ đồ
    các bƣớc
    tạo hình
    vẽ quả
    xoài.
    – Giấy A4,
    bút chì,
    màu vẽ,
    kéo, hồ…
    – Thẻ hỗ
    trợ.

    34

    theo ý thích.
    – HS sử dụng thẻ hỗ trợ khi cần.

    Góc 3: Quan sát – thực hành
    Nhiệm vụ: Quan sát một vài trái cây trƣớc

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Biện pháp giúp học sinh tiểu học phát triển năng lực sáng tạo Mĩ thuật

    SKKN Biện pháp giúp học sinh tiểu học phát triển năng lực sáng tạo Mĩ thuật

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII đã chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ và đồng
    bộ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục, đào tạo
    theo hướng coi trọng phát triển năng lực và phẩm chất của người học… Trên cơ
    sở xác định đúng, trúng mục tiêu đổi mới giáo dục, đào tạo, công khai mục tiêu,
    chuẩn “đầu vào”, “đầu ra” của từng bậc học, môn học, chương trình, ngành và
    chuyên ngành đào tạo thì việc tiếp theo là đổi mới chương trình khung các môn
    học và nội dung của nó theo hướng phát triển mạnh năng lực và phẩm chất
    người học, đảm bảo hài hòa về đức, trí, thể, mỹ; thực hiện tốt phương châm
    mới: Dạy người, dạy chữ và dạy nghề (trước đây là dạy chữ, dạy người, dạy
    nghề)”. Do vậy, việc giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học là vô cùng cần
    thiết. Thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới 2018, môn Mỹ thuật
    được xem là một phương tiện giáo dục quan trọng trong việc giáo dục thẩm mỹ
    cho học sinh. Ngoài việc cung cấp cho học sinh một số kiến thức cơ bản Mỹ
    thuật phổ thông còn giúp các em hiểu biết về cái đẹp. Thông qua môn Mỹ thuật,
    các em sẽ được trang bị một số kỹ năng cơ bản về hội hoạ, tiếp thu nhiều tinh
    hoa của nền mỹ thuật dân tộc. Từ đó phát huy óc sáng tạo và tính thẩm mỹ góp
    phần phát triển năng khiếu, phát hiện tài năng và bồi dưỡng nhân tài cho đất
    nước. Trong xã hội phát triển hiện nay thì nhu cầu thẩm mỹ ngày càng cao. Với
    mục tiêu đào tạo con người hiểu về vẻ đẹp, biết cảm thụ cái đẹp và hiểu về nền
    thẩm mĩ truyền thống, thẩm mĩ hiện đại…, các đơn vị, các công ty và các cơ sở
    giáo dục ngày càng có nhiều sân chơi bổ ích dành cho các em, như sân chơi: “Ý
    tưởng trẻ thơ” do công ty HonDa phối hợp với Bộ giáo dục & đào tạo tổ chức;
    “Chiếc ô tô mơ ước” do công ty ToYoTa phối hợp với Bộ giáo dục và đào tạo
    tổ chức; giao lưu vẽ tranh An toàn giao thông; vẽ tranh về biển đảo, vẽ tranh về
    Bác Hồ; giao lưu phát triển năng lực học sinh do Sở giáo dục & đào tạo tổ chức,
    vẽ tranh trên báo Văn tuổi thơ – Toán tuổi thơ vv…Với môn Mỹ thuật, học sinh
    không những chỉ dừng lại ở vẽ tranh mà các em còn được học các quy trình điêu
    khắc – nghệ thuật tạo hình không gian trong các tiết học… Đây là cơ hội để các
    em được thể hiện khả năng hội họa của mình qua tranh vẽ và sản phẩm 2d, 3d
    với các chất liệu tìm được. Đồng thời giúp các em có ý tưởng sáng tạo để trang
    trí lớp học, bổ sung các kiến thức môn học Toán, tiếng Việt, Lịch sử tạo thành
    mô hình giúp các em nắm sâu kiến thức, góp phần xây dựng một đất nước hiện
    đại, giàu đẹp và văn minh.
    Xuất phát từ lí do trên, là người giáo viên dạy Mĩ thuật, tôi luôn mong với
    kiến thức của mình có thể giúp các em nhìn nhận và thể hiện cái đẹp thông qua
    các bài vẽ làm sao cho đúng, đẹp, nghệ thuật. Và giúp các em tìm hiểu thêm về
    những cảnh thiên nhiên mà các em thấy được từ thực tế, từ những cuộc đi tham
    quan những danh lam thắng cảnh muôn màu, muôn vẻ vốn có từ trên mọi miền
    đất nước, cũng như những cảnh vật xung quanh nơi các em sinh sống và học tập.
    3
    Đồng thời mong muốn có thể truyền cảm hứng để có nhiều học sinh yêu thích vẽ
    tranh và nhiều học sinh vẽ được những bức tranh nghệ thuật và độc đáo.
    Sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, hướng dẫn cũng như tự rút kinh nghiệm
    cho chính bản thân mình, tôi đã chính thức áp dụng các biện pháp trong những
    năm học vừa qua và đã đạt được những hiệu quả nhất định ở nhà trường nơi tôi
    đang công tác. Tôi xin mạnh dạn đề xuất một số biện pháp mà bản thân tôi đã áp
    dụng trong công tác bồi dưỡng, hướng dẫn học sinh vẽ tranh qua sáng kiến: “Biện
    pháp giúp học sinh Tiểu học phát triển năng lực sáng tạo mĩ thuật”.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    a. Ưu điểm:
    Nhà trường luôn quan tâm tạo điều kiện về cơ sở vật chất nhằm thúc đẩy sự
    phát toàn diện về mọi mặt cho học sinh. Ban giám hiệu luôn khuyến khích giáo
    viên về việc thiết kế, cải tạo đồ dùng dạy học trong quá trình giảng dạy; bố trí
    tạo điều kiện về thời gian tập trung bồi dưỡng, hướng dẫn học sinh vẽ tranh.
    Nhiều học sinh được sự quan tâm của gia đình, cha mẹ học sinh tích cực đầu tư
    các công cụ phương tiện để các con học môn Mỹ thuật. Đa số học sinh yêu thích
    môn học này nên cũng thuận lợi cho giáo viên bồi dưỡng kĩ năng, giúp các em
    có khả năng vẽ tốt hơn.
    b. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế:
    Trước đây khi công nghệ thông tin chưa phát triển, việc sưu tầm đồ dùng
    tranh ảnh còn hạn chế rất nhiều. Và mỗi khi có các cuộc thi được các cấp tổ
    chức thì việc định hướng và chọn nội dung phân loại rõ các chủ đề cho các em
    gặp rất nhiều khó khăn. Hầu như giáo viên và học sinh tự mày mò, tự sáng tác,
    thiếu thông tin và hình ảnh để tham khảo. Chính vì vậy mà các em thường vẽ
    chưa đạt yêu cầu chủ đề.
    Bản thân tôi tuổi nghề còn trẻ nên kinh nghiệm trong công tác giảng dạy
    còn hạn chế, sự động viên khích lệ học sinh đôi lúc chưa được kịp thời dẫn đến
    một số bài vẽ chưa có tính sáng tạo, màu sắc chưa được đẹp, nội dung không
    được phong phú. Các em cảm thấy mơ hồ và chưa thực sự hứng thú vẽ tranh
    cũng như tham gia các cuộc thi, hầu như các em nhìn bài nhau để vẽ lại, bắt
    chước bài vẽ của bạn, vẽ sai chủ đề yêu cầu, các sản phẩm tạo hình còn đơn
    điệu. Các em nộp bài chỉ để có số lượng sản phẩm nên chất lượng một số bài vẽ
    chưa cao.
    Một số học sinh có năng khiếu về môn Mĩ thuật, các em rất thích vẽ và tạo
    hình sản phẩm. Nhưng cha mẹ các em lại không tạo điều kiện để cho con em
    mình học vẽ.
    4
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    Tên giải pháp: “Biện pháp giúp học sinh Tiểu học phát triển năng lực sáng
    tạo mĩ thuật ”
    2.1. Biện pháp 1: Hình thành ý tưởng cho một bức tranh
    2.1.1. Mục đích, ý nghĩa và sự cần thiết của biện pháp
    Ý tưởng là động lực, là “tài sản” vô giá để người họa sĩ có thể tạo nên một
    bức tranh. Ý tưởng tốt sẽ giúp cho bức tranh chất lượng, có giá trị nghệ thuật
    cao và ngược lại. Tài năng của một họa sĩ chính là chắt lọc ý tưởng từ những trải
    nghiệm trong thực tế cộng với tư duy sáng tạo. Cuối cùng là thể hiện ý tưởng
    của mình lên tác phẩm bằng cảm xúc và theo một hoặc nhiều phong cách nghệ
    thuật khác nhau. Vì vậy, trong lĩnh vực nghệ thuật, đặc biệt trong vẽ tranh, ý
    tưởng là sự khởi đầu, đồng thời cũng là cốt lõi thẩm mỹ của sự sáng tạo.
    Nếu không có ý tưởng cho một bức tranh, tất cả những kỹ năng vẽ tranh
    sẽ trở nên vô dụng. Ý tưởng và nghệ thuật thể hiện tạo nên phong cách của tác
    phẩm. Một bức tranh thường được bắt đầu từ một ý tưởng hay cảm hứng nảy
    sinh. Để vẽ những gì mình muốn, thì tìm ý tưởng là phần khó nhất trong quá
    trình sáng tạo một bức tranh bởi ý tưởng phải độc đáo, phải là của riêng mình.
    Hơn nữa, chỉ độc đáo thôi chưa đủ. Cái mới sẽ chóng chán nếu thiếu sự nhất
    quán giữa ý tưởng và hình thức.
    2.1.2. Nội dung biện pháp
    Ý tưởng phải bám sát và thỏa mãn nội dung, mục đích nhu cầu sáng tạo,
    nhằm truyền tải thông tin đến người xem bằng những hình ảnh và tín hiệu dễ
    nhận diện, mang lợi ích ứng dụng, thẩm mỹ cho cộng đồng và phù hợp với xu
    thế phát triển thời đại. Ý tưởng từ khi hình thành đến hoàn thiện sản phẩm là quá
    trình chắt lọc, tìm tòi, phác thảo các phương án bố cục bức tranh, không chỉ ở
    phần tạo hình mà kể cả màu sắc, nội dung… Các yếu tố đó phải có tính nhất
    quán và liên kết chặt chẽ với nhau. Ý tưởng giàu tính sáng tạo, nội dung và hình
    thức cô đọng, tính thẩm mĩ cao.
    Hình thành ý tưởng kết hợp sự đam mê hứng thú thì mới cho ra sản phẩm
    độc đáo. Để giúp học sinh yêu thích vẽ tranh và hào hứng tham gia các cuộc thi,
    giáo viên Mĩ thuật phải là người truyền cảm hứng, khơi dậy sự hứng thú và tính
    sáng tạo cho các em, tôn trọng gợi mở để ý tưởng của các em được bộc lộ, bồi
    dưỡng và phát triển các ý tưởng của các em. Có như vậy, các em mới có thể phát
    huy tài năng hội họa của mình và sẽ cho ra nhiều những bức tranh đẹp, sáng tạo
    và nghệ thuật để tham gia các cuộc thi đạt giải cao. Từ những ý tưởng, trong
    nhiều năm qua, tôi đã vận dụng đổi mới phương pháp dạy học, tự tìm tòi, học
    hỏi đồng nghiệp, sách báo và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến các cuộc thi
    do PGD&ĐT, SGD&Đ và BGD&ĐT tổ chức để có biện pháp hướng dẫn các em
    vẽ tranh đạt hiệu quả cao. Khi hướng dẫn học sinh ý tưởng vẽ tranh tôi đã làm
    như sau:
    5
    – Thứ nhất: Giáo viên phải dành thời gian cho học sinh được trải nghiệm
    và việc làm này sẽ giúp học sinh tích lũy được kinh nghiệm sau từng giờ, từng
    ngày. Từ sự thường xuyên đó, học sinh sẽ hình thành cho bản thân những ý
    tưởng về nội dung, chủ đề, cách thức sắp xếp bố cục, phối màu và sáng tạo tư
    duy nghệ thuật riêng trong từng tác phẩm.
    Cuộc sống luôn ẩn chứa nhiều điều thú vị và luôn chờ con người khám
    phá, phát hiện. Ý tưởng đến từ cuộc sống bởi qua quá trình sinh hoạt, giao tiếp
    hằng ngày, học sinh sẽ thu về được cho mình những thông tin về mọi vấn đề. Về
    lâu dài, khi kinh nghiệm cuộc sống được tích lũy thì cũng là lúc để những ý
    tưởng được nảy sinh, chín muồi. Tuy nhiên, ý tưởng tốt, ý tưởng hay chỉ có
    được khi học sinh tập cho bản thân thói quen tư duy, quan sát sự vật, hiện tượng
    của cuộc sống xung quanh hằng ngày và dành thời gian để ý tới nó thì thành quả
    sẽ tới với mình.
    – Thứ hai: Phối kết hợp với cha mẹ học sinh để gợi mở thêm các ý tưởng
    cho các em.
    – Thứ ba: Hướng dẫn học sinh ghi lại những ý tưởng trong đầu xuống
    những trang giấy; giúp các em cách hệ thống lại những ý tưởng theo từng nội
    dung, chủ đề để có thể đưa ra lựa chọn phù hợp.
    – Thứ tư: Hướng dẫn học sinh tham khảo thêm các tác phẩm nổi tiếng của
    các họa sĩ trong nước cũng như thế giới, những bức tranh của các bạn học sinh
    khác để các em thấy được sự phong phú đa dạng về phong cách nghệ thuật; việc
    làm này giúp các em đưa ra những ý tưởng hợp với xu hướng thời đại.
    Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh vẽ tranh về các chủ đề tham gia các cuộc
    thi, giáo lưu, tôi đã giúp các em hình thành ý tưởng như sau:
    a. Với cuộc thi “Ý tưởng trẻ thơ” do công ty HONDA phối hợp với Bộ
    giáo dục và đào tạo tổ chức
    Đây là một sân chơi thú vị dành cho các em được diễn ra vào tháng 4 đến
    tháng 8 hàng năm. Mục đích cuộc thi là giúp các em phát huy trí tượng tượng,
    sáng tạo để trở thành một nhà phát minh tý hon. Cuộc thi mở rộng với mọi vấn
    đề trong xã hội, những ý tưởng của các em phải mang tính chuyển động mới lạ
    và làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Để giúp các em hiểu rõ về mục đích cuộc thi,
    giúp các em vẽ đúng yêu cầu, tôi đã chia làm 6 đề tài:
    * Đề tài về công nghiệp
    Tôi cho học sinh tham quan các xưởng chế tạo cơ khí ở khu công nghiệp tại
    xã Xuân Tiến để các em được tận mắt trải nghiệm; gợi mở để học sinh sáng tạo
    ra những cỗ máy, bộ máy thần kỳ giúp sản xuất được nhiều sản phẩm đẹp thân
    thiện với môi trường không gây ô nhiễm, độc hại cho con người.
    Sáng chế ra các nhà máy hiện đại ở trên không hoặc ở dưới lòng đại dương,
    dưới lòng đất, trên sa mạc mà không gây hại cho môi trường.
    6
    * Đề tài về nông nghiệp
    Cho học sinh tham quan, xem máy gặt lúa của bà con nông dân. Tham khảo
    trải nghiệm trên ti vi, mạng Internet về những phát minh máy móc giúp bà con
    nông dân trong sản xuất.
    Gợi mở để học sinh nghĩ ra các loại máy nông nghiệp thông minh giúp các
    bác nông dân vừa có thể chăm sóc cây xanh, vừa có thể thu hoạch được…
    Phát minh ra những máy móc, con rô bốt có khả năng thu hút được những
    con côn trùng, chuột, sâu, ốc gây hại cho mùa màng để biến chúng thành phân
    bón cho cây…
    Phát minh các loại máy hái khử độc và chế biến hoa quả…
    * Đề tài về giáo dục và đào tạo
    Tôi gợi mở để học sinh nghĩ ra các đồ dùng học tập hỗ trợ cho các em hoc
    dễ hiểu, dễ nhớ hơn: cặp sách thông minh, bút thông minh, bàn học thông minh,
    bảng thông minh, robot dạy học thông minh,…
    Mô hình trường học thông minh (hiện đại) an toàn, sạch vi khuẩn, lớp học
    thông minh, nhà vệ sinh thông minh…
    * Đề tài về Y tế
    Tôi gợi mở để học sinh phát minh ra những chiếc áo thông minh, các loại
    xe hiện đại khám chữa bệnh cho người nghèo, ung thư,…
    Mô hình bệnh viện thông minh…
    * Đề tài về Môi trường
    Tôi gợi mở để học sinh phát minh ra các loại máy thông minh có thể diệt
    mọi vi khuẩn có hại.
    Các loại ô tô chăm sóc và bảo vệ trái đất.
    Các loại máy làm biến đổi khí hậu.
    Các cỗ máy với hình dạng khác nhau có thể làm sạch biển, sông hồ.
    Các loại máy chống và ngăn ngừa động đất, sóng thần.
    Các loại robot có thể phát hiện thiên tai và có khả năng chăm sóc môi trường.
    * Đề tài về Giao thông
    Các loại phương tiện ô tô, xe máy thân thiện môi trường không xả thải,
    chạy bằng năng lượng: mặt trời, gió, nước, điện với nhiều chức năng hiện đại
    không gây tai nạn và có khả năng tự lái.
    Các loại xe chuyên dụng: xe cứu hỏa thông minh, xe cứu hộ cứu nạn thông
    minh có khả năng biết bay và đi được dưới nước, dưới mọi địa hình.
    Các loại mũ bảo hiểm siêu thông minh.
    Cảnh sát rô bót điều hòa giao thông.
    7
    Đèn giao thông thông minh; Cầu thông minh.
    Máy bay siêu hiện đại không gây tai nạn.
    Trạm sửa chữa máy bay trên không.
    Tàu thuyền thân thiện môi trường không bị chìm.
    * Đề tài về Khoa học viễn tưởng
    Tôi gợi mở để học sinh nghĩ ra các loại ô tô, xe máy có thể bay lên bầu trời.
    Các con hãy nghĩ ra những chiếc ô tô có thể khám khá dứơi lòng đại
    dương, lòng đất và bảo vệ các sinh vật ở đó.
    Các con hãy nghĩ ra các mô hình nhà ở dưới nước, trên các hành tinh…
    * Đề tài về các nội dung khác
    Tôi gợi mở để học sinh nghĩ ra các loại máy chế biến thực phẩm nhanh
    chóng, an toàn khi ăn; các con robot giúp mẹ thu dọn nhà cửa, trông em, trông
    nhà, bắt chuột, trông trộm; Robot bắt trộm, bắt chuột…
    Kính thông minh dành cho bà, cho mẹ, cho chị giúp sáng mắt.
    Các loại xe dành cho ngườ khuyết tật…
    b. Với cuộc thi “Chiếc ô tô mơ ước” do công ty TOYOTA phối hợp với
    Bộ giáo dục và đào tạo tổ chức
