• Giáo án môn hoá học lớp 12 học kì 2

    Giáo án môn hoá học lớp 12 học kì 2

    Giáo án môn hoá học lớp 12 học kì 2

     

    CHỦ ĐỀ 5: ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI

    CHỦ ĐỀ 5 – TIẾT 1: VỊ TRÍ CỦA KIM LOẠI  TRONG BẢNG TUẦN HOÀN

    VÀ CẤU TẠO CỦA KIM LOẠI

    Kiến thức cũ có liên quan: cấu hình electron nguyên tử, mối quan hệ giữa vị trí và cấu hình electron

    1. MỤC TIÊU:
    2. Kiến thức: HS biết:

    – Vị trí của kim loại trong bảng tuần hoàn.

    – Cấu tạo của nguyên tử kim loại và cấu tạo tinh thể của các kim loại.

    – Liên kết kim loại.

    1. Kĩ năng: Rèn luyện kĩ năng từ vị trí của kim loại suy ra cấu tạo và tính chất, từ tính chất suy ra ứng dụng và phương pháp điều chế.
    2. Thái độ: Kích thích sự hứng thú với bộ môn, phát huy khả năng tư duy của học sinh

     

    1. TRỌNG TÂM:

    – Từ vị trí của kim loại suy ra cấu tạo và tính chất, từ tính chất suy ra ứng dụng và phương pháp điều chế.

     

    III. CHUẨN BỊ:

    – Bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học.

    – Bảng phụ vẽ sơ đồ cấu tạo nguyên tử (có ghi bán kính nguyên tử) của các nguyên tố thuộc chu kì 2.

    – Tranh vẽ 3 kiểu mạng tinh thể và mô hình tinh thể kim loại (mạng tinh thể lục phương, lập phương tâm diện, lập phương tâm khối).

     

    1. PHƯƠNG PHÁP: Nêu vấn đề + đàm thoại + hoạt động nhóm.

     

    1. TIẾN TRÌNH BÀY DẠY:
    2. Ổn định lớp: Chào hỏi, kiểm diện.
    3. Kiểm tra bài cũ: Viết cấu hình electron nguyên tử của các nguyên tố 11Na, 20Ca, 13Al. Xác định số electron ở lớp ngoài cùng và cho biết đó là nguyên tố kim loại hay phi kim ?
    4. Bài mới:

     

    HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ TRÒ NỘI DUNG
    Hoạt động 1

    – GV dùng bảng tuần hoàn và yêu cầu HS xác định vị trí của các nguyên tố kim loại trong bảng tuần hoàn.

    – GV gợi ý để HS tự rút ra kết luận về vị trí của các nguyên tố kim loại trong bảng tuần hoàn.

     

     

     

    Hoạt động 2

    – GV yêu cầu HS viết cấu hình electron của các nguyên tố kim loại: Na, Mg, Al và các nguyên tố phi kim P, S, Cl. So sánh số electron ở lớp ngoài cùng của các nguyên tử kim loại và phi kim trên. Nhận xét và rút ra kết luận.

    – GV dùng bảng phụ vẽ sơ đồ cấu tạo nguyên tử của các nguyên tố thuộc chu kì 2 và yêu cầu HS rút ra nhận xét về sự biến thiên của điện tích hạt nhân và bán kính nguyên tử.

     

     

    Hoạt động 3

    – GV thông báo về cấu tạo của đơn chất kim loại.

    – GV dùng mô hình thông báo 3 kiểu mạng tinh thể của kim loại.

    – HS nhận xét về sự khác nhau của 3 kiểu mạng tinh thể trên.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Hoạt động 4

    – GV thông báo về liên kết kim loại và yêu cầu HS so sánh liên kết kim loại với liên kết cộng hoá trị và liên kết ion.

     

     

     

    I.  VỊ TRÍ CỦA KIM LOẠI TRONG BẢNG TUẦN HOÀN

    – Nhóm IA (trừ H), nhóm IIA (trừ B) và một phần của các nhóm IVA, VA, VIA.

    – Các nhóm B (từ IB đến VIIIB).

    – Họ lantan và actini.

     

     

    II.  CẤU TẠO CỦA KIM LOẠI

    1. Cấu tạo nguyên tử

    – Nguyên tử của hầu hết các nguyên tố kim loại đều có ít electron ở lớp ngoài cùng (1, 2 hoặc 3e).

    Thí dụ:

    Na: [Ne]3s1     Mg: [Ne]3s2      Al: [Ne]3s23p1

    – Trong chu kì, nguyên tử của nguyên tố kim loại có bán kính nguyên tử lớn hơn và điện tích hạt nhân nhỏ hơn so với các nguyên tử của nguyên tố phi kim.

    Thí dụ:

    11Na 12Mg 13Al 14Si 15P 16S 17Cl
    0,157 0,136 0,125 0,117 0,110 0,104 0,099

     

    2. Cấu tạo tinh thể

    – Ở nhiệt độ thường, trừ Hg ở thể lỏng, còn các kim loại khác ở thể rắn và có cấu tạo tinh thể.

    – Trong tinh thể kim loại, nguyên tử và ion kim loại nằm ở những nút của mạng tinh thể. Các electron hoá trị liên kết yếu với hạt nhân nên dễ tách khỏi nguyên tử và chuyển động tự do trong mạng tinh thể.

    a) Mạng tinh thể lục phương

    – Các nguyên tử, ion kim loại nằm trên các đỉnh và tâm các mặt của hình lục giác đứng và ba nguyên tử, ion nằm phía trong của hình lục giác.

    – Trong tinh thể, thể tích của các nguyên tử và ion kim loại chiếm 74%, còn lại 26% là không gian trống.

    Ví dụ: Be, Mg, Zn.

    b) Mạng tinh thể lập phương tâm diện

     – Các nguyên tử, ion kim loại nằm trên các đỉnh và tâm các mặt của hình lập phương.

    – Trong tinh thể, thể tích của các nguyên tử và ion kim loại chiếm 74%, còn lại 26% là không gian trống.

    Ví dụ: Cu, Ag, Au, Al,…

    c) Mạng tinh thể lập phương tâm khối

    – Các nguyên tử,ion kim loại nằm trên các đỉnh và tâm của hình lập phương.

    – Trong tinh thể, thể tích của các nguyên tử và ion kim loại chiếm 68%, còn lại 32% là không gian trống.

    Ví dụ: Li, Na, K, V, Mo,…

    3. Liên kết kim loại

    Liên kết kim loại là liên kết được hình thành giữa các nguyên tử và ion kim loại trong mạng tinh thể do có sự tham gia của các electron tự do.

    1. CỦNG CỐ:
    2. GV treo bảng tuàn hoàn và yêu cầu HS xác định vị trí của 22 nguyên tố phi kim. Từ đó thấy phần còn lại của bảng tuần hoàn là gồm các nguyên tố kim loại.
    3. Phân biệt cấu tạo của nguyên tử kim loại và cấu tạo của đơn chất kim loại để thấy trong đơn chất, kim loại có liên kết kim loại.
    4. DẶN DÒ
    5. Bài tập về nhà: 1 → 9 trang 82 (SGK).
    6. Xem trước bài phần TÍNH CHẤT CỦA KIM LOẠI

    VII. RÚT KINH NGHIỆM

    …………………………………………………………………………………………………………………………………..

    …………………………………………………………………………………………………………………………………..

    …………………………………………………………………………………………………………………………………..

     

    Ngày

    Tổ trưởng kí duyệt

     

     

     

    Nguyễn Thị Hương

     

     

    CHỦ ĐỀ 5: ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI

    CHỦ ĐỀ 5 – TIẾT 2: TÍNH CHẤT CỦA KIM LOẠI DÃY ĐIỆN HOÁ CỦA KIM LOẠI (Tiết 1)

    Kiến thức cũ có liên quan: Cấu tạo của kim loại, dãy hoạt động hóa học của kim loại

    1. MỤC TIÊU:
    2. Kiến thức:

    – HS biết: Tính chất vật lí chung của kim loại.

    – HS hiểu: Nguyên nhân gây nên những tính chất vật lí chung của kim loại.

    1. Kĩ năng: Giải thích được nguyên nhân gây nên một số tính chất vật lí chung của kim loại.
    2. Thái độ: Giải thích được một số hiện tượng trong đời sống
    3. TRỌNG TÂM:

    – Nguyên nhân gây nên những tính chất vật lí chung của kim loại.

    III. CHUẨN BỊ:

    1. PHƯƠNG PHÁP: Nêu vấn đề + đàm thoại + hoạt động nhóm.
    2. TIẾN TRÌNH BÀY DẠY:
    3. Ổn định lớp: Chào hỏi, kiểm diện.
    4. Kiểm tra bài cũ: Liên kết kim loại là gì ? So sánh liên kết kim loại với liên kết cộng hoá trị và liên kết ion.
    5. Bài mới:

     

    HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ TRÒ NỘI DUNG
    Hoạt động 1

    – GV yêu cầu HS nêu những tính chất vật lí chung của kim loại (đã học ở năm lớp 9).

     

     

    Hoạt động 2

    – HS nghiên cứu SGK và giải thích tính dẻo của kim loại.

    – GV ?: Nhiều ứng dụng quan trọng của kim loại trong cuộc sống là nhờ vào tính dẻo của kim loại. Em hãy kể tên những ứng dụng đó.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Hoạt động 3

    – HS nghiên cứu SGK và giải thích nguyên nhân về tính dẫn điện của kim loại.

    – GV dẫn dắt HS giải thích nguyên nhân vì sao ở nhiệt độ cao thì độ dẫn điện của kim loại càng giảm.

     

     

     

     

    Hoạt động 4

    – HS nghiên cứu SGK và giải thích nguyên nhân về tính dẫn nhiệt của kim loại.

     

     

     

     

     

     

     

    Hoạt động 5

    – HS nghiên cứu SGK và giải thích nguyên nhân về tính ánh kim của kim loại.

    – GV giới thiệu thêm một số tính chất vật lí khác của kim loại.

    I.  TÍNH CHẤT VẬT LÍ

    1. Tính chất chung: Ở điều kiện thường, các kim loại đều ở trạng thái rắn (trừ Hg), có tính dẻo, dẫn điện, dẫn nhiệt và có ánh kim.

     

    2. Giải thích

    a) Tính dẻo

    Kim loại có tính dẻo là vì các ion dương trong mạng tinh thể kim loại có thể trượt lên nhau dễ dàng mà không tách rời nhau nhờ những electron tự do chuyển động dính kết chúng với nhau.

     

     

    b) Tính dẫn điện

    – Khi đặt một hiệu điện thế vào hai đầu dây kim loại, những electron chuyển động tự do trong kim loại sẽ chuyển động thành dòng có hướng từ cực âm đến cực dương, tạo thành dòng điện.

    – Ở nhiệt độ càng cao thì tính dẫn điện của kim loại càng giảm do ở nhiệt độ cao, các ion dương dao động mạnh cản trở dòng electron chuyển động.

     

    c) Tính dẫn nhiệt

    – Các electron trong vùng nhiệt độ cao có động năng lớn, chuyển động hỗn loạn và nhanh chóng sang vùng có nhiệt độ thấp hơn, truyền năng lượng cho các ion dương ở vùng này nên nhiệt độ lan truyền được từ vùng này đến vùng khác trong khối kim loại.

    – Thường các kim loại dẫn điện tốt cũng dẫn nhiệt tốt.

     

    d) Ánh kim

    Các electron tự do trong tinh thể kim loại phản xạ hầu hết những tia sáng nhìn thấy được, do đó kim loại có vẻ sáng lấp lánh gọi là ánh kim.

    Kết luận: Tính chất vật lí chung của kim loại gây nên bởi sự có mặt của các electron tự do trong mạng tinh thể kim loại.

    Không những các electron tự do trong tinh thể kim loại, mà đặc điểm cấu trúc mạng tinh thể kim loại, bán kính nguyên tử,…cũng ảnh hưởng đến tính chất vật lí của kim loại.

    * Ngoài một số tính chất vật lí chung của các kim loại, kim loại còn có một số tính chất vật lí không giống nhau.

    – Khối lượng riêng: Nhỏ nhất: Li (0,5g/cm3); lớn nhất Os (22,6g/cm3).

    – Nhiệt độ nóng chảy: Thấp nhất: Hg (−390C); cao nhất W (34100C).

    – Tính cứng: Kim loại mềm nhất là K, Rb, Cs (dùng dao cắt được) và cứng nhất là Cr (có thể cắt được kính).

     

    1. CỦNG CỐ
    2. Nguyên nhân gây nên những tính chất vật lí chung của kim loại ? Giải thích.
    3. Em hãy kể tên các vật dụng trong gia đình được làm bằng kim loại. Những ứng dụng của các đồ vật đó dựa trên tính chất vật lí nào của kim loại ?
    4. DẶN DÒ
    5. Bài tập về nhà: 1, 8 trang 88 (SGK).
    6. Xem trước phần TÍNH CHẤT HOÁ HỌC CHUNG CỦA KIM LOẠI

    VII. RÚT KINH NGHIỆM

    …………………………………………………………………………………………………………………………………..

    …………………………………………………………………………………………………………………………………..

    …………………………………………………………………………………………………………………………………..

    Ngày

    Tổ trưởng kí duyệt

     

    Mời các thầy cô download file đầy đủ tại đây

    Giao an Hoa 12 co ban HKII

     

    Xem thêm

    Tổng hợp các chuyên đề hóa học lớp 10

    Tổng hợp các chuyên đề hóa học lớp 11

    Tổng hợp các chuyên đề hóa học lớp 12

    Giáo án môn hoá học lớp 10 học kì 1

    Giáo án môn hoá học lớp 10 học kì 2

    Giáo án môn hoá học lớp 11 học kì 1

    Giáo án môn hoá học lớp 11 học kì 2

    Giáo án môn hoá học lớp 12 học kì 1

    Giáo án môn hoá học lớp 12 học kì 2

     

  • Giáo án hoá học lớp 12 học kì 1

    Giáo án hoá học lớp 12 học kì 1

    Giáo án hoá học lớp 12 học kì 1

    Ngày soạn:

    CHỦ ĐỀ 5: NHÓM HALOGEN

    Chủ đề 5 – tiết thứ nhất: KHÁI QUÁT VỀ NHÓM HALOGEN

    Kiến thức cũ có liên quan

    Kiến thức mới cần hình thành

    – Bảng tuần hoàn

    – Cấu hình electron

    – Sự biến đổi tính chất các nguyên tố trong bản tuần hoàn

    – Vị trí nhóm halogen trong BTH

    – Sự biến đổi độ âm điện, bán kính nguyên tử, một số tính chất

    – Tính chất hóa học cơ bản của nguyên tố halogen

    I. MỤC TIÊU:

    1.Kiến thức: Biết được:

    – V trí nhóm halogen trong bng tun hoàn.

    – S biến đổi độ âm đin, bán kính nguyên t và mt s tính cht vt lí ca các nguyên t trong nhóm.

    – Cu hình lp electron ngoài cùng ca nguyên t các nguyên t halogen tương t nhau. Tính cht hoá hc cơ bn ca các nguyên t halogen là tính oxi hoá mnh.

    – S biến đổi tính cht hóa hc ca các đơn cht trong nhóm halogen.

    2.Kĩ năng:

    – Viết được cu hình lp electron ngoài cùng ca nguyên t F, Cl, Br, I.

    – D đoán được tính cht hóa hc cơ bn ca halogen là tính oxi hóa mnh da vào cu hình lp electron ngoài cùng và mt s tính cht khác ca nguyên t.

    – Viết được các phương trình hóa học chng minh tính cht oxi hoá mnh ca các nguyên t halogen, quy lut biến đổi tính cht ca các nguyên t trong nhóm.

    – Tính th tích hoc khi lượng dung dch cht tham gia hoc to thành sau phn ng.

    3.Thái độ: Tích cực, chủ động

    4. Phát triển năng lực

    + Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học

    + Năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn hóa học

    + Thực hành hóa học

    II. TRNG TÂM: Mi liên h gia cu hình lp electron ngoài cùng, độ âm đin, bán kính nguyên t… vi tính cht hoá hc cơ bn ca các nguyên t halogen là tính oxi hoá mnh.

    III.PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY: Thuyết trình- phát vấn – kết nhóm

    IV. CHUẨN BỊ GIÁO CỤ:

    *Giáo viên: – Dụng cụ : Ống nghiệm, kẹp gỗ, giá, ….

    – Hoá chất : Zn, dd H2SO4, dd CuSO4, đinh sắt, dd KMnO4

    *Học sinh: Học bài cũ, chuẩn bị bài mới trước khi đến lớp.

    V. TIẾN TRÌNH BÀI DẠY:

    1.Ổn định lớp: Kiểm tra sĩ số, đồng phục…

    2.Kiểm tra bài cũ: Không

    3.Bài mới:

    1. Đặt vấn đề: Những nguyên tố thuộc nhóm nào trong bảng tuần hoàn gọi là nhóm halogen? Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu về nhóm các nguyên tố này.

    2. Triển khai bài

    HOẠT ĐỘNG THẦY VÀ TRÒ

    NỘI DUNG KIẾN THỨC

    Hoạt động 1: Vị trí của nhóm hal trong bảng tuần hoàn

    Mục tiêu: Biết vị trí của hal trong bảng tuần hoàn, những nguyên tố nhóm hal

    GV hỏi HS nhóm halogen gồm các ngtố nào?

    Chúng nằm ở nhóm nào trong HTTH?

    Ở mỗi chu kì, chúng nằm ở vị trí nào?

    GV lưu ý HS : Atatin được điều chế nhân tạo bằng các phản ứng hạt nhân . Do đó có thể xem At là nguyên tố phóng xạ. Ta không nghiên cứu At.

    I. VỊ TRÍ NHÓM HALOGEN TRONG BẢNG HTTH:

    * Nhóm halogen gồm : Flo(F); Clo(Cl); Brom (Br), Iot (I), Atatin (At)

    * Các ngtố halogen thuộc nhóm VIIA. Chúng đứng gần cuối các chu kì, ngay trước các ngtố khí hiếm.

    Hoạt động 2: Cấu hình electron nguyên tử, cấu tạo phân tử

    Mục tiêu: Biết cấu hình e chung của nguyên tử các nguyên tố hal, cấu tạo phân tử, tính chất hoá học cơ bản của các nguyên tố hal

    – GV cho HS viết c.h.e của F, Cl và rút ra nhận xét GV đặt vấn đề: Vì sao các ngtử halogen không đứng riêng rẽ mà ở dạng 2 ngtử (Cl2, Br2) Xu hướng liên kết của nguyên tử hal?

    – HS trả lời.

    – Hs viết quá trình hình thành phân tử hal

    – GV gợi ý để HS nêu tchh cơ bản của halogen.

    Gv thông tin

    II. CẤU HÌNH ELECTRON NGUYÊN TỬ, CẤU TẠO PHÂN TỬ:

    * Ngtử có 7e lớp ngoài cùng ( ns2 np5 )

    * Ở trạng thái tự do, 2 ngtử halogen góp chung 1 e với nhau tạo 1 lk CHT không cực.

    : X . + . X : : X : X : X- X X2

    CT e CT cấu tạo CTPT

    * Liên kết trong phân tử X2 không bền lắm, dễ bị tách thành 2 ngtử X.

    * Trong phản ứng hoá học, các ngtử X dễ thu thêm 1e Tính chất hoá học cơ bản của các halogen là tính oxi hoá mạnh.

    Hoạt động 3: Sự biến đổi tính chất

    Mục tiêu: Biết sự biến đổi bán kính nguyên tử, độ âm điện, một số tính chất của hal

    Phân tích dữ liệu ở bảng 11 tr 95 SGK.

    GV cho HS xem và nhận xét:

    – TcVL (trạng thái, màu, tonc , tosôi )

    – Bán kính ngtử

    – Độ âm điện

    GV giải thích vì sao trong các hợp chất, F chỉ có số oxi hoá -1, các ngtố halogen còn lại, ngoài số oxi hoá -1 còn có +1, +3, +5, +7.

    Ghi chú: Flo có lớp e ngoài cùng là lớp thứ 2 nên không có phân lớp d. Từ Clo Iot có phân lớp d còn trống, nên được kích thích sẽ có 3e, 5e, 7e độc thân.

    Do đó trong các hợp chất Flo luôn có số oxi hoá –1, các halogen khác thể hiện số oxi hoá từ –1 +7.

    HS dựa vào bán kính ngtử và độ âm điện để giải thích vì sao tính oxi hoá giảm dần từ F đến I.

    III. SỰ BIẾN ĐỔI TÍNH CHẤT

    1. Sự biến đổi tính chất vật lí của các đơn chất:

    (Bảng 11 trang 95 SGK) Từ F đến I, ta thấy:

    * Trạng thái tập hợp: khí lỏng rắn.

    * Màu sắc: đậm dần

    * tonc , tosôi : tăng dần.

    2. Sự biến đổi độ âm điện:

    * ĐAĐ tương đối lớn.

    * Giảm dần từ F đến I

    * F có ĐAĐ lớn nhất nên chỉ có số oxi hoá -1, 0.

    Các ngtố halogen khác có số oxi hoá -1, 0, +1, +3, +5, +7

    3. Sự biến đổi tính chất hoá học của các đơn chất

    – Các đơn chất halogen giống nhau về tính chất hoá học cũng như thành phần và tính chất của các hợp chất do chúng tạo thành(Do lớp e ngoài cùng có cấu hình tương tự nhau (ns2 np5))

    – Halogen là những phi kim điển hình. Tính oxi hoá giảm dần từ Flo đến Iot.

    – Các đơn chất halogen oxi hoá được

    + Hầu hết các kim loại muối halogenua

    + H2 hợp chất khí không màu hiđro halogenua

    (khí này tan trong nước tạo dd axit halogen hiđric)

    VI. CỦNG CỐ DẶN DÒ

    1. Củng cố: * Tổng kết 3 ý:

    – Nguyên nhân tính oxi hoá mạnh của các halogen.

    – Nguyên nhân tính oxi hoá của halogen giảm dần từ F I.

