• SKKN Chỉ đạo tổ chức các hoạt động đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phẩm chất Nhân ái cho học sinh

    SKKN Chỉ đạo tổ chức các hoạt động đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phẩm chất Nhân ái cho học sinh, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu giáo dục và đẩy lùi vấn nạn bạo lực học đường

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Ngày 27 tháng 12 năm 2018, Bộ GDĐT công bố Chương trình giáo dục phổ
    thông – Chương trình tổng thể (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TTBGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo). Chương trình
    thể hiện rõ quan điểm của Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 04 tháng 11 năm 2013
    của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “đổi mới căn bản toàn diện giáo dục,
    đào tạo”, chú trọng giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực người học.
    Năm học 2020 – 2021, ngành giáo dục chính thức triển khai Chương trình
    giáo dục phổ thông 2018, bắt đầu tổ chức thực hiện chương trình, sách giáo khoa
    mới đối với lớp 1. Chương trình hướng tới dạy học phát triển toàn diện phẩm
    chất, năng lực người học, đặt nền móng cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục con
    người có đầy đủ các phẩm chất, năng lực cần thiết đáp ứng yêu cầu của thời kỳ
    mới, thời kỳ phát triển mạnh mẽ về công nghệ và hội nhập quốc tế.
    Với truyền thống “Tiên học lễ, hậu học văn”, giáo dục phẩm chất vẫn được
    đề cao, thể hiện rõ từ quan điểm xây dựng chương trình đến mục tiêu giáo dục và
    các yêu cầu cần đạt cụ thể về giáo dục phẩm chất. Đó là phẩm chất yêu nước,
    nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm.
    (5 phẩm chất cốt lõi của Chương trình giáo dục phổ thông 2018)
    4
    Mỗi một phẩm chất là một thành phần vô cùng quan trọng góp phần hình
    thành nên nhân cách con người mới. Trong đó, phẩm chất “Nhân ái” được các
    nhà giáo dục coi như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt, chi phối ảnh hưởng đến mọi
    hành vi của mỗi con người. Những hành vi xuất phát từ phẩm chất nhân ái hầu
    hết là những hành vi đẹp và đúng đắn. Nhất là trong bối cảnh cuộc sống của con
    người luôn phải đối mặt với nhiều thách thức lớn: thiên tai, dịch bệnh, đói nghèo,
    thất nghiệp… thì mỗi chúng ta càng cần phải có phẩm chất nhân ái, tinh thần
    đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn, cải tạo cuộc sống, hướng
    tới tương lai.
    Chỉ có tình yêu thương, đoàn kết đồng lòng chúng ta mới cùng nhau vượt
    qua khó khăn. Điều đó đã được chứng minh trong suốt chiều dài lịch sử phát triển
    của dân tộc: chiến thắng các đế quốc hùng cường, vượt qua thiên tai, dịch bệnh,
    đói nghèo… chính là nhờ phẩm chất nhân ái, sẻ chia giữa con người với con
    người. Và “nhân ái” đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.
    Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do sự phát triển mạnh mẽ của công
    nghệ thông tin, xu thế hội nhập quốc tế và áp lực cuộc sống gia tăng đã ảnh
    hưởng lớn đến việc giáo dục, hình thành phẩm chất, nhân cách của thế hệ trẻ.
    Chúng ta ngày càng chứng kiến những hành vi thể hiện sự suy thoái về đạo đức,
    thế hệ trẻ có xu hướng sống ích kỉ, vô cảm, thiếu tình yêu thương, trách nhiệm
    với gia đình và cộng đồng.
    Vì vậy, hơn bao giờ hết, giáo dục phẩm chất đạo đức cho học sinh là một
    nhiệm vụ cấp thiết của ngành giáo dục và của toàn xã hội.Tiểu học được coi là
    bậc học nền tảng, có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành nhân cách của một con
    người. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để việc giáo dục đạo đức nói chung và giáo
    dục phẩm chất nhân ái cho học sinh ở bậc tiểu học nói riêng đạt hiệu quả tốt nhất,
    đảm bảo các yêu cầu đề ra của chương trình giáo dục mới là một trăn trở của cá
    nhân tôi.
    Vì thế tôi nghiên cứu và ứng dụng đề tài: Chỉ đạo tổ chức các hoạt động
    giáo dục đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phẩm chất “Nhân ái”
    cho học sinh tiểu học theo yêu cầu cần đạt của Chương trình giáo dục phổ
    thông 2018.
    5
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến.
    1.1. Khái niệm về phẩm chất “Nhân ái”
    Theo nghĩa Hán Việt, “nhân” là người, “ái” là tình yêu. “Nhân ái” chính là
    tình yêu của con người đối với con người, là tinh thần đoàn kết, yêu thương, sẻ
    chia, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống hàng ngày.
    1.2. Những yêu cầu cần đạt của phẩm chất Nhân ái trong chương trình
    giáo dục phổ thông 2018 bậc tiểu học
    Theo chương trình giáo dục phổ thông, Chương trình tổng thể ban hành kèm
    theo Thông tư số 32?2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ Giáo
    dục và Đào tạo đã chỉ rõ những yêu cầu cần đạt về phẩm chất Nhân ái của học
    sinh tiểu học. Đó là:
    – Yêu thương, quan tâm chăm sóc người thân trong gia đình.
    – Yêu quý bạn bè, thầy cô; quan tâm, động viên, khích lệ bạn bè.
    – Tôn trọng người lớn tuổi; giúp đỡ người già, người ốm yếu, người khuyết
    tật; nhường nhịn và giúp đỡ em nhỏ.
    – Biết chia sẻ với những bạn có hoàn cảnh khó khăn, những bạn ở vùng sâu,
    vùng xa, người khuyết tật và đồng bào bị ảnh hưởng của thiên tai.
    1.3. Khảo sát, điều tra thực trạng phẩm chất Nhân ái trong học sinh theo
    những yêu cầu cần đạt của chương trình GDPT 2018
    Để tìm hiểu cách ứng xử của học sinh trong các mối quan hệ, từ đó đánh giá
    được sự hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái trong học sinh, nắm được
    thực trạng việc giáo dục phẩm chất nhân ái cho học sinh trong gia đình và nhà
    trường , chúng tôi tiến hành các phương pháp sau: phát phiểu hỏi, phỏng vấn học
    sinh, phỏng vấn cha mẹ học sinh, giáo viên, quan sát học sinh trong các hoạt động
    học tập, vui chơi.
    1.3.1. Điều tra thực trạng việc hình thành phẩm chất nhân ái trong học sinh
    * Phát phiếu hỏi cho học sinh
    – 100 học sinh khối 3, 4, 5 tham gia trả lời phiếu hỏi và kết quả thu được
    như sau:
    6
    PHIẾU HỎI DÀNH CHO HỌC SINH
    Câu 1: Em đánh dấu X vào cột tương ứng với mỗi dòng trong bảng sau:

    TTNhững việc em đã làmSố HS thực hiện
    Thườn
    g xuyên
    Thỉnh
    thoảng
    Ngại
    không
    muốn
    làm
    1Quan tâm, hỏi thăm, chăm sóc khi người thân bị
    ốm
    56368
    2Giúp đỡ bố mẹ, ông bà những công việc trong
    gia đình
    42526
    3Tham gia lao động vệ sinh cùng với các bạn ở
    lớp, ở trường
    937
    4Sẵn sàng cho bạn mượn đồ dùng, sách vở khi
    bạn cần
    57367
    5Nói lời chúc mừng bạn khi bạn có niềm vui355213
    6Động viên, an ủi khi bạn có chuyện buồn, ốm
    đau
    275914
    7Lễ phép, chào hỏi người lớn khi gặp mặt và nói
    chuyện
    48502
    8Sẵn sàng giúp đỡ người già, em nhỏ, người tàn
    tật
    424711
    9Tham gia các hoạt động giúp đỡ người khó khăn:
    ủng hộ các bạn vùng cao, vùng lũ lụt, vùng dịch
    bệnh…
    484210
    10Phản đối, không đồng tình với những việc làm
    xấu của người khác
    324622

    Câu 2: Em có muốn được mọi người yêu thương, giúp đỡ mình không? Em
    sẽ cảm thấy thế nào khi được mọi người quan tâm, giúp đỡ?
    – Trả lời: Em sẽ rất vui và hạnh phúc khi được mọi người yêu thương.
    * Phát phiếu điều tra dành cho phụ huynh
    – 100 phụ huynh tham gia trả lời phiếu, kết quả thu được:
    PHIẾU HỎI DÀNH CHO PHỤ HUYNH
    Câu 1: Xin hãy đánh dấu X vào cột tương ứng với mỗi dòng trong bảng sau:

    T TNhững việc làm biểu hiện phẩm chất nhân ái
    của học sinh
    Mức độ thực hiện
    Thườn
    g xuyên
    Thỉnh
    thoảng
    Không
    quan
    tâm
    1Nói lời cảm ơn, lời yêu thương với người thân124642
    2Giúp đỡ cha mẹ, ông bà những công việc nhà phù404713

    7

    hợp
    3Biết hỏi han, quan tâm, chăm sóc khi cha mẹ,
    người thân ốm đau, mệt mỏi
    46495
    4Lễ phép với người lớn và mọi người xung quanh67303
    5Sẵn sàng giúp đỡ người khác khi cần484210
    6Thích làm việc thiện: ủng hộ các bạn vùng cao,
    vùng lũ lụt, vùng dịch bệnh…
    364717
    7Tỏ thái độ đồng tình. Khen ngợi khi ai đó làm việc
    tốt
    256312
    8Phản đối, không đồng tình với những việc làm xấu
    của người khác
    354718
    9Biết tỏ ra thương cảm, giúp đỡ những người tàn
    tật, đói rách, khác biệt,..
    37549
    10Kêu gọi người thân, bạn bè giúp đỡ những hoàn
    cảnh khó khăn
    183844

    * Quan sát học sinh
    Chúng tôi tiến hành quan sát học sinh trong những giờ vui chơi, trong các
    giờ học và thu được kết quả theo mục đích quan sát như sau:
    – Ưu điểm:
    + Đa số các em đều có hành vi ứng xử thân thiện, đoàn kết, sẵn sàng giúp đỡ
    nhau trong sinh hoạt, học tập; chào hỏi lễ phép thầy cô và người lớn; nhiều học
    sinh biết giúp đỡ em nhỏ trong sinh hoạt, vui chơi; rất thích tham gia các hoạt
    động thiện nguyện,…
    – Tồn tại: Một bộ phận học sinh chưa hòa đồng, thân thiện với bạn bè, còn có
    những biểu hiện chưa nhân ái:
    + Nhiều em còn dùng lời lẽ chê bai bạn bằng những lời nói tổn thương: học
    dốt, xấu, lười, bẩn, ngu,…(Đây là nguyên nhân chính dẫn đến những mâu thuẫn
    trong học sinh.)
    + Một bộ phận nhỏ các em học sinh khối 4, 5 có biểu hiện chia rẽ, phân bè
    phái, làm mất đoàn kết trong tập thể.
    + Có những anh chị lớp lớn hay dọa nạt, lấy đồ của các em học sinh lớp nhỏ,
    Một số học sinh lớp 1,2,3 hay tranh giành đồ chơi, truyện, đồ ăn dẫn đến mâu
    thuẫn, thậm chí đánh nhau.
    8
    + Một bộ phận nhỏ học sinh hay lấy đồ của bạn; phá đồ chơi, quấy rối, trêu
    chọc bạn dẫn đến xung đột.
    + Chưa hứng thú tham gia các hoạt động thiện nguyện do lớp và trường tổ
    chức.
    1.3.2. Tìm hiểu môi trường hình thành và phát triển phẩm chất nhân ái của
    học sinh trong gia đình
    Chúng tôi phát phiếu hỏi cho 100 phụ huynh và phỏng vấn phụ huynh trong
    dịp họp phụ huynh đầu năm học và thu được kết quả sau:
    PHIẾU HỎI DÀNH CHO CHA MẸ HỌC SINH
    (Đánh dấu X vào cột tương ứng với mỗi dòng sau)

    STTCách cha mẹ ứng xử với con cáiCoi
    trọng
    Không
    coi
    trọng
    Không
    quan
    tâm
    1Ứng xử với con cái bằng lời nói, cử chỉ yêu thương602812
    2Luôn đối xử công bằng với các con583012
    3Giải quyết mâu thuẫn, xung đột giữa các con theo
    cách phân tích để con hiểu
    404515
    4Luôn tạo cơ hội, khích lệ con được làm những việc
    thể hiện sự quan tâm, yêu thương, giúp đỡ những
    người trong gia đình
    284230
    5Khuyến khích con tham gia các hoạt động giúp đỡ,
    ủng hộ các hoàn cảnh khó khăn
    214732
    6Nêu gương bằng cách ứng xử nhân ái với những
    người xung quanh nhất là những người có hoàn
    cảnh khó khăn
    214732

    1.3.3. Thực trạng các biện pháp nhằm hình thành và phát triển phẩm chất
    nhân ái cho học sinh của giáo viên
    9
    Chúng tôi xây dựng và phát phiếu cho 50 giáo viên chủ nhiệm, đồng thời
    phỏng vấn, trao đổi thêm để tìm hiểu về những vấn đề liên quan. Kết quả thu
    được như sau:
    PHIẾU ĐIỀU TRA DÀNH CHO GIÁO VIÊN
    Câu 1: Đánh dấu X vào cột tương ứng với mỗi dòng sau:

    STTBiện pháp giáo dục giúp HS hình
    thành và phát triển phẩm chất nhân ái
    Thường
    xuyên
    Không
    thường
    xuyên
    Không
    quan
    tâm
    SLTLSLTLSLTL
    1Lồng ghép trong các tiết dạy trên lớp3264%1836%
    2Giáo dục trong các tiết học đạo đức50100
    %
    3Chú trọng giải quyết những mâu thuẫn
    giữa học sinh
    1734%2866%
    4Đối xử công bằng giữa các học sinh,
    không thiên vị
    4692%48%
    5Tổ chức các hoạt động thiện nguyện
    ngoài giờ chính khóa
    4692%48%
    6Nêu gương về phẩm chất nhân ái1428%2652%1020 %
    7Luôn chú trọng khuyến khích, tạo cơ hội
    để HS được thể hiện sự quan tâm, giúp
    đỡ bạn bè, em nhỏ,..
    3162%1224%714
    %
    8Sử dụng từ ngữ, hành vi mang tính bạo
    lực
    1224 %3876 %

    Câu 2: Những cách giáo dục khác mà đồng chí đã sử dụng?
    TL: Phối hợp với phụ huynh trong việc giáo dục đạo đức cho HS.
    1.4. Đánh giá chung thực trạng việc giáo dục, bồi dưỡng và hình thành
    phẩm chất nhân ái của học sinh
    1.4.1. Ưu điểm
    – Đa số giáo viên chú trọng việc hình thành phẩm chất nhân ái cho học sinh
    thông qua các tiết học có liên quan, các giờ đạo đức; giáo viên quan tâm đối xử
    công bằng và nêu gương cho học sinh về những biểu hiện của phẩm chất nhân ái.
    – Phần lớn phụ huynh đã chú ý giáo dục phẩm chất nhân ái cho con thông
    qua việc hướng con vào các hoạt động thiện nguyện, đối xử công bằng, yêu
    thương.
    10
    – Hầu hết các em HS biết kính yêu, giúp đỡ người thân trong gia đình, lễ
    phép với người lớn. Các em biết tôn trọng và ứng xử với bạn bạn một cách thân
    thiện, đoàn kết, giúp đỡ nhau trong học tập và vui chơi, thích tham gia các hoạt
    động thiện nguyện.
    1.4.2. Tồn tại
    – Về nhận thức: Một bộ phận cha mẹ học sinh và giáo viên chưa nhận thức
    được giá trị của phẩm chất nhân ái đối với sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ
    cũng như ảnh hưởng của nó đến sự thành công của trẻ trong cuộc đời; chưa quan
    tâm đến việc giáo dục phẩm chất nhân ái cho học sinh và không hiểu được những
    hành vi đối xử không công bằng, thờ ơ, không nêu gương sáng về lòng nhân ái,…
    có tác động xấu đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ.
    – Về biện pháp giáo dục:
    + Đa số giáo viên chỉ dừng lại ở việc sử dụng biện pháp giáo dục phẩm chất
    nhân ái thông qua các giờ học đạo đức và những bài học có liên quan. Các biện
    pháp giáo dục phẩm chất nhân ái cho học sinh mà giáo viên sử dụng cũng chưa
    thể hiện sự quan tâm, đầu tư đúng mức trong việc tìm kiếm những biện pháp giáo
    dục hiệu quả, mang tính toàn diện hơn. Nhiều thầy cô chưa chú ý đến cảm nhận
    của HS cũng như các yếu tố tác động tiêu cực, ảnh hưởng đến việc hình thành và
    phát triển phẩm chất nhân ái cho học sinh. Các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
    lớp chưa chú trọng lồng ghép giáo dục phẩm chất nhân ái cho trẻ.
    + Nhiều bậc cha mẹ hầu như không để ý đến việc bồi dưỡng phẩm chất nhân
    ái cho con, vì thế dẫn đến việc ứng xử theo cảm xúc; nhiều khi áp đặt con cái theo
    ý mình do chưa biết lắng nghe và hiểu cảm xúc, suy nghĩ của con; không quan
    tâm đến việc khuyến khích, động viên con tham gia các hoạt động thiện nguyện
    và việc làm gương; chưa tạo điều kiện để con em mình được thực hành, thể hiện
    sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ người thân trong gia đình và những người xung
    quanh.
    + Nhiều em học sinh có những biểu hiện lối sống vô tâm, ích kỷ chưa biết
    nghĩ đến cảm xúc của người khác; chưa có ý thức và những việc làm giúp đỡ
    11
    người thân trong gia đình và những người khó khăn. Các em sử dụng những hành
    vi chưa đúng, mang tính bạo lực như chê bai, chế giễu, cười nhạo những cái xấu,
    cái thua thiệt của bạn; các em sẵn sàng nổi giận, cáu gắt, chửi bới, thậm chí dùng
    vũ lực với bạn khi bị người khác không làm mình hài lòng; một bộ phận học sinh
    còn có tư tưởng bè phái, chia rẽ làm mất đoàn kết nội bộ… Nó thể hiện một nhân
    cách chưa hoàn thiện, phẩm chất nhân ái chưa được bồi dưỡng dẫn đến các biểu
    hiện hành vi lệch chuẩn.
    1.5. Nguyên nhân của tồn tại
    – Cha mẹ và giáo viên do thiếu thông tin, chưa nhận thức được vai trò và ý
    nghĩa to lớn của phẩm chất nhân ái trong việc xây dựng thành công các mối quan
    hệ cũng như thành công trong cuộc sống nên không để ý đến việc tìm ra các
    phương pháp giáo dục tốt cho con.
    – Giáo viên còn chịu nhiều áp lực về kết quả dạy học các môn học bắt buộc
    được đánh giá qua các bài kiểm tra dẫn đến không còn tâm trí dành cho việc tổ
    chức các hoạt động giáo dục phẩm chất nhân ái cho học sinh.
    – Các em vẫn còn bị đối xử bằng những hành vi mang tính bạo lực ở những
    cấp độ khác nhau. Môi trường sống của các em chưa tạo điều kiện để các em hình
    thành và phát triển phẩm chất nhân ái.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    Để đạt được mục tiêu giáo dục về hình thành và bồi dưỡng phẩm chất nhân
    ái cho học sinh theo các yêu cầu cần đạt của chương trình GDPT 2018 đối với bậc
    tiểu học, tôi cho rằng cần thiết phải đưa ra nhiều biện pháp được thực hiện một
    cách đồng bộ ở nhà trường và gia đình, cần sự chung tay của cả giáo viên và cha
    mẹ học sinh. Trong hai năm học, 2019-2020, 2020-2021, tôi đã nghiên cứu và chỉ
    đạo thực hiện đồng bộ các biện pháp giáo dục sau:
    2.1. Nâng cao nhận thức của giáo viên và phụ huynh trong việc giáo dục,
    bồi dưỡng phẩm chất nhân ái cho học sinh
    Chúng ta đều biết rằng, nhận thức là khởi nguồn của hành vi. Khi cha mẹ và
    thầy cô chưa coi trọng vấn đề giáo dục, bồi dưỡng phẩm chất nhân ái cho các em
    12
    thì không bao giờ để tâm, suy nghĩ phải làm thế nào để giúp con em mình hình
    thành và phát triển phẩm chất nhân ái và cũng không quan tâm đến hành vi của
    mình có ảnh hưởng như thế nào đến việc hình thành nhân cách của trẻ. Những
    biểu hiện chưa đúng của trẻ không được cha mẹ, thầy cô quan tâm, uốn nắn sẽ
    dần trở thành thói quen xấu, hình thành lối sống ích kỷ, lệch lạc.
    Chính vì vậy, việc giúp cho cha mẹ, thầy cô, những người gần gũi và có ảnh
    hưởng trực tiếp đến trẻ, nhận thức được tầm quan trọng của phẩm chất nhân ái
    đối với sự thành công của trẻ trong cuộc sống sau này.
    Làm thế nào để tiếp cận, tác động và thay đổi nhận thức của cha mẹ, nâng
    cao hơn nữa nhận thức của thầy cô về vấn đề giáo dục phẩm chất nhân ái của trẻ?
    Đây là câu hỏi mà chúng tôi trăn trở.
    2.1.1. Nâng cao nhận thức của giáo viên
    – Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, chúng tôi cùng giáo viên nghiên cứu
    kỹ về mục tiêu giáo dục, những yêu cầu cần đạt cụ thể của từng phẩm chất, năng
    lực. Trong đó, tôi trao đổi, phân tích kĩ về vai trò, ý nghĩa và những yêu cầu cần
    đạt của phẩm chất nhân ái.
    – Trong dịp nghỉ hè, chúng tôi giới thiệu và định hướng cho giáo viên xem
    chương trình “Thầy cô đã thay đổi” và nói chuyện, trao đổi, bàn luận một cách rất
    tự nhiên với nhau về những vấn đề liên quan trong chương trình.
    – Đầu năm học, chúng tôi gửi đến học sinh các lớp khối 3, 4, 5 một yêu cầu:
    “Em mong muốn điều gì ở thầy cô giáo mới để em vui thích hơn trong trong các
    buổi học? Hãy viết thư, lời nhắn gửi cô /thầy để nói lên mong muốn của em?”.
    – Với học sinh lớp 1, 2 chúng tôi phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi:
    + Em có yêu quý cô giáo và các bạn của mình không?
    + Em có cảm thấy vui khi được học cùng với cô giáo và các bạn không?
    + Em thích nhất cô giáo tổ chức hoạt động gì?
    + Em muốn cô giáo làm gì để mình vui hơn, thích học hơn?
    Qua các lá thư, lời nhắn gửi và câu trả lời hết sức hồn nhiên của trẻ, hầu như
    các em đều bày tỏ lòng biết ơn với cô giáo và mong muốn cô luôn tươi cười, vui
    13
    vẻ, mặc đẹp…Các em mong cô không cáu gắt, mong cô lắng nghe chúng em và
    tổ chức cho các em nhiều hoạt động ngoại khóa, hoạt động vui chơi nhiều hơn,…
    Với những cách đó, chúng tôi muốn giáo viên tự liên hệ, cảm nhận, suy nghĩ
    về những điều mình đã làm tổn thương học sinh trong cách ứng xử không chủ ý
    của mình hàng ngày có tác động tiêu cực như thế nào đến việc hình thành và phát
    triển nhân cách của trẻ. Điều đó sẽ giúp lay động cảm xúc, thức tỉnh nhận thức
    bản thân và định hướng thay đổi phương pháp, cách ứng xử của mình với học
    sinh một cách tự nhiên.
    – Trong những buổi họp hội đồng, chúng tôi đề cập đến vấn đề cần thiết phải
    chú ý giáo dục, bồi dưỡng phẩm chất nhân ái cho học sinh để dần nâng cao nhận
    thức cho giáo viên về vấn đề này.
    2.1.2. Nâng cao nhận thức của cha mẹ học sinh
    Chúng tôi yêu cầu GV dành một phần thời gian trong buổi họp phụ huynh
    đầu năm để cùng nhau chia sẻ vấn đề này.
    Cách tiếp cận:
    – GV nêu mục tiêu, yêu cầu giáo dục toàn diện về phẩm chất, năng lực với
    phụ huynh. Giúp phụ huynh hiểu rõ bên cạnh việc phối kết hợp giáo dục kiến
    thức, năng lực thì việc phối kết hợp giáo dục phẩm chất cho học sinh là một
    nhiệm vụ rất quan trọng. Theo đó, GV nhấn mạnh vai trò của phẩm chất nhân ái
    14
    đối với sự thành công của trẻ trong các mối quan hệ và giúp trẻ có những hành vi
    đúng với mọi người và thế giới xung quanh trong các hoàn cảnh đời sống.
    – Phát phiếu đánh giá mức độ hình thành phẩm chất nhân ái của HS cho phu
    huynh. (như đã trình bày trong mục 1.3)
    – Đọc thư của con gửi cho cha mẹ. (Ngày hôm trước, chúng tôi cho các em
    học sinh lớp 3,4, 5 viết thư gửi bố mẹ với đề bài: “Em mong muốn điều gì ở bố
    mẹ để em vui vẻ, học tập tốt trong năm học này? Hãy viết một lá thư (lời nhắn)
    gửi bố mẹ để nói lên điều đó nhân dịp đầu năm học mới”. Những lá thư được đặt
    dưới ngăn bàn tại vị trí cha mẹ ngồi họp.)
    Qua nhiều năm kinh nghiệm làm giáo viên chủ nhiệm, tôi luôn cho các em
    viết thư giãi bày tâm sự với thầy cô, cha mẹ vào đầu mỗi năm học. Những lá thư
    của các em rất chân thật, lột tả được thực trạng điều mà chúng tôi muốn biết.
    (Lá thư của em học sinh lớp 4 gửi cho bố mẹ)
    15
    Trong những lá thư các em viết, các em mong bố mẹ ít xem điện thoại, ti vi,
    bớt làm việc… để có thời gian chơi với con; mong bố mẹ đừng chửi con là đồ “bỏ
    đi”, đồ “vô tích sự”,… khi con không được điểm cao; mong bố mẹ không đối xử
    thiên vị giữa các anh chị em trong gia đình; mong bố mẹ đừng quát mắng chúng
    con mà hãy lắng nghe để hiểu con hơn, đừng ép các con học thêm quá sức vì con
    rất mệt mỏi…
    – Khi phụ huynh đọc lá thư xong, bên cạnh việc nói về những điều tốt đẹp
    trong thư như lòng biết ơn, lời hứa… giáo viên sẽ tiếp cận vấn đề giáo dục năng
    lực, phẩm chất cho con. Kể những câu chuyện để thấy được hậu quả của việc đối
    xử không công bằng trong gia đình, của việc sử dụng bạo lực trong giáo dục trẻ
    có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành tính cách của con trẻ.Giáo viên nói về tình
    trạng bạo lực học đường, lối sống ích kỷ của học sinh… và lối sống đó gây hại
    cho trẻ như thế nào trong cuộc sống của mình: Bị bạn bè ghét bỏ, không vui,
    không cảm thấy hạnh phúc, khó khăn trong việc hoà nhập với tập thể, cộng đồng,
    đôi khi dẫn đến sự cô lập, tự kỉ …
    Nhiều phụ huynh chia sẻ sau khi đọc những lá thư, những lời nhắn gửi của
    con: “Rất xúc động khi đọc thư của con và cảm thấy có lỗi với con.”
    “Chúng tôi chỉ chú trọng đến việc con học kiến thức mà coi nhẹ vấn đề giáo
    dục đạo đức cho con.”
    “Chúng tôi không nghĩ được xa hơn là các con sẽ bị ảnh hưởng như thế nào
    khi sống trong một tập thể mà không biết sẻ chia, không có tinh thần đoàn kết,
    tương trợ”,…
    Giáo viên giới thiệu, khuyến khích cho phụ huynh xem chương trình “Cha
    mẹ đã thay đổi” để cha mẹ rút ra được những bài học trong việc giáo dục con cái.
    16
    (Buổi họp phụ huynh đầu năm của lớp 5C)
    * Kết quả:
    Với cách tiếp cận này, phụ huynh và cả giáo viên đều được tác động 1 cách
    tự nhiên, giúp họ nâng cao nhận thức của mình về việc cần thiết phải giáo dục
    đạo đức, giáo dục phẩm chất nhân ái cho con; sự cần thiết phải đối xử công bằng
    giữa các con trong gia đình, giữa học sinh trong lớp; phải biết lắng nghe và giải
    quyết thỏa đáng những vấn đề bế tắc, bức xúc cho trẻ, khuyến khích, tạo nhiều cơ
    hội để con được tham gia vào công việc gia đình, thể hiện tình yêu thương, quan
    tâm, chăm sóc người thân, những người có hoàn cảnh khó khăn và chú ý đến việc
    nêu gương để con nhìn theo mà sống tốt hơn.
    2.2. Tăng cường hoạt động giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau, chú trọng công tác
    biểu dương khen ngợi.
    Bồi dưỡng phẩm chất nhân ái, tinh thần đoàn kết cho trẻ sẽ không hiệu quả
    nếu như chúng ta chỉ dừng lại ở các bài giảng đạo đức hay thông qua các tiết học
    có nội dung liên quan. Bởi đó là cách giáo dục nặng về lý thuyết, giáo điều không
    phù hợp với tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu học.
    Phẩm chất nhân ái phải được hình thành 1 cách rất tự nhiên thông qua những
    hoạt động, những hành vi ứng xử nhân văn hàng ngày.Với học sinh thì thông qua
    các hoạt động giúp đỡ nhau trong sinh hoạt hàng ngày trên lớp, trong lao động,
    học tập, vui chơi,… Giáo viên cần có sự phân công một cách có dụng ý để vừa đạt
    17
    được hiệu quả công việc, vừa kết hợp giáo dục, bồi dưỡng phẩm chất cho học
    sinh.
    2.2.1. Tăng cường giáo dục phẩm chất nhân ái cho học sinh thông qua
    các hoạt dộng học tập.
    – Trong các phong trào “Đôi bạn cùng tiến”,“Cùng giúp bạn tiến bộ”…, giáo
    viên nên tổ chức cho học sinh tự nguyện xung phong nhận giúp đỡ các bạn chậm
    tiến học thuộc các bảng cửu chương, luyện kỹ năng đọc, luyện viết, làm
    tính,…trong các giờ truy bài đầu giờ, các hoạt động học trên lớp,…
    Hàng ngày, hằng tuần, giáo viên chú ý đánh giá biểu dương sự tiến bộ của
    các bạn được giúp đỡ, khen ngợi các bạn có tinh thần đoàn kết hỗ trợ, ghi công,
    tặng cờ để khích lệ phong trào và cũng để học sinh cả lớp nhận thức được ý nghĩa
    của việc làm tốt và khi làm việc tốt sẽ luôn được mọi người yêu quý, khen ngợi.
    18
    (Tăng cường hỗ trợ các bạn trong mỗi hoạt động học)
    2.2.2. Giáo dục phẩm chất nhân ái thông qua các hoạt động lao động và
    sinh hoạt chung
    – Trong lao động, vệ sinh: Giáo viên cùng hội đồng tự quản phân chia công
    tác lao động vệ sinh thành những phần việc nhỏ. Tổ chức cho học sinh tự nguyện,
    xung phong đảm nhận phần việc phù hợp với khả năng, sức khỏe của mình,
    khuyến khích sự hỗ trợ, giúp đỡ những bạn yếu hơn hoàn thành nhiệm vụ.
    – Sau mỗi buổi lao động, giáo viên đều chú trọng vào việc biểu dương, khen
    ngợi tinh thần đoàn kết, giúp đỡ của học sinh để các em thấy được ý nghĩa của
    việc mình đã làm mà thêm hứng khởi, tích cực tham gia vào các hoạt động tương
    trợ lẫn nhau.
    19
    (Hỗ trợ nhau trong lao động)
    – Trong các hoạt động khác, giáo viên cần chú trọng vào việc kêu gọi tinh
    thần đoàn kết, hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau trong mọi hoạt động có thể dù là nhỏ nhất.
    Đặc biệt luôn đề cao công tác biểu dương, khen ngợi những hành vi đẹp thường
    diễn ra trong lớp học như: cho bạn mượn bút, thước kẻ, bút chì, cho bạn học
    chung sách, che chung ô, chung áo mưa, động viên an ủi khi bạn buồn, chúc
    mừng chia vui với bạn khi bạn có chuyện vui, chăm sóc bạn khi ốm đau ở lớp,…
    Đó chính là cách bồi dưỡng phẩm chất nhân ái đơn giản mà rất hiệu quả giúp
    hoàn thiện nhân cách học sinh mỗi ngày.
    (Cùng chúc mừng sinh nhật bên nhau)
    20
    (Cắm hoa chúc mừng các bạn nữ và cô giáo nhân ngày 8-3)
    – Cần giúp các em hiểu để tránh thể hiện các hành vi kì thị, chế giễu, thiếu
    sự đồng đcảm gây tổn thương tinh thần cho các bạn có hoàn cảnh đặc biệt, khó
    khăn, những bạn học hòa nhập trong lớp. GV chú ý tạo không gian thoải mái, tự
    nhiên để giáo dục các em biết cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ bạn tham gia các hoạt
    động chung của tập thể.
    21
    2.3. Tư vấn, giải quyết thỏa đáng những mâu thuẫn trong học sinh
    Trong mối quan hệ bạn bè, các em học sinh vẫn còn sử dụng từ ngữ, hành vi
    mang tính bạo lực tạo ra tâm lí ức chế, tức tối cho nhau. Những xích mích nhỏ,
    âm thầm lại là mầm mống làm nảy sinh những mâu thuẫn, xung đột lớn hơn hoặc
    tạo ra sự chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ. Nghiêm trọng hơn, nó dần hình thành
    những tính xấu như lòng sân hận, sự ganh ghét, đố kị, ảnh hưởng lớn đến sự hình
    thành phẩm chất nhân ái của trẻ.
    Vì vậy, giáo viên cần chú ý vào việc tư vấn, giải quyết thoả đáng những mâu
    thuẫn dù nhỏ, uốn nắn cách cư xử chưa đúng, chưa phù hợp của học sinh trong
    lớp một cách tự nhiên và có chủ đích nhằm bồi dưỡng phẩm chất nhân ái, tinh
    thần đoàn kết, yêu thương cho các em.
    Ví dụ:
    – Với việc dùng từ ngữ làm tổn thương bạn như: “Bạn ấy dốt nhất lớp đấy
    ạ!”, “Bạn ấy viết xấu, bẩn nhất lớp ạ!”, “Bạn ấy hay ăn cắp lắm ạ!”, “Nhà bạn
    ấy nghèo lắm ạ!”,…, giáo viên cần đưa ra những tình huống để học sinh đặt vị trí
    của mình vào vai của người bạn bị chê bai, nói xấu để các em có thể cảm nhận
    được cảm xúc của bạn ấy khi bị người khác nói về mình như thế. Từ đó, học sinh
    22
    sẽ rút kinh nghiệm và không sử dụng những lời nói mang tính bạo lực làm tổn
    thương người khác như thế nữa. Sau đó, giáo viên cùng học sinh tìm ra cách ứng
    xử, cách giải quyết giúp đỡ bạn tiến bộ, khắc phục những hạn chế thay vì chê bai,
    xa lánh và làm bạn tổn thương.
    (Bạo lực bằng lời dè bỉu, chê bai là hành vi lệch chuẩn của phẩm chất nhân
    ái)
    23
    – Với những hành vi bạo lực lớn hơn: cãi nhau, đánh bạn, vẩy mực, xé vứt
    đồ của bạn…, giáo viên cũng cần lắng nghe các em trình bày nguyên nhân, đồng
    cảm và chia sẻ cảm xúc với mỗi em. Từ đó, giáo viên phân tích để các em hiểu cái
    sai của mỗi người, giúp các em và nhận lỗi, hòa giải với bạn, bỏ qua và chơi với
    nhau một cách thoải mái nhất. Việc phân tích để giúp các em nhìn nhận cái sai
    một cách thỏa đáng sẽ giúp các em giải tỏa được những bức xúc, ấm ức trong
    lòng mà vui vẻ hòa giải và định hướng cho các em cách giải quyết vấn đề gây
    mâu thuẫn trong những hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống.
    (GV giúp HS hóa giải mâu thuẫn bằng cách nhìn nhận cái sai và làm hòa)
    24
    2.4. Tổ chức các hoạt động gây quỹ ủng hộ các bạn có hoàn cảnh khó
    khăn.
    Mỗi năm nhận học sinh, chúng tôi đều yêu cầu giáo viên tìm hiểu hoàn cảnh
    gia đình của từng em, phát hiện học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cần sự
    quan tâm giúp đỡ về vật chất hay tinh thần. Từ đó, cùng giáo viên xây dựng kế
    hoạch tổ chức các hoạt động thiết thực vừa giúp đỡ được các em, vừa giáo dục,
    bồi dưỡng phẩm chất nhân ái cho học sinh của lớp ngay từ đầu năm học.
    25
    2.5 . Nêu gương sáng về phẩm chất nhân ái
    Trong các hoạt động thiện nguyện, hay trong các cách ứng xử hàng ngày với
    mọi người, giáo viên phải luôn có ý thức nêu gương về lòng nhân ái. Bởi học sinh
    tiểu học có đặc điểm tâm lý rất thiên về cảm xúc. Các em sẽ cảm thấy ngưỡng
    mộ, tự hào về cô giáo của mình và thích học tập làm theo. Ngược lại, các em sẽ
    vô cùng thất vọng, mất lòng tin và không nghe theo nếu thầy cô làm ngược với lời
    thầy cô nói. Nghiêm trọng hơn, các em cũng sẽ bắt chước và làm theo cách ứng
    xử của cô. Vì vậy nêu gương là một trong những biện pháp vô cùng hiệu quả
    trong việc giáo dục học sinh nói chung và giáo dục lòng nhân ái nói riêng.
    26
    (Thầy cô giáo mua mặt nạ, ủng hộ quỹ “Giúp bạn đến trường” của các bạn HS)
    2.6. Bồi dưỡng phẩm chất nhân ái thông qua các hoạt động giáo dục
    ngoài giờ lên lớp của liên đội
    Nhiệm vụ của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong mỗi cơ sở giáo dục
    là giáo dục phẩm chất, bồi dưỡng nhân cách, kĩ năng sống… cho học sinh thông
    qua các hoạt động sinh hoạt tập thể và một trong những mục tiêu chính của hoạt
    động giáo dục ngoài giờ lên lớp là bồi dưỡng phẩm chất nhân ái cho học sinh.
    Vì vậy, nhiệm vụ của ban hoạt động ngoài giờ lên lớp là lồn

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số giải pháp nâng cao hiệu quả việc giáo dục phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 3

    SKKN Một số giải pháp nâng cao hiệu quả việc giáo dục phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 3

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam, anh
    hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Tuy đã đi xa nhưng
    Người đã để lại cho chúng ta một di sản tinh thần to lớn, những tư tưởng vô
    giá, đặc biệt là tư tưởng đạo đức cách mạng. Cả cuộc đời và sự nghiệp của
    Người là tấm gương sáng ngời về đạo đức cho toàn Đảng, toàn dân ta suốt đời
    phấn đấu học tập và noi theo. Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương
    của một vĩ nhân, một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, đồng thời cũng là tấm gương
    đạo đức của một người bình thường, ai cũng có thể học theo, làm theo để trở
    thành một người cách mạng, người công dân tốt của xã hội. Trong nhiều nội
    dung tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh lòng nhân ái, vị tha, khoan dung,
    nhân hậu, hết mực vì con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho
    chúng ta sự kính trọng, ngưỡng mộ và cố gắng phấn đấu noi theo.
    Nghị quyết của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục đã chỉ rõ: “Giáo dục
    thế hệ trẻ yêu quê hương, Tổ quốc XHCN và tinh thần quốc tế vô sản, ý thức
    làm chủ tập thể, tinh thần đoàn kết, thân ái, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu
    khoa học, có ý thức kỷ luật, tôn trọng và bảo vệ của công, đức tính thật thà,
    khiêm tốn, dũng cảm,…”.
    Theo Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể chính
    thức được Bộ giáo dục và Đào tạo công bố vào ngày 27 tháng 12 năm 2018,
    phẩm chất “nhân ái” là một trong năm phẩm chất cốt lõi: Yêu nước, nhân ái,
    chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm.
    4
    Hình 1. Phẩm chất và năng lực cốt lõi của HS trong CT giáo dục tổng thể
    Phẩm chất: là những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử của con
    người; cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người. Phẩm chất nhân ái là
    một nhóm trong những phẩm chất cốt lõi cần được hình thành và phát triển
    cho học sinh. Phẩm chất “Nhân ái” bao hàm các biểu hiện sau:

    Nhân áiCấp Tiểu họcCấp THCSCấp THPT
    Yêu quý
    mọi
    người
    – Yêu thương, quan
    tâm, chăm sóc người
    thân trong gia đình.
    – Yêu quý bạn bè,
    – Trân trọng danh dự,
    sức khoẻ và cuộc
    sống riêng tư của
    người khác.
    – Quan tâm đến mối
    quan hệ hài hoà với
    những người khác.
    – Tôn trọng quyền và

    5

    thầy cô; quan tâm,
    động viên, khích lệ
    bạn bè.
    – Tôn trọng người lớn
    tuổi; giúp đỡ người
    già, người ốm yếu,
    người khuyết tật;
    nhường nhịn và giúp
    đỡ em nhỏ.
    – Biết chia sẻ với
    những bạn có hoàn
    cảnh khó khăn, các
    bạn ở vùng sâu, vùng
    xa, người khuyết tật
    và đồng bào bị ảnh
    hưởng của thiên tai.
    – Không đồng tình
    với cái ác, cái xấu;
    không cổ xuý, không
    tham gia các hành vi
    bạo lực; sẵn sàng
    bênh vực người yếu
    thế, thiệt thòi,…
    – Tích cực, chủ động
    tham gia các hoạt
    động từ thiện và hoạt
    động phục vụ cộng
    đồng.
    lợi ích hợp pháp của
    mọi người; đấu tranh
    với những hành vi
    xâm phạm quyền và
    lợi ích hợp pháp của
    tổ chức, cá nhân.
    – Chủ động, tích cực
    vận động người khác
    tham gia các hoạt
    động từ thiện và hoạt
    động phục vụ cộng
    đồng.
    – Tôn trọng sự khác
    biệt của bạn bè trong
    lớp về cách ăn mặc,
    tính nết và hoàn cảnh
    gia đình.
    – Không phân biệt đối
    xử, chia rẽ các bạn.
    – Sẵn sàng tha thứ
    cho những hành vi có
    lỗi của bạn.
    – Tôn trọng sự khác
    biệt về nhận thức,
    phong cách cá nhân
    của những người
    khác.
    – Tôn trọng sự đa
    dạng về văn hoá của
    các dân tộc trong
    cộng đồng dân tộc
    Việt Nam và các dân
    tộc khác.
    – Cảm thông và sẵn
    – Tôn trọng sự khác
    biệt về lựa chọn nghề
    nghiệp, hoàn cảnh
    sống, sự đa dạng văn
    hoá cá nhân.
    – Có ý thức học hỏi
    các nền văn hoá trên
    thế giới.
    – Cảm thông, độ
    lượng với những
    hành vi, thái độ có lỗi
    của người khác.
    Tôn
    trọng sự
    khác biệt
    giữa mọi
    người

    6

    sàng giúp đỡ mọi
    người.