    Đây cũng là một sân chơi thú vị dành cho các em được diễn ra vào tháng
    01 đến tháng 6 hàng năm. Cuộc thi giúp các em phát huy trí tượng tượng, sáng
    tạo mong muốn để trở thành một nhà phát minh tý hon. Cuộc thi vẽ về ô tô là
    chính, các em phải sáng tạo ra những chiếc ô tô hiện đại mà mình mơ ước.
    Tương tự như cuộc thi “Ý tưởng trẻ thơ” tôi cũng phải phân loại công dụng của
    các loại xe cho các em:
    * Các loại xe chuyên dụng
    – Xe cứu hỏa, cứu nạn thông minh.
    – Các loại xe hiện đại làm sạch môi trường.
    * Các xe du lịch
    – Xe chở khách thông minh nhiều tiện nghi, an toàn tuyệt đối.
    – Xe du lịch khám khá các hành tinh. Xe du lịch có thể biết bay và di
    chuyển dưới nước, trong lòng đất.
    Và đặc biệt các loại xe này phải chạy bằng năng lượng sạch, có chức năng
    không cần người lái an toàn cho người đi trên xe.
    c. Với các chủ đề vẽ tranh trong nội dung chương trình
    – Dựa vào chủ đề của mỗi cuộc thi mà người giáo viên cần xác định rõ các
    nội dung mà các em có thể vẽ:
    8
    – Vẽ về biển đảo: Giáo dục các em về tình yêu tổ quốc, yêu biển đảo quê
    hương: Vẽ các chú bộ đội đang canh gác biển đảo, cảnh các chú đang đi tuần
    kiểm tra biển, cảnh các bạn thăm các chú.
    – Vẽ về Bác Hồ: Giáo dục các em lòng biết ơn yêu quý Bác, sự gần gũi
    của dễ gần của Bác với các bạn thiếu nhi: Bác Hồ với các bạn Thiếu nhi, Bác
    đang xem các bạn múa hát, Bác đang dạy các bạn học bài, Bác đang vui chơi
    cùng các bạn, Bác và các bạn đang ngắm biển đảo.
    – Đề tài trường học: mái trường, thầy cô và bạn bè.
    Mỹ thuật là môn học đòi hỏi sự sáng tạo, tính mới lạ sự kết hợp giữa ý
    tưởng, hình vẽ và màu sắc hợp lý. Không giống với toán học 1+1=2, một bài
    toán phải có kết quả giống nhau. Tranh vẽ thì mỗi em phải có những sản phẩm
    khác nhau. Vì vậy, tôi luôn nhắc nhở các em là mỗi em phải có ý tưởng riêng
    của bản thân mình, không được bắt chước ý tưởng của người khác. Bởi bức
    tranh mình vẽ dù đẹp đến mấy nhưng nó là bài vẽ bắt chước ý tưởng của người
    khác sẽ không được công nhận. Khi các em nêu ra được ý tưởng mà ý tưởng đó
    bị trùng với các bạn hoặc nó đã được vẽ rồi thì giáo viên không được chê ý
    tưởng của các em ngay mà phải nhẹ nhàng động viên khơi dậy các ý tưởng khác
    cho các em để các em mạnh dạn, hứng thú nghĩ ra ý tưởng mới của riêng mình.
    Giáo viên cần lắng nghe, động viên các ý tưởng, sự sáng tạo của các em để các
    em thấy tự tin cố gắng hơn.
    2.2. Biện pháp 2: Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào việc
    hướng dẫn học sinh vẽ tranh giúp các em phát triển năng lực sáng tạo mĩ thuật
    2.2.1.Mục đích, ý nghĩa và sự cần thiết của biện pháp
    Sử dụng CNTT trong việc hướng dẫn học sinh vẽ tranh và nâng cao chất
    lượng bài vẽ nhằm phát huy hiệu quả và chất lượng bài vẽ hơn. CNTT cuốn hút
    học sinh vào các hình ảnh trực quan sinh động, những hình ảnh minh họa có sức
    thuyết phục gắn bó với nội dung và làm phong phú hơn hình thức của bức tranh
    theo chủ đề. CNTT là phương tiện dạy học nhằm phát huy tính sáng tạo của học
    sinh không chỉ để minh họa bài dạy mà còn có tác dụng thúc đẩy quá trình nhận
    thức, phát triển tư duy sáng tạo, tạo hứng thú học tập cho học sinh. Do đó, việc
    sử dụng CNTT đến đâu, thời gian nào đòi hỏi giáo viên cần có sự lựa chọn và
    chuẩn bị chu đáo để kết quả dạy học đạt được yêu cầu đặt ra. Bởi nếu không,
    CNTT chỉ là công cụ thay cho giáo viên sử dụng ĐDDH để minh họa và trình
    bày bằng lời, thay cho viết phấn trên bảng sẽ hạn chế kết quả.
    CNTT giúp giáo viên có điều kiện thu thập thông tin liên quan đến nội
    dung hướng dẫn vẽ tranh một cách dễ dàng nhanh chóng trên các trang Web, các
    kênh thông tin trong và ngoài nước.
    9
    2.2.2. Nội dung biện pháp
    Lựa chọn CNTT trong việc nâng cao chất lượng bài vẽ của học sinh để
    tham dự các cuộc thi vẽ tranh cần có trọng tâm và phải biết chọn lọc hình ảnh
    cần thiết trong quá trình hướng dẫn học sinh. Phải tạo được sự hấp dẫn, chú ý và
    phát huy được tính tích cực trong học tập của các em; kích thích được sự tìm tòi
    sáng tạo, khám phá; phát hiện những tri thức mới cho học sinh. Hướng dẫn học
    sinh tham khảo thêm các chương trình trên Youtobe, Web, VTV6, VTV7 các
    chương trình khéo tay để các em tham khảo cách làm mô hình con vật nhà cửa
    cây cối. Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học môn Mỹ thuật phát huy hiệu
    quả khi thực hiện các hoạt động: Quan sát, nhận xét, phân tích, hướng dẫn học
    sinh vẽ tranh. Và đặc biệt góp phần trong việc tham khảo bổ sung ý tưởng cho
    bài vẽ.
    Với bản thân tôi qua nhiều năm giảng dạy, tôi thấy được việc ứng dụng
    công nghệ thông tin vào môn Mĩ thuật vô cùng hiệu quả như: Giáo viên không
    phải hoạt động nhiều như khi dạy bằng bảng, mà giáo viên có thể dạy bằng giáo
    án điện tử để giúp học sinh có sự thích thú, say mê với tiết học. CNTT giúp khai
    thác tư liệu trên Internet qua tranh ảnh, báo chí; lựa chọn hình ảnh rõ ràng, đẹp
    để tăng tính hấp dẫn, thu hút học sinh. Học sinh tiếp nhận các hình ảnh qua kênh
    thông tin thị giác, kênh thông tin…được cho là có vai trò quan trọng trong các
    giác quan tiếp nhận thông tin, giúp nâng cao chất lượng bài vẽ.
    2.3. Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh cách trình bày và thể hiện ý
    tưởng khi vẽ tranh, tạo hình sản phẩm 2d,3d
    2.3.1. Mục đích, ý nghĩa và sự cần thiết của biện pháp
    Giúp học sinh biết cách trình bày và thể hiện ý tưởng khi vẽ tranh, nặn tạo
    hình 2d, 3d không gian. Giáo viên hướng dẫn, gợi ý cách bố cục bức tranh hợp
    lý, cách chọn hình ảnh chính, hình ảnh phụ và cách sắp xếp các hình ảnh đó sao
    cho hợp lí, cân đối, có trọng tâm, rõ nội dung là vô cùng cần thiết. Tùy theo từng
    bài mà chọn hình ảnh và sắp xếp bố cục cho phù hợp. Nếu không có phân tích,
    gợi ý của giáo viên, học sinh sẽ rất lúng túng khi trình bày và thể hiện ý tưởng.
    2.3.2. Nội dung của biện pháp
    a. Vẽ ý tưởng bằng nét
    Qua quá trình giảng dạy thực tế, tôi thấy các em thường vẽ hình ảnh chính
    rất nhỏ không rõ được ý tưởng chính. Để giúp các em có thể hiểu về ý tưởng và
    cách trình bày xắp xếp ý tưởng hợp lý, tôi khuyến khích, hướng dẫn các em vận
    dụng thông tin tra cứu vào mạng các hình ảnh có liên quan đến chủ đề vẽ tranh
    và chủ đề cuộc thi vẽ tranh trong các tiết học Tin học và máy tính ở nhà của các
    em (nếu có) để các em có thể tham khảo về cách trình bày hình ảnh và màu sắc
    trong tranh và cũng là để tránh sự bắt chước các ý tưởng có sẵn.
    10
    Tôi luôn nhắc các em trình bày vẽ mô hình chính to đặt ở chính, trung tâm
    của bức tranh, các bộ phận phải rõ ràng.
    Ví dụ: Khi vẽ “Chiếc ô tô mơ ước” thì sau khi vẽ máy móc, mô hình xong,
    các em cần phải vẽ thêm các hình ảnh minh họa cho ý tưởng để thêm đẹp hơn.
    Vẽ thêm các hình ảnh cần thiết phù hợp để làm nổi bật ý tưởng. Có thể viết chú
    thích vào các chức năng để người xem có thể hiểu hơn về ý tưởng.
    Tranh vẽ ý tưởng bằng nét
    b. Vẽ màu
    Màu sắc luôn luôn hấp dẫn, lôi cuốn đối với học sinh tiểu học. Vẽ màu là
    sự kết hợp hài hòa giữa cảm xúc và lí trí, tạo nên “linh hồn” và vẻ đẹp của bức
    tranh. Khi hướng dẫn học sinh vẽ màu, giáo viên cần giới thiệu cách sử dụng các
    chất liệu như: bút dạ, sáp màu, màu nước,…thông qua việc giới thiệu cách vẽ
    màu của các bức tranh và cách phạm thị của giáo viên.
    Học sinh tiểu học rất thích vẽ màu nguyên chất và vẽ màu theo bản năng.
    Nếu sự tác động của giáo viên không đúng lúc, đúng chỗ thì sẽ ảnh hưởng
    không tốt tới học sinh và làm mất đi những màu sắc trong sáng và ngây thơ của
    các em. Chính vì thế việc hướng dẫn vẽ màu cần khéo léo và mang tính chất gợi
    ý, động viên khích lệ, tránh ép buộc học sinh vẽ màu theo ý của giáo viên hoặc
    bắt chước các tranh mẫu.
    Để học sinh vẽ màu tự do theo ý thích, chắc chắn các em sẽ phát huy được
    năng lực của bản thân và bộc lộ rõ cá tính của mình. Song nếu không có sự quan
    tâm, hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên thì nhiều học sinh sẽ bị lúng túng, vẽ màu
    sẽ bị quá lòe loẹt hoặc tối xỉn hay sử dụng những màu không ăn nhập với nhau.
    Ý tưởng hay mà màu sắc không được đẹp, không nổi bật ý tưởng thì bài vẽ đó sẽ
    mất đi sự chú ý của người xem tranh, chính vì vậy trong tranh màu sắc cũng rất
    quan trọng.
    Thường thì chúng ta dạy học sinh tô màu vào hình ảnh chính rồi mới tô vào
    hình ảnh phụ, và màu nền tô sau cùng. Qua quá trình giảng dạy, tôi thấy hình ảnh
    11
    chính các bạn tô rất nhiều màu sắc nên khi tô màu vào màu nền, màu của không
    gian các bạn không biết phải tô màu gì, và thường là tô màu bị trùng nhau không
    làm nổi bật được bức tranh. Chính vì vậy, tôi khuyến khích và khuyên các em nên
    tô màu nền, màu của không gian và bầu trời trước rồi mới chọn màu phù hợp tô
    vào ý tưởng đó sao cho màu của ý tưởng phải nổi bật hẳn lên trong tranh. Với
    chất liệu là sáp màu các em cần cầm ngắn bút và phải tô mạnh tay, ngoài ra các
    em có thể sử dụng kỹ thuật in chà xát để bức tranh có màu sắc ấn tượng hơn.
    Tranh vẽ đã được tô màu
    Học sinh lớp 3 đang vẽ tranh
    Học sinh lớp 5 đang tô màu vào hình ảnh chính và hoàn thiện bức tranh
    12
    Các tác phẩm của các em đã hoàn thành
    Học sinh đang ghi lại nội dung ý tưởng bức tranh
    13
    c. Tạo hình sản phẩm 2D, 3D
    Với một chủ đề, giáo viên có thể khuyến khích gợi mở cho học sinh vẽ tranh
    với mọi chất liệu, vẽ kết hợp các nguyên vật liệu tái chế như bìa giấy, vải vụn,
    nắp chai, lá cây khô, đất nặn và các loại hạt để bức tranh được đẹp, độc đáo và lạ
    mắt hơn.
    Huy động học sinh phối kết hợp với gia đình đem các vật liệu tái chế, tìm
    được mang đến tiết học.
    Hướng dẫn chia nhóm, nhóm trưởng sẽ là người quyết định, với mỗi chủ đề
    yêu cầu mà giáo viên đưa ra nhóm trưởng sẽ là người điều hành phân công các
    thành viên trong nhóm theo năng lực, năng khiếu thế mạnh của từng ban, bạn
    nào vẽ đẹp sẽ phân công cho bạn vẽ, bạn nào tô màu sẽ phan công cho bạn tô, và
    bạn nào biết uốn dáng người tạo hình con vật sẽ phối hợp hướng dẫn thêm cùng
    cô giáo hỗ trợ những bạn không biết làm, tránh trường hợp ỷ lại trong nhóm.
    Tác phẩm tạo hình của Nhóm Sơn Ca – Lớp 4B3
    Sản phẩm tạo hình của học sinh được bày trong Ngày hội “Chung tay xây dựng trường học sinh thái”
    14
    Tranh vẽ kết hợp xé dán của học sinh có năng khiếu hội họa
    + Tính mới, tính sáng tạo, khoa học của sáng kiến: Nếu như trước kia học
    sinh chỉ vẽ tranh ở trong phòng học theo các bước vẽ tranh đơn thuần thì ở sáng kiến
    này học sinh được ra ngoài trời, được tận mắt chứng kiến cảnh vật cũng như con
    người… sau đó đưa vào tranh vẽ theo cảm nhận riêng tạo ra một ngân hàng hình ảnh
    đầy cảm xúc. Học sinh lại lựa chọn ở ngân hàng hình ảnh ấy tạo ra những câu
    chuyện lý thú thông qua trí tưởng tượng của mình. Từ thực tế quan sát cuộc sống và
    sự sáng tạo của mình, học sinh sẽ cho ra các tác phẩm như ý.
    + Khả năng áp dụng của sáng kiến: Cách thức áp dụng là học sinh được đi
    trải nghiệm thực tế cuộc sống, ghi nhớ, vẽ tranh theo trí tưởng tượng, không gò bó
    trong sách vở. Mĩ thuật ở bậc tiểu học là môn học đầy thú vị, với phương châm lấy
    học sinh làm trung tâm môn học đã giúp giáo viên định hướng cho học sinh những
    giá trị thẩm mĩ một cách tự nhiên nhất. Đặc biệt qua biện pháp giúp học sinh Tiểu
    học phát triển năng lực sáng tạo mĩ thuật, học sinh biết vận dụng kiến thức vào cuộc
    sống sinh hoạt hàng ngày, tự do thể hiện ý tưởng, sự sáng tạo qua các nét vẽ, màu sắc
    và bố cục.
    2.4. Thực nghiệm sư phạm
    2.4.1. Mục đích thực nghiệm
    Trong những năm gần đây, giáo dục luôn đổi mới không ngừng để bắt kịp
    với yêu cầu của xã hội hiện đại. Không chỉ đổi mới về hình thức tổ chức mà còn
    đổi mới mạnh mẽ về cả phương pháp dạy học. Trong ngành giáo dục đã có
    những định hướng và phương án cụ thể để các bộ môn thực hiện. Các hoạt động
    này thể hiện rõ qua các chuyên đề, các buổi tập huấn dành cho giáo viên toàn
    ngành. Trong quá trình dạy – học bộ môn Mĩ thuật nói chung và dạy vẽ tranh
    theo đề tài nói riêng đã có nhiều biến chuyển so với trước đây. Vì vậy tôi xin
    đưa ra một vài biện pháp để nâng cao hiệu quả trong việc hướng dẫn học sinh vẽ
    tranh theo chủ đề nhằm phát triển năng lực sáng tạo mĩ thuật cho học sinh
    của trường tôi. Thực nghiệm được tiến hành với mục đích khẳng định những
    biện pháp trên là khả thi và hiệu quả.
    2.4.2. Đối tượng, thời gian và không gian thực nghiệm
    – Học sinh Trường Tiểu học Xuân Hồng (Khu B)
    15
    – Thời gian thực nghiệm: 10/9/2015 đến 10/4/2021
    – Không gian thực nghiệm: Trường Tiểu học Xuân Hồng (Khu B)
    2.4.3. Nội dung thực nghiệm
    Nội dung thực nghiệm là bồi dưỡng, hướng dẫn học sinh vẽ tranh theo
    chủ đề để tham gia các cuộc thi do các cấp, các ngành tổ chức: Sân chơi “Ý
    tưởng trẻ thơ” do công ty HONDA phối hợp với Bộ giáo dục và đào tạo tổ
    chức; “Chiếc ô tô mơ ước” do công ty TOYOTA phối hợp với Bộ giáo dục và
    đào tạo tổ chức; Giao lưu vẽ về Bác Hồ; vẽ về biển đảo,…Tôi đưa ra các chủ đề
    vẽ tranh tham gia các cuộc thi trên để thực nghiệm các biện pháp đã làm.
    2.4.4. Quy trình thực nghiệm
    Quy trình thực nghiệm tại Trường Tiểu học Xuân Hồng (Khu B) được
    diễn ra cụ thể như sau:
    – Chuẩn bị trước thực nghiệm:
    Tôi đã lập kế hoạch thực nghiệm trình Ban giám hiệu nhà trường. Qua
    khảo sát tôi nhận thấy, nhà trường đặc biệt quan tâm và chú trọng phát triển bộ
    môn Mĩ thuật, học sinh tiểu học rất ham mê vẽ, đây là những cơ hội thuận lợi
    dành cho những giáo viên Mĩ thuật, nhưng cũng là thách thức rất lớn để tôi hoàn
    thành nhiệm vụ trong vai trò của mình. Tôi nhận thức được vai trò và trách
    nhiệm của mình khi triển khai các biện pháp rèn kĩ năng vẽ cho học sinh. Chính
    vì vậy, các khâu chuẩn bị từ kế hoạch tổng quát, thiết kế bài dạy đều được
    chuẩn bị một cách kĩ càng. Cụ thể:
    + Lập kế hoạch bài học cụ thể theo biện pháp dạy học theo chủ đề. Trong
    kế hoạch bài học thể hiện rõ nội dung dạy học, hoạt động của thầy và trò, minh
    họa đồ dùng dạy học.
    + Giáo viên tham khảo Tài liệu dạy học Mĩ thuật dành cho giáo viên tiểu học.
    + Với chủ đề “Ý tưởng trẻ thơ” ; “Chiếc ô tô mơ ước”, giáo viên xây dựng
    kế hoạch ý tưởng dựa trên mục tiêu về kiến thức, kĩ năng để hướng dẫn HS.
    – Tiến hành các bước thực nghiệm:
    Tôi chọn lớp 5B2 (năm học 2019-2020) là lớp thực nghiệm. Trước khi
    thực nghiệm, tôi tiến hành kiểm tra khảo sát để nắm bắt được trình độ của học
    sinh lớp 5B2. Kết quả kiểm tra cho thấy năng lực cảm thụ Mĩ thuật của lớp 5B2
    thể hiện rõ ràng qua bảng sau:
    Kết quả kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm của lớp 5B2
    (năm học 2019-2020)