    – Nguyên nhân của sự giống nhau về tính chất hoá học cũng như thành phần và tính chất của các hợp chất do chúng tạo thành.

    2. Dặn dò: – HS làm bài 1… 8 trang 96 SGK. – Chuẩn bị bài “Clo”

    VII. RÚT KINH NGHIỆM

    …………………………………………………………………………………………………………………………………..

    …………………………………………………………………………………………………………………………………..

    …………………………………………………………………………………………………………………………………..

    Ngày

    Tổ trưởng kí duyệt

    Nguyễn Thị Hương

    Ngày soạn:

    CHỦ ĐỀ 5: NHÓM HALOGEN

    Chủ đề 5 – tiết thứ 2: CLO

    Kiến thức cũ có liên quan

    Kiến thức mới cần hình thành

    – Khái quát về nhóm halogen

    – Phản ứng oxi hoá khử

    – Tính chất vật lí, tính chất hoá học, trạng thái tự nhiên, điều chế clo

    I. MỤC TIÊU:

    1.Kiến thức:

    – Biết được: Tính cht vt lí, trng thái t nhiên, ng dng ca clo, phương pháp điu chế clo trong phòng thí nghim, trong công nghip.

    – Hiu được: Tính cht hoá hc cơ bn ca clo là phi kim mnh, có tính oxi hoá mnh (tác dng vi kim loi, hiđro). Clo còn th hin tính kh .

    2.Kĩ năng:

    – D đoán, kim tra và kết lun được v tính cht hóa hc cơ bn ca clo.

    – Quan sát các thí nghim hoc hình nh thí nghim rút ra nhn xét.

    – Viết các phương trình hóa học minh ho tính cht hoá hc và điu chế clo.

    – Tính th tích khí clo đktc tham gia hoc to thành trong phn ng.

    3.Thái độ: Tích cực, chủ động, ý thức được sự độc hại của clo

    4. Phát triển năng lực

    + Năng lực giải quyết vấn đề

    + Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học

    + Năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn hóa học

    + Thực hành hóa học

    II. TRNG TÂM: Tính cht hoá hc cơ bn ca clo là phi kim mnh, có tính oxi hoá mnh

    III.PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY: Thuyết trình- phát vấn

    IV. CHUẨN BỊ GIÁO CỤ:

    *Giáo viên: Giáo án, thí nghiệm mô phỏng

    *Học sinh: Học bài cũ, chuẩn bị bài mới trước khi đến lớp.

    V. TIẾN TRÌNH BÀI DẠY:

    1.Ổn định lớp: Kiểm tra sĩ số, đồng phục…

    2.Kiểm tra bài cũ: (8phút)

    – Đặc điểm cấu hình e nguyên tử và cấu tạo phân tử của halogen?

    – Tính chất hoá học đặc trưng của halogen?

    – Tại sao flo chỉ có mức oxi hoá -1; 0 còn clo, brôm, iôt có mức oxi hoá -1; +1; +3; +5; +7?

    3.Bài mới:

    1. Đặt vấn đề: Dẫn dắt từ bài cũ

    2. Triển khai bài

    HOẠT ĐỘNG THẦY VÀ TRÒ

    NỘI DUNG KIẾN THỨC

    Hoạt động 1: Tính chất vật lí

    Mục tiêu: Biết tính chất vật lí của clo

    – Gv trình chiếu hình ảnh lọ chứa khí clo

    – Hs quan sát, nhận xét:

    + Trạng thái

    + Màu sắt

    + Mùi

    – Gv thông tin thêm

    I. TÍNH CHẤT VẬT LÍ

    – Ở điều kiện thường, Clo là chất khí, màu vàng lục, mùi xốc.

    – Tỉ khối Nặng hơn KK 2,5 lần.

    – Tan vừa phải trong nước (ở 20oC, 1 lít nước hoà tan 2,5 lít Clo) tạo thành nước Clo có màu xanh nhạt. Clo tan nhiều trong dung môi hữu cơ.

    – Khí Clo rất độc.

    Hoạt động 2: Tính chất hoá học

    Mục tiêu: Hiểu: Tính chất hoá học đặc trưng của clo là tính oxi hoá mạnh, phi kim mạnh; đồng thời còn thể hiện tính khử

    – Gv: Đặc điểm cấu hình e của clo?

    – Có 7e lớp ngoài cùng Có xu hướng nhận 1e, thể hiện tính oxi hoá mạnh

    – Gv yêu cầu học sinh viết quá trình nhận e của nguyên tử clo

    – Clo là chất oxi hoáTác dụng với chất khử nào?

    – Gv trình diễn thí nghiệm kim loại Na, Fe, Cu tác dụng với khí clo

    – Hs quan sát, nhận xét, viết PTHH

    – Gv trình diễn thí nghiệm H2 tác dụng với khí clo

    – Hs quan sát, nhận xét, viết PTHH

    – Gv thông tin

    – GV trình diễn thí nghiệm tính tẩy màu của nước Clo

    – Hs quan sát, nhận xét, viết PTHH

    – Gv giải thích, lưu ý thành phần nước clo

    – GV hướng dẫn Hs viết phản ứng với dd NaOH

    – GV trình diễn thí nghiệm

    – Hs quan sát, nhận xét, viết PTHH

    – Tại sao clo đẩy được Br, I ra khỏi dung dịch muối?

    kết luận

    II. TÍNH CHẤT HOÁ HỌC

    Clo là chất oxi hoá mạnh. Trong các phản ứng hoá học Clo dễ thu thêm 1e ion Cl

    Cl + 1e Cl

    1. Tác dụng với kim loại: Muối Clorua

    Clo oxi hoá hầu hết kim loại lên mức oxh cao nhất:S

    1. Tác dụng với hidrô:

    Nếu tỉ lệ số mol H2:Cl2 = 1:1 thì hỗn hợp nổ mạnh.

    1. Tác dụng với nước và dung dịch NaOH: Khi hoà tan vào nước, 1 phần Clo tác dụng chậm với nước.(vừa khử vừa oxi hoá)

    Axit clohidric Axit hipoclorơ

    HClO: axit yếu (yếu hơn H2CO3), kém bền, có tính oxi hoá mạnh, nó phá hủy màu nước Clo có tác dụng tẩy màu.

    Cl2 + NaOH NaCl + NaClO + H2O

    1. Tác dụng với hợp chất:

    – Clo đẩy được halogen yếu hơn ra khỏi dung dịch muối

    Cl2 + 2NaBr 2NaCl + Br2

    Cl2 + 2NaI 2NaCl + I2

    – Với hợp chất khác:

    Cl2 + 2FeCl2 2FeCl3

    Cl2 + 2H2O + SO2 2HCl + H2SO4

    Hoạt động 3:Điều chế

    Mục tiêu:Biết phương pháp điều chế clo trong phòng thí nghiệm và trong công nghiệp

    – Hoạt động nhóm: Viết các phương trình phản ứng , cân bằng phản ứng oxi hóa khử , xác định chất khử , chất oxi hóa khi cho HCl đặc tác dụng với KClO3, MnO2, KMnO4, K2Cr2O7

    – Đại diện các nhóm lên bảng viết

    – Trong phòng thí nghiệm, clo được điều chế bằng cách cho axit clohiđric đặc tác dụng với chất oxi hoá mạnh(chất nào?)

    – Gvthông tin về phương pháp diều chế clo trong công nghiệp, học sinh viết PTHH

    GV giới thiệu sản phẩm điện phân , không đi sâu vào kĩ thuật điện phân.

    III. ĐIỀU CHẾ

    1. Trong phòng thí nghiệm:

    Cho axit HCl + Chất oxi hoá mạnh

    KClO3 + 6HCl = KCl + 3Cl2 + 3H2O

    1. Trong công nghiệp

    1. Điện phân Natri Clorua (nóng chảy)

    1. Điện phân dung dịch NaCl có màng ngăn

    Hoạt động 4:Trạng thái tự nhiên và ứng dụng

    Mục tiêu: Biết được trạng thái tự nhiên và ứng dụng của clo

    Gv và học sinh phát vấn rút ra các điểm cần nắm

    IV. TRẠNG THÁI TỰ NHIÊN – ỨNG DỤNG

    1) Trạng thái tự nhiên:

    Trong tự nhiên, Clo tồn tại dạng hợp chất, chủ yếu là muối Clorua (NaCl). Muối NaCl có trong nước biển và muối mỏ, có trong khoáng vật như Cacnalit KCl.MgCl2.6H2O và xinvinit NaCl.KCl

    2) Ứng dụng:

    Sát trùng trong hệ thống cung cấp nước sạch.

    Tẩy độc khi xử lý nước thải.

    Tẩy trắng vải, sợi, giấy.

    Sản xuất axit Clohidric, Clorua vôi, . . .

    VI. CỦNG CỐ DẶN DÒ

    1. Củng cố: GV khắc sâu kiền thức trọng tâm của bài là tính oxi hóa mạnh của Clo (hỏi đáp)

    2. Dặn dò:

    – HS làm bài 1… 7 trang 101 SGK.

    – Chuẩn bị bài “Hiđro clorua- Axit clohiđric- Muối clorua”

    VII. RÚT KINH NGHIỆM

    …………………………………………………………………………………………………………………………………..

    …………………………………………………………………………………………………………………………………..

    …………………………………………………………………………………………………………………………………..

    Ngày

    Tổ trưởng kí duyệt

    Nguyễn Thị Hương

     

    o2 education mời các thầy cô download file đầy đủ tại đây

    Giao an Hoa 12 co ban HKI

     

    Xem thêm

    Tổng hợp các chuyên đề hóa học lớp 10

    Tổng hợp các chuyên đề hóa học lớp 11

    Tổng hợp các chuyên đề hóa học lớp 12

    Giáo án môn hoá học lớp 10 học kì 1

    Giáo án môn hoá học lớp 10 học kì 2

    Giáo án môn hoá học lớp 11 học kì 1

    Giáo án môn hoá học lớp 11 học kì 2

    Giáo án môn hoá học lớp 12 học kì 1

    Giáo án môn hoá học lớp 12 học kì 2

  • Lý thuyết và bài tập dấu tam thức bậc hai

    Lý thuyết và bài tập dấu tam thức bậc hai

    Lý thuyết và bài tập dấu tam thức bậc hai

    Sử dụng kiến thức về dấu tam thức bậc hai, chúng ta có thể giải quyết được 2 dạng toán quan trọng sau:

    1. Tam thức bậc hai là gì?

    Tam thức bậc hai đối với biến $x$ là biểu thức có dạng $$f(x) = ax^2+ bx + c,$$ trong đó $a, b, c$ là những hệ số, $a \ne  0$.

    2. Định lí về dấu của tam thức bậc hai

    2.1. Định lí dấu tam thức bậc hai

    Cho tam thức bậc hai $ f(x)=ax^2+bx+c $ với $ a\ne 0 $ có $ \Delta=b^2-4ac $. Khi đó, có ba trường hợp xảy ra:

    • $ \Delta <0 $: $ f(x) $ cùng dấu với hệ số $ a $ với mọi $ x\in \mathbb{R}, $
    • $ \Delta =0 $: $ f(x) $ cùng dấu với hệ số $ a $ với mọi $ x\ne -\frac{b}{2a}, $
    • $ \Delta >0 $: $ f(x) $ có hai nghiệm phân biệt $ x_1,x_2 $ (giả sử $ x_1<x_2 $), và dấu của $ f(x) $ xác định bởi quy tắc trong trái — ngoài cùng, nghĩa là ở giữa hai số $0$ thì thì $ f(x) $ và hệ số $ a $ trái dấu, còn bên ngoài hai số $0$ thì cùng dấu.

    bảng xét dấu tam thức bậc hai

    2.2. Minh họa hình học của định lý dấu tam thức bậc hai

    Định lí về dấu của tam thức bậc hai có minh họa hình học sau

    định lí về dấu tam thức bậc hai

    2.3. Ứng dụng định lí dấu của tam thức bậc hai

    Nhận xét rằng trong cả hai trường hợp $ a>0 $ và $ a<0 $ thì

    • $ f(x) $ luôn có đủ hai loại dấu cả âm và dương nếu $ \Delta >0, $
    • $ f(x) $ chỉ có một loại dấu hoặc âm hoặc dương nếu $ \Delta \leqslant 0. $

    Do đó, chúng ta có các bài toán sau đây, với $ f(x)=ax^2+bx+c $ trong đó $ a\ne 0 $:

    • $ f(x) >0\, \forall x\in \mathbb{R} \Leftrightarrow \begin{cases} \Delta <0\\ a>0 \end{cases}$
    • $ f(x) <0\, \forall x\in \mathbb{R} \Leftrightarrow \begin{cases} \Delta <0\\ a<0 \end{cases}$
    • $ f(x) \geqslant 0\, \forall x\in \mathbb{R} \Leftrightarrow \begin{cases} \Delta \leqslant 0\\ a>0 \end{cases}$
    • $ f(x) \leqslant 0\, \forall x\in \mathbb{R} \Leftrightarrow \begin{cases} \Delta \leqslant 0\\ a<0 \end{cases}$

    Chi tiết về vấn đề này, xin mời các em học sinh xem trong bài giảng Tìm điều kiện để tam thức bậc hai luôn dương, luôn âm

    2.4. Định lí đảo dấu tam thức bậc hai

    Cho tam thức bậc hai $ f(x)=ax^2+bx+c $, với $ a\ne 0 $, có hai nghiệm phân biệt $ x_1<x_2 $ và một số $ \epsilon $. Khi đó, ta có các kết quả sau

    • $ x_1<\epsilon <x_2 \Leftrightarrow a\cdot f(\epsilon)<0$
    • $ \epsilon <x_1<x_2 \Leftrightarrow \begin{cases}
      \Delta >0\\
      a\cdot f(\epsilon)>0\\
      \epsilon <\frac{S}{2}
      \end{cases}$
    • $ x_1<x_2<\epsilon \Leftrightarrow \begin{cases}
      \Delta >0\\
      a\cdot f(\epsilon)>0\\
      \frac{S}{2}<\epsilon
      \end{cases}$

    Ứng dụng của định lí đảo là dùng để so sánh một số với hai nghiệm của phương trình bậc hai. Chi tiết vấn đề này, mời các em tham khảo bài So sánh 1 số với 2 nghiệm của phương trình bậc hai

    3. Bài tập về dấu tam thức bậc hai

    Bài 1.  Xét dấu các tam thức sau

    1. $ f(x)=x^2-5x+6$
    2. $ g(x)=-x^2+4x+5$
    3. $ h(x)=6x^2+x+4$

    Hướng dẫn.

    1. Tam thức bậc hai $f(x)$ có hệ số $ a=6$ và có hai nghiệm $ x_1=2,x_2=3 $ nên có bảng xét dấu như sau:bảng xét dấu của tam thức bậc hai f(x)
    2. Tam thức bậc hai $ g(x)=-x^2+4x+5$ có hệ số $ a=-1$ và có hai nghiệm $ x_1=-1,x_2=5 $ nên có bảng xét dấu như sau: bảng xét dấu của g(x)
    3. Tam thức bậc hai $ h(x)=6x^2+x+4$ có hệ số $ a=6$ và có $ \Delta <0$ nên có bảng xét dấu như sau: bảng xét dấu của hx

    Bài 2. Giải các bất phương trình sau

    1. $x^2-2x+3>0$
    2. $x^2+9>6x$
    3. $6x^2-x-2 \geqslant 0$
    4. $\frac{1}{3}x^2+3x+6<0$
    5. $\dfrac{x^2+1}{x^2+3x-10}<0$
    6. $\dfrac{10-x}{5+x^2}>\dfrac{1}{2}$
    7. $\dfrac{x+1}{x-1}+2>\dfrac{x-1}{x}$
    8. $\dfrac{1}{x+1}+\dfrac{2}{x+3}<\dfrac{3}{x+2}$

    Hướng dẫn. Để giải các bất phương trình hữu tỉ, chúng ta biến đổi (rút gọn, quy đồng giữ lại mẫu) để được một bất phương trình tích, thương các nhị thức bậc nhất và tam thức bậc hai. Sau đó lập bảng xét dấu và căn cứ vào đó để kết luận.

    1. $x^2-2x+3>0.$
      Bất phương trình này chỉ gồm một tam thức bậc hai nên chúng ta lập bảng xét dấu luôn, được kết quả như sau:bảng xét dấu bất phương trình bậc hai
      Từ bảng xét dấu, chúng ta có tập nghiệm của bất phương trình là $\mathbb{R}$.
    2. $x^2+9>6x$. Biến đổi bất phương trình đã cho thành $$x^2+9-6x>0$$ Bảng xét dấu của vế trái như sau: bat phuong trinh bac hai 2
      Suy ra, tập nghiệm của bất phương trình đã cho là $\mathbb{R}\setminus \{0\}$.
    3. $6x^2-x-2 \geqslant 0$. Lập bảng xét dấu cho vế trái, ta được: bat phuong trinh đa thuc
      Suy ra, tập nghiệm của bất phương trình đã cho là $ S=\left(-\infty;-\frac{1}{2}\right]\cup \left[\frac{2}{3};+\infty\right)$.
    4. $\frac{1}{3}x^2+3x+6<0$. Bảng xét dấu của vế trái: bất phương trình hữu tỉ
      Kết luận, tập nghiệm của bất phương trình là $S=(-6;-3)$.
    5. $\dfrac{x^2+1}{x^2+3x-10}<0$. Lập bảng xét dấu cho vế trái, chúng ta có bảng sau: bất phương trình phân thức hữu tỉKết luận, tập nghiệm của bất phương trình là $S=(-5;2)$.
    6. $\dfrac{10-x}{5+x^2}>\dfrac{1}{2}$. Chuyển vế, quy đồng giữ lại mẫu của bất phương trình đã cho, ta được bất phương trình tương đương $$\frac{-x^{2}-2x+15}{2\left( x^{2}+5\right) }>0$$ Lập bảng xét dấu cho vế trái bất phương trình này, ta được bảng sau:bất phương trình thươngKết luận, tập nghiệm của bất phương trình là $S=(-5;3)$.
    7. $\dfrac{x+1}{x-1}+2>\dfrac{x-1}{x}$. Chuyển vế, quy đồng giữ mẫu của bất phương trình này, ta được bất phương trình tương đương: $$\frac{2x^{2}+x-1}{x^{2}-x}>0$$Lập bảng xét dấu cho vế trái, ta được: bất phương trình hữu tỉKết luận, tập nghiệm của bất phương trình đã cho là $S= \left( -\infty ,-1\right) \cup \left( 0,\frac{1}{2}\right) \cup \left( 1,+\infty \right) $.
    8. $\dfrac{1}{x+1}+\dfrac{2}{x+3}<\dfrac{3}{x+2}$. Chuyển vế, quy đồng ta được bất phương trình tương đương: $$\frac{-x+1}{\left( x+3\right) \left( x+2\right) \left( x+1\right) }<0$$ Lập bảng xét dấu cho vế trái, ta được:bất phương trình chứa ẩn ở mẫu sử dụng tam thức bậc hai
      Căn cứ vào bảng xét dấu, chúng ta có tập nghiệm của bất phương trình đã cho là $S=\left( -\infty ,-3\right) \cup \left( -2,-1\right) \cup \left( 1,+\infty \right) $.

    Bài 3. Tìm các giá trị của tham số $m$ để các phương trình sau có 2 nghiệm dương phân biệt

    1. $(m^2+m+1)x^2+(2m-3)x+m-5=0$
    2. $x^2-6mx+2-2m+9m^2=0$

    Bài 4. Tìm $m$ để các bất phương trình sau vô nghiệm.

    1. $5x^2-x+m\leqslant 0$
    2. $mx^2-10x-5\geqslant 0$
    3. $(m-1)x^{2}-(2m+1)x>m-3$
    4. $x^{2}-2mx+m+12<0$
    5. $-2x^{2}-mx+m^{2}-1>0$
    6. $x^{2}+3mx-9<0$
    7. $2mx^{2}+x-3\geqslant 0$
    8. $x^{2}+3x-9m\leqslant 0$

    Bài 5. Tìm $m$ để các bất phương trình sau có nghiệm duy nhất.

    1. $x^{2}-2mx+m+12\leqslant 0$
    2. $-2x^{2}-mx+m^{2}-1\geqslant 0$
    3. $x^{2}+3mx-9\leqslant 0$
    4. $x^{2}+3x-9m\leqslant 0$
    5. $(m-1)x^{2}-(2m+1)x\geqslant -m-3$
    6. $2mx^{2}+x-3\geqslant 0$

    Bài 6. Tìm $m$ để các bất phương trình sau có tập nghiệm là $\mathbb{R}$.

    1. $5x^2-x+m>0$
    2. $mx^2-10x-5<0$
    3. $\dfrac{x^2-mx-2}{x^2-3x+4}>-1$
    4. $m(m+2)x^2+2mx+2>0$
    5. $x^{2}-2mx+m+12>0$
    6. $-2x^{2}-mx+m^{2}-1<0$
    7. $x^{2}+3mx-9\geqslant 0$
    8. $2mx^{2}+x-3\geqslant 0$
    9. $x^{2}+3x-9m>0$
    10. $(m-1)x^{2}>(2m+1)x-m-3$

    Bài 7. Tìm $m$ để hàm số sau xác định với mọi $x\in\mathbb{R}$.