    Từ ngàn xưa, cha ông ta đã từng răn dạy: “Thương người như thể thương
    thân”, “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy
    rằng khác giống nhưng chung một giàn”… Đúng vậy, yêu thương con người
    là một truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc Việt Nam mà mỗi chúng ta
    ngày nay phải có trách nhiệm kế thừa và phát huy nó lên một tầm cao mới.
    Giáo dục phẩm chất nhân ái hay còn gọi là “Giáo dục chủ nghĩa nhân đạo”
    là mục đích xuyên suốt quá trình dạy học trong nhà trường phổ thông.
    Xuất phát từ mục đích, yêu cầu và tầm quan trọng trọng vấn đề giáo dục
    học sinh có phẩm chất nhân ái, biết quan tâm- chia sẻ yêu thương với gia
    đình và những người xung quanh, từng bước đáp ứng những nhu cầu cấp
    thiết của xã hội hiện đại, góp phần nuôi dưỡng những thế hệ chủ nhân tương
    lai của đất nước có nhân cách phát triển toàn diện – những “công dân toàn
    cầu”, tôi đã mạnh dạn đưa ra sáng kiến: “Một số giải pháp nâng cao hiệu
    quả việc giáo dục phẩm chất nhân ái cho học sinh lớp 3 ”.
    7
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi có sáng kiến
    1.1. Về phía giáo viên
    Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy 100% giáo viên đều nhận thức
    được mức độ cần thiết phải giáo dục phẩm chất nhân ái cho học sinh. Tất cả
    giáo viên đều cho rằng nhờ có phẩm chất nhân ái thì mới là người tốt, người
    có ích cho xã hội, học sinh biết đồng cảm và chia sẻ với mọi người, quan tâm
    đến mọi người sẽ giúp các em hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức sau
    này.
    Tuy nhiên qua trao đổi và quan sát hoạt động của giáo viên trên lớp, tôi
    nhận thấy giáo viên thường sử dụng những phương pháp mang tính truyền
    thống như phương pháp đàm thoại, trò chơi, thực hành, luyện tập. Những
    phương pháp GV ít sử dụng những phương pháp đòi hỏi sự sáng tạo và mất
    nhiều thời gian, khó khăn khi tổ chức và đánh giá như phương pháp động não,
    thảo luận nhóm, dự án. GV cũng chưa để ý nhiều đến việc lồng ghép giáo dục
    phẩm chất nhân ái cho HS trong các tiết học chính khóa.
    Trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp việc giáo dục lòng nhân ái cho
    HS cũng chưa được chú trọng nhiều. Ví dụ: Khi yêu cầu HS khuyên góp ủng
    hộ một số GV chưa giúp HS hiểu sâu sắc ý nghĩa của các việc từ thiện.
    GV ít tạo cơ hội giáo dục lòng nhân ái qua những câu chuyện kể, qua
    đoạn video, chương trình truyền hình hay phát động đọc sách,…
    Một số GV không tôn trọng sự khác biệt, ít cảm thông còn nôn
    nóng đòi hỏi người khác phải làm theo ý nghĩ của mình còn hay chê bai
    dè bỉu nên chưa phát huy hết được khả năng vốn có của HS. Chưa kể đến
    một số GV chưa có bao dung, hay tha thứ cho học trò của mình.
    1.2. Về phía học sinh
    Khi được hỏi về lòng nhân ái đa phần các em đều hiểu được một phần ý
    nghĩa của phẩm chất nhân ái. Các em mới chỉ hiểu: “Nhân ái là yêu thương
    con người”. Như vậy, mỗi học sinh đều ý thức được khái niệm của nhân ái
    nhưng biểu hiện cụ thể của nó thì các em chưa được trang bị kĩ càng.
    8
    Việc thể hiện cảm xúc và thái độ nhân ái của các em đối với mọi người
    xung quanh còn nhiều hạn chế. Các em ít thể hiện được cảm xúc tích cực sau
    khi thực hiện hành vi nhân ái hoặc có biểu hiện về phẩm chất nhân ái nhưng
    chưa thể hiện rõ nét. Chỉ khi có tình huống đặc biệt như bạn bị ngã, bạn bị đau
    thì một số học sinh mới có biểu hiện rõ.
    Việc biểu hiện phẩm chất nhân ái của học sinh không đồng đều. Bên
    cạnh một số ít học sinh thường xuyên có biểu hiện nhân ái trong quan hệ với
    cô giáo, bạn bè ở lớp và hiểu được ý nghĩa xã hội của hành vi thì đa số học
    sinh ít thể hiện hoặc không biết cách thể hiện phẩm chất nhân ái với mọi
    người.
    Cá biệt một số học sinh ứng phó và giải quyết các tình huống xảy ra
    hàng ngày thiếu kiềm chế bản thân: những chuyện nhỏ nhặt thường ngày mà
    các em ứng xử thiếu lòng nhân ái, trái với chuẩn mực đạo đức, có em vô cảm
    trước những hành vi bạo lực: chứng kiến bạo lực mà không hề có biểu hiện
    can ngăn.
    1.3. Về phía phụ huynh học sinh
    Hiện nay quan điểm của phụ huynh đã có nhiều thay đổi: Có nhiều phụ
    huynh có quan điểm mong muốn được dạy đạo đức làm người song song học
    với việc học kiến thức. Tuy nhiên cũng còn một số phụ huynh do mải công
    việc nên mới chỉ biết lo cung ứng về mặt vật chất nhưng thiếu sự gắn kết, gần
    gũi vì không hiểu tâm tư nguyện vọng của con cái. Có phụ huynh chưa là tấm
    gương về lòng nhân ái cho con noi theo. Cá biệt có số ít phụ huynh dạy con
    tính ích kỉ, hiếu thắng, không bao dung với người khác.
    1.4. Về phía xã hội
    Trong xã hội có rất nhiều tấm lòng nhân ái sẵn sàng hi sinh bản thân
    mình để cứu giúp mọi người: Trong thời gian đất nước chống dịch COVID-
    19, các cụ già 70, 80 thậm chí 90 tuổi sẵn sàng ủng hộ 1-2 triệu đồng từ số
    tiền tiết kiệm, dành dụm đã tạo nên những hiệu ứng tích cực, tạo sự lan tỏa
    trong toàn xã hội. Chàng thanh niên Đặng Minh Trí 24 tuổi, quê Quảng
    9
    Bình đã đến TP Bắc Giang sau khi vượt hơn 500km từ TP Đồng Hới, tỉnh
    Quảng Bình để tình nguyện tham gia lực lượng y tế Bắc Giang chống dịch.
    Những bạn sinh viên tích cực hiến máu tình nguyện cứu người bệnh.
    Thậm chí có những thiếu niên như em Trần Đức Đông SN 2007, ở Bình
    Phước đã kiệt sức tử vong sau khi cứu được 4 bạn bị đuối nước…. Đó là
    những tấm gương, những hình ảnh về lòng nhân ái mà chúng ta phải
    ngưỡng mộ.
    Bên cạnh đó lại có khá nhiều người chỉ biết nhận mà không biết cho đi,
    sống bàng quang và vô cảm với mọi người xung quanh. Trong họ đầy sự đố
    kị, sự vô cảm, sự thù hận ích kỉ mang tính cá nhân, thiếu sự bao dung, độ
    lượng. Họ không còn xúc cảm đối với cuộc sống đang diễn ra xung quanh
    mình. Nhìn thấy một cảnh đau lòng mà không hề rung động, lạnh nhạt bước
    đi mà không thương xót. Hay nhìn người gặp nạn không cứu giúp mà chụp
    ảnh câu like. Có những kẻ danh nghĩa nhà hảo tâm, tìm đến những mảnh đời
    khó khăn, thiếu thốn để kêu gọi gây quỹ từ thiện, nhưng khi có tiền từ thiện,
    họ lại trích một phần bỏ vào túi riêng.
    Cá biệt có những kẻ không có lòng nhân ái đã làm trỗi dậy bản năng
    thú tính của những kẻ giết người vì tiền. Nếu trong con người có tính hướng
    thiện thì dù khó khăn đến đâu cũng vẫn vượt qua, họ sẽ kiếm sống một cách
    lương thiện mà không gây tội ác.
    Nguyên nhân:
    GV chưa nắm vững nội dung và phương pháp giáo dục phẩm chất nhân
    ái. Việc giáo dục của giáo viên còn mang nặng tính hình thức, tính lý thuyết
    giảng giải, học sinh chưa có nhiều cơ hội để trải nghiệm và thể hiện phẩm chất
    nhân ái. Giáo viên thiếu những biện pháp cụ thể, thiết thực, phù hợp đi sâu vào
    việc dục phẩm chất nhân ái cho học sinh. Nội dung của các hoạt động giáo dục
    phẩm chất nhân ái còn chưa thực sự phong phú, nhiều hoạt động mang tính dập
    khuôn, không hứng thú với học sinh. Hoạt động trải nghiệm là một hoạt động
    không mới, tuy nhiên trên thực tế giáo viên tổ chức các hoạt động này còn đơn
    điệu, đóng kín không có sự mở rộng, tiếp nối ở những hoạt động tiếp theo.
    10
    Do nhận thức hạn chế, có học sinh thường coi mình là trung tâm, đôi
    khi hành động theo suy nghĩ cá nhân, chưa có ý thức về những việc mình làm.
    Hành vi của các em chưa bền vững, chưa có tính chủ động, hay bắt
    chước vô thức, thích bắt chước những người trẻ yêu mến cô giáo, bạn, bố, mẹ
    Đa số cha mẹ trẻ chưa hiểu đầy đủ những nội dung giáo dục phẩm chất
    nhân ái cho con. Đồng thời cha mẹ trẻ chưa nắm rõ các biện pháp phù hợp để
    giáo dục phẩm chất nhân ái cho con mà chỉ giáo dục theo kinh nghiệm cá
    nhân.
    Một số gia đình cha mẹ còn thiếu ý thức và chưa chú trọng giáo dục
    phẩm chất nhân ái cho con. Sự phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường chưa
    chặt chẽ, cha mẹ chưa chủ động tìm hiểu nội dung cũng như các phương pháp
    giáo dục con, trong khi đó giáo viên cũng chưa quan tâm hướng dẫn và phối
    hợp với phụ huynh trong hoạt động giáo dục phẩm chất nhân ái.
    Như vậy có thể thấy việc giáo dục phẩm chất nhân ái chưa đạt những
    hiệu quả như mong muốn, do đó cần thiết phải xây dựng các hoạt động giáo
    dục phẩm chất nhân ái cho học sinh Tiểu học.
    Kết luận: Việc giáo dục lòng nhân ái ngay từ học sinh Tiểu học là điều vô
    cùng cần thiết, cấp bách, để đáp ứng với chương trình giáo dục phổ thông
    và giảm hành vi vi phạm pháp luật hay bạo lực học đường.
    11
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    Với quan điểm: “Giáo dục bằng uy quyền sẽ tạo ra sự đối kháng, giáo
    dục bằng tình yêu thương sẽ tạo ra những trái tim biết yêu thương, nhân ái”.
    Để giúp học sinh có trái tim biết nhân ái, yêu thương, tôi đã sử dụng các giải
    pháp sau:
    2.1. Giải pháp 1: Giáo viên và học sinh nhận thức sâu sắc phẩm
    chất nhân ái
    2.1.1. Thế nào là phẩm chất nhân ái?
    “Nhân” có nghĩa là người. “Ái” có nghĩa là tình thương yêu. Phẩm chất
    nhân ái được hiểu là tình yêu thương, giúp đỡ giữa những con người với nhau.
    Đó là thứ tình cảm chân thành, xuất phát từ chính trái tim dành cho nhau.
    Phẩm chất nhân ái không bắt nguồn từ sự vị kỉ, hẹp hòi mà nó xuất
    phát từ lòng bao dung, nhân ái. Nhân ái bắt nguồn từ những hành động, những
    cử chỉ hay lời nói của ta mỗi ngày. Lòng nhân ái đâu phải là những việc làm
    đao to bua lớn như ủng hộ cả chục triệu, trăm triệu cho người khó khăn. Nó
    đôi khi đơn giản chỉ là một manh áo cũ, một cuốn vở cũ hay thậm chí là một
    chút tiền tiết kiệm được gửi tới những người khó khăn và lòng chân thành.
    Lòng nhân ái đôi khi là cách bạn giúp đỡ một cụ già qua đường, giúp đỡ một
    em nhỏ đi lạc, một con vật bị thương…
    Lòng nhân ái giúp cho con người xích lại gần nhau hơn, gắn kết bền
    chặt với nhau hơn. Nó tạo nên một khối đoàn kết mạnh mẽ khó có thể tách
    rời, tạo nên sức mạnh của tập thể. Lòng nhân ái trong mỗi con người sẽ xoá
    tan sự đố kị, sự với cảm, sự thù hận. Lòng nhân ái được lan rộng ra khắp thế
    giới thì cuộc sống của con người sẽ hạnh phúc hơn rất nhiều.
    2.1.2. Các yếu tố cấu thành phẩm chất nhân ái
    Phẩm chất nhân ái là một trong những giá trị nhân cách quan trọng của
    con người nói chung, của người Việt Nam nói riêng bao gồm nhận thức, tình
    cảm và hành vi.
    * Yếu tố nhận thức: Là hiểu biết của con người về phẩm chất nhân ái,
    12
    biết được nhân ái là phải quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ, tha thứ và bảo vệ bản
    thân, mọi người, sự vật xung quanh; nhận biết được các hành vi/xúc cảm nhân
    ái- nhận xét các biểu hiện nhân ái/; Nhận thức các tình huống/hoàn cảnh cần
    đồng cảm.
    * Yếu tố tình cảm: Là sự hứng thú, vui thích khi thể hiện phẩm chất nhân ái
    với bản thân và mọi người xung quanh. Từ đó biết thể hiện xúc cảm, tình cảm
    ra bên ngoài qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ phù hợp với tình huống và hoàn
    cảnh.
    * Yếu tố hành vi: Là những hành động nhân ái ra bên ngoài bằng ngôn ngữ
    và những hành vi phi ngôn ngữ cử chỉ, điệu bộ, nét mặt,… trong mối quan hệ
    với bản thân và mọi người, với sự vật xung quanh. Đó là những hành động thể
    hiện sự đồng cảm, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ, bảo vệ và khoan dung. Hành vi
    nhân ái của con người đối với bản thân, mọi người và sự vật xung quanh được
    thể hiện bằng hành động cụ thể dựa trên thống nhất giữa nhận thức đúng đắn
    và tình cảm tích cực của con người trong các tình huống cụ thể của cuộc sống
    Các yếu tố cấu thành phẩm chất nhân ái có liên quan mật thiết với
    nhau: Yếu tố TÌNH CẢM đóng vai trò chủ đạo, Yếu tố NHẬN THỨC đảm
    bảo nội dung, Yếu tố. HÀNH VI giữ vai trò điều chỉnh và kiểm tra. Trong
    thực tế cuộc sống, các yếu tố cấu thành phẩm chất nhân ái không tồn tại riêng
    biệt, rời rạc mà gắn kết, thống nhất với nhau, tạo thành một kết cấu vững
    chắc, thể hiện năng lực thực sự của con người trong ứng xử với bản thân, mọi
    người và sự vật xung quanh.
    2.1.3. Các tiêu chí và biểu hiện phẩm chất “Nhân ái” với HS Tiểu học
    * Yêu quý mọi người
    – Yêu thương, quan tâm, chăm sóc người thân trong gia đình;
    – Yêu quý bạn bè, thầy cô, quan tâm, động viên, khích lệ bạn bè;
    – Tôn trọng người lớn tuổi, giúp đỡ người già, người ốm yếu, người khuyết
    tật, nhường nhịn và giúp đỡ em nhỏ;
    13
    – Biết chia sẻ với những bạn có hoàn cảnh khó khăn, các bạn ở vùng sâu,
    vùng xa, người khuyết tật và đồng bào bị ảnh hưởng của thiên tai.
    * Tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người
    – Tôn trọng sự khác biệt của bạn bè trong lớp về cách ăn mặc, tính nết và hoàn
    cảnh gia đình.
    – Không phân biệt đối xử, chia rẽ các bạn.
    – Sẵn sàng tha thứ cho những hành vi có lỗi của bạn.
    2.1.4. Để giáo dục học sinh có lòng nhân ái, trước hết giáo viên là
    tấm gương sáng về lòng nhân ái trong mọi việc làm, hành vi.
    2.1.4.1. Tác phong
    Giáo viên phải biết ăn mặc lịch sự, kín đáo.
    Tác phong đi lại của thầy cô cũng là hình ảnh trực quan cuả học sinh.
    Lời nói là phương tiện giao tiếp trực tiếp hàng ngày của thầy trò nên
    chúng ta cũng cần thận trọng hơn khi giao tiếp với học sinh. Giáo viên tránh
    xúc phạm, miệt thị, tránh thứ ngôn ngữ “chợ búa” làm các em tổn thương
    hoặc không nể phục. Nếu trong lúc nóng giận, giáo viên có nặng lời với các
    em thì đừng ngại nói lời xin lỗi.
    Nét mặt, ánh mắt của giáo viên biểu lộ trực tiếp thái độ với các em học
    sinh
    Giáo viên không được ngang nhiên cho mình quyền xâm phạm đời tư
    cá nhân của học sinh. Điều này không chỉ cho thấy thầy cô đã vi phạm pháp
    luật mà còn thể hiện sự yếu kém trong xử lý tình huống sư phạm và công tác
    chuyên môn. Như đương nhiên, việc tịch thu tài sản của học sinh chỉ là một
    cách giải quyết mang tính trấn áp và cưỡng chế tạm thời bằng uy quyền. Tức
    là chỉ ngăn cấm nhu cầu của đối tượng giáo dục chứ không giải quyết triệt để
    vấn đề bằng góc độ nhân văn của giáo dục là khơi dậy niềm yêu thích và say
    mê với môn học.
    Việc phạt đánh mắng, đuổi ra khỏi lớp, ném sách vở cho thấy rõ giáo
    viên không chỉ yếu kém về công tác quản lý giáo dục vì không nắm rõ văn
    14
    bản luật giáo dục mà còn thiếu tình yêu thương và lòng bao dung cảm hóa học
    trò. Giáo viên cần biết cách chèo lái một cách khéo léo, cần gần gũi với các
    em hơn, lắng nghe những tâm tư, chia sẻ của các em hơn, giáo dục bằng tình
    yêu thương sẽ tạo ra những trái tim biết yêu thương, nhân ái và giàu lòng trắc
    ẩn.
    2.1.4.2. Phẩm chất, nhân cách
    Đây là yếu tố quan trọng giúp chúng ta tự tin để dạy học trò. Những gì
    thuộc về đạo đức, giáo viên cần phải giữ gìn, cần hoàn thiện. Nếu chúng ta
    dạy học sinh biết tha thứ mà bản thân chúng ta lại không tha thứ cho ai, dạy
    các em biết cảm thông mà chúng ta lại miệt thị người khác, dạy các em biết
    bỏ đi thói ghen tị mà chúng ta lại ghen tị hẹp hòi hoặc nói với các em là phải
    đối xử công bằng mà bản thân chúng ta đối xử với các em không công bằng…
    thì chúng ta không thể thuyết phục được học sinh.
    Giáo viên cần gần gũi tâm sự với học sinh, đặt mình vào hoàn cảnh học
    sinh. Tâm sự bằng tình cảm chân thành của người thầy, người anh, người
    chị,… có như thế học sinh mới thấy mình được giáo viên tin cậy, đồng cảm
    nên sẽ sẵn sàng tâm sự với giáo viên. Qua đó giáo viên mới có biện pháp giáo
    dục phù hợp.
    Khi tiếp xúc với học sinh, giáo viên cần sẵn sàng lắng nghe theo sự
    phản ánh của học sinh. Ánh mắt hướng về các em, lắng nghe bằng cả sự nhiệt
    tình.
    Giáo viên cần tận dụng mọi cơ hội, mọi thời gian thích hợp để lắng
    nghe học sinh. Giáo viên cần tránh lối hành xử áp đặt, biết chấp nhận sự khác
    biệt của mỗi học sinh. Lắng nghe phụ huynh, nghe để hiểu, để cảm nhận, nghe
    để biết, nghe để ngẫm, để trả lời các em, để tìm ra những phương pháp giáo
    dục phù hợp. Lắng nghe đồng nghiệp để tiếp nhận các thông tin biểu hiện của
    các em trong giờ học để có cái nhìn và đánh giá xác thực hơn.
    Mọi điều tốt đẹp nhất bắt đầu từ những lời cảm ơn hoặc xin lỗi, ngay
    trong nhà trường. Biết xin lỗi mới nhận được lời cảm ơn. Giáo viên cần làm
    15
    gương cho học sinh, sẵn sàng nói lời xin lỗi, cảm ơn học sinh khi thật cần
    thiết. Các em sẽ cảm thấy được tôm trọng, được ghi nhận.
    Học cách lắng nghe sẽ giúp chúng ta xây dựng được các mối quan hệ
    sâu sắc và để có thể hỗ trợ đến từng cá nhân học sinh. Nếu chúng ta biết lắng
    nghe các em nói, các em sẽ cho chúng ta biết các em thích gì, không thích gì,
    các em hiểu hay chưa hiểu điều chúng ta nói. Khơi gợi, truyền lửa cho sự đam
    mê, sáng tạo của học trò đó chính là thành công của người thầy.
    Kết luận:
    Phẩm chất nhân ái là giá trị nhân văn, thể hiện sự thương yêu của
    con người qua nhận thức, tình cảm, thái độ và hành vi tích cực đối với mọi
    người và sự vật xung quanh. Phẩm chất nhân ái được thể hiện ở những
    nội dung cơ bản: sự cảm thông, chia sẻ, quan tâm, giúp đỡ, nhƣờng nhịn,
    sẵn sàng tha thứ, mong muốn những điều tốt đẹp cho mọi người và sự vật
    xung quanh. Phẩm chất nhân ái gồm 3 yếu tố: nhận thức; tình cảm, thái độ
    và hành vi.
    Giáo dục phẩm chất nhân ái đạt hiệu quả cần tuân theo một số
    nguyên tắc: Giáo dục cần tác động đến học sinh bằng tình cảm, Giáo dục
    phẩm chất nhân ái, Giáo dục thông qua môi trường giàu tính nhân văn.
    Giáo dục bằng sự gương mẫu của người lớn xung quanh, tạo ấn tượng
    mạnh cho trẻ trong quá trình dạy học, Tôi rất tâm đắc với các quan
    điểm: “Cách giáo dục tốt nhất là giáo dục bằng chính nhân cách nhà giáo
    dục” “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn
    tuyên truyền”. “Mỗi thầy giáo, cô giáo, là tấm gương về lòng nhân ái…;
    mỗi bậc phụ huynh, mỗi cán bộ, đảng viên là tấm gương về lòng nhân ái
    thì sẽ lan tỏa, thẩm thấu vào trẻ thơ những giá trị yêu thương cao cả của
    con người.”
    16
    2.2. Giải pháp 2: Lồng ghép giáo dục phầm chất nhân ái cho HS trong
    các tiết học chính khóa.
    2.2.1. Mục tiêu của việc lồng ghép giáo dục phẩm chất nhân ái trong
    chương trình lớp 3 là
    Trong trường học, ngoài việc học kiến thức ra giáo viên còn phải giáo
    dục cho học sinh có đạo đức, một trong những phẩm chất đạo đức của học
    sinh cần đạt được đó là phẩm chất nhân ái. Phẩm chất nhân ái là một trong
    những yếu tố hình thành bản chất con người nên giáo viên cần dạy cho học
    sinh biết đồng cảm, khoan dung, quan tâm, chia sẻ, bảo vệ, giúp đỡ những
    người xung quanh. Từ đó hình thành nhân cách cho học sinh phù hợp với xu
    hướng giáo dục hiện nay.
    2.2.2. Nội dung và cách thực hiện lồng ghép
    2.2.2.1. Lồng ghép giáo dục phẩm chất nhân ái thông qua một số
    bài học cụ thể
    Căn cứ vào nội dung từng bài để giáo viên thực hiện lồng ghép vào một
    số bài cụ thể như sau:

    MônTuầnTên bàiNội dung tích hợp
    Tập
    đọc
    2Ai có lỗi?Biểu hiện phẩm chất “Nhân ái” được thể
    hiện trong bài : Sẵn sàng tha thứ cho những
    hành vi có lỗi của bạn.
    Qua bài đọc GV giúp HS hiểu làm việc gì
    chúng ta cũng cần suy xét cho kĩ, đừng vì
    hiểu lầm, đừng vì tức giận mà làm sứt mẻ
    tình cảm bạn bè. Hãy luôn biết bao dung,
    tha thứ, nhường nhịn, luôn nghĩ tốt về nhau
    không nên chấp nhặt mà trả thù bạn. Nếu
    có lỗi, hãy can đảm nhận lỗi.

    17

    Tập
    đọc
    8Các em nhỏ và cụ
    già
    Biểu hiện phẩm chất “ Nhân ái” được thể
    hiện trong bài : Tôn trọng người lớn tuổi;
    giúp đỡ người già, người ốm yếu khi họ
    gặp khó khăn.
    Qua bài đọc GV giúp HS rút ra được bài
    học: Cần thể hiện sự quan tâm, yêu thương
    với những người sống trong cộng đồng.
    Giúp đỡ không phải lúc nào cũng là của cải
    vật chất, đôi khi chỉ là một lời hỏi thăm,
    động viên chia sẻ cũng giúp cho họ vơi đi
    những nỗi buồn.
    Tập
    đọc
    8Tiếng ruBiểu hiện phẩm chất “Nhân ái” được thể
    hiện trong bài: Yêu thương, quan tâm,
    đoàn kết với bạn bè, yêu quý những người
    sống quanh ta.
    Qua đó khuyên học sinh phải lòng yêu
    thương, vị tha, khiêm nhường, cần tránh
    những thói quen nhỏ nhen, ích kỉ. Hãy luôn
    cảm thông, sống đoàn kết giữa những
    người sống trong cộng đồng.
    Tập
    đọc
    16Đôi bạnBiểu hiện phẩm chất “Nhân ái” được thể
    hiện trong bài: Sống chan hòa, yêu thương,
    luôn quan tâm giúp đỡ bạn bè.
    Qua đó giúp HS hiểu bạn Mến dũng cảm,
    sẵn sàng cứu giúp người khác, không sợ
    nguy hiểm đến tính mạng.
    Tập
    đọc
    17Mồ Côi xử kiệnBiểu hiện phẩm chất “Nhân ái” được thể
    hiện trong bài: Yêu thương, quan tâm giúp
    đỡ những người trong xã hội, luôn coi

    18

    trọng lẽ công bằng.
    Qua bài HS cần học tập chàng Mồ Côi đức
    tính thật thà, tốt bụng, sẵn sàng giúp người,
    cứu người, tất cả vì lẽ công bằng.
    Tập
    đọc
    19Bộ đội về làngBiểu hiện phẩm chất “Nhân ái” được thể
    hiện trong bài: Tình cảm quân dân như cá
    với nước.
    Qua đó giúp HS hiểu: Khi các chú bộ đội
    về làng, mọi người dân từ em bé đến cụ già
    yêu quý, trân trọng, đón tiếp niềm nở.
    Khách và chủ hòa niềm vui vào nhau, thân
    thiết như người một nhà. Tình cảm yêu
    thương trân trọng góp phần giúp chúng ta
    giành được thắng lợi huy hoàng.
    Tập
    đọc
    31Bác sỹ Y-éc-xanhBiểu hiện phẩm chất “Nhân ái” được thể
    hiện trong bài: Luôn yêu thương, quan tâm
    và sống có trách nhiệm với mọi người trên
    trái đất.
    Qua đó giúp HS hiểu: Bác sĩ Y-éc-xanh
    tấm gương đạo đức về phẩm chất nhân ái.
    Ông luôn khiêm nhường, gần gũi với mọi
    người. Ông không thể cảm thấy tâm hồn
    bình yên khi không cứu giúp được nhân
    loại trên trái đất.
    LTVC8MRVT: Cộng
    đồng
    Biểu hiện phẩm chất “Nhân ái” thể hiện
    trong bài: yêu thương, quan tâm và sống
    có trách nhiệm với những người sống trong
    cộng đồng.
    Qua đó giúp HS tìm thêm những câu thành

    19

    ngữ, tục ngữ ca dao nói về tình cảm, sự gắn
    bó trong cộng đồng.
    LTVC14Ôn về từ chỉ đặc
    điểm, ôn kiểu câu
    Ai thế nào?
    Biểu hiện phẩm chất “Nhân ái” thể hiện
    trong bài: yêu thương, quan tâm và sống
    có trách nhiệm với những người sống trong
    cộng đồng.
    Qua đó giúp HS tìm những từ chỉ về lòng
    nhân ái. Đặt câu nói về lòng nhân ái của
    những người sống trong cộng đồng.
    TLV8Kể về người hàng
    xóm
    Biểu hiện phẩm chất “Nhân ái” được thể
    hiện trong bài: yêu thương, quan tâm và
    sống có trách nhiệm với những người sống
    trong cộng đồng.
    Qua đó giúp HS tìm Chú ý học sinh kể
    lòng nhân ái của người hàng xóm với
    những người sống trong cộng đồng.
    TLV9Kể về tình cảm
    người thân dành
    cho em.
    Biểu hiện phẩm chất “Nhân ái” được thể
    hiện trong bài: yêu thương, quan tâm và
    sống có trách nhiệm với những người thân.
    Từ việc kể tình cảm của người thân dành
    cho em, giáo viên gợi ý cho học sinh kể
    tình cảm yêu thương của em dành cho
    người thân hay tình cảm của em dành cho
    bạn bè, cho những người hàng xóm, những
    người sống trong cộng đồng.
    TLV8Nghe kể: Không
    nỡ nhìn.
    Biểu hiện phẩm chất “Nhân ái” thể hiện
    trong bài: yêu thương, quan tâm và sống
    có trách nhiệm với những người sống trong

    20

    cộng đồng.
    Qua đó HS cần quan tâm đến người già,
    phụ nữ và em nhỏ trong cộng đồng.
    TLV13Viết thưBiểu hiện phẩm chất “Nhân ái” được thể
    hiện trong bài: Biết chia sẻ với những bạn
    có hoàn cảnh khó khăn, các bạn ở vùng
    sâu, vùng xa, người khuyết tật và đồng bào
    bị ảnh hưởng của thiên tai.
    Qua đó hướng dẫn HS viết thư thể hiện sự
    quan tâm chia sẻ với những bạn có hoàn
    cảnh khó khăn ở 3 miền Bắc Trung Nam.
    Viết thư gửi các bác sĩ nơi tuyến đầu chống
    dịch bệnh Covid- 19,…
    TLV30Viết thưBiểu hiện phẩm chất “Nhân ái” được thể
    hiện trong bài: Biết chia sẻ với những bạn
    có hoàn cảnh khó khăn, người khuyết tật
    và đồng bào bị ảnh hưởng của thiên tai
    trong mái nhà chung: “Trái đất”.
    Qua đó hướng dẫn HS viết thư thể hiện sự
    quan tâm chia sẻ với những bạn có hoàn
    cảnh khó khăn ở các nước đang có chiến
    tranh, đang gặp dịch bệnh, đang chịu thiên
    tai,…
    Đạo
    đức
    9.
    10
    Chia sẻ vui buồn
    cùng bạn.
    Biểu hiện phẩm chất “Nhân ái” thể hiện
    trong bài: yêu thương, quan tâm và sống
    có trách nhiệm với bạn bè
    Qua đó giúp HS có những việc làm thể
    hiện sự yêu thương, quan tâm, có trách
    nhiệm

    21

    Đạo đức14.
    15
    Quan tâm giúp
    đỡ hàng xóm
    láng giềng
    Biểu hiện phẩm chất “Nhân ái” thể hiện
    trong bài: yêu thương, quan tâm và sống
    có trách nhiệm với những người sống
    trong cộng đồng.
    Qua đó giúp HS có những việc làm thể
    hiện tình làng nghĩa xóm.
    Đạo
    đức
    20,
    21
    Đoàn kết với
    thiếu nhi quốc tế.
    Biểu hiện phẩm chất “Nhân ái” được
    thể hiện trong bài: Biết chia sẻ với
    những bạn có hoàn cảnh khó khăn, các
    bạn ở vùng ảnh hưởng của thiên tai,
    bệnh dịch.
    Qua đó khuyến khích học sinh viết thư,
    thăm hỏi, động viên, an ủi những bạn ở
    các nước đang gặp thiên tai, dịch bệnh,
    chiến tranh.

    Ví dụ: Lồng ghép giáo dục phẩm chất nhân ái thông qua tiết dạy đạo đức
    chính khóa.
    KẾ HOẠCH BÀI DẠY MÔN ĐẠO ĐỨC – LỚP 3.
    CHIA SẺ VUI BUỒN CÙNG BẠN (Tiết 1)
    I. YÊU CẦU CẦN ĐẠT:
    – HS biết được bạn bè cần phải chia sẻ với nhau khi có chuyện vui, buồn.
    – Nêu được một vài việc làm cụ thể chia sẻ vui buồn cùng bạn.
    – Biết chia sẻ vui buồn cùng bạn trong cuộc sống hằng ngày.
    – Hiểu được ý nghĩa của việc chia sẻ vui buồn cùng bạn .
    – Giáo dục cho HS biết giúp đỡ, chia sẻ vui buồn cùng bạn khi bạn gặp khó
    khăn.
    – Bài học góp phần hình thành và phát triển ở HS các phẩm chất và năng
    lực cốt lõi:
    + Phẩm chất nhân ái: yêu thương, quan tâm và sống có trách nhiệm với
    22
    bạn bè và những người trong cộng đồng.
    + Phát huy năng lực điều chỉnh hành vi của bản thân .
    + Năng lực tự chủ và tự học (thông qua làm việc cá nhân để thực hiện các
    nhiệm vụ học tập)
    + Năng lực giao tiếp và hợp tác (thông qua làm việc nhóm và trình bày kết quả)
    II. ĐỒ DÙNG DẠY- HỌC.
    Chuẩn bị của giáo viên :
    Vở bài tập đạo đức.
    Máy chiếu, thiết bị loa đài.
    Văn phòng phẩm: Bút màu, kéo, hồ dán, giấy màu, dây treo.
    Trò chơi cho hoạt động khởi động: 5 người 4 chân.
    Cách chơi: GV chia lớp thành các nhóm nhỏ, 5 người / nhóm, dùng phấn để
    vạch điểm xuất phát và đích.
    – Yêu cầu nhiệm vụ của các nhóm là phải cùng nhau vượt qua một chặng
    đường với chỉ có 4 chân chạm đất. Đội nào trong quá trình di chuyển chạm
    đất với hơn 4 chân sẽ bị loại. Đội chiến thắng là đội về đích trước.
    – Phiếu nhiệm vụ số 1A, 1B ( dành cho hoạt động khám phá vấn đề)

    Phiếu nhiệm vụ số 1APhiếu nhiệm vụ số 1B
    Em hãy đọc tình huống và trả lời câu
    hỏi:
    Đã hai ngày nay, các bạn học sinh
    lớp 3B không thấy bạn Ân đến lớp.
    Đến giờ sinh hoạt của lớp, cô giáo
    buồn rầu báo tin:
    Như các em đã biết, mẹ bạn Ân
    lớp ta ốm đã lâu, nay bố bạn lại mới
    bị tai nạn giao thông. Hoàn cảnh gia
    đình bạn đang rất khó khăn.
    Chúng ta cần phải làm gì để
    Em hãy đọc tình huống và trả lời câu
    hỏi:
    Gần vào năm học mới rồi mà
    sách vở của Liên còn thiếu nhiều
    lắm. Hoàn cảnh gia đình đã khó
    khăn, ba chị em đều đi học nên càng
    túng bấn.
    Hôm đến trường tập trung, nghe
    các bạn kể về chuyện chuẩn bị sách
    vở bút giây cho năm học mới, Liên
    buồn lắm, lặng lẽ ra đứng một mình

    23

    giúp bạn Ân vượt qua khó khăn này?
    Nếu em là bạn cùng lớp với bạn An,
    em sẽ làm gì để an ủi, giúp đỡ bạn?
    Vì sao?
    ở góc lớp.
    Hiền là lớp phó, tuy không là bạn thân
    với Liên nhưng lại để ý đến thái độ của
    bạn. Hiền đến gần Liên, hỏi:
    – Có chuyện gì vậy, Liên ? Sao bạn
    buồn thế?
    Nghe bạn kể, Hiền nắm chặt tay Liên
    an ủi:
    – Đừng buồn nữa, Liên ạ. Từ nay đến
    ngày khai giảng còn một tuần nữa kia
    mà. Mình tin là bạn sẽ có đầy đủ sách
    vở.
    Nếu em là bạn cùng lớp với bạn
    Liên, em sẽ làm gì để an ủi, giúp đỡ
    bạn? Vì sao?

    – Phiếu bài tập: (Dành cho HS thực hiện nhiệm vụ cá nhân trên lớp)

    PHIẾU BÀI TẬP 1: Hãy đánh dấu (+) vào ô trống trước những ý mà em tán
    thành:
    a. Chia sẻ vui buồn cùng bạn làm cho tình bạn thêm thân thiết, gắn
    bó.
    b. Niềm vui, nỗi buồn của riêng mỗi người, không nên chia sẻ với
    ai.
    c. Niềm vui sẽ được nhân đôi, nỗi buồn sẽ được vơi đi nếu được
    cảm thông, chia sẻ.
    d. Người không quan tâm đến niềm vui, nỗi buồn của bạn bè thì
    không phải là người tốt.
    đ. Trẻ em có quyền được hỗ trợ, giúp đỡ khi gặp khó khăn
    e. Phân biệt đối xử với các bnaj nghèo, bạn có hoàn cảnh khó khăn

    24

    là vi phạm quyền trẻ em.
    PHIẾU BÀI TẬP 2: Hãy khoanh tròn vào đáp án mà em cho là đúng:
    Chia sẻ vui buồn cùng bạn là:
    a. Chúc mừng bạn nhân ngày sinh nhật.
    b. Động viên, an ủi bạn khi bạn gặp chuyện buồn.
    c. Hỏi thăm giảng bài giúp bạn khi bạn bị ốm.
    d. Mặc kệ bạn khi bạn gặp chuyện buồn.

    + Bộ thẻ Xanh (Sai) và Đỏ (Đúng).
    In 2 tình huống dưới đây trên 2 tờ giấy màu:

    Tình huống 1: Chung vui với
    bạn khi bạn được điểm tốt, khi
    bạn làm được một việc tốt, khi
    sinh nhật bạn…
    Tình huống 2: Chia sẻ với bạn khi bạn
    gặp khó khăn trong học tập, khi bạn bị ngã
    đau, bị ốm mệt, khi nhà bạn nghèo không
    có tiền mua sách vở.

    – Bài hát : “Lớp chúng mình đoàn kết” Nhạc và lời: Nguyễn Văn Chung.
    2. Chuẩn bị của HS:
    – Mang đến lớp truyện, sách, báo mà HS không sử dụng để tham gia hoạt
    động thiện nguyện của lớp.
    III. CÁC HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU:

    Các hoạt động
    và thời gian
    Hoạt động của giáo viênHoạt động của HS
    1. Hoạt
    động mở đầu
    (3- 4 phút)
    Mục đích: Tạo tâm thế tích cực
    cho HS và dẫn dắt vào bài học.
    + Lớp hát : “Lớp chúng mình
    đoàn kết” Nhạc và lời Mộng Lân.
    + Khởi động bằng trò chơi:
    – Tổ chức và hướng dẫn cho HS
    chơi trò chơi 5 người 4 chân.
    Cách chơi: GV chia lớp thành các
    nhóm nhỏ, 5 người / nhóm, dùng
    – HS hát
    – Nghe GV hướng
    dẫn.
    – Chơi thử
    – Thực hiện trò chơi
    Dự kiến câu trả lời:

    25

    2. Hoạt
    động hình
    thành kiến
    thức mới.
    ( 10- 15 phút)
    phấn để vạch điểm xuất phát và
    đích.
    – Yêu cầu nhiệm vụ của các nhóm
    là phải cùng nhau vượt qua một
    chặng đường với chỉ có 4 chân
    chạm đất.
    Đội nào trong quá trình di chuyển
    chạm đất với hơn 4 chân sẽ bị loại.
    Đội chiến thắng là đội về đích
    trước.
    a. Giới thiệu bài:
    Chúng ta cùng tìm hiểu bài:
    Chia sẻ vui buồn cùng bạn.
    – GV ghi bảng
    b. Thảo luận phân tích tình
    huống:
    Mục tiêu: HS nhận biết biểu hiện
    của sự yêu quý bạn bè và sự cần
    thiết phải chia sẻ vui buồn cùng
    bạn trong cuộc sống hằng ngày
    Cách tiến hành:
    Chia lớp thành các nhóm 4, tổ
    chức cho HS đọc tình huống
    Yêu cầu nhóm trưởng lên bắt thăm
    phiếu nhiệm vụ, thứ tự trình bày (
    Xem phần trình bày của giáo viên)
    Quan sát các nhóm làm việc, giúp
    đỡ nếu cần.
    Để 5 người có thể cùng
    di chuyển với 4 chân, 4
    người phải co một chân
    lên, chỉ đi
    bằng 1 chân và cõng/
    khiêng một bạn mới có
    thể di chuyển được.
    + Qua trò chơi học được
    tính đoàn kết chia sẻ,
    giúp đỡ bạn bè trong
    nhóm.
    – HS lắng nghe
    2-3 HS nhắc lại tên bài
    Các nhóm phân công
    nhóm trưởng. Nhóm
    trưởng bắt thăm nhiệm
    vụ, phân công nhiệm vụ
    cho từng thành viên
    nhóm.
    – Các nhóm thi đọc tình

    26

    3. Hoạt động
    luyện tập, thực
    hành.
    ( 10- 15 phút)
    Yêu cầu các nhóm thi đọc tình
    huống và trả lời câu hỏi.
    Hướng dẫn HS nhận xét, bổ sung
    câu trả lời của các nhóm.
    Nhận xét hoặc tặng thưởng
    Dựa vào câu trả lời của HS, GV
    kết luận biểu hiện của sự chia sẻ,
    quan tâm đến bạn bè.
    Giáo viên kết luận: Khi bạn có
    chuyện buồn, em cần động viên,
    an ủi bạn hoặc giúp đỡ bạn bằng
    những việc làm phù hợp với khả
    năng như giúp bạn chép bài, giảng
    lại bài cho bạn nếu bạn phải nghỉ
    học, giúp bạn làm một số việc
    nhà… để bạn có thêm sức mạnh
    vượt qua khó khăn.
    a. Đóng vai:
    Mục đích: HS đưa ra được cách
    ứng xử phù hợp trong một số tình
    huống cụ thể chia sẻ vui buồn
    cùng bạn. Đưa ra được lời giải
    thích phù hợp cho cách ứng xử.
    Cách tiến hành:
    Giáo viên chia nhóm đôi, yêu cầu
    mỗi nhóm xây dựng kịch bản và
    đóng vai một tình huống.
    Giáo viên cho các nhóm thảo luận,
    xây dựng kịch bản và chuẩn bị
    sắm vai.
    Cho các nhóm lên sắm vai
    huống và trả lời câu hỏi.
    – Đại diện các nhóm
    lần lượt lên trình bày.
    – Các nhóm còn lại
    lắng nghe, góp ý, nhận
    xét, bổ sung.
    Dự kiến câu trả lời
    của HS :
    – TH1: Động viên,
    an ủi, phân công nhau
    giúp đỡ gia đình Ân,
    quyên góp ủng hộ.
    – TH2: Động viên,
    an ủi, quyên góp ủng
    hộ.
    – Các nhóm lên bốc
    thăm tình huống.
    – Học sinh thảo luận
    nhóm đôi đưa ra cách
    ứng xử trong mỗi tình
    huống.
    Đóng vai xử lí tình

    27

    Giáo viên cho cả lớp thảo luận về
    cách ứng xử trong mỗi tình huống
    và cảm xúc của mỗi nhân vật khi
    ứng xử hoặc nhận được cách ứng
    xử đó.
    Giáo viên kết luận:
    Tình huống 1: Khi bạn có chuyện
    vui, cần chúc mừng, chung vui với
    bạn.
    Tình huống 2: Khi bạn có chuyện
    buồn, cần an ủi, động viên và giúp
    bạn bằng những việc làm phù hợp
    với khả năng.
    b. Bày tỏ thái độ:
    Mục tiêu: Học sinh biết bày tỏ
    thái độ trước các ý kiến có liên
    quan đến nội dung bài học.
    Cách tiến hành:
    GV cho HS làm việc cá nhân sau
    đó cùng bày tỏ ý kiến.
    Giáo viên lần lượt đưa ra từng ý
    kiến
    ( Xem phần chuẩn bị của GV)
    Cho học sinh suy nghĩ và bày tỏ
    thái độ tán thành, không tán thành
    hoặc lưỡng lự bằng cách giơ các
    tấm bìa
    Giáo viên cho học sinh thảo luận
    huống và giải thích vì
    sao mình làm như vậy?
    Nhận xét, trao đổi về
    cách ứng xử của các
    nhóm
    *Chia sẻ ý kiến và đưa
    ra cách ứng xử, giải
    thích cho ý kiến của
    mình.
    Cả lớp thảo luận, nhận
    xét và đặt câu hỏi cho
    nhóm bạn.
    – Học sinh làm việc
    cá nhân.
    – Học sinh lắng nghe
    – Học sinh suy nghĩ
    và bày tỏ thái độ
    bằng cách giơ các
    tấm bìa

    28

    4. Hoạt động
    vận dung và
    trải nghiệm
    về lí do học sinh có thái độ tán
    thành và không tán thành hoặc
    lưỡng lự
    Giáo viên gọi đại diện các nhóm
    trình bày kết quả thảo luận.
    Giáo viên cho lớp nhận xét.
    Giáo viên nhận xét câu trả lời của
    các nhóm
    Giáo viên kết luận:
    Các ý kiến a, c, d, đ, e là đúng
    Ý kiến b là sai
    Mục tiêu: Giúp HS luyện tập cách
    quan tâm, giúp đỡ bạn bè.
    a. Hướng dẫn tổ chức tháng
    tình bạn
    – Yêu cầu HS tổ chức tháng tình
    bạn.
    Thống kê lại ngày sinh nhật của
    các bạn trong lớp theo tháng.
    Lên kế hoạch tổ chức mừng sinh
    nhật theo tháng cho các bạn.
    b. Hướng dẫn HS lập tủ sách
    yêu thương.
    – Hướng dẫn phân loại, sắp xếp,
    bọc lại sách, truyện, báo để gửi
    tặng các bạn vùng sâu, vùng xa,
    vùng khó khăn, vùng bị thiên tai.
    Các nhóm thảo luận
    Đại diện các nhóm trình
    bày kết quả thảo luận.
    Cả lớp nhận xét và đặt
    câu hỏi cho nhóm bạn.
    – Thực hiện yêu cầu của
    GV về tổ chức tháng
    tình bạn.
    – Hỏi và ghi lại ngày
    sinh nhật của các bạn
    trong lớp.
    – Liệt kê các công việc
    cần làm để chuẩn bị
    thực hiện tổ chức sinh
    nhật cho các bạn trong
    tháng.
    – Phân loại sắp xếp
    những quyển sách,
    truyện, báo theo hướng
    dẫn của giáo viên.
    – Đóng gói gửi tặng
    các bạn vùng sâu, vùng
    xa.

    29

    5. Nhận xét –
    Tổng kết tiết
    học:
    Chia sẻ
    – GV các em đã từng chia sẻ vui,
    buồn cùng bạn chưa, khi được
    giúp đỡ bạn em cảm thấy như thế
    nào?
    – Điều thú vị nhất mà em có được
    sau buổi học là gì?
    – Nhận xét tiết học.
    – Chuẩn bị bài: Chia sẻ vui buồn
    cùng bạn (tiết 2)
    – GV chiếu hình ảnh về những
    hoạt động của HS trong lớp đã
    tham gia cùng nhau trong năm học
    và cùng nhau hát bài: “Lớp chúng
    mình đoàn kết” nhạc và lời
    Nguyễn Văn Chung.
    – Từ 5-7 học sinh trả
    lời câu hỏi về điều thú
    vị, ấn tượng nhất mà em
    có được sau buổi học.
    – Hát, nhảy, vỗ tay theo
    bài hát.

    2.2.2.2. Lồng ghép thông qua các bài đọc hiểu
    Bài 1: Đọc bài: ” Chú vẹt dập lửa” và thực hiện các yêu cầu sau:
    Chú vẹt dập lửa
    Trong cánh rừng kia, các con vật sống cùng nhau thân thiết như một
    gia đình. Một ngày nọ, cánh rừng bỗng dưng bốc cháy ngùn ngụt. Có rất
    nhiều tiếng kêu cứu của muông thú vọng lên thảm thiết.
    Hôm đó, Vẹt bay qua suối uống nước, lúc quay về nó thấy cánh rừng
    như một chảo lửa. Vẹt buồn bã vô cùng, không một chút đắn đo, Vẹt quay
    trở lại con suối, làm ướt bộ lông của mình rồi bay vội về phía cánh rừng
    đang bốc cháy, giũ những hạt nước trên đôi cánh của mình xuống sau đó
    bay trở lại khu rừng, rũ nước ở đôi cánh xuống để hòng dập tắt ngọn lửa.
    Nó bay đi bay lại như vậy không biết bao nhiêu lần. Vẹt muốn mang những
    hạt nước này dập tắt đám cháy trong rừng.
    Vẹt cứ bay đi bay lại không biết bao nhiêu lầ

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Biện pháp sử dụng kĩ thuật dạy học sơ đồ tư duy để nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn luyện từ và câu lớp 4

    SKKN Biện pháp sử dụng kĩ thuật dạy học sơ đồ tư duy để nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn luyện từ và câu lớp 4

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Năm học 2020-2021 là một năm đặc biệt quan trọng của Giáo dục Tiểu học. Là
    năm đầu tiên áp dụng Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đối với lớp 1 và chuẩn bị
    triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đối với lớp 2 từ năm học 2021-2022.
    Việc đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ từ
    mục tiêu, phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học, tổ chức hoạt động, đánh giá xếp loại
    học sinh…
    Để nâng cao chất lượng giáo dục cần phải đổi mới phương pháp dạy học, phát
    huy tính tích cực, sáng tạo của người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều.
    Đồng thời với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, giáo viên đã chuyển dần từ dạy học
    truyền thụ kiến thức sang dạy học phát triển năng lực phẩm chất học sinh, từ đó học
    sinh biết vận dụng các kiến thức vào thực tế xung quanh. Và một trong những phương
    pháp dạy học tích cực có hiệu quả đó là kĩ thuật dạy học bằng sơ đồ tư duy.
    Môn Tiếng Việt trong chương trình tiểu học là môn học có nhiều phân môn. Trong
    đó, phân môn Luyện từ và câu có vị trí đặc biệt quan trọng, góp phần trang bị cho học
    sinh các kiến thức sơ giản về cách dùng từ, đặt câu, phát triển vốn từ cho học sinh, từ
    đó bồi dưỡng ở các em tình yêu cái đẹp, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.
    Tuy nhiên, việc dạy Luyện từ và câu ở Tiều học nói chung và Luyện từ và câu ở
    lớp 4 nói riêng còn gặp nhiều khó khăn. Lượng kiến thức của một tiết học Luyện từ
    và câu lớp 4 tương đối nhiều, đòi hỏi giáo viên và học sinh phải có sự chuẩn bị chu
    đáo, tập trung.
    Trong giai đoạn cả thế giới nói chung và nước Việt Nam nói riêng đang gồng
    mình phòng và chống đại dịch COVID-19, việc dạy và học của cô và trò trên khắp cả
    nước cũng gặp không ít khó khăn. Rất nhiều địa phương phải cho trẻ nghỉ ở nhà để học
    trực tuyến. Năm học 2019-2020, vào tháng 2, tháng 3, tháng 4 theo sự chỉ đạo Bộ
    trưởng Bộ Giáo dục là “tạm dừng đến trường nhưng không dừng học”, trường tôi cũng
    đã thực hiện nghiêm chỉnh việc dạy và học trực tuyến. Qua quá trình dạy học trực
    tuyến tôi nhận thấy việc sử dụng sơ đồ tư duy là cần thiết và đạt hiệu quả tích cực. Khi
    tôi áp dụng sơ đồ tư duy vào việc ôn tập và hệ thống kiến thức Luyện từ và câu, học
    sinh rất chăm chú và hào hứng, cô cùng trò cùng nhau ôn lại bài một cách hiệu quả. Vì
    vậy tôi thấy việc sử dụng sơ đồ tư duy đề nâng cao chất lượng giảng dạy là hiệu quả và
    cần thiết nhất là trong giai đoạn hiện nay.
    Sơ đồ tư duy đã được áp dụng trong nhiều môn học khác nhau với từng bài
    học cụ thể, cho thấy hiệu quả tích cực mà công cụ này đem lại. Sử dụng sơ đồ tư duy
    tương đối đơn giản và có tính khả thi cao. Chỉ với các dụng cụ như bút màu, giấy,
    bìa, bảng….chúng ta đã có thể xây dụng nên các sơ đồ tư duy hoặc cũng có thể sử
    dụng các phần mềm thiết kế sơ tư đồ duy. Hơn thế, phương pháp sơ đồ tư duy có nhiều
    ưu điểm phù hợp với điều kiện kinh tế và cơ sở vật chất của nền giáo dục Việt Nam.
    Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Luyện từ và câu lớp 4 nhằm giúp học sinh
    nắm vững, ghi nhớ một cách hiệu quả các kiến thức về Luyện từ và câu như cấu tạo
    từ, nghĩa của từ, đặc điểm từ loại của từ, các kiểu câu,…ngoài ra biện pháp này còn
    giúp các em bộc lộ khả năng tư duy, logic, sáng tạo, giúp các em ghi nhớ bài nhanh và
    hệ thống kiến thức một cách hiệu quả, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh
    trong học tập, đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy và học, góp phần nâng cao chất lượng giáo
    dục.
    Là giáo viên đã và đang giảng dạy lớp 4, tôi luôn trăn trở làm thế nào để các em
    học sinh hứng thú với môn học và tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả. Chính vì điều
    đó tôi đã đưa ra báo cáo sáng kiến : “Biện pháp sử dụng kĩ thuật dạy học sơ đồ tư duy
    để nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4”.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay tại trường Tiểu học Hải Nam nơi
    tôi đang công tác cũng đã và đang tích cực tổ chức các hoạt động học, hoạt động trải
    nghiệm, giáo dục kĩ năng sống…theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất của
    học sinh.
    Phòng Giáo dục, Ban Giám hiệu nhà trường luôn tạo điều kiện để tôi tham gia tập
    huấn về đổi mới phương pháp dạy học, tích cực tự học, tự bồi dưỡng, góp phần nâng
    cao chất lượng dạy học và hoạt động giáo dục. Bởi vậy giáo viên hoàn toàn chủ động
    trong giờ giảng của mình, không gặp khó khăn trở ngại đối với những vấn đề có thể
    nảy sinh trên lớp.
    Đối với phương pháp dạy học cũ, giáo viên chính là tâm điểm còn học sinh là
    khách thể, là quỹ đạo xung quanh. Giáo viên sẽ là người thuyết trình, diễn giải kho tàng
    tri thức còn học sinh sẽ lắng nghe, ghi chép và học thuộc. Giáo án chương trình cũng
    được thiết kế theo một đường thẳng từ trên xuống. Nội dung giảng dạy mang đặc điểm
    về sự logic cao. Bên cạnh đó cách dạy học truyền thống cũng dễ khiến học sinh tiếp thu
    kiến thức một cách thụ động, giờ học buồn tẻ và kiến thức chủ yếu thiên về lý thuyết.
    Phân môn Luyện từ và câu lớp 4 nhìn chung ngắn gọn, cụ thể, có hai dạng bài là
    Bài lý thuyết và Bài tập thực hành với định hướng rõ ràng. Học sinh đã được làm quen
    hình thức tổ chức dạy học theo yêu cầu đổi mới từ lớp 1, 2, 3 nên các em đã biết cách
    lĩnh hội và luyện tập thực hành dưới sự hướng dẫn tổ chức của giáo viên.
    Phân môn Luyện từ và câu là một môn học khô khan, khó truyền đạt được hết ý
    trong bài học, do đặc thù của môn học nhất là trong cách tìm từ, giải nghĩa từ hay
    dùng từ đặt câu,…khiến cho học sinh cũng phải tiếp thu bài một cách thụ động.
    Trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt nói chung và dạy học phân môn Luyện từ
    và câu nói riêng, giáo viên vẫn còn sử dụng các phương pháp cũ nên chưa tạo được
    hứng thú cho học sinh. Hình thức dạy trong giờ Luyện từ và câu còn đơn điệu, phương
    pháp truyền thụ lệ thuộc một cách máy móc vào sách giáo viên, chưa thực sự sinh
    động, cuốn hút học sinh.
    Khi tiếp cận với các kĩ thuật dạy học mới, học sinh còn chưa quen. Việc này dẫn
    đến các em lúng túng, mất trật tự trong khi học.
    Trong giờ học Luyện từ và câu học sinh chưa tích cực hoạt động, không có sự tư
    duy và sáng tạo. Một số em còn có thói quen chờ thầy cô làm rồi chép bài, khả năng
    nhớ, hiểu và vận dụng kiến thức trong quá trình học tập còn yếu. Học sinh còn học vẹt,
    nhớ máy móc khi học phân môn này.
    Sau đây là bảng khảo sát mức độ tích cực tham gia các hoạt động học của học
    sinh trước khi áp dụng sơ đồ tư duy trong dạy học:

    Tích cực hoạt độngChưa tích cực
    Lớp 4ASL%SL%
    TS: 34 HS12/3435,322/3464,7

    Từ khảo sát trên, nhận thấy tỉ lệ học sinh không tích cực tham gia hoạt động học
    còn chiếm tỉ lệ cao, tôi thấy cần đổi mới cách dạy học Luyện từ và câu, tôi xin đề xuất:
    “ Biện pháp sử dụng kĩ thuật dạy học sơ đồ tư duy để nâng cao chất lượng giảng dạy
    Luyện từ và câu lớp 4”.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Luyện từ và câu lớp 4 nhằm giúp học sinh
    nắm vững, ghi nhớ một cách hiệu quả các kiến thức về Luyện từ và câu như cấu tạo
    từ, nghĩa của từ, đặc điểm từ loại của từ, các kiểu câu,…ngoài ra biện pháp này còn
    giúp các em bộc lộ khả năng tư duy, logic, sáng tạo, giúp các em ghi nhớ bài nhanh và
    hệ thống kiến thức một cách hiệu quả, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh
    trong học tập, đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy và học, góp phần nâng cao chất lượng giáo
    dục.
    Để nâng cao chất lượng giáo dục cần phải đổi mới phương pháp dạy học, phát
    huy tính tích cực, sáng tạo của người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều.
    Đồng thời với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, giáo viên đã chuyển dần từ dạy học
    truyền thụ kiến thức sang dạy học phát triển năng lực phẩm chất học sinh, từ đó học
    sinh biết vận dụng các kiến thức vào thực tế xung quanh. Và một trong những phương
    pháp dạy học tích cực có hiệu quả đó là kĩ thuật dạy học bằng sơ đồ tư duy.Trong quá
    trình giảng dạy, qua những lần thành công và khắc phục tôi đã rút ra kinh nghiệm và
    đưa ra một số biện pháp sau:
    a) Vận dụng sơ đồ tư duy để dạy các bài về tiếng
    Những kiến thức về tiếng trong chương trình Luyện từ và câu lớp 4 được chia
    thành hai bài học cụ thể, đó là: Cấu tạo của tiếng; Luyện tập về cấu tạo của tiếng.
    Sơ đồ tư duy không chỉ được sử dụng trong bài hình thành kiến thức mới mà còn
    có hiệu quả cao trong các bài luyện tập dạng bài về tiếng.
    Hoạt động hình thành kiến thức mới là hoạt động không thể thiếu đối với mỗi bài
    học. Có nhiều phương pháp khác nhau để hình thành kiến thức mới cho học sinh,
    trong đó sơ đồ tư duy là một công cụ dạy học có hiệu quả góp phần phát huy tính tích
    cực của học sinh trong giờ học, khiến cho giờ học trở nên sôi nổi hơn.
    Ví dụ khi dạy bài Cấu tạo của tiếng (Sách giáo khoa Tiếng việt 4, tập 1, trang
    6,7) Ở hoạt động hình thành kiến thức mới giáo viên cần giúp học sinh nắm được cấu
    tạo 3 phần của tiếng: Âm đầu, vần, thanh; lưu ý với học sinh tiếng nào cũng phải có
    vần, thanh. Tuy nhiên có tiếng có thể không có âm đầu. Với những kiến thức này,
    thay vì cho học sinh đọc nội dung phần ghi nhớ trong sách giáo khoa sau khi đã hướng
    dẫn học sinh làm bài tập phần nhận xét để rút ra kết luận, giáo viên có thể đưa ra
    một sơ đồ tư duy đã vẽ sẵn với chủ đề trung tâm là Cấu tạo tiếng để hình thành
    kiến thức mới.
    Ví dụ : Bài “Cấu tạo của tiếng” (Sách giáo khoa Tiếng việt 4, tập 1, trang 6,7)
    Sau khi học sinh vẽ xong, giáo viên có thể tổ chức cho các cá nhân hoặc các nhóm
    thuyết trình về sơ đồ tư duy của mình để tạo không khí thi đua và giúp các em hình
    thành sự tự tin khi đứng trước đám đông.
    Với bài Luyện tập về cấu tạo tiếng (SGK Tiếng Việt 4, tập 1, trang 12) giáo
    viên có thể sử dụng sơ đồ tư duy để hướng dẫn học sinh thực hành – luyện tập. Ví
    dụ, bài tập 1 của bài yêu cầu phân tích cấu tạo của các tiếng trong câu tục ngữ sau và
    điền vào bảng:
    Khôn ngoan đối đáp người ngoài
    Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau
    Mẫu:

    TiếngÂm đầuVầnThanh
    HoàiHoaihuyền

    Với bài tập này, thay vì cho học sinh phân tích cấu tạo tiếng theo bảng mẫu, giáo
    viên có thể sử dụng sơ đồ tư duy với tiêu đề trung tâm là “Cấu tạo các tiếng trong câu
    tục ngữ” và hướng dẫn, gợi ý để học sinh phân tích cấu tạo các tiếng trong câu tục ngữ,
    vẽ tiếp sơ đồ tư duy chưa hoàn chỉnh. Việc cho học sinh vẽ sơ đồ tư duy phân tích cấu
    tạo các tiếng trong câu tục ngữ bằng cách sử dụng bút màu, giấy,… sẽ giúp các em hào
    hứng làm bài tập, phát triển tư duy và tài năng nghệ thuật của các em.
    Sau khi học sinh vẽ xong, giáo viên có thể tổ chức cho các cá nhân thuyết
    trình về sơ đồ tư duy của mình để tạo không khí thi đua và giúp các em hình thành
    sự tự tin khi đứng trước đám đông. (Phụ lục 1)
    b) Vận dụng sơ đồ tư duy để dạy học từ và cấu tạo từ
    Các kiến thức về từ và cấu tạo từ trong sách giáo khoa Tiếng Việt 4 gồm 3 bài:
    Từ đơn và từ phức, Từ ghép và từ láy, Luyện tập về từ ghép và từ láy. Đây đều là
    những kiến thức tương đối khó với học sinh. Các em khó phân biệt đựợc thế nào là từ
    phức, thế nào là từ ghép, từ láy? Và sơ đồ tư duy là một công cụ dạy học đắc lực hỗ trợ
    tư duy cho các em.
    Khi dạy các bài về cấu tạo từ, giáo viên cũng có thể sử dụng sơ đồ tư duy
    trong hoạt động hình thành kiến thức mới. Ví dụ khi dạy bài “Từ ghép và từ láy” (Sách
    giáo khoa Tiếng Việt 4, tập 1, trang 38), yêu cầu về kiến thức với bài này đó là:
    + Học sinh nắm được hai cách chính để tạo từ phức là phương thức ghép (Từ
    ghép) và phương thức láy (Từ láy).
    + Nhận biết được từ ghép và từ láy trong văn bản viết.
    Ở hoạt động hình thành kiến thức mới của bài này giáo viên có thể đưa ra sơ
    đồ tư duy với tiêu đề trung tâm là Từ phức (chưa được vẽ hoàn chỉnh) nhằm nhắc lại
    kiến thức ở bài cũ cho học sinh. Đồng thời, hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài để vẽ tiếp
    vào sơ đồ chưa hoàn chỉnh này. Việc sử dụng sơ đồ tư duy trong hoạt động này sẽ giúp
    các em tích cực học tập để tự phát hiện ra kiến thức mới cúa bài học. ( Phụ lục 2)
    Cũng với bài Từ ghép và từ láy, khi luyện tập thực hành giáo viên cũng có thể
    hướng dẫn các em làm bài tập dưới dạng các sơ đồ tư duy theo nhóm hoặc cá nhân.
    Khi đó tư duy và trí tưởng tượng sáng tạo của các em sẽ được phát huy để thực hiện nội
    dung bài tập. Khi làm bài tập các em có thể sử dụng từ, cụm từ, hình ảnh, màu
    sắc,… khiến cho sơ đồ tư duy sinh động và thể hiện được phong cách ghi chép riêng
    của mỗi em, đồng thời giúp các em hứng thú khi làm bài và ghi nhớ bài lâu hơn. (Phụ
    lục 3)
    c) Vận dụng sơ đồ tư duy hỗ trợ dạy – học nhóm bài về từ loại
    Yêu cầu đối với việc dạy học nhóm bài về từ loại trong phân môn Luyện từ và
    câu lớp 4 là học sinh nắm được khái niệm về danh từ, động từ, tính từ; cách phân
    loại của các từ loại này; cách thể hiện ý nghĩa, mức độ, đặc điểm của các từ loại ấy.Và
    học sinh có thể nhân diện, phân biệt được danh từ, động từ, tính từ trong văn bản Tiếng
    Việt.
    Có nhiều phương pháp dạy học khác nhau giúp học sinh học tốt nhóm bài về từ
    loại. Trong đó, sơ đồ tư duy là một phương pháp dạy học hiệu quả. Khi dạy học từ
    loại, giáo viên có thể sử dụng sơ đồ tư duy trong nhiều bước khác nhau của tiến trình
    bài dạy.
    Ví dụ, khi dạy bài Tính từ (Sách giáo khoa Tiếng Việt 4, tập 1, trang 50) ở bước
    kiểm tra bài cũ giáo viên có thể sử dụng một sơ đồ tư duy còn khuyết với từ khóa
    trung tâm là “Tìm từ thích hợp xếp vào các nhóm” để kiểm tra kiến thức liên quan
    đến tính từ mà học sinh đã học ở lớp 2,3. Sau khi học sinh hoàn thành sơ đồ tư duy còn
    khuyết giáo viên nhận xét kết hợp với việc sử dụng lời nói nhẹ nhàng, khéo léo dẫn dắt
    học sinh vào bài học mới.
    Sơ đồ 2.10
    Nội dung phần kiểm tra bài cũ của bài Tính từ có liên quan đến nội dung bài
    học, vì vậy việc sử dụng sơ đồ tư duy vừa giúp học sinh củng cố kiến thức vừa tạo ra
    sự tò mò, tâm lí tìm tòi để phát hiện ra kiến thức mới dẫn dắt các em vào bài học mới
    sẽ giúp cho lớp học sôi nổi hơn.
    Hay với bài Danh Từ (Sách giáo khoa Tiếng Việt 4, tập 1, trang 52) giáo viên
    có thể sử dụng sơ đồ tư duy để dạy học phần nhận xét của bài. Phần nhận xét gốm hai
    yêu cầu:
    -Thứ nhất, yêu cầu học sinh tìm các từ chỉ sự vật trong đoạn thơ
    -Thứ hai, yêu cầu học sinh xếp các từ vào nhóm thích hợp.
    Với nội dung này, giáo viên có thể yêu cầu học sinh tìm các từ chỉ sự vật trong
    đoạn thơ và sắp xếp vào các nhánh của sơ đồ tư duy chưa hoàn chỉnh mà giáo viên đã
    chuẩn bị trước. Ở phần này, học sinh có thể vận dụng kiến thức có liên quan đã học ở
    các lớp dưới để tìm từ và hoàn thành sơ đồ tư duy. (Phụ lục 4)
    Ngoài ra, khi dạy nhóm bài về từ loại giáo viên còn có thể sử dụng sơ đồ tư duy
    để tổng kết kiến thức về một từ loại sau khi đã học xong các bài về từ loại ấy. Việc sử
    dụng sơ đồ tư duy để tổng kết kiến thức về một từ loại sau khi đã học sẽ giúp học
    sinh bao quát được các kiến thức có liên quan đến từ loại đó và ghi nhớ kiến thức lâu
    hơn, tái hiện nhanh hơn.
    Ví dụ, sau khi học xong các bài về từ loại Danh từ như: Danh từ; Danh từ
    chung và danh từ riêng; Cách viết tên người, tên địa lí Việt Nam; Cách viết tên
    người, tên địa lí nước ngoài; giáo viên có thể sử dụng một sơ đồ tư duy để tổng kết
    những kiến thức có liên quan đến từ loại này.
    Sơ đồ tư duy này thường được sử dụng trong các tiết ôn tập hoặc tổng kết kiến
    thức. Khi học sinh hoàn thiện sơ đồ tư duy chưa hoàn chỉnh tổng hợp về các từ loại đã
    học các em sẽ phải tái hiện những kiến thức có liên quan đến những từ loại đã học. Sự tái
    hiện kiến thức kết hợp với tư duy sáng tạo, màu sắc, từ ngữ sẽ giúp các em tạo nên một
    sơ đồ tư duy hoàn chỉnh về từ loại trong chương trình lớp 4. Đồng thời giúp các em ghi
    nhớ kiến thức lâu hơn, hứng thú với việc học Tiếng Việt hơn.
    d) Vận dụng sơ đồ tư duy dạy – học bài: Mở rộng vốn từ, phát triển vốn từ
    Mở rộng và phát triển vốn từ cho các em có vai trò quan trọng đối với học sinh
    lớp 4 nói riêng, học sinh Tiểu học nói chung. Trong phân môn LTVC, kiểu bài Mở
    rộng và phát triển vốn từ giúp các em mở rộng, phát triển, tích cực hóa vốn từ, từ đó
    giúp các em thuận lợi hơn trong giao tiếp.
    Chương trình phân môn Luyện từ và câu lớp 4 cung cấp và mở rộng vốn từ cho
    học sinh theo hệ thống các chủ điểm học tập. Việc mở rộng và phát triển vốn từ theo
    chủ điểm học tập gắn với các trường từ vựng giúp các em tiếp thu một cách dễ dàng.
    Hơn thế, hệ thống các chủ điểm thường có các bài tập gắn với ngữ cảnh và có tính hệ
    thống từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, các bài tập tìm từ, giải nghĩa từ giúp cho
    học sinh tích lũy và nắm được nghĩa của từ, cụm từ, thành ngữ, tực ngữ từ đó các em dễ
    dàng vận dụng vào trong giao tiếp.
    Sơ đồ tư duy đối với nhóm bài này sẽ giúp khai thác vốn từ sẵn có của học sinh và
    kích thích tư duy, sự tìm tòi hiểu biết ở các em để làm phong phú vốn từ, phát triển các
    lớp từ vựng của học sinh theo chủ điểm. VD: Bài tập 3 – MRVT: “Trung thực – Tự
    trọng” (SGK – TV 4 – tập 1. tr.62) học sinh có thể xây dựng được một bản đồ tư duy
    đầy đủ màu sắc mà vẫn đảm bảo kiến thức. ( Phụ lục 5)
    Dạng bài mở rộng và phát triển vốn từ ở chương trình Luyện từ và câu lớp 4
    hình thành và phát triển vốn từ cho học sinh theo các trường nghĩa gắn với các chủ
    điểm học tập. Vì vậy việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học giúp các em ghi nhớ
    lâu hơn các trường nghĩa được học để áp dụng trong giao tiếp.
    Không chỉ sử dụng sơ đồ tư duy khi giới thiệu bài mới, hình thành kiến thức
    giáo viên còn có thể sử dụng phương tiện dạy học này khi củng cố nội dung bài học.
    Cuối giờ học giáo viên cũng có thể ứng dụng sơ đồ tư duy để củng cố bài học và
    giúp các em phát huy vốn hiểu biết sẵn có cũng như liên hệ thực tế và giáo dục đạo
    đức cho các em thông qua các bài mở rộng vốn từ. Ví dụ, khi tiến hành hoạt động
    củng cố- dặn dò của bài Mở rộng vống từ: Dũng cảm giáo viên có thể đưa ra một sơ đồ
    với chủ để trung tâm là dũng cảm và 6 nhánh chính. Trong đó, 4 nhánh: Khái niệm,
    biểu hiện, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa đã được hoàn thành để củng cố cho các em
    những kiến thức đã học, hai nhánh còn lại là: Làm thế nào để trở thành người dũng
    cảm và Các tấm gương về lòng dũng cảm sẽ để trống và khuyến khích học sinh thể
    hiện hiểu biết, tài năng để hoàn thành nhánh còn lại ấy. Đồng thời, thông qua việc học
    sinh phát huy hiểu biết để hoàn thành hai nhánh chưa hoàn thiện này giáo viên có thể
    giáo dục đạo đức cho các em, hướng các em học tập theo rèn luyện theo những tấm
    gương đạo đức, theo các biểu hiện của lòng dũng cảm.
    Sơ đồ 2.9
    Đối với học sinh lớp 4, tư duy trừu tượng của các em đã phát triển các em có
    khả năng tư duy, sáng tạo. Vì vậy khi dạy nhóm bài mở rộng vốn từ theo các chủ
    điểm giáo viên có thể đưa ra các bản đồ tư duy cho sẵn chủ đề trung tâm và gợi ý để
    các em tự hoàn thiện, như vậy các em sẽ bộc lộ được tài năng, sự sáng tạo, tư duy
    và ghi nhớ bài học lâu hơn. Sơ đồ tư duy là phương tiện dạy học hiệu quả khi dạy
    học nhóm bài Mở rộng và phát triển vốn từ.
    e) Vận dụng sơ đồ tư duy để dạy học các bài về thành phần trạng ngữ trong
    câu.
    Trạng ngữ là thành phần phụ của câu xác định thời gian, nơi chốn, nguyên nhân,
    mục đích,… của sự việc trong câu nêu trong câu. Khi dạy các bài về trạng ngữ giáo
    viên cần giúp học sinh biết được, ngoài hai thành phần chính của câu là chủ ngữ và
    vị ngữ, trong câu còn có thành phần phụ là trạng ngữ; các loại trạng ngữ trong câu và
    cách thêm trạng ngữ cho câu.
    Các kiến thức về thành phần trạng ngữ trong chương trình sách giáo khoa
    Tiếng Việt lớp 4 bao gồm 6 bài học, cụ thể:
    + Thêm trạng ngữ cho câu
    + Thêm trạng ngữ chỉ nơi chốn cho câu
    + Thêm trạng ngữ chỉ thời gian cho câu
    + Thêm trạng ngữ chỉ nguyên nhân cho câu
    +Thêm trạng ngữ chỉ mục đích cho câu
    + Thêm trạng ngữ chỉ phương tiện cho câu
    Nội dung kiến thức của các bài này có liên quan đến nhau. Vì vậy, khi dạy học
    nhóm bài này, từ bài đầu tiên của nhóm bài trạng ngữ giáo viên có thể đưa ra một sơ đồ
    tư duy với tiêu đề trung tâm là TRẠNG NGỮ và giúp các em phát triển dần các nhánh
    qua từng bài học cho đến khi hoàn thiện.
    Ở bài Thêm trạng ngữ cho câu (Sách giáo khoa Tiếng Việt 4, tập 2, trang
    126), học sinh có thể vẽ thêm nhánh Khái niệm và Vai trò sau khi tìm hiểu xong
    nội dung kiến thức của bài
    Tiếp theo, khi dạy bài Thêm trạng ngữ chỉ nơi chốn cho câu (Sách giáo khoa
    Tiếng Việt 4, tập 2, trang 129) giáo viên có thể tố chức cho học sinh làm việc theo
    các nhóm nhỏ, tìm hiểu bài và phát triển tiếp sơ đồ tư duy chưa hoàn thiện. Khi làm
    việc nhóm các em có thể đặt các câu hỏi để huy động sư hiểu biết của bản thân,
    cũng như bạn cùng nhóm như: Trạng ngữ chỉ nơi chốn dùng để làm gì?; Trạng ngữ
    chỉ nơi chốn trả lời cho câu hỏi nào?
    Trong quá trình thảo luận nhóm dưới sự hỗ trợ của giáo viên, học sinh sẽ tìm
    được câu trả lời cho các câu hỏi đòng thời phát triển tiếp các nhánh, các ý nhỏ của
    sơ đồ tư duy chưa hoàn thiện.
    Sơ đồ tư duy tiếp tục phát triển như vậy qua các bài cho đến khi hoàn
    thiện.Việc sử dụng sơ đồ tư duy để học sinh phát triển các nhánh qua từng bài học về
    trạng ngữ sẽ giúp các em vừa ôn tập lại những kiến thức đã học, đồng thời tiếp giúp
    các em phát triển tư duy, tài năng nghệ thuật và tiếp thu kiến thức một cách chủ
    động, hứng thú. Hơn thế, sau khi học xong các bài này, các em sẽ có một sơ đồ tư duy
    để ôn tập lại các kiến thức khi cần.
    Qua đây, thấy được trong phân môn luyện từ và câu lớp 4 có nhiều nhóm bài có
    thể sử dụng sơ đồ tư duy hỗ trợ cho quá trình dạy – học. Tùy vào tiết học, sơ đồ tư duy
    có thể vận dụng linh hoạt trong các hoạt động khác nhau sao cho phù hợp với đối tượng
    học sinh và với tiến trình lên lớp.
    III. HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN ĐEM LẠI
    1. Hiệu quả kinh tế
    Sáng kiến kinh nghiệm của tôi không gây tốn kém gì về kinh phí của giáo viên
    giảng dạy và của nhà trường. Bản thân tôi chỉ cần có sự hăng say, nhiệt huyết, tranh thủ
    thời gian đầu tư nghiên cứu cho tiết dạy, chuẩn bị đồ dùng dạy học cần thiết , dự giờ
    đồng nghiệp, trải nghiệm thực tế, từ đó rút ra kinh nghiệm và viết sáng kiến.
    Chỉ với những đồ dùng học tập sẵn có của các em như: bút, giấy, thước kẻ, bút
    màu, giấy thủ công…các em có thể tạo cho mình một sơ đồ tư duy đầy tính sáng tạo,
    mang lại hiệu quả tích cực cho bài học.
    Với những tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các phần mềm vẽ
    sơ đồ tư duy trên máy tính, giáo viên hoàn toàn không tốn chi phí chuẩn bị gì, học sinh
    hăng hái tiếp cận với các phần mềm trên máy tính để vẽ sơ đồ tư duy, giúp tích hợp nội
    dung các môn học, nâng cao chất lượng tiết dạy.
    2. Hiệu quả về mặt xã hội
    Cuối mỗi bài dạy thực nghiệm và dạy đối chứng tôi ra đề kiểm tra với cùng một
    nội dung, yêu cầu và thời gian như nhau để đánh giá chất lượng của lớp thực nghiệm
    và lớp đối chứng. Đồng thời, sử dụng các phiếu thăm dò ý kiến của giáo viên và học
    sinh về việc ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy – học phân môn Luyện từ và câu lớp 4.
    (Phụ lục 6). Kết quả cho thấy:
    – Về mặt định lượng
    Dưới đây là bảng kết quả của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng (Phụ lục 7)
    Bảng kết quả điều tra của lớp thực nghiệm 4A và lớp đối chứng 4C

    Tên bàiLớpSố
    HS
    Kết quả (%)
    Điểm 9,10Điểm 7,8Điểm 5,6Điểm dưới
    5
    Danh từThực nghiệm3416/34 =47,1%15/34 = 44,1%3/34 = 8,8%0
    Đốichứng3411/34 = 32,4%16/34 = 47,1%5/34 = 14,7%2/34=5,8%

    Căn cứ vào bảng số liệu ta thấy kết quả học tập của học sinh ở các lớp thực
    nghiệm có số học sinh đạt điểm 9; 10 có tỉ lệ cao hơn so với lớp đối chứng và số học
    sinh điểm 5;6 và điểm dưới 5 ở lớp thực nghiệm chiếm tỉ lệ thấp hơn so với lớp đối
    chứng. Vậy có thể khẳng định hiệu quả của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học
    phân môn Luyện từ và câu lớp 4.
    – Về mặt định tính:
    Một bài học Luyện từ và câu, nhất là đối với các bài lí thuyết thường khô khan và
    ít nhận được sự quan tâm, chú ý của các em vào bài học. Với khả năng đặc biệt của sơ
    đồ tư duy là kích thích khả năng làm việc của bán cầu não trái, khiến cho con người làm
    việc bằng cả hai bán cầu não góp phần phát huy hết mọi năng lực và tiềm năng vốn có
    của học sinh. Vì vậy vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Luyện từ và câu giúp cho
    bài dạy trở nên nhịp nhàng, nhẹ nhàng thu hút các em vào bài học.
    Ở các lớp dạy thực nghiệm, giáo viên sử dụng bản đồ tư duy hỗ trợ cho việc dạy
    học Luyện từ và câu, học sinh rất hào hứng tham gia các hoạt động học tập, tích cực
    trong các hoạt động xây dựng bài. Các em được chủ động trong các hoạt động học tập.
    Khi thăm dò ý kiến thông qua phiếu thăm dò ý kiến, đa số các học sinh tham gia trả lời
    phiếu thăm dò đều muốn được tiếp tục học những giờ học như vậy.
    Khi học sinh quan sát các sơ đồ tư duy đã thiết kế sẵn hoặc các em tự thiết kế
    các sơ đồ tư duy với kiến thức thuộc nội dung bài học bằng bút màu, giấy, hình ảnh,
    chữ viết, sẽ giúp các em bộc lộ được khả năng sáng tạo, sở thích, cá tính và vốn hiểu
    biết của mình. Đồng thời, giúp cho giờ học không khô khan, khuôn mẫu lặp đi lặp
    lại các hoạt động.
    Sơ đồ tư duy giúp cho giáo viên thực hiện đúng vai trò là người tổ chức,
    hướng dẫn và định hướng hoạt động của học sinh trong hoạt động dạy học. Học
    sinh sẽ không cảm thấy áp lực khi tiếp thu bài học, các em được trực tiếp tham gia
    vào các hoạt động, được tự mình tìm ra kiến thức mới. Các em không chỉ được bộc lộ
    khả năng của bản thân mà còn được hòa mình vào tập thể, vủa học vừa chơi. Điều
    này góp phần kích thích đối tượng học sinh lười học nhưng thông minh, kích thích ở
    các em niêm say mê sáng tạo, say mê học tâp.
    Sơ đồ tư duy là công cụ dạy học hỗ trợ đắc lực cho dạy học Luyện từ và câu
    lớp 4. Nếu giáo viên sử dụng sơ đồ tư duy một cách hợp lí, phù hợp với tiến trình
    của từng bài học, từng tiết dạy sẽ phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo và cá
    tính của học sinh, giúp các em hứng thú với giờ học, học tập có hiệu quả. Đồng thời
    góp phần nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 4.
    Qua những nghiên cứu ban đầu về việc sử dụng sơ đồ tư duy vào dạy học
    phân môn Luyện từ và câu lớp 4 đã cho thấy tính mới, tính sáng tạo, hiệu quả tích
    cực của biện pháp này trong dạy học một số nhóm bài Luyện từ và câu lớp 4. Giáo
    viên và học sinh không chỉ vẽ sơ đồ tư duy trên bảng, giấy, vở mà các em còn được
    ứng dụng công nghệ thông tin bằng cách sử dụng các phần mềm để vẽ sơ đồ. Kĩ thuật
    dạy học sơ đồ tư duy đã giúp các em bộc lộ khả năng tư duy, logic, sáng tạo, ghi nhớ
    bài nhanh và hệ thống kiến thức một cách hiệu quả, góp phần đổi mới phương pháp
    dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập, đáp ứng yêu cầu
    đổi mới dạy và học, nâng cao chất lượng giáo dục.
    3. Khả năng áp dụng và nhân rộng
    Cũng chính nhờ tính hữu ích của việc vận dụng sơ đồ tư duy vào trong dạy
    học đã cho thấy khả năng ứng dụng cao của phương pháp dạy học này, không chỉ giúp
    các em học tập tốt phân môn Luyện từ và câu lớp 4 mà còn giúp các em học tập tốt
    những môn học khác. Vì thế theo quan điểm của tôi, tôi thấy sáng kiến này có thể áp
    dụng cho học sinh từ khối 1 đến khối 5 nói riêng và các cấp học khác nói chung . Với
    tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến, các đồng chí giáo viên trong trường tôi đã áp
    dụng và thu được hiệu quả nhất định. Tôi mong muốn sáng kiến của tôi có thể áp dụng
    và nhân rộng cho các trường trong cụm miền và các trường trong toàn huyện. Sơ đồ tư
    duy sẽ ngày càng được ứng dụng rộng rãi vào trong dạy học cũng như trong các lĩnh
    vực khác của đời sống.
    IV. CAM KẾT KHÔNG SAO CHÉP HOẶC VI PHẠM BẢN QUYỀN
    Tôi xin cam kết báo cáo sáng kiến của tôi không sao chép hoặc vi phạm bản
    quyền của bất cứ tác giả nào. Nếu vi phạm tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm. Trên đây
    là sáng kiến kinh nghiệm: “Biện pháp sử dụng kĩ thuật dạy học sơ đồ tư duy để nâng
    cao chất lượng giảng dạy Luyện từ và câu lớp 4” của tôi.
    Kính mong có sự quan tâm và giúp đỡ của Hội đồng đánh giá và đồng nghiệp để
    báo cáo sáng kiến của tôi được hiệu quả hơn.
    Tôi xin chân thành cảm ơn!
    TÁC GIẢ SÁNG KIẾN
    ( Ký tên)
    Đoàn Thanh Nhàn
    CƠ QUAN ĐƠN VỊ
    ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
    ………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………
    PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN HẢI HẬU
    ( Xác nhận, đánh giá, xếp loại)
    ..……………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………
    ……………………………………………………………………………………………
    CÁC PHỤ LỤC
    Phụ lục 1: Bài “Luyện tập về cấu tạo tiếng” (SGK Tiếng Việt 4, tập 1, trang 12).
    Phụ lục 2: Bài “Từ ghép và từ láy” (Sách giáo khoa Tiếng Việt 4, tập 1, trang 38).
    Phụ lục 3: Bài tập 2 – “Từ ghép và từ láy” (SGK Tiếng Việt 4, tập 1 .tr40) Phụ lục 2.
    Phụ lục 4: Bài Danh Từ (Sách giáo khoa Tiếng Việt 4, tập 1, trang 52)
    Phụ lục 5: Bài tập 3 – MRVT: “Trung thực – Tự trọng” (SGK – TV 4 – tập 1. tr.62)
    Phụ lục 6
    PHIẾU KIỂM TRA LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4
    (Dành cho lớp thực nghiệm)
    Bài: DANH TỪ
    Câu 1. Hoàn thiện sơ đồ tư duy cho sẵn ở hình A để trả lời các câu hỏi sau:
    a. Danh từ là gì? Có những nhóm danh từ nào?
    b. Hãy đặt câu với một danh từ chỉ người và một danh từ chỉ khái niệm
    PHIỂU KIỂM TRA LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 4
    (Dành cho lớp đối chứng)
    Bài: DANH TỪ
    Câu 1.
    a.Danh từ là gì? Có những nhóm danh từ nào?
    b. Hãy đặt câu với một danh từ chỉ người và một danh từ chỉ khái niệm.
    PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN GIÁO VIÊN
    – Họ và tên: ………………………………………………………………………………………
    – Trình độ đào tạo ……………………………………………………………………………
    – Đang dạy lớp: ………………………………………………………………………………
    – Tại trường: ……………………………………………………………………………………
    Để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, phát huy tính tích cực, tự giác của
    học sinh trong giờ học phân môn Luyện từ và câu lớp 4. Đống chí vui lòng cho biết ý
    kiến về vấn đề vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy – học phân môn luyện từ và câu lớp 4
    qua các câu hỏi sau:
    Đánh dấu X vào trước câu trả lời đồng chí cho là đúng:
    1. Đồng chí đã được tham gia lớp tập huấn hay các buổi trao đổi kinh nghiệm, hội
    thảo chuyên đề về vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học nói chung và phân môn Luyện từ
    và câu lớp 4 nói riêng chưa
    Đã tham gia
    Chưa tham gia
    Số lần tham gia: ……………………………………………………………………………………………..
    Đơn vị tổ chức: ………………………………………………………………………………………………
    2. Khi lên lớp một giờ luyện từ và câu có sử dụng sơ đồ tư duy đồng chí cần phải
    chuẩn bị những gì?
    Giáo án

    Xác định mục tiêu, thời gian, phương pháp
    Các phương tiện dạy học khác (Xin ghi rõ)
    ………………………………………………………………………………………………………………………
    3. Khi vận dụng sơ đồ tư duy vào giờ học Luyện từ và câu lớp 4, đồng chí có hứng
    thú với bài dạy không?
    Không

    4. Những thuận lợi và khó khăn mà đồng chí gặp phải khi vận dụng sơ đồ tư duy
    vào dạy học?
    – Thuận lợi: …………………………………………………………………………………………
    – Khó khăn: ………………………………………………………………………………………..
    5. Xin đồng chí chia sẻ những kinh nghiệm của mình khi vận dụng sơ đồ tư duy
    hỗ trợ dạy – học phân môn Luyện từ và câu lớp 4
    ……………., ngày… .tháng… ..năm… ..
    Kí tên
    PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN HỌC SINH
    Họ và tên học sinh: ……………………………………………………………………………
    Lớp: ………………………………………………………………………………………………….
    Trường: ……………………………………………………………………………………………
    Đánh dấu X vào câu trả lời em cho là đúng:
    1. Con có hứng thú với giờ học với giờ học Luyện Từ và câu sử dụng sơ đồ tư
    duy không?
    Có Không
    2. Trước khi học giờ học Luyện từ và câu có sử dụng sơ đồ tư duy con cần
    chuẩn bị những gì?
    Chuẩn bị đồ dùng học tập
    Đọc và ghi chép ý chính của bài
    Ghi lại những thắc mắc của bài cần hỏi giáo viên
    3. Theo con, việc vận dụng sơ đồ tư duy vào trong dạy học Luyện từ và câu mang
    lại lợi ích gì cho học sinh?
    Giúp học sinh tích cực, sôi nổi học tập
    Giúp học sinh học tập được phương pháp ghi chép có hiệu quả
    Có sơ đồ tư duy học sinh học nhan

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Vận dụng lý thuyết Bloom trong kiểm tra đánh giá kết quả dạy học phân môn luyện từ và câu lớp 5

    SKKN Vận dụng lý thuyết Bloom trong kiểm tra đánh giá kết quả dạy học phân môn luyện từ và câu lớp 5

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
    Kiểm tra đánh giá là một hoạt động thường xuyên, giữ vai trò quan trọng và
    quyết định chất lượng đào tạo. Đó là một khâu không thể tách rời của quá trình dạy
    học. Đây là khâu cuối cùng của quá trình dạy học nhưng nó có tác động chính, trực
    tiếp đến mục tiêu dạy học và là động lực của quá trình dạy học. “Kiểm tra – đánh
    giá như thế nào thì dạy học và học sẽ như thế”. Bên cạnh đó, kiểm tra – đánh giá
    còn giúp chúng ta điều chỉnh nội dung, phương pháp, tài liệu dạy học sao cho hợp
    lý, từ đó nâng cao chất lượng dạy học.
    Hình thức, nội dung của kiểm tra đánh giá có ảnh hưởng rất lớn đến quy trình,
    nội dung và phương pháp giảng dạy. Như vậy vấn đề đặt ra là phải tổ chức kiểm
    tra đánh giá như thế nào để quá trình dạy học đạt được hiệu quả nhất. Trong thời
    gian vừa qua, hệ thống kiểm tra, đánh giá ở nhà trường phổ thông nói chung và
    trường Tiểu học nói riêng đã góp phần nâng cao chất lượng của quá trình dạy học.
    Tuy nhiên, theo nhận định của nhiều nhà khoa học và nhà giáo thì vấn đề kiểm tra
    đánh giá còn nhiều nhược điểm như kiểm tra, đánh giá vẫn chưa khoa học, nội
    dung đánh giá đôi khi chưa phù hợp với mục tiêu và nội dung dạy học. Đặc biệt là
    việc kiểm tra, đánh giá chưa chú trọng đến việc phân hoá học sinh… Do đó, vấn đề
    xây dựng đề kiểm tra có tính chất phân hoá học sinh là một yêu cầu cần thiết đối
    với giáo viên tiểu học.
    Tiếng Việt là môn học công cụ trong nhà trường tiểu học. Tuy nhiên, hiện nay
    hoạt động kiểm tra, đánh giá môn Tiếng việt còn thiếu tính toàn diện, chưa khách
    quan, công cụ đánh giá còn hạn chế nên chưa phân loại được học sinh…Nhiều khi
    đánh giá mang tính đối phó, hình thức cho có đủ điểm. Riêng phân môn Luyện từ
    và câu, một số giáo viên không được trang bị những kiến thức, kĩ năng về đánh giá
    nên chưa biết cách thiết kế đề kiểm tra đảm bảo tính khách quan, khoa học. Nội
    dung kiểm tra chủ yếu thiên về tái hiện kiến thức, không bao quát mà chỉ kiểm tra
    được một số ít kiến thức, chưa góp phần phân hóa học sinh.
    Việc xây dựng đề kiểm tra đánh giá học sinh trong phân môn luyện từ và câu
    giúp giáo viên kịp thời nắm bắt tình hình nhận thức của học sinh từ đó định hướng,
    giúp giáo viên có thể hỗ trợ học sinh kịp thời nắm bắt kiến thức góp phần nâng cao
    chất lượng dạy học phân môn luyện từ và câu nói riêng và môn tiếng việt nói
    chung.
    Ngày nay có rất nhiều phương pháp đánh giá như: Marton, Solo…Mỗi một
    phương pháp đều có một ưu thế riêng. Trong đó nổi bật hơn cả là lý thuyết Bloom.
    Lí thuyết này có ưu điểm là phân chia các mức độ nhận thức một cách rạch ròi,
    phân hóa được học sinh…
    Xuất phát từ những lí do trên tôi đã lựa chọn đề tài:
    Vận dụng lý thuyết Bloom để xây dựng đề kiểm tra – đánh giá kết quả
    dạy học phân môn Luyện từ và câu lớp 5”
    2
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP:
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
    Về lí luận kiểm tra, đánh giá nói chung, có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn
    đề này như: đánh giá trong giáo dục tiểu học (PGS. TS Phó Đức Hòa), cơ sở lí luận
    của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh phổ thông (Hoàng Đức Nhuận);
    đánh giá trong giáo dục (Trần Thị Tuyết Oanh)…
    Gần đây, có một số ít các đề tài, luận văn về kiểm tra đánh giá môn Tiếng
    Việt ở tiểu học: Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong đánh giá kết quả
    học tập môn Tiếng Việt lớp 5…
    Hiện nay, một số tài liệu về thiết kế đề kiểm tra đã được xuất bản: Đề kiểm tra
    học kì Tiếng việt – toán lớp 5 (Huỳnh Tấn Phương), đề kiểm tra các lớp bậc tiểu
    học (Bộ Giáo Dục và Đào Tạo)… Nhìn chung các tài liệu về kiểm tra đánh giá nói
    chung và thiết kế đề kiểm tra môn Tiếng Việt nói riêng tương đối phong phú.
    Ngoài ra việc phân hóa học sinh cũng như việc nắm bắt khả năng tiếp nhận tri thức
    môn học của học sinh thông qua công cụ kiểm tra đánh giá cũng rất hữu hiệu. Đó
    vừa là định hướng vừa là điều kiện giúp tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này.
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
    2.1. Khái niệm về kiểm tra, đánh giá
    2.1.1. Kiểm tra
    Trong Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý định nghĩa kiểm tra là xem xét
    thực chất, thực tế. Theo Bửu Kế, kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá,
    nhận xét. Còn theo Trần Bá Hoành, kiểm tra là cung cấp những dữ kiện, những
    thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá.
    Như vậy, các nhà khoa học và các nhà giáo dục đều cho rằng kiểm tra với
    nghĩa là nhằm thu thập số liệu, chứng cứ, xem xét lại công việc thực tế để đánh giá
    và nhận xét.
    Trong quá trình dạy học, kiểm tra là thuật ngữ để chỉ cách thức hoặc hoạt
    động của giáo viên sử dụng để thu thập thông tin về biểu hiện kiến thức kĩ năng và
    thái độ của học sinh trong học tập. Kiểm tra là phương tiện, là công cụ để đánh giá.
    2.1.2. Đánh giá
    Hiện nay có rất nhiều quan niệm về đánh giá, mỗi quan niệm khác nhau sẽ
    dẫn đến nội dung và kĩ thuật khác nhau.
    Theo quan niệm triết học thì đánh giá là xác định những giá trị hiện tượng xã
    hội, của hoạt động hành vi của con người tương xứng với những nguyên tắc và
    chuẩn mực nhất định, từ đó bộc lộ thái độ.
    Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công
    việc dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu,
    tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng,
    điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu qủa công việc. Theo Đại từ Theo từ điển
    Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, đánh giá là nhận xét bình phẩm về giá trị. Theo từ
    3
    điển Tiếng Việt của Văn Tân thì đánh giá là nhận thức cho rõ giá trị của một người
    hoặc một vật.
    Đánh giá trong giáo dục, theo Dương Thiệu Tống là quá trình thu thập và xử
    lý kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng và hiệu quả giáo dục. Căn cứ vào
    mục tiêu dạy học, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động trong
    giáo dục tiếp theo. Cũng có thể nói rằng đánh giá là quá trình thu thập phân tích và
    giải thích thông tin một cách hệ thống nhằm xác định mức độ đạt đến của các mục
    tiêu giáo dục về phía học sinh. Đánh giá có thể thực hiện bằng phương pháp định
    lượng hay định tính.
    Nhìn chung, có nhiều quan niệm khác nhau về đánh giá nhưng các quan điểm
    trên đều có điểm chung: đều cho rằng đánh giá trong quá trình giáo dục là quá
    trình thu thập và xử lí kịp thời những thông tin và hiện trạng, nguyên nhân của
    hành vi (chất lượng và hiệu quả giáo dục), đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra
    nhằm đưa ra những quyết định thích hợp.
    Như vậy, muốn đánh giá kết quả học tập của học sinh thì việc đầu tiên là phải
    kiểm tra, soát xét lại toàn bộ công việc học tập của học sinh, sau đó tiến hành đo
    lường để thu thập những thông tin cần thiết, cuối cùng là đưa ra một quyết định.
    Do vậy kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh là hai khâu có quan hệ
    mật thiết với nhau. Kiểm tra nhằm cung cấp thông tin để đánh giá và đánh giá
    thông qua kết quả của kiểm tra. Hai khâu đó hợp thành một quá trình thống nhất là
    kiểm tra – đánh giá.
    2.2. Lí thuyết Bloom
    2.2.1. Một số vấn đề về lí thuyết Bloom
    a. Phân tích các mức độ nhận thức của lí thuyết Bloom
    Tại hội nghị của Hội tâm lí học ở Mĩ năm 1948, B.S. Bloom đã chủ trì xây
    dựng hệ thống phân loại các mục tiêu của quá trình giáo dục. Ba lĩnh vực của hoạt
    động giáo dục đã được xác định rõ, đó là: lĩnh vực nhận thức, lĩnh vực cảm xúc,
    lĩnh vực tâm vận.
    Lĩnh vực về nhận thức thể hiện ở khả năng suy nghĩ, lập luận, bao gồm việc
    thu thập các sự kiện, giải thích, lập luận theo kiểu diễn dịch, quy nạp và có sự đánh
    giá phê phán.
    Lĩnh vực hành động liên quan đến những kĩ năng đòi hỏi sự khéo léo về chân
    tay, sự phối hợp các cơ bắp từ đơn giản đến phức tạp.
    Lĩnh vực cảm xúc liên quan đến những đáp ứng về mặt tình cảm, bao gồm
    những mối quan hệ như: yêu, ghét, thái độ nhiệt tình, …
    Bloom cùng các tác giả đã đưa ra một hệ thống phân loại các mục đích dựa
    trên ba lĩnh vực kể trên. Mỗi lĩnh vực được chia thành 5 hoặc 6 mức độ sắp xếp
    theo mức độ từ đơn giản đến phức tạp.
    Các lĩnh vực nêu trên không hoàn toàn tách biệt nhau hoặc loại trừ nhau mà
    hỗ trợ cho nhau trong quá trình giáo dục.
    4
    Sau đây, tôi sẽ đi sâu phân tích lĩnh vực nhận thức mà Bloom đã phân chia
    thành 6 mức độ lĩnh hội tri thức của học sinh tiểu học. Sáu mức độ đó được sắp
    xếp theo thang với các mức độ từ thấp đến cao như sau:
    Cụ thể các mức độ như sau:
    Mức độ nhận biết
    Được định nghĩa là sự nhớ lại các dữ liệu đã được học trước đây. Điều đó có
    nghĩa là một người có thể nhắc lại một loạt các dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến
    các lí thuyết phức tạp, tái hiện trong trí nhớ những thông tin cần thiết. Đây là mức
    độ thấp nhất của kết quả học tập trong lĩnh vực nhận thức.
    Đánh giá kiến thức nhận biết được coi là hiệu quả nhất thông qua các câu hỏi
    lựa chọn câu trả lời đúng, trả lời ngắn và hoàn chỉnh câu. Cách thông dụng và hiệu
    quả nhất để đánh giá kiến thức hồi nhớ là chỉ đơn giản ra một câu hỏi và yêu cầu
    học sinh trả lời theo trí nhớ.
    Đánh giá học sinh ở mức độ này là đánh giá sự nắm bắt kiến thức mà các em
    đã được học với mức độ là tái hiện lại những gì đã được học.
    Thông hiểu
    Bao gồm cả sự nhận biết nhưng ở mức độ cao hơn là trí nhớ. Nó có liên quan
    đến ý nghĩa và các mối liên hệ của những kiến thức mà học sinh đã biết, đã học.
    Khi một học sinh nêu lại đúng một định nghĩa hay một quy tắc nào đó thì
    chứng tỏ học sinh ấy đã “biết” định nghĩa hoặc quy tắc đó. Nhưng để chứng tỏ sự
    “thông hiểu” thì học sinh ấy phải giải thích được ý nghĩa của những khái niệm, quy
    tắc đó, có thể minh hoạ bằng các ví dụ cụ thể. Kết quả học tập ở mức độ này cao
    hơn so với mức độ nhận biết
    * Đánh giá khả năng thông hiểu được thể hiện khi học sinh hiểu bằng ngôn từ
    của các em về ý nghĩa cơ bản của một khái niệm, nguyên tắc hoặc quy trình hoặc
    nhận biết được các yếu tố. Khi thiết kế các câu hỏi trắc nghiệm để đánh giá học
    sinh ở mức độ này, giáo viên phải đề ra những yêu cầu cao hơn so với mức độ
    “nhận biết”.
    Vận dụng
    Mức độ này yêu cầu học sinh biết áp dụng kiến thức, biết sử dụng phương
    pháp, nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó. Khả năng vận dụng

    2.Thông hiểu
    1. Nhận biết
    3. Vận dụng
    4. Phân tích

    5. Tổng hợp
    6. Đánh giá
    5
    được đo lường khi một tình huống mới được đưa ra và người học phải quyết định
    nguyên lí nào cần được áp dụng và áp dụng như thế nào.
    Phân tích
    Được hiểu là sự phân chia một vấn đề thành những thành tố, bộ phận để các
    tầng bậc và mối quan hệ giữa các tư tưởng được rõ ràng. Khả năng phân tích có thể
    được hiểu là khả năng phân biệt các sự kiện từ các giả thiết, phát hiện và nhận biết
    xem thông tin có sai lệch không, nhận biết thể loại trong văn học, nghệ thuật, đánh
    giá tính thích hợp trong lập luận. Kết quả học tập thể hiện mức độ trí tuệ cao hơn
    so với mức hiểu và áp dụng vì nó đòi hỏi sự thấu hiểu cả nội dung và hình thái của
    tài liệu.
    Tổng hợp
    Được định nghĩa là khả năng sắp xếp các bộ phận riêng biệt hoặc các thành tố
    để hình thành một tổng thể mới. Khả năng tổng hợp có thể được hiểu là khả năng
    viết, khả năng tổ chức các ý tưởng và các phát biểu, khả năng diễn đạt và kết luận
    một vấn đề. Kết quả học tập trong lĩnh vực này nhấn mạnh đến các hành vi sáng
    tạo, đặc biệt tập trung chủ yếu vào việc hình thành các mô hình hoặc cấu trúc mới.
    * Đánh giá khả năng phân tích và tổng hợp.
    Với 2 mức độ phân tích và tổng hợp, việc đánh giá sẽ đòi hỏi học sinh có khả
    năng hiểu sâu và lập luận logic, có sự sáng tạo trong nội dung bài làm. Chúng ta
    không nên tách riêng mức độ phân tích và mức độ tổng hợp. Hai mức độ này có sự
    đan xen với nhau. Các bài tập ở dạng này thường ở cuối của các đề kiểm tra và chỉ
    chiếm nhiều nhất là khoảng 20% tổng số điểm của bài.
    Đánh giá
    Đánh giá là mức độ cao nhất của việc nắm vững kiến thức. Đánh giá đòi hỏi
    người học có chính kiến riêng, có cách nhìn phê phán hoặc khẳng định những kiến
    thức đã học.
    Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất định. Đó có thể là tiêu chí bên trong
    (cách tổ chức) hoặc tiêu chí bên ngoài (phù hợp với mục đích) và người đánh giá
    phải tự xác định hoặc được cung cấp các tiêu chí. Kết quả học tập trong lĩnh vực
    này là cao nhất trong các mức độ nhận thức vì nó chứa các yếu tố của mọi mức độ
    khác.
    * Đánh giá khả năng tự đánh giá của học sinh
    Với mức độ này, khi đánh giá học sinh ta quan tâm đến khả năng tự đánh giá
    của học sinh. Đó có thể là việc học sinh tự đánh giá kết quả bài làm của mình, hoặc
    của bạn dựa trên các tiêu chí mà giáo viên đã đưa ra. Do đó khi thiết kế các đề
    kiểm tra để đánh giá tri thức của học sinh bằng lí thuyết Bloom, chúng ta nên chú ý
    xây dựng hệ thống các tiêu chí sao cho rõ ràng để học sinh dễ dàng trong việc đánh
    giá kết quả bài làm. Đây là một mức độ thể hiện cho quan điểm đổi mới trong kiểm
    tra, đánh giá ở trường tiểu học. Tức là việc kiểm tra, đánh giá phải có sự kết hợp
    giữa sự đánh giá của thầy và sự tự đánh giá của trò. Theo quan niệm của
    V.P.Lepcôvich, tự đánh giá là mức độ phát triển cao của tự ý thức, nó bao gồm
    6
    không những nhận thức của bản thân mà còn có sự tự đánh giá đúng năng lực và
    khả năng của mình, thái độ phê phán đối với bản thân.
    Đối với học sinh tiểu học, sự đánh giá của giáo viên hoặc của chính bạn học
    là rất quan trọng. Đánh giá của giáo viên có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tự
    đánh giá của học sinh. Sự đánh giá của giáo viên và học sinh đều phải dựa trên các
    mức độ đo đã được xác định từ trước. Các mức độ đó được xây dựng dựa trên nội
    dung chương trình của môn học. Tất cả các thành phần này đều có mối quan hệ với
    nhau, phụ thuộc nhau để cùng hướng tới sự xác định phù hợp trong đánh giá.
    Các mức độ trên là các thứ bậc mà học sinh cần đạt được theo mức độ nhận
    thức. Bài kiểm tra, đánh giá cần phải phụ thuộc vào mục tiêu giáo dục của cấp học,
    đặc điểm sinh lí và năng lực trí tuệ để phù hợp với việc đánh giá, phân loại mức độ
    và khả năng của từng đối tượng cụ thể. Nhìn chung ở tiểu học, người ta đánh giá tri
    thức học sinh tiểu học chủ yếu ở các mức độ: biết, thông hiểu, vận dụng.
    Ta có thể tổng kết theo bảng sau:
    SÁU MỨC ĐỘ NHẬN THỨC THEO LÝ THUY ẾT BLOOM

    MỨC
    ĐỘ
    ĐỊNH NGHĨAĐỘNG TỪ MẪU
    BiếtGợi lại hoặc nhớ
    thông tin, nhận
    ra kiến thức
    – Định nghĩa – Ghi lại – Nhớ lại
    – Lên danh sách – Gán – Kể lại
    – Nêu tên – Sắp xếp lại – Xắp xếp thứ tự
    – Điền vào – Nhắc lại một cách máy móc
    – Nhớ
    HiểuGiải thích chứng
    minh được, lấy
    ví dụ minh họa
    cho những điều
    đã học.
    – Diễn đạt lại – Mô tả – Giải thích
    – Nhận dạng – Báo cáo – Kể (Bằng lời của
    mình)
    -Thảo luận – Nhìn nhận
    – Xắp xếp – Nhìn lại – Hợp lại với nhau
    – Diễn giải – Diễn tả
    Áp
    dụng
    Sử dụng kiến
    thức đã học để
    giải quyết vấn đề
    trong những
    hoàn cảnh mới.
    – Dịch – Áp dụng – Dùng
    – Sử dụng – Thực hành – Kịch hoá
    – Giải thích – Thể hiện – Lên kế hoạch
    – Minh hoạ – Hoạt động – Vẽ
    – Mô phỏng – Phỏng vấn – Xây dựng
    Phân
    tích
    Chia thông tin
    thành các phần
    – Phân biệt – So sánh – Tính toán
    – Thử -Tương phản – Bình phẩm
    – Tranh luận – Hỏi – Giải quyết
    – Phân tích – Đánh giá – Thử nghiệm
    – So sánh – Lập biểu đồ – Điều tra
    – Lập danh mục – Mổ xẻ – Kiểm tra

    7

    – Phân loại – Phác thảo – Viết lại
    Tổng
    hợp
    Giải quyết vấn
    đề bằng cách kết
    hợp các thông
    tin với nhau theo
    phương pháp đòi
    hỏi tư duy sáng
    tạo độc lập
    – Thiết lập – Đề xuất
    – Lập công thức
    – Thiết kế – Tạo lập
    – Lên kế hoạch
    Đánh
    giá
    Đưa ra những
    đánh giá định
    lượng và định
    tính dựa trên
    những tiêu chuẩn
    đã đặt ra
    – Nhận định – Thiết lập – Bảo vệ
    – Tính điểm – Đánh giá – Ước lượng
    – Dự đoán – Lựa chọn – Định giá
    – Đo đạc – Tranh luận – Quyết định

    2.2.2. Một số ưu điểm của lí thuyết Bloom trong kiểm tra – đánh giá
    – Các bài tập hoặc các câu hỏi đều thuộc một mức độ lĩnh hội tri thức nào đó
    của học sinh như hiểu, vận dụng… nên giáo viên rất dễ dàng trong việc lựa chọn
    các câu hỏi cho phù hợp với mức độ nhận thức của lớp mình. Đối với lớp tiếp thu
    nhanh hơn, ta có thể thiết kế những câu hỏi ở mức độ cao hơn như phân tích, tổng
    hợp. Đối với lớp chậm hơn thì sẽ có nhiều câu hỏi ở mức độ thấp hơn như nhớ,
    hiểu, vận dụng.
    – Mặt khác, đánh giá theo hình thức này giúp phân hoá rõ học sinh trong lớp
    với các mức độ khác nhau. Sự phân hoá đó đươc thể hiện giữa học sinh trung bình
    với học sinh khá, học sinh khá với học sinh giỏi hay trong chính học sinh giỏi với
    nhau. Từ đó giáo viên sẽ nắm bắt được mặt bằng chung của cả lớp, biết được học
    sinh nhận thức ở mức độ nào, còn thiếu sót những gì. Sau đó giáo viên điều chỉnh
    những thiếu sót đó cho học sinh còn đối với những học sinh nhận thức ở mức độ
    cao hơn so với mặt bằng chung của lớp thì giáo viên phải có những phương pháp
    riêng để phát huy tốt những khả năng đó.
    – Giúp giáo viên có được những định hướng nhất định trong việc thiết kế các
    đề kiểm tra, tránh tình trạng giáo viên thiết kế các đề kiểm tra nhưng không biết đã
    phù hợp với trình độ của học sinh lớp mình hay chưa, ở mức độ dễ hay khó đối với
    lớp mình. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó là giáo viên không biết được những
    câu hỏi đó thuộc mức độ nhận thức nào của học sinh, đơn giản hay phức tạp.
    – Trong các định hướng đổi mới về kiểm tra, đánh giá học sinh tiểu học,
    người ta luôn nhắc tới định hướng tự đánh giá của học sinh. Ở mức độ 6 đánh giá
    sẽ thực hiện được định hướng đó. Học sinh sẽ được tự đánh giá kết quả bài làm của
    mình hoặc của bạn dựa trên các tiêu chí mà giáo viên đã đề ra. Sau đó giáo viên sẽ
    kiểm tra lại kết quả đánh giá của học sinh và thu được những thông tin cần thiết về
    khả năng tự đánh giá của học sinh.
    8
    => Với các lợi thế trên thì việc đánh giá tri thức học sinh tiểu học bằng lí
    thuyết Bloom là phương pháp phù hợp và cần thiết trong nhà trường tiểu học. Đây
    là quan điểm mà Bloom đã đưa ra từ rất lâu. Tuy nhiên, việc áp dụng 6 mức độ
    nhận thức của học sinh tiểu học trong đánh giá ở nhà trường tiểu học là còn mới và
    không phải ai cũng đồng tình với cách suy nghĩ đó nên chắc chắn không thể tránh
    khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất định. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải mạnh dạn
    áp dụng phương pháp này để rút ra những kinh nghiệm và kết luận cần thiết, giúp
    cho quá trình kiểm tra, đánh giá ở nhà trường tiểu học đạt hiệu quả cao.
    2.2.3. Các mức độ nhận thức của Bloom được thể hiện trong môn Tiếng
    Việt
    Theo quan điểm của những người biên soạn Chương trình Tiểu học Việt
    Nam, nhận thức của học sinh tiểu học mới đạt được ba cấp độ đầu trong thang
    nhận thức của B.S. Bloom. Dưới đây, tôi sẽ trình bày cách hiểu của mình về ba cấp
    độ nhận thức trong môn Tiếng Việt:

    Các mức
    độ nhận
    thức
    Định nghĩaThể hiện trong môn Tiếng Việt
    Nhận
    biết
    Nhận biết là nhận ra, nhớ lại
    hoặc tái hiện được thông tin
    đã biết (sự việc, kiến thức,
    định nghĩa,…). Đây là mức
    độ nhận thức thấp nhất vì chỉ
    đòi hỏi trí nhớ.
    Nhắc lại được định nghĩa, quy tắc.
    Nhận ra đơn vị hoặc hiện tượng ngôn
    ngữ đã học (ví dụ: từ trái nghĩa, từ
    động nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều
    nghĩa, cách liên kết câu…). Nói lại
    được tên nhân vật, tên nhân vật, sự
    kiện đã học. Điền từ còn thiếu vào câu
    tục ngữ, ca dao đã học…Sắp xếp đúng
    thứ tự các tình tiết trong câu chuyện
    đã nghe, đã học.
    Thông
    hiểu
    Thông hiểu một điều gì đó là
    diễn đạt được điều đó bằng
    lời của mình, giải thích được
    cho người khác hiểu những
    điều mình lĩnh hội được, nêu
    được ví dụ minh họa, tóm
    tắtđược điều đã biết, chuyển
    được mô hình này sang mô
    hình khác….
    Trả lời được câu hỏi về nội dung bài
    học. Tìm được ví dụ minh họa về từ
    đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ đồng
    âm, từ nhiều nghĩa…Tóm tắt được
    thông tin đã nghe…
    Vận
    dụng
    Vận dụng là khả năng sử
    dụng những điều đã biết để
    giải quyết vấn đề trong tình
    huống mới
    Biết dùng từ, đặt câu, viết đoạn, viết
    bài văn, sử dụng biện pháp tu từ so
    sánh, nhân hóa khi nói, viết làm cho
    sản phẩm nói, viết hấp dẫn, sinh động;
    biết chơi chữ, lựa chọn từ đắt, phù hợp
    với ngữ cảnh. Có thể trả lời các câu

    9

    hỏi, giải bài tập, …với những thông
    tin mới, dựa trên những gì đã biết.