    Lớp/sĩ sốChưa hoàn thànhHoàn thànhHoàn thành tốt
    5B2: 36 em
    (thực nghiệm)
    0
    (0%)
    25
    (69,4%)
    11
    (30,6%)

    16
    – Sau khi tiến hành khảo sát, tôi tiến hành thực nghiệm, đưa những biện
    pháp nâng cao chất lượng vẽ tranh đề tài áp dụng vào chương trình dạy học mĩ
    thuật lớp 5B2 (2019-2020). Vì giới hạn nên tôi đưa ra một bài đã áp dụng thực
    nghiệm tại lớp. Chủ đề: “Ý tưởng cho một cuộc sống tốt đẹp hơn” ( Cuộc thi vẽ
    tranh Ý tưởng trẻ thơ do công ty Hon Da phối hợp với BGD tổ chức)
    Giáo viên gợi mở để học sinh hình thành ý tưởng. Yêu cầu học sinh sưu tầm,
    tìm tòi các phương tiện để trình bày và thể hiện ý tưởng. Biện pháp chính sử dụng
    trong tiết này là trình bày và thể hiện ý tưởng vẽ tranh.
    Hoạt động 1: Sáng tác tranh theo chủ đề
    Giáo viên sử dụng các hoạt động trải nghiệm phát huy tối đa tính sáng tạo của
    học sinh. Trong giờ vẽ tranh theo chủ đề này giáo viên chỉ là người định hướng cho
    học sinh chủ động tìm hiểu kiến thức, hào hứng khi được trải nghiệm để đưa ra ý
    tưởng và thực hiện. Phân tích cho các em các đề tài mà các em có thể lựa chọn như
    công nghiệp, nông nghiệp, khoa học, y tế, giáo dục, giao thông giúp các em phát
    minh ra những cỗ máy hoặc mô hình thông minh giúp cho con người không phải lao
    động vất vả, tránh dịch bệnh và những ý tưởng phải mang tính nhân văn giúp đỡ
    đoàn kết chia sẻ cho nhau từ đó phát triển các phẩm chất yêu nước, đoàn kết, trung
    thực và trách nhiệm.
    Giáo viên khuyến khích học sinh sử dụng ngân hàng hình ảnh đã sưu tầm để
    tạo thành bức tranh có chủ đề “Ý tưởng cho một cuộc sống tốt đẹp hơn”. Học sinh
    được hoạt động theo nhóm, cặp. Giáo viên khuyến khích học sinh thảo luận nhóm
    đưa ra câu chuyện thông qua sơ đồ tư duy. Thông qua hoạt động này học sinh được
    phát triển các kĩ năng giao tiếp trao đổi thông tin với thầy cô và bạn bè. Các em kể
    được câu chuyện từ bức tranh, có kĩ năng làm việc nhóm và xây dựng sơ đồ tư duy.
    Hoạt động 2: Tô màu và làm phong phú câu chuyện
    Ở hoạt động này học sinh làm việc theo cá nhân hoặc nhóm, trao đổi bàn bạc
    để vẽ màu phù hợp với chủ đề. Trong hoạt động này, giáo viên khuyến khích các em
    thể hiện với nhiều chất liệu khác nhau, đưa ra những tranh luận để tác phẩm của
    nhóm mình sáng tạo và thẩm mĩ nhất.
    Qua một quá trình tiến hành dạy học, tôi cũng nhận được kết quả khá tốt. Lớp
    thực nghiệm với kết quả tốt và vượt trội hơn. Chất lượng bài vẽ của học sinh được
    nâng cao.
    Kết quả chất lượng lớp 5B2 sau thực nghiệm:

    Lớp/sĩ sốChưa hoàn thànhHoàn thànhHoàn thành tốt
    5B2: 36 em
    (thực nghiệm)
    0
    (0%)
    13
    (36%)
    23
    (64%)

    17
    Tác phẩm của học sinh sau khi thực nghiệm
    2.5. Kết quả thực nghiệm
    + Đối với giáo viên:
    Giáo viên xây dựng giáo án theo chủ đề. Ngoài những phương pháp
    truyền thống giáo viên lồng ghép các hoạt động tích cực cho học sinh. Giáo viên
    sáng tạo hơn trong quá trình lên kế hoạch học tập, có thêm nhiều trải nghiệm
    mới trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Tại đây, giáo viên không còn chiếm vị
    trí độc tôn trong lớp học mà là người định hướng và khuyến khích học sinh sáng
    tạo hơn khi đón nhận tri thức.
    + Đối với học sinh:
    Về cách xây dựng ý tưởng: Các em đã biết cách tìm chọn nội dung theo cách
    nhìn nhận riêng của mình, không dập khuôn theo mẫu. Học sinh tiếp nhận thông tin
    một cách chủ động.
    Về cách triển khai xây dựng bố cục và màu sắc trong vẽ tranh: Phần sắp xếp
    hình ảnh được các em trình bày khoa học hơn, sáng tạo hơn. Các chất liệu sử dụng
    trong bài thì đa dạng hơn (có thể là đồ phế liệu, nguyên liệu tự nhiên, màu nước kết
    hợp với màu sáp…). Các em có thêm các kĩ thuật khi xây dựng một chủ đề.
    Về các kĩ năng mềm: Ngoài kĩ năng vẽ tranh, kĩ năng làm việc nhóm, phân
    chia công việc và thực hiện các hoạt động của các em cũng tốt lên nhiều. Các em biết
    lắng nghe, chia sẻ ý kiến của bạn, biết tôn trọng tập thể và tự tin thể hiện bản thân.
    Các em có kĩ năng thuyết trình thành thạo một tác phẩm của mình, hoặc đánh giá
    18
    nhận xét một tác phẩm khác. Vì được mở rộng với nhiều trải nghiệm nên tâm lí các
    em rất hào hứng đón chờ giờ học. Với không gian học mở rộng các em có thêm
    nhiều ý tưởng để thực hiện bài. Giờ đây việc chuẩn bị đồ dùng không còn là bắt buộc
    mà các em rất tự giác.
    Kết quả sản phẩm: Sản phẩm của học sinh tốt dần lên, thể hiện rõ nét qua sản
    phẩm của các em. Những tác phẩm rất đa dạng, sáng tạo và nghệ thuật hơn.
    III.HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN ĐEM LẠI
    1. Hiệu quả về mặt kinh tế
    Sáng kiến đem lại hiệu quả trực tiếp đến kinh tế cho nhà trường như:
    + Giảm chi phí mua đồ dùng môn học, các sản phẩm mẫu giáo viên chỉ cần
    làm một số mẫu còn lại có thể khai thác trực tiếp trên internet.
    + Các sản phẩm của học sinh dùng để trang trí trường học, lớp học, góc học
    tập ở nhà.
    2. Hiệu quả về mặt xã hội
    Trong thời gian áp dụng “Biện pháp giúp học sinh Tiểu học phát triển
    năng lực sáng tạo mĩ thuật” tôi nhận thấy học sinh chuyển từ thụ động đến tự
    giác và tích cực hào hứng tham gia vẽ tranh.
    Tôi đã nhận thấy dạy mĩ thuật không phải chỉ dạy các em biết về hình
    mảng màu sắc mà quan trọng là giáo dục các em biết cảm nhận cái đẹp, biết yêu
    cái đẹp, làm ra cái đẹp và giáo dục phẩm chất cho các em, giúp các em biết quan
    tâm đến mọi người, mọi sự vật xung quanh để từ đó các em có thể bộc lộ suy
    nghĩ thái độ tình cảm của các em qua các bức tranh. Thông qua mỗi bức tranh, ta
    thấy được tính nhân văn của ý tưởng, không cần đến những gì xa xôi phức tạp
    mà chỉ cần nó gần gũi với các em đó là sự quan tâm của các em với gia đình,
    ông bà, bố mẹ, anh chị em, thầy cô và bạn bè…Những lĩnh vực bất cập, thời sự
    trong cuộc sống mà hiện tại con người chưa thể giải quyết và tháo gỡ được.Vì
    vậy mỗi một bài vẽ, mỗi sản phẩm của các em không chỉ đẹp mà còn có tính
    giáo dục rất cao. Đến với các cuộc thi, học sinh trường tôi có rất nhiều bài vẽ
    đẹp và có ý nghĩa độc đáo, mới lạ, giàu tính nhân văn. Đã có rất nhiều bài báo
    khen ngợi các ý tưởng của các em như ý tưởng: Chú sâu rô bốt dò tìm hài cốt;
    Mũ bảo hiểm thông minh dành cho bố; Mô hình nhà ở chim cánh cụt; Hộp cơm
    nhân ái;…và còn nhiều giải thưởng khác được đăng trên báo VTT – TTT.
    + Lợi ích thiết thực của sáng kiến: Học sinh được thỏa trí tưởng tượng và
    tham gia vẽ tranh bằng trải nghiệm thực tế cuộc sống để mở rộng tầm hiểu biết, nâng
    cao niềm yêu mến môn mĩ thuật.
    Tuy nhiên trong quá trình triển khai tại Trường Tiểu học Xuân Hồng vẫn
    còn những hạn chế. Điều đó đã thôi thúc những giáo viên Mĩ thuật như tôi và
    đồng nghiệp tìm ra những biện pháp nhằm nâng cao dạy học vẽ tranh theo
    hướng tích cực, giúp các em phát triển năng lực sáng tạo mĩ thuật. Bằng sự kế
    19
    thừa, tìm tòi, trải nghiệm và đổi mới, tôi đã thực nghiệm thành công đem đến
    những hiệu quả thật sự trong quá trình học tập của các em học sinh.
    Kết quả các cuộc thi: Sau 12 năm giảng dạy

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Sử dụng hiệu quả một số kỹ thuật dạy học hiện đại nhằm phát triển năng lực học sinh trong môn Mỹ thuật lớp 4,5

    SKKN Sử dụng hiệu quả một số kỹ thuật dạy học hiện đại nhằm phát triển năng lực học sinh trong môn Mỹ thuật lớp 4,5