    1. $y=\sqrt{x^{2}+3x-m^{2}+2}$
    2. $y=\sqrt{m(m+2)x^{2}+2mx+2}$
    3. $y=\dfrac{1}{\sqrt{mx^{2}+6mx-7}}$

    Bài 8. Giải các bất phương trình sau:

    1. $\dfrac{x^{2}-9x+14}{2-3x}\geqslant 0$
    2. $\dfrac{(2x-5)(x+2)}{-4x+3}>0$
    3. $\dfrac{x-3}{x+1}>\dfrac{x+5}{2-x}$
    4. $\dfrac{x-3}{x+5}<\dfrac{1-2x}{x-3}$
    5. $\dfrac{2x-1}{2x+1}\leqslant 1$
    6. $\dfrac{3x-4}{x-2}>1$
    7. $\dfrac{2x-5}{2-x}\geqslant -1$
    8. $\dfrac{2}{x-1}\leqslant \dfrac{5}{2x-1}$
    9. $\dfrac{1}{x}+\dfrac{1}{x+1}<\dfrac{2}{x^{2}+x}$
    10. $\dfrac{x^{2}}{x^{2}+1}+\dfrac{2}{x}<1$
    11. $\dfrac{11x^{2}-5x+6}{x^{2}+5x+6}<x$
    12. $\dfrac{1}{x+1}-\dfrac{2}{x^{2}-x+1}\leqslant \dfrac{1-2x}{x^{3}+1}$
    13. $\dfrac{2-x}{x^{3}+x}>\dfrac{1-2x}{x^{3}-3x}$
    14. $1<\dfrac{1+x}{1-x}\le2$
    15. $-1\leqslant \dfrac{x^{2}-5x+4}{x^{2}-4}\leqslant 1$

    Xem thêm: Phương trình chứa trị tuyệt đối

    Bài 9. Giải các phương trình sau.

    1. $|2x+1|-3=x$
    2. $|1-3x|+x-7=0$
    3. $|2x-13|+3x-1=0$
    4. $|x^{2}-x+2|=2-x$
    5. $|1-x-2x^{2}|+3x=5$
    6. $|2x^{2}-4x+1|+x-2=1$
    7. $|2x-1|+|1-x|+x=4$
    8. $|2x-1|+|2x+1|=4$
    9. $|x^{2}-3x+2|-2x=1$
    10. $|x^{2}+x-12|=x^{2}-x-2$
    11. $|x^{2}-2x|=2x^{2}-1$
    12. $|2x^{2}+3x-2|=|x^{2}-x-3|$

    Bài 10. Giải các phương trình, bất phương trình sau:

    1. $(x^{2}+4x+10)^{2}-7(x^{2}+4x+11)+7<0$
    2. $x^{4}+4x^{2}+2|x^{2}-2x|=4x^{3}+3$
    3. $2|x+1|-|x^{2}-2x-8|=-5-x+x^{2}$
    4. $|x+3|<x-6$
    5. $|2x-1|+5x-7\geqslant 0$
    6. $|x^{2}-3x+2|-3x-7\geqslant 0$
    7. $|2x-4|+|3x-6|\geqslant 2$
    8. $|x-1|\leqslant 2|-x-4|+x-2$
    9. $|x+2|+|1-2x|\leqslant x+1$
  • 17 KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC DÀNH CHO GIÁO VIÊN

    17 KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC DÀNH CHO GIÁO VIÊN

    17 KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC DÀNH CHO GIÁO VIÊN

    Có rất nhiều kĩ thuật dạy học tích cực mà những nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ra nhằm dạy học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức tốt mà còn phát triển năng lực. Điều quan trọng là giáo viên linh hoạt tuỳ theo bài học để chọn kĩ thuật phù hợp.

    Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các kĩ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học.

    Xem thêm: Mẫu giáo án phát triển năng lực (kế hoạch dạy học PTNL)

    1. Kĩ thuật dạy học tích cực “Các mảnh ghép”

    1.1. Thế nào là kĩ thuật “Các mảnh ghép”?

    Là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm:

    • Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp (có nhiều chủ đề)
    • Kích thích sự tham gia tích cực của HS:
    • Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả vòng 1 và hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 2).

    1.2. Cách tiến hành kĩ thuật “Các mảnh ghép”

    Vòng 1: Nhóm chuyên gia:

    • Hoạt động theo nhóm 3 đến 8 người [số nhóm được chia = số chủ đềx n (n = 1,2,…)]
    • Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ [Ví dụ: nhóm 1: nhiệm vụ A; nhóm 2: nhiệm vụ B, nhóm 3: nhiệm vụ C, … (có thể có nhóm cùng nhiệm vụ)]
    • Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy nghĩ về câu hỏi, chủ đề và ghi lại những ý kiến của mình
    • Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trở thành “chuyên gia” của lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại câu trả lời của nhóm ở vòng 2.

    Vòng 2: Nhóm các mảnh ghép

    • Hình thành nhóm 3 đến 6 người mới (1 – 2 người từ nhóm 1, 1 – 2 người từ nhóm 2, 1 – 2 người từ nhóm 3…)
    • Các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau
    • Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu được tất cả nội dung ở vòng 1 thì nhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm để giải quyết
    • Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ, trình bày và chia sẻ kết quả

    Một vài ý kiến cá nhân với kĩ thuật “Các mảnh ghép”:

    • Kĩ thuật này áp dụng cho hoạt động nhóm với nhiều chủ đề nhỏ trong tiết học, học sinh được chia nhóm ở vòng 1 (chuyên gia) cùng nghiên cứu một chủ đề.
    • Phiếu học tập mỗi chủ đề nên sử dụng trên giấy cùng màu có đánh số 1,2,…,n (nếu không có giấy màu có thể đánh thêm kí tự A, B, C,… Ví dụ A1, A2,… An, B1, B2,…, Bn, C1, C2,…, Cn).
    • Sau khi các nhóm ở vòng 1 hoàn tất công việc giáo viên hình thành nhóm mới (mảnh ghép) theo số đã đánh, có thể có nhiều số trong 1 nhóm mới. Bước này phải tiến hành một cách cẩn thận tránh làm cho học sinh ghép nhầm nhóm.
    • Trong điều kiện phòng học hiện nay việc ghép nhóm vòng 2 sẽ gây mất trật tự.

    Ví dụ kĩ thuật dạy học mảnh ghép: Bài học tiếng Việt

    – Vòng 1:

    • Chủ đề A: Thế nào là câu đơn? Nêu ví dụ minh họa và phân tích. (màu đỏ)
    • Chủ đề B: Thế nào là câu ghép? Nêu ví dụ minh họa và phân tích. (màu xanh)
    • Chủ đề C: Thế nào là câu phức? Nêu ví dụ minh họa và phân tích. (màu vàng)

    Lớp có 45 học sinh, có 12 bàn học. Giáo viên có thể chia thành 6 nhóm: mỗi nhóm gồm học sinh 2 bàn ghép lại (mỗi nhóm có 7 hoặc 8 học sinh). Giao nhiệm vụ: nhóm 1,2 nhận chủ đề A, nhóm 3,4 nhận chủ đề B, nhóm 5,6 nhận chủ đề C. Phát phiếu học tập cho học sinh. Trên phiếu học tập theo màu có đánh số từ 1 đến 15. Thông báo cho học sinh thời gian làm việc cá nhân và theo nhóm

    – Vòng 2:

    • Giáo viên thông báo chia thành 12 nhóm mới: mỗi nhóm 1 bàn (mỗi nhóm có từ 3 đến 6 học sinh): nhóm 1 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 1,2; nhóm 2 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 3,4; nhóm 3 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 5; nhóm 4 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 6; … nhóm 12 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 14,15.
    • Giáo viên thông báo thời gian làm việc nhóm mới Các chuyên gia sẽ trình bày ý kiến của của nhóm mình ở vòng 1.
    • Giao nhiệm vụ mới: Câu đơn, câu phức và câu ghép khác nhau ở điểm nào? Phân tích ví dụ minh hoạ.

    2. Kĩ thuật “Khăn trải bàn”

    2.1. Thế nào là kĩ thuật “Khăn trải bàn”?

    Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm:

    • Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực
    • Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS
    • Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS

    2.2. Cách tiến hành kĩ thuật “Khăn trải bàn”

    • Hoạt động theo nhóm (4 người / nhóm) (có thể nhiều người hơn)
    • Mỗi người ngồi vào vị trí như hình vẽ minh họa
    • Tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề,…)
    • Viết vào ô mang số của bạn câu trả lời hoặc ý kiến của bạn (về chủ đề…). Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút
    • Kết thúc thời gian làm việc cá nhân, các thành viên chia sẻ, thảo luận và thống nhất các câu trả lời
    • Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn (giấy A0)

    2.3. Một vài ý kiến cá nhân với kĩ thuật “Khăn trải bàn”

    • Kĩ thuật này giúp cho hoạt động nhóm có hiệu quả hơn, mỗi học sinh đều phải đưa ra ý kiến của mình về chủ đề đang thảo luận, không ỷ lại vào các bạn học khá, giỏi.
    • Kĩ thuật này áp dụng cho hoạt động nhóm với một chủ đề nhỏ trong tiết học, toàn thể học sinh cùng nghiên cứu một chủ đề.
    • Sau khi các nhóm hoàn tất công việc giáo viên có thể gắn các mẫu giấy “khăn trải bàn” lên bảng để cả lớp cùng nhận xét. Có thể dùng giấy nhỏ hơn, dùng máy chiếu phóng lớn
    • Có thể thay số bằng tên của học sinh để sau đó giáo viên có thể đánh giá được khả năng nhận thức của từng học sinh về chủ đề được nêu.

    3. Kĩ thuật “Động não”

    3.1. Thế nào là kĩ thuật “Động não”?

    Động não (công não) là một kỹ thuật nhằm huy động những tư tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề của các thành viên trong thảo luận. Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng (nhằm tạo ra “cơn lốc” các ý tưởng). Kỹ thuật động não do Alex Osborn (Mỹ) phát triển, dựa trên một kỹ thuật truyền thống từ Ấn độ.

    Quy tắc của động não

    • Không đánh giá và phê phán trong quá trình thu thập ý tưởng của các thành viên;
    • Liên hệ với những ý tưởng đã được trình bày;
    • Khuyến khích số lượng các ý tưởng;
    • Cho phép sự tưởng tượng và liên tưởng.

    3.2. Các bước tiến hành

    1. Người điều phối dẫn nhập vào chủ đề và xác định rõ một vấn đề;
    2. Các thành viên đưa ra những ý kiến của mình: trong khi thu thập ý kiến, không đánh giá, nhận xét. Mục đích là huy động nhiều ý kiến tiếp nối nhau;
    3. Kết thúc việc đưa ra ý kiến;
    4. Đánh giá: Lựa chọn sơ bộ các suy nghĩ, chẳng hạn theo khả năng ứng dụng
      • Có thể ứng dụng trực tiếp;
      • Có thể ứng dụng nhưng cần nghiên cứu thêm;
      • Không có khả năng ứng dụng.
      • Đánh giá những ý kiến đó lựa chọn
      • Rút ra kết luận hành động.

    3.3. Ứng dụng khi nào?

    • Dùng trong giai đoạn nhập đề vào một chủ đề;
    • Tìm các phương án giải quyết vấn đề;
    • Thu thập các khả năng lựa chọn và ý nghĩ khác nhau.

    3.4. Ưu điểm và nhược điểm của kĩ thuật dạy học động não

    Ưu điểm:

    • Dễ thực hiện;
    • Không tốn kém;
    • Sử dụng được hiệu ứng cộng hưởng, huy động tối đa trí tuệ của tập thể;
    • Huy động được nhiều ý kiến;
    • Tạo cơ hội cho tất cả thành viên tham gia.

    Nhược điểm

    • Có thể đi lạc đề, tản mạn;
    • Có thể mất thời gian nhiều trong việc chọn các ý kiến thích hợp;
    • Có thể có một số HS “quá tích cực”, số khác thụ động. Kỹ thuật động não được áp dụng phổ biến và nguời ta xây dựng nhiều kỹ thuật khác dựa trên kỹ thuật này, có thể coi là các dạng khác nhau của kỹ thuật động não.

    3.5. Lưu ý khi thực hiện kĩ thuật dạy học “động não”

    • Kĩ thuật trên có thể biến đổi để trở thành kĩ thuật “Động não viết”: những ý tưởng không được trình bày miệng mà được từng thành viên tham gia trình bày ý kiến bằng cách viết trên giấy về một chủ đề.Trong động não viết, các đối tác sẽ giao tiếp với nhau bằng chữ viết. Các em đặt trước mình một vài tờ giấy chung, trên đó ghi chủ đề ở dạng dòng tiêu đề hoặc ở giữa tờ giấy. Các em thay nhau ghi ra giấy những gì mình nghĩ về chủ đề đó, trong im lặng tuyệt đối. Trong khi đó, các em xem các dòng ghi của nhau và cùng lập ra một bài viết chung. Bằng cách đó có thể hình thành những câu chuyện trọn vẹn hoặc chỉ là bản thu thập các từ khóa.
    • Các HS luyện tập có thể thực hiện các cuộc nói chuyện bằng giấy bút cả khi làm bài trong nhóm. Sản phẩm có thể có dạng một bản đồ trí tuệ.
    • Ưu điểm của phương pháp này là có thể huy động sự tham gia của tất cả HS trong nhóm; tạo sự yên tĩnh trong lớp học; động não viết tạo ra mức độ tập trung cao. Vì những HS tham gia sẽ trình bày những suy nghĩ của mình bằng chữ viết nên có sự chú ý cao hơn so với các cuộc nói chuyện bình thường bằng miệng; các HS đối tác cùng hoạt động với nhau mà không sử dụng lời nói. Bằng cách đó, thảo luận viết tạo ra một dạng tương tác xã hội đặc biệt; những ý kiến đóng góp trong cuộc nói chuyện bằng giấy bút thường được suy nghĩ đặc biệt kỹ.
    • Tuy nhiên, nhược điểm là có thể HS sa vào những ý kiến tản mạn, xa đề; do được tham khảo ý kiến của nhau, có thể một số HS ít có sự độc lập.

    4. Kĩ thuật “Ổ bi”

    Thế nào là kĩ thuật “Ổ bi”?

    Kĩ thuật “Ổ bi” là một kỹ thuật dùng trong thảo luận nhóm, trong đó HS chia thành hai nhóm ngồi theo hai vòng tròn đồng tâm như hai vòng của một ổ bi và đối diện nhau để tạo điều kiện cho mỗi HS có thể nói chuyện với lần lượt các HS ở nhóm khác.

    Cách thực hiện

    • Khi thảo luận, mỗi HS ở vòng trong sẽ trao đổi với HS đối diện ở vòng ngoài, đây là dạng đặc biệt của phương pháp luyện tập đối tác;
    • Sau một ít phút thì HS vòng ngoài ngồi yên, HS vòng trong chuyển chỗ theo chiều kim đồng hồ, tương tự như vòng bi quay, để luôn hình thành các nhóm đối tác mới.

    5. Kĩ thuật “Bể cá”

    Thế nào là kĩ thuật “Bể cá”?

    Kĩ thuật “Bể cá” là một kĩ thuật dùng cho thảo luận nhóm, trong đó một nhóm HS ngồi giữa lớp và thảo luận với nhau, còn những HS khác trong lớp ngồi xung quanh ở vòng ngoài theo dõi cuộc thảo luận đó và sau khi kết thúc cuộc thảo luận thì đưa ra những nhận xét về cách ứng xử của những HS thảo luận.

    Trong nhóm thảo luận có thể có một vị trí không có người ngồi. HS tham gia nhóm quan sát có thể ngồi vào chỗ đó và đóng góp ý kiến vào cuộc thảo luận, ví dụ đưa ra một câu hỏi đối với nhóm thảo luận hoặc phát biểu ý kiến khi cuộc thảo luận bị chững lại trong nhóm. Cách luyện tập này được gọi là phương pháp thảo luận “bể cá”, vì những người ngồi vòng ngoài có thể quan sát những người thảo luận, tương tự như xem những con cá trong một bể cá cảnh. Trong quá trình thảo luận, những người quan sát và những người thảo luận sẽ thay đổi vai trò với nhau.

    Bảng câu hỏi dành cho những người quan sát:

    • Người nói có nhìn vào những người đang nói với mình không?
    • Họ có nói một cách dễ hiểu không?
    • Họ có để những người khác nói hay không?
    • Họ có đưa ra được những luận điểm đáng thuyết phục hay không?
    • Họ có đề cập đến luận điểm của người nói trước mình không?
    • Họ có lệch hướng khỏi đề tài hay không?
    • Họ có tôn trọng những quan điểm khác hay không?

    6. Kĩ thuật “Tia chớp”

    Thế nào là kĩ thuật “Tia chớp”?

    Kỹ thuật tia chớp là một kỹ thuật huy động sự tham gia của các thành viên đối với một câu hỏi nào đó, hoặc nhằm thu thông tin phản hồi nhằm cải thiện tình trạng giao tiếp và không khí học tập trong lớp học, thông qua việc các thành viên lần lượt nêu ngắn gọn và nhanh chóng (nhanh như chớp!) ý kiến của mình về câu hỏi hoặc tình trạng vấn đề.

    Quy tắc thực hiện

    • Có thể áp dụng bất cứ thời điểm nào khi các thành viên thấy cần thiết và đề nghị;
    • Lần lượt từng người nói suy nghĩ của mình về một câu hỏi đã thoả thuận, ví dụ: Hiện tại tôi có hứng thú với chủ đề thảo luận không?
    • Mỗi người chỉ nói ngắn gọn 1-2 câu ý kiến của mình;
    • Chỉ thảo luận khi tất cả đã nói xong ý kiến.

    7. Kĩ thuật “XYZ”

    Thế nào là kĩ thuật “XYZ”?

    Kĩ thuật “XYZ” là một kỹ thuật nhằm phát huy tính tích cực trong thảo luận nhóm. X là số người trong nhóm, Y là số ý kiến mỗi người cần đưa ra, Z là phút dành cho mỗi người.

    Ví dụ kỹ thuật 635 thực hiện như sau:

    • Mỗi nhóm 6 người, mỗi người viết 3 ý kiến trên một tờ giấy trong vòng 5 phút về cách giải quyết 1 vấn đề và tiếp tục chuyển cho người bên cạnh;
    • Tiếp tục như vậy cho đến khi tất cả mọi người đều viết ý kiến của mình, có thể lặp lại vòng khác;
    • Con số X-Y-Z có thể thay đổi;
    • Sau khi thu thập ý kiến thì tiến hành thảo luận, đánh giá các ý kiến.

    8. Kĩ thuật “Lược đồ tư duy” Thế nào là kĩ thuật “Lược đồ tư duy”?

    Lược đồ tư duy (còn được gọi là bản đồ khái niệm) là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề. Lược đồ tư duy có thể được viết trên giấy, trên bản trong, trên bảng hay thực hiện trên máy tính.

    Cách làm

    • Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề.
    • Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính. Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề, viết bằng CHỮ IN HOA. Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng một màu. Nhánh chính đó được nối với chủ đề trung tâm. Chỉ sử dụng các thuật ngữ quan trọng để viết trên các nhánh.
    • Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó. Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường.
    • Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo.

    Ứng dụng

    • Lược đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như:
    • Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề;
    • Trình bày tổng quan một chủ đề;
    • Chuẩn bị ý tưởng cho một báo cáo hay buổi nói chuyện, bài giảng;
    • Thu thập, sắp xếp các ý tưởng;
    • Ghi chép khi nghe bài giảng.

    Ưu điểm

    • Các hướng tư duy được để mở ngay từ đầu;
    • Các mối quan hệ của các nội dung trong chủ đề trở nên rõ ràng;
    • Nội dung luôn có thể bổ sung, phát triển, sắp xếp lại;
    • Học sinh được luyện tập phát triển, sắp xếp các ý tưởng.

    9. Kĩ thuật “Chia sẻ nhóm đôi”

    Thế nào là kĩ thuật “Chia sẻ nhóm đôi”?

    Chia sẻ nhóm đôi (Think, Pair, Share) là một kỹ thuật do giáo sư Frank Lyman đại học Maryland giới thiệu năm 1981. Kỹ thuật này giới thiệu hoạt động làm việc nhóm đôi, phát triển năng lực tư duy của từng cá nhân trong giải quyết vấn đề.

    Dụng cụ: Hoạt động này phát triển kỹ năng nghe và nói nên không cần thiết sử dụng các dụng cụ hỗ trợ.

    Cách thực hiện: 

    • Giáo viên giới thiệu vấn đề, đặt câu hỏi mở, dành thời gian để học sinh suy nghĩ.
    • Sau đó học sinh thành lập nhóm đôi và chia sẻ ý tưởng, thảo luận, phân loại.
    • Nhóm đôi này lại chia sẻ tiếp với nhóm đôi khác hoặc với cả lớp.

    Lưu ý

    • Điều quan trọng là người học chia sẻ được cả ý tưởng mà mình đã nhận được, thay vì chỉ chia sẻ ý kiến cá nhân.
    • Giáo viên cần làm mẫu hoặc giải thích.

    Ưu điểm: Thời gian suy nghĩ cho phép học sinh phát triển câu trả lời, có thời gian suy nghĩ tốt, học sinh sẽ phát triển được những câu trả lời tốt, biết lắng nghe, tóm tắt ý của bạn cùng nhóm.

    Hạn chế: Học sinh dễ dàng trao đổi những nội dung không liên quan đến bài học do giáo viên không thể bao quát hết hoạt động của cả lớp.

    10. Kĩ thuật Kipling

    Rudyard Kipling (1865 – 1936) là nhà thơ, nhà văn Anh nổi tiếng, tác giả quyển sách “Cậu bé rừng xanh” và rất nhiều bài thơ hay. Ông từng viết 4 câu thơ:

    “I have six honest serving men
    They taught me all I knew
    I call them What and Where and When

    And How and Why and Who”
    Rudyard Kipling (1865 – 1936)

    Kĩ thuật này thường được dùng cho các trường hợp khi cần có thêm ý tưởng mới, hoặc xem xét nhiều khía cạnh của vấn đề, chọn lựa ý tưởng để phát triển.

    Dụng cụ: Giấy bút cho người tham gia.

    Thực hiện: Các câu hỏi được đưa ra theo thứ tự ngẫu nhiên hoặc theo một trật tự định ngầm trước, với các từ khóa: Cái gì, Ở đâu, Khi nào, Thế nào, Tại sao, Ai.

    Ví dụ:

    • Vấn đề là gì?
    • Vấn đề xảy ra ở đâu?
    • Vấn đề xảy ra khi nào?
    • Tại sao vấn đề lại xảy ra?
    • Làm thế nào để giải quyết vấn đề?
    • Ai sẽ tham gia giải quyết vấn đề?
    • Khi nào thì vấn đề giải quyết xong?