    2.2.4. Một số ví dụ minh họa cho các mức độ nhận thức của Bloom
    Ví dụ 1: Từ đồng nghĩa

    Các mức độ nhận
    thức
    Ví dụ minh họa
    Nhận biết (nhớ lại
    định nghĩa từ đồng
    nghĩa, nhận ra từ
    đồng nghĩa, tìm được
    từ đồng nghĩa với từ
    cho trước trong tình
    huống tương tự, đơn
    giản)
    1.Viết tiếp vào chỗ trống cho hoàn chỉnh để có định
    nghĩa về từ đồng nghĩa.
    Từ đồng nghĩa là những từ…………………………………
    ……………………………………………………………..
    Từ đồng nghĩa hoàn toàn là những từ……………………
    ……………………………………………………………..
    2. Viết hai từ đồng nghĩa với từ “bố” vào dòng dưới
    đây:
    ……………………………………………………………..
    3. Trong những cặp từ sau, cặp từ nào là cặp từ đồng
    nghĩa:
    A. chăm làm – chăm sóc
    B. siêng năng – chăm chỉ
    C. bao la – hun hút
    D. dũng cảm – hèn nhát
    Thông hiểu (phân
    loại đúng từ đồng
    nghĩa, nhận diện từ
    đồng nghĩa trên ngữ
    liệu mới)
    1. Hãy xếp các từ dưới đây thành ba nhóm đồng nghĩa:
    thấp, lùn, bao la, mênh mông, bát ngát, hun hút, nông,
    thênh thang, chất ngất, vòi vọi, nông choèn.
    Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3thấp, bao la, chất ngất,…2. Gạch bỏ từ không thuộc nhóm đồng nghĩa với
    những từ còn lại trong mỗi dòng sau:
    – chăm chỉ, siêng năng, chăm, cần cù, chăm sóc.
    – yên tĩnh, yên lặng, tĩnh lặng, yên tâm, tĩnh mịch.
    Vận dụng (chọn
    được từ đồng nghĩa
    phù hợp với ngữ
    cảnh, làm cho câu
    văn them sinh động;
    1. Chọn từ trong ngoặc đơn em cho là hay nhất để điền
    vào chỗ trống trong câu văn sau, nói rõ vì sao em chọn
    từ đó:
    “Lời ru nồng nàn, tha thiết của mẹ…vào tâm hồn thơ ngây
    trong trắng của tôi biết bao yêu thương”. (rót, trút, đổ,

    10

    viết đoạn văn có sử
    dụng từ đồng nghĩa)
    dội)
    2. Viết một đoạn văn ngắn khoảng 5 câu miêu tả cảnh
    vật mà em thích trong đó có sử dụng từ đồng nghĩa chỉ
    màu sắc.
    3. Chọn từ đồng nghĩa trong ngoặc để điền vào chỗ
    trống trong các câu sau sao cho phù hợp.
    (thiệt mạng, ra đi, hi sinh, chết, mất, bỏ mạng)
    a. Các chiến sĩ đã ………… anh dũng vì độc lập tự do của
    dân tộc.
    b. Tai nạn giao thông hôm qua đã làm 20 người………
    c. Bác Hồ …………….. để lại niềm tiếc thương vô hạn
    cho toàn thể đồng bào ta.
    d. Bọn giặc đã ………………trong một trận càn quét.
    e. Mẹ Lan ………….. khi Lan con rất nhỏ.
    f. Ông muốn nói ai sinh ra trên đời này rồi cũng đến lúc
    phải……………Vì vậy mọi người phải bình tâm vì sự ra
    đi của ông.

    Ví dụ 2: Từ trái nghĩa

    Các mức độ
    nhận thức
    Ví dụ minh họa
    Nhận biết
    (nhớ lại định
    nghĩa từ trái
    nghĩa, nhận
    diện từ trái
    nghĩa)
    1.Viết tiếp vào chố trống cho hoàn chỉnh để có định nghĩa về
    từ trái nghĩa.
    Từ trái nghĩa là những từ………………………………………….
    2. Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng
    Việc sử dụng các cặp từ trái nghĩa trong các thành ngữ, tục ngữ
    có tác dụng:
    A. Tránh lặp từ.
    B. Làm nổi bật những sự vật, sự việc, hoạt động, trạng thái,
    …đối lập nhau.
    C. Tạo nên những câu nói có nhiều nghĩa.
    D. Tạo nên những bất ngờ, thú vị.
    3. Tìm từ trái nghĩa với từ đẹp
    ……………………………………………………………………
    4. Gạch chân dưới cặp từ trái nghĩa trong các câu tục ngữ
    sau:
    a. Lá lành đùm lá rách.
    b. Trên kính dưới nhường.
    c. Lên thác xuống ghềnh.

    11

    5. Điền vào mỗi chỗ chấm một từ trái nghĩa với từ in đậm để
    hoàn chỉnh các thành ngữ, tục ngữ sau:
    Hẹp nhà ……….bụng.
    Xấu người…….. nết.
    Thức ………….. dậy sớm.
    Thông hiểu
    (nhận biết từ
    trái nghĩa trên
    ngữ liệu mới)
    1. “Căn phòng này tuy nhỏ bé nhưng nó là nơi ghi dấu những
    kỉ niệm thân thương của gia đình em”.
    Từ trái nghĩa với từ “nhỏ bé” trong câu trên là:
    A. Kềnh càng
    B. Rộng lớn
    C. Nhỏ nhắn
    D. Vang dội
    2. Tìm từ trái nghĩa với những từ sau:
    – cao thượng -…………………………
    – chậm chạp -…………………………
    – khiêm tốn – …………………………
    Vận dụng
    (tìm được các
    từ trái nghĩa
    với từ đã cho
    trong các ngữ
    cảnh khác
    nhau, đặt câu
    với cặp từ trái
    nghĩa, tạo câu
    có ý tương
    phản, viết
    đoạn văn có sử
    dụng từ trái
    nghĩa)
    1. Đặt một câu có chứa một cặp từ trái nghĩa.
    2. Viết tiếp vế câu thích hợp có sử dụng từ trái nghĩa với từ
    được gạch dưới:
    Ai cũng quý những người chăm chỉ,………………………
    3. Tìm ba từ trái nghĩa với các nghĩa khác nhau của từ ngọt
    và đặt ba câu, mỗi câu có từ ngọt và một từ trái nghĩa tìm
    được.
    4. Viết một đoạn văn ngắn khoảng 5 câu trong đó có sử dụng
    cặp từ trái nghĩa nói về người bạn mà em yêu quý nhất.

    Ví dụ 3: Đại từ

    Các mức
    độ nhận
    thức
    Ví dụ minh họa
    Nhận biết
    (nhớ lại
    định
    nghĩa đại
    từ, nhận
    1. Điền vào chỗ trỗng những từ ngữ thích hợp để hoàn chỉnh định
    nghĩa về đại từ:
    Đại từ là từ dùng để…………..……hoặc ……………….danh từ,
    động từ, tính từ (hoặc cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ) trong
    câu cho khỏi………….các từ ngữ ấy.

    12

    diện đại
    từ)
    2. Gạch chân dưới đại từ trong câu sau:
    Tôi rất thích học Toán. Em trai tôi cũng vậy.
    Thông
    hiểu (chỉ
    ra được
    đại từ
    thay thế
    cho từ
    ngữ nào
    trong
    đoạn văn,
    đoạn thơ)
    1. Cho đoạn hội thoại sau:
    Tan học, Hoa hỏi Lan: (1)
    – Lan ơi, bạn được mấy điểm toán? (2)
    – Tớ được mười, còn cậu được mấy điểm? (3 ) – Hà nói. (4)
    – Tớ cũng thế. (5)
    Đoạn hội thoại trên có các đại từ:
    Đại từ …………trong câu (2) thay thế cho…………………….
    Đại từ………….trong câu (3) thay thế cho…………………….
    Đại từ………….trong câu ( 3) thay thế cho……………………
    Đại từ…………..trong câu (5) thay thế cho……………………
    Đại từ…………..trong câu (5) thay thế cho……………………
    Vậndụng
    (dùng
    được đại
    từ thích
    hợp để
    thay thế
    các từ lặp
    trong câu,
    Trong
    đoạn văn;
    viết đoạn
    văn hội
    thoại có
    sử dụng
    đại từ.
    1. Thay từ gạch chân bằng một đại từ thích hợp:
    a. Nguyễn Duy Thì đi sứ nước Minh. Vua Minh muốn thử tài Nguyễn
    Duy Thì bèn ra một câu đố.
    ……………………………………………………………………
    b. Khỉ con sắp được đi thăm bà ngoại bên kia núi. Khỉ con vui lắm,
    gặp ai cũng khoe.
    …………………………………………………………………………
    2. Viết một đoạn văn hội thoại có sử dụng đại từ xưng hô
    Đoạn văn:
    …………………………………………………………………………
    …………………………………………………………………………
    …………………………………………………………………………
    …………………………………………………………………………
    …………………………………………………………………………
    …………………………………………………………………………
    …………………………………………………………………………

    Ví dụ 4: Câu ghép

    Các mức
    độ nhận
    thức
    Ví dụ minh họa

    13

    Nhận biết
    (nêu lại
    định nghĩa
    về câu
    ghép, nhận
    diện quan
    hệ từ nối
    các vế câu
    ghép)
    1. Ghi tiếp vào chỗ trống cho hoàn chỉnh định nghĩa về câu ghép:
    Câu ghép là câu………………………………………………………
    Mỗi vế câu ghép có cấu tạo giống…………………………………..
    (có đủ chủ ngữ, vị ngữ) và thể hiện một ý có quan hệ chặt chẽ với ý
    của những vế câu khác.
    2. Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng nhất:
    Các vế câu ghép có thể nối với nhau bằng những từ ngữ nào:
    A. Chỉ nối với nhau bằng cặp từ hô ứng.
    B. Chỉ nối với nhau bằng quan hệ từ hoặc cặp quan hệ từ.
    C. Nối với nhau bằng quan hệ từ, cặp quan hệ từ, cặp từ hô ứng.
    D. Nối với nhau bằng cặp quan hệ từ.
    3. Các vế của câu ghép ‘‘Nếu biển lặng sóng thì anh sẽ đi du
    ngoạn trên thuyền’’ nối với nhau bằng cách nào?
    A. Nối bằng dấu chấm, dấu phẩy.
    B. Nối trực tiếp, không dùng từ nối.
    C. Nối bằng cặp quan hệ từ.
    D. Nối bằng cặp từ hô ứng
    Thông
    hiểu (phân
    biệt được
    câu đơn và
    câu ghép;
    xác định
    được các
    vế câu
    ghép; nhận
    diện cách
    nối các vế
    câu ghép
    trên ngữ
    liệu mới)
    1. Phân chia các câu sau thành hai loại: câu đơn và câu ghép rồi
    ghi kết quả vào chỗ trống:
    a. Sáng ấy, tôi ngắt một chiếc lá sòi đỏ thắm, thả xuống dòng nước.
    b. Thạch Sanh thật thà, tốt bụng còn Lý Thông độc ác, gian xảo.
    c. Ngày chưa tắt hẳn, trăng đã lên rồi.
    d. Ông là nhà tư sản yêu nước, nhà tài trợ đặc biệt của cách mạng.
    – Các câu…………………..là câu đơn.
    – Các câu…………………..là câu ghép.
    2. Gạch một gạch dưới bộ phận chủ ngữ, gạch hai gạch dưới bộ
    phận vị ngữ trong từng vế câu của mỗi câu ghép sau:
    a. Mùa xuân đã về, cây cối đâm chồi nảy lộc.
    b. Vì trời mưa to nên đường ngập nước.
    3. Câu ghép: ‘‘Mặt hồ, sóng chồm dữ dội, bọt tung trắng xóa,
    nước réo ào ào’’ có mấy vế câu?
    A. Một vế. Đó là:…………………………………………………
    B. Hai vế. Đó là:………………………………………………….
    C. Ba vế. Đó là:…………………………………………………..
    D. Bốn vế. Đó là:…………………………………………………
    Vận dụng
    (điền quan
    hệ, cặp
    quan
    1. Điền vào chỗ chấm quan hệ từ, cặp quan hệ từ hoặc cặp từ hô
    ứng (trong ngoặc đơn) thích hợp với mỗi câu văn: (mặc
    dù…nhưng, càng…càng, còn, nếu…thì)

    14

    hệ từ nối
    các vế câu
    ghép; tạo
    câu
    ghép; viết
    đoạn văn
    có sử dụng
    câu ghép)
    a).……..Y Hoa được người làng trọng vọng……cô vẫn rất thân mật
    và hòa mình với mọi người.
    b).……..bé Lan được đưa đến bệnh viện kịp thời……nó không phải
    chịu những cơn đau quằn quại, khổ sở như vậy.
    c)Gió ……..to, con thuyền……..lướt nhanh trên mặt biển.
    d) Mẹ em là giáo viên …….bố em là bộ đội.
    2. Từ các câu ghép dưới đây, hãy tạo ra câu ghép mới bằng cách
    thay đổi vị trí của các vế câu đó:
    a) Nếu trời đẹp, tôi và Lan sẽ đi công viên Thủ Lệ.
    →…………………………………………………………………
    b) Tại bạn hay đi học muộn nên lớp mình bị trừ điểm thi đua.
    →……………………………………………………………………
    c) Vì trời mưa nên đường rất trơn.
    →……………………………………………………………………
    3. Ghi vào chỗ trống vế câu thích hợp tạo thành câu ghép:
    a. Bà em kể chuyện Thạch Sanh,……………………………………
    b. Mặc dù nhà Lan rất nghèo nhưng…………………………………
    c. Mùa xuân đã đến,…………………………………………………..
    d. Không những Bạn Hoa học giỏi……………………………………
    4. Viết một đoạn văn ngắn miêu tả một người bạn cùng lớp
    trong đó có sử dụng câu ghép. Cho biết các vế trong câu ghép
    được nối với nhau bằng cách nào.
    ………………………………………………………………………..
    ………………………………………………………………………..
    ……………………………………………………………………….
    ………………………………………………………………………..
    ……………………………………………………………………….
    ………………………………………………………………………..
    Các vế trong câu ghép được nối với nhau bằng cách:………………..
    ………………………………………………………………………

    Ví dụ 5: Dấu câu

    Các mức độ
    nhận thức
    Ví dụ minh họa
    Nhận biết (nhớ
    lại tác dụng của
    các dấu câu,
    1. Ghi tiếp vào chỗ trống để có những câu trả lời đúng:
    Dấu hai chấm dùng để:
    – Báo hiệu lời tiếp theo là………………………………………..

    15

    nhận diện các
    dấu câu)
    Ví dụ: Lan hỏi tôi: “Hôm nay, cậu được mấy điểm?”
    – Báo hiệu lời tiếp theo là ……………………………………….
    Ví dụ: Cảnh vật xung quanh tôi đang có sự thay đổi lớn: hôm
    nay tôi đi học.
    – Báo hiệu lời tiếp theo là………………………………………
    Ví dụ: Trên bàn có rất nhiều thứ: vở, bút, sách, thước kẻ………
    Thông hiểu
    (nhận biết tác
    dụng của dấu câu
    trên ngữ liệu
    mới)
    1. Dấu hai chấm trong câu văn sau có tác dụng gì?
    Người cha muốn người con có những phẩm chất sau:
    – Làm người chính trực – Yêu cuộc sống
    – Tin tưởng vào bản thân mọi người
    A. Dẫn lời nói của nhân vật
    B. Đánh dấu sự liệt kê.
    C. Đánh dấu sự giải thích.
    D. Ngăn cách các bộ phận trong câu.
    Vận dụng (minh
    họa tác dụng của
    dấu câu, điền dấu
    câu thích hợp
    trong đoạn văn,
    viết đoạn văn có
    sử dụng dấu câu
    theo yêu cầu, tìm
    các phương
    ánkhác nhau điền
    dấu câu cho đọan
    văn)
    1. Hoàn thành bảng sau:
    Tác dụng của dấu hai chấm Ví dụ1.Báo hiệu lời tiếp theo là lời
    nói của người khác được dẫn
    lại………………………………
    ………………………………
    ………………………………..2. Báo hiệu lời tiếp theo là lời
    giải thích, thuyết minh………………………………..
    ………………………………..3. Báo hiệu lời tiếp theo là sự
    liệt kê………………………………..2. Điền dấu phẩy hoặc dấu hai chấm vào chỗ chấm trong
    câu sau.
    Nói rõ vì sao em chọn dấu câu ấy:
    Rồi những cảnh tuyệt đẹp của đất nước hiện ra …. cánh đồng
    với những đàn trâu thung thăng gặm cỏ, dòng sông với những
    đoàn thuyền ngược xuôi.
    Dấu cần điền là:………………….. Vì………………………
    3. Điền dấu hai chấm vào chỗ nào trong câu sau:
    Mở gói quà Hà tròn mắt ngạc nhiên một con búp bê tuyệt đẹp.
    4. Hãy viết một đoạn văn kể lại cuộc nói chuyện giữa em với
    bạn về một bộ phim đã xem, trong đó có dùng dấu hai chấm,
    dấu ngoặc kép.
    5. Những dấu câu nào có thể điền vào câu “Trời sáng rồi”?
    Đáp án:
    Trời sáng rồi.
    Trời sáng rồi!

    16

    Trời! Sáng rồi!
    Trời sáng rồi?

    2.3. Vận dụng lí thuyết Bloom để xây dựng đề kiểm tra – đánh giá kết
    quả dạy học Luyện từ và câu
    2.3.1. Nguyên tắc thiết kế đề kiểm tra
    – Đề kiểm tra phải đảm bảo tính toàn diện: Đề phải kiểm tra được bao quát
    các kiến thức, kĩ năng trong đó chú trọng kiến thức trọng tâm, cơ bản nhất, thiết
    yếu nhất thường dùng trong đời sống thực tiễn.
    – Đề kiểm tra phải đảm bảo tính vừa sức: Đề kiểm tra phải bám sát và dựa
    trên chuẩn kiến thức, kĩ năng của đơn vị kiến thức. Nếu đề kiểm tra không bám
    chuẩn kiến thức, kĩ năng thì kết quả thu được có thể quá thấp hoặc quá cao so với
    yêu cầu, mục tiêu bài học.
    – Đề kiểm tra có tính phân loại học sinh: Nội dung các đề kiểm tra phải bao
    hàm đầy đủ các cấp độ nhận thức nhằm kích thích khả năng tư duy sáng tạo của
    học sinh, phân hóa học sinh. Tránh ra đề chỉ kiểm tra trí nhớ, kiểm tra thuộc lòng,
    học vẹt.
    – Đề kiểm tra có những câu hỏi, bài tập nhằm phát hiện ra những khó khăn,
    sai lầm phổ biến của học sinh, từ đó giáo viên sẽ có hướng điều chỉnh phương pháp
    dạy học sao cho phù hợp.
    – Đề kiểm tra phải có sự phối hợp giữa các hình thức kiểm tra đánh giá để
    đảm bảo độ khách quan, chính xác, đánh giá đúng kết quả học tập của học sinh.
    2.3.2. Quy trình thiết kế đề kiểm tra
    Bước 1: Xác định mục tiêu, nội dung của đề kiểm tra: phải căn cứ vào mục
    tiêu cụ thể của từng bài, từng chương để xác định mục tiêu và nội dung kiểm tra.
    Khi ra đề ở giai đoạn nào, giáo viên cần nắm vững nội dung kiến thức, kĩ năng ở
    giai đoạn đó.
    Bước 2: Xây dựng ma trận đề kiểm tra. Đó là một bảng với một chiều thường
    là nội dung các lĩnh vực kiến thức, kĩ năng cần đánh giá và một chiều là các mức
    độ nhận thức của học sinh (nhận biết, thông hiểu, vận dụng).
    Bước 3: Thiết kế các câu hỏi theo ma trận: Đó là các câu hỏi tự luận hay trăc
    nghiệm dựa trên ma trận đã thiết kế ở trên. Mức độ khó của câu hỏi căn cứ vào
    mục tiêu và nội dung cần đánh giá.
    Bước 4: Xây dựng đáp án và barem điểm: Theo quy chế của Bộ giáo dục.
    2.3.3. Thiết kế một số đề kiểm tra phân môn luyện từ và câu lớp 5
    ĐỀ KIỂM TRA GIỮA KÌ I
    ĐỀ 1: Thời gian: 30 phút
    I. Mục tiêu:
    Kiến thức:
    – Học sinh có một số kiến thức sơ giản về: Từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ
    đồng âm, từ nhiều nghĩa, đại từ.
    * Kĩ năng:
    17
    – Hoc sinh có kĩ năng xác định từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm, từ
    nhiều nghĩa, đại từ.
    – Xác định nghĩa của thành ngữ thuộc chủ điểm đã học.
    II. Ma trận đề kiểm tra

    Nội dung kiểm traNhận
    biết
    (câu)
    Thông
    hiểu
    (câu)
    Vận
    dụng
    (câu)
    Tổng số điểm
    1.Từ đồng nghĩa492
    2.Từ trái nghĩa7102
    3.Từ đồng âm8; 32
    4.Từ nhiều nghĩa51
    5. Nghĩa của thành ngữ11
    6. Đại từ2, 62
    Tổng số câu hỏi35210

    III. Nội dung đề kiểm tra:
    1. Khoanh vào chữ cái trước câu trả lời đúng:
    Thành ngữ “Dám nghĩ dám làm” khuyên chúng ta điều gì?( H)
    A. Cần phải làm tất cả những gì mà mình muốn.
    B. Cần phải suy nghĩ trước khi làm một việc gì đó.
    C. Cần phải mạnh dạn, táo bạo có nhiều sáng kiến và dám thực hiện sáng
    kiến.
    D. Phải suy nghĩ thấu đáo trước khi làm.
    2. Điền từ thích hợp vào chố trống: (NB)
    Đại từ là từ dùng để…………….…(1)…………hay để………(2)……..danh
    từ, động từ, tính từ ( hoặc cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ) trong câu cho
    khỏi lặp lại từ ngữ ấy.
    3. Dòng nào dưới đây gồm các cặp từ đồng âm? (H)
    A. Chân núi – chân bàn B. Câu thơ – cần câu
    C. Đi chơi – đi học D. Chạy bộ- chạy giặc
    4. Trong các từ dưới đây, từ nào không đồng nghĩa với ba từ còn lại?
    Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng: (H)
    A. mênh mông B. bát ngát C. thênh thang D. chất ngất
    5. Từ “ ăn” trong câu nào mang nghĩa gốc? Khoanh tròn vào chữ cái
    trước câu trả lời đúng:( H)
    A. Bạn Lan rất ăn ảnh.
    B.Rễ cây ăn sâu vào lòng đất.
    C.Hôm nay, nhà tôi ăn cơm muộn.
    D. Chiếc xe này ăn xăng lắm.
    18
    6. Trong câu văn sau có những đại từ nào? Khoanh tròn vào chữ cái
    trước câu trả lời đúng: (NB)
    Lan nói với Hoa: “Ngày mai, cậu và em gái cậu có đi xem phim không?”
    A. Lan, tôi B. Cậu, em gái C. Em gái, Lan D. Cậu
    7. Từ nào trái nghĩa với từ “chăm chỉ”? Khoanh tròn vào chữ cái trước
    câu trả lời đúng:( NB)
    A.Chăm làm B. Chăm sóc C. Lười biếng D. Cần cù
    8. Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng.Từ “ bò” trong câu:
    “Kiến bò đĩa thịt bò” là: ( NB)
    A. Từ đồng nghĩa B.Từ trái nghĩa C.Từ đồng âm D.Từ nhiều nghĩa
    9. Em hãy chọn một từ đồng nghĩa để điền vào chỗ trống trong câu văn
    sau để nói được sức quyến rũ mạnh mẽ của hương thơm. (VD)
    “Ai cũng muốn ngẩng lên cho thấy mùi ổi chín….qua mặt”
    Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng:
    A. phả B. bay C. chảy D. lướt
    10. Đặt câu có sử dụng một cặp từ trái nghĩa. (VD)
    ……………………………………………………………………………….
    Đáp án

    Câu12345678910
    Đáp
    án
    CXưng
    hô/ thay
    thế
    BDCDCCC

    ĐỀ 2: Thời gian: 30 phút
    I. Ma trận đề kiểm tra

    Nội dung kiểm traNhận
    biết
    (câu)
    Thông
    hiểu
    (câu)
    Vận
    dụng
    (câu)
    Tổng số
    điểm
    1.Từ đồng nghĩa792
    2.Từ trái nghĩa11
    3.Từ đồng âm51
    4.Từ nhiều nghĩa682
    5. Nghĩa của từ41
    6. Đại từ32
    7. Từ loại21
    Tổng số câu hỏi3429

    II. Nội dung kiểm tra
    19
    Đọc thầm bài sau rồi hoàn thành các bài tập:
    Việt Nam
    Việt Nam đẹp khắp trăm miền
    Bốn mùa một sắc trời riêng đất này.
    Xóm làng đồng ruộng rừng cây
    Non cao gió dựng sông đầy nắng chang.
    Xum xuê xoài biếc cam vàng
    Dừa nghiêng, cau thẳng hàng hàng nắng soi.
    Có nơi đâu đẹp tuyệt vời
    Như sông như núi như người Việt Nam.
    Đầu trời ngất đỉnh Hà Giang
    Cà Mau mũi đất mỡ màng phù sa.
    Trường Sơn chí lớn ông cha
    Cửu Long lòng mẹ bao la sóng trào.
    Mặt người sáng ánh tự hào
    Dáng đi cũng lấp lánh màu tự do.
    Bốn nghìn năm dựng cơ đồ
    Vạn năm từ thuở ấu thơ loài người.
    Ơi Việt Nam! Việt Nam ơi!
    Việt Nam ta gọi tên người thiết tha.
    Lê Anh Xuân
    Khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng:
    1. Từ nào trái nghĩa với từ “đẹp” trong câu “Có nơi đâu đẹp tuyệt vời”? (NB)
    A. Xinh B. xấu C. xinh tươi D. xấu xa
    2. Dòng nào dưới đây gồm các từ láy? (NB)
    A. bao la, thiết tha, mỡ màng, hàng hàng
    B. lấp lánh, thiết tha, mỡ màng, nghìn năm
    C. lấp lánh, thiết tha, mỡ màng, tự do
    D. lấp lánh, thiết tha, mỡ màng, dáng đi
    3. Trong hai câu thơ dưới đây có những đại từ nào? (H)
    Ơi Việt Nam! Việt Nam ơi!
    Việt Nam ta gọi tên người thiết tha .
    A. ta, người B. ta, người, Việt Nam
    C. ta, người, ông cha D. ta
    4. Em hiểu từ “cơ đồ” trong câu “Bốn nghìn năm dựng cơ đồ” nghĩa là gì?(H)
    A. sự nghiệp do cha ông ta xây dựng B. cuộc sống mới
    C. những công trình D. lịch sử dân tộc
    5. Từ “ vàng’’ trong câu “ Xum xuê xoài biếc cam vàng” và câu “ Giá vàng
    tăng rất nhanh” là: ( H)
    A. Từ đồng nghĩa B. Từ trái nghĩa
    C. Từ nhiều nghĩa D. Từ đồng âm
    6. Những từ in đậm trong dòng nào dưới đây là từ nhiều nghĩa? (H)
    A. Cà Mau mũi đất mỡ màng phù sa. / Chú mèo có cái mũi rất đẹp.
    20
    B. Đầu trời ngất đỉnh Hà Giang. / Everest là đỉnh núi cao nhất thế giới.
    C. Bốn nghìn năm dựng cơ đồ. /Năm nay, em lên 9 tuổi.
    D. Mặt người sáng ánh tự hào. / Bạn Lan có khuôn mặt bầu bĩnh.
    7. Từ nào dưới đây không đồng nghĩa với từ “mẹ” (trong câu “Cửu Long lòng
    mẹ bao la sóng trào”)? (NB)
    A. Má B. mế C. u D. tía
    8. Đặt câu có từ “ngọt” được dùng với các nghĩa sau: (VD)
    a. Nói nhẹ nhàng, dễ nghe: ………………………………………………
    b. Có vị của đường mật
    ……………………………………………………………………………
    8. Điền các từ đã cho trong ngoặc đơn dưới đây vào chỗ chấm sao cho phù
    hợp: (VD)
    (xanh, xanh ngắt, xanh mướt, xanh lam)
    Em rất yêu màu xanh: màu …………………………..của lá non,
    màu………………………..của trời cao, màu…………………….của nước biển
    những ngày đẹp trời, màu nào em cũng thấy đẹp.
    ĐỀ 3: Thời

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Sử dụng sơ đồ tư duy nâng cao hiệu quả trong giảng dạy môn tiếng việt lớp 4

    SKKN Sử dụng sơ đồ tư duy nâng cao hiệu quả trong giảng dạy môn tiếng việt lớp 4

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐẶT VẤN ĐỀ
    Chúng ta đang sống trong thế kỉ XXI, thế kỉ của sự bùng nổ tri thức khoa học và công
    nghệ. Để có thể vươn lên kịp thời đại, đất nước Việt Nam cần những con người lao động
    có tri thức, có tư duy sáng tạo. Tình hình đó đòi hỏi nền giáo dục nền giáo dục nước ta
    phải đổi mới một cách toàn diện.Để thực hiện được mục tiêu đổi mới giáo dục như trên
    chúng ta không thể không nói đến phương pháp dạy học tích cực.
    Dạy học theo hướng tích cực có ý nghĩa rất lớn đối với ngành giáo dục nói chung và bậc
    Tiểu học nói riêng. Dạy học theo hướng tích cực nhằm giúp học sinh phát huy khả năng tự
    học, sáng tạo mà qua đó còn giúp cho các em nắm vững kiến thức, phát huy khả năng hoạt
    động nhóm…
    Ở bậc tiểu học, môn Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng và cần thiết
    nhất. Môn Tiếng Việt chuẩn bị những hành trang trí tuệ, tâm hồn cho thế hệ trẻ bước vào
    cuộc sống tương lai. Song thực tế, trong quá trình giảng dạy môn Tiếng việt lớp 4, bản
    thân nhận thấy môn Tiếng Việt có lượng kiến thức dài, học sinh thường phải viết nhiều
    hơn các môn học khác nên vẫn còn một số học sinh có tâm lí “ngại học, ngại viết”, “học
    vẹt, học trước quên sau” từ đó ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy.
    Từ những lí do trên, bản thân tôi luôn trăn trở phải tìm ra phương pháp dạy học để
    giúp tất cả các học sinh hiểu bài nhanh, nắm vững nội dung kiến thức mà lại tạo hứng thú
    trong học tập. Vì thế tôi đã nghiên cứu và lựa chọn sáng kiến “Sử dụng sơ đồ tư duy
    nâng cao hiệu quả trong giảng dạy môn Tiếng việt lớp 4”.
    PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
    1. Thực trạng việc xây dựng và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học ở nhà trường
    1.1.Cơ sở lí luận
    a. Năng lực, phẩm chất của học sinh tiểu học
    Chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ hình thành và phát triển cho học sinh 5
    phẩm chất đáng quý giúp học sinh rèn luyện bản thân. Đó là:
    • Yêu nước: Đây là truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt Nam, được xây dựng và
    bồi đắp qua các thời kỳ từ khi ông cha ta dựng nước vàgiữ nước. Tình yêu đất
    nước được thể hiện qua tình yêu thiên nhiên, di sản, yêu người dân đất nước mình;
    tự hào và bảo vệ những điều thiêng liêng đó.
    2
    • Nhân ái: Nhân ái là biết yêu thương, đùm bọc mọi người; yêu cái đẹp, yêu cái
    thiện; tôn trọng sự khác biệt; cảm thông, độ lượng và sẵn lòng giúp đỡ người khác.
    • Chăm chỉ: Đức tính chăm học, chăm làm, hăng say học hỏi và nhiệt tình tham gia
    công việc chung sẽ giúp các em rèn luyện, phát triển bản thân để đạt được những
    thành công lớn lao trong tương lai.
    • Trung thực: Dù một người có giỏi đến đâu mà thiếu đi đức tính này thì vẫn là kẻ
    vô dụng.. Bởi thế nên ngay từ nhỏ, các học sinh cần được rèn luyện tính thật thà,
    ngay thẳng và biết đứng ra bảo vệ lẽ phải.
    • Trách nhiệm: Chỉ khi một người có trách nhiệm với những gì mình làm thì đó
    mới là khi họ trưởng thành và biết cống hiến sức mình cho một xã hội tốt đẹp hơn
    Trong chương trình giáo dục phổ thông mới các em học sinh không chỉ được
    phát triển 5 phẩm chất nêu trên mà còn được hình thành và phát triển 10 năng lực
    thiết yếu để từ đó phát huy và vận dụng tối đa khả năng của mình vào thực tiễn.
    10 năng lực đó được chia ra thành 2 nhóm năng lực chính là năng lực chung và
    năng lực chuyên môn.
    Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi, làm nền tảng
    cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống.Những năng lực chung sẽ được
    nhà trường và giáo viên giúp các em học sinh phát triển trong chương trình giáo dục
    phổ thông là:
    • Tự chủ và tự học
    • Kỹ năng giao tiếp và hợp tác nhóm với các thành viên khác.
    • Giải quyết vấn đề theo nhiều cách khác nhau một cách sáng tạo và triệt để.
    Năng lực chuyên môn là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ
    sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình
    hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt
    động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động. Đây cũng được
    3
    xem như một năng khiếu, giúp các em mở rộng và phát huy bản thân mình nhiều hơn.
    Các năng lực chuyên môn được rèn luyện và phát triển trong chương trình giáo dục
    phổ thông mới là:
    • Ngôn ngữ
    • Tính toán
    • Tin học
    • Thể chất
    • Thẩm mỹ
    • Công nghệ
    • Tìm hiểu tự nhiên và xã hội
    Đây chính là 5 phẩm chất và 10 năng lực mà chương trình giáo dục phổ thông mới
    chú trọng hình thành và phát triển các em học sinh, nhờ vậy mà học sinh phổ thông
    sẽ được phát triển toàn diện hơn
    4
    b. Dạy học theo hướng phát triển năng lực:
    Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn
    diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo
    dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội
    Thực hành, trải nghiệm đều là những phương thức học hiệu quả, gắn với vận động, với
    thao tác vật chất, với đời sống thực. Việc học thông qua làm, học đi đôi với hành và học từ
    trải nghiệm đều giúp người học đạt được tri thức và kinh nghiệm nhưng theo các hướng
    tiếp cận không hoàn toàn như nhau, trong đó trải nghiệm có ý nghĩa giáo dục cao nhất và
    có phần bao hàm cả làm và thực hành
    c.Sơ đồ tư duy
    Bản đồ tư duy còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy, là hình thức ghichép nhằm
    tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay mộtmạch kiến thức
    bằng cách kết hợp sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc,chữ viết với tư duy tích
    cực để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Đặc biệt sơ đồ tư duylà một sơ đồ mở, không yêu
    5
    cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽthêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người
    vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hìnhảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một
    chủ đề nhưng mỗi người có thể “thểhiện” nó dưới dạng sơ đồ tư duy theo một cách riêng,
    do đó việc lập sơ đồ tư duy phát huyđược tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người.
    Cơ chế hoạt động của sơ đồ tư duy là chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng
    lướiliên tưởng (các nhánh). Sơ đồ tư duy là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ
    vớinhau vì vậy có thể vận dụng sơ đồ tư duy vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố
    kiếnthức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương và giúp họcsinh
    hiểu bài, nhớ lâu, nhớ sâu.
    Lợi ích của sơ đồ tư duy:
    Việc ứng dụng và triển khai sơ đồ tư duy đã được áp dụng thành công từ nhiều thập kỷ, sơ
    đồ tư duy đã trở thành công cụ “vàng” giúp trẻ học tập hiệu quả và phát huy các năng lực,
    phẩm chất của người học ,cụ thể là :
    • Phẩm chất yêu nước
    • Phẩm chất nhân ái
    • Năng lực tư duy ngôn ngữ
    • Năng lực giải quyết vấn đề
    • Năng lực thẩm mĩ.
    1.2. Cơ sở thực tiễn
    a. Về giáo viên:
    Những năm trước đây, giáo viên chủ yếu tập trung làm những đồ dùng để phục vụ
    cho việc giảng dạy của giáo viên trước lớp, ít chú trọng đến các đồ dùng dành cho học sinh
    tự học.Chính điều đó đã hạn chế phần nào năng lực tự học, tự khám phá và lĩnh hội tri
    thức của các em.
    Hiện nay, nhà trường đã thay đổi hình thức dạy học theo mô hình trường học mới.
    Quá trình giáo dục chuyển từ việc dạy của giáo viên trước lớp sang việc tự học của học
    6
    sinh theo cá nhân và các nhóm học tập. Vì thế, một số đồ dùng giáo viên tự làm hoặc được
    cấp trước kia đã không còn phù hợp.
    Để phù hợp với quá trình đổi mới giáo dục hiện nay, trong những năm gần đây, giáo
    viên trường Tiểu học Nam Mỹ đã rất quan tâm đến việc làm những bộ đồ dùng dạy học đa
    năng đặc biệt là mô hình sơ đồ tư duy vừa có thể phục vụ cho việc giảng dạy của giáo viên
    vừa giúp học sinh tự học theo nhóm và cá nhân.
    b. Học sinh:
    Khả năng nắm bắt kiến thức, trí tưởng tượng khái quát hóa còn yếu, khả năng ghi nhớ của
    các em còn chậm trong khi hệ thống kiến thức của các môn học Tiếng Việt trong chương
    trình lớp 4 lại tương đối nhiều nên các em chỉ có thể ghi nhớ một cách máy móc (dễ nhớ
    nhưng lại mau quên).
    Đa phần các đồ dùng có sẵn hoặc được làm trước đây chủ yếu là để giáo viên giảng dạy
    chung cho cả lớp, học sinh ít được thao tác và trực tiếp sử dụng nên vẫn còn thụ động
    trong việc tiếp thu kiến thức, tinh thần hợp tác học chưa cao, nhiều em chưa hào hứng với
    việc học tập.
    Thực trạng về việc sử dụng sơ đồ tư duy trong lớp học
    Lớp đã xây dựng được một số sơ đồ tư duy nhưng hình thứcchưa phong phú.
    Trong một số tiết học, giáo viên ngại cho học sinh sử dụng sơ đồ tư duy.
    2. Biện pháp sử dụng sơ đồ tư duy nâng cao hiệu quả trong giảng dạy môn Tiếng Việt
    lớp 4
    Để sử dụng sơ đồ tư duy nâng cao hiệu quả trong việc giảng dạy lớp 4, tôi đã thực hiện
    như sau:
    Thứ nhất: Nghiên cứu bài học để xây dựng hệ thống sơ đồ tư duy phù hợp.
    Thứ hai: Xây dựng kế hoạch làm sơ đồ tư duy .
    Thứ ba: Hướng dẫn học sinh biết cách xây dựng sơ đồ tư duy
    Thứ tư: Hướng dẫn học sinh biết cách sử dụng sơ đồ tư duy
    Thứ năm :Sử dụng sơ đồ tư duy tùy theo nội dung từng bài học
    3. Thực nghiệm sư phạm
    3.1. Mô tả cách thực hiện
    Thứ nhất: Nghiên cứu nội dung các bài học môn Tiếng việt để xây dựng hệ thống sơ đồ
    tư duy phù hợp.
    7
    Thông thường thì đầu năm học, mỗi giáo viên trong khối sẽ nghiên cứu chương
    trình thuộc bộ môn mình giảng dạy để lập danh sách những đồ dùng cần làm.Sơ đồ tư duy
    cũng là một đồ dùng học tập vì vậykhối trưởng cùng với các giáo viên trong khối sẽ tiến
    hành họp tổ chuyên môn để thống nhất và hệ thống các sơ đồ tư duy cần làm.
    Thực tế cho thấy không phải bài học nào cũng có thể áp dụng hoặc sử dụng sơ đồ tư
    duy là đạt hiệu quả, mà nó cần sự phù hợp, linh hoạt nhất định.Việc lựa chọn bài học, nội
    dung, chủ đề, người thực hiện sơ đồ tư duy thể hiện tầm nhìn và kinh nghiệm của giáo
    viên trong dạy học. Qua nghiên cứu 10 chủ điểm trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 4,
    tôi nhận thấy có thể sử dụng sơ đồ tư duy vào trong các tiết dạy phân môn Tập đọc, Tập
    làm văn, Kể chuyện và Luyện từ và câu sẽ đạt hiệu quả cao nhất. Sau đây là một số bài
    trong 3 chủ điểm đầu tiên có thể sử dụng sơ đồ tư duy.