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Thực hiện Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội khóa 13 về đổi mới
    chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, một trong những nội dung đổi
    mới quan trọng mà Nghị quyết 29-NQ/TW đã đề ra đó là: “Tiếp tục đổi mới
    phương pháp giáo dục theo hướng phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất
    người học; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp
    tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm và khả năng tư duy
    độc lập; đa dạng hóa hình thức tổ chức học tập, tăng cường hiệu quả sử dụng các
    phương tiện dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông; giáo dục ở
    nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội; tạo chuyển biến căn bản,
    toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy
    người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về
    truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và
    năng lực, hài hòa trí, đức, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học
    sinh”.
    Mĩ thuật là môn học thuộc lĩnh vực giáo dục nghệ thuật. Trong CT
    GDPT- 2018, môn Mĩ thuật nhằm hình thành, phát triển ở học sinh năng lực mĩ
    thuật, biểu hiện của năng lực thẩm mĩ trong lĩnh vực mĩ thuật; đồng thời cũng
    góp phần cùng các môn học và hoạt động giáo dục khác hình thành, phát triển ở
    học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung đặc biệt là giáo dục ý thức kế
    thừa và phát huy văn hóa nghệ thuật dân tộc phù hợp với thời đại.
    Ngay từ lớp một học sinh Tiểu học đã được làm quen với bộ môn mĩ thuật.
    Trẻ em ở lứa tuổi này đã có nhận thức, cảm xúc về thế giới xung quanh và có
    nhu cầu biểu đạt nó. Tuy nhiên, các phương tiện biểu đạt như viết, nói… còn bị
    hạn chế rất nhiều, trong khi đó tạo hình lại là phương tiện biểu đạt phù hợp nhất.
    Thông qua các hình ảnh, vẽ, xé dán, nặn, tạo hình 3D, màu sắc, cách sắp xếp bố
    cục, bài trí…. Các em có thể nói lên suy nghĩ, cảm xúc của mình trước sự vật,
    hiện tượng, con người và thế giới xung quanh mình.
    4
    Vì vậy, trẻ em lứa tuổi học sinh tiểu học luôn có sự ham thích đặc biệt với
    môn mĩ thuật. Tuy nhiên các giờ học mĩ thuật sẽ thu hút và có hiệu quả nếu GV
    có các phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt động phù hợp với từng chủ
    đề. Những hoạt động đó mang lại cho trẻ có cơ hội trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm
    sống, thể hiện những ý tưởng, tự tìm tòi, chủ động sáng tạo, khám phá và tạo sản
    phẩm mang dấu ấn cá nhân.
    Theo định hướng phương pháp giáo dục trong chương trình môn mỹ thuật
    nhằm phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh thì: người học muốn có
    năng lực không chỉ học tri thức, kỹ năng mà còn phải học cả phương pháp làm
    việc trong quá trình học để sau khi học có khả năng giải quyết những vấn đề
    trong thực tiễn.
    Mục tiêu dạy học của chương trình môn mĩ thuật hiện hành là nhằm đạt
    được chuẩn kiến thức, kỹ năng theo từng nội dung chủ đề giáo dục cụ thể quy
    định trong chương trình môn mỹ thuật. Với phương pháp do Đan Mạch hỗ trợ
    thì mục tiêu môn học thay đổi theo định hướng phát triển về năng lực và yêu cầu
    cần đạt. Cụ thể, phương pháp dạy học hình thành, phát triển ở học sinh các thành
    phần của năng lực Mĩ thuật như sau:
    + Quan sát và nhận thức thẩm mỹ.
    + Sáng tạo và ứng dụng thẩm mỹ.
    + Phân tích và đánh giá thẩm mỹ.
    Dự án “Hỗ trợ giáo dục mĩ thuật tiểu học” (SAEPS) tại Việt Nam là một dự
    án trong chương trình hợp tác văn hóa Việt Nam – Đan Mạch. Dự án này với
    trọng tâm thay đổi phương pháp giảng dạy (PPGD) Mĩ thuật theo hướng đổi mới
    đã bắt đầu được áp dụng rộng rãi trên cả nước. Tuy vậy, thực tế còn nhiều bất
    cập khi triển khai Phương pháp dạy học mới trên cơ sở Chương trình giáo dục
    Mĩ thuật hiện hành, điều kiện dạy học Mĩ thuật của giáo viên và học sinh còn
    nhiều khó khăn; trình độ chuyên môn, năng lực của giáo viên Mĩ thuật cấp Tiểu
    học còn chưa đồng đều. Nhiều nơi giáo viên dạy Mĩ thuật không được đào tạo
    chuyên sâu, không được tập huấn phương pháp mới hoặc được tập huấn chưa
    đúng hay chưa hiểu đúng tinh thần của phương pháp mới nên còn gặp khó khăn,
    5
    lúng túng trong xây dựng kế hoạch dạy học theo chủ đề và thiết kế các hoạt
    động dạy – học hiệu quả.
    Để giúp cho các giáo viên mĩ thuật tiểu học hiểu rõ những vấn đề chung
    về dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới ở bậc Tiểu học và có thể vận dụng
    linh hoạt, sáng tạo các Phương pháp dạy học Mĩ thuật mới vào Chương trình
    giáo dục Mĩ thuật (GDMT) hiện hành, đồng thời hướng tới Chương trình
    GDMT 2018 theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh cũng chính vì lí
    do đó tôi đã nghiên cứu và áp dụng sáng kiến:
    SỬ DỤNG HIỆU QUẢ MỘT SỐ KỸ THUẬT DẠY HỌC HIỆN ĐẠI NHẰM
    PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG MÔN MĨ THUẬT LỚP 4,5
    Để chia sẻ những kinh nghiệm của bản thân trong quá trình dạy học nhằm
    đem lại hiệu quả cao trong dạy và học môn Mĩ thuật.
    6
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp kỹ thuật trƣớc khi tạo ra sáng kiến:
    Từ năm học 2015 – 2016 đến năm học 2019 – 2020, tôi được phân công
    giảng dạy môn Mĩ thuật khối lớp 4, khối lớp 5. Trong quá trình dạy học theo dự
    án hỗ trợ của Vương quốc Đan Mạch môn Mĩ thuật tôi thấy rằng một trong
    những đặc trưng cơ bản của dạy học Mĩ thuật là hoạt động dạy – học thông qua
    các hoạt động thực hành.
    Mỗi một quy trình dạy học đều có các hình thức tổ chức hoạt động khác
    nhau nhưng có điểm chung là: học sinh được chia sẻ, khám phá, tìm tòi, sáng tạo
    và biết kết hợp để tạo ra những sản phẩm mang tính ứng dụng cao.
    Việc sử dụng PPDH và KTDH theo chủ đề đều dựa trên biên soạn của bộ
    sách giáo viên và sách giáo khoa.
    1.1. Sách giáo khoa
    1.1.1. Thuận lợi
    Theo phân phối chương trình dành cho lớp 4 có tất cả 12 chủ đề. Cụ thể:
     Chủ đề 1: Những mảng màu thú vị.
     Chủ đề 2: Chúng em với thế giới động vật.
     Chủ đề 3: Ngày hội hóa trang
     Chủ đề 4: Em sáng tạo cùng những con chữ
     Chủ đề 5: Sự chuyển động của dáng người
     Chủ đề 6: Ngày tết, lễ hội và mùa xuân
     Chủ đề 7: Vũ điệu của sắc màu
     Chủ đề 8: Sáng tạo với những nếp gấp giấy
     Chủ đề 9: Sáng tạo họa tiết, tạo dáng và trang trí đồ vật
     Chủ đề 10: Tranh tĩnh vật
     Chủ đề 11: Em tham gia giao thông
     Chủ đề 12: Tìm hiểu tranh dân gian Việt Nam
    Các chủ đề được biên soạn nhằm hướng tới mục tiêu lấy học sinh làm
    trung tâm; kích thích sự tương tác, tư duy sáng tạo và phát triển nhận thức, từ đó
    giúp các em hình thành và phát triển ba năng lực cốt lõi:
    7
     Sáng tạo mĩ thuật, qua đó biểu đạt bản thân (suy nghĩ, tình cảm, mong
    muốn…)
     Hiểu, cảm nhận và trân trọng sản phẩm/ tác phẩm mĩ thuật.
     Giao tiếp/trao đổi, tiếp nhận thông tin thông qua sản phẩm/ tác phẩm
    mĩ thuật.
    Bộ sách vận dụng các quy trình mĩ thuật theo PPDH mới của dự án
    PAEPS do Đan Mạch tài trợ được biên soạn theo các chủ đề. Trong mỗi chủ đề,
    các em được tiếp cận với kiến thức mĩ thuật thông qua các hoạt động tương tác
    với giáo viên và với các bạn trong lớp bằng các hình thức trải nghiệm, thực
    hành, vận dụng sáng tạo.
    Các chủ đề được tách riêng chia theo từng nội dung cụ thể nên rất thuận
    lợi cho giáo viên trong việc tổ chức các hoạt động cơ bản và hoạt động thực
    hành khi hướng dẫn các em tìm hiểu kiến thức và yêu cầu cần đạt thông qua
    mục tiêu của bài. Hệ thống có sự đan xen giữa các chủ đề với nhau tạo ra các
    mức độ từ dễ đến khó nhằm: Rèn luyện và phát triển các kỹ năng thực hành
    thông qua việc quan sát, nhớ lại, tưởng tượng giúp học sinh sáng tạo, linh hoạt
    trong các cách thể hiện tác phẩm cá nhân hay sản phẩm của nhóm. Phát triển tư
    duy ngôn ngữ, khả năng thuyết trình nhận xét và đánh giá tác phẩm.
    Ví dụ:
    Chủ đề 7: Vũ điệu sắc màu
    Học sinh được trải nghiệm khả năng lắng nghe và cảm nhận âm nhạc,
    được vận động theo giai điệu, chuyển âm thanh giai điệu thành những đường
    nét và màu sắc biểu cảm trên giấy.
    Học sinh được chia sẻ cảm nhận thông qua tác phẩm chung và cá nhân.
    Học sinh được phát triển được trí tưởng tượng và sáng tạo trong quá trình
    tạo ra bức tranh biểu cảm mới từ đường nét và màu sắc.
    Học sinh được phân tích đánh giá tác phẩm thông qua việc đặt tên.
    Học sinh được bày tỏ quan điểm, tình cảm trước lớp và người thân trong
    gia đình.
    8
    Theo phân phối chương trình dành cho lớp 5 có tất cả 13 chủ đề. Cụ thể:
     Chủ đề 1: Chân dung tự họa.
     Chủ đề 2: Sự liên kết thú vị của các hình khối.
     Chủ đề 3: Âm nhạc và sắc màu.
     Chủ đề 4: Sáng tạo với những chiếc lá.
     Chủ đề 5: Trường em
     Chủ đề 6: Chú bộ đội của chúng em.
     Chủ đề 7: Tìm hiểu tranh theo chủ đề “Ước mơ của em”
     Chủ đề 8: Trang trí sân khấu và sáng tác câu chuyện.
     Chủ đề 9: Trang phục yêu thích.
     Chủ đề 10: Cuộc sống quanh em.
     Chủ đề 11: Vẽ biểu đạt các đồ vật.
     Chủ đề 12: Thử nghiệm và sáng tạo với các chất liệu.
     Chủ đề 13: Xem tranh “Bác Hồ đi công tác”
    Các chủ đề trong chương trình mĩ thuật lớp 5 hướng tới mục tiêu lấy học sinh
    làm trung tâm. Các chủ đề có sự liên kết chặt chẽ với nhau theo kiến trúc đồng
    tâm giúp các em hình thành và phát triển các năng lực đặc thù.
    Hệ thống các chủ đề đều hướng tới việc rèn luyện và phát triển các kỹ năng
    thực hành thông qua việc quan sát, nhớ lại, tưởng tượng giúp học sinh sáng tạo,
    linh hoạt trong các cách thể hiện tác phẩm cá nhân hay sản phẩm của nhóm. Phát
    triển tư duy ngôn ngữ, khả năng thuyết trình nhận xét và đánh giá tác phẩm.
    1.1.2. Khó khăn
    * Kiến thức trong Sách giáo khoa hàn lâm, còn nặng về dạy học sinh
    chuyên nghiệp, vì vậy:
    – Kết quả sản phẩm của học sinh tiểu học không đảm bảo yêu cầu so với
    lượng kiến thức mà sách giáo khoa đưa ra.
    – Tính ứng dụng sản phẩm còn hạn chế.
    – Sự hợp tác và chia sẻ chưa hiệu quả.
    – Hệ thống hình minh họa không được rõ nét, tư liệu minh họa ít, hệ thống
    câu hỏi còn chung chung chưa phân loại được đối tượng học sinh.
    9
    – Nhiều chủ đề lượng kiến thức mới nhiều nhưng thời gian để giảng dạy ít
    vì vậy giáo viên khó khăn trong việc tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt
    động thực hành cũng như trưng bày và giới thiệu sản phẩm.
    1.2. Về phía giáo viên
    1.2.1. Thuận lợi
    Là một giáo viên chuyên giảng dạy về môn Mĩ thuật, bản thân tôi luôn có
    niềm đam mê trong công việc, luôn tìm tòi học hỏi để tìm ra các phương pháp
    dạy và hình thức tổ chức lớp học hiệu quả, các hình thức tổ chức dạy học trực
    quan nhất, sinh động nhất để học sinh tiếp thu kiến thức, dễ dàng tìm được sự
    móc nối giữa các kiến thức và kỹ năng thực hành, kỹ năng giao tiếp chia sẻ.
    Tôi thường xuyên giao lưu, học hỏi với các đồng nghiệp trong trường và
    các trường bạn. Tự nghiên cứu sách vở, tài liệu, trang mạng internet… có liên
    quan đến các lĩnh vực giáo dục thẩm mỹ nhằm tìm những giải pháp giúp học
    sinh có thể nắm vững bài học và thực hành tốt các chủ đề mang tính ứng dụng
    và tính thẩm mỹ cao nhất.
    Tôi thường xuyên sử dụng mạng internet trao đổi với đồng nghiệp về các
    tư liệu hình ảnh, sản phẩm tạo hình và kinh nghiệm giảng dạy.
    Thường xuyên tham gia các buổi sinh hoạt chuyên môn, dự giờ theo
    hướng nghiên cứu bài học do Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Nam Định
    tổ chức giúp cho giáo viên có cơ hội để học hỏi chuyên môn, trao đổi kinh
    nghiệm nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy Mĩ thuật trong trường Tiểu học.
    1.2.2. Khó khăn
    Điều kiện không gian và số lượng học sinh đông là cản trở lớn cho tôi khi
    tổ chức các hoạt động theo nhóm như chủ đề: Vẽ theo nhạc, vẽ cùng nhau xây
    dựng câu chuyện, tạo hình 3D.
    1.3. Về phía học sinh
    1.3.1. Thuận lợi
    Học sinh đã được tiếp cận với các quy trình học Mĩ thuật theo dự án từ
    những năm đầu tiên khi thử nghiệm nên tất cả các em đều rất thoải mái và tự tin
    10
    khi tham gia các hoạt động học tập, chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm thông qua các
    hoạt động thực hành và nhận xét, đánh giá.
    Đặc biệt Mĩ thuật là môn học đặc thù nhằm phát huy khả năng sáng tạo và
    tư duy tưởng tượng trong các hoạt động thực hành nên đa phần các em đều rất
    hào hứng muốn thể hiện bản thân nên giờ học rất sôi động, đạt hiệu quả cao.
    1.3.2. Khó khăn
    Bên cạnh việc có nhiều em yêu thích học mĩ thuật thì cũng còn có những
    em chưa hứng thú trong việc học tập, các em còn mải chơi, chưa thực sự tập
    trung khi học tập và dành ít thời gian cho việc thực hành. Do môn Mĩ thuật là
    môn học ít giờ nên phụ huynh học sinh cũng ít quan tâm vì vậy mà các em
    thường xuyên thiếu đồ dùng học tập cá nhân.
    1.4. Đối với nhà trƣờng
    1.4.1. Thuận lợi
    Được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường và sự phối hợp, tạo điều
    kiện của các đồng nghiệp trong trường đó là nguồn động viên để tôi phấn đấu
    tìm tòi, học hỏi nâng cao chất lượng giảng dạy.
    Phòng Mĩ thuật được trang bị các thiết bị hiện đại như: máy tính, máy
    chiếu, mạng Internet,…
    Các lớp được bố trí học 2 tiết Mĩ thuật liên tục trong cùng 1 buổi học nên
    việc học sinh thực hành các chủ đề đảm bảo yêu cầu cần đạt của môn học.
    1.4.2. Khó khăn
    Diện tích phòng học còn hạn chế nên giáo viên chưa chủ động trong việc
    triển khai các kỹ thuật dạy học và hình thức tổ chức các hoạt động dạy học được
    hiệu quả.
    1.5. Đối với phụ huynh học sinh:
    1.5.1. Thuận lợi
    Phần lớn phụ huynh học sinh đều ủng hộ và tạo điều kiện cho con em
    được học tập môn Mĩ thuật và tham gia các hoạt động liên quan đến bộ môn
    như: trang trí trại thu, gian hàng, trưng bày sản phẩm STEM….
    11
    Phụ huynh cũng thường xuyên cho con tiếp cận với những chương trình,
    sự kiện liên quan đến giáo dục thẩm mỹ qua các kênh thông tin. Nhiều phụ
    huynh học sinh còn cùng các em tham gia các hoạt động trình diễn thời trang tái
    chế và các chương trình biểu diễn có sử dụng các sản phẩm mĩ thuật.
    1.5.2. Khó khăn
    Do môn học đặc thù nên nhiều phụ huynh học sinh chưa tìm hiểu sâu về
    hoạt động giáo dục thẩm mĩ nên chưa thực sự quan tâm đến con em mình. Có
    những bài thực hành các em cần sự giúp đỡ của phụ huynh nhưng vì năng lực mĩ
    thuật còn hạn chế nên các em gặp khó khăn khi tham gia các hoạt động trải
    nghiệm thực tế. Hay như một số khác do bận công việc làm ăn nên không để ý
    đến việc học hành của con.
    Tóm lại, qua thực tế giảng dạy tôi thấy rằng với điều kiện cơ sở vật chất,
    không gian lớp học và số lượng học sinh. Để đảm bảo yêu cầu cần đạt về phẩm
    chất, năng lực và đặc biệt là sản phẩm của học sinh sau mỗi chủ đề tôi có những
    biện pháp nhằm thay đổi hình thức tổ chức các hoạt động cũng như phương
    pháp dạy học phù hợp với tình hình thực tế tại trường Tiểu học Chu Văn An.
    2. Mô tả giải pháp kỹ thuật sau khi có sáng kiến:
    Từ thực trạng và nguyên nhân trên, qua quá trình thực hiện, tôi đã đề ra 3
    giải pháp giúp học sinh học tập môn Mĩ thuật hiệu quả hơn :
    2.1. Giải pháp 1: Sử dụng hiệu quả kỹ thuật dạy học theo hƣớng mở
    2.1.1. Nắm vững kỹ thuật dạy học theo hướng mở.
    Trong quá trình dạy học bản thân tôi thấy rằng để sử dụng kỹ thuật dạy
    học theo phương pháp mở giáo viên cần nắm vững bản chất và các quy trình
    thực hiện.
    * Bản chất
    – Nắm chắc và dạy học theo đúng quy trình của từng phương pháp;
    – Dạy học theo phương pháp mở (kết thúc bài học này là mở ra một bài
    học mới); tăng cường dạy học hợp tác nhưng vẫn coi trọng cá thể hóa học sinh;
    – Phát triển các năng lực của trẻ (Văn học, Âm nhạc, Vận động, Ngôn
    ngữ…) trong quá trình dạy học Mĩ thuật theo phương pháp của Đan Mạch;
    12
    – Tạo cơ hội cho học sinh được chia sẻ, thực hành các bài tập ứng dụng
    thiết thực, phục vụ cho học tập và cuộc sống;
    * Các quy trình thực hiện
    Giáo viên linh hoạt trong việc vận dụng Phương pháp dạy học Mĩ thuật
    của Đan Mạch vào các phân môn cụ thể trong chương trình Mĩ thuật hiện hành:
    – Vẽ ký họa dáng (người/vật): Quy trình Vẽ cùng nhau và sáng tạo các câu
    chuyện
    – Vẽ theo mẫu (chân dung /vật thể): Quy trình Vẽ biểu cảm
    – Vẽ trang trí (Làm bìa sách, bưu thiếp, giấy mời…): Quy trình Trang trí
    và vẽ tranh qua âm nhạc
    – Hình ảnh các nhân vật được xé, cắt dán, tạo hình 3D để tạo một chủ đề
    có cốt truyện: Quy trình Xây dựng cốt truyện
    – Các hình khối được tạo ra từ vật tìm được, dây thép, đất nặn, giấy bồi…
    và được kết nối với nhau trong một không gian nhất định: Quy trình tạo hình 3D
    tiếp cận theo chủ đề
    – Các nhân vật được tạo hình từ các vật dụng tìm được và câu chuyện
    được phát triển theo chủ đề: Quy trình Điêu khắc – Nghệ thuật tạo hình không