    Lưu ý

    • Các câu hỏi cần ngắn gọn, đi thẳng vào chủ đề.
    • Các câu hỏi cần bám sát vào hệ thống từ khóa 5W1H (What, where, when, who, why, how).

    Ưu điểm

    • Nhanh chóng, không mất thời gian, mang tính logic cao.
    • Có thể áp dụng cho nhiều tình huống khác nhau.
    • Có thể áp dụng cho cá nhân.

    Hạn chế

    • Ít có sự phối hợp của các thành viên.
    • Dễ dẫn đến tình trạng “9 người 10 ý”.
    • Dễ tạo cảm giác “Bị điều tra”.

    11. Kĩ thuật KWL

    Thế nào là kĩ thuật KWL?

    KWL do Donna Ogle giới thiệu năm 1986, vốn là một hình thức tổ chức dạy học hoạt động đọc hiểu. Học sinh bắt đầu bằng việc động não tất cả những gì các em đã biết về chủ đề bài đọc. Thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột K của biểu đồ. Sau đó học sinh nêu lên danh sách các câu hỏi về những điều các em muốn biết thêm trong chủ đề này. Những câu hỏi đó sẽ được ghi nhận vào cột W của biểu đồ. Trong quá trình đọc hoặc sau khi đọc xong, các em sẽ tự trả lời cho các câu hỏi ở cột W. Những thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột L. (Trích từ Ogle, D.M. (1986). KW-L: A teaching model that develops active reading of expository text. Reading Teacher, 39, 564-570). Donna Ogle.

    Mục đích sử dụng biểu đồ KWL

    Biểu đồ KWL phục vụ cho các mục đích sau:

    Tìm hiểu kiến thức có sẵn của học sinh về bài đọc
    Đặt ra mục tiêu cho hoạt động đọc
    Giúp học sinh tự giám sát quá trình đọc hiểu của các em
    Cho phép học sinh đánh giá quá trình đọc hiểu của các em.
    Tạo cơ hội cho học sinh diễn tả ý tưởng của các em vượt ra ngoài khuôn khổ bài đọc.

    Sử dụng biểu đồ KWL như thế nào?

    • Chọn bài đọc. Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả với các bài đọc mang ý nghĩa gợi mở, tìm hiểu, giải thích
    • Tạo bảng KWL. Giáo viên vẽ một bảng lên bảng, ngoài ra, mỗi học sinh cũng có một mẫu bảng của các em. Có thể sử dụng mẫu sau.
    • Dạng bảng KWL: Đề nghị học sinh động não nhanh và nêu ra các từ, cụm từ có liên quan đến chủ đề. Cả giáo viên và học sinh cùng ghi nhận hoạt động này vào cột K. Hoạt động này kết thúc khi học sinh đã nêu ra tất cả các ý tưởng. Tổ chức cho học sinh thảo luận về những gì các em đã ghi nhận.
    • Một số lưu ý tại cột K:
      • Chuẩn bị những câu hỏi để giúp học sinh động não. Đôi khi để khởi động, học sinh cần nhiều hơn là chỉ đơn giản nói với các em: “Hãy nói những gì các em đã biết về…”
      • Khuyến khích học sinh giải thích. Điều này rất quan trọng vì đôi khi những điều các em nêu ra có thể là mơ hồ hoặc không bình thường.
      • Hỏi học sinh xem các em muốn biết thêm điều gì về chủ đề. Cả giáo viên và học sinh ghi nhận câu hỏi vào cột W. Hoạt động này kết thúc khi học sinh đã nêu ra tất cả các ý tưởng. Nếu học sinh trả lời bằng một câu phát biểu bình thường, hãy biến nó thành câu hỏi trước khi ghi nhận vào cột W.
    • Một số lưu ý tại cột W: Hỏi những câu hỏi tiếp nối và gợi mở. Nếu chỉ hỏi các em: “Các em muốn biết thêm điều gì về chủ đề này?” Đôi khi học sinh trả lời đơn giản “không biết”, vì các em chưa có ý tưởng. Hãy thử sử dụng một số câu hỏi sau: “Em nghĩ mình sẽ biết thêm được điều gì sau khi em đọc chủ đề này?” Chọn một ý tưởng từ cột K và hỏi: “Em có muốn tìm hiểu thêm điều gì có liên quan đến ý tưởng này không?”
    • Chuẩn bị sẵn một số câu hỏi của riêng bạn để bổ sung vào cột W. Có thể bạn mong muốn học sinh tập trung vào những ý tưởng nào đó, trong khi các câu hỏi của học sinh lại không mấy liên quan đến ý tưởng chủ đạo của bài đọc. Chú ý là không được thêm quá nhiều câu hỏi của bạn. Thành phần chính trong cột W vẫn là những câu hỏi của học sinh.
    • Yêu cầu học sinh đọc và tự điền câu trả lời mà các em tìm được vào cột L. Trong quá trình đọc, học sinh cũng đồng thời tìm ra câu trả lời của các em và ghi nhận vào cột W.
    • Học sinh có thể điền vào cột L trong khi đọc hoặc sau khi đã đọc xong.
    • Một số lưu ý tại cột L:
      • Ngoài việc bổ sung câu trả lời, khuyến khích học sinh ghi vào cột L những điều các em cảm thấy thích. Để phân biệt, có thể đề nghị các em đánh dấu những ý tưởng của các em. Ví dụ các em có thể đánh dấu tích vào những ý tưởng trả lời cho câu hỏi ở cột W, với các ý tưởng các em thích, có thể đánh dấu sao.
      • Đề nghị học sinh tìm kiếm từ các tài liệu khác để trả lời cho những câu hỏi ở cột W mà bài đọc không cung cấp câu trả lời. (Không phải tất cả các câu hỏi ở cột W đều được bài đọc trả lời hoàn chỉnh)
      • Thảo luận những thông tin được học sinh ghi nhận ở cột L. Khuyến khích học sinh nghiên cứu thêm về những câu hỏi mà các em đã nêu ở cột W nhưng chưa tìm được câu trả lời từ bài đọc.

    Phát triển kỹ thuật KWL thành KWLH

    Cột H được thêm vào biểu đồ KWL là để khuyến khích học sinh tiếp tục tìm tòi, nghiên cứu. Sau khi học sinh đã hoàn tất nội dung ở cột L, các em có thể muốn tìm hiểu thêm về một thông tin. Các em sẽ nêu biện pháp để tìm thông tin mở rộng. Những biện pháp này sẽ được ghi nhận ở cột H.

    Một ví dụ về dùng kỹ thuật KWLH:

    Chủ đề bài đọc: Trò chơi – Tên bài đọc: Chú Đất Nung (Tiếng Việt 4 tập Một). GV dùng kỹ thuật này để giao nhiệm vụ cho HS chuản bị bài trước khi học.

    K W L H
    • Những đồ chơi nặn bằng đất: con chó, con cá, cái
      nồi, búp bê
    • Trẻ em ở quê
      ngày xưa chơi đồ
      chơi nặn bằng đất
      có sơn màu xanh,
      đỏ, vàng
    • Đồ chơi làm bằng đất nặn khi gặp nước có bị hỏng không?
    • Làm thế nào để đồ chơi bằng đất chơi được lâu và không giây bẩn?
    • Bây giờ người ta còn làm đồ chơi bằng đất nung không? Ở đâu làm những thứ đó?
    • Đồ chơi làm bằng đất nặn mà gặp nước thì bị nhão ra và hỏng
    • Để đồ chơi bằng đất chơi được lâu, bền thì phải nung nó bằng lửa
    • Tham quan làng nghề gốm để biết đồ dùng, đồ chơi bằng đất nặn được nung thế nào.
    • Tìm hiểu trên mạng để biết được có những đồ chơi nào làm bằng đất nung? Bây giờ có những người nào dùng thứ đồ chơi
      đó?
    • Xin bố mẹ mua cho một vài đồ chơi bằng đất nung

    12. Kỹ thuật đặt câu hỏi

    Kỹ thuật này dùng trong hầu hết các môn học.

    Việc đặt câu hỏi cần đảm bảo những nguyên tắc sau:

    • CH phải liên kết logic với bài học
    • Ngôn ngữ trình bày câu hỏi rõ vấn đề hỏi (từ nghi vấn phù hợp )
    • Phù hợp với trình độ tư duy của lứa tuổi HS
    • Kích thích HS suy nghĩ (hạn chế câu hỏi nhắc lại thuần túy)
    • Đặt câu hỏi đúng lúc và đúng chỗ (đúng lúc HS đang suy nghĩ, đúng chỗ có vấn đề trong bài học)
    • Mỗi CH chỉ hỏi 1 vấn đề
    • Dùng từng CH một, không dùng nhiều CH để hỏi cùng lúc

    13. Kỹ thuật chia nhóm

    • Kỹ thuật này dùng để dạy HS học tập hợp tác. Nó có thể được dùng trong nhiều đoạn của bài học (chia sẻ những trải nghiệm, khám phá kiến thức / kỹ năng mới, Luyện tập thực hành, Vận dụng)
    • Cách chia nhóm:
    • Có nhiều cách chia nhóm. Chia theo cách nào là tùy thuộc vào nhiệm vụ
    • GV giao cho HS thực hiện. Có những cách chia nhóm sau:
      – Theo sở thích
      – Theo trình độ
      – Hỗn hợp trình độ
      – Ngẫu nhiên
      Các bước tổ chức hoạt động nhóm:
      B1: Làm việc chung cả lớp
      – GV chia nhóm

      – GV giao nhiệm vụ
      – GV hướng dẫn cách làm việc nhóm( rất quan trọng)
      B2: HS làm việc theo nhóm:
      – HS làm việc cá nhân.
      – HS nêu ý kiếm cá nhân
      – Nhóm thảo luận chia sẻ, thống nhất
      B3: Đại diện nhóm báo cáo.

    14. Kỹ thuật Đọc tích cực

    Kĩ thuật này nhằm giúp HS tăng cường khả năng tự học và giúp GV tiết kiệm thời gian đối với những bài học / phần đọc có nhiều nội dung nhưng không quá khó đối với HS. Kỹ thuật được áp dụng với những bài học được trình bày thành bài đọc tương đối dài (Ví dụ: Lịch sử, Địa lý, Khoa học)

    Cách tiến hành như sau:

    • GV nêu câu hỏi/yêu cầu định hướng HS đọc bài/phần đọc.
    • HS làm việc cá nhân:

      • Đoán trước khi đọc: Để làm việc này, HS cần đọc lướt qua bài đọc/phần đọc để tìm ra những gợi ý từ hình ảnh, tựa đề, từ/cụm từ quan trọng.
      • Đọc và đoán nội dung: HS đọc bài/phần đọc và biết liên tưởng tới những gì mình đã biết và đoán nội dung khi đọc những từ hay khái niệm mà các em phải tìm ra.
      • Tìm ý chính: HS tìm ra ý chính của bài/phần đọc qua việc tập trung vào các ý quan trọng theo cách hiểu của mình.
      • Tóm tắt bài dựa trên ý chính, đề mục.
      • HS chia sẻ kết quả đọc của mình theo nhóm 2, hoặc 4 và giải thích cho nhau thắc mắc (nếu có), thống nhất với nhau ý chính của bài/phần đọc đọc.
      • HS nêu câu hỏi để GV giải đáp (nếu có).

    Lưu ý: Một số câu hỏi GV thường dùng để giúp HS tóm tắt ý chính:

    • Em có chú ý gì khi đọc nội dung A ?
    • Em nghĩ gì về đọc nội dung B ?
    • Em so sánh A và B như thế nào?
    • A và B giống và khác nhau như thế nào?

    15. Kỹ thuật “Viết tích cực”

    Kĩ thuật này có thể sử dụng sau tiết học để tóm tắt nội dung đã học, để HS phản hồi cho GV về việc nắm kiến thức của các em và những chỗ các em còn hiểu sai.

    Cách thực hiên:

    • GV đặt câu hỏi và dành thời gian cho HS tự do viết câu trả lời. GV cũng có thể yêu cầu HS liệt kê ngắn gọn những gì các em biết về chủ đề đang học trong khoảng thời gian nhất định.
    • GV yêu cầu một vài HS chia sẻ nội dung mà các em đã viết trước lớp.

    16. Kỹ thuật / Phương pháp Đóng vai

    Đóng vai là kỹ thuật HS làm thử một một công việc hoặc thực hiện một ứng xử trong tình huống giả định. Kỹ thuật này giúp HS suy nghĩ về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em quan sát được hoặc chính mình trải nghiệm. Đóng vai không chỉ bao gồm việc diễn mà quan trọng hơn là cuộc trao đổi sau việc diễn. Kỹ thuật này thường dùng trong những phần học về Kể chuyện, Đạo đức, phần học ứng dụng của các môn học.

    Cách thực hiện:

    • Bước 1: GV giao nhiệm vụ cho HS: yêu cầu đóng vai cho nhóm, thời gian cho việc chuẩn bị đóng vai
    • Bước 2: Các nhóm chuẩn bị đóng vai: phần lời của từng vai cần nhớ, phần diễn của từng vai, phối hợp diễn thử các vai( Gv lắng nghe, quan sát, gợi ý bàng câu hỏi)
    • Bước 3: Từng nhóm trình bày đóng vai (diễn)( GV theo dõi, phát hiện cách ứng xử khác)
    • Bước 4: Nhận xét / thảo luận về việc đóng vai theo các tiêu chí về lời và hành động diễn có thể hiện đúng nội dung chính của bài và gây cảm xúc tích cực cho người xem không.( Giúp HS thảo luận về ích lợi hoặc tác hại hay hạn chế của từng cách ứng xử. Sau đó tổng hợp ý kiến)
    • Bước 5: Kết luận được rút ra từ nhiệm vụ đóng vai tập trung vào hiểu, vận dụng kiến thức kỹ năng mới của bài và thực tiễn.

    17. Kỹ thuật “Trình bày một phút”

    Kỹ thuật này dùng trong quá trình HS học bài trên lớp vào cuối mỗi bài.

    Cách thực hiên:

    • GV đặt câu hỏi: Bài này các em đã học được cái gì mới? Có điều quan trọng gì các em muốn giải đáp thêm?
    • HS suy nghĩ, viết ra giấy ý kiến của cá nhân
    • Mỗi HS được trình bày ý kiến của mình trong 1 phút

    Lưu ý: Khuyến khích trình bày có phương tiện hỗ trợ: tranh ảnh, CNTT

    18. Kỹ thuật “Chúng em biết 3”

    Kỹ thuật này dùng trong thảo luận nhóm nhằm tập hợp những thông tin được chọn lọc từ thảo luận. Kỹ thuật này tạo cơ hội cho những HS có trình độ khá hỗ trợ HS có trình độ thấp hơn.

    Cách thực hiện:

    • GV nêu chủ đề thảo luận (có thể bằng câu kể hoặc câu hỏi, Ví dụ: Học sinh đi đường an toàn / Học sinh đi đường thế nào để đảm bảo an toàn?)
    • Mỗi nhóm 3 (có thể hơn 3) HS sẽ chia sẻ những điều các em biết rồi chọn ra 3 điều quan trọng nhất
    • Đại diện mỗi nhóm trình bày 3 điều nhóm đã chọn
  • Đề thi học kì 1 Toán 10 Xuân Trường B năm 2020

    Đề thi học kì 1 Toán 10 Xuân Trường B năm 2020

    Đề thi học kì 1 Toán 10 Xuân Trường B năm 2020

    Xem thêm: Đề thi Hóa học 12 HK1 2020 SGD Nam Định

    1. Đề thi học kì 1 Toán 10 trắc nghiệm

    Câu 1: Cho tam giác $ABC$có $AB=5$, $AC=8$ và $A={{60}^{o}}.$ Giá trị của tích vô hướng $\overrightarrow{AB}.\overrightarrow{AC}$ bằng
    A. 40.
    B. $40\sqrt{3}.$
    C. $20.$
    D. $20\sqrt{3}.$
    Câu 2: Cho hàm số $y=\frac{x+2}{\sqrt{x-1}}+\sqrt{3-x}$. Tập xác định của hàm số là
    A. $\left( 1;3 \right)$.
    B. $\left[ 1;3 \right]$.
    C. $\left( 1;3 \right]$ .
    D. $\left[ 1;3 \right)$.
    Câu 3: Tất cả các giá trị của tham số $m$ để phương trình $m{{\text{x}}^{2}}+2m\text{x}+m+1=0$ có hai nghiệm phân biệt là
    A. $m<0.$
    B. $m\le 0.$
    C. $m>0.$
    D. $m\ge 0.$
    Câu 4: Số nghiệm của phương trình $\sqrt{x-2020}+x=\sqrt{2020-x}+2020$ là
    A. 2020.
    B. 1.
    C. 2.
    D. 0.
    Câu 5: Cho $\tan \alpha =2.$Giá trị của $A=\frac{3\sin \alpha -c\text{os}\alpha }{\sin \alpha +3c\text{os}\alpha }$ bằng
    A. $3.$
    B. $1.$
    C. $\frac{1}{2}.$
    D. $\pm \frac{2}{3}.$
    Câu 6: Cho hai vectơ $\overrightarrow{a}=(4;3),$và $\overrightarrow{b}=(1;7).$ Khi đó góc giữa hai vectơ $\overrightarrow{a}$ và $\overrightarrow{b}$ bằng
    A. ${{45}^{o}}.$
    B. ${{90}^{o}}.$
    C. ${{60}^{o}}.$
    D. ${{30}^{o}}.$
    Câu 7: Trên mặt phẳng tọa độ $Oxy$ cho hình thang cân $ABC\text{D}$$(AB\parallel C\text{D}).$ Biết điểm $A(-1;1),$ $B(0;2),$ $C(3;1).$ Gọi điểm $D(x;y).$ Biểu thức ${{x}^{2}}-{{y}^{2}}$ bằng
    A. 9.
    B. $4.$
    C. $-4.$
    D. -9.
    Câu 8: Số các giá trị nguyên của $m$ để phương trình $\sqrt{x-1}=2\text{x}+m$ có hai nghiệm phân biệt là
    A. 1.
    B. 2.
    C. 0.
    D. 3.
    Câu 9: Tất cả các giá trị của tham số $m$ để phương trình ${{\text{x}}^{2}}-x-m=0$ có hai nghiệm phân biệt ${{x}_{1}},$${{x}_{2}}$thỏa mãn ${{x}_{1}}^{2}+{{x}_{2}}^{2}\le 3$ là
    A. $m\in \left[ -\frac{1}{4};1 \right)$
    B. $m\in \left( -\frac{1}{4};1 \right).$
    C. $m\in \left( -\frac{1}{4};1 \right].$
    D. $m\in \left[ -\frac{1}{4};1 \right].$
    Câu 10: Cho hàm số $y=\text{a}{{\text{x}}^{2}}+b\text{x}+c,$ với $a\ne 0$ . Khi đó tọa độ đỉnh của đồ thị hàm số là
    A. $\left( -\frac{b}{2a};\frac{-\Delta }{4\text{a}} \right)$.
    B. $\left( \frac{b}{2a};\frac{-\Delta }{4\text{a}} \right)$
    C. $\left( -\frac{b}{2a};\frac{\Delta }{4\text{a}} \right)$
    D. $\left( \frac{b}{2a};\frac{\Delta }{4\text{a}} \right)$
    Câu 11: Trên mặt phẳng tọa độ $(O;\overrightarrow{i},\overrightarrow{j})$ cho hai vectơ $\overrightarrow{a}=({{a}_{1}};b_{1}^{{}}),$và $\overrightarrow{b}=({{a}_{2}};{{b}_{2}}).$Trong các biểu thức sau, biểu thức nào dưới đây đúng?
    A. $\overrightarrow{a}.\overrightarrow{b}={{a}_{1}}{{b}_{2}}+{{a}_{2}}{{b}_{1}}.$
    B. $\overrightarrow{a}.\overrightarrow{b}={{a}_{1}}{{b}_{1}}-{{a}_{2}}{{b}_{2}}.$
    C. $\overrightarrow{a}.\overrightarrow{b}={{a}_{1}}{{b}_{1}}+{{a}_{2}}{{b}_{2}}.$
    D. $\overrightarrow{a}.\overrightarrow{b}={{a}_{1}}{{a}_{2}}+{{b}_{1}}{{b}_{2}}.$
    Câu 12: Số các giá trị nguyên dương của $m$ để phương trình ${{x}^{2}}-x+{{m}^{2}}-4=0$có hai nghiệm trái dấu là
    A. 1.
    B. 2.
    C. 5.
    D. 3.
    Câu 13: Hệ phương trình nào sau đây là hệ phương trình bậc nhất hai ẩn?
    A. $\left\{ \begin{align}
    & 3x-y-z=0 \\
    & 4x-5y=3 \\
    \end{align} \right.$
    B. $\left\{ \begin{align}
    & 3x-2y=1 \\
    & 4x-5y=-3 \\
    \end{align} \right.$
    C. $\left\{ \begin{align}
    & 3{{x}^{2}}-2y=11 \\
    & 4x-5{{y}^{2}}=3 \\
    \end{align} \right.$
    D. $\left\{ \begin{align}
    & 3x-2=0 \\
    & {{x}^{2}}-5x=3 \\
    \end{align} \right.$
    Câu 14: Số nghiệm nguyên của phương trình $\sqrt{{{x}^{2}}+x-6}=7-x$ là
    A. $\frac{11}{3}.$
    B. 2.
    C. 1.
    D. 0.
    Câu 15: Trên hệ trục tọa độ $Oxy$cho hình bình hành $ABCD$ có $A(-1;3),$$B(2;4),$$C(0;1)$. Tọa độ đỉnh D là
    A. $D(3;0).$
    B. $D(0;-3).$
    C. $D(0;3).$
    D. $D(-3;0).$
    Câu 16: Trong các hàm số sau, hàm số nào đồng biến trên $R$?
    A. $y={{x}^{2}}+1$.
    B. $y=3\text{x}-2$.
    C. $y=-{{x}^{2}}+1$.
    D. $y=2-3\text{x}$.
    Câu 17: Tập xác định của hàm số $y=\frac{1}{{{x}^{2}}-4\text{x}+4}$ là
    A. $\left[ 2;+\infty \right).$
    B. $\left( 2;+\infty \right).$
    C. $\mathbb{R}.$
    D. $\mathbb{R}\backslash \left\{ 2 \right\}.$
    Câu 18: Với điều kiện nào của $m$ thì phương trình $m(x-2)=3\text{x}+1$ có nghiệm duy nhất
    A. $m\ne 0.$
    B. $m=0.$
    C. $m=3.$
    D. $m\ne 3.$
    Câu 19: Phương trình ${{\left( x-4 \right)}^{2}}=x-2$ là phương trình hệ quả của phương trình nào sau đây
    A. ${{(x-2)}^{2}}=x-4.$
    B. $\sqrt{x-4}=x-2.$
    C. $\sqrt{x-2}=x-4.$
    D. $\sqrt{x-2}=\sqrt{x-4}.$
    Câu 20: Số nghiệm nguyên của phương trình $\frac{\left| 4-x \right|}{\sqrt{x-2}}=\frac{4-x}{\sqrt{x-2}}$ là
    A. 3.
    B. 1.
    C. 4.
    D. 2.
    Câu 21: Trong các đẳng thức sau, đẳng thức nào dưới đây đúng?
    A. $\sin ({{180}^{0}}-\alpha )=-\sin \alpha .$
    B. $\sin ({{180}^{0}}-\alpha )=\sin \alpha .$
    C. $\sin ({{180}^{0}}-\alpha )=c\text{os}\alpha .$
    D. $\sin ({{180}^{0}}-\alpha )=-\cos \alpha .$
    Câu 22: Cho $\text{cos}\alpha =-\frac{3}{5}.$Giá trị của$\sin \alpha $ bằng
    A. $-\frac{4}{5}.$
    B. $\frac{4}{5}.$
    C. $\frac{16}{25}.$
    D. $\pm \frac{4}{5}.$
    Câu 23: Trên mặt phẳng tọa độ $Oxy$ cho hai điểm $A(1;2),$$B(-3;1)$. Số điểm $C$ thuộc trục tung để tam giác $ABC$ cân tại $A$ là
    A. $2.$
    B. $1.$
    C. 0.
    D. 3.
    Câu 24: Số các giá trị nguyên dương của $m$ để phương trình $\frac{{{x}^{2}}-4\text{x}+m-1}{x-1}=0$ có hai nghiệm phân biệt là
    A. 4.
    B. 5.
    C. 6.
    D. 3.
    Câu 25: Cho ba điểm phân biệt $A,$$B,$$C.$ Nếu $\overrightarrow{AB}=-3\overrightarrow{AC}$ thì đẳng thức nào dưới đây đúng?
    A. $\overrightarrow{BC}=4\overrightarrow{AC}.$
    B. $\overrightarrow{BC}=-4\overrightarrow{AC}.$
    C. $\overrightarrow{BC}=-3\overrightarrow{AC}.$
    D. $\overrightarrow{BC}=3\overrightarrow{AC}.$