    STTPhân mônTên bài (Hoạt động)Nội dung
    1Tập đọcBài 1A: Thương người như thể
    thương thân – HĐCB2
    Tập đọc: Dế Mèn
    bênh vực kẻ yếu
    Bài 3A: Thông cảm và chia sẻ –
    HĐCB2
    Tập đọc: Thư thăm
    bạn
    Bài 3B: Cho và nhận – HĐCB2Tập đọc: Người ăn
    xin
    2Kể chuyệnBài 1B: Thương người, người
    thương – HĐTH2
    Kể câu chuyện “Sự
    tích hồ Ba Bể”
    Bài 2B: Cha ông nhân hậu tuyệt
    vời – HĐTH3
    Kể câu chuyện “Nàng
    tiên Ốc”
    Bài 4B: Con người Việt Nam –
    HĐTH5
    Kể câu chuyện “Một
    nhà thơ chân chính”
    Bài 4C: Người con hiếu thảo –
    HĐTH1
    Kể chuyện người con
    hiếu thảo
    Bài 5B: Đừng vội tin những lời
    ngọt ngào –HĐTH2
    Kể câu chuyện về
    người có lòng trung
    thực

    8

    Bài 6B: Không nên nói dối –
    HĐTH1
    Kể câu chuyện về
    lòng tự trọng
    Bài 6C: Trung thực – Tự trọng
    HĐTH2
    Kể câu chuyện “Ba
    lưỡi rìu”
    Bài 7B: Thế giới ước mơ –
    HĐTH4
    Kể câu chuyện “Lời
    ước dưới trăng”
    Bài 7C: Bạn mơ ước điều gì?-
    HĐTH1
    Kể câu chuyện theo
    trình tự thời gian
    Bài 8B: Ước mơ giản dị- HĐTH2Kể câu chuyện về ước
    Bài 8C: Kể chuyện theo trình tự
    thời gian, không gian – HĐTH2
    Kể câu chuyện “Ở
    vương quốc Tương
    Lai” theo trình tự
    không gian
    Bài 9B: Hãy biết ước mơ-
    HĐTH2
    Kể câu chuyện về ước
    3Tập làm vănBài 2B: Cha ông nhân hậu tuyệt
    vời – HĐCB8
    Tìm hiểu hành động
    của nhân vật trong
    truyện
    Bài 3C: Nhân hậu – Đoàn kết –
    HĐCB2, HĐCB3
    Văn viết thư
    4Luyện từ và câuBài 4C: Người con hiếu thảo –
    Sau HĐCB4
    Tổng hợp kiến thức
    về từ: Từ đơn, từ
    phức, từ ghép, từ láy
    Bài 5C: Ở hiền gặp lành – Sau
    HĐCB1
    Danh từ
    Bài 8A: Bạn sẽ làm gì nếu có
    phép lạ? – HĐCB6
    Cách viết tên người,
    tên địa lí nước ngoài
    Bài 8C: Kể chuyện theo trình tự
    thời gian, không gian – HĐCB2
    Tác dụng dấu ngoặc
    kép

    9
    Thứ hai: Xây dựng kế hoạch làm sơ đồ tư duy .
    Sau khi đã bàn bạc và thống nhất các sơ đồ tư duy cần làm trong môn Tiếng việt lớp 4, tôi
    cùng với tổ khối xây dựng kế hoạch làm sơ đồ tư duy để phân công công việc cụ thể cho
    từng giáo viên cũng như giúp giáo viên hiểu rõ hơn về mục đích, yêu cầu của việc làm sơ
    đồ tư duy.
    Thứ ba: Hướng dẫn học sinh biết cách xây dựng sơ đồ tư duy
    Sơ đồ tư duy sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc,chữ viết vì thế có nhiều hình
    thức khác nhau .Sau khi nghiên cứu và lập kế hoạch xây dựng sơ đồ tư duy, giáo viên cùng
    hội phụ huynh đã tiến hành làm một số sơ đồ tư duy mẫu cùng các thẻ từ phục vụtrong quá
    trình giảng dạy.
    10
    Tuy nhiên để tạo sự hứng thú và phát huy các hết khả năng sáng tạo của học sinh
    giáo viên giới thiệu thêm một số sơ đồ tư duy với hình thức đa dạng, phong phú hơn.
    11
    12
    13
    14
    Sau khi giới thiệu một số sơ đồ tư duy mẫu, giáo viên tiến hành hướng dẫn học sinh
    cách xây dựng một sơ đồ tư duy gồm 6 bước:
    Bước 1:Chuẩn bị
    – Giấy trắng
    – Bút chì, bút màu
    – Ý tưởng về vấn đề em cần ghi nhớ
    Bước 2:Xác định từ khóa, chủ đề trung tâm
    Bước 3: Vẽ chủ đề ở trung tâm
    -Chủ đề trung tâm là trọng tâm của vấn đề nên cần vẽ chủ đề ở chính giữa tờ giấy.
    Có thể tự do sử dụng tất cả các màu sắc mà học sinh thích, chủ đề trung tâm có thể là chữ
    hoặc là hình, nếu kết hợp cả 2 thì càng tốt
    – Chủ đề trung tâm cần gây sự chú ý để chúng ta dễ nhìn nhận vấn đề, do đó, học
    sinh nên vẽ to, rõ ràng, sử dụng từ ngữ ngắn gọn, súc tích.
    Bước 4: Vẽ các nhánh chính và viết từ khóa cho mỗi nhánh chính
    Các nhánh chính là các ý chính của vấn đề. Học sinh nên vẽ thứ tự các ý cần ghi nhớ theo
    chiều kim đồng hồ, mỗi nhánh là một màu riêng biệt.
    Từ khóa cần ngắn gọn và mang tính chất gợi ý.
    Bước 5: Vẽ các nhánh phụ
    Nhánh phụ là các nhánh được vẽ ra từ nhánh chính và nhỏ hơn nhánh chính.
    Học sinh nên vẽ nhánh phụ là đường cong, như thế sẽ làm cho sơ đồ tư duy nhìn
    mềm mại, uyển chuyển và dễ nhớ hơn.
    Bước 6: Thêm các hình ảnh minh họa và hoàn thiện sơ đồ tư duy
    Ở bước này, giáo viên nên để trí tưởng tượng của học sinh bay bổng hơn bằng cách
    thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như lưu chúng vào trí
    nhớ tốt hơn vì não bộ của con người có khả năng tiếp thu hình ảnh cao hơn chữ viết.
    Qua việc xây dựng sơ đồ tư duy, chúng ta thấy rằng, chỉ có sử dụng sơ đồ tư duy
    mới phát triển tối ưu các năng lực phẩm chất cho học sinh. Học sinh thỏa sức sáng tạo các
    15
    hình thức sơ đồ tu duy, bồi dưỡng phẩm chất yêu nước, lòng nhân ái, yêu thiên nhiên,…
    Qua đó phát huy học sinh năng lực thẩm mỹ cho học sinh.
    Thứ tư: Hướng dẫn học sinh biết cách sử dụng sơ đồ tư duy
    Khi học sinh nắm được các bước xây dựng sơ đồ tư duy, tôi hướng dẫn các em cách sử
    dụng sơ đồ tư duy theo 4 bướcnhư sau:
    Bước 1: Học sinh lập SĐTD theo nhóm hay cá nhân với gợi ý, hướng dẫn củagiáo viên.
    Bước 2: Học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo, trình bàyvề SĐTD của
    nhóm mình..
    Bước 3: Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện SĐTD về kiến thứccủa bài
    học đó. Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnhSĐTD, từ đó
    dẫn dắt đến kiến thức của bài học.
    – Bước 4: Củng cố kiến thức bằng một SĐTD mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn hoặcmột
    BĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho học sinh lên trình bày về kiến
    thức đó.
    Khi củng cố kiến thức giáo viên hướng dẫn HS hệ thống kiến thức bài học bằng sơ đồ tư
    duy
    16
    Giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng sơ đồ tư duy
    Ví dụ :Dạy bài 3C: Nhân hậu – Đoàn kết ở HĐ2:Tìm hiểu về cách viết một bức thư
    Mục tiêu ở hoạt động này là học sinh phải nắm được cách viết một bài văn viết thư. Vì
    vậy khi dạy hoạt động này chúng ta hướngdẫn học sinh hoạt động nhóm thiết lập SĐTD
    với “từ khóa” là “Văn viết thư”. Từ đó xậy dựng kiến thứccủa từng nội dung lớn, nhỏ.
    Việc làm này giúp học sinh tư duylựa chọn kiến thức để lập và phát triển thêm.
    Hoạt động 1: Lập SĐTD
    Bước 1: Chuẩn bị đồ dùng
    Bước 2: Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm trả lời câu hỏi trong sách hướng
    dẫn trang 37,38, xác định chủ đề là“Văn viết thư”
    Bước 3: Vẽ chủ đề trung tâm
    Bước 4: Học sinh xác định 3 nhánh chính: phần đầu thư, phần chính, phần cuối thư
    Bước 5: Triển khai các nhánh phụ từ nhánh chính
    Phần đầu thư: Địa điểm, thời gian
    Lời thưa gửi
    Phần chính: Mục đích, lí do
    Thăm hỏi người nhận thư
    Thông báo tình hình người viết thư
    Bày tỏ ý kiến
    Phần cuối thư: Lời chúc, cảm ơn
    Kí tên
    +Bước 6: Trang trí hoàn thiện sơ đồ tư duy
    17
    Học sinh lập sơ đồ tư duy
    Hoạt động 2: Báo cáo, thuyết minh về SĐTD.
    Cử đại diện của các nhóm lên báo cáo, thuyết minh về SĐTD của nhómmình . Qua hoạt
    động này giáo viên nắm được việc hiểu kiến thức, kỹnăng giao tiếp, hợp tác, tinh thần học
    tập của học sinh, từ đó giáo viên vừa bổ sung kiến thức, vừa rèn cho các em khả năng
    thuyết trình trước đông người, phát triển năng lực ngôn ngữ .Đây cũng là một trong những
    điểm cần rèn luyện của học sinh hiệnnay đó là (kỹ năng sống).
    18
    Học sinh thuyết minh về sơ đồ tư duy
    Hoạt động 3: Thảo luận, chỉnh sửa, hoàn thiện sơ đồ tư duy.
    Tổ chức cho học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện sơ đồ tư duy về bài văn
    viết thư . (giáo viên sẽ là ngườicố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh sơ đồ tư duy).
    Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một sơ đồ tư duy.
    Giáo viên cho học sinh lên trình bày cấu tạo một bài văn viết thư trên sơ đồ tư duy mà
    cácem vừa thiết kế và cả lớp đã chỉnh sửa, hoàn thiện.
    19
    Sơ đồ tư duy hoàn chỉnh cho bài văn viết thư
    Như vậy, việc sử dụng sơ đồ tư duy đã giúp bồi dưỡng cho học sinh các năng lực chung
    và năng lực chuyên môn cụ thể là học sinh biết giao tiếp, hợp tác với các bạn để hoàn
    thành sơ đồ tư duy.Việc hợp tác làm việc nhóm giúp học sinh có tinh thần trách nhiệm
    hơn, rèn đức tính chăm chỉ, chăm học ở các em. Ngoài ra, học sính mạnh dạn chia sẻ ý
    kiến của mình, tự tin trước đám đông để phát triển năng lực ngôn ngữ.
    Thứ năm :Sử dụng sơ đồ tư duy tùy theo nội dung từng bài học
    Sơ đồ tư duy được mệnh danh “công cụ vạn năng cho bộ não”, là phương pháp ghi chú
    đầy sáng tạo. Chính vì vậy, sơ đồ tư duy được sử dụng đa dạng trong các phân môn của
    môn Tiếng Việt .Cụ thể như sau:
    a.Sử dụng sơ đồ tư duy trong phân môn Tập đọc
    Đối với phân môn tập đọc thì kiến thức trọng tâm là nội dung của văn bản chính vì vậy
    trong các tiết học tôi thường sử dụng sơ đồ tư duy trong các hoạt động tìm hiểu nội dung
    bài học.Việc chốt kiến thức bằng hình thức sơ đồ tư duy , tôi thấy học sinh nắm chắc kiến
    thức hơn và đặc biệt khả năng ghi nhớ hiệu quả hơn rất nhiều.
    Ví dụ: Ở bài 30A: Vòng quanh trái đất, tối sử dụng sơ đồ tư duy để chốt ý và nêu bật
    nội dung bài học
    20
    b. Sử dụng sơ đồ tư duy trong phân môn Luyện từ và câu
    Với các tiết luyện từ và câu, hoạt động tìm hiểu kiến thức và vận dụng kiến thức hoàn
    thành bài tập đều rất quan trọng nên tôi thường tập trung cho học sinh sử dụng sơ đồ tư
    duy ở các bước rút ra ghi nhớ bài học hoặc củng cố kiến thức.
    Ví dụ 1: Bài 30C: Nói về cảm xúc của em, ở hoạt động tìm hiểu về câu cảm, tôi đã giúp
    các em ghi nhớ bằng cách đưả một sơ đồ tư duy. Kết quả học sinh nhớ bài rất nhanh và
    vận dung làm bài tốt.
    21
    Ví dụ 2 :Bài 5C: Ở hiền gặp lành ở HĐCB1: Tìm hiểu về danh từ. Học sinh thực hiện các
    bước sau:
    Bước 1:Học sinh xếp được các từ chỉ sự vật vào 5 cột theo bảng nhóm trong sách hướng
    dẫn
    Bước 2: Giáo viên yêu cầu học sinh lên bảng hoàn thành sơ đồ tư duy với chủ đề là “Danh
    từ”. Các nhóm còn lại tự vẽ sơ đồ tư duy.
    Bước 3: Đại diện nhóm lên trình bày sơ đồ tư duy
    Bước 4: Các nhóm và cô giáo nhận xét, hoàn thiện sơ đồ tư duy
    Bước 5: Từ sơ đồ tư duy học sinh hiểu được: Danh từ là từ chỉ sự vật (người, vật, con vật,
    cây cối, hiện tượng…)
    22
    Học sinh lập sơ đồ tư duy theo nhóm
    23
    Hay khi học sinh được học về từ đơn, từ phức, từ gh

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số biện pháp rèn phát âm chuẩn cho học sinh góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Tập đọc lớp 3

    SKKN Một số biện pháp rèn phát âm chuẩn cho học sinh góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn Tập đọc lớp 3

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Tiếng việt là môn học có tầm quan trọng đặc biệt trong Chương trình giáo
    dục phổ thông nói chung, bậc tiểu học nói riêng.
    Giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu với các
    biểu hiện cụ thể: yêu thiên nhiên, gia đình, quê hương; có ý thức đối với cội nguồn;
    yêu thích cái đẹp, cái thiện và có cảm xúc lành mạnh; có hứng thú học tập, ham
    thích lao động; thật thà, ngay thẳng trong học tập và đời sống; có ý thức thực hiện
    trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội và môi trường xung quanh.
    Giúp học sinh bước đầu hình thành các năng lực chung, phát triển năng lực
    ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe với mức độ căn bản: đọc đúng,
    trôi chảy văn bản; hiểu được nội dung, thông tin chính của văn bản.
    Đây là môn học công cụ với nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những kiến
    thức cơ bản về tiếng mẹ đẻ, rèn cho các em kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong nghe,
    nói, đọc, viết. Trong đó, phân môn Tập đọc là một phân môn quan trọng góp phần
    hình thành kĩ năng đọc cho học sinh-một trong bốn kĩ năng cơ bản mà học sinh
    tiểu học cần đạt tới. Khi học sinh đọc tốt thì các em mới có thể chiếm lĩnh
    được kiến thức môn Tiếng việt nói riêng, các môn học cấp tiểu học nói chung một
    cách chắc chắn, làm cơ sở để các em học cấp học kế tiếp.
    Bên cạnh đó, phân môn Tập đọc còn giúp cho học sinh không chỉ đọc đúng
    mà còn hiểu đúng nội dung từng bài đọc, thích đọc. Từ đó học sinh trau dồi được
    vốn ngôn ngữ trong giao tiếp và học tập. Học sinh đọc tốt sẽ giúp các em hiểu biết
    rộng hơn, sâu hơn, suy nghĩ một cách lôgic hơn, các em dễ dàng tiếp thu được cái
    hay, cái đẹp của tiếng Việt, hướng tới các em lòng yêu cái thiện, giúp cho các em
    có đầy đủ các phẩm chất và năng lực, góp phần hình thành nhân cách học sinh.
    Như vậy, trọng tâm của phân môn Tập đọc lớp 3 giúp học sinh:
    – Kĩ thuật đọc: Đọc đúng và bước đầu biết đọc diễn cảm các đoạn văn miêu
    tả, câu chuyện , bài thơ; tốc độ đọc khoảng 70 – 80 tiếng trong 1 phút. Biết nghỉ hơi
    ở chỗ có dấu câu hay chỗ ngắt nhịp thơ. Đọc theo ngữ điệu phù hợp với vai được
    phân trong một đoạn đối thoại có hai hoặc ba nhân vật. Đọc hiểu được các dạng
    văn bản.
    – Đọc hiểu các dạng văn bản (văn bản văn học và văn bản thông tin):
    + Văn bản văn học: Nhận biết được chi tiết và nội dung chính. Hiểu được
    nội dung hàm ẩn của văn bản với những suy luận đơn giản. Tìm được ý chính của
    từng đoạn văn dựa trên các câu hỏi gợi ý. Hiểu được điều tác giả muốn nói qua văn
    bản dựa vào gợi ý. Nhận biết được điệu bộ, hành động của nhân vật qua một số từ
    4
    ngữ trong văn bản. Nhận biết được thời gian, địa điểm và trình tự các sự việc
    trong câu chuyện. Lựa chọn một nhân vật trong tác phẩm đã học hoặc đã đọc, nêu
    tình cảm và suy nghĩ về nhân vật đó. Trong 1 năm học, đọc tối thiểu 35 văn bản văn
    học (bao gồm văn bản được hướng dẫn đọc trên mạng Internet) có thể loại và độ
    dài tương đương với các văn bản đã học. Thuộc lòng được ít nhất 8 đoạn thơ, bài
    thơ hoặc đoạn văn đã học; mỗi đoạn thơ, bài thơ, đoạn văn có độ dài khoảng 60 chữ.
    + Văn bản thông tin: Đọc và trả lời được: Văn bản viết về cái gì và có những
    thông tin nào đáng chú ý? Tìm được ý chính của từng đoạn trong văn bản. Nhận
    biết được một số loại văn bản thông tin thông dụng, đơn giản qua đặc điểm của
    văn bản: văn bản thuật lại một hiện tượng gồm 2 – 3 sự việc, văn bản giới thiệu một
    đồ vật, thông báo ngắn, tờ khai đơn giản. Nhận biết được cách sắp xếp thông tin
    trong văn bản theo trật tự thời gian. Nhận biết được thông tin qua hình ảnh, số liệu
    trong văn bản. Trong 1 năm học, đọc tối thiểu 18 văn bản thông tin (bao gồm văn
    bản được hướng dẫn đọc trên mạng Internet) có kiểu văn bản và độ dài tương
    đương các văn bản đã học.
    Việc rèn đọc cho học sinh có vị trí vô cùng quan trọng, là vấn đề cấp thiết
    đòi hỏi mỗi giáo viên cần xác định rõ yêu cầu, nhiệm vụ và vận dụng một cách linh
    hoạt, sáng tạo việc rèn đọc trong quy trình một tiết tập đọc nhằm mang lại hiệu quả cao.
    Qua thực tế dạy lớp 3, tôi nhận thấy kỹ năng đọc của học sinh chưa đồng
    đều. Một số học sinh đọc chưa đúng kĩ thuật đọc, phát âm chưa đúng do lỗi phát
    âm theo địa phương, đọc chưa đúng tốc độ. Một số giáo viên chưa chú trọng đến
    dạy cho học sinh kĩ thuật đọc đúng, chưa tìm ra biện pháp dạy môn tập đọc để
    nâng cao hiệu quả giờ dạy.
    Xuất phát từ những lí do trên, tôi nghiên cứu đưa ra “Một số biện pháp rèn
    phát âm chuẩn cho học sinh góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy phân môn
    Tập đọc lớp 3” để giúp giáo viên dạy phân môn Tập đọc lớp 3 đạt hiệu quả cao
    hơn. Vì điều kiện thời gian, trong báo cáo này tôi chỉ đề cập đến một số giải pháp
    nâng cao chất lượng nội dung hướng dẫn học sinh về kĩ thuật đọc đúng còn nội
    dung đọc hiểu tôi chưa đề cập tới.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KĨ THUẬT
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    1.1. Những thuận lợi
    – Trường Tiểu học Liêm Hải luôn nhận được sự chỉ đạo kịp thời của Phòng
    GD-ĐT Trực Ninh, sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương.
    Trường chúng tôi nhiều năm liền đạt danh hiệu trường tiên tiến và tiên tiến xuất sắc
    của huyện. Năm học 2019-2020 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2, Kiểm định
    chất lượng cấp độ 3, chuẩn xanh- sạch- đẹp- an toàn và Thư viện tiên tiến.
    5
    – Chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường luôn ổn định và đứng tốp
    đầu của huyện.
    – Đội ngũ giáo viên nhà trường có trình độ chuyên môn vững vàng, đều đạt
    chuẩn và trên chuẩn, được dự học tập, bồi dưỡng chuyên môn phục vụ cho việc
    giảng dạy.
    – Học sinh hiếu học, chăm ngoan, lễ phép, luôn ý thức vươn lên đạt thành tích
    cao trong học tập và rèn luyện. Học sinh lớp 3 học phân môn Tập đọc trên cơ sở kế
    thừa phân môn Tập đọc lớp 2 nên học sinh quen cách học.
    – Lớp 3D do tôi chủ nhiệm luôn nhận được sự quan tâm ủng hộ, hỗ trợ về cơ
    sở vật chất của nhà trường, đặc biệt là cha mẹ học sinh đã trang bị đầy đủ các thiết
    bị như: máy tính, ti vi màn hình lớn có kết nối internet và các đồ dùng khác phục
    vụ cho hoạt động dạy và học đạt kết quả tốt.
    1.2. Những khó khăn
    1.2.1. Về nhận thức
    – Bên cạnh những kết quả trên vẫn còn một số giáo viên, trong đó có một số
    giáo viên dạy các môn chuyên nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của phân
    môn tập đọc nên còn coi nhẹ việc rèn đọc cho học sinh trong môn Tiếng Việt và trong
    tất cả các môn học khác hay trong các hoạt động giáo dục trong nhà trường.
    – Nhận thức của cha mẹ học sinh chưa chú trọng đến việc rèn đọc cho con
    em mình mà chỉ quan tâm đến việc giúp các em giải các bài toán hoặc viết văn
    hay,..
    – Một số học sinh chưa thực sự yêu thích môn Tiếng Việt, lười đọc sách, kĩ
    năng đọc chưa tốt.
    1.2.2. Về năng lực chuyên môn: Một số giáo viên thực hiện quy trình tiết tập
    đọc còn nhiều cứng nhắc, chưa linh hoạt trong việc sử dụng phương pháp và kĩ
    thuật dạy học hiệu quả các tiết học còn hạn chế.
    1.2.3. Học sinh
    – Trình độ của học sinh không đồng đều nên việc tiếp thu kiến thức rất khó khăn.
    + Lỗi phát âm theo phương ngữ địa phương:
    Tiếng có phụ âm đầu l/n: Học sinh rất hay phát âm sai phụ âm đầu l/ n.
    Ví dụ: “long lanh” thì đọc là “nong nanh”
    Các lỗi về vần: Các tiếng có vần uyên, uyêt học sinh thường đọc sai. Ví dụ:
    quyết đọc là quết; khuyên đọc là khuên hoặc quên đọc là quyên,..
    6
    – Đọc chậm học sinh ngắt, nghỉ hơi khi đọc câu chưa hợp lí: Một số học sinh
    chưa ngắt hơi sau những tiếng có dấu phẩy hay chưa biết cách ngắt hơi khi đọc
    những câu văn dài.
    – Học sinh đọc đúng văn bản song đọc chưa hay,chưa diễn cảm: Một số em
    chưa biết nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả, gợi cảm. Ngoài ra học sinh còn chưa
    xác định đúng giọng đọc trong bài.
    – Còn nhiều học sinh đọc bài với tốc độ chưa phù hợp, có em đọc quá nhanh
    nhưng có em lại đọc quá chậm.
    1. 3. Khảo sát chất lượng phân môn tập đọc lớp 3D ( tháng 9/20120)
    Tôi đã kiểm tra học sinh đọc thành tiếng một số bài tập đọc trong sách
    hướng dẫn Tiếng Việt lớp 3 và kết quả đạt được như sau:

    Mô tảĐọc rành
    mạch, đúng tốc
    độ, biết diễn
    cảm
    Đọc đúng, đọc
    trôi chảy, đọc
    đúng tốc độ
    Đọc chậm
    chưa đúng tốc
    độ, ngắt nghỉ
    hơi chưa phù
    hợp
    Đọc sai tiếng có
    phụ âm đầu 1/n,
    tiếng chứa vần
    uyên/uyêt
    Chưa yêu thích
    phân môn TĐ
    Số học
    sinh
    5/35=14,3%15/35=42,915/35=42,915/35=42,915/35=42,9

    Qua bài khảo sát đầu năm tôi thấy chất lượng phân môn tập đọc các em còn
    thấp. Nhiều học sinh phát âm còn lẫn lộn, học sinh còn đọc yếu, chưa đúng tốc độ,
    sai phụ âm và đọc không rành mạch. Tôi đã đã vận dụng và đổi mới các phương
    pháp dạy học song phân môn tập đọc kết quả chưa cao như mong muốn. Chính vì
    vậy bản thân tôi rất băn khoăn và trăn trở, tôi đã đưa ra biện pháp nhằm nâng cao
    chất lượng giảng dạy phân môn Tập đọc.
    2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến
    Trong năm học 2020-2021, tôi tiếp tục bổ sung, điều chỉnh tính thực thi của
    sáng kiến, bổ sung các biện pháp, giải pháp một cách cụ thể hơn, chi tiết hơn để
    nâng cao chất lượng phân môn Tập đọc.
    – Rèn đọc cho học sinh giáo viên không thể nóng vội mà phải hết sức bình
    tĩnh, nhẹ nhàng, tỉ mỉ, nhưng cũng rất cương quyết để hình thành cho các em có
    thói quen và niềm say mê đọc sách. Rèn cho các em đức tính chịu khó, cẩn thận
    trong khi luyện đọc. Làm tốt việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 3 sẽ góp phần
    vô cùng quan trọng để phát triển trí tuệ cho các em một cách tổng hợp. Từ đó các
    em sẽ có một nền tảng vững chắc để học các môn học khác và tiếp tục học lên các
    lớp trên.
    7
    – Khi dạy phân môn Tập đọc người giáo viên cần chú ý coi trọng quan điểm
    dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, lấy học sinh làm
    trung tâm.
    – Giáo viên cần xây dựng nền nếp học tập cho học sinh ngay từ đầu năm học.
    – Giáo viên cần chú ý đến công tác chuẩn bị tốt cho các tiết học.
    Một số biện pháp
    2.1. Rèn kĩ năng đọc đúng cho học sinh
    * Đối với giáo viên
    – Để rèn luyện cho học sinh phát âm chuẩn giáo viên phải phát âm thật chuẩn
    mực ở mọi nơi, mọi lúc. Trong các tiết tập đọc giáo viên phải hướng dẫn học sinh
    phát hiện lỗi và sửa lỗi cho học sinh một cách triệt để. Giáo viên cần nắm được cụ
    thể học sinh nào hay phát âm sai và sai ở chỗ nào để kịp thời sửa chữa.
    * Đối với học sinh
    – Rèn cho học sinh có ý thức nói và đọc thật đúng, chuẩn. Tôi luôn luôn nhắc
    nhở các em rèn đọc đúng không chỉ trong các tiết rèn đọc mà cả trong các giao tiếp
    hàng ngày.
    2.1.1 Rèn phát âm đúng từ chứa tiếng khó
    – Hướng dẫn học sinh phát hiện lỗi và sửa lỗi cho học sinh. Giáo viên cần
    nắm được cụ thể học sinh nào hay phát âm sai và sai ở chỗ nào để kịp thời sửa chữa.
    – Rèn cho học sinh có ý thức nói và đọc thật đúng, chuẩn. Luôn luôn nhắc
    nhở các em rèn đọc đúng không chỉ trong các tiết rèn đọc mà cả trong các giao tiếp
    hàng ngày.
    – Trong các giờ Tập đọc giáo viên gọi học sinh đọc khá, tốt đọc bài và yêu
    cầu các em đọc thầm theo, tìm những tiếng khó đọc, các phụ âm hay đọc sai. Gọi
    học sinh phát hiện, đánh giá lẫn nhau và các em sửa lỗi cho nhau, giúp đỡ nhau
    cùng tiến bộ. Từ đó các em có ý thức thi đua đọc đúng, phát âm chuẩn. Ngoài ra
    giáo viên kết luận và sửa lại cách phát âm cho các em khi thật cần thiết. Chẳng
    hạn, để sửa được lỗi phát âm các tiếng có vần “ uyên”, uyêt” cho các em trước tiên
    tôi phải phân tích tiếng, vần cho các em sự khác biệt về cấu tạo giữa hai vần “
    uyên” và “uên”, “ uyêt” và “ uêt ”; tập cho học sinh quan sát cách phát âm (khẩu
    hình), lời nói của giáo viên, của bản thân mình để từ đó các em đọc, nói cho đúng..
    – Thông qua buổi sinh hoạt chuyên môn tôi cũng đưa ra ý kiến để kết hợp
    với các thầy cô giáo bộ môn rèn cho các em phát âm đúng.
    – Thông qua buổi họp phụ huynh đầu năm giáo viên đưa ra tầm quan trọng
    cả phân môn tập đọc để từ đó kết hợp với phụ huynh rèn các em phát âm đúng
    ngay cả khi ở nhà.
    Ví dụ:
    8
    Trong lớp có nhiều em khi đọc luôn phát âm sai âm “n” thành “l”. quyết đọc
    là quết; khuyên đọc là khuên hoặc quên đọc là quyên tôi đã tổ chức cho các em thi
    hái hoa dân chủ tìm những tiếng có phụ âm “l” hoặc là “n” hoặc tìm từ chứa tiếng
    khuyên, quyết, quên, quyên để các nói cho quen.
    2.1.2. Rèn đọc đúng câu, đoạn văn
    Để đọc đúng, đọc hay các câu văn dài, giáo viên phải nói đến tốc độ và tư
    thế khi đọc, tức là rèn đọc to, đọc rõ ràng. Trong các giờ tập đọc giáo viên chú ý
    nhận xét sửa sai cho học sinh về cách đọc thật cụ thể để làm cơ sở cho việc đọc bài
    mới được tốt hơn. Khi đọc nối tiếp câu phát hiện ra học sinh nào chưa đúng cần
    sửa ngay.
    Khi đọc nối tiếp đoạn tôi nên cho các em một số câu hỏi gợi mở để các em
    thảo luận tìm ra cách đọc cho mỗi đoạn (hoặc giọng đọc của các nhân vật) sau đó
    giáo viên sẽ là người chốt lại cách đọc. Khi đọc đoạn gọi một học sinh đọc, gọi học
    sinh nhận xét bạn và đọc lại, chú ý đọc ngắt, nghỉ và nhấn giọng ở các từ ngữ gợi
    tả, gợi cảm cho phù hợp.
    Ví dụ:
    Bài “Cậu bé thông minh”- Tiếng Việt 3. Sau đây là cách đọc một số câu:
    Ngày xưa,/ có một ông vua muốn tìm người tài ra giúp nước.// Vua hạ lệnh
    cho mỗi làng trong vùng nọ/ nộp một con gà trống biết đẻ trứng,/ nếu không có thì
    cả làng phải chịu tội.// ( giọng đọc chậm rãi).
    Cậu bé kia,/ sao dám đến đây làm ầm ĩ ? // (đọc với giọng oai nghiêm).
    Thằng bé này láo, / dám đùa với trẫm! / Bố ngươi là đàn ông thì đẻ sao được?//
    (giọng bực tức, lên giọng ở cuối câu).
    Muôn tâu, / vậy sao Đức vua lại hạ lệnh cho làng con/ phải nộp gà trống biết
    đẻ trứng ạ? // (Đọc với giọng thể hiện sự lễ phép, bình tĩnh, tự tin).
    – Giáo viên cho học sinh đọc nối tiếp đoạn, yêu cầu cả lớp lắng nghe và tìm
    câu dài, khó đọc.
    Giáo viên tổ chức cho học sinh nhận xét thông qua hệ thống câu hỏi gợi ý:
    Em nào có ý kiến khác? Bạn đọc như thế nào? … Mời một vài em đọc lại.
    Học sinh đọc và ngắt hoặc nghỉ hơi để các bạn khác nhận xét bổ sung và
    giáo viên thống nhất cách đọc.
    Nhằm luyện kĩ năng đọc thầm và tập trung theo dõi người khác đọc để phối
    hợp nhịp nhàng khi đọc lời nhân vật tôi cho học sinh thi đọc phân vai. Với bài tập
    đọc có lời nhân vật tôi thường dành 2 – 3 phút cho các em thi đọc.
    9
    – Giáo viên chia lớp thành các nhóm. Yêu cầu các em đọc theo hình thức
    phân vai. Giáo viên mời 1 nhóm đọc trước lớp, cả lớp lắng nghe và nhận xét cách
    đọc của từng nhân vật sau đó 2 đến 3 nhóm thi đọc để chọn ra nhóm, cá nhân đọc
    hay nhất.
    Trong giờ dạy giáo viên cũng đừng quên nhận xét, tuyên dương, khen ngợi
    những em đọc tốt để khuyến khích các em đọc tốt hơn nữa ở những tiết học sau.
    2.1.3 Rèn đọc lưu loát, trôi chảy toàn bài
    Với những em đọc kém giáo viên cũng nên cho những em học sinh này
    luyện đọc cá nhân nhiều lần, đọc cả yêu cầu bài tập hoặc nội dung ở những môn
    học khác như Toán, Tập làm văn, Luyện từ và câu,…
    Qua mỗi lần tiến bộ của các em giáo viên nên khen ngợi bởi dành những lời
    khen, động viên khích lệ các em dù đó chỉ là kết quả nhỏ, vì đó là những thành
    công ban đầu của các em mà mỗi giáo viên cần trân trọng.
    Hướng dẫn các em đọc bài, cách ngắt nghỉ
    2.2. Rèn học sinh đọc kết hợp với giải nghĩa của từ
    Có rất nhiều cách để giáo viên giải nghĩa từ cho học sinh vừa dễ nhớ, vừa dễ
    hiểu và luyện đọc đúng sau khi đã hiểu nghĩa của từ. Giáo viên có thể chọn nhiều
    cách để giải nghĩa: giải nghĩa bằng từ đồng nghĩa, bằng từ trái nghĩa, bằng tranh
    minh họa, bằng cách mô tả hoặc bằng cách đặt câu với từ cần giải nghĩa.
    Ví dụ 1
    10
    Hoặc khi giải nghĩa từ “quả cầu giấy” trong bài “Cùng vui chơi” Tiếng Việt
    3 tôi cho học sinh quan sát quả cầu giấy để giải thích: Là đồ chơi gồm một đế nhỏ
    hình tròn, trên mặt cắm lông chim hoặc một túm giấy mỏng, dùng để đá chuyền
    qua chuyền lại cho nhau hay chính là để chúng ta chơi đá cầu lông.
    Ví dụ 2
    – Hoặc tôi muốn giải nghĩa từ “già làng” – bài “Nhà Rông ở Tây Nguyên” tôi
    cho học sinh xem ảnh người già vùng dân tộc để học sinh hiểu già làng là người
    cao tuổi, có uy tín được dân làng cử ra điều khiển công việc chung ở các vùng dân
    tộc thiểu số Tây Nguyên.
    Ví dụ 3
    – Khi tôi muốn học sinh hiểu từ “Quốc gia” Bài “Cuốn sổ tay”, tôi cho các
    em đọc phần chú giải trong sách giáo khoa sau đó yêu cầu các em đặt câu với từ đó.
    Giải nghĩa từ bằng cách xem tranh, ảnh
    2.3. Rèn đọc đúng tiến tới bước đầu rèn đọc hay (diễn cảm)
    Sau khi học sinh hiểu nội dung bài đọc thì các em sẽ biết cách diễn đạt thích
    hợp dưới sự hướng dẫn của giáo viên để hình thành kỹ năng đọc theo các bước:
    – Tập lấy hơi và tập thở: Biết thở sâu ở chỗ ngưng nghỉ để lấy hơi khi đọc.
    – Rèn cường độ giọng đọc – Luyện đọc to (bắt đầu từ lớp 1).
    – Luyện đọc chính âm (đã trình bày ở phần đọc đúng).
    – Luyện đọc diễn cảm:
    11
    + Giáo viên hướng dẫn học sinh trao đổi, thảo luận vì sao đọc như vậy. Có
    thể đọc phân vai để làm sống lại nhân vật của bài đọc.
    – Luyện đọc cá nhân.
    Trong chương trình tập đọc lớp 3, phần lớn các bài tập đọc là các bài văn
    xuôi hay các câu chuyện. Để giúp học sinh đọc hay được những văn bản này trước
    hết giáo viên cần tìm hiểu kĩ bài để xác định giọng đọc cho phù hợp.
    * Đối với các bài văn xuôi
    – Giáo viên cần xác định để đọc hay được bài đọc đó thì cần chú ý đến
    những yếu tố cơ bản như nhấn giọng những từ ngữ nào hay đọc với giọng ra sao
    thì phù hợp với cảm xúc trong bài.
    – Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc hay thông qua việc dẫn dắt gợi mở để
    học sinh thể hiện tình cảm, thái độ qua giọng đọc phù hợp với hình ảnh cảm xúc
    trong bài.
    Ví dụ: Câu trong bài “Ông ngoại” cần nhấn giọng các từ ngữ được gạch
    chân nhằm nêu bật được vẻ đẹp của bầu trời sắp vào thu:
    “Trời xanh ngắt trên cao, xanh như dòng sông trong trôi lặng lẽ giữa những
    ngọn cây hè phố.”
    Hay trong câu: “Trước ngưỡng cửa của trường tiểu học tôi đã may
    mắn có ông ngoại – Thầy giáo đầu tiên của tôi.” Cần nhấn giọng ở các từ ngữ được
    gạch chân để thể hiện tình cảm biết ơn của bạn nhỏ đối với ông ngoại – người thầy
    giáo đầu tiên của bạn.
    * Đối với câu chuyện xuất hiện những nhân vật:
    Những câu chuyện xuất hiện những nhân vật thì cần đọc sao cho giọng đọc
    phù hợp với tính cách nhân vật trong câu chuyện là không thể thiếu.
    Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cụ thể trong từng câu chuyện. Cần xác
    định được truyện có những nhân vật nào. Trước tiên cần biết đọc phân biệt lời dẫn
    chuyện với lời của các nhân vật trong truyện.Sau đó tìm hiểu tính cách của từng
    nhân vật ra sao để có giọng đọc thích hợp và thay đổi giọng đọc như thế nào trong
    từng văn cảnh cho phù hợp với diễn biến của câu chuyện. Bước đầu biết làm chủ
    được giọng đọc đối với ngữ điệu, tốc độ, đọc cao giọng hay thấp giọng, âm sắc
    nhằm diễn tả đúng nội dung bài.
    Ví dụ:
    Trong câu chuyện “Cậu bé thông minh”, giáo viên cần cho học sinh nêu
    được và đọc được các giọng đọc khác nhau của hai nhân vật và người dẫn chuyện.
    Đó là:
    12
    – Giọng người dẫn chuyện: Chậm rãi ở đoạn giới thiệu đầu truyện; lo lắng
    khi cả làng cậu bé nhận được lệnh của nhà vua; vui vẻ thoải mái, khâm phục khi
    cậu bé lần lượt qua được những lần thử tài của nhà vua.
    – Giọng cậu bé: Bình tĩnh, tự tin.
    – Giọng nhà vua: Nghiêm khắc.
    * Đối với các câu cảm, câu hỏi
    Đối với các câu cảm, câu hỏi trong bài giáo viên cần hướng dẫn các em đọc
    đúng thì mới bộc lộ được cảm xúc của từng nhân vật và của tác giả.
    – Giáo viên hướng dẫn học sinh cần đọc đúng ngữ điệu khi đọc câu hỏi như
    nhấn giọng từ để hỏi, cao giọng ở cuối câu.
    Ví dụ: Câu trong bài “Các em nhỏ và cụ già”:
    “Thưa cụ, chúng cháu có thể giúp gì cụ không ạ?” cần đọc nhấn giọng từ
    ngữ giúp gì cụ và đọc cao giọng ở cuối câu.
    – Đối với câu cảm, giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc giọng phù hợp để
    biểu lộ sắc thái tình cảm trong câu đó.
    Ví dụ: Câu trong bài “Cuộc chạy đua trong rừng” có lời của nhân vật Ngựa
    Con: “Cha yên tâm đi. Móng của con chắc chắn lắm. Con nhất định sẽ thắng mà!”.
    Cần nhấn giọng khi đọc các từ ngữ: yên tâm đi, chắc chắn lắm, nhất định và thể
    hiện giọng tự tin.
    Nếu học sinh đọc chưa hay giáo viên có thể đọc mẫu cho học sinh để học
    sinh nghe giọng đọc tự điều chỉnh.
    * Đối với văn bản khác
    Một số văn bản khác trong chương trình như: “Báo cáo kết quả tháng thi đua
    noi gương chú bộ đội”, “Đơn xin vào Đội”, “Chương trình xiếc đặc sắc”,…Các văn
    bản này thường là cung cấp thông tin, mẫu, nội dung báo cáo hay quảng cáo. Đối
    với thể loại văn bản nà

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Rèn kĩ năng đọc văn bản truyện trong phân môn tập đọc lớp 5 để phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh

    SKKN Rèn kĩ năng đọc văn bản truyện trong phân môn tập đọc lớp 5 để phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    1. Đặt vấn đề
    Môn Tiếng Việt có vai trò quan trọng trong các môn học ở Tiểu học. Bởi
    vì Tiếng Việt không những dạy cho các em biết các kiến thức về ngữ pháp, về
    ngôn ngữ trong giao tiếp mà còn giúp các em giữ gìn tiếng mẹ đẻ. Tiếng Việt có
    nhiệm vụ làm giàu vốn từ cho học sinh và hướng dẫn học sinh sử dụng từ – câu
    một cách chính xác trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể.
    Qua thực tế giảng dạy lớp 5 nói chung và ở môn Tiếng Việt lớp 5 nói
    riêng, tôi nhận thấy rằng: “Sách Hướng dẫn học Tiếng Việt 5” giúp học sinh
    hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động
    ngôn ngữ được thể hiện trong bốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn
    kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (đọc – viết – nghe – nói), kĩ năng thực hành giao tiếp
    cụ thể. Nội dung sách hướng dẫn học tinh giản, tích hợp các kiến thức thiết thực
    mang tính cập nhật, phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi học sinh tiểu học trong thời
    đại mới hiện nay. Trong đó, Tập đọc là phân môn giữ vị trí hết sức quan trọng
    trong quá trình học tập của học sinh. Trước hết, Tập đọc giúp học sinh trau dồi
    kiến thức tiếng Việt, kiến thức đời sống, gia đình, con người, giáo dục tư tưởng
    đạo đức, tình cảm thẩm mĩ. Nó là chìa khoá, là phương tiện để giúp học sinh
    Tiểu học tiếp xúc với kho tàng kiến thức vô tận của nhân loại. Những kinh
    nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hóa, khoa học, tư tưởng, tình cảm
    của các thế hệ trước và của cả người đương thời phần lớn đã được ghi lại bằng
    chữ viết. Giáo dục tiểu học là nền tảng cơ bản trong hệ thống giáo dục quốc dân
    nên giáo dục tiểu học cũng cần chuẩn bị cho học sinh những năng lực cần thiết
    và phù hợp với tâm sinh lí của các em. Tập đọc với tư cách là một phân môn của
    môn Tiếng Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu này – hình thành và
    phát triển năng lực đọc cho học sinh. Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là
    quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó
    (ứng với các hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình
    thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm) (
    2
    theo M.R. Lơvôp – Cẩm nang dạy học tiếng Nga (tiếng Nga). Kĩ năng đọc là
    một kĩ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện tập lâu dài. Việc đọc không
    thể tách rời khỏi việc chiếm lĩnh một công cụ ngôn ngữ (ở đây là tiếng Việt).
    Mục đích này chỉ có thể đạt được thông qua con đường luyện giao tiếp có ý
    thức. Phương tiện luyện tập quan trọng cũng đồng thời là mục tiêu phải đạt tới
    trong sự chiếm lĩnh ngôn ngữ chính là việc đọc. Đọc chính là học, học nữa, học
    mãi, đọc để tự học, học cả đời. Đọc giúp con người hiểu biết, tiếp thu được nền
    văn minh của loài người. Đọc giúp con người bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, giúp
    con người có thể tự học cả đời. Vì vậy, dạy đọc ở Tiểu học rất cần thiết. Đọc
    giúp cho học sinh có công cụ học tập và giao tiếp. Đọc giúp học sinh phát triển
    tư duy, giáo dục học sinh những tình cảm tốt đẹp.
    Trên thực tế, phân môn tập đọc của môn Tiếng Việt lớp 5 có đến một phần
    ba văn bản đọc là các truyện kể. Nhưng kĩ năng đọc loại văn bản truyện kể của
    học sinh còn có một số tồn tại, hạn chế như sau: Thứ nhất, còn nhiều học sinh
    đọc bài với tốc độ chưa phù hợp, có em đọc quá nhanh nhưng có em lại đọc quá
    chậm; học sinh chưa biết chuyển giọng đọc phù hợp với thái độ, tình cảm, tâm
    trạng của nhân vật truyện. Hai là, khi đọc một số văn bản truyện; các em ngắt,
    nghỉ hơi không đúng chỗ trong các câu văn dài nên các em không hiểu hết nội
    dung và ý nghĩa của tình tiết truyện. Đặc biệt là việc rèn luyện kĩ năng đọc cho
    học sinh còn hạn chế, và sau một giờ, một bài học sinh ít có khả năng đọc hay,
    diễn cảm và hiểu nội dung bài một cách đầy đủ. Do đó, các em rất yếu về năng
    lực đọc. Ba là, một số em chưa biết nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả hình dáng,
    tính nết, …của nhân vật. Học sinh ít đọc sách, chưa có thói quen say mê đọc
    sách. Nếu có đọc thì học sinh cũng chưa biết cách đọc, chỉ đọc qua loa, đại khái,
    đọc cho có cho xong mà không chịu tìm hiểu.
    Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do: Trong quá tình tổ chức các
    hoạt động, còn hạn chế trong việc học sinh huy động vốn kiến thức các em đã
    được học ở các lớp dưới như: cách đọc câu hỏi, câu kể, câu cảm, câu khiến,..
    hay những trải nghiệm trong thực tế cuộc sống của học sinh như nghe, xem các
    câu chuyện, các bộ phim trên ti vi, đài,.. để tìm ra giọng đọc phù hợp của các
    3
    nhân vật truyện giúp học sinh luyện đọc tốt hơn. Nguyên nhân thứ hai là do còn
    hạn chế trong việc sử dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật dạy học để tạo
    hứng thú đọc truyện cho học sinh nên các em chưa tích cực hợp tác với các bạn
    để cùng nhau tìm ra cách đọc đúng, đọc hay và phù hợp cho bài đọc.
    Xuất phát từ những lí do trên, cùng với kinh nghiệm đứng lớp, tôi đã chọn
    và nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm: “Rèn kĩ năng đọc văn bản truyện
    trong phân môn Tập đọc lớp 5 để phát triển năng lực và phẩm chất cho học
    sinh” nhằm giúp học sinh biết đọc đúng, đọc hay, có khả năng kể chuyện, giao
    tiếp tốt và có thêm hứng thú đọc sách.
    2. Đối tƣợng nghiên cứu
    Chương trình Tiếng Việt lớp 5 mới được chia thành các phân môn: Tập
    đọc (đọc – hiểu), Luyện từ và câu, Tập làm văn, Chính tả, Kể chuyện. Mỗi phân
    môn đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành kiến thức, kỹ năng
    và nhân cách cho học sinh. Đối với sáng kiến kinh nghiệm này, tôi sẽ chỉ tập
    trung nghiên cứu rèn kĩ năng đọc văn bản truyện cho học sinh lớp 5 qua phân
    môn Tập đọc .
    3. Phạm vi nghiên cứu
    Trong khuôn khổ sáng kiến kinh nghiệm này tôi tập trung nghiên cứu
    “Rèn kĩ năng đọc văn bản truyện trong phân môn Tập đọc lớp 5 để phát triển
    năng lực và phẩm chất cho học sinh” tại Trường Tiểu học Thị trấn Rạng Đông,
    Tiểu học (TH) xã Nam Điền, TH xã Nghĩa Lợi, TH xã Phúc Thắng, TH xã
    Nghĩa Hải, TH xã Nghĩa Hùng (huyện Nghĩa Hưng); TH Thị trấn Thịnh Long,
    TH Hải Cường, TH Hải Xuân, TH Hải Triều, TH Hải Châu, TH Hải Lý (huyện
    Hải Hậu).
    4. Phƣơng pháp nghiên cứu
    – Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
    – Phương pháp tìm hiểu thực tế.
    – Phương pháp phân tích –tổng hợp.
    – Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê.
    – Phương pháp thực nghiệm.
    4
    5. Điểm mới của sáng kiến
    Chỉ ra được những phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để rèn kĩ năng
    đọc văn bản truyện nhằm hình thành, phát triển năng lực và phẩm chất cho học
    sinh.
    PHẦN II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trƣớc khi tạo ra sáng kiến
    1.1.Cơ sở lý luận
    Xuất phát từ thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước cần có những con
    người lao động năng động sáng tạo, phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất
    tiềm năng, khả năng sáng tạo của cá nhân. Vì vậy cùng với việc đổi mới nội
    dung chương trình thì đổi mới phương pháp dạy học trong mỗi tiết học có một vị
    trí hết sức quan trọng. Đây là việc làm cần thiết góp phần nâng cao chất lượng
    dạy học cũng như thực hiện được mục tiêu giáo dục mà Đảng và nhà nước,
    ngành giáo dục và đào tạo đề ra.
    Trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt, giáo viên là người tổ chức,
    hướng dẫn hoạt động của học sinh, mọi học sinh đều hoạt động học tập để phát
    triển năng lực cá nhân. Giáo viên tổ chức hướng dẫn học sinh huy động vốn hiểu
    biết và kinh nghiệm của bản thân để học sinh chiếm lĩnh tri thức rồi vận dụng
    các tri thức đó vào thực hành. Tạo cho học sinh thói quen tự giác, chủ động,
    không dập khuôn máy móc, biết tự đánh giá và đánh giá kết quả của bạn. Đồng
    thời tạo điều kiện để học sinh phát huy năng lực, sở trường của mình, biết áp
    dụng kiến thức mới trong bài học vào thực tế đời sống xã hội.
    Môn Tiếng Việt theo chương trình mới có một vị trí quan trọng trong giáo
    dục ở Tiểu học. Rèn kĩ năng đọc nhằm tạo ra sự hứng thú học tập cho học sinh,
    phát huy tính sáng tạo, độc lập suy nghĩ và tính tự chủ của học sinh. Qua đó, góp
    phần hoàn thành mục tiêu bài học Tiếng Việt. Mà cụ thể mục tiêu của môn
    Tiếng Việt ở tiểu học trong Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn là:
    + Giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu với các
    biểu hiện cụ thể: yêu thiên nhiên, gia đình, quê hương; có ý thức đối với cội
    nguồn; yêu thích cái đẹp, cái thiện và có cảm xúc lành mạnh; có hứng thú học
    5
    tập, ham thích lao động; thật thà, ngay thẳng trong học tập và đời sống; có ý
    thức thực
    hiện trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội và môi trường xung quanh.
    + Giúp học sinh bước đầu hình thành các năng lực chung, phát triển năng
    lực ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe với mức độ căn bản: đọc
    đúng, trôi chảy văn bản; hiểu được nội dung, thông tin chính của văn bản; liên
    hệ, so sánh ngoài văn bản; viết đúng chính tả, ngữ pháp; viết được một số câu,
    đoạn, bài văn ngắn (chủ yếu là bài văn kể và tả); phát biểu rõ ràng; nghe hiểu ý
    kiến người nói.
    Phát triển năng lực văn học với yêu cầu phân biệt được thơ và truyện, biết
    cách đọc thơ và truyện; nhận biết được vẻ đẹp của ngôn từ nghệ thuật; có trí
    tưởng tượng, hiểu và biết xúc động trước cái đẹp, cái thiện của con người và thế
    giới xung quanh được thể hiện trong các văn bản văn học.
    Môn Tiếng Việt góp phần hình thành, phát triển ở học sinh những phẩm
    chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học.
    * Năng lực ngôn ngữ:
    – Đọc đúng, trôi chảy và diễn cảm văn bản; hiểu được nội dung chính của
    văn bản, chủ yếu là nội dung tường minh; bước đầu hiểu được nội dung hàm ẩn
    như chủ đề, bài học rút ra từ văn bản đã đọc.
    – Ở cấp tiểu học, yêu cầu về đọc gồm yêu cầu về kĩ thuật đọc và kĩ năng
    đọc hiểu. Đối với học sinh lớp 3, lớp 4 và lớp 5, chú trọng nhiều hơn đến yêu
    cầu đọc hiểu nội dung cụ thể, hiểu chủ đề, hiểu bài học rút ra được từ văn bản.
    * Năng lực văn học:
    – Phân biệt văn bản truyện và thơ (đoạn, bài văn xuôi và đoạn, bài văn
    vần); nhận biết được nội dung văn bản và thái độ, tình cảm của người viết; bước
    đầu hiểu được tác dụng của một số yếu tố hình thức của văn bản văn học (ngôn
    từ, nhân vật, cốt truyện, vần thơ, so sánh, nhân hoá).
    – Đối với học sinh lớp 3, lớp 4 và lớp 5: biết cách đọc diễn cảm văn bản
    văn học; kể lại, tóm tắt được nội dung chính của câu chuyện, bài thơ; nhận xét
    được các nhân vật, sự việc và thái độ, tình cảm của người viết trong văn bản.
    6
    Hiểu được ý nghĩa hoặc bài học rút ra từ văn bản. Viết được đoạn, bài văn kể
    chuyện, miêu tả thể hiện cảm xúc và khả năng liên tưởng, tưởng tượng.
    Tóm lại: Ở bậc Tiểu học, môn Tiếng Việt có vị trí đặc biệt quan trọng,
    trong đó Tập đọc là một phân môn có ý nghĩa to lớn ở Tiểu học. Nó trở thành
    một đòi hỏi cơ bản, đầu tiên đối với mỗi người đi học. Đầu tiên trẻ phải học đọc
    sau đó đọc để học. Đọc giúp trẻ chiếm lĩnh được ngôn ngữ trong giao tiếp và
    học tập nó cũng là một công cụ để học các môn học khác chỉ khi nào học sinh
    hiểu được điều mình đang đọc mới được coi là biết đọc. Khi đọc mà hiểu được
    thì học sinh sẽ hứng thú hơn, ham học hơn.
    1.2.Thực trạng
    Sáng kiến kinh nghiệm “Rèn kĩ năng đọc văn bản truyện trong phân môn
    Tập đọc lớp 5 để phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh” đã được áp
    dụng tại Trường Tiểu học Thị trấn Rạng Đông và áp dụng nhân rộng tại 5
    trường trong huyện Nghĩa Hưng, 6 trường trong huyện Hải Hậu.
    1.2.1.Thực trạng dạy học môn Tiếng Việt ở Trƣờng Tiểu học Thị trấn Rạng
    Đông
    Trong những năm gần đây do càng ngày càng nhận thức được vai trò của
    phương pháp dạy học trong việc nâng cao chất lượng giáo dục nên ngành đã liên
    tục phát động phong trào đổi mới phương pháp dạy học.
    *Thuận lợi:
    + Được sự quan tâm của Phòng Giáo dục và Ban giám hiệu nhà trường, sự
    đồng thuận và vào cuộc của cha mẹ học sinh.
    + Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm chỉ đạo sát sao qua các buổi
    sinh hoạt chuyên môn, dự giờ tiết dạy, xây dựng các bước dạy cũng như bài dạy,
    cách tổ chức lớp học một cách phù hợp.
    + Giáo viên cũng đã biết vận dụng các phương pháp dạy học cũng như
    hình thức đánh giá nhằm phát huy năng lực của từng học sinh.
    + Học sinh có cơ hội chia sẻ những trải nghiệm, được thực hành và vận
    dụng những kiến thức, kĩ năng đã học vào đời sống hàng ngày.
    * Khó khăn:
    7
    – Đối với giáo viên:
    + Giáo viên chưa hiểu khái niệm “Đọc” một cách đầy đủ. Có những giáo
    viên cho rằng dạy Tập đọc là chủ yếu dạy cho các em đọc to, rõ ràng là được.
    Phương pháp dạy Tập đọc của giáo viên có dạy theo đoạn, có các kiểu câu hỏi
    khác nhau song hình thức luyện đọc chỉ đơn thuần là đọc.
    + Một số giáo viên còn lệ thuộc vào sách giáo khoa và tài liệu tham khảo
    mà chưa biết sáng tạo sao cho phù hợp với nội dung bài học, đối tượng học sinh,
    phương tiện dạy học,… của trường, của lớp mình.u tra
    – Đối với học sinh nói chung và đặc biệt là học sinh lớp 5:
    + Còn nhiều học sinh đọc bài với tốc độ chưa phù hợp, có em đọc quá
    nhanh nhưng có em lại đọc quá chậm.
    + Học sinh đọc bài chưa biết ngắt nghỉ dấu chấm, dấu phẩy trong một văn
    bản truyện kể. Đặc biệt là việc rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh còn hạn chế,
    và sau một giờ, một bài học sinh ít có khả năng đọc hay, diễn cảm và hiểu nội
    dung bài một cách đầy đủ. Do đó, các em rất yếu về năng lực đọc.
    + Một số học sinh chưa ngắt hơi sau dấu phẩy (,) chưa nghỉ hơi sau dấu
    chấm và đặc biệt chưa biết cách ngắt hơi khi đọc những câu văn dài.
    + Học sinh ít đọc sách, chưa có thói quen say mê đọc sách. Nếu có đọc thì
    học sinh cũng chưa biết cách đọc, chỉ đọc qua loa, đại khái, đọc cho có cho xong
    mà không chịu tìm hiểu.
    – Đối với phụ huynh:
    + Một số phụ huynh chưa thực sự vào cuộc, chưa quan tâm và đôn đốc,
    nhắc nhở các em học tập. Phụ huynh chưa quan tâm đến việc đọc của con. Phụ
    huynh nghĩ rằng việc dạy đọc cho con là việc của giáo viên. Phụ huynh chỉ quan
    tâm xem con có làm toán có tốt không, làm văn đã hay chưa?
    1.2.2.Thực trạng tại các trƣờng áp dụng nhân rộng
    * Đội ngũ cán bộ quản lí:
    + Có trình độ chuyên môn cao, có uy tín, kinh nghiệm quản lý, được sự
    ủng hộ của giáo viên, nhân viên nhà trường.
    + Ban giám hiệu đoàn kết, phối hợp nhịp nhàng trong các hoạt động chỉ
    8
    đạo; phân công nhiệm vụ rõ ràng, tích cực, chủ động trong công việc; tổ chức
    các hoạt động nhà trường; Biết phát huy sức mạnh của đội ngũ giáo viên cốt
    cán, đội ngũ khối trưởng, giáo viên trẻ và những giáo viên có năng lực.
    + Tích cực đổi mới, sáng tạo, thích ứng trong lãnh đạo, quản trị nhà
    trường.
    + Quản trị tốt các nguồn lực trong nhà trường đáp ứng Chương trình Giáo
    dục phổ thông 2018.
    + Quản trị hoạt động dạy học, giáo dục học sinh theo hướng tiếp cận năng
    lực.
    + Quản trị chất lượng giáo dục đáp ứng Chương trình Giáo dục phổ thông
    2018.
    + Tích cực phối hợp giữa nhà trường, gia đình, xã hội để thực hiện hiệu
    quả hoạt động dạy học và giáo dục cho học sinh, huy động và sử dụng tốt các
    nguồn lực để phát triển nhà trường.
    + Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí và lãnh đạo nhà
    trường thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
    *Đội ngũ giáo viên:
    + Đội ngũ khối trưởng chắc tay nghề, có kinh nghiệm và uy tín trong tập
    thể khối, tích cực học hỏi kiến thức, phương pháp dạy học mới và có ý thức xây
    dựng khối, kèm cặp các giáo viên mới, giáo viên trẻ.
    + Giáo viên đa số tay nghề cao, yêu nghề, say mê công việc, tất cả vì học
    sinh; ủng hộ các chủ trương của nhà trường. Các giáo viên trẻ tích cực, chủ động
    nâng cao tay nghề.
    + Có một số giáo viên tham gia đội ngũ giáo viên cốt cán của Phòng và Sở;
    tích cực bồi dưỡng và học tập để nâng cao trình độ chuyên môn.
    + Giáo viên đã sử dụng các hình thức, phương pháp và kĩ thuật dạy học và
    giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.
    + Giáo viên tư vấn và hỗ trợ tốt học sinh trong dạy học và giáo dục.
    + Giáo viên phối hợp tốt với gia đình, xã hội để thực hiện hoạt động dạy
    học, giáo dục cho học sinh.
    9
    + Đa số giáo viên tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác và sử
    dụng thiết bị công nghệ trong dạy học, giáo dục. Ngoài những phương tiện dạy
    học truyền thống, giáo viên đã tích cực sử dụng các phương tiện dạy học mới
    nhằm nâng cao chất lượng cho bài giảng (máy vi tính,tivi, máy chiếu,.. ).
    Với thực trạng trên, bản thân tôi nhận thấy cần phải có phương pháp và kĩ
    thuật dạy học phù hợp hơn nữa trong quá trình giảng dạy môn Tiếng Việt 5.
    Đó chính là rèn kĩ năng đọc văn bản truyện nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
    2.Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    2.1.Mục tiêu của giải pháp
    Lấy học sinh làm trung tâm, học sinh biết hợp tác với các bạn trong nhóm
    và tự làm việc cá nhân. Giúp học sinh hình thành năng lực đọc và rèn kĩ năng
    đọc đúng, đọc hay trong các văn bản truyện. Học sinh phải tham gia các hoạt
    động học tập một cách tích cực và hứng thú. Thông qua các phương pháp và kĩ
    thuật dạy học tích cực giúp học sinh có năng lực ngôn ngữ và phát triển tư duy.
    2.2.Nội dung chƣơng trình và các cách thức thực hiện giải pháp
    2.2.1.Nội dung chƣơng trình, tài liệu sách Hƣớng dẫn học Tiếng Việt 5
    2.2.1.1.Nội dung chƣơng trình môn Tiếng Việt lớp 5
    Tiếp theo chương trình tập đọc lớp 1,2,3,4, phân môn Tập đọc ở lớp 5
    được học mỗi tuần 2 tiết. Thông qua 61 bài tập đọc thuộc các loại hình văn bản
    nghệ thuật, báo chí, khoa học, trong đó có 44 bài văn xuôi (4 bài là trích đoạn
    kịch), 17 bài thơ (có 3 bài ca dao ngắn được dạy trong cùng một tiết), phân môn
    Tập đọc ở lớp 5 tiếp tục củng cố, nâng cao kĩ năng đọc trơn, đọc thầm, tiếp tục
    rèn luyện kĩ năng đọc diễn cảm là kĩ năng bắt đầu được rèn luyện từ lớp 4.
    2.2.1.2.Phƣơng pháp rèn đọc cho học sinh lớp 5
    Trong thực tế mỗi bài Tập đọc đều có hai phần lớn: Luyện đọc và tìm hiểu
    nội dung. Hai phần này có thể tiến hành cùng một lúc hoặc đan xen vào nhau
    hoặc cũng có thể dạy tách theo hai phần. Tuỳ theo từng bài mà giáo viên lựa
    chọn, dù dạy như thế nào thì hai phần này luôn có mối quan hệ khăng khít với
    nhau, cần tìm hiểu bài giúp học sinh hiểu kĩ nội dung, nghệ thuật của bài. Từ đó
    các em đọc đúng, biết đọc ngắt giọng, nhấn giọng để thể hiện nội dung của bài,
    10
    thể hiện những hiểu biết của mình xung quanh bài đọc. Vì vậy việc rèn đọc
    trong bài Tập đọc rất quan trọng, góp phần làm giàu vốn kiến thức ngôn ngữ vào
    đời sống và kiến thức văn học cho học sinh. Từ đó, góp phần hình thành ở các
    em những phẩm chất, nhân cách tốt. Việc dạy học tập đọc được đưa vào chương
    trình từ rất lâu đến nay. Đây là một phân môn cần thiết để tạo điều kiện học tốt
    môn học. Việc dạy tập đọc được dạy một cách có kế hoạch mang tính chủ động
    kết hợp với các câu hỏi hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài tập đọc, qua
    đó giáo dục nhân cách, đạo đức thẩm mỹ lòng tự hào dân tộc tình thần đoàn kết,
    yêu thương anh em, đồng bào.
    Trong quá trình tìm hiểu bài, học sinh phải biết tìm hiểu nội dung và nghệ
    thuật của từng đoạn. Từ đó mới hiểu được nội dung của từng bài và tìm ra cách
    đọc tốt nhất . Dạy Tập đọc cần dạy sát đối tượng, sát trình độ để đảm bào tính
    vừa sức.
    2.2.1.3.Yêu cầu cần đạt trong phân môn Tập đọc lớp 5
    Rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 5 yêu cầu học sinh phải đọc rõ ràng,
    rành mạch. Không đọc lí nhí, giọng quá nhỏ, không dừng lâu quá để đánh vần,
    nghỉ hơi ở dấu chấm, dấu phẩy, chỗ cần tách ý. Biết đọc liền các tiếng trong từ
    ghép, từ láy hoặc cụm từ cố định. Ngoài ra còn biết đọc đúng giọng câu kể, câu
    hỏi, câu cảm; biết phân biệt lời dẫn chuyện với lời đối thoại. Dù đọc ở mức độ
    nào cũng đều yêu cầu phát âm đúng. Khi đọc thầm yêu cầu học sinh phải luyện
    thành thói quen để tạo được hứng thú khi đọc sách báo.
    Chương trình Tập đọc lớp 5 hướng đến đạt được chuẩn về kĩ năng đọc
    như sau:
    – Đọc đúng và diễn cảm các văn bản truyện, kịch bản, bài thơ, bài miêu tả, tốc
    độ đọc khoảng 90 – 100 tiếng trong 1 phút.
    – Đọc thầm với tốc độ nhanh hơn lớp 4.
    – Sử dụng được một số từ điển tiếng Việt thông dụng để tìm từ, nghĩa của từ,
    cách dùng từ và tra cứu thông tin khác.
    – Biết đọc theo những cách khác nhau (đọc lướt và đọc kĩ).
    – Ghi chép được vắn tắt những ý tưởng, chi tiết quan trọng vào phiếu đọc sách
    11
    hoặc sổ tay.
    2.3.Một số giải pháp để rèn kĩ năng đọc văn bản truyện trong phân môn
    Tập đọc lớp 5 để phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh
    Trong chương trình tập đọc lớp 5, phần lớn các bài tập đọc là các câu
    chuyện. Để giúp học sinh khắc phục những hạn chế như đã nêu ở phần trên, tôi
    sử dụng linh hoạt một số biện pháp tích cực như sau:văn
    2.3.1.Giải pháp 1: Rèn kĩ năng luyện đọc đúng
    a. Luyện đọc theo câu, đoạn:
    – Giáo viên hoặc học sinh đọc tốt đọc mẫu, học sinh đọc thầm toàn bài. Sau đó,
    học sinh chọn nhân vật, dự đoán giọng đọc của nhân vật.
    – Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu các câu, đoạn giáo viên cho học sinh tự đọc
    ngay, điều này có tác dụng hình thành cách đọc diễn cảm sát với nội dung bài
    vừa đề cập. Với những câu dài có nhiều trong văn bản truyện, học sinh xác định
    cách ngắt, nghỉ để đọc cho đúng.
    * Các bước tổ chức cho học sinh luyện đọc câu, đoạn:
    – Giáo viên cho học sinh đọc nối tiếp đoạn, yêu cầu cả lớp lắng nghe và
    tìm câu dài, khó đọc.
    – Sau khi học sinh phát hiện được câu dài, khó đọc giáo viên ghi vào bảng
    phụ hoặc trình chiếu, sử dụng kĩ thuật tia chớp để học sinh tự tìm ra cách ngắt,
    nghỉ phù hợp; sau đó học sinh luyện đọc theo nhiều hình thức: cá nhân, cặp đôi,
    nhóm. Cụ thể:
    + Học sinh nêu ngắn gọn và nhanh chóng (nhanh như tia chớp) các cách
    ngắt, nghỉ khác nhau cho cùng một câu văn.
    + Giáo viên tổ chức cho học sinh nhận xét thông qua hệ thống câu hỏi gợi
    ý: Em nào có ý kiến khác? Bạn đọc như thế nào? … Mời một vài em đọc lại.
    + Học sinh đọc và ngắt, nghỉ hơi để các bạn khác nhận xét, bổ sung và giáo
    viên thống nhất cách đọc.
    Ví dụ 1: Bài “ Thái sư Trần Thủ Độ” – Sách HDH Tiếng Việt 5- tập 2(trang 17)
    Học sinh nối tiếp nhau đọc các đoạn văn trong bài, sau đó học sinh nêu
    câu văn dài khó đọc, giáo viên trình chiếu, sử dụng kĩ thuật tia chớp; gọi 2-3 học
    12
    sinh đọc, các bạn nhận xét, bổ sung và thống nhất cách đọc đúng.
    Trần Thủ Độ là người có công lập nên nhà Trần/, lại là chú của vua /và
    đứng đầu trăm quan/, nhưng không vì thế mà tự cho phép mình/ vượt qua phép
    nước.//
    Ví dụ 2: Bài “Con gái ”- SHDH Tiếng Việt lớp 5 tập 2(trang118)
    Học sinh nối tiếp nhau đọc các đoạn văn trong bài, sau đó học sinh nêu
    câu văn dài khó đọc, giáo viên trình chiếu, sử dụng kĩ thuật tia chớp; gọi 2- 3
    học sinh đọc, các bạn nhận xét, bổ sung và thống nhất cách đọc đúng.
    Dì Hạnh nói/ giọng đầy tự hào: “ Biết cháu tôi chưa? Con gái như nó thì
    một trăm đứa con trai cũng không bằng.”//
    Ảnh học sinh luyện đọc câu dài
    * Đối với các câu cảm, câu hỏi, câu khiến, câu kể:
    Đối với các câu cảm, câu hỏi, câu kể, câu khiến có nhiều trong các đoạn
    văn, giáo viên đề nghị học sinh nhớ lại cách đọc các kiểu câu chia theo mục đích
    nói đã học ở lớp 4 để đọc đúng giọng đọc của mỗi loại câu, biểu lộ đúng cảm
    xúc các câu nói của từng nhân vật và của tác giả. Như nhấn giọng từ để hỏi, lên
    giọng ở cuối câu hỏi, hạ giọng ở cuối câu kể, thay đổi giọng phù hợp với tình
    cảm cần diễn đạt trong câu cảm và để biểu lộ sắc thái tình cảm trong câu đó.
    13
    Với câu cầu khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ các nội dung cầu khiến
    khác nhau.
    Ví dụ 1:
    Trong bài: “Cái gì quý nhất?” (Sách HDH TV5, tập 1), giáo viên đề nghị
    học sinh nhớ lại cách đọc các kiểu câu: câu kể, câu cảm, câu hỏi,…để đọc đoạn
    văn sau cho đúng. Giáo viên lưu ý: các em cần đọc rõ giọng người dẫn chuyện,
    giọng Hùng, Quý và Nam. Ngoài ra, cần chú ý kéo dài giọng hoặc nhấn giọng tự
    nhiên những từ quan trọng trong ý kiến của từng nhân vật để góp phần diễn tả
    nội dung và bộc lộ thái độ :