    gian (Nghệ thuật sắp đặt/ hoạt cảnh/ biểu diễn và sắm vai)
    – Tạo hình các con rối và tạo ra một buổi trình diễn ấn tượng: Quy trình
    “Tạo hình con rối và nghệ thuật biểu diễn”
    Cả 7 quy trình này đều được xây dựng chung một cấu trúc:
    • Thảo luận và làm quen với chủ đề.
    • Quy trình được chi tiết từ đầu tới cuối thông qua mô tả thực tế các bước
    khác nhau của một quy trình, trong đó kết hợp nhuần nhuyễn các quy trình nói
    trên để đảm bảo hiệu quả cao nhất trong việc giáo dục mĩ thuật.
    • Có thể có những thay đổi linh hoạt hoặc cân nhắc khác cho quy trình cụ
    thể ở thực tế. Những quy trình dạy – học Mĩ thuật này không phải là công thức
    cố định mà chúng ta phải làm theo. Những quy trình này tạo cảm hứng cho giáo
    viên và nó còn có thể điều chỉnh cho phù hợp với đối tượng học sinh và điều
    kiện thực tế tại địa phương. Giáo viên có thể phát triển khả năng của học sinh ở
    13
    các mức độ khác nhau trong các quy trình này như khả năng trải nghiệm, sáng
    tạo, biểu đạt, giao tiếp và đánh giá.
    2.1.2 Nghiên cứu sách giáo khoa để lựa chọn hoạt động và xây dựng các hoạt
    động theo hướng mở.
    a. Lựa chọn các hoạt động, chủ đề
    14
    b. Xây dựng các hoạt động theo hướng mở
    Với môn học đặc thù như môn Mĩ thuật khi áp dụng kỹ thuật dạy học mở
    này. Giáo viên cần quan tâm đặc biệt đến việc tổ chức các hoạt động và phân
    công công việc cho từng cá nhân, nhóm đảm bảo các thành viên trong nhóm
    phát huy thế mạnh của mình với sự hỗ trợ phù hợp của giáo viên tạo được ngân
    hàng hình ảnh phong phú đa dạng phục vụ cho các chủ đề tiếp theo
    2.1.3. Tổ chức hoạt động theo hướng mở.
    a. Hướng dẫn học sinh hoạt động theo hướng mở.
    b. Sử dụng kết quả/sản phẩm của học sinh theo hướng mở.
    Ví dụ: hình ảnh minh họa (sử dụng dáng người – xây dựng bố cục cho
    chủ đề mới…)
    15
    16
    * Ví dụ: Chủ đề 5: Sự chuyển động của dáng người ( Mĩ thuật 5)
    Quy trình thực hiện:
    – Sau khi GV hướng dẫn tạo hình dáng người bằng dây thép, giao nhiệm
    vụ cụ thể cho các thành viên, nhóm tạo dáng người.
    – Giáo viên hướng dẫn học sinh cách tạo sự chuyển động dáng
    theo ý thích
    – Học sinh thực hiện tạo dáng người và sự chuyển động của dáng người
    theo các tư thế vận động
    – Sử dụng giấy màu, vật liệu tìm được, vải vụn… tạo hình trang phục cho
    nhân vật, dáng người và các tư thế vận động của dáng người
    – Học sinh giới thiệu, nhận xét và nêu cảm nhận về sản phẩm của mình,
    nhóm mình và của bạn, nhóm bạn.
    Hướng mở: sau khi học sinh chia sẻ và nêu cảm nhận về sản phẩm giáo
    viên hướng dẫn học sinh lưu giữ sản phẩm để chuẩn bị cho hoạt động hoặc chủ
    đề tiếp theo: Chủ đề 6 “ Ngày tết, lễ hội và mùa xuân”
    Học sinh sử dụng dáng người trong ngân hàng hình ảnh để xây dựng bố
    cục cho chủ đề mới và xây dựng câu chuyện thông qua sự kết hợp các tư thế vận
    động của dáng người ở bài học trước.
    17
    18
    19
    20
    21
    22
    23
    24
    2.2. Giải pháp 2: Sử dụng hiệu quả kỹ thuật dạy học hợp tác
    2.2.1 Quy trình hợp tác.
    Đây là hình thức dạy học hợp tác kết hợp dạy học cá thể, trong đó học
    sinh từng nhóm dưới sự hướng dẫn của giáo viên, trao đổi chia sẻ những ý
    tưởng, kiến thức, kĩ năng trong quá trình học tập nhằm đạt được tri thức và hình
    thành phát triển những năng lực của người học.
    Dạy học theo nhóm hợp tác sẽ phát huy được tính tích cực chủ động của
    học sinh. Học sinh tham gia học tập một cách tự giác bằng khả năng của bản
    thân. Học theo nhóm, học sinh sẽ có trách nhiệm hơn với nhiệm vụ học tập của
    mình đồng thời tham gia, hợp tác với các thành viên khác trong nhóm nhằm đạt
    hiệu quả tối ưu của nhóm. Học theo nhóm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh
    phát huy tinh thần tập thể, chia sẻ kinh nghiệm sống, có ý thức cộng đồng đối
    với công việc chung.
    Sơ đồ hợp tác
    Ví dụ:
    + Hoạt động quan sát và nhận thức thẩm mỹ
    Các nhóm quan sát hình ảnh/ bức tranh/ tác phẩm nghệ thuật/… trực tiếp
    hoặc gián tiếp; Phát hiện và nhận biết các hình thức thể hiện, chất liệu tạo hình
    cơ bản trong các sản phẩm, tác phẩm mỹ thuật và xung quanh; nhận biết được
    các yếu tố, nguyên lí tạo hình thông qua hình ảnh trực quan và cùng trao đổi,
    chia sẻ rút ra nhận thức thẩm mỹ.
    + Hoạt động sáng tạo và vận dụng thẩm mỹ
    Các nhóm thực hiện tạo hình theo cảm nhận bằng nhiều hình thức như
    2D, 3D,… và bằng các chất liệu khác nhau. Quá trình này sẽ tạo điều kiện để
    học sinh trao đổi, thảo luận và thống nhất ý tưởng thực hiện…
    + Hoạt động phân tích và đánh giá thẩm mỹ
    Các nhóm cảm nhận, trao đổi nội dung thể hiện trong các sản phẩm/ tác
    phẩm mỹ thuật; nhận biết và phân biệt nội dung, chất liệu và yếu tố thẩm mỹ
    xung quanh đời sống.
    25
    2.2.2. Hình thức tổ chức dạy học mỹ thuật ngoài không gian lớp học
    Là hình thức tổ chức dạy học mỹ thuật ở địa điểm ngoài lớp học; trong đó
    giáo viên tổ chức, chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh nhằm tạo điều kiện
    thuận lợi cho học sinh được hợp tác, nắm vững, mở rộng kiến thức mỹ thuật
    thông qua các hoạt động. Hình thức tổ chức dạy học này rất linh hoạt và tạo nên
    các hoạt động dạy học đa dạng, phong phú kích thích hứng thú học tập của học
    sinh. Dạy học ngoài lớp tạo điều kiện để học sinh trải nghiệm thực tế cuộc sống,
    thực hiện phương thức học tập, chia sẻ, hợp tác cùng thực hiện hoạt động học
    tập có hiệu quả. Có nhiều hình thức dạy học mỹ thuật ngoài lớp học như: vẽ
    ngoài trời, tham quan thực tế, học tại bảo tàng, phòng triển lãm tranh,….
    2.2.3. Các hình thức tổ chức dạy học hợp tác
    Các hình thức dạy học hợp tác mỹ thuật muốn đạt kết quả tối ưu về giáo
    dục và phát triển năng lực cho học sinh, giáo viên cần chuẩn bị chu đáo kế
    hoạch bài dạy và thực hiện tốt kế hoạch đó. Kế hoạch phải thể hiện rõ các khâu
    của quá trình dạy học. Có thể nói, các hình thức tổ chức dạy học mỹ thuật nêu
    trên có quan hệ mật thiết với nhau và hỗ trợ nhau.
    Trong thực tiễn dạy học nói chung và dạy học mỹ thuật nói riêng, mỗi
    hình thức tổ chức dạy học đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Việc vận
    dụng, phối hợp hình thức, phương pháp dạy học như thế nào để đạt hiệu quả thì
    giáo viên cần cân nhắc phù hợp, khoa học, hợp lí với đặc thù môn học nghệ
    thuật – mỹ thuật và với nhận thức của học sinh.
    Ví dụ: Chủ đề 11: Vẽ biểu cảm các đồ vật ( Mĩ thuật 5 )
    Chủ đề 01: Chân dung tự họa ( Mĩ thuật 5)
    Quy trình thực hiện:
    – Giáo viên chia nhóm ( nhóm đôi vẽ chân dung )
    – Bày mẫu, làm mẫu
    – Hướng dẫn học sinh cách thực hành vẽ biểu cảm ( Vẽ mà không nhìn vào
    giấy, vẽ một nét)
    – Sau khi vẽ xong đổi bài cho bạn để vẽ thêm nét
    – Vẽ màu theo nét mà bạn đã chỉnh sửa và vẽ thêm
    26
    – Trưng bày và chia sẻ cảm nhận về bài của bạn và nhóm bạn
    27
    28
    29
    30
    31
    2.3. Giải pháp 3: Sử dụng hiệu quả kỹ thuật dạy học tích hợp
    tăng cƣờng ứng dụng
    2.3.1 Thiết kế dạy học tích hợp
    Dạy học tích hợp môn Mĩ thuật là hình thức dạy kiến thức liên môn xuất
    phát từ yêu cầu của mục tiêu dạy học phát triển năng lực học sinh, đòi hỏi phải
    tăng cường yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức môn học vào giải quyết những
    vấn đề thực tiễn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.
    Các vấn đề thực tiễn trong hoạt động hàng ngày và những giờ học thực
    địa đã giúp học sinh có thêm kiến thức thực tế áp dụng vào mỗi giờ học có hiệu
    quả. Chuyển từ phương pháp truyền thống qua phương pháp học tích cực, tích
    hợp kiến thức liên môn, quan sát thực địa không khỏi gây cho giáo viên phải đầu
    tư thời gian nghiên cứu bài học cũng như tư liệu liên môn, sợ học sinh không
    tiếp thu được kiến thức bài học, nhất là đối tượng học sinh nhút nhát không
    quen với hoạt động nhóm, hoạt động tự thuyết trình, chia sẻ, kể chuyện,… Vì
    vậy, đòi hỏi người giáo viên phải thực sự tìm tòi, chuẩn bị chu đáo, chủ động
    vận dụng linh hoạt vào từng chủ đề khác nhau, nhằm thu hút sự tham gia của tất
    cả các em học sinh.
    Thông qua bộ môn Mĩ thuật, học sinh có thể lĩnh hội được các kiến thức
    về Tự nhiên xã hội, Văn hóa, Toán học, Âm nhạc,Tiếng Việt….đằng sau những
    biểu hiện của ngôn ngữ tạo hình. Bằng cách này, giáo dục nghệ thuật được tích
    hợp trong chương trình giảng dạy ở tất cả các lớp học, chúng được lồng ghép
    trong các bài học để nâng cao khả năng quan sát, liên tưởng, kết nối kiến thức
    của học sinh. Vậy làm thế nào để các môn Tiếng Việt, Âm nhạc, Toán học, khoa
    học, tự nhiên xã hội…. được tích hợp vào bộ môn Mĩ thuật?
    Thực ra, chương trình Mĩ thuật ở bậc tiểu học luôn có sự kết nối với các
    môn học và được nâng cao dần ở cấp học tiếp theo, tạo thành một vòng tròn phát
    triển đồng tâm phù hợp với các giai đoạn phát triển nghệ thuật của trẻ, sự tích
    hợp đó có thể tạo ra kinh nghiệm phong phú đa tầng cho trẻ cũng như kinh
    nghiệm bản thân.
    32
    2.3.2. Cách thực hiện
    Để thực hiện tốt phương pháp dạy học tích cực, tích hợp kiến thức liên
    môn, quan sát thực địa, giáo viên cần: Học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu tài liệu, áp
    dụng linh hoạt, sáng tạo sao cho phù hợp với điều kiện, đối tượng học sinh của
    mình. Tuy nhiên khó khăn này chỉ là bước đầu và có thể khắc phục dễ dàng hơn
    khi giáo viên chuẩn bị tốt các bước dạy học tích hợp theo chủ đề.
    Bước 1: cho học sinh tìm hiểu tài liệu, các kênh thông tin liên quan đến
    chủ đề cần dạy tích hợp. Với hoạt động ngoài không gian lớp học thi cho học
    sinh tới những điểm thực địa gần gũi nơi em sinh hoạt tiếp xúc hàng ngày như
    sân trường, vườn hoa, phố phường, di tích lịch sử địa phương hoặc kết hợp với
    các chuyến trải nghiệm thực tế ngoại khóa của lớp, nhà trường tổ chức
    Bước 2: Trong quá trình dạy học của mình, giáo viên vẫn phải thường
    xuyên dạy những kiến thức có liên quan đến các môn học khác, vì vậy đã có sự
    am hiểu về kiến thức liên môn cũng như kỹ năng hợp tác trong thực hành.
    Bước 3: Với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vai trò của giáo
    viên không còn là người truyền thụ kiến thức thụ động mà là người tổ chức,
    kiểm tra, định hướng hoạt động học của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học.
    Tổ chức những cuộc thi vẽ tranh cá nhân, tập thể cho HS, tổ chức những
    phòng tranh thiếu nhi, trưng bày sản phẩm sáng tạo, mô hình, những buổi kể
    chuyện, thuyết trình, biểu diễn, đóng kịch, câu lạc bộ Mĩ thuật, những buổi dã
    ngoại và trải nghiệm…
    2.3.3 Ví dụ minh họa:
    Chủ đề 7: Vũ điệu của sắc màu ( Mĩ thuật 4 )
    Với chủ đề này học sinh được làm quen với kỹ năng nghe nhạc và vận
    động theo giai điệu của âm nhạc, Học sinh biết tiết tấu, nhịp điệu và các thể loại
    nhạc. ( Giáo dục âm nhạc)
    Chủ đề 11: Em tham gia giao thông (Mĩ thuật 4)
    Với chủ đề này ngoài kiến thức về đặc điểm các loại hình, phương tiện
    giao thông học sinh còn được tìm hiểu về luật an toàn giao thông và kỹ năng
    tham gia giao thông một cách an toàn nhất ( Giáo dục An toàn giao thông)
    33
    Chủ đề 7: Tìm hiểu tranh theo chủ đề: “ Ước mơ của em” (Mĩ thuật 5)
    Với chủ đề này học sinh không những thể hiện được ước mơ của mình
    thông qua sản phẩm vẽ tranh học sinh còn được tìm hiểu kiến thức về các ngành
    nghề liên quan đến các môn học khác. ( giáo dục hướng nghiệp, lịch sử, địa lí…)
    Chủ đề 6: Chú bộ đội của chúng em (Mĩ thuật 5)
    Với chủ đề này học sinh được tìm hiểu về các lực lượng vũ trang, binh
    chủng, quân chủng và các hoạt động của bộ đội thời chiến và thời binh. Thông
    qua tìm hiểu và tạo hình sản phẩm học sinh nắm được kiến thức về quân đội
    nhân dân Việt nam và trang sử hào hùng của dân tộc trong các cuộc kháng chiến
    chống quân xâm lược ( Giáo dục lịch sử và Địa lí)
    Chủ đề 6: Ngày tết, lễ hội và mùa xuân ( Mĩ thuật 4)
    Với chủ đề này học sinh được thể hiện tình cảm gia đình đoàn viên trong
    ngày tết cổ truyền của dân tộc. Trang bị kiến thức về văn hóa vùng miền thông
    qua các lễ hội dân gian Việt Nam. Giáo dục cho học sinh tình yêu quê hướng đất
    nước bản sắc Văn hóa dân tộc ( Giáo dục Tự nhiên xã hội, lịch sử văn hóa,
    Tiếng Việt…)
    Chủ đề 2: Sự liên kết thú vị của các hình khối (Mĩ thuật 5)
    Với chủ đề này học sinh nắm vững về cấu trúc, đặc điểm hình khối và
    không gian thị giác 3 chiều giúp học sinh có thêm kiến thức về Toán học, logic
    và hình học không gian.
    2.3.4 Thiết kế dạy học tăng cường ứng dụng.
    Dạy học Mĩ thuật tăng cường ứng dụng được xem như đổi mới hình thức
    giáo dục theo định hướng phát triển năng lực, hướng đến đáp ứng được khả
    năng thích ứng của mỗi cá nhân trong đời sống hàng ngày thông qua những sản
    phẩm mỹ thuật,
    Qua khảo sát thực tế việc dạy học mỹ thuật theo các phương pháp đã áp
    dụng tại cơ sở giáo dục nhà trường cho thấy mỗi cách thức dạy Mỹ thuật dù
    được các chuyên gia nghiên cứu cẩn trọng đến mấy cũng có những mặt tích cực
    và hạn chế. Trong các phương pháp dạy học Mỹ thuật đã triển khai hiện nay đều
    sử dụng những phương pháp chuyên ngành (vẽ theo mẫu, vẽ trang trí, vẽ tranh,
    34
    thưởng thức mỹ thuật, tạo dáng – nặn) và các phương pháp bổ trợ khác (phương
    pháp thảo luận nhóm; phương pháp quan sát; phương pháp trực quan; phương
    pháp đàm thoại gợi mở; phương pháp luyện tập thực hành). Các phương pháp
    này đều xoay quanh việc truyền đạt ngôn ngữ của nghệ thuật thị giác như hình,
    khối, màu sắc, bố cục, trang trí,… Tuy nhiên, việc vận dụng trong từng bài học
    theo những cách khác nhau nên đem lại kết quả khác nhau. Theo đó, không có
    một cách thức dạy học Mĩ thuật nào mang tính tối ưu về mọi mặt. Dạy Mĩ thuật
    theo chương trình hiện hành nặng về kiến thức và mục tiêu đề ra không phù hợp
    với lĩnh vực giáo dục nghệ thuật, nhưng phù hợp với việc dạy ở diện rộng, với
    nhiều thành phần học sinh và lớp học có số lượng quá đông như hiện nay.
    Dạy Mỹ thuật theo phương pháp Đan Mạch thì đa dạng về hình thức, nội
    dung phong phú, tăng cường ứng dụng, tạo được sự hứng khởi của người học,
    khuyến khích sự sáng tạo
    Như vậy, dạy học tăng cường ứng dụng trong môn Mĩ thuật theo định
    hướng phát triển năng lực cần được xem là một quá trình giáo dục được kiểm
    soát chặt chẽ, hình thức học tập đa dạng, phong phú, học sinh phải tự làm ra sản
    phẩm mang tính ứng dụng cao cũng như có ý thức hợp tác để thực hiện các bài
    thực hành theo nhóm. Nội dung chương trình cần đi thẳng vào đối tượng của
    môn học là cảm xúc và các nhóm bài thực hành đều xoay quanh mục tiêu này
    theo nhiều hình thức thực hành khác nhau như: vẽ, xé – dán, đắp nổi, tạo khối,
    trình diễn, sắp đặt, thậm chí là kết hợp của nhiều dạng thức thực hành khác
    nhau. Việc kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học Mĩ thuật là điều phù hợp
    bởi mục đích của giáo dục chính là tạo nên năng lực của học sinh, thông qua
    từng môn học, ở môn học này là năng lực mỹ thuật, biểu hiện của năng lực thẩm
    mỹ trong lĩnh vực mỹ thuật. Do đó, mục tiêu hướng đến của dạy học mĩ thuật
    tăng cường ứng dụng cần hướng đến phải được thể hiện ở một số phương diện
    sau:
    Học sinh được thực hành và trình bày hiểu biết của mình thông qua tác
    phẩm, sản phẩm mỹ thuật để định hướng
    35
    Học sinh chủ động tạo ra những sản phẩm mỹ thuật, cũng như hình thành
    thái độ hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm với các thành viên trong nhóm.
    Học sinh biết cách biểu đạt ý kiến, ấn tượng và cảm giác của bản thân trước
    một sản phẩm mỹ thuật, một tác phẩm mỹ thuật.
    Học sinh hiểu, phân tích và diễn giải các yếu tố cấu thành của mỹ thuật theo
    các mức độ khác nhau.
    Chính những kỹ năng này là điều cần và đủ để hình thành năng lực mỹ thuật
    cho học sinh, thể hiện ở các kĩ năng và hiểu biết sau:
    Nhận biết cái đẹp. Học sinh nhận biết được cái đẹp/cái xấu trong tự nhiên,
    đời sống xã hội và nghệ thuật; có cảm xúc và biết bày tỏ cảm xúc trước cái đẹp
    và cái chưa đẹp trong cuộc sống xung quanh.
    Phân tích, đánh giá cái đẹp. Học sinh mô tả được cái đẹp, biết so sánh, nhận
    xét về biểu hiện bên ngoài của cái đẹp, giới thiệu sản phẩm thông qua các gian
    hàng, phòng triển lãm.
    Tạo ra cái đẹp. Học sinh biết mô phỏng, tái hiện được vẻ đẹp quen thuộc
    bằng hình thức, công cụ, phương tiện, ngôn ngữ biểu đạt,… phù hợp, ở mức độ
    đơn giản; có ý tưởng sử dụng kết quả học tập/sáng tạo thẩm mỹ để làm tăng
    thêm vẻ đẹp cho cuộc sống hàng ngày của bản thân.
    Như vậy, từ lý luận đến thực tiễn của việc sử dụng dạy học tăng cường ứng
    dụng trong nhà trường hiện nay đã hình thành và phát triển năng lực cốt lõi cho
    học sinh khi tham gia các hoạt động học tập Mĩ thuật.
    2.3.5.Ví dụ minh họa:
    Chủ đề 7: Vũ điệu của sắc màu: Mĩ thuật 5