    2. Đề thi học kì 1 Toán 10 tự luận

    Câu 1. (2,0 điểm) Giải các phương trình sau:

    1. $\sqrt{{{x}^{2}}-x+7}=2x-1$
    2. $\sqrt{2-x}=\sqrt{x+1}+1$

    Câu 2. (1,0 điểm) Tìm tất cả các giá trị của tham số $m$ để phương trình sau có nghiệm:$$m{{x}^{2}}+(2x+1)m+5-5x=0$$

    Câu 3. (1,5 điểm) Trên mặt phẳng tọa độ $Oxy$ cho tam giác ABC có $A(1;1)$, $B(2;4)$, $C(10;-2)$ và đường cao $AH$.

    1. Chứng minh tam giác ABC vuông tại $A$;
    2. Tính cosin của góc $B$;
    3. Tìm tọa độ của điểm $H$.

    Câu 4. (0,5 điểm)

    Tìm tất cả các giá trị của tham số $m$ để phương trình sau có nghiệm duy nhất $$\sqrt{{{x}^{2}}-2m}+2\sqrt{{{x}^{2}}-1}=x$$

    ———-Hết———–

  • Python: Bài toán xếp hậu sử dụng đệ quy

    Python: Bài toán xếp hậu sử dụng đệ quy

    Python: Bài toán xếp hậu sử dụng đệ quy

    Bài toán xếp hậu là một bài toán kinh điển thường được giới thiệu trong các cuốn sách về thuật toán. Ở đây, chúng ta sẽ giải quyết bài toán bằng các sử dụng giải thuật đệ quythuật toán quay lui (vét cạn).

    Xem thêm: Thuật toán giải sudoku bằng quay lui backtracking

    Xét bàn cờ tổng quát kích thước nxn. Một quân hậu trên bàn cờ có thể ăn được các quân khác nằm tại các ô cùng hàng, cùng cột hoặc cùng đường chéo. Hãy tìm các xếp n quân hậu trên bàn cờ sao cho không quân nào ăn quân nào.

    Ví dụ một cách xếp với n = 8

    bài toán xếp hậu với n=8

    1. Giải bài toán xếp hậu sử dụng đệ quy

    Để giải quyết bài toán xếp 8 quân hậu này, chúng ta sử dụng list (mảng) a có kích thước bằng 8 với quy ước a[i]=j để đánh dấu vị trí xếp quân hậu thuộc dòng i ở cột thứ j.

    1.1. Tạo danh sách để lưu vị trí các quân hậu

    Để khởi tạo mảng a, chúng ta dùng lệnh

    n = 8
    a = n*[0]

    Lưu ý rằng các list danh sách trong Python được đánh chỉ số từ 0, do đó vị trí của quân hậu ở dòng thứ nhất được lưu ở a[0]

    Ví dụ a=[0, 4, 7, 5, 2, 6, 1, 3]có ý nghĩa, quân hậu ở dòng thứ nhất sẽ ở cột thứ nhất, quân hậu ở dòng thứ hai sẽ ở cột thứ 5, quân hậu ở dòng thứ 3 sẽ ở cột thứ 8…

    1.2. Viết hàm in vị trí các quân hậu dạng ma trận

    Chúng ta sẽ viết một hàm print_board() để in ra màn hình vị trí các quân hậu dạng ma trận (bảng), ví dụ với mảng a ở trên, in ra màn hình được:

    1 0 0 0 0 0 0 0 
    0 0 0 0 1 0 0 0 
    0 0 0 0 0 0 0 1 
    0 0 0 0 0 1 0 0 
    0 0 1 0 0 0 0 0 
    0 0 0 0 0 0 1 0 
    0 1 0 0 0 0 0 0 
    0 0 0 1 0 0 0 0

    Hàm in vị trí các quân hậu như sau:

    def print_board(b):
       l = len(b)
       for i in range(l):
          for j in range(l):
             if j == a[i]:
                print(1, end = " ")
             else:
                print(0, end = " ")
          print()

    1.3. Viết hàm kiểm tra vị trí (d,c) có còn đặt được quân hậu mới không?

    Chúng ta quy ước dc là vị trí của dòng và cột đang xét để xem có khả năng đặt được quân hậu mới hay không.

    Rõ ràng, ta chỉ cần kiểm tra xem trong các dòng từ 0 tới d-1 đã có quân hậu nào mà có thể ăn được quân hậu nếu đặt ở ô đang xét hay không, do đó chỉ cần duyệt từ các dòng có chỉ số thuộc range(d).

    Chúng ta viết hàm possible(d,c) để kiểm tra vị trí d,c còn có khả năng đặt hậu hay không. Khi đó, kết quả trả về là False nếu một trong 3 khả năng sau xảy ra:

    • Tại cột c đã có quân hậu ở dòng i nào đó, điều kiện là a[i] == c
    • Tại 2 đường chéo đi qua điểm (d,c) đã có một quân hậu nào đó.

    Lưu ý rằng các đường chéo sẽ song song hoặc trùng với các tia phân giác của góc phần tư trong hệ tọa độ Oxy. Các tia phân giác có phương trình là y = x hoặc y = - x. Do đó phương trình các đường chéo đi qua điểm có tọa độ (d,c) sẽ là c - d =y -x  hoặc c + d = y  + x. Từ đó suy ra điều kiện:

    a[i] == c  or c - d == a[i] - i or c + d == a[i] + i

    Mã nguồn của hàm kiểm tra vị trí có thể đặt hậu như sau:

    def possible(x, y):
       for i in range(x):      
          if a[i] == y  or y - x == a[i] - i or y + x == a[i] + i:
             return False
       return True

    1.4. Hàm đệ quy để sinh ra các vị trí đặt quân hậu

    def gen(i, n):
       for j in range(n):
          if possible(i,j):
             a[i] = j
             if i == n - 1:
                print(a)
             gen(i+1, n)

    Chương trình bắt đầu với lời gọi gen(0, n).

    Mã nguồn hoàn chỉnh bằng Python của bài toán xếp hậu như sau:

    n = 8
    a = n*[0]
    
    def print_board(b):
       l = len(b)
       for i in range(l):
          for j in range(l):
             if j == a[i]:
                print(1, end = " ")
             else:
                print(0, end = " ")
          print()
    
    def possible(d, c):
       for i in range(d):
          # if a[i] == y or abs(i - x) == abs(a[i] - y):
          if a[i] == c  or c - d == a[i] - i or c + d == a[i] + i:
             return False
       return True
    
    def gen(i, n):
       for j in range(n):
          if possible(i,j):
             a[i] = j
             if i == n - 1:
                print(a)
             gen(i+1, n)
    
    gen(0, n)

    Kết quả trả về là tất cả các phương án mỗi phương án là một danh sách chứa vị trí các quân hậu. Nếu muốn in một phương án nào đó, chúng ta sử dụng hàm print_board()

    2. Bài toán xếp hậu quay lui

    Chúng tôi giới thiệu thêm bài toán xếp hậu sử dụng thuật toán quay lui để bạn đọc tham khảo. Cách làm này có thời gian chạy khá chậm, và mỗi lần chỉ in ra một phương án xếp các quân hậu. Muốn tìm được phương án khác, chúng ta cần thay đổi giá trị của mảng board ban đầu.

    Cách giải này tôi có tham khảo từ bài viết này.

    board = [
          [0,0,0,0,0,0,0,0],
          [0,0,0,0,0,0,0,0],
          [0,0,0,0,0,0,0,0],
          [0,0,0,0,0,0,0,0],
          [0,0,0,0,0,0,0,0],
          [0,0,0,0,0,0,0,0],
          [0,0,0,0,0,0,0,0],
          [0,0,0,0,0,0,0,0]
          ]
    
    
    def print_board(bo):
        for d in bo:        
            for c in d:
                print(c, end = " ")
            print()
    
    
    def solve(bo):
       l = len(bo)
       for d in range(l):
          for c in range(l):
             if bo[d][c] == 0:
                if possible(bo, d, c):
                   bo[d][c] = 1
                   solve(bo)
                if sum(sum(a) for a in bo) == l:
                   return bo
                else:
                   bo[d][c] = 0
       return bo		
    
    
    def possible(bo, d, c):
       l = len(bo)
       for i in range(l):
          if bo[i][c] == 1:
             return False
       for i in range(l):
          if bo[d][i] == 1:
             return False
       for i in range(l):
          for j in range(l):
             if bo[i][j] == 1:
                if c-d == j-i or c+d == i+j:
                   return False
       return True
    
    solve(board)
    print_board(board)
  • Thuật toán giải sudoku bằng quay lui backtracking

    Thuật toán giải sudoku bằng quay lui backtracking

    Thuật toán giải sudoku bằng quay lui backtracking

    Trong bài này chúng ta sẽ sử dụng thuật toán quay lui để giải quyết bài toán giải Sudoku. Để hiểu thuật toán quay lui là gì mời bạn xem bài Thuật toán quay lui và minh họa.

    Xem thêm: Python: Bài toán xếp hậu sử dụng đệ quy

    Bài viết tham khảo từ techwithtim.net

    1. Giới thiệu luật chơi và cách giải Sudoku

    Sudoku là một trò chơi giải đố theo wiki định nghĩa như sau:

    Sudoku (数独すうどく (số độc) sūdoku?) (suːˈdoʊkuː/, /-ˈdɒ-/, /sə-/, ban đầu có tên gọi là Number Place) là một trò chơi câu đố sắp xếp chữ số dựa trên logic theo tổ hợp. Mục tiêu của trò chơi là điền các chữ số vào một lưới 9×9 sao cho mỗi cột, mỗi hàng, và mỗi phần trong số chín lưới con 3×3 cấu tạo nên lưới chính (cũng gọi là “hộp”, “khối”, hoặc “vùng”) đều chứa tất cả các chữ số từ 1 tới 9. Câu đố đã được hoàn thành một phần, người chơi phải giải tiếp bằng việc điền số. Mỗi câu đố được thiết lập tốt có một cách làm duy nhất.

    Cách giải trò chơi Sudoku, mời các bạn xem video hướng dẫn sau:

    2. Thuật toán giải Sudoku

    Sau đây ta sẽ tìm thuật toán giải Sudoku bằng kỹ thuật backtracking, ngôn ngữ lập trình sử dụng là Python. Các bước tiến hành như sau:

    • Viết hàm in câu đố Sudoku ra màn hình.
    • Tìm vị trí các ô trống trong Sudoku.
    • Với mỗi vị trí ô trống vừa tìm được, lần lượt thử đặt số từ 1 đến 9 vào ô trống đó. Kiểm tra xem sau khi thử đặt số đó vào ô trống đó thì có hợp lệ (thỏa mãn các điều kiện về luật chơi của Sudoku hay không). Nếu hợp lệ thì tiếp tục tìm các ô trống tiếp theo và lại thử, nếu không thì thử với số_tiếp_theo
    • Lặp lại quy trình trên cho đến khi không còn ô trống nào trên câu đố, hoặc không tìm được lời giải.

    Input, một câu đố sudoku biểu diễn bởi danh sách list 2 chiều (một danh sách gồm 9 phần tử, mỗi phần tử là dòng – lại là một danh sách gồm 9 phần tử  tương ứng với 9 ô trong một dòng) với các ô trống được quy ước điền bởi số 0, ví dụ Sudoku cau_do được biểu diễn như sau:

    cau_do = [
        [7,8,0,4,0,0,1,2,0],
        [6,0,0,0,7,5,0,0,9],
        [0,0,0,6,0,1,0,7,8],
        [0,0,7,0,4,0,2,6,0],
        [0,0,1,0,5,0,9,3,0],
        [9,0,4,0,6,0,0,0,5],
        [0,7,0,3,0,0,0,1,2],
        [1,2,0,0,0,7,4,0,0],
        [0,4,9,2,0,6,0,0,7]
    ]

    Chú ý rằng chỉ số index trong Python được đánh từ 0 trở đi, do đó các vị trí của từng ô trong bảng số sẽ là cau_d0[0][0] cho đến cau_do[8][8], ở đây cau_do[d][c] là ô số ở vị trí dòng d và cột c.

    2.1. Viết hàm in câu đố Sudoku ra màn hình

    Ở đây chúng ta sử dụng giao diện dòng lệnh, chưa sử dụng giao diện đồ họa GUI nên sẽ sử dụng hàm print() của Python để in một đối tượng ra màn hình CMD.

    Ta sẽ viết hàm in_sudoku để in một câu đố Sudoku có tên là q ra màn hình, sử dụng biến dc để biểu diễn dòng và cột.

    Nếu dòng d là dòng thứ 3 hoặc 6 thì ta sẽ in ra màn hình một dòng gồm các kí tự - - - - - - - - - - - để ngăn cách, mục đích là biểu diễn cho các khối ô vuông 3x3 của Sudoku. Tương tự, nếu cột ở vị trí 3 hoặc 6 thì ta sẽ in ra kí tự | để ngăn cách. Nếu cột ở vị trí thứ 8 thì ta sẽ xuống dòng mới.

    def in_sudoku(q):
        for d in range(len(q)):
            if d % 3 == 0 and d != 0:
                print("- - - - - - - - - - -")
            for c in range(len(q[0])):
                if c % 3 == 0 and c != 0:
                    print("| ", end ="")
                if c == 8:
                    print(str(q[d][c]))
                else:
                    print(str(q[d][c]) + " ", end = "")

    Thử in với cau_do ở phần đầu, chúng ta được kết quả như sau, ở đây tôi dùng SublimeText để code:

    thuật toán giải sudoku

    2.2. Viết hàm tìm các ô trống trong Sudoku

    Mục tiêu của chúng ta là tìm các vị trí ô trống trong câu đố q

    def tim_o_trong(q):
        for d in range(len(q)):
            for c in range(len(q[0])):
                if q[d][c] == 0:
                    return d, c
        return None

    2.3.  Viết hàm kiểm tra tính hợp lệ của một câu đố

    def kiem_tra(q, gia_tri, dong, cot):
        for i in range(len(q[0])):
            if q[i][cot] == gia_tri and i != dong:
                return False
        for i in range(len(q)):
            if q[dong][i] == gia_tri and i != cot:
                return False
    
        x = cot // 3
        y = dong // 3
    
        for i in range(y*3, y*3+3):
            for j in range(x*3, x*3+3):
                if q[i][j] == gia_tri and i != dong and j != cot:
                    return False
        return True

    2.4. Viết hàm chính để tìm lời giải cho một câu đố Sudoku

    def giai(q):
        tim_thay = tim_o_trong(q)
        if not tim_thay:
            return True
        else:
            d, c = tim_thay
        for i in range(1,10):
            if kiem_tra(q, i, d, c):
                q[d][c] = i
                if giai(q):
                    return True
                else:
                    q[d][c] = 0
            
        return False

    3. Chương trình Python giải Sudoku hoàn chỉnh

    cau_do = [
        [7,8,0,4,0,0,1,2,0],
        [6,0,0,0,7,5,0,0,9],
        [0,0,0,6,0,1,0,7,8],
        [0,0,7,0,4,0,2,6,0],
        [0,0,1,0,5,0,9,3,0],
        [9,0,4,0,6,0,0,0,5],
        [0,7,0,3,0,0,0,1,2],
        [1,2,0,0,0,7,4,0,0],
        [0,4,9,2,0,6,0,0,7]
    ]
    
    def in_sudoku(q):
        for d in range(len(q)):
            if d % 3 == 0 and d != 0:
                print("- - - - - - - - - - -")
            for c in range(len(q[0])):
                if c % 3 == 0 and c != 0:
                    print("| ", end ="")
                if c == 8:
                    print(str(q[d][c]))
                else:
                    print(str(q[d][c]) + " ", end = "")
    
    
    def giai(q):
        tim_thay = tim_o_trong(q)
        if not tim_thay:
            return True
        else:
            d, c = tim_thay
        for i in range(1,10):
            if kiem_tra(q, i, d, c):
                q[d][c] = i
                if giai(q):
                    return True
                else:
                    q[d][c] = 0
            
        return False
            
        
    
    def tim_o_trong(q):
        for d in range(len(q)):
            for c in range(len(q[0])):
                if q[d][c] == 0:
                    return d, c
        return None
    
    
    def kiem_tra(q, gia_tri, dong, cot):
        for i in range(len(q[0])):
            if q[i][cot] == gia_tri and i != dong:
                return False
        for i in range(len(q)):
            if q[dong][i] == gia_tri and i != cot:
                return False
    
        x = cot // 3
        y = dong // 3
    
        for i in range(y*3, y*3+3):
            for j in range(x*3, x*3+3):
                if q[i][j] == gia_tri and i != dong and j != cot:
                    return False
        return True
    
    in_sudoku(cau_do)
    giai(cau_do)
    print('Loi giai cua Sudoku tren la:')
    in_sudoku(cau_do)

    Cho chạy chương trình, chúng ta được kết quả như hình sau:

    giải sudoku bằng Python

  • Thuật toán quay lui và minh họa

    Thuật toán quay lui và minh họa

    Thuật toán quay lui và minh họa

    1. Thuật toán quay lui là gì?

    Thuật toán quay lui (Backtracking) là một kĩ thuật thiết kế giải thuật dựa trên đệ quy. Ý tưởng của quay lui là tìm lời giải từng bước, mỗi bước chọn một trong số các lựa chọn khả dĩ và đệ quy. Người đầu tiên đề ra thuật ngữ này (backtrack) là nhà toán học người Mỹ D. H. Lehmer vào những năm 1950.

    2. Thuật toán quay lui sử dụng khi nào?

    Thuật toán quay lui thường được sử dụng để giải bài toán liệt kê các cấu hình (như bài toán sinh các xâu nhị phân). Mỗi cấu hình được xây dựng bằng cách xác định từng phần tử. Mỗi phần tử lại được chọn bằng cách thử tất cả các khả năng.
    Các bước trong việc liệt kê cấu hình dạng X[1…n]:
    • Xét tất cả các giá trị X[1] có thể nhận, thử X[1] nhận các giá trị đó. Với mỗi giá trị của X[1] ta sẽ:
    • Xét tất cả giá trị X[2] có thể nhận, lại thử X[2] cho các giá trị đó. Với mỗi giá trị X[2] lại xét khả năng giá trị của X[3]…tiếp tục như vậy cho tới bước:
    • Xét tất cả giá trị X[n] có thể nhận, thử cho X[n] nhận lần lượt giá trị đó.
    • Thông báo cấu hình tìm được.