    Hùng nói:
    – Theo tớ, quý nhất là lúa gạo. Các cậu
    có thấy ai không ăn mà sống được
    không?
    Quý và Nam cho là có lí. Nhưng đi
    được mươi bước, Quý vội reo lên:
    – Bạn Hùng nói không đúng. Quý nhất
    phải là vàng. Mọi người thường nói
    quý như vàng là gì? Có vàng là có tiền,
    có tiền sẽ mua được lúa gạo!
    Nam vội tiếp ngay:
    -Quý nhất là thì giờ. Thầy giáo thường
    nói thì giờ quý hơn vàng bạc. Có thì
    giờ mới làm ra được lúa gạo, vàng
    bạc!
    Giọng chậm, trầm
    Nhấn giọng ở từ để hỏi “ không”,
    giọng nhanh, sôi nổi, lên giọng
    cuối câu hỏi.
    Nhấn giọng ở từ “ gì ”, cao giọng ở
    cuối câu hỏi; câu cảm đọc nhanh,
    sôi nổi, cao giọng ở cuối câu.
    Giọng đọc thuyết phục, sôi nổi, cao
    giọng ở cuối câu.

    Ví dụ 2:
    Hay trong bài “Người gác rừng tí hon” (Sách HDH TV5, tập 1), giáo viên
    cần hướng dẫn học sinh đọc đúng những câu dẫn lời nói trực tiếp của nhân vật:
    -Hai ngày nay đâu có đoàn khách tham quan nào? – Câu tự hỏi của bạn
    14
    nhỏ, giọng băn khoăn, nhấn giọng ở từ “ nào”, cao giọng ở cuối câu.
    – Mày đã dặn lão Sáu Bơ tối đánh xe ra bìa rừng chưa? – Nhấn giọng ở từ
    “ chưa” , lời bọn trộm nên hạ giọng thì thào, bí mật.
    – A lô, công an huyện đây! – Cao giọng ở cuối câu, giọng chú công an
    rắn rỏi, nghiêm trang.
    -Cháu quả là chàng gác rừng dũng cảm! – Cao giọng ở cuối câu, giọng vui
    vẻ, ngợi khen.
    Ví dụ 3:

    Bài “Thái sư Trần Thủ Độ”- Sách hướng dẫn học
    2(trang 17). Sau đây là cách đọc một số câu:
    Tiếng Việt 5 Tập

    Trần Thủ Độ có công lớn /, vua cũng phải nể. //Có viên quan nhân lúc vào
    chầu vua/, ứa nước mắt tâu:
    -Bệ hạ còn trẻ mà thái sư chuyên quyền/, không biết rồi xã tắc sẽ ra sao.//
    Hạ thần lấy làm lo lắm.//
    Vua đem viên quan đến gặp Trần Thủ Độ /và nói:
    -Kẻ này dám tâu xằng với Trẫm là Thượng phụ chuyên quyền,/ nguy cho
    xã tắc.
    Trần Thủ Độ trầm ngâm suy nghĩ rồi tâu:
    -Quả có chuyện như vậy//. Xin Bệ hạ quở trách thần /và ban thưởng cho
    người nói thật.//
    Ảnh học sinh luyện đọc các kiểu câu
    15
    b. Đọc toàn bài:
    – Đây là bước thực hiện sau khi học sinh đã đọc theo từng đoạn. Đọc toàn bài
    bước đầu giúp học sinh cảm thụ một cách tổng thể sắc thái của nội dung tác
    phẩm. Giáo viên yêu cầu học sinh chọn và dự đoán giọng đọc của nhân vật. Sau
    đó, hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài theo hệ thống các câu hỏi.
    B Ảnh học sinh luyện đọc toàn bài
    Trong các giờ tập đọc, giáo viên chú ý nhận xét sửa sai cho học sinh về
    cách đọc thật chu đáo để làm cơ sở cho việc đọc bài mới được tốt hơn.Khi đọc
    nối tiếp câu phát hiện ra học sinh nào chưa đúng, giáo viên sửa ngay. Khi đọc
    nối tiếp đoạn, giáo viên cho các em một số câu hỏi gợi mở để các em thảo luận
    tìm ra cách đọc cho mỗi đoạn (hoặc giọng đọc của các nhân vật) sau đó giáo
    viên sẽ là người chốt lại cách đọc. Khi đọc đoạn gọi một học sinh đọc, gọi học
    sinh nhận xét bạn và đọc lại, chú ý đọc ngắt, nghỉ và nhấn giọng ở các từ ngữ
    gợi tả, gợi cảm cho phù hợp.
    16
    2.3.2.Giải pháp 2: Rèn kĩ năng luyện đọc diễn cảm
    Văn bản truyện có các nhân vật nên đọc diễn cảm là đọc sao cho giọng
    đọc phù hợp với tình huống trong truyện, thể hiện được tình cảm, thái độ, đặc
    điểm của nhân vật truyện hay tình cảm, thái độ của tác giả đối với nhân vật. Từ
    việc học sinh đã luyện đọc đúng từ, câu, hiểu được nghĩa của từ, hiểu được nội
    dung truyện; các em tự tìm các từ cần nhấn giọng, giọng đọc phù hợp với tình
    cảm, thái độ, đặc điểm của nhân vật trong truyện, làm nổi bật nội dung truyện
    sau khi đối chiếu, bổ sung với dự đoán ban đầu. Từ đó, học sinh luyện đọc cá
    nhân, đọc cho nhau nghe để tự sửa và sửa cho bạn. Học sinh chia sẻ với bạn
    cùng bàn, trong nhóm để thống nhất cách đọc diễn cảm câu chuyện.
    Ví dụ 1: Bài “ Trí dũng song toàn ”- Sách HDH Tiếng Việt lớp 5 tập 2(trang
    28).
    Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm theo kĩ thuật “ Khăn trải bàn ”
    để tìm cách đọc diễn cảm đoạn văn, trình chiếu nội dung đoạn văn cần đọc diễn
    cảm và tổ chức cho học sinh thi đọc.
    Chờ rất lâu mà vẫn không được vua nhà Minh cho tiếp kiến, ông vờ khóc
    lóc rất thảm thiết. Vua Minh liền hạ chỉ mời ông đến hỏi cho ra lẽ.
    Thám hoa vừa khóc vừa than rằng:
    -Hôm nay là ngày giỗ cụ tổ năm đời của thần, nhưng thần không có mặt ở nhà
    để cúng giỗ. Thật là bất hiếu với tổ tiên!
    Vua Minh phán:
    -Không ai phải giỗ người đã chết từ năm đời. Sứ thần khóc lóc như vậy thật
    không phải lẽ!
    Giang Văn Minh nghe vậy, bèn tâu:
    -Vậy, tướng Liễu Thăng tử trận đã mấy trăm năm, sao hàng năm nhà vua vẫn
    bắt nước tôi cử người mang lễ vật sang cúng giỗ?
    Biết đã mắc mưu sứ thần, vua Minh vẫn phải nói:
    -Từ nay trở đi, nước ngươi không phải góp giỗ Liễu Thăng nữa.
    Ví dụ 2: Bài “Thái sư Trần Thủ Độ”- Sách hướng dẫn học Tiếng Việt 5 tập 2
    (trang 17).
    17
    Học sinh thảo luận nhóm theo kĩ thuật “ Khăn trải bàn ”, tìm cách đọc
    diễn cảm đoạn văn. Giáo viên chiếu đoạn văn, các nhóm thi đọc và bổ sung các
    kĩ năng đọc đúng, đọc hay.
    Trần Thủ Độ có công lớn /, vua cũng phải nể. //Có viên quan nhân lúc
    vào chầu vua/, ứa nước mắt tâu:
    -Bệ hạ còn trẻ mà thái sư chuyên quyền/, không biết rồi xã tắc sẽ ra sao.// Hạ
    thần lấy làm lo lắm.//
    Vua đem viên quan đến gặp Trần Thủ Độ /và nói:
    – Kẻ này dám tâu xằng với Trẫm là Thượng phụ chuyên quyền,/ nguy cho xã
    tắc.
    Trần Thủ Độ trầm ngâm suy nghĩ rồi tâu:
    -Quả có chuyện như vậy//. Xin Bệ hạ quở trách thần /và ban thưởng cho người
    nói thật.//
    Ảnh: Học sinh luyện đọc diễn cảm một đoạn trong bài “ Thái sư Trần Thủ Độ”
    2.3.3.Giải pháp 3: Rèn kĩ năng luyện đọc phân vai
    Những câu chuyện đều có những nhân vật, vì vậy cần đọc sao cho giọng
    18
    đọc phù hợp với tính cách nhân vật trong câu chuyện là không thể thiếu.
    Từ việc luyện đọc đúng, luyện đọc diễn cảm tốt ở trên, học sinh tự phân
    công đóng vai các nhân vật truyện để đọc phân vai. Các nhóm cùng giáo viên
    nhận xét, bổ sung, điều chỉnh sao cho các em biết đọc phân biệt lời dẫn chuyện
    với lời của các nhân vật trong truyện, hiểu tính cách của từng nhân vật sao cho
    để có giọng đọc thích hợp và thay đổi giọng đọc như thế nào trong từng văn
    cảnh cho phù hợp với diễn biến của câu chuyện. Bước đầu biết làm chủ được
    giọng đọc đối với ngữ điệu, tốc độ, đọc cao giọng hay thấp giọng, âm sắc nhằm
    diễn tả đúng nội dung bài. Cuối cùng là thi đọc phân vai giữa các nhóm. Các
    nhóm nhận xét, bổ sung các kĩ năng đọc đúng, đọc hay và bình chọn cho nhóm
    đọc tốt nhất để nêu gương. Từ đó, học sinh thêm yêu thích các nhân vật truyện
    rồi cùng nhau sắm vai thể hiện các hành động, lời nói của các nhân vật.
    Ví dụ 1: Bài “Thái sư Trần Thủ Độ”- Sách HDH Tiếng Việt lớp 5 tập 2(trang
    17).
    Giáo viên cho học sinh nêu các giọng đọc khác nhau trong bài; chú ý đọc
    phân biệt lời người dẫn chuyện, người xin chức câu đương, Linh Từ Quốc Mẫu,
    viên quan, vua. Sau đó, giáo viên yêu cầu học sinh thi đọc phân vai trong nhóm.
    Học sinh phải thể hiện được giọng đọc qua từng đoạn:
    + Đoạn 1: Câu giới thiệu về Trần Thủ Độ: giọng chậm rãi, rõ ràng. Đoạn đối
    thoại giữa thái sư và Linh Từ Quốc Mẫu: giọng nhanh, hấp dẫn. Câu nói của thái
    sư với người xin làm chức câu đương: giọng lạnh lùng, nghiêm nghị.
    + Đoạn 2: Giọng đọc ôn tồn, điềm đạm.
    + Đoạn 3: Lời viên quan tâu với vua: tha thiết, lời vua: chân thành, tin cậy; lời
    Trần Thủ Độ: trầm ngâm, thành thật, gây ấn tượng bất ngờ.
    Học sinh trong nhóm cùng nhau thảo luận tìm ra giọng đọc phù hợp cho
    từng nhân vật nên đã phát triển được năng lực giao tiếp, kĩ năng làm việc nhóm.
    Khi học sinh được đóng vai nhân vật, các em rất hào hứng và sôi nổi. Từ đó, học
    sinh đã mạnh dạn, tự tin hơn; các em được hòa mình vào nhân vật và học tập
    những đức tính tốt từ nhân vật, vận dụng vào trong thực tế cuộc sống; đồng thời
    còn góp phần nâng cao kĩ năng đọc văn bản cho học sinh.
    19
    Ảnh: Học sinh đóng vai một đoạn trong bài “ Trí dũng song toàn”
    Ví dụ 2:
    Trong câu chuyện “Phân xử tài tình ” (Sách HDH TV5 – tập 2), giáo viên
    cho học sinh thảo luận, nêu và đọc được các giọng đọc khác nhau của các nhân
    vật và người dẫn chuyện. Đó là:
    – Giọng người dẫn chuyện: Giọng rõ ràng, rành mạch, biểu thị cảm xúc khâm
    phục.
    – Giọng hai người đàn bà: giọng mếu máo, ấm ức.
    – Giọng quan án: giọng ôn tồn, đĩnh đạc, trang nghiêm.
    Sau đó, giáo viên yêu cầu các em đọc theo hình thức phân vai trong nhóm.
    Giáo viên mời 1 nhóm đọc trước lớp, cả lớp lắng nghe và nhận xét cách đọc của
    từng nhân vật . Sau đó 2 đến 3 nhóm thi đọc để chọn ra nhóm, cá nhân đọc hay
    nhất để nêu gương.
    2.3.4.Giải pháp 4: Áp dụng các phƣơng pháp, kĩ thuật dạy học tích cực theo
    hƣớng phát triển năng lực học sinh
    Để kích thích tư duy sáng tạo và sự cộng tác làm việc của học sinh; tạo
    20
    không khí học tập sôi nổi, vui vẻ để học sinh luyện đọc có hiệu quả; tôi đã phối
    hợp linh hoạt các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực sau:n tr
    2.3.4.1.Phƣơng pháp giải quyết vấn đề
    a.Khái niệm
    Phương pháp giải quyết vấn đề là phương pháp giáo viên tạo ra những
    tình huống có vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác,
    tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh tri
    thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác.
    b.Cách tiến hành
    – Giáo viên nêu vấn đề: Giọng đọc của mỗi nhân vật trong câu chuyện thế nào?
    – Học sinh dự đoán giọng đọc của nhân vật bằng các kiến thức đã học và qua trải
    nghiệm.
    – Học sinh luyện đọc đúng, giải nghĩa từ, tìm hiểu bài. Sau đó, đối chiếu với dự
    đoán.
    – Cuối cùng, học sinh kết luận giọng đọc đúng của từng nhân vật. Từ đó, luyện
    đọc đúng, đọc hay.
    Ví dụ 1: Khi dạy bài Tập đọc “Lập làng giữ biển” -Sách HDH Tiếng Việt 5 tập
    2 (trang 40), sau khi học sinh đọc thầm toàn bài, tôi nêu vấn đề:
    + Giọng đọc của các nhân vật trong câu chuyện thế nào?
    + Từng học sinh sẽ dự đoán giọng đọc của nhân vật, ví dụ :
    Lời của bố Nhụ: điềm tĩnh, lời của ông Nhụ: kiên quyết, lời của Nhụ:
    nhẹ nhàng.
    + Sau khi các em luyện đọc, tìm hiểu bài, luyện đọc diễn cảm thì cá nhân học
    sinh tự đối chiếu với dự đoán của mình xem đã chính xác chưa và trao đổi cặp
    đôi, với các bạn trong nhóm để tìm ra giọng đọc phù hợp. Giọng đọc của các
    nhân vật trong bài:
    Lời của bố Nhụ: lúc đầu điềm tĩnh, dứt khoát; sau đó hào hứng, sôi nổi.
    Lời của ông Nhụ: kiên quyết, gay gắt. Lời đáp của Nhụ: nhẹ nhàng.
    Ví dụ 2: Trong bài tập đọc” Phân xử tài tình” – Sách HDH TV5 tập 2 (trang 51),
    sau khi nghe giáo viên đọc, học sinh dự đoán giọng đọc của mỗi nhân vật:
    21
    Giọng của quan: ôn tồn; giọng của hai người đàn bà: mếu máo; giọng của
    người dẫn chuyện: rõ ràng.
    Sau khi luyện đọc đúng, tìm hiểu bài, luyện đọc diễn cảm thì từng học
    sinh sẽ đối chiếu với dự đoán và rút ra giọng đọc phù hợp của từng nhân vật
    trong bài. Giọng của các nhân vật đọc như sau:
    Người dẫn chuyện: giọng rõ ràng, rành mạch, biểu thị cảm xúc khâm
    phục. Hai người đàn bà: giọng mếu máo, ấm ức. Giọng quan án: ôn tồn, trang
    nghiêm.
    Áp dụng phương pháp này tôi thấy học sinh học tập rất hứng thú, các em
    thấy mình là chủ thể, là nhân vật không thể thiếu của tiết học. Suy nghĩ đó giúp
    các em sáng tạo và rất chủ động trong tiết học. Phương pháp này giúp học sinh
    hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
    2.3.4.2. Phƣơng pháp đóng vai:
    a.Khái niệm:
    Đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành, “làm thử” một số
    cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định.
    Đây là một phương pháp được sử dụng rất nhiều khi dạy văn bản truyện.
    Học sinh được hóa thân vào các nhân vật, cảm nhận được cái hay, cái đẹp của
    tác phẩm hình thành nhân cách cho học sinh. Sử dụng phương pháp đóng vai đã
    phát triển cho học sinh các năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực ngôn ngữ,
    năng lực văn học, phẩm chất yêu nước, nhân ái.
    b. Cách tiến hành
    – Giáo viên chia nhóm và yêu cầu học sinh chọn một đoạn trong bài đọc để đóng
    vai và quy định rõ thời gian chuẩn mực, thời gian đóng vai.
    – Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai. .
    – Các nhóm lên đóng vai.
    – Giáo viên phỏng vấn học sinh đóng vai:
    + Cảm xúc, thái độ của em khi được đóng vai nhân vật trong truyện?
    -Lớp thảo luận, nhận xét:
    + Giọng đọc đã phù hợp với lời của các nhân vật trong truyện chưa? Cách ngắt,
    22
    nghỉ, nhấn giọng, cao độ, ngữ điệu, hành động, cử chỉ đã phù hợp chưa?
    + Bình chọn cho học sinh, cho nhóm nào đóng vai tốt nhất.
    -Giáo viên kết luận.
    Ví dụ 1: Bài “ Chuỗi ngọc lam ” – Sách HDH Tiếng Việt 5 tập 1
    Giáo viên yêu cầu học sinh chọn một đoạn trong bài để đóng vai. Các
    nhóm phân công luyện đọc phân vai và đóng vai nhân vật mình thích. Các bạn
    trong nhóm sửa và thống nhất giọng đọc, hành động, cử chỉ phù hợp của từng
    nhân vật. Sau đó, các nhóm thi sắm vai, các nhóm khác nhận xét, bình chọn cho
    nhóm đóng vai đạt nhất để nêu gương.
    Ví dụ 2: Bài “ Trí dũng song toàn ” – Sách HDH Tiếng Việt 5 tập 2 (trang 28)
    Giáo viên yêu cầu mỗi nhóm chọn một đoạn trong bài để đóng vai. Học
    sinh trong nhóm thảo luận, phân công luyện đọc theo vai nhân vật và sắm vai
    nhân vật mình thích. Sau đó, các nhóm lên sắm vai thể hiện hành động, lời nói
    của nhân vật; các nhóm khác nhận xét, bình chọn cho bạn, cho nhóm đóng vai
    tốt nhất để nêu gương.
    Ảnh: Học sinh đóng vai một đoạn trong bài “ Trí dũng song toàn”
    23
    2.3.4.3. Kĩ thuật khăn trải bàn
    a. Khái niệm
    . Kĩ thuật khăn trải bàn là 1hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác
    kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm mục đích:
    – Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực của học sinh.
    – Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh.
    – Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh với học sinh.
    b. Cách tiến hành
    Ví dụ 1: Bài “ Trí dũng song toàn ”- SGK Tiếng Việt lớp 5 tập 2(trang 28)
    Khi hướng dẫn học sinh luyện đọc các đoạn, tôi đã sử dụng kĩ thuật khăn
    trải bàn. Tôi chia lớp thành các nhóm 4. Nhóm 1 nêu cách đọc của đoạn l, nhóm
    2 nêu cách đọc của đoạn 2, nhóm 3 nêu cách đọc của đoạn 3, nhóm 4 nêu cách
    đọc của đoạn 4. Các nhóm dùng bảng phụ, chia bảng phụ làm các phần, các
    thành viên của từng nhóm ghi nhanh ý kiến của cá nhân mình vào ô của mình
    trên bảng phụ này. Sau đó ý tổng hợp được ghi ở giữa bảng. Học sinh chuyển
    tiếp sang kĩ thuật mảnh ghép để chia sẻ cách đọc tất cả các đoạn. Các nhóm
    khác bổ sung và thống nhất cách đọc đúng cho từng đoạn. Kĩ thuật này đã phát
    triển năng lực giao tiếp và hợp tác, tự chủ và tự học cho học sinh.
    24
    25
    Ví dụ 2: Bài “ Người gác rừng tí hon” ( Sách HDH TV5, tập 1)
    Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài, tôi đã sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn,
    các em hoạt động theo nhóm 4 và trả lời 3 câu hỏi:
    + Vì sao bạn nhỏ tự nguyện tham gia bắt bọn trộm?
    + Em học tập được ở bạn nhỏ những điều gì?
    + Nội dung của đoạn 3 là gì?
    Các nhóm dùng bảng phụ, chia bảng phụ làm các phần, các thành viên của
    từng nhóm ghi nhanh ý kiến của cá nhân mình vào ô của mình trên bảng phụ
    này.
    + Vì sao bạn nhỏ tự nguyện tham gia bắt bọn trộm? (Vì bạn yêu rừng
    giống như ba./ Vì bạn muốn đóng góp công sức của mình để bảo vệ rừng. /Vì
    bạn nhỏ có ý thức, trách nhiệm của một công dân, tôn trọng và bảo vệ tài sản
    chung của mọi người./ Vì bạn nhỏ yêu rừng, có trách nhiệm với tài sản chung
    nên bạn nhỏ tự nguyện tham gia bắt bọn trộm gỗ.)
    + Em học tập được ở bạn nhỏ những điều gì? (Tinh thần, trách nhiệm bảo
    26
    vệ tài sản chung./ Sự bình tĩnh, thông minh khi xử lí tình huống./ Khả năng
    phán đoán và xử lí nhanh./ Tính kiên trì, dũng cảm và sự táo bạo.)
    + Nội dung của đoạn 3 là gì? (Tình yêu rừng của bạn nhỏ.)
    Sau đó ý tổng hợp được ghi ở giữa bảng. Các nhóm khác bổ sung và thống
    nhất ý kiến đúng. Từ việc tìm hiểu kĩ nội dung bài đọc, các em biết chuyển
    giọng đọc linh hoạt, phù hợp với nội dung của từng đoạn và thể hiện đúng giọng
    đọc của mỗi nhân vật trong phần luyện đọc diễn cảm.
    2.3.4.4. Kĩ thuật tia chớp
    a.Khái niệm
    Kĩ thuật tia chớp là một kĩ thuật huy động sự tham gia của các thành viên
    đối với một câu hỏi nào đó, hoặc nhằm thu thông tin phản hồi nhằm cải thiện
    tình trạng giao tiếp và không khí học tập trong lớp học, thông qua việc các thành
    viên lần lượt nêu ngắn gọn và nhanh chóng (nhanh như chớp) ý kiến của mình
    về câu hỏi hoặc tình trạng vấn đề.
    b. Cách tiến hành
    Sử dụng kĩ thuật tia chớp trong rèn đọc như luyện đọc câu văn dài của
    truyện, học sinh lần lượt nêu ngắn gọn và nhanh chóng (nhanh như tia chớp) các
    cách ngắt, nghỉ khác nhau cho cùng một câu văn. Áp dụng kĩ thuật này đã tạo cơ
    hội cho nhiều học sinh được thể hiện và rèn luyện kĩ năng giao tiếp, bày tỏ ý
    kiến, tạo tình huống để học sinh bộc lộ các năng lực như: phản ứng với tốc độ
    nhanh, kĩ năng tư duy.
    Ví dụ 1: Bài “ Con gái ”- SGK Tiếng Việt lớp 5 tập 2 (trang118)
    Khi luyện đọc câu:
    Tan học các bạn trai còn mải đá bóng thì Mơ đã về cặm cụi tưới rau rồi chẻ
    củi, nấu cơm giúp mẹ.
    Bằng kĩ thuật tia chớp giáo viên đưa ra câu hỏi: Để đọc được tốt câu văn
    trên, em cần ngắt nghỉ hơi như thế nào ?
    Nhanh như tia chớp nhiều học sinh được nêu ý kiến của mình để có thể
    đưa ra cách đọc đúng như sau: -li rƣớn ngƣời lên/ và chỉ còn cách xà
    Tan học các bạn trai còn mải đá bóng/ thì Mơ đã về cặm cụi tưới rau /rồi
    27
    chẻ củi, nấu cơm giúp mẹ.
    Ví dụ 2: Bài “ “ Chuỗi ngọc lam”- SHDH Tiếng Việt lớp 5 tập 1(trang 144)
    Học sinh nối tiếp nhau đọc các đoạn văn trong bài, sau đó học sinh nêu
    câu văn dài khó đọc, giáo viên trình chiếu, sử dụng kĩ thuật tia chớp; gọi 2-3 học
    sinh đọc, các bạn nhận xét, bổ sung và thống nhất cách đọc đúng.
    Chiều hôm ấy /có một em gái nhỏ /đứng áp trán vào tủ kính cửa hàng của
    Pi-e, nhìn từng đồ vật như muốn kiếm thứ gì.
    Học sinh rất hào hứng, sôi nổi và bạn nào cũng tích cực tham gia vào hoạt
    động. Khi được đưa ra ý kiến cá nhân đã giúp các em phát triển được kĩ năng
    giao tiếp và các em sẽ nhớ lâu hơn kiến thức mà mình vừa được học. Những học
    sinh rụt rè, nhút nhát cũng dần tự tin hơn và tích cực tham gia vào hoạt động,
    đưa ra ý kiến của mình về cách ngắt, nghỉ câu văn dài. Học sinh được hòa mình
    vào hoạt động, giáo viên tích cực khen ngợi khích lệ nên các em thêm hào hứng.
    Ảnh: Học sinh đọc câu văn dài
    28
    Ví dụ 3: Bài “ Lập làng giữ biển ” – Sách HDH TV5 tập 2 (trang 40). Học sinh
    đọc nối tiếp đoạn,tìm ra câu văn dài khó đọc, giáo viên sử dụng kĩ thuật tia chớp
    để nhiều học sinh được đưa ra ý kiến về cách đọc câu văn sau:
    Nhụ đi và sau đó cả nhà sẽ đi. Đã có một làng Bạch Đằng Giang do
    những người dân chài lập ra ở đảo Mõm Cá Sấu.
    Sau đó, học sinh cùng giáo viên thống nhất cách đọc đúng cho câu văn:
    Nhụ đi/ và sau đó/ cả nhà sẽ đi. // Đã có một làng Bạch Đằng Giang /do
    những người dân chài lập ra /ở đảo Mõm Cá Sấu.//
    Như vậy, khi học sinh học hết chương trình tiểu học hoặc hết một giai
    đoạn học tập, học sinh đã hình thành và phát triển tốt năng lực đọc thì khi gặp
    các văn bản truyện có trong các môn học khác như Lịch sử, Đạo đức,.. hoặc
    trong cuộc sống như ở thư viện, trong sách, báo, tạp chí,… với nhiều thể loại
    khác nhau, học sinh sẽ biết cách đọc phù hợp.Ví dụ: Truyện có yếu tố gây cười
    đọc nhấn giọng từ ngữ hài hước, giọng đọc hóm hỉnh, vui tươi; truyện có yếu tố
    li kì, hấp dẫn, đọc nhấn giọng ở tình tiết kì bí; truyện lịch sử đọc giọng trang
    trọng… Từ đó, học sinh có thể phát triển tốt năng lực giải quyết vấn đề và sáng
    tạo, vận dụng những điều đã học vào trong cuộc sống để đọc và học suốt đời.
    3. Thực nghiệm sƣ phạm
    3.1.Mô tả thực nghiệm dạy học
    3.1.1.Mục đích của thực nghiệm dạy học
    Thực nghiệm dạy học nhằm kiểm định tính khả thi và hiệu quả của các
    phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong việc rèn kĩ năng đọc văn bản
    truyện trong phân môn Tập đọc lớp 5.
    3.1.2.Đối tƣợng thực nghiệm dạy học
    Tôi tiến hành thực nghiệm trên học sinh lớp 5C của trường Tiểu học Thị
    trấn Rạng Đông – Nghĩa Hưng Nam Định (Trường thực hiện dạy học theo mô
    hình VNEN từ năm học 2015 – 2016). Trường có học sinh tham gia thực nghiệm
    không chia lớp chuyên, lớp chọn. Như vậy, trình độ của học sinh là tương đối
    đồng đều giữa các lớp.
    3.1.3. Nội dung và tiến hành thực nghiệm
    29
    Trong năm học 2019 – 2020, tôi đã áp dụng các biện pháp và kĩ thuật dạy
    học như đã trình bày ở phần trên đối với toàn bộ học sinh của lớp 5C.
    Sau đây là một số ví dụ minh họa các tiết học có sử dụng các biện pháp, kĩ
    thuật nêu trên:
    3.1.3.1. Kế hoạch bài dạy “ Tập đọc: Thái sƣ Trần Thủ Độ”
    KẾ HOẠCH BÀI DẠY
    Tập đọc: Thái sƣ Trần Thủ Độ (Bài 20A – Tuần 20)
    I.Mục tiêu:
    1. Phát triển năng lực ngôn ngữ:
    – Đọc trôi chảy được toàn bài, ngắt nghỉ hơi đúng sau các dấu câu, giữa các cụm
    từ. Thay đổi giọng phù hợp với từng nhân vật.
    – Đọc diễn cảm toàn bài.
    2. Phát triển năng lực văn học:
    – Hiểu nội dung bài: Ca ngợi thái sư Trần Thủ Độ – một người cư xử gương
    mẫu, nghiêm minh, không vì tình riêng mà làm sai phép nước.
    3. Phát triển năng lực chung và phẩm chất:
    – Phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác, tự chủ, tự học, giải quyết vấn đề và
    sáng tạo.
    – Khơi gợi lòng tự hào về truyền thống dân tộc, tình yêu đất nước.
    II. Đồ dùng dạy học:
    – Giáo viên: Máy tính, máy chiếu, đồ dùng dạy học, tranh minh họa bài tập đọc,
    video về Thái sư Trần Thủ Độ.
    – Học sinh: Tài liệu hướng dẫn học, điều chỉnh hướng dẫn học ,đồ dùng học tập.
    III. Phƣơng pháp và kĩ thuật dạy học, hình thức tổ chức dạy học
    1. Phương pháp dạy học:
    – Phương pháp trò chơi
    – Phương pháp hỏi đáp
    – Phương pháp quan sát
    – Phương pháp giải quyết vấn đề
    – Phương pháp thực hành luyện tập
    30
    – Phương pháp thảo luận nhóm
    2. Kĩ thuật dạy học:
    – Kĩ thuật đặt câu hỏi
    – Kĩ thuật khăn trải bàn
    – Kĩ thuật thảo luận nhóm
    3. Hình thức tổ chức dạy học:
    – Làm việc cá nhân
    – Nhóm đôi, nhóm 4, cả lớp.
    IV. Các hoạt động dạy học chủ yếu
    A. Hoạt động khởi động: Trò chơi “Chuyền hoa”
    1. Mục tiêu: Khơi gợi hứng thú học tập cho HS. Nêu một đức tính, việc làm tốt
    của người công dân tương lai.
    2. Cách tiến hành:
    – Tổ chức cho học sinh chơi trò chơi: Chuyền hoa.
    + Gv cho cả lớp hát bài “ Lớp chúng mình đoàn kết”, vừa hát và vừa chuyền
    hoa. Bài kết thúc, bông hoa chuyền đến bạn nào thì bạn ấy nêu một đức tính,
    việc làm tốt của người công dân tương lai?
    *Giới thiệu bài:
    – Chúng mình đang học chủ điểm gì? (Chủ điểm Người công dân)
    – Trong tuần 19, chúng ta được tìm hiểu đoạn kịch Người công dân số Một. Vậy
    người công dân số Một là ai? (Bác Hồ)
    – Đúng rồi các em ạ, Bác Hồ là một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Bác
    đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đi qua hai cuộc kháng chiến và giành được độc
    lập, tự do cho dân tộc.
    – Trong các thời kì lịch sử, luôn luôn có những tấm gương, những công dân tiêu
    biểu. Cả cuộc đời họ cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.
    Thái sư Trần Thủ Độ là một trong những tấm gương ưu tú đó. Hôm nay, cô trò
    mình cùng nhau tìm hiểu bài tập đọc Thái sư Trần Thủ Độ.
    – GV ghi tên bài.
    31
    – HS ghi tên bài vào vở.
    *Tìm hiểu và chia sẻ mục tiêu
    – Gọi HS đọc mục tiêu trong điều chỉnh HDH.
    – GV chốt- chuyển: Cô nhất trí với ý kiến của các em. Mời các em HĐ theo
    điều chỉnh HDH.
    B. Hoạt động cơ bản.
    Hoạt động 1: Quan sát tranh, trả lời câu hỏi
    1. Mục tiêu: Quan sát tranh minh họa bài tập đọc và nghe giới thiệu về Thái sư
    Trần Thủ Độ.
    2. Cách tiến hành:
    – Quan sát tranh minh họa cho nội dung bài đọc Thái sư Trần Thủ Độ và trả lời
    câu hỏi:
    -HS quan sát tranh và trả lời câu hỏi cá nhân .
    + Bức tranh vẽ cảnh gì? (Bức tranh vẽ cảnh một người quen của vợ Trần Thủ
    Độ mang của cải vào xin làm chức câu đương)
    + Bạn biết gì về ông Trần Thủ Độ? (Trần Thủ Độ là người có công lập nên
    nhà Trần. Ông là người rất nghiêm minh)
    -HS chia sẻ trong nhóm.
    -HS chia sẻ trước lớp.
    – GV giới thiệu thêm về nhân vật Trần Thủ Độ : Thái sư Trần Thủ Độ là người
    thông minh bậc nhất lịch sử Việt Nam. Ông sinh năm 1194, mất năm 1264. Ông
    chính là một trong những người có công lao khai sáng, xây dựng và lập nên nhà
    Trần. Ông hết lòng, hết sức, tận tụy, trung thành giúp các vua Trần giữ gìn cơ
    nghiệp, bảo vệ đất nước, chống giặc ngoại xâm. Khi quân Nguyên – Mông tràn
    qua biên giới, vua Trần vô cùng lo lắng nhưng Trần Thủ Độ khẳng định: “ Đầu
    thần chưa rơi, xin bệ hạ đừng lo.” Không những thế , ông còn là một tấm gương
    cư xử gương mẫu, nghiêm minh. Bài học hôm nay giúp em hiểu thêm về nhân
    vật lịch sử này.
    32
    Hoạt động 2: Nghe thầy cô đọc bài
    1. Mục tiêu: Nghe giáo viên đọc, đọc thầm và nhận biết giọng đọc bài.
    2. Cách tiến hành:
    -GV đọc mẫu.
    -1 HS đọc toàn bài. Học sinh chọn nhân vật và dự đoán giọng đọc của nhân vật
    -Chuyển: Chúng ta cùng chuyển sang hoạt động 2.
    Hoạt động 3: Đọc từ và lời giải nghĩa
    1. Mục tiêu: Hiểu được nghĩa của một số từ ngữ có trong bài đọc.
    2. Cách tiến hành:
    Việc 1: 1 bạn đọc từ, 1 bạn đọc lời giải nghĩa.
    Việc 2: Tra từ điển (nếu có từ em thấy khó hiểu)
    -HS tự tra từ điền tìm hiểu nghĩa của những từ mà học sinh chưa hiểu.
    – GV giải thích thêm cho học sinh:
    thềm cấm: khu vực cấm trước cung vua
    khinh nhờn: coi thường
    kể rõ ngọn ngành : nói rõ đầu đuôi sự việc
    chầu vua: vào triều nghe lệnh vua
    hạ thần : từ ngữ mà quan lại thời xưa dùng để tự xưng khi nói với vua.
    chuyên quyền : nắm mọi quyền hành và tự ý quyết định mọi việc.
    tâu xằng: tâu sai sự thật.
    Hoạt động 4: Cùng luyện đọc
    1. Mục tiêu: Phát âm đúng, đọc đúng từ ngữ, câu, đoạn của bài.
    2. Cách tiến hành:
    -GV: Bài đọc Thái sư Trần Thủ Độ được chia thành 3 đoạn.
    + Đoạn 1: Từ đầu ……… ông mới tha cho.
    +Đoạn 2: Một lần khác……..lụa thưởng cho.
    33
    +Đoạn 3: Còn lại
    -Mỗi một đoạn là một mẩu chuyện ngắn về cách cư xử gương mẫu và nghiêm
    minh của ông.
    – GV giao nhiệm vụ: Học sinh đọc thầm cá nhân, đọc nối tiếp nhau trong nhóm
    câu chuyện. Sau đó, GV sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn. GV chia lớp thành các
    nhóm 4. Nhóm 1 nêu cách đọc của đoạn l, nhóm 2 nêu cách đọc của đoạn 2,
    nhóm 3 nêu cách đọc của đoạn 3, nhóm 4 nêu cách đọc của đoạn 4. Các nhóm
    dùng bảng phụ, chia bảng phụ làm các phần, các thành viên của từng nhóm ghi
    nhanh ý kiến của cá nhân mình vào ô của mình trên bảng phụ này. Sau đó ý tổng
    hợp được ghi ở giữa bảng. Học sinh chuyển tiếp sang kĩ thuật mảnh ghép để
    chia sẻ cách đọc tất cả các đoạn.
    + Đoạn 1: Câu giới thiệu về Trần Thủ Độ giọng chậm rãi, rõ ràng. Đoạn đối
    thoại giữa Thái sư và Linh Từ Quốc Mẫu: giọng nhanh, hấp dẫn. Câu nói của
    Thái sư với người xin làm chức câu đương: giọng lạnh lùng, nghiêm nghị.
    + Đoạn 2: Giọng đọc ôn tồn, điềm đạm.
    + Đoạn 3: Lời viên quan tâu với vua: tha thiết, lời vua: chân thành, tin cậy; lời
    Trần Thủ Độ: trầm ngâm, thành thật, gây ấn tượng bất ngờ.
    – Trưởng ban học tập cho các bạn đọc nối tiếp trước lớp.
    +HS đọc nối tiếp trước lớp. (2 lượt hs đọc)
    – HS đọc nối tiếp lượt 2.
    -Hs khác nhận xét.
    -Gv nhận xét, sửa cho hs.
    Hoạt động 5: Tìm hiểu bài
    1. Mục tiêu: Trả lời đúng các câu hỏi về nội dung bài. Hiểu được nội dung bài
    đọc.
    2. Cách tiến hành:
    Việc 1: Đọc thầm và trả lời câu hỏi trong sách HDH.
    Việc 2: Chia sẻ với bạn trong nhóm.
    -GV Chia sẻ trƣớc lớp: GV hỏi :
    34
    -Đoạn 1:
    + Khi có người muốn xin chức câu đương, ông Trần Thủ Độ đã làm gì?
    (Khi có người muốn xin chức câu đương, ông Trần Thủ Độ đã đồng ý nhưng
    yêu cầu chặt một ngón chân của người đó để phân biệt với các câu đương khác)
    -Đoạn 2:
    +Trước việc làm của người quân hiệu, ông Trần Thủ Độ xử lí ra sao? (Trước
    việc làm của người quân hiệu, ông Trần Thủ Độ không những không trách móc
    mà còn thưởng cho vàng, lụa)
    + Vì sao ông Trần Thủ Độ lại thưởng vàng, lụa cho người quân hiệu? (Vì ông
    khuyến khích những nguòi làm đúng theo phép nước)
    -Đoạn 3:
    +Khi biết có viên quan tâu với vua rằng mình chuyên quyền, ông Trần Thủ Độ
    nói thế nào? (Ông Trần Thủ Độ đã nhận lỗi và xin vua ban thưởng cho viên
    quan dám nói thẳng)
    + Những lời nói và việc làm của ông Trần Thủ Độ cho thấy ông là người như
    thế nào? (Ông là người cư xử nghiêm minh, nghiêm khắc với bản thân, luôn đề
    cao kỉ cương, phép nước)
    -Học sinh xin ý kiến của giáo viên.
    -GV chia sẻ thêm và chốt kiến thức:
    + Ở mẩu chuyện thứ nhất, khi có người muốn xin chức câu đương, ông Trần
    Thủ Độ đã đồng ý nhưng yêu cầu chặt một ngón chân của người đó để phân biệt
    với các câu đương khác. Cô đố các em biết vì sao ông lại làm như vậy? (Vì ông
    muốn răn đe những kẻ không làm theo phép nước)
    +Thông qua ba mẩu chuyện trên, em có nhận xét gì về Thái sư Trần Thủ Độ?
    (Bài đọc ca ngợi thái sư Trần Thủ Độ – một người cư xử gương mẫu, nghiêm
    minh, không vì tình riêng mà làm sai phép nước.)
    Hoạt động 6: Đọc phân vai trong nhóm
    1. Mục tiêu: Đọc phân vai đoạn văn 3 trong bài văn.
    35
    2. Cách tiến hành:
    -Các nhóm luyện đọc phân vai đoạn 3 (người dẫn chuyện, viên quan, vua, Trần
    Thủ Độ).
    Học sinh thảo luận và nêu giọng đọc của các nhân vật: Lời viên quan tâu
    với vua: tha thiết, lời vua: chân thành, tin cậy; lời Trần Thủ Độ: trầm ngâm,
    thành thật, gây ấn tượng bất ngờ. Sau đó, học sinh phân công luyện đọc phân vai
    trong nhóm.
    Hoạt động 7: Thi đọc
    – Các nhóm thi đọc phân vai đoạn 3 trước lớp.
    + Cô mời 2-3 nhóm thi đọc phân vai đoạn 3 trước lớp.
    -Cùng bình chọn nhóm đọc hay, bạn đọc hay nhất.
    + Các em hãy bình chọn cho nhóm đọc hay, bạn đọc hay nhất.
    + Tại sao em lại bình chọn cho nhóm bạn?
    + Vì sao em lại thích cách đọc của bạn?
    – Các nhóm cùng thi sắm vai một đoạn trong bài, các nhóm khác nhận xét, bình
    chọn cho bạn, cho nhóm đóng vai tốt nhất để nêu gương.
    * Hoạt động kết thúc, nối tiếp:
    – Hs đánh giá việc thực hiện mục tiêu:
    + Theo các em, tiết học hôm nay chúng mình đã thực hiện được mục tiêu
    của bài học chưa? (Theo em, chúng em đã thực hiện được mục tiêu của bài học
    vì chúng em đã đọc diễn cảm và hiểu được nội dung của bài đọc Thái Sư Trần
    Độ)
    – Gv nhận xét, đánh giá : Qua tiết học hôm nay, cô thấy tất các em đều tích cực
    học tập, tiết học của chúng ta rất sôi nổi. Đặc biệt, các em đã đọc rất hay, thể
    hiện được cảm xúc của các nhân vật và hiểu được nội dung của bài. Cô khen tất
    cả các em.
    – Gv cho hs xem video về Thái sư Trần Thủ Độ.
    – Hs viết thư chia sẻ sau bài học.
    36
    3.1.3.2. Kế hoạch bài dạy “ Tập đọc: Công việc đầu tiên”
    KẾ HOẠCH BÀI DẠY
    Tập đọc: Công việc đầu tiên (Bài 31A – Tuần 31)
    I.Mục tiêu
    1. Phát triển năng lực ngôn ngữ:
    – Đọc trôi chảy được toàn bài, ngắt nghỉ hơi đúng sau các dấu câu, giữa các cụm
    từ, nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả.
    – Đọc diễn cảm toàn bài, thay đổi giọng linh hoạt phù hợp với từng nhân vật.
    2. Phát triển năng lực văn học:
    -Hiểu nội dung bài: Bài văn nói lên nguyện vọng và lòng nhiệt thành của một
    phụ nữ dũng cảm muốn làm việc lớn, đóng góp công sức cho cách mạng.
    3. Phát triển năng lực chung và phẩm chất:
    – Phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác, tự chủ, tự học, giải quyết vấn đề và
    sáng tạo.
    – Khơi gợi lòng tự hào về truyền thống dân tộc, tình yêu đất nước, trách nhiệm
    giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc.
    II. Đồ dùng dạy học:
    – Giáo viên: Máy tính, máy chiếu, đồ dùng dạy học, tranh minh họa bài tập đọc,
    video bài hát “ Phụ nữ Việt Nam”.
    – Học sinh: Tài liệu hướng dẫn học, điều chỉnh hướng dẫn học ,đồ dùng học tập.
    III. Phƣơng pháp và kĩ thuật dạy học, hình thức tổ chức dạy học
    1. Phương pháp dạy học:
    – Phương pháp trò chơi
    – Phương pháp hỏi đáp
    – Phương pháp quan sát
    – Phương pháp giải quyết vấn đề
    – Phương pháp thực hành luyện tập
    – Phương pháp thảo luận nhóm
    2. Kĩ thuật dạy học:
    – Kĩ thuật đặt câu hỏi
    37
    – Kĩ thuật khăn trải bàn
    – Kĩ thuật thảo luận nhóm
    3. Hình thức tổ chức dạy học:
    – Làm việc cá nhân
    – Nhóm đôi, nhóm 4, cả lớp.
    IV. Các hoạt động dạy học chủ yếu

    HĐ của GVHĐ của HS
    A. Hoạt động khởi động: Trò chơi
    “Mảnh ghép”
    1. Mục tiêu: Khơi gợi hứng thú học tập cho HS.
    Nêu được những tấm gương phụ nữ Việt Nam anh
    hùng qua các thời kì lịch sử
    2. Cách tiến hành:
    – Để khởi động tiết học, cô sẽ tổ chức cho các em
    chơi trò chơi “ Mảnh ghép”.
    Mảnh 1. Tên vị nữ anh hùng được nói đến trong
    đoạn thơ sau: “Người con gái….” (Võ Thị Sáu)
    Mảnh 2. Người con gái vùng núi Quan Yên – Thanh
    Hóa cùng anh là Tiệu Quốc Đạt lãnh đạo cuộc khởi
    nghĩa chống quân Ngô xâm lược là ai? (Triệu Thị
    Trinh).
    Mảnh 3. Năm 40, Hai người phụ nữ lãnh đạo nhân
    dân khởi nghĩa chống quân Nam Hán là ai? (Hai Bà
    Trưng)
    Mảnh 4. Người phụ nữ là Bộ trưởng Ngoại giao
    nước ta tham gia Lễ kí hiệp định Pa- ri 1973 là ai?
    (Nguyễn Thị Bình)
    -GV: Các mảnh ghép mà chúng ta vừa tìm được đó
    là những tấm gương phụ nữ Việt Nam anh hùng qua
    – Chơi trò chơi mảnh
    ghép.
    – Là anh hùng lực
    lượng vũ trang/ Lãnh
    đạo đội quân tóc dài/
    Lãnh đạo đồng khởi
    Bến Tre.

    38

    các thời kì lịch sử. Còn người phụ nữ trong bức ảnh
    này là ai? (bà Nguyễn Thị Định)
    – Nói những điều em biết điều gì về bà Nguyễn Thị
    Định, hãy chia sẻ?
    GV: Bà Nguyễn Thị Định là một tấm gương nổi
    tiếng, là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên được
    phong Thiếu tướng, là anh hùng lực lượng vũ trang,
    Phó tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam,
    Phó Chủ tịch hội đồng nhà nước; tên tuổi bà gắn
    liền với phong trào Đồng khởi và “đội quân tóc dài”
    được khai sinh từ Bến Tre, quê hương bà. Và bài
    đọc “Công việc đầu tiên” chúng ta học hôm nay là
    trích đoạn hồi kí của bà- kể lại ngày bà còn là cô gái
    lần đầu làm việc cho cách mạng. Mời các em mở
    SGK Bài 31A: Người phụ nữ dũng cảm. – GV ghi
    bảng.
    B. Hoạt động cơ bản
    Hoạt động 1: Nghe thầy cô đọc bài
    1. Mục tiêu: Nghe giáo viên đọc, đọc thầm và nhận
    biết giọng đọc bài.
    2. Cách tiến hành:
    – GV: Trước hết cô sẽ đọc bài Công việc đầu tiên,
    các em hãy lắng nghe và phát hiện xem cô đã đọc
    bài với giọng đọc thế nào nhé!
    -GV đọc m

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một  số giải pháp giúp các em học sinh lớp 2 viết đoạn văn ngắn bằng phương pháp trải nghiệm

    SKKN Một  số giải pháp giúp các em học sinh lớp 2 viết đoạn văn ngắn bằng phương pháp trải nghiệm

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Ở bậc Tiểu học, môn Tiếng Việt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với học sinh
    bởi nó là môn học cung cấp cho các em những kiến thức, kĩ năng cần thiết để các
    em học tập và giao tiếp. Nó giúp các em có những hiểu biết về Tiếng Việt và
    những hiểu biết ban đầu về xã hội, tự nhiên và con người.
    Dạy học Tiếng Việt là dạy học tiếng mẹ đẻ. Đó là môn học hình thành và phát
    triển ở học sinh 4 kĩ năng: đọc – viết– nghe – nói. Trong môn Tiếng Việt, phân
    môn Tập làm văn là phân môn mang tính chất tổng hợp, sáng tạo, thực hành, thể
    hiện đậm nét dấu ấn cá nhân. Tập làm văn, viết văn, hành văn là cái đích cuối cùng
    cao nhất của việc học Tiếng Việt ở Tiểu học.
    Đối với HS lớp 2 thì đây là một phân môn khó. Bởi ở lứa tuổi của các em, vốn kiến
    thức và hiểu biết còn hạn hẹp. Bên cạnh đó còn có một số khó khăn khách
    quannhưđiều kiện sống của HS ở địa bàn thuộc vùng nông thôn, gia đình không có
    điều kiện để quan tâm đến các em nhiều, việc diễn đạt ngôn ngữ kém, việc tiếp thu
    kiến thức khá chậm, HS nghèo vốn từ ngữ,…Điều này ảnhhưởng nhiều đến việc
    học tập nói chung, học phân môn Tập làm văn nói riêng. Trong chương trình Tiếng
    Việt lớp 2, ngay từ đầu năm học, các em đựơc làm quen với đoạn văn và được rèn
    kỹ năng viết đoạn văn từ 3 đến 5 câu. Trong quá trình làm bài, tôi nhận thấy các
    em còn lúng túng, nhiều HS làm bài chưa đạt yêu cầu. Các em thường lặp lại câu
    đã viết, dùng từ sai, có em viết không đúng yêu cầu của đề bài hoặc có những bài
    làm đảm bảo về số câu nhưng viết không đủ ý.
    Viết là kỹ năng khó nhất trong bốn kĩ năng ngôn ngữ(đọc, viết, nghe, nói) vì khi
    viết ta phải viết sao cho đúng về từ vựng, cấu trúc câu(ngữ pháp), cấu trúc đoạn,
    cấu trúc bài và hiệu quả về cách diễn đạt. Trong khi học sinh gặp nhiều khó khăn
    khi thực hiện các kĩ năng nêu trên thì trong quá trình viết các em lại chưa được
    hướng dẫn thật chi tiết, kĩ lưỡng. Cụ thể giáo viên có thể cho học sinh đọc bài
    mẫu- trả lời câu hỏi- và viết bài theo mẫu; hoặc giáo viên cho đề bài tập làm văncùng học sinh phân tích yêu cầu của đề bài- và các em viết bài. Trong quá trình các
    2
    em viết bài, giáo viên có giám sát và hỗ trợ các em. Tuy nhiên cách hỗ trợ chỉ dừng
    lại ở mức độ là : các em viết hoàn toàn theo ý văn, lời văn của giáo viên hoặc giáo
    viên để các em hoàn toàn tự “bơi” với hướng dẫn “yêu cầu đề bài là như vậy, các
    em làm bài đi”. Dẫn đến tình trạng học sinh bị áp đặt và mất đi tính chủ động, tích
    cực trong suy nghĩ và thực hành viết vì thiếu sự hướng dẫn cần thiết của GV. Kết
    quả là HS không viết được đoạn văn hoặc viết kém hiệu quả. Chính vì vậy dẫn đến
    thực trạng các em rất sợ đến giờ viết văn và bản thân giáo viên cũng thấy áp lực
    khi đến giờ dạy tập làm văn.
    Trong giờ học, quá trình hợp tác, HS còn nhút nhát, thiếu tự tin, không mạnh dạn
    trao đổi, bảo vệ ý kiến của mình. Đồng thời do quen với cách học tiếp thu kiến
    thức thụ động, nên gặp trở ngại khi phải tự tìm tòi, phát hiện, hợp tác, chia sẻ trong
    việc giải quyết vấn đề đặt ra trong quá trình học tập: Làm thế nào để học sinh có
    hứng thú làm văn và giờ học đạt hiệu quả cao? Làm thế nào để học sinh của tôi
    viết đúng, viết tốt các dạng văn? Qua một thời gian nghiên cứu, tìm tòi các biện
    pháp để tìm câu trả lời cho những băn khoăn, trăn trở đó, tôi đã vận dụng phương
    pháp: dạy học làm văn bằng phương pháp trải nghiệm. Saukhi áp dụng, vận dụng
    trong quá trình giảng dạy, tôi đã thành công với phương pháp dạy học này, nâng
    cao chất lượng học tập cho HS của lớp mình nhất là đối tượng HS yếu của lớp.
    Đây là lý do tôi chọn và áp dụng:“Một số giải pháp giúp các em học sinh lớp 2
    viết đoạn văn ngắn bằng phương pháp trải nghiệm.” Sau đây, tôi xin trình bày
    một số giải pháp mà bản thân đã đúc kết được trong thời gian qua.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP KĨ THUẬT:
    II.1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
    Là một giáo viên đã trực tiếp giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 2 nhiều năm, tôi
    nhận thấy:
    Khi học sinh bắt đầu làm quen và tiếp cận với phân môn Tập làm văn, để có
    cơ sở cho việc viết văn của mình thì các em phải biết thu thập thông tin, xử lý
    thông tin phù hợp với nội dung viết mà học sinh lại thiếu kỹ năng quan sát (nhiều
    3
    em còn chưa hiểu quan sát là gì), chưa có kĩ năng tưởng tượng, thu thập thông tin
    cần thiết, chưa biết sử dụng từ ngữ, dùng từ đặt câu để viết thành câu văn nên bài
    viết chưa đủ ý, câu văn không diễn đạt đầy đủ những gì mình đã quan sát được.
    Thường thì thấy cái gì các em nghĩ ra và viết cái đó theo kiểu liệt kê chứ không
    biết chắt lọc, chưa biết thu thập, sắp xếp thông tin cần thiết dẫn đến bài văn viết
    thường lủng củng, thiếu hình ảnh, câu văn không đủ các thành phần câu, không
    logic. Mặt khác do vốn từ, vốn sống thực tế của các em còn ít dẫn đến việc sử dụng
    từ còn lặp, vụng, chưa đúng. Bài viết của các em còn lộn xộn về ý, câu văn còn lặp
    từ, sai, thiếu dấu câu. Thậm chí có những em còn không biết viết một câu văn ngắn
    như thế nào. Trong khi học sinh gặp nhiều khó khăn như thế mà giáo viên lại chưa
    cảm nhận được hết những khó khăn đó của trẻ để tìm ra cách dạy tốt hơn.Nhiều em
    không hứng thú với tiết học làm văn hoặc gặp khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ
    nên các em thiếu tự tin khi chia sẻ bài viết của mình. Các em thực hiện không hào
    hứng những yêu cầu của giáo viên. Vì vậy mà chất lượng bài văn của học sinh còn
    hạn chế, không được như tôi mong muốn.
    Thời gian đầu bản thân tôi cũng còn chủ quan, nghĩ là học sinh của tôi ở vùng
    nông thôn, hàng ngày các em tiếp xúc gần gũi với thiên nhiên. Như vậy học sinh
    có nhiều vốn từ, vốn kiến thức để làm tốt bài văn. Nhưng thực tế trong quá trình
    giảng dạy tôi nhận ra rằng những suy nghĩ ban đầu của tôi là chưa đúng. Một
    nguyên nhân nữa là do bản thân giáo viên cũng ít thực hành viết. Việc dạy học
    hàng ngày ít đòi hỏi bản thân phải viết những văn bản có yêu cầu cao về kỹ thuật.
    Bản thân cũng chưa thường xuyên tự yêu cầu chính mình thực hành viết các đoạn
    văn, hay các dạng văn để phục vụ cho việc dạy tập làm văn. Việc ít thực hành
    khiến giáo viên không lường hết được những khó khăn của trẻ.
    Về phía phụ huynh học sinh: Mặc dù phụ huynh học sinh luôn kết hợp và sẵn
    sàng đồng hành cùng giáo viên trong các hoạt động giáo dục nhưng nhiều phụ
    huynh cho rằng học Tập làm văn là khó. Họ nghĩ viết văn hay là phải có năng
    khiếumới viết được. Lớp 2 các em đã biết gì mà viết văn và viết văn là dành cho
    4
    các lớp lớn hơn. Cho nên việc hỗ trợ, giúp đỡ cho các con ở nhà với phân môn này
    chưa được phụ huynh thực sự quan tâm.
    II.2. Mô tả giải pháp sau khi thực hiện sáng kiến:
    Với những trăn trở, khó khăn của mình trong việc dạy các em viết được một
    đoạn văn ngắn trong chương trình lớp 2,sau khi tìm tòi, nghiên cứu“Dạy tập làm
    văn theo phương pháp trải nghiệm”, tôi đã áp dụng, thực hiện các giải pháp để tiết
    tập làm văn gần hơn với học sinh, tạo hứng thú ngay từ đầu tiết học, tổ chức các
    hoạt động một cách nhẹ nhàng, giúp các em dễ hiểu, phát huy được tính chủ động,
    sáng tạo và tích cực của các em. Qua mỗi tiết làm văn giúp các em dần biết quan
    sát và cảm nhận cuộc sống, biết cách diễn đạt bằng lời những điều quan sát và cảm
    nhận được. Mỗi khi học viết một bài văn là một lần các em học quan sát và cảm
    nhận bức tranh cuộc sống, rồi tập vẽ lại bức tranh đó bằng lời văn của mình.
    Để các em có thể làm quen và vận dụng viết văn có hiệu quả, trước tiên giáo
    viên giúp học sinh viết các câu văn phải chuẩn về ngữ pháp, có đủ các thành phần
    câu. Các câu diễn đạt rõ ý. Từ ngữ được sử dụng phù hợp với ngữ cảnh bài văn,
    không dùng từ ngữ mĩ miều, không trung thực, vay mượn từ bên ngoài,không
    khẳng định quá mức, không nhấn mạnh quá mức, cũng không lạm dụng các biện
    pháp tu từ làm biến dạng sự thật ( ví dụ: so sánh thân con mèo bằng cái phích, tai
    như cái nấm mèo, ria như ăng ten). Sự chân thật và khả năng diễn đạt chính xác
    bằng lời những quan sát và cảm nhận về cuộc sống mới làm nên những bài văn tốt.
    Học sinh lớp 2 chưa được học về lý thuyết, ngữ pháp, các khái niệm từ và câu
    được hình thành thông qua thực hành luyện tập. Chính vì vậy, việc tăng cường sử
    dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ rất cần thiết trong giờ học Tập làm văn. Sử
    dụng phương pháp này để GV có cơ sở giúp HS nhận ra cấu tạo câu, nhằm giúp
    các em viết câu đúng, đủ các bộ phận của câu.
    Dựa vào các mẫu câu được học trong phân môn Luyện từ và câu: “ Ai – là gì?”, “
    Ai – làm gì?”, “ Ai –thế nào?”, GV hướng dẫn HS nhận biết những vấn đề sau:
    5
    – Câu văn của em viết ra đã đủ hai bộ phận chưa: Bộ phận trả lời cho câu hỏi
    Ai?(hoặc cái gì?/ con gì?), bộ phận trả lời cho câu hỏi Là gì? (hoặc làm gì?/ thế
    nào? ( Đó chính là đảm bảo về hình thức cấu tạo ).
    – Người đọc, người nghe có hiểu nội dung chưa? ( Đảm bảo về mặt nghĩa )
    Trên cơ sở đó, tôi hướng dẫn HS viết dấu chấm khi hết câu.
    Với các em lớp 2, phân môn Tập làm văn tập trung vào dạy cho học sinh kĩ năng
    viết cơ bản. Học sinh viết để diễn đạt những gì các em quan sát được bằng các giác
    quan và cảm nhận được trong cảm xúc của các em. Các em học viết về những điều
    có thật, có thể quan sát được và cảm nhận được. Để HS có thể viết một bài ở bất cứ
    độ khó hay độ dài nào, tôi luôn luôn hướng dẫn các em tuân theo các tiến trình viết
    sau:
    a, Bước thứ nhất là bước chuẩn bị: ( gồm 2 việc: việc một là xác định yêu cầu đề
    bài. Việc hai là thu thập thông tin)
    * Xác định yêu cầu đề bài: Ở bước này các em cần trả lời được câu hỏi:
    Yêu cầu của bài viết là gì? Sau đó các em xác định các phần nội dung chính của
    bài viết. Ví dụ: khi miêu tả một người, các phần nội dung chính có thể là: Hình
    dáng bên ngoài, tính cách, công việc, sở thích, thói quen,…Đây chưa phải là thông
    tin cụ thể, chi tiết, đây là các đề mục, các phần nội dung cần viết.
    Sau khi xác định các phần nội dung chính cần có, các em sẽ sắp xếp các phần nội
    dung này theo một thứ tự hợp lý, gọi là cấu trúc(dàn ý) của bài viết. Cấu trúc bài
    viết thể hiện sự liên kết giữa các phần nội dung, đồng thời định hướng việc thu
    thập thông tin chi tiết cho bài viết.
    *Hướng dẫn thu thập thông tin: Việc thu thập thông tin đóng vai trò quyết định đối
    với kết quả cuối cùng bởi nếu không có “ thông tin”, học sinh sẽ không có gì để
    viết. Vì vậy với mỗi tiết học làm văn, bản thân tôi phải có sự chuẩn bị, thiết kế
    được hệ thống câu hỏi để giúp học sinh thu thập thông tin, qua những thông tin thu
    thập được các em sẽ viết được đoạn văn làm người đọc, người nghe có thể hình
    6
    dung được nội dung mà các em viết. Việc thu thập thông tin phải được diễn ra
    thường xuyên thông qua các tiết học Tập đọc, qua trải nghiệm, quan sát, tưởng
    tượng, cảm nhận cuộc sống. Ví dụ khi thu thập thông tin để viết về một người, tôi
    đã tiến hành:

    Các phần nội
    dung chính
    Sắp xếp các
    phần nội dung
    thành cấu trúc
    hợp lý
    Câu hỏi để thu
    thập thông tin
    Thông tin thu
    thập được
    – Công việc
    -Hình dáng bên
    ngoài
    – Phong cách làm
    việc
    -Tính cách
    -Dáng vẻ
    Hình dáng bên
    ngoài
    Dáng vẻ
    Công việc và
    phong cách làm
    việc.
    Hình dáng bên
    ngoài của người
    đó có gì đặc biệt/
    đáng chú ý để
    nhận ra?
    Dáng vẻ của
    người đó thế nào?
    Người đó làm gì?
    Người đó thế nào
    trong công việc?
    Điều đó(yêu công
    việc) thể hiện như
    thế nào?
    *Khoảng 40 tuổi,
    thấp, đậm, da
    trắng, tóc mới làm
    xoăn.
    *Rất nhanh nhẹn,
    hoạt bát: đi nhanh,
    nói nhanh, nói
    năng rõ ràng, suy
    nghĩ mạch lạc, mắt
    sáng.
    *Bác sỹ, Trạm y tế
    của xã.
    *Kinh nghiệm 30
    năm.
    *Chữa giỏi: rất cẩn
    thận, giải thích
    ngắn gọn, dễ hiểu,
    có chút hài hước,
    rất gần gũi.
    *Yêu công việc:
    Lúc nào cũng nói
    về công việc,
    không nói chuyện
    khác, nghiên cứu

    7

    Tính cáchNgười đó có tính
    cách gì nổi bật?
    (Đó là người như
    thế nào?)Điều
    đó(tự trọng)thể
    hiện như thế nào?
    nhiều sách, tìm tòi
    các phác đồ điều trị
    hiệu quả.
    * Tự trọng:

    Sau khi định hướng để các em thu thập thông tin, bước xử lý thông tin là làm
    những việc như:
    – Sắp xếp thông tin chi tiết vào những phần/ đề mục phù hợp trong bài viết.
    – Chọn lọc và bỏ bớt những thông tin không đặc trưng.
    – Tổng hợp các thông tin định lượng (nếu có).
    – Xác định những thông tin còn thiếu cần tiếp tục thu thập. Ở vị trí trong bảng trên,
    phần “tính cách” còn thiếu thông tin chi tiết thể hiện tính “tự trọng”.
    -Đưa ra các nhận định ban đầu trên cơ sở các thông tin chi tiết.Ở ví dụ trong bảng
    trên, phần gạch chân là các nhận định ban đầu.
    b, Bước thứ hai là bước viết câu văn, đoạn văn:
    Ở giai đoạn này, GV sẽ giúp HS :
    – Chọn cách diễn đạt các thông tin đã thu được, tùy theo khả năng của mỗi
    HS, các em viết theo cách viết đơn giản, trực tiếp, ngắn gọn và rõ ý. Với những em
    khá có thể diễn đạt thành các câu văn có hình ảnh với tình cảm mượt mà, gây bất
    ngờ trong cách viết với lối dùng từ, đặt câu.
    -HS có thể viết theo từng phần của cấu trúc bài viết đã xác định. Không nhất
    thiết phải bắt đầu từ đầu bài viết; viết phần nào mà các em thấy hứng thú hơn, dễ
    bắt đầu hơn thì nên bắt đầu ở đó.
    – Viết với tốc độ phù hợp với bản thân.
    8
    – Vượt qua bế tắc bằng cách cứ tiếp tục viết, mặc dù biết mình viết phần đó
    chưa tốt.
    – Chú ý khi viết phải để ý đến những lỗi như chính tả, ngữ pháp, trình bày bài viết.
    c, Bước thứ ba là bước sửa bài viết:
    Ở phần này, mỗi HS sẽ đọc bài viết của mình trước lớp. Cả lớp cùng nghe sửa
    lỗi, điều chỉnh, bổ sung những chỗ cần thiết theo nội dung:
    – Bài viết đã thể hiện đúng nội dung, yêu cầu của đề bài chưa?
    – Thông tin đã đầy đủ và thuyết phục chưa?
    – Các câu văn đã lưu loát chưa?
    – Bài có lỗi chính tả, ngữ pháp nào không?
    Bản thân tôi luôn ý thức và hiểu đúng về sự cần thiết của việc hướng dẫn học
    sinh.Nếu hướng dẫn không đủ, học sinh sẽ gặp khó khăn, có thể rơi vào tình trạng
    bế tắc, không làm được bài.Vì thế tôi đã áp dụng chu trình dạy học tậplàm văn
    bằng phương pháp trải nghiệm cho học sinh lớp tôi theo 9 bậc phân hóa mức độ
    phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh.Sau đây là 9 bậc của chu trình dạy
    học sinh bằng phương pháp trải nghiệm mà tôi đã áp dụng cho HS trong những
    năm học vừa qua:

    Các bước thực
    hiện
    Mức độ hỗ trợ của GV
    đối với quá trình viết của HS
    Bậc1. GV đặt câu hỏi, HS trả lời, GV giúp HS trả lời.
    . GV viết lên bảng các ý cần đưa vào thành câu.
    . GV giúp HS nói thành câu dựa vào các ý trên.
    . GV nói lại câu, sau đó viết câu hoàn thiện lên bảng.
    . HS nói lại câu và chép lại câu trên bảng vào vở.

    9

    Bậc2. GV đặt câu hỏi, HS trả lời, GV giúp HS trả lời.
    . GV viết lên bảng các ý cần đưa vào thành câu.
    . GV giúp HS nói thành câu dựa vào các ý trên.
    . GV nói lại câu, sau đó viết câu hoàn thiện lên bảng rồi xóa đi
    phần ( từ ) cần viết khác nhau giữa các HS (ví dụ xóa số 45
    trong câu “Bố em 45 tuổi”).
    . HS viết lại câu theo mẫu, điền thông tin thích hợp với bản
    thân vào chỗ trống.
    Bậc 3. GV đặt câu hỏi, HS trả lời, GV giúp HS trả lời.
    . GV viết lên bảng các ý cần đưa vào thành câu.
    . GV giúp HS nói thành câu dựa vào các ý trên.
    . GV nói lại câu, sau đó viết cả câu lên bảng rồi xóa đi một từ
    bất kỳ không phải là động từ.
    . HS viết lại câu hoàn thiện vào vở, điền vào chỗ trống từ còn
    thiếu.
    Bậc 4. GV đặt câu hỏi, HS trả lời, GV giúp HS trả lời.
    . GV viết lên bảng các ý cần đưa vào thành câu.
    . GV giúp HS nói thành câu dựa vào các ý trên.
    . GV nói lại câu, sau đó viết cả câu lên bảng rồi xóa đi động từ
    trong câu.
    . HS viết lại câu hoàn chỉnh vào vở, điền động từ thích hợp vào
    chỗ trống.
    . GV đặt câu hỏi, HS trả lời, GV giúp HS trả lời.

    10

    Bậc 5. GV viết lên bảng các ý cần đưa vào thành câu.
    . GV giúp HS nói thành câu dựa vào các ý trên.
    . GV nói lại câu, sau đó GV viết một nửa câu lên bảng và
    để…(3 chấm).
    . HS viết hoàn thiện cả câu vào vở.
    Bậc6. GV đặt câu hỏi, HS trả lời, GV giúp HS trả lời.
    . GV viết lên bảng các ý cần đưa vào thành câu.
    . GV giúp HS nói thành câu dựa vào các ý trên.
    . GV nói lại câu, sau đó viết một nửa câu lên bảng và để…(3
    chấm) trước và sau động từ.
    . HS viết hoàn thiện cả câu vào vở.
    Bậc 7. GV đặt câu hỏi, HS trả lời, GV giúp HS trả lời.
    . GV viết lên bảng các ý cần đưa vào thành câu.
    . GV giúp HS nói thành câu dựa vào các ý trên.
    . GV nói lại câu, sau đó viết viết bộ phận chính thứ nhất của
    câu lên bảng và để…(3 chấm) phần còn lại của câu.
    . HS viết hoàn thiện cả câu vào vở.
    Bậc8. GV đặt câu hỏi, HS trả lời, GV giúp HS trả lời.
    . GV viết lên bảng các ý cần đưa vào thành câu.
    . GV giúp HS nói thành câu dựa vào các ý trên.
    . GV nói lại câu, sau đó viết từ đầu tiên của câu lên bảng và
    để…(3 chấm) phần còn lại của câu.
    . HS viết hoàn thiện cả câu vào vở.

    11
    Ở mỗi bậc của chu trình sẽ phản ánh sự khác nhau về mức độ hỗ trợ của GV
    đối với quá trình viết của HS. Trong quá trình dạy học, tôi đã áp dụng ở bậc 7 dành
    cho những em có nhận thức chậm còn với những em học khá hơn tôi nâng dần đến
    mức 9 của chu trình.
    Với những tiết làm văn đầu tiên, tôi đã áp dụng bậc 1 của chu trình và việc
    hướng dẫn, hỗ trợ học sinh rất cụ thể, chi tiết.Vì vậy thời lượng dành cho mỗi tiết
    có thể kéo dài là 2 tiết so với tiết học hiện hành.Ở các bậc tiếp theo, giáo viên vẫn
    hướng dẫn nhưng ở mức độ giảm dần và sau mỗi bài học các em hầu như dần nắm
    được cách viết câu văn ngắn gọn và đủ ý.
    Ví dụ 1: Khi hướng dẫn HS viết đoạn văn ngắn kể về Cô giáo( hoặc Thầy
    giáo) lớp Một của em. Tôi thực hành hướng dẫn các em qua các bước:
    Bước 1: Gợi hứng thú về nhân vật được miêu tả.
    Bước 2: Hướng dẫn viết.
    Bước 3: Hoàn thiện bài viết.
    Bước 4: Kết thúc bài học.
    Bước 1: Gợi hứng thú về nhân vật được miêu tả.
    Đây cũng là bước các em tiến hành việc trải nghiệm bằng cách nhớ lại, tưởng
    tượng, hình dung lại về hình dáng, đặc điểm, tính nết của Cô giáo hoặc Thầy giáo
    lớp một của mình.

    Bậc 9. GV đặt câu hỏi, HS trả lời, GV giúp HS trả lời.
    . GV viết lên bảng các ý cần đưa vào thành câu.
    . GV giúp HS nói thành câu dựa vào các ý trên.
    . GV nói lại câu và không viết câu lên bảng.
    . HS viết câu hoàn thiện vào vở.

    12
    Khiyêu cầu các em viết một đoạn văn kể về Cô giáo (hoặc Thầy giáo) lớp 1
    của mình, tôi yêu cầu các em hãy dành một ít phút để nhớ về cô giáo (thầy giáo)
    lớp 1 của em. Các em nhớ xem:
    – Cô giáo( thầy giáo) lớp 1 của em tên là gì?
    – Dáng người cô( thầy) như thế nào?
    – Cô ( thầy) dạy em những môn học nào?
    – Em thích điều gì ở cô(thầy)?
    GV cho các em viết tên cô giáo( thầy giáo) lớp 1 của mình lên đầu trang giấy.
    Sau đó các em hãy vẽ phác họa hình dáng cô giáo( thầy giáo) lớp 1 của em xuống
    bên dưới. Các em hãy vẽ theo những gì mình nhớ được, không lo vẽ đẹp hay vẽ
    xấu mà thông qua hành động vẽ lại hình ảnh cô giáo( thầy giáo) của mình là để các
    em có thêm hứng thú và nhớ được những đặc điểm nổi bật nhất về hình ảnh cô
    giáo ( thầy giáo) của mình.
    Bước 2: Hướng dẫn viết.
    Tôi hướng dẫn các em tập hợp thông tin, trả lời câu hỏi, ghi câu văn vào vở
    theo sự hướng dẫn của GV. Tôi chia bảng thành 3 cột, đặt câu hỏi và viết câu hỏi
    vào cột 1 trên bảng.GV giúp HS lần lượt trả lời các câu hỏi rồi viết ý trả lời cho
    câu hỏi vào cột 2. HS lần lượt nói thành câu văn hoàn chỉnh dựa vào thông tin ở
    cột 2( nếu các em còn lúng túng, tôi giúp các em nói câu văn,để các em nhắc lại
    câu văn đó). Tôi viết câu văn đầy đủ vào cột 3. Gọi một số HS đọc lại câu văn của
    mình theo thông tin trong cột 3. HS ghi câu văn vừa đọc vào vở nháp.GV gọi một
    số em đọc câu văn của mình vừa viết cho cô giáo và các bạn cùng nghe.Cả lớp
    nghe, nhận xét câu văn của bạn xem câu của bạn vừa viết đã đủ hai bộ phận chính
    của câu chưa?Cách dùng từ ngữ của bạn đã đúng chưa?Nếu HS dùng từ chưa chính
    xác,các bạn trong lớp có thể giúp bạn sửa lại câu văn cho đúng.Sau đó em hãy đọc
    lại câu văn em vừa sửa.Khi các em viết các câu văn, tôi đi quan sát, giúp các em
    còn lúng túng hoàn chỉnh câu văn của mình.Tôi hướng dẫn HS lần lượt trả lời các
    13
    câu hỏi, nêu ý trả lời, câu văn hoàn chỉnh. Sau mỗi câu, các em sẽ viết câu văn theo
    ý của mình vào vở. Tôi cùng cả lớp sửa chữa và hoàn chỉnh sao cho mỗi câu văn
    các em viết ra phải đủ hai bộ phận chính của câu, cách dùng từ trong câu và cách
    dùng dấu câu, các từ nối để liên kết các câu.
    Tôi đã hướng dẫn HS làm từng câu và trình bày thành 3 cột trên bảng như
    sau:

    Câu hỏiÝ trả lời( ví dụ)Câu hoàn chỉnh(ví dụ)
    Cô (thầy) giáo
    lớp Một của em
    tên là gì?
    Cô Nguyễn Hoài AnhCô giáo lớp 1 của em tên là cô…..
    Hoặc: Hồi lớp 1, em được học cô
    giáo……
    Hoặc: Cô…..là cô giáo lớp 1 của
    em.
    Hoặc: Năm ngoái, em được học
    cô….
    Hình dáng của
    cô( thầy) có đặc
    điểm gì?
    *mái tóc dài
    *dáng người hơi mập/
    đậm
    *nụ cười rất tươi
    *mái tóc mới được làm
    xoăn
    Cô …..có mái tóc dài và dáng
    người cô hơi mập/đậm. Nụ cười
    của cô rất tươi.
    Hoặc: Em vẫn nhớ cô….có dáng
    người nhỏ nhắn, nước da cô
    không được trắng. Mái tóc của cô
    mới được làm xoăn rất đẹp.
    Cô(thầy) dạy em
    những môn học
    nào?
    Toán, Tiếng Việt, Tự
    nhiên-xã hội, Thủ
    công,…
    Cô dạy em nhiều môn học như
    Toán, Tiếng Việt, Đạo đức, Tự
    nhiên- xã hội,..
    Em thích điều gì
    ở cô(thầy)?
    *dạy toán dễ hiểu
    *xinh
    *ăn mặc đẹp
    Em thích cô vì cô giảng bài rất dễ
    hiểu. Cô cũng xinh và ăn mặc đẹp.
    Em còn thích cô vì cô hiền, cô

    14

    *hiền, không quát mắng
    HS
    *kể chuyện hay
    *hài hước
    không hay quát mắng học sinh.
    Cô kể chuyện hay và hài hước làm
    chúng em cười.
    Khi nghĩ đến cô,
    em mong muốn
    điều gì?
    *cô khỏe
    *xinh đẹp
    *gặp lại cô
    *lại được học cô
    Nhớ đến cô, em mong cô luôn
    khỏe mạnh, xinh đẹp và em mong
    lại được học cô.

    Bước 3: Hoàn thiện bài viết.
    Sau khi HS đã viết được các câu văn hoàn chỉnh của mình vào vở nháp.GV
    cho các em đọc lại các câu của mình một lượt.Các em phát hiện câu văn nào còn
    sai về từ, lỗi chính tả, dấu câu thì các em sẽ tự sửa lại câu, từ đó cho đúng. Sau đó
    các em sẽ sắp xếp, viết các câu văn đó thành đoạn văn ngắn vào vở theo yêu cầu
    của GV. Trước khi các em viết bài viết của mình vào vở, GV hướng dẫn các em
    viết thành đoạn văn liền mạch, khi viết hết một câu không xuống dòng.Câu đầu
    tiên phải lùi vào một ô và viết hoa.Hết một câu phải ghi dấu chấm câu.Sắp xếp ý
    nào trước, ý nào sau để đoạn văn hay hơn.Khi các em viết bài, tôi đến từng bàn để
    giúp đỡ các em thực hành bài viết nhất là những em học sinh có nhận thức chậm để
    các em hoàn thành bài viết của mình.Sau khi HS hoàn thành bài viết, tôi cho hai
    em ngồi cạnh nhau làm thành một nhóm để các em trao đổi, đọc bài của
    nhau.Trong quá trình đọc, các em có thể cùng phát hiện xem bài của bạn có mắc
    lỗi sai nào không và cùng nhau sửa, đồng thời cũng phát hiện những chỗ bạn mình
    viết tốt để học tập.Tôi gọi 3-5 HS đọc bài viết của mình trước lớp.Cả lớp cùng
    nghe và nhận xét, chữa bài.
    Bước 4: Kết thúc bài học.
    GV nhận xét, tuyên dương những em có bài làm tốt.Khuyến khích, động viên
    những em làm bài còn chậm để các em có sự hứng thú trong học tập.
    15
    Ví dụ 2:Viết đoạn văn kể về một người thân của em.
    Đoạn văn này không phải là đoạn văn khó viết và có phần nào giống với đoạn
    văn ở bài 1 nên sự hướng dẫn có phần nhẹnhàng hơn vì các em đã được làm quen
    với cách làm văn ở bài tập 1.Với ví dụ này, GV vận dụng ở bậc 2 của chu trình .
    Bước 1: Gợi hứng thú về nhân vật được miêu tả.
    Khihướng dẫn các em viết một đoạn văn kể về một người thân của mình, trước tiên
    tôi yêu cầu các em hãy chọn một người thân mà em muốn kể.Sau đó gọi HS nói
    người mà em muốn kể cho cả lớp cùng nghe. GV nhấn mạnh: Chắc người đó có
    điều gì đặc biệt đối với em nên em mới chọn. Bây giờ các em sẽ viết tên người đó
    vào giấy nháp, sau đó em sẽ vẽ phác họa hình dáng người mà các em đã chọn lên
    trang giấy. Các em hãy vẽ theo những gì mình hình dung được, không lo vẽ đẹp
    hay vẽ xấu. Bây giờ các em hãy viết những điều các em muốn kể về người đó xung
    quanh hình mà các em vừa vẽ.Các em nghĩ đến điều gì thì viết luôn điều đó để
    khỏi quên; chỉcần viết ý, không cần viết cả câu đầy đủ.
    16
    17
    18
    19
    Bước 2: Hướng dẫn viết .
    Tôi chia bảng thành 3 cột như ở ví dụ 1, đặt câu hỏi và viết câu hỏi vào cột 1trên
    bảng.Tôi giúp HS trả lời các câu hỏi rồi viết ý trả lời cho câu hỏi vào cột 2.HS lần
    lượt nói thành câu văn hoàn chỉnh dựa vào thông tin ở cột 2.GV viết câu văn đầy
    đủ vào cột 3. Gọi một số HS đọc lại câu văn của mình theo thông tin trong cột 3.
    HS ghi câu văn vừa đọc vào vở nháp.Tôi yêu cầu một số em đọc câu văn của mình
    vừa viết cho cô giáo và các bạn cùng nghe.Cả lớp nghe, nhận xét câu văn của bạn
    xem câu của bạn vừa viết đã đủ hai bộ phận chính của câu chưa?Cách dùng từ ngữ
    của bạn đã đúng chưa?Nếu HS dùng từ chưa chính xác, các bạn trong lớp có thể
    giúp bạn sửa lại câu văn cho đúng.Sau đó em hãy đọc lại câu văn em vừa sửa.HS
    tự viết các câu văn vừa nói miệng vào vở nháp.Khi các em viết các câu văn, GV đi
    quan sát, giúp các em còn lúng túng hoàn chỉnh câu văn của mình.Sau đó mỗi
    nhóm 2 bạn lại đổi bài cho nhau cùng kiểm tra và sửa chữa.Khi các em trả lời hệ
    thống câu hỏi đồng thời cũng thể hiện cấu trúc của đoạn văn .

    Cấu trúc đoạn vănCâu hỏi
    Giới thiệu về người đó.Người em chọn là ai? Người đó tên là gì?
    Kể về hình dáng.Người đó bao nhiêu tuổi?
    Hình dáng người đó có đặc điểm gì?( ví dụ: vóc
    dáng, mái tóc, nước da,…)
    Kể về nghề nghiệp.Người đó làm nghề gì? Ở đâu?
    Kể về công việc hàng ngày.Hằng ngày người đó làm những gì?
    Những điều đặc biệt.Em thích gì ở người đó?
    Mong muốn/ suy nghĩNghĩ đến người đó em mong điều gì?

    GV lần lượt đặt câu hỏi, HS trả lời và ghi chép các câu văn của mình vào vở
    nháp, phần viết câu hoàn chỉnh lên bảng, GV sau khi viết câu hoàn thiện sẽ xóa đi
    20
    phần (từ) cần viết khác nhau giữa các HS (ví dụ xóa số 42 trong câu “ Bố em 42
    tuổi”)
    Bước 3: Hoàn thiện bài viết.
    Sau khi HS đã viết được các câu văn hoàn chỉnh của mình vào vở nháp, tôi cho các
    em đọc lại các câu của mình một lượt.Các em phát hiện câu văn nào còn sai về từ,
    lỗi chính tả, dấu câu thì các em sẽ tự sửa lại câu, từ đó cho đúng. Sau đó các em sẽ
    sắp xếp, viết các câu văn đó thành đoạn văn ngắn vào vở theo yêu cầu của GV.
    Trước khi các em viết bài viết của mình vào vở, tôi hướng dẫn các em nhắc lại các
    yêu cầu cần có khi viết đoạn văn, đó là: Câu đầu tiên phải lùi

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm cho học sinh lớp 3

    SKKN Xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm cho học sinh lớp 3

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:
    1. Yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
    1.1. Quan điểm chỉ đạo
    – Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng,
    Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu
    tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội.
    – Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn
    đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội
    dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới
    từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của
    các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội
    và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học.
    Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát
    triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới;
    kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo
    đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp
    học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình,
    bước đi phù hợp.
    – Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
    bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến
    thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi
    với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục
    gia đình và giáo dục xã hội.
    – Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-
    xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy
    luật khách quan. Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số
    lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số
    lượng.
    – Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa
    các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hóa,
    hiện đại hóa giáo dục và đào tạo.
    3
    – Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị
    trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào
    tạo. Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa
    các vùng, miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng
    đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng
    xa và các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục
    và đào tạo.
    – Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo,
    đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát
    triển đất nước.
    1.2. Mục tiêu
    Mục tiêu tổng quát
    Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục,
    đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và
    nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn
    diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu
    gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả.
    Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt,
    quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã
    hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại
    hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào
    tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến
    năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.
    Mục tiêu cụ thể
    – Đối với giáo dục mầm non, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu
    biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho
    trẻ bước vào lớp 1. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào
    năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn
    học phí trước năm 2020. Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non.
    Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện
    của từng địa phương và cơ sở giáo dục.
    – Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình
    thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định
    hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện,
    4
    chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin
    học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát
    triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời. Hoàn thành
    việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015. Bảo
    đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông
    nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học
    phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ
    thông có chất lượng. Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo
    dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020.
    Phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ
    giáo dục trung học phổ thông và tương đương.
    – Đối với giáo dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức,
    kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp. Hình thành hệ thống giáo dục nghề
    nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo
    hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công
    nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế.
    – Đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi
    dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức,
    sáng tạo của người học. Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ
    cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực
    quốc gia; trong đó, có một số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực và
    quốc tế. Đa dạng hóa các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển công
    nghệ và các lĩnh vực, ngành nghề; yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội
    nhập quốc tế.
    – Đối với giáo dục thường xuyên, bảo đảm cơ hội cho mọi người, nhất
    là ở vùng nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng chính sách được học tập
    nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng
    cuộc sống; tạo điều kiện thuận lợi để người lao động chuyển đổi nghề; bảo
    đảm xóa mù chữ bền vững. Hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục thường
    xuyên và các hình thức học tập, thực hành phong phú, linh hoạt, coi trọng tự
    học và giáo dục từ xa.
    – Đối với việc dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho người
    Việt Nam ở nước ngoài, có chương trình hỗ trợ tích cực việc giảng dạy tiếng
    Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước
    5
    ngoài, góp phần phát huy sức mạnh của văn hóa Việt Nam, gắn bó với quê
    hương, đồng thời xây dựng tình đoàn kết, hữu nghị với nhân dân các nước.
    2. Mục tiêu môn học Tiếng Việt ở trường tiểu học
    2.1. Mục tiêu môn học Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm:
    – Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt
    (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt
    động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn
    luyện các thao tác tư duy.
    – Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những
    hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, văn học của
    Việt Nam và nước ngoài.
    – Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong
    sáng giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người
    Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
    2.2. Các kĩ năng học sinh đạt được trong môn Tiếng Việt ở lớp 3
    – Kĩ năng đọc:
    + Đọc một số văn bản nghệ thuật, hành chính, báo chí, khoa học
    thường thức (chú trọng đọc tên riêng nước ngoài, từ dễ đọc sai do ảnh
    hưởng của cách phát âm địa phương).
    + Đọc thầm.
    + Tìm hiểu ý chính của đoạn, nội dung của bài; nhận xét về nhân vật,
    hình ảnh, chi tiết; đặt đầu đề cho đoạn văn.
    + Đọc thuộc một số bài thơ, bài văn ngắn.
    + Ghi chép một vài thông tin đã đọc.

    Kĩ năng viết:
    + Viết chữ cái cỡ nhỏ.

    + Viết chính tả đoạn văn, đoạn thơ theo hình thức nghe – viết, nhìn –
    viết, nhớ – viết. Viết tên riêng Việt Nam, tên riêng nước ngoài đơn giản.
    Phát hiện và sửa lỗi chính tả trong bài.
    + Viết câu trần thuật đơn. Dùng dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu chấm
    than, dấu phẩy khi viết.
    6
    + Huy động vốn từ để diễn đạt ý kiến của bản thân. Bước đầu sử dụng
    các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa.
    + Viết đoạn văn kể, tả đơn giản theo gợi ý.
    + Điền vào tờ khai in sẵn; viết đơn, viết báo cáo ngắn theo mẫu; viết
    bức thư ngắn, trình bày phong bì thư.

    Kĩ năng nghe:
    + Nghe và kể lại những câu chuyện đơn giản, thuật lại nội dung chính

    của các bản tin ngắn hoặc văn bản khoa học thường thức có nội dung
    phù hợp với lứa tuổi.
    + Nghe – viết đoạn văn, đoạn thơ, bài thơ ngắn.
    + Ghi lại một vài ý khi nghe văn bản ngắn, có nội dung đơn giản.
    – Kĩ năng nói:
    + Dùng lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp chính thức trong sinh
    hoạt lớp, sinh hoạt Đội.
    + Đặt câu hỏi về vấn đề chưa biết, trả lời câu hỏi của người đối thoại.
    + Kể từng đoạn hoặc kể toàn bộ câu chuyện đơn giản đã được nghe.
    + Phát biểu ý kiến trong cuộc họp; giới thiệu hoạt động của tổ, lớp, chi
    đội; trình bày miệng báo cáo ngắn ( đã viết theo mẫu) về hoạt động của
    tổ, lớp, chi đội.
    3. Nhiệm vụ phân môn Luyện từ và câu
    3.1. Cung cấp một số kiến thức về từ và câu
    Dạy học Luyện từ và câu giúp các em có được những kiến thức cơ bản
    về từ cần thiết như: Cấu trúc của từ, nghĩa của từ, các lớp từ, từ loại, về câu
    như: cấu tạo câu, dấu câu, các quy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử
    dụng trong giao tiếp.
    3.2. Làm giàu vốn từ cho học sinh và phát triển năng lực dùng từ đặt câu
    cho các em
    – Dạy nghĩa từ: Giúp học sinh nắm được nghĩa và sự chuyển nghĩa của
    từ bằng cách thêm vào vố từ của học sinh những từ có nghĩa mới. Hình thành
    cho học sinh cách phát hiện những từ ngữ mới chưa biết nghĩa trong văn bản,
    7
    nắm được thao tác giải nghĩa từ, làm rõ các sắc thái ý nghĩa của từ trong các
    ngữ cảnh khác nhau.
    – Hệ thống hóa vốn từ: Giúp học sinh biết sắp xếp các từ ngữ một cách
    có hệ thống trong trí nhớ để có thể sử dụng thuận tiện, dễ dàng trong lời nói ở
    mọi tình huống.
    – Tích cực hóa vốn từ: Giúp học sinh biết cách sử dụng từ ngữ phù hợp
    tích cực chính xác một cách thường xuyên trong đời sống. Giúp học sinh biết
    cách đặt câu từ vốn từ đã có sử dụng các kiểu câu đúng mục đích giao tiếp có
    văn hóa.
    3.3. Bồi dưỡng thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu, có ý thức
    sử dụng Tiếng Việt văn hóa trong giao tiếp
    Phân môn Luyện từ và câu từ việc cung cấp kiến thức về từ và câu, làm
    giàu vốn từ cho học sinh giúp hình thành nên thói quen dùng ngôn từ đúng
    trong mọi ngữ cảnh trong trí nhớ, xây dựng thói quen dùng từ đúng, nói và
    viết câu thành thạo từ những từ đã được tìm hiểu, từ đó hình thành ý thức sử
    dụng Tiếng Việt có mục đích và văn hóa trong giao tiếp hàng ngày.
    Ngoài các nhiệm vụ chuyên biệt trên, luyện từ và câu còn có nhiệm vụ
    rèn luyện tư duy và giáo dục thẩm mĩ cho học sinh.
    4. Thực trạng dạy học
    Ngày nay, phân môn Luyện từ và câu của môn Tiếng Việt ở tiểu học
    nói chung và ở lớp 3 nói riêng được tích hợp với các phân môn khác trong
    Tiếng Việt như: Tập làm văn, Chính tả, Kể chuyện, Tập đọc đòi hỏi học sinh
    phải có kĩ năng nắm bắt và vận dụng từ ngữ linh hoạt sáng tạo, giáo viên cần
    phải linh hoạt chuyển đổi hình thức các dạng bài tập giúp học sinh nâng cao
    hiệu quả tiếp thu. Vậy nên, giáo viên và học sinh phải cần thêm những cuốn
    sách tham khảo phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả giờ học rèn cho học sinh kĩ
    năng sử dụng ngôn ngữ thành thạo trong mọi ngữ cảnh.
    Trong phân môn Luyện từ và câu, việc rèn luyện cho học sinh về từ
    chủ yếu thông qua các dạng bài tập mở rộng vốn từ phong phú đa dạng theo
    từng bài học trong từng chủ điểm, nhưng thực trạng các bài tập đó còn rất hạn
    chế, chưa phục vụ đủ cho nhu cầu tìm hiểu, tham khảo của giáo viên và học
    sinh. Vì vậy, đòi hỏi việc phải xây dựng bộ sách tham khảo tương đối toàn
    8
    diện cho giáo viên và học sinh để nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập ở
    cấp tiểu học nói chung và khối lớp 3 nói riêng.
    Việc xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ trong phân môn Luyện
    từ và câu cho học sinh lớp 3 theo từng chủ điểm sẽ tạo điều kiện cho việc dạy
    học Luyện từ và câu lớp 3 đạt hiệu quả hơn, đảm bảo tính hệ thống của từ
    vựng, phù hợp với nội dung chương trình môn học, góp phần đẩy mạnh và
    nâng cao năng lực sử dụng từ ngữ cho học sinh.
    Chính vì những lí do đó, tôi quyết định chọn đề tài “Xây dựng hệ thống
    bài tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm trong phân môn luyện từ và câu cho
    học sinh lớp 3” làm báo cáo sáng kiến của mình.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP:
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    1.1.Thực trạng dạy học phân môn Luyện từ và câu trong sách giáo khoa
    Tiếng Việt 3
    a. Thực trạng dạy của giáo viên
    – Về lịch giảng dạy: Giáo viên thực hiện tương đối tốt lịch trình giảng
    dạy đã quy định
    – Về việc soạn giáo án: 100% giáo viên chuẩn bị bài giảng trước khi lên
    lớp, bài giảng không phụ thuộc quá nhiều vào sách giáo khoa và sách giáo
    viên.
    – Về phân bố thời lượng tiết học: Hầu hết các giáo viên đều đảm bảo
    thời gian dạy học phù hợp với yêu cầu, dung lượng kiến thức học sinh cần
    nắm được. Tuy nhiên, trong từng hoạt động dạy học việc phân bố thời gian
    vẫn có sự bất cập.
    – Về phương pháp giảng dạy: Giáo viên đã vận dụng những phương
    pháp dạy học đa dạng, phong phú phù hợp với nội dung kiến thức cần truyền
    đạt cho học sinh, phổ biến là một số phương pháp chung như: Phương pháp
    đàm thoại, phương pháp thảo luận nhóm,… và phương pháp riêng của môn
    Tiếng Việt, như: phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp rèn luyện
    theo mẫu, phương pháp giao tiếp,…
    b.Thực trạng học và kết quả học tập của học sinh
    * Về thực trạng học
    9
    Thực trạng điều tra cho thấy, nhiều em học sinh cấp tiểu học nói chung
    và lớp 3 nói riêng đã có ý thức học tập môn học. Bên cạnh đó, vẫn còn một số
    học sinh không có hứng thú với phân môn Luyện từ và câu, đa phần do các
    em coi đây là môn học khó và khô. Trên lớp, các em tiếp thu kiến thức một
    cách thụ động: giáo viên giảng – học sinh ghi chép máy móc, không hiểu chắc
    và sâu kiến thức, làm bài tập qua loa, lười suy nghĩ cẩn thận và luôn có ý nghĩ
    trông chờ giáo viên chữa rồi sao chép kết quả chính xác vào vở.
    * Về kết quả học tập
    – Trình độ học vấn của học sinh có sự chênh lệch không đáng kể giữa
    hai trường, đảm bảo ở mức biết và vận dụng được những tri thức đã học vào
    thực tế.
    – Kết quả kiểm tra của học sinh có sự chênh lệch, cùng trong chương
    trình học vẫn có tỉ lệ điểm giỏi, khá, trung bình.
    c. Thực trạng về các tài liệu, bài tập hiện có
    Vấn đề xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học
    nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng là vấn đề mà đã có rất nhiều công trình
    nghiên cứu về rất nhiều những khía cạnh khác nhau. Nhưng nhìn chung, đó
    thường là những vấn đề về lý thuyết đan xen bài tập tham khảo, cụ thể:
    Trong cuốn “Em học giỏi Luyện từ và câu lớp 3” của Th.S Lê Thị
    Nguyên, Trần Đức Niềm (Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh) đã biên
    soạn nhằm hỗ trợ học sinh lớp 3 hiểu sâu hơn về cách sử dụng từ ngữ, cấu
    trúc câu, đồng thời hướng dẫn các em tự học, tự rèn kỹ năng nhận biết và
    phân tích cấu tạo từ, ngữ, cấu trúc câu bằng các đề kiểm tra ôn luyện hằng
    tuần, từ đó tạo nền tảng giúp các em học tốt hơn trong phân môn Luyện từ và
    câu. Tuy nhiên, các dạng bài tập đó chưa đi theo từng chủ điểm làm cho các
    em nhầm lẫn trong việc nhận dạng và vận dụng từ ngữ trong các ngữ cảnh,
    các dạng bài tập còn chưa tạo hứng thú cao cho học sinh.
    Tác giả Đào Tiến Thi, Nguyễn Thị Lan Anh với cuốn “Bài tập trắc
    nghiệm Tiếng Việt 3” (Nxb Đại học Sư phạm, 2007) đã đưa ra hệ thống bài
    tập trắc nghiệm với hai dạng bài tìm thông tin đúng, hoàn thiện và phát triển
    thông tin theo các phân môn chương trình môn Tiếng Việt 3 phù hợp cho giáo
    viên và học sinh khi dạy – học môn Tiếng Việt 3. Tuy nhiên, phần hạn chế
    của cuốn sách nằm ở việc đưa ra những bài tập trắc nghiệm đơn điệu và
    10
    không được sắp xếp theo từng chủ điểm bài học, làm cho học sinh khó nắm
    bắt được cách sử dụng từ ngữ.
    Trong luận văn của tác giả Lê Thị Thắm về “Xây dựng hệ thống bài tập
    mở rộng vốn từ theo chủ điểm cho học sinh lớp 3” đã triển khai được những
    dạng bài tập mở rộng vốn từ theo các chủ điểm trong sách giáo khoa Tiếng
    Việt 3 nhưng chỉ triển khai xây dựng hệ thống bài tập trong 8 chủ điểm của
    chương trình Tiếng Việt 3, chưa bao hàm tất cả 15 chủ điểm của sách giáo
    khoa Tiếng Việt 3. Sáng kiến này là cơ sở gợi ý chính để tôi tiếp tục nghiên
    cứu 7 chủ điểm còn lại của sách giáo khoa Tiếng Việt 3.
    Những công trình trên đây đã đề cập đến những vấn đề khác nhau của
    phân môn Luyện từ và câu trong môn Tiếng Việt ở tiểu học đặc biệt là lớp 3,
    nội dung chủ yếu của các dạng bài tập là nâng cao vốn từ cho học sinh, xây
    dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm, bài tập tự luận về việc mở rộng vốn từ
    theo từng chủ điểm cho học sinh nhưng chưa đầy đủ.
    Vì vậy, trước những yêu cầu phát triển và nâng cao kiến thức của người
    học, đổi mới tài liệu dạy học phù hợp của người dạy, bổ sung hoàn thiện hệ
    thống bài tập mở rộng vốn từ theo từng chủ điểm trong phân môn Luyện từ và
    câu cho học sinh lớp 3. Tôi mạnh dạn xây dựng hệ thống bài tập mở rộng vốn
    từ theo chủ điểm trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 3 nhằm
    phát huy tính tích cực chủ động trong dạy và học phân môn Luyện từ và câu
    cho học sinh lớp 3 trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa, thành tựu
    đúng đắn sáng tạo của những người đi trước.
    2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến
    Sáng kiến kinh nghiệm này của tôi có điểm mới và đột phá nhất chính
    là việc đề xuất xây dựng hệ thống bài tập mẫu về mở rộng vốn từ theo chủ
    điểm trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 3 với 7 chủ điểm còn
    lại trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 3 – phân môn Luyện từ và câu đã
    được áp dụng hiệu quả tại đơn vị.
    2.1. Đề xuất xây dựng hệ thống bài tập mẫu về mở rộng vốn từ theo chủ
    điểm trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 3
    a. Chủ điểm Anh em một nhà
    * Nhóm bài tập nhận dạng từ
    11
    – Bài tập nhận dạng từ rời
    Bài tập 1: Trong các từ sau đây, từ nào chỉ tên một số dân tộc thiểu số ở đất
    nước ta:
    Tày, Thái, Cốc, Mèo, Nùng, Hoa, Ba Na, Gia Rai, Chăm, Ba Lan, Dao,
    Kinh.
    Bài tập 2: Gạch chân dưới từ chỉ nếp sống sinh hoạt và làm việc của người
    dân tộc thiểu số vùng đồi núi:
    nhà rông, nhà ống, ruộng bậc thang, áo bà ba, cơm lam, đình làng, nhà
    sàn, áo dài, rượu cần, bản làng.
    Bài tập 3: Gạch chân dưới từ chỉ tên lễ hội của các dân tộc thiểu số ở nước ta:
    cồng chiêng, đền Hùng, đâm trâu, hội Gióng, đua voi, hội Xoan, nhảy
    lửa, chùa Hương cúng bản, đền Trần, đập trống, nhảy sạp.
    Bài tập 4: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng
    Những từ nào sau đây nói về tên lễ hội ở vùng dân tộc thiểu số?
    a) Cồng chiêng c) Chùa Hương
    b) Đền Hùng d) Yên Tử
    Bài tập 5: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng
    Chỉ ra tên dân tộc không là dân tộc thiểu số ở nước ta?
    a) Dao c) Mông
    b) Thái d) Kinh
    – Bài tập nhận dạng từ trong lời nói
    Bài tập 6: Những từ, cụm từ nào có liên quan đến các dân tộc thiểu số trong
    các phát ngôn sau đây:
    a) Lễ hội cồng chiêng là một lễ hội được tổ chức hàng năm theo hình
    thức luân phiên tại các tỉnh có văn hóa cồng chiêng.
    b) Dưới bàn tay tài hoa của người nông dân cần mẫn, những thửa ruộng
    bậc thang đã trở thành một kiệt tác nghệ thuật giữa trời đất mỗi độ thu về.
    c) Thức uống mang đậm bản sắc dân tộc Mường chính là rượu cần – thứ
    rượu có mùi thơm nồng của hương gạo của men ủ làm say đắm biết bao nhiêu
    vị khách thập phương khi thưởng thức.
    Bài tập 7: Gạch chân dưới những từ, cụm từ chỉ tên những hoạt động hay
    những trò chơi chủ yếu được tổ chức trong lễ hội của các dân tộc thiểu số ở
    những câu sau:
    12
    a) Múa sạp là điệu múa dân gian có nguồn gốc từ dân tộc Mường.
    b) Mỗi dịp hội làng, những trò chơi dân gian như đẩy gậy, kéo co, ném
    còn, đi cầu kiều, múa khèn,… lại được người dân mọi miền tổ chức.
    c) Hàng nghìn con người nắm tay nhau nhảy múa hòa điệu theo từng
    nhịp
    Bài tập 8: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng
    Nhà rông ở Tây Nguyên được làm bằng chất liệu gì?
    a) Gạch, đá c) Đất nung

    b) Các loại gỗ bền chắc như lim, gụ, sến, táu
    đánh cồng chiêng trong đêm núi rừng Tây Nguyên.
    d) Rơm, rạ

    Bài tập 9: Trong đoạn văn sau đây từ nào chỉ tên một số dân tộc thiểu số nước
    ta:
    “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai, Ê Đê, Xê Đăng
    hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh
    em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp
    nhau. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta
    không bao giờ giản bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng để giữ vững
    quyền tự chủ của chúng ta.”
    HỒ CHÍ MINH
    * Nhóm bài tập sử dụng từ
    – Bài tập điền từ vào chỗ trống
    Bài tập 10: Chọn từ thích hợp để điền vào ô trống trong các câu sau đây:
    (múa sạp, gội đầu, nhà rông)
    a) Các già làng của các dân tộc vùng Tây Nguyên thường họp tại … để
    bàn những công việc lớn.
    b) Trong lễ hội xuân đầy màu sắc của dân tộc Mường, những điệu múa
    dân gian như … được thể hiện đầy ấn tượng.
    c) Lễ hội … hay lễ hội Lúng ta là một lễ hội của đồng bào Thái trắng,
    đánh dấu thời điểm qua năm, rũ bỏ cái cũ, đón nhận cái mới.
    Bài tập 11: Điền từ ngữ vào chỗ trống trong những câu ca dao, tục ngữ sau:
    a) Nhiễu điều phủ lấy giá gương
    Người trong một … phải … nhau cùng.
    b) Lá … đùm lá …
    13
    c) Khi đói cùng chung một…
    Khi rét cùng chung một …
    Bài tập 12: Điền từ thích hợp vào chỗ trống trong các câu sau:
    a) … là một kiểu nhà ở có sàn được làm lưng chừng trên các cột, cách
    mặt đất một khoảng, thường thấy ở miền núi.
    b) Các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam phải luôn …, tôn trọng
    và giúp đỡ nhau cùng phát triển
    c) Đồng bào miền đồi núi thường trồng lúa trên những thửa ruộng …
    Bài tập 13: Điền từ thích hợp vào ô trống theo mô hình với các gợi ý dưới
    đây:
    a) Tên lễ hội được tổ chức hằng năm theo hình thức luân phiên tại Tây
    Nguyên: có 2 tiếng, bắt đầu bằng chữ C
    b) Tên một dân tộc sống ở khu vực trung du và miền núi phía Bắc Việt
    Nam: có một tiếng, bắt đầu bằng chữ M
    c) Tên một trang phục truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: có hai
    tiếng, bắt đầu bằng chữ A
    – Bài tập dùng từ đặt câu
    Bài tập 14: Đặt câu với các từ sau đây (mỗi từ đặt một câu):
    dân tộc, nhà sàn, ruộng bậc thang, múa khèn, dân tộc Mèo
    Bài tập 15: Tìm 5 từ chỉ tên của các dân tộc thiểu số Việt Nam, đặt câu với 1
    từ vừa tìm được.
    Bài tập 16: Tìm 3 từ chỉ tên những lễ hội của các dân tộc trên đất nước ta, đặt
    câu với các từ đó
    – Bài tập thay thế từ ngữ
    Bài tập 17: Hãy thay từ in nghiêng trong các câu dưới đây bằng một từ khác
    có cùng nghĩa:
    a) Mọi dân tộc trên đất nước ta cùng chung sức, đồng lòng xây dựng
    đất nước phát triển
    14
    b) Đồng bào Dao ở Tuyên Quang có đời sống văn hóa tinh thần rất
    phong phú với nhiều phong tục, nghi lễ, nghệ thuật đặc sắc.
    c) Múa sạp là môn nghệ thuật dân gian đặc sắc của một số dân tộc vùng
    Tây Bắc trong những dịp vui, trong các lễ hội.
    Bài tập 18: Thay thế những từ in nghiêng trong các câu sau đây bằng những
    từ khác mà không thay đổi nghĩa của câu:
    a) Những ngày lễ hội, đồng bào các dân tộc thiểu số thường quây quần
    bên nhà rông để múa hát.
    b) Câu chuyện “Hũ bạc của người cha” là truyện cổ của dân tộc Chăm.
    c) Anh Kim Đồng là một thiếu niên người dân tộc Nùng, anh chính là
    đội trưởng đầu tiên của tổ chức Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
    Bài tập 19: Những từ nào thuộc chủ điểm Anh em một nhà có thể thay thế
    được cho những từ in nghiêng trong các câu sau đây:
    a) Ngày hội tôn vinh tinh thần thượng võ và tài nghệ thuần dưỡng voi
    là một trong những hội của văn hóa truyền thống cấc dân tộc ở vùng Tây
    Nguyên diễn ra rất tưng bừng.
    b) Người dân vùng đồi núi trồng lúa trên những bãi đất bên sườn đồi,
    lớp nọ gối tiếp lớp kia tạo thành những lớp lụa đào rực rỡ sắc xanh của lúa
    non và sắc vàng khu mùa lúa chín.
    c) Nhà của người dân tộc Bana gọi là đình làng của người Kinh là nơi lưu
    giữ nhiều vật linh thiêng của làng, nơi đón khách của làng và các gia đình trong
    làng.
    * Nhóm bài tập sửa lỗi từ
    Bài tập 20: Em hãy phát hiện và chỉ ra lỗi dùng từ trong các câu sau đây và
    sửa lại cho đúng:
    “Trong 8 nhóm ngôn ngữ của 54 dân tộc Việt Nam, nhóm ngôn
    ngữ Việt – Mường có 4 người: Kinh, Mường, Thổ, Chứt. Đồng bào sống chủ
    yếu bằng nghề trồng lúa nước và đánh cá.”
    Bài tập 21: Trong câu sau đây, từ nào viết sai chính tả, em hãy tìm và sửa lại
    cho đúng:
    Nhà Dông là một kiểu nhà sàn đặc trưng, đây là ngôi nhà cộng đồng,
    như đình làng người kinh, dùng làm nơi tụ họp, trao đổi, thảo luận của dân
    làng trong các buôn làng trên Tây Nguyên.
    15
    Bài tập 22: Trong câu dưới đây, từ nào dùng sai chính tả? Hãy sửa lại cho
    đúng:
    Nhà xàn của dân tộc Mường mang đặc điểm của người Việt và người
    Tày, Nùng, còn người Thái lại có kiểu nhà sàn riêng được thiết kế hướng về
    một ngọn núi vút cao, cây cối xanh tươi thể hiện một sức sống mãnh liệt, bất
    diệt.
    b. Chủ điểm Bắc – Trung – Nam
    * Nhóm bài tập nhận dạng từ
    – Bài tập nhận dạng từ rời
    Bài tập 23: Trong các từ sau đây, từ nào được dùng ở miền Bắc nước ta:
    ba, bố, tía, quả dứa, trái thơm, tôi, tui, bàn là, bàn ủi, bát, chén, chăn, mền
    Bài tập 24: Gạch chân dưới những từ được dùng ở miền Nam nước ta:
    ngan, vịt xiêm, ruốc, chà bông, buồn, nhột, cái bút, cây viết, dùng, xài
    Bài tập 25: Gạch chân dưới những từ được dùng ở miền Trung nước ta:
    mẹ, mệ, đâu, mô, bên kia, bên tê, ni, này, mô, chổi, chủi
    Bài tập 26: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng
    Những từ nào sau đây nói về tên một loài hoa hồng bản địa của Đông
    Á mà người miền Bắc thường gọi?
    a) tường vi c) bông súng
    b) bông bụp d) bông lau
    Bài tập 27: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng
    Chỉ ra tên một loại phương tiện giao thông chạy trên đường sắt mà
    người miền Nam thường gọi?
    a) tàu hỏa c) xe lửa
    b) tàu thủy d) tàu bay
    Bài tập 28: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng
    Từ chà bông được người dân ở miền nào thường xuyên sử dụng để gọi
    tên?
    a) miền Bắc c) miền Nam
    b) miền Trung d) không có miền nào
    – Bài tập nhận dạng từ trong lời nói
    Bài tập 29: Những từ nào thường được dùng ở một số tỉnh miền Nam nước ta
    trong các phát ngôn sau đây:
    16
    a) Chị hai tôi là người vô cùng thông minh và xinh đẹp.
    b) Trái thơm có thân ngắn, lá dài và cứng với gai mọc ở mép, quả có
    nhiều mắt; phía trên có một cụm lá
    c) Từ xa xưa, heo là loài vật đã gắn bó thân thiết với người dân Việt
    Nam, nó là nét đặc trưng của vùng quê lam lũ, con vật hiền lành và được nuôi
    phổ biến trong những hộ gia đình.
    Bài tập 30: Gạch chân dưới những từ thường được dùng ở một số tỉnh miền
    Trung nước ta ở những câu sau:
    a) Bây hãy lại đây, chúng ta sẽ cùng nhau nói chuyện nhé!
    b) Mệ tôi là một người phụ nữ yêu gia đình, đi mô mệ cũng chỉ mong
    có thời gian để chăm sóc cho gia đình.
    c) Các bạn nhỏ đang diễn văn nghệ trên sân khấu được khoác trên mình
    những chiếc mấn vô cùng xinh đẹp và duyên dáng.
    Bài tập 31: Trong đoạn văn sau đây từ nào chủ yếu được dùng ở miền Bắc
    nước ta:
    Gia đình là tiếng gọi thân thương trìu mến, là mái ấm chốn dừng chân
    mỗi khi mỏi mệt. Gia đình tôi luôn có sự che chở của bố, có giọng nói ngọt
    ngào của mẹ, có sự chăm sóc, yêu mến của anh cả. Với tôi, gia đình là món
    quà quý giá mà tôi luôn nâng niu và trân trọng cả cuộc đời.
    * Nhóm bài tập sử dụng từ
    – Bài tập điền từ vào chỗ trống
    Bài tập 32: Chọn từ thích hợp để điền vào ô trống trong các câu sau đây:
    (vịt xiêm, chủi, mẹ, mô, heo, bàn là, vô, thơm, bảo)
    • Các từ thường dùng ở miền Bắc
    a) … em có dáng người mảnh mai, đôi mắt tròn đen, mái tóc ngắn gọn.
    b) Siêu thị điện máy xanh có bán rất nhiều đồ điện tử như: …., nồi cơm
    điện, tủ lạnh, ti vi, máy giặt, máy điều hòa và còn rất nhiều đồ điện tử khác
    nữa.
    c) Cô giáo … : “Ai chăm chỉ học tập, tích cực phát biểu xây dựng bài,
    mỗi ngày cô sẽ thưởng cho bạn đó một bông hoa điểm tốt”.
    • Các từ thường dùng ở miền Trung
    17
    a) Cứ mỗi độ gặt hát, bà em lại ngồi tuốt từng bông lúa nếp để lấy rơm
    phơi ra làm … .
    b) Những người con xa xứ, đi … cũng vẫn luôn nhớ về quê hương.
    c) Hè đến, bố Hùng cho bạn ấy … miền Nam chơi với ông bà.
    • Các từ thường dùng ở miền Nam
    a) Những chú … con ăn đã no tròn lăn quay ra ngủ.
    b) Đến mùa rộ, những cánh đồng … trải dài tới tận chân núi, xanh ngút
    tầm mắt.
    c) Đàn … lũ lượt kéo nhau ra ao tắm mát.
    Bài tập 33: Điền từ ngữ vào chỗ trống trong những câu ca dao, tục ngữ sau:
    a) Núi cao … lắm núi ơi,
    Che khuất mặt trời, không thấy người yêu.
    b) … hay không ngại cày trưa
    c) Đã lâu lắm chưa về thăm …
    Ăn bữa cơm giòn giã thơm ngon
    Canh cà rau muống bàn tròn
    Gia đình sum họp còn hơn thiên đường.
    Bài tập 34: Điền những từ thưởng sử dụng ở miền Trung vào chỗ trống trong
    các câu sau:
    a) … là dụng cụ để làm sạch, vệ sinh những mặt phẳng bám bụi: nền
    nhà, mặt sân, mặt đường.
    b) Những con người Việt Nam đi … cũng nhớ về quê hương yêu dấu.
    c) Rừng về đêm, bản làng cùng nhau … đuốc vui đùa bên ánh trăng.
    Bài tập 35: Điển từ thích hợp vào ô trống theo mô hình với các gợi ý dưới
    đây:
    a) Từ ngữ được dùng ở miền Nam, chỉ tên vật dụng ăn cơm hằng ngày
    giống với nghĩa của từ bát của người miền Bắc: có một tiếng, bắt đầu bằng
    chữ C
    b) Từ ngữ thường được dùng ở miền Bắc, chỉ tên một cảm giác khi cảm
    thấy hổ thẹn khi thấy mình có lỗi hoặc kém cỏi trước người khác: có hai tiếng,
    bắt đầu bằng chữ X
    18
    c) Từ ngữ thường được dùng ở miền Trung, tên vị trí cao nhất trong thứ
    tự xếp hạng: có một tiếng, bắt đầu bằng chữ N
    – Bài tập dùng từ đặt câu
    Bài tập 36: Đặt câu với các từ sau đây (mỗi từ đặt một câu):
    trái thơm, bố, chi, mần, ăn hiếp, dơ, bóng điện
    Bài tập 37: Tìm 5 từ thường được dùng ở miền Bắc nước ta, đặt câu với 1 từ
    vừa tìm được.
    Bài tập 38: Tìm 3 từ thường được dùng ở miền Nam nước ta, đặt câu với các
    từ vừa tìm được.
    – Bài tập thay thế từ ngữ
    Bài tập 39: Hãy thay từ in nghiêng trong các câu dưới đây bằng một từ khác
    có cùng nghĩa:
    a) Những người dân tỉnh lũ lượt kéo nhau lên Hà Nội tìm một công
    việc mưu sinh.
    b) Dàn dưa leo xanh mướt chi chít những trái treo lơ lửng trên thân cây.
    c) Bạn Hoa lớp 3B trông hơi gầy.
    Bài tập 40: Hãy thay thế những từ in nghiêng trong các câu sau đây bằng
    những từ khác mà không thay đổi nghĩa của câu:
    a) Những người lái ghe xếp những chiếc ghe của mình san sát bên bờ
    sông.
    b) Chiều chiều, trên những thửa ruộng bậc thang, những đàn trâu rừng
    kéo nhau về bản.
    * Nhóm bài tập sửa lỗi từ
    Bài tập 42: Em hãy phát hiện và chỉ ra lỗi dùng từ trong các câu sau đây và
    sửa lại cho đúng:
    Những cô gái xứ Huế e thẹn, ngượn ngùng trong chiếc nón lá, tà áo dài
    trắng tung bay trong chiều gió hè.
    Bài tập 43: Trong câu sau đây, từ nào dùng không đúng âm? Hãy sửa lại cho
    đúng:
    19
    Nhà trường quy định, mỗi bậc phụ huynh khi đến đón con em mình đều
    không được đẫu xe trước cổng trường.
    Bài tập 44: Trong câu dưới đây, từ nào dùng sai chính tả? Hãy sửa lại cho
    đúng:
    Những chiếc ny uống nước xinh đẹp được bày bán rất nhiều trong
    những cửa hàng đồ lưu niệm.
    c) Những chiếc váy dân tộc đều mang những nét đẹp và ý nghĩa khác
    nhau, in dấu truyền thống văn hóa và phong tục của dân tộc đó
    Bài tập 41: Những từ nào sử dụng ở 2 miền Bắc – Nam có thể thay thế được
    cho những cụm từ in nghiêng trong các câu sau đây
    a) Những người không chịu học tập và làm việc sẽ không bao giờ có
    được thành công
    b) Cả ngày hôm qua khu nhà Lan không có điện
    c) Những đứa nhỏ trong nhà hàng xóm đang đợi mẹ chúng đi làm về.
    c. Chủ điểm Bầu trời và mặt đất
    * Nhóm bài tập nhận dạng từ
    – Bài tập nhận dạng từ rời
    Bài tập 45: Trong các từ sau đây, từ nào chỉ tên một số vật trên bầu trời:
    mây, đất, mặt trời, chim, sao băng, biển cả, mặt trăng, cầu vồng
    Bài tập 46: Gạch chân dưới những từ chỉ tên một số vật trên mặt đất:
    cây cối, san hô, đồi núi, ngôi sao, thú rừng, cá mập, đất đai
    Bài tập 47: Gạch chân dưới những từ chỉ những gì thiên nhiên mang lại cho
    con người:
    biển cả, nhà cửa, khoáng sản, hoa màu, cây cối, không khí, đường nhựa
    Bài tập 48: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng
    Từ nào sau đây nói về vật có trong tự nhiên?
    a) nhà cửa c) đường nhựa
    b) đất đai d) trường học
    Bài tập 49: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng
    Chỉ ra những việc con người đã làm để bảo vệ thiên nhiên?
    a) trồng rừng c) không xả rác bừa bãi
    b) khai thác khoáng sản trái phép d) đốt rừng
    Bài tập 50: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng
    20
    Con người đã làm gì để thiên nhiên thêm giàu đẹp?
    a) xây dựng nhà cửa c) khai thác rừng hợp lý
    b) trồng nhiều cây xanh d) tất cả các phương án trên
    – Bài tập nhận dạng từ trong lời nói
    Bài tập 51: Những từ nào là những từ chỉ những vật có trong thiên nhiên
    trong các phát ngôn sau đây:
    a) Trồng rừng hay trồng cây gây rừng là hệ thống các giải pháp kỹ
    thuật lâm sinh được áp dụng để xây dựng rừng nhân tạo.
    b) Khoáng sản có vai trò rất lớn trong các ngành: khai thác,chế
    biến,công nghiệp năng lượng ,con người xây dựng đóng góp phần không nhỏ
    trong sự phát triển của kinh tế.
    c) Bãi biển Nha Trang hấp dẫn khách du lịch thập phương bởi ánh nắng
    mặt trời nhiệt đới, màu xanh của những triền núi nhấp nhô trên bờ, của các
    hòn đảo hoà cùng mầu biển biếc, như tôn thêm vẻ quyến rũ của những dải cát
    vàng dạt dào sóng trắng.
    Bài tập 52: Gạch chân dưới những từ, cụm từ chỉ những việc con người đã
    làm để bảo vệ thiên nhiên trong những câu sau:
    a) Phong trào trồng rừng đã tạo ra sức sống mới cho nhiều vùng đất
    trống, đồi núi trọc, góp phần xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm, tăng thu nhập
    cho người dân vùng núi, vùng sâu, vùng xa.
    b) Nhà nước ngăn chặn và xử lý việc xả thải trái phép ra môi trường
    của các nhà máy, giúp giảm thiểu phần nào ô nhiễm đất, nước, không khí.
    c) Mỗi người dân có ý thức tự giác không vứt rác bừa bãi, tuyên truyền,
    vận động người thân cùng tham gia.
    Bài tập 53: Trong đoạn văn sau đây, em hãy cho biết từ nào chỉ tên những thứ
    có ở thiên nhiên:
    Khi thiên nhiên lớn lên, bạn cũng lớn lên! Những đại dương, những
    mảnh đất, những dòng chảy, những cánh rừng của thiên nhiên đều lớn lên
    theo thời gian bằng cách này hay cách khác.
    * Nhóm bài tập sử dụng từ
    – Bài tập điền từ vào chỗ trống
    Bài tập 54: Chọn từ thích hợp để điền vào ô trống trong các câu sau đây:
    (cầu vồng, rừng núi, mây)
    21
    a) Những đám … trắng lững lờ trôi trên bầu trời tựa như chiếc chăn
    bông khổng lồ.
    b) Sau cơn mưa rào mùa hạ, trời hửng nắng, những vệt sáng đầy sắc
    màu của … cũng dần hiện ra giữa bầu trời.
    c) … Tây Bắc thoắt ẩn thoắt hiện trong làn sương khói mênh mông mờ
    ảo của một vùng non cao.
    Bài tập 55: Điền từ ngữ vào chỗ trống trong những câu ca dao, tục ngữ sau:
    a) … có quầng thì hạn, … có tán thì mưa.
    b) Người xuôi lên thác xuống đèo
    Chim kêu … nọ, vượn trẻo non kia
    c) Mau … thì nắng, vắng … thì mưa
    Bài tập 56: Điền từ thích hợp vào chỗ trống trong các câu sau:
    a) … hay dầu thô là một chất lỏng sánh đặc màu nâu hoặc ngả lục.
    b) Câu chuyện “Ông già và …” vẽ ra trước mắt chúng ta một sự thật
    trần trụi đến phũ phàng nhưng cũng đầy tính nhân văn.
    c) … là vệ tinh tự nhiên duy nhất của trái đất.
    Bài tập 57: Điển từ thích hợp vào ô trống theo mô hình với các gợi ý dưới
    đây:
    a) Tên một vật có trong thiên nhiên mang lại ánh sáng, nhiệt độ và sự
    sống cho con người: có 2 tiếng, bắt đầu bằng chữ M
    b) Tên một sinh vật trong thiên có khả năng tạo cho mình chất dinh
    dưỡng từ đất: có hai tiếng, bắt đầu bằng chữ T
    c) Tên một vùng nước mặn rộng lớn nối liền với các đại dương: có một
    tiếng, bắt đầu bằng chữ B
    – Bài tập dùng từ đặt câu
    Bài tập 58: Đặt câu với các từ sau đây (mỗi từ đặt một câu):
    Khoáng sản, không khí, đồi núi
    22
    Bài tập 59: Tìm 5 từ chỉ tên của một số sinh vật tự nhiên dưới mặt nước, đặt
    câu với các từ vừa tìm được.
    Bài tập 60: Tìm 3 từ chỉ tên một số khoáng sản trong tự nhiên, đặt câu với 1
    từ trong các từ vừa tìm được.
    – Bài tập thay thế từ ngữ
    Bài tập 61: Hãy thay từ, cụm từ in nghiêng trong các câu dưới đây bằng một
    từ khác có cùng nghĩa:
    a) Hành tinh thứ ba trong hệ mặt trời là nhà của hàng triệu loài sinh vật,
    trong đó có con người và cho đến nay, đây là nơi duy nhất trong vũ trụ được
    biết đến là có sự sống.
    b) Hàng trăm những cánh diều với đủ các màu sắc, hình dáng những
    động vật quen thuộc dưới lòng biển cả đâng tung bay trên bầu trời.
    c) Vệt sáng của những ngôi sao sa trên trời làm cho bầu trời đêm bỗng
    sáng rực, lóng lánh.
    Bài tập 62: Hãy thay thế những từ, cụm từ in nghiêng trong các câu sau đây
    bằng những từ khác mà không thay đổi nghĩa của câu:
    a) Nước ta có nguồn tài nguyên dầu mỏ, khí đốt, than đá,… vô cùng
    phong phú.
    b) Những dòng nước nhỏ chảy tự nhiên từ trên cao xuống róc rách trên
    các phiến đá hợp lại cùng nhau để tạo thành dòng sông.
    c) Sự tác động của những yếu tố về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa,… đã
    làm cho thảm thực vật nước ta vô cùng phong phú và đa dạng.
    Bài tập 63: Những từ nào nói về những vật trong tự nhiên có thể thay thế
    được cho những từ in nghiêng trong các câu sau đây
    a) Vực chứa nước Ba bể là một trong những nơi chứa nước ngọt lớn
    nhất thế giới nằm trong vườn quốc gia Ba Bể.
    b) Tô điểm cho sự hùng vĩ của Trường Sơn là những khối tảng đất đá
    lớn đồ sộ.
    c) Mùa đầu tiên của đất trời gõ cửa bắt đầu từ những hạt nước nhỏ li ti
    từ trên trời rơi xuống để ban phát cho muôn loài sự sống, giục giã cây cối
    đâm trồi, nảy lộc.
    * Nhóm bài tập sửa lỗi từ
    23
    Bài tập 64: Em hãy phát hiện và chỉ ra lỗi dùng từ trong câu sau đây và sửa lại
    cho đúng:
    Môi trường tự nhiên là tất cả những vật thể sống và không sống xuất
    hiện một cách tự nhiên trên trái đất như: đất đai, đại giương, khí quyển, thủy
    quyển, …
    Bài tập 65: Trong câu sau đây, từ nào dùng không đúng âm? Hãy sửa lại cho
    đúng:
    Tự nhuyên luôn mang lại cho con người những điều tốt dẹp nhất, vì vậy
    mỗi người hãy luôn chung tay bảo vệ chúng.
    Bài tập 66: Trong câu dưới đây, từ nào dùng sai chính tả? Hãy sửa lại cho
    đúng:
    Trái đất luôn luôn quay xung quanh mặt chời.
    d. Chủ điểm Bảo vệ Tổ quốc
    * Nhóm bài tập nhận dạng từ
    – Bài tập nhận dạng từ rời
    Bài tập 67: Trong các từ sau đây, từ nào được dùng để chỉ tên một số anh
    hùng dân tộc ở nước ta:
    Trưng Trắc, Chúa Nguyễn, Ngô Quyền, Hồ Chí Minh, Hùng Vương
    Bài tập 68: Gạch chân dưới những từ chỉ tên các nước đã sang xâm chiếm
    nước ta:
    Ân, Ấn Độ, Pháp,Hà Lan, Mỹ, Nguyên Mông, Đức
    Bài tập 69: Gạch chân dưới những từ chỉ tên các cuộc khởi nghĩa của nhân
    dân ta thời Bắc thuộc:
    Hai Bà Trưng, Lam Sơn, Bạch Đằng, đánh Mỹ, Phùng Hưng
    Bài tập 70: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng
    Những từ nào sau đây nói về tên nữ anh hùng dân tộc có công chống
    giặc Ngô?
    a) Triệu Thị Trinh c) Trần Quốc Tuấn
    b) Triệu Quang Phục d) Hai Bà Trưng
    Bài tập 71: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng
    Nghĩa quân Lam Sơn do ai lãnh đạo?
    a) Ngô Quyền c) Trưng Trắc
    b) Lê Lợi d) Lý Bí
    24
    Bài tập 72: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng
    Chỉ ra những việc mà những người học sinh cần phải làm để góp phần
    bảo vệ Tổ quốc?
    a) học tập tốt c) thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy
    b) chăm chỉ lao động d) tất cả các ý trên
    – Bài tập nhận dạng từ trong lời nói
    Bài tập 73: Những từ, cụm từ nào chỉ tên các anh hùng dân tộc trong các phát
    ngôn sau đây:
    a) Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn đã có công lớn ba lần đại phá
    quân xâm lược Nguyên Mông.
    b) Danh tướng Lý thường Kiệt là một vị tướng tài lừng danh trong lịch
    sử Việt.
    c) Năm 938, Ngô Quyền là người lãnh đạo nhân dân đánh bại quân
    Nam Hán trong trận Bạch Đằng lịch sử, chính thức kết thúc thời kì Bắc thuộc,
    mở ra thời kì độc lập lâu dài của Việt Nam ta..
    Bài tập 74: Gạch chân dưới những từ cùng nghĩa với từ tổ quốc ở những câu
    sau:
    a) Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước
    Việt Nam, Bác Hồ thiết tha căn dặn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp
    hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các
    cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn vào công
    học tập của các em”.
    b) Cách đây khoảng 40 – 30 vạn năm, người tối cổ sinh sống khắp nơi
    trên đất nước ta.
    c) Dân gian có câu: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời” nói lên đất
    nước trong lịch sử có thể thay đổi các triều đại khác nhau, còn bản tính, cá
    tính của con người sẽ khó có thể thay đổi theo thời gian.
    Bài tập 75: Trong đoạn văn sau đây, từ nào chỉ tên anh hùng dân tộc thiểu số
    nước ta:
    Đinh Núp – anh hùng Núp là nhân vật chính, nguyên mẫu trong bộ tiểu
    thuyết Đất nước đứng lên của nhà văn Nguyên Ngọc, tác phẩm này đã được
    dựng thành bộ phim cùng tên.
    (Bài viết của học sinh)
    25
    * Nhóm bài tập sử dụng từ
    – Bài tập điền từ vào chỗ trống
    Bài tập 76: Chọn từ thích hợp để điền vào ô trống trong các câu sau đây:
    (nước nhà, Phùng Hưng, gìn giữ)
    a) Bác Hồ có câu:
    Dân ta phải biết sử ta
    Cho tường gốc tích … Việt Nam
    b) … là lãnh tụ một cuộc nổi dậy chống lại sự đô hộ của nhà Đường
    thời Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam
    c) Việc … giá trị văn hóa truyền thống là một việc làm vô cùng cần
    thiết để bảo tồn bản sắc văn hóa Việt.
    Bài tập 77: Điền từ ngữ vào chỗ trống trong những câu ca dao, tục ngữ sau:
    a) Dù ai đi ngược về xuôi
    Nhớ ngày … mùng mười tháng ba
    b) Nhớ xưa thứ sáu …
    Hai mươi tám tướng, tướng cường nữ nhung.
    c) … nước Nam vua Nam ở
    Rành rành định phận tại sách trời
    Bài tập 78: Điền từ thích hợp vào chỗ trống trong các câu sau:
    a) Bác Hồ có câu: “Các vua Hùng đã có công … , Bác cháu ta phải
    cùng nhau giữ lấy nước”.
    b) Học sinh Việt Nam trong giai đoạn hiện nay luôn được sự quan tâm
    đặc biệt của toàn xã hội, điều đó đã tạo ra môi trường hết sức thuận lợi để
    chúng ta có điều kiện phát triển toàn diện, nhưng cũng đặt ra trách nhiệm cho
    mỗi bản thân chúng ta cần tham gia tích cực hơn vào sự nghiệp học tập góp
    phần xây dựng và bảo vệ … .
    c) Khi giặc Minh xâm chiếm nước ta, ở Lam Sơn có ông … đứng lên
    phất cờ khởi nghĩa.
    Bài tập 79: Điển từ thích hợp vào ô trống theo mô hình với các gợi ý dưới
    đây:
    a) Tên một vị anh hùng dân tộc có công dẹp loạn 12 xứ quân: có 3 tiếng,
    bắt đầu bằng chữ Đ
    26
    b) Tên vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam: có một tiếng, bắt đầu
    bằng chữ H
    c) Tên một vị thánh trong truyền thuyết Việt Nam có công đánh phá
    giặc Ân xâm lược: có hai tiếng, bắt đầu bằng chữ T
    – Bài tập dùng từ đặt câu
    Bài tập 80: Đặt câu với các từ sau đây (mỗi từ đặt một câu):
    Giang sơn, Lê Lợi, tổ quốc, Lý Bí, đất nước
    Bài tập 81: Tìm 5 từ chỉ tên của các anh hùng dân tộc dân tộc Việt Nam, đặt
    câu với 1 từ vừa tìm được.
    Bài tập 82: Tìm 3 từ có cùng nghĩa với từ đất nước, đặt câu với 3 từ vừa tìm
    được.
    – Bài tập thay thế từ ngữ
    Bài tập 83: Hãy thay từ in nghiêng trong các câu dưới đây bằng một từ khác
    có cùng nghĩa:
    a) Việt Nam – đất nước hình chữ S đang đi lên xây dựng, hoàn thiện,
    phát triển sánh vai với các cường quốc năm châu.
    b) Bảo vệ tổ quốc Việt Nam là trách nhiệm của mỗi con người đang
    sống và làm việc trên đất nước ta.
    c) Triệu Quang Phục là người “uy hùng sức mạnh” kế tục sự nghiệp
    của Lý Nam Đế.
    Bài tập 84: Hãy thay thế những từ in nghiêng trong các câu sau đây bằng
    những từ khác mà không thay đổi nghĩa của câu:
    a) Trên con đường mòn mang tên Bác, đoàn quân ta đã hùng dũng băng
    đèo, lội suối dọc theo dãy Trường Sơn lịch sử đưa bộ đội vào chiến trường
    miền Nam đánh Mĩ.
    b) Nhân dân ta cần phải luôn noi gương những anh hùng đã chiến đấu
    gian khổ hi sinh bảo vệ tổ quốc hòa bình.
    * Nhóm bài tập sửa lỗi từ
    27
    Bài tập 85: Em hãy phát hiện và chỉ ra lỗi chính tả trong các câu thơ sau đây
    và sửa lại cho đúng:
    Đất nghèo nuôi những anh hùng
    Trìm trong máu nửa lại vùng đứng lên
    Đạp quân thù suống đất đen
    Xúng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa.
    NGUYỄN ĐÌNH THI
    Bài tập 86: Trong câu sau đây, từ nào dùng không đúng âm? Hãy sửa lại
    cho đúng:
    Việt Nam – hai tiếng thiên liên, thân thương in hằn trong tim mỗi con
    người dân tộc.
    e. Chủ điểm Cộng đồng
    * Nhóm bài tập nhận dạng từ
    – Bài tập nhận dạng từ rời
    Bài tập 87: Trong các từ sau đây, từ nào được dùng để chỉ những người trong
    cộng đồng, từ nào được dùng để chỉ thái độ hoạt động trong cộng đồng:
    Đồng nghiệp, cộng tác, đồng đội, đồng hành, đồng bào, đồng tâm,
    đồng hương, đồng ngũ, đồng chí,đồng lòng, cộng cư
    Bài tập 88: Gạch chân dưới những từ có tiếng “đồng” với nghĩa là cùng nhau
    hoặc giống nhau:
    Đồng ý, kim đồng, đồng thanh, đồng hương, đồng sắt, đồng ca, đồng
    hạng
    Bài tập 89: Gạch chân dưới những từ có tiếng “cộng” với nghĩa là gắn bó với
    nhau:
    Cộng tác, cộng hòa, cộng cư, công cộng, cộng hưởng, cộng quản, cộng
    chèo
    Bài tập 90: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng
    Em hãy chỉ ra từ có gần nghĩa với từ dân tộc trong các từ ngữ được cho
    dưới đây?
    a) đồng bào c) đồng chí
    b) đồng hương d) đồng lòng
    Bài tập 91: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng
    Từ nào trong các từ sau đây chỉ thái độ, hoạt động trong cộng đồng?
    28
    a) cố kết c) đồng nghĩa
    b) đồng âm d) đồng đẳng
    – Bài tập nhận dạng từ trong lời nói
    Bài tập 92: Những từ nào nói về những người trong cộng đồng trong các phát
    ngôn sau đây:
    a) Tất cả những đồng hương ở nước ngoài cứ tết đến là họ lại một lòng
    hướng về quê hương.
    b) Tình đồng chí trong nghĩa vụ chiến đấu bảo vệ tổ quốc thắm đượm
    nghĩa tình.
    Bài tập 93: Gạch chân dưới những từ chỉ thái độ, hoạt động trong cộng đồng ở
    những câu sau:
    a) Toàn trường đang đồng tâm hướng về việc ủng hộ nhân dân vùng
    bão, lũ, thiên tai.
    b) Hai lớp 5A và lớp 5B cộng tác với nhau hoàn thành việc trồng hoa
    khu vực nhà hiệu bộ của trường.
    Bài tập 94: Trong đoạn văn sau đây từ nào chỉ thái độ ứng xử trong cộng
    đồng:
    Sự cộng sinh, sự cố kết cộng đồng để tồn tại suốt mấy ngàn năm chống
    chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, đã tạo ra sức mạnh Sơn Tinh trong mỗi con
    người bé nhỏ. Những con người ấy đồng tâm, đồng lực làm nên những con đê
    vững chắc chế ngự lũ lụt, hạn hán, bảo vệ làng mạc, mùa màng và tạo thành
    một nền văn minh lúa nước phát triển rực rỡ cho đến ngày nay.
    Bài tập 95: Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước câu trả lời đúng
    Ý nào sau đây thể hiện ý nghĩa sâu xa của câu tục ngữ Ngựa chạy có
    bầy, chim bay có bạn?
    a) phải biết đoàn kết với nhau, bạn bè đoàn kết, gia đình đoàn kết và xa
    hơn nữa là dân tộc phải biết đoàn kết với nhau.
    b) ngựa chạy thì phải có cả bầy, chim bay thì phải bay cùng bạn
    * Nhóm bài tập sử dụng từ
    – Bài tập điền từ vào chỗ trống
    Bài tập 96: Chọn từ thích hợp để điền vào ô trống trong các câu sau đây:
    (đồng sức, cộng tác, đồng hương)
    29
    a) Hội … là tổ chức của những người cùng quê hương đang sinh sống
    và làm việc tại một nơi xa.
    b) … là cùng góp sức hoàn thành một công việc nhằm một mục đích
    chung, nhưng có thể không cùng chung một trách nhiệm.
    c) Nhân dân cả nước đã … khắc phục hậu quả thiên tai bằng cách:
    quyên góp tiền, mì tôm, chăn màn, thuốc men, sách vở để ủng hộ người dân
    vùng nạn.
    Bài tập 97: Điền từ ngữ vào chỗ trống trong những câu ca dao, tục ngữ sau:
    a) Dân ta nhớ một chữ đồng:
    … , đồng sức, đồng lòng, đồng minh
    b) … làm chẳng nên non
    … chụm lại nên hòn núi cao.
    Bài tập 98: Điền từ thích hợp vào chỗ trống trong các câu sau:
    a) … là một nhóm xã hội của các cơ thể sống chung trong cùng một môi
    trường thường là có cùng các mối quan tâm chung.
    b) Người dân cả nước cùng … hướng về biển đảo.
    Bài tập 99: Điển từ thích hợp vào ô trống theo mô hình với các gợi ý dưới
    đây:
    a) Từ chỉ những người trong cùng một đội ngũ: có hai tiếng, bắt đầu
    bằng chữ Đ
    b) Từ chỉ những người có cùng chung một lòng: có hai tiếng, bắt đầu
    bằng chữ Đ
    c) Từ chỉ những người cùng làm chung một việc: có hai tiếng, bắt đầu
    bằng chữ C
    – Bài tập dùng từ đặt câu
    Bài tập 100: Đặt câu với các từ sau đây (mỗi từ đặt một câu):
    Đồng hương, đồng chí, đồng bào
    30
    Bài tập 101: Tìm 3 từ chỉ những con người trên mọi đất nước, đặt câu với 1 từ
    vừa tìm được.
    – Bài tập thay thế từ ngữ
    Bài tập 102: Hãy thay từ in nghiêng trong các câu dưới đây bằng một từ khác
    có cùng nghĩa:
    a) Giáo viên và học sinh trường tiểu học A đồng lòng xây dựng ngôi
    trường xanh – sạch – đẹp
    b) Người cùng công việc với mẹ Nam mới được thăng chức.
    Bài tập 103: Hãy thay thế những từ in nghiêng trong các câu sau đây bằng
    những từ khác mà không thay đổi nghĩa của câu:
    a) Trên mọi miền tổ quốc, người dân cùng nhau hướng đến xây dựng
    một đất nước hoà bình, phát triển.
    b) Chúng ta hãy nêu cao tinh thần thiện chí giúp đỡ với những người
    gặp nạn khi họ đang ở trong tình cảnh khó khăn.
    * Nhóm bài tập sửa lỗi từ
    Bài tập 104: Em hãy phát hiện và chỉ ra lỗi dùng từ trong các câu sau đây và
    sửa lại cho đúng:
    Không ngoan đối đáp người ngoài
    Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau
    (Ca dao)
    Bài tập 105: Trong câu ca dao sau đây, từ nào dùn

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education