    Quy trình thực hiện
    – Vẽ theo nhạc
    – Đặt tên tác phẩm
    – Chia sẻ
    – Lựa chọn góc nhìn cá nhân
    – Làm sản phẩm cá nhân
    – Trưng bày, triển lãm, tặng, bán, đấu giá
    36
    Như vậy thông qua chủ đề này học sinh đã có thực hiện được những sản
    phẩm tăng cường ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày.
    37
    2.4. Một số lƣu ý khi sử dụng các kỹ thuật dạy học hiện đại nhằm phát triển
    năng lực:
    – Nắm vững các nội dung yêu cầu và phương pháp tổ chức để vận dụng linh
    hoạt trong các chủ đề, phù hợp với điều kiện thực tế và đối tượng học sinh
    – Dựa vào điều kiện thực tế ở mỗi địa phương, giáo viên linh hoạt lựa chọn các
    vật liệu và quy trình, phương pháp dạy học mĩ thuật phù hợp.
    – Động viên, khuyến khích, hỗ trợ kịp thời để giúp HS phát triển năng lực cá
    nhân
    – Cần chuẩn bị các học liệu, vật tìm được, đồ dùng học tập cho buổi học sau.
    – Giáo viên cũng cần cho học sinh mang sản phẩm về nhà để trưng bày thành
    góc Mĩ thuật ở gia đình.
    – Cuối mỗi chủ đề, GV cần tổ chức cho HS trưng
    4
    Vì vậy, trẻ em lứa tuổi học sinh tiểu học luôn có sự ham thích đặc biệt với
    môn mĩ thuật. Tuy nhiên các giờ học mĩ thuật sẽ thu hút và có hiệu quả nếu GV
    có các phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt động phù hợp với từng chủ
    đề. Những hoạt động đó mang lại cho trẻ có cơ hội trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm
    sống, thể hiện những ý tưởng, tự tìm tòi, chủ động sáng tạo, khám phá và tạo sản
    phẩm mang dấu ấn cá nhân.
    Theo định hướng phương pháp giáo dục trong chương trình môn mỹ thuật
    nhằm phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh thì: người học muốn có
    năng lực không chỉ học tri thức, kỹ năng mà còn phải học cả phương pháp làm
    việc trong quá trình học để sau khi học có khả năng giải quyết những vấn đề
    trong thực tiễn.
    Mục tiêu dạy học của chương trình môn mĩ thuật hiện hành là nhằm đạt
    được chuẩn kiến thức, kỹ năng theo từng nội dung chủ đề giáo dục cụ thể quy
    định trong chương trình môn mỹ thuật. Với phương pháp do Đan Mạch hỗ trợ
    thì mục tiêu môn học thay đổi theo định hướng phát triển về năng lực và yêu cầu
    cần đạt. Cụ thể, phương pháp dạy học hình thành, phát triển ở học sinh các thành
    phần của năng lực Mĩ thuật như sau:
    + Quan sát và nhận thức thẩm mỹ.
    + Sáng tạo và ứng dụng thẩm mỹ.
    + Phân tích và đánh giá thẩm mỹ.
    Dự án “Hỗ trợ giáo dục mĩ thuật tiểu học” (SAEPS) tại Việt Nam là một dự
    án trong chương trình hợp tác văn hóa Việt Nam – Đan Mạch. Dự án này với
    trọng tâm thay đổi phương pháp giảng dạy (PPGD) Mĩ thuật theo hướng đổi mới
    đã bắt đầu được áp dụng rộng rãi trên cả nước. Tuy vậy, thực tế còn nhiều bất
    cập khi triển khai Phương pháp dạy học mới trên cơ sở Chương trình giáo dục
    Mĩ thuật hiện hành, điều kiện dạy học Mĩ thuật của giáo viên và học sinh còn
    nhiều khó khăn; trình độ chuyên môn, năng lực của giáo viên Mĩ thuật cấp Tiểu
    học còn chưa đồng đều. Nhiều nơi giáo viên dạy Mĩ thuật không được đào tạo
    chuyên sâu, không được tập huấn phương pháp mới hoặc được tập huấn chưa
    đúng hay chưa hiểu đúng tinh thần của phương pháp mới nên còn gặp khó khăn,
    5
    lúng túng trong xây dựng kế hoạch dạy học theo chủ đề và thiết kế các hoạt
    động dạy – học hiệu quả.
    Để giúp cho các giáo viên mĩ thuật tiểu học hiểu rõ những vấn đề chung
    về dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới ở bậc Tiểu học và có thể vận dụng
    linh hoạt, sáng tạo các Phương pháp dạy học Mĩ thuật mới vào Chương trình
    giáo dục Mĩ thuật (GDMT) hiện hành, đồng thời hướng tới Chương trình
    GDMT 2018 theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh cũng chính vì lí
    do đó tôi đã nghiên cứu và áp dụng sáng kiến:
    SỬ DỤNG HIỆU QUẢ MỘT SỐ KỸ THUẬT DẠY HỌC HIỆN ĐẠI NHẰM
    PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG MÔN MĨ THUẬT LỚP 4,5
    Để chia sẻ những kinh nghiệm của bản thân trong quá trình dạy học nhằm
    đem lại hiệu quả cao trong dạy và học môn Mĩ thuật.
    6
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp kỹ thuật trƣớc khi tạo ra sáng kiến:
    Từ năm học 2015 – 2016 đến năm học 2019 – 2020, tôi được phân công
    giảng dạy môn Mĩ thuật khối lớp 4, khối lớp 5. Trong quá trình dạy học theo dự
    án hỗ trợ của Vương quốc Đan Mạch môn Mĩ thuật tôi thấy rằng một trong
    những đặc trưng cơ bản của dạy học Mĩ thuật là hoạt động dạy – học thông qua
    các hoạt động thực hành.
    Mỗi một quy trình dạy học đều có các hình thức tổ chức hoạt động khác
    nhau nhưng có điểm chung là: học sinh được chia sẻ, khám phá, tìm tòi, sáng tạo
    và biết kết hợp để tạo ra những sản phẩm mang tính ứng dụng cao.
    Việc sử dụng PPDH và KTDH theo chủ đề đều dựa trên biên soạn của bộ
    sách giáo viên và sách giáo khoa.
    1.1. Sách giáo khoa
    1.1.1. Thuận lợi
    Theo phân phối chương trình dành cho lớp 4 có tất cả 12 chủ đề. Cụ thể:
     Chủ đề 1: Những mảng màu thú vị.
     Chủ đề 2: Chúng em với thế giới động vật.
     Chủ đề 3: Ngày hội hóa trang
     Chủ đề 4: Em sáng tạo cùng những con chữ
     Chủ đề 5: Sự chuyển động của dáng người
     Chủ đề 6: Ngày tết, lễ hội và mùa xuân
     Chủ đề 7: Vũ điệu của sắc màu
     Chủ đề 8: Sáng tạo với những nếp gấp giấy
     Chủ đề 9: Sáng tạo họa tiết, tạo dáng và trang trí đồ vật
     Chủ đề 10: Tranh tĩnh vật
     Chủ đề 11: Em tham gia giao thông
     Chủ đề 12: Tìm hiểu tranh dân gian Việt Nam
    Các chủ đề được biên soạn nhằm hướng tới mục tiêu lấy học sinh làm
    trung tâm; kích thích sự tương tác, tư duy sáng tạo và phát triển nhận thức, từ đó
    giúp các em hình thành và phát triển ba năng lực cốt lõi:
    7
     Sáng tạo mĩ thuật, qua đó biểu đạt bản thân (suy nghĩ, tình cảm, mong
    muốn…)
     Hiểu, cảm nhận và trân trọng sản phẩm/ tác phẩm mĩ thuật.
     Giao tiếp/trao đổi, tiếp nhận thông tin thông qua sản phẩm/ tác phẩm
    mĩ thuật.
    Bộ sách vận dụng các quy trình mĩ thuật theo PPDH mới của dự án
    PAEPS do Đan Mạch tài trợ được biên soạn theo các chủ đề. Trong mỗi chủ đề,
    các em được tiếp cận với kiến thức mĩ thuật thông qua các hoạt động tương tác
    với giáo viên và với các bạn trong lớp bằng các hình thức trải nghiệm, thực
    hành, vận dụng sáng tạo.
    Các chủ đề được tách riêng chia theo từng nội dung cụ thể nên rất thuận
    lợi cho giáo viên trong việc tổ chức các hoạt động cơ bản và hoạt động thực
    hành khi hướng dẫn các em tìm hiểu kiến thức và yêu cầu cần đạt thông qua
    mục tiêu của bài. Hệ thống có sự đan xen giữa các chủ đề với nhau tạo ra các
    mức độ từ dễ đến khó nhằm: Rèn luyện và phát triển các kỹ năng thực hành
    thông qua việc quan sát, nhớ lại, tưởng tượng giúp học sinh sáng tạo, linh hoạt
    trong các cách thể hiện tác phẩm cá nhân hay sản phẩm của nhóm. Phát triển tư
    duy ngôn ngữ, khả năng thuyết trình nhận xét và đánh giá tác phẩm.
    Ví dụ:
    Chủ đề 7: Vũ điệu sắc màu
    Học sinh được trải nghiệm khả năng lắng nghe và cảm nhận âm nhạc,
    được vận động theo giai điệu, chuyển âm thanh giai điệu thành những đường
    nét và màu sắc biểu cảm trên giấy.
    Học sinh được chia sẻ cảm nhận thông qua tác phẩm chung và cá nhân.
    Học sinh được phát triển được trí tưởng tượng và sáng tạo trong quá trình
    tạo ra bức tranh biểu cảm mới từ đường nét và màu sắc.
    Học sinh được phân tích đánh giá tác phẩm thông qua việc đặt tên.
    Học sinh được bày tỏ quan điểm, tình cảm trước lớp và người thân trong
    gia đình.
    8
    Theo phân phối chương trình dành cho lớp 5 có tất cả 13 chủ đề. Cụ thể:
     Chủ đề 1: Chân dung tự họa.
     Chủ đề 2: Sự liên kết thú vị của các hình khối.
     Chủ đề 3: Âm nhạc và sắc màu.
     Chủ đề 4: Sáng tạo với những chiếc lá.
     Chủ đề 5: Trường em
     Chủ đề 6: Chú bộ đội của chúng em.
     Chủ đề 7: Tìm hiểu tranh theo chủ đề “Ước mơ của em”
     Chủ đề 8: Trang trí sân khấu và sáng tác câu chuyện.
     Chủ đề 9: Trang phục yêu thích.
     Chủ đề 10: Cuộc sống quanh em.
     Chủ đề 11: Vẽ biểu đạt các đồ vật.
     Chủ đề 12: Thử nghiệm và sáng tạo với các chất liệu.
     Chủ đề 13: Xem tranh “Bác Hồ đi công tác”
    Các chủ đề trong chương trình mĩ thuật lớp 5 hướng tới mục tiêu lấy học sinh
    làm trung tâm. Các chủ đề có sự liên kết chặt chẽ với nhau theo kiến trúc đồng
    tâm giúp các em hình thành và phát triển các năng lực đặc thù.
    Hệ thống các chủ đề đều hướng tới việc rèn luyện và phát triển các kỹ năng
    thực hành thông qua việc quan sát, nhớ lại, tưởng tượng giúp học sinh sáng tạo,
    linh hoạt trong các cách thể hiện tác phẩm cá nhân hay sản phẩm của nhóm. Phát
    triển tư duy ngôn ngữ, khả năng thuyết trình nhận xét và đánh giá tác phẩm.
    1.1.2. Khó khăn
    * Kiến thức trong Sách giáo khoa hàn lâm, còn nặng về dạy học sinh
    chuyên nghiệp, vì vậy:
    – Kết quả sản phẩm của học sinh tiểu học không đảm bảo yêu cầu so với
    lượng kiến thức mà sách giáo khoa đưa ra.
    – Tính ứng dụng sản phẩm còn hạn chế.
    – Sự hợp tác và chia sẻ chưa hiệu quả.
    – Hệ thống hình minh họa không được rõ nét, tư liệu minh họa ít, hệ thống
    câu hỏi còn chung chung chưa phân loại được đối tượng học sinh.
    9
    – Nhiều chủ đề lượng kiến thức mới nhiều nhưng thời gian để giảng dạy ít
    vì vậy giáo viên khó khăn trong việc tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt
    động thực hành cũng như trưng bày và giới thiệu sản phẩm.
    1.2. Về phía giáo viên
    1.2.1. Thuận lợi
    Là một giáo viên chuyên giảng dạy về môn Mĩ thuật, bản thân tôi luôn có
    niềm đam mê trong công việc, luôn tìm tòi học hỏi để tìm ra các phương pháp
    dạy và hình thức tổ chức lớp học hiệu quả, các hình thức tổ chức dạy học trực
    quan nhất, sinh động nhất để học sinh tiếp thu kiến thức, dễ dàng tìm được sự
    móc nối giữa các kiến thức và kỹ năng thực hành, kỹ năng giao tiếp chia sẻ.
    Tôi thường xuyên giao lưu, học hỏi với các đồng nghiệp trong trường và
    các trường bạn. Tự nghiên cứu sách vở, tài liệu, trang mạng internet… có liên
    quan đến các lĩnh vực giáo dục thẩm mỹ nhằm tìm những giải pháp giúp học
    sinh có thể nắm vững bài học và thực hành tốt các chủ đề mang tính ứng dụng
    và tính thẩm mỹ cao nhất.
    Tôi thường xuyên sử dụng mạng internet trao đổi với đồng nghiệp về các
    tư liệu hình ảnh, sản phẩm tạo hình và kinh nghiệm giảng dạy.
    Thường xuyên tham gia các buổi sinh hoạt chuyên môn, dự giờ theo
    hướng nghiên cứu bài học do Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Nam Định
    tổ chức giúp cho giáo viên có cơ hội để học hỏi chuyên môn, trao đổi kinh
    nghiệm nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy Mĩ thuật trong trường Tiểu học.
    1.2.2. Khó khăn
    Điều kiện không gian và số lượng học sinh đông là cản trở lớn cho tôi khi
    tổ chức các hoạt động theo nhóm như chủ đề: Vẽ theo nhạc, vẽ cùng nhau xây
    dựng câu chuyện, tạo hình 3D.
    1.3. Về phía học sinh
    1.3.1. Thuận lợi
    Học sinh đã được tiếp cận với các quy trình học Mĩ thuật theo dự án từ
    những năm đầu tiên khi thử nghiệm nên tất cả các em đều rất thoải mái và tự tin
    10
    khi tham gia các hoạt động học tập, chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm thông qua các
    hoạt động thực hành và nhận xét, đánh giá.
    Đặc biệt Mĩ thuật là môn học đặc thù nhằm phát huy khả năng sáng tạo và
    tư duy tưởng tượng trong các hoạt động thực hành nên đa phần các em đều rất
    hào hứng muốn thể hiện bản thân nên giờ học rất sôi động, đạt hiệu quả cao.
    1.3.2. Khó khăn
    Bên cạnh việc có nhiều em yêu thích học mĩ thuật thì cũng còn có những
    em chưa hứng thú trong việc học tập, các em còn mải chơi, chưa thực sự tập
    trung khi học tập và dành ít thời gian cho việc thực hành. Do môn Mĩ thuật là
    môn học ít giờ nên phụ huynh học sinh cũng ít quan tâm vì vậy mà các em
    thường xuyên thiếu đồ dùng học tập cá nhân.
    1.4. Đối với nhà trƣờng
    1.4.1. Thuận lợi
    Được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường và sự phối hợp, tạo điều
    kiện của các đồng nghiệp trong trường đó là nguồn động viên để tôi phấn đấu
    tìm tòi, học hỏi nâng cao chất lượng giảng dạy.
    Phòng Mĩ thuật được trang bị các thiết bị hiện đại như: máy tính, máy
    chiếu, mạng Internet,…
    Các lớp được bố trí học 2 tiết Mĩ thuật liên tục trong cùng 1 buổi học nên
    việc học sinh thực hành các chủ đề đảm bảo yêu cầu cần đạt của môn học.
    1.4.2. Khó khăn
    Diện tích phòng học còn hạn chế nên giáo viên chưa chủ động trong việc
    triển khai các kỹ thuật dạy học và hình thức tổ chức các hoạt động dạy học được
    hiệu quả.
    1.5. Đối với phụ huynh học sinh:
    1.5.1. Thuận lợi
    Phần lớn phụ huynh học sinh đều ủng hộ và tạo điều kiện cho con em
    được học tập môn Mĩ thuật và tham gia các hoạt động liên quan đến bộ môn
    như: trang trí trại thu, gian hàng, trưng bày sản phẩm STEM….
    11
    Phụ huynh cũng thường xuyên cho con tiếp cận với những chương trình,
    sự kiện liên quan đến giáo dục thẩm mỹ qua các kênh thông tin. Nhiều phụ
    huynh học sinh còn cùng các em tham gia các hoạt động trình diễn thời trang tái
    chế và các chương trình biểu diễn có sử dụng các sản phẩm mĩ thuật.
    1.5.2. Khó khăn
    Do môn học đặc thù nên nhiều phụ huynh học sinh chưa tìm hiểu sâu về
    hoạt động giáo dục thẩm mĩ nên chưa thực sự quan tâm đến con em mình. Có
    những bài thực hành các em cần sự giúp đỡ của phụ huynh nhưng vì năng lực mĩ
    thuật còn hạn chế nên các em gặp khó khăn khi tham gia các hoạt động trải
    nghiệm thực tế. Hay như một số khác do bận công việc làm ăn nên không để ý
    đến việc học hành của con.
    Tóm lại, qua thực tế giảng dạy tôi thấy rằng với điều kiện cơ sở vật chất,
    không gian lớp học và số lượng học sinh. Để đảm bảo yêu cầu cần đạt về phẩm
    chất, năng lực và đặc biệt là sản phẩm của học sinh sau mỗi chủ đề tôi có những
    biện pháp nhằm thay đổi hình thức tổ chức các hoạt động cũng như phương
    pháp dạy học phù hợp với tình hình thực tế tại trường Tiểu học Chu Văn An.
    2. Mô tả giải pháp kỹ thuật sau khi có sáng kiến:
    Từ thực trạng và nguyên nhân trên, qua quá trình thực hiện, tôi đã đề ra 3
    giải pháp giúp học sinh học tập môn Mĩ thuật hiệu quả hơn :
    2.1. Giải pháp 1: Sử dụng hiệu quả kỹ thuật dạy học theo hƣớng mở
    2.1.1. Nắm vững kỹ thuật dạy học theo hướng mở.
    Trong quá trình dạy học bản thân tôi thấy rằng để sử dụng kỹ thuật dạy
    học theo phương pháp mở giáo viên cần nắm vững bản chất và các quy trình
    thực hiện.
    * Bản chất
    – Nắm chắc và dạy học theo đúng quy trình của từng phương pháp;
    – Dạy học theo phương pháp mở (kết thúc bài học này là mở ra một bài
    học mới); tăng cường dạy học hợp tác nhưng vẫn coi trọng cá thể hóa học sinh;
    – Phát triển các năng lực của trẻ (Văn học, Âm nhạc, Vận động, Ngôn
    ngữ…) trong quá trình dạy học Mĩ thuật theo phương pháp của Đan Mạch;
    12
    – Tạo cơ hội cho học sinh được chia sẻ, thực hành các bài tập ứng dụng
    thiết thực, phục vụ cho học tập và cuộc sống;
    * Các quy trình thực hiện
    Giáo viên linh hoạt trong việc vận dụng Phương pháp dạy học Mĩ thuật
    của Đan Mạch vào các phân môn cụ thể trong chương trình Mĩ thuật hiện hành:
    – Vẽ ký họa dáng (người/vật): Quy trình Vẽ cùng nhau và sáng tạo các câu
    chuyện
    – Vẽ theo mẫu (chân dung /vật thể): Quy trình Vẽ biểu cảm
    – Vẽ trang trí (Làm bìa sách, bưu thiếp, giấy mời…): Quy trình Trang trí
    và vẽ tranh qua âm nhạc
    – Hình ảnh các nhân vật được xé, cắt dán, tạo hình 3D để tạo một chủ đề
    có cốt truyện: Quy trình Xây dựng cốt truyện
    – Các hình khối được tạo ra từ vật tìm được, dây thép, đất nặn, giấy bồi…
    và được kết nối với nhau trong một không gian nhất định: Quy trình tạo hình 3D
    tiếp cận theo chủ đề
    – Các nhân vật được tạo hình từ các vật dụng tìm được và câu chuyện
    được phát triển theo chủ đề: Quy trình Điêu khắc – Nghệ thuật tạo hình không
    gian (Nghệ thuật sắp đặt/ hoạt cảnh/ biểu diễn và sắm vai)
    – Tạo hình các con rối và tạo ra một buổi trình diễn ấn tượng: Quy trình
    “Tạo hình con rối và nghệ thuật biểu diễn”
    Cả 7 quy trình này đều được xây dựng chung một cấu trúc:
    • Thảo luận và làm quen với chủ đề.
    • Quy trình được chi tiết từ đầu tới cuối thông qua mô tả thực tế các bước
    khác nhau của một quy trình, trong đó kết hợp nhuần nhuyễn các quy trình nói
    trên để đảm bảo hiệu quả cao nhất trong việc giáo dục mĩ thuật.
    • Có thể có những thay đổi linh hoạt hoặc cân nhắc khác cho quy trình cụ
    thể ở thực tế. Những quy trình dạy – học Mĩ thuật này không phải là công thức
    cố định mà chúng ta phải làm theo. Những quy trình này tạo cảm hứng cho giáo
    viên và nó còn có thể điều chỉnh cho phù hợp với đối tượng học sinh và điều
    kiện thực tế tại địa phương. Giáo viên có thể phát triển khả năng của học sinh ở
    13
    các mức độ khác nhau trong các quy trình này như khả năng trải nghiệm, sáng