    Để cài đặt thuật toán quay lui, chúng ta sử dụng một chương trình con (hàm function, thủ tục procedure) và gọi đến hàm đó trong chương trình chính của mình. Mô hình của thuật toán quay lui sử dụng ngôn ngữ Python như sau:

    def quay_lui(i):
       for j in [tập_các_phương_án_x[i] có thể nhận]:
          <thử đặt x[i] = j>
          if <x[i] là phần tử cuối cùng trong cấu hình>:
             <thông báo cấu hình>
          else:
             <ghi nhận việc cho x[i] nhận giá trị j nếu cần>
             <gọi đệ quy đến quay_lui(i+1)>
             <bỏ ghi nhận việc cho x[i] nhận giá trị j để thử giá trị khác nếu cần>

    Thuật toán quay lui sẽ bắt đầu bằng lời gọi quay_lui(1)

    3. Minh họa của thuật toán quay lui (Backtracking)

    3.1. Sử dụng thuật toán quay lui để sinh các dãy nhị phân độ dài n

    Dưới đây, chúng ta cùng xem mã chương trình sinh các dãy nhị phân có độ dài n bằng cách sử dụng thuật toán quay lui.

    n = 3
    x = n*[0]
    
    
    def fine_print(x):
       tmp = ''
       for i in x:
          tmp += str(i)
       return tmp
    
    
    def bin_gen(i):
       for j in range(0,3):
          x[i] = j
          if i == n-1:
             print(fine_print(x))
          else:
             bin_gen(i+1)
    
    bin_gen(0)

    Các giải khác bằng cách sử dụng vòng lặp, xin mời bạn đọc xem tại đây Thuật toán sinh các dãy nhị phân có độ dài n

    3.2. Sử dụng backtracking để giải Sudoku

    thuật toán giải sudoku

    Mời các bạn xem chi tiết trong bài Thuật toán giải sudoku bằng quay lui backtracking

    3.3. Sử dụng quay lui để giải bài toán xếp hậu

    Xét bàn cờ tổng quát kích thước nxn. Một quân hậu trên bàn cờ có thể ăn được các quân khác nằm tại các ô cùng hàng, cùng cột hoặc cùng đường chéo. Hãy tìm các xếp n quân hậu trên bàn cờ sao cho không quân nào ăn quân nào. Mời bạn xem chi tiết trong bài Python: Bài toán xếp hậu sử dụng đệ quy

    bài toán xếp hậu với n=8

    4. Đặc điểm của thuật toán quay lui

    Bản chất của quay lui là một quá trình tìm kiếm theo chiều sâu(Depth-First Search).
    • Ưu điểm: Việc quay lui là thử tất cả các tổ hợp để tìm được một lời giải. Thế mạnh của phương pháp này là nhiều cài đặt tránh được việc phải thử nhiều trường hợp chưa hoàn chỉnh, nhờ đó giảm thời gian chạy.
    • Nhược điểm: Trong trường hợp xấu nhất độ phức tạp của quay lui vẫn là cấp số mũ. Vì nó mắc phải các nhược điểm sau:
    • Rơi vào tình trạng “thrashing”: quá trình tìm kiếm cứ gặp phải bế tắc với cùng một nguyên nhân.
      • Thực hiện các công việc dư thừa: Mỗi lần chúng ta quay lui, chúng ta cần phải đánh giá lại lời giải trong khi đôi lúc điều đó không cần thiết.
      • Không sớm phát hiện được các khả năng bị bế tắc trong tương lai. Quay lui chuẩn, không có cơ chế nhìn về tương lai để nhận biết được nhánh tìm kiếm sẽ đi vào bế tắc.
  • SKKN Phát triển năng lực tư duy và thực hành cho học sinh lớp 11 THPT thông qua dạy học tích hợp chuyên đề Nitơ và Photpho

    SKKN Phát triển năng lực tư duy và thực hành cho học sinh lớp 11 THPT thông qua dạy học tích hợp chuyên đề Nitơ và Photpho

    SKKN Phát triển năng lực tư duy và thực hành cho học sinh lớp 11 THPT thông qua dạy học tích hợp chuyên đề Nitơ và Photpho

    1. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN

    Để đáp ứng các yêu cầu đổi mới của thời đại và đất nước, đặc biệt yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện phát huy nguồn lực con người, yếu tố phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Bên cạnh năng lực về chuyên môn, người lao động phải có năng lực hành động, tự chủ, năng động sáng tạo, có năng lực giải quyết các vấn đề thường gặp và luôn luôn theo kịp được với sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, có đạo đức, biết giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc.

    Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020 được thủ tướng chính phủ ban hành theo quyết định số 711/QĐ – TTg ngày 13/06/2012 đã ghi rõ: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế và thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa …, tập trung vào nâng cao chất lượng, đặc biệt là chất lượng giáo dục, giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành,…”.

    Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông  nói chung và dạy học phần Hóa học vô cơ 11 nói riêng là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy học tích cực” nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo, thực hành rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và thực tiễn, tạo niềm tin, niềm vui hứng thú trong học tập.

    Hiện nay khoa học và công nghệ phát triển với sức mạnh thần tốc, kỳ diệu, đó là sự ra đời của máy tính và internet. Nhưng bộ não là một phần lãnh thổ lớn nhất chưa được khám phá hết trên thế giới. Bộ não giúp chúng ta tự học và học tập suốt đời, từ khi sinh ra cho đến khi không còn có mặt trên trái đất này. Do đó việc phát triển năng lực sáng tạo và thực hành cho học sinh ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường là điều rất cần thiết. Sự thực hành và sáng tạo trong cuộc sống chính là biết đề ra những ý tưởng mới, độc đáo, hữu ích, phù hợp với hoàn cảnh. Nói cách khác là dám thách thức những ý kiến và phương pháp đã được mọi người chấp nhận để tìm ra những giải pháp hoặc khái niệm mới có tính đột biến cao hoặc mang tính kế thừa tích cực trên nền tảng cái cũ. Cũng có thể hiểu đơn giản sáng tạo chỉ là tìm ra một cách mới để làm việc hoặc làm cho công việc đó trôi chảy hơn. Một trong hai bán cầu não chi phối tới hoạt động thực hành và sáng tạo có cơ sở sinh lý thần kinh và tư duy của con người. Tâm lý học đã nghiên cứu và đi đến kết luận rằng tất cả mọi người đều có khả năng sáng tạo và thực hành, sáng tạo nhỏ hay lớn. Nếu được rèn luyện thì sự sáng tạo sẽ phát triển không ngừng cùng với năng lực thực hành khoa học và ngược lại nếu không rèn luyện thì sự sáng tạo và những kỹ năng thực hành sẽ dần bị mai một đi.

    Năng lực thực hành của học sinh chính là khả năng các em thực hiện được những điều mới mẻ trong bài học và thực tiễn cuộc sống. Đó là biết làm thành thạo và luôn đổi mới, có những nét độc đáo riêng  phù hợp với thực tế. Luôn biết và đề ra những cái mới khi chưa được học, nghe giảng, đọc tài liệu hay tham quan về việc đó nhưng vẫn đạt kết quả cao. Vì thế đối với học sinh nói chung và học sinh trung học phổ thông nói riêng, tất cả những gì mà họ “tự nghĩ ra“ khi giáo viên chưa dạy, học sinh chưa biết từ các nguồn khác nhau thì đều được coi là sáng tạo thực nghiệm. Sáng tạo và thực hành trong cuộc sống là bước nhảy vọt trong sự phát triển nhận thức của học sinh. Không có con đường logic để dẫn đến sự thực nghiệm, bản thân mỗi học sinh phải tự tìm lấy kinh nghiệm thông qua các hoạt động thực tiễn của mình hoặc dưới sự hướng dẫn của giáo viên, gia đình, nhà trường và xã hội. Do đó, để phát triển năng lực nhận thức, sự chủ động thực hành và sáng tạo của học sinh thì người giáo viên phải biết đặt học sinh vào vị trí chủ thể để các em phải tự lực, chủ động, tự giác, tích cực, cố gắng để chiếm hữu được tri thức, rèn luyện đạo đức, phát triển tư duy sáng tạo thực hành của bản thân. Trách nhiệm này đặt ra cho người giáo viên phải tìm ra được giải pháp hữu hiệu để rèn luyện năng lực cho học sinh ngay từ khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường. Ở đây thì học sinh cần phải  làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ… phù hợp với lứa tuổi và kết nối chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống. Phát triển năng lực, đặc biệt là năng lực thực hành sáng tạo của người học chính là mục tiêu của quá trình dạy học. Vì thế vai trò quan trọng nhất của giáo dục chính là định hướng và giúp cho học sinh phát triển toàn diện các năng lực để giải quyết vấn đề một cách tư duy độc lập, có định hướng và tính sáng tạo trong thực nghiệm đột biến mà đặc biệt là đối với học sinh giỏi.

    Từ những lý do trên, với mong ước góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy học nói chung và chất lượng dạy học môn Hóa học nói riêng đồng thời góp phần đào tạo cho đất nước một thế hệ trẻ năng động, thực hành sáng tạo đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện nay, tôi đã chọn đề tài: Phát triển năng lực tư duy và thực hành cho học sinh lớp 11 THPT thông qua dạy học tích hợp chuyên đề Nitơ và Photpho

    1. Mô tả giải pháp
    2. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến

    Hiện nay việc dạy và học cũng như quá trình đào tạo ở nước ta vẫn còn mang nặng tính hàn lâm kinh viện về lý thuyết mà thiếu đi tính thực tiễn, chưa hình thành được năng lực hành động và sáng tạo linh hoạt cho học sinh. Vì thế các em lĩnh hội tri thức một cách thụ động chỉ qua bài vở do thầy cô giảng dạy mà xa vời với đời sống thực tiễn và sản xuất. Cách học này sẽ khiến cho bài học thiếu sôi động, cứng nhắc và hiệu quả của việc phát huy tính tích cực, chủ động và thực hành sáng tạo của học sinh rất hạn chế. Do đó việc đổi mới một cách triệt để và mạnh mẽ cả chương trình cũng như phương pháp dạy và học là chìa khóa mấu chốt nhất đối với kết quả của sự nghiệp giáo dục nước nhà. Với tinh thần cải cách giáo dục thật triệt để và toàn diện cả trong dạy và học cùng với việc đổi mới cách thức kiểm tra và đánh giá hiện nay trong kỳ thi THPT quốc gia (bao gồm cả xét tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đầu vào đại hoc) bắt đầu từ năm học 2010 – 2011 cũng như trong các kỳ thi học sinh giỏi các cấp thì môn Hóa học luôn hướng người học tới khả năng vận dụng, suy luận, áp dụng kiến thức lý thuyết vào thực tế đời sống và sản xuất, các kỹ năng thực hành của học sinh chứ không nặng nề tính toán, đánh đố học sinh, không yêu cầu học sinh “học tủ, học vẹt” các dạng bài tập. Sự liên hệ thực tế cùng khả năng thực hành sáng tạo của các em là thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả của quá trình dạy và học.

    Thực tế hiện nay tôi thấy rằng học sinh Việt Nam đi thi thì rất giỏi, đạt kết quả rất cao trong các kỳ thi trong nước, khu vực và quốc tế nhưng kĩ năng vận dụng thực hành trong thực tiễn thì kém hơn học sinh, sinh viên các nước đã và đang phát triển rất nhiều Vì thế khi các em ra trường rồi đi làm thường bỡ ngỡ, thụ động, máy móc, kỹ năng lao động và làm việc cực kỳ hạn chế. Đây cũng là tình trạng chung về chất lượng nguồn nhân lực của nước ta hiện nay. Chính vì thế để đào tạo ra một lực lượng lao động tốt, có năng lực làm việc đạt hiệu quả cao, sáng tạo thì nhất thiết phải thay đổi toàn diện, triệt để các cơ chế, chính sách về giáo dục và đào tạo. Người giáo viên phải đổi mới phương pháp dạy học, vận dụng các phương pháp tích cực để rèn luyện cho học sinh các kĩ năng vận dụng kiến thức lí thuyết vào thực tế trong mọi tình huống. Kĩ năng này rất cần thiết và quan trọng khi các em trưởng thành. Để đem lại niềm vui, tạo hứng thú trong học tập cho học sinh thì giáo viên cần tạo ra môi trường học tập thật thoải mái để mỗi học sinh có thể phát huy tối đa được tính tích cực, chủ động thực hành sáng tạo, tăng khả năng tự học, sự tự tin làm chủ các vấn đề phát sinh và nâng cao khả năng hợp tác, làm việc theo nhóm, từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học. Phần Hóa học 11 THPT là cầu nối rất quan trọng cho học sinh học tiếp lên lớp 12 và cũng có ứng dụng thực tiễn vô cùng to lớn bởi dân số nước ta chủ yếu làm nông nghiệp nên nhu cầu về lượng phân bón để cung cấp cho cây trồng là rất lớn. Việc nghiên cứu học phần Nitơ và Photpho là đòn bẩy để phát triển công nghiệp sản xuất phân bón hiện nay. Việc dậy và học tốt phần này gây nhiều khó khăn cho cả giáo viên và học sinh bởi lượng kiến thức là rất phong phú và có phần trừu tượng. Các thầy cô giáo thường phải dậy theo phân phối chương trình trong thời lượng có hạn trong khi phần Nitơ và Photpho có nhiều ứng dụng thực tiễn và kiến thức quan trọng mà bất kỳ đề thi nào cũng thường xuyên hỏi tới, đặc biệt về axit HNO3, muối nitrat, phân bón Hóa học, độ dinh dưỡng của phân đạm, phân lân …. Với các em học sinh, để tiếp thu lượng kiến thức thực tiễn này cần phải có thời gian nhất định trải nghiệm, suy nghĩ, phân tích, đánh giá rồi vận dụng và vận dụng thành thạo trong khi giải các bài tập Hóa học. Vì vậy với cách dạy và học có phần cứng nhắc, thiếu sự sáng tạo linh hoạt và thực nghiệm như hiện nay thì kết quả thu được còn rất hạn chế. Các em thường chỉ nắm được phần nào lý thuyết còn phần thực nghiệm rất sơ sài và chung chung, khi làm những bài tập vận dụng và vận dụng mức độ nâng cao còn thiếu tính tổng quát, thực hành sáng tạo độc lập. Để đạt kết quả cao nhất đòi hỏi cả người dạy và người học cần phải chủ động và có những giải pháp linh hoạt và sáng tạo.

    Qua nhiều năm công tác giảng dạy và học tập, tôi mạnh dạn được viết ra sáng kiến kinh nghiệm giảng dạy này để nâng cao năng lực tư duy và thực hành sáng tạo cho các em học sinh lớp 11 THPT mà đặc biệt là các em học sinh giỏi để giúp các em đạt kết quả cao trong kỳ thi học sinh giỏi toàn tỉnh, thi quốc gia, quốc tế và thi THPT quốc gia năm lớp 12.

    1. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến

    Trước hết chúng ta cần xem xét và đón nhận những xu hướng đổi mới về phương pháp dạy học hiện nay gồm:

    + Hướng 1: Tăng cường tính tích cực, tìm tòi sáng tạo, tiềm năng trí tuệ nói riêng và nhân cách nói chung ở người học, khả năng thích ứng với thực tiễn cuộc sống luôn đổi mới.

    + Hướng 2: Tăng cường khả năng tự vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn luôn biến đổi.

    + Hướng 3: Chuyển dần trọng tâm của phương pháp dạy học từ tính chất thông báo, tái hiện đại trà chung cho cả lớp sang tính chất phân hoá cá thể cao độ, tiến lên theo nhịp độ cá nhân. Hướng 1, 2, 3 để hoàn thiện chất lượng các phương pháp dạy học hiện có.

    + Hướng 4: Liên kết nhiều phương pháp dạy học riêng rẽ thành tổ hợp phương pháp dạy học phức hợp.

    + Hướng 5: Liên kết phương pháp dạy học với các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại như phương tiện nghe nhìn, máy vi tính,…để tạo ra các tổ hợp phương pháp dạy học có dùng kỹ thuật.

    + Hướng 6: Chuyển hóa phương pháp khoa học thành phương pháp dạy học đặc thù của môn học, dạy học tích hợp và liên môn . . .

    + Hướng 7: Đa dạng hóa các phương pháp dạy học, cấp học, bậc học, các loại hình trường và các môn học. Hướng 4, 5, 6, 7 để thực hành sáng tạo nên những phương pháp dạy học mới.

    Việc đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Hóa học cũng tuân theo bẩy hướng nêu trên, nhưng trước mắt là tập trung vào hai hướng chính là dạy học lấy người học làm trung tâm (dạy học định hướng vào người học) và dạy học theo hướng hoạt động hóa người học. Phương pháp dạy học Hoá học phải đặt người học vào vị trí chủ thể của hoạt động nhận thức, làm cho họ hoạt động trong giờ học, rèn luyện cho học sinh tập giải quyết các vấn đề của khoa học từ dễ đến khó, có như vậy họ mới có điều kiện tốt để tiếp thu và vận dụng kiến thức một cách chủ động, thực hành sáng tạo. Do đặc thù bộ môn Hoá học là một môn khoa học thực nghiệm nên phương pháp dạy học phải tăng cường thí nghiệm thực hành và sử dụng thật tốt các thiết bị dạy học giúp mô hình hoá, giải thích chứng minh các quá trình hoá học để phát huy tính tích cực, sáng tạo, nâng cao hứng thú của người học. Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của học sinh, làm sao trong quá trình học tập, người học được hoạt động nhiều hơn, thảo luận cùng nhau nhiều hơn và quan trọng hơn là được suy nghĩ nhiều hơn. Trong phương pháp dạy học tích cực, người học – đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, qua đó tự lực khám phá những kiến thức mới. Được đặt vào những tình huống thì người học sẽ trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm và giải quyết các vấn đề đặt ra. Nhờ vậy, học sinh vừa khám phá ra kiến thức kĩ năng mới, vừa biết được phương pháp “tìm ra” kiến thức, kĩ năng đó mà không rập theo những khuôn mẫu sẵn có. Dạy học theo hướng này thì giáo viên không chỉ truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động và học sinh được bộc lộ, phát huy hết tiềm năng sáng tạo của mình.

    Dạy học tích hợp và tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học. Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong họ, kết quả học tập sẽ được nhân lên, giúp họ dễ dàng thích ứng với cuộc sống của xã hội phát triển. Vì vậy, hiện nay, người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau, tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh.

    Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế. Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học.

    Trong phạm vi của đề tài này tôi xin mạnh dạn đề cập tới một số biện pháp dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy và thực hành sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học phần Nitơ và Photpho lớp 11 THPT. Hi vọng rằng từ đây các quý thầy (cô) giáo có thể tham khảo để  thay đổi cách thức truyền tải kiến thức tới các em học sinh nhằm hình thành năng lực tư duy và hoạt động thực hành sáng tạo để phát huy tính tích cực, chủ động, thực hành sáng tạo và linh hoạt của các em.

    2.1. Tích hợp liên môn cho học sinh phát hiện và giải quyết các vấn đề thực tiễn trong khi nghiên cứu bài mới khi không sử dụng thí nghiệm hóa học.

    Mở đầu, giáo viên có thể thuyết trình nêu vấn đề, giới thiệu hoặc cho học sinh xem phim về thí nghiệm hóa học hay phim về hiện tượng thức tế, về một vấn đề nào đó để dẫn dắt học sinh vào các tình huống có vấn đề. Các em sẽ nhận được vấn đề mà mình hoặc nhóm học tập của mình phải giải quyết. Sau đó giáo viên để thời gian cho các nhóm thảo luận thực nghiệm. Đối với những bài không sử dụng thí nghiệm giáo viên cần hướng dẫn, rèn luyện cho học sinh biết phân tích, so sánh, đối chiếu để nêu bật được mối liên hệ bản chất của các kiến thức để dẫn đến tình huống có vấn đề mà việc giải quyết vấn đề sẽ hình thành được những hiểu biết và kiến thức mới.

    Quy trình dạy học sinh nêu và giải quyết vấn đề đối với những bài học nghiên cứu về chất mà không sử dụng thí nghiệm hóa học.

     

    Bước 1: Đặt vấn đề

    Thông qua hệ thống kiến thức đã học, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích và so sánh về các mối quan hệ giữa cấu tạo với tính chất vật lý và tính chất hóa học, mối quan hệ giữa cấu tạo – tính chất – điều chế, tính chất hóa học – hiện tượng tự nhiên,… để phát hiện ra mâu thuẫn, lôi cuốn học sinh vào vấn đề nghiên cứu một cách tự giác.

    Bước 2: Phát biểu vấn đề

    Giáo viên hướng dẫn học sinh phát biểu các vấn đề cần giải quyết.

    Bước 3: Xác định phương hướng giải quyết – đề xuất giả thuyết

    Giáo viên đưa ra phương hướng giải quyết, nêu giả thuyết hoặc đưa ra các câu hỏi để học sinh tự đề xuất giả thuyết.

    Bước 4+5: Lập kế hoạch giải và giải theo giả thuyết

    Giáo viên hướng dẫn học sinh nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp, so sánh, và trả lời các câu hỏi, phủ nhận điều này, xác định điều kia để đi đến thống nhất một vấn đề.

    Bước 6: Đánh giá kế hoạch giải quyết

    Kiểm tra hệ thống câu trả lời về nội dung và logic lập luận để xác định xem giả thuyết đúng hay sai.

    Bước 7: Kết luận về lời giải

    Giáo viên nêu lên các kiến thức cần lĩnh hội, kiến thức cần hệ thống và ghi nhớ.

    Bước 8: Kiểm tra lại kiến thức vừa tiếp thu ở các ví dụ khác

    Trong chương trình hóa học vô cơ lớp 11 THPT có nhiều bài học không thể nêu vấn đề thông qua việc tiến hành các thí nghiệm thực hành được do nhiều nguyên nhân khác nhau. Chẳng hạn như có thể tạo ra các hợp chất không có lợi cho cơ thể con người và môi trường như NH3, N2O; NO2, NO, CO2, CO,…nhiều phản ứng không xảy ra được ở nhiệt độ thường mà yêu cầu nhiệt độ rất cao, điều kiện khắc nghiệt, thời gian lâu mới xảy ra phản ứng… Vì thế có thể sử dụng những hiện tượng xảy ra trong tự nhiên để nêu vấn đề cho học sinh, giúp các em giải thích được các hiện tượng thực tế, trong các câu ca dao, tục ngữ, tránh mê tín dị đoan (hiện tượng ma chơi, mưa axit,…).

