• SKKN Một số kinh nghiệm tuyển chọn và huấn luyện nhảy cao lưng qua xà cho các vận động viên đổi tuyển học sinh giỏi TDTT các trường THPT

    SKKN Một số kinh nghiệm tuyển chọn và huấn luyện nhảy cao lưng qua xà cho các vận động viên đổi tuyển học sinh giỏi TDTT các trường THPT

    ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Nhảy cao thuộc nhóm các môn nhảy, là một trong những nội dung cơ bản của môn
    Điền kinh. Sử dụng chủ yếu năng lực của bản thân thông qua một số hình thức vận
    động phù hợp với luật quy định trong thi đấu nhằm vượt qua mức xà ở độ cao khác
    nhau.
    Đây là môn thể thao có lịch sử lâu đời và được phát triển rộng rãi. Đặc biệt là môn
    thể thao được tổ chức học tập trong các nhà trường phổ thông, trong đó đối với cấp
    học trung học phổ thông (THPT) nhảy cao là nội dung bắt buộc trong chương trình
    học môn Thể Dục lớp 10, 11.
    Trong suốt quá trình hình thành và phát triển kỹ thuật qua xà trong nhảy cao đã 5 lần
    biến đổi. Ngày nay kỹ thuật nhảy cao lưng qua xà được coi là kỹ thuật hiện đại nhất
    và giúp cho vận động viên ( VĐV) đạt được thành tích cao nhất.
    Hải Hậu là một huyện ven biển phía nam của tỉnh Nam Định có truyền thống hiếu
    học, có phong trào văn hóa – văn nghệ – thể dục thể thao phát triển mạnh mẽ, đóng
    góp nhiều VĐV cho các đội tuyển quốc gia, tiêu biểu như VĐV Nguyễn Thị Mến –
    môn Điền Kinh; Đinh Quang Linh – môn Bóng Bàn đã từng dành được HCV
    Seagames, các VĐV này đều xuất thân từ phong trào thể dục thể thao học đường,
    được phát hiện và bồi dưỡng thông qua các kỳ Hội khỏe Phù Đổng (HKPĐ) huyện
    Hải Hậu, HKPĐ tỉnh Nam Định.
    Trong những năm qua đội tuyển Thể dục thể thao (TDTT) của các trường THPT
    huyện Hải Hậu khi tham gia các giải thể thao học sinh ngành Giáo dục và Đào tạo
    tỉnh Nam Định cũng như các kỳ HKPĐ tỉnh Nam Định đều giành được thành tích tốt,
    xếp ở tốp đầu các trường THPT trong toàn tỉnh. Thành tích đó có được là sự đóng
    góp của nhiều nội dung, trong đó môn nhảy cao luôn được coi là thế mạnh của các
    nhà trường.
    Để nâng cao hơn nữa thành tích của các VĐV nhảy cao khi tham gia các giải thi đấu
    thể thao học sinh do Sở Giáo dục và Đào tạo Nam Định, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ
    chức. Trong thời gian qua tôi đã nghiên cứu và áp dụng “Một số kinh nghiệm tuyển
    2
    chọn và huấn luyện nhảy cao lưng qua xà cho các VĐV đội tuyển học sinh giỏi TDTT
    các trường THPT huyện Hải Hậu”.
    Mục đích của sáng kiến này là góp phần làm cho phong trào tập luyện TDTT nói
    chung và nội dung nhảy cao trong học sinh trong các trường THPT trên địa bàn
    huyện Hải Hậu trở nên sôi nổi, thu hút được nhiều học sinh tích cực tham gia tập
    luyện, rèn luyện sức khỏe, tăng cường thể chất…Đặc biệt việc áp dụng sáng kiến này
    giúp cho bản thân và các đồng nghiệp tại các trường áp dụng sáng kiến nâng cao chất
    lượng tuyển chọn và huấn luyện các em học sinh trong đội tuyển nhảy cao của các
    nhà trường nói riêng, đội tuyển TDTT nói chung, hướng tới thành tích tốt tại các kỳ
    thi thể thao học sinh. Đồng thời có thể là nguồn tư liệu bổ ích để các đồng nghiệp
    khác tham khảo, áp dụng vào thực tế giảng dạy, huấn luyện, công tác bồi dưỡng
    thường xuyên, cùng nhau nâng cao trình độ chuyên môn.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1.Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
    Giải thể thao học sinh phổ thông là hoạt động diễn ra thường xuyên trong các năm
    học do Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức, ngoài ra cứ 4 năm 1 lần, tỉnh Nam Định lại
    tổ chức HKPĐ cấp tỉnh nhằm phát triển phong trào tập luyện TDTT học đường đảm
    bảo sự phát triển giáo dục một cách toàn diện, phát hiện các tài năng thể thao trong
    lứa tuổi học sinh, bồi dưỡng, tham gia thi đấu các giải thể thao.
    Trong các kỳ thi TDTT do Sở Giáo dục và Đào tạo Nam Định, UBND tỉnh Nam
    Định tổ chức nhảy cao là một nội dung thi đấu chính thức trong môn Điền Kinh thu
    hút được nhiều đơn vị, nhiều VĐV tham gia thi đấu. Tuy nhiên do kỹ thuật nhảy cao
    khó, trình độ kỹ thuật thực hiện động tác của giáo viên khi giảng dạy và huấn luyện
    nhảy cao còn hạn chế do hầu như toàn bộ các giáo viên giáo dục thể chất chưa được
    học về kỹ thuật nhảy cao lưng qua xà trên các trường đào tạo. Tài liệu tham khảo cho
    việc giảng dạy kỹ thuật nhảy cao lưng qua xà còn quá ít. Chưa có giáo viên trong các
    cấp học trên địa bàn tỉnh Nam Định nghiên cứu và áp dụng các biện pháp, bài tập ứng
    dụng trong việc giảng dạy, huấn luyện nội dung nhảy cao lưng qua xà.
    Từ những yếu tố trên hiệu quả của công tác giảng dạy và huấn luyện nhảy cao
    lưng qua xà không cao, thành tích của VĐV học sinh kém. Tại các giải thi đấu thể
    thao học sinh trong các năm học trước chỉ có một vài trường THPT trong tỉnh có học
    sinh tham gia thi đấu nhảy cao với kỹ thuật lưng qua xà như THPT Trần Hưng Đạo,
    3
    THPT Thịnh Long, THPT Nguyễn Huệ, THPT Nguyễn Khuyến, trong đó chủ yếu là
    các học sinh đang tập luyệntại trung tâm huấn luyện TDTT tỉnh Nam Định.
    2.Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    Sau khi sáng kiến “Một số kinh nghiệm tuyển chọn và huấn luyện nhảy cao lưng
    qua xà cho các VĐV đội tuyển học sinh giỏi TDTT các trường THPT huyện Hải
    Hậu” ra đời và đưa vào trải nghiệm thực tế trong công tác giảng dạy và huấn luyện đã
    tạo được làn sóng tích cực trong các nhà trường. Tại HKPĐ tỉnh Nam Định lần thứ X
    – Năm 2021 vừa qua, VĐV nhảy cao của các trường THPT trên địa bàn huyện Hải
    Hậu đã đều áp dụng kỹ thuật lưng qua xà khi tham gia thi đấu, thành tích nhảy cao
    được cải thiện rõ nét, mặc dù có nhiều VĐV học sinh lớp 10 mới tham gia tập luyện
    kỹ thuật này.
    Các em học sinh khi tham gia tập luyện rất hứng thú với kỹ thuật và các bài tập bổ
    trợ của kiểu nhảy lưng qua xà, kỹ năng, kỹ xảo thực hiện động tác của giáo viên thể
    chất và các em học sinh trong đội tuyển TDTTtrong các nhà trường phát triển mạnh
    mẽ, hình thành tâm thế chuyên nghiệp hơn trong giảng dạy, tập luyện và thi đấu.
    Đối với bản thân tác giả sáng kiến cảm thấy hứng thú, tự tin hơn trong các giờ
    giảng dạy, huấn luyện, hiệu quả công tác nâng cao một cách rõ rệt. Đồng thời thông
    qua sáng kiến của bản thân đã tác động nhiều đến tính sáng tạo trong công việc của
    các đồng nghiệp, Sáng kiến là nguồn tư liệu bổ ích cho các đồng nghiệp trong các
    trường THPT trên địa bàn huyện Hải Hậu và có thể áp dụng đạt hiệu quả cao đối với
    giáo viên giáo dục thể chất trong toàn tỉnh.
    4
    NỘI DUNG CHÍNH CỦA SÁNG KIẾN
    1.Một số vấn đề cơ bản về công tác tuyển chọn, huấn luyện tài năng thể thao và
    áp dụng vào thực tế trong công tác tuyển chọn, huấn luyện đội tuyển học sinh
    giỏi TDTT nói chung, huấn luyện nội dung nhảy cao nói riêng tại các trường
    THPT huyện Hải Hậu.
    1.1. Một số vấn đề cơ bản về công tác tuyển chọn tài năng thể thao:
    Điểm mấu chốt của thành tích thể thao là sự kết hợp giữa tuyển chọn và huấn
    luyện. Trong đó hệ thống tuyển chọn hoàn hảo là điều kiện đầu tiên để có thể có được
    những vận động viên thể thao tài năng trong tương lai.
    Về bản chất khoa học tuyển chọn và khoa học huấn luyện là một thể thống nhất có
    mối quan hệ hết sức mật thiết. Mục đích của công tác tuyển chọn là nhằm dự đoán và
    phát huy tiềm năng của con người, nâng cao hiệu quả khi huấn luyện TDTT. Ngược
    lại hiệu quả của công tác huấn luyện lại không ngừng kiểm nghiệm và phản hồi về
    cho công tác tuyển chọn, xác định lại công tác tuyển chọn có thành công, chính xác
    hay không? Hai nhân tố này luôn song hành và có mối quan hệ tương hỗ, thúc lẫn
    đẩy nhau.
    Ngày nay với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, phương pháp tuyển chọn truyền
    thống chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và sự đào thải tự nhiên đã không còn phù hợp
    với nhu cầu của sự phát triển thể thao thành tích cao mà đòi hỏi mỗi người làm công
    tác huấn luyện thể thao phải tìm tòi, học hỏi, áp dụng khoa học kỹ thuật để đánh giá
    chính xác được sự phát triển năng lực vận động của con người. Qua đó tuyển chọn và
    đưa vào huấn luyện nhằm đảm bảo chắc chắn những cá nhân được tuyển chọn và
    huấn luyện sẽ đạt thành tích cao trong tương lai.
    So với nhiều nước trên thế giới thể thao Việt Nam hoà nhập và phát triển tương
    đối chậm do nhiều yếu tố lịch sử, khách quan. Chúng ta đã trải qua hai cuộc kháng
    chiến trong suốt 30 năm gian khổ, sự ảnh hưởng nặng nề của thời kì bao cấp, sự phát
    triển kinh tế chậm chạp trong thời kì cấm vận. Tới năm 1980 tại Thế vận hội Olimpic
    Matxcơva, thể thao Việt Nam XHCN mới lần đầu tiên tham gia một kì Thế vận hội.
    Tuy nhiên trong thời kì hội nhập đã có những bước tiến thần kỳ trong lĩnh vực thể
    thao nói chung và lĩnh vực tuyển chọn tài năng thể thao nói riêng. Đó là thành tựu
    của sự nỗ lực không ngừng của những người làm công tác TDTT trên cả nước. Thành
    tựu đó được ghi dấu bởi tấm HCB của vận động viên Trần Hiếu Ngân ở Olimpic
    Sydney – 2000 và Hoàng Anh Tuấn ở Olimpic Bắc Kinh – 2008, Hoàng Xuân Vinh 1
    HCV, 1 HCB tại Olimpic Rio De Janeiro – 2016,đồng thời đã có nhiều vận động viên
    5
    đạt trình độ kiện tướng quốc tế. Đó là những kỳ tích, trong đó công tác nghiên cứu về
    khoa học tuyển chọn thể thao có đóng góp rất lớn.
    Với sự quan tâm của Đảng, Chính phủ, Nhà nước. Đặc biệt ngành TDTT, hệ
    thống HLV – Giáo viên thể chất trong các nhà trường ngày càng nhận thức sâu sắc
    được vai trò và ý nghĩa của công tác nghiên cứu khoa học về vấn đề tuyển chọn tài
    năng nên sự phát triển của công tác này đã có những bước tiến quan trọng. Việc áp
    dụng những tiến bộ của khoa học kĩ thuật đã cho ra nhiều kết quả nghiên cứu. Các
    trung tâm thể dục thể thao đã đầu tư nhiều vào công tác nghiên cứu tìm ra những
    hướng đi mới trong công tác tuyển chọn, việc trang bị máy móc hiện đại trợ giúp cho
    công tác tuyển chọn cũng đã đem lại nhiều thành tựu, qua đó giúp cho công tác tuyển
    chọn và đào tạo phát hiện nhiều vận động viên tài năng cho đất nước.
    Những thành tựu trong công tác tuyển chọn và đào tạo vận động viên là rất lớn,
    trong đó phải kể đến thành tựu đầu tiên đó là các nhà nghiên cứu đã đưa ra được định
    nghĩa về năng lực thể thao.
    Năng lực thể thao đã được con người bàn luận đến từ thế kỉ XVIII, XIX khi đó
    người ta cho rằng năng lực thể thao là sự thiên định ở mỗi con người và coi đó là lực
    lượng siêu nhân. Tuy nhiên trải qua quá trình nghiên cứu các nhà khoa học về tuyển
    chọn đã đưa ra được quan điểm thống nhất về năng lực thể thao, đó là khả năng của
    con người trong hoạt động thể thao. Khả năng này làm cho con người tập luyện có
    hiệu quả cao và thi đấu đạt thành tích cao trong môn thể thao chuyên sâu. Ở một góc
    độ hẹp hơn năng lực thể thao là sự phù hợp của những đặc điểm cá nhân với yêu cầu
    môn thể thao. Trong đó khả năng là căn cứ vào cái có sẵn trong sự vận hiện tượng để
    dự báo, tiên đoán sự phát triển trong tương lai.
    Theo mức độ phát triển của năng lực người ta chia thành các cấp độ:
    Năng lực là cái có sẵn, khi nó phát triển và mang ý nghĩa xã hội to lớn nó sẽ
    chuyển thành cấp độ tài năng. Nói một cách khác tài năng là bước phát triển cao hơn
    của năng lực.
    Năng lực là cái dễ nhận biết bởi vì những biểu hiện đầu tiên của năng lực có thể
    quan sát thấy trong những lần tham gia hoạt động hoặc các cuộc thi đấu vui chơi, thử
    sức đầu tiên. Để phát triển năng lực các nhà nghiên cứu đã đưa ra 3 quan điểm, đó là
    Năng lực Tài năng Thiên tài
    6
    quan điểm về năng lực di truyền, năng lực được đào tạo và quan điểm dung hoà
    (quan điểm của những nhà tâm lý học Mác-xít).
    Cơ sở phát triển của năng lực là đặc điểm cấu tạo đặc biệt của não
    Ví dụ: Ai cũng có thể chơi bóng đá nhưng không nhiều người có thể chuyền
    bóng, tạt bóng, đánh đầu, ghi bàn chính xác nhưCristiano Ronaldo. Cầu thủ này khác
    với những người bình thường là trong tư duy của não có những năng lực đặc biệt về
    bóng đá.
    Tuy nhiên để chuyển từ năng lực thành tài năng là cả một quá trình phụ thuộc vào
    nhiều yếu tố.
    Bước phát triển cao hơn của tài năng là thiên tài. Khi đã trở thành thiên tài tức là
    năng lực của con người phát triển một cách cao nhất. Đây là sự cá biệt và chỉ có một
    số ít người đạt được. Trong lĩnh vực thể thao thiên tài là những người có thể tiếp cận
    được tới danh hiệu kiện tướng quốc tế, có khả năng giành huy chương tại đại hội
    Olimpic, có thể đạt và phá vỡ các kỷ lục thế giới.
    Ví dụ: Trong môn cử tạ của thể thao Việt Nam có rất nhiều vận động viên tài
    năng nhưng cho tới nay chỉ có thể có vận động viên Trần Lê Quốc Toàn, Thạch Kim
    Tuấn và Hoàng Thị Duyên được coi là thiên tài trong môn thể thao này. Bởi vì chỉ có
    những vận động viên này mới có khả năng tranh tài và giành được huy chương ở Thế
    vận hội Olimpic với những vận động viên hàng đầu thế giới trong thời điểm hiện nay.
    Con người chỉ có thể có năng lực thể thao ở một hoặc một số môn thể thao hoặc
    nội dung nào đó trong một môn thể thao chứ không thể có năng lực trong tất cả mọi
    môn thể thao.
    Ví dụ: Vận động viên chạy ngắn chỉ có thể có năng lực ở các cự li ngắn, có thể
    đạt huy chương ở các nội dung thuộc cự li ngắn chứ không thể vô địch cả chạy ngắn,
    cả chạy bền, cả nhảy cao…. Hoặc một người không thể tham gia và đạt kết quả cao ở
    thế vận hội Olimpic với cả Điền kinh, Bơi, Vật, Cầu lông, Cử tạ….
    Như vậy chứng tỏ rằng người có năng lực thể thao không phải là siêu nhân, thần
    thánh như những nhận định từ xa xưa.
    Cùng với định nghĩa về năng lực thể thao, các nhà nghiên cứu đã đưa ra định
    nghĩa về năng khiếu thể thao, tài năng thể thao.
    Thành tựu nghiên cứu lớn tiếp theo của các nhà nghiên cứu về công tác tuyển
    chọn tài năng thể thao là xây dựng nên hệ thống tuyển chọn thể thao. Quá trình tuyển
    chọn thể thao được các nhà nghiên cứu xác định và chia ra làm 2 giai đoạn cụ thể:
    + Giai đoạn tuyển chọn định hướng
    7
    + Giai đoạn tuyển chọn chọn lọc.
    1.1.1 Giai đoạn tuyển chọn định hướng
    Ở giai đoạn này các nhà nghiên cứu đã đưa ra các bước cần thiết khi thực hiện
    công việc như sau:
    – Sơ tuyển
    – Dự tuyển
    – Tuyển sinh vào các trường năng khiếu.
    Khi thực hiện công việc sơ tuyển cần chú ý thu hút và xem xét năng lực vận động
    của đối tượng cần tuyển, tổ chức tập luyện và thi đấu ban đầu để nhìn nhận và có
    những đánh giá đầu tiên về tổng thể và bước đầu hình thành trong tâm trí của những
    người làm công tác tuyển chọn về sự đánh giá, phân tích những đối tượng tuyển
    chọn, dự báo và đưa ra những quyết định đầu tiên về tuyển chọn. Đối với công tác sơ
    tuyển không cần thiết quá nhiều thời gian và kỹ lưỡng mà chủ yếu sử dụng phương
    pháp quan sát sư phạm để đánh giá.
    Sau khi tổ chức sơ tuyển các nhà tuyển chọn lập danh sách những đối tượng được
    tham gia dự tuyển.
    Dự tuyển là bước quan trọng trong công tác tuyển chọn định hướng. Trong công
    việc này người tuyển chọn cần vận dụng tất cả những vấn đề có liên quan để tham gia
    công việc từ kinh nghiệm thực tiễn trong công tác, sự tham khảo ý kiến đồng nghiệp,
    cho đến việc áp dụng khoa học kĩ thuật hiện đại, sự hỗ trợ của máy móc thiết bị trong
    công việc. Yêu cầu đầu tiên trong công tác này là phải thành lập hội đồng tuyển chọn
    và phải thực hiện đúng quy trình tuyển chọn, thi tuyển. Phải nhìn nhận một cách
    khách quan, công bằng, chính xác và thông qua ý kiến tập thể, có như vậy mới tuyển
    chọn được những vận động viên tốt nhất để đào tạo.
    Kết quả tuyển chọn sẽ được công bố, những đối tượng đạt yêu cầu sẽ chính thức
    được đưa vào các trường năng khiếu thể thao để bắt đầu quá trình đào tạo bài bản.
    Đây là bước quan trọng nhất trong giai đoạn tuyển chọn định hướng vì kết quả sẽ là
    sự phản ánh chính xác các quá trình trước đó.
    Ở giai đoạn này trẻ em sẽ được làm quen dần và tiếp thu những kĩ thuật ở một
    môn thể thao nào đó theo thiên hướng của đối tượng đó. Sự sáng đẹp của viên ngọc
    thô sẽ qua bàn tay của những người thợ, còn năng lực thể thao sẽ được phát triển và
    thể hiện rõ dưới sự quan sát và giảng dạy của các giáo viên, huấn luyện viên.
    Trong giai đoạn đào tạo tại các trường năng khiếu phải đặc biệt quan tâm đến vấn
    đề lựa chọn môn chuyên sâu, thậm chí một nội dung chuyên sâu mà cá nhân đó có thể
    8
    phát triển tốt nhất. Đây là cốt lõi của vấn đề “Định hướng”, làm như vậy mới phát
    huy tối đa được năng lực nổi trội của mỗi cá nhân
    Ví dụ: Cùng một nhóm vận động viên trẻ tập điền kinh ở nội dung chạy cự li ngắn
    sau khi quan sát, kiểm tra, đánh giá huấn luyện viên định hướng cho từng em một vào
    nội dung cụ thể như 100m, 200m, 400m hoặc chạy vượt rào, tiếp sức….
    Ở thời kì này tố chất vận động của cá nhân được thể hiện tương đối rõ tuy nhiên
    chưa hẳn đã chính xác hoàn toàn. Nguyên nhân do nhiều yếu tố như hình thể chưa
    phát triển hết, thể lực chưa hoàn hảo, kĩ thuật chưa thuần thục hoặc do đặc thù của
    các nội dung khác nhau trong cùng một lứa tuổi biểu hiện chưa rõ ràng. Người huấn
    luyện viên, giáo viên cần quan sát đánh giá và đưa ra những dự báo trên cơ sở khoa
    học và kinh nghiệm thực tế để tránh loại sớm những tài năng thực sự nhưng phát triển
    chậm.
    Ví dụ:Đối với vận động viên chạy ngắn thường biểu hiện khả năng sớm hơn các
    vận động viên ở cự li dài.
    Một trong những đặc điểm nổi bật của phương pháp tuyển chọn trong giai đoạn
    này là phải kiểm tra đánh giá sự phát triển năng lực thể thao qua từng năm, từng giai
    đoạn huấn luyện. Những cá nhân không đạt tiêu chuẩn kiểm tra sẽ bị loại dần. Trải
    qua một thời kì huấn luyện sơ bộ và chuyên môn hoá sâu, khi đã xác định được
    những vận động viên có năng lực, có thể đạt được thành tích cao, có năng lực hoàn
    thiện thể thao hiệu quả thì cần thiết phải đưa lực lượng này vào các trường chuyên
    thể thao hoặc các trung tâm huấn luyện thể thao cấp cao để có đủ điều kiện huấn
    luyện đạt thành tích cao.
    Trong thời kì này đặc biệt chú ý tới thành tích thể thao, khả năng thích nghi với
    lượng vận động lớn, tuổi sinh học, sự ổn định tâm lý trong tập luyện và thi đấu, ý chí
    tiến thủ…..Ưu điểm của thời kì này là số lượng vận động viên còn ít cho nên dễ quan
    sát, kiểm tra, phân tích đánh giá.
    Đặc điểm cần lưu ý trong quá trình tuyển chọn định hướng là sự so sánh về mức độ
    phát triển về mọi mặt của vận động viên triển vọng với modern của vận động viên
    cấp cao. Triển vọng của vận động viên trẻ có liên quan rất nhiều với hoàn thiện tri
    giác chuyên môn, tổ hợp đặc tính tâm sinh lý gắn với cảm giác thời gian, nhịp độ,
    cảm giác dùng sức….Vì vậy ý nghĩa của các chỉ số tâm lí, nhân cách không ngừng
    tăng lên. Vận động viên có triển vọng là những vận động viên có ý chí tiến thủ, khát
    vọng chiến thắng, kiên trì tập luyện, quyết đoán và có tinh thần dũng cảm. Nên chú ý
    tới những biểu hiện tự tin vào sức lực bản thân, vững vàng trong những tình huống
    9
    tập luyện và thi đấu quá căng thẳng, năng lực và nguyện vọng thi đấu. Đặc biệt đánh
    giá cao những vận động viên có nhu cầu, nguyện vọng tập luyện với các đồng đội
    mạnh hơn, thi đấu với những đối thủ có đẳng cấp cao hơn.
    1.1.2 Giai đoạn tuyển chọn chọn lọc
    Từ giai đoạn chuyên môn hoá sâu chọn lọc các vận động viên ưu tú đạt trình độ
    caođể đào tạo các vận động viên đạt đẳng cấp kiện tướng quốc tế (Kiện tướng quốc tế
    là các vận động viên đạt thành tích xếp hạng từ 1 đến 6 trong các kì Thế vận hội
    Olimpic hoặc các giải đấu có tính chất quan trọng tương tự).
    Mục đích cao nhất của giai đoạn này là chọn lọc để thành lập các đội tuyển quốc
    gia tham dự các giải đấu lớn trên đấu trường quốc tế. Đặc điểm tuyển chọn của giai
    đoạn này là các bước tuyển chọn đơn giản và dễ dàng hơn so với các bậc tuyển chọn
    trước. Chỉ cần chọn lọc các vận động viên đạt thành tích cao ở các giải thi đấu để
    tham gia đội tuyển quốc gia. Nói cách khác trong giai đoạn này chỉ cần chạm trổ
    những hoa văn trên nền các viên ngọc sáng đã được mài giũa để tăng giá trị cho viên
    ngọc đó mà thôi.
    Trong giai đoạn tuyển chọn chọn lọc việc đánh giá phẩm chất nhân cách và tâm lí
    vận động viên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, ở đây người giáo viên, huấn luyện viên
    cần đánh giá sự ổn đinh tâm lí của vận động viên trong các tình huống thi đấu căng
    thẳng, khả năng chịu đựng áp lực tâm lí lớn, kéo dài, kỹ năng huy động tổng sức lực,
    sự ổn định tâm lí khi tập luyện với lượng vận động căng thẳng, năng lực kiểm tra
    nhịp độ, tốc độ, sự phân phối sức lực, bản lĩnh thi đấu…
    Quá trình tuyển chọn tài năng thể thao là sự đánh giá cao về tố chất vận động và
    năng lực vận động của vận động viên, tinh thần tập luyện và thi đấu hết mình.
    Mô hình tuyển chọn và đào tạo vận động viên ở Việt Nam
    10
    Những năm gần đây đã có những mô hình mới cho thấy hiệu quả trong công tác
    tuyển chọn đào tạo tài năng thể thao và chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả cao hơn trong
    công tác tuyển chọn và đào tạo so với mô hình chung hiện nay.
    Ví dụ: Học viện bóng đá Hoàng Anh Gia Lai – JMC do câu lạc bộ bóng đá Hoàng
    Anh Gia Lai liên kết với CLB Arsenal – Vương quốc Anh đã tiến hành tuyển chọn tài
    năng bóng đá cho câu lạc bộ theo mô hình được tổng quát như sau:
    Mô hình tuyển chọn cầu thủ bóng đá
    của học viện bóng đá Hoàng Anh Gia Lai JMG

    HKPĐ cấp cơ sở
    Tuyển chọn vào các TT, trường nghiệp vụ tại các
    tỉnh, Thành phố
    Tuyển chọnđội tuyển trẻ Quốc gia

    Tuyển chọn về các TT huấn luyện
    thể thao Quốc gia
    11
    Nhìn chung cơ bản giống các bước của mô hình tuyển chọn chung nhưng quá trình
    thực hiện cụ thể và khoa học hơn.
    – Công tác tuyên truyền: Tuyên truyền rộng rãi trên khắp cả nước bằng nhiều
    kênh thông tin. Chi tiết về kế hoạch tuyển chọn (Yêu cầu về độ tuổi, nội dung tuyển
    chọn, chế độ của học viên nếu được tuyển chọn, quá trình đào tạo sau khi tuyển chọn,
    thời gian tuyển chọn….)
    – Sơ tuyển: Tổ chức sơ tuyển tại các vùng miền, phân tích đánh giá lập danh
    sách và thông báo cho những thí sinh được dự thi tuyển theo khu vực các miền.
    – Tuyển chọn theo khu vực: Tổ chức thi tuyển dưới sự quan sát của các huấn
    luyện viên uy tín, các chuyên gia nước ngoài bằng những test kiểm tra khoa học kết
    hợp với những bài tập thô sơ, mang tính bản năng, lựa chọn ra những thí sinh ưu tú
    có triển vọng nhất.
    – Tập trung đào tạo: Tập trung các thi sinh lọt qua vòng thi tuyển về trung tâm
    đào tạo của CLB, tập luỵên dưới sự hướng dẫn của các HLV, chuyên gia nổi tiếng
    theo mô hình đào tạo chuyên nghiệp, có đánh giá kiểm tra và đào thải. Quá trình đào
    tạo luôn được hỗ trợ bởi nguồn kinh phí dồi dào, với những điều kiện tốt nhất dành
    cho học viên và sự hỗ trợ của các thiết bị hiện đại nhất.
    Đây là một mô hình mang tính đột phá và chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả cao
    bởi đây là một quá trình tuyển chọn đào tạo khép kín được đáp ứng tối đa các yêu cầu

    Tuyên truyền về công tác tuyển sinh
    Sơ tuyển
    Tuyển chọn theo khu vực

    Đào tạo tập trung
    12
    cần thiết. Nó phản ánh xu thế của thời đại, sức mạnh của công tác xã hội hoá và sức
    mạnh của kinh tế trong tuyển chọn và đào tạo tài năng thể thao.
    Tuyển chọn VĐV là tuyển chọn từ nhỏ, các nhân tài có các điều kiện bẩm sinh ưu
    việt phù hợp với môn thể thao nào đó để tiến hành bồi dưỡng có hệ thống, có mục
    đích nhằm đạt được những thành tích thể thao xuất sắc. Tuyển chọn nhằm kiểm tra
    trực tiếp, căn cứ vào kết quả kiểm tra để đưa ra những dự đoán khả năng thể thao
    thành tích cao trong tương lai. Nếu không dựa trên những cơ sở khoa học để tuyển
    chọn thì công tác huấn luyện chỉ tốn công sức, kinh phí mà sẽ không đem lại kết quả.
    1.2. Các phương pháp để tuyển chọn tài năng thể thao
    Các phương pháp để tuyển chọn tài năng thể thao bao gồm: Phương pháp sư
    phạm, tâm lí học, y sinh học. Sử dụng các phương pháp này để xác định phù hợp đặc
    điểm cá nhân với yêu cầu của môn thể thao chuyên sâu. Trong đó cơ sở y sinh học là
    phạm trù cơ bản của tuyển chọn VĐV.
    1.2.1. Phương pháp quan sát sư phạm trong tuyển chọn tài năng thể thao
    Giáo viên, Huấn luyện viên cần quan sát về ý chí tập luyện và thi đấu của VĐV, quan
    sát và tổng kết thành tích trong tập luyện và thi đấu để tuyển chọn. Có thể sử dụng
    test để đánh giá khả năng tiếp thu kĩ thuật (sử dụng chủ yếu trong giai đoạn chuyên
    môn hoá sâu).
    1.2.2 Phương pháp kiểm tra sư phạm
    Phương pháp kiểm tra sư phạm thường được dùng để đánh giá về tố chất thể lực
    qua các test sư phạm. Kiểm tra sư phạm là kiểm tra về khả năng thực hiện các kĩ xảo
    vận động, kết quả kiểm tra này thông qua thành tích mà người được kiểm tra đạt
    được qua các test.
    1.2.3 Phương pháp quan sát và kiểm tra y học
    Khi sử dụng phương pháp quan sát và kiểm tra y học, huấn luyện viên cần quan
    sát sắc mặt, lượng mồ hôi, hiện tượng ói mửa, hiện tượng khó thở, mạch đập ngay
    sau khi VĐV thực hiện lượng vận động lớn để theo dõi khả năng chịu đựng lượng
    vận động…. Kiểm tra y học được tiến hành nhờ các thiết bị đánh giá chức năng sinh
    lý của VĐV.
    Sử dụng phương pháp kiểm tra y học với mục đích tìm hiểu về đặc điểm cấu trúc
    và chức năng các cơ quan của cơ thể thông qua đó đánh giá được sự phát triển thể
    chất của con người. Trong thể thao kiểm tra y học là nhằm đánh giá khả năng hoạt
    động thể lực của VĐV, có 2 phương pháp kiểm tra y học:
    13
    + Phương pháp kiểm tra y học ở trạng thái nghỉ bao gồm: Phương pháp thẩm vẩn,
    quan sát, sờ nắn, gõ, nghe. Các chỉ tiêu cần kiểm tra bao gồm: Chiều cao đứng, chỉ số
    cân nặng, chỉ số BMT.
    + Phương pháp kiểm tra chức năng của các cơ quan trong cơ thể: Đo dung tích
    sống (VC), VO2max, chỉ số công năng tim, hồng cầu và huyết sắc tố, mạch và huyết
    áp, chỉ số cấu trúc hình thái tim, các chỉ số chức năng tim, chỉ số chức năng thăng
    bằng.
    1.2.4 Phương pháp kiểm tra chức năng thần kinh tâm lý
    Các phương pháp cơ bản, thông dụng trong kiểm tra chức năng thần kinh tâm lý là
    các trắc nghiệm tâm lý từ đơn giản đến phức tạp. Cho phép gián tiếp đánh giá khả
    năng tiếp thu kĩ thuật và các thuộc tính thần kinh của VĐV. Một số chỉ tiêu thông
    thường như: Loại hình thần kinh, khả năng phản xạ, khả năng quan sát, cảm giác
    dùng lực và cảm giác không gian, khả năng tập trung chú ý, năng lực xử lý thông
    tin…
    1.2.5 Phương pháp so sánh thông kê và phương pháp tính chỉ số
    Phương pháp so sánh thông kê là phương pháp so sánh các số liệu thu được qua
    kiểm tra với tiêu chuẩn đã có sẵn. Qua đó rút ra kết luận về mức độ đạt được của chỉ
    số theo dõi.
    Phương pháp thứ 2 dùng để đánh giá các số đo là phương pháp tính các chỉ số
    hình thái, thể lực trong quá trình đánh giá sự phát triển thể chất thông qua các số đo
    riêng lẻ.
    Ngoài các phương pháp nêu trên trong tuyển chọn tài năng thể thao còn sử dụng
    các phương pháp khác như phương pháp giám sinh hoá, phương pháp sinh cơ,
    phương pháp giám định dựa trên cơ sở trình độ phát triển.
    1.3. Áp dụng trong thực tiễn tuyển chọn VĐV cho đội tuyển nhảy cao tại các
    trường THPT huyện Hải Hậu.
    1.3.1. Giai đoạn tuyển chọn định hướng
    Quan sát thường xuyên trong các giờ học ở các lớp dạy, trao đổi với đồng nghiệp
    cùng bộ môn để tìm hiểu các học sinh có năng lực ở các lớp khác.
    Đối với vấn đề này trong các giờ dạy trên lớp thường xuyên quan sát động tác,
    cách thực hiện, khả năng tiếp thu, phân tích và thực hiện động tác của những học sinh
    có năng lực đặc biệt, từ đó ghi nhớ và có kế hoạch bồi dưỡng thêm để kiểm tra, đánh
    giá, có biện pháp phát triển năng lực tối đa của học sinh đó

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Nghiên cứu lựa chọn các bài tập phát triển sức mạnh tốc độ cho nam học sinh khối 12 trường THPT

    SKKN Nghiên cứu lựa chọn các bài tập phát triển sức mạnh tốc độ cho nam học sinh khối 12 trường THPT

    . ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Giáo dục đào tạo thế hệ trẻ nhằm hình thành con người mới. Có năng lực
    phát triển toàn diện, có trí tuệ cao, đạo đức tốt, và hoàn thiện thể chất là chiến
    lược phát triển con người của Đảng ta. Trong lời kêu gọi toàn dân tập thể dục
    Bác Hồ viết “Giữ gìn dân chủ, xây dựng Nhà nước, xây dựng đời sống mới việc
    gì cũng cần có sức khoẻ mới thành công, một người dân yếu ớt tức là làm cho cả
    nước yếu ớt, một người dân khoẻ mạnh tức là làm cho cả nước khoẻ mạnh”.
    Sự nghiệp đổi mới đất nước trước mắt cũng như lâu dài đang đòi hỏi đội
    ngũ lao động không chỉ có trình độ văn hóa, trình độ khoa học kỹ thuật cao mà
    phải khỏe về thể chất, cường tráng về thể hình để có thể áp dụng được đặc thù
    lao động trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đó là nhiệm vụ hết sức
    quan trọng và cấp thiết của ngành GDĐT và ngành TDTT nước ta.
    Trong các môn thể thao thì Điền Kinh là môn thể thao cơ bản đã và đang
    được Nhà nước quan tâm phát triển. Môn Điền Kinh ở nước ta phát triển từ rất
    sớm song nó chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ từ sau năm 1975 cả về số lượng và
    chất lượng. Điền Kinh là môn thể thao phong phú và đa dạng gồm nhiều nội
    dung như: Chạy, nhảy, ném đẩy…hơn thế nữa nó lại là môn thể thao có nhiều
    lợi ích, tác dụng đối với sức khoẻ, sản xuất và chiến đấu. Tập luyện Điền Kinh
    lại không đòi hỏi phức tạp về sân bãi và dụng cụ…Nên nó trở thành môn thể
    thao cơ bản phổ biến trong trường phổ thông.
    Nam Định là một tỉnh nhỏ, kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Tỉnh đã nhận
    thấy tầm quan trọng của TDTT. Trong sự phát triển con người toàn diện cũng
    như phát triển KT – XH, vì lẽ đó tỉnh đã có sự quan tâm đến phong trào tập
    luyện TDTT nói chung, đặc biệt là phong trào TDTT trong các trường phổ
    thông.
    Đối với các trường học nói chung và trường trung học phổ thông C Hải
    Hậu nói riêng, một vấn đề xuyên suốt của nhà trường là không ngừng nâng cao
    chất lượng học tập và tập luyện. Vì vậy mỗi giáo viên cần xác định rõ những
    2
    mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể để từ đó có thể xây dựng hệ thống những phương
    pháp, biện pháp và hệ thống các phương tiện nhằm nâng cao chất lượng, hiệu
    quả của quá trình học tập và tập luyện.
    Qua thực tiễn quan sát việc tập luyện và thi đấu các giải phong trào của
    nam học sinh khối 12 Trường THPT C Hải Hậu. Tôi nhận thấy việc phát triển
    các tố chất thể lực như: sức mạnh, sức bền, sức nhanh …còn rất yếu một phần
    nguyên nhân là do thời gian và điều kiện tập luyện còn ít, phương pháp tập
    luyện còn hạn chế nên đem lại hiệu quả thi đấu chưa cao. Vì vậy muốn đạt được
    thành tích tốt thì đòi hỏi các em phải có sự kết hợp giữa các tố chất như: sức bền
    tốc độ, sức nhanh mạnh…đặc biệt trong đó sức mạnh tốc độ sẽ giúp cho các em
    học sinh duy trì và nâng cao khả năng chức phận, khả năng hấp thụ ôxy. Vì thế
    sức mạnh tốc độ là tố chất rất cần thiết cho nam học sinh khối 12 Trường THPT
    C Hải Hậu.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi có sáng kiến:
    1.1: Hiện trạng trước khi áp dụng giải pháp mới:
    1.1.1. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 17 – 19:
    1.1.1.1 Đặc điểm sinh lý:
    * Hệ thần kinh:
    Hệ thần kinh tiếp tục phát triển để đi đến hoàn thiện. Khả năng tư duy,
    khả năng phân tích, tổng hợp và trìu tượng hoá được phát triển tạo thuận lợi cho
    việc hình thành nhanh chóng phản xạ có điều kiện. Đây là đặc điểm thuận lợi để
    các em nhanh chóng tiếp thu và hoàn thiện kỹ thuật động tác. Tuy nhiên một số
    bài tập mang tính đơn điệu, không hấp dẫn cũng làm cho các em nhanh chóng
    mệt mỏi. Cần thay đổi nhiều hình thức tập luyện một cách phong phú đặc biệt
    tăng cường các hình thức thi đấu, trò chơi để gây sự hứng thú và tạo điều kiện
    hoàn thành tốt các bài tập chính.
    Ngoài ra do sự hoạt động mạnh của tuyến giáp, tuyến sinh dục, tuyến yên,
    làm cho tính hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế, giữa hưng phấn và ức
    3
    chế không cân bằng đã ảnh hưởng đến hoạt động thể lực. Vì vậy giáo viên cần
    sử dụng các bài tập thích hợp và thường xuyên quan sát phản ứng cơ thể học
    sinh để có biện pháp giải quyết kịp thời.
    * Hệ vận động:
    Hệ xương bắt đầu giảm tốc độ phát triển. Mỗi năm nam cao hơn
    1- 3cm, tập luyện TDTT một cách thường xuyên liên tục làm cho bộ xương
    khoẻ mạnh hơn, ở lứa tuổi học sinh THPT các xương nhỏ như: xương cổ tay,
    xương bàn tay hầu như đã hoàn thiện lên các em có thể tập luyện một số động
    tác như: Treo chống, mang vác vật nặng mà không làm tổn hại hoặc không tạo
    sự phát triển lệch lạc của cơ thể. Cột sống đã ổn định hình dáng, nhưng vẫn chưa
    được hoàn thiện, vẫn có thể bị cong vẹo. Cho nên việc tiếp thu bồi dưỡng tư thế
    chính xác thông qua hệ thống bài tập như: Đi, chạy, nhảy, thể dục nhịp điệu, thể
    dục cơ bản cho các em vẫn rất cần thiết và không thể xem nhẹ.
    * Hệ cơ:
    Các tổ chức cơ phát triển muộn hơn xương nên cơ co vẫn còn tương đối
    yếu, các bắp cơ lớn phát triển tương đối nhanh (cơ đùi, cơ cánh tay), còn các cơ
    nhỏ (cơ bàn tay, cơ ngón tay) phát triển chậm hơn. Các cơ co phát triển sớm hơn
    các cơ duỗi. Nói chung cuối thời kỳ học sinh THPT là thời kỳ cơ bắp phát triển
    nhanh nhất.
    Do vậy cần tập những bài tập phát triển sức mạnh để góp phần thúc đẩy
    sự phát triển các cơ. Nhưng các bài tập không nên chỉ có treo và chống cùng với
    các bài tập khắc phục lực đối kháng khác nữa. Tập như vậy vừa phát triển các cơ
    co, cơ ruỗi, vừa giảm nhẹ sức chịu đựng của các cơ khi tập liên tục trong thời
    gian dài, các bài tập phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức và đảm bảo cho các loại
    cơ (to, nhỏ) đều được phát triển.
    * Hệ tuần hoàn:
    Hệ tuần hoàn của học sinh THPT đang phát triển và đi đến hoàn thiện.
    Buồng tim phát triển tương đối hoàn chỉnh mạch đập của nam 70 – 80 lần/phút.
    Hệ thống điều hoà vận mạch phát triển tương đối hoàn chỉnh. Phản ứng hệ tuần
    4
    hoàn trong vận động tương đối rõ rệt, nhưng sau vận động mạch đập và huyết áp
    hồi phục tương đối nhanh chóng. Cho nên lứa tuổi này có thể tập các bài tập có
    khối lượng vận động và cường độ vận động lớn và thường xuyên kiểm tra theo
    dõi trạng thái sức khoẻ của học sinh.
    * Hệ hô hấp:
    Đã phát triển và tương đối hoàn thiện, vòng ngực trung bình của nam từ
    67 – 72cm. Diện tích tiếp xúc của phổi khoảng 100 – 120cm2 gần bằng tuổi
    trưởng thành. Dung lượng phổi tăng lên nhanh chóng: Lứa tuổi đến 16 – 18 tuổi
    khoảng 3 – 4 lít tần số hô hấp gần giống người lớn 10 – 20 lần/phút.
    Tuy nhiên các cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sức co giãn của lồng ngực ít chủ
    yếu là co giãn cơ hoành. Trong tập luyện cần thở sâu và tập trung chú ý thở bằng
    ngực và các bài tập bơi, chạy cự ly trung bình có tác dụng đến phát triển hệ hô
    hấp.
    1.1.1.2. Đặc điểm tâm lý:
    * Về mặt tâm lý, các em tỏ ra mình là người lớn, muốn để cho mọi người
    tôn trọng mình, đã có một trình độ hiểu biết nhất định có khả năng phân tích
    tổng hợp, muốn hiểu biết nhiều có nhiều hoài bão nhưng còn nhiều nhược điểm
    và thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống.
    – Tuổi này chủ yếu là tuổi hình thành thế giới quan, tự ý thức hình thành
    tính cách và hướng tới tương lai. Đó cũng là tuổi của lãng mạn, mơ ước độc đáo
    và mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn, đó là tuổi đầy nhu cầu sáng tạo, nẩy nở
    những tình cảm mới, trong đó có mối tình đầu thường để lại dấu vết trong sáng
    trong suốt cuộc đời. Thế giới quan không phải là một niềm tin lạnh nhạt, khô
    khan, trước tiên đó là sự say mê, ước vọng, nhiệt tình.
    Hứng thú: Các em đã có thái độ tự giác tích cực trong học tập xuất phát từ
    động cơ học tập đứng đắn và hướng tới việc lựa chọn nghề sau khi đã học xong
    THPT xong hứng thú học tập vẫn còn do nhiều động cơ khác như: giữ lời hứa
    với bạn, đôi khi do tự ái, hiếu danh. Cho nên giáo viên cần định hướng cho các
    5
    em xây dựng động cơ đứng đắn để các em có được hứng thú bền vững trong học
    tập nói chung và trong giáo dục thể chất nói riêng.
    Tình cảm: So với học sinh cấp tiểu học và THCS thì học sinh THPT biểu
    lộ rõ rệt hơn về mặt tình cảm gắn bó và yêu quý mái trường mà các em sắp từ
    giã, đặc biệt với những giáo viên đã giảng dạy các em. Việc giáo viên gây được
    thiện cảm và sự tôn trọng là một trong những thành công. Điều đó giúp giáo
    viên thuận lợi trong quá trình giảng dạy nó thúc đẩy các em tích cực, tự giác
    trong tập luyện và ham thích môn TDTT. Do vậy giáo viên là phải người mẫu
    mực, công bằng biết động viên và quan tâm đúng mức với học sinh và tôn trọng
    kết quả cũng như tình cảm của học sinh.
    Trí nhớ: Ở lứa tuổi này hầu như không còn tồn tại việc ghi nhớ máy móc
    do các em đã biết ghi nhớ có hệ thống, đảm bảo tính lôgíc, tư duy chặt chẽ hơn
    và lĩnh hội được bản chất của vấn đề cần học tập. Do đặc điểm trí nhớ đối với
    lứa tuổi học sinh THPT khá tốt nên giáo viên có thể sử dụng phương pháp trực
    quan kết hợp với giảng giải, phân tích sâu sắc các kỹ thuật động tác và vai trò ý
    nghĩa cũng như phương pháp sử dụng các phương tiện trong quá trình giáo dục
    thể chất để các em có thể tự tập một cách độc lập trong thời gian nhàn dỗi.
    Các phẩm chất ý trí rõ ràng hơn và mạnh mẽ hơn so với học sinh lứa tuổi
    trước đó. Các em có thể hoàn thành các bài tập khó và đòi hỏi sự khắc phục khó
    khăn lớn trong tập luyện.
    Tóm lại: Từ đặc điểm tâm sinh lý chúng tôi đưa ra phương pháp và khối
    lượng bài tập một cách hợp lý với lứa tuổi này là cơ thể của các em đang phát
    triển và dần đến hoàn thiện về các cơ quan trong hệ thống của cơ thể. Do vậy
    việc sử dụng các bài tập phát triển các tố chất thể lực nói chung và phát triển sức
    mạnh tốc độ là rất cần thiết nhằm góp phần tạo cho các em có thể nâng cao sức
    khoẻ, đạt được thành tích cao trong thi đấu. Qua phân tích tài liệu chuyên môn
    và khảo sát thực tiễn thì ở lứa tuổi này phát triển tố chất sức mạnh tốc độ là hợp
    lý và có hiệu quả.
    6
    1.1.1.3. Đặc điểm môi trường và cơ sở tập luyện TDTT của trường
    THPT C Hải Hâu.
    Trải qua hơn 20 năm xây dựng và trưởng thành. Trường THPT C Hải Hậu
    đã gặt hái được rất nhiều thành công trên con đường giáo dục, hàng năm có rất
    nhiều học sinh tham dự các giải thi học sinh giỏi các môn của tỉnh tổ chức và
    đem lại rất nhiều thành tích cao cho nhà trường. Mỗi năm nhà trường có khoảng
    hơn 1.200 học sinh tham gia học tập và luyện tập TDTT. Do nhà trường được
    xây dựng ở một vùng quê ven biển cho nên các lĩnh vực KT – XH – TDTT
    không được phát triển như một số trường trong tỉnh. Cùng với học tập văn hoá
    thì phong trào rèn luyện thân thể khá phát triển, tuy nhiên điều kiện tập luyện
    của nhà trường còn nhiều hạn chế, về cơ sở vật chất, chỉ có một sân tập thể dục,
    sân bãi tập luyện còn chưa đủ tiêu chuẩn, dụng cụ tập luyện còn nghèo nàn như:
    nhảy cao chưa có đệm đạt tiêu chuẩn , đẩy tạ chưa có vòng đẩy đúng tiêu chuẩn,
    chưa có sân bóng đá. Do điều kiện kinh tế nên học sinh THPT ngoài giờ chính
    khoá ở trường đa số ít tập ngoại khoá ở nhà, có chăng chỉ có một số môn như:
    cầu lông, đá cầu, bóng chuyền…
    1.1.1.4. Cơ sở khoa học của bài tập sức mạnh tốc độ:
    Nghiên cứu về sức mạnh tốc độ có rất nhiều quan điểm cho rằng:
    Sức mạnh là khả năng của con người sinh ra lực cơ học bằng sự nỗ lực
    của cơ bắp.
    Theo quan điểm của các nhà tâm lý thì: sức mạnh tốc độ là khả năng
    VĐV vượt qua lực cản bên ngoài với tốc độ co cơ lớn (các môn ném, đẩy, chạy,
    nhảy cao) xong các môn thể thao khác đặt ra sức mạnh luôn có quan hệ với các
    tố chất thể lực cụ thể là với sức nhanh và sức bền.
    Theo quan điểm của Zaxiôrski sức mạnh tốc độ là một loại sức mạnh
    được quyết định gia tốc độ động tác và khối lượng cố định vì lực cơ học của nó
    là F = max rõ ràng sức mạnh tốc độc được cấu thành bởi gia tốc thực hiện biên
    độ động tác ( gia tốc a) và trọng lượng của vật chịu tác động có khối lượng m.
    7
    Năng lực sức mạnh tốc độ là khả năng khắc phục các lực cản với tốc độ
    co cơ cao của VĐV, việc vận dụng hệ thống bài tập nhằm phát triển sức mạnh
    tốc độ cho các môn thể thao liên quan trước hết là sức mạnh tương đối cần phải
    tiến hành sao cho sức mạnh tốc độ được nâng cao mà không có sự phì đại cơ to
    quá mức. Đó là trường hợp khi người ta hay sử dụng lực cản trở và rung bình,
    những lực cản phải được khắc phục bằng tốc độ co cơ cao. Trong đó sự căng
    thẳng cần thiết để tăng sức mạnh được tạo lên bằng sự co cơ nhanh “bột phát”.
    Theo quan điểm của các nhà sinh lý học: Cơ chế sinh lý điều hòa sức
    mạnh là sự phát triển sức mạnh có cơ sở khoa học. Lực tối đa mà con ngưới sinh
    ra một mặt phụ thuộc vào đặc tính sinh cơ của động tác khả năng thu hút các
    nhóm cơ lớn tham gia hoạt động mặt khác phụ thuộc vào mức độ của từng nhóm
    riêng biệt và sự phối hợp giữa chúng. Mức độ hoạt động của cơ được quy định
    bởi hai nhân tố xung quanh từ các nơron thần kinh vận động trong tủy sống đến
    cơ. Phản ứng của cơ tức là do nó sinh ra để đáp ứng xung động thần kinh, nếu
    lực co cơ phát huy chỉ khoảng 20%-80% khả năng tối đa của nó thì cơ thể điều
    hòa số lượng sợi cơ có ý thức cơ bản điều hòa đó có ý nghĩa nội lực kích thích
    nhỏ thì chỉ có ít sợi cơ hoạt động tích cực trong các trường hợp lực co cơ phát
    huy giá trị tối đa có thể xảy ra một cách điều hòa thứ ba đồng bộ hoạt động các
    sợi cơ ở những hoạt động bình thường không quá 20% xung động là đồng bộ
    cùng với nhau,với sự phát triển trình độ tập luyện khả năng điều hòa đồng bộ
    tăng lên rất nhiều.
    Theo quan điểm của PGS. TS Nguyễn Toán cho rằng: sức mạnh tốc độ là
    khả năng sinh lực và khắc phục một trọng lượng nào đó với tốc độ nhanh nhất
    hay sức mạnh tốc độ là khả năng sinh lực trong động tác nhanh với thời gian
    ngắn.
    * Cơ sở sinh lý, lí luận của tố chất sức mạnh tốc độ:
    Sức mạnh tốc độ là khả năng sinh lực trong các động tác nhanh. Sức
    mạnh tốc độ là khả năng hệ thống thần kinh cơ bắp khắc phục sự đề kháng với
    tốc độ co duỗi lớn nhất của cơ bắp. Theo các nhà chuyên ngành Điền Kinh cho
    8
    rằng “Muốn phát triển sức mạnh tốc độ trước hết cần phải phát triển hệ thống
    dẫn truyền vận động và hệ cơ, tính linh hoạt của quá trình và thiết lập sự ổn định
    của hệ thống thần kinh trung ương tạo điều kiện tốt cho sự phát triển sức mạnh
    tốc độ”.
    Hoạt động của sức mạnh tốc độ bao gồm các dạng bài tập thể lực nhằm
    tạo cho một trọng tải ổn định, một vận tốc lớn nhất. Ví dụ: trong các môn nhảy,
    trọng lượng cơ thể VĐV không đổi, độ cao hoặc độ xa của thành tích nhảy phụ
    thuộc vào tốc độ chạy đà, độ chính xác và lực giậm nhảy. Trong các môn ném
    đẩy, trọng lượng của dụng cụ cũng ổn định, VĐV cần phải tác động một lực tối
    đa trong thời gian tối thiểu. Các hoạt động sức mạnh- tốc độ bao giờ cũng có 1
    số động tác tạo đà có thể biến đổi về biên độ hình thức cũng như lực giậm nhẩy.
    Trong các hoạt động sức mạnh tốc độ VĐV cần phải gắng sức ở mức tối đa.
    Ngoài ra, hoạt động loại này còn đòi hỏi cơ phải có tính linh hoạt và phối hợp
    sức cao trong một thời gian ngắn, vì vậy còn gọi là hoạt động sức mạnh bột
    phát.
    Nhìn chung hoạt động sức mạnh tốc độ tác động đến trạng thái chức năng
    cơ thể tương đối yếu hơn. Trong các bài tập sức mạnh tốc độ, hệ máu của VĐV
    hầu như không có gì biến đổi rõ rệt. Trong các môn nhảy, tần số nhịp tim có thể
    lên tới 140 -150 lần/phút. Đặc biệt quan trọng nhất là nhịp tim của VĐV sau khi
    kết thúc bài tập sức mạnh tốc độ. Huyết áp tăng nhanh nhưng không cao lắm,
    nhất là huyết áp tối đa. Tần số hô hấp tăng lên không đáng kể sau khi kết thúc
    hoạt động, thể tích hô hấp và hấp thụ o xy tăng lên ít nhiều. Các bài tập sức
    mạnh tốc độ là các bài tập có công suất lớn được thực hiện trong một thời gian
    ngắn. Vì vậy năng lượng được sử dụng chủ yếu là do phân giải ATP và CP dự
    trữ trong cơ. Nhu cầu o xy không được thỏa mãn trong quá trình hoạt động làm
    cho cơ nợ o xy lên tới 95%. Xong do thời gian ngắn nên tổng lượng o xy không
    lớn lắm nợ o xy khoảng 20 – 30 lít trong hoạt động kéo dài 1 phút. Chức năng
    cơ quan bài tiết và điều hòa thân nhiệt biến đổi không đáng kể trong các hoạt
    động sức mạnh tốc độ.
    9
    Sức mạnh tốc độ là khả năng con người thể hiện sự nỗ lực lớn nhất trong
    khoảng thời gian ngắn nhất. Ngoài ra để hiểu mối quan hệ giữa sức mạnh và tốc
    độ ta cần hiểu rõ tố chất này. Sức mạnh là khả năng con người sinh lực cơ học
    bằng sự nỗ lực của cơ bắp. Nói cách khác sức mạnh của con người là khả năng
    khắc phục đối kháng bên ngoài hoặc để kháng lại bằng sự nỗ lực của cơ bắp,
    sức mạnh mà cơ phát ra phụ thuộc vào số lượng đơn vị vận động tham gia vào
    sự căng cơ, chế độ của đơn vị vận động của sợi cơ đó là: Chiều dài của sợi cơ
    trước đó.
    Tốc độ là khả năng thực hiện động tác trong thời gian ngắn nhất yếu tố
    quyết định đến tốc độ là linh hoạt của quá trình thần kinh và tốc độ qua cơ độ
    linh hoạt của quá trình thần kinh thể hiện khả năng biến đối nhanh chóng giữa
    hưng phấn và ức chế trong các trung tâm thần kinh.
    Tốc độ co cơ phụ thuộc vào tỷ lệ sợi cơ nhanh và sợi cơ chậm trong bó
    cơ. Trong hoạt động TDTT sức mạnh và tốc độ có liên quan mật thiết với nhau.
    Mức độ phát triển sức mạnh ảnh hưởng rõ rệt đến tốc độ của nhiều môn thể
    thao. Kết quả hoạt động còn phụ thuộc vào sự phối hợp giữa hai tố chất, các
    hoạt động như vậy gọi là sức mạnh tốc độ (các bài tập chạy ngắn, ném, đẩy,
    nhảy).
    Bằng thực nghiệm và phân tích khoa học đi đến một số kết luận có ý
    nghĩa cơ bản trong phân loại sức mạnh.
    Trị số lực sinh ra trong các động tác chậm hầu như không khác biệt với trị
    số lực phát huy trong điều kiện đẳng trường.
    Trong chế độ nhượng bộ khả năng sinh lực của cơ là lớn nhất đôi khi gấp
    hai lần lực phát huy trong điều kiện tĩnh.
    Trong các động tác nhanh trị số lực giảm dần theo chiều tăng tốc độ khả
    năng sinh lực tổng các động tác nhanh tuyệt đối và khả năng sinh lực trong các
    động tác tĩnh tối đa không có cơ quan.
    Trên cơ sở đó có thể phân chia năng lực phát huy của con người bằng hai
    loại.
    10
    * Sức mạnh đơn thuần: Khả năng sinh lực trong các động tác chậm hoặc
    tĩnh
    * Sức mạnh tốc độ: Khả năng sinh lực trong các động tác nhanh trong khi
    sinh lực hệ thống bài tập phát triển sức mạnh tốc độ một vấn đề quan trọng là
    phải dựa vào đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi.
    Ngoài ra sức mạnh bột phát: Là khả năng con người phát huy một lực lớn
    nhất trong khoảng thời gian ngắn nhất.
    * Phát triển sức mạnh tốc độ:
    Lại sức mạnh tốc độ cần thiết cho tất cả các môn Điền Kinh và cần phát
    triển ở mọi lứa tuổi.
    Các bài tập phát triển sức mạnh tốc độ rất phong phú gồm các loại bài tập
    khắc phục trọng lượng khác nhau: Trọng lượng bản thân, lực đối kháng, trọng
    lượng phụ bên ngoài.
    Tập luyện phát triển sức mạnh tốc độ yêu cầu thực hiện nhanh, thời gian
    hoàn thành mỗi động tác chỉ từ 0,13- 0,23 s
    Sự dụng một trọng lượng nhẹ, hoặc rất nhẹ cũng rất tốt để phát triển sức
    mạnh tốc độ như: Sử dụng các loại bao cát, thắt lưng cát, tạ tay trọng lượng từ 3-
    5kg, phát triển các nhóm cơ lưng, bụng, đùi…

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Ứng dụng một số trò chơi vận động phát triển sức mạnh tốc độ cho học sinh lớp 11 trường THPT

    SKKN Ứng dụng một số trò chơi vận động phát triển sức mạnh tốc độ cho học sinh lớp 11 trường THPT

    BÁO CÁO SÁNG KIẾN
    I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    – Thể dục Thể thao là một bộ phận quan trọng không thể thiếu được trong công
    cuộc xây dựng nền văn hoá mới, con người mới. Ngoài ra Thể dục thể thao còn
    là một phương tiện tối ưu để rèn luyện sức khoẻ. Rèn luyện TDTT không
    những nâng cao sức khoẻ, khả năng vận động, giáo dục phẩm chất đạo đức cho
    con người mà còn phát triển năng lực trí tuệ.
    – Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “ Muốn có chủ nghĩa xã hội phải
    có con người xã hội chủ nghĩa. Trong hình mẫu và phẩm chất con người, sức
    khoẻ và thể chất chiếm một vị trí cần thiết để đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo
    vệ Tổ quốc. Do đó thể dục thể thao là một bộ phận của nên giáo dục xã hội chủ
    nghĩa, nó tổng hợp các phương tiện, phương pháp nhằm giúp con người phát
    triển toàn diện, hài hoà, đặc biệt hoạt động thể dục, thể thao là một trong những
    hình thức cơ bản, chuẩn bị thể lực phục vụ cho lao động và các hoạt động khác.
    – Trong hệ thống Giáo dục – Đào tạo của nước ta, giáo dục thể chất là một bộ
    phận quan trọng trong công tác giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ nhằm đào tạo
    cho họ thành những chủ nhân tương lai của đất nước có nhân cách đạo đức tốt,
    trình độ chuyên môn cao, có sức khoẻ dồi dào, có tinh thần yêu nước, yêu chủ
    nghĩa xã hội.
    – Những năm qua công tác giáo dục thể chất trong các nhà trường luôn được
    Đảng, Nhà nước quan tâm cả về vật chẫt lẫn tinh thần thông qua việc đầu tư,
    tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, cải tiến chương trình giảng dạy
    nhằm đáp ứng những yêu cầu trong thời đại mới.Bên cạnh những bài tập điền
    kinh thì các bài tập trò chơi vận động cũng được đưa vào trong các giờ học
    TDTT của trường THCS, THPT, CĐ, ĐH, các trường dạy nghề:
    – Trò chơi vận động là hình thức vui chơi, giải trí, nhằm giáo dục và giáo
    dưỡng con người phát triển toàn diện do vậy trò chơi vận động cũng là một nội
    dung học tập, đồng thời là phương pháp, phương tiện rèn luyện sức khoẻ. Giáo
    dục đạo đức cho học sinh đạt kết quả cao, được học sinh yêu thích, hầu hết các
    trò chơi vận động được sử dụng trong giáo dục thể chất đã mang tính mục đích
    rõ ràng. Trong quá trình chơi trò chơi học sinh tiếp xúc với nhau, cá nhân phải
    hoàn thiện nhiệm vụ của mình trước tập thể ở mức độ cao, tập thể có nhiệm vụ
    động viên giúp đỡ cá nhân hoàn thành nhiệm vụ. Vì vậy tình bạn, lòng nhân ái,
    tinh thần tập thể…được hình thành trong quá trình chơi, xây dựng cho các em
    học sinh tác phong khẩn trương, nhanh nhẹn, tính kỷ luật, sự sáng tạo để hoàn
    thành với chất lượng cao.
    – Trò chơi vận động nhằm phát triển tố chất thể lực, sức mạnh tốc độ trong lứa
    tuổi 16, 17 là vô cùng cần thiết và chiếm một vị trí quan trọng vì lứa tuổi này quá
    trình thần kinh hưng phấn chiếm ưu thế nên các em rất hiếu động.Do vậy quá
    trình phát triển thể lực cho các em sử dụng bài tập đa dạng với các hình thức tập
    luyện phong phú các nhà khoa học cho rằng: “Khi phát triển thành tích đỉnh cao
    phải có trình độ học tập tốt, muốn có một thể lực tốt chỉ có một con đường là
    thông qua quá trình luyện tập lâu dài, liên tục, có hệ thống, có khoa học mới đảm
    bảo các tố chất thể lực phát triển tốt”, song mỗi tố chất thể lực mang đặc trưng
    “ nhanh, mạnh, bền, khéo léo” đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao
    thành tích của các môn TDTT.
    – Việc phát triển thể thao đối với học sinh được đặc biệt coi trọng bởi nó là nền
    tảng cho việc tăng cường sức khỏe và giáo dục đối với thế hệ trẻ. Đối với các em
    lứa tuổi 16, 17 muốn đạt đựơc thành tích thể thao cần phải xây dựng nội dung
    các buổi tập thể lực, nội dung tập luyện là quá trình chuẩn bị về mặt thể lực, kỹ
    thuật, chiến thuật, đạo đức, ý chí, tâm lý, tất cả các mặt chuẩn bị này có quan hệ
    chặt chẽ với nhau và tạo một quá trình hoàn thiện cho các em thông qua các
    phương tiện, phương pháp giảng dạy và các hình thức khác của lượng vận động
    trong tập luyện và thi đấu.
    – Xuất phát từ các vấn đề nêu trên,tôi đã mạnh dạn đi sâu vào nghiên cứu đề tài :
    “ Nghiên cứu ứng dụng một số trò chơi vận động nhằm phát triển tố chất sức
    mạnh tốc độ cho học sinh lớp 11 trong trường THPT Quất Lâm”.Với đề tài trên
    tôi mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc giảng dạy và huấn luyện một số trò
    chơi vận động đã được lựa chọn nhằm mục đích nâng cao tố chất sức mạnh tốc
    độ cho các em học sinh lớp 11.
    Mục đích của sáng kiến:
    Thông qua việc phân tích lý luận và đánh giá thực trạng phong trào tập luyện
    TDTT của học sinh trường THPT Quất Lâm vào thời điểm hiện tại, sáng kiến
    ứng dụng một số trò chơi vận động nhằm phát triển thể lực, sức mạnh tốc độ
    giúp tôi đánh giá hiệu quả của trò chơi vận động có phù hợp với đối tượng
    trong sự phát triển thể lực, sức mạnh tốc độ cho học sinh THPT. Từ đó tạo cơ sở
    cho việc đa dạng các bài tập phát triển thể lực chung cho lứa tuổi THPT.
    Mục tiêu của sáng kiến:
    Căn cứ vào mục đích đã đặt ra, sáng kiến giải quyết 2 mục tiêu sau:
    Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng phong trào tập luyện TDTT của học sinh
    trường THPT Quất Lâm.
    Giải quyết mục tiêu nghiên cứu này chính là việc đánh giá thực trạng về công
    tác GDTC, phong trào tập luyện TDTT của học sinh trường THPT Quất Lâm,
    làm cơ sở để giải quyết mục tiêu tiếp theo của sáng kiến.
    Mục tiêu 2: Xây dựng và áp dụng thực tế một số trò chơi vận động nhằm phát
    triển tố chất sức mạnh tốc độ cho học sinh lớp 11 trong trường THPT Quất Lâm.
    Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn của phong trào tập luyệnTDTT, sáng
    kiến đã tiến hành xây dựng và áp dụng thực tế một số trò chơi vận động nhằm
    phát triển tố chất sức mạnh tốc độ cho học sinh lớp 11 trong trường THPT Quất
    Lâm. Đồng thời thông qua việc tổ chức áp dụng thực tế các biện pháp đã lựa
    chọn một số trò chơi trong thực tiễn, sáng kiến đã tiến hành xác định hiệu quả
    của các trò chơi đó thông qua việc thực nghiệm một số trò chơi được lựa chọn.
    II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Trong những năm gần đây phong trào tập luyện TDTT phát triển rộng khắp
    đặc biệt là ở các lứa tuổi trẻ. Trường THPT Quất Lâm có phong trào tập luyện
    TDTT rất mạnh, các em học sinh quan tâm và hưởng ứng rất cao. Được sự quan
    tâm chỉ đạo sát xao của BGH nhà trường, giáo viên nhà trường thì hằng ngày
    các em học sinh đều tham gia chơi và tập luyện TDTT vào mỗi buổi học chiều,
    sự hăng hái nhiệt tình tập luyện của các em học sinh đã thúc đẩy phong trào tập
    luyện trong trường phát triển ngày càng mạnh, đặc biệt sự đầu tư về cơ sở vật
    chất, dụng cụ tập luyện và điều kiện tốt, đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên
    môn tốt, đáp ứng tốt việc hướng dẫn học sinh tập luyện. Tuy nhiên qua khảo sát,
    phần lớn các em vẫn ngại các bài tập sức mạnh, đặc biệt là các bài tập sức mạnh
    tốc độ.
    Do đó việc cần phải làm là đưa ra những giải pháp hợp lý dựa trên cơ sở lý
    luận, khoa học để đưa vào công tác giảng dạy nâng cao hiệu quả luyện tập phát
    triển sức mạnh tốc độ cho học sinh trường THPT Quất Lâm là việc làm vô cùng
    cần thiết.
    2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến
    2.1. Phương pháp nghiên cứu:
    Để giải quyết các nhiệm vụ trên của đề tài, tôi đã sử dụng phương pháp
    nghiên cứu sau:
    2.1.1 . Phương pháp nghiên cứu và tổng hợp tài liệu:
    Các tài liệu liên quan đến đề tài, nhằm tìm hiểu tình hình phát triển thể dục
    thể thao nói chung và môn điền kinh nói riêng. Hiện nay tìm hiểu về đặc điểm
    tâm sinh lý độ tuổi, tìm hiểu về nguồn gốc và những tác động của trò chơi vận
    động .
    2.1.2. Phương pháp quan sát sư phạm
    Qua quan sát của các em học sinh lứa tuổi 16, 17 để đánh giá tiếp thu lượng
    vận động, khải năng phối hợp vận động cũng như sự hứng thú của các em với
    các tròn chơi được đưa ra. Qua đó để sử dụng khối lượng, cường độ và sự phân
    bố các trò chơi cho hợp lý, phù hợp với điều kiện cụ thể.
    2.1.3. Phương pháp sử dụng Test:
    – Để đánh giá thể lực chung của các em trước và sau thực nghiệm tôi sử
    dụng:
    +Test bật xa tại chỗ (cm) để đánh giá sức mạnh tốc độ
    + Test chạy 30m tốc độ cao (s) đánh giá sức mạnh tốc độ
    2.1.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
    Sau khi xác định và lựa chọn được một số trò chơi tôi tiến hành phân nhóm
    thực nghiệm trên 2 lớp 11 (lớp 11 A6 và lớp 11 A8) lứa tuổi 16, 17 với điều kiện
    tập luyện như nhau. Nhưng chỉ khác là:
    – Lớp 11 A6 tập luyện bình thường theo phương pháp cũ.
    – Lớp 11 A8 tập luyện theo nội dung có kết hợp các trò chơi vận động đã
    được tôi lựa chọn.
    2.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc phát triển phong trào
    tập luyện TDTT.
    Muốn phát triển phong trào tập luyện TDTT cần phải phát triển cả phong
    trào quần chúng và thể thao thành tích cao. Trong đó phong trào tập luyện của
    lứa tuổi học sinh đóng vai trò hết sức quan trọng. Quá trình tuyển chọn nhân tài
    cũng như quá trình đào tạo nhân tài ở các môn thể thao cần phải tìm ra những
    đặc điểm chung và những yếu tố đặc thù đối với từng bộ môn. Với trường THPT
    Quất lâm sự phát triển phong trào luyện tập TDTT thường bị các nhân tố sau chi
    phối:
    2.2.1 Nhận thức của cấp uỷ Đảng, Ban giám hiệu, các ban ngành đoàn
    thể, các CB – GV – CNV trong trường THPT Quất lâm đối với công tác Giáo
    dục thể chất.
    Trong nhiều năm qua công tác Giáo dục thể chất ở trường THPT Quất lâm
    luôn được chi bộ Đảng, ban Giám hiệu và các ban ngành đoàn thể trong nhà
    trường quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện tích cực về cả vật chất và tinh thần. Quán
    triệt nghị quyết, chỉ thị của Đảng và nhà nước đối với công tác TDTT nói chung,
    công tác Giáo dục thể chất nói riêng, cấp uỷ Đảng, ban Giám hiệu và các ban
    ngành đoàn thể trong nhà trường đã khẳng định xây dựng và phát triển phong
    trào TDTT là một bộ phận trong chiến lược phát triển nhà trường. Cấp ủy, ban
    Giám hiệu trong nhà trường đã quán triệt đường lối đổi mới của Đảng, của
    ngành, vận dụng vào thực tiễn nhà trường với các nhiệm vụ cụ thể sau:
    + Tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền để không ngừng nâng cao nhận thức
    của các tổ chức đoàn thể, CB – GV – CNV và học sinh về nhiệm vụ duy trì và
    phát triển phong trào tập luyện và thi đấu các môn thể thao trong nhà trường để
    đáp ứng nhu cầu, nhiệm vụ mới.
    + Hoàn thành xây dựng quy hoạch phát triển các công trình phục vụ cho
    công tác Giáo dục thể chất. Đẩy mạnh xã hội hoá phục vụ cho các hoạt động
    TDTT. Huy động các nguồn lực đầu tư cho công tác TDTT, đa dạng hoá các
    loại hình hoạt động thể thao trong nhà trường, duy trì và phát triển đa dạng các
    môn thể thao học sinh, đặc biệt là những môn thể thao thế mạnh của nhà trường,
    của địa bàn dân cư nơi trường đóng quân như Điền kinh, Bóng đá….
    + Phát triển mạnh, sâu rộng phong trào Thể thao học đường, đẩy mạnh
    thực hiện cuộc vận động “ Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ
    đại”. Đặc biệt nâng cao chất lưọng giáo dục thể chất góp phần đào tạo con
    người mới phát triển toàn diện về Đức – Trí – Thể – Mĩ. Thông qua các hoạt
    động của thể thao trong nhà trường phát hiện và bồi dưỡng nhân tài phục vụ
    cho đội tuyển TDTT của nhà trường, của ngành GD&ĐT Nam Định.
    2.2.2. Công tác tổ chức quản lí.
    Đây là một nhân tố hết sức quan trọng, một khi đã có chủ trương đúng có
    được tiền đề về các nhân lực, vật lực mà tổ chức quản lí không tốt sẽ không
    phát huy được hiệu quả. Khâu tổ chức quản lí chủ yếu về ba lĩnh vực:
    + Tổ chức quản lí con người
    + Tổ chức quản lí vật chất, dụng cụ sân bãi.
    + Phát huy sự hợp đồng hỗ trợ của nguồn lực bên trong và bên ngoài.
    Nói đến tổ chức con người là một phạm trù rất rộng. Trong đó chủ yếu là
    đội ngũ cán bộ, giáo viên giáo dục thể chất, ngoài ra còn có đội ngũ hướng dẫn
    viên, BCH Công đoàn, BCH Đoàn trường, giáo viên chủ nhiệm…Nếu công tác
    tổ chức quản lí có sự phối hợp rộng rãi thì sẽ phát huy được sức mạnh cộng
    đồng.
    Với công tác TDTT học sinh ở trường THPT Quất lâm để làm tốt khâu
    này, lãnh đạo của nhà trường chủ yếu là tạo điều kiện về thời gian và cơ sở vật
    chất cho việc tập luyện và công tác tổ chức các giải thi đấu.
    2.2.3 Trình độ và năng lực chuyên môn của đội ngũ giáo viên giáo dục
    thể chất trường THPT Quất lâm.
    Muốn làm tốt bất kì một công việc gì đòi hỏi con người phải có sự nhiệt
    tình và phải có tri thức. Trong thời đại ngày nay khi thế giới bùng nổ cuộc cách
    mạng thông tin cũng như khoa học công nghệ phát triển với tốc độ chóng mặt
    đã ảnh hưởng đếm sự phát triển của TDTT làm cho sự tiếp cận trình độ của
    nhau ngày càng gần hơn.
    Khoa học TDTT là một môn khoa học đã can thiệp, chịu ảnh hưởng hàng
    loạt các ngành khoa học khác như Sinh lí, Sinh hóa, Sinh cơ, Tâm lí, Quản lí…
    Đồng thời các môn khoa học này cũng không ngừng tiến bộ phát triển. Đối mặt
    với tri thức, nếu người giáo viên GDTC không chịu đổi mới, nâng cao trình độ
    tri thức thì khó có thể đào tạo được những tài năng trong lĩnh vực thể thao.
    Trường THPT Quất Lâm hiện có 04 giáo viên bộ môn GDTC – QPAN
    hiện đang sinh hoạt trong tổ Thể dục – QPAN – Sử – Địa – GDCD,tất cả đều đạt
    trình độ chuẩn. Lực lượng này là một yếu tố rất quan trọng trong việc phát triển
    phong trào tập luyện TDTT.
    Từ việc nghiên cứu, phân tích những cơ sở lý luận sáng kiến đã hình thành
    nên những cơ sở lý luận quan trọng trong việc tổ chức, quản lý phong trào tập
    luyện môn TDTT của học sinh trường THPT Quất Lâm, định hướng cho các
    bước nghiên cứu áp dụng các trò chơi vận động vào việc củng cố và nâng cao
    sức mạnh tốc độ cho học sinh. Vấn đề này được thực hiện theo các bước sau:
    Bước 1:
    + Phân tích lý luận thực tiễn, xác định hướng nghiên cứu chọn đề tài:
    + Xác định nhiệm vụ nghiên cứu, chọn phương pháp nghiên cứu đối tượng
    nghiên cứu, chuẩn bị tài liệu và cơ sở vật chất.
    Giai đoạn 2 :
    + Phân tích tổng hợp tài liệu.
    + Liên hệ địa điểm và đối tượng nghiên cứu.
    Giai đoạn 3 :
    + Lựa chọn các bài tập phù hơp với đối tượng nghiên cứu.
    + Thu thập và xử lý số liệu.
    + Viết kết luận và kiến nghị đề tài.
    + Đánh máy hoàn thiện đề tài.
    + Báo cáo kết quả nghiên cứu tại Hội đồng khoa học.
    a. Biện pháp cụ thể:
    + Nghiên cứu lựa chọn các trò chơi vận động nhằm phát triển các tố chất thể
    lực chung cho các em học sinh THPT.
    a.1. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh trung học phổ thông.
    a.1.1 Đặc điểm tâm lý.
    – Về mặt tâm lý: Ở lứa tuổi này các em chứng tỏ mình là người lớn, muốn
    được người khác tôn trọng mình, các em đã có trình độ hiểu biết nhất định, thái
    độ của các em tuy nhận thức chưa chín chắn, có nhiều ước mơ hoài bão.
    – Ở lứa tuổi này các em đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, các bộ phận của
    cơ thể vẫn tiếp tục phát triển nhưng tốc độ chậm dần, chức năng sinh lý tương
    đối ổn định, khả năng hoạt động của các cơ quan trong cơ thể được nâng cao
    hơn.
    – Tư duy của các em thể hiện nhất quán khả năng khái quát hóa và trừu tượng
    hóa được phát triển đến mức cao nhất các em tỏ ra nhạy bén với cái mới, rất dễ
    tiếp thu và học tập những vấn đề mới, trào lưu mới của xã hội. Tuy nhiên, các em
    có những tâm lý thích suy luận, thích những vấn đề triết lý dẫn đến suy nghĩ
    thiếu chín chắn hay kết luận vội vàng, thiếu cơ sở thực tế dẫn đến xa rời lý thuyết
    với thực hành.
    Các em ở lứa tuổi này có trí nhớ tốt, khả năng phân tích tổng hợp về một vấn
    để nào đó là rất tốt. Vì vậy, khi học bài các em không còn nhớ một vấn đề một
    cách máy móc mà thường nhớ một cách tổng quát và hệ thống. Bên cạnh đó
    vẫn còn một số nhược điểm là nhớ một cách chung chung, không cụ thể, chính
    xác. Tuy nhiên, trí tưởng tượng của các em mang tính chất sáng tạo cao gắn với
    hiện thực là những hoạt động sáng tạo của các em.
    Sự hình thành thế giới quan: Ở lứa tuổi này thế giới quan cơ bản được phát
    triển tương đối hoàn chỉnh, đã hình thành các quan điểm xã hội, về tự nhiên các
    nguyên tắc cư xử, các em luôn tỏ ra mình là người lớn, muốn được người khác
    tôn trọng. Phần lớn các em hình thành thế giới quan xã hội và nhân sinh quan
    cộng sản chủ nghĩa. Tuy nhiên, một số em còn có quan điểm sai lầm dẫn đến thế
    giới quan sai lầm và phản khoa học lạc hậu và mâu thuẫn.
    Ở lứa tuổi này các em đã nhận biết được các vấn đề xã hội một cách khá
    hoàn chỉnh vì vậy ý thức của các em được đặt rất cao, tính tự lập cao.
    Xu hướng về tương lai: luôn khát vọng hướng tới một tương lai tươi sáng. Có
    một ước mơ táo bạo, có hoài bão lớn. Vì vậy các em luôn luôn muốn khẳng định
    mình và làm việc gì đó có ý nghĩa cho xã hội. Các em muốn gắn lý tưởng của
    mình với việc làm cụ thể để đạt được lý tưởng mình đặt ra. Do đó, tự ý thức của
    các em phát triển mạnh và xu hướng nghề nghiệp cũng bắt nguồn từ đây.
    – Đời sống tình cảm: Có đời sống tình cảm phong phú và sâu sắc, có cơ sở
    vững chắc hơn lứa tuổi 13 -14 nhạy cảm về đạo đức thích sự trung thực, có nhu
    cầu về tình cảm bạn bè và tình yêu để chuyện trò, tâm sự về học tập, quan điểm
    sống. Quan hệ bạn bè khác giới xuất hiện mối tình đầu, tình yêu rất thuần khiết
    chưa dứt khoát được gianh giới tình bạn và tình yêu.
    – Tính tự lập: Biểu hiện rõ nét là giải quyết các mục tiêu theo ý riêng của
    mình thường là chủ động sáng tạo.
    – Tính kiên quyết, quả cảm: Gắn liền với đức tính độc lập có thái độ dứt
    khoát trong hành động.
    – Tinh thần thẳng thắn: Luôn giữ danh dự của mình khi quan hệ với bạn bè,
    thường nói những gì mình suy nghĩ, không nói lấp lửng nể nang ai
    a.1.2 Đặc điểm sinh lý.
    – Hệ thần kinh: Đang tiếp tục phát triển ở lứa tuổi 16 – 18 và trở nên hoàn
    thiện ở khả năng tư duy, phân tích tổng hợp, trừu tượng hóa, phát triển cao,
    thuận lợi cho hệ thống phản xạ có điều kiện. Ngoài ra, ở lứa tuổi này do sự hoạt
    động của tuyến giáp, tuyến sinh dục, tuyến yên làm cho hưng phấn hệ thần kinh
    chiếm ưu thế. Giữa hưng phấn và ức chế cân bằng làm ảnh hưởng đến hoạt động
    thể chất nhất là nữ sinh khiến các em không khống chế được bản thân.
    – Hệ vận động: Xương bắt đầu giảm tốc độ phát triển, sụn ở 2 đầu xương vẫn
    dài, sụn chuyển thành xương ít. Mỗi năm nữ thêm 0,1 – 1cm. Nam cao thêm 1 –
    3cm. Nếu không rèn luyện thêm thì nữ sau 20 tuổi hầu như không cao hơn nữa.
    – Hệ cơ: Đặc điểm cơ bắp là co cơ vẫn tương đối yếu, cơ bắp phát triển tương
    đối nhanh, cơ đùi và cơ tay, các cơ nhỏ phát triển chậm hơn, các cơ co phát triển
    sớm hơn các cơ duỗi. Nữ càng yếu hơn đặc biệt các tổ chức mỡ dưới da của nữ
    phát triển mạnh do đó ảnh hưởng đến sức mạnh cơ nói chung và sức mạnh của
    các em nữ yếu hơn các em nam.
    – Hệ tuần hoàn: đã phát triển mạnh và gần hoàn thiện, buồng tim p

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số bài tập phát triển thể lực cho học sinh tập luyện môn Aerobic trong trường THPT

    SKKN Một số bài tập phát triển thể lực cho học sinh tập luyện môn Aerobic trong trường THPT

    I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Giáo dục thể chất và hoạt động thể dục thể thao giữ vai trò hết sức quan trọng trong
    việc nâng cao trình độ thể chất của một dân tộc. Con người là động lực của sự nghiệp xây
    dựng Chủ Nghĩa Xã Hội, là chủ thể của mọi sự sáng tạo, mọi của cải vật chất, văn hoá,
    chủ thể để xây dựng một xã hội công bằng, nhân ái. Như vậy con người cần được phát
    triển toàn diện: phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần,
    trong sáng về đạo đức giáo dục thể chất là một nhân tố quan trọng không thể thiếu được
    trong hệ thống giáo dục con người mới toàn diện của đất nước ta hiện nay. Phát triển thể
    lực cho học sinh phổ thông cần được quan tâm, cần được xem như là vấn đề có tính chiến
    lược, đặc biệt trong công tác đào tạo thế hệ trẻ tương lai. Cần phải làm cho công tác Giáo
    Dục Thể Chất trong trường học các cấp có chất lượng ngày càng cao, cụ thể là từng bước
    hoàn thiện chương trình giảng dạy nội khoá cho nhà trường phù hợp với các cấp làm cho
    việc tập luyện Thể Dục Thể Thao trở thành một thói quen hàng ngày của học sinh .
    Hiện nay chương trình dạy thể dục khối THPT có nhiều thay đổi: như Bài
    thể dục tay không đổi Bài Aerobic(TDNĐ), Đá cầu, Cầu lông, ….Với Việt Nam
    bộ môn thể dục nhip điệu – Aerobic là một loại hình thể dục tương đối mới
    nhưng đã được sự hưởng ứng sôi nổi. Cụ thể xuất hiện nhiều câu lạc bộ cho thiếu
    nhi, thanh thiếu niên. Đối với trường học ta có thể tập luyện cho các em phát huy
    tính sáng tạo bài Aerobic và tổ chức thi dấu nhằm phát hiện những tài năng thể
    thao, có cơ sở để đào tạo, phát triển thành các vận động viên có thành tích cao
    cho quốc gia.
    Trong giáo dục toàn diện ở nhà trường. Thể dục nói chung và môn Aerobic nói riêng
    là môn học giáo dục tố chức là chính, nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức kỹ
    năng cơ bản để rèn luyện sức khỏe, nâng cao thể lực, giúp học sinh giải tỏa được những
    căng thẳng học tập và thiếu vận động tạo nên.
    Mục đích của giáo dục thể chất đối với học sinh phổ thông là nhằm hoàn thiện về cấu
    trúc và chức năng cơ thể, thông qua đó còn giáo dục đạo đức, trí tuệ, tinh thần, óc thẩm
    mỹ…, bồi dưỡng tinh thần tập thể, ý thứ tổ chức kỷ luật và tác phong làm việc có khoa
    học trong đời sống, tạo cho các em sự ham thích và thói quen tập luyện thể dục thể thao.
    Đi đôi với giáo dục tri thức, nghề nghiệp phải coi trọng giáo dục nhân cách, hoài bão, lý
    3
    tưởng và rèn luyện thển lực, bảo đảm có được những con người phát triển toàn diện,
    trung thành với chế độ, hết lòng vì sự phát triển của đất nước..” Nhiều công trình nghiên
    cứu trong và ngoài nước đã chứng minh sức khỏe của trẻ em và thanh niên là nhân tố hết
    sức quan trọng có ảnh hưởng đến khả năng học tập, sáng tạo và phát triển năng khiếu của
    họ.Có nhiều công trình khoa học trên thế giới chứng minh giáo dục thể chất có khả năng
    góp phần bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho thế hệ trẻ.Thể dục hay nói cách khác là
    GDTC, chính là giáo dục các tố chất thể lực; Giáo dục tố chất cơ thể, nhằm nâng cao sức
    khỏe cho bản thân người tập qua các động tác người tập thông qua các động tác vận động
    cơ thể. Đã nói đến thể dục nói chung và Aerobic nói riêng, chúng ta liên tưởng đến vận
    động của cơ thể thông qua các bài tập như bài thể dục nhịp điệu (AEROBIC) theo nhạc,
    nhịp có rất nhiều nhưng cách tập và cách dạy sao cho đạt được hiệu quả.Chính vì vậy để
    giảng dạy tốt một bài tập Aerobic, người giáo viên nên thực hiện các động tác mẫu một
    cách chuẩn xác, đúng trình tự, luôn gắn bó và hướng tới người học sinh , phương pháp
    lên lớp phải gây được sự hứng phấn cho học sinh tập luyện và tự rèn luyện sức khỏe.Giáo
    dục thể chất đã được đưa vào nhà trường phổ thông ở hầu hết các nước trên thế giới. Môn
    học thể dục và các môn học khác tạo thành một chỉnh thể giáo dục phổ thông và phát
    triển phong trào TDTT của trường học chẳng hạn như các nước: Pháp, Anh, đặc biệt là
    nước Mỷ môn thể dục Aerobic được thành lập các câu lạc bộ trong trường học và hằng
    năm tổ chức thi đấu giải Sport Aerobic khối HS THPT . Gần đây Việt nam tổ chức các
    giải Aerobic và sắp tới củng phát triển, môn thể dục này vào các trường học đáp ứng cho
    nhu cầu cho các em học sinh.
    Chính vì vậy tôi chọn đề tài này với mong muốn giúp được các em phát huy được
    tính sáng tạo, tự rèn luyện, có tính chất đồng đội, ý thức tổ chức kỷ luật và tác phong làm
    việc có khoa học trong đời sống, tạo cho các em sự ham thích và thói quen tập luyện thể
    dục thể thao. Hướng tới phát triển bộ môn Aerobic trong trường học khối THPT
    II. THỰC TRẠNG
    Học sinh các trường THPT, ngoài việc học tập các môn văn hóa để phát triển trí
    tuệ, thì việc học bộ môn Thể dục, tập luyện TDTT thường xuyên ở nhà, nhằm nâng cao
    sức khỏe chống lại bệnh tật và phục vụ lao động sản xuất. Đây là một nhu cầu không thể
    thiếu đối với bản thân của mỗi học sinh. Thực hiện kế hoạch thường xuyên của ngành và
    4
    kế hoạch cụ thể hằng năm của Nhà trường về giảng dạy bộ môn Thể dục chính khóa 2
    tiết/tuần.
    1. Thuận lợi:
    Qua nhiều năm giảng dạy môn Aerobic, các bài tập Aerobic khiến chúng ta khỏe mạnh
    và dẻo dai và giúp các học sinh tích cực phát huy được tính sáng tạo,tự tập luyện và tự
    nghiên cứu, tìm tòi và học hỏi với nhau để hình thành một động tác chuẩn cho bài
    Aerobic (tự chọn). Tình hình thực tế Trường THPT Nguyễn Trãi:
    – Đối với giáo viên có chuyên môn, kiến thức về Aerobic. Đội ngũ giáo viên nhiệt
    tình có nhiều kinh nghiệm trong chuyên môn, luôn luôn tự học hỏi.
    – Đối với học sinh Aerobic còn mới nhưng các em đã thực hiện một cách tích cực
    và mang tính tự giác tập luyện , yêu thích Aerobic. Aerobic biểu diển các phong trào: như
    Chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 2011, hoạt động đoàn 26/3 và các chương trình
    phục vụ lễ
    Thực tế cho thấy ở trường THPT Nguyễn Trãi khi học Aerobic các em rất hăng say tập
    luyện bằng cách là: Khi tập động tác xong phối hợp động tác và chia nhóm, tổ tự tập rất
    chăm chỉ. Mà điều kiện cơ sở vật chất của trường còn thiếu nhưng khi tập với nhạc. Học
    tập rất thích thể hiện là các em tự trang bị mang máy và dụng cụ đi học.( Aerobic rất cần
    có âm nhạc và là sân chơi lành mạnh phát triển phong
    trào TDTT Aerobic cổ động của trường.)
    – Điều kiện sân bãi :
    Sân tập (bãi tập) phải rộng rãi thoáng mát, sạch sẽ, đảm bảo cho mọi hoạt động di chuyển
    của học sinh không bị vướng và không bị sự chi phối của các hoạt động xung quanh
    – Gợi được nhu cầu nhận thức của học sinh: Giáo viên phải đưa ra được các ưu
    điểm của một bài tập Aerobic cho học
    sinh nắm, tìm hiểu sâu sát vào các nhu cầu của học sinh như : muốn giảm cân, phát triển
    chiều cao,cơ bắp … từ đó tạo sự hứng thú khi học sinh tập luyện ở trường cũng như khi
    về nhà .
    – Gây niềm tin vào khả năng nhận thức của học sinh:
    Đưa ra một bài tập mà tác dụng của bài tập đó có ảnh hưởng trực tiếp đến một số nhóm
    cơ của người tập , mà học sinh chưa nắm được. Từ bài tập này tạo cho học sinh sự hưng
    phấn ban đầu để học sinh phát huy điểm mạnh của mình trong từng động tác.
    5
    2. Khó khăn:
    – Điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện dạy học còn thiếu thốn rất nhiều
    chẳng hạn như tập Aerobic đòi hỏi có sân tập riêng, có máy cacset hay máy CD.
    – Trong tổ có khoảng 2/3 giáo viên tuổi nghề còn trẻ, có con nhỏ, nên còn nhiều hạn
    chế trong công tác chuyên môn nghiệp vụ.
    – Đa số học sinh vẫn coi nhẹ môn học thể dục chưa thật sự chú ý tập luyện.
    III. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
    1. Phương pháp nghiên cứu.
    – Mét sè ph-¬ng ph¸p luyÖn tËp, sö dông c¸c dông cô luyÖn tËp.
    – T×m hiÓu thùc tr¹ng thÓ lùc cña häc sinh th«ng qua kiÓm tra ®¸nh gi¸ ®Çu n¨m.
    – Phương pháp quan sát sư phạm.
    – Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
    2. Thời gian nghiên cứu .
    – Thời gian :
    Năm học 2019 – 2020 đến năm học 2020 – 2021
    – Địa điểm:
    Trường THPT Nguyễn Trãi – Trực Ninh – Nam Định.
    – Trang thiết bị:
    Bài tập thể dục, bài tập thể lực, sách giáo khoa, giáo án, loa, usb,hoặc đĩa CD…
    3. Mục đích của đề tài .
    – Đề tài đã giả quyết được sự yếu kém về thể lực của học sinh nói chung và thể lực
    trong môn TDNĐ , AEROBIC .
    – Mục tiêu của tôi đó là đem đề tài trao đổi với các đồng nghiệp nhằm mục đích nâng
    cao nghiệp vụ công tác của bản thân góp phần vào việc nâng cao thể lực chung, thể lực
    chuyên môn và năng lực làm việc của học sinh sau khi tốt nghiệp THPT .
    IV. NỘI DUNG.
    1. Những khó khăn bất cập khi giảng dạy môn Aerobic
    6
    1.1. Khó khăn về trình độ học sinh không đồng đều.
    Về giới tính cũng là một vấn đề lớn trong việc học tập và tiếp thu kỹ thuật, động tác.
    1.2. Thời lượng học trên lớp ít số lần học sinh được tiếp xúc, sửa sai kĩ thuật rất ít.
    1.3. Cơ sở vật chất còn quá nghèo nàn ở các Trường THPT nông thôn đầu tư cho tập
    luyện chi phí thấp.
    2. Thực trạng giảng dạy môn Aerobic .
    Trong chương trình giảng dạy môn TDNĐ trường THPT từ lớp 10 đến lớp 12 các
    em chỉ được học các bài tập chứ các em không được trang bị thể lực . Nếu người giáo
    viên không đưa các bài tập bổ trợ vào để giảng dạy mà chỉ thực hiện các bài tập trong yêu
    cầu của PPCT và các bài tập hướng dẫn trong SGK thì :
    – Thứ nhất : Học sinh chỉ biết được kỹ thuật động tác cơ bản chứ khi áp dụng kỹ thuật,
    các bước chuyển tiếp, bước thể dục cơ bản thì chưa có.
    – Thứ hai : Yêu cầu của chương trình mớí thay sách giáo khoa chủ yếu các em phát
    triển thể lực chung là chính .
    – Thứ ba : Nếu không củng cố thể lực chuyên môn cho các em nội dung học lặp lại
    nhiều lần thể lực chuyên môn của người học yếu dẫn đến người học bị sớm mệt mỏi
    nhàm chán thiếu hứng thú tập luyện.
    3. Chọn đối tượng.
    – Nhóm học sinh tập câu lạc bộ Aerobic 20 học sinh trong năm học 2019 – 2020 đến
    2020 – 2021
    4. Biện pháp thực hiện các bài tập bổ trợ vào giờ học để phát triển thể lực chuyên
    môn.
    Chương trình giảng dạy bộ môn thể dục mới do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy
    định, phát triển toàn diện cho học sinh là nhiệm vụ hàng đầu. Do vậy, việc rèn luyện tất
    cả các môn, nội dung học cho học sinh THPT cần được giáo viên xác định để lựa chọn
    nội dung, biện pháp luyện tập phù hợp, lượng vận động hợp lý, giúp học sinh rèn luyện
    thường xuyên. Có như vậy việc rèn luyện thể chất mới có hiệu quả và đảm bảo an toàn
    tuyệt đối trong tập luyện và kiểm tra.
    7
    – Trò chơi vận động là một trong những hình thức đầu tiên có tác dụng kích thích
    Trò tập luyện và phù hợp với tâm – sinh lý lứa tuổi học sinh cần được sử dụng nhiều
    (giáo viên nên thay đổi trò chơi dưới nhiều hình thức, tránh trường hợp lặp lại trò chơi,
    dễ gây nhàm chán trong học sinh).
    – Các bài tập thể lực phong phú nhằm phát huy tính tích cực chủ động của học sinh
    thông qua các loại hình tập luyện. Tự tập ở nhà theo kế hoạch tập luyện các nhân, tập
    theo kế hoạch của câu lạc bộ Aerobic và theo từng nhóm sức khỏe, lứa tuổi dưới các
    hình thức thi đấu giữa các tổ, cá nhân.
    – Ngoài ra giáo viên cần cung cấp các kiến thức chuyên môn trong những thời gian
    nghỉ giữa các lần tập. Đó là: Kiến thức về môn Aerobic sự phối hợp của các động tác ,
    liên kết các động tác cơ bản, động tác khó, biết thở trong bài tập phân phối sức khi tập
    luyện và cách khắc phục các động tác khó. Nhắc nhở học sinh vận dụng tốt trong quá
    trình tập luyện trên lớp cũng như tự tập ở nhà. Để tránh nhàm chán, các biện pháp tập
    luyện cần được thay đổi thường xuyên qua các buổi tập, mỗi khi đưa ra biện pháp mới,
    giáo viên cần hướng dẫn cụ thể mục đích, yêu cầu đến cách tổ chức tập luyện cho học
    sinh ở trên lớp và bài tập bổ trợ thêm ở nhà.
    – Để nâng cao tính tích cực tự giác của học sinh trong tập luyện môn Aerobic
    người giáo viên cần quan tâm: Phối hợp các hình thức tập luyện khác nhau: Trò chơi và
    các biện pháp phát triển thể lực. Luyện tập trên lớp , ở nhà phong phú về hình thức và
    biện pháp tập luyện sẽ hạn chế bớt những ức chế khi thực hiện động tác. Truyền thụ kiến
    thức xen kẽ giữa các lần tập sẽ giúp học sinh nhanh hồi phục và các tri thức cần thiết.
    Cần chú ý giáo dục tư tưởng, phẩm chất tâm lý cá nhân . Việc giáo dục tư tưởng phải gắn
    liền với giáo dục phẩm chất đạo đức và các phẩm chất tâm lý tập luyện chuyên môn, rất
    cần thiết cho học sinh THPT, những phẩm chất này, giúp học sinh tham gia tập luyện một
    cách tập trung, có mục đích, tự giác, bền bỉ. Chính vì thế, cấn giáo dục cho học sinh hiểu
    rằng: những người tập luyện tích cực, thường xuyên luôn là tấm gương sáng cho thanh
    thiếu niên tham gia tập luyện thể thao noi theo, và thông qua sự tập luyện xuất sắc của họ
    thì danh dự của họ được tôn vinh và được mọi người tôn trọng.
    – Trong quá trình giảng dạy giáo viên cần trang bị cho học sinh: tư thế thân người,
    tay, mũi chân khi tập, cần phối hợp ăn nhịp với nhạc . Yêu cầu giữ vững kỹ thuật trong
    điều kiện tập luyện. Bởi vậy việc phát triển sức bền và kỹ thuật luôn gắn bó với nhau.
    8
    Trong mối quan hệ này, phải phát triển các khả năng phối hợp vận động cần thiết cho
    việc sử dụng kỹ thuật một cách hợp lý nhất. Phát huy tích tích cực trong tập luyện phải
    cần thiết coi trọng việc phát triển các khả năng trí tuệ của mỗi học sinh, xem đây là một
    bộ phận quan trọng của quá trình giảng dạy. Mức độ yêu cầu về trí tuệ năng lực nhận
    thức ngày càng cao, do đó góp phần tích cực vào việc tự giác tích cực chủ động tập
    luyện. Năng lực trí tuệ của học sinh không những ảnh hưởng đến quá trình tập luyện (đặc
    biệt với việc trang bị kiến thức kỹ thuật) mà còn thể hiện ở các năng lực tham gia trò
    chơi, ý thức cá nhân trong tập luyện, hạn chế chấn thương khi tham gia tập luyện của học
    sinh.
    5. Hệ thống bài tập phát triển thể lực môn Aerobic.
    5.1.Bài tập thể dục tay không :
    Bài thể dục chung : Gồm 8 động tác :
    Động tác 1 : Vươn thở
    Động tác 2 : Vặn mình
    Động tác 3 : Tay ngực
    Động tác 4 : Toàn thân
    Động tác 5 : Gập thân
    Động tác 6 : Nhảy
    Động tác 7 : Lườn
    Động tác 8 : Điều hòa
    5.2.Bài tập cơ bản 7 bước Aerobic :
    1/ Diễu hành : Chuyển động tác động lực truyền thống thấp, yêu cầu từ mũi qua mu bàn
    chân đến gót.
    2/ Chạy bộ : Chuyển động tác động lực cao dạng diểu hành trong đó đầu gối cân thẳng
    bên dưới hoặc phía trước khớp háng
    3/ Nhảy cách quãng : Chuyển động tác động lực cao hoặc thấpkết hợp những chuyển
    động duỗi được điều khiển của đầu gối và gập hông. Mắt các có thể ở tư thế duỗi hoặc
    gập.
    4/ Nâng đầu gối : Chuyển động tác động lực cao hoặc thấp nâng đầu gối với góc ở khớp
    háng và khớp gối tối thiểu 90 o. Mắt cá chân có thể duỗi thẳng hoặc gập
    5/ Đá : Chuyển động tác động lực cao hoặc thấp xuất phát từ gập khớp háng với một chân
    9
    thẳng . Mắt cá có thể ở tư thế duỗi hoặc gập các độ khó khác nhau ( Độ cao)
    6/ Bật Jack : Chuyển động tác động lực cao trong đó hai chân dạng hoặc khép (Mở hoặc
    đóng sang bên) từ khớp háng. Trung tâm trọng lực ở giữa hai bàn chân phân bố trọng
    lượng cơ thề đều trên mỗi chân. Đầu gối phải mềm và cân thẳng với hai bàn chân (hơi
    xoay ra phía ngoài) và hai chân hơi gập để hấp thụ lực va chạm
    7/ Lunge (rộng) : Chuyển động tác động lực cao từ khớp háng làm mở và đóng hai chân
    theo đường chéo. Đầu gối của chân ở phía trước phải gập và hướng đi trước bàn chân.
    Hai chân song song với hai đầu gối cân thẳng với hai bàn chân.
    5.3. Bài tập thể lực:
    1. Chống đấy:
    10
    2. Nằm ngửa nâng chân gập bụng:
    11
    3. Nằm úp nâng thân chân trên

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Nghiên cứu ứng dụng các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng môn học GDQP – AN cho học sinh

    SKKN Nghiên cứu ứng dụng các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng môn học GDQP – AN cho học sinh

    BÁO CÁO SÁNG KIẾN
    I. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
    Trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến,
    phức tạp, tiềm ẩn những yếu tố khó lường, đối với nước ta, các thế lực thù địch
    vẫn ráo riết chống phá, chủ yếu bằng chiến lược diễn biến hoà bình, bạo loạn lật
    đổ, nhằm xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, xoá bỏ vai trò lãnh đạo
    của Đảng Cộng sản, chuyển hoá cách mạng nước ta đi chệch hướng xã hội chủ
    nghĩa. Nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa
    (XHCN) chúng ta cần xây dựng một thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân
    dân trong đó học sinh, sinh viên ở các trường trung học phổ thông (THPT), đại
    học, cao đẳng là một lực lượng hùng hậu, có sức khỏe, có trình độ học vấn, có
    tiềm năng sáng tạo, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học kỹ thuật hiện đại,
    chủ nhân tương lai của đất nước. Đảng và Nhà nước ta từ lúc cách mạng thành
    công 1945, đã quan tâm đến việc giáo dục thế hệ trẻ phát triển toàn diện. Bác Hồ
    đã dạy: “Dân có cường thì nước mới thịnh”, “Vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi
    ích trăm năm trồng người”.
    Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII năm 1996 đã
    khẳng định: “… Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ phải thực
    sự trở thành quốc sách hàng đầu…”.
    Giáo dục quốc phòng, an ninh (GDQP,AN) là một bộ phận của nền giáo
    dục quốc dân, là một nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân,
    an ninh nhân dân, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong công tác quốc phòng của
    Đảng, qua đó nhằm bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cần thiết, khơi dậy lòng
    yêu nước, niềm tự hào, tự tôn của dân tộc cho học sinh, sinh viên Việt Nam nói
    chung và cho học sinh THPT Nam Định nói riêng, đối với việc xây dựng và bảo
    vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
    Giáo dục quốc phòng, an ninh trong trường học là một phần quan trọng
    không thể thiếu của nền giáo dục XHCN. GDQP,AN có tác động tích cực cho
    việc hoàn thiện nhân cách, cá tính, những phẩm chất cần thiết và có thể cải thiện
    chất lượng của học sinh để đào tạo mới, phát triển, phục vụ cho xã hội một cách
    hiệu quả như: hiện đại hoá đất nước, duy trì an ninh, quốc phòng, góp phần to
    lớn vào sự phát triển của trí tuệ, thể chất, tinh thần.
    Giáo dục quốc phòng, an ninh cho học sinh, sinh viên, nhằm giáo dục cho
    thế hệ trẻ lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, niềm tự hào và sự trân trọng đối
    với truyền thống của dân tộc; trang bị cho thế hệ trẻ những kiến thức cơ bản về
    quốc phòng – an ninh và những kỹ năng quân sự cần thiết, để thế hệ trẻ nhận
    thức đầy đủ hơn quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm đối với sự nghiệp xây dựng và
    bảo vệ Tổ quốc.
    Nghị định 116/NĐ – CP ngày 10/7/2007 của Chính phủ về quốc phòng an
    ninh chỉ rõ: “Giáo dục quốc phòng – an ninh là bộ phận của nền giáo dục quốc
    dân, một nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh
    nhân dân; là môn học chính khoá trong chương trình giáo dục và đào tạo trung
    học phổ thông đến đại học và các trường chính trị, hành chính, đoàn thể”.
    Thông tư Số: 40/2012/TT-BGDĐT 19 tháng 11 năm 2012 của Bộ giáo dục và
    đào tạo cũng đã xác định: “Giáo dục quốc phòng – an ninh là môn học chính
    khóa, bắt buộc đối với học sinh các trường trung học phổ thông, trung cấp
    chuyên nghiệp; sinh viên các trường cao đẳng, đại học; là một nội dung cơ bản
    trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân”.
    Giáo dục quốc phòng và an ninh là một nội dung quan trọng trong xây
    dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an
    ninh nhân dân; trực tiếp góp phần hun đúc lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn
    dân tộc, nâng cao ý thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đối
    với sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Trong giai đoạn hiện nay,
    công tác giáo dục quốc phòng và an ninh càng có ý nghĩa quan trọng.
    Những năm qua, nhất là từ khi có Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh,
    công tác giáo dục quốc phòng và an ninh trên cả nước có bước phát triển mới,
    ngày càng đi vào chiều sâu, đạt được kết quả tích cực. Nổi bật là, cấp ủy, chính
    quyền các cấp, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, các cấp, các ngành đã nhận
    thức đầy đủ hơn vị trí, tầm quan trọng của công tác giáo dục quốc phòng và an
    ninh, nên đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, tổ chức thực hiện nghiêm túc.
    Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về công tác
    giáo dục quốc phòng và an ninh được xây dựng, ban hành đồng bộ, tạo hành
    lang pháp lý để triển khai thực hiện. Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh
    các cấp thường xuyên được củng cố, kiện toàn, duy trì nền nếp hoạt động; phát
    huy tốt vai trò tham mưu, tổ chức thực hiện. Công tác bồi dưỡng kiến thức quốc
    phòng và an ninh cho các đối tượng được triển khai tích cực, chủ động, bằng
    nhiều hình thức, phương pháp linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả; đối tượng bồi dưỡng
    được mở rộng, chất lượng được nâng lên.
    Từ năm 2013 đến nay, cả nước có gần 2,7 triệu lượt cán bộ thuộc các đối
    tượng được bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh theo quy định. Đặc biệt,
    Cơ quan Thường trực Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương đã
    phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Tôn giáo
    Chính phủ, Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Quân khu 2, 4, 5, 7, 9 và
    thành phố Hà Nội tổ chức bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho hơn
    120 chức sắc các tôn giáo là Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
    Nam của 12 tỉnh, thành phố phía Nam; 320 tăng, ni của Học viện Phật giáo Việt
    Nam và gần 720 chức sắc, nhà tu hành, đại diện các tổ chức tôn giáo trên địa
    bàn Quân khu 2, 4, 5, 7, 9, đạt kết quả tốt, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ trong tín đồ,
    phật tử.
    Công tác giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh, sinh viên được
    triển khai đồng bộ từ bậc trung học phổ thông đến đại học và có nhiều đổi mới,
    chất lượng từng bước được nâng cao. Đội ngũ giáo viên, giảng viên giảng dạy
    môn học giáo dục quốc phòng và an ninh được coi trọng xây dựng, bồi dưỡng,
    từng bước chuẩn hóa. Công tác phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho
    toàn dân được đẩy mạnh, nội dung, hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với
    đặc điểm địa bàn, dân cư; việc bảo đảm phục vụ công tác giáo dục quốc phòng
    và an ninh được quan tâm đúng mức. Hệ thống trung tâm giáo dục quốc phòng
    và an ninh trên cả nước được quy hoạch, đầu tư nâng cấp, xây dựng ngày càng
    hoàn thiện, v.v. Những kết quả của công tác giáo dục quốc phòng và an ninh đạt
    được là rất quan trọng, góp phần xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân,
    nhất là “thế trận lòng dân” vững chắc trong khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố),
    quân khu và trên phạm vi cả nước.
    Hiện nay, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân
    ta đứng trước những vận hội, thời cơ, thuận lợi và không ít khó khăn, thách thức
    đan xen. Tình hình thế giới, khu vực tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định, khó
    lường. Trong nước, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chống phá bằng âm
    mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
    trong nội bộ ta, kích động tư tưởng ly khai, bạo loạn lật đổ,…. Bối cảnh đó, đặt
    ra cho công tác giáo dục quốc phòng và an ninh những nội dung, yêu cầu mới,
    rất cao. Để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện hơn nữa về nhận thức, ý thức,
    trách nhiệm của các cấp, ngành, của cả hệ thống chính trị và toàn dân đối với sự
    nghiệp bảo vệ Tổ quốc, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp nâng cao chất
    lượng, hiệu quả công tác giáo dục quốc phòng và an ninh.
    Mục tiêu của giáo dục là đào tạo thế hệ trẻ có tri thức, đạo đức, bản lĩnh
    sống để hòa nhập vào thời đại công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH – HĐH).
    Hiểu biết sâu sắc về quê hương đất nước và có trách nhiệm bảo vệ quê hương
    đất nước cả phần đất liền cũng như biển đảo. Khi nói về giáo dục, Đảng ta
    khẳng định: Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho
    sự phát triển. Các trường THPT là cái nôi trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ vừa “hồng”
    vừa “chuyên”. Trang bị cho học sinh đầy đủ hành trang trí tuệ để học sinh bước
    vào đời, trở thành công dân có ích cho quê hương, đất nước.
    Giáo dục quốc phòng, an ninh nhằm thống nhất nhận thức về nhiệm vụ
    bảo vệ Tổ quốc, xây dựng con người mới XHCN có sự phát triển toàn diện.
    Việc GDQP,AN cho học sinh là nhiệm vụ hết sức quan trọng trong hệ thống
    giáo dục quốc gia, góp phần bồi dưỡng cho thế hệ trẻ những kiến thức cơ bản về
    đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng ta và kỹ năng quân sự để sẵn sàng
    tham gia lực lượng vũ trang khi cần thiết, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ
    quốc trong tình hình mới. GDQP,AN cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng, cấp
    bách trong chiến lược đào tạo con người mới XHCN, nhằm giáo dục cho thế hệ
    trẻ nói chung, học sinh nói riêng lòng yêu nước, yêu CNXH, ý thức tổ chức kỷ
    luật, tinh thần tập thể, tư duy và kiến thức quân sự, chuẩn bị nhân lực và đào tạo
    nhân tài cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là một trong những nội dung giáo dục
    toàn diện trong nhà trường, góp phần hình thành nhân cách con người mới
    XHCN. Mặt khác, GDQP,AN còn trang bị kiến thức, ý thức xây dựng bảo vệ Tổ
    quốc, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho quê
    hương đất nước.
    Giáo dục quốc phòng, an ninh còn có tác động tích cực tới việc rèn luyện
    và bồi dưỡng những phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, ý thức tổ chức kỷ
    luật, có động cơ đúng đắn trong học tập và rèn luyện của học sinh, góp phần vào
    mục tiêu phát triển con người toàn diện. Mà hiện nay, với xu hướng dạy học lấy
    học sinh làm trung tâm nhằm khuyến khích học sinh tự học, tự nghiên cứu, nâng
    cao được chất lượng giáo dục trong nhà trường. Chính vì vậy chúng ta không
    thể nhồi nhét vào đầu óc học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều mà
    chúng ta phải chú trọng đến phương pháp rèn luyện cho học sinh kĩ năng, thói
    quen, ý chí tự học thì sẽ tạo ra cho học sinh lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn
    có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được cải thiện.
    Trong những năm qua, chất lượng giáo dục trong trường học các cấp nói
    chung đã có những chuyển biến rõ rệt. Toàn ngành đã tập trung vào thực hiện
    đổi mới chương trình sách giáo khoa mà cơ bản là đổi mới phương pháp dạy học,
    nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, giáo dục đại trà và giáo dục mũi nhọn.
    Chất lượng đội ngũ giáo viên được đặc biệt quan tâm. Kiến thức kỹ năng sư
    phạm và trách nhiệm giảng dạy được nâng cao đáng kể. Ngành kiên trì chủ
    trương xây dựng mỗi nhà trường là một trung tâm bồi dưỡng giáo viên, tăng
    cường cử cán bộ, giáo viên đi đào tạo nâng chuẩn, tạo điều kiện thuận lợi để đội
    ngũ giáo viên yên tâm công tác, học tập.
    Tuy nhiên, Hoạt động của hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh ở
    một số địa phương hiệu quả chưa cao. Công tác phối hợp giữa cơ quan, tổ chức
    có liên quan trong tổ chức thực hiện chưa chặt chẽ. Công tác phổ biến kiến thức
    quốc phòng và an ninh cho toàn dân, nhất là nơi biên giới, hải đảo, miền núi,
    vùng sâu, vùng xa còn gặp nhiều khó khăn,… bên cạnh những mặt mạnh đạt
    được của giáo dục trong trường học các cấp nói chung, thì GDQP,AN trong
    trường học vẫn còn những hạn chế, tồn tại và thiếu hụt nhất định. Chất lượng
    GDQP,AN trong trường học cũng còn nhiều bất cập, một phần do sự đầu tư cho
    GDQP,AN chưa đúng mức, do cơ sở vật chất còn nghèo nàn, trang thiết bị phục
    vụ công tác GDQP,AN trong trường học gần như không được đầu tư nhiều,
    phần nữa, trong tư tưởng của nhiều trường thì GDQP,AN là môn phụ nên cũng
    chưa được chú trọng phát triển…. Từ những thực tế trên mà GDQP,AN trong
    trường học còn bị xem nhẹ, chất lượng giáo dục chưa đáp ứng được những yêu
    cầu đặt ra.
    Trường THPT Lý Nhân Tông là đơn vị mới thành lập trên địa bàn xã Yên
    Lợi – Ý Yên, điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và dụng cụ tập luyện còn
    thiếu thốn, chất lượng chưa tốt; điều kiện kinh tế vùng miền khó khăn, trình độ
    dân trí không đồng đều, chất lượng tuyển sinh đầu vào của trường còn thấp….
    Vì vậy, cũng ảnh hưởng phần nào đến chất lượng môn học GDQP,AN.
    Đối với giáo viên GDQP,AN, công việc giảng dạy phải gắn liền với
    nghiên cứu. Đây là con đường ngắn nhất để không ngừng tích luỹ kiến thức,
    nâng cao trình độ, nghiệp vụ, gọt sắc tư duy, góp phần tìm ra những giải pháp,
    biện pháp thích hợp để truyền đạt tri thức tới người học.
    Với tất cả những lí do trên, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn về việc cần phải
    nâng cao chất lượng GDQP,AN cho học sinh, cùng với kinh nghiệm giảng dạy
    của mình, nên tôi lựa chọn nghiên cứu sáng kiến: “Nghiên cứu ứng dụng các
    biện pháp nhằm nâng cao chất lượng môn học GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG,
    AN NINH cho học sinh trường THPT Lý Nhân Tông – Yên Lợi – Ý Yên –
    Nam Định”.
    Nghiên cứu ứng dụng các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng môn học
    GDQP,AN được tiến hành với mục đích lựa chọn được những biện pháp thực sự
    phù hợp, có tính khả thi và cơ sở khoa học để nâng cao hiệu quả công tác
    GDQP,AN trong trường THPT, bước đầu ứng dụng và đánh giá hiệu quả các
    biện pháp lựa chọn trong thực tế công tác GDQP,AN, góp phần nâng cao hiệu
    quả công tác GDQP,AN cho đối tượng nghiên cứu.
    II. Mô tả giải pháp:
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
    1.1.Cơ sở lý luận.
    Trước yêu cầu, nhiệm vụ của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngày
    28-12-1961, Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) đã ra Nghị định số
    219/CP về việc huấn luyện quân sự cho quân nhân dự bị và dân quân tự vệ,
    trong đó quy định việc huấn luyện quân sự phổ thông cho học sinh, sinh viên
    (HS,SV) từ trung học phổ thông đến cao đẳng, đại học. Nghị định này đánh dấu
    sự ra đời môn học mới trong hệ thống giáo dục quốc dân – môn học quân sự – cơ
    sở của môn học giáo dục quốc phòng – an ninh ngày nay. Năm 2001, Chính phủ
    đã ban hành Nghị định số 15/NĐ-CP, quy định GDQP,AN là môn học chính
    khoá trong hệ thống giáo dục – đào tạo (GD-ĐT). Nhờ đó, công tác GDQP,AN
    cho HS,SV đã có bước phát triển mới cả bề rộng và chiều sâu, chất lượng ngày
    càng cao. Qua đó, đã giáo dục cho HS,SV về những chủ trương, quan điểm cơ
    bản của Đảng về quốc phòng – an ninh (QP-AN), nâng cao ý thức cảnh giác
    cách mạng và rèn luyện những kỹ năng quân sự cần thiết, để tuổi trẻ góp phần
    vào công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
    Thực hiện Chỉ thị 12-CT/TW ngày 03/5/2007 của Bộ Chính trị về Tăng
    cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác GDQP,AN trong tình hình mới;
    Chỉ thị số 417/CT-TTg ngày 31/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng
    cường chỉ đạo, thực hiện công tác GDQP,AN năm 2010 và những năm tiếp theo;
    Nghị định 116/2007-NĐ-CP về GDQP,AN cùng nhiều văn bản quy phạm pháp
    luật khác làm cơ sở pháp lý để thực hiện nhiệm vụ GDQP,AN trong các trường
    THPT.
    Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “giúp học sinh phát triển toàn diện về
    đạo đức – trí tuệ – thể chất – thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực
    khả năng, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt
    Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhân cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị
    cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây
    dựng và bảo vệ Tổ quốc”; Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo
    quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
    Đào tạo cũng đã nêu : “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo
    của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh,
    điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả
    năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến
    tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”.
    Năm học 2020-2021 Trường THPT Lý Nhân Tông tiếp tục chỉ đạo triển
    khai thực hiện cuộc vận động “Hai không” với bốn nội dung trọng tâm: Nói
    không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích; nói không với vi phạm đạo
    đức nhà giáo và việc cho học sinh ngồi nhầm lớp. Gắn kết với việc triển khai tổ
    chức thực hiện Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 07/6/2006 của Bộ Chính trị về cuộc
    vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Để đạt được
    mục tiêu đề ra là đảm bảo chất lượng giáo dục ổn định và phát triển vững chắc.
    Ngay từ đầu năm học Trường THPT Lý Nhân Tông đã chỉ đạo làm tốt công tác
    tuyên truyền đến toàn thể cán bộ, giáo viên, học sinh và các bậc Phụ huynh hiểu
    rõ mục đích, yêu cầu của việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
    Có thể khẳng định, môn học giáo dục quốc phòng có vai trò và ý nghĩa rất
    to lớn đối với sự nghiệp giáo dục toàn diện cho học sinh, sinh viên đặc biệt
    trong điều kiện đất nước hội nhập và phát triển hiện nay. Vì vậy, việc giảng dạy
    môn học GDQP,AN là một nhiệm vụ quan trọng và rất có ý nghĩa của ngành và
    của giáo viên bộ môn. Nhận thức được điều đó, đòi hỏi mỗi giáo viên chúng ta
    đều phải có trách nhiệm trong việc hoàn thiện nó và đưa bộ môn giáo dục quốc
    phòng, an ninh trở thành một cánh tay nối dài trong hệ thống quốc phòng toàn
    dân. Làm được điều đó sẽ góp phần làm cho khối đại đoàn kết toàn dân và sức
    mạnh dân tộc không ngừng được củng cố và lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự
    nghiệp xây dựng và bảo vệ vững Tổ Quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai
    đoạn hiện nay.
    Hiện nay, nền giáo dục nước ta đang ở vào giai đoạn, mà việc đổi mới
    phương pháp giảng dạy, đang là một vấn đề cấp bách được đặt ra. Phải khuyến
    khích tự học phải vận dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng
    cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo. Để thực hiện tốt chủ trương này thì cần
    phải đào tạo khả năng tự học cho học sinh.
    Nói đến giáo dục quốc phòng, an ninh. Trường THPT Lý Nhân Tông là
    một trong những đơn vị trong huyện có điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị,
    điều kiện sân bãi chưa đáp ứng số lượng tiết học giáo dục quốc phòng,
    an ninh cho hơn 600 học sinh. Tiết học giáo dục quốc phòng, an ninh
    chính khóa đã truyền thụ cho các em học sinh những tri thức cơ bản của nền
    Giáo dục quốc phòng toàn dân. Đó là những kiến thức rất bổ ích, thiết thực với
    học sinh phổ thông trước ngưỡng cửa cuộc đời. Học sinh còn được làm quen với
    tác phong quân đội qua các bài học về điều lệnh, đội ngũ, các tư thế vận động cơ
    bản trong chiến đấu, băng bó, cứu thương….làm quen với các phương tiện chiến
    đấu như ném lựu đạn, cách bắn súng tiểu liên AK …
    Qua học tập môn GDQP,AN đã giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, tự
    hào dân tộc, nâng cao tinh thần cảnh giác, chống mọi âm mưu diễn biến hoà
    bình của kẻ thù.Toàn bộ chương trình học tập của từng khối được xây dựng theo
    chương trình hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, đảm bảo dạy đủ tiết, đúng phân phối
    chương trình. Đồng thời cũng được thể hện cụ thể tại Thông tư 02/2017/TTBGDĐT.
    Giáo dục quốc phòng, an ninh trong trường THPT là môn học chính khóa,
    là bộ môn khoa học tổng hợp có phạm vi vô cùng rộng lớn và khá phức tạp, nên
    không thể đơn giản, sơ sài mà nó phải được coi là một hệ thống chương trình và
    phải được quán triệt trong môn học, trong mọi hoạt động của học sinh, ở mọi lúc,
    mọi nơi, có vậy mới có thể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng hiện tại
    và tương lai. Giúp học sinh có những hiểu biết ban đầu về nền quốc phòng toàn
    dân, an ninh nhân dân, truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc, lựu
    lượng vũ trang nhân dân và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Có kiến thức cơ bản,
    cần thiết về phòng thủ dân sự, sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ
    quốc.
    1.2. Cơ sở khoa học.
    1.2.1. Biện pháp là gì?
    Khái niệm biện pháp: Biện pháp là cách thức, là con đường để tác động
    đến đối tượng. Trong giáo dục người ta thường quan niệm biện pháp là yếu tố
    hợp thành của phương pháp, phụ thuộc vào phương pháp. Trong tình huống sư
    phạm cụ thể, phương pháp và biện pháp giáo dục có thể chuyển hoá lẫn nhau.
    Biện pháp chính là những cách thức cụ thể để thực hiện phương pháp
    quản lý. Vì đối tượng quản lý phức tạp đòi hỏi những biện pháp quản lý rất đa
    dạng và linh hoạt. Các biện pháp quản lý có liên quan chặt chẽ với nhau tạo
    thành một hệ thống các biện pháp, các biện pháp này sẽ giúp cho các nhà quản
    lý thực hiện tốt hơn các phương pháp quản lý của mình mang lại hiệu quả tối ưu
    của bộ máy.
    1.2.2. Chất lượng giáo dục là gì?
    Từ trước tới nay cụm từ “chất lượng giáo dục” đã được đề cập rất nhiều
    trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong hoạt động chuyên môn của
    ngành giáo dục và cũng gây tranh cãi nhiều trong dư luận – xã hội. Từ cách nhìn
    khác nhau, mỗi nhóm người hay mỗi người cũng có thể có nhiều cách hiểu khác
    nhau về chất lượng giáo dục. Chẳng hạn như: giáo viên đánh giá chất lượng học
    tập bằng mức độ mà học sinh nắm vững các kiến thức kỹ năng, phương pháp và
    thái độ học tập của cá nhân. Học sinh có thể đánh giá chất lượng học tập bằng
    việc nắm vững kiến thức và vận dụng vào thực hành các bài tập, bài kiểm tra,
    bài thi… Cha mẹ học sinh đánh giá chất lượng bằng điểm số kiểm tra – thi, xếp
    loại. Người sử dụng sản phẩm đào tạo thì đánh giá chất lượng bằng khả năng
    hoàn thành nhiệm vụ được giao, khả năng thích ứng với môi trường, hoàn cảnh,
    tình huống cụ thể…
    * Chất lượng giáo dục theo cách nhìn của các nhà khoa học:
    Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Đản (Trường đại học Sư phạm Hà Nội), chất
    lượng giáo dục là những lợi ích, giá trị mà kết quả học tập đem lại cho cá nhân
    và xã hội, trước mắt và lâu dài. Khái niệm trên được đúc kết từ nhiều góc độ
    khác nhau. Dưới góc độ quản lý chất lượng, thì chất lượng giáo dục là học sinh
    vừa cần phải nắm được các kiến thức kỹ năng, phương pháp chuẩn mực thái độ
    sau một quá trình học; đáp ứng được các yêu cầu khi lên lớp, chuyển cấp, vào
    học nghề hay đi vào cuộc sống lao động…
    Còn với góc độ giáo dục học thì chất lượng giáo dục được giới hạn trong
    phạm vi đánh giá sự phát triển của cá nhân sau quá trình học tập và sự phát triển
    xã hội khi họ tham gia vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế sản xuất, chính trị – xã
    hội, văn hóa – thể thao.
    Nhìn từ mục tiêu giáo dục thì chất lượng giáo dục được quy về chất lượng
    hoạt động của người học. Chất lượng đó phải đáp ứng được các yêu cầu về mục
    tiêu của cá nhân và yêu cầu xã hội đặt ra cho giáo dục…
    TS Tô Bá Trượng (Viện chiến lược và Chương trình giáo dục) thì cho
    rằng, chất lượng giáo dục là chất lượng con người được đào tạo từ các hoạt động
    giáo dục. Chất lượng ở đây phải được hiểu theo hai mặt của một vấn đề: Cái
    phẩm chất của con người gắn liền với người đó, còn giá trị của con người thì
    phải gắn liền với đòi hỏi của xã hội. Theo quan niệm hiện đại, chất lượng giáo
    dục phải bảo đảm hai thuộc tính cơ bản: tính toàn diện và tính phát triển.
    Từ việc dẫn ra nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng giáo dục,
    PGS.TSKH Bùi Mạnh Nhị (Trường đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh) cho
    rằng, cách hiểu phổ biến hiện nay về chất lượng giáo dục là sự đáp ứng mục tiêu
    đề ra của giáo dục: Chẳng hạn mục tiêu giáo dục đại học toàn diện gồm có:
    phẩm chất công dân, lý tưởng, kỹ năng sống; tri thức (chuyên môn, xã hội, ngoại
    ngữ, tin học…) và khả năng cập nhật thông tin; giao tiếp, hợp tác; năng lực thích
    ứng với những thay đổi và khả năng thực hành, tổ chức và thực hiện công việc,
    khả năng tìm việc làm và tự tạo việc làm có ích cho bản thân và người khác…
    Hoặc mục tiêu giáo dục là nhằm đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
    diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; trung thành với lý
    tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách,
    phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng
    và bảo vệ Tổ quốc.
    * Giáo viên là yếu tố hàng đầu nâng cao chất lượng giáo dục
    Để nâng cao chất lượng giáo dục, theo TS Nguyễn Anh Dũng (Viện
    Chiến lược và Chương trình giáo dục) thì cần phải tiến hành đổi mới chương
    trình giáo dục. Đồng thời ưu tiên giải quyết đồng bộ các khâu đào tạo bồi dưỡng
    sử dụng đãi ngộ và kiểm tra đánh giá đội ngũ giáo viên. Thứ hai là phải đẩy
    mạnh quản lý giáo dục, trong đó phải đẩy mạnh phân cấp quản lý, xây dựng và
    thực hiện chuẩn giáo dục, tăng cường thanh tra chuyên môn và đầu tư nguồn lực
    cơ sở vật chất.
    Qua nghiên cứu thực trạng chất lượng giáo viên, nhóm nghiên cứu gôm
    các đồng chí PGS.TS Nguyễn Ngọc Hợi; PGS.TS Phạm Minh Hùng và TS Thái
    Văn Thành (Đại học Vinh) cũng cho rằng, muốn nâng cao chất lượng giáo dục
    thì trước hết phải nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Các nhà nghiên cứu
    này cho rằng, những yếu tố tạo thành chất lượng giáo dục gồm có: giáo viên,
    chương trình và sách giáo khoa; Phương pháp dạy học; Cơ sở vật chất, thiết bị
    dạy học… Trong đó, giáo viên là yếu tố có vai trò quyết định hàng đầu đến chất
    lượng giáo dục.
    Ngoài ra, cũng có một số ý kiến cho rằng, muốn nâng cao chất lượng giáo
    dục thì cần phải tăng cường đầu tư cho giáo dục, kết hợp với nâng cao chất
    lượng cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy và học tập để phát huy khả
    năng thích ứng của người học với môi trường. Cũng có ý kiến cho rằng, hoạt
    động giáo dục cần phải gắn chặt với thị trường lao động của xã hội để giáo dục,
    đào tạo nên những con người dễ dàng nắm bắt và thích ứng với công việc sau
    khi đã được giáo dục, đào tạo.
    1.2.3. Đặc điểm tâm, sinh lý cơ bản của lứa tuổi 16-18.
    Ở lứa tuổi này, cơ thể các em đang ở giai đoạn đầu của thời kỳ trưởng
    thành, sự phát triển các chức năng sinh lý, tâm lý đã tương đối hoàn thiện, tạo
    điều kiện thuận lợi cho sự phát triển các năng lực hoạt động thể lực cũng như
    năng lực hoạt động tư duy.
    * Đặc điểm sinh lý cơ bản của lứa tuổi 16-18:
    Học sinh các trường phổ thông trung học thường ở lứa tuổi 16 -18, cơ thể
    các em đã phát triển. Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kì phát triển bình
    thường, hài hòa cân đối, cơ thể của các em đã đạt tới mức phát triển của người
    trưởng thành. Nhìn chung ở tuổi này các em có sức khỏe và sức chịu đựng tốt
    hơn tuổi thiếu niên. Thể chất của các em đang ở độ tuổi phát triển mạnh mẽ rất
    sung sức, nên người ta hay nói: ‘‘Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu”. Sự phát triển thể
    chất ở lứa tuổi này sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý và nhân cách của
    các em, đồng thời nó còn ảnh hưởng tới sự lựa chọn nghề nghiệp sau này của
    các em
    * Đặc điểm tâm lý cơ bản của lứa tuổi 16-18 :
    Các em ở lứa tuổi này luôn tỏ ra mình đã lớn, đòi hỏi mọi người xung
    quanh coi trọng mình. Các em đã có sự hiểu biết, ưa hoạt động, có hoài bão ước
    mơ. Do quá trình hưng phấn chiếm ưu thế hơn quá trình ức chế nên các em tiếp
    thu cái mới nhanh nhưng lại dễ chán nản. Khi đạt được một số kết quả nào đó,
    các em dễ tỏ ra tự mãn, kiêu ngạo ít chịu học hỏi đến nơi đến chốn để nâng cao
    kiến thức và điều đó sẽ tác động không tốt đến việc học tập. Trong quá trình học
    cần nhắc nhở, chỉ bảo tận tình, ân cần, nhẹ nhàng động viên, khen thưởng kịp
    thời. Những em tiếp thu chậm thường hay tự ti, từ đó các em tỏ ra chán nản. Vì
    vậy, cần động viên khích lệ ngay, có định hướng để hiệu quả học tập được nâng
    lên. Một số em còn có thái độ coi thường lao động chân tay, thích cuộc sống xa
    hoa lãng phí, ăn chơi, đua đòi theo bạn bè…. Các em thích hướng đến tương lai,
    ít chú ý đến hiện tại và dễ quên quá khứ. Cần phải nhắc nhở, phê bình, trấn
    chỉnh kịp thời, tạo điều kiện nâng cao tinh thần trách nhiệm của các em.
    1.3. Cơ sở thực tiễn.
    1.3.1. Vai trò của công tác Gdqp, an hiện nay.
    Những năm qua, cùng với những thành tựu vượt bậc của công cuộc đổi
    mới đất nước, công tác quốc phòng, an ninh nước ta luôn được Ðảng, Nhà nước,
    nhân dân chăm lo xây dựng, củng cố. Vì vậy, tiềm lực và thế trận quốc phòng
    toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân được giữ vững, công tác GDQP,AN
    ngày càng được tăng cường, củng cố. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã
    khẳng định: “Tăng cường quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường
    xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân”. Tư duy mới của Đảng ta về xây dựng
    nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trong giai đoạn hiện nay được thể
    hiện rõ ở việc tăng cường bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh, làm cho
    mọi người hiểu rõ những thách thức lớn tác động trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ
    Tổ quốc trong điều kiện mới. Nghị định 116/NĐ-CP ngày 10/7/2007 của Chính
    phủ về quốc phòng – an ninh chỉ rõ: “Giáo dục quốc phòng, an ninh là bộ phận
    của nền giáo dục quốc dân, một nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc
    phòng toàn dân, an ninh nhân dân; là môn học chính khoá trong chương trình
    giáo dục & đào tạo trung học phổ thông đến đại học và các trường chính trị,
    hành chính, đoàn thể…”.
    Trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến
    nhanh chóng, phức tạp, tiềm ẩn những yếu tố khó lường. Đối với nước ta, các
    thế lực thù địch vẫn ráo riết chống phá, chủ yếu bằng chiến lược diễn biến hoà
    bình, nhằm xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, xoá bỏ vai trò lãnh đạo
    của Đảng Cộng sản, chuyển hoá cách mạng nước ta đi chệch hướng xã hội chủ
    nghĩa. Các hành động xâm hại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nước ta vẫn tiếp
    diễn dưới nhiều hình thức, âm mưu và với các thủ đoạn hết sức tinh vi. Học
    sinh, sinh viên là một lực lượng hùng hậu, có sức khỏe, có trình độ học vấn, có
    tiềm năng sáng tạo, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học kỹ thuật hiện đại,
    chủ nhân tương lai của đất nước. Bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ học sinh,
    sinh viên đã và đang bị tác động to lớn bởi cơ chế thị trường, có những biểu hiện
    xuống cấp về lối sống, dễ bị kẻ xấu kích động, lôi kéo. Với mục tiêu giáo dục
    toàn diện về mọi mặt cho học sinh, sinh viên, GDQP,AN đã tạo những cơ hội
    thiết thực cho thế hệ trẻ tu dưỡng về phẩm chất đạo đức, rèn luyện và hoàn thiện
    bản thân thông qua các giờ học thực hành trên thao trường, cùng với đó, các giờ
    học lý thuyết trên lớp đã trang bị cho học sinh, sinh viên những kiến thức cơ bản
    về quan điểm đường lối quân sự của Đảng, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực
    thù địch cũng như công tác Quốc phòng trong giai đoạn hiện nay. Mặt khác môn
    học GDQP,AN còn trang bị cho học sinh, sinh viên những kiến thức hữu ích về
    một số loại vũ khí, khí tài, thông qua đó học sinh, sinh viên có thể biết cách
    phân biệt, sử dụng và trang bị cho mình những kỹ thuật cơ bản để sử dụng được
    một số loại vũ khí thông thường và biết cách phòng tránh khi đối phương sử
    dụng vũ khí hủy diệt lớn. Ngoài ra môn học GDQP,AN còn giúp cho học sinh,
    sinh viên biết và hiểu được một số quy định trong môi trường Quân đội, hướng
    cho sinh viên làm việc theo nguyên tắc, kỷ cương. Tạo cơ sở cho học sinh, sinh
    viên tu dưỡng và hoàn thiện kỹ năng sống của bản thân; Để trở thành những
    công dân có ích trong xã hội. GDQP,AN là một nhiệm vụ cần thiết đối với thế
    hệ trẻ, môn học này giúp học sinh, sinh viên nhận thức và hành động đúng đắn,
    tránh được các tệ nạn xã hội đang tồn tại và phát triển hàng ngày, hàng giờ.
    Đồng thời giúp học sinh, sinh viên định hướng được những thế mạnh của mình
    để phát huy, hạn chế tối đa các yếu kém. Môn học GDQP,AN có vai trò quan
    trọng trong việc khơi dậy và nêu cao tinh thần yêu nước của thế hệ trẻ, tăng
    cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân
    vào Đảng và Nhà nước, chống lại mọi âm mưu chia rẽ, phản động của các thế
    lực thù địch trong và ngoài nước. GDQP,AN còn là nhân tố quan trọng để đánh
    giá phẩm chất đạo đức của học sinh, sinh viên, đồng thời củng cố và bảo vệ
    vững chắc an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tăng cường sự đoàn kết trong
    nhà trường, giữa học sinh, sinh viên với nhau, giữa người với người và với các
    mối quan hệ xã hội khác, gắn kết tinh thần dân tộc và xây dựng khối đại đoàn
    kết toàn dân. Môn học GDQP,AN được quan tâm đào tạo và giáo dục cho học
    sinh, sinh viên về chủ trương đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, góp
    phần nâng cao vị thế chính trị, quân sự của nước ta đối với các nước trong khu
    vực và bạn bè quốc tế. Có thể nói rằng, môn học GDQP,AN có một vai trò và ý
    nghĩa rất to lớn trong việc giáo dục và nâng cao ý thức, phẩm chất đạo đức của
    con người đặc biệt là học sinh, sinh viên – thế hệ trẻ, chủ nhân tương lai của đất
    nước. Trong điều kiện đất nước hội nhập và phát triển, việc nâng cao ý thức,
    trách nhiệm và hiểu biết về kiến thức quốc phòng-an ninh là một nhiệm vụ thiết
    thực hơn bao giờ hết. Tóm lại, việc giảng dạy cho học sinh, sinh viên những
    kiến thức về quốc phòng-an ninh là một việc làm đúng đắn và rất có ý nghĩa. Nó
    sẽ giúp cho khối đại đoàn kết toàn dân và sức mạnh dân tộc không ngừng được
    củng cố và lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững
    Tổ Quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
    1.3.2. Vị trí, vai trò của giáo dục quốc phòng, an ninh đối với sự nghiệp giáo
    dục.
    Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục quốc phòng, an ninh “là bộ phận

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Một số phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy nội dung “Nhảy cao kiểu nằm nghiêng” trong trường THPT

    SKKN Một số phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy nội dung “Nhảy cao kiểu nằm nghiêng” trong trường THPT

    PHẦN I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
    Giáo dục thể chất (GDTC) luôn là một trong những nội dung giáo dục quan
    trọng trong nhà trường, nhằm đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam phát triển về trí tuệ,
    cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần và trong sáng về đạo đức. Mục
    tiêu của GDTC là phát triển toàn diện các tố chất, thể lực, thể hình, nâng cao sức
    khỏe, phát triển các thảnh tích thể thao, đồng thời góp phần hình thành nhân
    cách học sinh. Như Bác Hồ đã nói “Tập luyện thể dục – thể thao là quyền lợi,
    trách nhiệm, bổn phận của người dân yêu nước”.
    GDTC trong trường THPT còn là một mặt của giáo dục toàn diện, trang bị
    cho học sinh những kiến thức về lĩnh vực TDTT, phát triển toàn diện các tố chất
    thể lực giúp các em có thể học tốt các môn học, lao động sản xuất và mọi công
    tác khác. Tập luyện điển hình một cách có hệ thống và khoa học có tác dụng
    củng cố và tăng cường sức khỏe là cơ sở để phát triển toàn diện các tố chất thể
    lực, tạo điều kiện để nâng cao thành tích các môn thể thao khác.
    Qua nhiều năm công tác và giảng dạy các khối lớp tại Trường THPT
    Nguyễn Huệ, tôi nhận thấy nhà trường còn gặp rất nhiều khó khăn về vấn đề sân
    bãi. Khuôn viên của nhà trường rất nhỏ, nên còn hạn chế trong việc dạy và học
    các nội dung của môn thể dục. Vì vậy, môn “Nhảy cao” là lựa chọn phù hợp cho
    các khối lớp với điều kiện sân bãi của nhà trường còn hạn chế như hiện nay.Bên
    cạnh đó, kỹ thuật “Nhảy cao kiểu nằm nghiêng” cũng là một kỹ thuật mới và
    tương đối khó. Nhảy cao là bộ môn rèn luyện sức khỏe dẻo dai, nhanh nhạy và
    độ chính xác cao. Nhảy cao được xem như là một quá trình vận động phức tạp.
    6
    Vì thế nên mức độ tiếp thu của các em còn chậm. Tuy nhiên, đây là một nội
    dung học khá hấp dẫn và hầu hết các em học sinh đều yêu thích.
    Chính vì vậy mà tôi đã quyết định lựa chọn, nghiên cứu “Một số
    phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy nội dung Nhảy Cao Kiểu
    Nằm Nghiêng trong Trường THPT Nguyễn Huệ ” để các em học sinh
    được tiếp cận nhiều hơn với môn học, tự tin hơn và nâng cao được thành
    tích của chính mình. Từ đó, các em học sinh sẽ cảm thấy thích thú, hưng
    phấn và yêu thích môn học này hơn.
    PHẦN II.MÔ TẢ GIẢI PHÁP KỸ THUẬT
    II.1. MÔ TẢ GIẢI PHÁP TRƯỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN:
    1.1.Thực trạng công tác dạy và học nội dung “Nhảy cao kiểu nằm nghiêng”
    1.1.1. Thuận lợi:
    Được sự quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện của Ban Giám hiệu nhà
    trường, tổ chuyên môn, các thầy cô và bạn bè đồng nghiệp trong quá trình
    thực hiện đề tài. Bản thân giáo viên là người đã giảng dạy kỹ thuật “Nhảy cao
    kiểu nằm nghiêng” nhiều năm,đã có kinh nghiệm để có thể đưa ra được
    những biện pháp tích cực trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy nội dung
    “Nhảy cao kiểu nằm nghiêng”.
    Theo điều tra cơ bản đối với học sinh đang theo học tại Trường THPT
    Nguyễn Huệ : Hầu hết các em học sinh có đạo đức, tác phong, ý thức kỷ luật tốt.
    1.1.2. Khó khăn:
    Kỹ thuật “Nhảy cao kiểu nằm nghiêng” là nội dung hoàn toàn mới và có độ
    khó tương đối cao so với “Nhảy cao kiểu bước qua” mà học sinh đã học ở
    trường cấp II, nên mức độ tiếp thu của các em còn chậm.
    Đối tượng học sinh đang ở lứa tuổi dậy thì, đa số các em học sinh nữ xuất hiện
    sức ì, có nhiều thay đổi về tâm sinh lý, giới tính, rất ngại học những giờ học chạy –
    nhảy, mất tập trung đối với môn học. Đa số, các em không thể tiếp thu và vận dụng
    tốt kỹ thuật để phát huy, nâng cao thành tích kiểm tra trong học tập và thi đấu. Bên
    cạnh đó, thể lực của các em cũng chưa thực sự tốt và rất cần được cải thiện.
    7
    Sân bãi tập luyện còn hạn chế cho các trò chơi vận động bổ trợ thêm cho
    động tác nhảy cao.
    Mặt khác, với quy định của phân phối chương trình môn thể dục (2 tiết/1
    tuần) là tương đối ít để các em có thể lĩnh hội, tiếp thu động tác kỹ thuật một
    cách nhuần nhuyễn, thuần thục. Vì vậy, vấn đề đặt ra cho giáo viên dạy học môn
    thể dục là phải tìm ra những biện pháp tối ưu nhất để gây hứng thú cho học sinh
    tập luyện, giúp các em khắc phục những sai lầm, hoàn thiện kỹ thuật và nâng
    cao thể lực để đạt được kết quả cao về thành tích.
    1.1.3. Cơ bản:
    Trong quá trình tập luyện, học sinh có thể mắc phải một số động tác sai,
    giáo viên phải luôn chú ý ngăn ngừa những sai lầm, phải có biện pháp sửa chữa
    động tác sai để học sinh nắm được kỹ thuật chính xác, nâng cao chất lượng
    giảng dạy. Phát hiện kịp thời tìm được nguyên nhân động tác sai mới có thể
    giúp học sinh sửa chữa nhanh chóng, giáo viên phải chú ý sửa sai cho từng học
    sinh, sửa sai dù là cái nhỏ nhất ngay sau khi học sinh thực hiện động tác. Bên
    cạnh đó, giáo viên còn phải chú trọng đến việc nâng cao thể lực cho các em
    học sinh bằng những bài tập đơn giản nhất phù hợp với các em qua mỗi giờ
    học trên lớp cũng như ở nhà để các em có thể đạt được thể lực tốt nhất, chỉ khi
    có được thể lực tốt thì các em mới tự tin để tiếp cận với các kỹ thuật khó của
    các môn thể thao.
    1.2. Một số phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy nội dung
    “Nhảy cao kiểu nằm nghiêng”:
    Sau đây tôi xin trình bày một số phương pháp cơ bản để góp phần nâng cao
    chất lượng giảng dạy môn “ Nhảy cao kiểu nằm nghiêng” trong Trường THPT
    Nguyễn Huệ.
    1.2.1.Phương pháp trực quan:
    Giáo viên cần xây dựng khái niệm về môn học chính xác, kết hợp cho các
    em học sinh xem tranh ảnh (hoặc video mà các vận động viên thi đấu thực hiện
    động tác đẹp, chính xác) để học sinh có khái niệm chung tương đối đúng và
    chính xác về động tác. Nội dung chính của bài học giáo viên nên thị phạm toàn
    8
    bộ động tác.Đặc biệt, là giai đoạn giậm nhảy, đây là giai đoạn quan trọng của kĩ
    thuật nhảy cao, nó có tác dụng quyết định trực tiếp đến thành tích của người
    nhảy. Khi thực hiện thị phạm động tác thì giáo viên phải thực hiện nhiều lần ở
    các góc độ khác nhau và thị phạm rõ từng động tác lẻ, từ động tác dễ đến khó, từ
    đơn giản đến phức tạp giúp cho học sinh hiểu rõ nội dung bài học. Động tác thị
    phạm phải phải đẹp, chính xác, chất lượng động tác thị phạm càng cao thì càng
    gây sự phấn khởi và lòng ham muốn học tập cho học sinh.
    1.2.2.Phương pháp sử dụng lời nói:
    Bên cạnh việc thị phạm thì giáo viên còn phải dùng lời nói để phân tích,
    giảng giải những yêu cầu về kĩ thuật giúp cho học sinh dễ hiểu kĩ thuật động tác.
    Đặc biệt, là giai đoạn giậm nhảy, đây là giai đoạn quan trọng của kĩ thuật nhảy
    cao, nó có tác dụng quyết định trực tiếp đến thành tích của người nhảy.Vì vậy, ở
    phần này giáo viên phải phân tích thật rõ ràng kĩ lưỡng để cho các em học sinh dễ
    hiểu và dễ thực hiện. Giáo viên phân tích rõ, sau khi chân đã đặt vào điểm giậm
    nhảy thì chân giậm nhảy phải hơi chùng ở khớp gối, sau đó mới dồn hết sức về
    phía chân giậm nhảy. Khi đá chân lăng ra trước cần phải chủ động sử dụng đến
    sức của phần đùi cùng với độ linh hoạt của khớp hông để đá chân lên cao. Hai tay
    phối hợp cùng với chân lăng, đánh vòng xuống dưới rồi sau đó đưa lên cao, khi
    hai khủy tay để ngang vai thì dừng lại đột ngột để tạo thế nâng người lên cao. Khi
    được nghe giáo viên phân tích, giảng giải kỹ lưỡng chi tiết về từng kỹ thuật động
    tác thì học sinh sẽ tiếp thu kỹ thuật động tác tốt hơn.
    1.2.3. Phương pháp luyện tập:
    a.Giáo viên đi vào sửa chữa các sai lầm dễ mắc phải khi thực hiện động
    tác “Nhảy cao kiểu nằm nghiêng”.
    *Chạy đà không chính xác.
    – Cách khắc phục:
    + Đo lại đà và tập chạy đà nhiều lần để điều chỉnh đà. (Không và có kết
    hợp giậm nhảy đá lăng)
    + Tập lại động tác giậm nhảy tại chỗ.
    9
    + Bổ trợ: Di chuyển 1-3-5 bước chân vào điểm giậm nhảy (không và có kết
    hợp giậm nhảy, đá lăng)
    + Chạy đà chính diện với đệm và thực hiện nhảy qua mức xà thấp.
    + Chạy đà theo góc độ đà so với xà 30-40 thực hiện qua mức xà thấp.
    * Giậm nhảy không hết, góc độ giậm nhảy lớn hoặc nhỏ quá, giậm nhảy
    gần hoặc xa xà quá.
    – Cách khắc phục:
    + Nâng cao nhận thức về kỹ thuật cho học sinh.
    + Tập phát triển sức mạnh cơ chân (Đứng lên, ngồi xuống).
    + Tập phản xạ giậm nhảy nhanh (Bật cầu thang tại chỗ).
    + Tập 2 bước cuối cùng hợp lý (bước cuối cùng ngắn nhât)
    + Đo và chỉnh lại cự ly, hướng chạy đà và điểm giậm nhảy.
    + Tập đặt chân vào điểm giậm nhảy và đá lăng.
    * Giậm nhảy bị lao vào xà.
    – Cách khắc phục:
    + Tập chạy đà và thực hiện giậm nhảy bật cao bằng chân giậm, đồng thời
    thực hiện động tác xốc hông lên cao và rơi xuống tại chỗ.
    + Tập phản xạ giậm nhảy nhanh, đá lăng chạm vật chuẩn vươn người tích
    cực lên cao.
    * Chân lăng, chân giậm nhảy đá rơi xà, bị tụt mông.
    – Cách khắc phục:
    + Tập các động tác rèn luyện độ linh hoạt của khớp hông và phát triển sức
    mạnh chân, sức bật cao (tại chỗ đá lăng, chạy đà đá lăng, đá lăng vào vật treo
    trên cao, trò chơi rèn luyện sức mạnh chân như nhảy dây).
    + Tập 3 bước giậm nhảy đá lăng kết hợp đánh xốc tay (chưa xoay người).
    + Đà 1-3-5 bước đà bật nhảy, đá lăng chân qua xà (chú ý đá chân lăng cao,
    chưa xoay người).
    * Bị chấn động khi tiếp đất, tiếp đất sai hướng, sai tư thế.
    – Cách khắc phục:
    + Đứng trên 1 chân tập khụy gối rồi đứng lên.
    10
    + Tập nhảy từ trên cao xuống đệm có chùng gối để giảm chấn động (từ trên
    ghế hoặc bục thấp xuống đệm).
    + Tập một số động tác phát triển thể lực chân: ngồi xuống- đứng lên bằng
    hai chân.Hai tay chống hông, đứng lên ngồi xuống bằng một chân.
    + Sau khi qua xà, chân giậm nhảy nhanh chóng co chân qua xà, chân lăng
    đá thẳng qua xà, cả hai tay duỗi ra để hỗ trợ. Khi chân giậm nhảy bắt đầu chạm
    đất, nhanh chóng khụy gối để giảm chấn động.
    b. Biện pháp nâng cao thể lực cho học sinh trong quá trình học nội dung
    “Nhảy cao kiểu nằm nghiêng”:
    Để nâng cao thể lực cho học sinh, ngoài việc học tập ở trên lớp tôi đã chọn
    hình thức ra bài tập thể lực về nhà cho học sinh để các em có thể phát triển thể
    lực một cách hiệu quả nhất. Đó là những bài tập thể lực đơn giản nhưng hiệu
    quả, bổ trợ cho nội dung “Nhảy cao kiểu nằm nghiêng” như:
    – Động tác: đứng tại chỗ thực hiện ngồi xuống –đứng dậy bằng 2 chân.
    – Động tác bật nhảy trên bậc cầu thang.
    – Động tác nhảy dây.
    – Động tác nâng cao đùi tại chỗ.
    – Động tác tại chỗ đá lăng.
    Trong thực tế giảng dạy, dựa trên những yếu điểm của các em khi thực
    hiện động tác tôi đã đưa ra một số biện pháp khắc phục sai lầm cũng như
    tăng cường thể lực cho các em học sinh, để các em có thể thực hiện tốt hơn
    ở nội dung “Nhảy cao kiểu năm nghiêng”. Cụ thể, tôi đã tiến hành thử
    nghiệm ở 8 lớp 11 mà tôi đang giảng dạy về việc sửa chữa kịp thời những
    động tác sai và nâng cao thể lực cho học sinh, để học sinh có thể thực hiện
    kỹ thuật môn học một cách tốt nhất.
    Trước tiên, tôi tiến hành kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện kỹ thuật
    “Nhảy cao kiểu nằm nghiêng” của các em trước khi đi vào thực nghiệm.
    Thời gian kiểm tra đánh giá kết quả là khi các em bắt đầu học nội dung
    “Nhảy Cao Kiểu Nằm Nghiêng”.
    KẾT QUẢ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRƯỚC THỰC NGHIỆM
    Nam khoảng 1m20
    Nữ khoảng 1m10
    Nam khoảng 1m15
    Nữ khoảng 1m05
    Nam khoảng 1m10
    Nữ khoảng 1m00
    Nam <1m10
    Nữ < 1m00
    13%
    12%
    14%
    13% 14% 14%
    12% 13%
    34%
    32%
    35%
    40%
    36%
    34%
    38%
    35%
    37%
    41%
    36%
    32% 32%
    36%
    32%
    35%
    10%
    15% 15% 15%
    19%
    16%
    18%
    17%
    0%
    5%
    10%
    15%
    20%
    25%
    30%
    35%
    40%
    45%
    Lớp 11A1 Lớp 11A2 Lớp 11A3 Lớp 11A4 Lớp 11A5 Lớp 11A6 Lớp 11A7 Lớp 11A8
    Tốt Khá Trung bình Yếu
    *Sau khi kiểm tra đánh giá lấy kết quả ban đầu đối với các em học sinh, tôi
    tiến hành cho các em đi vào phần thực nghiệm.
    * Cụ thể:
    ( Các buổi học ở trên lớp và các buổi tập luyện ở nhà sẽ được bố trí lệch buổi nhau. )

    Hình
    thức
    Số buổi
    Nội dung học trên lớp buổi sángNội dung luyện tập thể lực tại nhà
    vào buổi chiều
    1Một số bài tập bổ trợ và phát triển thể
    lực:
    -Tại chỗ đá lăng: 10 lần – 2 tổ.
    -Chạy nâng cao đùi tại chỗ: 15”- 3 tổ.
    -Bật cóc di chuyển: 15m – 3 lần – 2 tổ
    – Động tác: Ngồi xuống, đứng lên
    bằng 2 chân: 20 lần –3 tổ.
    – Động tác: Bật nhảy trên bậc cầu
    thang: 20 lần – 3 tổ.
    – Động tác: Nhảy dây đơn – 2 tổ.
    +Nam: 100 lần
    +Nữ: 80 lần.
    Thời gian nghỉ giữa các tổ là 3 phút.
    2-Tập động tác di chuyển 3 bước giậm
    nhảy- đá lăng.
    -Chạy nâng cao đùi tại chỗ: 15” – 3 tổ.
    -Phối hợp chạy đà – giậm nhảy -trên
    không – tiếp đất.
    -Động tác: Ngồi xuống, đứng lên bằng
    2 chân: 20 lần – 3 tổ.
    -Động tác: Nhảy dây đơn – 2 tổ.
    +Nam: 100 lần
    +Nữ: 80 lần.
    -Động tác: Tại chỗ đá lăng: 10 lần – 3
    tổ.
    Thời gian nghỉ giữa các tổ là 2 phút.
    3-Tại chỗ đá lăng: Mỗi bên 10 lần- 2 tổ
    -Chạy 30 m tốc độ cao: 2 lần.
    -Phối hợp chạy đà – giậm nhảy – trên
    không – tiếp đất.
    -Giới thiệu một số điểm trong Luật
    điển kinh phần nâng cao.
    -Động tác nâng cao đùi tại chỗ: Yêu
    cầu làm nhanh 15” – 3 tổ.
    -Động tác: Nhảy dây đơn – 2 tổ
    +Nam: 100 lần
    +Nữ: 80 lần.
    -Động tác:Tại chỗ đá lăng:10 lần–3 tổ.
    Thời gian nghỉ giữa các tổ là 2 phút.

    13

    4-Nâng cao đùi tại chỗ: 15” – 3 tổ.
    -Chạy 30 m tốc độ cao: 2 lần.
    -Phối hợp chạy đà – giậm nhảy- trên
    không-tiếp đất.
    -Giới thiệu một số điểm trong Luật
    điển kinh phần nâng cao.
    -Động tác nâng cao đùi tại chỗ 15” – 3 tổ.
    -Động tác bật nhẩy trên bậc cầu thang:
    30 lần – 3 tổ.
    -Động tác: Tại chỗ đá lăng: 10 lần – 3
    tổ.
    Thời gian nghỉ giữa mỗi tổ 2 phút.
    5-Tập động tác di chuyển ở bước giậm
    nhảy đá lăng 30 m – 3 lần.
    -Thực hiện kỹ thuật nhảy cao kiểu
    nằm nghiêng.
    -Động tác bật nhảy trên bậc cầu thang:
    30 lần – 3 tổ.
    -Động tác nâng cao đùi tại chỗ 15” – 3 tổ
    -Động tác: Nhảy dây đơn -2 tổ
    +Nam: 150 lần
    +Nữ: 100 lần
    Thời gian nghỉ giữa mỗi tổ 2 phút
    6*Kiểm tra: Nhảy Cao Kiểu Nằm
    Nghiêng.
    -Nam: +Tốt: 1,20m trở lên.
    + Khá: 1,15m.
    + TB: 1,10m.
    + Yếu: < 1,10m.
    -Nữ: +Tốt: 1,10m trở lên.
    + Khá: 1,05m.
    + TB: 1,00m.
    + Yếu: < 1,00m.
    -Động tác nâng cao đùi tại chỗ 15” – 3
    tổ.
    -Động tác bật nhảy trên bậc cầu thang:
    30 lần – 3 tổ.
    -Động tác ngôì xuống, đứng lên: 20
    lần – 3 tổ.
    Thời gian nghỉ giữa mỗi tổ 2 phút.

    II.2. MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI CÓ SÁNG KIẾN:
    2.1. Mô tả cách thức thực hiện:
    – Giáo viên giao bài tập về nhà cho học sinh trong thời gian 3 tuần học nội
    dung “nhảy cao kiểu nằm nghiêng”.
    + Mỗi lớp (2 buổi / tuần) và lệch buổi so với giờ học trên lớp vào buổi
    sáng.
    14
    + Hình thức: Học online, 2 lớp/ 1 buổi
    + Thời lượng: 45’/ 1 buổi.
    + Thời gian: 16h30’ – 17h15’
    *Cụ thể:
    NỘI DUNG HỌC TRÊN LỚP VÀO BUỔI SÁNG
    *****

    TTTên bài tậpBuổi
    1
    Buổi
    2
    Buổi
    3
    Buổi
    4
    Buổi
    5
    Buổi 6
    1Tại chỗ đá lăngXX
    2Chạy nâng cao đùi tại chỗXXX
    3Bật cóc di chuyểnX
    4Tập động tác di chuyển 3
    bước giậm nhảy – đá lăng
    X
    5Phối hợp chạy đà – giậm
    nhày – trên không – tiếp
    đất
    XXX
    6Chạy 30m tốc độ caoXX
    7Giới thiệu một số điều
    Luật Điền kinh phần nâng
    cao
    XX
    8Động tác di chuyển ở
    bước giậm nhảy – đá lăng
    30m
    X
    9Hoàn thiện kỹ thuật “Nhảy
    cao kiểu nằm nghiêng”
    X
    10Kiểm tra: Kỹ thuật “Nhày
    cao kiểu nằm nghiêng”
    X

    15
    * GIÁO ẤN MẪU: BUỔI SÁNG.
    KẾ HOẠCH BÀI HỌC
    CHỦ ĐỀ: NHẢY CAO “KIỂU NẰM NGHIÊNG”
    BUỔI 2: (TIẾT 28)

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • SKKN Phát triển tư duy của học sinh thông qua việc tối ưu hóa các bài toán trên đồ thị

    SKKN Phát triển tư duy của học sinh thông qua việc tối ưu hóa các bài toán trên đồ thị môn Tin học

    BÁO CÁO SÁNG KIẾN
    I. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
    Lý thuyết đồ thị có rất nhiều thuật toán ứng dụng vào các bài toán thực tế của cuộc sống
    như tìm đường đi ngắn nhất, tìm cây khung có trọng số nhỏ nhất,…Việc tìm ra mối liên hệ giữa
    các bài toán thực tế trong cuộc sống với các thuật toán trên đồ thị, khiến cho học sinh cảm thấy
    hứng thú rất lớn với lý thuyết về đồ thị. Tuy nhiên, có một khó khăn khi dạy học về lý thuyết đồ
    thị, đó là số lượng thuật toán liên quan đến đồ thị không hề nhỏ. Do vậy, học sinh khi làm các bài
    tập liên quan đến đồ thị, các em thường có nhiều thuật toán khác nhau để giải quyết vấn đề. Đôi
    khi, các em cảm thấy chưa biết phải vận dụng thuật toán nào để giải quyết các bài toán trên đồ thị.
    Việc dạy cho các em nhiều thuật toán trên đồ thị trong một thời gian ngắn, khiến cho các em cảm
    thấy đồ thị thật là khó. Do đó, tôi muốn tiếp cận cách giải quyết những bài toán trên đồ thị, dựa
    trên việc phát triển từ những thuật toán, phương pháp cơ bản các em cảm thấy quen thuộc như số
    học, quy hoạch động, tổ hợp,…
    Vì thế tôi chọn đề tài: “Phát triển tư duy học sinh thông qua việc tối ưu hóa các
    bài toán trên đồ thị”, nhằm mục đích xây dựng một hệ thống bài tập liên quan đến đồ thị,
    đồng thời rèn luyện kỹ năng tối ưu hóa bài toán trên đồ thị
    II. Mô tả giải pháp
    1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
    Trước khi dạy bài tập về đồ thị, phương pháp dạy học của tôi được tiến hành
    như sau:
    • Tôi thường tìm kiếm bài tập về đồ thị với nguồn từ sách giáo khoa, sách bài
    tập, các nguồn bài tập trên Internet, và các sách tham khảo
    Tuy nhiên, sau thời gian dạy cho đội tuyển Tin, tôi nhận thấy các vấn đề sau:
    • Một là, bài tập tôi xây dựng vẫn chưa đi theo mạch logic từ dễ đến khó.
    Khiến cho một số đơn vị bài tập quá dễ, một số đơn vị bài tập lại quá khó.
    Điều đó khiến cho bài dễ thì học sinh nảy sinh tâm lý chủ quan, bài khó quá
    thì nhiều học sinh sẽ nảy sinh tâm lý sợ sệt và nản khi học lập trình
    4
    • Hai là, cần thiết phải có một hệ thống bài tập không quá dễ cũng không quá
    khó, và nằm trong khả năng có thể làm được của nhiều đối tượng học sinh.
    Hệ thống bài tập như vậy sẽ khiến cho học sinh cảm thấy thích thú tìm hiểu
    lập trình, và khai thác sâu được nhiều đơn vị kiến thức qua mỗi bài toán
    trong Tin học
    Do vậy, tôi viết chuyên đề này với mục đích sau:
    • Xây dựng được một hệ thống bài tập có vận dụng đồ thị trong việc tối ưu
    hóa thuật toán; chỉ ra được thuật toán tối ưu và thuật toán chưa tối ưu trong
    việc giải quyết bài toán, và cài đặt chương trình bằng ngôn ngữ lập trình
    C++
    2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
    Đề tài tôi xây dựng hướng tới mục đích sau:
    • Xây dựng và phân tích được những bài tập đồ thị có nhiều cách giải, sử dụng những
    thuật toán cơ bản trên đồ thị như dfs, bfs, tìm đường đi ngắn nhất,…. sau đó tối ưu
    hóa chúng bằng các phương pháp cơ bản của lớp 10 như số học, quy hoạch động, tổ
    hợp,…
    • Hệ thống hóa các bài tập cơ bản trên đồ thị, nhằm giúp cho việc phát triển tư duy của
    học sinh theo mạch logic.
    • Rút ra được kinh nghiệm cài đặt các bài tập liên quan đến đồ thị
    • Hình thành kỹ năng tối ưu hóa các bài toán về đồ thị
    Nội dung sáng kiến kinh nghiệm của tôi gồm có 2 phần: Phần I là Lý thuyết, nêu
    một số lý thuyết học sinh cần nắm vững trước khi bắt đầu với các bài toán trên đồ
    thị. Phần 2 là bài tập vận dụng:
    I. Một số khái niệm cơ bản
    1. Ma trận kề
    5
    Trong lý thuyết đồ thị, một ma trận kề là một ma trận được sử dụng để biểu
    diễn đồ thị. Các phần tử của ma trận biểu thị liệu có cạnh nối giữa hai đỉnh trong
    đồ thị hay không. Hình minh họa dưới đây mô phỏng cách biểu diễn một đồ thị
    bằng ma trận kề:

    Đồ thịMa trận kề biểu diễn đồ thị
    Ma trận trên gồm có 5 hàng, 5 cột,
    phần tử có giá trị 1 biểu thị có cạnh
    nối giữa 1 và 2, 2 và 3, 4 và 5, phần
    tử có giá trị 0 biểu thị không có
    cạnh nối giữa chúng
    1
    2
    3
    4
    5

    0 1 0 0 0
    0 0 1 0 0
    0 0 0 0 0
    0 0 0 0 1
    0 0 0 0 0
     
     
     
     
     
     
     
     
    2. Danh sách kề
    Một danh sách kề là một mảng các danh sách, nghĩa là, mỗi phần tử của
    mảng ai là một danh sách, danh sách đó chứa tất cả các đỉnh liền kề với đỉnh i
    Với đồ thị có trọng số, trọng số của cạnh được lưu cùng với đỉnh trong
    danh sách bằng cách sử dụng cấu trúc pair trong C++.
    Với đồ thị vô hướng, nếu đỉnh j trong danh sách của ai, thì đỉnh i cũng sẽ
    được lưu trong danh sách của aj
    Chúng ta cùng nhau quan sát đồ thị sau:
    Đỉnh số 1 được nối với đỉnh số 2 và đỉnh số 4, ta sẽ biểu diễn:1->2->4
    Đỉnh số 2 được nối với đỉnh số 1 và 3, ta sẽ biểu diễn: 2->1->3
    Đỉnh số 3 được nối với đỉnh số 2 và 4, ta sẽ biểu diễn: 3->2->4
    Đỉnh số 4 được nối với đỉnh số 1 và 3, ta sẽ biểu diễn 4->1->3
    Ta xét đồ thị có hướng sau đây:
    1 2
    4 3
    6
    Đỉnh số 1 được nối với đỉnh số 2, ta sẽ biểu diễn: 1->2
    Đỉnh số 2 được nối với đỉnh số 4, ta sẽ biểu diễn: 2->4
    Đỉnh 3 nối với đỉnh số 1 và 4, ta sẽ biểu diễn: 3->1->4
    Đỉnh số 4 được nối với đỉnh số 2, ta sẽ biểu diễn: 4->2
    Ví dụ sau đây biểu diễn một đồ thị vô hướng gồm có N đỉnh và M cạnh
    (trong đó 1<=n<=105, 1<=m<=n*(n-1)/2). Input của dòng đầu tiên là số đỉnh,
    dòng thứ hai là số cạnh, m dòng tiếp theo mỗi dòng gồm hai đỉnh a và b, mô tả
    cạnh nối giữa đỉnh a và đỉnh b. Output: Đưa ra danh sách kề của các đỉnh

    Danhsachke.inpDanhsachke.out
    4 5
    1 2
    2 4
    3 1
    3 4
    4 2
    Danh sach ke cua nut 1: 2
    Danh sach ke cua nut 2: 4
    Danh sach ke cua nut 3: 1 –> 4
    Danh sach ke cua nut 4: 2
    #include<bits/stdc++.h>
    using namespace std;
    vector <int> adj[10];
    int main()
    {int x, y, nodes, edges;
    freopen(“danhsachke.inp”,”r”,stdin);
    freopen(“danhsachke.out”,”w”,stdout);
    cin >> nodes; //So nut
    cin >> edges; //So canh
    for(int i = 0;i < edges;++i)
    {
    cin >> x >> y;
    adj[x].push_back(y);
    //Chen nut y vao danh sach ke cua x
    }
    for(int i = 1;i <= nodes;++i)

    1 2
    3 4
    7

    {
    cout << “Danh sach ke cua nut ” << i << “: “;
    for(int j = 0;j < adj[i].size();++j)
    {
    if(j == adj[i].size() – 1)
    cout << adj[i][j] << endl;
    else
    cout << adj[i][j] << ” –> “;
    }
    }
    return 0;
    }

    Độ phức tạp về mặt không gian của danh sách kề là O(V+E), phụ thuộc vào
    số đỉnh và số cạnh. Trong nhiều trường hợp, một ma trận kề không thực sự hữu
    ích bằng danh sách kề. Bởi vì sử dụng ma trận liền kề sẽ mất nhiều không gian bộ
    nhớ để lưu các phần tử là số 0.
    3. Thuật toán tìm kiếm đồ thị theo chiều rộng (BFS)
    Trong lý thuyết đồ thị, tìm kiếm theo chiều rộng (BFS) là một thuật toán tìm
    kiếm trong đồ thị trong đó việc tìm kiếm chỉ bao gồm 2 thao tác: (a) cho trước
    một đỉnh của đồ thị; (b) thêm các đỉnh kề với đỉnh vừa cho vào danh sách có thể
    hướng tới tiếp theo. Có thể sử dụng thuật toán tìm kiếm theo chiều rộng cho hai
    mục đích: tìm kiếm đường đi từ một đỉnh gốc cho trước tới một đỉnh đích, và
    tìm kiếm đường đi từ đỉnh gốc tới tất cả các đỉnh khác. Trong đồ thị không có
    trọng số, thuật toán tìm kiếm theo chiều rộng luôn tìm ra đường đi ngắn nhất có
    thể. Thuật toán BFS bắt đầu từ đỉnh gốc và lần lượt nhìn các đỉnh kề với đỉnh
    gốc. Sau đó, với mỗi đỉnh trong số đó, thuật toán lại lần lượt nhìn trước các đỉnh
    kề với nó mà chưa được quan sát trước đó và lặp lại. Cấu trúc dữ liệu được sử
    dụng là hàng đợi (queue). (Theo Wikipedia)
    Hình minh hoạt sau đây mô phỏng qua trình tìm kiếm đồ thị theo chiều rộng
    8
    s
    1 2
    3 4
    5
    s
    1 2
    3 4
    5
    s
    1 2
    3 4
    5
    A B C
    9
    s
    1 2
    3 4
    5
    s
    1 2
    3 4
    5
    s
    1 2
    3 4
    5
    D E F
    10
    Giải thích: Mũi tên có hướng trong các hình vẽ trên mô phỏng quá trình tìm kiếm
    theo chiều rộng, đỉnh được bôi đen nghĩa là đỉnh đó đã được đánh dấu trong quá
    trình tìm kiếm. Tại hình C, đỉnh s đã được đánh dấu, vì vậy ta bỏ qua đỉnh s
    Tại hình D, đỉnh s và đỉnh số 3 đã được đánh dấu, vì vậy ta bỏ qua
    Tại hình E, đỉnh 1 và 2 đã được đánh dấu, vì vậy ta bỏ qua
    Tại hình F, đỉnh 2 đã được đánh dấu, vì vậy ta bỏ qua
    Tại hình G, đỉnh 3 đã được đánh dấu, vì vậy ta bỏ qua
    Mô phỏng giai đoạn thực hiện của thuật toán:
    Thao tác lặp thứ nhất
    S sẽ được lấy từ hàng đợi
    Đỉnh liền kề của s chính là đỉnh 1 và đỉnh 2 sẽ được duyệt qua
    Đỉnh 1 và đỉnh 2, chúng sẽ được đẩy vào hàng đợi, và đỉnh 1 và đỉnh 2 sẽ được
    đánh dấu là đã thăm

    s12

    Thao tác lặp thứ hai
    1 sẽ được lấy từ hàng đợi
    Đỉnh liền kề của 1 là s và 3 sẽ được duyệt qua
    S bỏ qua vì s đã được đánh dấu là đã thăm
    3 chưa được đánh dấu, do vậy, sẽ đẩy 3 vào hàng đợi và đánh dấu là đã thăm 3

    123

    s
    1 2
    3 4
    5
    G
    11
    Giai đoạn lặp thứ 3
    2 được lấy từ hàng đợi
    Đỉnh liền kề của 2 là 3 và 4 được duyệt qua
    3 và s bỏ qua vì chúng đã được đánh dấu
    4 không được đánh dấu, nên 4 sẽ được đẩy vào hàng đợi
    Đánh dấu 4 đã viếng thăm

    234

    Giai đoạn 4
    3 được lấy từ hàng đợi
    Đỉnh liền kề của 3 là 1,2, và 5 được duyệt qua
    1 và 2 bỏ qua vì chúng đã được đánh dấu
    5 chưa được đánh dấu, vì thế sẽ đẩy 5 vào hàng đợi và đánh dấu 5 đã thăm

    345

    Giai đoạn sáu
    4 được lấy từ hàng đợi
    Đỉnh liền kề của 4 là 2 được duyệt qua
    2 bị bỏ qua vì đã được đánh dấu

    45

    Giai đoạn 6
    5 được lấy từ hàng đợi
    Đỉnh liền kề của 5 là 3 được duyệt qua
    3 bỏ qua vì được đánh dấu là đã thăm
    Hàng đợi lúc này sẽ trống rỗng và thoát khỏi vòng lặp. Tất cả các đỉnh được duyệt
    qua.
    Độ phức tạp của thuật toán BFS là O(V+E) trong đó V là số đỉnh của đồ thị và E
    là số cạnh của đồ thị
    Ví dụ sau minh họa cách cài đặt đồ thị bằng thuật toán bfs:
    Input: File văn bản path.inp. Trong đó: Dòng 1 chứa số đỉnh n(<=100), số cạnh m
    của đồ thị, đỉnh xuất phát s, đỉnh kết thúc f cách nhau một dấu cách. M dòng tiếp
    theo, mỗi dòng có dạng hai số nguyên dương u, v cách nhau một dấu cách, thể
    hiện có cạnh nối đỉnh u và đỉnh v trong đồ thị
    Ouput file văn bản path.out, danh sách các đỉnh có thể đến được từ s

    Path.inpPath.out
    8 7 1 5
    1 2
    1 3
    2 3
    2 4
    3 5
    4 6
    7 8
    Tu dinh1ban co the toi cac dinh
    1 2 3 4 5 6
    Duong di tu 1toi5la
    5<-3<-1

    Đây là đoạn chương trình cài đặt có sử dụng queue
    12

    #include <bits/stdc++.h>
    using namespace std;
    bool a[101][101]={};
    long trace[101]={},n,m,s,f;
    void enter()//nhap du lieu
    {
    long u,v;
    //n la so dinh,m la so canh, s la dinh xuat phat
    // dinh ket thuc la f
    cin>>n>>m>>s>>f;
    for(long i=1;i<=m;i++)
    {cin>>u>>v;
    a[u][v]=a[v][u]=true;
    }
    }
    void bfs()
    { queue<int> ql;
    ql.push(s);
    //neu hang doi khong rong
    while(!ql.empty())
    { //lay gia tri phan tu dau tien trong hang doi
    int u=ql.front();
    //loai phan tu dau tien ra khoi hang doi
    ql.pop();
    //tim dinh ke chua di qua lan nao
    for(int v=0;v<n;v++)
    if(a[u][v]!=0 &&trace[v]==0 )
    { //luu lai nut cha cua dinh v
    trace[v]=u;
    //them dinh v vao hang doi
    ql.push(v);
    }
    }
    }
    void result()//in ket qua
    { cout<<“Tu dinh”<<s<<“ban co the toi cac dinh”<<‘\n’;
    for(long v=1;v<=n;v++)
    //in ra nhung dinh den duoc tu s
    if (trace[v]!=0) cout<<v<<” “;

    13

    cout<<‘\n’;
    cout<<“Duong di tu “<<s<<“toi”<<f<<“la”<<‘\n’;
    if (trace[f]==0) cout<<“khong tim thay”;
    // khong co duong di tu s toi f
    else
    {
    while (f!=s)
    {
    cout<<f<<“<-“;
    f=trace[f];
    }
    cout<<s;
    }
    }
    int main()
    { freopen(“path.inp”,”r”,stdin);
    freopen(“path.out”,”w”,stdout);
    enter();//nhap du lieu
    trace[s]=-1;//ngoai tru s da tham
    bfs();
    result();//in ket qua
    }

    4. Thuật toán tìm kiếm đồ thị theo chiều sâu
    Tìm kiếm ưu tiên chiều sâu hay tìm kiếm theo chiều sâu (tiếng Anh: Depth-first
    search – DFS) là một thuật toán duyệt hoặc tìm kiếm trên một cây hoặc một đồ thị.
    Thuật toán khởi đầu tại gốc (hoặc chọn một đỉnh nào đó coi như gốc) và phát triển
    xa nhất có thể theo mỗi nhánh. Thông thường, DFS là một dạng tìm kiếm thông tin
    không đầy đủ mà quá trình tìm kiếm được phát triển tới đỉnh con đầu tiên của đỉnh
    đang tìm kiếm cho tới khi gặp được đỉnh cần tìm hoặc tới một đỉnh không có con.
    Khi đó giải thuật quay lui về đỉnh vừa mới tìm kiếm ở bước trước (Theo wikipedia)
    Hình minh họa sau đây mô phỏng quá trình tìm kiếm đồ thị của thuật toán
    DFS
    14
    Ví dụ sau minh họa cách cài đặt thuật toán DFS:
    Cho đồ thị vô hướng gồm có N đỉnh và M cạnh (1<=N<=105, 1<=M<=N*(n-
    1)/2)). Đếm số thành phần liên thông trong đồ thị. Trong lý thuyết đồ thị, một thành
    phần liên thông của một đồ thị vô hướng là một đồ thị con trong đó giữa bất kì hai
    đỉnh nào đều có đường đi đến nhau, và không thể nhận thêm bất kì một đỉnh nào mà
    vẫn duy trì tính chất trên. Một đồ thị liên thông có đúng một thành phần liên thông,
    chính là toàn bộ đồ thị

    Xem bản đầy đủ trên google drive: TẠI ĐÂY

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Hoặc xem nhiều SKKN hơn tại:  Tổng hợp SKKN luận văn luận án O2 Education

  • Tổng hợp SKKN Luận Văn Luận Án O2 Education cấp THPT

    Các thầy cô click vào tên các SKKN để xem chi tiết các SKKN. Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Cấp THPT

    SKKN Một số biện pháp quản lý và tổ chức các hoạt động bồi dưỡng giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Thực hiện chương trình GDPT 2018Quản lý
    SKKN Giải pháp thúc đẩy văn hoá đọc trong thời kì chuyển đổi số của trường THPTQuản lý
    SKKN Quản lý hoạt động dạy học môn Hóa học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tại trường THPTQuản lý
    1SKKN Phát triển tư duy của học sinh thông qua việc tối ưu hóa các bài toán trên đồ thịTin học
    SKKN Ứng dụng thuật toán tìm kiếm nhị phân để giải các bài toán trong dạy học  sinh giỏi cấp tỉnhTin học
    2SKKN Một số phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy nội dung “Nhảy cao kiểu nằm nghiêng” trong trường THPTGDTC – QPAN
    SKKN Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong môn công nghệ 11Công nghệ
    SKKN Sử dụng Arduino trong bài học STEM ở môn Công nghệ lớp 12, nền tảng cho dạy học theo chuyên đề học tập ở chương trình giáo dục phổ thông mớiCông nghệ
    SKKN Dạy học môn Công nghệ lớp 11 và 12 theo định hướng giáo dục Stem    Công nghệ
    SKKN Sử dụng phần mềm Proteus để nâng cao chất lượng giảng dạy phần kĩ thuật điện tử môn Công Nghệ lớp 12 và kích thích khả năng tìm tòi của học sinhCông nghệ
    SKKN Một số giải pháp nâng cao hiệu quả phương pháp dạy học theo định hướng giáo dục STEM môn Công nghệ 11Công nghệ
    SKKN Kết hợp hình thức trực tiếp và trực tuyến trong công tác chủ nhiệmChủ nhiệm
    SKKN Giáo dục kĩ năng mềm cho học sinh THPT thông qua công tác chủ nhiệm lớpChủ nhiệm
    SKKN Vận dụng sáng tạo phương pháp Think Pair Share để tích hợp giáo dục một số kỹ năng sinh tồn cho học sinh trong tiết sinh hoạt lớp của giáo viên chủ nhiệmChủ nhiệm
    SKKN Nâng cao năng lực CĐCS đoàn kết nỗi lực vượt khó sáng tạo, quyết tâm chiến thắng đại dịch Covid 19 góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu Đổi mới căn bản, toàn diện GD và ĐTCông tác đoàn thể
    SKKN Nâng cao chất lượng học tập thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo về lịch sử truyền thống cách mạng các địa phương vào giảng dạy bài 2: Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Và Trách Nhiệm Của Học Sinh trong môn học giáo dục Quốc phòng và An ninh lớp 11 tại trường THPTGDTC – QPAN
    SKKN Nghiên cứu ứng dụng trò chơi Gíao dục quốc phòng vào  hoạt động ngoại khoá cho học sinh lớp 12 nhằm nâng cao chất lượng môn quốc phòng an ninhGDTC – QPAN
    SKKN Một số giải pháp nâng cao chất lượng và phát triển phong trào tập luyện môn Cầu lông cho học sinh và Câu lạc bộ cầu lông khu vực Trường THPTGDTC – QPAN
    3SKKN Nghiên cứu ứng dụng các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng môn học GDQP – AN cho học sinhGDTC – QPAN
    4SKKN Một số bài tập phát triển thể lực cho học sinh tập luyện môn Aerobic trong trường THPTGDTC – QPAN
    5SKKN Ứng dụng một số trò chơi vận động phát triển sức mạnh tốc độ cho học sinh lớp 11 trường THPTGDTC – QPAN
    6SKKN Nghiên cứu lựa chọn các bài tập phát triển sức mạnh tốc độ cho nam học sinh khối 12 trường THPTGDTC – QPAN
    7SKKN Một số kinh nghiệm tuyển chọn và huấn luyện nhảy cao lưng qua xà cho các vận động viên đổi tuyển học sinh giỏi TDTT các trường THPTGDTC – QPAN
    SKKN Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy kỹ thuật di chuyển trong cầu lông cho nam học sinh THPT và nâng cao thành tích cho nam đội tuyển cầu lông cấp THPTGDTC – QPAN
    SKKN Một số biện pháp phát triển phong trào tập luyện môn Bóng rổ của học sinh trường THPTGDTC – QPAN
    SKKN Ứng dụng một số bài tập bổ trợ nhằm phát triển sức mạnh và hoàn thiện kỹ  thuật đứng ném lựu đạn xa trúng đích cho học sinh lớp 11 THPTGDTC – QPAN
    8SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 10 học tốt môn Đá cầu trường THPTGDTC – QPAN
    SKKN Ứng dụng lý thuyết Holland trong công tác tư vấn định hướng nghề nghiệp đối với học sinh THPTTư vấn
    9SKKN Đổi mới tiết sinh hoạt dưới cờ và sinh hoạt lớp theo định hướng phát triển năng lực học sinh tại trường THPTGiáo dục tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp
    10SKKN Xây dựng dự án thu gom pin rác nhằm giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinhGiáo dục tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp
    SKKN Phát triển phẩm chất, năng lực học sinh lớp 11 theo hướng tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông 2018 thông qua các hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp, và tổ chức sinh hoạt tại CLB STEMHoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp
    SKKN Hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học thực hiện dự án nghiên cứu hoạt tính sinh học của dịch chiết cây xuyến chi Bidens Pilosa và ứng dụng trong xử lý một số bệnh nấm, côn trùng trên cây trồng đạt hiểu quảHoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp
    SKKN Giải pháp tổ chức hiệu quả các hoạt động trải nghiệm cho học sinh THPT trong bối cảnh dịch Covd-19Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp
    SKKN Một số giải pháp giáo dục kỹ năng tự nhận thức góp phần định hướng nghề nghiệp cho học sinh trường THPTHoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp
    SKKN Các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động ngoại khóa chuyển  mạnh sang hướng hoạt động trải nghiệm sáng tạo tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông mới tại trường THPTHoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp
    SKKN Một số giải pháp giúp học sinh tham gia tích cực, chủ động vào quá trình chuyển đổi số ở trường THPTLĩnh vực khác
    11SKKN Một số giải pháp giúp học sinh thực hiện chuyển đổi số qua việc sử dụng điện thoại thông minh trong giờ học đạt hiệu quả theo Thông tư 32/2020/BGDĐT.Lĩnh vực khác
    SKKN Dạy học STEM SREAM theo các vấn đề thời sự: chủ đề Corona
    SKKN Áp dụng mô hình “Kim tự tháp đảo ngược” trong hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường THPTQuản lí
    SKKN Nâng cao hiệu quả giáo dục sức khỏe sinh sản thông qua trải  nghiệm bằng  hình thức sinh hoạt câu lạc bộ CSETư vấn
    SKKN Thiết kế và tổ chức dạy học chủ đề STEM tại câu lạc bộ STEM trường THPTKhoa học tự nhiên
    12SKKN Nâng cao hiệu quả hoạt động khởi động trong chương trình Giáo dục công dân lớp 11GDCD
    13SKKN Vận dụng linh hoạt bài tập tình huống vào giảng dạy môn GDCD ở trường THPTGDCD
    14SKKN Tích hợp tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh để giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ qua môn GDCDGDCD
    15SKKN Sử dụng mô hình “Lớp học đảo ngược” nhằm nâng cao hứng thú và tính tích cực học tập phần công dân với đạo đức, giáo dục công dân, lớp 10GDCD
    SKKN Dạy học và giáo dục tích hợp pháp luật giao thông trong môn GDCD ở trường THPTGDCD
    SKKN Giáo dục ý thức, trách nhiệm chủ quyền biển đảo cho học sinh THPT trong môn Giáo dục công dânGDCD
    SKKN Kĩ năng ôn tập trắc nghiệm môn GDCD lớp 12 đáp ứng kì thi TN THPTGDCD
    SKKN Kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPTGDCD
    SKKN Sử dụng Kĩ thuật mảnh ghép trong dạy học tích hợp phòng chống tham nhũng trong môn Giáo dục công dân ở trường THPTGDCD
    SKKN Một số giải pháp trong dạy học tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn Giáo dục công dân tại trường THPTGDCD
    Tạo hứng thú học tập cho học sinh qua việc sử dụng video clip để giảng dạy chương trình Giáo dục công dân lớp 10 và 12GDCD
    SKKN Ứng dụng Kahoot, Quizizz vào dạy học tích cực trong môn GDCD ở trường THPTGDCD
    SKKN Sử dụng sáng tạo, có hiệu quả ôn tập và kiểm tra nhằm nâng cao kết quả thi tốt nghiệp thpt môn GDCDGDCD
    SKKN Nâng cao nhận thức về giới tính cho học sinh nữ trường THPT qua hình thức CONFESSIONGiáo dục đạo đức lối sống
    16SKKN Cạm bẫy sugar daddy- sugababy- Thực trạng và đề xuất một số giải phápTư vấn
    SKKN Tăng cường kỹ năng nói cho học sinh ở trường THPT theo định hướng bài kiểm tra năng lực tiếng Anh quốc tế IELTSNgoại ngữ
    SKKN Một số giải pháp giúp nâng cao hiệu quả ôn thi tốt nghiệp THPT môn Tiếng Anh trong giai đoạn cuốiNgoại ngữ
    SKKN Tạo lớp học ảo học xuyên biên giới để tăng cường khả năng nghe nói bằng hình thức giao lưu với học sinh, sinh viên Mỹ góp phần nâng cao hiệu quả giao tiếp của học sinhNgoại ngữ
    17SKKN Thiết kế bài tập Nghe hiểu bản tin Tiếng Anh thực tếNgoại ngữ
    18SKKN Thành lập và phát triển mô hình CLB Tiếng AnhNgoại ngữ
    19SKKN Giải pháp tăng cường hiệu quả dạy và học trực tuyến môn tiếng Anh trong nhà trườngNgoại ngữ
    20SKKN Ứng dụng trò chơi trực tuyến Quizizz nhằm tạo hứng thú cho học sinh ôn tập bám sát ma trận đề thi tốt nghiệp THPT để nâng cao điểm tiếng Anh trong kì thi tốt nghiệp THPT.Ngoại ngữ
    SKKN Một số hoạt động tạo cơ hội và động lực cho học sinh thực hành  nói tiếng  AnhNgoại ngữ
    SKKN Sổ tay từ vựng Tiếng Anh THPT thông qua các ví dụ có ngữ cảnh và theo  các cụm từNgoại ngữ
    21SKKN Khai thác một số công cụ để thiết kế hệ thống câu hỏi tương tác phục vụ dạy học trực tuyếnNgoại ngữ
    22SKKN Dạy ôn thi tốt nghiệp THPT môn Tiếng Anh trong năm học và giai đoạn dịch bệnh  tại trường THPT, thực trạng và giải phápNgoại ngữ
    23SKKN Hệ thống kiến thức và xây dựng bài tập một số chủ đề trong chương trình Sinh học 11 bằng tiếng AnhNgoại ngữ
    SKKN Vận dụng thuyết đa trí thông minh trong dạy học Lịch sử thế giới Chương trình Lịch sử lớp 10 nhằm phát triển năng lực cho học sinh THPTLịch sử
    SKKN Phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập thông qua tổ chức dạy học theo chủ đề Lịch sử Việt Nam 1945 1954 Lớp 12 chương trình cơ bảnLịch sử
    SKKN Sử dụng công nghệ thông tin và học liệu số trong giảng dạy để nâng cao chất lượng hiệu quả bộ môn lịch sử cấp THPTLịch sử
    SKKN Xây dựng các công cụ kiểm tra đánh giá phẩm chất, năng lực học sinh cho một số chủ đề Lịch sử lớp 10 thuộc Chương trình giáo dục phổ thông 2006 và 2022Lịch sử
    24SKKN Hướng dẫn học sinh một số phương pháp ôn và làm câu hỏi trắc nghiệm để chinh phục điểm cao môn Lịch sử thi tốt nghiệp THPTLịch sử
    25SKKN Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học lịch sử để nâng cao chất lượng thi tốt nghiệp THPT.Lịch sử
    26SKKN Dạy học Lịch sử theo mô hình lớp học đảo ngược với sự hỗ trợ của công cụ Google Classroom và các mạng xã hội Facebook, Zalo… nhằm kích hoạt thế hệ Z.Lịch sử
    27SKKN Xây dựng các công cụ kiểm tra đánh giá phẩm chất và năng lực học sinh cho một số chủ đề Lịch sử thuộc chương trình giáo dục THPT 2006 và 2018Lịch sử
    SKKN Một số biện pháp nâng cao phẩm chất và năng lực học sinh trong giảng dạy môn Lịch sử ở trường THPTLịch sử
    SKKN Định hướng chung về Phương pháp ôn và làm bài trắc nghiệm thi THPT Quốc Gia môn Lịch SửLịch sử
    28SKKN Một số biện pháp rèn luyện năng lực tự học môn Lịch sử cho học sinh THPT trong bối cảnh dịch bệnh Covid – 19Lịch sử
    SKKN Thiết kế và sử dụng kênh hình trong Dạy học Địa lí lớp 11 theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinhĐịa lý
    SKKN Thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học chủ đề địa lí tự nhiên Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả ôn thi tốt nghiệp THPT môn Địa líĐịa lý
    SKKN Xây dựng một số công cụ đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trong dạy học phần Địa lý tự nhiên lớp 10 ở trường THPTĐịa lý
    SKKN Xây dựng bộ tư liệu tranh biếm họa để giảng dạy chuyên đề Địa lí 10 Bộ sách Cánh Diều theo mô hình lớp học đảo ngượcĐịa lý
    SKKN Phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh trong dạy học chủ đề Địa lí tự nhiên lớp 12Địa lý
    SKKN Một số biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí 12Địa lý
    SKKN Một số giải pháp hướng dẫn học sinh học và thi Khoa học Địa lý bằng tiếng AnhĐịa lý
    29SKKN Nâng cao hiệu quả ôn thi THQP QG môn Địa lí trong thời gian dịch bệnh diễn biến phức tạpĐịa lý
    30SKKN Địa lí ngành chăn nuôi, thủy sản VN và các dạng bài tập trong ôn thi HSGQGĐịa lý
    31SKKN Đề xuất một số giải pháp phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho học sinh trong dạy học Địa lý 11 ở trường THPTĐịa lý
    32SKKN Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học phần Địa lý tự nhiên lớp 10Địa lý
    33SKKN Sử dụng trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả của việc dạy học trực tuyến môn Địa lí 12Địa lý
    34SKKN Một số giải pháp đánh giá sản phẩm học tập môn Địa lí lớp 12 tại trường THPT Lý Tự Trọng theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinhĐịa lý
    35SKKN Một số phương pháp dạy học giúp học sinh lớp 10 tiếp cận và chuẩn bị tốt cho kỳ thi Đánh giá năng lực của các trường Đại học.Địa lý
    36SKKN Tích hợp văn học và âm nhạc trong dạy học Địa lí 12 – Phần Địa lí tự nhiênĐịa lý
    37SKKN Sử dụng ứng dụng Quizziz, Google Form nhằm nâng cao chất lượng ôn tập và kiểm tra, đánh giá phần Địa lí các vùng kinh tế – Địa lí 12 ở trường THPTĐịa lý
    SKKN Ý tưởng tổ chức các hoạt động dạy học sáng tạo theo định hướng phát triển năng lựcĐịa lý
    SKKN Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học trực tuyến môn Địa lí cho học sinh lớp 12 ở trường THPTĐịa lý
    SKKN Sử dụng công cụ tư duy THINKING TOOL trong ôn tập Địa lí 12- Phần địa lí tự nhiênĐịa lý
    SKKN Xây dựng và sử dụng bài tập có nội dung thực tiễn nhằm bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học nội dung Động lực học Vật lí 10 chương trình GDPT 2018Vật lý 3
    SKKN Tổ chức dạy học kết hợp với sự hỗ trợ của Office 365 chủ đề Từ trường nhằm bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề của học sinhVật lý 3
    SKKN Phương pháp tiếp cận vật lí qua các vấn đề thực tiễnVật lý 3
    SKKN Chuyển động liên kết trong cơ họcVật lý 3
    SKKN Phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh thông qua các bài toán tích hợp phần cơ học Vật lí 10Vật lý 3
    SKKN Dạy học theo định hướng giáo dục STEM thông qua hình thức sinh hoạt câu lạc bộ KHKT STEM tại trường THPTVật lý 3
    SKKN Áp dụng phương pháp dạy học tích cực trong dạy học vật lý như thế nào để phát triển tốt nhất năng lực cho học sinhVật lý 3
    SKKN Xây dựng và sử dụng bài tập tiếp cận năng lực vật lý trong dạy học chủ để Năng lượng công và công suất Vật lí 10Vật lý 3
    SKKN Đa dạng hoá các hình thức tổ chức hoạt động khởi động trong dạy học môn Vật lí lớp 10 theo chương trình mới nhằm tạo hứng thú và phát triển năng lực học sinhVật lý 3
    SKKN Ứng dụng thiết bị số để thiết kế trò chơi nhằm tạo hứng thú học tập môn Vật lí cho học sinhVật lý 3
    SKKN Tích hợp kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường dạy học phần Cơ học Vật lý 10Vật lý
    SKKN Nghiên cứu, chế tạo thiết bị thí nghiệm Vật lý 10 sử dụng cảm biến và ứng dụng chương trình ARDUINOVật lý
    SKKN Sử dụng phần mềm Storyline 3 trong việc thiết kế bài giảng E Learning bộ môn Vật lí 12Vật lý
    SKKN Phương pháp giải các bài Vật lí đáp ứng kì thi đánh giá năng lực đánh giá tư duy, học sinh giỏi cấp Tỉnh theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinhVật lý
    SKKN Phương pháp đồ thị trong vật líVật lý
    SKKN Biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động ngoại khóa môn vật lí ở trường THPTVật lý
    SKKN Nâng cao hiệu quả học tập, kiểm tra, đánh giá, thí nghiệm của học sinh bằng phương pháp sử dụng 05 phần mềmVật lý
    SKKN Hướng dẫn học sinh tự làm dụng cụ thí nghiệm minh họa một số hiện tượng vật lí nhằm gây hứng thú và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinhVật lý
    SKKN Vật lý với giáo dục bảo vệ môi trườngVật lý
    SKKN Xây dựng Rubric để tổ chức và đánh giá quá trình dạy học một số kiến thức chương Cảm ứng điện từ Vật lý 11Vật lý
    SKKN Vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Vật lý 10 THPT theo hướng tiếp cận chương trình GDPT 2018Vật lý
    SKKN Sử dụng ứng dụng Quizizz nhằm nâng cao chất lượng ôn thi tốt nghiệp THPT môn Vật lý lớp 12Vật lý
    SKKN Sử dụng thí nghiệm ảo trong dạy học Vật lý lớp 11Vật lý
    38SKKN Các phương pháp nghiên cứu nguyên tử, ứng dụng của nguyên tử trong thực tiễn và trong các kì thi THPTQG, các kì thi Olympic Khu vực, Quốc tếVật lý
    39SKKN Giao thoa ánh sáng không định xứVật lý
    40SKKN Những bài toán đặc biệt trường hấp dẫn trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi vật lí THPTVật lý
    41SKKN Sử dụng phương pháp mô hình hóa và một số phương án thí nghiệm khảo sát các quá trình dao động cơ học trong chương trình Vật lí THPTVật lý
    42SKKN Xây dựng và thực hiện các chủ đề dạy học STEM chương trình Vật lý 11 trường THPTVật lý
    43SKKN Hướng dẫn học sinh thực hiện dự án: Nghiên cứu, chế tạo thiết bị khuyến cáo thời gian tắm nắng cho trẻ mầm nonVật lý
    44SKKN Một số giải pháp trong dạy học tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông mới môn Vật lí tại trường THPTVật lý
    45SKKN Khai thác ứng dụng Google Forms trong dạy học và kiểm tra đối với học sinh THPTVật lý
    46SKKN Thiết kế và chế tạo một số thiết bị thí nghiệm kết nối với điện thoại thông minh được sử dụng trong dạy học vật lí nhằm bồi dưỡng năng lực thực nghiệm của học sinhVật lý
    47SKKN Phát triển năng lực sáng tạo của học sinh thông qua hoạt động ngoại khóa thiết kế thí nghiệm Vật lý lớp 10Vật lý
    SKKN Xây dựng một số hoạt động học trong dạy học Vật lý gắn với việc bảo vệ môi trườngVật lý
    SKKN Một số mẫu hạt nhân và sự biến đổi hạt nhânVật lý
    SKKN Tổ chức dạy học chuyên đề Vật lý với giáo dục bảo vệ môi trường theo định hướng giáo dục STEM nhằm phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinhVật lý
    SKKN Giáo dục STEM trong dạy học Vật lý lớp 11 ở trường THPTVật lý
    SKKN Đổi mới phương pháp dạy học và phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh nhằm tiếp cận chương trình Giáo dục phổ thông mới môn Sinh học bậc THPTSinh học
    SKKN Xây dựng hệ thống câu hỏi bài tập đánh giá năng lực Sinh học của học sinh THPTSinh học
    SKKN Thiết kế và sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập nhằm phát triển năng lực sinh học cho học sinh trong dạy học chương Chuyển hóa vật chất và năng lượng tiếp cận chương trình Sinh học 11 Giáo dục phổ thông 2018Sinh học
    SKKN Phát triển năng lực nhận thức sinh học và năng lực giải quyết vấn đề, sáng tạo của học sinh thông qua dạy học dự án Tìm hiểu virut và chế tạo mô hình virut từ vật liệu tái chế Chương III Virut và bệnh truyền nhiễm Sinh học 10Sinh học
    SKKN Xây dựng quy trình giáo dục STEM Sắc tố tự nhiên ở trường THPT theo định hướng chương trình GDPT 2018Sinh học
    SKKN Xây dựng bộ phần mềm hỗ trợ việc học tập và giảng dạy môn Sinh họcSinh học
    48SKKN Thiết kế 1 số thí nghiệm và mô hình trong dạy học chương: “Chuyển hóa vật chất và năng lượng” – Sinh học 11 nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đềSinh học
    49SKKN Tích hợp liên môn theo định hướng giáo dục STEM / STEAM trong dạy học chủ đề Vi sinh vật – Sinh học 10 – Trung học phổ thông nhằm phát triển năng lực người học.Sinh học
    50SKKN Vận dụng dạy hoc STEM để phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho học sinh THPT phần sinh học vi sinh vật – sinh học 10Sinh học
    51SKKN Xây dựng quy trình giáo dục STEM “Nước tẩy rửa sinh học từ rác thải hữu cơ” ở trường THPTSinh học
    SKKN Phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học chủ đề môn Sinh họcSinh học
    SKKN Thiết kế một số hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh trong dạy học chủ đề chuyển hóa vật chất và năng lượng – Sinh học 11 cơ bảnSinh học
    Thiết kế và vận dụng linh hoạt, sáng tạo các các hình thức khởi động bài học nhằm mục tiêu kép lôi cuốn và phát triển năng lực học sinh theo định hướng chương trình GDPT 2018 trong dạy học hóa học ở bậc THPTHóa học 23
    Thiết kế và sử dụng thiết bị số thí nghiệm ảo tương tác trong dạy học môn Hóa học lớp 11Hóa học 23
    Phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua hệ thống bài tập chương năng lượng hóa học và tốc độ phản ứng hóa học 10 theo chương trình GDPT 2018Hóa học 23
    Dạy học kết hợp chủ đề nguyên tố nhóm VIIA nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinhHóa học 23
    Một số giải pháp hướng dẫn học sinh ôn tập lí thuyết Hoá họcHóa học 23
    Bài toán thực tiễn môn Hoá trong đề thi TN THPTQGHóa học 23
    Kiến thức thực tiễn trong bài giảng hoá họcHóa học 23
    Hướng dẫn học sinh tìm hiểu về năng lượng hoá học thông qua các bài tập gắn liền với thực tiễnHóa học 23
    Tích hợp nội dung giáo dục môi trường trong các bài giảng hóa học 11 ở trường THPTHóa học 23
    Xây dựng một số dạng câu hỏi môn Hoá học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh khối 12Hóa học 23
    Phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng cho học sinh thông qua hệ thống bài tập chủ đề Cấu tạo nguyên tử môn Hóa học 10Hóa học 23
    Đổi mới phương pháp dạy học gắn với STEM- Phần Axit Cacboxylic- Hóa học 11Hóa học 23
    Xây dựng học liệu số chủ đề “Tốc độ phản ứng hoá học” – Môn Hoá học 10 – Chương trình Giáo dục phổ thông 2018Hóa học 23
    Một số giải pháp dạy học phần kiến thức hidrocacbon – Hoá học 11 THPT theo hướng pháp triển phẩm chất, năng lực học sinh tại trường THPTHóa học 23
    Áp dụng phương pháp dạy học dự án và xây dựng câu lạc bộ Trái đất tôi yêu với chương trình PolimeHóa học 23
    Phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng cho học sinh thông qua dạy học phần Halogen – Hóa học 10- CTGDPT 2018Hóa học 23
    Đa dạng hóa các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chương trình hóa học phổ thôngHóa học 23
    Xây dựng hệ thống câu hỏi chủ đề năng lượng Hoá học trong chương trình hoá học 10Hóa học 23
    Bồi dưỡng năng lực vận dụng kiến thức hóa học nhằm nâng cao chất lượng trong kì thi đánh giá năng lực và đánh giá tư duy cho học sinhHóa học 23
    Xây dựng một số chuyên đề dạy học trải nghiệm môn hóa học gắn với nghề truyền thống tại địa phương tiếp cận chương trình GDPT 2018Hóa học 23
    Vận dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực trong chuyên đề liên kết hóa học chương trình GDPT 2018Hóa học 23
    SKKN Xây dựng hệ thống đề ôn tập giúp học sinh chinh phục các đề thi môn Hóa học bằng tiếng AnhHóa học
    SKKN Xây dựng phương pháp học tập chuyên đề cơ chế phản ứng trong hóa học hữu cơHóa học
    SKKN Xây dựng kế hoạch bài học dạy học kết hợp chuyên đề Thực hành hóa học và công nghệ thông tin bài Vẽ cấu trúc phân tử Hóa học 10Hóa học
    SKKN Thiết kế kế hoạch dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn kết hợp giáo dục STEM tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông mới 2018Hóa học
    SKKN Phát triển năng lực vận dụng kiến thức kĩ năng thông qua dạy học Stem phần hoá học Hữu cơ lớp 12Hóa học
    SKKN Xây dựng nguồn tài nguyên thí nghiệm nhằm rèn luyện phẩm chất, phát triển năng lực tư duy, năng lực thực hành và nâng cao chất lượng học tập môn Hoá học cấp trung học phổ thông trên nền tảng ứng dụng Công nghệ thông tinHóa học
    SKKN Hướng dẫn học sinh ôn tập về lý thuyết và bài toán điện phân thi TN THPT và bồi dưỡng học sinh giỏi môn Hóa họcHóa học
    SKKN Xây dựng học liệu số theo mô hình lớp học đảo ngược hướng tới chương trình mới 2018 nhằm nâng cao năng lực tự học cho học sinh trong giảng dạy hoá học lớp 10Hóa học
    SKKN Phát triển năng lực hoá học cho học sinh mới vào lớp 10 thông qua thực hành thí nghiệm và thiết kế thí nghiệm ảo bằng phần mềm YENKAHóa học
    SKKN Thiết kế các chủ đề STEM phần ANĐEHIT AXITCACBOXYLIC nhằm định hướng nghề nghiệp cho học sinhHóa học
    SKKN Giúp học sinh lớp 10 tiếp cận kỳ thi Đánh giá năng lực của các trường Đại học qua việc sử dụng bộ câu hỏi, bài tập phát triển năng lực chuyên đề nhóm HALOGENHóa học
    SKKN Phát triển năng lực học sinh thông qua dạy học tích hợp Stem và định hướng nghề nghiệp chủ đề Polime, hóa học 12Hóa học
    SKKN Dạy học môn Hóa học theo hướng phát triển năng lực của học sinh thông qua trò chơi dành cho học sinh trường THPTHóa học
    Phương pháp giải bài tập hóa học hữu cơ 11, 12 theo kĩ thuật đồng đẳng hóa và tách nguyên tốHóa học
    SKKN Phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua bài giảng điện tử E learning môn Hóa họcHóa học
    SKKN Thiết kế hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm phát triển năng lực cho học sinh lớp 11 và lớp 12 ở trường THPTHóa học
    SKKN Kết hợp mô hình lớp học đảo ngược với tự học trực tuyến Elearning trong dạy học chương: Nhóm Halogen Hóa học 10 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mớiHóa học
    SKKN Giải pháp ôn thi môn Hoá hiệu quả trong giai đoạn tổng ôn tốt nghiệpHóa học
    52SKKN Xây dựng phương pháp học tập chuyên đề tổng hợp dược phẩm hữu cơHóa học
    53SKKN SKKN Phương pháp giải bài tập peptitHóa học
    54SKKN Thiết kế và sử dụng một số trò chơi kết hợp với dạy học STEM nhằm nâng cao hứng thú học tập và hiệu quả dạy học Hóa học lớp 11Hóa học
    55SKKN Nâng cao hiệu quả giáo dục STEM trong trường trung học phổ thôngHóa học
    56SKKN Một số kinh nghiệm trong giáo dục kỹ năng sống thông qua việc tích hợp vào các bài học phần hóa học hữu cơ tại trường THPTHóa học
    57SKKN Hướng dẫn học sinh tìm hiểu, phân tích, xử lý các vấn đề về môi trường tại làng nghề nhằm phát triển năng lực, phẩm chất học sinhHóa học
    58SKKN Thực hiện chuyển đổi số kết hợp với dạy học theo định hướng STEM trong môn Hóa họcHóa học
    59SKKN Ứng dụng phần mềm thí nghiệm ảo Crocodile Chemistry theo mô hình 5E nhằm phát triển năng lực tìm hiểu tự nhiên cho học sinh lớp 10Hóa học
    60SKKN Dự án Hóa học 10: Giữ cho xanh, nấu cho nhanh, ăn lành mạnh.Hóa học
    61SKKN Tổ chức trò chơi trong dạy và học môn Hóa học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy bộ mônHóa học
    62SKKN Phát triển năng lực tự học của học sinh trong “Chuyên đề phân bón” theo chương trình giáo dục phổ thông mới bằng phương pháp dạy học dự ánHóa học
    63SKKN Phát triển năng lực thực hành hoá học cho học sinh thông qua dạy học thí nghiệm chuyên đề Este-Lipit và Cacbohiđrat hóa học 12 trung học phổ thôngHóa học
    64SKKN Thiết kế các hoạt dộng trải nghiệm trong dạy học chương ” Este-Lipit” – Hóa học 12 cơ bản theo định hướng phát triển năng lựcHóa học
    65SKKN Sử dụng bài tập thực tiễn về oxi – lưu huỳnh nhằm phát triển năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hoá học cho học sinh lớp 10Hóa học
    Sử dụng thí nghiệm lượng nhỏ trong  dạy và học hóa học phần vô cơ lớp 11Hóa học
    SKKN Bước đầu xây dựng thư viện điện tử trong việc hỗ trợ giảng dạy môn Hóa học bằng tiếng Anh ở trường trung học phổ thôngHóa học
    SKKN Sử dụng ứng dụng Quizizz để tạo hứng thú học tập và nâng cao kết quả thi tốt nghiệp THPTHóa học
    SKKN Xây dựng một số chủ đề dạy học theo định hướng STEM nhằm phát triển năng lực cho học sinhHóa học
    SKKN Thiết kế câu hỏi, bài tập thí nghiệm, thực hành môn Hóa học lớp 11, 12 theo các cấp độ tư duy – trên cơ sở tường minh hóa một số thí nghiệmHóa học
    SKKN Xây dựng kho dữ liệu số nhằm đổi mới phương pháp, hình thức dạy học thông qua xây dựng các mô hình trực quan trên phần mềm GeoGebra nhằm phát triển phẩm chất năng lực học sinh đáp ứng với yêu cầu của chương trình GDPT 2018Toán học
    SKKN Một số kinh nghiệm dạy học trải nghiệm để tăng hứng thú học tập môn Toán cho học sinh THPTToán học
    SKKN Một số phương pháp giải phương trình hàm trên tập rời rạcToán học
    Một số ý tưởng khai thác tính chất của hàm số nhằm phát triển năng lực Toán học cho học sinh THPT qua các bài toán vận dụng cao liên quan tới hàm sốToán học
    SKKN Ứng dụng cấu trúc nhóm trong một số bài toán số họcToán học
    SKKN Tứ giác toàn phầnToán học
    SKKN Rèn luyện kỹ năng giải toán chủ đề Bất đẳng thức không đồng bậc cho học sinh khá giỏi trung học phổ thôngToán học
    SKKN Ứng dụng của phương pháp tọa độ Oxyz trong giải toán hình học không gianToán học
    SKKN Xây dựng công cụ Rubic đánh giá năng lực Toán học trong chủ đề Giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất của hàm số Giải tích 12Toán học
    SKKN Hướng tới các bài toán có yếu tố thực tiễn của môn Toán lớp 10 trong Chương trình GDPT năm 2018 nhằm phát hiện và phát triển các phẩm chất năng lực của học sinhToán học
    SKKN Khai thác, phát triển các dạng toán về hàm số ẩn, hàm số hợp tích hợp giá trị tuyệt đối trong các kì thi HSG và TNTHPTToán học
    SKKN Phương pháp tính tích phân hàm ẩn và bài toán tích phân kết hợp cực trị, tương giao của đồ thị hàm sốToán học
    SKKN Sử dụng phương pháp hình học trong giải bài toán liên quan tới môđun số phức nhằm phát triển năng lực tự học của học sinhToán học
    SKKN Dạy học bằng mô hình hóa và mô hình hóa toán học qua một số chủ đề trong chương trình toán THPTToán học
    SKKN Sử dụng phương pháp ghép trục để giải các bài toán hàm hợpToán học
    SKKN Hướng dẫn học sinh lớp 11,12 giải quyết bài toán góc, khoảng cách từ 2, 3 nét vẽToán học
    SKKN Ứng dụng của một số phép biến hình nhằm đáp ứng kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và kỳ thi chọn học sinh giỏi các cấpToán học
    SKKN Một số phương pháp tính góc giữa hai mặt phẳngToán học
    SKKN Một số bài toán về cực trị của hàm số chứa dấu giá trị tuyệt đối trong ôn thi học sinh giỏi và tốt nghiệp trung học phổ thôngToán học
    SKKN Bồi dưỡng năng lực tự học, năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh THPT qua dạy bài toán Góc giữa đường thẳng và mặt phẳng; Góc giữa hai mặt phẳngToán học
    SKKN Phát triển năng lực cho học sinh qua dạy bài toán ứng dụng cấp số nhân trong thực tiễn, liên mônToán học
    SKKN Thiết kế và sử dụng các phần mềm vẽ sơ đồ tư duy để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Toán ở trường THPTToán học
    SKKN Kỹ năng giải bài toán tính khoảng cách trong hình học không gianToán học
    SKKN Giải hình học không gian bằng phương pháp toạ độToán học
    66SKKN Một số ứng dụng của phép vị tự và phép vị tự quayToán học
    67SKKN Ứng dụng tính liên tục và định lý giá trị trung bìnhToán học
    68SKKN Một số định lý chứng minh đồng quy, thẳng hàngToán học
    69SKKN Rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức Toán học để giải quyết một số bài toán thực tiễn trong chương trình Toán 10Toán học
    70SKKN Một số phương pháp đặc biệt tìm nghiệm nguyên đối với phương trình chứa ẩn ở số mũ.Toán học
    71SKKN Bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh THPT qua một số bài toán về mặt cầu trong không gian OxyzToán học
    72SKKN Một số phương pháp giải bài toán max, min số phức mức độ vận dụng,vận dụng caoToán học
    SKKN Xây dựng và sử dụng câu hỏi bài tập phân hóa nguyên hàm tích phân ứng dụng ở trường Trung học phổ thôngToán học
    SKKN Phương pháp dồn biến trong chứng minh bất đẳng thức và tìm giá trị lớn nhất, nhỏ  nhấtToán học
    SKKN Áp dụng định lý Menelaus, định lý Ceva giải quyết một số bài toán hình học không gian trong chương trình trung học phổ thôngToán học
    SKKN Một số bài toán tích phân hàm ẩnToán học
    SKKN Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực học sinh thông qua khai thác một số bài toán hình học không gian trong đề thi HSG và đề thi THPT QGToán học
    SKKN Vận dụng sáng tạo kiến thức giải thích vào bài toán số học, tổ hợp trong bồi dưỡng  học sinh giỏi Quốc gia môn toánToán học
    SKKN Một số ứng dụng của dãy số nguyênToán học
    SKKN Đề xuất một số giải pháp phát triển năng lực viết cho học sinh trong bối cảnh đổi mới dạy học và kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn ở nhà trường Phổ thông hiện nayNgữ văn
    SKKN Sử dụng câu hỏi nêu vấn đề vào dạy học truyện ngắn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930 1945 nhằm phát triển tư duy phản biện cho học sinhNgữ văn
    SKKN Hướng dẫn học sinh ôn tập hệ thống câu hỏi đánh giá năng lực tư duy định tính trong đề thi đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia Hà NộiNgữ văn
    SKKN Một vài kinh nghiệm giúp học sinh lớp 12 nâng cao năng lực viết bài nghị luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT ở trường THPTNgữ văn
    SKKN Hướng dẫn học sinh đọc hiểu truyện ngắn Muối của rừng Nguyễn Huy Thiệp trong chương trình Ngữ văn 2018 theo hướng vận dụng lí thuyết Điểm nhìn của ngôn ngữ họcNgữ văn
    SKKN Một số giải pháp nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học sinh trong dạy học Ngữ vănNgữ văn
    SKKN Khai thác một số công cụ nhằm tăng cường hiệu quả dạy và học trực tuyến  môn Ngữ văn thích ứng với đại dịch covid 19 trong các trường THPT trên địa bàn tỉnhNgữ văn
    73SKKN Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học từ 1945 đến sau 1975Ngữ văn
    74SKKN Phát triển năng lực viết sáng tạo cho học sinh qua hệ thống câu hỏi nâng cao trong các dạng bài Nghị luận văn học về các tác phẩm truyện ngắn chương trình Ngữ văn 12Ngữ văn
    75SKKN Phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh qua các dạng bài nghị luận văn học về tác phẩm kí trong chương trình Ngữ văn THPTNgữ văn
    76SKKN Những kinh nghiệm dạy lý luận văn học cho HSG môn Ngữ văn – THPT.Ngữ văn
    77SKKN Dạy học các tác phẩm của Nguyễn Tuân trong nhà trường THPT theo hướng tiếp cận văn bản.Ngữ văn
    78SKKN Nâng cao hiệu quả phương pháp dạy học Ngữ Văn dựa trên phản hồi của học sinh.Ngữ văn
    79SKKN Rèn kĩ năng nghị luận thơ trữ tình chống Pháp (Ngữ văn 12) nhằm giúp học sinh đạt điểm cao trong kì thi Tốt nghiệp THPTNgữ văn
    80SKKN Đề xuất một số giải pháp kiểm tra, đánh giá học sinh theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực, góp phần hạn chế tình trạng máy móc sao chép văn mẫu trong dạy học chuyên đề Thơ ca Cách mạng Việt Nam Ngữ văn
    81SKKN Một số biện pháp hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài nhằm nâng cao hiệu quả dạy đọc hiểu văn bản trong chương trình Ngữ văn THPT.Ngữ văn
    82SKKN Đọc – hiểu đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích kịch Vũ Như Tô – Nguyễn Huy Tưởng) theo hướng phát triển tư duy phản biện.Ngữ văn
    83SKKN Sử dụng biểu đồ KWL để nâng cao chất lượng giảng dạy phần văn bản học của bộ môn Ngữ văn THPTNgữ Văn
    84SKKN Thiết kế một số hình thức tổ chức hoạt động củng cố trong giờ học Ngữ vănNgữ văn
    85SKKN Nâng cao hiệu quả dạy học chủ đề truyện dân gian thông qua việc thiết kế và sử dụng phiếu học tậpNgữ văn
    86SKKN Thiết kế một số trò chơi tương tác trên phần mểm Powerpoint cho hoạt động khởi động và hoạt động luyện tập của giờ học Ngữ vănNgữ văn
    87SKKN Áp dụng phương pháp trò chơi trong dạy học Tiếng Việt nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho HS THPTNgữ văn
    88SKKN Vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học tác phẩm tự sự dân gian trong chương trình Ngữ văn lớp 10Ngữ Văn
    SKKN Nâng cao hiệu quả hoạt động vận dụng trong dạy học đọc hiểu văn bản Ngữ văn 10Ngữ Văn
    SKKN Nâng cao hiệu quả hoạt động nhóm trong dạy học môn Ngữ văn THPTNgữ Văn
    SKKN Vận dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong giảng dạy các  bài phong cách ngôn ngữ ở chương trình Ngữ văn 11 chuẩnNgữ Văn
    SKKN Vận dụng phương pháp dạy học dự án vào việc dạy học môn ngữ văn ở trường THPT áp dụng cụ thể vào dạy học bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ Hàn Mặc TửNgữ Văn
    SKKN Sử dụng phương pháp dạy học định hướng giáo dục STEAM trong tổ chức hoạt động vận dụng, mở rộng chủ đề Văn học Dân gian chương trình Ngữ văn lớp 10Ngữ Văn
    SKKN Rèn luyện thao tác lập luận so sánh cho học sinh qua giờ đọc hiểu văn bản văn học Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12Ngữ Văn
    SKKN Thiết kế hoạt động khởi động trong dạy đọc hiểu các văn bản thơ phần văn học Việt Nam đọc chính thức ở chương trình ngữ văn THPTNgữ Văn

    [Đang update]

    Các thầy cô cần file liên hệ với chúng tôi tại fanpage facebook O2 Education

    Thầy cô có thể xem thêm SKKN các cấp khác:

    Tổng hợp SKKN Luận Văn Luận Án O2 Education cấp THPT

    Tổng hợp SKKN cấp THCS O2 Education

    Tổng hợp SKKN cấp tiểu học O2 Education

    Tổng hợp SKKN cấp mầm non O2 Education

    Tổng hợp SKKN môn hóa học cấp THPT

    Hoặc xem thêm các tài liệu khác của môn hóa

  • Napas là gì? Thẻ Napas có ưu điểm gì?

    Napas là gì? Thẻ Napas có ưu điểm gì?

    Một số thẻ ATM có logo NAPAS trên thẻ mà bạn có thể chưa hiểu hết về ý nghĩa ký hiệu này. Vậy thẻ Napas hay Napas là gì, có vai trò như thế nào trong việc thanh toán, giao dịch tài chính. Hãy cùng SIÊU SALE ĐÂY tìm hiểu trong bài viết này.

    Napas là gì?

    Thẻ Napas là gì?

    Napas hiện là từ viết tắt của cụm từ tiếng Anh National Payment Service nghĩa là dịch vụ thanh toán quốc gia. Đây là một thương hiệu thẻ được phát hành bởi Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam.

    Thẻ Napas là gì?

    NAPAS được thành lập vào năm 2004. Tuyên ngôn thương hiệu là “Một kết nối. Mọi thanh toán”. Đây là đơn vị kết nối hơn 50 ngân hàng lại với nhau, giúp tạo môi trường trung gian thuận lợi để các ngân hàng thực hiện kết nối cung cấp các dịch vụ đa dạng hơn cho người dùng.

    Thẻ Napas là gì?

    Xem thêm Vay tín chấp là gì?

    Trên thực tế, thẻ Napas mang những tính năng tương tự như thẻ ATM. Cụ thể, Napas mang thể giúp người tiêu dùng thực hiện nhanh chóng những giao dịch như:

    • Thanh toán hóa đơn điện nước, internet, học phí…
    • Thanh toán hóa đơn mua sắm, tiêu dùng;
    • Rút tiền và chuyển tiền một cách nhanh chóng.

    Đặc điểm của Napas là gì?

    Nhiều người thường hiểu nhầm rằng đơn vị phát hành thẻ Napas chính là Napas. Thế nhưng, thực chất thì không phải tương tự.

    Thẻ NAPAS là sản phẩm của sự liên kết giữa các ngân hàng với NAPAS, chứ NAPAS sẽ không trực tiếp phát hành thẻ. Đặc điểm này tương tự như hệ thống thẻ Visa/Mastercard.

    Napas là gì? Thẻ Napas có ưu điểm gì? 1

    Cách nhận biết thẻ vô cùng đơn giản, logo “NAPAS” có trên chiếc thẻ ATM chính là đặc điểm nhận dạng nhanh nhất.

    Thẻ NAPAS có tính bảo mật cao do được trang bị chip bảo mật công nghệ cao theo tiêu chuẩn EMV. Các thông tin trên thẻ được mã hóa ở mức độ cao nên rất khó có thể làm giả mạo.

    Dưới đây là một số đặc điểm vượt bậc thẻ Napas mà bạn mang thể tham khảo:

    • Khi tiêu dùng thẻ Napas, bạn sẽ thấy nó cũng là một loại thẻ ghi nợ nội địa của nhà băng. Và với loại thẻ này, bạn cũng mang thể trả tiền và rút tiền như nhiều loại thẻ khác.
    • Đặc biệt, Napas được ứng dụng kỹ thuật chip bảo mật nên khá an toàn. Và điều này làm cho người tiêu dùng cảm thấy yên tâm lúc tiêu dùng thẻ.
    • Hơn nữa, những thông tin đều được mã hóa cao. Chính vì vậy, để làm giả một chiếc thẻ Napas không phải việc thuần tuý.
    • Khi thẻ ATM liên kết với Napas thì trên đó sẽ được in logo của Napas. Cho nên, chúng ta mang thể tiện dụng nhận diện được.

    Ưu điểm của thẻ Napas

    Thẻ Napas có rất nhiều lợi ích cho người sử dụng, có thể kể đến như:

    • Người tiêu dùng có thể rút tiền ở bất kỳ cây ATM hay máy POS nào và thanh toán nhanh chóng ở những địa điểm máy được in logo của Napas. Hiện tại, hệ thống của Napas bao gồm 16.800 cây ATM và 220.000 POS.
    • Quá trình chuyển tiền diễn ra nhanh chóng và khá đơn giản.
    • Thanh toán mua sắm online bằng thẻ Napas một cách dễ dàng với rất nhiều chương trình khuyến mại, giảm giá.
    Napas là gì? Thẻ Napas có ưu điểm gì? 2

    Một lưu ý quan trọng là thẻ Visa/ Mastercard được sử dụng để thanh toán quốc tế, còn thẻ Napas chỉ có thể sử dụng để giao dịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.

    Danh sách các ngân hàng sử dụng thẻ Napas

    Hiện này, hầu hết các ngân hàng đều sử dụng thẻ NAPAS như Vietcombank, BIDV, Vietinbank, Vietcapital Bank,…

    AgribankVietinbankDongABankSaigonbank
    BIDVSeABankGP.BankPG Bank
    PVcomBankVietcapital BankVietBankVCB
    SacombankABBankVRBSHB
    ACBEximbankTPBankVIB
    HDBankMBBankVPBankNCB
    Việt ÁTechcombankOCBBVB
    HLBVNLienVietPost BankBacA BankMaritime Bank
    Shinhan BankVID PublicSCBIBK
    Nam ÁIndovinaWoori BankHabubank