    tạo, biểu đạt, giao tiếp và đánh giá.
    2.1.2 Nghiên cứu sách giáo khoa để lựa chọn hoạt động và xây dựng các hoạt
    động theo hướng mở.
    a. Lựa chọn các hoạt động, chủ đề
    14
    b. Xây dựng các hoạt động theo hướng mở
    Với môn học đặc thù như môn Mĩ thuật khi áp dụng kỹ thuật dạy học mở
    này. Giáo viên cần quan tâm đặc biệt đến việc tổ chức các hoạt động và phân
    công công việc cho từng cá nhân, nhóm đảm bảo các thành viên trong nhóm
    phát huy thế mạnh của mình với sự hỗ trợ phù hợp của giáo viên tạo được ngân
    hàng hình ảnh phong phú đa dạng phục vụ cho các chủ đề tiếp theo
    2.1.3. Tổ chức hoạt động theo hướng mở.
    a. Hướng dẫn học sinh hoạt động theo hướng mở.
    b. Sử dụng kết quả/sản phẩm của học sinh theo hướng mở.
    Ví dụ: hình ảnh minh họa (sử dụng dáng người – xây dựng bố cục cho
    chủ đề mới…)
    15
    16
    * Ví dụ: Chủ đề 5: Sự chuyển động của dáng người ( Mĩ thuật 5)
    Quy trình thực hiện:
    – Sau khi GV hướng dẫn tạo hình dáng người bằng dây thép, giao nhiệm
    vụ cụ thể cho các thành viên, nhóm tạo dáng người.
    – Giáo viên hướng dẫn học sinh cách tạo sự chuyển động dáng
    theo ý thích
    – Học sinh thực hiện tạo dáng người và sự chuyển động của dáng người
    theo các tư thế vận động
    – Sử dụng giấy màu, vật liệu tìm được, vải vụn… tạo hình trang phục cho
    nhân vật, dáng người và các tư thế vận động của dáng người
    – Học sinh giới thiệu, nhận xét và nêu cảm nhận về sản phẩm của mình,
    nhóm mình và của bạn, nhóm bạn.
    Hướng mở: sau khi học sinh chia sẻ và nêu cảm nhận về sản phẩm giáo
    viên hướng dẫn học sinh lưu giữ sản phẩm để chuẩn bị cho hoạt động hoặc chủ
    đề tiếp theo: Chủ đề 6 “ Ngày tết, lễ hội và mùa xuân”
    Học sinh sử dụng dáng người trong ngân hàng hình ảnh để xây dựng bố
    cục cho chủ đề mới và xây dựng câu chuyện thông qua sự kết hợp các tư thế vận
    động của dáng người ở bài học trước.
    17
    18
    19
    20
    21
    22
    23
    24
    2.2. Giải pháp 2: Sử dụng hiệu quả kỹ thuật dạy học hợp tác
    2.2.1 Quy trình hợp tác.
    Đây là hình thức dạy học hợp tác kết hợp dạy học cá thể, trong đó học
    sinh từng nhóm dưới sự hướng dẫn của giáo viên, trao đổi chia sẻ những ý
    tưởng, kiến thức, kĩ năng trong quá trình học tập nhằm đạt được tri thức và hình
    thành phát triển những năng lực của người học.
    Dạy học theo nhóm hợp tác sẽ phát huy được tính tích cực chủ động của
    học sinh. Học sinh tham gia học tập một cách tự giác bằng khả năng của bản
    thân. Học theo nhóm, học sinh sẽ có trách nhiệm hơn với nhiệm vụ học tập của
    mình đồng thời tham gia, hợp tác với các thành viên khác trong nhóm nhằm đạt
    hiệu quả tối ưu của nhóm. Học theo nhóm tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh
    phát huy tinh thần tập thể, chia sẻ kinh nghiệm sống, có ý thức cộng đồng đối
    với công việc chung.
    Sơ đồ hợp tác
    Ví dụ:
    + Hoạt động quan sát và nhận thức thẩm mỹ
    Các nhóm quan sát hình ảnh/ bức tranh/ tác phẩm nghệ thuật/… trực tiếp
    hoặc gián tiếp; Phát hiện và nhận biết các hình thức thể hiện, chất liệu tạo hình
    cơ bản trong các sản phẩm, tác phẩm mỹ thuật và xung quanh; nhận biết được
    các yếu tố, nguyên lí tạo hình thông qua hình ảnh trực quan và cùng trao đổi,
    chia sẻ rút ra nhận thức thẩm mỹ.
    + Hoạt động sáng tạo và vận dụng thẩm mỹ
    Các nhóm thực hiện tạo hình theo cảm nhận bằng nhiều hình thức như
    2D, 3D,… và bằng các chất liệu khác nhau. Quá trình này sẽ tạo điều kiện để
    học sinh trao đổi, thảo luận và thống nhất ý tưởng thực hiện…
    + Hoạt động phân tích và đánh giá thẩm mỹ
    Các nhóm cảm nhận, trao đổi nội dung thể hiện trong các sản phẩm/ tác
    phẩm mỹ thuật; nhận biết và phân biệt nội dung, chất liệu và yếu tố thẩm mỹ
    xung quanh đời sống.
    25
    2.2.2. Hình thức tổ chức dạy học mỹ thuật ngoài không gian lớp học
    Là hình thức tổ chức dạy học mỹ thuật ở địa điểm ngoài lớp học; trong đó
    giáo viên tổ chức, chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh nhằm tạo điều kiện
    thuận lợi cho học sinh được hợp tác, nắm vững, mở rộng kiến thức mỹ thuật
    thông qua các hoạt động. Hình thức tổ chức dạy học này rất linh hoạt và tạo nên
    các hoạt động dạy học đa dạng, phong phú kích thích hứng thú học tập của học
    sinh. Dạy học ngoài lớp tạo điều kiện để học sinh trải nghiệm thực tế cuộc sống,
    thực hiện phương thức học tập, chia sẻ, hợp tác cùng thực hiện hoạt động học
    tập có hiệu quả. Có nhiều hình thức dạy học mỹ thuật ngoài lớp học như: vẽ
    ngoài trời, tham quan thực tế, học tại bảo tàng, phòng triển lãm tranh,….
    2.2.3. Các hình thức tổ chức dạy học hợp tác
    Các hình thức dạy học hợp tác mỹ thuật muốn đạt kết quả tối ưu về giáo
    dục và phát triển năng lực cho học sinh, giáo viên cần chuẩn bị chu đáo kế
    hoạch bài dạy và thực hiện tốt kế hoạch đó. Kế hoạch phải thể hiện rõ các khâu
    của quá trình dạy học. Có thể nói, các hình thức tổ chức dạy học mỹ thuật nêu
    trên có quan hệ mật thiết với nhau và hỗ trợ nhau.
    Trong thực tiễn dạy học nói chung và dạy học mỹ thuật nói riêng, mỗi
    hình thức tổ chức dạy học đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Việc vận
    dụng, phối hợp hình thức, phương pháp dạy học như thế nào để đạt hiệu quả thì
    giáo viên cần cân nhắc phù hợp, khoa học, hợp lí với đặc thù môn học nghệ
    thuật – mỹ thuật và với nhận thức của học sinh.
    Ví dụ: Chủ đề 11: Vẽ biểu cảm các đồ vật ( Mĩ thuật 5 )
    Chủ đề 01: Chân dung tự họa ( Mĩ thuật 5)
    Quy trình thực hiện:
    – Giáo viên chia nhóm ( nhóm đôi vẽ chân dung )
    – Bày mẫu, làm mẫu
    – Hướng dẫn học sinh cách thực hành vẽ biểu cảm ( Vẽ mà không nhìn vào
    giấy, vẽ một nét)
    – Sau khi vẽ xong đổi bài cho bạn để vẽ thêm nét
    – Vẽ màu theo nét mà bạn đã chỉnh sửa và vẽ thêm
    26
    – Trưng bày và chia sẻ cảm nhận về bài của bạn và nhóm bạn
    27
    28
    29
    30
    31
    2.3. Giải pháp 3: Sử dụng hiệu quả kỹ thuật dạy học tích hợp
    tăng cƣờng ứng dụng
    2.3.1 Thiết kế dạy học tích hợp
    Dạy học tích hợp môn Mĩ thuật là hình thức dạy kiến thức liên môn xuất
    phát từ yêu cầu của mục tiêu dạy học phát triển năng lực học sinh, đòi hỏi phải
    tăng cường yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức môn học vào giải quyết những
    vấn đề thực tiễn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.
    Các vấn đề thực tiễn trong hoạt động hàng ngày và những giờ học thực
    địa đã giúp học sinh có thêm kiến thức thực tế áp dụng vào mỗi giờ học có hiệu
    quả. Chuyển từ phương pháp truyền thống qua phương pháp học tích cực, tích
    hợp kiến thức liên môn, quan sát thực địa không khỏi gây cho giáo viên phải đầu
    tư thời gian nghiên cứu bài học cũng như tư liệu liên môn, sợ học sinh không
    tiếp thu được kiến thức bài học, nhất là đối tượng học sinh nhút nhát không
    quen với hoạt động nhóm, hoạt động tự thuyết trình, chia sẻ, kể chuyện,… Vì
    vậy, đòi hỏi người giáo viên phải thực sự tìm tòi, chuẩn bị chu đáo, chủ động
    vận dụng linh hoạt vào từng chủ đề khác nhau, nhằm thu hút sự tham gia của tất
    cả các em học sinh.
    Thông qua bộ môn Mĩ thuật, học sinh có thể lĩnh hội được các kiến thức
    về Tự nhiên xã hội, Văn hóa, Toán học, Âm nhạc,Tiếng Việt….đằng sau những
    biểu hiện của ngôn ngữ tạo hình. Bằng cách này, giáo dục nghệ thuật được tích
    hợp trong chương trình giảng dạy ở tất cả các lớp học, chúng được lồng ghép
    trong các bài học để nâng cao khả năng quan sát, liên tưởng, kết nối kiến thức
    của học sinh. Vậy làm thế nào để các môn Tiếng Việt, Âm nhạc, Toán học, khoa
    học, tự nhiên xã hội…. được tích hợp vào bộ môn Mĩ thuật?
    Thực ra, chương trình Mĩ thuật ở bậc tiểu học luôn có sự kết nối với các
    môn học và được nâng cao dần ở cấp học tiếp theo, tạo thành một vòng tròn phát
    triển đồng tâm phù hợp với các giai đoạn phát triển nghệ thuật của trẻ, sự tích
    hợp đó có thể tạo ra kinh nghiệm phong phú đa tầng cho trẻ cũng như kinh
    nghiệm bản thân.
    32
    2.3.2. Cách thực hiện
    Để thực hiện tốt phương pháp dạy học tích cực, tích hợp kiến thức liên
    môn, quan sát thực địa, giáo viên cần: Học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu tài liệu, áp
    dụng linh hoạt, sáng tạo sao cho phù hợp với điều kiện, đối tượng học sinh của
    mình. Tuy nhiên khó khăn này chỉ là bước đầu và có thể khắc phục dễ dàng hơn
    khi giáo viên chuẩn bị tốt các bước dạy học tích hợp theo chủ đề.
    Bước 1: cho học sinh tìm hiểu tài liệu, các kênh thông tin liên quan đến
    chủ đề cần dạy tích hợp. Với hoạt động ngoài không gian lớp học thi cho học
    sinh tới những điểm thực địa gần gũi nơi em sinh hoạt tiếp xúc hàng ngày như
    sân trường, vườn hoa, phố phường, di tích lịch sử địa phương hoặc kết hợp với
    các chuyến trải nghiệm thực tế ngoại khóa của lớp, nhà trường tổ chức
    Bước 2: Trong quá trình dạy học của mình, giáo viên vẫn phải thường
    xuyên dạy những kiến thức có liên quan đến các môn học khác, vì vậy đã có sự
    am hiểu về kiến thức liên môn cũng như kỹ năng hợp tác trong thực hành.
    Bước 3: Với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vai trò của giáo
    viên không còn là người truyền thụ kiến thức thụ động mà là người tổ chức,
    kiểm tra, định hướng hoạt động học của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học.
    Tổ chức những cuộc thi vẽ tranh cá nhân, tập thể cho HS, tổ chức những
    phòng tranh thiếu nhi, trưng bày sản phẩm sáng tạo, mô hình, những buổi kể
    chuyện, thuyết trình, biểu diễn, đóng kịch, câu lạc bộ Mĩ thuật, những buổi dã
    ngoại và trải nghiệm…
    2.3.3 Ví dụ minh họa:
    Chủ đề 7: Vũ điệu của sắc màu ( Mĩ thuật 4 )
    Với chủ đề này học sinh được làm quen với kỹ năng nghe nhạc và vận
    động theo giai điệu của âm nhạc, Học sinh biết tiết tấu, nhịp điệu và các thể loại
    nhạc. ( Giáo dục âm nhạc)
    Chủ đề 11: Em tham gia giao thông (Mĩ thuật 4)
    Với chủ đề này ngoài kiến thức về đặc điểm các loại hình, phương tiện
    giao thông học sinh còn được tìm hiểu về luật an toàn giao thông và kỹ năng
    tham gia giao thông một cách an toàn nhất ( Giáo dục An toàn giao thông)
    33
    Chủ đề 7: Tìm hiểu tranh theo chủ đề: “ Ước mơ của em” (Mĩ thuật 5)
    Với chủ đề này học sinh không những thể hiện được ước mơ của mình
    thông qua sản phẩm vẽ tranh học sinh còn được tìm hiểu kiến thức về các ngành
    nghề liên quan đến các môn học khác. ( giáo dục hướng nghiệp, lịch sử, địa lí…)
    Chủ đề 6: Chú bộ đội của chúng em (Mĩ thuật 5)
    Với chủ đề này học sinh được tìm hiểu về các lực lượng vũ trang, binh
    chủng, quân chủng và các hoạt động của bộ đội thời chiến và thời binh. Thông
    qua tìm hiểu và tạo hình sản phẩm học sinh nắm được kiến thức về quân đội
    nhân dân Việt nam và trang sử hào hùng của dân tộc trong các cuộc kháng chiến
    chống quân xâm lược ( Giáo dục lịch sử và Địa lí)
    Chủ đề 6: Ngày tết, lễ hội và mùa xuân ( Mĩ thuật 4)
    Với chủ đề này học sinh được thể hiện tình cảm gia đình đoàn viên trong
    ngày tết cổ truyền của dân tộc. Trang bị kiến thức về văn hóa vùng miền thông
    qua các lễ hội dân gian Việt Nam. Giáo dục cho học sinh tình yêu quê hướng đất
    nước bản sắc Văn hóa dân tộc ( Giáo dục Tự nhiên xã hội, lịch sử văn hóa,
    Tiếng Việt…)
    Chủ đề 2: Sự liên kết thú vị của các hình khối (Mĩ thuật 5)
    Với chủ đề này học sinh nắm vững về cấu trúc, đặc điểm hình khối và
    không gian thị giác 3 chiều giúp học sinh có thêm kiến thức về Toán học, logic
    và hình học không gian.
    2.3.4 Thiết kế dạy học tăng cường ứng dụng.
    Dạy học Mĩ thuật tăng cường ứng dụng được xem như đổi mới hình thức
    giáo dục theo định hướng phát triển năng lực, hướng đến đáp ứng được khả
    năng thích ứng của mỗi cá nhân trong đời sống hàng ngày thông qua những sản
    phẩm mỹ thuật,
    Qua khảo sát thực tế việc dạy học mỹ thuật theo các phương pháp đã áp
    dụng tại cơ sở giáo dục nhà trường cho thấy mỗi cách thức dạy Mỹ thuật dù
    được các chuyên gia nghiên cứu cẩn trọng đến mấy cũng có những mặt tích cực
    và hạn chế. Trong các phương pháp dạy học Mỹ thuật đã triển khai hiện nay đều
    sử dụng những phương pháp chuyên ngành (vẽ theo mẫu, vẽ trang trí, vẽ tranh,
    34
    thưởng thức mỹ thuật, tạo dáng – nặn) và các phương pháp bổ trợ khác (phương
    pháp thảo luận nhóm; phương pháp quan sát; phương pháp trực quan; phương
    pháp đàm thoại gợi mở; phương pháp luyện tập thực hành). Các phương pháp
    này đều xoay quanh việc truyền đạt ngôn ngữ của nghệ thuật thị giác như hình,
    khối, màu sắc, bố cục, trang trí,… Tuy nhiên, việc vận dụng trong từng bài học
    theo những cách khác nhau nên đem lại kết quả khác nhau. Theo đó, không có
    một cách thức dạy học Mĩ thuật nào mang tính tối ưu về mọi mặt. Dạy Mĩ thuật
    theo chương trình hiện hành nặng về kiến thức và mục tiêu đề ra không phù hợp
    với lĩnh vực giáo dục nghệ thuật, nhưng phù hợp với việc dạy ở diện rộng, với
    nhiều thành phần học sinh và lớp học có số lượng quá đông như hiện nay.
    Dạy Mỹ thuật theo phương pháp Đan Mạch thì đa dạng về hình thức, nội
    dung phong phú, tăng cường ứng dụng, tạo được sự hứng khởi của người học,
    khuyến khích sự sáng tạo
    Như vậy, dạy học tăng cường ứng dụng trong môn Mĩ thuật theo định
    hướng phát triển năng lực cần được xem là một quá trình giáo dục được kiểm
    soát chặt chẽ, hình thức học tập đa dạng, phong phú, học sinh phải tự làm ra sản
    phẩm mang tính ứng dụng cao cũng như có ý thức hợp tác để thực hiện các bài
    thực hành theo nhóm. Nội dung chương trình cần đi thẳng vào đối tượng của
    môn học là cảm xúc và các nhóm bài thực hành đều xoay quanh mục tiêu này
    theo nhiều hình thức thực hành khác nhau như: vẽ, xé – dán, đắp nổi, tạo khối,
    trình diễn, sắp đặt, thậm chí là kết hợp của nhiều dạng thức thực hành khác
    nhau. Việc kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học Mĩ thuật là điều phù hợp
    bởi mục đích của giáo dục chính là tạo nên năng lực của học sinh, thông qua
    từng môn học, ở môn học này là năng lực mỹ thuật, biểu hiện của năng lực thẩm
    mỹ trong lĩnh vực mỹ thuật. Do đó, mục tiêu hướng đến của dạy học mĩ thuật
    tăng cường ứng dụng cần hướng đến phải được thể hiện ở một số phương diện
    sau:
    Học sinh được thực hành và trình bày hiểu biết của mình thông qua tác
    phẩm, sản phẩm mỹ thuật để định hướng
    35
    Học sinh chủ động tạo ra những sản phẩm mỹ thuật, cũng như hình thành
    thái độ hợp tác và chia sẻ kinh nghiệm với các thành viên trong nhóm.
    Học sinh biết cách biểu đạt ý kiến, ấn tượng và cảm giác của bản thân trước
    một sản phẩm mỹ thuật, một tác phẩm mỹ thuật.
    Học sinh hiểu, phân tích và diễn giải các yếu tố cấu thành của mỹ thuật theo
    các mức độ khác nhau.
    Chính những kỹ năng này là điều cần và đủ để hình thành năng lực mỹ thuật
    cho học sinh, thể hiện ở các kĩ năng và hiểu biết sau:
    Nhận biết cái đẹp. Học sinh nhận biết được cái đẹp/cái xấu trong tự nhiên,
    đời sống xã hội và nghệ thuật; có cảm xúc và biết bày tỏ cảm xúc trước cái đẹp
    và cái chưa đẹp trong cuộc sống xung quanh.
    Phân tích, đánh giá cái đẹp. Học sinh mô tả được cái đẹp, biết so sánh, nhận
    xét về biểu hiện bên ngoài của cái đẹp, giới thiệu sản phẩm thông qua các gian
    hàng, phòng triển lãm.
    Tạo ra cái đẹp. Học sinh biết mô phỏng, tái hiện được vẻ đẹp quen thuộc
    bằng hình thức, công cụ, phương tiện, ngôn ngữ biểu đạt,… phù hợp, ở mức độ
    đơn giản; có ý tưởng sử dụng kết quả học tập/sáng tạo thẩm mỹ để làm tăng
    thêm vẻ đẹp cho cuộc sống hàng ngày của bản thân.
    Như vậy, từ lý luận đến thực tiễn của việc sử dụng dạy học tăng cường ứng
    dụng trong nhà trường hiện nay đã hình thành và phát triển năng lực cốt lõi cho
    học sinh khi tham gia các hoạt động học tập Mĩ thuật.
    2.3.5.Ví dụ minh họa:
    Chủ đề 7: Vũ điệu của sắc màu: Mĩ thuật 5
    Quy trình thực hiện
    – Vẽ theo nhạc
    – Đặt tên tác phẩm
    – Chia sẻ
    – Lựa chọn góc nhìn cá nhân
    – Làm sản phẩm cá nhân
    – Trưng bày, triển lãm, tặng, bán, đấu giá
    36
    Như vậy thông qua chủ đề này học sinh đã có thực hiện được những sản
    phẩm tăng cường ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày.
    37
    2.4. Một số lƣu ý khi sử dụng các kỹ thuật dạy học hiện đại nhằm phát triển
    năng lực:
    – Nắm vững các nội dung yêu cầu và phương pháp tổ chức để vận dụng linh
    hoạt trong các chủ đề, phù hợp với điều kiện thực tế và đối tượng học sinh
    – Dựa vào điều kiện thực tế ở mỗi địa phương, giáo viên linh hoạt lựa chọn các
    vật liệu và quy trình, phương pháp dạy học mĩ thuật phù hợp.
    – Động viên, khuyến khích, hỗ trợ kịp thời để giúp HS phát triển năng lực cá
    nhân
    – Cần chuẩn bị các học liệu, vật tìm được, đồ dùng học tập cho buổi học sau.
    – Giáo viên cũng cần cho học sinh mang sản phẩm về nhà để trưng bày thành
    góc Mĩ thuật ở gia đình.
    – Cuối mỗi chủ đề, GV cần tổ chức cho HS trưng

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Giải pháp khắc phục khó khăn trong giảng dạy Âm nhạc lớp 1 Chương trình GDPT 2018

    SKKN Giải pháp khắc phục khó khăn trong giảng dạy Âm nhạc lớp 1 Chương trình GDPT 2018

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    “Âm nhạc là loại hình nghệ thuật sử dụng âm thanh để diễn tả cảm
    xúc, thái độ, nhận thức và tư tưởng của con người. Âm nhạc là một phần thiết
    yếu của các nền văn hoá, gắn bó và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội.
    Âm nhạc làm phong phú những giá trị tinh thần của nhân loại, là phương
    tiện giúp con người khám phá thế giới, góp phần nâng cao chất lượng cuộc
    sống”. Âm nhạc còn là quà tặng đặc biệt dành cho tất cả mọi người trên trái
    đất này, không phân biệt già trẻ gái trai, không phân biệt màu da sắc tộc,
    không phân biệt giữa người có năng khiếu âm nhạc hay không có năng khiếu
    âm nhạc. Âm nhạc để lại trong lòng người những khoảng lắng cần thiết để có
    thể làm vui hơn niềm vui, làm vơi đi những nỗi buồn, làm dịu đi những căng
    thẳng trong cuộc sống đời thường để tình người được lên ngôi với đầy ắp tình
    yêu thương và lòng nhân ái. Lứa tuổi thiếu nhi nếu không được sống trong
    môi trường âm nhạc sẽ là một thiệt thòi lớn cho các em.
    Nhà sư phạm lỗi lạc thế giới Xu Khôm – Linxki đã nhận định về âm
    nhạc và tác dụng của nó với trẻ em như sau:
    “Tuổi thơ ấu không thể thiếu âm nhạc, trò chơi và truyện cổ tích. Thiếu
    những cái đó, trẻ em chỉ là những bông hoa khô héo. Âm nhạc dẫn dắt trẻ đi
    vào thế giới của những điều thiện, tạo được sự đồng cảm và là một phương
    tiện bồi dưỡng năng lực, trí tuệ mà không một phương tiện nào có thể sánh
    kịp. Thiếu giáo dục âm nhạc thì không thể phát triển trí tuệ của trẻ em một
    cách đầy đủ được.
    Trong nhà trường, giáo dục âm nhạc tạo cơ hội cho học sinh được trải
    nghiệm và phát triển năng lực âm nhạc – biểu hiện của năng lực thẩm mĩ với
    các thành phần sau: thể hiện âm nhạc, cảm thụ và hiểu biết âm nhạc, ứng
    dụng và sáng tạo âm nhạc; góp phần phát hiện, bồi dưỡng những học sinh có
    năng khiếu âm nhạc. Đồng thời, thông qua nội dung các bài hát, các hoạt
    động âm nhạc và phương pháp giáo dục của nhà sư phạm, giáo dục âm nhạc
    3
    góp phần phát triển ở học sinh các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ,
    trung thực, trách nhiệm, cùng các năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp
    tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo để trở thành những công dân phát triển
    toàn diện về nhân cách, hài hoà về thể chất và tinh thần. Sự yêu thích âm
    nhạc của trẻ diễn ra một cách tự nhiên như là một nhu cầu không thể thiếu.
    Để trẻ phát triển một cách toàn diện, phù hợp với xu thế của thời đại, bên
    cạnh những môn văn hóa, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa các môn nghệ
    thuật như Âm nhạc, Mĩ thuật vào chương trình phổ thông. Trong chương
    trình Âm nhạc cấp Tiểu học, phân môn chủ đạo và xuyên suốt là phân môn
    “Học hát”. Qua học hát, các em có ý thức về việc hát đúng cao độ, trường độ
    và tập hát diễn cảm để từ đó kết hợp với các động tác phụ họa khi biểu diễn
    tại lớp cũng như các hoạt động âm nhạc khác, Học sinh được giáo dục tình
    cảm trong sáng, lành mạnh, phát triển năng lực cảm thụ âm nhạc, có ý thức
    tích cực tham gia các hoạt động âm nhạc ở lớp, ở trường…
    Năm học 2020 – 2021, là năm học đầu tiên chương trình GDPT 2018
    được thực hiện đối với lớp 1. Để thực hiện chương trình đạt hiệu quả, sau quá
    trình nghiên cứu và được tập huấn kĩ càng trước khi chính thức áp dụng
    chương trình, tôi nhận thấy được một số khó khăn khi giảng dạy môn Âm
    nhạc lớp 1 chương trình mới, chính vì thế tôi lựa chọn đề tài:
    “Giải pháp khắc phục khó khăn trong giảng dạy Âm nhạc lớp 1
    chương trình GDPT 2018″
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả thực trạng trước khi áp dụng sáng kiến
    Chương trình môn Âm nhạc cấp tiểu học giúp học sinh bước đầu làm
    quen với kiến thức âm nhạc phổ thông, sự đa dạng của thế giới âm nhạc và
    các giá trị âm nhạc truyền thống; hình thành một số kĩ năng âm nhạc ban đầu;
    nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ và tình yêu âm nhạc, hứng thú tham gia các
    hoạt động âm nhạc phù hợp với lứa tuổi; góp phần hình thành và phát triển
    cho học sinh những phẩm chất chủ yếu (yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung
    4
    thực, trách nhiệm) và các năng lực chung (tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp
    tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo). Khi thực hiện chương trình mới, tôi nhận
    thấy có những thuận lợi, khó khăn sau:
    1.1. Thuận lợi:
    1.1.1. Về cơ sở vật chất: Trường tiểu học Lương Thế Vinh được công
    nhận đạt chuẩn mức II và chuẩn Xanh – Sạch – Đẹp – An toàn, cơ sơ vật chất
    của nhà trường được nâng cấp khang trang. cảnh quan sạch đẹp, có phòng
    học riêng cho bộ môn âm nhạc với các thiết bị phục vụ bộ môn tương đối đầy
    đủ và hiện đại như máy tính, máy chiếu, ti vi thông minh kết nối internet…
    1.1.2. Về nội dung chương trình, SGK lớp 1:
    * Về Sách học sinh:
    – Có đủ SGK
    – Sách được phân chia theo Chủ đề giúp giáo viên (GV) xây dựng kế
    hoạch và triển khai thực hiện dễ dàng hơn.
    * Về đồ dùng học tập, tư liệu tham khảo:
    – Bộ đồ dùng học tập của HS sinh động, dễ sử dụng. Có trang sách điện
    tử làm tài liệu tham khảo.
    * Về Sách giáo viên (SGV) và kế hoạch bài học (KHBH):
    – SGV được thiết kế chi tiết với KHBH theo từng chủ đề có các trang
    học liệu điện tử như trang Hành trang số, trang Tập huấn…để tham khảo
    – GV được chủ động lên kế hoạch từng tiết, từng tuần và cả năm học.
    – Có nhiều trang, hội nhóm, sách tham khảo…. trên mạng internet, có
    KHBH đã được xây dựng để GV tham khảo bám sát chương trình Âm nhạc
    ban hành ngày 26/12/2018, khi chuyển thành SGK có độ mở nhất định. Kế
    thừa có chọn lọc một số điểm trong các SGK Âm nhạc đã có. Vận dụng một
    số kinh nghiệm của các nước. Sách góp phần đổi mới Phương pháp dạy học
    âm nhạc. Sách được trình bày gọn gàng, sáng sủa, nội dung nhẹ nhàng, dễ
    dạy, dễ học. Hình thức sách có tính thẩm mĩ, nhiều hình minh họa, hấp dẫn.
    5
    Những bài hát trong chương trình là những bài hát có lời ca hay, trong
    sáng, được viết ở các nhịp
    2 4
    ;
    4 4
    với tiết tấu và hình thức âm nhạc đơn giản,
    giai điệu đẹp, âm vực các bài hát thường không quá quãng 9, phù hợp với
    tâm sinh lý của học sinh lớp 1.
    1.1.3. Về yếu tố con người:
    * Về Học sinh
    – Hồn nhiên, ngây thơ trong sáng, yêu thích môn học.
    – HS hứng thú tham gia các hoạt động như: khởi động trước tiết học,
    các trò chơi, các bài tập (BT) liên quan đến trò chơi….
    – Hầu hết học sinh khối lớp 1 có cùng độ tuổi nên có sự đồng đều về
    nhận thức và đặc biệt các em rất thích học âm nhạc nên các em luôn có sự say
    mê, hứng thú đối với môn học.
    * Về GV
    – Tâm huyết, yêu nghề, được đào tạo chuyên môn căn bản.
    * Về PHHS
    – Mua đầy đủ SGK cho con em mình và quan tâm tới việc học của các
    con hơn trước kia.
    – Chưa có ý kiến phản hồi đồng tình hay không đồng tình với chương
    trình GDPT mới.
    Ban giám hiệu nhà trường luôn tạo điều kiện tốt nhất để giáo viên và
    học sinh hoàn thành nhiệm vụ dạy và học.
    Là giáo viên chuyên, được đào tạo cơ bản về âm nhạc, đồng thời là giáo
    viên cốt cán bộ môn, đã được phòng giáo dục cử đi học lớp tin học phục vụ
    trong giảng dạy, tôi có cơ hội đem những kiến thức của mình giảng dạy cho
    học sinh và chia sẻ cùng đồng nghiệp.
    Là giảng viên cốt cán bộ môn Âm nhạc cấp tiểu học tỉnh Nam Định, tôi
    được tham gia trực tiếp các đợt tập huấn chuyên môn của Bộ GD – ĐT nên có
    điều kiện nắm bắt tốt hơn về nội dung chương trình và phương pháp giảng
    dạy âm nhạc ở Tiểu học.
    6
    1.2. Khó khăn:
    Tuy nhiên, khi thực hiện giảng dạy Âm nhạc lớp 1 chương trình GDPT
    2018, tôi nhận thấy có những khó khăn sau:
    1.2.1. Về Cơ sở vật chất: Tuy đã được công nhận đạt chuẩn II, nhưng
    sau khi sáp nhập trường thì tại điểm trường A vẫn còn thiếu một số phòng
    chức năng trong đó có phòng âm nhạc. Chương trình giáo dục phổ thông mới
    đã chính thức thông qua vào tháng 7/2017. Mặc dù đã được quyết định lùi
    thời gian triển khai nhưng lộ trình đưa chương trình giáo dục phổ thông mới
    vào áp dụng trong thực tế vẫn gấp gáp. Hiện các nhà trường còn khá nhiều
    khó khăn để đảm bảo cho chương trình được thực hiện đúng mục tiêu. Một
    trong những khó khăn lớn nhất của các trường hiện nay là điều kiện cơ sở vật
    chất nhằm đáp ứng chương trình, sách giáo khoa mới, số phòng học bộ môn,
    trang thiết bị dạy học, thư viện hiện chưa đáp ứng được nhu cầu.
    Các cơ sở giáo dục trong huyện có nơi vẫn còn phòng học bán kiên cố,
    các thiết bị ứng dụng công nghệ thông tin ở một số trường thiếu hoặc đã lạc
    hậu. Một yêu cầu quan trọng để triển khai chương trình giáo dục phổ thông
    mới là cơ sở vật chất. Điều kiện tối thiểu là học sinh Tiểu học phải học 2
    buổi/ngày, sĩ số 35 học sinh/lớp. Lớp học cũng phải đảm bảo điều kiện về
    diện tích để kê bàn ghế theo nhóm… đây cũng là thách thức không nhỏ vì khi
    thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới, về phòng học, cấp tiểu học
    phải đảm bảo yêu cầu 1 lớp/phòng học để học 2 buổi/ngày, trong thực tế một
    số trường chưa đáp ứng được yêu cầu của chương trình mới.
    1.2.2. Về nội dung chương trình:
    * Về SGK, vở bài tập (VBT)
    – Một số trang chữ viết nhỏ, HS chưa biết chữ nên rất khó đọc được nội
    dung, các em còn nhiều bỡ ngỡ, tốn nhiều thời gian để học lời ca. VBT ít học
    sinh có.
    – Một số bài hát chưa thực sự hay, quãng khó, kết lửng.
    * Về đồ dùng học tập, tư liệu
    7
    – Thiếu đồ dùng dạy học (tranh ảnh, đồ dùng của GV và HS).
    – Cơ sở vật chất một số trường chưa có điều kiện (tivi, máy chiếu, âm
    thanh) hỗ trợ giảng dạy tương tác trình chiếu, nên cách truyền đạt chưa linh
    hoạt, sinh động như các bài giảng mẫu, thiếu đồ dùng dạy học nên cũng khó
    truyền đạt nội dung hoặc tổ chức luyện tập được sinh động.
    – Trang hanhtrangso.nxbgd.vn GV khó khăn khi đăng nhập theo mã số
    sau sách vì:
    + Mã số in quá nhỏ, khó đọc.
    + Đa số đăng nhập đều bị báo là mã số đã đăng nhập hoặc sai mật khẩu
    * Về nội dung chương trình:
    – Tập đọc cao độ các nốt nhạc Đô – Rê – Mi – Son – La hơi quá sức với
    học sinh lóp 1, vì nhiều em nói còn ngọng, phát âm chưa chuẩn.
    – Hiện nay chủ trương của ngành giáo dục là giảm tải nhiều nội dung
    trong sách giáo khoa, nhưng trong thực tế việc thực hiện chủ trương này vẫn
    còn hạn chế. Công tác hành chính, sổ sách của cán bộ quản lý và giáo viên
    vẫn còn rất nhiều.
    * Về KHBH
    Nội dung bài soạn dài, giáo viên có rất nhiều lo lắng vì cho đến hiện
    tại “quyền tự chủ cho giáo viên sắp xếp lại nội dung, xây dựng kế hoạch
    giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh” chỉ dừng lại ở mức bố trí tiết học
    thế nào, kết hợp hay chia tách nội dung của sách giáo khoa mà không phải là
    định hướng nội dung và tự do chọn lựa chương trình. Đồ dùng dạy học của
    giáo viên và đồ dùng học tập của học sinh ở chương trình mới chưa được
    trang bị đầy đủ
    1.2.3. Khó khăn về yếu tố con người:
    * Về Học sinh
    – Khó khăn khi đọc lời ca vì chưa biết chữ.
    – Hiếu động, vẫn còn ảnh hưởng nền nếp sinh hoạt ở trường mầm non.
    * Về GV
    8
    – Thời gian tập huấn còn quá ít, khó tiếp thu vì đa số là tập huấn trực
    tuyến.
    – Nội dung bài soạn trong SGV dài và chưa quen xây dựng KHBH.
    – Thiếu thiết bị ĐDDH và các phương tiện hỗ trợ khác như: âm thanh,
    tivi, sách tham khảo, tranh ảnh….
    * Về PHHS
    – Chưa thực sự tham gia vào quá trình giáo dục, nhận xét, đánh giá học
    sinh đặc biệt còn xem nhẹ bộ môn ít giờ.
    – Đa phần PHHS là nông dân và công nhân, ít có thời gian để theo sát
    việc học của con.
    Một trong những vấn đề hóc búa và nan giải nhất khi triển khai thực
    hiện chương trình – sách giáo khoa mới là những khó khăn về đội ngũ giáo
    viên, cán bộ quản lý. Một số trường giáo viên và cán bộ quản lý chưa đạt
    chuẩn về văn bằng chứng chỉ…
    2. Mô tả giải pháp sau khi áp dụng sáng kiến.
    2.1. Khắc phục khó khăn về cơ sở vật chất:
    Để đáp ứng điều kiện cơ sở vật chất thực hiện chương trình – sách giáo
    khoa mới, số phòng học bộ môn, trang thiết bị dạy học, thư viện cần phải
    được đầu tư, trang bị đầy đủ và khắc phục việc thiếu tư liệu, phần mềm,
    phương tiện phục vụ giảng dạy âm nhạc cùng những hạn chế của các phương
    tiện sẵn có.
    Khi gặp những khó khăn như trên, tôi đã mất nhiều ngày tư duy, tìm
    hiểu vấn đề, nguyên nhân vướng mắc để tìm cách tháo gỡ. Qua một thời gian,
    với những trải nghiệm thực tế, tôi xin được trình bày những giải pháp mà tôi
    đã thực hiện để khắc phục khó khăn này.
    Trước tiên, tôi tham mưu với nhà trường để nhà trường tham mưu với
    chính quyền địa phương và quản lý cấp trên cho phương án khắc phục việc
    thiếu phòng học. Được sự đồng ý của cấp trên, nhà trường đã dồn khối lớp
    chưa thực hiện chương trình mới để tạo điều kiện đủ phòng học cho lóp 1
    9
    thực hiện chương trình. Phòng âm nhạc được nối mạng internet và trang bị
    âm thanh, màn hình phù hợp, thay màn chiếu bằng Smart tivi.
    Có Smart tivi, tôi khai thác được rất nhiều tư liệu phục vụ việc giảng
    dạy từ trang Hành trang số, trang Tập huấn… ở đó có tương đối đầy đủ các tư
    liệu, hình ảnh, âm thanh để ta sử dụng cho việc dạy học.
    10
    2.2. Khắc phục khó khăn về nội dung chương trình:
    * Về SGK, VBT
    – HS chưa biết chữ nên rất khó đọc được nội dung, các em còn nhiều
    bỡ ngỡ, tốn nhiều thời gian để học lời ca. Tôi đã sử dụng smart phone kết nối
    với smart tivi trình chiếu lời ca sau đó dùng thanh phách hướng dẫn các em
    đọc lời ca theo tiết tấu.
    Qua việc thực hành này các em đã thuộc lời ca dễ dàng hơn
    – Một số bài hát chưa thực sự hay, quãng khó, kết lửng. Tôi đã chủ
    động báo cáo với BGH để xin được thay thế bài hát khác và sử dụng thời
    lượng phù hợp hơn để giải quyết những hạn chế này. Đề xuất hợp lí nên BGH
    và phụ trách chuyên môn cấp trên rất đồng tình.
    * Về đồ dùng học tập, tư liệu
    – Thiếu đồ dùng dạy học (tranh ảnh, đồ dùng của GV và HS). Tôi đã
    nhờ giáo viên chủ nhiệm lớp thông qua hệ thống sổ liên lạc điện tử nhắn tới
    11
    phụ huynh làm giúp con em mình những nhạc cụ đơn giản như thanh phách,
    súc sắc… tôi cho thông số kích thước, chất liệu cụ thể như: chiều dài, chiều
    rộng, độ dày, các vật liệu như: tre, nứa, gỗ, chai nhựa, đá cuội, sỏi, bi ve…
    Qua đó, phụ huynh rất dễ thực hiện giúp con em mình và các em đã rất thích
    thú, phấn khởi khi sử dụng các đồ dùng tự làm đó trong các tiết học, phụ
    huynh cũng cảm thấy rất vui và hào hứng khi được đồng hành cùng các con
    trong việc học tập.
    – Cơ sở vật chất của một số trường chưa có điều kiện (tivi, máy chiếu,
    âm thanh) hỗ trợ giảng dạy tương tác trình chiếu, nên cách truyền đạt chưa
    linh hoạt, sinh động như các bài giảng mẫu, thiếu đồ dùng dạy học nên cũng
    khó truyền đạt nội dung hoặc tổ chức luyện tập được sinh động. Trong các
    buổi sinh hoạt chuyên môn, tôi đã phát biểu ý kiến đề xuất để lãnh đạo cấp
    trên có biện pháp tham mưu tháo gỡ.
    – Trang taphuan.nxbgd.vn; trang hanhtrangso.nxbgd.vn, GV gặp khó
    khăn khi đăng nhập theo mã số sau sách vì:
    + Mã số in quá nhỏ, khó nhìn.
    + Đa số đăng nhập đều bị báo là mã số đã đăng nhập hoặc sai mật khẩu
    Sau khi nhiều đồng nghiệp thắc mắc vì không đăng nhập được, tôi đã
    liên hệ trực tiếp với người phụ trách của Phòng giáo dục, Sở giáo dục đề xuất
    vướng mắc để cán bộ phụ trách cấp trên cấp tài khoản và mật khẩu mới hoặc
    cho cách khắc phục những vướng mắc này. Sau đó, khó khăn trong việc đăng
    nhập đã được giải quyết.
    Khi đã đăng nhập được các trang: taphuan.nxbgd.vn; hay là trang
    hanhtrangso.nxbgd.vn, tôi đã hướng dẫn cặn kẽ bằng hình ảnh cụ thể để các
    đồng nghiệp có thể dễ dàng thực hiện thao tác tìm kiếm tư liệu trên nền tảng
    của ứng dụng đó và một số nền tảng ứng dụng khác trên không gian mạng
    internet như: YouTube, Zalo, Facebook… có rất nhiều tư liệu để sử dụng và
    tham khảo, như hình ảnh dưới đây:
    + Tư liệu trên YouTube
    12
    13
    + Tư liệu Trên Zalo; Facebook:
    14
    + Tìm tư liệu để phục vụ giảng dạy và tham khảo trên các trang của
    nxbgd.vn với các bước đăng nhập như sau:
    * Bước 1: Trên Google (hoặc Cốc Cốc…) nhập từ khóa vào ô tìm kiếm.
    15
    * Bước 2: Đăng nhập bằng ID và mật khẩu được cấp hoặc đăng nhập
    bằng Email của mình rồi click (nháy chuột trái) vào quên mật khẩu, mật khẩu
    sẽ được cung cấp qua Email mà ta vừa dùng để dăng nhập.
    16
    * Bước 3: Chọn lớp và chọn bộ sách mà ta sử dụng
    17
    * Với trang hanhtrangso.nxbgd.vn: ta cũng thao tác tương tự như vậy.
    Ở những trang học liệu này ta sẽ thấy có đầy đủ các bộ sách và các môn học
    khác nhau để phục vụ giảng dạy và làm tư liệu tham khảo.
    18
    19
    20
    21
    + Ta cũng có thể tìm tài liệu liên môn một cách dễ dàng:
    22
    * Về nội dung chương trình:
    – Tập đọc cao độ các nốt nhạc Đô – Rê – Mi – Son – La hơi quá sức với
    học sinh lóp 1, vì nhiều em nói còn ngọng, phát âm chưa chuẩn, hơi thở ngắn.
    Tôi đã phải tăng nhiều thời gian hơn và chia nhỏ câu nhạc ra để giúp các em
    thực hiện được yêu cầu cần đạt của bài.
    Hiện nay chủ trương của ngành giáo dục là giảm tải nhiều nội dung
    trong sách giáo khoa nhưng trong thực tế việc thực hiện chủ trương này vẫn
    còn hạn chế. Công tác hành chính, sổ sách của c

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education