    VÍ DỤ 1: Trong tục ngữ Việt Nam có câu

    “Lúa chiêm lấp ló đầu bờ

    Nghe thấy tiếng sấm phất cờ mà lên”

    Câu này mang ý nghĩa về hóa học như thế nào?

    Giáo viên có thể đặt câu hỏi này khi dạy bài “ Nitơ” hoặc khi giải thích phần chu trình của Nitơ trong tự nhiên ở bài giảng “axit HNO3”  hoặc trong bài “ Phân bón hóa học” tạo tình huống có vấn đề cho học sinh và hướng dẫn các em cách giải quyết.

    Bước 1: Đặt vấn đề

    Giáo viên đặt vấn đề: tại sao vụ chiêm khi lúa đang trổ đòng mà có sấm chớp, kèm theo mưa rào sẽ rất tốt và cho năng xuất mùa màng cao?

    Bước 2: Xác định phương hướng giải quyết

    – Trong không khí có những chất khí nào? Các chất khí này có phản ứng được với nhau không?

    – Tại sao có sấm chớp, kèm mưa rào thì năng suất lúa lại cao?

    – Ta đã biết lúa tốt nhờ có các chất dinh dưỡng, vậy có gì chứng tỏ sấm chớp tạo ra chất dinh dưỡng?

    Bước 3: Lập kế hoạch giải quyết vấn đề

    – Học sinh: trong không khí khoảng 80% là khí N2 và khoảng 20% khí O2. Trong điều kiện thường thì các chất này không phản ứng với nhau.Trong bài tính chất hóa học của N2 thì N2 chỉ phản ứng với O2 nếu trong điều kiện khoảng 30000C hoặc tia lửa điện. Trong cơn giông gió, sấm sét đã tạo ra năng lượng cho phản ứng giữa Nitơ và oxi tạo khí NO:     N2 + O2 → 2NO

    – Trong không khí có sẵn oxi nên khí NO không màu sinh ra hoàn toàn có thể phản ứng ngay với oxi trong không khí tạo nitơ đioxit (NO2), sau đó NO2 hóa hợp với oxi và nước tạo ra axit HNO3.

    2NO + O2 → 2NO2

    4NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3

    HNO3 → H+ + NO3

    – Nhờ có sấm chớp ở các cơn mưa giông mà mỗi năm trung bình mỗi mẫu đất được cung cấp 6 – 7 kg Nitơ. Ion NO3 tạo ra chính là phân đạm cung cấp dưỡng chất cho cây.

    ớc 4 : Đánh giá việc thực hiện kế hoạch giải:

    Việc thực hiện kế hoạch giải dựa trên tính chất hóa học của N2, NO, NO2 và dựa vào thuyết điện ly để áp dụng cho HNO3  là đúng đắn và logic.

    ớc 5: Mở rộng hướng phát triển vấn đề

    Trong thực tế, người ta đã điều chế đạm Ure [(NH2)2CO] từ CO2 và NH3 ở nhiệt độ và áp suất cao để chủ động bón cho cây trồng theo phương trình:

    2NH3 + CO2 → (NH2)2CO + H2O

    (NH2)2CO + 2H2O → (NH4)2CO3.

    (NH4)2CO3 → 2NH4+ + CO32-

    Như vậy khi bón đạm Ure cho cây thì (NH2)2CO bị hòa tan trong nước tạo ra ion NH4+ và ion CO32-. Cây trồng sẽ hấp thụ được ion NH4+ để sinh trưởng và phát triển còn gốc axit yếu CO32- sẽ không làm thay đổi môi trường của đất và nước. Do đó đạm Ure hay được sử dụng phổ biến và rộng rãi nhất. Người ta thường bón đạm Ure vào lúc buổi chiều tối mặt trời vừa lặn và thường bón cùng với phân lân và phân hữu cơ để tạo ra hiệu quả cao nhất,  tránh cho đất không bị rửa trôi và bạc màu. Với nước ta thì gần 70% dân số làm nông nghiệp nên vai trò và tầm ảnh hưởng của ngành công nghiệp sản xuất phân bón với nông nghiệp là vô cùng to lớn bởi nó sẽ quyết định trực tiếp đến năng xuất của cây trồng. Trong nền nông nghiệp hiện đại ngày nay cần phải đặc biệt quan tâm tới câu nói “ nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Thực tế thì nhu cầu sử dụng phân bón là rất lớn mà cung không đủ cầu nên nước ta thường phải nhập khẩu phân bón từ  Indonesia, Malaysia, Thailand, Trung quốc …. Từ đây giáo viên có thể gợi mở cho học sinh hiểu rõ hơn vai trò của nước, phân bón, giống cây trồng và các hóa chất sử dụng để bảo vệ và chăm sóc cho cây trồng trong ngành nông nghiệp. Các em sẽ nhận thức được trách nhiệm cũng như có ý chí vươn lên, đóng góp công sức để nghiên cứu, phát triển khoa học kỹ thuật phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa của nước nhà.

    VÍ DỤ 2:  Khi dạy phần “Luyện tập về Nitơ và hợp chất của Nitơ” hoặc bài “phân bón hóa học”  để tiết dạy thêm phần thực tế, thực hành sáng tạo và đặc biệt tạo sự hứng thú, sôi động cùng với việc tăng cường tính chất liên môn. Giáo viên có thể cho học sinh đọc “ Chuyện tình cô gái Nitơ”, sau đó yêu cầu từng nhóm giải thích và viết các phương trình phảhanhfn thực nghiệm đã xảy ra:

    Chuyện tình cô gái Nitơ
    Em là cô gái Nitơ
    Tên thật Azốt anh ngờ làm chi?
    Không mùi cũng chặng vị gì
    Sự cháy, sự sống chẳng duy trì trong em
    Cho dù không giống Halogen
    Mà ai cũng bảo sao hiền thế em?
    Nhà em ở chu kì hai
    Có năm điện tử  ngoài cùng bao che
    Mùa đông cũng như mùa hè
    Nhớ ô số bảy, nhớ về thăm em.
    Bình thường em ít người quen
    Người ta cứ bảo em hiền thế cơ?
    Cứ như dòng họ khí trơ
    Ai mà ngỏ ý làm ngơ sao đành.
    Tuổi em mười bốn xuân xanh
    Nghĩ chi tới chuyện ái ân làm gì?
    Thế rồi ngày tháng qua đi,
    Có anh bạn trẻ Oxi gần nhà
    Bình thường anh chẳng lân la
    Những khi giông tố đến nhà tìm em
    Dần lâu rồi cũng sinh quen,
    Nitơ Oxit sinh liền ra ngay.
    Không màu là chất khí này,
    Bị oxi hoá liền ngay tức thì.
    Thêm một nguyên tử oxi,
    Thêm màu nâu đỏ, chất nào đậm hơn?
    Bơ vơ cuộc sống cô đơn,
    Thuỷ Tề thấy vậy rước ngay về nhà.
    Gọi ngay hoàng tử nước ra
    Ghép luôn chồng vợ thật là ác thay.
    Hờn căm, khói bốc dâng đầy,
    Nên tim em chịu chua cay trăm bề.
    Những khi gió rét, đêm về,
    Oxi chẳng được gần kề bên em.
    Vì chung dòng họ Á Kim,
    Cho nên cô bác hai bên bực mình.
    Oxi từ đó buồn tình,
    Bỏ em cô độc, một mình bơ vơ.
    Đầu xóm có anh Hidrô,
    Một hôm nắng đẹp viết thư tỏ tình.
    Phòng riêng lạnh lẽo một mình,
    Nhìn gương chỉ thấy bóng mình trong gương.
    Hidrô tỏ ý muốn thương,
    Làm sao nỡ để đôi đường cách xa?
    Sớm đào tối mận lân la,
    Hidrô thường đến chơi nhà em luôn.
    Thấy em vẫn tỏ ý buồn,
    Rủ luôn anh Sắt cùng trường sang chơi.
    Anh Sắt miệng lưỡi nhất đời,
    Đến chơi hôm ấy thì trời nóng ran.
    Lựa lời khuyên nhủ hỏi han,
    Bảo em nên sánh cùng chàng Hidrô.
    Chuyện tình hò hẹn mấy khi,
    Để người nhòm ngó làm chi cho phiền.
    Từ đây chồng thảo vợ hiền,
    Cùng em ra đồng để lúa tốt xanh.
    Đừng quên em nhé các anh,
    Amoniac chính danh chất này.
    Đành rằng em có mùi khai,
    Làm phân bón ruộng chẳng ai phiền lòng.

    Sau khi cho từng nhóm trình bầy thì giáo viên sẽ cho các em tự đánh giá nhau rồi củng cố và khắc sâu cho các em nắm vững hơn kiến thức thực tiễn trong đời sống hằng ngày. Tại sao người ta có thể dùng nước tiểu để tưới cho cây và nên tưới phân vào thời điểm nào là tốt nhất?

    VÍ DỤ 3: Khi dạy phần tính chất và ứng dụng của muối amoni trong bài Amoniac và muối amoni”, giáo viên có thể tạo tình huống có vấn đề liên quan đến thực tế và dạy học sinh quy trình giải quyết vấn đề: Tại sao trên thực tế người ta dùng muối amoni clorua để tẩy sạch bề mặt của kim loại trước khi hàn?

    Bước 1: Nêu vấn đề

    GV đặt vấn đề: Tại sao trên thực tế người ta dùng muối amoni clorua để tẩy sạch bề mặt của kim loại trước khi hàn?

    Bước 2: Xác định phương hướng giải quyết

    GV có thể hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề bằng hệ thống câu hỏi:

    * Tại sao phải tẩy sạch bề mặt kim loại trước khi hàn?

    * Khi ở nhiệt độ cao, muối NH4Cl bị phân hủy thành các chất gì?

    * Các chất thu được phản ứng như thế nào với oxit kim loại?

    Bước 3: Lập kế hoạch giải quyết vấn đề

    HS giải quyết vấn đề dựa trên những gợi ý trên:

    * Vì bề mặt kim loại luôn luôn có một lớp gỉ là các oxit, các muối bazơ của kim loại, bởi nó bị oxi hóa khi để trong không khí. Khi hàn kim loại ta phải loại bỏ lớp gỉ này để cho mối hàn được chắc và bền hơn.

    * Khi ở nhiệt độ cao thì muối NH4Cl bị phân hủy thành NH3 và HCl

    NH4Cl → NH3 (k) + HCl (k)

    * HCl tác dụng được với các oxit và các muối của kim loại, NH3 có tính khử mạnh có thể khử được oxit kim loại thành kim loại.

    Bước 4: Đánh giá việc thực hiện kế hoạch giải

    Việc thực hiện kế hoạch giải dựa trên tính chất hóa học của muối NH4Cl, NH3 và  HCl là đúng đắn, hợp logic.

    Bước 5: Mở rộng hướng phát triển vấn đề

    Trên thực tế người ta còn có những cách nào để tẩy gỉ trên bề mặt kim loại nữa? Liệu có thể dùng dung dịch nào để thay thế, giải thích? Các em hãy trao đổi tìm hiểu, giải thích các cách làm đó để thảo luận trong tiết học sau. Như vậy, người giáo viên có thể sử dụng các bài tập thực nghiệm khi nghiên cứu tài liệu mới để hình thành một số khái niệm, giải quyết một số tình huống có vấn đề, để củng cố, khắc sâu kiến thức, tạo niềm tin cho học sinh vào những gì đã được học.

    VÍ DỤ 4: Khi dạy về bài Photpho (Hóa học  lớp 11 THPT), giáo viên có thể liên hệ thực tế khi mở bài như sau :

    +  GV: Trong “Văn tế thập loại chúng sinh”, đại thi hào Nguyễn Du đã viết:

    “Lập lòe ngọn lửa ma chơi

    Tiếng oan văng vẳng tối trời còn thương”

    Thế “ma chơi” là cái gì vậy ? Các nhà văn tưởng tượng ra chăng ? Không phải, “ma chơi” quả là có thật. Nếu các em có dịp đi qua các nghĩa trang vào ban đêm thì các em sẽ thấy tại một số ngôi mộ tỏa ra những ngọn lửa màu xanh lãng đãng lập lòe mà dân gian thường gọi là “ma chơi”. Bài học ngày hôm nay sẽ giúp các em hiểu được hiện tượng này. Đó là bài Photpho.

    + Sau khi học xong bài Photpho giáo viên sẽ giúp học sinh hiểu được hiện tượng trên là do: Trong cơ thể (xương động vật) có chứa một hàm lượng photpho, khi chết phân hủy tạo một phần thành khí PH3 (photphin), khi có lẫn một chút khí P2H4 (điphotphin). Khí PH3 tự bốc cháy ngay trong điều kiện thường tạo thành khối cầu khí (lửa “ma chơi”) bay trong không khí. Bất kể ngày hay đêm đều có PH3 bay ra ở các nghĩa trang, chỉ có điều là ban ngày ánh sáng mặt trời quá mạnh nên ta không thấy được ma chơi.

    2PH3 + 4O2 → P2O5 + 3H2O

    Điều trùng lặp ngẫu nhiên là : Người ta thường gặp “ma chơi” ở các nghĩa địa vào ban đêm càng tăng thêm tính thần bí và sự mê tính dị đoan.

    2.2 . Giáo viên hướng dẫn và rèn luyện cho học sinh phát hiện, giải quyết các vấn đề thực nghiệm trong các bài học có sử dụng thí nghiệm hóa học.

            Với đặc thù của môn Hóa học là môn khoa học thực nghiệm, có ứng dụng rất phổ biến trong đời sống và thực tiễn nên việc giảng dạy môn này nhất thiết phải gắn liền với các thí nghiệm thực hành trong một số bài học cụ thể. Thông qua các ví dụ về sử dụng thí nghiệm để giải quyết các tình huống có vấn đề sẽ giúp cho học sinh học tập chủ động, tích cực, hiểu rõ hơn bản chất lí thuyết và thực nghiệm để từ đó hình thành năng lực hành động, giải quyết sáng tạo thực tế trong mọi tình huống mà các em gặp trong đời sống thường ngày.

    VÍ DỤ 1: Vấn đề cho dung dịch amoniac tác dụng với muối

    GV nêu vấn đề: Tại sao khi cho dung dịch muối nhôm tác dụng với dung dịch amoniac thì thấy sản phẩm tạo thành có xuất hiện kết tủa? còn khi cho dung dịch muối đồng tác dụng với dung dịch amoniac có tạo thành kết tủa hay không? Nếu không thì sản phẩm tạo thành sẽ như thế nào?

    Bước 1: Đặt vấn đề để cho HS hiểu rõ bản chất.

    – GV làm 2 thí nghiệm biểu diễn: Ống nghiệm 1 đựng dung dịch nhôm clorua

    (AlCl3). Ống nghiệm 2 đựng dung dịch đồng sunfat (CuSO4), và lọ đựng dung dịch amoniac NH3.

    GV lần lượt nhỏ từ từ dung dịch NH3 vào 2 ống nghiệm trên và yêu cầu học sinh quan sát 2 ống nghiệm và cho biết hiện tượng gì xảy ra? Sản phẩm như thế nào? Có màu gì? GV tiếp tục nhỏ NH3 vào 2 ống nghiệm trên thì thấy sản phẩm ở ống 1 và ống 2 thay đổi so với sản phẩm ban đầu hay không?

    HS: phát hiện khi nhỏ từ từ dung dịch NH3 vào 2 ống nghiệm thì: ống nghiệm 1 có xuất hiện kết tủa keo trắng, ống nghiệm 2 xuất hiện kết tủa màu xanh lam. Khi tiếp tục nhỏ dung dịch NH3 đến dư vào 2 ống nghiệm trên thì: ống nghiệm 1 vẫn còn kết tủa keo trắng, ống nghiệm 2 kết tủa tan tạo ra dung dịch màu xanh lam thẫm. HS ngạc nhiên và thắc mắc tại sao có hiện tượng khác nhau đó?

    Bước 2: Phát hiện vấn đề

    GV nêu câu hỏi:

    – Khi tiếp tục nhỏ dung dịch NH3 vào 2 ống nghiệm trên thì xảy ra hiện tượng khác như thế nào so với lúc đầu nhỏ từ từ dung dịch NH3?

    – Nếu khác nhau thì chất tạo thành là gì?

    – Ngoài những tính chất đã biết thì NH3 còn có thêm tính chất nào nữa?

    Bước 3: Xác định phương hướng giải quyết – nêu giả thuyết

    – GV yêu cầu HS so sánh 2 ống nghiệm lúc đầu khi cho từ từ dung dịch NH3 vào.

    – Để giải quyết câu hỏi NH3 còn có thêm tính chất nào nữa không thì GV cho HS lập luận theo các hướng sau:

    + Màu sắc và hiện tượng giữa 2 ống nghiệm thay đổi như thế nào khi tiếp tục cho dung dịch NH3 vào?

    + Sản phẩm lúc sau có dạng dung dịch hay kết tủa

    + HS viết phương trình phản ứng. Xác định vai trò của NH3 trong phản ứng?

    Bước 4: Xác định giả thuyết đúng

    – Khi nhỏ từ từ dung dịch NH3 vào 2 ống nghiệm trên thì thấy ở cả 2 ống nghiệm đều xuất hiện kết tủa. Ống nghiệm 1 xuất hiện kết tủa keo trắng, đó là Al(OH)3. Ống nghiệm 2 xuất hiện kết tủa xanh lam, đó là Cu(OH)2.

    – Khi ta tiếp tục nhỏ dung dịch NH3 vào thì ống nghiệm 1 thì kết tủa không bị tan đi, còn ống nghiệm 2 kết tủa bị tan ra tạo thành dung dịch màu xanh lam thẫm có dạng phức. Sau đó GV gợi ý cho HS biết dạng phức tạo thành là [Cu(NH3)4]2+.

    – HS viết phương trình phản ứng:

    AlCl3 + 3NH3 + 3H2O → Al(OH)3↓ + 3NH4Cl

    CuSO4 + 2NH3 + 2H2O → Cu(OH)2↓ + (NH4)2SO4

    Cu(OH)2 + 4NH3 → [Cu(NH3)4]2+ + 2OH

    – HS: Vậy NH3 có khả năng tạo phức với một số các ion.

    Bước 5: Kết luận về lời giải

    Ngoài tính chất bazơ yếu ra thì NH3 còn có khả năng tạo phức. Nhưng dung dịch NH3 chỉ có khả năng hòa tan một số hidroxit của kim loại Zn, Cu và muối Ag+ mà thôi. Sự tạo thành các ion phức [Cu(NH3)4]2+ , [Zn(NH3)4]2+, [Ag(NH3)2]+ xảy ra do phân tử amoniac kết hợp với các ion kim loại Cu2+, Zn2+, Ag+ bằng các liên kết cho nhận giữa các cặp electron chưa tham gia liên kết của Nitơ với obitan trống của kim loại.

    VÍ DỤ 2: Giải quyết vấn đề tính oxi hóa mạnh của axit nitric HNO3

    Trước hết GV nêu vấn đề lớn cho cả bài học: Axit nitric loãng có tác dụng với

    kim loại đứng sau hidro trong dãy điện hóa của kim loại không? Nếu xảy ra thì cần điều kiện gì? Axit nitric đặc thì có phản ứng được với kim loại đứng sau hidro không? Nếu có thì điều kiện phản ứng và sản phẩm tạo thành có gì khác so với phản ứng của axit nitric loãng?

    Bước 1: Đặt vấn đề để HS hiểu rõ nội dung.

    – GV làm thí nghiệm biểu diễn: Ống nghiệm 1 đựng dung dịch HNO3 loãng

    Ống nghiệm 2 đựng dung dịch HNO3 đặc

    Và ống nghiệm 3 đựng đồng kim loại, GV nêu câu hỏi: Hãy quan sát lá đồng khi chưa cho vào axit thì có màu gì? Màu sắc của hai dung dịch axit?

    – HS trả lời: lá đồng màu đỏ, dung dịch axit không màu.

    – GV lần lượt cho hai lá đồng vào trong hai ống nghiệm, yêu cầu HS quan sát hiện tượng trong hai ống nghiệm, màu sắc của lá đồng và dung dịch có thay đổi gì không?

    – HS: quan sát thấy ở ống nghiệm 1 thì không thấy hiện tượng gì, nhưng ở ống nghiệm 2 thì lá đồng bị xám đen dần, có khí thoát ra màu nâu đỏ, dung dịch chuyển sang màu xanh.

    – GV: đun nóng ống nghiệm 1, yêu cầu HS quan sát màu của lá đồng có thay đổi như thế nào? Dung dịch axit có đổi màu gì không?

    – HS: quan sát thấy màu dung dịch cũng chuyển dần sang màu xanh giống ống nghiệm 2, lá đồng cũng bị xám đen dần, nhưng khí thoát ra lại không màu, bị hóa nâu ngoài không khí.

    Bước 2: Nêu vấn đề: GV nêu các câu hỏi:

    – Ở nhiệt độ thường dung dịch HNO3 loãng có tác dụng với Cu không? ở điều kiện nào thì phản ứng xảy ra? Còn đối với dung dịch HNO3 đặc thì sao?

    – Khí tạo thành có phải là khí H2 không? Nếu không phải thì là khí nào?

    – Ngoài tính chất đã biết thì HNO3 còn có thêm tính chất nào khác?

    Bước 3: Xác định phương hướng giải –  nêu giả thuyết

    – GV yêu cầu HS so sánh 2 ống nghiệm khi tác dụng với Cu khi không đun nóng và đun nóng?

    – Hãy xác định khí sinh ra là khí gì mà có màu nâu đỏ khi cho Cu tác dụng với dung dịch HNO3 đặc, và khí nào không màu lại hóa nâu ngoài không khí khi cho Cu tác dụng với dung dịch HNO3 loãng?

    – Dung dịch trong hai ống nghiệm đều có màu gì? Đó có phải màu đặc trưng của dung dịch muối đồng không?

    – Hãy viết phương trình phản ứng? nhận xét bản chất của phản ứng? Chất nào là chất khử? Chất nào là chất oxi hóa? Từ đó, kết luận gì thêm về tính chất của dung dịch HNO3?

    Bước 4: Xác định một giả thuyết đúng

    – Dung dịch axit HNO3 loãng không tác dụng được với Cu, chỉ tác dụng khi đun nóng còn dung dịch HNO3 đặc có thể tác dụng với Cu kể cả khi không đun nóng.

    – Chất khí sinh ra ở ống nghiệm 1 là khí không màu, bị hóa nâu trong không khí không phải là khí H2 mà là khí NO. Còn khí sinh ra ở ống nghiệm 2 có màu nâu đỏ là khí NO2.

    – Dung dịch tạo thành màu xanh là dung dịch đồng nitrat Cu(NO3)2.

    – HS viết phương trình phản ứng:

    3Cu + 8HNO3 loãng, nóng → 3Cu(NO3)2 + 2NO↑ + 4H2O

    Cu + 4HNO3 đặc → Cu(NO3)2 + 2NO2↑ + 2H2O

    Trong cả 2 phương trình phản ứng thì Cu đóng vai trò là chất khử, HNO3 đóng vai trò là chất oxi hóa.

    GV: dung dịch HNO3 là một trong những axit có tính oxi hóa mạnh. Đây là tính chất mới, khác với những tính chất của axit mà chúng ta đã biết. Phản ứng giữa kim loại với axit nitric là phản ứng oxi hóa – khử.

    Bước 5: Kết luận về lời giải

    GV chỉnh lý, bổ sung và đưa ra những kiến thức cần lĩnh hội:

    – Ngoài tính axit mạnh thì HNO3 còn có tính oxi hóa mạnh, nó có thể oxi hóa hầu hết các kim loại (trừ Au, Pt), khi đó kim loại sẽ bị oxi hóa đến mức hóa trị cao nhất tạo thành muối nitrat.

    – Tùy nồng độ axit và bản chất của chất khử mà axit HNO3 có thể bị khử đến các sản phẩm khác nhau của nitơ. Chẳng hạn: tác dụng với các kim loại có tính khử yếu như Cu, Ag,… axit HNO3 đặc bị khử đến NO2, còn axit HNO3 loãng thì bị khử đến NO. Còn đối với những kim loại mạnh hơn như Mg, Al, Zn,.. axit HNO3 loãng có thể bị khử tới N2O (khí gây cười), N2 (khí không duy trì sự cháy, nhẹ hơn không khí), NH4NO3 (không sinh ra khí, nhưng khi cho kiềm vào dung dịch sản phẩm thì có khí mùi khai thoát ra).

    – Sản phẩm khí của nitơ thường rất độc nên phải dùng miếng bông tẩm xút để đậy lọ ống nghiệm.

    – Đặc biệt Fe, Al, Cr bị thụ động hóa trong dung dịch axit HNO3 đặc, nguội.

    Bước 6: Kiểm tra lại kiến thức cần tiếp thu và dạy cho HS vận dụng kiến thức.

    – Cho HS kiểm tra vấn đề đã tiếp thu bằng cách cho HS thực hiện các thí nghiệm: Cho axit HNO3 loãng, axit HNO3 đặc tác dụng với Zn, Mg, Al. Giải thích hiện tượng và viết phương trình phản ứng.

    – So sánh tính chất của axit HNO3 với axit H2SO4  đã học.

    VÍ DỤ 3: Giải quyết vấn đề về sự nhiệt phân của một số muối nitrat

    Bước 1: Đặt vấn đề

    Muối nitrat dễ bị nhiệt phân, nhưng có phải nhiệt phân muối nào cũng cho sản phẩm như nhau?

    – GV tiến hành 2 Thí nghiệm:

    Thí nghiệm 1: Nung nóng ống nghiệm 1 đựng muối rắn NaNO3

    Thí nghiệm 2: Nung nóng ông nghiệm 2 đựng muối rắn Cu(NO3)2

    Sau đó đặt lên miệng 2 ống nghiệm que đóm đỏ, tiếp tục cho một ít axit H2SO4 loãng vào 2 ống nghiệm. GV yêu cầu HS quan sát hiện tượng xảy ra ở 2 ống nghiệm.

    – HS: Cả 2 ống nghiệm đều có khí thoát ra. Ống nghiệm thứ 2 có kết tủa đen, có khí thoát ra màu nâu đỏ bay lên và que đóm đỏ bùng cháy. Khi cho một ít dung dịch axit H2SO4 loãng vào ống nghiệm 1 thì thấy có khí màu nâu đỏ thoát ra. Còn ở ống nghiệm thứ 2 thì ta thấy kết tủa đen tan ra và dung dịch có màu xanh.

    Bước 2: Phát biểu vấn đề

    – Khi đun nóng 2 ống nghiệm có đựng 2 muối trên và đặt que đóm đỏ trên miệng ống nghiệm thì thấy có hiện tượng gì?

    – Sản phẩm tạo thành có kết tủa không? Nếu không thì dung dịch có màu gì?

    – Khí thoát ra có màu gì?

    – Tại sao phải cho H2SO4 loãng vào để chứng tỏ thêm điều gì?

    Bước 3: Xác định phương hướng giải quyết –  nêu giả thuyết

    – GV yêu cầu HS so sánh xem sự nhiệt phân của 2 muối thì sản phẩm tạo thành có giống nhau không?

    – Chất khí bay ra làm que đóm đỏ bùng cháy, đó là khí gì? Có phải khí oxi không? Khí khác tạo thành có màu nâu đỏ đó là khí gì?

    – Kết tủa tạo thành ở thí nghiệm 2 là kết tủa nào? Màu gì?

    – Khi cho một ít dung dịch axit H2SO4 loãng vào 2 ống nghiệm thì:

    + Ống nghiệm 1: xuất hiện chất khí màu nâu đỏ? Đó là khí nào?

    + Ống nghiệm 2: dung dịch có màu xanh là dung dịch gì? Có phải màu xanh đặc trưng của dung dịch muối đồng không?

    Bước 4: Xác định một giả thuyết đúng

    – HS: Muối nitrat khi nhiệt phân đều tạo ra 1 khí làm que đóm đỏ bùng cháy, khí đó chính là khí oxi.

    – HS: Khí sinh ra có màu nâu đỏ chính là khí NO2, kết tủa đen trong ống nghiệm thứ 2 là CuO, CuO tan trong dung dịch H2SO4 loãng tạo dung dịch muối có màu xanh là muối đồng sunfat CuSO4

    CuO + H2SO4 → CuSO4 + H2O

    – HS: Sau khi nung nóng ở thí nghiệm 1 ta cũng cho thêm một ít axit H2SO4 thì cũng thấy xuất hiện khí màu nâu đỏ NO2 xuất hiện trên miệng ống nghiệm.

    6NaNO2 + 3H2SO4 → 3Na2SO4 + 6HNO2

    6HNO2 → 2HNO3 + 4NO + 2H2O

    2NO + O2 → 2NO2

    – HS viết phương trình phản ứng đầy đủ:

    2NaNO3 → 2NaNO2 + O2

    2Cu(NO3)2 → 2CuO + 4NO2 + O2

    Đây là tính chất nhiệt phân của muối nitrat

    Bước 5: Kết luận về lời giải

    GV nêu ra lý thuyết cần lĩnh hội: Muối nitrat dễ bị nhiệt phân, sản phẩm của phản ứng tùy thuộc vào bản chất của cation tạo muối đó:

    – Muối nitrat của kim loại hoạt động mạnh (đứng trước Mg) phân hủy tạo thành muối nitrit và khí oxi.

    – Muối nitrat của kim loại hoạt động (Mg, Al,…, Cu) phân hủy tạo oxit kim loại, nitơ đi oxit, khí oxi.

    – Muối nitrat của kim loại kém hoạt động (Hg, Ag,…) phân hủy tạo thành kim loại, nitơ đioxit và khí oxi.

    Bước 6: Kiểm tra kiến thức vừa tiếp thu và dạy HS vận dụng kiến thức

    GV cho HS tiến hành thí nghiệm với một số muối khác với cùng điều kiện phản ứng với thí nghiệm trên, ví dụ như KNO3, Mg(NO3)2, AgNO3,… HS quan sát hiện tượng và viết phương trình phản ứng.

    VÍ DỤ 4: Nhận biết ion nitrat

    Bước 1: Đặt vấn đề

    Như chúng ta đã biết, axit HNO3 có tính oxi hóa mạnh do nguyên tử nitơ có độ âm điện lớn và có số oxi hóa cao nhất (+5). Vậy ion NO3 có tính oxi hóa mạnh hay không?

    Bước 2: Nêu tình huống có vấn đề

    + Cho Cu tác dụng với dung dịch HCl → không xảy ra (do Cu là kim loại đứng sau H nên không khử được H+).

    + Cho Cu tác dụng với dung dịch NaNO3không xảy ra (do Cu là kim loại đứng sau Na nên không khử được Na+.

    + Cho Cu tác dụng với hỗn hợp dung dịch HCl và dung dịch NaNO3có xảy ra phản ứng

    Bước 3: Hướng dẫn HS tự giải quyết vấn đề

    GV yêu cầu HS viết dạng phương trình phân tử và phương trình ion thu gọn của phản ứng Cu tác dụng với dung dịch HNO3.

    3Cu + 8HNO3 → 3Cu(NO3)2 + 2NO + 4H2O

    3Cu + 8H+ + 2NO3 → 3Cu2+ + 2NO + 4H2O

    GV yêu cầu HS nêu các thành phần của phản ứng:

    Cu + NaNO3 + HCl = Cu + Na+ + NO3 + H+ + Cl.

    HS nhận thấy cũng có Cu, NO3, H+ nên có xảy ra phương trình:

    3Cu + 2NaNO3 + 8HCl → 3CuCl2 + 2NaCl + 2NO + 4H2O

    Bước 4: Kết luận

    Trong môi trường axit thì ion NO3 có khả năng oxi hóa mạnh như HNO3

    2.3. Giáo viên lựa chọn và xây dựng hệ thống bài tập có nhiều cách giải và có cách giải ngắn gọn, độc đáo nhất trong các tiết luyện tập, ôn tập cuối chương và trong kiểm tra đánh giá.

    Việc sử dụng bài tập Hóa học nhiều cách giải trong các tiết học không những giúp học sinh củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng giải bài tập Hóa học mà còn góp phần rèn luyện một số kỹ năng mềm cho học sinh như kỹ năng tư duy độc lập, kỹ năng hoạt động nhóm, kỹ năng trình bày, thuyết trình một vấn đề,… Qua thực tế giảng dạy tôi thấy rằng các tiết học sử dụng bài tập có nhiều cách giải giúp cho lớp học có không khí học tập sôi nổi, tập trung hơn và chất lượng bài dạy cao hơn. Có thể sử dụng loại bài tập này trong việc kiểm tra miệng và kiểm tra viết một tiết. Khi kiểm tra miệng, giáo viên yêu cầu học sinh giải một bài tập nào đó, sau khi hoàn thành giáo viên có thể đặt thêm câu hỏi: Bài này còn có cách giải nào khác không? Qua đó giúp giáo viên đánh giá được mức độ nắm vững kiến thức và khả năng tư duy của học sinh, tránh tình trạng đánh giá sai lệch do học sinh học thuộc một bài giải rồi lên bảng chép lại một cách máy móc.

    Đối với bài kiểm tra viết một tiết, giáo viên có thể yêu cầu học sinh trình bày việc giải bài toán ít nhất 2 cách khác nhau. Đối với học sinh xuất sắc, khi làm bài kiểm tra thường làm bài xong sớm hơn nên sử dụng yêu cầu này bắt buộc học sinh phải tiếp tục tư duy và làm bài, qua đó hạn chế được sự không nghiêm túc trong kiểm tra như chỉ bài cho bạn bên cạnh. Điều này giúp giáo viên đánh giá kết quả học tập của mỗi học sinh chính xác và toàn diện hơn.

    Ví dụ minh họa: Kiểm tra 15 phút phần axit HNO3 ( Hóa 11 THPT)

    Đề bài:

    Cho 3,90 gam hỗn hợp A gồm Mg và Al tác dụng vừa đủ với dung dịch HNO3

    loãng  thì thu được dung dịch X và 0,896 lít khí N2 (là sản phẩm khử duy nhất, đo

    ở  đktc).

    1. Viết phương trình phản ứng xảy ra? (2,0 điểm)
    2. Tính % khối lượng của Mg và Al trong A? (3,0 điểm)
    3. Cho dung dịch X tác dụng với 400 ml dung dịch KOH 1,05M, tính khối lượng kết tủa thu được sau phản ứng? (3,0 điểm)
    4. Giải bài tập trên theo các cách khác nhau? (2,0 điểm)

    Đáp án:

     Các ý:

     

     

    a.     Viết phương trình phản ứng

    b.     Đặt ẩn, lập hệ phương trình và giải

    Tính được %Mg và %Al

    c.      Khối lượng kết tủa

    – Cách 1: giải theo phương trình phản ứng

    – Cách 2: cách giải nhanh áp dụng định luật bảo toàn electron.

    – Cách 3: áp dụng phương pháp quy đổi.

    d.      Cách khác

     

    2,0 đ

     

    3,0 đ

    3,0 đ

     

     

     

     

    2,0 đ

    * Nhận xét: Với bài toán nhiều cách giải như trên ta có thể đánh giá được trình độ của học sinh. Học sinh trung bình có thể giải được cách 1, học sinh khá có thể giải được cách 2 hoặc cách khác, học sinh giỏi có thể giải được nhiều cách, ít nhất là 3 cách. Vì vậy kết quả điểm bài kiểm tra sẽ đánh giá đúng năng lực của học sinh, có độ tin cậy cao.

    Trong các tiết tự chọn, giáo viên có thể tổ chức dạy học bằng cách sử dụng bài tập có nhiều cách giải dưới dạng tổ chức một trò chơi hoặc một cuộc thi. Chẳng hạn, giáo viên có thể sử dụng hai hình thức. Hình thức thứ nhất là trò chơi “thách đố”: Giáo viên đưa ra một bài tập, lần lượt cho học sinh “thách đố” có thể giải được bài toán đó bao nhiêu cách, học sinh giải được nhiều cách nhất sẽ thắng cuộc và được giáo viên đánh giá bằng điểm số tối đa. Hoặc có thể cho mỗi học sinh chỉ đưa ra một cách giải mà cho là hay nhất, sau đó giáo viên tổ chức cho cả tập thể bình chọn ai là người đưa ra cách giải nhanh và hay nhất.

    Hình thức thứ hai là giáo viên chia lớp học thành 4 nhóm, giao nhiệm vụ cho từng nhóm là về nhà sưu tầm hoặc biên soạn bài tập có nhiều cách giải theo chủ đề kiến thức cho trước. Khi đến tiết học, lần lượt từng nhóm đưa ra bài tập và yêu cầu các nhóm còn lại giải. Giáo viên đánh giá, nhận xét về việc chuẩn bị bài tập của từng nhóm, về các cách giải khác nhau và có hình thức động viên khen thưởng phù hợp.

    Ở trường phổ thông hiện nay, trong chương trình học có tổ chức dạy học các chủ đề tự chọn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc tổ chức dạy học tự chọn của nhiều GV còn đơn giản và nhàm chán. Chẳng hạn như GV chỉ ra đề bài tập rồi yêu cầu học sinh giải hoặc giáo viên hướng dẫn giải. Việc làm này lặp đi lặp lại trong một tiết và qua nhiều tiết gây chán nản cho HS. Bởi vậy, việc tổ chức dạy học tự chọn kết hợp với trò chơi như trên sẽ giúp HS hứng thú, phấn khởi và qua đó hiệu qủa đạt được cao hơn. Việc lựa chọn và xây dựng hệ thống bài tập có nhiều cách giải về Nitơ – Photpho góp phần phát triển năng lực thực hành sáng tạo cho HS, đặc biệt là đối tượng học sinh giỏi. Sau đây tôi xin được giới thiệu một số ví dụ minh họa cụ thể.

    Bài tập 1: Hòa tan hết m gam hỗn hợp X gồm FeO, Fe2O3, Fe3O4 bằng dung dịch HNO3 đặc nóng dư thu được 4,48 lit khí NO2 ( đktc, sản phẩm khử duy nhất) và dung dịch X. Cô cạn dung dịch X được 145,2 gam muối khan. Tính m?

    Các cách giải:

    Cách 1: Giải theo phương trình phản ứng:

    Gọi x, y, z lần lượt là số mol của FeO, Fe3O4, Fe2O3 trong m gam hỗn hợp X

    Các phản ứng xảy ra :

    FeO + 4HNO3  → Fe(NO3)3 + NO2 + 2H2O       (1)

    Fe3O4 + 10HNO3 → 3Fe(NO3)3 + NO2 + 5H2O (2)

    Fe2O3 + 6HNO3 → 2Fe(NO3)3 + 3H2O               (3)

    Giả thiết cho số mol NO2 = 0,2 mol và số mol Fe(NO3)3 = 0,6 mol

    Theo phương trình (1) ; (2) ; (3) ta có :

    x + 3y + 2z = 0,6 => 10x + 30 y + 20 z = 6 (1)     và x + y = 0,2 (2)

    Lấy (1) – (2), ta được : 9x + 29 y + 20 z = 5,8

    => 72x + 232 y + 160 z = 46,4 g.

    Vậy m = 46,4 gam

    Cách 2: Áp dụng định luật bảo toàn mol electron và bảo toàn khối lượng đối với hỗn hợp X :

    Theo định luật bảo toàn khối lượng : mX = mFe + mO

    Mặt khác, ta có   nFe = 0,6 mol => mFe = 0,6 . 56 = 33,6 (g)

    => mX = mO + 33,6 (g) => mO = m – 33,6 (g)  => số mol O = (m- 33,6)/16 mol

    Áp dụng định luật bảo toàn mol e : số mol e nhường = số mol e nhận ta có

    Fe – 3e à Fe3+                                       O + 2e à O2-

    N+5 + 1e à N+4 (NO2)

    => 0,6 . 3 = (m- 33,6)/16.2 + 0,2.1

    => m = 46,4 gam

    Cách 3: Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng đối với toàn bộ quá trình và bảo toàn nguyên tố H

    Ta có  X + HNO3 → Fe(NO3)3 + NO2 + H2O

    Theo định luật bảo toàn khối lượng, ta có :

    =>

    Theo bảo toàn nguyên tố H, ta lại có :

     

    → mX = 145,2 + 0,2.46 + 18 – 126 = 46,6 gam

    Cách 4: Qui đổi hỗn hợp X thành hỗn hợp X’ : FeO và Fe2O3 hoặc Fe và Fe2O3 hoặc FeO và Fe3O; hoặc Fe và FeO hoặc Fe và Fe3O4.

    Ở đây ta qui đổi hỗn hợp X thành hỗn hợp X’ gồm FeO và Fe2O3.

    Gọi x, y lần lượt là số mol của FeO và Fe2O3 trong X’. Phản ứng xảy ra :

    FeO + 4 HNO3  → Fe(NO3)3 + NO2 + 2 H2O (1)

    x                            → x          →  x

    Fe2O3 + 6 HNO3 → 2 Fe(NO3)3 + 3 H2O (2)

    y                              → 2y

    Từ phương trình, ta có x + 2y = 0,6  và x = 0,2

    suy ra x = 0,2 mol và y = 0,2 mol.

    Vậy  m = 72 x + 160 y = 0,2.72 + 160.0,2 = 46,4 gam

    Cách 5: Sử dụng công thức kinh nghiệm :

     

    Sử dụng công thức kinh nghiệm, ta có :

    mX = (10mFe – 56ne)/7 = (10.0,6.56 – 56.0,2)/7 = 46,4 gam

    Cách 6: Giải bằng phương pháp trung bình :

    Gọi công thức chung của các oxit là : Fex Oy , ta có :

    Fex Oy + (2 + 2y)H+ + NO3 → xFe3+  + NO2 + (y + 1) H2O

    Áp dụng định luật bảo toàn điện tích 2 vế ta có :

    2 + 2y – 1 = 3x → 3x – 2y = 1 (1)

    Ta lại có : số mol Fe3+  = x. số mol NO2 → 0,6 = 0,2x → x = 3 (2)

    Từ (1) và (2) suy ra x = 3 và y = 4,   Vậy  mX = (56x + 16y). 0,2 = 46,4 gam

    Cách 7: Giải theo hóa trị trung bình của sắt :

    Gọi hóa trị trung bình của sắt trong cả hỗn hợp X là x.  Khi đó công thức của X là : Fe2Ox

    Áp dụng định luật bảo toàn mol- e cho phản ứng của X với HNO3, ta có:

    Fe+x → Fe+3 + (3 – x )e  và N+5 + 1e → N+4

    Ta lại có : số mol Fe+3 = 0,6 mol suy ra  0,6.(3 – x ) = 0,2.1 → x = 8/3

    Mặt khác, theo bảo toàn nguyên tố Fe, ta có:

    Số mol Fe2Ox = ½ .số mol Fe3+  = 0,3 mol

    Vậy  mX = 0,3. (56.2 + 16.8/3) = 46,4 gam

    Cách 8: Giải theo bảo toàn nguyên tố oxi

    Ta có số mol Fe(NO3)3 = 0,6 mol và số mol NO2 = 0,2 mol

    Suy ra số mol HNO3 phản ứng = 0,6.3 + 0,2 = 2 mol → số mol H2O = 1 mol

    Hỗn hợp X ( FeO,Fe2O3, Fe3O4) + HNO3  Fe(NO3)3 + NO2 + H2O

    Áp dụng định luật bảo toàn nguyên tố O, ta có:

    Số mol O trong X = số mol O trong Fe(NO3)3 + số mol O trong NO2 + số mol O trong H2O –  số mol O trong HNO3

    Suy ra : mX – mFe = 0,6.9.16 + 0,2.2.16 +1.16 – 2.3.16 = 12,8

    => mX  = 12,8 + 0,6.56 = 46,4 gam

     

    Hoặc xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

     

    Các thầy cô cần file word liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

     

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa